"
Chó Cứ Sủa PDF EPUB
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Chó Cứ Sủa PDF EPUB
Ebooks
Nhóm Zalo
Chó cứ sủa...
—★—
Tác giả: Herbert Wild
Người dịch: Tạ Phương
Phát hành: Tao Đàn
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2020ebook©vctvegroup
Chó cứ sủa... có thể xem là cuốn tiểu thuyết tự sự về chính cuộc đời khoa học của Tiến sĩ Jacques Deprat (1880-1935), tên thật của nhà văn Herbert Wild.
Jacques Deprat từng làm giám đốc Sở địa chất Đông Dương, là một trong những người đầu tiên đặt nền móng và có những cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu địa chất ở khu vực này. Nhưng cuối cùng, ông đã bị một đồng nghiệp hãm hại trong vụ giả mạo hóa thạch Trilobite, ông bị loại khỏi biên chế Sở địa chất Đông Dương và bị khai trừ khỏi Hiệp hội địa chất Pháp. Đây là một vụ việc làm xôn xao giới địa chất Pháp và giới cầm quyền Đông Dương thời đó. Tuy nhiên sau này người ta đã điều tra ra được bản chất của vụ việc, mọi kết luận đều chỉ ra ông chỉ là người bị hại, thì đến năm 1991 Hiệp hội địa chất Pháp đã quyết định chính thức phục hồi tư cách thành viên của ông.
Tiểu thuyết như một tấm gương di động trên đường lớn. Nó phản chiếu vào mắt anh khi thì màu xanh thẳm của bầu trời, khi thì những vũng lầy của mặt đất.
(Stendhal, Đỏ và đen)
LỜI NÓI ĐẦU
Tác giả Herbert Wild
Tiến sĩ Jacques Deprat (1880-1935) là một nhà địa chất Pháp tài năng đầu thế kỷ 20. Ông từng là Giám đốc Sở Địa chất Đông Dương (Service Géologique de l’Indochine - SĐCĐD), là một trong những người đầu tiên đặt nền móng và có những cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu địa chất ở khu vực này của thế giới.
Năm 1909, khi đến Hà Nội, Jacques Deprat mới 29 tuổi và đã là một nhà địa chất danh tiếng. Luận án tiến sĩ về địa chất đảo Euboa (Hy Lạp) cũng như các công trình nghiên cứu của ông về địa chất các đảo Corse, Sardaigne vẫn được đánh giá là các công trình xuất sắc. Sau khi nhậm chức Giám đốc SĐCĐD ông đã tiến hành nhiều việc có ý nghĩa lớn đối với nghiên cứu địa chất khu vực: Thành lập Bảo tàng Địa chất, xuất bản kỷ yếu của Sở (Mémoire du Service Géologique de l’Indochine) để công bố có hệ thống các công trình nghiên cứu của SĐCĐD. Ông cũng tuyển dụng một số người bản xứ làm việc tại SĐCĐD.
Cùng với việc lãnh đạo SĐCĐD, J. Deprat còn tiến hành nhiều công trình nghiên cứu địa chất tại Việt Nam và Vân Nam (Trung Quốc). Ông đã cho công bố hàng chục công trình nghiên cứu, trong đó có những công trình cho đến nay còn giữ nguyên giá trị khoa học. Ở tuổi 33, ông đã là người có uy tín khoa học cao trên thế giới, được bầu làm phó chủ tịch Hội nghị Địa chất Quốc tế lần thứ 12 họp ở Toronto - Canada năm 1913.
Với tài năng và uy tín khoa học cao, J. Deprat đã tạo điều kiện giúp đỡ các cộng sự ở SĐCĐD trong nghiên cứu. Đặc biệt ông hết lòng giúp đỡ Henry Mansuy, một nhà cổ sinh vật học đã luống tuổi.
Ông này nguyên là thợ may rồi trở thành nhà cổ sinh nghiệp dư trước khi sang Đông Dương.
Mặc dù có sự khởi đầu tốt đẹp, nhưng sự nghiệp khoa học của J. Deprat không chút suôn sẻ. Năm 1917, H. Mansuy và H. Lantenois (Kỹ sư địa chất, Giám đốc Sở Mỏ Đông Dương) đã tố cáo Deprat có sự man trá trong khoa học. Vụ việc này làm xôn xao dư luận trong giới địa chất Pháp và giới cầm quyền ở Đông Dương thời bấy giờ. Cuối cùng chiến thắng đã thuộc về kẻ mạnh, đó là Lantenois - do có nhiều mối quan hệ với giới chức lãnh đạo chính quyền và khoa học ở Đông Dương cũng như ở chính quốc. J. Deprat bị khai trừ khỏi Hội Địa chất Pháp, bị loại khỏi biên chế ở Sở Địa chất Đông Dương.
Buộc phải giải nghệ, trở về Pháp J. Deprat bắt đầu hoạt động trong một lĩnh vực mới. Ông trở thành nhà văn với bút danh Herbert Wild, chuyên viết tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ. Trong số các tiểu thuyết của ông, cuốn “Chó cứ sủa…” (Les chiens aboient…, 1926) là tiểu thuyết tự sự, mô tả chi tiết “Vụ Deprat” và tư chất của những người liên quan như Latenois, Mansuy, Colani v.v. Các cuốn nổi tiếng khác là “Người khổng lồ ngủ quên” (Le colosse endormi, 1927) viết về cách mạng dân quyền ở Trung Quốc (Giải thưởng văn học Pháp-Á - Prix littéraire de l’Asie-Francaise), “Chủng tộc khác” (L’Autre race, 1930) viết với mối thiện cảm đối với các dân tộc miền núi ở Việt Nam (được đưa vào danh sách một số ít tác phẩm đề nghị tặng giải thưởng Goncourt - giải thưởng văn học lớn nhất của Pháp), “Thuyền trưởng Bái Tử Long” (Le capitaine Fai-Tsi-Long, 1935), “Trong những khúc cuộn của con rồng” (Dans les replis du Dragon, 1926) v.v.
J. Deprat còn là một nhà thể thao leo núi. Cũng vì ham mê môn thể thao này mà ông qua đời năm 1935 ở tuổi 55, trong một tai nạn leo núi trên dãy núi Pyrenees.
Mãi đến năm 1990 viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Pháp M. Durand-Delga mới sưu tầm lại được đầy đủ tài liệu về “Vụ Deprat” và các nhân sự liên quan trong kho lưu trữ Toàn Pháp ở Aix en-Provence, Viện Hàn lâm khoa học Pháp, Hội Địa chất Pháp và các nguồn thư từ của gia đình mà con gái J. Deprat khi đó còn sống (bà Alice Tissier) cung cấp. Công trình nghiên cứu dày 100 trang “Vụ Deprat” (L’affaire de Deprat) của Viện sĩ thông tấn M. Durand-Delga
(Travaux du Comité d’Histoire de la Géologie, 1990) đã chứng minh được sự vô tội của Deprat. Trên cơ sở đó, trong phiên họp toàn thể ngày 10-6-1991, Hội Địa chất Pháp đã long trọng làm lễ khôi phục danh dự Hội viên cho nhà địa chất lỗi lạc J. Deprat sau hơn 70 năm kể từ khi ông bị khai trừ và 46 năm sau khi ông qua đời.
Về tiểu thuyết “Chó cứ sủa…”
Tiểu thuyết “Chó cứ sủa…” của Herbert Wild (J. Deprat) là tác phẩm tự sự lấy việc nghiên cứu địa chất khi mở tuyến đường sắt Hà Nội - Vân Nam làm bối cảnh. Ngành địa chất và công ty Xây dựng đường sắt chịu trách nhiệm thiết kế, thi công tuyến đường sắt này. Viện Khoa học trực thuộc Sở Tài nguyên thiên nhiên ở Hà Nội được đảm trách việc nghiên cứu địa chất. Cán bộ khoa học của viện khá đông, trong đó có 3 nhân vật được chú ý mô tả:
- Tardenois (tức Lantenois trong đời thực): Kỹ sư, lãnh đạo hành chính của Sở Tài nguyên thiên nhiên, ít hiểu biết về địa chất nhưng kiêu căng, xu nịnh cấp trên, có nhiều mưu mô thủ đoạn để củng cố địa vị của mình.
- Dorpat (tức Deprat trong đời thực): Viện trưởng viện Khoa học. Một nhà khoa học tài năng và đức độ, rất say mê nghiên cứu khoa học, không tham danh lợi. Dorpat sống chân thành cởi mở, đấu tranh không khoan nhượng chống kẻ cơ hội, thiếu tài đức. Sau 8 năm tận tụy với khoa học, Dorpat đã đưa viện Khoa học từ một cơ sở rệu rã trở thành một cơ quan khoa học có nề nếp, có nhiều công trình giá trị được các nhà khoa học nổi tiếng ở Pháp và trên thế giới đánh giá cao.
- Mihiel (tức Mansuy trong đời thực): Một công nhân khai đá, lúc trẻ tuổi sống nghèo khổ, phải làm nhiều nghề nặng nhọc. Sau nhờ có ý chí tự học đã trở thành nhà tự nhiên học, giỏi về tiền sử học. Tính nóng nảy, thô bạo, hống hách với nhân viên dưới quyền.
Lúc đầu Tardenois có quan hệ khá tốt với Dorpat, mặc dầu chỉ là bề ngoài. Nhận thấy Dorpat có khả năng và uy tín khoa học, Tardenois tìm cách tranh công. Tuy chỉ là lãnh đạo hành chính, Tardenois luôn xen vào công việc khoa học của Dorpat. Với thái độ
bề trên, kiêu căng và hách dịch, ông ta sửa từng câu chữ, muốn thay đổi cả nội dung trong báo cáo khoa học của Dorpat. Đi đến đâu ông ta cũng khoe tài chỉ đạo chuyên môn của mình. Một số cán bộ yếu kém nhưng giỏi luồn cúi lại đuợc Tardenois đánh giá cao và nâng đỡ.
Mihiel, trên 50 tuổi, được Dorpat quý mến và giúp đỡ tận tình trong suốt 8 năm. Nhưng sau, do ghen ghét đố kỵ, chính ông này câu kết với Tardenois, vu cáo Dorpat khi đưa về Pháp sưu tập các hóa thạch châu Á đã có hành động man trá, ngầm đưa vào cả một số hóa thạch vốn được mang theo từ châu Âu. Sự thật là chính Mihiel và Tardenois đã đánh tráo hóa thạch và lén lút gửi đi. Sau đó chúng dùng mọi thủ đoạn ti tiện - được bạn thân và quan thầy ở Đông Dương và ở Pháp tiếp tay - để buộc tội Dorpat với mục đích loại anh ra khỏi Viện Khoa học và Mihiel sẽ thế chân làm Viện trưởng. Đây là sự xung đột giữa khoa học và bộ máy quản lý quan liêu thối nát. Dorpat tuy chịu nhiều đau khổ nhưng nhất định không chịu khuất phục.
Về quan hệ đối với người bản xứ, Tardenois và Mihiel nặng đầu óc thực dân nên coi thường họ. Mihiel rất thô bạo, hống hách quát tháo, thậm chí còn đánh đập chửi rủa họ tàn tệ trong khi làm việc. Dorpat ngược lại sống chan hòa, cởi mở, đánh cờ vui chơi với họ, tận tình giúp họ trong chuyên môn nên được họ quý mến.
Ngoài việc say mê nghiên cứu khoa học, với tâm hồn nghệ sĩ Dorpat còn say sưa ngắm cảnh núi rừng nhiệt đới hoang sơ, các thác cao vực thẳm, những cánh đồng bao la… Ở Hà Nội, ông cùng gia đình ngồi hàng giờ ngắm cảnh hoàng hôn rực rỡ trên Hồ Tây, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng rì rào của khóm tre và tiếng sột soạt của những tầu lá cọ quanh nhà. Ông đắm mình trong phong cảnh thiên nhiên nhiệt đới, để đêm đêm mường tượng lại, những cảnh đẹp Việt Nam từng gặp trong ngày đã theo ông vào những vần thơ, bản nhạc…
Qua tiểu thuyết “Chó cứ sủa…”, người đọc còn thấy được bộ mặt thật của bộ máy công chức của Pháp ở thuộc địa do chính tác giả người Pháp bộc lộ: “Họ là hỗn hợp các con người trái ngược nhau, hoặc là những tên vô lại thực sự, những kẻ dốt đích thực, hoặc là
những người tài giỏi đến đây để hy vọng được làm những điều tốt đẹp”. Ở cơ quan nào cũng có bè phái. Bọn cơ hội móc nối với các cấp chính quyền, kể cả Phủ Thống sứ và Phủ Toàn quyền, với cả những kẻ có chức quyền ở chính quốc. Bọn chúng gắn bó với nhau thành một khối, nâng đỡ những kẻ thiếu tài đức, sẵn sàng vùi dập những người có năng lực, đức độ nhưng không chịu làm theo những ý đồ xấu xa của họ. Đó là những sự thực chua chát mà những người giàu tâm huyết với khoa học như Deprat phải đương đầu. Ta hãy nghe Thống sứ Bắc Kỳ nói với nhân vật Dorpat: “Ngành địa chất của ông dù hay như thế nào đi nữa cũng không thể làm nẩy thêm được một hạt gạo nào ở thuộc địa”. Cách nhìn nhận như thế phần nào đã thể hiện đầu óc thực dân vụ lợi của những nhân vật đứng đầu bộ máy chính quyền của Pháp ở Đông Dương hồi đầu thế kỷ mà với tiểu thuyết của mình J. Deprat đã thể hiện được.
“Chó cứ sủa…” là cuốn tiểu thuyết của một tác giả Pháp đề cập đến bối cảnh xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20, một cuốn tiểu thuyết tự sự hấp dẫn về sự kiện bê bối vốn được giới khoa học Việt Nam biết tới, nhưng chưa mấy ai có điều kiện được tìm hiểu ngọn ngành. Một điều thú vị là cuốn tiểu thuyết này ra đời cùng thời với cuốn tiểu thuyết viết theo phong cách lãng mạn đầu tiên của Việt Nam - tiểu thuyết “Tố Tâm” của Song An - Hoàng Ngọc Phách (1926).
Dịch cuốn tiểu thuyết này, chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ vào sự hiểu biết của bạn đọc Việt Nam về tác phẩm văn học của một tác giả Pháp đã từng sống và làm việc ở Việt Nam. Tác giả của tiểu thuyết - nhà văn Herbert Wild (J. Deprat) là một trong những người có công xây dựng SĐCĐD vào thời kỳ sơ khai. Bảo tàng Địa chất Hà Nội do ông sáng lập gần đây cũng đã được trùng tu, nâng cấp với sự tài trợ của Chính phủ Pháp, đáp ứng được yêu cầu của một cơ quan trưng bày lưu trữ mẫu vật địa chất của nước Việt Nam giàu tài nguyên khoáng sản và phong phú các sự kiện địa chất.
Tạ Phương
Phần thứ nhất NIỀM VUI SÁNG TẠO
CHƯƠNG MỘT
I
- Đã đến Đường Vòng, thưa ông! - Viên giám sát nói. Ông ta nhấn phanh thêm một chút. Tốc độ toa goòng giảm dần. Các bánh xe lăn nhẹ trên đường ray, nghiêng theo một cua gấp ôm khít lấy mỏm núi Lù Cu Chải cao chót vót.
Ở bên kia bờ suối, một đoàn người Dao đang còng lưng dưới sức nặng của những chiếc gùi trên vai, dò dẫm vượt qua quãng đường núi trơn như đổ mỡ để trở về những túp nhà lúp xúp trong mây. Đối với họ chiếc toa xe kia khác nào một con bọ nhỏ đang ngửa mình trườn nhanh trên sườn dốc đứng. Những cặp mắt tinh anh có thể phân biệt được trong toa xe có hai bóng người ngồi trên ghế và phía sau họ là hai người Hoa giúp việc bận đồ xanh. Toa xe lướt nhanh, vòng quanh một khối đá lớn. Tiếng lạch cạch của bánh xe trên đường ray mỗi lúc càng trở nên đơn điệu, không còn hòa âm với tiếng rì rầm của suối nữa.
Đột nhiên thung lũng dường như biến mất và một khoảng không mênh mông mở ra trước mắt những người trong toa xe. Dãy núi Nan-ti cho đến bấy giờ ở rất gần, ngay phía dưới, bỗng chốc trở thành một dải trắng bé nhỏ lượn lờ giữa những vực sâu thẳm xếp thành chuỗi kéo dài trong khe lũng. Xa hơn nữa, nó bị nhòa dần trong làn hơi nước xanh lơ. Mặc dầu biết khá tường tận nơi này, Dorpat cũng phải thốt lên:
- Một thung lũng tuyệt vời!
- Hãy nhìn kìa! - Viên giám sát nói. Ở dưới đáy thung lũng, phía bên kia đường vòng là ga Pu Tu Chin. Nom bé tẹo, hệt như một thứ đồ chơi con nít!… Trông thật lạ, có lẽ nền ga bằng phẳng rộng chưa đầy chục mét vuông!
Dorpat mỉm cười. Viên giám sát nói tiếp:
- Chỗ đứt đoạn ở cách đây chừng một cây số.
- Tôi biết. - Dorpat nói. - Tôi đã quen tuyến đường… Ồ, xin ông dừng lại một lát.
Viên giám sát phanh xe.
- Từ lâu tôi đã muốn ký họa phong cảnh nơi đây. - Dorpat nói tiếp. Điểm ngắm này thật là lý tưởng.
- Tranh thủ đi, thưa ông! - Viên giám sát bảo Dorpat rồi quay sang bảo hai người giúp việc người Hoa. - Hãy cho xe ra khỏi đường ray!
Làm xong việc, hai người ngồi xổm hút thuốc. Họ rút từ thắt lưng bằng vải xanh ra chiếc điếu thuốc lào xinh xắn có nõ nạm đồng bé xíu.
Dorpat rút một tờ giấy dài từ trong ống quyển, đi ra lề đường và bắt đầu vẽ.
Phong cảnh thật tuyệt diệu, về phía nam, thung lũng kéo dài thành khe hẻm quanh co ở nơi tận cùng của dãy Nan-ti. Xa xa là những vực thẳm không thể vượt qua được với vách dựng đứng cắt ngang qua khối núi đá vôi. Rồi những dốc dài do đá phiến láng xếp thành tiếp nối vô tận, chia địa hình thành những bậc thang khổng lồ. Đây đó, trên những ụ đất hẹp, ánh lên mặt nước lấp lánh của những thửa ruộng bậc thang được nuôi dưỡng bằng một nguồn nước nhỏ, trông hệt như những chiếc gương bị ai đó đánh rơi giữa chốn ngàn xanh hơi nước mịt mờ. Dọc theo đường phân thủy nối liền các đỉnh và dải núi, trên những độ cao đáng kể, một làn khói mỏng manh như mách bảo có một nhóm người H’mông hoặc Dao đang sinh sống giữa nơi sơn cùng thủy tận heo hút và lạnh giá. Những dốc núi mờ xa dường như không còn bóng dáng con đường cũng như mọi dấu vết của con người. Chắc ai cũng sẽ cảm thấy lạ lẫm khi ở giữa khung cảnh thiên nhiên như vậy mà lại có một dải đá balat phẳng phiu, trên đó đặt hai thanh ray ngạo nghễ và sáng loáng của ngành đường sắt.
Ga Pu Tu Chin ở bên kia Bạch Hổ, vốn được người Âu gọi là “Nan-ti giả”, nằm cách khoảng bốn trăm mét ở phía dưới kia. Một đầu máy đang vận hành kéo theo vài toa ở gần ga, trông thật bé nhỏ, ngộ nghĩnh trước các khối núi đồ sộ. Nền đường sắt chạy dài
như một băng sáng rất mảnh ở sườn dốc - vì khoảng cách quá xa nên không thấy được các thanh ray - vượt qua các khe xói nhỏ trên các cây cầu, đi vòng quanh những mương xói lớn hơn và chốc chốc lại mất hút trong những đường hầm xuyên qua núi đá vôi rắn chắc. Những khối núi này trơ trơ trước nắng gió, nhấp nhô trên những quả đồi đá phiến bở mềm, càng làm nổi lên hình dáng của những nếp uốn phức tạp. Đường sắt ở phía trên Nan-ti giả trông mỏng manh như đôi sợi chỉ kéo vòng ở những chỗ nhìn thấy được, quành qua các mương xói lớn trước khi đi vào những khối núi ở kilômet 112. Phía trên đường sắt là các sườn dốc gấp thành những bậc khổng lồ, in hình trên nền trời xuân xanh biếc.
- Trông chúng như những bậc thang giăng mắc khắp nơi. - Viên giám sát nói, vẫn theo dõi cái nhìn của Dorpat. - Ghê gớm thế, chúng leo cao hơn cả chúng ta, không biết lên đến mấy nghìn mét?
- Khoảng ba nghìn. - Dorpat đáp gọn, anh đang chú ý đến bản phác thảo. Chiếc đầu máy nhỏ ở ga Pu Tu Chin phả một luồng hơi trắng. Tiếng xình xịch vang âm đến tận chỗ Dorpat, lan tỏa khắp nơi trong các vách núi rồi biến thành tiếng vọng. Trong chốc lát các thung lũng đã đầy ắp tiếng vọng của con tàu. Chỉ khi những tiếng vọng lắng xuống rồi lịm dần trong các triền núi xa xa, sự tĩnh lặng mới thực sự trở lại.
Hai người giúp việc vẫn ngồi hút thuốc. Họ im lặng như đang chìm trong dòng suy tư thâm trầm và nhẫn nhục. Cả hai đều có nước da bánh mật, lưỡng quyền nhô cao, những cặp mắt nhỏ của họ dường như dửng dưng với mọi sự vật ở xung quanh.
Dorpat dừng vẽ. Cặp mắt người miền núi của anh dường như mãn nguyện. Anh ngắm nghía lần cuối những chi tiết của bức tranh vừa hoàn thành. Mùi hăng hăng của thuốc lào Vân Nam màu vàng trộn với dầu cừu tỏa lan trong bầu không khí yên lành. Anh cảm thấy phấn chấn, lòng tràn ngập niềm vui với cuộc sống khỏe khoắn và năng động ngoài trời. Anh yêu tất cả thế gian này - những cuộc leo núi dài ngày, những lần đi chơi xa ở sườn núi với những con ngựa khỏe khoắn. Anh cảm nhận rõ khi chúng gò lưng thu mình lại trên những con đường mòn rất giống những bậc thang đổ nát. Anh say mê quan sát các dãy núi với những nếp uốn phức tạp. Là một
nhà khoa học trẻ, vốn ưa thích cuộc sống tự do phóng khoáng, những dáng vẻ muôn màu của thiên nhiên được anh thưởng thức với gu thẩm mỹ của Ruskin[1]. Anh thâu nhận cái kiến trúc lộng lẫy, vẻ đẹp hùng vĩ của các dãy núi, những thay đổi của bầu trời, vô vàn sắc màu của sườn dốc, ánh lóng lánh của thác nước trong vòm cây xanh sẫm… Và với tư cách một nhà nghiên cứu, anh chú tâm tìm hiểu nguyên nhân của các sự vật để rồi tổng hợp lại. Anh thâu tóm trong tầm mắt rộng lớn của mình những diễn biến vô chừng của các hoạt động kiến tạo đã dựng nên cả một vùng núi non hùng vĩ trước mặt mình.
Sự tương phản mới tuyệt vời làm sao! Từ ngay dưới chân anh chạy vút lên thượng nguồn sông Hồng là một lòng máng khổng lồ chìm đắm trong những thảm rừng rậm rạp, ngột ngạt và ẩm thấp của vùng nhiệt đới. Sau một giờ đi xuống họ đã ở giữa rừng, cỏ cao tới vài ba mét. Dưới những tán cây có những giò phong lan treo lơ lửng. Phía sau anh, sau những mỏm đá vôi của Lu Cu và Cô Cu, đã là đất Vân Nam với khí hậu ôn hòa - phần riềm của mái nhà thế giới. Dải núi này nối liền với cao nguyên Tây Tạng, trên đó có những rừng sồi, rừng trắc bách diệp, rừng thanh tuyết và những thảm cỏ. Ở đó còn có những con suối chảy róc rách dưới bóng dương liễu trước khi đổ vào những hồ nước mênh mông. Trong tiết trời khắc nghiệt ở những độ cao đáng kể này, chính những hồ nước đã góp phần tạo nên thảm thực vật muôn hình muôn vẻ.
Viên giám sát nhìn vào bức vẽ:
- Chỉ với vài nét chấm phá phong cảnh đã có thể nhận ra tất cả. Trông giống như một bộ xương!
- Đúng vậy! - Dorpat nói. - Đúng là một bộ xương, núi cũng có bộ xương của nó. Vấn đề là cần phải biết tháo gỡ nó… Tất cả bốn người lại lên toa xe và không cần đẩy, độ dốc đưa họ đi. Họ đi sâu mãi vào trong núi. Tiếng bánh sắt lanh canh trên đường ray. Khi ra khỏi các đoạn đường hầm thì phong cảnh hùng vĩ của thiên nhiên lại hiện ra, mỗi lúc một khác. Họ lướt nhanh trên những thanh ray bằng thép một cách nhẹ nhàng kỳ diệu. Những cái cầu quá hẹp, không lan can, chỉ vừa đủ cho bề rộng con tàu. Thật
táo bạo và đáng tự hào cho những ai đã dám nghĩ và xây dựng nên công trình đường sắt lạ lùng này.
Bây giờ họ đang lướt nhanh theo sườn bắc của dãy Nan-ti giả. Trên cao là những vách dựng đứng như treo trên thung lũng. Tiết trời thay đổi. Không khí khô và lạnh của cao nguyên Vân Nam hòa trộn với những luồng khí nóng ẩm, ngột ngạt của cây cỏ bốc lên từ đáy các vực sâu - xứ sở của những cánh rừng bạt ngàn một màu xanh.
Sau khi lượn vòng quanh một chỏm đá, trước mắt họ bỗng hiện ra một đoạn đường đông vui. Đám người bận đồ xanh lơ là những phu làm đường từ Quảng Đông tới. Người miền núi Vân Nam không thích làm công việc buồn tẻ này. Ba người Âu đứng ghếch chân nói chuyện bên cạnh chiếc đầu máy xe lửa. Trông thấy toa xe, một chiếc mũ cát trắng vẫy vẫy.
- Ông Lebret ra hiệu cho ông. - Viên giám sát nói.
Toa xe dừng lại. Kỹ sư Lebret, một người khỏe mạnh hoạt bát, có nước da nâu và ánh mắt cương nghị bước qua một đống gạch vữa đổ nát, đến chỗ Dorpat và siết chặt tay anh:
- Tôi đã nghĩ đúng, - anh ta vừa nói vừa cười, - là anh sẽ rất vui đến đây để chứng kiến những lời tiên đoán của anh đang trở thành hiện thực. Tôi được tin anh đã đến Mi La Ti. Anh hài lòng về hành trình của mình chứ?
- Rất hài lòng. - Dorpat vui vẻ đáp. - Hàng loạt những vùng đất được khám phá. Dù sao tôi cũng hiểu biết thêm rất nhiều điều về miền đất Tây Nam Trung Quốc này.
- Và không mệt lắm chứ? Còn tôi, tôi đã có những lúc không vui ở kia, dưới đáy những hành lang La Ha Ti - những vụ lở đất rất nghiêm trọng làm sụp đổ những khối đá lớn. Rồi cái rừng già chết tiệt này! - Lebret chỉ tay về phía những cánh rừng xa, nơi một làn hơi nước trắng đang bốc lên nghi ngút. - Không khí ở đó thật là ngột ngạt! Nhưng không sao! Thoáng chốc đã mười lăm tháng kể từ lần trước gặp anh. Mười lăm tháng… Ở trên ấy chắc rét lắm?
- Rét lắm! - Dorpat nói. - Ở núi Kiều Tĩnh, phía trên sông Kim Sa[2] gió thổi dữ và rét buốt. Còn trong lều thì không có gì để đốt!
Hơn nữa, giữa cao độ ba, bốn nghìn mét thiếu dưỡng khí, hơi thở trở nên mệt mỏi, gấp gáp. Nhưng tôi đã tìm được những điểm hóa thạch rất thú vị, cả những nếp uốn nữa!…
Dorpat bẻ ngón tay kêu răng rắc như một cậu học trò nhỏ với vẻ mặt vui sướng ngây thơ khiến cho Lebret mỉm cười.
- Thế cũng đủ sưởi ấm lòng anh? Nhiệt lượng của lửa thiêng mà. Còn gia đình anh ra sao?
- Ổn thôi, tôi đã bố trí cho nhà tôi và các cháu nghỉ tại một ngôi chùa trên bờ hồ Dương Trung trong hè này. Ngày mai tôi sẽ đến đó. Thật là một chỗ nghỉ tuyệt vời. Tôi sẽ ở đấy một thời gian, nghỉ ngơi và bắt đầu rà soát nhật ký hành trình. Thế còn anh, hài lòng với công việc của mình chứ?
Ánh mắt Lebret, nhân viên công ty Xây dựng đường sắt Tây Nam, bỗng sa sầm.
- Lát nữa chúng ta sẽ nói chuyện ấy. - Lebret đặt tay lên vai Dorpat. - Anh bạn của tôi ơi, tôi rất mừng được gặp anh! Vẻ mặt Lebret thể hiện lên lòng trìu mến chân thành. Anh vui sướng nhìn Dorpat, ngắm cặp mắt xanh của bạn đang mỉm cười nhìn lại.
- Nào, hãy xuống ngay đi!
Họ đi xuống, dọc theo đường sắt. Hai người Âu khác chào họ. Lebret giới thiệu:
- Ông Dorpat - nhà khoa học, lãnh đạo một viện nghiên cứu; còn đây là ông Lordan - nhà thầu khoán, ông Broquin - trưởng cung đường.
Nét mặt nhà thầu khoán làm Dorpat chú ý. Gương mặt đẹp, bình thản và thông minh của ông ta tạo cho anh cảm giác đây là con người có nghị lực và tự chủ.
Nhóm Lebret lại lên đường. Họ đi thêm khoảng hai mươi mét dọc theo đường sắt, giữa những phu làm đường.
- Dừng lại! - Lebret hét lớn. Dưới chân họ, nền đường sắt thình lình sụp lở. Vết trượt thật sắc gọn. Trước mặt họ bỗng hiện ra một khoảng trống rộng tới dăm chục mét. Cả một khối đất đá biến mất. Thế vào chỗ đường sắt mới được khôi phục là một sườn đất dài màu
vàng, rất dốc, từ độ cao năm mươi mét trượt thẳng xuống phía dưới hàng trăm mét. Một thứ hành lang rộng như của tuyết lở được hình thành giữa hai mỏm đá vôi dựng đứng. Các thanh ray vẫn còn gắn chặt vào tà vẹt bằng sắt và đường sắt thì treo lơ lửng một cách lạ lùng trên không, giữa hai mỏm đá mà nó tỳ lên. Toàn cảnh nhìn mà chóng mặt.
- Thật khủng khiếp! Dốc dễ chừng đến bốn mươi độ. Hãy nhìn kìa, một cú leo vắt vẻo giữa hai mỏm núi đá. Trong chớp mắt một cái dốc mới đã thay thế hoàn toàn dốc cũ.
Dorpat nhìn vẻ giễu cợt:
- Anh sẽ vào bằng đường hầm ở phía trên và ra khỏi ở phía dưới. Đúng là cái nhà giam dành cho anh.
- Bằng đường hầm! Tiền đâu? Anh khá đấy!
Yên lặng một lát, Dorpat nói tiếp, đượm vẻ ưu tư:
- Loại sét vôi màu vàng này rất yếu, đó là thứ trầm tích có tuổi Devon[3].
- Tôi cóc cần biết! - Lebret lẩm bẩm. - À! Anh cho như thế là tốt? Tôi nghĩ rằng anh còn vui sướng về điều đó nữa!
- Không! - Dorpat khẳng định dứt khoát. - Nhưng vì sao tôi không có quyền được vui sướng? Kẻ ngốc nghếch nào đã không dự kiến điều này, đã không nghiên cứu cho chu đáo một chút? Thế nào? - Anh phấn chấn nói tiếp. - Đây là một tuyến đường sắt xây dựng trong những thung lũng đang ở giai đoạn xâm thực sâu. Những sườn dốc đứng đang ở vào thế bất ổn định. Anh đã thật ngây thơ khi cắt đường qua nó hoặc chất nặng lên nó! Khi sườn dốc không có nền móng vững chắc, bị sụt lở ở độ cao trên hai trăm mét, nó sẽ kéo tuột theo cả nền đường một cách dễ dàng! - Anh rên rỉ. - Như cái thân anh khi không còn đôi chân nữa, anh còn là cái thá gì. Tôi bỗng nghĩ đến một người, anh còn nhớ không, khi tôi đi qua cách đây một năm rưỡi? Tôi đã bảo ông ta, trong vòng hai năm nữa cái sườn sét vôi này sẽ bị sụp lở. Giờ thì điều đó đã xảy ra, mà nào đã đến hai năm! Và tôi còn nói như thế ở bao nhiêu nơi khác nữa?
- Anh đã nói đúng. - Lebret nói. - Nhưng người ta lại bỏ ngoài tai và việc xây dựng hối hả vẫn cứ tiếp tục.
Rồi anh lẩm bẩm: “Điều đó hẳn làm cho nhà khoa học phổng mũi”.
Nếu Dorpat có lúc nào tự vấn lương tâm thì anh cũng phải thừa nhận rằng trong lời trách cứ trên đây của Lebret hàm chứa một phần sự thật. Nhưng điều đó chỉ nằm sâu trong tiềm thức của anh. Lebret lại nói, chuyên chú vào đề tài của mình:
- Năm nào vào mùa mưa tuyến đường sắt này cũng bị sụt lở. - Đó là việc của các nhà thầu khoán. - Một giọng vui vẻ cất lên. Họ quay lại. Ông trưởng cung đường cùng nhà thầu khoán đã theo kịp họ:
- Cuối cùng ta phải làm gì ở đấy, thưa ông kỹ sư? - Ông trưởng cung đường hỏi.
- Một cây cầu cạn với móng thật khỏe. - Lebret nói. - Tôi sẽ lập một dự án và trình bày với ban giám đốc, miễn là ở những chỗ khác đừng xảy ra như vậy.
Dorpat cười. Năm trước, khi đến Trung Quốc, đi bộ theo một đoạn đường đã làm xong dài chừng năm chục mét giữa La Ha Ti và Lu Cu, anh đã phải vượt qua 112 chỗ sụt lở. Rồi mỗi năm điều đó lại tái diễn, nhiều hay ít tùy thuộc vào cường độ các cơn mưa mùa hè.
Lebret nhìn trân trối chỗ đất lở, im lặng, vẻ thất vọng. Cạnh anh, Dorpat đang chăm chú theo dõi sự trượt thoát nhanh của khối đất đá đến một cái dốc đứng. Tại đó tất cả bỗng mất hút trong khoảng không. Ở sườn núi bên kia, anh nhìn thấy cái nền đường sắt chỉ còn như một vết xước nhẹ, những chiếc cầu cạn mỏng manh, những đường hầm như gá nhẹ vào những quả núi khổng lồ. Có khả năng chỉ trong giây lát - và điều đó đã xảy ra nhiều lần - khối đất đá ầm ầm rung chuyển và cuốn phăng đi các đường hầm yếu ớt mà con người đã cố công dựng nên. Anh hiểu thấu đáo cấu tạo đất đá ở đây. Chúng bao gồm những tầng đá vôi dày, xoắn vặn, gãy khúc, xen kẽ với thứ đá phiến sét dẻo dễ tạo nên những mặt trượt lý tưởng. Tất cả đá ở nơi đây đã bị những hoạt động địa chất phá hủy. Chúng bị đứt gãy và vò uốn khủng khiếp. Anh nghĩ đến những hậu quả khôn lường…
Cũng như mọi người, anh biết rằng người ta đã cẩu thả như thế nào khi chọn tuyến đường. Anh biết rằng một kỹ sư ở trên tàu biển đã rê ngọn bút chì trên bản đồ địa hình và tuyên bố: “Ta sẽ đi qua đây”. Rồi người ta lên đường, phó mặc số phận cho may rủi, với ý nghĩ giản đơn là khi có một thung lũng thì mặc nhiên có thể mở một tuyến đường sắt ở đấy, đi đến tận ngọn nguồn. Người ta đi từ thung lũng sông Hồng, phía trên Tà Vệch một chút, bắt đầu đóng cọc mở đường ở sườn dốc. Nhưng, sau khi tiến hành công việc được khoảng một trăm kilômet, sau những ngày lao động cật lực, kiên trì và dũng cảm giữa đám cây cối um tùm mắc trên vách đá cheo leo, trong sự đau đớn ê chề về thể xác ở dưới đáy một thung lũng tối tăm, nơi có những sườn núi nhọn hoắt giao nhau trên dòng suối hung dữ, trong làn hơi nóng tới ba nhăm độ khiến nước da trở nên vàng vọt và cơn sốt ác tính đã bắt đầu hành hạ nhóm nghiên cứu, người ta bỗng bàng hoàng đứng trước một đoạn dốc bị sụt lở kéo dài hàng trăm mét. Ở phía trên, con sông vẫn gào thét với bao ghềnh thác rợn người. Người ta buộc phải tìm một giải pháp. Để khắc phục tình trạng chênh lệch độ cao quá lớn này, người ta đành vượt qua bao trở ngại để đi vòng quanh thung lũng nhánh của Bạch Hổ, đó là Nan-ti giả.
Câu chuyện đó trở nên nổi tiếng trong ngành đường sắt. Người ta gọi đây là “sai lầm năm trăm mét”… thẳng đứng. Từ sai lầm này đẻ ra “Đường Vòng”, ở đấy sự xáo lộn đất đá đạt đến mức tối đa. Về mùa hè những sườn núi bong ra, từ chiều cao hàng trăm mét, hàng nghìn mét đất đá ào ào trút xuống nền đường sắt. Như vậy, đây chỉ là một tuyến đường gián đoạn hoặc chắp vá bằng cách chuyển tải chậm chạp, vất vả và không có gì đảm bảo.
Ở trên nữa, giữa vùng trung tâm Vân Nam, người ta đang làm tiếp các tuyến đường. Những sai lầm ban đầu đã khiến xí nghiệp phải thi công một loạt cung đường tồi tệ nhất. Đâm lao thì phải theo lao, cung đường qua Nan-ti đã kéo theo cung đường qua các khe lũng của Pa Tả Hồ với những vực sâu thăm thẳm. Ở đấy con sông trẻ Tây Giang, nằm cách những cánh đồng ẩm thấp của Quảng Đông nóng bức khoảng ngàn rưỡi kilômet, là một con sông hung dữ. Nó chảy trong những đống đá vốn bị vỡ lở từ vách của chiếc lòng
máng khổng lồ. Lại nữa, vì cuốn theo đất lũa, đá phiến sét, cát kết sét vôi mà nó có màu sô-cô-la đặc sệt. Chế ngự nền đường ở thế cao hơn, con sông không ngớt trút xuống thung lũng những đống đất sét nhão nhoét, đè bẹp đường sắt, chôn vùi nó khi mưa to và làm sụt lún toàn bộ nền đường.
Dorpat còn rất trẻ, chưa đầy ba mươi tuổi. Anh phẫn nộ và lấy làm tiếc vì trong việc lựa chọn tuyến đường người ta đã không đếm xỉa đến những công trình nghiên cứu nghiêm túc để có thể loại trừ những khó khăn trong xây dựng cũng như những hậu họa khôn lường về sau. Theo kết quả nghiên cứu của anh, con đường phải được mở qua Linh Ngân và Đường Hồ, qua những miền đất trù phú và đông dân nhất của Vân Nam. Trong khi đó tuyến đường xấu hiện tại lại đi qua những vùng đất nghèo xác xơ của tỉnh, xa những con đường mòn dài vốn tấp nập người qua lại. Sai lầm về kinh tế chồng chéo lên những sai lầm khác! Và điều đó bắt nguồn từ tính kiêu ngạo cố hữu của giới kỹ sư tốt nghiệp ở các trường đại học. Các trường này thường từ chối dứt khoát việc nhờ cậy vào kiến thức ngoại lai. Chỉ có họ thôi và thế là đủ. Dorpat rất khâm phục những công trình được một vài người trong số họ tính toán hoàn hảo và được xây dựng nên nhờ tài năng thực sự. Nhưng anh thấy thật mỉa mai khi họ đặt một cách mù quáng những công trình như thế trên một nền đất sụt lún và có nguy cơ bị đổ sụp mà họ không thể giải thích, thanh minh - vì điều đó ở ngoài tầm hiểu biết của họ - như trẻ con vẫn thường xây những lâu đài trên cát. Anh cũng cảm nhận được sự khinh khi của vài người trong số các kỹ sư ấy về tất cả những gì không thuộc về “phe cánh” của mình và vẻ kiêu kỳ, giễu cợt khi mắt họ chạm phải những tia sáng không phát ra từ ngọn đèn của chính mình. Họ cứ tưởng mình thông tuệ lắm trong khoa học, trên thực tế đầu óc họ bị méo mó bởi chất đầy những lập luận toán học mà họ coi là có thể quyết định tất cả. Nhưng những biến dạng của vỏ trái đất lại do một guồng máy khổng lồ vận hành, không giống như bộ máy của những kẻ làm ra bản vẽ, đã xóa bỏ công trình của họ không một lời cảnh báo.
Am hiểu chuyên môn, Dorpat đã nhiều lần thử đưa ra những lời khuyến cáo. Người ta nghe anh với thái độ lạnh nhạt, đôi khi còn
bỡn cợt, vô lễ. Bây giờ anh có dịp trả thù, sự trả thù của nhà khoa học, với tâm trạng thỏa mãn pha chút quá khích của tuổi trẻ. Anh không thấy khó chịu khi chế giễu bọn người láo xược và oai vệ đang lấn bấn trong những khó khăn đáng lo ngại nhưng rất dễ tháo gỡ - điều anh đã chứng minh rất nhiệt tình trước đám đông với sự hăng say của tuổi trẻ và lòng trung thực không khoan nhượng.
II
- Thế bây giờ phải làm gì? - Lebret hỏi. - Anh tưởng rằng có thể dời tuyến đường đi nơi khác?
- Tất nhiên. Phải đi ngược lên theo thung lũng rộng của sông Hồng, đến tận đỉnh Minh Tinh, sau đó qua một đoạn dốc và ngay lập tức lên cao nguyên đi Linh Ngân. Ở miền Nam Á, những vùng cao thường ít mấp mô, địa hình khá ổn định, trong khi đó các thung lũng lại trẻ và không ổn định.
Anh mơ màng một lát: “Khi đi bộ dọc đường sắt mình đã thấy được vài việc nhỏ… Chà! Người ta đã kể cho mình rằng các nhà thầu khoán đã kiếm chác được những món lợi kếch sù chỉ trong có vài tháng”.
- Anh biết đấy, - Lebret nói, - trong những điều kiện nào đó chúng ta không nên khe khắt quá. Phải biết chấp nhận một chút… Các nhà thầu khoán từ khắp mọi nơi, nhưng lại chẳng từ nơi nào cả. Anh đừng đánh đồng tất cả bọn họ. Có một người trong số họ đang đứng trước mặt anh đấy.
Lordan mỉm cười.
- Chính ông ta! Không bao giờ công trình xây dựng này phải trả cho ông ta một đồng trinh sai nguyên tắc. Lordan, xin ông đừng nhăn nhó khó chịu.
Dorpat nhìn Lordan với ánh mắt thiện cảm. Anh cảm thấy có vẻ gì đó trái ngược thể hiện trên gương mặt ông ta. Anh nghĩ, đúng là cặp mắt chân thực kia đang ánh lên một bản chất tốt đẹp. Anh vội nói tiếp:
- Tất nhiên tôi không có ý định vơ đũa cả nắm. Tôi lấy làm buồn khi ông Lordan đã để ý đến những điều nhỏ nhặt trong lời nói của tôi.
- Anh đừng ngại, - Lordan nói giọng bình tĩnh. - Và khốn nỗi, người ta không thể bác lời anh được. Những việc hỏng… có đấy! Rất nhiều là đằng khác… và tôi đang sửa. Đúng, điều ấy sẽ làm tăng giá thành của từng kilômet.
- Người ta đã dự kiến và chuẩn bị phương án sửa chữa - Dorpat nói. Tôi nghe nói là chữ “hoàn thiện” được đặt lên hàng đầu. Rất tốt. Cái cầu cạn mà ông buộc phải xây dựng ở chỗ đứt gãy là một sự “hoàn thiện”. Hoàn thiện! Điều đó có vẻ không quan trọng. Nhưng bằng những từ ngữ bóng bẩy người ta muốn che giấu sự thật. Ông bạn ơi, cách đây một năm rưỡi, khi đi bộ theo nền đường, đôi khi tôi thấy người ta đã nhồi nhét đất sỏi vào sau một bức tường chống, bên trên là đá ba-lat. Ở chỗ ấy theo văn bản cam kết thì tầng nền bắt buộc phải được đổ bê tông. Khi trời mưa, bức tường chống đã vỡ. Nhưng nhà thầu khoán thì phủi tay… Khi đó tôi nghĩ rằng việc kiểm tra đã để… ôi!…
- Chàng trai của tôi ơi, - Lebret nói, - việc kiểm tra đôi khi gặp khó khăn. Để tôi kể anh nghe chuyện này: Ngày xưa, ở rất xa đây, người ta đã xây dựng một tuyến đường sắt trong một vùng núi khốn khổ, rất giống tuyến đường này. Đất xấu, điều kiện tồi tệ, mưa nhiệt đới triền miên trên những sườn núi rục lũa. Một đám cai thầu đã đổ xô đến tuyến đường. Cũng như ở đây: vài người lương thiện, nhung nhúc bọn vô lại. Trên đời này kẻ nào mạnh kẻ ấy tha hồ đục khoét. Sau khoảng ba tháng một cai thầu đã ra đi với chín trăm ngàn quan… mà đâu phải là tiền thu được trong các hầm lò. Ở đấy cũng có thanh tra của nhà nước. Viên chánh thanh tra là một kỹ sư trưởng cầu đường từ chính quốc được biệt phái đến xứ sở xa xôi này. Đó là một người lương thiện theo đúng nghĩa của từ đó. Ông ta nhận ra rằng những kiểm soát viên không bao giờ kiểm tra nghiêm túc. Bản chất con người là yếu đuối mà sự cám dỗ thì khôn lường. Thế rồi ông ta bắt đầu kiểm tra kiên quyết. Ba tháng sau, ông ta bị gọi về chính quốc và lại được bố trí đứng đầu một cơ quan hành chính. Ở xứ sở xa xôi kia có sự thay đổi các ghế lãnh đạo. Người ta đặt vào chỗ ông ta một chánh thanh tra khác, cấp bậc thấp hơn. Ông này là một người khôn ngoan. Biết được những mánh khóe của giới chính trị trong công việc, cái gương tầy liếp của bậc tiền nhiệm
còn sờ sờ ra đó, vì thế ông ta không quấy rầy một ai. Ông ta nói về một người bị ông ta kiểm tra: “Tôi không thể khiển trách anh ta, chúng tôi đã cùng chơi bời, cùng nhậu nhẹt với nhau luôn!” Broquin và Lordan bật cười.
- Đó chính là Hazebrouck. - Ông trưởng cung đường nói. - Này, - Lebret nói, - ông có tham gia vào vụ này chứ? Những người khác lại cười.
- Điều đó chứng tỏ cho anh thấy là không nên nhận xét võ đoán. Không nhiều người có thể hy sinh địa vị để làm tốt chức trách của mình. Anh bạn ơi, ở đây cũng như ở mọi tổ chức tương tự. Có bọn vô lại. Có người lương thiện. Có những kỹ sư khờ dại, kiêu căng và dốt đặc cán mai. Có những người xuất chúng. Chúng ta không nên chỉ nghĩ đến điều xấu. Còn có lòng dũng cảm và quên mình của một số người khác. Và anh biết đó, ở đây không ít người can đảm. Có vài người đã chết. Chúng ta hãy nghĩ đến họ…
- Đúng! - Dorpat nói vẻ tư tự. - Nhưng còn hậu quả thì sao?… Lebret đặt tay lên vai anh:
- Tôi đồng ý với anh. Công việc đã khởi đầu không tốt. Đã có sự vô tâm, nông nổi, sai lầm trong việc chọn tuyến đường. Nhưng đây là một công trình có tầm vóc phi thường. Anh hãy nghĩ đến cây cầu ở kilômet 112. Nghĩ đến cây cầu lớn hình cung ở kilômet 83. Hãy khen ngợi những ai đã làm những việc đó. Trong số họ có tôi đấy!
Lebret muốn nói đến cây cầu ở kilômet 112, một công trình tuyệt vời - một tấm bê tông đặt trên hai vì kèo, lao qua chỉ bằng một khẩu độ, giữa hai vách đá thẳng đứng có những đường hầm xuyên qua. Dưới nó là một khoảng không sâu tới chín mươi mét. Anh muốn nói về cây cầu cong Po Chai, nhẹ nhàng thanh thoát đến mức khó tin được, nhìn xa giống một cái mạng nhện với các cột tháp cao của nó.
Dorpat cảm thấy thiếu tự tin, không nói gì nữa. Anh chấp nhận một cách khó khăn việc người ta cố lờ đi những lỗi lầm ban đầu của một số người nhờ vào đức độ của những người khác. Lebret liếc trộm anh: “Anh ta có lý. Nhưng người ta có thể thay đổi được cái gì? Anh ta chưa sống lâu để biết rằng không nên làm như vậy, già néo
sẽ đứt dây. Tự làm đổ vỡ, mà chẳng có ích cho ai, hoặc cho bất cứ việc gì. Tốt hơn cả là hãy đợi đấy.”
- Chiều nay tôi lại lên Mi La Ti trên cái đầu máy này. - Lebret nói to. - Tôi sẽ đưa anh cùng đi, sẽ mắc thêm toa xe. Và ngày mai, nếu ba trăm kilômet trên đầu máy không làm anh lo sợ, tôi sẽ trả anh xuống nơi nghỉ mùa hè của anh. Tôi phải đi Vân Nam… Được chứ?
Lebret đến nhìn chỗ sụt lở một lần nữa rồi quay trở lại, nói: - Đến giờ đi rồi. Tự tay tôi sẽ lái xe. Còn các ông ngồi ở phía trước, trên các tấm đệm. Đấy là chỗ rất thuận lợi để chiêm ngưỡng phong cảnh. Không có bụi than…
Họ đã quen với cách di chuyển như thế. Lebret kéo còi và cho xe khởi hành. Chiếc đầu máy leo lên đỉnh đường vòng và phía sau họ những thung lũng nhiệt đới cứ hạ dần độ cao, trở thành những vực sâu thăm thẳm. Họ đến những hẻm dốc của Cô Cu, giữa những dải đá vôi lớn bị phân cắt thành những trái núi khổng lồ. Không khí trở nên khô và lạnh tự lúc nào. Cây cối của xứ nhiệt đới không còn nữa. Trên các bãi đất đá lở rải rác những đĩa hoa tú cầu màu xanh, còn trên những triền dốc rậm cỏ điểm xuyết rực rỡ những khóm hoa loa kèn màu trắng của Vân Nam. Ở trên cao, đầu tàu phì phò ngốn hết kilômet này đến kilômet khác trên đường dốc liên tục. Rặng liễu rủ tóc xuống bờ một con suối nhỏ. Lên cao nữa, các sườn núi bớt dốc dần. Đường sắt tiến vào một cao nguyên, chung quanh là vô số chỏm núi trở nên xanh lơ trong bầu không khí buổi chiều mát dịu. Họ đã đến Mi La Ti, mà người Âu gọi là Tche-ts’ouen, ở độ cao một ngàn bảy trăm mét. Giờ đây, trải dài tới tận Sibir là những mái nhà của thế giới, các khối núi khổng lồ của Trung Á tiếp nối, không còn chỗ cho các đồng bằng thấp nữa.
Họ nghỉ qua đêm ở một quán trọ nhỏ do một cai thầu mở. Dorpat đùa cợt với những người dân tứ chiếng. Anh thích trò chuyện với những con người gan dạ, đôi khi kỳ cục, nhưng bao giờ cũng hấp dẫn. Họ tiêu phí cuộc đời một cách vô tư, thường có lòng dũng cảm và chẳng hề bận tâm đến chuyện làm cho người khác phải ngạc nhiên. Chung quanh anh người ta nói tiếng Italia, tiếng Hy Lạp và một thứ tiếng Pháp bồi. Ông chủ quán trọ từng biết anh, tiến đến ngồi bên cạnh:
- Anh đã đi lên từ chỗ đứt gãy… Tôi nhớ như in khi anh dự báo sụt lở sẽ xảy ra tại đó… Vậy việc nghiên cứu dã ngoại là thực sự cần thiết?
- Đó là việc cần nghiên cứu trước tiên. - Dorpat nói.
Khá hài lòng vì đã dự đoán chính xác, Dorpat chỉ ra thêm những chỗ đất đá có vấn đề. Những người quanh anh im lặng lắng nghe. Anh sôi nổi chứng minh, không nhận ra vẻ bực mình của Lebret. Bỗng anh mỉm cười, nói:
- Thật buồn cười. Các ông biết đồng bằng Huẩy Tu Ti ở giữa Pi Chê Chai và Tả Chu chứ?… Đường sắt đi qua đấy thẳng như chăng dây… Một cái nền giữa những khối núi, phẳng như một cái bánh tráng… Các ông có biết tại sao không? Đó là đáy của một cái hồ…
- Hồ cổ? - Lordan hỏi.
- Hồ hiện đại! Đúng!… Nhưng là hồ tạm thời. Một lòng chảo khép kín, không có dòng chảy nào khác ngoài các vết nứt trong đá vôi. Nhìn bề ngoài tôi thấy đáng ngờ lắm. Tôi đã thấy những vỏ trai, ốc nước ngọt ở tận lưng chừng núi. Dân địa phương cho tôi biết, trong những mùa hè mưa lũ, thường xảy ra khoảng ba năm một lần, chỗ trũng này bị ngập nước hoàn toàn. Trong vòng ba tháng mực nước ngập trên đường ray sẽ cao tới hai mét. Phải tổ chức một hệ thống phà-xe lửa… Tôi nghĩ chỉ cần san phẳng và rải đá balat trên nền đá vôi rắn chắc ở chân dãy núi là tạo được một lối đi qua bảo đảm. Điều ấy rõ ràng quá…
- Có lẽ là đối với anh thôi, - Lebret nói - vì anh đã nghiền ngẫm kỹ rồi.
- Thế thì sao? Phải để cho những chuyên gia giỏi nghiên cứu chứ!
- Mệt chết đi được! - Một giọng nói cất lên. - Nhiều người có ý kiến rất hay. Này, các ông nên lấy tên một trong số những người đã nhìn xa trông rộng, để đặt cho cái hồ!…
Nhiều tên được nêu lên trong tiếng cười ồn ào, điều qua tiếng lại, như những trái cầu lông bị nhiều chiếc vợt hất tung. - Dorpat, - Lebret đề nghị, - chúng ta hãy dạo một vòng trước khi đi ngủ! Còn Lordan, ông hãy đến đây!
Dorpat nhận thấy một giọng điệu ra lệnh. Anh đứng dậy. Cả ba người ra đi. Trăng cao nguyên châu Á dát bạc trên đường, ánh trăng mát lạnh như theo hơi thở dịu êm thấm vào lồng ngực họ. Trong đêm các chỏm núi màu đen viền quanh cao nguyên nhấp nhô dưới bầu trời cao thẳm. Dorpat, từ lâu bị sức hấp dẫn của quang cảnh uy nghi và hùng vĩ chinh phục, cầm tay Lebret:
- Anh hãy ngắm cảnh đêm. Đẹp không? Mà cũng khá u buồn. Nhưng tôi rất thích cái buồn này. Câu đầu của dân ca Loreley là: [4]”.
“Ich weiss nicht, wass soll’s beedeuten, dass ich so traurig bin - Vâng, - Lebret nói. - Anh là nhà thơ, nhà khoa học…, nhưng [5] những
không phải nhà hiền triết. Tại sao anh lại coram populo điều anh nghĩ thế? Dù anh nói trước những người tử tế, nhưng ngày mai lời nói của anh sẽ bay suốt chiều dài đường sắt, từ Vân Nam tới tận Hà Nội. Có phải vậy không, ông Lordan?
- Chắc hẳn là như vậy. - Nhà thầu khoán đáp.
- Cách đây một năm rưỡi, khi anh dự đoán chỗ đất sụt, một người quen biết anh đã nói: “Anh ta vấy… vào chúng ta đấy… cái gã gõ đá ấy! Anh ta xen vào đây làm gì?” Ba ngày trước, khi toàn bộ sụp lở, lại chính ông ta đến chỗ đất sụp. Tất nhiên, mọi người đã hét vào tai ông ta: “Này, đúng như dự báo của ông Dorpat đấy!”, và thế là hết chuyện.
- Ông là một công chức, - Lordan nói với vẻ thận trọng. - Ông chưa hiểu nhiều về thế giới thuộc địa. Có thể nói là ông không sống ở đấy. Cánh kỹ sư mạnh đấy. Ông hãy thận trọng!
- Họ siết chặt hàng ngũ, siết chặt ghê gớm - Lebret nói. - Rứt dây sẽ động rừng. Anh bạn trẻ ơi, tôi ở trong chăn, tôi biết… Với sự hiểu biết Bách nghệ của mình mà tôi luôn phải hành động đơn độc. Tôi sợ óc bè phái lắm. Người ta tỏ ý không bằng lòng với tôi về điều đó. Chỉ khi trở thành một người trong số họ tôi mới không còn sợ rủi ro. Nhưng giờ hồn cái anh chàng lạ hoắc nào đó dám vạch ra những sai lầm của họ. Tôi nói thế có đúng không, ông Lordan?
- Rất tiếc! Chúng tôi đã được chứng kiến những tấm gương tày liếp như vậy.
- Nhưng, - Dorpat nói - giả dụ tôi có gây hận thù với họ… Mà các ông biết đấy, chẳng bao giờ tôi làm thế. Tôi đã tốt nghiệp đại học và đã có được đôi chút tiếng tăm ở Pháp và ngoại quốc…
- Anh nên nhớ, - Lebret nói - anh thuộc về hàng ngũ kỹ sư, nhưng anh lại không phải là một trong số họ. Dẫu sao, anh bạn ơi, sông có khúc người có lúc mà! Anh còn có nhiều triển vọng thành công rực rỡ… Nhưng phải cẩn thận đấy!
- Thành công… - Dorpat cười ruồi, - tôi ớn nó lắm rồi. Tôi chỉ muốn chuyên tâm cho khoa học.
- Tôi hiểu, anh không có tham vọng. Tôi rất quí trọng anh vì điều đó. Nhưng hãy cố đừng gây rắc rối nếu anh không muốn gặp trở ngại trong việc nghiên cứu của mình. Anh đang có những kẻ thù đấy, hãy cẩn thận!
Dorpat biết ơn họ, nhưng anh mỉm cười về sự e dè của họ. Ba người trở về quán trọ. Nằm dài trên giường, Dorpat suy nghĩ một lúc về câu chuyện vừa trao đổi. Một kỉ niệm không thú vị lắm thoáng qua. Anh nhớ lại vài rắc rối với viện trưởng của mình, nhưng sau đó mọi chuyện đã được dàn xếp ổn thỏa. Rồi những bận rộn thường nhật lại choán hết thời gian của anh. Anh tiếp tục nghĩ về những vấn đề liên quan đến các đới uốn nếp[6] ngoài thực địa. Cuối cùng, hình ảnh thân yêu của người vợ trẻ và hai đứa con gái nhỏ hiện lên, chập chờn khuấy động tâm trí anh cho đến khi anh chìm vào giấc ngủ.
III
Dựa lên tay vịn của đầu máy, Dorpat và Lebret đứng sát bên nhau nhìn về phía trước. Dải núi khổng lồ biến đổi không ngừng, bị phân cắt thành những mỏm đá lởm chởm, xen kẽ những sườn đất mềm dài và thoải, vươn tới những độ cao chóng mặt. Rải rác trên sườn núi là những cây trắc bách diệp và thông tuyết. Nhìn từ xa chúng nhỏ xíu, in bóng sắc nhọn trên nền trời. Đôi khi thấy một con đường mòn khúc khuỷu vắt qua những sườn núi không người ở, cao vút tưởng chừng không thể vượt qua được.
- Phải đánh đổi tất cả để được nhìn thấy những đỉnh cao này - Lebret nói.
Rời Mi La Ti đã khá xa, họ đang xuống đồng bằng Y Liang. Mới sớm tinh mơ họ đã nhìn thấy, dưới những hình khối nặng nề của dải núi Kô Chiêu, cả một bồn địa Mông Chơ rộng mênh mông với những hồ nước trắng xóa, những thửa ruộng lóng lánh, điểm xuyết những cánh cò trắng phau như tuyết. Rồi chiếc đầu máy đưa họ qua vùng đất đỏ lởm chởm đá tai mèo, ra khỏi đồng bằng Huồi Tụ Ty. Theo những đường chữ chi cao chóng mặt ở Ta Tá, họ xuống A Mi Cheo. Sau đó, họ đi sâu vào những khe lũng vô tận của Chia Chen Ho - con sông có nước đỏ ngầu trong mùa lũ bởi trong phù sa của nó chứa quá nhiều chất sắt. Nhiều đoạn sông tưởng như mất hút giữa những khối đá lớn cản đường đi của nó.
Tàu kéo còi.
- A, Xiu Kia Tu kia rồi! - Lebret nói.
Thung lũng thu hẹp lại. Một đám nhà có tường trình bằng đất nằm cheo leo ở phía trên con sông Chia Chen Ho đang gầm réo. Những bóng hình khốn khổ, rách rưới của người Hoa hiện ra, hệt như những nhân vật trong tranh của Callot[7]. Trên đường mòn phía xa có một đoàn người, những chấm xanh và đỏ - quần áo và chăn
dùng làm yên ngựa của họ - chuyển dịch từ từ ở độ cao bốn trăm mét. Ngựa trông chỉ còn bé bằng những con dê.
- Con đường lầy lụa. - Dorpat nói. - Tôi đã từ Cheng Kiang xuống qua con đường ấy. Những con vật ngập ngụa trong bùn. Một cái dốc chừng ba mươi độ. Nhưng đây là một mặt cắt địa chất tuyệt vời, có thể tìm được hóa thạch[8] trên suốt chiều dài của nó… Mặt cắt của hệ Cambri[9]… bao gồm những loại đá cổ xưa nhất hành tinh. Và sau những chỏm núi ngất ngưởng trên đầu chúng ta kia là một trong những hồ nước đẹp tuyệt vời mà người ta có thể mơ tưởng đến và những ngôi chùa ở hút sâu trong rừng thông tuyết ngập nước mênh mang. Nhà tôi đã đi cùng với tôi trong chuyến ấy, thật là thú vị.
Đồi dốc tiếp nối nhau. Một máng nước dài tưởng chừng vô tận, trong đó nước từ các hồ lớn của Dương Trung và Cheng Giang chảy đến cuồn cuộn, kéo theo những cảnh sắc hùng vĩ đến tận nơi có khúc đường ngoặt hiện ra trước mặt họ. Đoạn đường dài hàng chục cây số lao vun vút dưới bánh xe. Suốt dọc đường, Dorpat chỉ cho Lebret xem vô số địa điểm, nơi thường xảy ra các vụ sụt lở do bản chất và quan hệ của các tầng đất đá.
Khoảng ba giờ, tàu đến đồng bằng Y Liang với những thửa ruộng xanh rờn, phần kéo dài và rộng mở của thung lũng ở độ cao trên nghìn rưỡi mét. Kế đến là những hẻm vực dựng đứng bị cắt ngang bởi một nhánh núi. Dorpat không nói gì thêm về địa chất. Anh trở nên tư lự.
- Gần đạt mục đích mà anh còn lo ngại à? - Lebret hỏi. - Như vậy anh sẽ xử sự thế nào khi tham gia một chuyến thám hiểm dài ngày? - Sự bận rộn trong nghiên cứu đã khiến tôi vững tâm phần nào. - Dorpat trả lời. - Đầu óc tôi bấy giờ dồn cả vào việc nghiên cứu mẫu, vào phác thảo lộ trình, vào những lập luận trừu tượng, những vấn đề địa lý. Việc “cầu khấn thần Pan”[10] có thể làm thay đổi hướng suy nghĩ của tôi. Nhưng khi tôi đến gần một nơi có nhiều điều mới lạ đang chờ đợi, tự nhiên tôi như bị lâm vào một trạng thái thảm hại. Tôi dường như không thể bước chân được nữa, bởi chưa nhìn thấy một địa chỉ đáng tin cậy!… Thật ngớ ngẩn, những bức thư đá
thường có niên đại rất xa xăm… Ở đấy mọi lý lẽ dường như chẳng còn nghĩa lý gì nữa.
Lebret nhìn anh vẻ trìu mến. “Một con người thật là sung sướng - anh nghĩ. - Tuổi thơ của anh ta kéo dài nhiều năm, lấy vợ sớm và tới giờ vẫn yêu vợ như trong tuần trăng mật. Marguerite là một người phụ nữ hiếm có… Chị ta cũng yêu chồng tha thiết như thế.”
Con tàu đi ra khỏi hẻm núi. Một ga xép, rồi những đống than… - Đây là ga cuối cùng. - Lebret nói. - Chúng ta đã đến Kô Pao Chuen.
Tại sân ga những người phu ngựa với dây cương trong tay đang trực sẵn. Họ lên ngựa băng qua một cánh đồng lúa không rộng. Dorpat thúc ngựa chạy nhanh hơn.
- Đây là làng Tang Che. - Anh nói. - Hãy nhìn những làn khói trắng, những suối nước nóng kia. Cái chùa nơi chúng tôi tạm trú ở phía trên cái dốc này, ẩn trong rừng thông tuyết và trắc bách diệp. Phong cảnh thật tuyệt vời.
Những nông dân đi qua chào họ. “Họ là những người tử tế” - Dorpat nói. Đoàn người vượt qua đập tràn của hồ Dương Trung trên một cái cầu sống trâu kiểu Tàu. Dorpat lên ngựa, phi nước kiệu trên con đường mòn, rồi mất hút trong rừng. Lebret theo sau, cố ý đi chậm hơn. Anh không muốn có mặt trong những giây phút đầu tiên trở về. Anh đến trước cửa ngoài của ngôi chùa, xuống ngựa và đưa dây cương cho phu ngựa.
Có tiếng trẻ con reo vang. Lebret đi qua bàn thờ thứ nhất và vào trong một cái sân kín, chung quanh có nhiều nhà, theo kiểu kiến trúc chùa chiền Trung Quốc. Một cây mộc lan đang trổ hoa ở giữa, xung quanh là những cây hoa màu hồng lấy từ dãy Himalaya về. Những con chó mặt nhăn nhó, bờm sư tử, đứng bên một cầu thang đá. Trên cầu thang Dorpat đang ôm hôn thắm thiết người thiếu phụ mặc áo dài trắng. Hai đứa con gái nhỏ túm lấy áo vét của anh. “Họ thật hạnh phúc.” - Lebret nghĩ.
Anh chào và bước lên cầu thang. Người phụ nữ mà anh từng quen biết bắt tay anh.
- Anh nhà rất lo lắng cho mẹ con chị. - Anh mỉm cười nói. - Mà nào anh ấy xa nhà đã lâu đâu!
Thiếu phụ trìu mến nhìn chồng.
- Cũng khá lâu rồi đấy… Nhưng ở đây chúng tôi không sợ gì. - Kể cả kẻ cướp? - Lebret hỏi.
- Không có một băng đảng nào trong vùng này. Nếu có gì nguy hiểm chúng tôi sẽ chuyển về phủ Vân Nam.
Người thiếu phụ nói điều ấy thản nhiên, không coi là việc hệ trọng. “Thật khác xa với những người đàn bà trẻ tuổi hoảng sợ trước một tấm ván bắc qua suối… - Lebret nghĩ - hay với các cô thiếu nữ tân thời thường nhại giọng người khác với thái độ ngạo mạn”.
Anh nhìn Marguerite, vẻ mãn nguyện. Gương mặt duyên dáng, nghiêm trang, với nước da ngăm ngăm lúc bình thường kia chợt bừng sáng khi mỉm cười hóm hỉnh hoặc lanh lợi trong niềm hứng khởi. Chị là người có học thức, có tâm hồn, yêu âm nhạc. Chị cũng là người rất chu đáo, thậm chí tới mức hơi thái quá. “Ờ, Dorpat quả là tốt số.” - Lebret tự nhủ như thế, không hề ghen tị mà thực sự hài lòng trước hạnh phúc của bạn.
Hai bé gái, sáu tuổi rưỡi và năm tuổi, nhìn người kỹ sư. Rồi chúng kể cho họ nghe về những sự kiện trọng đại… Một con chim đầu rìu vướng chân vào lưới bóng, một con sóc vào nhà buổi sáng đã liếm láp một cái chén. Dorpat nghe, làm ra vẻ các sự việc ấy là quan trọng thật. Bọn trẻ đã tự thể hiện là những đứa bé ngoan. Lebret vui lây, thấy chúng thật dễ thương.
- Anh thấy chỗ ăn ở này thế nào? Các vị chức sắc ở Tang Che đã cho chúng tôi ở thuê trong chùa. Chúng tôi sống ở đây thật yên ổn giữa những tấm lòng nhân hậu.
Trong tòa nhà trung tâm, tượng Phật Bà Quan Âm - biểu tượng lòng từ bi và bác ái của đạo Phật - đứng sừng sững giữa các môn đồ của mình. Những nét mặt uy nghiêm thánh thiện, không hề giận dữ, ngắm nhìn những người nước ngoài đang ở trong chùa.
- Xét về mặt tôn giáo, lòng độ lượng Viễn Đông thật là mênh mông. - Dorpat nói. - Dân chúng đến cầu kinh ở đây. Sự có mặt của chúng tôi không làm họ cảm thấy phiền hà. Anh xem, ở phương Tây,
người nước ngoài liệu có được thu xếp một chỗ ở trong nhà thờ Công giáo, một thánh thất Tin lành, một nhà thờ Hồi giáo hay Do Thái giáo không?
Họ ra khỏi chùa, đi qua những khóm cây trắc bách diệp và thông tuyết, một thứ gỗ quý hiếm của phương Đông chỉ mọc trong những vùng đất linh thiêng. Một phong cảnh tuyệt vời trải rộng trước mắt Lebret. Thảm nước xanh lơ của hồ Dương Trung thả giữa những sườn núi dốc, trải dài khoảng hai mươi kilômet xuống phía nam, thu hẹp và mỏng dần về phía ngọn Lô San xa mờ. Những sườn núi trơ trụi ngập chìm trong nước, có chỗ nhô ra thành từng mỏm làm tung lên bọt sóng trắng xóa. Những sắc màu rực rỡ đầy tương phản - màu đỏ của đất rừng, màu xanh sẫm của đám cây trắc bách diệp và thông tuyết, màu xanh dịu của mặt nước mênh mông. Dưới chân họ hồ nước bỗng nhiên thu hẹp lại bởi một bờ lau sậy rậm rạp. Những thân cây mảnh mai rung rinh trong làn nước xiết. Từ làng Tang Che vọng ra tiếng nói trong trẻo và nhỏ nhẹ của dân làng. Che khuất trong làn khói xanh lơ là những mái nhà cong cong lợp bằng một thứ ngói cổ. Ở phía tây nam, dãy núi Ta Ing sừng sững như một bức tường thành dài tới ba nghìn mét trước lưu vực sông Quây Yang, tạo nên hồ nước Vân Nam.
- Thật tuyệt diệu! - Lebret nói. - Vậy là, hàng ngày anh bắt đầu ghi chép, sáng tác trước một phong cảnh như thế này đây. Nơi ở ẩn này quá đẹp!
- Vùng hồ nước này tuyệt vời phải không anh? - Người phụ nữ trẻ phụ thêm.
Chiều xuống dần, những làn gió mát từ ngọn cây thổi xuống, làm lăn tăn mặt hồ đã trở nên sẫm màu. Họ trở vào chùa. Họ nán lại xem những bức ảnh chụp trong những thung lũng kì diệu. Ở đấy, cách cửa sông Hồng hai nghìn năm trăm cây số, con sông ngầu bọt chảy cuồn cuộn. Một số đoạn sông có những xoáy nước màu lục ánh của ngọc bích.
- Ờ nhỉ - Lebret nói. - Chẳng hay ho gì mở một đường sắt qua đây… Nơi này không thích hợp với cuộc sống đế vương.
- Ôi, những sườn dốc! - Dorpat nói. - Thật không gì so sánh được với nơi này. Lúc nào cũng có những máng nước dài tới hai nghìn mét tại vùng hợp lưu của các sông Pu Tu Ho và Kim Sa… Điều kiện thật khó khăn, rét khủng khiếp, nhưng cảnh vật mới đẹp làm sao!
Anh nhắm mắt lại hồi lâu trước cảnh sắc thiên nhiên mịt mờ xa tắp. “Đẹp làm sao!” - anh nhắc lại. Trên gương mặt anh thoáng hiện niềm hứng khởi của kẻ say mê vùng sơn cước.
- Một lần… để đến được sông Xanh, chúng tôi phải mất ba ngày đi vòng quanh một khối núi lớn có độ cao trung bình bốn nghìn mét. Phía bên phải là một thung lũng sâu. Những đường phân thủy, những dải núi khổng lồ như ngập lút dưới chiều sâu vô định. Bỗng ở dưới chân chúng tôi, trong vết đứt của một rãnh sâu chóng mặt, lộ ra một dải mỏng màu lục ánh chỉ rộng bằng dải mũ của người chăn ngựa. Đó chính là sông Xanh, ở dưới tôi khoảng ba nghìn mét theo chiều gần như thẳng đứng. Nhân viên trắc đạc của tôi là người đầu tiên đi xuống theo đường mòn cùng với đoàn người. Đôi chỗ dưới chân họ con đường mòn cũng mất hút. Tôi nán lại sau, trong cái chòi của mình. Tôi còn có những phác thảo cần vẽ, những bức ảnh cần chụp… Một giờ sau, khi chuẩn bị đi xuống, tôi bỗng thấy những chấm nhỏ di động ở rất thấp dưới chỗ tôi đứng, nhưng còn rất cao so với dải màu lục ánh. Tôi nhận ra đó chính là những người của mình… quá nhỏ nhoi giữa thiên nhiên bao la, thật là xúc động! Chúng tôi cắm trại ngay giữa đường ở đáy vực thẳm, trên một mặt bằng chật hẹp… Một đêm trăng tròn, giá buốt. Những đỉnh núi nằm ngang in bóng khổng lồ, sắc nét và lạnh lẽo… Tiếng gào thét của dòng sông khiến cho nơi đó càng trở nên hiu quạnh. Những giây phút như thế, - Dorpat nói, - đọng lại thành những kỷ niệm thiêng liêng, đáng giá ngàn vàng.
Sau một lát im lặng, anh nói thêm:
- Anh có hiểu tại sao tôi yêu cuộc đời này và tại sao mọi tham vọng đối với tôi đều là vô nghĩa?
- Tôi hiểu anh. - Lebret nói. - Nhưng còn chị Dorpat, chị không cảm thấy những ngày xa nhau là quá nặng nề sao?
- Cả hai chúng tôi đều cảm thấy thế! - Dorpat khẳng định - Phải không em, Marguerite?
- Đúng, anh Jacques[11] ạ. Nhưng anh ấy đi con đường của mình, - chị nói tiếp với Lebret - và tôi không dự phần vào đó được. Lebret cảm thấy xúc động. Dorpat chỉ cho bạn những bản phác thảo, những mặt cắt địa chất. Một tập giấy rơi ra. Lebret nhặt lên. - Chà, những bài thơ… anh vẫn làm thơ đều chứ?[12] - Đưa đây cho tôi - Dorpat nói.
- Sao? Để yên nào… Toán học đã làm tôi chán ngấy. Tôi yêu thích văn chương. Tôi biết anh cũng đã học nhạc và có sáng tác thử… vẫn tiếp tục đấy chứ?
- Đúng! Nhưng tất cả những thứ này chỉ để cho một mình tôi thôi. Hãy đừng lộ cho ai!
- Gì mà anh phải ngại ngùng thế?
- Bởi vì trong giới khoa học có năng khiếu về những thứ này này đâu phải là điều hay.
- Thật ngớ ngẩn, nhưng đúng vậy. - Lebret nói. - Phải công nhận rằng trừ một số ít người, các nhà khoa học thường tư duy và viết lách hệt như chủ quán hàng và dè bỉu nghệ thuật với đúng nghĩa của từ này.
- Vậy mà nghệ thuật vốn chắp cánh cho trí tưởng tượng sáng tạo và trí tưởng tượng sáng tạo lại rất cần cho nhà khoa học. - Anh hiểu nhà khoa học như thế nào? - Lebret hỏi. - Tôi thì dành cái danh hiệu này cho những người có đầu óc tổng hợp, chứ không phải cho những người lục lọi sự việc, chỉ đào xới một góc nhỏ tí ti của công trình nghiên cứu, không có khả năng kết gắn những điều quan sát được với những sự việc cùng loại. Khốn thay, phần đông các nhà khoa học là như thế. Chỉ có một vài con chim hiếm hoi là cất cánh bay cao và nhìn bao quát được cả vùng. Còn những người khác… Anh có nhớ lời nói của Henri Poincaré: “Người ta làm khoa học bằng sự kiện, cũng như xây nhà bằng đá. Nhưng tích góp sự kiện không phải là khoa học cũng như một đống đá không phải là một tòa nhà?” Phần đông các nhà khoa học đã làm cái việc vun đắp những đống đá.
Dorpat yên lặng một lát rồi nói:
- Như vậy, tại sao lại trách các nhà khoa học làm nghệ thuật song song với việc nghiên cứu? Thế giới chẳng phải là một công trình nghệ thuật vĩ đại đó sao? Sự giải thích khoa học chỉ là một quy ước đơn giản, xét đại thể, bản thân nó cũng là biểu hiện của nghệ thuật. Nhưng rốt cuộc chúng ta sẽ đi đến đâu? Hãy trở lại vấn đề của mình thôi!
- Biết đâu đấy, - Lebret nói, - một ngày nào đó anh sẽ công bố những sáng tác ca nhạc và văn chương của mình.
- Không chắc đâu, tôi muốn được nghiên cứu khoa học mãi mãi. Tôi đã qua cái thời “vạn sự khởi đầu nan” rồi.
- Này! Biết đâu đấy… Một ngày nào đó anh sẽ ngán nó. - Ngán thế nào được?… Bài thơ về lịch sử Trái đất thật tuyệt vời! Lebret chỉ vào một tấm bản đồ:
- Cái gì thế này? Những hành trình ở Quảng Tây của Tardenois, viện trưởng của anh à?… Ôi, một con người kiêu căng, khờ dại, là “bạn học” thời ở trường Bách nghệ của tôi. Anh biết đấy, tất cả chúng tôi đều từ cùng một lò ấy mà ra cả.
- Hơi quá đấy. - Dorpat nói. - Ông ta là một người “mạnh dạn”, tuy không biết nhiều về khoa học tự nhiên và thực nghiệm, nhưng ông ta đã dám lao vào những công việc ấy. Đúng, kể ra như thế cũng hơi kì cục. Tấm bản đồ mà anh cầm chính là cái mà ông ta đã công bố sau chuyến đi công tác. Anh hãy nhìn xem, - Dorpat vừa nói vừa chỉ, - đây là các hướng Tây Bắc và Đông Nam của dải đất. Rồi ông ta lại công bố lần nữa ở chỗ khác cùng với một báo cáo khoa học về “Tài nguyên khoáng sản ở Nam Trung Quốc”. Nhưng lần này ông ta thể hiện chính dải đất ấy theo một hướng vuông góc với hướng cũ… Đây, anh đối chiếu hai bản in sẽ thấy. Rõ ràng ông ta chưa hề đặt chân đến vùng này!
Cả hai người cùng cười.
- Ghê thật! - Lebret nói. - Ông ta chẳng ở đâu được lâu. Anh biết ông ta người miền nào vậy?
- Miền Aisne hay lân cận đó. Vả lại, ông ta mang tên của một vùng đất: La Fère-en-Tardenois.
- Hiện giờ quan hệ của anh với ông ta vẫn tốt chứ?
- Rất tốt. Tôi đã quên những mâu thuẫn ban đầu. Ông ta tỏ ra biết nhường nhịn, rất hiền lành. Tôi hài lòng về điều đó, vì ông ta hơn tôi nhiều tuổi.
Lebret nhìn anh:
- Chà, anh hãy mở to mắt ra! Khi một người xứ Tardenois tỏ ra nhường nhịn với thái độ tử tế là lúc phải cảnh giác.
- Ông ta là một người tử tế, nhưng kiêu ngạo. Anh biết không, Bornier viết thư cho tôi nói rằng ông ta là người “cực kỳ tốt”. - Điều đó cũng đủ để cho tôi hiểu ngay điều ngược lại. Trước hết người ta không dùng cái lối nói phóng đại như vậy. Đồ bỏ đi. Điều đó không làm tôi ngạc nhiên về Bornier. Tôi đã từng gặp ông ta. Ông ta là một kẻ hứa hão. Tôi có dự một vài bài giảng của ông ta. Ông ta nói và viết tốt, nhưng là một người khoe khoang, khoác lác. Tử tế ư? Chỉ được cái bề ngoài thôi.
- Tôi hiểu ông ta trái lại.
- Anh Lebret, - Marguerite nói xen vào. - Nhà tôi có kể cho anh nghe một chuyện về Bornier không? Chưa à? Chuyện thế này: Ở Sardaigne, Jacques đã có một khám phá quan trọng. Anh ấy chỉ thông tin ngắn gọn. Ngay lập tức Bornier bổ đến và đề nghị cộng tác với anh ấy viết một bài báo gửi lên Viện Hàn lâm khoa học. Jacques hậm hực. Nhưng anh biết đấy, khi người ta mới chập chững vào nghề…
- Đúng là có sự bắt bí nhỏ nhặt. - Dorpat nói. - Ông ta có thể phá tan sự nghiệp của tôi, ông ta có thế lực mà. Tôi buộc phải chấp nhận.
- Tôi hiểu, - Lebret nói, - trên thực tế những người trẻ tuổi thường bị lép vế. Nhưng sự việc đến thế thì tệ quá. Sau lần ấy anh còn tin vào những hạng người như vậy không?
Dorpat nói rằng sau đấy Bornier đã giúp đỡ anh rất nhiều và vô tư, đã giới thiệu anh với Tardenois và tự ông ta tìm cách làm tăng giá trị các công trình của anh.
- Tôi nghĩ rằng ông ta đã thực sự hối hận và tỏ ra rất có thiện cảm với tôi. - Anh nói.
Lebret gật đầu, nghĩ ngợi.
- Thế còn cái người đã tìm hóa thạch trong những cống rãnh của công trình trong khi anh bươn bả trên các triền núi cao, anh đã làm gì với ông ta?
- Anh nói về Mihiel?
- Đúng, Mihiel, người có nhiều gắn bó với anh. Lạy Chúa! Ông ta mới đáng ghét làm sao! Đúng là cái đầu của một tên tù khổ sai. Dorpat phản ứng mạnh mẽ:
- Anh lại thành kiến rồi! Tôi cho đó là một người lao động tuyệt vời, hoàn toàn tự nguyện. Anh nghĩ lại đi! Từ chỗ là một công nhân, nay ông ta đã trở thành một nhà khoa học có tên tuổi.
- Một kẻ quỷ quái thì có! Anh bảo hắn là một nhà khoa học ư? Có thể thế… Nhưng là một kẻ quỷ quái. Có khi còn tồi tệ hơn… Dorpat không trả lời. Anh cảm thấy hơi bực mình. Họ đi ăn tối. Nhà khoa học trẻ trở nên ít nói. Đúng là Lebret đã tỏ ra quá bi quan và không công bằng. Nhưng vì mến người kỹ sư ấy quá nên anh không thể giận lâu. Rồi những lấn cấn cũng qua mau. Sáng hôm sau, khi đến đèo Chuây Tang, Lebret cho ngựa chạy vòng quanh để được đắm chìm trong phong cảnh bao la. Hồ Dương Trung trong xanh mát lạnh ở dưới chân. Trên bờ hồ bên kia, trong một cụm thông tuyết và trắc bách diệp, anh có thể nhìn thấy những tầng mái của ngôi chùa. Anh nghĩ rằng những mái chùa ấy đang che chở cho cặp vợ chồng hạnh phúc và anh chúc họ theo kiểu người Hoa: “Hạnh phúc muôn năm”.
CHƯƠNG HAI
I
Dorpat đến Viễn Đông đã được ba năm. Anh say mê nghiên cứu với những suy nghĩ táo bạo, mong muốn khám phá những bí ẩn tiềm tàng của thiên nhiên. Cha anh là người Comtois, bà mẹ là người gốc Alsace và Flamande. Anh được thừa hưởng từ nguồn gốc Flamande mái tóc màu hung, một màu hung nhạt rất đặc trưng của miền Bắc và một cặp mắt xanh.
Anh đã sống ở miền Đông phần lớn tuổi thanh niên, đỗ tú tài rất sớm. Lòng say mê văn chương đã khiến cha anh - nhà nghiên cứu tiếng Hy Lạp và là một trí thức uyên thâm - hướng anh vào lĩnh vực này. Nhưng khi còn rất trẻ, cậu bé Jacques đã có những thị hiếu phức tạp chẳng mấy khi ăn nhập với nhau. Cậu ham mê nghiên cứu cây cỏ và các mẫu khoáng vật mà cậu đã thử xác định nhờ những cuốn sách chỉ dẫn đơn giản. Năm mười một tuổi, cậu có trong tay cuốn sách Cơ sở địa chất. Sau này, khi đã thành người lớn, Dorpat thường nhớ lại những giây phút tràn ngập niềm vui ấy, khi anh có thể phối hợp được những điều quan sát thấy trong lúc dạo chơi. Vui sướng biết bao khi biết cách sắp xếp các mẫu hóa thạch thu lượm được thành từng nhóm, biết cách giải thích các hiện tượng quan sát được nhờ những quy luật chung mà đầu óc non trẻ của anh đã tiếp thu được. Rồi anh rơi vào sai lầm chung của những người chưa từng đi sâu vào công tác nghiên cứu. Đó cũng là điều tất yếu đối với những ai còn rất trẻ. Anh tưởng những cuốn sách mà anh có trong tay là những bảo bối có thể làm sáng tỏ mọi bí ẩn của những lĩnh vực khoa học mà chúng đề cập đến. Anh chưa biết tới câu nói của Goethe[13]: “Nghệ thuật thì dài mà đời người lại rất ngắn”. Khi mười một tuổi, anh chưa suy ngẫm đến vế sau của câu này.
Anh có sở thích về cổ học, đam mê thơ ca Latinh. Anh thích anh hùng ca của Homere[14] và những vần thơ điền viên theo phong cách của Virgille. Về tu từ học, anh cảm thấy thích thú khi đọc một
bài tuyệt bút của một nhà thơ Latinh tầm cỡ, cũng như những đoạn văn hay của một tác giả Pháp. Anh tìm hiểu văn học nước ngoài và trở thành người hâm mộ Shakespeare[15], Goethe và Schiller[16]. Âm nhạc cũng làm anh rung động. Tất cả những điều đó không ngăn cản lòng say mê khoa học, trái lại còn giúp anh tiến bộ nhiều hơn trong khoa học tự nhiên - lĩnh vực mà người ta có thể nghiên cứu độc lập một cách thoải mái. Có thể nói địa chất học đã hút hồn anh. Không gì thú vị bằng được đi chơi với bố ở trên núi, nhặt những hóa thạch và mẫu đá mà anh sẽ xác định khi trở về nhà. Anh say sưa tìm kiếm di vật của những thời đại đã qua - những mẫu hóa thạch được bảo tồn tốt, khi thì trong những mỏ sét vôi tuổi Jura[17], khi thì ở các công trường khai thác đá. Trong khi con đi thu lượm mẫu vật, người cha ngồi dưới một cây thông, lặng lẽ đọc một nguyên tác nào đó bằng tiếng Hy Lạp. Ông không mấy quan tâm đến khoa học thực nghiệm.
Sau khi kết thúc một lớp triết học, anh có điều kiện theo học tiếp một số khóa về khoa học hoàn chỉnh hơn và quyết định hướng đi cuối cùng của mình. Anh đặc biệt yêu thích văn chương. Nhưng văn chương đối với anh khi đó chỉ là một thú chơi tao nhã. Anh còn quá trẻ để cảm nhận được ý nghĩa nhân văn của nó. Theo anh, hình như khoa học nào dẫn đến những kết quả có vẻ chính xác và đến những mục đích thực tiễn thì khoa học ấy hoàn mỹ hơn. Với những kết luận đó anh đã gây ra ảo tưởng chung cho nhiều người, kể cả những người làm khoa học nhưng không có đầu óc khoa học. Anh chưa biết rằng những kết luận của mình chỉ có tính giả định, rằng nếu những quy luật chi tiết thường xuyên được nghiên cứu sâu hơn, thì nguyên nhân và bản chất của sự vật càng khiến ta không thể hiểu nổi, rằng nhà bác học đi tìm kiếm cái tuyệt đối cũng có nghĩa là không làm khoa học thuần túy nữa mà đã chuyển sang lĩnh vực siêu hình và trực cảm.
Khi đã lựa chọn con đường khoa học, anh muốn trở thành một nhà nghiên cứu thực thụ. Tính ham hiểu biết vốn có từ khi anh còn rất nhỏ tuổi, giờ đây càng trở nên sắc sảo và thôi thúc hơn. Cha anh không ngăn cản con, mặc dầu ông lấy làm tiếc vì anh ngày càng xa rời con đường văn học.
Toán học thuần túy không làm anh thích thú lắm. Anh ngưỡng mộ sự đơn giản của đối tượng nghiên cứu cũng như sự chuẩn xác của môn khoa học này. Nhưng anh cho rằng toán học cần phải là công cụ thuận lợi của khoa học tự nhiên, một bảng tóm tắt thực tiễn và tổng hợp, mà như thế đối với anh vẫn còn chưa đủ.
Anh trở thành sinh viên của một trường Đại học Tổng hợp. Ngay từ những ngày đầu anh đã chọn xong ngành học. Khoa học về Trái Đất như có một ma lực lôi cuốn anh, khiến anh không thể cưỡng lại được. Và anh đã lao vào học địa chất, chuẩn bị thi lấy bằng cử nhân về lĩnh vực này. Địa chất học dựa vào tất cả các khoa học khác và là một ngành khoa học tổng hợp nhất. Đó là bài thơ kỳ diệu về lịch sử của hành tinh, đầy ắp những hình ảnh phi thường. Khoa học địa chất nhờ cậy đến sức mạnh của những trí tuệ có khả năng hiểu thấu được những hiện tượng lớn lao vượt quá mọi kích cỡ thông thường, bao quát những chuỗi tiếp nối bất tận của các sự kiện, sự xuất hiện và tuyệt diệt của những chủng loại sinh vật, sự chuyển dịch của các đại dương trong hàng nghìn năm, sự xuất hiện và bào mòn hoàn toàn của những dãy núi hùng vĩ có niên đại hàng triệu năm. Với năng lực tổng hợp tuyệt vời, nhà địa chất hình dung được đằng sau sự uốn nếp của vỏ trái đất có một cơ chế cực kỳ vĩ đại, (không thể sánh với) vượt tầm bất kỳ thứ gì do con người tạo ra. Và cuộc sống của nhà địa chất đích thực không phải cuộc sống của “kẻ hành khất” ở giữa những ngăn kéo chứa chất những gì họ thu thập được, hay cuộc sống của một giáo sư bình thường làm khoa học theo sách vở, mà là một cuộc sống đẹp đẽ, dành phần lớn thời gian cho những cuộc dã ngoại dài ngày, với chiếc búa trong tay, trên những nẻo đường miền núi.
Nếu có tiền, Dorpat có thể làm việc như một nhà nghiên cứu độc lập. Vì phải có một nghề, anh đã chuẩn bị những kỳ thi để đáp ứng nhu cầu đó, đồng thời để tiếp thu những kiến thức cần thiết hầu thỏa mãn nguyện vọng nghiên cứu của mình. Sau khi hoàn thành các kỳ thi thông thường, anh quyết định chuẩn bị một luận án tiến sĩ và sẽ tiến hành những đề tài nghiên cứu ở nước ngoài.
Ở tuổi hai mươi, anh có năng lực trí tuệ rất đa dạng, có ham muốn hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác nhau. Anh vừa là nhà khoa
học uyên thâm, có trí nhớ tốt, làm việc có phương pháp với độ chính xác cao, vừa là nhà văn và nhà thơ đầy nhiệt huyết. Mặt khác, anh cũng học sáng tác âm nhạc và nhạy cảm trước mọi biểu hiện của cái đẹp. Khi còn là sinh viên trường Bách nghệ, Lebret từng bảo anh: “Anh có đầu óc rất toàn diện, nhưng chính vì thế mà phải coi chừng đấy. Anh hãy nhớ rằng Hercule-Savinien-Cyrano de Bergerac, nhà thơ, nhà toán học, nhà vật lý… là ‘người đã làm tất cả mà cũng chẳng làm gì cả’.” Nhưng sự e sợ đó thật hão huyền. Trong Jacques Dorpat tồn tại hai con người hoàn toàn khác biệt, nếu như ta có thể phân biệt rạch ròi như thế. Nhà khoa học không liên quan gì với nhà văn và người nghệ sĩ, và người này lập tức biến mất để nhường chỗ cho người kia.
Năm mười chín tuổi anh đính hôn với một thiếu nữ mà anh yêu từ thuở ấu thơ. Lúc mới mười một tuổi anh đã quyết định chọn nàng làm vợ. Vì Dorpat là cậu bé không dễ thay lòng đổi dạ, cũng vì cô gái chân thành chia sẻ tình cảm với anh, nên chuyện tình của anh với nàng không có gì trắc trở. Về tình yêu và hôn nhân anh có tư tưởng rất minh bạch và nghiêm khắc, dường như có tính kế thừa. Bà mẹ anh xuất thân từ một dòng họ mục sư đạo Tin lành ở thượng nguồn sông Rhin và anh vẫn giữ được - không liên quan gì đến tôn giáo - tính không khoan nhượng của Tin lành và lòng trung thực của người phụ nữ. Tình yêu của anh với người vợ chưa cưới Marguerite đượm vẻ linh thiêng, thần bí, không thể có ở những người dân phương Nam nặng về nhục dục.
Anh yêu Marguerite vì trong mắt anh nàng là một cô gái đẹp. Nhưng không chỉ có vậy, anh còn yêu nàng vì sau nhiều năm tháng quen biết anh đã cảm nhận được tính cương trực, sự chu đáo, lòng tự hào và trí thông minh của nàng. Tạo hóa đã phú cho nàng tâm hồn nghệ sĩ - nàng có năng khiếu âm nhạc đặc biệt, có giọng hát hay xúc động lòng người.
Anh coi mối tình của nàng là tuyệt đỉnh và chưa bao giờ nghĩ rằng một khi nào đó nàng sẽ không yêu anh nữa.
Anh đi phương Đông và khi trở về có mang theo những tài liệu cần thiết cho một luận án. Nhưng rồi anh phạm phải những sai lầm lớn khi chuẩn bị nghiên cứu các tài liệu của mình trong một cơ quan
khoa học ở thủ đô. Gueralde - một trong số đồng nghiệp của anh, hơn anh mười tuổi, lúc đó cũng đang chuẩn bị một luận án - đã nói với anh: “Anh đừng đến chỗ Valbert! Ông ta thường công bố kết quả nghiên cứu của những người trẻ tuổi, những kẻ thấp cổ bé họng”. Anh đi nắm tình hình và biết rằng điều Gueralde nói là hoàn toàn chính xác. Anh đến một phòng thí nghiệm khác với tài liệu trong tay, ngây thơ nói rõ ý định của mình với người tiếp anh. Ngay lập tức người đó đã báo cho Valbert, sau này Dorpat mới biết điều đó…
Tính anh bộc trực, hơi cứng nhắc và ngây thơ trong cách đánh giá những hành vi tội lỗi. Anh căm ghét thói lường gạt và đã mạnh mẽ, không khoan nhượng vạch trần những thói xấu này. Chính vì thế anh đã tự tạo ra quanh mình khá nhiều kẻ thù. Và thật ngây thơ, anh không hay biết gì về điều đó. Dường như tất cả những tính cách trên của anh cũng được thừa kế từ gốc đạo Tin lành, không khoan nhượng và chẳng có gì nổi trội.
Trong hoạt động khoa học anh từng có lúc quan hệ với một đồng nghiệp tên là Mugge, xuất thân từ một gia đình gốc ở Blandebourg, định cư ở Alsace. Mugge từ tấm bé đã theo học ở Đức và đã được cấp các học vị ở Đại học tổng hợp Halle. Anh ta mang trong mình tính cách của người Phổ đầy máy móc, nặng nề và nhờ có sự vô tư, thông thoáng của cơ chế nhập cư vào Pháp mà anh ta được nhận là người Alsace trở về Tổ quốc. Dorpat đã biết Mugge lúc anh ta còn là phó giáo sư, khi một nhà giáo bậc thầy đang giữ ghế giáo sư. Anh đã chứng kiến Mugge từng khúm núm, xun xoe lấy lòng bề trên như thế nào. Rồi khi vị giáo sư mất, anh ta được cử thay ông. Dorpat thấy anh ta lên mặt, tỏ vẻ quan trọng, hống hách và ngạo mạn quá đáng. Vì không dễ dàng nể phục trước những kẻ điên rồ, xuẩn ngốc, Dorpat để lộ cho anh ta biết là anh khinh hắn. Mugge tỏ ra không hiểu điều ấy. Hắn biết Dorpat được một nhà khoa học có uy tín cao giúp đỡ nên hắn và đồng bọn rất sợ anh. Nhà khoa học nọ đảm nhận một trong các trọng trách cao nhất. Ông đã sáng tạo ra nhiều phương pháp khoa học quan trọng mà nhờ đó rất nổi danh trong giới. Trong ông có sự kết hợp giữa quyết tâm mạnh mẽ với lòng ngay thẳng tuyệt vời. Một số người gọi ông bằng biệt danh Moise[18] và đúng là ông có những phẩm chất cao cả của một người dẫn dắt
kẻ khác, có sức mạnh thuyết phục và uy tín cao. Trước uy tín ấy những kẻ xấu xa chẳng dám ho he.
II
Ngay sau khi bảo vệ luận án, Dorpat cưới vợ. Anh đã thực hiện một trong những mục đích chính của đời mình.
Anh dạy học bốn năm trong cương vị trợ giảng ở trường Đại học Tổng hợp, nơi trước đây anh từng theo học. Trong ngành giáo dục, lương bổng lúc bấy giờ chưa phải là một nguồn thu nhập hấp dẫn, nhưng công việc của anh ở đó là sự chuẩn bị cho tương lai. Anh hoàn thành nhiều chuyến công tác trong vùng Địa Trung Hải, công bố nhiều bài báo khoa học. Năm hai mươi sáu tuổi, anh bắt đầu nổi tiếng ở Pháp, được giới khoa học nước ngoài biết đến và người ta có thể đoan chắc về triển vọng tốt đẹp của anh.
Hai con gái nhỏ của Dorpat được sinh ra trong thời gian này. Anh yêu con cuồng nhiệt, sung sướng nhìn thấy chúng luôn ở bên mình. Anh dẫn chúng đi chơi, rồi lại bày cho chúng chơi gần bàn làm việc của mình. Tình yêu của anh đối với người vợ trẻ vẫn không hề phai nhạt. Thời gian đầu họ chưa có nhiều tiền, nhưng họ còn có cả tương lai trước mắt. Vì Dorpat hoàn toàn không có tham vọng, cũng không có khả năng tiến thân bằng những mánh khóe và thủ đoạn hèn hạ đối với những kẻ quyền cao chức trọng, nên anh có nguy cơ phải chờ đợi rất lâu một ghế giáo sư. Khi thì anh giam mình trong phòng thí nghiệm, khi thì anh đi khắp vùng Sardaigne hoang vu hoặc một nơi nào đó ở Tây Á. Anh dần dần ít giao du với mọi người và không biết cách giữ mình. Tuy vậy, anh cũng đã tích lũy được một số kinh nghiệm nhỏ.
Khi định bàn giao cho anh một môn để giảng dạy, một vài nhà giáo thực thụ đặt tay lên trái tim, hứa sẽ ủng hộ anh nhiệt thành, vậy mà sau đó chính họ lại bỏ phiếu chống anh. Nhưng khi đã thành công anh chỉ cười, và bài học đó chẳng bổ ích gì cho anh cả.
Vào thời gian này lại có một rắc rối xảy ra giữa anh với giáo sư Bornier. Dorpat bắt đầu bực mình, anh thề rằng không chấp nhận
cho một kẻ nào nhòm ngó vào những khám phá của mình và nói với Bornier một cách trơ trẽn: “Ta chia đôi nhé!”. Anh giận dữ đọc lại đoạn thư của Bornier: “Nếu anh chưa sẵn sàng công bố, chúng ta có thể, tất nhiên nếu điều đó không làm anh phiền lòng, gửi chung một bài báo lên Viện Hàn lâm, với tính chất là một thông báo sơ bộ”. Ông bố anh, một người từng trải, khuyên anh hãy nén giận mà chấp nhận lời đề nghị đó. Anh nghe lời ông, nhưng rồi một lần nữa, anh bị tranh công. Bornier vuốt ve, tận tâm giúp đỡ anh, đối xử với anh như tình cha con. “Tóm lại, - anh nghĩ - ông ta không nhận thức được đúng đắn hành động của mình. Đó chỉ là thói quen lợi dụng người khác của kẻ mới ngoi lên”.
Anh vẫn giữ được lòng ham mê vốn có đối với nghiên cứu khoa học. Nhưng sự tôn kính trong thời trai trẻ của anh đối với các nhà khoa học đã bị giảm sút nặng nề. Anh đã gặp những nhà khoa học miệt mài làm việc, không màng tới những hư vinh nhỏ nhặt, say sưa lao vào tìm hiểu những điều bí ẩn để cố tìm thấy những tia sáng lóe lên trong màn đêm. Nhưng họ thật quá hiếm hoi. Với đa số những người khác thì lý tưởng lại là ở chỗ kiếm được một chức vụ béo bở hay một danh hiệu vẻ vang nào đó. Mặc dầu anh muốn đứng ngoài những cuộc luận chiến khoa học, nhưng giờ đây đứng trong hàng ngũ các nhà khoa học, anh không thể nhắm mắt làm ngơ trước những cuộc đua tranh tàn bạo, những mối thù hận nặng nề, những trò đánh cắp nhơ nhuốc. Anh đã nhìn thấy những người, trình độ tri thức dưới mức trung bình, lại loè được thiên hạ bởi những quảng cáo tài tình, bằng lối nói lặp lại như vẹt với thái độ trâng tráo. Họ luồn cúi một cách hèn hạ trước những kẻ có thế lực đương thời và không từ mọi việc làm bẩn thỉu để ngoi lên. Sự “liên kết” là cách hay được họ sử dụng nhất.
Anh nhớ lại một việc quan trọng mà anh có thể kiểm tra được khi nhận thức và tầm nhìn của mình đã đến độ chín muồi. Rất nhiều nhà khoa học, đúng hơn là nhiều người, đã lao vào nghiên cứu khoa học, đào đi xới lại không ngừng tại một chỗ, rồi viết nên các công trình nghiên cứu dựa trên những điều tầm thường. Họ đã tự tạo cho mình tiếng tăm của những chuyên gia trong một lĩnh vực hạn chế nào đó. Khi tình cờ có trong tay một tài liệu lý thú thì họ không hiểu
được tầm quan trọng của nó. Chính Gulliver đã gặp những con người như thế ở Lilliput. Nhưng từ bấy đến nay đội ngũ của họ tăng nhanh một cách kỳ diệu.
Một hôm Dorpat biết tin cái ghế viện trưởng của Viện Khai thác Khoáng sản còn để trống. Một nhà khoa học thực thụ là Heyrier, vốn tốt nghiệp Đại học Tổng hợp, lạc vào giới “kỹ sư” ở viện này - nơi Bornier là giáo sư. Theo anh, Heyrier rất xứng đáng được phong làm giáo sư. Anh viết thư hỏi xem ông có nộp đơn xin ứng cử vào chức danh đó không. Anh rất mến Heyrier và rất thích được làm việc bên nhà bác học này. Anh thấy ông là một người trung thực và tử tế. Rồi anh nhận được thư trả lời của ông, trong đó có đoạn: “Đồng nghiệp thân mến ơi, ý định không thành đâu. Có nhiều khó khăn đấy. Vì tôi không ở trong ‘Phe cánh’ chí thánh, nên sẽ có một sự chống đối lớn trong việc đề bạt tôi. Điều đó cho anh thấy những gì mà anh có thể hy vọng ở đây. Thực ra - điều này khá bê bối - ‘Phe cánh’ đang dần dần thu hẹp lại. Rất nhiều người không thuộc ‘Phe cánh’ cũng rất tài giỏi. Bao nhiêu cộng sự đều là những kỹ sư trẻ, họ đang chờ đợi những chiếc ghế trống. Xin nói thêm, một trong các vị giáo sư muốn con trai của mình có được vị trí công tác mà anh đề cập tới đó, để sau này vị ấy có thể bàn giao lại cái ghế ngồi. Vị ấy là người cha tốt nhưng than ôi, đó là tốt ở thời đại chúng ta. Anh thấy đấy, tôi chẳng thu hoạch được gì trong cái môi trường thù địch này. Trong trường hợp của tôi, nếu được đồng nghiệp đại học giúp đỡ, tôi sẽ thắng cuộc. Thật đau lòng, ở chỗ chúng tôi, đi đến đâu cũng vấp phải sự thờ ơ ghẻ lạnh. Anh thấy không, muốn làm cho các đồng nghiệp của chúng ta ở Paris hoạt động thì lợi ích cá nhân là đòn bẩy duy nhất”.
Một buổi sáng Dorpat nhận được bức thư của Bornier: “Anh có bằng lòng đi Đông Dương không? Ở đó có một Viện Khoa học. Cơ quan này về mặt hành chính trực thuộc Sở Tài nguyên Thiên nhiên. Viện trưởng sở đó là bạn thân của tôi - kỹ sư trưởng Tardenois, một người cực kỳ tốt. Anh sẽ được ông ta giúp đỡ để tổ chức một cơ quan khoa học. Nếu anh đồng ý thì chức viện trưởng cơ quan sẽ dành cho anh. Bằng việc làm, bằng nhiệt tình, bằng sức dẻo dai đặc biệt về thể lực, anh sẽ là một trong những người sáng giá của cơ
quan này. Nếu đồng ý, anh hãy mau mau liên hệ với ông bạn Tardenois của tôi.”
Dorpat cảm thấy lưỡng lự. Anh không biết khí hậu ở nơi đó có thích hợp với vợ con mình không. Hơn nữa anh đã bắt đầu những công trình nghiên cứu quan trọng trong vùng Địa Trung Hải. Anh hỏi ý kiến Lebret. Anh này học xong trường Bách nghệ, đi làm cầu đường, nhưng đã xin từ chức vì không muốn làm trong cơ quan nhà nước. Anh ta có đầu óc tự do, không thể chấp nhận sự áp đặt tôn ti trật tự của “phe” Mỏ hay “phe” cầu đường như vẫn thường thấy ở nơi này nơi khác trong giới công chức ở thời đại chúng ta. Hơn nữa, là người thẳng thắn, anh rất căm ghét óc bè phái nặng nề trong các “phe” Mỏ và cầu đường. Như vậy, với một tâm trạng bực bội, hơi phiêu lưu, sự coi thường của những tâm hồn đầy nghị lực đối với chính cuộc đời mình, anh đồng ý chấp nhận rủi ro, miễn sao được sống có ích, được vui và trọng nể.
- Anh bạn thân mến ơi, - Lebret nói với Dorpat, - đồng ý là anh thích khám phá, anh coi thường những đau đớn về thể xác. Nhưng nếu khí hậu có hại cho sức khỏe những người thân của mình, ta cần phải thôi ngay… Tóm lại, xứ sở mới đó có thể hứa hẹn một cuộc sống lý thú, những công trình khoa học tốt. Nhưng anh hãy cẩn thận! Anh là một nhà khoa học và sẽ phải làm việc dưới quyền của một kỹ sư. Môi trường thù địch lẫn nhau. Anh hãy nhớ lại lá thư của Heyrier. Anh cũng có đầu óc tự do. Anh cần phải tung cánh trong bầu trời bao la trước mặt anh. Cấp trên của anh chỉ là một tay cạo giấy suy thoái. Anh hãy coi chừng những xung đột. Tôi rất hiểu “các đồng chí” của tôi. Tất cả đều là vĩ nhân. Phần còn lại của nhân loại đều ở dưới chân họ hết. Người ta sẽ ra cho anh những mệnh lệnh ít nhiều ngớ ngẩn về mặt khoa học. Rồi quan hệ sẽ đổ vỡ thôi.
- Đổ vỡ, - Dorpat nói, - để xem thế nào đã…
- Đúng, nhưng anh có thể quay trở về cùng với những thiệt thòi đấy.
Dorpat nghĩ thầm, mình chẳng phải bận tâm gì về chuyện “xem cái gì sẽ đến”. Qua thư từ, anh nhận được lời đề nghị khẩn thiết của Tardenois - giám đốc Sở Tài nguyên Thiên nhiên: “Người ta nói rằng về mặt hành chính, có lẽ chỉ thế thôi, ông thuộc về cơ quan chúng
tôi. Điều đó đối với ông chỉ có lợi thôi. Ông không phải bận rộn nhiều về công việc hành chính. Ông khá hơn tôi về khoa học, tôi đồng ý để ông hoàn toàn tự do về mặt này. Ông sẽ chỉ đạo về khoa học, và chúng ta cùng làm. Sở Tài nguyên Thiên nhiên sẽ cố gắng đóng góp phần mình…” Đồng thời ông ta gửi cho Dorpat những quyển sách khác nhau, những công trình của ông ta và sưu tập kết quả xác định do các phòng thí nghiệm khác nhau cung cấp, không kèm theo ý đồ cá nhân nào. Với những lời khen ngợi hơi cường điệu, Tardenois kể cho Dorpat về những cộng sự hiện nay trong viện Khoa học: Một tiểu đoàn trưởng - thiếu tá Diez, nhà tự nhiên học Mihiel - vốn là công nhân cũ, có được kiến thức phong phú nhờ lòng quyết tâm cao và sự lao động cần cù của một người tự học. Điều đó khiến cho Dorpat vui lòng. Anh cảm thấy trước mối thiện cảm đối với những cộng sự tương lai, nhất là đối với Mihiel. Anh mến những đức tính của người được giới thiệu.
Tardenois cũng nói đến một cộng sự khác là Merion, người mà Dorpat đã thấy tên trong danh sách thành viên của một Hiệp hội khoa học. Ông giám đốc Sở Tài nguyên Thiên nhiên kể nhiều về Merion bằng những lời không hay lắm, đánh giá ông ta là “kẻ biếng nhác”. Trước đây Merion từng lãnh đạo Viện Khoa học, khi đó - đúng hơn là cơ sở phôi thai của viện này - còn trực thuộc Sở nghiên cứu Kinh tế Thuộc địa. Tardenois đã tác động ở cấp bộ, - ông ta có quan hệ mật thiết với một số nhân vật có thế lực trong một ban của bộ - đạt được mục đích cải tổ Viện Khoa học và sát nhập Viện này vào Sở Tài nguyên Thiên nhiên. Trong việc cải tổ ấy Merion bị huyền chức giám đốc Viện. Ông ta đã thử tìm cách ngăn trở việc này. Nhưng là người trung thực, thiếu tinh nhạy, không đủ sức tự vệ, cuối cùng ông ta đã bị thua cuộc. Còn Tardenois thì vẫn giữ mãi mối oán hận sâu sắc về sự phản kháng này. Dorpat hoàn toàn không biết gì về điều đó. Bornier đã giới thiệu với anh: Tardenois là một người “cực kỳ tốt”, do đó nếu ông ta nói về một trong những cộng sự của mình với những lời lẽ như thế thì hẳn là người kia chẳng ra gì.
Lebret không biết tới những thư từ trao đổi ấy. Anh đã đi Trung Quốc và phục vụ trong một hãng xây dựng đường sắt. Anh không thể dừng lại giữa đường và đã gửi cho Dorpat những thông tin về
Tardenois, về Sở Tài nguyên Thiên nhiên và về vài việc khác. Trong thời gian này, một bên là Bornier, một bên là Tardenois, họ cùng nhau thúc ép nhà khoa học trẻ nhận lời. Mặc dù không có tham vọng gì, Dorpat cũng cảm thấy vui vui trước sự mời mọc ân cần này. Với lòng vô tư hiếm có ở người phụ nữ, Marguerite vốn rất tha thiết với những bận rộn đáng yêu của chồng, mong rằng trước hết Dorpat vẫn tiếp tục theo đuổi không chùn bước những sở thích của một nhà khoa học. Đối với một nghệ sĩ, một nhà khoa học, mối nguy hại thường nằm ở người phụ nữ. Nhưng Marguerite đã mang lại cho chồng nét duyên dáng của nữ tính, hơn nữa còn là sự giúp đỡ, động viên thường chỉ thấy trong những tình bạn đẹp đẽ của giới mày râu.
Dorpat quyết định nhận lời.
Rời Marseille được tám ngày, ở giữa Biển Đỏ, họ gặp chuyến thư của hãng Vận tải biển từ Viễn Đông trở về. Có thư Lebret gửi cho Dorpat. Lebret đã thu xếp xuống Bắc Kỳ được vài ngày. Anh ta thu thập tin tức, đã gặp Tardenois và giữ thái độ dè dặt. Dorpat và vợ tỳ tay lên lan can của boong tàu, ngắm nhìn chiếc tàu khách lớn đang lướt trên mặt biển xanh, cách xa vài trăm mét, nhỏ dần rồi mất hút phía chân trời cùng làn khói mỏng manh… Nếu nhận được bức thư này trước khi đi thì chắc hẳn Dorpat đã từ bỏ ý định của mình…
III
Dorpat đến Đông Dương, lòng tràn ngập mong muốn hiểu biết và khát khao khám phá. Anh từng đi gần hết vùng biển của Địa Trung Hải, nhưng cảnh quan nhiệt đới thì anh chưa có dịp làm quen. Vợ anh vốn thông minh, lanh lợi trước những điều mới mẻ, cũng như anh, rất thích thú nơi đây ngay từ khi tàu cập bến. Ấn tượng đầu tiên rất tốt đẹp, lại càng đẹp thêm qua sự đón tiếp của Tardenois. Dorpat thấy trên sân ga Hà Nội một người trạc năm mươi, to lớn, hơi béo phì, đầu tròn, mái tóc hoe vàng cắt ngắn, cặp mắt cận thị hấp háy, giọng nói ngập ngừng vẻ bối rối. Dáng điệu ông ta thì thân tình giả tạo, hơi thái quá, nhưng nụ cười lại có vẻ nhân từ. Dorpat đã được nghe giới thiệu Tardenois là một người “cực kỳ tốt”, nay tận mắt nhìn thấy nụ cười luôn rạng rỡ trên môi ông cùng những lời khen ngợi lấy lòng, anh cảm thấy lời nhận xét ấy có vẻ đúng. Riêng một điều làm anh hơi chờn chợn theo bản năng, đó là cái bắt tay mềm nhũn của ông ta. Bàn tay ấy không siết chặt, có thể do béo quá. Marguerite cũng có nhận xét như chồng.
Ngay hôm mới đến, trước khi thu xếp việc riêng, Dorpat đã nhờ người dẫn đến Viện Khoa học. Phòng thí nghiệm, với mầm mống của các sưu tập mẫu tương lai, chiếm ba phòng trong một ngôi nhà rộng lớn của ban Kỹ thuật. Trong các phòng bày biện rất sơ sài. Một phần các tầng hầm cũng được dùng làm phòng thí nghiệm.
Tardenois giới thiệu Dorpat với các đồng nghiệp mà chẳng bao lâu nữa anh sẽ là viện trưởng của họ. Anh bắt chuyện với họ. Thiếu tá Diez chỉ cho anh xem các bản đồ và các mẫu đá… Trong khoảng mười lăm phút Dorpat nhận thấy rằng Diez, cựu trung sĩ từng có hoạt động quân sự tốt và có khả năng đảm nhiệm nhiều cương vị công tác chẳng liên quan gì đến năng khiếu khoa học. Ông ta đã nhồi nhét lộn xộn vào đầu óc mọi thứ tạp nham, không theo một phương pháp nào cả. Chẳng gì có thể tiêu hóa được. Ông ta đã cố
gắng đọc các sách lý, hóa mà chẳng hiểu nổi một chữ nào. Sau cuộc gặp này, ông ta đã làm cho Dorpat thực sự cảm thấy hụt hẫng: - Đây là, - ông ta vừa nói vừa chỉ tay với lòng tự tin, - các mẫu địa chất, còn đây là những hóa thạch của bọn Tên đá[19] chứng tỏ đất đá có tuổi Lias[20].
Mới liếc qua, Dorpat đã bàng hoàng nhận thấy đó là những tinh thể dạng kéo dài của andalusit. Một khoáng vật lại cho là một loại hóa thạch! Dorpat không quen với những lời lẽ tếu táo kiểu này. Anh nhìn trộm Tardenois. Ông này vẫn điềm nhiên, một nụ cười có vẻ nhân từ vẫn thoáng trên môi, ngắm nghía các mẫu vật mà Diez đưa ra.
Đúng lúc đó Mihiel đến. Một người có dáng vóc cao, gầy, lưng hơi gù. Một bàn tay cứng cáp đã siết chặt tay Dorpat. Cặp mắt xám xanh màu thép đã nhìn thẳng vào mắt người trẻ tuổi và một giọng nói ồm ồm vang lên:
- Thưa ông Dorpat, rất vui sướng được gặp ông ở đây. Chúng tôi chờ ông đã lâu. Chúng tôi cần ông. Có rất nhiều khoảng trống trong nhận thức khoa học của chúng tôi. - Ông ta nói thêm. - Điều đó làm cho công việc của chúng tôi bị trì trệ. Ví dụ như tôi, một người tự học… tôi đã học như vậy không biết bao nhiêu thứ. Nhưng mà ông biết đấy, tôi vốn là một công nhân. Khởi đầu chẳng tốt đẹp. Tôi đã gắng sức để gỡ lại… Mặc dù vậy tôi vẫn chịu nhiều thua thiệt. Tôi chỉ mong làm tốt được trong lĩnh vực chuyên môn mà mình đã theo đuổi, sử dụng nốt phần cuối của đời mình, chỉ có vậy thôi. Tôi tin là mình có thể phục vụ được.
Dorpat chăm chú nhìn lên gương mặt xương xẩu với cặp mắt tinh tường, trung thực. Lời nói khiêm tốn đồng thời mạnh mẽ khiến Dorpat ưa thích. “Đây là một người thẳng thắn, - anh nghĩ, - và là… một sức mạnh”. Và đúng như vậy, khi Mihiel không nói nữa, hàm dưới to bè được nghỉ, khuôn mặt lớn có hốc mắt sâu, ở phía dưới là cặp môi dài, mỏng và mím chặt, cho ta cảm giác về một nghị lực lạ thường, dường như không tĩnh lặng. Họ đã trao đổi về cổ sinh học, và trong môn khoa học về các sinh vật đã bị tuyệt diệt này, Mihiel lập tức tỏ rõ những kiến thức sâu rộng của mình. Dorpat nghe
những lời nói ngắn và ngắt quãng của ông ta. “Một sức mạnh, đúng! - Dorpat nghĩ. - Và ông ta không nói tào lao. Ông ta hiểu…” Mihiel dẫn Dorpat đến trước một sưu tập hóa thạch của mình, chỉ rõ mối quan hệ huyết thống giữa các loài… Dorpat sung sướng. “Đây là một cộng tác viên tuyệt vời, - anh nghĩ. - Một người phục thiện. Ông ta yêu khoa học. Hợp tác với ông ta có thể làm việc tốt…” Mihiel đúng là sự bù trừ cho thiếu tá Diez, người đã coi tinh thể andalusit là hóa thạch của động vật Tên đá.
Hai người đang xem xét bộ sưu tập hóa thạch san hô kỷ Carbon[21] và trao đổi với nhau về những kết luận phù hợp thì Tardenois đến, khiến cho cuộc bàn luận sôi nổi của họ bị ngắt quãng.
- Thưa ông Dorpat, xin giới thiệu: ông Munteanu là nhân viên của Viện.
Dorpat thấy một chàng trai có vẻ mặt đáng mến. Đó là một thanh niên Rumani, sau vụ bất hòa với cha, anh này đã sung vào đội quân lê dương. Ăn mặc chỉnh tề, có kiến thức tốt về toán học, anh ta được các viện trưởng chú ý. Người ta biệt phái anh sang cơ quan đo vẽ bản đồ địa hình. Hợp đồng sắp hết. Anh ta kiên trì xin nhập quốc tịch Pháp. Ngay sau khi giải ngũ, anh ta sẽ rời cơ quan đo vẽ bản đồ và sẽ nhận việc tại Viện Khoa học, với tư cách là nhân viên gia công mẫu. Dorpat đồng ý ngay.
Rồi Tardenois dẫn anh đến gặp ông tổng giám đốc Các cơ quan kỹ thuật. Tại đó đã diễn ra cuộc trao đổi tầm phào và tẻ nhạt. Ông tổng giám đốc Maxence, kỹ sư trưởng từ chính quốc, vóc người nhỏ nhắn, mảnh khảnh, đen, xảo quyệt, là kẻ cạo giấy theo đúng nghĩa của từ này. Dorpat, về phương diện hành chính là thuộc cấp của ông ta, nhìn ông ta vẻ lạnh lùng. Ông ta tiếp anh hết sức nhã nhặn, bởi vì với mọi người ông ta đều làm như vậy cả. Không ai hiểu được, dựa vào thế lực chính trị nào mà một người không ai biết đến, và trong mọi tình huống loại người ấy lại tồn tại lâu dài, không có đối thủ chính trị. Về bản chất ông ta không phải là người xấu, chỉ là người trung dung, vô dụng, quá nhút nhát, hoảng sợ trước thái độ ầm ĩ của một vài kỹ sư đầu ngành dưới quyền mình. Có thể do nhát gan mà ông ta đã làm những chuyện hèn hạ. Ông ta lo ngại nhìn
Dorpat. Dorpat không sử dụng cách ứng xử đặc biệt gì trong tình huống này, nói chuyện cùng Tardenois với thái độ tự nhiên, ngang hàng, tuồng như học vị và công việc của mình cho phép anh có quyền làm như vậy. Maxence không thể hiểu được anh, một người chẳng thuộc một “Phe cánh” thần thánh nào, lại không giữ nổi sự im lặng khiêm tốn, nghĩa là chỉ trả lời khi người ta hỏi và luôn kèm theo lời nói với một thái độ khúm núm: “Thưa ngài kỹ sư trưởng”. Dorpat coi ông ta là một con người tội nghiệp và khi Tardenois hỏi, anh đã thú nhận điều đó một cách ngây thơ.
- Tôi phải đi gặp ông Merion. - Anh nói với người kỹ sư. Một lần nữa, với vẻ buồn rầu sâu sắc, Tardenois than phiền về sự kém cỏi của con người khốn khổ đó. Cách nói của ông ta khiến cho Dorpat rất suy nghĩ. Đây đúng là con người “cực kỳ tốt” mà Bornier từng ca ngợi? Merion chắc cũng chẳng ra gì mới chịu lời khiển trách nghiêm khắc đến như vậy.
Mặc dù không ưa gì một kẻ lười nhác, Dorpat cũng đến tìm Merion. Anh thấy một người hơi khô khan, dáng dấp quê mùa và vụng về, sống giữa một đống hóa thạch. Trong lần gặp đầu tiên này anh chẳng được việc gì. Tardenois từng khẳng định với anh là Merion rất giận dữ khi nghĩ rằng người trẻ tuổi mới đến lại lãnh đạo cơ quan. Không sao. Nhưng Dorpat, với thành kiến ấy, đã giữ thái độ dè dặt lạnh lùng. Anh coi thái độ rụt rè, vụng về của Merion là một hành vi ác ý cố hữu và quan hệ của họ bắt đầu bằng sự hiểu lầm ấy.
IV
Dorpat và Macguerite đến ở nhà mới, nhờ sự giúp đỡ tận tình của Munteanu. Họ chọn một ngôi nhà nhỏ ở ngoại vi Hà Nội, không gian rộng rãi, chung quanh có hiên cao, giữa những bóng cây xanh sẫm. Phía trước nhà là một khuôn viên rộng, có những cây đã già - nghĩa là đã trải qua vài năm ở vùng nhiệt đới. Phía sau nhà là vườn Bách Thảo tầng tầng tán lá xanh tươi. Ở phía bên kia vườn, trước mặt nhà, là Hồ Tây trải rộng, một hồ nước có chu vi 16 kilômet, ven bờ cây cối xanh tươi. Sớm và chiều, mặt nước phẳng lặng phản chiếu những quầng sáng đỏ rực của bầu trời nhiệt đới. Dorpat ôm vợ trong vòng tay. Từ hiên cao, họ đắm nhìn quang cảnh rực rỡ, mới mẻ đối với người phương Bắc vốn quen với những sắc màu êm dịu. Họ mỉm cười âu yếm, trong khi phía dưới họ, từ vườn cây, trong làn gió thoảng vọng lên tiếng va ken két của những cây tre cao vút và tiếng sột soạt của những tàu lá cọ, họ nghe thấy tiếng cười vui vẻ và tiếng gọi nhau í ới của các con gái nhỏ. Và họ cảm thấy cuộc đời tươi đẹp và êm đềm. Marguerite dành nhiều thời gian chơi nhạc. Họ tiếp đón một vài người bạn.
Munteanu thường tới thăm họ. Họ biết anh ta độc thân và là một chàng trai trung hậu, có cuộc đời sóng gió, mong muốn có sự trợ giúp của bạn bè. Họ sống chung, cùng nhau chăm sóc các con nhỏ. Vô hình trung, họ tạo nên quanh mình một số kẻ thù đáng kể. Người ta phê phán họ kiêu ngạo bởi kiểu sống tách biệt. Thiên hạ vốn không dung thứ cho ai có ý đồ vượt qua mặt mình…
Mihiel cũng trở thành người thân của gia đình. Dorpat rất quý con người yêu lao động này. Mihiel kể cho anh nghe về đời mình. Ông ta đã lăn lộn trong nhiều nghề, toàn những nghề khó khăn, vất vả nhất. Với những việc làm như vậy, ông ta khao khát hiểu biết. Ông ta kể rằng sau những ngày lao động kiệt quệ về thể xác trong những công việc làm mụ người, ông ta đã theo các lớp học công
buổi tối như thế nào trong các cơ quan khoa học. Trong phòng riêng ông ta đã thức khuya để xem lại những điều ghi chép được, để đọc các sách mượn về. Chủ nhật đáng nhẽ nghỉ ngơi ông ta lại theo các nhà tự nhiên học đi tham quan. Cuối cùng nhiều giáo sư đã để ý đến người thợ chăm chỉ đi cùng các đoàn tham quan chủ nhật và dự những buổi nói chuyện nơi công cộng. Họ đã mở cửa các phòng thí nghiệm cho ông ta vào. Ông ta đã làm việc như vậy trong nhiều năm. Một hôm, một trong những người đỡ đầu đã hỏi, liệu ông ta có bằng lòng làm nhân viên gia công ở một Viện nghiên cứu khoa học mà một vị Toàn quyền đã sáng lập ở Đông Dương không. Mihiel kể rằng, khi đó ông tưởng tượng thiên đường đã mở ra trước mắt mình như thế nào. Dorpat nhìn ông ta đầy cảm kích. Anh rất khâm phục ý chí kiên cường, lòng say mê chiến thắng số phận của ông ta. Mihiel nói: “Nếu trong tuổi thanh niên tôi được học đến nơi đến chốn, chắc chắn tôi đã lên rất cao!” Cặp hàm bạnh ra của ông ta nghiến chặt lại như cạp được một con mồi, đôi mắt sâu hoắm nhìn chằm chằm vào cái đích mà không bao giờ ông vươn tới được.
Dorpat đồng ý như vậy và anh ái ngại cho người bạn già đã gặp phải bao lận đận và cái môi trường khốn khó đã tàn phá tuổi thanh xuân của ông. Nhưng đôi khi sự nóng giận không kiềm chế nổi cũng bùng lên trong câu chuyện của Mihiel. Từ quãng đời đã qua của ông vẫn còn lại những xu hướng cách mạng. Ông nguyền rủa “chủ nghĩa tư bản” và “giới tư bản”. Ông cũng thú nhận là đã theo chủ nghĩa vô chính phủ trong một đoạn đời, mà ông đã từng khăng khăng từ chối. “Tôi trở lại làm kẻ bụi đời. - Ông nói. - Nhưng tôi thấy điều mà mình có khả năng làm và tôi ghét cái xã hội này đã không cho tôi các phương tiện để tự phát triển và nó đã vùi dập tôi”. Ông không ngừng nói về một xã hội tương lai. Là người cộng sản, ông ta khẳng định rằng loài người chỉ có hạnh phúc khi của cải được phân phối công bằng. Kropotkin và Karl Marx là các vị thánh của ông ta. Dorpat không muốn nghe ông ta nói nữa, nhưng anh im lặng, sợ ông ta phật ý.
Mấy tháng đầu Dorpat làm quen với công tác địa chất mới trong những chuyến đi thực địa ngắn ngày. Anh huấn luyện những người Việt Nam thành những người giúp việc tốt. Anh thúc đẩy kỹ sư
trưởng xin kinh phí đặc biệt để có thể sắp xếp bày biện trong một tòa nhà rộng rãi hơn. Họ được người ta cấp cho hai ngôi nhà ở phố Puginier[22] và một dự án thành lập Bảo tàng cho các sưu tập mẫu địa chất đã có. Tất cả hợp thành một quần thể cấu trúc thống nhất và thuận tiện.
Trong năm đầu tiên, Tardenois thực hiện việc tống khứ Merion đi. “Tôi muốn giải quyết êm thấm - ông ta nói với Dorpat. Nhưng đáng buồn biết bao khi buộc phải dùng những biện pháp cứng rắn. Ông ta chẳng làm gì cả. Ông ta phải giải phóng chỗ làm việc chứ.” Dorpat ít đến chỗ Merion - ông này đã sống biệt lập với một người vợ bản xứ. Ở Viện Khoa học, ông ta bị giam trong những tầng hầm giữa các mẫu đá của mình. Nếu Dorpat có quyền hành chính thức ở cơ quan, anh đã có thể kiểm tra công việc của Merion. Nhưng quyết định bổ nhiệm anh chưa được ban hành.
Dự kiến cho về hưu bắt buộc đã đánh Merion một đòn bất ngờ và hiểm độc. Đối với ông ta, ngoài việc cắt bỏ các phương tiện nghiên cứu mà ông ta hằng yêu thích, nghỉ hưu còn đồng nghĩa với sự suy sụp về tài chính. Ông ta phản kháng dữ dội, thét lên ở khắp nơi, rằng ông ta là nạn nhân sự trả thù của Tardenois, rằng người kỹ sư đã tước đoạt những thành quả lao động của ông và còn muốn đánh cắp nốt số tài liệu còn lại. Đến nỗi ông ta dường như tự bộc lộ mình là người có lỗi, ngay cả dưới con mắt của Dorpat. Mihiel rất nghiêm khắc với Merion, đôi khi ông ta nói về Merion với những ám chỉ, những lời buộc tội, mà con người tội nghiệp kia không còn muốn kháng cự, nói thêm một lời nào nữa.
Merion chẳng có ai bênh vực. Tardenois đã thành công một cách dễ dàng.
Quyết định về hưu của Merion đã được công bố. Một hôm Dorpat gặp ông ta. Merion không muốn rời xứ thuộc địa và lương hưu cũng không đủ tiêu, nên nhận dạy học trong một trường bản xứ. Dorpat nhìn thấy một ông già rất dễ bị kích động. Merion giữ anh lại, thét lên sự phẫn uất và lòng căm thù đối với Tardenois, với những lời vừa cay đắng vừa mãnh liệt. Dorpat được ông ta dẫn về nhà. Merion chỉ những bản đồ mà ông đã nghiên cứu và khẳng định là Tardenois đã sử dụng những khám phá của ông mà chẳng đả động gì đến tên
ông cả. “Ông ta đã đánh cắp những phát hiện của tôi về hệ Jura[23] ở Nam Kỳ - Con người tội nghiệp kêu lên. - Tôi đã gửi một đơn lên Phủ Toàn quyền.” Dorpat biết rằng ở Phủ Toàn quyền người ta chẳng biết gì về hệ Jura ở Nam Kỳ và người ta cũng chẳng ngó ngàng gì tới đơn kiện. Hơn nữa, dù Merion có lý mười mươi, thì cũng chỉ như trứng chọi đá. Nhà khoa học trẻ trở về nhà mình, lòng xao xuyến và lưỡng lự. Anh tự trách mình đã không tự tìm hiểu thấu đáo vấn đề. Nếu như Merion có lý… Dáng vẻ suy sụp của con người tội nghiệp ấy đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong anh.
Không làm ra vẻ quan trọng khi nói, Dorpat đặt một câu hỏi cho Tardenois tỏ ý hoài nghi về vấn đề Merion. Người kỹ sư cắn môi và một biểu hiện mới lạ thoáng qua trên khuôn mặt to và xanh tái. Vẻ nhân từ biến mất… Chỉ trong giây lát, Dorpat đã kịp nhận thấy thái độ hằn học điên cuồng và độc ác thoáng hiện trên nét mặt của con người cực kỳ tốt ấy. Và nhờ vậy anh đi đến nhận định: “Mihiel, rõ ràng như thế, thẳng thắn như thế, đã đánh giá xấu về Merion… Điều đó cũng đủ để kết luận vấn đề.”
Những việc rắc rối qua đi, chúng nhanh chóng bị lãng quên. Một hôm Lebret xuống Bắc Kỳ. Dorpat kể cho anh ta nghe về chuyện ăn ở, những công việc đã bắt đầu thực hiện. Nghe kể chuyện về Merion, anh ta mơ màng: “Và nếu ông già nghèo khổ, đáng thương ấy nói đúng sự thật?” Dorpat cảm thấy bối rối vô cùng. Một lần nữa anh tự trách về sự thờ ơ của mình khi sự việc xảy ra. Thái độ do dự khi đó đã hành hạ anh.
Ngày hôm sau Lebret lại lên đường.
Đến cuối năm đầu tiên, đã có những bóng mây len vào bầu trời cuộc sống mới của họ mà cho tới thời điểm đó vốn trong xanh không tì vết. Diez đã làm một bản báo cáo khoa học kỳ lạ, nhét đầy những thuật ngữ khoa học mà ngay cả định nghĩa của chúng ông ta cũng không hề biết. Đến nỗi một hôm, một sĩ quan trắc địa hỏi về nghĩa của một thuật ngữ mà ông ta đã dùng trong báo cáo ấy, ngài cựu trung sĩ đã trả lời ngập ngừng: “Tôi không nhớ lắm… Nhưng mà cũng được chứ”. Lời nói ngô nghê quá đáng đó đã làm cho người đối thoại, một trung úy pháo binh, mừng rỡ và câu nói đó về sau trở thành nổi tiếng.
Diez định công bố công trình của mình trong những tập kỷ yếu khoa học chính thức. Điều ấy khiến Dorpat quan tâm. Anh biết rằng không thể công bố một tài liệu như vậy mà không làm mất uy tín của Viện Khoa học. Anh nói nhỏ chuyện đó với Mihiel. Ông này chăm chú nghe. “Ông đã đón trước được những suy nghĩ thầm kín của tôi, - người thợ cũ nói. - Diez nhạo báng chúng ta. Ông hãy đến nói thẳng với Tardenois. Ông đi ngay đi. Tôi sẽ ủng hộ ông.”
Tardenois đưa ra một câu hỏi mang tính châm chọc về vụ rắc rối: - Thưa ông Dorpat, ông có thấy điều gì hay trong các mẫu vật của Diez?
- Tôi đã từ chối dính líu vào chuyện ấy. - Dorpat trả lời. - Ông Diez không đếm xỉa gì đến những xác định của tôi, và chữa chúng thoải mái với sở thích của mình.
- Ông làm tôi ngạc nhiên đấy! - Tardenois nói, rồi bổ sung một cách vụng về. - Ông Diez hơi động lòng, phải không. Có thể, ông có thấy không, ờ… hơi mếch lòng, hơi…
- Ồ, thưa ông, - Dorpat nói, - vì ông nhìn nhận vấn đề như thế, xin để tôi được nói thẳng rằng, ông Diez dĩ nhiên là một quân nhân rất tốt, nhưng chắc chắn là một người dốt nát ngạo mạn. Tôi biết ông ta đọc rất vất vả các quyển sách vật lý, hóa học, chiêm tinh học, địa chất học mà chẳng hiểu tí gì. Và đó không phải lỗi của ông ta, vì ông ta hoàn toàn không có những kiến thức sơ đẳng.
Tardenois vốn rất dốt về địa chất, đã ca tụng Diez như một nhà bác học kiệt xuất. Dorpat coi giám đốc Sở Tài nguyên Thiên nhiên là người trung thực, nhưng cũng nhận thấy ở ông ta tính kiêu căng ghê gớm. Cũng vì tính kiêu căng này mà ông ta phật lòng. Dorpat ép ông ta phải nhìn nhận rằng Diez không hề có một công trình nào ra hồn và ông ta rất lố bịch. Một phần của sự lố bịch này tất nhiên phải bắn sang con người đã biến Diez thành bậc vĩ nhân. Tardenois cắn môi và nhìn trộm, cử chỉ ấy cho thấy ông ta đang lúng túng tìm kiếm lời giải thích khó khăn.
- Ờ… phải chăng, đúng thế… Tôi không thể đồng ý với ông được. Ông ta nói chậm, tìm từng từ, dùng rải rác trong câu những tiếng “ờ”, thể hiện sự gắng sức nặng nhọc, luôn nhắc “phải chăng, ở
đây, đúng thế”. Ông ta nói tiếp:
- Thưa ông Dorpat, ờ… ông có đủ tư cách để đánh giá những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, nhưng mà, ờ… có phải không, đúng thế…, tôi e rằng ông không được vô tư lắm… Ông Diez, ờ… không làm ông hài lòng…
Lời phê phán như thế dễ gây mếch lòng và đáng tiếc. Dorpat là người cuối cùng, do nhiệt tình, có thể đưa ra những lời đánh giá không có lợi. Nhưng bản chất mẫn tiệp, cứng nhắc của anh đã chống lại.
- Thưa ông, - Dorpat nói củn lủn, - tôi xin báo là mọi người đều thấy sự lố bịch của ông Diez, vậy mà đi đến đâu ông cũng nhắc đi nhắc lại rằng ông ta là một nhà bác học hàng đầu…
Tardenois phác một cử chỉ hàm ý phủ nhận.
- Tôi đã đọc bản báo cáo, - Dorpat nói tiếp, - trong đó điều ấy được thể hiện rất rõ ràng bằng mọi con chữ, không giấu giếm gì. Sợ rằng cái lố bịch của ông ta rớt xuống đầu tất cả chúng ta, vì vậy ngay từ trước tôi đã từ chối mọi sự hợp tác với ông ta.
Mặt Tardenois bình thường tái xanh, nay trở nên đỏ sẫm. Ông ta thở nặng nhọc, cắn môi và nhìn trộm. Dorpat thấy cái điệu bộ này thật đáng sợ.
- Ờ… có phải không, ở đây… đúng rồi… tôi không chấp nhận… Dorpat chưa hiểu ông ta không chấp nhận cái gì. Anh chào rồi cáo lui. Anh mang chuyện rắc rối này kể cho Mihiel.
- Ông hãy gắng chịu đựng, - Mihiel nói. - Tôi cũng đã nói điều đó với Tardenois. Tôi cũng có uy thế đối với ông ta. Ta phải ngăn chặn tuyệt đối, không cho những chuyện ngu ngốc này làm mất uy tín của Viện.
Munteanu muốn rằng mọi việc sẽ được dàn xếp ổn thỏa, vì anh ta coi ngài kỹ sư là người tử tế. Nhưng mọi việc đã không suôn sẻ, Tardenois đã mắc sai lầm. Tự cho mình là nhà địa chất lỗi lạc, trên thực tế ông ta đã đi kể ở khắp nơi từ hai năm nay, rằng Diez là nhà bác học thiên tài. Ông ta còn viết như vậy trong một báo cáo chính thức. Và làm như thế ông ta cốt chứng minh cái tài nhận định tinh tế của mình trong việc lựa chọn các cộng sự.
- Em thân yêu, - Dorpat nói với vợ - chúng ta không ở đây nữa. Tiếc quá! Triển vọng một việc làm tốt…
Mihiel và Munteanu khuyên anh nên giữ bình tĩnh.
- Hãy ngăn đừng cho ông ấy đi, thưa bà. - Mihiel nói. Mọi việc sẽ ổn thỏa, cần bình tĩnh tổ chức chuyến đi khảo sát của chúng ta ở Trung Quốc.
Bấy giờ là tháng Tư. Đầu mùa đông, Dorpat phải đến cao nguyên ở Tây Nam Trung Quốc, vào lúc cái rét làm khô cứng những vùng đất sét lầy lội và các đường mòn cheo leo trên sườn thung lũng, khiến cho ngựa thồ có thể đi qua được. Mihiel chỉ đơn giản đi theo đường sắt đang xây dựng ở vùng phía dưới của Vân Nam.
Dorpat buồn rầu tuyên bố là anh sẽ không dẫn đầu đoàn công tác. “Việc thế là hỏng.” - Anh nghĩ.
Tardenois về nghỉ ở bên Pháp. Dorpat vẫn chưa được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Khoa học. Việc không giữ lời hứa làm anh không được vui.
Sau khi ngài kỹ sư đi một thời gian ngắn, Dorpat gửi hai công văn cho một hiệp hội khoa học, một nói về các tài liệu cá nhân còn cái kia về các mẫu đá do Diez thu thập về và Dorpat đã nghiên cứu theo yêu cầu của Tardenois. Kết quả nghiên cứu của anh trái ngược hoàn toàn với những điều mà Diez đã công bố. Ông này hiện đang đọc cho bất cứ ai nghe một báo cáo về cấu trúc của Mặt Trời, trước sự mừng rỡ của những người có chút ít hiểu biết khoa học.
Chuyến thư quay về có mang theo bức thư sau đây của Tardenois: “Tôi rất sửng sốt được thấy ông trao đổi thông tin khoa học mà không đệ trình tôi trước đó. Hơn nữa ông còn phát biểu trái ngược với một trong các đồng nghiệp của ông mà tôi đã chuẩn y. Tôi yêu cầu việc đó từ nay không xảy ra nữa.” Lúc đầu Dorpat bị sững sờ.
- Ái chà, - anh nói, - có cảm giác như ở trong một trại lính. Kết quả khoa học được chấp nhận hay bị bác bỏ là theo lệnh!… Anh chuẩn bị xin từ chức. Mihiel nói:
- Không nên giải quyết một cách tiêu cực như thế. Ông ấy bị Diez kích động. Nhưng thong thả, để tôi viết thư cho ông ta. Còn từ góc độ của mình, Munteanu nhắc lại:
- Ông ta không suy nghĩ khi viết thư. Ông ta là người tử tế, sẽ hối hận về lá thư đó…
Dorpat đồng ý hoãn việc từ chức. Nhưng gác sang bên mọi nền nếp tôn ti trật tự, anh trả lời Tardenois: “Thưa ông, ông làm trái với những lời hứa nghiêm túc của mình. Tôi có văn bản trong tay đây. Tôi đọc lại và thấy rằng về mặt khoa học tôi hoàn toàn được tự do. Tôi không chấp nhận điều gì khác vì mỗi chúng ta đều có địa vị riêng. Nếu tôi là thành viên của hội đồng chấm thi mà ông là thí sinh thì hiển nhiên tôi đã đánh trượt ông. Như vậy ngoài các kỷ yếu của Viện Khoa học, tôi có thể công bố tất cả những gì tôi muốn. Tôi coi mối quan hệ hành chính giữa chúng ta là mối quan hệ giữa một hiệu trưởng trường đại học và một vị giáo sư của khoa, cần rành mạch như thế. Nếu những điều kiện này không được chấp thuận, sau khi ông trả lời, tôi sẽ đệ đơn từ chức.”
Dorpat phẫn nộ. Cùng một lúc anh viết thư cho Bornier, cho giáo sư Heyrier và chuẩn bị ra đi, rời bỏ cơ quan khoa học mà anh từng gắn bó, từng hi vọng về một sự nghiệp vinh quang.
Hai tháng sau anh nhận được thư. Một thư của Bornier, với giọng rất trìu mến: “Tôi đã gặp ông bạn già Tardenois. Ông ta đau buồn… Có sự hiểu lầm. Ông ta sẽ viết thư cho anh. Lá thư sẽ làm anh hài lòng. Nhất là chớ có làm liều…”
Lá thư khác của Heyrier, bây giờ đang đảm đương một chức vụ quan trọng. Anh đọc: “Bạn thân mến, hãy yên tâm. Không ai không biết rằng sự thiếu kiến thức của Tardenois đã ngăn cản, không cho ông ta nhìn thấy cái dốt của Diez, rằng Diez đâu phải là nhà tự nhiên học và người ta không thể cộng tác với ông ta. Người ta đã nói điều ấy với ông ta. Vậy thì đừng bi quan làm gì. Nhiệm vụ của anh là cố gắng hết sức bám trụ ở đấy. Tardenois không ở vĩnh viễn được. Tôi đã chẳng phải chờ lâu ngày đấy ư? Nhưng chính tôi đã tin tưởng rằng sẽ đến lượt mình. Hãy bắt chước tôi trong trường hợp này, vì khoa học, và vì anh nữa! Hãy nghĩ tới một lĩnh vực tốt cần được đưa vào khai thác. Trở về nước sớm là anh đã chấp nhận thua
cuộc. Và anh hãy tin rằng những lời khuyên của tôi xuất phát từ tình bạn. Dorpat, anh đã bắt đầu một công trình vĩ đại… Từ bỏ nó là yếu hèn. Tôi hiểu anh. Tôi yên tâm.”
Dorpat không lưỡng lự nữa… Anh ở lại, anh thuộc loại người mà tiếng gọi vào cuộc đấu tranh và vào những việc làm hào hiệp lôi cuốn ngay từ những giây phút đầu tiên. Và rồi sau liệu anh có thắng lợi không? Anh đọc lại với vẻ hài lòng dòng chữ: “Người ta đã nói điều ấy với ông ta.” Tardenois đã mất uy tín nặng nề. Điều ấy không làm anh… tự ái nữa.
Một tuần lễ sau, tàu bưu tín của Anh mang đến bức thư của Tardenois: “Ông Dorpat thân mến của tôi, tôi rất buồn về một loạt chuyện hiểu lầm. Xin thú thực với ông, những lời phê phán của ông về công việc của Diez làm tôi hơi bực tức. Tôi hiểu là ông có lý, nhưng tôi muốn có sự thông cảm hoàn toàn giữa các ông, bởi vậy tôi đã viết hơi ab irato[24]. Một sai lầm trong sự đánh giá… Dĩ nhiên, ông được tự do công bố theo ý mình. Chúng ta sống trong một gia đình, cùng làm việc với nhau. Tôi đã viết thư để thúc đẩy nhanh việc bổ nhiệm ông. Diez đã đi nghỉ phép. Ông ta không trở lại nữa. Thực tế ông ta rất mệt… Đấy!… Những trục trặc nhỏ nhặt đáng kể gì. Nay mai tôi sẽ xuống tàu, sẽ gặp lại ông. Rất chân tình.”
Buổi chiều Dorpat nói với Mihiel khi ông này đến nhà ăn cơm tối: - Thật là con người dũng cảm. Ông ta bị một vố đau như thế mà cũng không thù hằn gì tôi. Chỉ tiếc là ông ta quá kiêu căng và thiếu tế nhị. Nhưng chung quy lại, ai mà chẳng có gót chân Asin. Tardenois trở về. Dorpat cảm động về sự quan tâm của ông ta. Cuối cùng việc bổ nhiệm chức Viện trưởng Viện Khoa học cũng xong, tuy hơi chậm chạp. Với thái độ bất bình, Tardenois quy việc chậm trễ này cho sự trì trệ của các cơ quan. Giữa Dorpat và người kỹ sư lại có mối quan hệ thân tình. Họ thường gặp nhau, khi ở nhà người này, khi ở nhà người kia, có cả Mihiel và Munteanu - người vừa mới được nhập quốc tịch Pháp. Dorpat công bố một số bài báo khoa học và có chuyển cho Tardenois xem trước nội dung. Ông này tỏ ra cảm kích trước sự tôn kính đó.
Rồi Dorpat thực hiện một chuyến đi khảo sát lên đến tận thượng nguồn sông Xanh, trong khi đó Mihiel đi dọc theo tuyến đường sắt đang được xây dựng, thời gian khoảng hai tháng. Dorpat trở về khỏe mạnh. Sức dẻo dai về thể chất đã giúp anh vượt qua không mấy khó khăn quãng ngày dài lưu lại ở trên cao, những đợt rét cắt da dưới mái lều bạt, những chặng đường khổ ải trong những vùng heo hút. Sau khi được ngắm phong cảnh tươi đẹp trong xứ sở của các hồ nước, anh đã lợi dụng việc đặt đường ray để bố trí cho vợ con ở lại một nơi êm dịu tuyệt vời tại vùng phía đông Vân Nam, lánh xa cái mùa hè ẩm thấp và ngạt thở của xứ Bắc Kỳ.
Đó là lúc Lebret gặp anh ở Đường Vòng.
CHƯƠNG BA
I
Dorpat đang làm việc với kính hiển vi phân cực. Anh ngồi trên một chiếc ghế đẩu cao loại ba chân trong hành lang đóng kín của phòng thí nghiệm. Vừa tiến hành đo các chỉ số quang học của tinh thể, anh vừa trả lời Mihiel. Người công nhân cũ ngồi trên một chiếc bàn nặng, hai tay tì lên mép bàn, chân để thõng, thong thả đung đưa tấm thân to lớn hơi gù.
- Ông biết chứ, - Mihiel nói vẻ hài lòng, - sẽ rất hay. Ông đã thấy những bản ảnh hóa thạch vừa đưa từ Pháp sang, chất lượng rất tốt… Còn những bản đồ, những mặt cắt địa chất để đưa vào bài viết của ông bây giờ ra sao rồi?
- Loạt thứ nhất đang ở nhà in. Những bản khắc gỗ đã xong, tôi đã xem bản in thử. Những bản kẽm rất tốt, cũng đã hoàn tất. Bây giờ ở đây người ta khắc, trổ cũng đẹp chẳng khác gì ở bên Pháp. - Ông đã đọc xong bài của tôi chưa?
Dorpat đứng dậy và lấy giấy tờ trên bàn làm việc.
- Đây, xong rồi.
- Được chứ?
- Rất tốt. Phần mô tả rõ ràng và mối quan hệ huyết thống giữa các loài được xác lập tốt.
- Tôi rất phấn khởi được ông đánh giá như vậy! Ông biết không, - Mihiel nói giọng oang oang và thật thà - tôi ấy mà, tôi đâu có được học viết! Có thể làm được gì thì làm thôi.
- Và ông đã làm xuất sắc, - Dorpat nói giọng dịu dàng. - Không phải khi làm thợ sản xuất chất béo mà tôi có thể luyện viết văn… - Mihiel đột nhiên sa sầm nét mặt. - Khuân vác những tấm đồng thau!… Ôi, thật khốn nạn!
Ông ta nhìn chằm chằm về phía trước, một nụ cười nhăn nhở gắn trên khuôn mặt xương xẩu, đôi hàm răng cắn chặt. Dorpat hiểu
những cơn giận dữ của Mihiel.
- Tất cả mọi nghề! - Mihiel tiếp tục. - Nghề nặng nhọc nhất!… Nghề bẩn thỉu nhất! Và buổi tối, trong cái buồng nhỏ của tôi, mệt lử, sụn lưng… tôi đọc Lamarck[25], Spencer[26] và bây giờ tôi làm khoa học! Sự trả thù đối với số phận… Tôi đã thực hiện! Ồ, xã hội! Và ở đây cả cái thế giới ngu xuẩn này vây quanh chúng ta, bọn ba hoa ở phòng khách này… Khi tôi sa vào hoàn cảnh như thế… Đứa nào trong bọn họ đã làm được như tôi đã làm? Một hôm khác tôi thấy một kẻ ngu si của dinh Thống sứ giở trò bất nhã giữa một đám đàn bà!… Ôi, một người tài trí như thế! Tất cả bọn cạo giấy này, bọn nhố nhăng này, khi chúng nhìn tôi với thái độ hỗn láo, tôi muốn băm vằm chúng ra.
Ông ta quờ tay lấy một cái vồ và để cho nó rơi bịch xuống mặt bàn, như thể trong cử chỉ này ông ta đã nghiền nát cả xã hội. Munteanu đang làm việc trong hành lang đối diện, nghe thấy tiếng động chạy đến.
- Cái gì thế?
- Không! - Dorpat bình tĩnh nói. - Munteanu, anh có biết sáng nay ông Tardenois có đến phòng làm việc không?
- Tôi vừa qua chỗ ông ta. Ông ta bảo chờ anh vào lúc mười một giờ.
Trong khi trả lời Dorpat, Munteanu nhìn Mihiel với thái độ thù địch. Dorpat giả vờ không nhìn thấy.
- Munteanu, - Dorpat nói - tôi cảm ơn anh đã đốc thúc các nhân viên họa đồ làm việc. Phải làm gấp các bản đồ ấy.
Munteanu đi ra. Dorpat thân ái đặt tay lên vai Mihiel. - Ông bạn quý của tôi ơi, hãy quên quá khứ đi. Nay ông không phải là bác thợ Mihiel nữa, mà là nhà khoa học, có thể để lại một công trình…
- Hơi muộn mất rồi, - Mihiel nói, giọng mỉa mai cay độc. - Tại sao vậy? Ở đây rất nhiều tài liệu. Ông sẽ có tất cả các hóa thạch mà tôi đã sưu tập được và của cả các cộng sự khác nữa.
- Tôi đã… ờ, năm mươi tư chiếc lá vàng rơi, - Mihiel thường hay nói lái đi.
- Ông sẽ ở đây cho đến khi khí hậu vẫn còn phù hợp với ông. Hơn nữa ông rất khỏe… Và ông biết rằng tôi sẽ làm tất cả để tôn vinh ông. Tôi quá hiểu ông, biết là ông không tiếc nuối cái vị trí mà trí thông minh của mình đã đưa đến trong những điều kiện khác. Ông là một người vô tư. Tham vọng duy nhất của ông, như ông thường nhắc, là để lại một cái tên vinh dự trong khoa học. Đó là điều chắc chắn… Vậy thì sao ông lại cứ băn khoăn về quá khứ, chính ông, Mihiel - con người truyền bá cho luận thuyết tiến về phía trước?
Dorpat lấy trên bàn một mẫu đá và xem xét một cách lơ đãng. Không đưa mắt về phía Mihiel, khi ông này đang nhìn anh với ánh mắt kỳ cục, anh nói tiếp:
- Vậy thì tại sao lại đòi hỏi xã hội nhiều như vậy? Xã hội rất xấu, rất tàn ác, cái đó đúng. Ông có tin rằng có tài năng thực sự không nhất định là có tiếng tăm không? Và ở bất cứ thời nào cũng vậy. Tấm gương của Amyot, hay tấm gương của Mihiel… cách nhau hàng thế kỷ… của Mihiel và của bao người khác nữa. Ông đã phải mất đi nhiều năm tháng, thật đau đớn, thật bất công. Ông có tin rằng tôi cũng vẫn khâm phục ông như thế nếu ông từng có một cuộc đời nhàn nhã và mọi bước đường đã được vạch sẵn, như bao gã trẻ trai, lại thông minh nữa, mà ta thấy chúng đã nhanh chóng nổi tiếng, bởi vì chúng được hưởng mọi sự ưu đãi?
Anh cầm chiếc đục nhỏ, tách một miếng từ mẫu đá.
- Hôm qua tôi nghe ông nói, với giọng giễu cợt, về Hazebrouck và Bretonneau, về tất cả đám thanh niên đã bất chấp mọi chuyện xấu xa chỉ cốt sao nhanh chóng đạt được quyền cao chức trọng… Ông rất có lý.
Mihiel vẫn nhìn anh với thái độ không đổi. Dorpat ngẩng đầu lên. Vẻ mặt Mihiel khác hẳn.
- Ông Dorpat, - Mihiel nói với vẻ lúng túng, - đưa tay đây cho tôi. Ông là một chàng trai tử tế. Rất may cho tôi là ông đã đến đây! - Sao vậy? - Dorpat hỏi lại. - Về phần mình, tôi biết ơn ông nhiều. Đúng, tôi rất cảm phục nghị lực của ông và nhất định sẽ tìm
cơ hội giúp ông thực hiện một công trình có giá trị.
Mihiel siết chặt tay người trẻ tuổi.
- Ông hãy nhìn mẫu đá gơnai này, - Mihiel nói. Ở vùng Yên Bái, than chì tạo nên những lớp mỏng láng vẩy mica. Đây không phải là mẫu duy nhất, nhưng quả là hiếm hoi. Chỗ còn lại không dùng làm gì được.
Mihiel cầm mẫu đá giơ cho Dorpat xem.
- Đúng, - anh nói, - lạ thật…
Rõ ràng ông ta đang nghĩ đến chuyện gì khác, một vấn đề mà ông ta còn ngại ngùng chưa tiện nói ra. Dorpat tập trung vào mẫu đá biến chất, đặt một mẩu lên bàn kính hiển vi:
- Đây, - anh vừa nói vừa hiệu chỉnh trắc vi vật kính, - ông hãy nhìn cách sắp xếp các vẩy…
Mihiel nhìn lơ đãng, rồi bỗng nhiên ông ta quyết định nói: - Chúng ta cùng bàn xem nên đặt tên gì cho chuyến khảo sát ở Trung Quốc?
- Như chúng ta đã nói rồi: “Cuộc khảo sát vùng Tây Nam Trung Quốc”.
- Không hẳn thế. Tên đầy đủ cơ? Sẽ có các cuốn chuyên khảo của ông, quan trọng hơn cuốn của tôi. Sách của ông về địa chất đại cương, địa lý tự nhiên, hoạt động uốn nếp, các bản đồ và mặt cắt địa chất… Còn tôi, tôi chỉ có một cuốn sách đơn giản, với những bản ảnh minh họa… Tôi biết, đây là việc quan trọng… Tôi chỉ muốn nói…
Mihiel còn lưỡng lự trước một đòi hỏi mà ông ta chưa tiện nói ra. Dorpat không nhìn thấy gì. Rồi ông ta quả quyết:
- Tôi muốn chúng ta sẽ đặt tên cho các cuốn sách của ông là “Khảo sát v.v…, tác giả J. Dorpat” và tên cuốn sách của tôi là “Mô tả các hóa thạch v.v…, tác giả H. Mihiel”, hay là - tiếng ông ta lặng đi trong sự cương quyết thường thấy, - một cái đầu đề lớn “Kết quả nghiên cứu v.v…, tác giả J. Dorpat và H. Mihiel” trên tất cả các cuốn sách của tôi và của ông. Phần tôi, tôi chỉ nói về những nghiên cứu dọc tuyến đường sắt…
Dorpat nhìn thẳng vào ông ta, nói:
- Tôi đã bảo ông là tôi rất muốn góp phần bù lại sự thiệt thòi do hoàn cảnh gây ra cho ông. Ta sẽ để: “Kết quả nghiên cứu vùng Tây Nam Trung Quốc. Tác giả: J.Dorpat và H. Mihiel.” Và tôi đã quyết định thế rồi… Đây…
Anh cầm lên một tờ giấy trong ngăn kéo.
- Đây là dự kiến tên sách.
Một lần nữa Mihiel lắc tay anh rất mạnh:
- Ông thật là một chàng trai rất tuyệt. Tôi chấp nhận, bởi vì đó là đề xuất của ông, - cái giọng rất chân thật một lần nữa lại vang lên. - Dù sao tôi cũng hơi xấu hổ. Ông đã lặn lội rất vất vả ở trên cao đó… Ồ… Điều này sẽ bù lại cho những việc tôi đã làm trước kia. Và ông biết không, tôi tự nhủ rằng dù sao tôi cũng có công với khoa học, với những đề tài do chính tôi nghiên cứu. Tôi đã lao động rất vất vả, có những dạng hóa thạch rất khó xác định…
- Ông bạn già thân mến, - Dorpat nói - tôi rất sung sướng được làm điều ấy cho ông.
- Thật vậy sao? - Mihiel nói. - Chúng ta là những con người, chúng ta khác nhau, và chúng ta cùng hiểu là mình có giá trị đến đâu. Dù sao đi nữa, cũng xin cảm ơn ông!
Hình như ông ta đã nén xúc động bằng lời nói mạnh mẽ cố ý. Mihiel trở về phòng thí nghiệm của mình. Dorpat nghe thấy giọng khàn khàn của ông ta hỏi người bản xứ giúp việc. Nghe ông ta nói anh bỗng mủi lòng. Anh quý cái bản chất chân thật và nghiêm khắc của ông ta. Càng ngày anh càng cảm phục nghị lực và kiến thức uyên thâm của ông ta. Mihiel không đơn thuần là một nhà tự nhiên học. Ông ta đã đọc nhiều và hiểu rộng. Người công nhân cũ này đã nói với sự am tường về Shakespeare hay Corneille[27], về Hugo[28] hay Ibsen[29]. Một trí thông minh tuyệt vời, hiển nhiên, chẳng may thiếu đi những năm tháng dồi dào sinh lực dành cho việc học hành ở tuổi thanh xuân. Dorpat cảm thấy vui sướng về quyết định của mình. Bằng cách gộp chung tên của Mihiel vào đầu sách, anh đã chia sẻ với ông ta một nửa vinh dự của công trình nghiên cứu. Mihiel không thể tự làm được việc ấy… Và sau đó thì sao? Anh tự nhủ rằng không bao giờ con người giàu nghị lực này lại chểnh mảng với công
việc khi có dịp. Với lòng trìu mến và mong ước hào hiệp được giúp đỡ Mihiel, anh đã tự phóng đại những công lao của người bạn vong niên.
Viện Khoa học bây giờ di chuyển về những ngôi nhà ở phố Puginier. Nhà bảo tàng[30] cũng đã xây xong. Dorpat đi qua khoảng sân lớn và giữa những bồn hoa đang bắt đầu nở để đến phòng vẽ bản đồ. Munteanu đang ở dưới hành lang, nhìn thấy Dorpat đi đến.
- Công việc vẫn chạy chứ? - Dorpat hỏi. - Ít lâu nữa Mihiel sẽ đi Pháp. Tất cả những thứ ông ta phải trình bày ở bên đó cần được chuẩn bị sớm.
- Được đấy, - Munteanu nói, - tất cả đã sẵn sàng… Ban nãy ông ta nói những gì, con Ursus speloeus ấy?
Anh ta đặt cho Mihiel cái tên “Ursus speloeus” theo đúng phép nhị danh của sinh vật học, nghĩa là Con gấu ở hang kỷ Đệ tứ, khiến Dorpat không hài lòng.
Anh ta nói tiếp:
- Tôi nghe thấy ông ta gào rống lên ở đây. Dù sao ông ta cũng phải bằng lòng với thân phận của mình chứ!
“Chẳng lẽ lại là Mihiel?” - Dorpat nghĩ thầm.
- Munteanu, anh không độ lượng với Mihiel.
- Chính ông ta khiến tôi phải đối xử như vậy, - Munteanu nói. - Đồng ý, và việc đó làm cho tôi rất buồn. Những tật xấu… ông ta có tật… mọi người đều có. Cuộc đời đã không chiều ông ta. Điều đó khiến ông ta vất vả.
- Chính anh, - Munteanu nói - anh đã nuông chiều ông ta quá đáng. Và anh nghĩ là ông ta biết ơn anh à?
Dorpat bực dọc bỏ đi. Munteanu nhìn theo Doprat lên xe đạp đi qua sân ra phố. Anh giơ hai tay biểu thị thái độ giận dữ, pha chút khôi hài. Khuôn mặt bảnh trai, chân thật, biểu lộ sự thất vọng nặng nề. Anh vừa đi vừa hậm hực, bước vào phòng Họa đồ và trút nỗi bực bội của mình lên đầu họa đồ viên Nguyễn Văn Thành. Anh chàng này lẽ ra phải vẽ các hình cho bài báo khoa học về vùng Tây Nam Trung Quốc, lại dùng mực Tàu vẽ tỉ mỉ những con sâu bọ trên
một cái đèn nhỏ bằng giấy, trông rất đẹp. Anh ta ngạc nhiên trước giọng giận dữ của Munteanu gọi anh ta là đồ bản xứ ngu ngốc và dọa đuổi anh ta khỏi cơ quan. Nhưng rồi Munteanu dịu lại và cơn khùng xẹp xuống. Các họa đồ viên cũng trấn tĩnh lại ngay, họ tiếp tục làm việc hăng say cho đến khi tiếng trống tan tầm vang lên.
II
Từ đại lộ Borgnis-Desbordes, Dorpat đạp xe dưới bóng cây mát mẻ đến tận Hồ Gươm. Anh xuống xe và đến ngồi trên một cái ghế dài, dưới bóng hoàng lan. Hồ Gươm trải thảm nước màu xanh lục do có vô vàn những vi tảo nhỏ xíu dưới ánh mặt trời sáng sủa của mùa đông. Có một chiếc tháp nằm trên một hòn đảo nhỏ và một ngôi đền - trên một hòn đảo khác lớn hơn, thấp thoáng trắng giữa những lùm cây rậm rạp. Hòn đảo có ngôi đền này nối với bờ bằng một chiếc cầu gỗ sơn màu đỏ. Dáng cầu uốn cong, trông như một con tôm lớn trên mặt nước màu lục sẫm. Tất cả hợp thành một tổng thể tuyệt đẹp, điển hình của kiểu phong cảnh duyên dáng được truyền bá rộng rãi ở phương Tây qua các bức tranh in tay của Nhật Bản. Ấn tượng thật lạ lùng cho khách đi đường khi chuyển hướng, không nhìn vào phong cảnh Viễn Đông nữa, mà quay khoảng chín mươi độ về bên phải là thấy ngay cảnh sắc của phố Paul-Bert[31]. Tại đây có các tòa nhà kiểu châu Âu, có các nhà hàng lớn ban đêm rực rỡ ánh đèn. Nhà hát thành phố bắt chước dáng dấp của Grand Opera ở Paris, một công trình đồ sộ được xây dựng với thị hiếu tồi tệ dưới bầu trời phương Đông, đứng chặn ở cuối đường phố huyết mạch quan trọng, tấp nập ô tô và xe ngựa. Người Việt Nam, đội khăn xếp đen, mặc áo dài đen phủ ngoài bộ quần áo trắng, vừa đi lại vừa nói như hát một thứ tiếng giàu thanh điệu.
Dorpat cảm thấy hạnh phúc trào dâng trong niềm vui thầm kín. Các công trình khoa học đã mang lại cho anh niềm hứng khởi sâu lắng mà những người chỉ nghĩ đến tiền bạc thì không bao giờ mơ tưởng thấy được. Và niềm vui lớn nhất là anh có tình yêu nồng nàn của người vợ hiền thục. Cho đến giờ chị vẫn như người bạn gái thời trai trẻ của anh, người mà anh từng trao đổi những suy tư, san sẻ những niềm vui khám phá, những hứng thú văn học và nghệ thuật.
Đúng, anh sung sướng và không bao giờ nghĩ đến ngày niềm hạnh phúc này vụt tắt.
Anh rút đồng hồ ra và đánh rơi một mảnh giấy. “Đúng, - anh lẩm bẩm - chiều nay Lebret đến”. Anh lại nhét mẩu giấy nhắn tin vào túi và lên xe đạp. Anh đến Viện Kỹ thuật, một tòa nhà to lớn và xấu xí. Cùng với một số nhà cửa khác ở xung quanh, nó không hề góp phần tô điểm cho thủ đô thêm xinh đẹp. Anh lên gác hai và đi theo hàng hiên rộng ở phía ngoài. Các nhân viên người bản xứ chào khi anh đi qua. Qua các cửa ra vào để ngỏ, anh nhìn thấy các trưởng phòng người Âu ngồi trước bàn làm việc phủ nỉ xanh, trong tiếng lách cách không ngừng của máy chữ do những nhân viên người Việt gõ bằng những ngón tay điệu nghệ.
Anh vào chỗ Tardenois. Người kỹ sư ngồi sau bàn quay về phía khách, khuôn mặt to và tròn, không có vẻ hào hoa phong nhã. Ông ta nhoẻn miệng cười, nụ cười quen thuộc, nhưng do lặp lại quá nhiều mà trở nên nhàm chán, nhạt nhẽo. Ông ta bắt tay Dorpat, hờ hững - cử chỉ lạ lùng như vừa muốn bắt, vừa muốn rứt tay ra. Dorpat cảm nhận đó như một cử chỉ thiếu chân thật, và sự đụng chạm vào bàn tay nhũn như miếng pho-mat này gây cho anh một cảm giác không dễ chịu chút nào. Tardenois lấy ra kính cặp mũi gọng vàng, vừa lau vừa nhìn chằm chằm vào người trẻ tuổi bằng cặp mắt to, lác và cận thị của mình.
- Hãy ngồi cạnh tôi, ông Dorpat. Nào, ở đây, đúng thế,… phải không nào… chúng ta có… ờ… những vấn đề lý-ý…th-ú-ú để cùng nhau xem xét, có phải không?…
- Ông đã đọc xong bài của tôi chưa? Được chứ?
- Đọc rồi, được à? Thật tuyệt..yệt vờ..i. Tôi vừa viết cho Bornier. Tôi nói với ông ta: “Dorpat, ờ… là một nhà bác học hàng đầu.” Thật tuyệt vời, ờ… có phải không?
Lời đánh giá không làm cho người trẻ tuổi tự hào. Anh chạnh nghĩ, trước đây cũng những lời lẽ như thế đã được người kỹ sư dùng để nói về Diez.
- Chúng ta quyết tâm làm cho Viện Khoa học trở thành một cơ quan đồ-ồ sộ-ộ, có phải không, ờ… đồ-ồ s-ộ! Ông Dorpat thấy
không, công trình của chúng ta được đánh giá cao khắp nơi. “Cảm ơn cái gọi là chúng ta”, - Dorpat nghĩ. Lâu nay Tardenois hơi lạm dụng kiểu suy nghĩ như thế.
Đúng vậy, với sự hăng hái đáng biểu dương, người kỹ sư đã không bỏ lỡ dịp nào để công bố ầm ĩ về giá trị các khám phá của Dorpat, về tầm nhìn sâu rộng của anh. Và đôi khi ông cũng tỏ ra hơi lố bịch. Với thân hình phì nộn, ông ta dồn người đối thoại nào đó vào một góc nhà rồi thuyết trình cho nghe, xen vào rất nhiều “có phải không, đúng thế, ở đây…”, về đóng góp to lớn của các công trình mà Dorpat và Mihiel đã thực hiện. Phải biết ơn ông ta về điều ấy. Tuy kiêu căng nhưng là người tốt. Song, bây giờ ông ta có thêm một điệp khúc mới vào những lời huyênh hoang của mình. Khi vắng mặt Dorpat, ông ta kết thúc bài thuyết trình bằng những lời lẽ cho thấy, bằng cách nào mà ông ta, một kỹ sư trưởng, biết hướng các cộng tác viên của mình đến những nhiệm vụ nghiên cứu thiết thực, và họ đã làm theo những gợi ý của ông. Những lời này có vẻ như chỉ hời hợt, thoáng qua… Nhưng người nghe lại được dẫn dắt để hiểu Tardenois là một vị giám đốc thiên tài của Viện Khoa học, người khởi xướng và chỉ đạo các công trình từ tầm cao. Dorpat biết chuyện ấy và điều đó khiến anh khó chịu. Anh cảm thấy hình như Tardenois muốn tìm cách dây máu ăn phần, lén chen vào sự nổi tiếng sớm của anh.
Tardenois đặt cánh tay nặng nề, mềm nhũn, có những sợi lông hung hung lên những trang đánh máy của bản thảo: “Kết quả nghiên cứu vùng Tây Nam Trung Quốc”.
- Ông đã làm được một việc to-o lớ-ớn, thật khổng-ổng lồ - ông ta nói. - Ông có may mắn là đã có thể chuyên môn hóa một lĩnh vực khoa học thuần túy.
Ông ta thôi không cắn góc môi nữa và thở dài buồn bã: - Tôi rất mệt vì cái luật thủy lực học khốn khổ này. Công trình tôi phải làm, ờ…, phức tạp đến kinh khủng, có phải không, ờ… đúng thế…
Ông ta lắc đầu, có vẻ khó chịu, dang rộng hai cánh tay, thở hổn hển, làm như công việc xây dựng luật thủy lực học này nặng nề như
phải nâng bổng cả một trái núi.
- Thế nào, - Dorpat nói, không muốn mất thêm thì giờ - ông đưa lại tôi bản thảo chứ? Tôi muốn mang về để làm ma-ket các hình vẽ. - Không, không, không nhanh thế được. Ông hãy kéo ghế lại gần chỗ tôi. Chỗ này, ờ… có phải không, tôi có…ó vài…ài nhận xét nhỏ để ông tham khảo. Tôi đã ghi bằng bút chì…, có phải không, những đoạn, ờ… đây, trang 4, trong phần địa lý tự nhiên - phân tích thật tuyệt, tôi khâm phục… thật lòng, ờ… đây nữa, tôi thích hơn, không thay đổi chút nào về nội dung, phải không…, tôi sửa vài dòng ở bên lề, phải không… đúng rồi… Ông tự đọc đi. Tôi tin rằng đã đạt được việc làm cho tư tưởng của ông… thêm trong sáng, tìm được những từ thích hợp… có tiếng vang hơn…
Dorpat cảm thấy máu mình đông lại trong huyết mạch, tựa như Cyrano. Anh đọc lại. Những câu văn của anh rõ ràng, minh bạch, nói lên chính xác những gì cần miêu tả, lại không thiếu tinh tế, văn vẻ, giờ đây biến thành những lời thống thiết giả tạo, tối nghĩa, dài lê thê như món mì ống trộn nhiều pho-mat, cần phải cố gắng động não mới hiểu được. Anh cảm thấy rụng rời và giận dữ. Tardenois, rất mãn nguyện, tiếp tục lật các trang giấy…
- À, này…, còn đây nữa…, ờ… Có lẽ việc trình bày cần sửa lại một chút. Có phải không, đúng thế… Đây là những gì tôi đã ghi bên lề. Tôi đưa ông xem. Ông đọc đi. Việc chẳng đáng chi, nhưng nó nâng cao lên biết bao, có phải không? Điều đó nói rõ thêm, ờ… có phải không…, đúng vậy…, chỉ còn mỗi việc là chép lại những trang này.
Dorpat vẫn đọc. “Ôi, rườm rà, đê tiện làm sao! Chẳng qua là ông ta muốn tỏ ra mình là người tài giỏi.” Anh cảm thấy nóng mặt. Dòng máu thanh xuân rần rật trong huyết mạch. Nhưng rồi anh tự kiềm chế được. Tardenois chỉ ra khoảng hai chục đoạn có khả năng sẽ hay lên rất nhiều nếu làm theo những gợi ý của ông ta.
- Ông hiểu rõ, phải không, đúng vậy, ở đây… ờ… bây giờ sáng sủa biết bao…
Dorpat bỗng thấy mình trở nên cứng đờ và lạnh giá. - Trưa rồi, Tardenois nói to. - Có Trời chứng giám, tôi muốn mời ông ở lại. Nhưng bà Dorpat lại đang đợi ông ở nhà. Vậy ông hãy trở
lại đây… ờ… vào hai giờ chiều, được không? Chúng ta sẽ lại nói chuyện tiếp. Còn rất nhiều đoạn phải chỉ cho ông… Tôi thật hài lòng, ông bạn, chúng ta đang triển khai một công trình khoa học đẹp đẽ biết nhuờng nào!
Dorpat cố nhịn. Anh cảm thấy công việc sẽ hỏng bét nếu anh không dứt ra được. “Ôi, bản thảo của tôi! Ôi ngài hộ pháp!… Bóp méo bài của tôi như thế là đủ rồi. Và người ta lại cho những lời lẽ rườm rà như bột nhào kẹo này là do tôi nặn ra…” - Dorpat chua chát nghĩ và cầm lấy mũ cát.
- Thong thả đã, - Tardenois nói vội, - tôi quên mất… tôi dành điều hay nhất về sau cùng.
Ông ta đứng dậy thiếu cẩn trọng, xô mạnh làm cái ghế đổ kềnh và tìm áo vét, vẻ vụng về.
- Này đây, có phải không… Một lá thư nhận sáng nay… Ông biết rằng ở Ban Địa lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học có một số bạn của tôi. Tôi đã viết thư nói rằng Ban sẽ được vinh dự khi xét tặng thưởng cho hai ông - ông và Mihiel. Tôi đã làm nổi bật giá trị to-o… lớ-ớn của công trình khoa học do hai ông thực hiện. Vì thế Vernollet đã viết thư cho tôi nóí rằng Hội đồng khen thưởng Veretskof đã sẵn sàng xét tặng giải này…, rằng chỉ còn, có phải không… vấn đề là thủ tục.
Giải thưởng Veretskof là một giải thưởng có giá trị. Mặc dầu không thích những chuyện ưu đãi, Dorpat cũng cảm thấy vui vui, pha chút ngại ngùng. Anh chân thành cảm ơn người kỹ sư và mang tin vui này về cho vợ. Tới nhà, anh thấy Marguerite đang kể chuyện cho các con gái nhỏ.
- Anh không để ông ta làm hỏng bản thảo của mình chứ? - Người vợ nói, sau khi nghe chồng thuật lại câu chuyện.
- Không bao giờ… Một tác giả có ý thức về tác phẩm của mình sẽ là một kẻ hèn nhát nếu anh ta chấp nhận điều đó. Nhưng tính kiêu căng lố bịch của ông ta thật khó chịu. Anh không muốn bị coi là tác giả của những lời nói khoa trương của ông ta, mặt khác, chưa biết bằng cách nào có thể nói cho ông ta hiểu là văn của ông thật dài dòng và nặng nề… Quả là bất tiện quá!
Sau bữa ăn trưa, Dorpat chơi với các con gái, cho một đoàn xe lửa chạy. Người ta đã mang cát mịn đến để xây dựng và còn thừa một đống cát ẩm ở trong vườn. Anh tạo ra một cái lỗ ở sườn đống cát và trong cái tuy-nen dễ lở ấy anh đặt những thanh ray nhỏ bằng sắt tây dưới con mắt thích thú của bọn trẻ. Một lát sau, khu vườn vang lên tiếng reo vui khi đoàn xe lửa tí xíu xuất hiện, chạy đi chạy lại dưới vòm cát cho đến tận lúc cái công trình không ổn định đó sụp đổ: “Bố ơi, - cô con gái lớn nói, - rất giống ở Nan-ti”. Đối với những đứa trẻ hàng năm đã quen vượt những chỗ đất đá sụt lở kinh khủng, leo qua những tuy-nen bị vỡ, được những người phu làm đường cõng đi trên những dốc núi cao chóng mặt để đến đường sắt bên kia hẻm sâu, thì sự so sánh như trên là điều dễ hiểu. “Đúng như ở Nan-ti” - Dorpat phụ họa. Rồi anh quay về phía Marguerite, nói:
- Chân lý từ miệng trẻ mà ra. Nếu những ai đó lắng nghe con trẻ… Ôi, những công trình xây trên cát!
Anh ôm các con đang tíu tít phá bỏ chỗ cát sụt lở và đi qua khu vườn có nhiều cây to.
- Anh đi đón Lebret ở ga, - anh nói với vợ đang đi bên mình. Anh lên xe và đi dưới vòm cây xanh của đền Quan Thánh[32]. Anh ngoái lại nhiều lần nhìn dáng hình thân yêu trong bộ đồ trắng đang giơ tay tiễn biệt mình. Anh lái xe trên các phố Hà Nội chật ních người, tên phố gợi nhớ lại những phường nghề tựa như thời Trung Cổ ở châu Âu: rue des Tasse[33], rue du Cuivre[34], rue de la Soie[35]. Anh chú ý tránh những chiếc xe kéo chạy nhanh giữa các đám đông, những người bán quà rong và những đám phụ nữ đội nón thúng quai thao đứng nói chuyện ngoài phố.
Anh cảm thấy Tardenois thiếu nhẫn nại một cách đáng mến. Họ để ra hai giờ để xem lại bản thảo. Những chỗ “hoàn thiện” cứ nhân mãi lên. Tardenois đọc to và luôn tìm ra những ý sáng tỏ mới cần đưa vào bài.
- Ông có thấy, - Dorpat nói vẻ nhún nhường, - chỗ này giải thích hay hơn… Hình như cách thuật đầu tiên súc tích, làm rõ vấn đề hơn. Tardenois đọc lại cẩn thận. Nhưng lời văn của ông ta vẫn khiến ông ta vui thích. Hiếm có dịp được công bố, ông ta hớn hở đưa vào
"""