🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Bí Quyết Thu Phục Nhân Tâm
Ebooks
Nhóm Zalo
Table of Contents
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: L[M THẾ N[O ĐỂ HIỂU T]M LÝ NGƯỜI KHÁC KHẢ NĂNG NHÌN THẤU ĐỐI PHƯƠNG
BIẾT MÌNH BIẾT NGƯỜI
CÁI KHÓ CỦA VIỆC THUYẾT PHỤC
NHÌN THẤU NHAU
LỜI CẢNH CÁO CỦA PHÙNG QUÁN
CÁI KHÓ CỦA VIỆC Đ\NH GI\ NGƯỜI KHÁC
THƯỚC ĐO CON NGƯỜI
ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM
ĐIỀU CHỈNH “ỐNG KÍNH” CỦA MÌNH
SỰ YÊU GHÉT CỦA CON NGƯỜI
CẢNH GIÁC VỚI NHÂN DUYÊN
HIỆU QUẢ CỦA KHÉO ĂN, KHÉO NÓI
CHƯƠNG 2: QUAN S\T ĐỂ NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUAN SÁT THIỆN Ý
QUAN SÁT NHỮNG THAY ĐỔI CỦA MŨI
NGŨ QUAN VỚI TÌNH CẢM
ĐỌC T]M LÝ QUA NƯỚC MẮT
NHÌN RA TÂM TRẠNG CĂNG THẲNG CỦA ĐỐI PHƯƠNG
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA LỜI NÓI
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA CỬ CHỈ
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA CÁCH NÓI CHUYỆN
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA THÓI QUEN
ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI ĐỌC TÂM LÝ
VỨT BỎ ĐI ẤN TƯỢNG BAN ĐẦU
SỰ THỰC HƯ CỦA TH\I ĐỘ
“TUYỆT ĐỐI” CHO THẤY NHỮNG GÌ
TÂM LÝ Ỷ LẠI
HÒA GIẢI SỰ HIỂU NHẦM
KHUYNH HƯỚNG TÂM LÝ CHUNG CỦA CON NGƯỜI
CÁ TÍNH LÀNH MẠNH
CHƯƠNG 3: QUẢN TRỊ NHÂN LỰC VÀ VIỆC NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUẢN LÝ VIỆC NẮM BẮT LÒNG NGƯỜI
ĐỀ BẠT NHÂN TÀI
GÂY CHẤN ĐỘNG LÒNG NGƯỜI
BIỂU HIỆN TÂM TRẠNG CỦA CON NGƯỜI
NGHỆ THUẬT PHÊ BÌNH
ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI NẮM QUYỀN
BÁN TÍN BÁN NGHI
QUẢN LÝ SỰ ĐI LẠI
B\O Đ\P SỰ QUAN TÂM
NẮM BẮT TRÁI TIM CỦA CẤP DƯỚI
ĐỌC VÀ HIỂU ĐƯỢC TRÁI TIM CỦA CẤP TRÊN
LÀ MỘT THÍNH GIẢ THÀNH THỰC
HIỆP LỰC HỢP TÁC
C\CH THÚC ĐẨY MỐI GIAO TÌNH
TRÊN BÀN CỦA CẤP DƯỚI
XỬ LÝ QUAN HỆ VỚI CẤP TRÊN
HIỆU QUẢ GẦN Đ]Y
H[NH ĐỘNG LỄ ĐỘ
CHƯƠNG 4: GIAO TIẾP SẼ BỘC LỘ L^NH ĐẠO GIỎI
I. KHÍ PHÁCH
1. PHẢI CÓ KHÍ PHÁCH LỚN
2. PHẢI CÓ S\CH LƯỢC QUẢN LÝ LINH HOẠT
3. VẬN DỤNG SỨC MẠNH CỦA TỔ CHỨC
4. DÁM QUYẾT ĐO\N
5. PHẢI CÓ DŨNG KHÍ
6. PHẢI CÓ TRÍ THÔNG MINH
7. VẬN DỤNG LINH HOẠT PHƯƠNG PH\P “TUNG HO[NH B[I HẠP” CỦA QUỶ CỐC TỬ.
8. BIỆN PH\P “CỰC ĐOAN”
II. ĐỘ LƯỢNG
1. PHẢI CÓ TẤM LÒNG BAO DUNG, RỘNG LƯỢNG
2. BIẾT THA THỨ
3. TỰ TRÁCH MÌNH
4. ĐIỀU CÓ THỂ L[M V[ ĐIỀU KHÔNG THỂ LÀM (TỨC KHÔNG CỐ CHẤP) 5. “NƯỚC BỌT TỰ KHÔ”
6. KHÔNG CHẤP CHUYỆN NHỎ
III. CÔNG BẰNG VÀ CHÍNH TRỰC
1. CÔNG BẰNG LÀ LẼ PHẢI, CHÍNH TRỰC THẮNG GIAN TÀ
2. THÀNH CÔNG NHỜ Ở CÔNG BẰNG
3. CHÍ CÔNG VÔ TƯ
4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH CHỨNG BỆNH NGUY HIỂM CHỦ NGHĨA C\ NH]N IV. ĐẠI NH]N ĐẠI ĐỨC
1. THỰC HIỆN TRỌN VẸN NGHĨA VỤ CỦA MÌNH
2. TIẾT KIỆM ĐỂ DƯỠNG ĐỨC
3. KHÔNG NÊN NHẬN THÌ KHÔNG NHẬN
4. ĐỨC KHIÊM TỐN
5. THẤY SAI SỬA NGAY
V. PHƯƠNG CH]M QUẢN LÝ
1. MỌI VIỆC QUY VỀ “ĐƠN GIẢN, DỄ D[NG”
2. QUẢN LÝ THEO CHỨC TRÁCH
3. TẬP HỢP VÀ SỬ DỤNG ĐÚNG SỞ TRƯỜNG CỦA NHÂN TÀI
4. GI\M ĐỐC NĂNG ĐỘNG
CHƯƠNG 5: NHỮNG ĐIỀU TỐI KỴ TRONG VIỆC DÙNG NGƯỜI
S\U NĂNG LỰC DÙNG NGƯỜI
NĂM NGUYÊN NH]N DÙNG NGƯỜI
BỐN ĐIỀU QUAN TRỌNG KHI DÙNG NGƯỜI
BỐN CHỖ DỰA ĐỂ DÙNG NGƯỜI
BẢY MƯU KẾ TRONG DÙNG NGƯỜI
BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN DÙNG NGƯỜI
DÙNG NGƯỜI CHO VIỆC CÔNG
DÙNG NGƯỜI THEO CHUYÊN MÔN CỦA HỌ
DÙNG NGƯỜI PHẢI CÓ LÒNG TIN
DÙNG NGƯỜI PHẢI CÓ THÀNH Ý
DÙNG NGƯỜI PHẢI KHOAN DUNG
DÙNG NGƯỜI PHẢI CÓ NGHỆ THUẬT
DÙNG NGƯỜI PHẢI MẠNH DẠN
DÙNG NGƯỜI PHẢI BIẾT TRÙ TÍNH
BẢY ĐIỀU CẦN THIẾT TRONG DÙNG NGƯỜI CỦA CÁC ÔNG CHỦ
I. NGƯỜI ĐẾN LÚC DÙNG LẠI KHÔNG DÙNG ĐƯỢC - NHỮNG ĐIỀU KIÊNG Kị KHI DÙNG NGƯỜI
VIỆC KIÊNG KỊ PHẢI TỰ MÌNH LÀM - DŨNG KHÍ CỦA NGƯỜI THƯỜNG
KIÊNG KỊ VIỆC CẤP TRÊN, CẤP DƯỚI KHÔNG KHÁC NHAU, CẤP TRÊN, CẤP DƯỚI CÙNG ĐƯỜNG
ĐỘC ĐO\N L[ ĐIỀU ĐẠI KỊ TRONG DÙNG NGƯỜI
GHÉT HIỀN KỊ T[I, ĐÈ NÉN NH]N T[I
NƯỚC HỒ QUÁ SẠCH SẼ KHÔNG CÓ CÁ
DÙNG NGƯỜI KHÔNG THỂ QUÁ SỨC MÀ KHÔNG QUAN SÁT
CẤM KỊ CHỈ NGHE VÀ TIN MỘT PHÍA
NHỮNG ĐIỀU CẤM KỊ KHI CHIÊU MỘ DÙNG NGƯỜI
CẤM KỊ TRONG VIỆC TRỌNG DỤNG VÀ XỬ PHẠT NẶNG
TUYỆT ĐỐI CẤM KẾT BÈ KẾT ĐẢNG
TUYỆT ĐỐI KỊ VIỆC DÙNG NGƯỜI VÌ TÌNH RIÊNG
TUYỆT ĐỐI KỊ VIỆC THAM CỦA M[ KHÔNG TIN NGƯỜI
DÙNG NGƯỜI KỊ NHẤT LÀ BAO BIỆN LÀM THAY
II. TIỀN BẠC DÙNG RỒI SẼ HẾT, DÙNG NHÂN TÀI MỚI CÓ ĐƯỢC THIÊN HẠ - PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG T[I NĂNG TRÍ TUỆ TRONG THIÊN HẠ
THƯƠNG NH]N NGU XUẨN TIÊU TIỀN, THƯƠNG NH]N THÔNG MINH DÙNG NGƯỜI
KHÔNG PHẢI LÀ VIÊN CHỨC KHÔNG TỐT, MÀ CHỈ LÀ KHÔNG BIẾT DÙNG NGƯỜI KHÔNG CÓ HIỀN TÀI SẼ KHÔNG TH[NH ĐẠI SỰ
NGƯỜI CHỦ SÁNG SUỐT DÙNG NGƯỜI SẼ ĐẠT ĐƯỢC NHIỀU LỢI ÍCH TIN DÙNG NGƯỜI HIỀN TÀI CÓ THỂ PHÂN CHIA THIÊN HẠ
NGƯỜI THƯỢNG ĐẲNG COI T[I NĂNG L[ CỦA QUÍ, KẺ HẠ ĐẲNG COI TIỀN BẠC LÀ CỦA QUÍ
NƯỚC CÓ NGƯỜI HIỀN T[I, NGƯỜI KHÁC KHÔNG THỂ BẮT NẠT ĐƯỢC NƯỚC CÓ NGƯỜI HIỀN T[I, NGƯỜI CHỦ SÁNG SUỐT CÓ THỂ TRÔNG CẬY ĐƯỢC NGƯỜI SẼ THẮNG, MẤT NGƯỜI SẼ BẠI
GẶP ĐƯỢC NGƯỜI HIỀN T[I NHƯ C\ GẶP NƯỚC
NGƯỜI TÀI TRÍ GIỮ NHÂN TÀI, KẺ NGU XUẨN GIỮ NGỌC CHÂU
CON NGƯỜI LÀ NHÂN TỐ QUAN TRỌNG NHẤT
BIẾT NGƯỜI CÓ THỂ GIỮ ĐƯỢC THIÊN HẠ
NH[ CÓ C]Y NGÔ ĐỒNG SẼ DỤĐƯỢC PHƯỢNG HO[NG ĐẾN
Đ^ CÓ B\ NHẠC, NGỰA TỐT KHÔNG THIẾU
NHÀ PHẢI CÓ NỀN MÓNG, ĐỂ CON CÁI SINH CHÁU CHẮT
TRANH GIÀNH NHÂN TÀI, KHÔNG TIẾC TIỀN CỦA
NẮM BẮT ĐƯỢC T[I NĂNG CHƯA PH\T TRIỂN ĐỂ PHÁT HUY NÓ LÊN MUỐN DỰNG NGHIỆP B\ VƯƠNG TẤT PHẢI DÙNG NGƯỜI HIỀN TÀI KHÍCH LỆ NHÂN TÀI XUẤT HIỆN, MẠNH DẠN SỬ DỤNG NHÂN TÀI
BỒI DƯỠNG NHỮNG T[I NĂNG CHẤT PHÁC, KHAI THÁC NHỮNG T[I NĂNG THỰC SỰ CỦA HỌ
Đ[O TẠO TƯỚNG TÀI TRUNG THÀNH, CHÚ TRỌNG NH]N NGHĨA
NHẬN BIẾT NGƯỜI QUA XỬ LÝ CÔNG VIỆC, CÓ THỂ BIẾT ĐƯỢC H[NH VI ĐẠO ĐỨC CỦA HỌ
T[I NĂNG CỦA NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ DÙNG CHO MÌNH ĐƯỢC
KIÊN TRÌ CHỜ ĐỢI, NHÂN TÀI SẼ PHỤC MÌNH
DÙNG TRÍ TUỆ CỦA CON NGƯỜI CÒN HƠN DÙNG SỨC CỦA HỌ
DÙNG T[I NĂNG CỦA CON NGƯỜI ĐỂ VỀ SAU VƯỢT LÊN
DÙNG NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ PHẢI BIẾT LAY ĐỘNG TRÁI TIM HỌ
III. CHỈ DÙNG MỘT ĐIỂM, KHÔNG ĐỀ CẬP TỚI C\C ĐIỂM KHÁC - CÁCH TIN DÙNG MỘT MẶT T[I NĂNG TRONG THIÊN HẠ
DÙNG NGƯỜI KHÔNG NHẤT THIẾT TẤT CẢ ĐỀU PHẢI L[ NGƯỜI HIỀN TÀI DÙNG NGƯỜI CHỈ DÙNG SỞ TRƯỜNG CỦA HỌ
LÝ LẼ DÙNG NGƯỜI DŨNG CẢM L[ THƯỞNG PHẠT CÓ GIỚI HẠN
LÝ LẼ DÙNG NGƯỜI TÀI TRÍ - DÙNG NGƯỜI TUỲ THEO T[I NĂNG CỦA TỪNG NGƯỜI
LÝ LẼ VỀ VIỆC DÙNG NGƯỜI GIÀ, CẦN PHẢI KỊP THỜI KHÔNG RÕ MUỘN TÍNH C\CH DÙNG NGƯỜI, CẦN TRÁNH THIỂN CẬN
DÙNG TÀI NĂNG KỲ LẠ, BINH LÍNH KHÔNG ĐỔ MÁU
IM LẶNG ĐỂ ĐỐI PHÓ, ĐỂ NGƯỜI NÓI KHÔNG NÓI ĐƯỢC
BIẾT T[I RIÊNG ĐỂ DÙNG CHO ĐÚNG
XỬ LÝ VIỆC LỚN KHÔNG CẦN CÂU NỆ VÀO CÁC CHI TIẾT NHỎ
NGƯỜI CÓ ÍT TÀI LẠI MUỐN MÌNH NỔI, NGƯỜI NHIỀU TÀI LẠI BÌNH DỊ LIỆU CƠM GẮP MẮM KHÉO LÉO DẪN DẮT
DÙNG NHỮNG C\I ĐƯỢC, TRÁNH NHỮNG CÁI MẤT
TẤN CÔNG ĐIỂM YẾU, Đ\NH NHỤT NHUỆ KHÍ
VIÊN TƯỚNG PHỤ TÁ KHÔNG THỂ THIẾU ĐƯỢC
LẤY THIẾU BÙ ĐỦ, LẤY CHẬM CHẠP THẮNG LANH LỢI
C\CH DÙNG NGƯỜI CÓ T[I BÌNH THƯỜNG: TÙY VIỆC MÀ CHỌN NGƯỜI
DÙNG NGƯỜI CÓ TÀI VỀ TỪNG MẶT: THÀNH BẠI LÀ Ở CHỖ BIẾT PHÂN BIỆT ĐƯỢC T[I NĂNG VỀ TỪNG MẶT CỦA HỌ
DÙNG NGƯỜI THEO BẨM SINH CỦA HỌ, NGAY CẢ KHI NGƯỜI ĐÓ BỊ KHIẾM KHUYẾT
C\CH DÙNG C\C MƯU SĨ: TRƯỚC HẾT PHẢI LÀM YÊN LÒNG HỌ C\CH DÙNG C\C MƯU SĨ: PHẢI BIẾT TÍNH XA
VÌ C\I “CƯƠNG” CỦA HỌ, KÍCH THÍCH ĐỂ DÙNG HỌ
VÌ HỌ THẲNG THẮN NÊN PHẢI DÙNG SỰ CHÂN THÀNH CỦA HỌ DÙNG NGƯỜI THÔ BẠO: XEM THẾ ĐỂ DẪN DẮT HỌ
DÙNG NGƯỜI THẲNG THẮN: BIẾT SAI PHẢI SỬA
DÙNG KẺ ÁC: LẤY ĐỘC TRỊ ĐỘC
CÁCH DÙNG QUAN: LẤY NGƯỜI CHẾ NGỰ NGƯỜI
CON NGƯỜI CÓ NHIỀU LOẠI KH\C NHAU, NHƯNG MỌI T[I NĂNG ĐỀU DÙNG CẢ
IV. DÙNG NGƯỜI THEO KẾ, NƯỚC LÊN THUYỀN LÊN -PHƯƠNG PH\P DÙNG NHỮNG T[I NĂNG THEO THỜI THẾ TRONG THIÊN HẠ
DÙNG NGƯỜI THEO VIỆC NHẤT ĐỊNH THÀNH CÔNG
DÙNG NGƯỜI THEO THỜI, CÓ THỂ DÙNG NHẤT THỜI
THỜI THẾ TẠO ANH HÙNG - BIẾT DÙNG SẼ THẮNG
THIÊN TÀI VÔ GIÁ -NGÀN VÀNG KHÔNG TIẾC
NHÌN NGƯỜI THEO THỜI THẾ, TỨC L[ KHÔNG XÉT ĐẾN QUÁ KHỨ
V. DÙNG NGƯỜI THEO ĐỨC, ĐỨC CAO SẼ THU PHỤC ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI THEO CÁCH DÙNG KHÍ CHẤT CON NGƯỜI TRONG THIÊN HẠ
DÙNG NGƯỜI MỘT C\CH TRUNG NGHĨA, NH]N KHÍ THỊNH VƯỢNG
MẠNH DẠN DÙNG NGƯỜI, CHỌN NGƯỜI XUẤT CHÚNG
CÓ NGỌN CỜ TỐT ĐỂ DỄ CHIÊU NẠP NHÂN TÀI
ĐƯA NGƯỜI HIỀN TÀI V[O ĐÚNG VỊ TRÍ, NHÂN TÀI SẼ KÉO ĐẾN HOÁ THÙ THÀNH BẠN, SẼ LÀM TA NGÀY CÀNG MẠNH, ĐỊCH NGÀY CÀNG YẾU DÙNG NGƯỜI PHẢI BẰNG LÒNG TIN, LẤY TRÁI TIM THAY CHO TRÁI TIM Đ^ DÙNG NGƯỜI THÌ KHÔNG NGHI, Đ^ NGHI THÌ KHÔNG NÊN DÙNG LẤY ĐỨC ĐỂ THU PHỤC LÒNG NGƯỜI, THIÊN HẠ SẼ KHÔNG CÒN TRỘM CƯỚP MỘT LỜI HỨA Đ\NG NG[N V[NG, NG[N NGƯỜI SẼ QUY PHỤC LẤY ĐỨC ĐỂ DÙNG NGƯỜI, TỨC L[ ĐỨC, T[I LUÔN ĐI LIỀN NHAU DÙNG NGƯỜI PHẢI CH]N TH[NH, TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG
NÓI THẲNG, NIỀM VUI CỦA ĐỜI NGƯỜI LÀ HIỂU NHAU
DÙNG NGƯỜI BẰNG NH]N ĐỨC, CÓ THỂ GI[NH ĐƯỢC THIÊN HẠ
VI. DÙNG NGƯỜI BỞI CÁI UY, LẤY THẾ ĐỂ DÙNG NGƯỜI - C\CH DÙNG NGƯỜI CÓ QUYỀN THẾ TRONG THIÊN HẠ
LẤY THIÊN TỬ RA ĐỂ LỆNH CHO CHƯ HẦU
NỊNH HÓT BỢ ĐỠ ĐỂ LẤY TÍN NHIỆM
NGỤY TRANG ĐƠN THUẦN ĐỂ LẤY LÒNG
BIỂU THỊ SỰ TRUNG THÀNH NGU NGỐC ĐỂ ĐƯỢC TRỌNG DỤNG BIỂU THỊ TÌNH CẢM ĐỂ MONG ĐƯỢC GẦN GŨI
KÍNH NHI VIỄN CHI, ĐỂ GIÀNH MỘT CON ĐƯỜNG CHO SAU NÀY MƯỢN DAO GIẾT NGƯỜI, TRỊ THIÊN HẠ BẰNG PHÁP CHẾ
PHẢI ĐỀ PHÒNG TỪ VIỆC NHỎ, LẤY CÁI NHỎĐỀ PHÒNG CÁI LỚN LIỆU CƠM GẮP MẮM, XEM GIÓ LÁI THUYỀN
LÀM NHỮNG GÌ MÀ HỌ THÍCH
VII. DÙNG NGƯỜI BẰNG SỰ YÊU QUÝ, LẤY TÌNH CẢM ĐỂ RUNG ĐỘNG LÒNG NGƯỜI - C\CH DÙNG NGƯỜI TRUNG HẬU TRONG THIÊN HẠ
DÙNG NGƯỜI THEO VIỆC, KHÔNG CÂU NỆ TÍNH CÁCH
PHẢI RỘNG LƯỢNG, LẤY ĐỨC BÁO OÁN
THƯỞNG ÂN TRỌNG TẤT SẼ ĐƯỢC TƯỚNG TRUNG THÀNH
DŨNG CẢM GÁNH VÁC TRÁCH NHIỆM, TRÊN DƯỚI MỘT LÒNG
L[M ƠN V[ L[M UY, TỨC LÀ BIẾT TIẾN BIẾT LUI
TRỊ NGƯỜI THEO C\CH “NHU”, THÌ KHÔNG “CƯƠNG” N[O KHÔNG Đ\NH ĐỔ MUỐN BẮT THÌ PHẢI THẢ TRƯỚC SAU ĐÓ SẼ TRỪNG TRỊ
TIỀN BẠC CÓ LỢI CHO VIỆC THU HÚT NGƯỜI TÀI NHẰM PHỤC VỤ CHO Ý ĐỒ LỚN
L[M ƠN ĐỂ DÙNG CHO SỰ TRUNG THÀNH
TRỒNG HOA MÙA XUÂN CHỜ MÙA THU HÁI QUẢ
SAI THÌ PHẢI TRÁCH, LẤY YÊU QUÝ ĐỂ THAY ĐỔI NGƯỜI
L[M ƠN CHO NGƯỜI KHÔNG PHẢI Ở CHỖ LỚN HAY NHỎ
MUỐN ĐƯỢC NGƯỜI TRUNG THÀNH CẦN PHẢI ĐƯỢC LÒNG NGƯỜI MƯỢN NGHĨA KẾT BẠN SẼ CÓ ĐƯỢC TRUNG THẦN
CHO NGƯỜI MỘT ÍT, B\O Đ\P ĐƯỢC NHIỀU
DÙNG NGƯỜI BẰNG SỰ DŨNG CẢM, DÙNG TÌNH ĐỂ LAY ĐỘNG CON NGƯỜI TRỌNG THƯỞNG ẮT SẼ CÓ DŨNG TƯỚNG
CỨU NGƯỜI LÚC NGUY NAN, THIỆN GIẢ THIỆN BÁO
HÔN CỔ KẾT GIAO SỐNG CHẾT CÙNG NHAU
KHÔNG TÍNH TO\N ĐƯỢC MẤT CÓ THỂ ĐƯỢC NGƯỜI TRUNG THÀNH KHÔNG TÍNH TOÁN NHỮNG ĐIỀU NGHI NGỜ TRƯỚC Đ]Y SẼ CÓ BẦY TÔI GIỎI NHẬN ÂN CỦA NGƯỜI B\O ĐỨC CHO NGƯỜI
L[M ƠN CHO NGƯỜI, LẤY TÌNH ĐỂ L[M ĐỘNG LÒNG NGƯỜI YÊU QUÝ NGƯỜI, QUYẾT MỘT LÒNG VÌ NGƯỜI
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương 1: L{m thế n{o để hiểu t}m lý người khác Chương 2: Quan s|t để nhìn thấu lòng người Chương 3: Quản trị nhân lực và việc nhìn thấu lòng người Chương 4: Giao tiếp sẽ bộc lộ l~nh đạo giỏi
Chương 5: Những điều tối kỵ trong việc dùng người
T
LỜI NÓI ĐẦU
rong cuộc sống sôi động ngày nay, nhu cầu giao tiếp ngày càng trở nên bức xúc, quan hệ giao tiếp cüng ng{y c{ng trở nên phức tạp. Nghiên cứu, tìm hiểu t}m lý con người không những giúp chúng ta thành công trong công việc, sự nghiệp, mà còn giúp chúng ta vui vẻ, nhẹ nhàng trong cuộc sống.
Cuốn sách này không chỉ giúp ích cho các nhà doanh nghiệp, nhà chính trị, mà còn giúp mọi người khắc phục trở ngại trong quan hệ đối nhân xử thế, nhận biết lòng người, đặng thu phục nh}n t}m để đạt tới thành công.
CHƯƠNG 1:
LÀM THẾ N[O ĐỂ HIỂU T]M LÝ NGƯỜI KHÁC
KHẢ NĂNG NHÌN THẤU ĐỐI PHƯƠNG
K
hả năng nhìn thấu t}m lý v{ h{nh động của đối phương l{ mục tiêu của tâm lý học và khoa học hành vi ngày nay. Thế nhưng, khả năng n{y không chỉ dựa vào lý luận để giải quyết mà phải dựa trên mối quan hệ diệu kỳ giữa con người với con người. Bây giờ chúng ta lấy một câu chuyện tiêu biểu về khả năng nhìn thấu đối phương vốn đ~ được vận dụng từ thời Chiến quốc để chứng minh.
Nước Sở có một người, vì việc công mà anh ta bị tình nghi phạm tội, tuy Tể tướng đ~ điều tra ba năm, nhưng vẫn không thể phán quyết tội của anh ta được. Anh ta rất muốn biết tâm lý của Tể tướng, nhưng vì đang bị tình nghi, lại không thể trực tiếp hỏi Tể tướng, anh ta thấp thỏm không yên, bụng nghĩ: “Rốt cục mình có tội hay không đ}y? Nếu mình có tội, nhà cửa của mình nhất định sẽ bị tịch thu, tại sao Tể tướng mãi vẫn chưa có h{nh động gì?”. Cuối
cùng anh ta nghĩ được một c|ch để thăm dò t}m lý của Tể tướng. Anh ta nhờ một người rất thân với Tể tướng đến gặp Tể tướng và vờ như buột miệng nói: “Nh{ của tên bị tình nghi kia có thể nhượng cho tôi ở được không?”. Anh ta nghĩ bụng nếu Tể tướng đồng ý, thì cho thấy Tể tướng sẽ kết tội. Nhưng Tể tướng lắc đầu nói: “Không! Người này không có tội, ngôi nh{ đó không thể nhượng cho ngươi được”. Lúc người kia ra về, Tể tướng thầm kêu một tiếng: “Hỏng rồi!” Đồng thời lớn tiếng gọi anh ta nói: “Ta với ngươi giao tình chẳng đến nỗi nào, tại sao ngươi lại giở thủ đoạn ra với ta?”. Người kia biết rõ đ~ bị nhìn thấu rồi, song vẫn giả bộ không hiểu nói: “Tôi có giở trò gì đ}u?”. Tể tướng nói: “Yêu cầu của ngươi bị ta từ chối, mà lại vẫn vui vẻ như vậy, ta nghĩ ngươi nhất định là chịu sự uỷ thác của kẻ bị tình nghi kia đến dò ta phải không?”.
Trong câu chuyện này, hai nhân vật chính đều dùng những phương ph|p kh|c nhau để nhìn thấu một cách thành công tâm ý của đối phương. Những chuyện đại loại như vậy, trong cuốn “Chiến quốc s|ch” còn rất nhiều. Nếu các bạn hứng thú, xin đừng ngại giở ra để xem tiếp.
BIẾT MÌNH BIẾT NGƯỜI
Binh pháp cổ đại của Trung Quốc rất đề cao khả năng “nhìn thấu t}m lý đối phương”, c|i gọi l{ “biết mình biết người, trăm trận trăm thắng” l{ vậy.
Tôn Tử, người được coi là ông tổ của nền binh học, trong binh ph|p, ông đ~ chỉ ra được nhiều điều huyền bí trong quan hệ giao tiếp (vì binh ph|p l{ phương ph|p b{n về chiến tranh trên cơ sở hành vi của con người). Người ngang hàng với Tôn Tử là Ngô Tử cüng đ~ nói như thế n{y: “Ph{m khi bắt đầu chiến tranh, trước tiên phải hiểu được cá tính của tướng lĩnh đối phương, sau đó mới nghiên cứu t{i lược của anh ta”. Hay nói một cách khác, khi đứng trước chiến tranh, cần nghiên cứu điều tra tính c|ch tướng địch trước, sau đó mới nhìn thấu được năng lực của anh ta. Dựa vào tình hình của đối phương để vận dụng phương pháp thích hợp, như vậy sẽ có thể nhanh chóng nắm được phần thắng. Dưới đ}y chúng tôi lấy một v{i s|ch lược chiến tranh mà Ngô Tử đưa ra để các bạn tham khảo:
1. Người tham lam mà không biết liêm sỉ, có thể dùng tiền bạc để mua anh ta.
2. Người đơn điệu mà không coi trọng việc biến hoá, có thể dùng s|ch lược để làm cho anh ta phải mệt vì trốn chạy.
3. Tướng địch nếu ăn chơi xa xỉ, không quan t}m đến sự gian khổ nghèo túng của bộ hạ, chúng ta có thể lợi dụng bộ hạ của anh ta để làm cho nội bộ chúng phân hoá.
4. Tướng địch nếu do dự không quyết, hoàn toàn không có chủ kiến và làm cho bộ hạ cảm thấy l{ người không thể nhờ cậy, có thể dùng thủ đoạn đe dọa, làm cho chúng kinh sợ bỏ chạy.
Xét bề ngoài, chiến tranh là một môn học phức tạp, “thắng” v{ “bại” chẳng ai có thể liệu trước được. Thế nhưng nếu có thể nhìn thấu đối phương, đồng thời vận dụng s|ch lược đúng đắn, thì có thể luôn luôn gi{nh được thế có lợi. Cüng theo lẽ đó, vận dụng vào trong quan hệ giữa người với người, hiệu quả cüng tương tự.
CÁI KHÓ CỦA VIỆC THUYẾT PHỤC
Muốn thuyết phục người kh|c hay đề xuất ý kiến, trước tiên cần chú ý tới việc nên vận dụng kỹ xảo giao tiếp như thế n{o. Nhưng khi H{n Phi Tử tập trung bình luận về chính trị của Trung Quốc trong tác phẩm của mình ông lại không nói như vậy; ông chủ trương trước hết cần nhìn thấu tâm lý của đối phương. Quả thực, nếu không phù hợp với tâm lý của đối tượng, thì cho dù bạn nói có dễ nghe đến mấy, đối phương cüng đều coi như gió thổi bên tai mà thôi. Muốn thuyết phục đối phương m{ lại không hiểu được t}m lý, như vậy rất khó được kết quả. Chẳng hạn: cứ khi đối phương đang bận rộn, bạn lại muốn nói chuyện với anh ta, chẳng mấy chốc anh ta sẽ ghét bạn. Dù l{ nh}n viên ch{o h{ng nói năng khéo léo tới đ}u, nếu gặp lúc đối phương quả thực không cần, thì cüng chẳng thể n{o đạt được mục đích của việc chào hàng. Vì vậy nói rằng “thuyết phục” vẫn cần phải bắt đầu từ việc tìm hiểu đối phương.
“Khuyến c|o” cüng l{ một việc làm rất khó, vậy thì khó ở chỗ n{o? Đó không phải là khó ở chỗ người khuyến c|o không có đủ trình độ, hay khó ở chỗ không bày tỏ được những lời trong lòng, lại càng không phải là thiếu düng khí nói ra một cách trôi chảy những câu thật
lòng, mà lại khó ở chỗ người khuyến cáo không nhìn thấu được tâm lý của đối phương, không thể làm cho ý kiến của mình hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của đối phương. Chẳng hạn, đối phương l{ một bậc chính nhân quân tử, mà chúng ta lại nói với họ về việc làm thế n{o để gi{nh được lợi ích riêng, thì nhất định anh ta sẽ coi thường. Ngược lại, đối với những hạng người tiểu nhân, trọng cái lợi mà xem nhẹ c|i nghĩa, nếu khuyên bảo anh ta làm một bậc chính nhân quân tử, anh ta nhất định sẽ cho rằng chúng ta không hiểu thời cuộc, là một kẻ ngốc chẳng hiểu gì. Những kẻ tiểu nhân, trong bụng thì coi trọng cái lợi, nhưng bề ngoài thì giả như l{ một bậc quân tử, với hạng người n{y nên đối phó thế n{o đ}y? Nếu bạn khuyên anh ta làm một bậc quân tử, bề ngoài anh ta nhất định sẽ tiếp thu, nhưng trong bụng nhất định l{ đang gạt bỏ. Ngược lại, nói với anh ta làm thế n{o để kiếm lợi, trong bụng anh ta nhất định sẽ tiếp nhận, nhưng ngo{i mặt thì lại tỏ ra vẻ không quan t}m để ý, vì vậy khuyến c|o người kh|c, trước hết phải hiểu được những tâm lý ảo diệu này của đối phương.
NHÌN THẤU NHAU
Người muốn nhìn thấu người kh|c cüng cần lưu ý l{ người kh|c đồng thời cüng đang quan sát và muốn nhìn thấu bạn đấy! Nếu bạn coi nhẹ điểm này, chỉ chăm chú nhìn đối phương thì nhất định sẽ gặp thất bại.
Phần lớn mọi người đều thích bình luận người kh|c: “ông X nói còn dễ nghe hơn l{ h|t, kỳ thực tôi đ~ rõ bản ý của ông ta từ lâu rồi”. Qua c}u n{y chúng ta có thể thấy được rằng ông X đang cao giọng nói kia đ~ bị người khác dễ dàng nhìn thấu rồi. Qua ngữ khí v{ th|i độ bình luận người khác, chúng ta có thể nhìn ra được nhân cách của anh ta.
“Cấp trên hoài nghi cấp dưới, cấp dưới cüng ho{i nghi cấp trên, như vậy trái tim của họ sẽ đi ngược lại nhau”. Đó l{ c}u nói của một vị tướng người Nhật. Trước thời Chiến quốc ở Nhật, cüng có một vị tướng nói thế này: “Chủ tướng thường tuyển chọn bộ hạ, bộ hạ cüng lựa chọn chủ tướng để nương tựa”.
Dưới đ}y xin giới thiệu một số quy tắc có liên quan tới việc vận dụng s|ch lược để nhìn thấu người kh|c, nhưng khi sử dụng những quy tắc này cần phải đặc biệt lưu ý, nếu không cẩn thận một chút, bị người khác phát giác, mọi người sẽ ghét bỏ bạn, cảm thấy bạn là người quá coi trọng t}m cơ. Khả năng nhìn thấu người khác giống như một con dao hai lưỡi vậy, sử dụng không tốt, bản th}n mình cüng có thể bị thương. Cần nói thêm rằng trong một số trường hợp cüng không nên qu| chú ý v{o việc nhìn thấu trở lại của đối phương. Chẳng hạn bạn đồng thời muốn nhìn thấu cả mấy người cấp dưới, nhưng như trên đ~ nói, họ cüng đang tìm c|ch tìm hiểu bạn, nhìn thấu bạn. Bạn chỉ có hai con mắt, còn đối phương thì lại có những mấy con mắt. Lúc này, nếu bạn quá chú ý tới việc đối phương nhìn mình như thế nào thì bạn sẽ mệt nhọc vô cùng. Trong trường hợp đó, chỉ cần hiểu được sự t|c động lẫn nhau l{ được rồi, vì so với việc quá chú ý tới điều đó thì cứ để cho nó phát triển tự nhiên bạn còn được tự do thoải m|i hơn.
LỜI CẢNH CÁO CỦA PHÙNG QUÁN
Nếu có người phản bội bạn, bạn nên xử lý ra sao? Ở đ}y tôi xin giới thiệu câu chuyện “Lời cảnh cáo của Phùng Qu|n”.
Phong trào nuôi kẻ sĩ thời Chiến quốc của Trung Quốc rất thịnh hành, lúc bấy giờ ở nước Tề đang xưng b| một phương (nay l{ tỉnh Sơn Đông) có người Tể tướng tên là Mạnh Thường Quân, ông có 3000 thực khách trong nhà (trong truyện Mạnh Thường Quân -“Sử ký” có ghi). Mạnh Thường Qu}n đối xử rất lịch sự đối với thực khách của mình, ông ta đ~ xây rất nhiều nh{, đồng thời chuẩn bị nhiều ngựa xe chuyên dùng cho các thực khách, thậm chí mỗi lần lễ, tết ông đều tặng qu{ cho người nhà của các thực khách, vì vậy nhiều danh sĩ trong thiên hạ đều mộ danh m{ đến.
Nhưng có một hôm, vì đ~ chọc giận Tề Vương nên Mạnh Thường Qu}n đ~ mất chức Tể tướng, thấy thế những thực kh|ch kia đ~ lần lượt ra đi. Mạnh Thường Qu}n tuy cüng nghĩ tới sự vô tình của đ|m thực kh|ch, nhưng cüng chẳng biết làm sao. Không lâu sau, một thực khách tên l{ Phùng Qu|n, l{ người ở lại duy nhất lúc đó, lại đem đến cho Mạnh Thường Quân một vận may, làm cho Mạnh Thường Quân khôi phục lại được chức Tể tướng.
Lúc n{y đ|m thực kh|ch kia đều muốn quay lại, thế là Mạnh Thường Quân kêu ca với Phùng Quán rằng:“C|i đ|m vong }n bội nghĩa kia thật thực dụng quá, lúc ta thất thời, họ kéo nhau bỏ ta m{ đi, b}y giờ ta khôi phục lại được chức quan, họ lại muốn quay về chỗ ta đ}y... Nếu họ quay lại, ta nhất định chửi rủa họ một trận”.
Nhưng Phùng Qu|n đ~ l{m cho Mạnh Thường Quân hiểu được đại nghĩa, khuyên ông đừng trách cứ những người đ~ phản bội lại ông, đ}y chính l{ “lời cảnh cáo của Phùng Qu|n” nổi tiếng trong lịch sử m{ “Sử ký” v{ “Chiến quốc s|ch” đều ghi lại câu chuyện này. Từ xưa tới nay, câu chuyện n{y luôn được mọi người coi là tài liệu tham khảo trong đối nhân xử thế. Dưới đ}y chúng ta h~y xem một đoạn lời Phùng Quán khuyên bảo Mạnh Thường Quân:
“Bất cứ việc gì cüng đều có cái lý tất nhiên của nó. Sinh rồi sẽ chết, đ}y l{ quy luật của tự nhiên. Quan hệ giữa người với người cüng theo quy luật tự nhiên n{y. Lúc ông đại phú đại quý, mọi người tự nhiên sẽ thích gần ông, nhưng khi ông bần cùng, họ cüng tự nhiên xa lánh ông, đ}y l{ bản tính của con người. ông đ~ thấy đ|m người đi lại trên chợ chưa? Buổi sáng nhộn nhịp tấp nập, tới buổi chiều tối thì người ít đi, đó không phải là họ có tình cảm ghét, thích đối với bản thân chợ, mà là vì buổi tối không còn c|i gì đ|ng mua nữa cả. Những thực kh|ch kia nghe nói ông đ~ mất chức Tể tướng liền rời xa ông, chẳng phải là vì lẽ đó ư? ông đừng oán hận họ, ông nên đối xử mặn nồng như trước đ}y mới phải”. Mạnh Thường Quân nghe xong cảm thấy có lý, liền làm theo lời khuyên của Phùng Quán.
Nếu chúng ta có thể lĩnh hội được cái lý này, thì sẽ có thể đạt tới mức không đắc ý khi được người khác phỉnh nịnh, không tức giận khi người khác phản bội.
Suy nghĩ n{y của Phùng Quán, nhìn bề ngoài thì là thiệt thòi, nhưng trên thực tế, ông ta lại đ~ đặt trước nền móng tốt cho căn nh{. Vì vậy, ngôi nhà xây dựng lên sau này sẽ vô cùng vững chắc.
Con người sống với nhau nếu có lúc không thuận hoà, thì bạn cần xem xét đối phương vì lý do gì m{ l~nh đạm như vậy, sau đó tìm hiểu kỹ về cá tính của đối phương. Sau khi ho{n toàn hiểu rõ rồi, sẽ khắc phục từng nhân tố cản trở quan hệ qua lại của các bạn, như vậy tình bạn x}y đắp nên mới có thể giữ được lâu dài. Nếu không bình tĩnh ph|n đo|n, thì cüng như khi x}y nh{ m{ không thăm dò địa chấn vậy.
Trong câu chuyện trên nếu chỉ suy xét tới tình bạn v{ tín nghĩa, thì cüng như chỉ chú trọng tới mái nhà và các vật chất trang trí khác. Những toà nhà kiểu này một khi gặp giông bão sẽ dễ d{ng đổ sụp.
CÁI KHÓ CỦA VIỆC Đ\NH GI\ NGƯỜI KHÁC
Nếu như có một c|i thước để có thể đ|nh gi| một con người thì thật là tiện lợi biết bao! Chỉ đ|ng tiếc là chúng ta chẳng thể nào tìm ra được c|i thước như vậy.
Đ|nh gi| gi| trị của một người là một việc khó mà có thể thấy được qua các kỳ thi tuyển nhân viên của các công ty. Ở các công ty nói chung việc thi tuyển trước hết là thẩm tra hồ sơ của người dự thi, xem học lực, kinh nghiệm của anh ta có đủ tư c|ch để đưa v{o h{ng ngü những người dự thi hay không, sau đó mới bắt đầu thi viết, kiểm tra một số kiến thức có tính chuyên môn hoặc viết một bài ứng dụng. Kiến thức chuyên môn có một tiêu chuẩn tuyệt đối, nhưng b{i viết thì lại không. Cần phải có mấy người chấm bài, họ cho điểm theo cách nhìn của họ sau đó thống kê ra thành tích. Từ c|c b{i có điểm số khá cao, họ chọn ra một số người trong vòng sơ tuyển với số lượng cao gấp mấy lần số người định lấy để tham gia thi vấn đ|p, cuối cùng họ mới tuyển chọn lấy những người ưu tú, xuất sắc.
Đ}y tuy l{ một phương ph|p thi tuyển khá công bằng, nhưng phương ph|p n{y đ~ phủ định việc đ|nh gi| bình chọn cá tính. Chúng ta biết rằng, có những người không hiểu được ý nghĩa của Hội đồng kinh tế châu và Hội đồng quỹ dự phòng quốc tế của Liên hiệp quốc, nhưng lại rất giỏi trong hoạt động kinh doanh. Cüng có những người do khi thi không được lễ độ cho lắm nên suýt nữa bị đ|nh trượt, nhưng khi v{o công ty rồi thì lại rất được việc.
Rõ ràng không thể chỉ dựa vào thành tích ở trường, có những học sinh luôn giữ thành tích cao ở trường, có thể lại chẳng hiểu gì về quan hệ giao tiếp cả.
Có một viên sĩ quan chia 30 thanh niên tham gia đ|nh trận th{nh ba nhóm trước khi xuất phát. Anh ta chọn ra nhóm thứ nhất gồm 10 người mà anh ta cho rằng rất düng cảm, có t{i năng, chắc chắn sẽ có những biểu hiện nổi trội; nhóm thứ hai l{ 10 người thể lực kém một chút, xem ra chẳng có t{i năng gì đặc biệt. 10 người còn lại bị coi là những người quá bình thường.
Qua thành tích chiến đấu thực tế, nhóm thứ ba bị coi là những người qu| bình thường thì thành tích chiến đấu rất đặc biệt; nhóm thứ nhất được coi l{ ưu tú nhất thì lại có hai người đặc biệt sợ sệt, bất tài; nhóm thứ hai được coi là không có khả năng gì thì lại có hai düng sĩ với chiến công nổi bật.
Nhìn nhầm người, có lẽ là sai lầm của người đ|nh gi|, vì có thể họ đ~ coi nhẹ khả năng tiềm ẩn trong con người.
Phương ph|p thi tuyển nêu ở trên, không thể nói l{ sai, nhưng đối với nhân tài trong xã hội, nếu chỉ đặt họ trong sự phát triển đồng đều, thì tổ chức xã hội đó sẽ thiếu đi sức sống.
THƯỚC ĐO CON NGƯỜI
“Nhìn mặt mà bắt hình dong” l{ lỗi dễ phạm phải nhất của mọi người nói chung. Khi chúng ta đ|nh gi| người khác, tuyệt đối không thể chỉ dùng một con mắt để quan sát, mà phải dùng cả hai mắt để nhìn cho thấu đ|o. Vì có những người diện mạo bên ngoài hung dữ, nhưng trong lòng có thể lại rất hiền l{nh, lương thiện.
Có một c}u danh ngôn: “Những người làm việc giỏi giang, không nhất định l{ có trình độ hiểu biết cao”.
Nếu chúng ta chỉ quan sát bằng một con mắt, nhất định chỉ có thể nhìn thấy một mặt giỏi giang khéo léo của anh ta, nhưng nếu nhìn bằng cả hai mắt, thì cái nhìn thấy được chắc chắn sẽ hơn hẳn.
“Những người có düng khí, tuy có thể làm những việc khiến cho người khác kinh ngạc, nhưng những người thật sự lập được công trạng lớn thì lại thuộc về những người biết tự kiềm chế bản th}n”. C}u nói n{y có thể nói l{ đ~ dùng cả hai con mắt để nhìn thấu.
Mọi người nói chung đều thích những người thông minh lanh lợi, ăn nói khéo léo, m{ coi nhẹ những người lầm lì ít nói, chỉ biết vùi đầu vào công việc. Chúng ta không thể nói là loại người nào tốt, loại người nào xấu, vì họ đều có những mặt mạnh mặt yếu. Vì vậy, là cấp trên, nếu có thể nhìn thấy được sự khác nhau cá biệt của cấp dưới, và làm cho họ phát huy được hết năng lực tiềm tàng, thì sự l~nh đạo của anh ta có thể coi l{ đ~ th{nh công. Phần trên tôi đ~ đề cập tới việc không thể dùng một c|i thước để đ|nh gi| người khác, mà phải dùng các loại, các kiểu thước thì mới có thể cho được kết quả chính xác. Bây giờ chúng ta hãy bàn về các chủng loại thước khác nhau.
Chẳng hạn khi chúng ta bầu một đại biểu quốc hội, thước đo sử dụng tất nhiên là khác nhau. Khi bầu đại biểu quốc hội, nếu chỉ dùng chiếc thước “có thể đem lại phúc lợi cho địa phương hay không”, thì khó m{ chọn ra được ứng cử viên thích hợp. Cüng tương tự, nếu chọn ra đại biểu thành phố, nếu lấy c|i thước “một quan chức ngoại giao” để đo anh ta, thì sẽ không có ý nghĩa gì cả. Công ty muốn tuyển nh}n viên cüng cần dùng các loại thước với các tính chất kh|c nhau để đ|nh gi| nh}n t{i thì mới có thể chính xác. Dùng com-pa để do độ dài hoặc dùng thước thẳng để do độ cong, thì đều không đúng đắn. Xin đưa ra một vài ví dụ:
Có một vị viên ngoại, chính thất của ông ta chết, hai người thiếp của ông ta một thì rất đẹp, một thì lại rất xấu, khi ông ta muốn chọn một trong hai người để lập chính thất, bạn bè
đều cho rằng chắc chắn ông ta chọn người xinh đẹp kia, không ngờ ông ta lại chọn người thiếp xấu xí. Bạn bè đều rất ngạc nhiên, bèn hỏi ông ta:
- Kỳ thật? Tại sao anh lại không chọn người thiếp xinh đẹp làm phu nhân?
- Vì người xấu không có lòng hư vinh, m{ bên trong cô ấy tu dưỡng tốt, vì vậy để cô ấy điều hành việc nhà là khá thích hợp.
Thiện lương v{ t{ |c
Ở Nhật đ~ từng xảy ra một vụ hung sát. Một học sinh cấp ba đ~ giết chết người bạn thân cùng phòng mình. Nguyên nhân giết người không phải là do cãi lộn nhau, m{ l{ khi đang học trong phòng, hung thủ đột nhiên giết chết đối phương.
Theo báo chí, khi học ở cấp ba, thành tích của hung thủ rất xuất sắc, nhưng khi chuẩn bị thi v{o Trường Đại học Kyodo, do bị suy nhược thần kinh nên hung thủ bị buộc phải học tụt lại. Trong thời gian học tụt một năm so với các bạn, tình bạn đ~ biến thành sự thù hận, vì vậy nên mới nảy sinh động cơ giết người của hung thủ.
Như vậy cho thấy, chỉ là oán hận do thi cử không như ý muốn m{ sinh ra mưu s|t, nhưng nghiên cứu kỹ chúng ta sẽ phát hiện thấy tính c|ch con người thật đ|ng sợ biết bao? Vạn nhất người bạn th}n đang cười nói vui vẻ, sống hoà thuận bên bạn, bỗng nảy sinh ý định giết người, lúc đó bạn sẽ làm thế n{o đ}y?
Trong lòng con người hoặc ít hoặc nhiều đều có c|i |c, nhưng con người có lý trí, có thể kiềm chế thích đ|ng h{nh động suy nghĩ của mình. Cần trấn |p đúng lúc những động cơ t{ ác, nếu không thì xã hội không biết sẽ tàn bạo hỗn loạn biết bao!
Hai nhân vật Jekyll và Hyde trong cuốn tiểu thuyết của nh{ văn Anh Stevenson cüng vậy, người ta thường lấy anh ta làm danh từ chỉ nhân cách hai mặt. “Tiến sĩ Jekyll lương thiện, đ~ bị ảnh hưởng của thuốc đ~ biến thành Hyde |c độc”.
Từ năm 1885, khi xuất bản chuyện này cho tới nay, dường như không ai không biết, còn Stevenson cüng nổi tiếng vì quan điểm thiện lương v{ t{ |c của Hyde, trong lòng người hoặc ít hoặc nhiều đều đồng thời có cái thiện và cái ác. Trên thực tế, nếu không nghiêm trọng lắm thì cüng chẳng có gì đ|ng nói, vì tính c|ch của con người vốn đ~ không phải l{ đơn nhất, mà
là sự biểu hiện của nhiều mặt, chỉ có điều l{ không rõ r{ng m{ thôi. Trong lòng con người không chỉ có suy nghĩ của thần và quỷ, mà còn kèm thêm cả nhiều tâm trạng phức tạp.
Con người có tâm lý phức tạp, nếu chúng ta chỉ bình luận người khác từ một phía, thì sẽ không có c|ch n{o để hiểu rõ đối phương được, vì người tốt cüng có lúc l{m việc xấu, người xấu thì đôi khi cüng l{m việc tốt. Giả dụ người mà bạn tin tưởng lại lừa gạt bạn, bạn nhất định sẽ nổi trận lôi đình, giận dữ mãi, kỳ thực như vậy là uổng công. Bạn nên tr|ch mình đ~ không phòng bịtừ trước, hơn nữa không quan s|t đối phương từ nhiều phía. Đối với lối quan sát một phía, suy xét lại, thì kẻ đ|ng }n hận lại chính là bạn.
Tất nhiên không phải là tôi chủ trương cứ luôn luôn ho{i nghi người kh|c. Người Nhật có c}u: “H~y quan s|t đối phương như một tên trộm vậy!”.
Câu nói này không thể có được trong quan hệ giao tiếp vì nếu chúng ta thật sự l{m như vậy, một mặt lương t}m sẽ không yên, mặt khác có thể sẽ mắc chứng thần kinh quá nhạy cảm.
Vậy thì tính c|ch con người rốt cục là thiện hay |c? Đó l{ vấn đề cơ bản nhất khi nhìn thấu đối phương. Về vấn đề này, trong cuốn “H{n Phi Tử” có ghi:
“Người bán quan tài hy vọng có người chết, vậy thì bản tính của anh ta l{ |c chăng? Tất nhiên là không, vì xuất ph|t điểm của anh ta là: Nếu không có người chết, thì sẽ chẳng bán được quan t{i. Cüng theo lý đó, nh{ buôn xe cüng mong mọi người thành công trong sự nghiệp và kiếm được nhiều tiền, vậy thì bản tính của anh ta là thiện ư? Điều đó cüng chưa chắc, vì xuất ph|t điểm của anh ta là: Nếu người khác không thành công trong sự nghiệp, thì cüng chẳng thể kiếm được tiền, và chẳng tới mua xe”.
Hay nói một cách khác, chỉ đưa v{o c|c quy tắc m|y móc để quyết định cái thiện và cái ác của tính c|ch con người thì chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy phương ph|p kh| kh|ch quan l{ h~y quan s|t động cơ h{nh động của đối phương trước, sau đó sẽ ph|n đo|n.
ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM
Bên trên chúng ta đ~ nói tới các vấn đề có liên quan tới giới doanh nghiệp tuyển dụng nhân tài, vậy khi chúng ta nhìn thấu đối phương, liệu có tồn tại những vấn đề này không? Có, chúng ta cần loại bỏ quan niệm đẳng cấp như người đẳng cấp trên, người đẳng cấp dưới; người tốt, người xấu..., thì mới có thể ph|n đo|n, đ|nh gi| một c|ch kh|ch quan được.
Cho phép tôi nhắc lại một lần nữa, chúng ta không thể nhìn thấu người khác từ một phía được. Nhất là khi nhìn nhận cá tính thì càng cần phải chú ý. Chúng ta thường nghe thấy những từ đ|nh gi| như “ưu điểm”, “khuyết điểm” đ}y l{ c|i không có ý nghĩa gì, vì c|i gọi là “ưu điểm”, “khuyết điểm” không phải là một tiêu chuẩn tuyệt đối. Chẳng hạn: tính khí thô bạo, chúng ta có thể nói đó l{ khuyết điểm; nhưng ngược lại, chúng ta coi đó l{ cương trực, thì lại l{ ưu điểm của anh ta.
Bạn thích “người tính cương cường” hay “người tính nhu mì”?. Nhiều người cho rằng người tính nhu mì khá dễ sống. Người tính cương cường tuy khó sống, nhưng một khi đ~ trở thành tri kỷ với anh ta, tình cảm của anh ta sẽ không thay đổi. Ngược lại, người tính nhu mì tuy dễ sống, nhưng đối với kẻ địch anh ta cüng có thể nhu mì như vậy. Nói cách khác, người có tính cách nhu mì không thể dựa được về mặt tình cảm. Những độc giả thông minh, các bạn có thể nói ra hai loại người này loại n{o “tốt” không? Tôi nghĩ rằng chẳng có đ|p |n của ai là tuyệt đối cả!
Trong cuốn binh thư “Tam lược” của Trung Quốc có một c}u: “Đừng để người nhân nghĩa nắm giữ tiền bạc”, ý l{ nói đừng cho những người có lòng nhân từ v{ đầy tình người quản lý tiền bạc, vì những người này có thể để thất thoát tiền bạc do tình cảm.
Hay nói một cách khác, những người lương thiện, tấm lòng cởi mở tuy dễ sống, nhưng anh ta không ho{i nghi người khác, vì vậy không thể cùng làm việc với loại người n{y được. Ngược lại, khi làm việc với những người lòng dạ hẹp hòi lại cần phải luôn đề phòng anh ta, vì có thể bất cứ lúc n{o anh ta cüng phản bội bạn.
Nước Yên thời Chiến Quốc của Trung Quốc (nay là tỉnh Hà Bắc) bị nước Tề đ|nh chiếm vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, mất đi mười thành lớn, lúc đó có một nh{ mưu lược tên là Tô Tần (Tô Tần là một nh{ mưu lược nổi tiếng thời Chiến Quốc, chúng ta có thể coi ông là một nhà ngoại giao thời cổ đại. Mấy câu thành ngữ như “Hợp tung liên ho{nh”, “Th{ l{m đầu gà chứ không chịu l{m đuôi bò”, “Chuyển hoạ th{nh phúc” đều là của ông ta) nhận lời uỷ thác của vua nước Yên tới nước Tề, nhờ vào ba tấc lưỡi của mình nói chuyện với vua nước Tề, cuối cùng phần đất bị mất đ~ ho{n to{n thu lại được. Vua nước Yên hết sức vui mừng, nhưng đại thần của ông ta lại sàm tấu rằng Tô Tần bụng dạ không bình thường, giữ ông ta lại bên mình sẽ vô cùng nguy hiểm, vì vậy vua nước Yên liền nảy sinh tâm lý cảnh giác sợ sệt đối với Tô Tần. Nếu người bình thường gặp cảnh này, nhất định sẽ cố gắng hết sức để biện bạch cho mình, nhưng Tô Tần lại không làm vậy, ông nói với vua nước Yên: “Bề tôi không đ|ng tin, đó l{ phúc của vua ta!”.
C}u nói đó h{m ý s}u xa, chỉ vì bầy tôi là kẻ không đ|ng tin m{ vua lại biết động não, vì vậy vua mới dùng được tôi chứ! Sau khi vua nước Yên nghe xong, lập tức hiểu được hàm ý của câu nói, thế là càng tín nhiệm Tô Tần.
Qua đ}y, chúng ta có thể thấy rằng: Sống trong thời loạn thật không đơn giản chút nào? Quan hệ giao tiếp đan xen phức tạp có thể thao túng cả tương lai của một người.
Nhật Bản có c}u: “Người bình thường bị chúng ta coi là kẻ |c, có lúc cüng l{m những việc thiện mà chúng ta không ngờ tới”. Cüng tức là nói tốt và xấu, thiện v{ |c đều chẳng phải là cái tuyệt đối.
Khi Tần Thuỷ Ho{ng chưa thống nhất thiên hạ, ông rất t|n thưởng một người tên là Diêu Giả, vì tài ngoại giao của Diêu Giả hết sức cao minh, đ~ từng thay Tần Thuỷ Hoàng đ|nh một trận chiến hết sức đẹp.
Nhưng c|c đại thần trong triều lại xúc phạm ông ta, và nói ông ta xuất thân hàn vi, là một kẻ vong mệnh. Tần Thuỷ Hoàng tin là thật, bắt đầu cảnh giác với ông ta, muốn bãi chức ông ta. Diêu Giả nói:
“Chu Văn Vương vì trọng dụng Thái Công Vọng, nên nền tảng cơ nghiệp của nhà Chu mới có cơ sở. Còn về Thái Công Vọng, nguyên là một lãng tử không có nghề nghiệp chính, không có ai coi trọng ông ta cả, thậm chí ngay cả vợ của ông ta cüng không nhận ông ta, bất đắc dĩ mới ra chợ bán thịt để kiếm sống. Song, nếu không có ông ta, thì nhà Chu chẳng thể
thịnh vượng đến như vậy. Quản Trọng vốn là một nhà buôn, song vì trọng dụng ông ta nên Tề Hằng Công mới xưng b| thiên hạ được. Tổ tiên của Tần là Mục Công, vì tín nhiệm dùng một người tên là Bách Lý Hề m{ bình định được các dân tộc ởû biên cương, m{ B|ch Lý Hề vốn là một nô lệ, là một người m{ người khác dùng c|i gi| năm miếng da bò để chuộc thân
cho ông ta. Những người đó sống trong xã hội đều bị người kh|c coi thường, nhưng do qu}n chủ sáng suốt biết trọng dụng họ, mới làm cho họ có cơ hội thể hiện t{i năng, ph|t huy được năng lực tiềm ẩn”.
Tần Thuỷ Hoàng nghe những lời này xong, bụng nghĩ: “Đúng thật? Chỉ cần ta biết người và giỏi dùng người, thì xuất thân của họ để ý tới l{m gì!”.
ĐIỀU CHỈNH “ỐNG KÍNH” CỦA MÌNH
Khi sử dụng kính viễn vọng và kính hiển vi, chẳng phải bạn cần điều chỉnh ống kính hay sao? Nếu ống kính mờ, thì bạn chẳng nhìn rõ cái gì cả. Muốn nhìn thấu tâm lý của người kh|c cüng vậy, bất kể đối phương l{ nh}n vật loại nào, nếu “ống kính” của bạn mờ, thì bạn chẳng thể nhìn chính x|c đối phương được. Vì vậy trước khi chưa nhìn thấu người khác, đầu tiên nên điều chỉnh “ống kính” của mình đ~.Muốn hiểu được mình là việc rất khó, Hàn Phi Tử có c}u: “Biết người không khó, mà khó ở chỗ biết mình”.
Đối với bản th}n còn chưa hiểu, mà lại muốn hiểu được người kh|c, đó không phải là chuyện dễ d{ng. Điều đó cüng tựa như ống kính nếu lờ mờ, thì rất khó nhìn rõ đối phương. Còn nguyên nh}n chính l{m cho “ống kính” lờ mờ không rõ chính l{ con người có lòng “tham”.
Có một lần, bạn tôi bịtình nghi dính líu tới lừa gạt, tôi cùng anh ta tới đồn cảnh sát khai báo. Sau khi ra về, tôi không quên câu nói của viên cảnh sát hình sự. anh ta nói: “Phần lớn các vụ lừa đảo trách nhiệm nên quy v{o người bị hại, vì kẻ lừa gạt đều là những tên khéo ăn nói, người bị hại nếu không vì ham lợi, làm sao lại không thấy rõ bộ mặt thật của đối phương?”.
Bất kỳ xảy ra tình huống n{o, hai bên đều biết rằng cần xử lý bình tĩnh. Thế nhưng nếu đối phương vận dụng thủ pháp khéo léo, kết hợp với t{i ăn nói lanh lợi, thì rất dễ khơi dậy lòng tham của mình (lúc n{y “ống kính” đ~ bắt đầu mờ đi), vả lại tâm lý của con người đều có một loại ý thức phản ứng từ trước, khi có sự trông chờ n{o đó đối với một mục tiêu hữu hình hay vô hình, t}m tính đều dịch chuyển theo hướng đó. Chúng ta h~y lấy việc tham tiền
làm ví dụ.
“Có lẽ sẽ kiếm được tiền”... “mình thích kiếm tiền”... “Nhất định sẽ kiếm được tiền”. Nếu đ~ hướng tới nấc thứ ba, thì bộ mặt thật của đối phương đ~ ho{n to{n không còn rõ nữa, đ}y chính l{ c|i gọi: “tham mờ cả mắt”. Nói tới đ}y, tôi nghĩ đến một câu chuyện vui:
Trước đ}y có một anh thường hay mơ thấy vàng. Một hôm anh ta đi trên phố, thấy vàng trong cửa hàng vàng bị ánh mặt trời chiếu óng ánh, thế là anh ta liền xông vào cầm lấy vàng co cẳng chạy, người trong tiệm vàng giật mình, vội tóm anh ta lại nói: “Anh n{y to gan thật,
cửa h{ng đông người thế n{y, m{ anh cüng d|m vớ vẩn hả?”. Người kia sợ h~i nói: “C|i gì? Có nhiều người ở đ}y {? Tôi tưởng là chỉ có v{ng thôi!”.
Muốn hoàn toàn loại bỏ lòng tham của một người đó l{ việc không thể, vì vậy chỉ cần trước khi nhìn thấu người khác, hãy nhắc nhở mình đừng có sa v{o lòng tham, như vậy thì “ống kính” sẽ không lờ mờ nữa.
Con người, nếu lòng tham nổi lên, lý trí cüng bị che phủ và lòng tham sẽ được lan rộng; lòng tham rộng rồi, tà niệm sẽ chi phối phản ứng có sẵn của tâm lý, lúc này việc ph|n đo|n sự việc cüng sẽ sai sót, và vì thế rước về một đống những chuyện phiền não.
Ngoài lòng tham còn có nhiều nhân tố kh|c cüng có thể ảnh hưởng tới việc ph|n đo|n, những nhân tố đó chúng ta sẽ lần lượt nói rõ ở các phần sau.
SỰ YÊU GHÉT CỦA CON NGƯỜI
Tôi tình cờ bật ti vi lên, thấy có mấy khán giả nữ đang v}y quanh một ngôi sao màn bạc mà họ rất hâm mộ: “Cô thích ăn gì? Cô dậy lúc mấy giờ? Cô ngủ lúc mấy giờ?...” Khi ngôi sao màn bạc kia đang trả lời những câu hỏi vô vị kia, một quý bà nội trợ đột nhiên trịnh trọng đưa ra một câu hỏi “Xin hỏi cô, cô cüng cần đi toa-lét chứ ạ?”. Sau khi tôi nghe xong, không khỏi cảm thấy khó xử cho cô ta. Ngôi sao màn bạc kia tuy rất ngượng ngập nhưng cô cho rằng dù sao đ}y cüng chỉ là câu hỏi xã giao, không thể không ứng phó, bèn cười đau khổ nói: “Điều đó tất nhiên rồi! Tôi cüng l{ người m{!”.
Cảm tình cüng giống như lòng tham vậy, có thể l{m cho “ống kính” của con người nhìn lờ mờ không rõ. Người mà mình thích, thì khuyết điểm của anh ta cüng có thể nhìn thành ưu điểm; người mình không thích, thì ưu điểm của anh ta cüng có thể bị coi là khuyết điểm. Người Nhật có một câu nói rất hay, đại ý l{: “Người mà mình thích, nốt ruồi của anh ta cüng nhìn th{nh lúm đồng tiền; người mình không thích, thì lúm đồng tiền đẹp cüng sẽ bị coi là nốt ruồi xấu xí”.
Ng{y xưa, Vệ Linh Công rất sủng ái một chàng thiếu niên đẹp trai Di Tử H{, nên đ~ giữ anh ta lại trong cung. Một buổi tối, chàng thiếu niên n{y được biết mẹ chàng bị mắc bệnh trầm trọng, trong lòng hết sức lo lắng, không kịp xin phép Vệ Linh Công anh liền đ|nh xe của ông ta đi cả đêm về nh{ thăm mẹ. Theo quy định trong cung, tự tiện ngồi xe ngựa của Quốc vương sẽ bị xử phạt chặt ch}n, nhưng sau khi Vệ Linh Công biết chuyện này, không những không xử phạt anh ta, mà còn khen ngợi anh ta rất có hiếu: “Chịu nguy hiểm bị chặt ch}n để về nh{ thăm bệnh mẹ, lòng hiếu hạnh ấy thật đ|ng khen”.
Lại có một lần, Di Tử Hà theo Vệ Linh Công đi dạo trong vườn, thấy một quả đ{o chín, liền tiện tay hái xuống ăn, anh ta cắn một miếng, cảm thấy rất ngon, bèn đưa quả đ{o cắn dở cho Vệ Linh Công ăn. Vệ Linh Công rất vui mừng, t|n thưởng anh ta v{ nói: “Ngươi để dành thứ ngon cho ta ăn. Quả nhân thật mừng qu|!”. Mấy năm sau, Di Tử Hà trở th{nh người lớn, dần dần mất đi d|ng vẻ của một thiếu niên đẹp trai, vì vậy Quốc vương cüng không còn sủng ái Di Tử H{ như trước đ}y nữa. Vệ Linh Công nhớ lại những việc trước đ}y, lại càng
thấy không hài lòng với Di Tử H{, v{ tr|ch anh ta: “Ngươi trước đ}y giả xưng l{ đ~ được ta cho phép, tự tiện ngồi xe ngựa của ta; lại còn lấy quả đ{o đ~ cắn rồi đưa ta ăn, thật là vô lễ qu|”!. Thế là liền đuổi Di Tử Hà ra khỏi cung.
Cùng một việc, trước đ}y được khen, mà sau thì lại bị xử phạt, đ}y l{ chủ đề mà Hàn Phi Tử đ~ bình luận trong b{i “Giữa c|i yêu v{ c|i ghét”. Mọi người thường áp dụng phương pháp suy xét này. Bây giờ tôi xin kể một câu chuyện m{ đ~ được đưa v{o trong “H{n Phi Tử”.
Có một phú ông, tường bao nhà ông ta bị sụp đổ do trời mưa mấy ngày liền, con ông ta nói: “Cha! Sao cha không mau gọi người tới sửa đi? Trộm nó có thể v{o đấy!”. Phú ông nói: “Việc gì phải vội, h{ng xóm cüng thường nhắc với bố. Nhưng chưa từng thấy xảy ra chuyện gì”. Không ngờ buổi tối hôm đó nh{ phú ông bị khoắng một mẻ sạch trơn. Lúc đó phú ông lại có lời bình kh|c đối với hai người đ~ nhắc nhở ông ta: “Dù sao con mình cüng s|ng suốt. À! Chưa biết chừng tên trộm tối hôm qua lại là gã hàng xóm ấy chứ!”.
CẢNH GIÁC VỚI NHÂN DUYÊN
Đừng chỉ chú ý đến “duyên phận”, phải biết rằng “duyên phận” có lúc cüng có thể gây trở ngại cho sự nghiệp của bạn.
Có một danh tướng của Nhật đ~ từng cảnh cáo bộ hạ của mình rằng: “Con người có thể hữu duyên và vô duyên, nhất là khi quốc vương chọn quần thần, hiện tượng này càng rõ rệt. Đ}y l{ nguyên nh}n chính tạo nên sự không công bằng, như vậy hy vọng c|c ngươi nhắc nhở ta. Vì đối với những người có duyên với mình, chúng ta thường khá rộng r~i, còn đối với những người không có duyên với mình thì lại luôn hà khắc, có lúc rõ r{ng l{ đối phương có lý, chúng ta lại coi anh ta là vô lý. Tâm lý bị t|c động của mối nhân duyên này, làm chúng ta phải cảnh gi|c cho nhau!”.
Một võ tướng của Nhật cüng từng nói: “H~y thử sống với những người không hợp! Như vậy sẽ rất có ích cho bạn”.
Chỉ sống với những người hợp với mình, “ống kính” của bạn sẽ dễ càng ngày càng mờ đi.
HIỆU QUẢ CỦA KHÉO ĂN, KHÉO NÓI
“Những kẻ nói dối, sau khi chết sẽ bị Diêm Vương cắt lưỡi?”.
Những câu cảnh c|o như vậy, vào thời buổi ngày nay khi khoa học đ~ ph|t triển, thì ngay cả đứa trẻ con cüng không dọa nổi. Thế nhưng, thời xưa Diêm Vương được mọi người coi l{ đại ph|p quan dưới địa ngục - ông ta có quyền uy cực cao, đồng thời còn có thể nhìn thấu lòng người.
Nghe nói Diêm Vương cüng đ~ từng gây nên chuyện nực cười, nếu các vị không tin, tôi có thể lấy một câu chuyện được ghi trong văn học cổ điển của Trung Quốc để chứng minh:
Có một hôm, Diêm Vương đột nhiên nổi m|u hăng, lệnh cho một tiểu quỷ trong điện rằng: “Ngươi tới trần gian bắt những tên ăn nói khéo léo, mồm mép dẻo quẹo tới đ}y cho ta, ta cần ném chúng vào vạc dầu cho chết đi; loại người đó sống trên đời không l{m ăn đứng đắn, suốt ngày dùng lời khéo léo lừa gạt người khác, làm cho nhiều người mất hết bản tính, lầm đường lạc lối... Được rồi! Bây giờ ngươi tới trần gian đi”. Tên tiểu quỷ vội đ|p: “Dạ?” rồi hắn liền rời khỏi địa ngục, xuất phát về hướng trần gian. Một lát sau, tên tiểu quỷ tóm về một người đ{n ông - Diêm Vương hỏi: “Sao m{ nhanh thế! Ngươi không bắt nhầm đấy chứ?”. Tên tiểu quỷ vội trả lời: “L{m sao m{ nhầm được ạ? Loại người này quả thực nhiều lắm, tiện tay tóm một c|i l{ được, nếu đại nhân không tin, có thể xét hỏi xem sao”. Diêm Vương bắt đầu xét hỏi người đ{n ông, trong khi xét hỏi do sơ ý đ|nh một cái rắm kêu, mùi thối ngất trời, người đ{n ông kia bỗng nảy ra một ý, nhanh chóng bước tới trước mặt Diêm Vương, cung kính v|i ông ta một c|i nói: “Ch{? Rắm của Đại Vương, kêu thật là hay! Nghe cứ như một bản nhạc tuyệt vời vậy, đồng thời lại có cả mùi thơm của xạ hương v{ hoa lan nữa”. Diêm Vương nghe xong trong bụng rất vui, liền nói: “Ồ! Chỉ có ngươi mới biết tôn trọng long thể của ta, ta cần phải xá tội cho ngươi. Ê! Tiểu quỷ, đưa người đ{n ông n{y v{o trong điện, tiếp đ~i anh ta cho cẩn thận”.
Người đ{n ông kia theo sau tên tiểu quỷ vừa đi vừa nói: “Anh tướng mạo phi phàm, nghi biểu cüng kh|c người, hai cái sừng của anh trên đầu cüng đẹp v{ trơn như trăng vậy, lại còn đôi mắt sáng của anh giống như |nh sao băng trên bầu trời xanh. Sau này nhất định anh sẽ đại phú đại quý!”. Tiểu quỷ nghe xong liền dừng bước nói: “Đại Vương dặn chuẩn bịtiệc, còn phải một lúc nữa mới chuẩn bị xong, ngươi h~y tới nhà chúng ta uống chén trà nghỉ một l|t đ~ có được không?”.
Câu chuyện n{y đ~ phê ph|n mạnh tính cách của con người. Mỗi một người đều có tâm lý kiêu ngạo, nhưng nếu bị t|c động của những lời nói khéo léo, thì tâm lý kiêu ngạo đó sẽ l{m cho “ống kính” bị mờ đi.
Tự tôn và hư vinh cüng có t|c động tương tự, một số người cho rằng mình có t{i năng v{ xem thường người khác. Loại người này ngay cả bộ hạ thân cận của anh ta cüng sẽ không thích anh ta, hơn nữa anh ta cüng chẳng thể hiểu nổi bộ hạ của mình.
Người ta thường nói: “Lòng không kiêu ngạo thì tự nhiên sẽ kính trọng người khác; lòng không kiêu ngạo, thì mới biết người khác giỏi”.
Trở ngại của quyền uy
Còn một loại nhân tố khác có thể l{m cho “ống kính” của chúng ta mờ đi đó l{ “địa vị” v{ “học h{nh”.
Quan niệm coi trọng “học h{nh” của mọi người sẽ là một trở ngại lớn cho việc nhìn thấu người khác. Kỳ thực, những người thật sự thông minh sẽ không ph|n đo|n người khác qua việc học hành và dáng vẻ bề ngoài.
Trước đ}y có một người đ~ rời khỏi quê hương đi khắp thiên hạ từ khi 19 tuổi, đến năm 20 tuổi thì đ~ tham gia việc nước, anh ta ngồi ngang hàng với các chính khách khác, cùng nắm giữ nhiều quyền bính trong tay. Vả lại lúc bấy giờ quan niệm của chế độ phong kiến còn th}m căn cố đế, để giữ được một vị trí, quả thật đối với anh ta chẳng đơn giản!
Để theo kịp các nhân vật lớn dày dạn kinh nghiệm chắc là anh ta phải vất vả lắm? Nếu bạn nghĩ như vậy l{ sai đấy. Thực ra l{ do anh ta đ~ sớm hiểu được cách lau sạch “ống kính” nhìn thấu của mình. Anh ta nói: “Bất kể trong trường hợp nào, chỉ cần chúng ta nắm được th|i độ sống của đối phương đối với vợ của anh ta l{ được. Nếu nắm được tâm lý, tâm trạng và tình cảm của anh ta đối với vợ, thì sẽ không sợ có vấn đề gì nữa”.
Ý của c}u nói n{y l{; đối với những người nghiêm khắc, phải quan sát từ sinh hoạt đời thường của anh ta để tìm hiểu anh ta. Nếu nắm được điểm quan trọng này, thì sẽ dễ dàng nhìn ra bộ mặt thật của anh ta.
Thời Tần Thuỷ Hoàng, khi khởi nghĩa, Trần Thắng có nói một c}u, đại ý l{: “Bất kể là vương hầu hay khanh tướng, huyết thống của họ chẳng có gì khác với người bình thường, họ không phải sinh ra đ~ tôn quý gì”.
Nói tới đ}y, tôi lại nhớ tới một câu chuyện mà An-đéc-xen viết: “Quốc vương mình trần”. Có một người thợ cắt may tới trước mặt vị Quốc vương thích đẹp nói: “Thưa bệ hạ? Thần xin may cho bệ hạ một bộ lễ phục tàng hình có một không hai trên thế giới”. Quốc vương nghe xong rất vui mừng, liền trọng thưởng cho ông ta. Sau khi Quốc vương mặc bộ lễ phục t{ng hình n{y v{o, bèn đi tuần du trên phố. Lúc đó tất cả c|c quan đại thần, các quý bà và các vị đại phu đều khen ngợi không ngớt, nhưng đ|m trẻ con lại ng}y thơ hò hét: “A! Mọi người mau tới xem Quốc vương mình trần!”
Qua câu chuyện ngụ ngôn này chúng có thể thấy rằng, càng cố che đậy mình, càng dễ lộ ra bộ mặt thật. “Bộ quần áo quyền uy” quả thực chỉ có trẻ con với đôi mắt quan sát trong sáng thì mới có thể nhìn xuyên suốt được.
Trong giới doanh nghiệp hiện nay cüng rất coi trọng “sự nổi tiếng”, “nổi tiếng” đ~ trở thành tiêu chí của quyền uy. Mọi hàng hoá trên thị trường cüng như vậy. Một số hàng hoá sau khi được tuyên truyền quảng bá trên ti vi nhiều lần, dù là thứ không cần thiết, cüng trở thành hàng hoá bán chạy nổi tiếng. Vì vậy để tránh mắc bẫy, chúng ta phải thường xuyên lau ống kính nhìn thấu của mình. Bởi vì trong số c|c h{ng hóa “không nổi tiếng” cüng có thể có hàng thật. Nhưng l{m thế n{o để phân biệt? Điều này rất đơn giản, trước tiên chúng ta không thể cứ giữ thiên kiến, bất kể nó có quyền uy hay không, đều cần phải nhìn bằng thái độ kh|ch quan như nhau.
CHƯƠNG 2:
QUAN S\T ĐỂ NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUAN SÁT THIỆN Ý
Q
ua một thời gian tiếp xúc tương đối dài, chúng ta có thể hiểu đại khái cá tính của từng người, đ}y chính l{ c|i m{ trong môn tri t}m học gọi l{ “tri thức cơ bản”. Nhưng tri thức cơ bản đó không phải bằng sự kỹ thuật mà có, hay nói một cách khác, bạn muốn lý giải một con người, bạn phải dùng “tình yêu”, “tình yêu” nói đến ở đ}y không phải là tình yêu trai gái, mà nó chỉ là một trong nhiều tình yêu. Nhà tri
tâm học Johnson nói: “Không đối xử với người khác bằng tình yêu, thì không thể trông mong thực sự hiểu được người kh|c”. Cho dù đó l{ kẻ thù, bạn cüng cần dùng thiện ý để lý giải anh ta, chứ không thể dựa v{o “sự đ|nh gi| của bản th}n” được, vì bản th}n “sự đ|nh gi|” đ~ l{ không chuẩn xác rồi, nó khác xa ngàn dặm so với “lý giải”.
Lý giải người khác không giống như quan s|t hiện tượng thiên nhiên, vì con người là sống động. ở từng góc độ quan sát khác nhau, kết quả sẽ kh|c nhau. Nhưng để quan sát chính xác nhất đòi hỏi bạn “trước tiên phải có thiện ý”.
Có người từng nói: “Đối nhân xử thế mà không suy xét tới lợi ích của mình trước, đó chính là một loại tình yêu, bắt đầu của thiện ý”.
Đọc lòng người qua đôi mắt
Đúng như mọi người thường nói “đôi mắt biết nói”, “đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Ở mọi lúc, động hướng tâm trạng khác nhau của con người đều phản |nh v{o trong đôi mắt. Thông thường những điều người ta nghĩ trong lòng, đôi mắt sẽ nói ra nhanh hơn so với miệng, hơn nữa hầu như l{ không thể che giấu được. Vì vậy, cho dù khó dùng lời nói để biểu đạt, đôi mắt cüng sẽ biểu đạt ra một cách nguyên vẹn. Có lúc tuy miệng luôn phản đối, nhưng đôi mắt thì lại lộ ra ý tán thành; còn có lúc miệng thì nói những lời dễ nghe, song mắt lại “tiết lộ” những lời ngược lại. Đó l{ biểu hiện của “khẩu thị t}m phi”.
Những người giỏi quan sát chắc chắn đ~ từng có những kinh nghiệm trên.
Bất kể là trong giao tiếp việc công hay việc riêng, muốn đọc được tâm ý của đối phương, thì nhất định bạn cần phải đặc biệt chú ý tới đôi mắt của anh ta, vì con người ta vĩnh viễn chẳng thể nào che giấu được trái tim của mình. Khi trong lời nói có những điểm trái với lòng mình, thì ánh mắt sẽ chẳng thể thống nhất được. Vì vậy, nếu lặng lẽ quan sát chuyển động của đôi mắt, thì có thể tìm hiểu được tâm ý của đối phương.
Thế nhưng, trong khi nói chuyện đối diện với người kh|c, có người dịch chuyển ánh mắt từ mặt của đối phương sang bên, đồng thời anh ta nhìn ngang nhìn ngửa. Có lẽ việc anh ta không nhìn vào mặt đối phương thường làm cho ta cảm thấy loại người n{y không đ|ng tin.
Song tuyệt đối không thể dựa v{o đó để đưa ra ph|n đo|n dứt khoát, vì có không ít những người cẩn thận, người không tự tin, và những người nhút nh|t cüng thường như vậy.
Người xấu thật sự hay những người khó ứng phó đôi khi cüng sẽ dịch chuyển ánh mắt, không nhìn vào mặt của đối phương, vì những người xấu không phải là không có chút sợ sệt nào cả.
Tuy nhiên không phải là bất kỳ ai cüng có thể nhìn rõ ngay, mọi biểu cảm qua ánh mắt mà là những điểm ảo diệu, chỉ hơi không chú ý thì khó có thể nắm bắt được. Xin đưa ra một số thay đổi về nhãn thần m{ bình thường không dễ gì phát hiện ra:
1. Đôi mắt chăm chú nhìn ra xa. Trong khi nói chuyện, nếu đối phương thỉnh thoảng lại để lộ ra ánh mắt n{y, đa phần l{ đối phương không chú ý tới những lời bạn nói, trong lòng đang tính to|n những việc của anh ta. Nếu l{ đối thủ tiến hành giao dịch, thì nhất định anh ta đang đưa ra những cân nhắc, tính toán ở trong lòng, suy nghĩ tìm kiếm những s|ch lược làm thế n{o để giành lấy phần có lợi nhất trong cuộc giao địch đó. Nếu l{ đối tượng nói chuyện không có quan hệ lợi ích, m{ đối phương không chăm chú nghe bạn nói, thì nhất định là có những việc kh|c đ~ chiếm lĩnh tr|i tim của anh ta. Mà trong những ánh mắt tương tự, cüng có những trường hợp không thể nào giữ cho ánh mắt cố định vào một điểm, nếu đối phương l{ đối tượng giao dịch quan trọng thì cần phải đặc biệt chú ý hơn.
Những chuyện lo lắng đại loại như: Khi đang vui vẻ phấn khởi về việc b|n được rất nhiều hàng, song lại bị đối phương trả lại hàng; có món nợ phải trả, cần phải suy nghĩ, tính toán hoặc ngược lại, mua hàng vào, song phát hiện có sự cố, có vết xước, hoặc tiền h{ng đ~
bị người ta cuỗm mất rồi... ánh mắt của những người n{y thường là trống rỗng, đó l{ vì trong lòng anh ta đang có một gánh nặng. Còn khi trong lòng đang có sự khổ não, khi đó |nh mắt của anh ta có thần sắc hốt hoảng, tản mạn.
Vì vậy, khi phát hiện thấy đối phương lộ ra ánh mắt này thì không nên ngần ngại hỏi trực tiếp những nghi vấn trong lòng.
2. Đôi mắt hõm lạ thường. Loại nhãn thần này, loại mắt này có thể cho thấy người đó có sự nghi hoặc, hiểu nhầm, thù địch, cảnh gi|c, không tin tưởng...
Còn có ánh mắt lợi hại hơn, đó l{ khi tia mắt sáng lấp l|nh. Khi ý nghĩ thù địch, nghi hoặc biểu hiện trong con mắt, dễ làm xuất hiện loại nhãn thần này. Sở dĩ đôi mắt phát ra ánh sáng lấp lánh, là vì từ nơi s}u của đôi mắt phát ra tia mắt; đôi mắt lõm hơn bình thường có thể được coi l{ giai đoạn trước khi ánh mắt chuyển sang lấp l|nh, có nghĩa l{ có thể người đó sắp sửa xuất hiện ý nghĩ thù địch hoặc nghi hoặc.
Ánh mắt này có thể xuất hiện trên khuôn mặt của những người thân cận. Khi đối phương hiểu nhầm về sự tổn thương m{ bạn vô tình đ~ tạo ra cho họ, cüng có thể l{ đối phương không tin tưởng bạn. Ngoài ra, ánh mắt này còn cho thấy đối phương không chỉ có hiểu nhầm không thôi, mà đ~ có sự cảnh giác.
Khi gặp mặt lần đầu m{ người đối diện có ánh mắt này, nếu không phải l{ người đó có th|i độ không tín nhiệm, cảnh gi|c đối với bạn trong khi nói chuyện, thì có lẽ trước đó họ đ~ nghe được những thông tin liên quan đến bạn, hoặc qua người khác giới thiệu họ đ~ có đ|nh gi| chủ quan về bạn rồi.
3. Mắt của phụ nữ. Các quý ông có lẽ đều đ~ từng gặp trường hợp như sau: Khi cặp tình nh}n đi d~ ngoại, người đ{n ông đôi lúc lại ném ánh mắt hiếu kỳ hoặc t|n thưởng với cô gái kh|c, đó l{ vì dù đang yêu, đ{n ông cüng vẫn không mất đi bản năng vốn có của anh ta. Mặt kh|c, cùng l{ đang yêu, nhưng đ{n ông kh|c với phụ nữ. Bản tính của phụ nữ là khi yêu luôn giữ lập trường chủ quan. Vì vậy, phụ nữ tuyệt nhiên không liếc đ{n ông kh|c lấy một cái, mà họ chỉ một lòng một dạ ngắm người tình của mình mà thôi, họ nhìn từng cử chỉ của anh ta với ánh mắt quan tâm thân thiết.
Thế nhưng, khi phụ nữ đang yêu lại nhìn ngắm người đ{n ông kh|c, thì trong lòng của cô ta sẽ có những biến đổi gì? Tất nhiên, nếu cô ta rõ ràng dịch chuyển ánh mắt đến người đ{n ông kh|c, thì cho dù l{ người đ{n ông đần độn đến đ}u cüng có thể cảm nhận thấy. Song, một số hiện tượng kỳ diệu sẽ liệt kê dưới đ}y, thì phải bỏ sức chú ý mới phát hiện ra được:
Khi cùng bạn gái tới qu|n rượu hoặc quán cà phê, nếu đột nhiên cô ta ngầm lắng nghe người đ{n ông kh|c nói, nhìn thế tay, động tác của người đ{n ông kh|c, ngầm quan sát những vật bên mình (đồng hồ, chìa khoá xe, cà vạt...) của người đ{n ông kh|c, thậm chí cô ta còn ngang nhiên dịch chuyển ánh mắt sang người đ{n ông kh|c nữa, thì bạn phải chú ý đấy. Bạn gái của bạn đ~ bắt đầu có suy nghĩ kh|c rồi đó.
Nếu như bạn trách cứ h{nh động này của người phụ nữ, mà cô ta lại giải thích rằng hy vọng bạn cüng có những vật m{ người đ{n ông đó đem theo bên mình, thì hoàn toàn là ngụy biện. Bởi vì sau khi phụ nữ đ~ có cảm giác này rồi, thì khi chỉ có một mình, cô ta sẽ tưởng tượng người đ{n ông m{ cô ta mến mộ phải l{ như vậy. Vì thế, giải thích một cách phóng đại h{nh động của cô ta, thì có thể nói: Cô ta bắt đầu so sánh một cách khách quan giữa bạn và những người đ{n ông kh|c nữa.
QUAN SÁT NHỮNG THAY ĐỔI CỦA MŨI
Trong năm gi|c quan của con người, müi v{ tai l{ hai thứ ít hoạt động nhất, vì vậy, rất khó có thể đọc được tâm lý của đối phương qua quan s|t động tác müi. Mọi người có nhiều cách nhìn nhận về tính c|ch qua hình d|ng müi như loại müi cao, thấp, hếch lên hay là xuống, nhưng tất cả những c|i đó l{ chỉ nói về những chiếc müi cố định, chứ không thể nắm bắt được những biểu cảm của müi. Cüng có thể nói, kiểu nhìn “tướng” müi đo|n c| tính con
người hoàn toàn không có quan hệ gì với động hướng tâm lý cả. Song các bạn đừng ngại đọc lòng người qua quan s|t động tĩnh của müi, h~y thử đọc trái tim của đối phương xem sao:
1. Müi phồng lên. Khi nói chuyện m{ müi của đối phương phồng lên, đa phần cho thấy đối phương có sự đắc ý hoặc tình cảm có phần bị ức chế. Thông thường müi người ta phồng to vì trong trạng th|i hưng phấn hoặc căng thẳng, tốc độ thở và nhịp đập của tim sẽ tăng, vì vậy nảy sinh hiện tượng lỗ müi phồng to. Vì thế, “thở gấp” l{ một hiện tượng hưng phấn hoặc trạng th|i đắc ý.
Còn việc nhận biết müi đối phương có sự thay đổi phồng to l{ do đắc ý mà hào hứng, hay là do bị ức chế, có cảm giác bất mãn và phẫn nộ? Điều này cần phải ph|n đo|n qua c|c phản ứng khác nữa khi đối tượng nói chuyện.
2. Müi to|t mồ hôi. Có khi đó chỉ là một cái tật của c| nh}n, nhưng những người ngày thường không có tật n{y, thì khi đầu müi to|t mồ hôi là biểu hiện của sự nôn nóng hoặc căng thẳng về tâm lý. Nếu đối phương đang tiếp đối thủ giao dịch quan trọng, tất sẽ nôn nóng đi đến thoả thuận, bất kể thế nào nhất định phải hoàn thành cuộc giao dịch đó, v{ thế là anh ta có tâm trạng nôn nóng căng thẳng, rơi v{o trạng thái tự trói buộc mình. Do căng thẳng, nên đầu müi mới có hiện tượng toát mồ hôi.
Hơn nữa, khi căng thẳng thì không chỉ đầu müi to|t mồ hôi, đôi khi ở những chỗ như nách chẳng hạn cüng có thể có hiện tượng toát mồ hôi. Khi đối phương không có quan hệ lợi hại gì mà lại có trạng thái này, nếu không phải là trong lòng anh ta có ý hối hận, bị lương t}m vò xé, thì cüng l{ để che giấu bí mật nên mới căng thẳng như thế.
3. Màu sắc của müi. M{u sắc của müi ít có sự thay đổi, nhưng nếu toàn bộ müi trắng bệch thì cho thấy đối phương có t}m trạng co rụt lại. Nếu là giao dịch không có quan hệ lợi hại gì thì không quan trọng lắm, đa phần đó l{ do t}m trạng do dự, trù trừ của anh ta.
Đôi khi, tình trạng n{y cüng xuất hiện khi chàng trai tỏ tình với cô g|i nhưng lại bị cự tuyệt một cách thảm hại. Lòng tự tôn bịtổn thương, trong lòng khó xử, có đôi chút cảm giác tội lỗi, xấu hổ, ngượng ngùng..., những khi đó sẽ có thể l{m cho müi anh ta trắng bệch ra.
Những động thái và biểu hiện của müi nói trên thường rất ít thấy, nhưng người bình thường lại không để ý tới những thay đổi đó. Nếu mu- ốn đọc được tâm ý của đối phương, thì phải chú ý quan sát cả những biểu hiện của müi, m{u sắc của müi, chuyển động của ánh mắt..., kết hợp tất cả những c|i đó để có được sự ph|n đo|n chính x|c.
Miệng cho thấy những gì
“Miệng” m{ tôi muốn nói ở đ}y không phải là những ngôn từ được nói ra từ miệng, mà là những “nét” thể hiện trên miệng. Có nhiều trạng thái của miệng, tuỳ theo từng tâm trạng mà có sự thay đổi tương ứng. Thế nhưng, ngo{i những c|i m{ ai ai cüng có thể hiểu được (như nhếch miệng cho thấy sự bất bình hoặc bất m~n), dưới đ}y xin đưa ra một số biểu hiện khó hiểu hơn.
1. Miệng cứng và méo xệch. Đôi khi trong lòng buồn tới đ|ng sợ, cảm thấy vô vị tẻ nhạt, tâm trạng sẽ dồn nén, ức chế. Lúc này nếu xuất hiện sự việc lý thú hoặc buồn cười, thì miệng không thể nào hoạt động theo các bộ phận kh|c được, có thể thấy ngay l{ nó cương cứng và méo xệch. Tình trạng này chỉ cần quan s|t đứa trẻ là có thể thấy được (trẻ con không thể thuận theo được những thay đổi đột ngột).
2. Môi khô. Ngoài những người có thói quen thường xuyên liếm môi ra, những người thỉnh thoảng lại liếm môi, l{ đang dồn nén sự dao động trong lòng do sự hưng phấn hoặc sự căng thẳng tạo nên. Chẳng hạn: Khi động tới bí mật không muốn người khác biết hoặc khi nói dối điều gì đó, thì lập tức miệng khô và uống nước, hoặc bắt đầu liếm môi. Khi bị thẩm tra, các phạm nhân của các vụ án hình sự thường cố làm ra vẻ trấn tĩnh, song lại thường vô tình có những biểu hiện này.
Khi trong lòng con người có sự dao động và cố gắng che giấu để không biểu lộ ra ngoài, thì dễ dẫn đến những thay đổi sinh lý như miệng khô, toát mồ hôi, thở gấp. Vì vậy, khi đối phương liếm môi, bạn hãy quan sát ngay xem trán và lòng bàn tay của anh ta toát mồ hôi không, anh ta có uống nước mạnh và làm cho yết hầu chạy lên chạy xuống hay không. Những biểu hiện đó sẽ khẳng định thêm tâm lý của đối phương.
NGŨ QUAN VỚI TÌNH CẢM
Tình cảm của con người có các cung bậc t}m lý như vui, buồn, lo sợ, phẫn nộ, ghét bỏ, tin tưởng, hoài nghi... Mà những thay đổi tâm trạng này không nhất thiết phải thể hiện qua một hình thức nhất định n{o đó. Có khi bề ngoài do ức chế lý tính mà họ cố làm ra vẻ trấn tĩnh, nhưng hễ có dịp là thể hiện ra bằng các hình thái khác.
Chẳng hạn, một người trong công ty có chuyện gì không vui, bề ngoài anh ta làm ra vẻ không hề quan t}m để ý, nhưng trên thực tế, nếu anh ta không ra quán uống rượu thì cüng về nh{ đổ tức giận lên người nh{, đ}y chính l{ dịch chuyển thời gian thể hiện tình cảm. Vậy thì, tâm trạng con người còn được thể hiện qua c|c hình th|i kh|c như thế nào?
Có thể chia ra làm ba loại hình th|i sau đ}y: Thứ nhất là nét mặt, thứ hai là cử chỉ động tác, thứ ba l{ mượn lời nói để thể hiện ra. Hai hình thức sau dễ nhận biết hơn, còn nét mặt thì sao?
Nếu bộ mặt méo mó hoặc đanh cứng, chắc chắn là do sự miễn cưỡng dồn nén tình cảm nên đ~ kiềm chế những thay đổi về nét mặt. Hiện tượng n{y thường thấy ở những đứa trẻ bị cha mẹ trách mắng, ở những phụ nữ có chồng gia trưởng độc đo|n, viên chức cấp thấp bất mãn với cấp trên...
Kết quả của việc dồn nén tình cảm, sẽ l{m cho cơ mặt co giật, ra sức chớp mắt, đồng thời nét mặt trở nên đờ đẫn. Nếu dùng kỹ thuật đọc tâm lý sẽ nhìn ra th|i độ này của đối phương, có thể thăm dò sự bất mãn và các tâm trạng bị đồn nén của đối phương.
ĐỌC T]M LÝ QUA NƯỚC MẮT
Đ{n ông tuy có nước mắt nhưng không dễ gì rơi nước mắt, không như phụ nữ khóc là chuyện cơm bữa. Nước mắt của đ{n ông chỉ rơi khi rất cảm động như đoạt phần thắng trong trận thi đấu Ô-lim-píc. Nước mắt đ{n ông công nhiên nhỏ xuống vì vui mừng trước đông đảo khán giả, như vậy, khán giả cüng sẽ đồng tình hưởng ứng với anh ta; ngược lại, khi đ{n ông bị sỉ nhục nặng nề, họ tuyệt đối không rơi lệ trước mặt người khác, tận đ|y lòng mình mới âm thầm phát tiết, đau khổ. Khi thấy người đ{n ông nhỏ lệ, bất kỳ ai cüng đều có thể hiểu được nguyên nhân, vì vậy chẳng cần phải dùng đến kỹ thuật đọc lòng người để ph|n đo|n.
Nhưng nước mắt của phụ nữ thì sao? Đ}y chính l{ một lý luận vừa phức tạp vừa phiền phức. Nếu chỉ bàn về nước mắt của phụ nữ không thôi, thì e rằng phải viết được một cuốn sách dày, tâm lý phụ nữ phức tạp như vậy, kỳ diệu như vậy, liên quan đến nước mắt như vậy không phải đôi ba c}u l{ có thể nói cho kỹ c{ng tường tận được. Vì vậy, ở đ}y chỉ xin nêu ra một số điểm chủ yếu về mặt kỹ thuật đọc lòng người và những nhìn nhận cá nhân mà thôi:
1. Trước hết, đang yên ổn, chẳng có nguyên nh}n gì đặc biệt phụ nữ có thể tủi thân mà khóc, cô ta nhỏ lệ nhanh với tốc độ “sấm đ|nh không kịp bịt tai”. Cảm thấy vô cùng hạnh phúc cüng khóc, nhớ lại chuyện cü cüng khóc, đ}y có thể gọi l{ nước mắt “kiểu cảm ho{i”. Khi đó đ{n ông có thể không cần phải hoảng hốt bối rối, mà nên biết đọc tâm lý của họ, mặc cho họ ra sức mà khóc lóc.
2. Tiếp đến l{ nước mắt để bảo vệ lợi ích. đ}y l{ vü khí lợi hại nhất của phụ nữ, đ{n ông đôi khi bị họ lừa gạt. Thông thường trong đầu phụ nữ không có nhiều quan niệm lôgíc, vì vậy với những nguyên nhân phạm sai lầm của mình, họ sẽ không thể giải thích rõ ràng một cách hợp lý được, thay vì nói rõ để l{m cho đối phương hiểu, chi bằng trước tiên họ nhỏ lệ để xem phản ứng của đối phương. Mẹo này cực kỳ khôn khéo. Tất nhiên, cüng giống như l{m nüng vậy, đều là lợi dụng nhược điểm sợ nước mắt phụ nữ của đ{n ông để chiếm ưu thế. Thế nhưng nếu là phụ nữ với phụ nữ, thì hoàn toàn không có kiểu khóc như thế, vì họ khá hiểu nhau, kiểu khóc này liệu có ích gì? Hơn nữa, nếu phụ nữ cảm thấy để bảo vệ lợi ích mà khóc lại dễ có hiệu quả, thì họ sẽ khóc để đối phương mềm lòng c|i đ~, đồng thời để mình tr|nh được việc bị chỉ trích; chiến thuật này có thể khéo léo lừa gạt được đ{n ông, còn người truy cứu dù trong lòng có hiểu rõ “}m mưu” n{y thì cüng không truy cứu thêm. Một khi phụ nữ vui mừng đắc ý vì chiến thuật này có hiệu quả, thì nước mắt giả tạo kia của họ sẽ làm cho kỹ thuật đọc lòng người khó mà thi triển cho được. Vì vậy, xin c|c quý ông đừng có nên sơ ý m{ bỏ qua, cần phải nghiên cứu kỹ để ứng chiến với nước mắt của phụ nữ.
NHÌN RA TÂM TRẠNG CĂNG THẲNG CỦA ĐỐI PHƯƠNG
Sự căng thẳng thần kinh do hồi hộp hay hưng phấn đem lại, làm nách toát mồ hôi, chúng ta gọi đó l{ “mồ hôi lạnh”. Còn những bộ phận khác dễ toát mồ hôi mà mắt người có thể trông thấy là những bộ phận n{o? Điều này tất nhiên là mỗi người mỗi khác? Song thông thường đều ở những chỗ như mép tóc trên tr|n, đầu müi, cổ, lòng bàn tay...
Nếu thời tiết không nóng, mà những bộ phận nói trên của đối thủ đ{m ph|n lại chảy mồ hôi, thì điều đó chứng tỏ rằng tâm lý anh ta đang căng thẳng, chẳng hạn: thỉnh thoảng anh ta lại rút khăn mùi xoa ra lau lòng b{n tay, lau hơi mờ ở mắt kính... Đồng thời, những hiện tượng đổ mồ hôi n{y thường đi liền với nét mặt biến sắc (trắng, xanh, đỏ), tay run run, huyết quản chỗ gần huyệt th|i dương căng phồng lên, nuốt nước miếng thật mạnh, từ từ quan sát một cách cẩn thận thì chắc chắn sẽ ph|n đo|n ra được.
Khi ở vào trạng th|i căng thẳng cực độ, con người ta sẽ có hiện tượng khô khát nghiêm trọng, chẳng hạn: những người nhát gan hoặc nhút nh|t khi đứng nói chuyện trước đ|m đông h{ng trăm người, khi tranh luận kịch liệt với người khác, khi nhân viên mới nói chuyện với gi|m đốc thì miệng rất dễ trở nên khô khát.
Ngo{i ra, do hưng phấn hay căng thẳng mà tim phập phồng không yên, đập thình thình, chắc chắn sẽ kéo theo sự thay đổi về nhịp thở. Ví dụ: Khi xem trận đấu quyền Anh đầy kích thích, mạch đập, huyết áp, nhịp thở đều tăng nhanh hơn; mạch đập và huyết áp không thể biểu lộ ra ngo{i được, nên không thể ph|n đo|n từ bên ngo{i, nhưng nhịp thở tăng nhanh thì nhìn là thấy ngay. Khi ph|n đo|n tốc độ thở của đối tượng nói chuyện, bạn đừng ngại thở theo đối phương, để vai mình nhấp nhô lên xuống, rồi so sánh với nhịp thở của mình xem.
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA LỜI NÓI
Vü khí lừa gạt con người hữu hiệu nhất chẳng có gì sánh bằng lời nói. Cho dù bình thường chúng ta đ~ có sự cảnh giác với những người không thật th{, nhưng nhiều người vẫn cứ vô tình bị những lời đường mật lừa gạt. Có một loại người luôn gần güi người khác với vẻ lương thiện, thẳng thắn, nhưng những gì anh ta nói, nghĩ thì lại hoàn toàn khác. Ngoài ra, những người mỗi lúc nói một giọng hoặc hay hứa hẹn lung tung, chúng ta cüng không thể xem thường. Hơn nữa, những người mà không biết khi nào anh ta nói thật, khi nào nói dối, hoặc người ho{n to{n không đ|ng tin cậy thì đ}u đ}u cüng có.
Thế nhưng, đối với loại người tâm khẩu bất nhất, nếu quan sát kỹ, nhất định sẽ phát hiện ra một số điểm không tự nhiên của họ. Vì một mặt loại người này dễ dùng lời nói để che giấu hiện thực, những lúc bị mặt khác lại cüng rất dễ biểu lộ tình cảm hoặc tâm lý qua lời nói. Vì vậy, kỹ thuật đọc lòng người chính l{ căn cứ vào những thay đổi nhỏ trong lời nói để nắm bắt tình cảm và tâm lý của anh ta, không chỉ dừng ở những thay đổi bề ngo{i như khi tâm trạng vui vẻ nói rất hào hứng, khi không vui thì lời nói trầm lắng. Con người ta hoặc ít hoặc nhiều đều có những lúc bị ức chế tâm lý, tình cảm và lời nói của mình, nhưng những tâm trạng bị che giấu kia đều có thể ph|n đo|n được qua những thay đổi về lời nói. Dưới đ}y l{ c|c kiểu thay đổi lời nói thường thấy:
1. Bình thường ít nói, đột nhiên trở nên giỏi ăn nói. Đ}y l{ hiện tượng thường thấy, bất kỳ ai khi vui vẻ đều trở nên nói nhiều hơn so với ng{y thường. Thế nhưng, không có nguyên nhân gì rõ ràng mà lại trở nên giỏi ăn nói, phần nhiều là trong lòng bất an hoặc có sự dao động, sợ đối phương thấy được nên có hành vi ngụy trang, vì thế, cố gắng nói để che lấp những đề tài mà mình không muốn đề cập đến. Hơn nữa, có người khi trong lòng có sự bất
an hoặc dao động thì nói những lời không cần thiết, tự lập phòng tuyến để che đậy tâm trạng của mình và tự lấy đó để vỗ về mình. Ngoài ra, sự bất an trong lòng sẽ dễ gây lên những biến đổi về hành vi, sinh lý, hoặc có th|i độ khác.
2. Dùng từ cung kính cẩn thận và châm chọc. Nếu đối phương trở nên quá khiêm tốn khác với ng{y thường hoặc nói chuyện với giọng châm chọc, thì điều đó cho thấy trong lòng anh ta có che giấu một ý nghĩ thù địch và ác cảm, đ}y cüng l{ một kiểu h{nh động ngược. Lời nói châm chọc vô tình biểu lộ th|i độ đủ để kéo xa khoảng cách giữa hai bên, hoặc biểu lộ sự công kích.
Lúc này bạn cần quan sát cả những thay đổi khác, chẳng hạn như |nh mắt: ánh mắt hiền dịu sẽ biến mất m{ tăng thêm nhiều nét sắc sảo; vả lại, tiếng cười sẽ mất đi sự tự nhiên, sự biểu lộ cüng trở nên cứng nhắc.
3. Nói tranh người khác, biện giải. Có những người thường bất chấp cả việc đối phương còn chưa nói hết, đ~ tranh trình b{y v{ biện giải. Loại người này phần đông l{ nhút nh|t, cảm thấy bất an. Sợ đối phương sinh ho{i nghi, nên cướp lời nói, xây dựng phòng tuyến để biện giải, đ}y cüng l{ biểu hiện tâm lý cố nhanh chóng thoát khỏi cảm giác bất an. Vì vậy, khi ho{i nghi đối phương có t}m trạng này, cần không nên để lộ ra chủ ý của bạn, đồng thời lên tiếng phụ hoạ quan điểm của đối phương, như thế chắc chắn sẽ làm cho đối phương dần dần trở nên yên tâm, khôi phục lại sự bình tĩnh. Còn những người đặc biệt nhát, có thể có những thay đổi ở những mặt khác nữa, như |nh mắt do sợ hãi nên nhấp nháy bất định, ngôn ngữ cử chỉ cüng sẽ trở nên lúng túng, bối rối.
4. Chủ đề tục tĩu v{ ngầm né tránh. Khi kẻ phạm tội đứng ở hiện trường phạm tội, hắn thường giả bộ không có chuyện gì v{ đứng nhìn cảnh sát thu thập, tìm kiếm chứng cứ, cüng có những kẻ gây chuyện, bỏ trốn, rồi lại cả gan quay lại hiện trường lẫn v{o trong đ|m đông theo dõi. T}m lý con người cüng vậy, có loại người hay cố ý nói những câu tục tĩu, nói thẳng vào những chủ đề m{ người khác né tránh, vì anh ta muốn tự moi móc cội nguồn mà mình sợ sệt, bất an nhất, qua đó l{m dịu bớt t}m lý căng thẳng và bất an. Loại người n{y thường buột miệng ra, nói những lời ngoài sự tưởng tượng của người khác. Mà những lời của anh ta có thật, có giả. Nếu dùng kỹ thuật đọc tâm lý, thì có thể phát hiện ra mấu chốt của vấn đề. Thế nhưng, những thay đổi, phản ứng ngoài lời nói của loại người “lớn tiếng không biết xấu hổ” n{y lại rất khó phát hiện ra.
Cüng có người để cố tránh tâm trạng bất an nên né tránh một số chủ đề hoặc trường hợp n{o đó. Tuy không thể qua đó m{ đ|nh gi| tính c|ch anh ta thuộc loại nhút nhát hay cẩn thận, nhưng nếu bạn gặp những người thích chọn chủ đề nhạy cảm để nói m{ đó lại là chủ đề m{ người này ngầm né tránh thì phản ứng của người này sẽ càng trở nên sốt ruột bất an. Chẳng hạn có thể dịch chuyển ánh mắt, hoặc cụp mắt lại, đan chéo ch}n, không ngừng hút thuốc, đó là những hiện tượng hỗn tạp của sự bất an, sốt ruột trong lòng.
5. Tán thành hoặc phụ họa. Có những người bình thường không hay phụ hoạ theo luận điểm bạn nói, đôi khi họ lại t|n thưởng, cổ vü th|i qu|, loại người đó tuyệt đối chẳng phải là vô tình hay rộng rãi gì, chắc chắn là họ có mục đích gì đó, chỉ vì lúc đó tình thế không thích
hợp để phản đối bạn, nên tạm thời cất tiếng phụ hoạ, cực lực t|n th{nh, nhưng có khi trong bụng anh ta lại không dễ gì chấp nhận và có ý tứ sâu xa. Tóm lại, nhìn thấu được kiểu phụ hoạ hoặc t|n th{nh n{y l{ điều vô cùng quan trọng.
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA CỬ CHỈ
Chẳng ai là có thể hoàn toàn giấu được sự vui vẻ hay buồn rầu mà không biểu lộ qua ngôn ngữ, cử chỉ. Khi vui vẻ, động tác tự nhiên sẽ hào hứng, th|i độ cüng vui vẻ, thoải mái, ngược lại, khi đau buồn hay vất vả, thì con người trở nên trầm lặng, buồn rầu và không chút hứng khởi. Nếu bạn thử quan sát những ch{ng trai đợi bạn gái ở quán cà phê mà xem, chắc chắn sẽ phát hiện thấy nhiều điều lý thú.
Trước tiên, ch{ng trai đó cầm cuốn tạp chí trên tay v{ bước vào. ánh mắt liếc nhanh một lượt, tìm kiếm mục tiêu của anh ta - bạn gái; nếu cô bạn g|i chưa tới, thì anh ta sẽ kiếm một chỗ ngồi thích hợp; xem đồng hồ, x|c định thời gian một chút, gọi cô phục vụ yêu cầu một ly cà phê; châm một điếu thuốc, mắt chăm chăm nhìn lối ra vào. Tất nhiên, “cô ấy” vẫn chưa xuất hiện. Sau đó anh ta lại chậm rãi nhìn quanh phòng, uống một ngụm cà phê; cho đường vào; giụi tắt điếu thuốc trên tay.
Một lát sau, anh ta lại lơ đ~ng ném c|i nhìn ra phía cửa ra vào và uống cà phê, tiếp tục châm thuốc l|, nhìn c|c đôi nam nữ từng cặp từng cặp một cách nhàn rỗi, nhìn ngắm cô phục vụ; gẩy gẩy điếu thuốc một cách máy móc, tiện tay anh ta lật giở cuốn tạp chí, nhưng mắt không dừng ở nét chữ trên giấy, mà là nhìn những người đi v{o.
Uống xong cà phê anh ta lại uống nước, đặt cuốn tạp chí xuống lại châm thuốc, nhưng ánh mắt vẫn không rời lối ra vào; lại xem đồng hồ một lần nữa; lấy trong người ra hai tờ giấy trông như vé xem phim vậy, xem đi xem lại chúng.
Tiếp đó anh ta kiểm tra lại c|ch ăn mặc của mình, vỗ phủi bụi bám trên quần áo, chỉnh lại cà vạt và uống nước, hai ch}n đan chéo nhau, ngón tay gõ trên b{n, ra sức rít thuốc, thuốc đ~ ch|y qu| nửa, anh ta thổi bay những tàn thuốc vương trên b{n.
Người mình đợi vẫn chưa tới, anh ta rõ r{ng đ~ trở nên sốt ruột không yên, nhíu mày lại, cắn chặt môi; mặt kh|c, ch}n đang đan chéo lại được duỗi ra một cách nhanh chóng; chầm chậm ngả người trên ghế khoảng chừng một phút, rồi lại nhẹ nhàng ngồi ngay ngắn, müi ch}n đ| v{o chân bàn; cuối cùng anh ta cuộn cuốn tạp chí lại gõ gõ, lại tiếp tục nhìn đồng hồ.
Ai cüng từng gặp trường hợp như vậy. Có lẽ bạn cüng chẳng ngoại lệ. Chẳng hạn, có khách tới thăm v{o đúng lúc công ty đang bận rộn nhất, bạn đ{nh phải chậm rãi ngồi xuống nói chuyện cùng anh ta, bạn không thể đuổi thẳng kh|ch được, song đối phương lại không phát hiện ra tâm trạng sốt ruột của bạn. Lúc này bạn không thể gọi điện cho người khác, luôn mong có một cú điện thoại gọi tới, kiểu tâm trạng này tự nhiên sẽ làm nảy sinh nhiều động tác sự sốt ruột như: dịch chuyển những thứ bày trên bàn, liên tục góp chuyện vào chủ đề công việc đang thảo luận ở bàn bên cạnh, nhìn ngó lung tung...
Dưới đ}y xin trình b{y từng động tác của chân, tay:
1. Động tác của tay
Ngón tay nếu gõ gõ trên mặt bàn, là biểu hiện trong lòng đang nôn nóng, sốt ruột; tay cầm điếu thuốc hơi run run, thể hiện tâm trạng căng thẳng, hưng phấn; vô tình phủi bụi trên quần áo, cạy móng tay... là biểu hiện của việc lơ đ~ng, không quan t}m chú ý.
2. Động tác của chân
Thỉnh thoảng đan chéo ch}n, kỳ thực đó l{ h{nh vi nôn nóng sốt ruột hoặc đan xen lẫn lộn sự sợ sệt, e ngại; dùng müi gi{y đ| c|c thứ, hoặc gõ nhịp bằng gót giày, là biểu hiện của việc trong lòng đang suy nghĩ những việc khác, không tập trung chú ý; nếu cứ đi đi, lại lại như con gấu bị nhốt trong lồng sắt, như có t}m sự gì đó, thì đó l{ động tác biểu trưng cho tâm lý sốt ruột.
3. C|c động tác khác
Khi nói chuyện, tư thế của đối phương quả thật đều có một số quy luật rất đ|ng được chú ý. Chẳng hạn khi đối phương trong lòng bất an hoặc có }m mưu gì đó không thể nói cho người khác biết, thì tư thế của anh ta chắc chắn sẽ không thể không có thay đổi gì, độ nghiêng của người chắc chắn sẽ lớn hơn, hơn nữa đa phần là nghiêng về phía trước.
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA CÁCH NÓI CHUYỆN
Muốn tìm hiểu tâm lý hay tính cách của một người, ph|n đo|n qua c|ch thức nói chuyện cüng l{ một phương ph|p. Nhất là giọng nói, qua giọng nói có thể trực tiếp hiểu được nơi sinh của người đó; qua c|ch dùng từ của anh ta cüng có thể hiểu được môi trường gia đình nơi anh ta lớn lên. Chẳng hạn, có người bình thường khi tiếp xúc với bạn bè, thường dùng c|ch xưng hô kh| tuỳ tiện như “ông gi{ mình”, “b{ gi{ mình” để gọi bố mẹ, nhưng một khi gọi điện thoại về nhà cho bố mẹ, thì lại l{m cho người khác bất ngờ khi xưng hô một cách lễ phép “bố”, “mẹ”, hơn nữa còn nói chuyện một cách khiêm tốn kính cẩn. Từ đó có thể thấy được sự gi|o dưỡng trong gia đình anh ta l{ rất nghiêm khắc. Có người trong khi nói cười với một số người, ho{n to{n không để ý đến người đối thoại, họ thường xuyên chen ngang ngắt lời người khác, loại người n{y đa phần là coi mình làm trung tâm, vì vậy việc gì cüng h{nh động theo suy nghĩ của mình, loại người đó có tính c|ch tự đại, tuỳ tiện. Còn có một loại người thuộc “loại tiêu cực”, một khi câu chuyện của mình bị ngắt quãng thì phẫn nộ và không bày tỏ ý kiến quan điểm nữa, loại người n{y trong lòng thường bất mãn.
Tương tự, khi hai người không quen biết ngồi cùng nhau, thì sẽ có người tập trung cố gắng để chủ đề câu chuyện được tiếp tục. Nếu vì khoảng cách chênh lệch về tuổi tác, môi trường xã hội, nghề nghiệp kh|c nhau, không tìm được chủ đề nói chuyện chung m{ thường xuất hiện tình trạng im lặng, ngắt quãng, thì sẽ có người tìm ra chủ đề nói chuyện, hơn nữa họ luôn đưa ra chủ đề nói chuyện để cố tránh bầu không khí ngượng ngùng, loại người này thuộc “loại hình x~ giao” có khả năng điều ho{. Ngược lại, cüng trong bầu không khí, môi
trường như vậy nhưng lại không tìm được đề tài nói chuyện, loại người như vậy thuộc “loại không xã giao”; nếu không phải là loại người lực bất tòng tâm, thì là loại người “tự cao tự đại”.
Trên thực tế, nếu muốn dùng kỹ thuật đọc lòng người để hiểu được tâm lý của người khác, thì từ một số thông tin hay quan sát nhỏ n{o đó l{ có thể hiểu được nhiều điều. Chẳng hạn: Phương ph|p phụ hoạ, khích lệ trong khi nói chuyện cüng mỗi người mỗi kh|c; ví như “chẳng phải vậy sao?” “ừ” hoặc gật đầu bày tỏ sự tán thành, loại người như vậy l{ đ|ng tin cậy có suy nghĩ chín chắn; còn những người luôn gật đầu, nói liên tục “ừ! ừ!” hoặc “đúng! đúng!”, tung hứng một cách vội vàng, tất nhiên loại người này có khả năng điều hoà và thoả hiệp, nhưng cüng có một số người thuộc loại nóng vội, không suy xét.
Tóm lại, nếu không quên luôn luôn “quan s|t” những người xung quanh, v{ có đầy đủ những kiến thức kỹ xảo đọc lòng người, thì sẽ có thể qua cử chỉ, động tác, thói quen, suy nghĩ thường ngày của người khác mà dễ dàng nắm bắt được diễn biến tâm lý hoặc tình cảm của đối phương.
NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI QUA THÓI QUEN
Mỗi người hoặc ít hoặc nhiều đều có một số nhược điểm và thói quen khó có thể tránh khỏi, Nếu tự khoe rằng mình không hề có khuyết điểm n{o, thì đó l{ kiêu căng ngạo mạn. Lo{i người không thể tách rời khỏi những tật xấu, những thói quen; có người khi suy nghĩ hoặc chăm chú đọc sách thường hay cạy móng tay; có người uống rượu vào thì trở nên cởi mở, huyên náo hoặc trở nên u uất; có người khi nói chuyện với người khác lại vô tình ngoáy lỗ müi, sau khi vuốt vuốt tóc rồi lại ngửi, hoặc dùng ngón tay gõ kêu l|ch c|ch; có người khi nói chuyện với người ngo{i thì động tác rất hay phô trương. Những trường hợp như vậy quả thực không đếm xuể.
Về phía nữ, có những phụ nữ nói chuyện nhất định phải dùng lòng b{n tay đỡ lấy má, không ít phụ nữ có thói quen này; có những phụ nữ trong trường hợp không nên cười thì lại l{m động tác lấy tay che miệng... trong tầng sâu tâm lý, những người này có những tâm trạng cực kỳ phức tạp, vì vậy thường không tự tin khi đứng trước người kh|c. Hơn nữa, có những phụ nữ còn có thói quen xấu là túm chặt vạt v|y trước. Khi gặp phải động tác này của đối phương trong lúc nói chuyện, đ{n ông sẽ cảm thấy mình dường như bị người khác nghi ngờ là thằng cha háo sắc, từ đó cảm thấy cực kỳ khó chịu trong lòng. Cách làm thái quá của cô ta ngược lại l{m cho người khác cảm thấy liệu có phải cô ta muốn người khác ngắm mình? Loại phụ nữ như vậy phần lớn là nhạy cảm. Nếu từ trước bạn cho rằng cô ta l{ người trung trinh, đ|ng được kính trọng, thì có thể bất ngờ phát hiện về mặt đó cô ta lại rất tuỳ tiện. Kết quả là loại phụ nữ đó rất dễ trở thành con mồi của những người giỏi thuật đọc lòng người.
Ghi nhớ tật xấu hoặc thói quen của người khác thì có thể biết được người đó có t}m trạng gì. Bạn hãy chú ý tới xung quanh mình, chắc chắn sẽ bất ngờ khi phát hiện thấy có rất nhiều người như vậy. Những tật xấu thường thể hiện vào lúc anh ta vô tình nhất, nếu ngầm chú ý, thì có thể dễ dàng hiểu được tâm lý của anh ta.
ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI ĐỌC TÂM LÝ
Người có thể đọc chuẩn x|c đối phương cüng l{ người có kỹ thuật đọc lòng người, thông thường có những điều kiện dưới đ}y:
Thứ nhất l{ đặc biệt giỏi vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm. Người thuộc loại này đa phần là những nhà doanh nghiệp lớn giỏi việc kinh doanh, do họ tiếp xúc lâu ngày với nhiều loại nhân viên nên càng hiểu rõ cách quản lý nhân sự.
Thuật đọc t}m lý có được nhờ dựa vào trực giác (giác quan thứ sáu). Phải l{ người có trực giác nhạy bén thì mới nắm bắt được tâm lý của đối phương một cách chuẩn xác, vì vậy mới có thể l{m được công việc quản lý nhân sự, làm cho công ty vận hành kinh doanh thuận lợi.
Thứ hai là có thể khống chế bản thân. Cái gọi là tự kiềm chế, tuyệt không phải là cố ý ức chế bản th}n trong c|c trường hợp tiếp xúc với người khác. Thật sự tự khống chế mình là bất kể trong trường hợp n{o cüng đều có thể khống chế tâm trạng tình cảm của mình.
Chỉ có sự khống chế trạng thái tình cảm của mình như vậy thì mới không quan sát sự việc một cách quá chủ quan, mà tìm hiểu trái tim của đối phương với một con mắt tinh tường, kh|ch quan. Đ}y cüng chính l{ nguyên nh}n tại sao những ngườitu dưỡng tâm tính có thể tự kiềm chế bản thân, các bậc thiền tăng có thể đạt đến sự ngộ đạo. Song kiểu tự khống chế bản thân này không phải chỉ có các bậc thiền tăng mới có thể l{m được, người bình thường chỉ cần bỏ chút thời gian luyện tập, cùng với sở thích của mình thì cüng có thể đạt tới trình độ đó.
Điều kiện thứ ba là phải bồi dưỡng kiến thức về mặt tâm lý học. Ngôn ngữ h{nh động của một người tiêu biểu cho ý chí của người đó, vì vậy muốn hiểu được đối phương, chỉ cần quan sát ngôn ngữ cử chỉ của họ là có thể thấy rất rõ.
Sau khi nhận thức được những kiến thức về tâm lý này, quan sát ngôn ngữ cử chỉ của người khác, bạn có thể hiểu được những ngôn ngữ cử chỉ đó l{ sản phẩm của ý chí của bản th}n người đó. Nói ngược lại, cần nhìn rõ những ngôn ngữ cử chỉ đ~ bị bóp méo, uốn cong, bị tô vẽ, thì mới có thể đọc ra được suy nghĩ thật trong lòng người khác.
Vì vậy, chỉ có dùng kiến thức về mặt tâm lý học để quan sát thì mới có thể nắm bắt tâm lý người khác một c|ch chính x|c hơn.
VỨT BỎ ĐI ẤN TƯỢNG BAN ĐẦU
Chúng ta đều l{ người, nhưng tại sao lại có những lúc không thể nào nắm bắt một cách chính xác tâm lý của đối phương, thậm chí thường hay xảy ra hiểu nhầm? V{ điều đó khó tránh khỏi gây ra sự bất an và cảm giác không vui. Vì vậy phải để “van an to{n” trong lòng - cơ chế tự phòng vệ phát huy tác dụng, đó l{ dùng những hình thức kh|c để thay thế sự bất an và cảm gi|c không vui đó.
Do tác dụng của cơ chế phòng vệ nảy sinh trong mỗi người mỗi kh|c, hơn nữa còn tuỳ từng trường hợp khác nhau mà có những thay đổi. Qua đó, giữa người với người mới dễ sinh ra hiểu nhầm.
Những người sống ở đô thị quả thực cực kỳ dễ bị kích thích bởi môi trường bên ngoài, vì vậy người thành phố cần thường xuyên để cho “van an to{n” nội tâm của mình phát huy tác dụng, thì mới có thể giữ được cân bằng. Hay nói một cách khác, tức là bao bọc nội tâm của mình lại từng lớp, từng lớp một, để cho mình trở nên phức tạp hơn, l{m cho người khác khó có thể nắm bắt được mình.
Chúng ta thường nghe thấy những người nh{ quê chê người thành phố như: “Người thành phố qu| thông minh đi...”, c}u nói n{y h{m ý nói tr|i tim của người thành phố khó có thể hiểu nổi. Vì vậy nếu muốn hiểu được trái tim của người thành phố, thì phải cắt bỏ đi tầng tầng, lớp lớp ngụy trang nội tâm, dùng con mắt kh|ch quan để quan sát người khác, như thế mới có thể nhìn thấu tâm lý của người thành phố.
Một bí quyết khác trong thuật đọc lòng người là vứt bỏ đi ấn tượng đầu tiên sai lệch. Ấn tượng đầu tiên của chúng ta được nảy sinh qua 5 loại nhân tố.
1. Khuynh hướng mở rộng thời gian.
Là dùng sự việc trước mắt để giải thích với quan điểm mang tính lâu dài. Chẳng hạn căn cứ vào hiện tượng tạm thời về “điệu cười” của đối phương để đo|n định đối phương l{ một người “tốt bụng vui tính”.
2. Khuynh hướng căn cứ vào những kinh nghiệm trước đ}y.
Căn cứ vào kinh nghiệm giao tiếp với một số nhân vật nhất định n{o đó trước đ}y của mình, từ đó |p dụng tương tự đối với những người mình gặp sau này. Chẳng hạn trước đ}y bạn tiếp xúc với anh A, anh A tính thế n{y, sau đó bạn thấy anh A và anh B tiếp xúc với nhau, vì vậy bạn ph|n đo|n rằng tính cách anh B chắc chắn là giống anh A.
3. Khuynh hướng phạm trù.
Thường căn cứ vào phạm trù n{y để suy diễn phạm trù kia. Chẳng hạn căn cứ vào tuổi tác, thân hình của đối phương để ph|n đo|n, cho rằng đối phương l{ người trầm tính, nhưng thể lực không tốt.
4. Suy đo|n căn cứ v{o đặc tính chức năng.
Chẳng hạn cái miệng l{ dùng để nói, vì vậy qua đó cho rằng những người miệng nhỏ là người “th}m trầm ít nói”; hoặc thấy một người rất có tài và giỏi thu hút mọi người, thì suy đo|n anh ta l{ “rất thông minh”; hoặc cho rằng những người đeo kính nhất định l{ người “thông minh v{ chịu khó”.
5. Bình thường hoá sự so sánh.
Chẳng hạn có ai đó g}y cho người khác ấn tượng đầu bù tóc rối, da dẻ xù xì, thì cho rằng anh ta có cá tính thô lỗ.
Đôi khi, những ấn tượng ban đầu hoàn toàn sai lệch so với bản chất con người thật của đối phương. Cần chú ý “mặt tr|i” của ấn tượng ban đầu trong việc nhìn thấu lòng người.
SỰ THỰC HƯ CỦA TH\I ĐỘ
Do động thái tâm lý của con người có thể được thể hiện qua th|i độ nét mặt, vì vậy căn cứ v{o th|i độ nét mặt của đối phương có thể ph|n đo|n được đối phương đang ở vào trạng thái tình cảm n{o. Nhưng điều đ|ng chú ý l{ nét mặt v{ th|i độ của đối phương cüng giống như lời nói m{ chúng ta đ~ nói ở trên, thường luôn được tu sửa chỉnh lý, Vì vậy cüng còn cần phải suy xét đến tính chân thực của nó.Chẳng hạn, khi chúng ta hỏi thăm bạn bè về tình hình gần đ}y, đối phương chắc chắn sẽ nhíu m{y nói: “Ch{? Bận chết đi được, ngày nào cüng cảm thấy thiếu thời gian”. Bề ngo{i thì như thế, nhưng chỉ cần quan sát kỹ th|i độ của anh ta, thì có thể phát hiện thấy rằng anh ta miệng thì nói vậy nhưng trong bụng lại suy nghĩ khác.
Vì ý nghĩ thật sự của đối phương l{ muốn tỏ ra “Tôi đang đảm nhận chức vụ v{ địa vị quan trọng, vì vậy quý trọng từng phút từng gi}y”, đ}y mới l{ suy nghĩ thật của anh ta.
Nhưng ngược lại, cüng có một số người lại không muốn bày tỏ tình cảm hay động thái tâm lý của mình ra ngoài, những người này là loại người có “bộ mặt tú lơ khơ”.
Quả thực, một người nếu không biểu lộ ra ngo{i động thái tâm lý, thì rất khó đo|n ra được rốt cuộc anh ta đang nghĩ gì.
Ngoài ra, khi một người lạ gọi điện thoại tới, tuy chúng ta nghe được giọng của đối phương, nhưng lại không trông thấy con người đối phương, vì vậy cüng chẳng thể nào suy đo|n được tâm lý của đối phương qua th|i độ nét mặt của anh ta, lúc n{y cüng l{m cho người ta cảm thấy bất an.
Từ đó có thể thấy, ngoài lời nói của đối phương ra, chúng ta cüng có thể dựa vào nét mặt, th|i độ của đối phương để hiểu được tâm lý của đối phương.
Những người coi mình là trung tâm Khi tiếp xúc với người kh|c, thông thường người l{m cho người khác cảm thấy không vui có mấy loại dưới đ}y:
1. Những người dùng chủ đề lấy mình làm trung tâm
2. Những người coi thường người khác, thích tự khoe mình.
3. Những người chỉ biết nói xấu người khác.
4. Những người cố chấp bảo thủ, ép buộc người khác chấp nhận ý kiến của mình. 5. Những người chỉ biết nói những lời tâng bốc, a dua nịnh nọt.
6. Những người không lắng nghe người khác nói.
7. Những người bụng dạ không ngay thẳng, chỉ biết phản đối ý kiến của người khác.
8. Những người tự kiêu, coi kẻ khác là ngốc nghếch.
9. Những người việc gì cüng muốn ỷ lại người khác.
10. Những người không biết giữ bí mật, hơn nữa thích tung tin đồn đại. Tóm lại, những loại người l{m cho người khác ghét bỏ nói trên hầu hết đều l{ người luôn coi mình là trung tâm. Loại người n{y thường chỉ quan t}m đến bản thân, không quan t}m đến người kh|c, hơn nữa cüng không biết suy nghĩ, thậm chí không biết đồng tình, thông cảm với người khác. Tất nhiên, loại người này có thể có ý bày tỏ sự thân thiện với người khác, thậm chí còn muốn duy trì quan hệ giao tiếp tốt đẹp, nhưng vì việc gì cüng lấy mình l{m trung t}m, như thế, tất nhiên chẳng thể nào nắm bắt được tâm ý của đối phương, mà dễ nảy sinh xung đột với người khác. Vì vậy bạn bè bên cạnh những người này luôn luôn thay đổi, họ cüng rất khó có những người bạn thật lòng.
“TUYỆT ĐỐI” CHO THẤY NHỮNG GÌ
“Tuyệt đối” vốn là từ dùng để nhấn mạnh không có cái gì có thể sánh ngang với nó, nhưng trong cuộc sống thường ngày, ý tứ m{ con người dùng từ “tuyệt đối” để biểu đạt lại giảm nhẹ mức độ mạnh mẽ mà nó vốn có.
Ở nơi l{m việc, chúng ta thường nghe thấy có những người hơi một tý l{ nói: “Thưa anh, em cho rằng tuyệt đối chỉ có cách này là ổn...”.
Chúng ta có thể hiểu được, từ “tuyệt đối” của những người này chẳng qua chỉ là nói thẳng với người khác rằng khả năng của tôi chỉ có như vậy vì thế ngo{i c|ch n{y ra “chẳng có cách nào khác cả”, do suy nghĩ của những người n{y đều là lấy mình làm trung tâm, vì vậy họ chỉ có thể đưa v{o tầm nhìn chủ quan, hẹp hòi của mình.
Loại người này không thể đứng ở lập trường của người kh|c để suy nghĩ, tất cả những suy nghĩ của họ đều l{ độc đo|n, đều là cho mình, vì vậy, có thể nói loại người này là những nhân vật ngạo mạn.
Có người sử dụng từ “tuyệt đối”, ngo{i việc có thể coi là cớ để chứng minh hay phòng vệ cho mình, còn có thể coi là tấm lá chắn dùng khi mình có lỗi lầm gì đó. Chẳng hạn “từ nay về sau tôi tuyệt đối sẽ không tái phạm nữa”, dùng c|ch thề thốt để làm cho mình tránh khỏi bị tổn thương. Tuy có thể họ biết quá rõ rằng “mình tuyệt đối không thể không tái phạm”.
TÂM LÝ Ỷ LẠI
Chúng ta thường có thể nghe thấy một người n{o đó ph{n n{n rằng: “Anh ch{ng X quả thực quá lạnh lùng”. Sau khi chúng ta giao tiếp với anh chàng X kia, có thể cüng ph|t hiện thấy quả thực có điểm như anh ta đ~ nói, nhưng xét một cách tỉ mỉ, phần lớn lại không khớp với lời phê bình, người đó không phải là một người “lạnh lùng”.
Tại sao lại có thể nảy sinh sự hiểu nhầm này?
Sở dĩ có người n{o đó phê ph|n đối phương qu| “lạnh lùng, thực ra l{ vì người đó qu| trông đợi v{o đối phương, một khi không được như những gì mình trông đợi, lúc đó sẽ trở th{nh lý do để phàn nàn anh ta. Từ đó có thể thấy người đó mong đợi anh ta quan tâm tới họ hơn nữa, lấy họ làm trọng tâm, hay nói c|ch kh|c, người đó muốn đối phương có sự biểu
đạt “t}m lý ỷ lại” đối với mình.
Thường những người luôn ph{n n{n người kh|c “qu| lạnh lùng” l{ những người mà mọi việc của anh ta đều có người khác lo lắng cho. Vì vậy, họ cüng quen ỷ lại v{o người khác.
Bên cạnh đó có một loại người tuy không đòi hỏi người khác việc gì cüng chuẩn bị chu đ|o cho mình, nhưng do mới bước vào xã hội không lâu, ngoài cảm gi|c cô đơn, còn có cảm giác trống rỗng không biết nương tựa vào ai. Chẳng hạn, hai, ba người rủ nhau tới hàng quà vặt hoặc qu|n rượu để uống rượu. Khi đối phương không hiểu được t}m lý cô đơn của người trẻ tuổi mà tạm biệt không chút thương cảm, thì họ sẽ cho rằng: “Anh l{ bạn thân của tôi, nhưng lại lạnh nhạt với tôi như vậy đấy”. Loại người này rất dễ coi người kh|c l{ đối tượng thân mật, bề trên kính yêu, hoặc bạn th}n, đ{n anh đ|ng kính. Một khi không được thoả mãn tâm lý thì họ lại không suy xét gì đến điều kiện của đối phương, m{ thường kêu ca phàn nàn, hoàn toàn không hề thông cảm với đối phương.
HÒA GIẢI SỰ HIỂU NHẦM
Giữa bạn bè, dù thân thiết đến đ}u cüng có thể có những va chạm v{ xung đột. Trong trường hợp đó, có người lại không suy nghĩ một cách cẩn thận diễn biến sự việc, nhằm tìm hiểu nguyên nhân của mâu thuẫn đ~ cho qua v{ yêu cầu đòi hỏi đối phương: “Ch{! Việc lần trước coi như l{ đ~ qua, đừng nhắc đến nó nữa”, hoặc tuyên bố: “Chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu”. Họ không biết giải quyết một cách thực chất mâu thuẫn xung đột giữa hai bên mà đ~ vội đề nghị hoà hợp như ban đầu, gượng ép qu| cüng không nên. Một loại người khác đưa ra lời đề nghị hoà hợp l{ do trong lòng ngượng ngùng, xấu hổ, có cảm giác tội lỗi, cảm thấy mình đuối lý, vì vậy mới hạ mình trước đối phương, đề nghị “Việc đ~ qua h~y để cho nó qua!”.
Tất nhiên, người được đề nghị hoà hợp, tuy trong bụng khó tránh khỏi còn đôi chút phật lòng, cüng sẽ vì thế mà bỗng trở nên vui vẻ, cảm thấy đối phương l{ người rộng lượng, có düng khí, từ đó có cảm tình với anh ta.
Giữa những đồng nghiệp cùng làm việc với nhau, hoặc c|c đôi tình nh}n, c|c cặp vợ chồng cüng thường xảy ra những sự hiểu nhầm nhỏ hoặc bất đồng ý kiến. Nhưng nếu vì thế mà trong bụng cứ oán hận mãi, thì quan hệ giữa đôi bên sẽ ngày càng xấu đi.
Vì vậy, muốn giải toả mối quan hệ lạnh nhạt, thì tạm thời “việc cü không nhắc” l{ vô cùng quan trọng. Không để bụng những việc đ~ qua, đồng thời coi “chuyện cü cho qua”, thì mới có thể có hy vọng trở lại tốt đẹp được.
Còn người thường xuyên dùng những c}u như “chuyện cü cho qua” hoặc “l{m lại từ đầu” rốt cuộc có trạng thái tâm lý ra sao? Những người đ~ quen dùng những lời này, có thể lại thường l{ người hay gây ra tranh chấp. Sống trong xã hội quan hệ giao tiếp vô cùng phức tạp như ng{y nay, chúng ta khó tr|nh khỏi việc xảy ra tranh chấp với người kh|c. Nhưng vấn đề l{ phương thức “chuyện cü cho qua” m{ loại người n{y thường xuyên áp dụng để lấp đầy quan hệ giao tiếp tạm thời bị phá vỡ lại đ|ng phải bàn thêm.
Họ dễ dàng vận dụng phương thức giải quyết vấn đề “cho qua” n{y, nhưng lại coi thường việc trong lòng vẫn còn những nút thắt khó có thể cởi bỏ. Bề ngoài xem ra họ đ~ khôi phục quan hệ với đối phương, hơn nữa cüng đ~ không nhớ chuyện cü, tỏ ra hoàn toàn vô sự. nhưng thật ra con người có dễ dàng bỏ qua chuyện cü như vậy hay không?
Một người nếu quả thật ho{n to{n không để bụng những bất đồng đ~ qua, thì anh ta sẽ không nói “chuyện cü cho qua”. Chỉ cần anh ta nói ra những lời như vậy, đ~ cho thấy chắc chắn trong lòng anh ta còn để ý tới chuyện đó, vì vậy mới cố ý nói ra lời này.
Căn cứ v{o điểm này, chúng ta có thể thấy rằng nhiều khi những lời m{ người đó nói không phải l{ nói vì đối phương, m{ l{ vì mình. Hay nói c|ch kh|c, trong lòng anh ta vẫn còn sự phẫn nộ, ghét bỏ, ác cảm. Để tránh bị người khác phát giác ra tâm trạng này, nhằm che giấu sự bất an của mình, anh ta vì thế hơi một chút đ~ nói “chuyện đ~ qua thì khỏi cần nhắc tới nữa”. Đ}y chính l{ điều cho thấy tâm lý cố gắng dồn nén của anh ta.
Những người lạm dụng những ngôn từ n{y thường xuyên phải dồn nén tâm trạng của mình, tuy bản thân anh ta có lẽ cüng chưa từng ý thức được, nhưng nguồn năng lượng dồn nén này vô hình trung cứ tích tụ dần, một khi lượng tích tụ tăng mạnh, thì sẽ chuyển thành tình cảm oán hận và bột phát ra, vì vậy chúng ta không thể coi nhẹ tâm ý của loại người này.
Dù là quan hệ giao tiếp tốt đẹp đến đ}u, cüng khó tr|nh khỏi bị phá vỡ bởi sự hiểu nhầm hay bất đồng ý kiến, nhưng chỉ cần tìm cách hiểu được thành ý của nhau, tôn trọng ý kiến của đối phương, thì không những hoá giải được sự hiểu nhầm, mà còn có thể thúc đẩy quan hệ đôi bên ph|t triển. Không nên quá lạm dụng khuynh hướng “chuyện cü cho qua”.
KHUYNH HƯỚNG TÂM LÝ CHUNG CỦA CON NGƯỜI Một nhà tâm thần học Thuỵ Sĩ đ~ căn cứ v{o khuynh hướng tâm lý nói chung của con người để phân loại cá tính của từng người. Cái mà ông gọi l{ “khuynh hướng tâm lý nói chung”, được căn cứ v{o suy nghĩ, tình cảm, cảm giác, trực giác của con người để quyết định. Theo ông, cá tính của con người không ngoài 8 loại dưới đ}y:
1. Loại suy nghĩ hướng ngoại: Loại người n{y thường xem xét sự việc qua sự thực khách quan.
2. Loại tình cảm hướng ngoại: Loại người làm việc theo tình cảm.
3. Loại cảm gi|c hướng ngoại: Người theo chủ nghĩa thực dụng.
4. Loại trực gi|c hướng ngoại: Đầy hy vọng v{o tương lai, thường tìm kiếm những khả năng mới, đối với bất kỳ cuộc sống n{o trước mắt cüng đều coi l{ địa ngục (không bằng lòng với cuộc sống trước mắt).
5. Loại suy nghĩ hướng nội: Việc gì cüng giữ suy nghĩ chủ quan.
6. Loại tình cảm hướng nội: Dùng chủ quan của mình để tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài.
7. Loại cảm gi|c hướng nội: Dùng chủ quan của mình để tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài.
8. Loại trực gi|c hướng nội: Các nhà viễn tưởng, nhà nghệ thuật, nh{ tiên tri, đều thuộc loại này.
Những năm gần đ}y, khi b{n tới cá tính, hai từ “hướng nội”, “hướng ngoại” được dùng nhiều nhất, mọi người thường chỉ biết rằng “hướng nội” l{ “trầm lặng ít nói”. Một nhà tâm lý học người Mỹ thì lại không dùng từ “hướng nội”, “hướng ngoại”, m{ dùng sự mạnh, yếu của khuynh hướng đ{n ông hay khuynh hướng phụ nữ, qua đó để đo|n định “tính c|ch” của
một người là thuộc tính đ{n ông hay phụ nữ.
CÁ TÍNH LÀNH MẠNH
Khi nói tới “c| tính”, có người hỏi: Thế nào mới được coi là một cá tính lành mạnh? Muốn trả lời vấn đề n{y, dường như l{ phải dùng rất nhiều lý luận.
Một cuốn s|ch đ~ từng đưa ra mấy luận điểm dưới đ}y, coi đó l{ cơ sở của một cá tính lành mạnh:
1. Cần có tính nhất quán. Bạn của ngày hôm nay, so với bạn của ngày mai cần phải như nhau. Đó không phải l{ hôm nay ăn hai b|t cơm, ng{y mai cüng phải ăn hai b|t cơm, nhưng làm bất cứ điều gì cüng đừng để người khác có cảm gi|c “không thể nắm bắt được” kiểu “lúc thế này, lúc thế kh|c” hay “sớm nắng, chiều mưa”.
2. Cần có tính mềm dẻo thích hợp. Điều n{y có nghĩa l{ c| tính của chúng ta cần phải có khả năng thích ứng và thích hợp với hoàn cảnh.
Tất nhiên, “mềm dẻo” một c|ch qu| đ|ng cüng l{ một kiểu cá tính không lành mạnh. Một số người ở đ}u, lúc n{o cüng đều có thể nói chuyện và biến người lạ thành bạn bè thân mật được; hoặc việc gì cüng không có chủ kiến của mình, thậm chí mua một thứ gì mà mình
cần dùng cüng phải nghe theo ý kiến của người khác..., đ}y l{ bệnh “qu| thích ứng”, không thể coi là cá tính lành mạnh được.
3. Điểm quan trọng thứ ba của một cá tính lành mạnh là trong cuộc sống xã hội thường ngày, cần phải có tính “đồng điệu nhất định”.
Trong bất kỳ một xã hội ở chế độ n{o cüng đều có yêu cầu tối thiểu của nó, bất kể là về mặt đạo đức, hay về mặt luật pháp. Lấy ví dụ, ở nơi ai cüng mặc quần |o, nhưng bạn không thể vì mình từ đảo Ba - li tới, nơi m{ mọi người đều trần truồng, để không mặc quần áo.
4. Đồng thời, với tính “đồng điệu” cüng cần có tính độc đ|o của mình, tất nhiên đ}y l{ chỉ sự “độc đ|o” trong mọi mặt của cuộc sống, phù hợp với tập quán và phép tắc của xã hội. Ví dụ, khi thấy ai đó mặc một bộ quần áo hợp với bạn, nhiều người sẽ “may một bộ kiểu đó”. Nhưng người có cá tính lành mạnh thì tuy về đại thể bắt chước người đó may một bộ, nhưng lại có sự “s|ng tạo” độc đ|o ở một điểm n{o đó. Theo một nhà tâm lý học, những người th{nh đạt, về mặt c| tính đều có đặc điểm sáng tạo này, thậm chí một thợ may nổi tiếng chắc chắn cüng l{ vì anh ta biết sáng tạo, chứ không phải bắt chước từng chi tiết thiết kế của người khác.
Tất nhiên, kiểu “s|ng tạo” n{y cüng không nên th|i qu|. Chẳng hạn như việc đội một cái mü đặc biệt to, đó chỉ l{ để kh|c người, chứ không coi l{ “s|ng tạo” đúng mực.
5. Xét toàn bộ, “c| tính” cần có tính thống nhất tức là bất kể trong trường hợp n{o, cüng đều đối xử với người khác bằng một th|i độ đúng mực. Chúng ta thường khen những người “l}m nguy m{ không loạn”, chính l{ vì c| tính của loại người này chắc chắn phải có “tính thống nhất”.
12 yếu tố của cá tính
Một chuyên gia khác lại cho rằng cá tính của con người thực tế bao gồm 12 yếu tố, mà trong mỗi yếu tố đều có hai thái cực. 12 yếu tố này và hai cực của nó như sau:
Yếu tố 1: Kiểu phân liệt hay nóng vội.
Yếu tố 2 : Tinh thần bình thường hay tinh thần có vấn đề.
Yếu tố 3: Tình cảm ổn định hay tình cảm không ổn định.
Yếu tố 4: Thích chi phối người khác hay phục tùng người khác.
Yếu tố 5: Dù chí cao hay thấp.
Yếu tố 6: Vượt lên bản th}n hay đầy tính ỷ lại.
Yếu tố 7: Tính cởi mở (xã giao) hay tính khép kín (không thích giao tiếp). Yếu tố 8: Tính mềm mỏng hay ngoan cố.
Yếu tố 9: Tính có văn ho| hay ti tiện.
Yếu tố 10: Dễ tin lời người kh|c hay đầy tính đa nghi.
Yếu tố 11: Rộng lượng hay không rộng lượng.
Yếu tố 12: Trau chuốt hay mộc mạc.
Mỗi yếu tố trên đ}y đều có 2 cực rất dễ nhận biết.
Nghề nghiệp tạo nên thói quen
Một nhà khoa học người Đức nói: “C| tính của con người cüng có thể phân biệt được qua mặt hoạt động xã hội”. Chẳng hạn:
1. Loại kinh tế - người đặc biệt quan t}m đến sự nghiệp hoặc các hoạt động thực lợi khác.
2. Loại lý luận - người tập trung theo đuổi chân lý, hoặc thích đ{m luận mà không vội tìm kiếm sự thực.
3. Loại duy mỹ - người việc gì cüng đòi hỏi sự hài hoà về màu sắc, c|i đẹp, thưởng thức tính khác biệt hơn hẳn mọi thứ.
4. Loại xã hội - người việc gì cüng tin rằng đầu tư tình cảm với người khác là cực kỳ quan trọng.
5. Loại tôn giáo - người đặc biệt hứng thú đối với tôn giáo.
Thói quen có khi không nhất thiết chỉ thuộc về một người, chúng ta thường thấy những người cùng làm một nghề n{o đó, thường có thói quen giống nhau. Đó l{ do môi trường sinh hoạt nghề nghiệp đ~ ảnh hưởng đến họ, giống như những người làm một nghề n{o đó đa phần đều mắc bệnh dạ dày vậy.
Trước đ}y tôi có quen một người bạn làm ở đ{i truyền hình. Anh ta nói rằng c|c đồng nghiệp của mình đều mắc chứng suy nhược thần kinh. Khi tôi hỏi nguyên nhân, anh cho biết: Họ phải làm công việc có sự hạn chế về thời gian, sự hạn chế đó hết sức nghiêm ngặt dẫn đến thần kinh không thể không căng thẳng. Tất nhiên, khi thần kinh bị“căng thẳng” qu| nhiều rồi, tự nhiên sẽ “suy nhược” đi một chút.
Có nhiều ví dụ về nghề nghiệp ảnh hưởng tới thói quen. Qua một hai câu nói bạn có thể đo|n anh ta l{m nghề gì. Chẳng hạn, trước khi chia tay, một người n{o đó hay nói: “C|c vị không còn vấn đề gì nữa chứ?”. Thực ra anh ta nên nói: “Nếu không còn việc gì khác, tôi xin cáo từ”. Bạn nghĩ xem tại sao anh ta lại cứ nói: “C|c vị không còn vấn đề gì nữa chứ?”. Vốn dĩ anh ta l{ gi|o viên, trước khi xuống lớp thường quen nói với học sinh c}u n{y, đó chính l{ đặc trưng nghề nghiệp của anh ta.
CHƯƠNG 3:
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC VÀ VIỆC NHÌN THẤU LÒNG NGƯỜI
QUẢN LÝ VIỆC NẮM BẮT LÒNG NGƯỜI
T
ôi cho rằng là một người quản lý, cần phải có một kỹ xảo là quan sát tâm lý của mọi người, hiểu tính cách con người, nếu không cho dù bạn có là tiến sĩ khoa quản lý thương mại, thì cüng chưa chắc đ~ quản lý tốt nhân công của bạn. Tại sao quan sát tâm lý của mọi người, tìm hiểu tính c|ch con người lại quan trọng như vậy?
Những gì bạn tiếp xúc và quan hệ trong công ty phần lớn l{ con người. L{ người quản lý, nếu bạn không thể nắm bắt được tất cả những điểm vi diệu trong tính cách, tâm lý con người, nhiều khi sẽ đưa ra những quyết định hay phản ứng sai lầm.
Lấy ví dụ, muốn khích lệ một cấp dưới làm việc xuất sắc, thưởng vật chất cố nhiên là có tác dụng nhất định, nhưng thường không bằng biểu dương công khai trước mặt anh ta. Lý do kỳ thực rất giản đơn, vì mọi người đa số đều thích được người khác biểu dương, như thế, anh ta sẽ có được cảm giác thoả mãn về mặt tâm lý và cảm giác tự tôn. Đ}y chính l{ c|i m{ thù lao vật chất hay khen thưởng vật chất không thể thay thế được.
Bạn không cần phải tiêu tốn chút tiền bạc nào, chỉ cần chọn đúng thời gian v{ địa điểm thích hợp, nói với cấp dưới bằng giọng mang tính chất khích lệ: “Lần này cậu làm cực kỳ xuất sắc, xin cảm ơn cậu, hy vọng về sau cậu tiếp tục giữ vững”.
Bằng ánh mắt ngưỡng mộ của những đồng nghiệp khác, chắc chắn cấp dưới của bạn sẽ có được cảm giác tự hào và thoả mãn, những cảm giác ấy có trả bao nhiêu tiền cüng chẳng thể mua được. Đ}y l{ điểm kỳ diệu trong tâm lý của con người!
Trong trường hợp có một người dưới quyền thường xuyên mắc lỗi nhẹ, mà ngày nào bạn cüng quở trách anh ta một lần thì chưa chắc đ~ l{m cho anh ta thay đổi. Bạn cần hiểu ra rằng lỗi nhỏ của cấp dưới đó không dẫn tới vấn đề quá lớn, bạn đừng ngại tốn chút thời gian, kiên nhẫn một chút để hướng dẫn chỉ bảo anh ta, tỏ ra quan tâm tới anh ta, từ từ giúp anh ta cải thiện.
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học cho thấy, phản ứng của mọi người đối với sự quan tâm, khích lệ, dẫn dắt thiện ý của người khác tích cực hơn nhiều so với th|i độ chỉ trích, coi thường.
ĐỀ BẠT NHÂN TÀI
Nhân tài là vốn của xí nghiệp, nếu biết lợi dụng sự nhiệt tình của nh}n viên đối với công việc, đồng thời phát hiện v{ đề bạt nh}n viên đúng lúc, thì cho dù l{ t{i năng khiêm tốn cüng có không ít trường hợp trưởng thành lên nhanh chóng.
Ở Nhật có vô số các nhà doanh nghiệp giữ vị trí l~nh đạo do được đề bạt đúng lúc. Nói chung, những người được đề bạt đều hết sức vui mừng. Nhưng cüng có không ít người do cất nhắc đột ngột, ngược lại sẽ tạo thành áp lực lớn khiến họ không thể nào chịu đựng nổi. Vì vậy, người quản lý trước đó cüng nên tìm hiểu xem người được đề bạt có khả năng chịu
đựng áp lực đột ngột hay không.
Vì vậy, để x|c định trạng thái tâm lý của người được đề bạt, một nhà tâm lý học đ~ đưa ra một kiểu trắc nghiệm tâm lý.
Trước tiên, để hai người cùng làm một việc, sau khi xong việc rồi, trả thù lao cao cho một người, còn người kia thì trả thù lao thấp, mặc dù làm cùng một công việc như nhau, nhưng lại cố ý để xuất hiện sự đ~i ngộ khác biệt.
Qua trắc nghiệm ban đầu cho thấy, người được hưởng thù lao cao không những tự cảm thấy “không vững chắc và có cảm giác tội lỗi”, m{ anh ta còn có sự đ|nh gi| không tốt đối với người đưa ra mức thù lao đó.
Thế nhưng, thí nghiệm bằng m|y đo trắc nghiệm nói dối thì phát hiện thấy người được đ~i ngộ cao không những không có cảm giác tội lỗi, mà có ý muốn mạnh mẽ phấn đấu vì đ~ được “trọng dụng” hơn, trả thù lao cao hơn.
Tóm lại, mọi người tuy về tâm lý có cảm gi|c không thăng bằng đối với việc nhận được đ~i ngộ đặc biệt, nhưng trên thực tế lại có thể có cảm giác thoả m~n vì được cấp trên đ|nh giá cao, thậm chí có sự đ|nh gi| tốt đối với người quản lý.
Vì thế, thù lao cao có thể thu hút được đối phương. Cüng tức là chi trả thù lao cao hơn tiêu chuẩn không chỉ có thể thoả mãn lòng tự tôn của đối phương, đồng thời cüng gi{nh được sự chú ý của đối phương.
Vì vậy, đề bạt l{m cho người đạt được lợi ích sẽ dần dần phát huy tiềm lực do đ~ tìm được điểm tựa và khẳng định được bản thân mình, họ sẽ càng thêm cố gắng hết mình vì người quản lý đ~ hiểu mình.
GÂY CHẤN ĐỘNG LÒNG NGƯỜI
Nhiều người l~nh đạo khi mới tới nhận chức thường thể hiện quyền lực với tất cả mọi người (nhất là cấp dưới), họ thường dùng thủ ph|p ra oai trước, áp chế để xây dựng uy tín của bản th}n, để cho mọi người biết được “ngón đòn” của anh ta. Trong nghệ thuật lãnh
đạo, phương ph|p n{y rất hữu hiệu. Tất nhiên, không loại trừ cá biệt cấp dưới có tâm lý phản kháng nhất định, nhưng cüng chỉ đừng ở chỗ phẫn nộ mà không dám nói.
Trong cuốn “chính trị thân thể”, Pha-en đ~ dẫn ra trường hợp gi|m đốc mới được bổ nhiệm là Sa-na của chi nhánh công ty thuộc một doanh nghiệp quy mô lớn để làm ví dụ nói lên tầm quan trọng của việc ra tay trước. Chi nh|nh công ty n{y đang đứng trước nguy cơ đổ bể, nhiệm vụ của Sa-na chính là làm cho nó sống lại. Khỏi phải nói, đó l{ một trách nhiệm đầy khó khăn, nhưng nếu Sa-na thành công, hoàn thành nhiệm vụ này, thì tự nhiên uy tín sẽ tăng lên rất nhiều, bước đường tương lai sẽ là vô hạn. Suy nghĩ như vậy nên Sa-na quyết định tập trung hết sức vào công việc đó.
Lúc đó tình hình của công ty rối bời, hơn nữa nam giới nắm các quyền lớn, Sa-na muốn thi thố t{i năng trong môi trường đó quả thật vô cùng khó, nhưng cô hoàn toàn không nản lòng. Xin h~y xem c|c bước đi m{ Sa-na áp dụng.
Trước khi vào làm việc chính thức, cô quyết định triệu tập một cuộc họp, đồng thời gọi điện tới chi nhánh công ty nói cô sẽ tới đó trong vòng 3 tiếng đồng hồ nữa. Cô đ~ chuẩn bị đầy đủ cho cuộc ra mắt n{y, trước tiên cô mua một bộ trang phục nhân viên hành chính cao cấp rất hợp với cô, và còn thuê cả một chiếc áo khoác lông chồn nữa. Cô ngồi ô tô to tới chi nh|nh công ty, đem theo hai nữ thư ký xinh đẹp và ba nam trợ lý đắc lực, dáng vẻ rất tự tin.
Nhưng đó chỉ là dáng vẻ bề ngoài, mục đích l{ để gây thanh thế. Trên thực tế, một tuần trước khi triệu tập cuộc họp này, Sa-na đ~ nghiên cứu tư liệu về 10 vị phó gi|m đốc chính trong chi nhánh công ty, hiểu kỹ càng hoàn cảnh và thành tích công tác của từng người, phát gi|c ra ba người trong số đó l{ “khối u nhọt”.
Đến ngày mở cuộc họp, Sa-na bất ngờ loại bỏ “ba khối u nhọt” kia, tiếp đó tuyên bố kế hoạch và bày tỏ th|i độ với tất cả những người tham gia cuộc họp rằng tất cả những nhân viên gây trở ngại cho công ty đều sẽ bị sa thải.
Sau khi nói xong những lời đó, Sa-na đứng dậy, nói với hai nữ thư ký cô sẽ bố trí từng người đến gặp bàn việc riêng với cô, sau đó liền kho|c |o lên người rời khỏi phòng họp, ba nam trợ lý bước theo sau cô. Sáu tháng sau, nghiệp vụ của công ty đ~ dần dần khởi sắc. Sa na đ~ vận dụng thủ ph|p ra tay trước và cứng rắn, vì vậy đ~ l{m cho công ty n{y sống lại.
BIỂU HIỆN TÂM TRẠNG CỦA CON NGƯỜI
Muốn là một nhà quản lý thành công, có một sự quan sát hiểu biết tính c|ch con người và am hiểu tâm lý là một điều vô cùng quan trọng. Vì trong một cơ quan, ngo{i nghiệp vụ công tác cụ thể ra, cái quan trọng nhất là xử lý những vấn đề liên quan tới con người.
Trước tiên cần phải nói rõ rằng, con người (nhân viên các cấp) không phải là một cỗ máy, không phải là một hệ thống lô gíc, anh ta có thể có lúc vui vẻ, có lúc buồn rầu, thay đổi thất thường cüng giống như thời tiết vậy. L{ người quản lý, cần lưu ý tới những lúc bấp
bênh trong công tác của anh ta. Lấy một ví dụ, anh chàng A vốn luôn chăm chỉ làm việc, gần đ}y lại ho{n to{n tr|i ngược, suốt ngày anh ta ủ rü, hơn nữa đôi lúc anh ta còn c|u gắt.
Một nhà quản lý do sơ ý, không biết quan tâm tới cấp dưới có thể sẽ không hỏi lý do và trách cứ người cấp dưới n{y; nhưng một nhà quản lý có sự hiểu biết về tâm lý thì sẽ áp dụng phương ph|p tấn công từ bên cạnh, tìm hiểu xem vấn đề của anh ch{ng A đó rốt cục nảy sinh từ đ}u.
Hoá ra cuộc hôn nhân của anh chàng A gần đ}y đ~ tới mức b|o động, vì vậy anh chẳng còn tâm trí làm việc nữa. Đó chỉ là tình trạng nhất thời, không lâu sau sẽ qua đi. Nh{ quản lý có kiến thức sẽ không ngần ngại nói những lời an ủi người cấp dưới đó, hỏi xem anh ta có cần giúp đỡ hay không?. Vì lúc con người ta không được như ý, họ rất cần sự an ủi và quan tâm của người khác, dù chỉ l{ chút ít cüng sẽ l{m cho anh ta xúc động. Sau khi khôi phục lại tâm trạng, anh ta sẽ rất cảm kích trước sự quan tâm của cấp trên đối với anh ta, từ đó anh ta lại càng tích cực làm việc hơn.
Trong khoa học quản lý, có lý luận X và lý luận Y. Lý luận X cho rằng bản tính của con người là ghét làm việc, có cơ hội là cố gắng lẩn tránh công việc; người quản lý nếu muốn cấp dưới làm việc thì về cơ bản chỉ có thể dùng phương ph|p cưỡng chế, trừng phạt để đạt được điều đó. Đ}y l{ lý luận quản lý cü. Còn lý luận Y thì cho rằng mọi người đều có hứng thú đối với công việc, chỉ cần cấp trên biết uỷ thác trách nhiệm cho cấp dưới, làm cho anh ta có được cảm giác thoả mãn trong công việc, cố gắng phát huy hết năng lực cá nhân của anh ta, thì cấp dưới sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách tự động, tự giác. Theo tôi thì cả hai quan điểm n{y đều có sự phiến diện. Con người kỳ thực không phải ưa nh{n rỗi, ghét mệt nhọc, cüng không phải l{ ưa thích công việc đến như vậy (còn phải xem nhân tố vật chất hấp dẫn nhiều hay ít) tùy vào ảnh hưởng của tâm trạng cá nhân mà có những th|i độ kh|c nhau đối với công việc vào những thời điểm kh|c nhau. Người làm quản lý không thể cứ khư khư giữ mãi một quan điểm, mà phải tuỳ lúc, tuỳ chỗ để giải quyết vấn đề của cấp dưới, điều quan trọng nhấtlà phải linh hoạt.
NGHỆ THUẬT PHÊ BÌNH
Đối với nhà quản lý thì nghệ thuật phê bình cấp dưới là một môn học không dễ gì nắm bắt được, nhất là trong thời đại ng{y nay ai ai cüng “phình ra” phê bình hay tr|ch cứ không x|c đ|ng hoặc thái quá, mọi người nói chung đều không muốn chấp nhận, thậm chí có thể còn phản đối lại, v{ như vậy đôi bên đều lâm vào tình thế khó xử. Nhà tâm lý học J.Stephen Morkis đ~ viết một bài ngắn với đầu đề: “Phê bình cấp dưới của bạn” đăng trên chuyên mục quản lý của tờ “thời báo phố Wall”, đề cập tới những điều t}m đắc của ông trong vấn đề này.
Morkis đ~ đưa ra năm bước, cho rằng nhân viên quản lý đừng ngại áp dụng phê bình cấp dưới. Vậy năm bước đó l{ những bước gì? Morkis viết như sau:
Bước thứ nhất: Nói thẳng v{o đề. Tuyệt đối không nên vòng vo. Cần bỏ qua những lời m{o đầu vô nghĩa, đi thẳng vào vấn đề. Một số người l~nh đạo cấp trên trước khi phê bình cấp dưới thường luôn nói những “Lời mở đầu chẳng liên quan gì cả, hy vọng qua đó để làm
dịu bầu không khí căng thẳng sắp đến. Morkis cho rằng l{m như vậy ngược lại sẽ l{m tăng thêm tâm trạng bất an của cả đôi bên, chi bằng hãy thẳng thắn, nói thẳng vào vấn đề.
Bước thứ hai: Trình bày sự việc bằng c|ch nói năng nhẹ nhàng, nói cho anh ta biết một cách khách quan hậu quả do việc làm sai lầm của anh ta đem lại. Một khi l{m như vậy, cấp dưới tự nhiên sẽ không cảm thấy bị uy hiếp, từ đó để tiếp thu và sửa chữa lỗi lầm.
Bước thứ ba: Vận dụng kỹ xảo lắng nghe chủ động, khích lệ cấp dưới để anh ta nói ra vấn đề của mình một cách thoải mái cởi mở, đừng “bóp nghẹt” anh ta, như vậy sẽ có lợi đối với cả đôi bên. Tối thiểu thì kẻ mắc lỗi sẽ không tranh cãi cho mình một cách cố chấp.
Bước thứ tư. Đôi bên có sự “nhận thức chung” đối với phương ph|p giải quyết vấn đề. Nếu cấp dưới không chịu thừa nhận vấn đề với bạn, thì cüng sẽ không xuất hiện phương pháp giải quyết. Chỉ khi đôi bên đều tiếp nhận sự tồn tại của vấn đề thì mới có thể hợp lực tìm kiếm phương ph|p giải quyết.
Bước thứ năm: Tổng kết đôi chút về cuộc gặp mặt lần n{y. Để cấp dưới khái quát những điểm chính của cuộc thảo luận v{ phương ph|p giải quyết, sau đó lại định ra một ngày gặp mặt kh|c để cấp dưới báo cáo với bạn tiến triển của sự việc. Khi kết thúc lần gặp này, hãy bảo đảm với cấp dưới rằng bạn muốn gặp gỡ thảo luận với anh ta về tình hình có liên quan vào bất cứ lúc nào.
ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI NẮM QUYỀN
Mọi sự trên thế gian đều l{ tương đối, có nghĩa l{ v{o c|c thời điểm, không gian, hoàn cảnh khác nhau, từng người sẽ có những phản ứng hoặc biểu hiện khác nhau.
Chẳng hạn, khi bạn l{ người đi bộ đứng bên đường chờ đèn giao thông để sang đường, bạn sẽ rất sốt ruột, mong đèn đỏ lập tức chuyển sang xanh ngay. Nhưng khi bạn lái ôâ tô chạy như bay trên đường, chắc chắn bạn sẽ ghét thấy đèn đỏ chuyển sang xanh trên đường đi bộ, vì như thế xe của bạn sẽ phải dừng lại.
Trong môi trường công tác, tình trạng này lại càng phổ biến khi bạn l{ người quản lý, bạn sẽ hy vọng cấp dưới nghe lời, càng ít phiền phức càng tốt; nhưng khi bạn là cấp dưới của người kh|c, thì thường cảm thấy mình luôn bị cấp trên kèm chặt.
Là cấp dưới của kẻ khác, muốn tồn tại được thì có một việc không thể không cố gắng l{m cho được đó l{ chứng minh mình l{ người không thể thiếu.
Chẳng hạn có một số người có trình độ nghiệp vụ, quan hệ đối ngoại tốt, giữ được bí mật nghiệp vụ của công ty..., đó l{ điều kiện tất yếu để “tự bảo vệ mình” để không bị mất việc vào bất cứ lúc nào.
Câu trả lời là: Nếu quả thực bạn có một cấp dưới như thế, thì bạn phải nhanh chóng có biện ph|p thích đ|ng để giảm bớt sự độc tôn của anh ta đi, vì ưu thế độc tôn của anh ta
không phải là chứng minh cho sự thành công của người quản lý là bạn mà là thể hiện sự thất bại của bạn. Trong b{i “Bạn có thể thay thế được hay không”, Everett Suters chỉ ra, trong công ty có người không thể thay thế được là một việc phiền phức đối với cấp trên; vì sự tồn tại của họ có thể làm cho một số vấn đề thông thường chuyển thành tình trạng khẩn cấp, trở th{nh nguy cơ.
Tại sao lại như vậy? Do người cấp dưới này luôn nắm giữ quyền xử lý đối với một số sự việc n{o đó, cả công ty chỉ có anh ta mới biết ngóc ngách của nhiều sự việc, nhưng khi anh ta nghỉ mà những việc đó vẫn cần xử lý gấp thì sẽ gặp khó khăn. L{ cấp trên của anh ta, nhưng bạn cüng bó tay vì không biết rõ ngọn nguồn của sự việc, không thể đưa ra quyết định được, làm cho sự việc đơn giản trở nên phức tạp lên rất nhiều. Điều đó không phải là việc tốt đối với bản th}n người quản lý, đối với công ty và thậm chí đối với cả các nhân viên. Trong trường hợp ấy hãy cho anh ta nghỉ hai tuần, nhưng trước khi anh ta nghỉ, đề nghị anh ta bàn giao lại công việc, đừng để anh ta lộng quyền lâu, trở th{nh người không thể thay thế.
BÁN TÍN BÁN NGHI
Người Trung Quốc có c}u: “Nghe một bên thì tối, nghe hai bên thì s|ng”. Đại ý là nói, chỉ nghe từ một phía thì khó tránh khỏi không nhìn thấy ch}n tướng của sự việc; nếu nghe ý kiến từ nhiều phía thì mới có thể nắm bắt được bản chất thật sự của sự việc. Câu nói này đặc biệt có ý nghĩa đối với người l{m l~nh đạo hoặc ở cấp quản lý. Trong một cơ quan, nh}n sự phức tạp thì ngoài việc phải hiểu được tình hình công tác của các nhân viên bạn còn cần xử lý mối quan hệ nhân sự giữa họ với nhau. Nếu cái sau nảy sinh vấn đề, thì ít nhiều sẽ ảnh hưởng tới công tác của cả một bộ phận.
L{ người quản lý tất nhiên bạn có một số thư ký, trợ lý hoặc trợ thủ đắc lực ở một số lĩnh vực. Một người chẳng thể việc gì cüng tự mình làm hoặc đích th}n tham gia, nhiều lúc con người ta có thể thông qua báo cáo của người thứ hai để nắm bắt nét khái quát của sự việc. Vấn đề là ở chỗ khi một nhà quản lý nhận được ý kiến hoặc thông tin do thư ký, trợ lý trình lên thì nên có th|i độ như thế nào? Thu nạp toàn bộ? Bán tín bán nghi? Hay là không tiếp nhận?
Nếu nhà quản lý tiếp thu bất kỳ ý kiến nào thì chứng tỏ nhà quản lý đó l{ người thiếu khả năng nhận biết. Nếu thông tin tư liệu nhận được là chính xác, vấn đề còn chưa lớn lắm, nhưng nếu là thông tin không chính xác, thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định của nhà quản lý.
Một biểu hiện cực đoan kh|c l{ không tiếp nhận, đ}y cüng không phải l{ th|i độ đúng đắn. Như tôi đ~ nói, một người quản lý không thể chú ý tới từng việc một, mà chỉ có thể thông qua thông tin gián tiếp để biết được một số sự thực n{o đó, sau đó đưa ra quyết định. Ý kiến và thông tin mà cấp dưới cung cấp, phản ánh với nhà quản lý chính là những thông tin mà anh ta dựa vào đó để đưa ra quyết định, nếu anh ta hoàn toàn không tín nhiệm, thì kẻ nếm đắng cay sẽ chính là bản thân anh ta.
Vì vậy tôi cho rằng, th|i độ “b|n tín b|n nghi” l{ kh| thích hợp, thông tin nhận được không nên “thu nhận” một c|ch không suy nghĩ, m{ trước tiên nên dùng đầu óc của mình để ph|n đo|n một chút xem tính chân thực của nó ra sao, người “cung cấp tin tức” cho bạn có đ|ng tin cậy hay không. Nếu điều kiện cho phép, có thể đích th}n dò xét nguồn gốc của thông tin (tất nhiên không thể việc gì cüng phải kiểm tra, chỉ có thể xét nghiệm một vài việc thôi). Nếu là vấn đề có liên quan tới tranh chấp nhân sự thì cần xử lý cẩn thận. Chẳng hạn anh ch{ng A (người kề cận bên cạnh bạn) có một số ân oán cá nhân, anh chàng A nói xấu anh ch{ng B trước mặt bạn, nếu bạn ho{n to{n tin tưởng anh chàng A, thì sẽ làm cho một người phải oan ức. Vì thế cần phải nghe hai tai.
QUẢN LÝ SỰ ĐI LẠI
Ở các công ty lớn của Nhật, phòng làm việc của các nhân viên hành chính cao cấp rất thấp bé và hẹp.
Có lẽ bạn sẽ nghĩ rằng đó l{ do gi| đất ở Tokyo đắt đỏ. Bạn nhầm rồi, đó l{ họ cố ý làm như vậy, mục đích l{ l{m cho c|c nh}n viên h{nh chính cao cấp không vì lý do yên ổn, dễ chịu thoải mái mà ở lâu trong phòng làm việc, mà cần phải thỉnh thoảng bước ra khỏi phòng làm việc, đi lại quan sát các bộ phận trong công ty, tiếp xúc với nhân viên và khách hàng, giúp họ hiểu cụ thể tình hình công ty hơn một chút.
Trong các công ty lớn của nước ngoài, kiểu phương thức quản lý này gọi l{ “quản lý đi lại” (Management By Wadering Around), nó rất thịnh hành, hơn nữa được coi l{ đặc biệt hữu hiệu. Xuất ph|t điểm của lý luận này chắc chắn là không sai. Một nhà quản lý cả ngày đóng kín trong văn phòng đọc duyệt tài liệu, văn kiện, lắng nghe các thông tin từ cấp dưới nhưng đ~ qua s{ng lọc, không biết tình hình thực tế xảy ra bên ngoài chắc chắn sẽ xa rời thực tế, tới khi vấn đề nghiêm trọng xảy ra mới tiến h{nh xem xét thì đ~ qu| muộn!
Trong một cơ quan, thông tin từ trên không xuống được dưới, hoặc từ dưới không lên được trên, giao lưu không thông suốt, bị trì trệ đó l{ vấn đề vô cùng nguy hiểm. Nếu tình trạng này vẫn tiếp tục kéo dài, thì sẽ gây tác dụng rất xấu đối với công ty, đối với nhân viên v{ đối với cả nhà quản lý. Một nhà quản lý nếu “chăm chỉ đi lại” trong công ty, một mặt có thể tạo nên một tấm gương tốt cho cấp dưới, để người khác biết rằng cấp trên không phải là “c|ch biệt với thế giới”, m{ l{ “hiểu rõ d}n tình”. Một mặt khác, việc đó sẽ giúp rất nhiều cho bản thân nhà quản lý, anh ta có thể tận mắt trông thấy tình hình hoạt động thật sự của công ty, của nhân viên, hiểu được vấn đề nảy sinh ra từ đ}u, thậm chí lắng nghe ý kiến của khách hàng, từ đó đưa ra quyết s|ch đúng đắn. Trong “qu| trình đi lại”, anh ta cüng có thể tiếp xúc với các nhân viên thuộc các tầng lớp khác nhau trong nội bộ công ty, lắng nghe tiếng lòng hoặc sự kêu ca của họ, cüng có thể nhân dịp đó cổ vü, t|n dương, khích lệ tinh thần của họ. Ở Nhật có một người được gọi l{ “thần kinh doanh”, ông ta thích nhất là tự mình tới điểm tiêu thụ điện máy của công ty để lắng nghe ý kiến của khách hàng, tìm ra lý do yêu, ghét của họ đối với một loại sản phẩm n{o đó, sau đó ho{n thiện sản phẩm. Có lẽ có người cho rằng với địa vị cao như vậy trong công ty, ông ta chẳng cần phải l{m như thế, nhưng ông ta lại luôn hứng thú với công việc đó.
Nhà quản lý xa rời nội bộ công ty và thế giới hiện thực thì thường sẽ phạm những sai lầm lớn về mặt quyết sách. Lịch sử Trung Quốc còn ghi việc Triệu Kho|t “b{n việc binh trên giấy”, đến khi thực chiến thì thất bại nặng nề đó sao?
B\O Đ\P SỰ QUAN TÂM
Một nh{ m|y động cơ điện của Mỹ thường phải đau đầu vì sự lười biếng của công nhân.
C|c trưởng kíp cuối cùng không chịu được, kêu ca phàn nàn với gi|m đốc nh{ m|y. Để đưa ra đối s|ch, nh{ kinh doanh đ~ triệu tập một cuộc họp cán bộ cấp cao. Nhưng họ vẫn không nghĩ ra được biện pháp nào hay cả.
Một lần, phó tổng gi|m đốc đề nghị một phương |n nhằm cải thiện tình hình chiếu sáng của nh{ m|y. Lý do ông đưa ra l{: “Trước đ}y tình hình chiếu sáng của nh{ m|y chưa tốt, nếu cải tiến l{m cho độ chiếu sáng ở nơi l{m việc đạt đến mức độ lý tưởng, hiệu suất làm việc của công nhân sẽ có thể cải thiện hơn”.
Các cán bộ đang đau đầu vì không nghĩ được biện pháp nào nên tuy có nghi ngờ đối với đề án này, cuối cùng họ vẫn đ{nh phải làm với tâm trạng “cứ thử xem sao”.
Không l}u sau, độ chiếu sáng trong nhà máy bỗng chốc tăng lên gấp đôi. Kết quả là: Thái độ làm việc của công nhân trở nên tích cực, sức sản xuất cüng ng{y c{ng tăng.
Sau mấy tháng thì lại đến lượt nhân viên phụ trách bộ phận tài vụ kêu ca. Tài vụ nói, sau khi tăng độ chiếu sáng, khoản chi tiền điện cüng tăng vọt lên, cứ tiếp tục như vậy e rằng sản lượng tăng chẳng bù được chi phí tiền điện v{ nêu ra phương |n “giảm bớt độ chiếu s|ng”. Do bức bách của thực tế, các cán bộ tuy lo việc đó sẽ dẫn tới sức sản xuất giảm xuống, vẫn cứ phải chấp nhận phương |n của bộ phận tài vụ.
Nhưng sau sự việc trên, th|i độ của công nhân vẫn như cü, việc mà các cán bộ lo lắng trở th{nh “lo bò trắng răng”.
Thực ra đó l{ t}m lý kỳ diệu của con người, tức một người nếu phát hiện thấy người khác có lòng quan t}m đến anh ta, thì anh ta sẽ có t}m lý th|i độ “phải quan tâm tới đối phương” tương ứng.
Lấy trường hợp của nh{ m|y n{y để nói, độ mạnh yếu trong chiếu sáng không phải là vấn đề bức thiết nhất đối với công nh}n, nhưng do nh{ kinh doanh tỏ th|i độ “quan tâm tới điều kiện làm việc của công nh}n”, nên đ~ có sự cải thiện về mặt chiếu sáng, vì thế công nhân mới có phản ứng tích cực đối với phía nhà máy. Về sau tuy độ chiếu sáng giảm đi, nhưng th|i độ hợp tác của công nhân vẫn tiếp tục được giữ như vậy.
Từ đó có thể thấy, người lần đầu tiên gặp gỡ với bạn nếu thường xuyên quan tâm tới bạn, thì điều đó cho thấy anh ta muốn quan hệ tốt với bạn, cüng hy vọng bạn có sự quan t}m tương tự đối với anh ta.
NẮM BẮT TRÁI TIM CỦA CẤP DƯỚI
Có một nhân viên mới vào công ty, anh ta được nhân viên phụ trách nhân sự dẫn tới phòng khám của tôi để khám bệnh, kết quả là tôi cho rằng anh ta mắc chứng bệnh tinh thần: không muốn đi l{m.
Trẻ con mắc chứng từ chối đến trường thì chúng ta khá quen vì những bệnh nhân trẻ em loại đó rất thường thấy. Chứng bệnh không muốn tới công ty làm việc của anh chàng A có những căn nguyên s}u xa, những người mắc chứng bệnh n{y cüng không phải là ít.
Nhân viên phụ trách nhân sự bảo tôi: “Khi anh ch{ng A mới tới công ty chúng tôi thi tuyển, xem ra thì không giống với những đ|m trẻ ở đ}y, anh ta rất tích cực, đầy sức sống, chính l{ người mà công ty chúng tôi cần, vì vậy chúng tôi quyết định tuyển dụng anh ta...”.
Về bệnh của anh chàng A, vấn đề là ở chỗ anh ta chưa đủ chín để trở thành một thành viên trong xã hội, thế nhưng nh{ quản lý của công ty đó khi nói chuyện với anh ta lại không nhận ra điểm n{y, cüng không ph|t hiện ra khuynh hướng tính cách của anh ta, vì vậy cần phải nói rằng nhà quản lý đó chưa hiểu hết con người, nên mới dẫn tới tình trạng trên.
Thoạt đầu anh ch{ng A đau khổ dằn vặt, khó khăn lắm anh mới được vào làm ở công ty, nay anh lại không muốn đi l{m, đối với anh ta, chắc chắn đó l{ một đòn sốc mạnh; nhưng đối với công ty, nhà quản lý cần tìm hiểu lòng người một c|ch chính x|c, đó l{ điều vô cùng quan trọng. Nhà quản lý thường vô tình tìm hiểu trái tim của cấp dưới bằng kinh nghiệm chưa chín muồi của mình hoặc bằng quan niệm giá trị của bản thân. Nếu vì thiên kiến nào đó m{ tạo nên sự hiểu nhầm, thì quan hệ giao tiếp giữa nhà quản lý và cấp dưới sẽ xuất hiện vết rạn nứt.
Nói chung, mọi người quen dùng thành kiến chủ quan của mình để đ|nh gi| ph|n đo|n sự tốt, xấu của người khác. Mà những người làm công tác quản lý, đại đa số là những người đ~ ở tuổi trung niên. Thông qua kinh nghiệm của mình, họ đều có một quan niệm giá trị và triết lý xử sự của riêng mình. Những thể nghiệm đó tích luỹ theo năm th|ng đ~ trở thành một phần trong tính cách của họ, vì vậy họ quen ứng dụng quan niệm giá trị và triết lý đó vào từng sự việc một. Hay nói một cách khác, họ cho rằng phương ph|p n{y đủ để hiểu cấp dưới. Đối với quan niệm giá trị và lối sống đa dạng của cấp dưới trẻ tuổi, thường các nhà quản lý không thể hiểu hết, từ đó đôi bên sẽ xảy ra sự cọ xát. Thậm chí tới mức đôi bên không quan hệ với nhau, như thế nhà quản lý tất nhiên sẽ chẳng thể l~nh đạo cấp dưới được nữa.
Gặp phải trường hợp này, có nhà quản lý áp dụng biện pháp mời các cấp dưới uống rượu, qua đó để ho{ đồng tình cảm của đôi bên. Đó tất nhiên là một phương ph|p, nhưng theo ý kiến của tôi, nếu tìm c|ch “mở” tr|i tim đối phương, thì không phải cùng nhau đi uống mà tâm trạng vẫn có thể thoải mái.
Trong số những nhà quản lý mà tôi từng tiếp xúc những người tương đối có năng lực đều là những người có quan niệm giá trị và triết lý sống độc đ|o, những người đó đ~ qua
trăm nghìn thử thách thực tế rèn luyện, đa số là những người có ý chí kiên cường. Mặc dù vậy, suy nghĩ của họ cüng kh| linh hoạt, có thể loại bỏ thành kiến, nắm bắt một cách chính xác trái tim của đối phương, vì vậy rất ít có các vấn đề bất hoà trong mối quan hệ giao tiếp, do đó họ được những người xung quanh yêu thích. Đồng thời trong khi l~nh đạo, chỉ đạo,
cấp dưới thường không nảy sinh tâm lý kháng cự, mà có thể đề xuất ý kiến của bản thân mình. Với mối quan hệ tương hỗ tốt đẹp này, nhà quản lý tất nhiên có thể nắm bắt chính xác trái tim của đối phương.
ĐỌC VÀ HIỂU ĐƯỢC TRÁI TIM CỦA CẤP TRÊN
Bất cứ ai cüng đều có ý nghĩ khó giao tiếp đối với cấp trên, bề trên, người cao tuổi. Khuynh hướng này rõ rệt nhất là ở người Nhật, điểm này có liên quan tới bối cảnh văn ho| của Nhật. Người Nhật quen với việc đem truyền thống của chế độ gia tộc vào trong tổ chức công ty, thế nên nảy sinh ra rất nhiều vấn đề.
Đối với những bậc gia trưởng có quyền uy tuyệt đối như cha, cấp trên, người Nhật một mặt có lòng tôn kính, cho rằng họ vĩ đại, mạnh v{ có năng lực, song một mặt khác, cấp dưới sẽ nảy sinh cảm giác bị đè nén, suy nghĩ đó luôn ấp ủ ở trong lòng. Để trốn tránh cảm giác đè nén, khủng bố của quyền uy và sự bất an do quyền uy g}y ra đối với mình, nói chung phần lớn th|i độ người ta áp dụng là phụ hoạ, tr|nh đối đầu trực diện.
Trước người cấp dưới phụ hoạ với mình cấp trên cố nhiên là không tỏ th|i độ gì để thể hiện quyền uy của mình, nhưng có lúc họ không khỏi vui mừng vì sự bợ đỡ của cấp dưới. Cấp trên như vậy thường chẳng thể nào hiểu được nội tâm của các cấp dưới, càng không thể ph|t gi|c ra được sự bất mãn và oán hận tiềm ẩn tự đ|y lòng của cấp dưới.
Cấp trên quả thực có thể nắm bắt được trái tim của cấp dưới, điểm n{y chúng ta đ~ nói tới nhưng có khi vì cấp trên có đủ các quyền hạn, nên cấp dưới mới đặc biệt kh|ch khí đối với họ. trên thực tế, cấp dưới cần phải nhận rõ, đ~ l{ mọi người cùng làm việc ở một chỗ, thì phải giữ mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp, mà muốn l{m được điểm n{y trước tiên phải loại bỏ cảm giác bị đè nén v{ khủng bố ở “con người cấp dưới”. Ngo{i ra, cấp dưới còn cần x|c định rằng trước đ}y cấp trên cüng l{ một nhân viên, không có gì khác so với mình cả, như thế sẽ có thể sống với họ một cách tự tại hơn.
Những h{nh động, vốn tiềm ẩn trong tr|i tim con người đều sẽ bộc lộ qua ngôn ngữ cử chỉ, vì vậy cấp dưới cüng có thể qua quan sát ngôn ngữ cử chỉ để đọc hiểu trái tim của cấp trên.
LÀ MỘT THÍNH GIẢ THÀNH THỰC
Công việc chào hàng rất cần hiểu rõ nội tâm của đối phương. Kh|ch h{ng có muốn mua hàng hay không hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng nhận biết v{ khơi dậy ý muốn mua của kh|ch h{ng. Đối với nhân viên chào hàng, thuật đọc lòng người quan trọng biết nhường nào. Nếu khi chưa nắm bắt đầy đủ tâm lý của người mua m{ nh}n viên ch{o h{ng đã tới thăm kh|ch h{ng thì rất dễ làm cho khách hàng sinh ác cảm, vì vậy chúng ta thường thấy ở
các khu nhà, nhất là các khu tập thể cao cấp đều có hàng chữ “Từ chối nh}n viên ch{o h{ng”, có thể thấy họ đau đầu biết bao với những chuyến viếng thăm của các vị khách không mời m{ đến này.
Quả thực, trong số c|c nh}n viên ch{o h{ng đúng l{ có những người không suy nghĩ gì tới thời gian của khách hàng, cứ tới thăm ép buộc kh|ch h{ng, trong trường hợp đó kh|ch hàng tất nhiên sẽ tỏ th|i độ cự tuyệt ngay từ đầu vì công t|c ch{o h{ng được bắt đầu tiến hành dựa trên nhu cầu một phía của bên b|n, nó có tính cưỡng bức trong một chừng mực n{o đó, nhưng nh}n viên ch{o h{ng vẫn phải chú ý đừng l{m cho đối phương có cảm giác bị cưỡng bức, đó mới thật sự là chào hàng thành công. Qua những người quen biết của tôi, những người được coi là thành công chẳng ai trong số họ là không có mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp cả. Mà bí quyết để đạt được điều này chính là ở chỗ họ có thể làm một thính giả tốt, dường như thăm viếng người khác chính l{ đến để chuyên lắng nghe đối phương nói chuyện.
Song ngược lại nhiều nh}n viên ch{o h{ng khi ch{o h{ng thường cho rằng chỉ cần trình bày hiệu quả, chất lượng của h{ng ho| trước mặt kh|ch h{ng l{ được, vì vậy tự quảng cáo một cách thao thao bất tuyệt, như thế khách hàng chỉ có nghe, chủ nhà biến thành thính giả. Phương ph|p ch{o h{ng kiểu n{y, cho dù có b|n được h{ng, bên b|n v{ bên mua cüng vẫn chẳng thể xây dựng nên một mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp được, thậm chí có thể chỉ được một lần sau đó họ cự tuyệt với người chào hàng.
Ngược lại, nếu giữa nhân viên chào hàng và khách hàng có thể xây dựng nên một mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp, thì không những có thể chào hàng một cách thuận lợi, m{ qua đó càng củng cố thêm được nền tảng cơ sở sau này. Ngoài ra, về phía mua, ngoài việc có thể hưởng thụ thú vui của việc mua h{ng m{ cüng có thể có được cảm giác thoả mãn. Vì vậy, l{m cho kh|ch h{ng có được cảm giác thoả mãn ở một mức độ n{o đó chính l{ bí quyết thành công của nhân viên chào hàng.
Nếu vận dụng phương pháp sáng suốt n{y trước tiên nhân viên chào hàng cần để đối phương cảm nhận được sự thành thực của mình. Nhưng sự thành thực không phải là giả bộ tỏ ra nhiệt thành, cách tốt nhất chính là bằng trái tim của mình người chào hàng thể hiện trước mặt khách hàng, như thế khách hàng mới có thể yên t}m, đồng thời rút bỏ ngăn c|ch trong lòng mình, đ}y chính l{ điều kiện quan trọng cho nhân viên chào hàng.
Chỉ khi bỏ cặp kính màu của mình ra, con người ta mới có cái nhìn sáng rõ, mới có thể đọc chính xác tấm lòng, trái tim của đối phương.
Tiếp xúc giao tiếp trong môi trường công ty
Trong cuộc đời, quan hệ xã hội vốn không thể thiếu được cái gọi l{ nhóm người của “x~ hội doanh nghiệp” hay “x~ hội công ty”. Nếu một người có thể thỏa mãn với cuộc sống trong cộng đồng doanh nghiệp hay công ty thì cüng coi l{ một trong những thành công của cuộc đời.
Chúng ta tham gia với nhiều tư c|ch trong c|c nhóm kh|c nhau như “x~ hội gia tộc”, “x~ hội học duyên” v{ “x~ hội du duyên”... Nhóm người cùng trường, cùng lớp hoặc nhóm bạn tập hợp với nhau đ~ có cùng sở thích, nghiên cứu, vui chơi.
Sáng sớm ngủ dậy, thời gian sống trong nhà mình là thời gian thuộc về mình, cüng l{ thời gian của “x~ hội gia tộc” tiếp xúc với những người trong nhà. Bắt đầu từ gi}y phút bước ra khỏi nh{ để đi l{m, thì trở thành là một thành viên của “x~ hội công ty”. Sau đó, công việc
bắt đầu. Cấp trên gọi; tài liệu công văn chuyển tới; cầm bản báo cáo thảo luận với các bộ phận khác; tham dự hội nghị... đó chính l{ thời gian làm cho mình cảm thấy một cách mãnh liệt nhất rằng mình là một thành viên của “x~ hội công ty”.
HIỆP LỰC HỢP TÁC
Xã hội lo{i người hiện đại khác với lo{i người thời nguyên thuỷ, con người phải tụ tập nhau lại, nhóm thành các tập đo{n lớn, nhỏ, cùng cố gắng thực hiện một số mục đích n{o đó, nếu không thậm chí ngay cả duy trì cuộc sống cüng đ~ l{ khó khăn.
Mà công ty là một điển hình tiêu biểu nhất, từ gi|m đốc đến nh}n viên bình thường, bất kể đẳng cấp cao hay thấp, lương bổng trợ cấp nhiều hay ít, đều hiệp lực, hợp tác làm việc vì một mục đích chung.
“Đồng tâm hiệp lực” chính l{ nhiều người tập hợp lại với nhau, cùng cố gắng vì một mục tiêu giống nhau. Vì vậy khi đo{n thể tập hợp nhau lại để phân công hợp tác phải có sự kết hợp giữa sức mạnh của người l~nh đạo và sức mạnh của đông đảo cấp dưới.
Trong một công ty, bất kể số người nhiều hay ít, đều phải có một nhân vật l~nh đạo, trách nhiệm của nhân vật l~nh đạo này là làm cho sức mạnh của đo{n thể được phát huy tới cực điểm. Nói một cách cụ thể, công việc gồm mấy điểm dưới đ}y:
1. Tìm hiểu chỉ thị của cấp trên, nắm bắt nội dung tường tận của nó.
2. Truyền đạt chính xác rõ ràng nội dung của chỉ thị cho các thành viên trong công ty.
3. Suy nghĩ phương ph|p thực hiện mệnh lệnh một cách cụ thể (nơi chốn, thời hạn...).
4. Hướng dẫn tỉ mỉ cách làm cụ thể cho mọi người trong công ty.
5. Khi phát sinh tình hình hoặc vấn đề bất ngờ, cần nhanh chóng tìm kiếm đối sách tương ứng.
6. Báo cáo tiến độ công việc với cấp trên một c|ch đúng lúc.
7. Cùng mọi người trong công ty tìm mọi cách loại bỏ những trở ngại tâm lý, cố gắng làm cho tập thể giữ được hài hoà.
C\CH THÚC ĐẨY MỐI GIAO TÌNH
Mối giao tình giữa người với người s}u đậm hay không được x|c định bởi độ thưa d{y của tần số đi lại giữa đôi bên.
Trong tập đo{n, c|c “công ty” tụ tập với nhau lấy mục đích l{ công việc, mối giao tình giữa c|c đồng nghiệp trong công ty cüng vậy. Quan hệ công việc giữa đôi bên tương đối mật thiết, tiếp xúc nhiều như những người cùng đơn vị, cùng bộ phận, hoặc thậm chí chỗ ngồi làm việc gần kề nhau, mối giao tình giữa họ tự nhiên s}u đậm hơn so với những người khác.
Cho dù sự đi lại giữa đôi bên l{ vì quan hệ công việc, nhưng thường xuyên qua lại, tình bạn giữa đôi bên cüng ph|t triển theo về chiều sâu.
Sự qua lại giữa con người với con người có khi bằng hình thức gặp mặt hàng ngày giữa đôi bên, cüng có khi đôi bên c|ch xa không thể gặp mặt, nhưng có thể liên hệ với nhau bằng tiếng nói, hình ảnh.
Sau này, cùng với sự phát triển của m|y móc thông tin điện tử, phương tiện mọi người có thể dùng để giao lưu tất sẽ ngày một tăng, cho dù không mặt đối mặt với đối phương, cüng có thể l{m cho đối phương tiếp nhận được thông tin của chúng ta một cách trực tiếp và mạnh mẽ hơn.
Có nhiều thứ để thúc đẩy quan hệ của mọi người. nhưng tôi cảm thấy phương ph|p “dùng bưu thiếp” l{ thích hợp nhất. Bạn có thể viết những câu khen ngợi, cüng có thể vẽ, cắt d|n... tô điểm tấm bưu thiếp theo dấu ấn cá nhân mình.
Một tấm bưu thiếp dù nho nhỏ cüng có thể tạo ra những thay đổi đa dạng, giúp chúng ta lấy được tình cảm của đối phương.
Tầm quan trọng của bưu thiếp
Hiện nay thư quảng cáo các loại hàng hoá rất thịnh h{nh, đó l{ h{ng loạt thư có ký tên. Vì thế bưu thiếp viết bằng tay đặc biệt có hiệu quả g}y cho người khác chú ý.
Quyết định dùng bưu thiếp để tăng cường quan hệ với bạn bè trong công việc, thì hãy gửi bưu thiếp bày tỏ sự cảm ơn tới từng người vừa có quan hệ công việc xong.
Kiểu bưu thiếp này không cần phải dùng những câu chữ đẹp, chỉ cần bày tỏ ý cảm ơn với tấm lòng thành thật l{ được. Chẳng hạn: “Được ông bớt chút thời gian tới với tôi, xin vô cùng cảm ơn ông...”. Loại thư cảm ơn n{y tốt nhất là phải lập tức gửi đi sau khi về tới nhà. Nếu là ngồi máy bay, thì bỏ v{o hòm thư khi ở sân bay, thì sẽ đặc biệt l{m cho đối phương cảm động.
Dùng bưu thiếp phong cảnh ở nơi đến công t|c để viết v{o đó những lời cảm ơn, trực tiếp bỏ vào thùng thư khi đang trên đường trở về, gửi cho đối t|c đ~ tiếp đón chúng ta, điều đó cüng rất có hiệu quả.
Có khi, chúng ta cüng có thể đem theo một số bưu thiếp đ~ viết địa chỉ, tên họ của đối phương từ trước v{ đóng dấu của công ty vào, mang theo cả đồ cắt dán, sử dụng những tấm quảng cáo có in ảnh màu ở nơi mình ở trọ để tạo ra những tấm bưu thiếp đặc biệt.
Chẳng hạn, cắt ảnh chụp món ăn hoặc bánh kẹo dán vào mặt sau của bưu thiếp (không được dán vào mặt trước) khi cắt hình, cần chú ý trừ khoảng trống để viết chữ. Cần chú ý tới vẻ đẹp của toàn bộ tấm bưu thiếp, câu chữ cần đơn giản trong sáng, không nên quá khách s|o, c}u văn mộc mạc ch}n th{nh đặc biệt l{m cho người ta có ấn tượng sâu sắc.
Có một thương gia đi công t|c tới một nơi, kh|ch h{ng tiếp đón ông ta rất nhiệt thành. Sau khi về, ông ta đ~ viết một tấm bưu thiếp cảm ơn gửi cho chủ nhân của văn phòng nơi ông ta được đón tiếp. Phía sau bưu thiếp ông ta lại viết thêm một c}u: “khi n{o lại tới chỗ mấy vị kh|ch h{ng đ~ tiếp đón tôi, thì xin chuyển lời cảm ơn của tôi tới họ, sự chu đ|o của họ đ~ l{m cho tôi có một buổi tối cực kỳ tốt đẹp”. Chính vì c}u n{y m{ về sau giữa thương gia đó với mấy vị khách hàng kia trở nên càng thân thiết hơn.
Mặc dù ban ngày bận trăm công ng{n việc, buổi tối ai cüng đều có thể bớt chút thời gian của mình được. Xin đừng bỏ qua cơ hội dùng bưu thiếp để thông báo tình hình thực tế của mình cho bạn bè thân hữu, cấp trên... Bạn sẽ thấy uy lực của nó. Sáng tạo thiếp chúc mừng năm mới Tết năm nay không biết bạn đ~ gửi bao nhiêu tấm thiếp chúc mừng năm mới? Đồng thời nhận được bao nhiêu tấm thiếp chúc mừng năm mới?
Nói chung để chúc mừng năm mới người ta thường dùng những tấm bưu thiếp có sẵn, mình chỉ cần ký tên vào hoặc nhiều nhất là thêm mấy câu chúc mừng năm mới. Song theo kinh nghiệm, loại thiếp chúc mừng năm mới n{y thường khó được “hồi }m”. Vì những thứ thiết kế sẵn thường đem lại cho người ta cảm giác là thiếu sự nhiệt thành, nên nhận được loại thiếp chúc mừng năm mới đó cüng sẽ không tới mức cảm động lắm. Rốt cuộc bận vẫn nên tự thiết kế mẫu, sau đó ghi những câu chúc mừng, như thế sẽ g}y cho người nhận cảm giác thân thiết và ấn tượng đặc biệt sâu sắc, từ đó có thể sẽ nhận được sự hồi đ|p.
Cüng tương tự, những tấm thiếp được gửi đi với danh nghĩa của công ty, nếu muốn có được hiệu quả tốt hơn, tất nhiên cần bỏ qua việc sử dụng những tấm thiếp chúc mừng năm mới in sẵn, mà tạo ra những tấm thiếp mang đặc trưng của riêng công ty mình.
TRÊN BÀN CỦA CẤP DƯỚI
Trong phòng làm việc tĩnh mịch, tất cả c|c nh}n viên đều đ~ ra về, cấp trên vừa làm thêm giờ, vừa viết báo cáo sát hạch nhân sự, những cảnh như vậy rất hay gặp. Tất nhiên cüng có những người cấp trên chui vào trong phòng họp hay phòng tiếp khách, hoặc ở nhà để viết báo cáo sát hạch nhân sự.
Song, điều thật sự khó hiểu mà vẫn thường thấy l{ trong văn phòng không có bóng d|ng ai, cấp trên nhìn chăm chú v{o b{n ghế làm việc của cấp dưới, lập tức th|i độ chăm chỉ, năng lực và sự cố gắng thường ngày của người đó sẽ tự nhiên hiện lên trước mắt anh ta.
Trong trường hợp đó, nếu trên bàn của cấp dưới chất đống tài liệu giấy tờ, hoặc vẫn còn bày ra trên bàn những cuốn tạp chí m{ đ|ng ra họ phải thu xếp gọn. thấy cảnh đó, người cấp trên kia sẽ có cảm tưởng gì?
Có thể bản th}n người cấp trên đó cüng chưa chắc đ~ l{ người coi trọng sự ngăn nắp sạch sẽ, nhưng lúc n{y anh ta sẽ đưa v{o quan điểm lập trường của cấp trên mà có những sự không vui nhất định: “Thằng cha này thật lôi thôi lếch thếch, thảo nào có lúc bảo cậu ta lấy giấy tờ hoặc văn kiện quan trọng là cậu ta phải tìm một hồi lâu. Sách báo, tạp chí xem xong cüng không để lại chỗ cü, l{m cho người khác muốn xem cüng không được xem...”
Khi ra về không xếp bàn ghế ngay ngắn lại, l{m cho đường đi lối lại trong phòng bị cản trở tắc nghẽn, điều đó cüng l{m cho cấp trên bực mình, là nguyên nhân dẫn tới một loạt các phản ứng khác.
Cấp dưới đôi khi cüng có thể thử ở lại văn phòng sau khi mọi người đều về hết để đưa ra đ|nh gi| một lần về bàn ghế của cấp trên hoặc c|c đồng nghiệp, như thế sẽ dễ đ{ng hiểu thêm về cấp trên v{ đồng nghiệp.
XỬ LÝ QUAN HỆ VỚI CẤP TRÊN
Thời đại ngày nay là thời đại cạnh tranh quyết liệt mọi việc đều cần có thực lực. Một người mới đi l{m như chim mới ra ràng, cần có ý thức tích cực bồi dưỡng thực lực của mình, nếu không sẽ khó có được một chỗ đứng trong thời đại ngày nay. Ngoài ra, cấp trên luôn luôn đ|nh gi| s|t hạch thực lực, sự cố gắng của bạn, bạn càng cần khéo léo, cẩn thận.
Đ~ l{ cấp dưới, thì phải cố gắng chấp hành và thực hiện tốt công việc cấp trên giao phó. Bản thân cấp trên tuy cüng có những việc cần tự mình xử lý, nhưng đại bộ phận công việc vẫn cần phải tiến h{nh dưới sự hiệp lực của cấp dưới. Vì vậy, nếu cấp dưới không làm tốt công việc, thì cấp trên cüng chẳng thể đạt được mục tiêu công t|c m{ anh ta đảm nhiệm trong cơ quan.
Vì thế, vừa muốn bồi dưỡng thực lực của mình, lại muốn đạt được yêu cầu của cấp trên để có được sự đ|nh gi| tốt của họ, cấp dưới cần phải chú ý s|u điểm dưới đ}y:
1. Tuân theo chỉ thị của cấp trên, chấp hành nhanh công việc được giao, đồng thời báo cáo tiến độ và quá trình công việc một c|ch đúng lúc khi công việc kết thúc.
2. Đối với mệnh lệnh của cấp trên, nếu có chỗ không thể tiếp nhận, tuy có thể hỏi v{ đưa ra ý kiến c| nh}n, nhưng cần phục tùng thật sự đối với việc mà cấp trên đ~ quyết.
3. Cấp trên l{ người đại diện của một cơ quan, vì vậy cho dù nhận được mệnh lệnh trực tiếp của cấp cao hơn, cấp dưới cüng cần phải trình báo cho cấp trên trực tiếp phụ trách mình biết, sau đó mới chấp hành theo mệnh lệnh của cấp trên, quyết không thể tự mình h{nh động.
4. Cấp trên hầu hết l{ người có nhiều kinh nghiệm trong đời, thỉnh thoảng cần tỏ lòng kính trọng thật sự đối với anh ta, đồng thời lắng nghe một cách tích cực, thật lòng những kinh nghiệm đ~ được tích lüy, hoặc những điều t}m đắc trong công việc của anh ta.
5. Cho dù có sự bất mãn với xử sự của cấp trên cüng không thể vì thế mà nổi loạn. Cố gắng phát hiện tìm ra những ưu điểm của cấp trên, học hỏi một cách khiêm tốn.
6. Trong cùng một tập thể, cần tránh những mối quan hệ quá thân thiết kiểu cá nhân nhằm tránh những lời đồn đại không đ}u.
HIỆU QUẢ GẦN Đ]Y
Những việc l{m như n}ng cấp, tăng lương của công ty đối với nhân viên của mình tuy có sự khác nhau tuỳ theo từng công ty, nhưng đa số đều làø có thời điểm nhất định của nó. Như c|c công ty của Nhật, do ngày mồng một th|ng tư l{ thời gian để các nhân viên mới tuyển dụng bắt đầu đi l{m, nên việc tăng lương, điều cấp của nh}n viên cü nói chung cüng chọn ng{y hôm đó. Do vậy, các công ty của Nhật chậm nhất là vào hạ tuần tháng hai là phải hoàn tất c|c tư liệu sát hạch về năng lực, th|i độ công tác của các nhân viên các bộ phận để giao cho bộ phận nhân sự. H{ng năm cứ tới thời gian đó, l~nh đạo hoặc ông chủ của bộ phận sát hạch ngoài việc yêu cầu c|c “uỷ viên thẩm tra” cần phải nhận xét công bằng ra, còn đặc biệt nêu ra những điểm quan trọng cần chú ý đó l{ không để “hiệu quả gần đ}y” mê hoặc.
Cái gọi l{ “hiệu quả gần đ}y” có nghĩa l{ c{ng gần thời điểm sát hạch nhân sự sẽ càng làm nổi bật hình tượng của người bị sát hạch. Ấn tượng mạnh mẽ n{y thường “l{m sai lệch” th|i độ làm việc thật sự của người đó. Vì vậy, bộ phận nhân sự thường yêu cầu các uỷ viên thẩm tra phải thẩm tra đối tượng bị sát hạch bắt đầu từ th|ng tư năm trước.
Trên thực tế, căn cứ vào kinh nghiệm nghiệp vụ có thể thấy trước được rằng, kiểu “hiệu quả gần đ}y” l{ không thể tránh khỏi với mọi người.
Trừ phi người phụ trách việc thẩm tra là một vị thánh nếu không, khó có thể thoát ra khỏi tâm lý này. Cấp dưới cüng nên hiểu rõ và lợi dụng triệt để c|i “hiệu quả gần đ}y”. Trong thời gian này, bạn nên thể hiện nhân cách một cách tích cực và tránh những hành động có hại tới hình tượng hoặc để bị phê bình.
“Thời gian hiệu quả” đại khái kéo dài từ th|ng mười hai năm trước đến khoảng trung tuần th|ng hai năm sau.
Khi thẩm tra, l~nh đạo sẽ xem xét th|i độ thường ngày của cấp dưới, h{nh động, lời nói của cấp dưới, ngoài ra là sự hỗ trợ đối với cấp trên, tính hài hoà và tính tích cực với các đồng nghiệp xung quanh, mức độ cố gắng tiếp thu thông tin hoặc kiến thức.
Muốn gi{nh được sự đ|nh gi| tốt, các nhân viên càng không thể quên việc luôn luôn tuân thủ c|c quy định của “điều lệ làm việc”.
H[NH ĐỘNG LỄ ĐỘ
H{nh động lễ độ phải tuân thục tự nhiên như những thói quen vậy, đó l{ c|i m{ mọi nhân viên mới v{o đều có thể bị đòi hỏi nghiêm ngặt. Kỳ thực những cấp trên, chủ quản ấy cüng chưa chắc đều đ~ lễ độ mẫu mực như vậy. Vì vậy khi sát hạch cấp dưới, họ đều bỏ qua những h{nh động của bản th}n mình, song đối với cấp dưới thì họ lại rất giỏi soi mói tìm kiếm.
Là cấp dưới bạn cần nắm chắc trạng thái tâm lý này của cấp trên để suy nghĩ lại xem mình rốt cuộc đ~ tu}n thủ những lễ nghi ở mức độ nào rồi, ít ra l{ trong “thời gian hiệu quả” bạn nên cố gắng l{m cho h{nh động của mình không thất lễ.
Dưới đ}y l{ mấy điểm về lễ nghi bản thân từng người cần chú ý kiểm điểm một cách nghiêm túc:
1. Đi l{m sớm, tuyệt không làm những việc như đi muộn hoặc những chuyện tăng thêm phiền phức cho cấp trên, đồng nghiệp.
2. Chào hỏi với mọi người bằng giọng rõ ràng, thân thiết.
3. Trước khi vào phòng hãy chỉnh lại quần áo cho ngay ngắn. Nếu cửa phòng đóng, trước hết cần gõ cửa rồi sau mới mở. Cuối cùng cần tắt hết đèn, đồ điện trước khi rời khỏi phòng.
4. Khi rời khỏi ghế hãy thu gọn ghế vào.
5. Trong khi làm việc nếu cần gọi ai đó, phải tôn trọng họ tên chức vụ của anh ta, đồng thời đợi khi anh ta quay đầu lại rồi mới bắt đầu nói.
6. Bàn bạc việc gì trong khi làm việc, âm thanh to như tốt nhất đủ để đối phương nghe được, nội dung cần đơn giản dễ hiểu.
7. Khi rời khỏi bàn làm việc, nhất định phải thu gọn sách vở, giấy tờ tài liệu. Khi cần thiết cần để lại mảnh giấy ghi nơi b{n giao.
8. Có việc ra ngoài cần được sự đồng ý của cấp trên, đồng thời nói cho cấp trên hoặc đồng nghiệp biết nơi đi, l{m việc gì, dự định khi nào quay lại.
9. Những đồ dùng văn phòng, s|ch b|o trong phòng l{m việc sau khi dùng xong cần đặt trở lại chỗ cü.
10. Khi ra ngoài hoặc ra về, cần kê bàn ghế ngay ngắn, dưới gầm b{n v{ ngăn kéo cüng cần thu dọn sạch sẽ.
11. Trả lời điện thoại và ứng đối với khách cần phải chu đ|o lễ độ.
12. Khi ra về, trước tiên bạn cần chào cấp trên hoặc đồng nghiệp còn ở lại trong công ty, sau đó mới đi ra.
13. Trong thời gian nghỉ ngơi, không nói những chuyện có liên quan tới công việc hoặc những lời đồn đại về cấp trên, đồng nghiệp.
14. Không để lâu trong công ty những đồ c| nh}n không có liên quan gì đến công việc.
Lễ nghi không những là trọng điểm sát hạch nhân viên, mà còn là tài sản quan trọng của đời người. Đối với những người đi l{m, tu}n thủ quy tắc lễ nghi chắc chắn sẽ có điểm lợi là “một müi tên trúng hai đích”.
Q
CHƯƠNG 4:
GIAO TIẾP SẼ BỘC LỘ L^NH ĐẠO GIỎI
uản lý theo đúng nghĩa của từ này không phải là sự giám sát chặt chẽ m{ l{ đ{o tạo, bồi dưỡng tinh thần chủ động sáng tạo, đặc biệt là ý thức tự giác của cấp dưới. Nếu cấp dưới tự giác chấp h{nh quy định, kỷ luật của công ty thì bạn l{ người biết quản lý, bởi vì đối với người tự giác bạn không cần phải quản lý.
I. KHÍ PHÁCH
Có khí phách thì mới dám quyết đo|n. Không quyết đo|n thì không thể l~nh đạo chỉ huy được.
Năng lực quan trọng đầu tiên của người quản lý là quyết đo|n. Quyết đo|n không những là tinh thần d|m nghĩ d|m l{m, d|m chịu trách nhiệm mà còn là lòng tự tin của trí tuệ. Chỉ có khí phách mạnh mẽ mới dám quyết đo|n v{ tạo ra kỳ tích.
1. PHẢI CÓ KHÍ PHÁCH LỚN
Người có khí phách lớn thì có tư tưởng, chí hướng, tâm hồn, lý tưởng, kế hoạch, hành động lớn. Đó l{ những nh{ l~nh đạo ch}n chính, h{nh động quang minh chính đại, sống đức độ, bao dung. Khí phách lớn là kết quả của sự tu dưỡng đạt đến mức hoàn thiện, vượt qua sự yêu ghét bình thường. Họ có tấm lòng bao dung độ lượng, yêu mến, gần güi, tôn trọng, thành thực đối với tất cả mọi người. Họ thật sự tin tưởng vào cấp dưới. H{nh động của họ nhằm đem lại điều tốt đẹp cho mọi người.
Đặc điểm lớn nhất của người có khí phách là sự cao thượng. Đ}y l{ một phong cách sống. Nh{ l~nh đạo chân chính sống bằng lòng tin, chứ không phải bằng những lá phiếu. Chính đức tính cao thượng của nh{ l~nh đạo mới cảm hóa được cấp dưới. Vì vậy bạn muốn trở thành nhà quản lý giỏi trước hết bạn phải rèn luyện tính cao thượng. Bạn có thể kém cấp dưới về một mặt n{o đó, song bạn không được có những lời nói thô bỉ, hành vi hèn hạ khiến cấp dưới khinh thường. Khi bạn có khí phách lớn tức là bạn đ~ trở thành trụ cột tinh thần của cả một tập thể. Ngày 13/5/1940 khi tham gia cuộc họp hạ nghị viện Anh, với tư cách là Thủ tướng, Churchill tuyên bố hùng hồn: “Tôi không có c|i gì kh|c ngo{i nhiệt huyết, cần cù, nước mắt, mồ hôi cống hiến cho Tổ quốc. Các ngài hỏi mục đích chiến đấu của chúng ta là gì? Tôi có thể dùng một từ để trả lời: Chiến thắng, giành chiến thắng bằng mọi giá. Bất kể chiến tranh tàn khốc như thế n{o, chúng ta cüng phải giành chiến thắng; bất kể con đường gian nan v{ l}u d{i như thế n{o chúng ta cüng phải giành chiến thắng, bởi vì
không chiến thắng chính thể bạo ngược cực kỳ hung |c v{ chưa từng có trong lịch sử tội ác lo{i người - chủ nghĩa ph|t xít Đức, thì không thể sinh tồn!”
Phải có khí ph|ch h{o hùng như vậy. Churchill mới có thể l~nh đạo được một dân tộc, cùng với nhân dân tiến bộ trên thế giới chiến thắng ph|t xít Đức.
2. PHẢI CÓ S\CH LƯỢC QUẢN LÝ LINH HOẠT
Quản lý theo kế hoạch, làm việc theo kế hoạch l{ phương ch}m chỉ đạo của những nhà l~nh đạo hiện nay, song kế hoạch không thể bao quát tất cả mọi việc. Nh{ l~nh đạo vừa điều hành công việc hàng ngày, vừa có tầm nhìn xa. Kế hoạch khi cần thiết vẫn phải điều chỉnh, thậm chí thay đổi. Sau đ}y l{ c}u chuyện vận dụng mưu kế (tức s|ch lược đấu tranh) thời xưa.
Sau khi Lưu Bang khởi binh, Tiêu Hà phụ trách công tác hậu cầu cung cấp lương thảo cho binh sỹ đội. Mỗi khi đến đ}u, Tiêu H{ đều thu thập tư liệu ghi chép về chế độ pháp lệnh quy định của nhà Tần. Sau khi Lưu Bang l{m vua đất H|n Trung, Tiêu H{ được phong làm thừa tướng. Lưu Bang sở dĩ biết được tình hình thực tế như yếu địa c|c nơi, số dân từng nơi, nguyện vọng d}n chúng đều nhờ ở những tư liệu do Tiêu Hà thu thập.
Sau khi v{o Quan Trung kinh đô nh{ Tần, theo lời khuyên của Trương Lương, Lưu Bang cho niêm phong cung điện, kho tàng rồi dẫn qu}n ra B| Thượng đợi các cánh quân khác. Trong thời gian n{y Lưu Bang đ~ thực hiện s|ch lược khôn ngoan nhất. Sau khi triệu tập tất cả phụ lão hào kiệt các huyện, Lưu Bang nói: “C|c cụ sống trong xã hội hà khắc nhà Tần đ~ l}u, đau khổ đ~ nhiều. Luật pháp nhà Tần quy định, nếu dân chúng phỉ báng triều đình sẽ chu di cả họ, tụ tập bàn tán sẽ khép vào tội chết. Nay tôi v{ chư hầu giao ước, ai vào Quan Trung trước sẽ làm vua Quan Trung. Nay tôi tạm làm vua Quan Trung. Tôi muốn cam kết với các vị phụ l~o 3 điều thôi: Ai giết người thì bị xử tử, l{m người khác bị thương v{ ăn trộm thì theo tội mà xử. Ngoài ra, tất cả luật pháp nhà Tần đều hủy bỏ. Quan lại vẫn giữ nguyên chức vụ cü, không hề thay đổi. Người nước Tần nghe tin tranh nhau mang rượu, thịt bò, dê biếu cho binh lính Bái Công. Bái Công không nhận, họ càng lo sợ Bái Công không làm vua Tần. Việc làm này của B|i Công đ~ chiếm được lòng dân, tạo ra cơ sở chính trị vững chắc cho cuộc chiến sau này với Hạng Vü.
Chương “Mưu lược” trong s|ch “Tôn Tử binh ph|p” viết:
“Thượng s|ch dùng binh l{ đ|nh bại mưu kế chiến lược của địch. Trung sách dùng binh là làm tan rã liên minh của địch, đ|nh thắng qu}n đội của địch. Hạ s|ch dùng binh l{ đ|nh chiếm thành trì của địch”.
Thiên Huyền Tử viết: “Đại kế l~nh đạo phải bắt nguồn từ kiến thức uyên bác, quy mô ho{nh tr|ng, đại kỵ câu nệ ở tiểu tiết. Tính toán theo từng sự việc, suy luận theo tình hình cụ thể, từ đó m{ định ra mưu kế. Người nhân việc mà lập công l{ người có hành vi thận trọng, không phải là nhân tài suy tính sâu xa. Những người giỏi suy tính sâu xa có thể tính trước được việc chưa xảy ra, biết trước được sự việc chưa hình th{nh, quyết sách từ khi
chưa có mầm mống sự việc, lập công từ khi chưa ai biết sẽ xảy ra sự kiện. Mưu kế khi vạch ra, người trong thiên hạ đều thấy, đều biết thì không phải l{ mưu lược hạng nhất, người vạch ra mưu kế này không phải là nhân tài hạng nhất. Người vạch ra kế sách lớn phải có kiến thức và tầm nhìn xa trông rộng, phải có biện ph|p tường tận chu to{n”.
Có tầm nhìn mấy chục năm, có thể dựng lên sự nghiệp mấy chục năm, có tầm nhìn mấy trăm năm có thể dựng lên sự nghiệp mấy trăm năm. Chỉ tranh được mất nhất thời, chỉtính thành bại nhất thời, tranh thắng một trận, tác yêu tác quái một phương, không phải là chí của kẻ kiến thức uyên b|c, công đức trọn vẹn. Điều này chỉ có thể gây họa sát thân, di hại cho đời sau m{ thôi. Nước Tề hung hăng thực hiện b| đạo, Chu Công đo|n trước nhất định sẽ xảy ra việc đại thần giết vua cướp ngôi, sự kiện sau này quả nhiên xảy ra đúng như vậy. Nước Vệ qu| nhu nhược, Quý Tử đo|n sau n{y nước Vệ sẽ bị diệt vong, sau này sự việc xảy ra đúng như dự đo|n. Ngô ph| Sở tiến v{o Dĩnh Đô, Phùng Hoạt đo|n rằng nước Sở sau này sẽ lấy lại đất cü, sự việc sau này xảy ra đúng như vậy. Tôn Sách tự cao tự đại giết rất nhiều anh hùng hào kiệt, Qu|ch Gia đo|n trước Tôn Sách sẽ chết vào tay kẻ thất phu, sự việc xảy ra sau n{y đúng như vậy.
Chỉ có bậc đại trí mới có thể biết trước sự việc. Nếu biết phòng ngừa từ khi sự việc chưa xảy ra, ngăn chặn tai họa từ khi còn chưa hình th{nh mới đ|ng gọi là bậc có trí tuệ.
3. VẬN DỤNG SỨC MẠNH CỦA TỔ CHỨC
Nh{ l~nh đạo không thể tách rời tổ chức, độc lập tồn tại, cho dù là thời kỳ viễn cổ cüng như vậy. Tổ chức là bộ máy chặt chẽ, có tác dụng duy trì hoạt động của một đo{n thể. Một tổ chức mạnh không thể thiếu lãnh tụ sáng suốt vĩ đại, không thể thiếu cán bộ tài giỏi, không thể thiếu quần chúng trung thực, kiên trung, càng không thể thiếu cương lĩnh v{ kỷ luật nghiêm minh. Đó l{ 5 yếu tố cơ bản để tạo nên tổ chức. Dựa vào tổ chức chính là dựa vào tập thể. Mọi th{nh viên trong cơ quan chấp hành kỷ luật không phải chấp hành kỷ luật của cấp trên mà là chấp h{nh quy định của tổ chức. Mọi người phải thực sự đo{n kết, hợp tác, giúp đỡ nhau. Khi mọi th{nh viên có lý tưởng chung, tín ngưỡng chung, kết hợp với nhau thì sức mạnh của tổ chức mới to lớn. Thành công của tổ chức cüng l{ th{nh công của mỗi thành viên.
Linh hồn của tổ chức là chủ nghĩa tức lý tưởng. Chính sách, chế độ, biện pháp có thể thay đổi, song lý tưởng chủ nghĩa không thể thay đổi. Trong xã hội hiện đại, quy mô cạnh tranh ngày càng lớn, lĩnh vực cạnh tranh ngày càng rộng như cạnh tranh về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, về thông tin... Thực chất của cuộc cạnh tranh này là cạnh tranh nhân tài.
4. DÁM QUYẾT ĐO\N
Nhược điểm lớn của nh{ l~nh đạo là do dự, dao động, nhu nhược. Có nh{ l~nh đạo hoàn toàn tin vào một cấp dưới không đ|ng tin cậy, vì vậy hàng chục năm đơn vị dẫm chân tại chỗ. Đ|ng lẽ nh{ l~nh đạo phải dựa v{o đội ngü kế cận, song ông ta lại nghi ngờ họ. Những nh{ l~nh đạo chân chính mỗi khi cần đưa ra những quyết sách quan trọng, đầu tiên họ
trưng cầu ý kiến của mọi người, sau đó thảo luận bàn bạc, quyền quyết định cuối cùng thuộc về nh{ l~nh đạo.
Giai đoạn đầu thời Chiến Quốc, vua Triệu Vü Linh Vương tuổi trẻ tài cao. Vừa lên ngôi, Linh Vương quyết tâm chấn hưng nước Triệu, mạnh dạn cải c|ch. Linh Vương thấy người Hồ khi cưỡi ngựa mặc quần áo gọn g{ng, đi ủng da rất tiện lợi, còn người Triệu quần áo dài lướt thướt, đi lại rất vướng víu, không tiện khi chiến đấu, vì vậy Vü Linh Vương quyết định cải cách trang phục. Linh Vương triệu tập quần thần bàn việc cải c|ch. Đại phu Lâu Hoãn biểu thị t|n th{nh nhưng một số đại thần bảo thủ không tán thành. Chú của Linh Vương Công tử Thành phản đối quyết liệt nhất. Vệ Linh Vương bắt đầu do dự, không dám quyết đo|n, Đại thần Phi Nghĩa nói, cải cách là việc lớn, làm việc lớn không được do dự, nếu do dự việc lớn khó th{nh. Đại vương cho rằng đó l{ điều đúng, đ~ nói thì phải hạ quyết tâm làm. Ý kiến phản đối chỉ có thể để tham khảo, nhưng không thể ảnh hưởng đến quyết đo|n. Vü Linh Vương cảm thấy lời nói này rất đúng ý mình, vì vậy lòng tin đối với cải c|ch tăng gấp bội. Linh Vương tặng cho công tử Thắng một bộ quần áo Hồ, đề nghị công tử Thắng mặc thử khi lâm triều. Sau n{y c|c đại thần cüng bắt chước mặc quần áo Hồ. Tiếp theo Linh Vương ra lệnh dân chúng toàn quốc không phân biệt sang hèn, đồng loạt mặc quần áo Hồ. Vệ Linh Vương kêu gọi quân sỹ học cưỡi ngựa bắn tên. Không đầy một năm, nước Triệu có một đội kỵ binh hùng mạnh. Năm 305 trước Công nguyên, Triệu Vü Linh Vương dẫn đội kỵ binh đ|nh bại mấy nước như Trung Sơn, L}m Hồ, Lâu Phàn. Uy tín của nước Triệu nổi tiếng khắp nơi. C|c nước Yên, Tần láng giềng tranh nhau bắt chước cải cách.
Trường Giang Lăng nói: “Đại sự cốt ở suy nghĩ kỹ càng, kế hoạch cốt ở cố gắng thực hiện, mưu lược cốt ở tập trung trí tuệ, quyết đo|n cốt ở bản th}n mình”.
Nh{ l~nh đạo ngo{i năng lực phân biệt đúng sai thiện ác ra, còn phải có năng lực quyết đo|n.
Tổng thống Reagen trước đ}y l{ một chính trị gia quyết đo|n. Mọi việc khi đ~ quyết là ông ra sức thi h{nh. Tuy đ~ từng làm Thống đốc bang 8 năm, song nhiều lĩnh vực đối với Reagen vẫn mới lạ, vì vậy Rea- gen thường tìm cách nói chuyện với nhân sỹ các giới để tìm hiểu tình hình. Khi cấp dưới đến gặp xin chỉ thị, Reagen thường hỏi: “Thống đốc trước xử lý vấn đề n{y như thế n{o?” Reagen có lần nói: “L{m Thống đốc bang phải giống như Chủ tịch Hội đồng quản trị, chỉ quản lý việc lớn l{ đủ, còn việc nhỏ tôi tin rằng các bạn đều có thể quản lý được”. Khi làm Tổng thống, Reagen vẫn giữ cách làm việc này.
5. PHẢI CÓ DŨNG KHÍ
1) Düng khí l{ mẹ của thành công
Chỉ có düng khí mới có tinh thần khắc phục trở ngại, chiến thắng khó khăn, mới sáng tạo ra sự nghiệp lớn lao. Khổng Tử nói: “Trí tuệ, nh}n đức, düng cảm l{ 3 đức tính vĩ đại trong thiên hạ”. “Người thông minh không thể bị mê hoặc, người nh}n đức không lo buồn, người düng cảm không sợ h~i”. Tôn Tử cüng lấy “trí tuệ, tín nghĩa, nh}n đức, düng cảm, uy nghiêm” l{m 5 yếu tố cần phải có của tướng lĩnh.
2) Dùng kiên nhẫn bồi dưỡng düng khí
Düng khí l{ ngọn nguồn lớn nhất của sinh mệnh. Không có düng khí thì không có động lực, không có giá trị. Người nhút nhát, sợ khó, sợ khổ thì chỉ l{m được việc nhỏ. Việt Vương Câu Tiễn chịu nhục trước Phù Sai, Hàn Tín chịu nhục luồn qua háng anh hàng thịt l{ để chờ thời. Đó l{ gương biết kiên nhẫn.
6. PHẢI CÓ TRÍ THÔNG MINH
Thông minh là biểu hiện của trí tuệ, là sự vận dụng trí tuệ, vì vậy bạn phải bồi dưỡng trí tuệ hàng ngày bằng c|ch đọc s|ch. Người thông minh biết dẫn dắt người; người có trí tuệ biết cải tạo người. Trí tuệ của con người thể hiện nổi bật nhất trong sáng tạo. Người có trí tuệ thường tích cực chủ động khi thời cơ đến, biết linh hoạt đối phó với hoàn cảnh bất lợi, luôn hòa nhã hợp tác với mọi người, sống khiêm tốn, lạc quan. Họ hiểu rõ ý nghĩa cuộc đời, thấy rõ quy luật, hiểu thấu đạo lý, nói theo lẽ phải, h{nh động theo đạo lý.
7. VẬN DỤNG LINH HOẠT PHƯƠNG PH\P “TUNG HO[NH B[I HẠP” CỦA QUỶ CỐC TỬ.
Quỷ Cốc Tử l{ nh{ tư tưởng nổi tiếng thời Cổ đại Trung Quốc. Thuyết tung hoành phân hợp của ông được các học trò như Tô Tần, Trương Nghị, Tôn Tẫn, Bàng Quyên vận dụng th{nh công trong lĩnh vực chính trị quân sự thời Xuân thu - Chiến quốc (từ năm 770 đến năm 221 trước Công nguyên). Nổi bật nhất là phép biện chứng “tung hoành bài hạp” “tung” chỉ “chiều dọc”, “ho{nh” chỉ“chiều ngang”, “b{i” có nghĩa l{ “liên hợp”. Đ}y l{ hai chủ trương lớn về chính trị: Liên minh theo “chiều ngang” v{ ph}n hóa theo “chiều dọc”.
Đến thời Chiến quốc, ở Trung Quốc hình th{nh 7 nước lớn Tần, Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy và một số nước nhỏ Lỗ, Vệ, Tống, Trịnh, Tiết. Thuyết “Liên ho{nh” của Tô Tần chủ trương liên kết c|c nước lớn Tề, Sở, Triệu, Hàn, Ngụy chống lại nước Tần hùng mạnh. Thuyết “Hợp tung” của Trương Nghi chủ chương ph}n hóa liên minh 6 nước, tiến tới tiêu diệt từng nước một. Cuối cùng thuyết “Hợp tung” đ~ chiến thắng thuyết “Liên ho{nh”.
“B{i” còn có nghĩa l{ “mở rộng”, “mở cửa”, “mở rộng tấm lòng, tự do phát biểu, tích cực h{nh động”. “Hạp” còn có nghĩa l{ “đóng cửa, dùng thái độ yên lặng bình tĩnh để ứng phó”.
Quỷ Cốc Tử nói: “Ph}n chia, liên hợp là hiện tượng vận hành của vạn vật”. Kh|i niệm âm dương, cương nhu, động tĩnh hoặc phân chia mà chống nhau, hoặc liên hợp mà thuận hoặc nghịch. Dùng phân chia hình thể thay đổi theo hình tượng, dùng liên hợp hình thể liên kết thực sự. Có thể ph}n chia m{ được lợi, có thể liên kết mà có hại. Lợi dụng thời cơ để khống chế điều khiển, biến hóa vô cùng, giống như một cái vòng tròn không có mở đầu, không có kết thúc, ph}n chia đến cực điểm lại quay lại liên hợp, liên hợp đến cực điểm lại trở về phân chia, mãi mãi không kết thúc.
Nguyên lý phân chia liên hợp là do Quỷ Cốc Tử sáng tạo ra. Nguyên lý này có nguồn gốc từ “Kinh Dịch”. Chương “Hệ Từ Truyện” trong “Kinh Dịch” có đoạn viết: “Khi đóng cửa lại, tất sẽ tạo ra âm u, yên lặng, tối tăm, co cụm, đó chính l{ quẻ khôn, đại diện cho lực lượng âm. Khi mở cửa ra, tất sẽ tạo ra sáng sủa, sôi nổi, mở rộng, đó chính l{ quẻ c{n, đại diện cho lực lượng dương. ]m dương biến hóa l{ thông”.
Nh{ l~nh đạo cần phải hiểu nguyên lý đóng mở, hiểu rõ lúc nào cần đóng, lúc n{o cần mở. Đ}y l{ vấn đề nhận thức quy luật phát triển của các hiện tượng, c|c lĩnh vực chuyên môn mà mình phụ trách.
Quỷ Cốc Tử nói: “Xem xét lịch sử từ xưa đến nay, những thánh nhân khả tri sống giữa trời đất chính là những nhà dẫn dắt dân chúng. Thông qua quan sát biến hóa }m dương, th|nh nh}n đ|nh gi| sự vật, nắm chắc lý luận tồn vong của sự vật. Dự tính quá trình phát triển của vạn vật, hiểu rõ quy luật tư duy của con người, vạch ra triệu chứng của sự vật, từ đó khống chế mặt có hại, lợi dụng mặt có lợi của vạn vật. Cho nên, thánh nhân ở trên đời là người tuân theo quy luật phát triển nguyên lý }m dương của tự nhiên, dùng nó để điều khiển vạn vật. Sự biến hóa của sự vật, tuy vô cùng vô tận (song chỉ là lặp đi, lặp lại) nhưng đều có quy luật riêng của mình: Hoặc thuộc dương (đi lên, ph|t triển) hoặc thuộc }m (đi xuống, tàn lụi), hoặc suy yếu hoặc hùng mạnh, hoặc mở hoặc đóng, hoặc chặt chẽ hoặc lỏng lẻo. Xem xét tuần tự biến hóa của vạn vật, đưa ra mưu kế, định ra năng lực, so s|nh ưu khuyết của sự vật. Còn đối với hiền lương v{ |c nghiệt, trí tuệ v{ ngu đần, düng cảm và nhút nh|t, th|nh nh}n đều phân biệt rõ ràng. Mọi cái có thể mở, có thể đóng; có thể thăng tiến có thể thoái lui; có thể tôn trọng có thể khinh thường. Thánh nhân chỉ cần dựa vào những điều đó để nhận thức, khảo sát vạn vật. Khảo s|t hư thực, hữu vô của chúng, thông qua phân tích sở thích và dục vọng của con người và biết được ý nghĩ nguyện vọng của con người. Làm giảm giá trị (chê bai) những lời của đối phương, sau khi họ “mở ra”, lại tiếp tục khảo s|t để tìm ra sự thật”.
Quỷ Cốc Tử lại nói: “Mở v{ đóng l{ để hai mặt }m dương đối lập của sự vật biến hóa. Bốn mùa trong năm lu}n phiên thay đổi, cuối cùng l{ để thúc đẩy vạn vật thay đổi. Từ đó có thể thấy vạn vật biến hóa, bất kể là xa rời, trở về, phản kh|ng, đồng thuận đều được thực hiện thông qua nguyên lý đóng mở”.
“Tung ho{nh b{i hạp” tức nguyên lý “ngang dọc phân hợp” không những vận dụng để giải thích mọi hiện tượng tự nhiên m{ còn để lý giải các quan hệ xã hội như quan hệ bạn bè, quan hệ địch ta...
Thời Bắc Tống - Trung Quốc, quan hệ ngoại giao rất phức tạp. Ngoài Tống, Liêu đối địch còn có Tây Hạ tham dự vào. Vua Tây Hạ là Nguyên Hạo đ~ dùng thuật “tung ho{nh b{i hạp” của Quỷ Cốc Tử để yên ổn tồn tại ở giữa 2 nước lớn Tống, Liêu. Khi Nguyên Hạo lên ngôi, chính l{ lúc nước Tống phải ký kết hiệp ước nhục nh~, h{ng năm cống v{ng cho nước Liêu để cầu hòa. Nguyên Hạo áp dụng phương ch}m “Liên Liêu chống Tống”, lấy công chúa Hưng Bình họ Da Luật của nước Liêu làm vợ, thân chinh ra tận biên giới đón d}u. Tuy vẫn nhận sắc phong của nhà Tống, nhưng khi nhận chiếu thư không quỳ v{ coi thường sứ giả nhà Tống. Sau mấy trận đ|nh lớn, Tây Hạ suy yếu, quân Liêu thừa cơ x}m nhập, mua chuộc dân
chúng ở biên giới, giương chiêu b{i “quan hệ Tây Hạ - Liêu” l{ “quan hệ cậu ch|u” để áp chế Nguyên Hạo. Nguyên Hạo cüng không chịu thua kém, dụ hàng các bộ tộc biên giới nước Liêu, đ{m ph|n liên kết với nhà Tống khiến quan hệ Liêu Hạ căng thẳng. Nước Liêu muốn xuất quân hỏi tội, Nguyên Hạo thấy tình hình không hay, để tránh bị đ|nh 2 mặt, lập tức ký hòa ước với Tống, không còn có th|i độ khinh thường nhà Tống nữa. Năm 1044 sử dụng kế “dụ địch v{o s}u”, Nguyên Hạo đ~ đ|nh bại quân Liêu ở núi Hạ Lan, sau đó ưu đ~i tù binh Liêu, phái sứ giả nghị hòa với Liêu, xin cống nạp như cü, khiến cho 3 nước Tống - Liêu - Hạ ở vào thế chân vạc.
Quân sự phụ giúp ngoại giao, sau nhiều lần đ|nh thắng địch Nguyên Hạo đều nghị hòa, chứng tỏ Nguyên Hạo l{ người linh hoạt, biết co duỗi đóng mở theo đạo Quỷ Cốc Tử. Mưu lược “đóng mở” dùng nhiều trong đấu tranh chính trị quốc tế, song cüng được dùng nhiều trong cuộc sống, cạnh tranh, công tác. Vấn đề quan trọng l{ nh{ l~nh đạo có biết và có dùng đạo Quỷ Cốc Tử hay không.
8. BIỆN PH\P “CỰC ĐOAN”
Cuối thời Tần, đại tướng Trần Dư thủ hạ của Hạng Vü chiến đấu với quân Tần ở Cự Lộc. Quân Sở thắng ít, thua nhiều. Trần Dư xin viện binh. Hạng Vü quyết định đích th}n cầm qu}n đi cứu quân Sở ở Cự Lộc. Sau khi vượt sông Hoàng Hà, Hạng Vü quyết định đ|nh chìm thuyền, vứt hết nồi xoong, đốt sạch lều trại, mỗi người chỉ đem 3 ng{y lương khô, quyết một trận tử chiến với quân Tần. Sau 9 trận, quân Sở đ~ chặn đường rút lui của quân Tần, giết đại tướng Tần là Tô Giác, bắt sống Đại tướng Vương Ly. Trận Cự Lộc khiến thanh thế Hạng Vü vang lừng thiên hạ, để lại điển tích “Đập nồi phá thuyền” độc đ|o.
Năm 283 trước Công nguyên, Tần Chiêu Vương nghe tin nước Triệu có ngọc quý, liền giả vờ lấy 15 th{nh để đổi lấy ngọc. Nước Triệu lâm vào hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan. Hoạn quan Mục Hiền tiến cử Lạn Tương Như đi sứ. Lạn Tương Như mang ngọc đến nước Tần cung kính dâng ngọc cho vua Tần. Vua Tần vui mừng nhận ngọc rồi đưa cho c|c đại thần cung nữ thưởng thức. Tương Như thấy vua Tần không có th{nh ý đổi thành lấy ngọc bèn nói: “Viên ngọc n{y tuy đẹp, song vẫn còn có vết, h~y để cho hạ thần chỉ cho mọi người thấy”. Tần vương mắc mưu đưa trả ngọc cho Tương Như. Tương Như cầm chắc viên ngọc, lùi mấy bước dựa vào cột điện, lửa giận bừng bừng nói: “Thần thấy th|i độ đại vương ngạo mạn, không có thiện chí đổi thành lấy ngọc. Nếu đại vương ép thần, thần sẽ đập nát ngọc và đầu vào cột điện này. Tần vương sợ vỡ ngọc quý, liền xin lỗi v{ đưa bản đồ ra chỉ. Lạn Tương Như biết vua Tần lừa dối, bèn nói vua Tần phải trai giới 5 ng{y, sau đó mới được nhận ngọc. Sau khi về nh{ kh|ch, Tương Như cho người cầm ngọc đi đường tắt mang về Triệu. Sau 5 ngày, vua Tần không nhận được ngọc, sợ mất chữ tín với thiên hạ, đ{nh phải cho Tương Như về nước.
Hành vi quyết liệt “đập nồi phá thuyền” của Hạng Vü, th|i độ liều chết bảo vệ ngọc của Lạn Tương Như xảy ra trong những trường hợp đặc biệt. Chỉ khi nào tình thế cấp bách mới sử dụng biện pháp cực đoan, để xoay chuyển tình thế, tìm lối thoát hoặc giành thắng lợi triệt để.
II. ĐỘ LƯỢNG
Người bình thường, bụng dạ có thể hẹp hòi, nhưng l{ nh{ l~nh đạo, bụng dạ không được hẹp hòi. L~nh đạo phải là tấm gương của cách sống tử tế v{ bao dung. Khoan dung l{ tư cách quan trọng của người trên, cüng như kính trọng l{ tư c|ch quan trọng của kẻ dưới.
1. PHẢI CÓ TẤM LÒNG BAO DUNG, RỘNG LƯỢNG
Trong “Ngụ ngôn Aesop” có một câu chuyện như sau: Mặt trời và gió Bấc đ|nh cuộc, xem ai có thể l{m cho người đi đường cởi bỏ áo khoác. Mặt trời dùng ánh nắng dễ dàng làm cho người đi bộ cởi bỏ áo khoác. Gió Bấc ra sức thổi, người đi bộ càng giữ chặt áo khoác. Câu chuyện này chứng tỏ: nh{ l~nh đạo nếu dùng tình người cảm hóa cấp dưới thì cấp dưới sẽ cởi mở tấm lòng. Nếu cưỡng bức cấp dưới, thì cấp dưới sẽ phải đối phó lại. Nh{ l~nh đạo cüng l{ một con người, vì vậy quan hệ giữa l~nh đạo và cấp dưới cüng phải tuân theo quy luật tâm lý.
Thời đại Xuân Thu Trung Quốc các thành tựu của nước Tề hầu như dựa vào các chính sách khôn khéo của Tể tướng Quản Trọng. Trước đó, việc kế thừa ngôi báu, Quản Trọng ủng hộ công tử Củ chống lại Tiểu Bạch tức Tề Hoàn Công sau này. Quản Trọng đ~ từng dùng tên bắn Tề Ho{n Công nhưng không trúng. Khi Quản Trọng trở về, nhờ có Bão Thúc Nha khuyên bảo: “Đại vương muốn xưng b| thiên hạ, thì phải dùng Quản Trọng” nên Quản Trọng mới được Tề Hoàn Công phong làm Tể tướng. Để b|o ơn, Quản Trọng đ~ trổ tài, giúp Hoàn Công trở thành bá chủ. Nếu Tề Hoàn Công không có tấm lòng bao dung độ lượng thì có lẽ sự nghiệp xưng b| của Tề Hoàn Công không thể tạo dựng được.
Nghị sỹ Kanon đến từ bang Illinois - Mỹ khi vừa nhậm chức, đ~ có kẻ chế giễu: “Vị nghị sỹ đến từ bang Illinois này, e rằng trong túi áo của ông ta có lúa mạch”. Ý của câu này ám chỉ Kanon vẫn chưa bỏ được dáng dấp v{ suy nghĩ nông d}n. Kanon không hề tức giận, ung dung trả lời: “Tôi không những có lúa mạch trong túi m{ trong tóc còn có rơm nữa. Người miền Tây chúng tôi khó tránh khỏi có hơi hướng quê mùa, nhưng lúa mạch ở chỗ chúng tôi lại rất tươi tốt”. Bạn bè của Kanon khuyên ông nên đi gặp kẻ chế giễu kia, song ông đ~ từ chối: “Việc gì phải tranh luận với ông ta”. Điều này chứng tỏ Kanon biết điều chỉnh tâm trạng của mình và có tấm lòng bao dung độ lượng.
2. BIẾT THA THỨ
Tha thứ còn là một cách trừng phạt. Những người có điều kiện trả thù song không trả thù mà tha thứ cho kẻ làm hại mình. Nh{ l~nh đạo biết tha thứ mới thu phục được nhân tâm.
Yết Tử nói: “Chiến thắng düng cảm nhất định phải dùng mưu trí, chiến thắng mưu trí, nhất định phải dùng đạo đức, chiến thắng đạo đức nhất định phải dùng đức tính tu dưỡng cộng với khoan dung”.
Đ|nh gi| th{nh tựu của một nh{ l~nh đạo, thì nên xem ông ta tu dưỡng đức tính khoan dung như thế n{o. Khoan dung người khác mới l~nh đạo được mọi người. Lấy oán báo oán, oán thù càng sâu sắc, lấy đức báo oán, oán thù sẽ mất đi.
Hàn An Quốc người Thành An thời Tây Hán khi làm Trung đại sử triều Lương Hiếu Vương do tính cương trực đ~ đắc tội với Hiếu Vương nên bị bắt giam. Giám ngục Điền Giáp để lấy lòng Lương Hiếu Vương đ~ tìm mọi cách làm nhục Hàn An Quốc. Hàn An Quốc nói: “Bếp gio tắt không phải không cháy lại”. Điền Giáp lạnh lùng trả lời: “Nếu bếp gio cháy lại, ta sẽ đ|i tắt nó ngay”. Ít l}u sau, Hiếu Vương ph|i sứ giả đón H{n An Quốc ra tù, đặt tiệc đ~i ông, phong làm Nội sử. Điền Giáp nghe tin bỏ trốn. Hàn An Quốc thấy vậy mới nói: “Nếu Điền Giáp không về làm việc, nếu bịta bắt sẽ trừng phạt nặng”. Điền Giáp sợ hãi trở về, để trần đến nhà An Quốc tạ tội. An Quốc cười hỏi: “Nay bếp gio đ~ ch|y lại, ngươi có d|m đ|i tắt không?” Điền Giáp im lặng! Hàn An Quốc sau n{y đối xử với Điền Giáp rất tốt.
3. TỰ TRÁCH MÌNH
Lão Tử nói “đạo” (tức đường lối, chủ chương) l{ vật khái niệm nhìn không thấy, sờ không ra, trống rỗng và vô hình. Tác dụng của đạo vô cùng vô tận không thể hình dung được. Vì vậy nguyên lý thánh nhân cai trị thiên hạ l{ l{m cho tư tưởng dân chúng thuần khiết, làm cho dân chúng no ấm, làm cho ý chí dân chúng giảm bớt, làm cho thể chất dân chúng mạnh mẽ, l{m cho d}n chúng không có ý nghĩa tranh cướp lợi lộc, tranh mạnh hiếu thắng, làm cho cuộc sống dân chúng trong sạch, giúp cho vạn vật phát triển mạnh mẽ, từ đó xem xét quy luật tuần hoàn của vạn vật.
Nếu nh{ l~nh đạo có tấm lòng bao dung, thì cấp dưới mới quy phục.
Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật vốn là thủ hạ của tiết độ sứ Sử Tư Thuận. Hai người bất hòa đ~ l}u, ở mức độ bất tương dung. Sử Tư Thuận bị điều ra ngoài, Quách Tử Nghi do tài hoa xuất chúng được phong làm Tiết độ sứ. Lý Quang Bật lo sợ Tử Nghi báo thù, muốn đem quân chạy trốn, song vẫn còn do dự. Khi An Lộc Sơn, Sử Tư Minh l{m loạn, Đường Huyền Tông lệnh Quách Tử Nghi đem qu}n đ|nh dẹp. L{ đại tướng, Lý Quang Bật tìm Quách Tử Nghi nói: “Chúng ta tuy cùng thờ một vua, nhưng lại như kẻ thù. Nay ngài nắm quyền lớn, tôi sống hay chết, ngài cứ xử, nhưng xin ng{i h~y tha cho vợ con của tôi”. C|c tướng đều chăm chú theo dõi th|i độ của Quách Tử Nghi. Quách Tử Nghi nắm tay Quang Bật nói: “Quốc nạn đang nguy, Ho{ng thượng không thiết triều, là bề tôi, chúng ta làm sao lấy ân oán riêng tư l{m trọng, không để ý đến an nguy xã tắc, tồn vong quốc gia?” Lý Quang Bật cảm động, ra sức hiến kế đ|nh bại quân phản loạn. Quách Tử Nghi tiến cử Lý Quang Bật làm Tiết độ sứ. Tình bạn giữa hai người trở thành mẫu mực thiên cổ.
Th|ng 12 năm thứ hai Đại Lịch - Đường Đại Tông, bọn trộm đ{o mộ cha của Quách Tử Nghi. Quan phủ cho người đi bắt, song không bắt được tội phạm. Giám quản nội thị Ngư Triều Tư luôn ghen ghét Qu|ch Tử Nghi. Mọi người cho rằng Triều Tư l{m việc này. Quách Tử Nghi từ Phụng Thiên trở về triều. Triều đình sợ Tử Nghi vì việc này mà nổi loạn. Tử Nghi đến bái kiến Đường Đại Tông. Đại Tông nói đến chuyện này, Quách Tử Nghi khóc to nói: “Thần cầm qu}n l}u d{i, nhưng không cấm được hành vi tàn bạo, vì thế rất nhiều binh sỹ đ~
đ{o mộ người kh|c. Nay đ{o đến mộ nhà thần. Đó l{ ông trời đang khiển trách thần, không liên quan gì đến người kh|c”. Triều đình lúc đó mới yên tâm.
Tấm lòng của Quách Tử Nghi thật quảng đại. Ông không truy bắt thủ phạm, lại tự trách mình. Đ}y l{ một tấm gương nh}n đức, cao cả m~i m~i lưu truyền.
4. ĐIỀU CÓ THỂ L[M V[ ĐIỀU KHÔNG THỂ LÀM (TỨC KHÔNG CỐ CHẤP)
Một hôm, Khổng Tử nhìn thấy một con kỳ l}n đứng một mình bên đường tìm bạn. Khổng Tử than rằng thiên hạ không có ai có thể lý giải chí hướng và hoài bão của kỳ lân. Lúc đó Tử Cống đứng bên cạnh thấy vậy liền hỏi thầy. Khổng Tử trả lời: “Không o|n trời, không tr|ch người, nỗ lực học để thực hiện lý tưởng, người hiểu ta lẽ nào chỉ có ông trời? Không hạ thấp chí hướng của mình, không làm bẩn thân thể mình; Bá Di, Thúc Tề chẳng phải là con người như thế sao? Ta và họ kh|c nhau l{ điều có thể l{m thì ta l{m, điều không thể làm thì ta không l{m” (ý l{ ta không cố chấp như họ). Khi Công Tôn Sửu hỏi ba người Bá Di, Y Doãn, Khổng Tử có gì khác nhau? Mạnh Tử trả lời: Đạo xử thế của họ kh|c nhau. B| Di l{ người nếu không phải là vua mà ông ta công nhận thì ông ta không phục vụ, không phải dân chúng mà ông ta công nhận thì ông ta không sai khiến; thiên hạ thái bình thì ông ra làm quan, thiên hạ hỗn loạn ông đi ở ẩn. Y Do~n l{ người nếu l{ vua đều có thể phục vụ, nếu l{ d}n đều có thể sai khiến, thiện hạ thái bình làm quan, thiên hạ hỗn loạn vẫn làm quan. Khổng Tử là người có thể làm quan thì làm quan, có thể đi ở ẩn thì ở ẩn, có thể làm quan lâu dài thì làm quan lâu dài, có thể lập tức từ quan thì lập tức từ quan. Điều của Khổng Tử không phải là điều Bá Di, Y Doãn có thể đạt được. Khổng Tử khiến cho người khác không thể so sánh được l{ điều có thể l{m thì l{m, điều không thể l{m thì không l{m”.
Nh{ l~nh đạo đại kỵ cố chấp, nên căn cứ và tình hình thực tế để quyết định.
Sở Trang Vương có một con ngựa quý, vì ăn qu| nhiều nên béo mà chết. Sở Trang Vương ra lệnh cho c|c quan văn, võ trong triều phải mặc quần áo tang dự lễ tang con ngựa, dùng quan quách khâm liệm, tiến hành chôn cất con ngựa theo lễ tang đại phu. Một số đại thần khuyên can. Sở Trang Vương tức giận ra lệnh kẻ nào dám can về đ|m tang con ngựa sẽ bị tội chết. Ưu Mạnh, nhạc công trong triều bỗng khóc to trước điện. Sở Trang Vương kinh ngạc hỏi vì sao. Ưu Mạnh nói: “Con ngựa là vật đại vương yêu quý. Đường đường như nước Sở làm cái gì chẳng được mà phải chôn theo lễ đại phu. Xin đại vương chôn theo lễ nh{ vua”. Trang Vương hỏi l{m như thế n{o. Ưu Mạnh đ|p:
“Xin đại vương đẽo ngọc làm áo quan, dùng gỗ trầm hương l{m qu|ch, dùng c|c loại gỗ quý hạng nhất như gỗ phong, gỗ dự, gỗ long n~o l{m đại quách bọc ngoài, phái binh sỹ đ{o huyệt mộ, binh sỹ già yếu v|c đất đắp mộ. Nước Tề, nước Triệu đứng tế ở trước, nước Hàn nước Ngụy hộ vệ đằng sau, lập đền thờ cho ngựa quý, làm cỗ th|i lao để tế, cấp ấp vạn nhà để lo việc cúng giỗ sau n{y. Đó mới l{ thượng s|ch”.
Lúc đó Sở Trang Vương mới hiểu rõ rằng quyết định của mình l{ hoang đường, bèn hỏi vậy nên chôn cất con ngựa như thế n{o cho đúng c|ch. ưu Mạnh trả lời: “Xin đại vương
chôn con ngựa n{y như chôn súc vật bình thường. Đắp một cái bếp làm quách, dùng nồi đồng làm áo quan, thêm gừng t|o l{m hương liệu, trộn với gia vị mộc lan, lấy gạo nếp để tế, cho mặc áo lửa để chôn vào bụng người ăn”.
Sở Trang Vương cười to: “Tất cả cứ theo lời khanh mà làm. Giao con ngựa cho người nấu bếp làm thịt để tránh thiên hạ đ{m tiếu”.
Sở Trang Vương cüng l{ vị vua biết nghe lời nói phải, vì vậy sau n{y xưng bá ở Trung Nguyên.
5. “NƯỚC BỌT TỰ KHÔ”
Đ~ l{ đạo nghĩa thì một phút cüng không xa rời, đ~ l{ chính nghĩa thì một gi}y cüng không lơi lỏng. Nh{ l~nh đạo phải có lòng hào hiệp, sống tử tế.
Sử ký đời Đường có ghi, L}u Sư Đức sống ở thời kỳ Cao Tông, Võ Tắc Thiên làm hoàng đế, đ~ từng làm chức Ngự sử gi|m s|t, sau n{y thường tham gia bàn bạc các việc cơ mật quốc gia. L}u Sư Đức l{ người trung hậu, khoan hòa, độ lượng. Do thân thể quá béo, nên tác phong làm việc chậm chạp. Có một lần đi dự họp, Thị lang Lý Đức Chiêu đợi quá lâu, bèn mắng Lâu Sử Đức l{ “đồ nh{ quê”. L}u Sư Đức chỉ cười v{ nói: “Tôi không l{m đồ nhà quê thì ai l{m”.
L}u Sư Đức đ~ từng làm việc với Địch Nhân Kiệt. L}u Sư Đức rất khâm phục Địch Nhân Kiệt. Sư Đức nhiều lần dâng biểu tiến cử Nhân Kiệt lên Võ Tắc Thiên, nói Địch Nhân Kiệt có tài làm Tể tướng. Võ Tắc Thiên phong Nhân Kiệt làm Thị lang địa quan, ph|n Thượng thư. Địch Nhân Kiệt cüng l{ một người trung hậu, độ lượng, chỉ đôi lúc tự cao tự đại. Nhân Kiệt không hề biết gì về sự giúp đỡ ngầm của L}u Sư Đức, cứ tưởng rằng mình thăng quan tiến chức nhờ ở năng lực của mình. Khi L}u Sư Đức làm Tể tướng, khi cùng tham dự triều chính Nhân Kiệt có ý khinh thường Sư Đức. Nhân Kiệt thường cố ý đẩy Sư Đức đi sứ nước ngoài. Sư Đức không hề để ý v{ cüng không khoa trương. Võ Tắc Thiên thấy vậy liền hỏi Nhân Kiệt đ|nh gi| Sư Đức l{ người thế nào. Nhân Kiệt nói, Sư Đức chẳng qua là kẻ vü phu, chẳng phải hiền tài, lại không biết người để bổ nhiệm. Giỏi nhất chỉ có thể l{m đại tướng trấn ải biên giới mà thôi. Võ Tắc Thiên liền nói thẳng cho Nhân Kiệt biết chính L}u Sư Đức tiến cử Nhân Kiệt làm Tể tướng và lệnh cho người mang hơn 10 biểu tiến cử cơ mật của L}u Sư Đức đưa cho Địch Nhân Kiệt xem. Địch Nhân Kiệt vô cùng xấu hổ, khi thoái triều hết lời ca ngợi đạo đức cao thượng đ~ bao dung mình l}u d{i m{ không hề nói gì của L}u Sư Đức với các quan đồng liêu và than rằng mình mãi mãi không thể bằng được. Từ đó Địch Nhân Kiệt ra sức làm việc, tiến cử nh}n t{i để sửa lỗi lầm của mình. Nhân Kiệt càng kính trọng Lâu Sư Đức.
Khi L}u Sư Đức làm Tể tướng, triều đình cüng phong em trai của ông làm Thứ sử châu Đại. L}u Sư Đức cảm thấy lo lắng. Ông cho rằng mình ít tuổi chẳng có tài lại làm công khanh, tham dự công việc cơ mật. Em trai lại làm thứ sử ch}u Đại, nắm quyền một phương. Điều này có thể nói là vinh lộc quá thịnh. L}u Sư Đức nói với em trai:
- “C}y to dễ bị gió thổi đổ, quyền cao chức trọng làm mọi người ghen ghét. Em từ nay về sau đối xử với sự ghen ghét của thế nh}n như thế n{o?”
Người em trai rất hiểu nỗi lo lắng của người anh bèn trả lời:
- “Từ nay về sau, cho dù có kẻ nhổ nước bọt vào mặt em, em cüng chỉ nhè nhẹ lau đi cho xong chuyện, tuyệt đối không làm anh phải lo lắng”.
Không ngờ L}u Sư Đức c{ng lo hơn. Ông nói:
- “Điều đó lại chính là chỗ anh lo cho em đấy! Người ta nhổ nước bọt vào mặt em là vì họ hận em. Nếu em lau sạch nước bọt trên mặt, thì chẳng phải đ~ đi ngược lại ý định của người nhổ nước bọt. H{nh động này của em lại càng làm cho họ căm thù em hơn. Nước bọt trên mặt không lau cüng sẽ tự khô, chi bằng em nên cười v{ để nó tự khô mới hay”.
Người em biểu thị nhất định sẽ làm theo lời dặn của anh. Tất nhiên không ai dám nhổ nước bọt vào mặt Thứ sử ch}u Đại. Nếu bị nhổ nước bọt vào mặt thì tức là việc làm của em trai Sư Đức vô cùng bất lương v{ bỉ ổi.
Sách sử nh{ Đường còn ghi chuyện sau đ}y:
Có lần Võ Tắc Thiên nói với Địch Nhân Kiệt: “Nghe nói hồi ở Dự Ch}u, ngươi rất nổi tiếng, lập nhiều thành tựu, nhưng cüng có kẻ nói xấu ngươi. Ngươi có muốn biết người đó l{ ai không?”
Địch Nhân Kiệt trả lời:
“Người ta nói cái xấu của thần, nếu quả thật là lỗi của thần, thần tự nguyện sửa chữa. Nếu bệ hạ đ~ l{m rõ không phải là lỗi của thần. Đó l{ sự may mắn của thần. Còn như l{ ai nói xấu thần sau lưng, thần không muốn biết. Như vậy mọi người có thể chung sống với nhau tốt hơn”.
Võ Tắc Thiên nghe xong, cảm thấy Địch Nhân Kiệt quả thật là kẻ rộng lượng, rất kính trọng ông, tôn ông l{m “Quốc l~o”. Tư tưởng không muốn biết ai nói xấu sau lưng mình chính là sự cao thượng của người độ lượng.
6. KHÔNG CHẤP CHUYỆN NHỎ
Bùi Hà là quan lớn địa phương đời Tần, là bạn rất thân của tướng Chu Phức. Có lần Bùi H{ đến chơi nh{ Chu Phức. Chu Phức dặn gia nh}n pha tr{. Hai người đ|nh cờ vây. Gia nhân của Chu Phức rót rượu. Bùi Hà tập trung toàn bộ tinh lực vào bàn cờ, không uống rượu. Gia nhân thuận tay đẩy Bùi Hà, Bùi Hà mất thăng bằng ngã xuống đất. Song như không có chuyện gì xảy ra, Bùi Hà bò dậy lại ngồi lên ghế, tiếp tục đ|nh cờ bình thường. Vương Diễn (bạn Bùi Hà) hỏi Bùi H{ lúc đó vì sao không phản ứng? Bùi Hà trả lời: “Vì lúc đó tôi qu| lú lẫn”.
Quan tư m~ đời Tấn là Tạ Vạn có lần tranh chỗ ngồi với Thái Hệ - Thái Hệ đẩy Tạ Vạn ng~ rơi cả khăn mü. Tạ Vạn đứng dậy phủi quần |o nói: “Ông suýt nữa làm mặt tôi bị thương”. Th|i Hệ nói: “Tôi vốn không chú ý đến việc đó”. Hai người không hề để t}m đến chuyện này nữa. Mọi người đều cho họ là những người độ lượng.
Trần Thắng, Ngô Quảng khởi nghĩa ở Đại Trạch, sau đó Trần Thắng được nghĩa qu}n tôn l{m Trương Sở Vương, dựng đô ở huyện Trần. Trước kia Trần Thắng làm thuê cày cấy cho địa chủ, kết bạn với rất nhiều người nghèo khổ. Sau khi Trần Thắng giương cao ngọn cờ chống Tần, xưng vua, c|c bạn cü nghe tin đến huyện Trần tìm Trần Thắng. Trần Thắng nhiệt tình chiêu đ~i họ, đưa họ về cung. Đứng trước cung điện nguy nga, các bạn cü của Trần Thắng đều nói: “Trần Thắng, anh làm vua, ghê thật”. Trong lúc mọi người nói năng tùy tiện, nhắc lại chuyện Trần Thắng l{m thuê, có người ghé tai nói nhỏ với Trần Thắng: “Bọn ngu xuẩn này, không coi ai ra gì, dám làm nhục đại vương”.
Trần Thắng vốn bụng dạ hẹp hòi, lúc đó đ~ không vui, nay nghe lời gièm pha lại càng tức giận. Trong lúc hồ đồ, ông ta đ~ xử cực hình tất cả những người bạn cü.
Từ đó rất nhiều bạn cü đ~ bỏ Trần Thắng ra đi. Điều này dự báo sự nghiệp của Trần Thắng sẽ thất bại.
Phạm Trong Yên - thừa tướng thứ hai đời Tống có trái tim nhân hậu. Ông đ~ từng khuyên bảo các học trò rằng: “Người n{o cho dù vô cùng ngu đần, khi chỉ trích người khác thì cüng sẽ trở nên thông minh. Người nào cho dù vô cùng thông minh, khi khoan dung cho mình thì cüng sẽ trở nên vô cùng hồ đồ, lẩm cẩm. C|c ngươi chỉ cần thường xuyên dùng lời nói tr|ch người kh|c để trách mình, dùng tấm lòng khoan dung mình để khoan dung người khác thì không sợ không thể trở thành thánh hiền”.
Chúng ta h~y khoan dung đối với bạn bè, người thân, song không được khoan dung với kẻ thù nguy hiểm.
III. CÔNG BẰNG VÀ CHÍNH TRỰC
Cấp dưới luôn đòi hỏi cấp trên xử sự công bằng, bởi vì công bằng là một nguyên tắc giao tiếp quan trọng giữa người với người.
1. CÔNG BẰNG LÀ LẼ PHẢI, CHÍNH TRỰC THẮNG GIAN TÀ Lão Tử nói: “Ta sở dĩ luôn lo }u sợ họa là bởi vì ta có một thân thể. Nếu ta không có thân thể này, thì ta còn có cái gì mà lo âu sợ hãi nữa?” Ý của câu này là không nên quá coi trọng thân thể, quá sợ h~i trước cái chết, tai họa.
Cuộc sống nhắc nhở chúng ta rằng: “C{ng nghĩ về mình thì càng khó hoàn thiện mình. Những người quên mình, không vì mình, tinh thần của họ luôn tỏa ra |nh s|ng vô cùng vĩ đại, vô cùng cao cả”.
Trang Tử nói: “Người chí nh}n thì quên mình, người th{nh đạt thì không cần công lao, thánh nhân không cần danh tiếng”. Thật ra giúp người chính l{ giúp mình, vì người cüng chính l{ vì mình. Xưa nay những kẻ chỉ vì mình mưu cầu danh lợi, rút cục cüng chẳng được gì. Cuộc đời con người vô cùng ngắn ngủi, tiền bạc cüng chẳng mang lại hạnh phúc lâu dài cho chúng ta. Danh vọng, của cải rồi cüng ra đi. Nh{ l~nh đạo có thể thích người này, không ưa người kia, song giải quyết công việc thì phải theo lẽ công bằng. Lẽ công bằng là lẽ phải mà mọi người bất kể ai cüng phải tuân theo. Chúng ta rất khó thực hiện bình đẳng hoàn to{n, nhưng có thể dễ dàng thực hiện sự công bằng hơn, ví dụ lao động như nhau thì tiền lương như nhau. Chính sự bất công đ~ g}y ra những mâu thuẫn gay gắt giữa c|c nước, các tập đo{n kinh tế, c|c gia đình v{ c|c th{nh viên trong gia đình. Nh{ l~nh đạo cüng giống như người bố, người mẹ trong gia đình phải đối xử với các nhân viên hết sức công bằng, minh bạch.
Nh{ l~nh đạo còn phải chính trực, bởi vì chính trực mới đề bạt được những người chính trực, giáo dục những kẻ gian tà, bảo đảm đơn vị, xã hội yên bình. Quan đại phu nước Vệ - Tử Ngư l{ một người chính trực. Trong lúc Vệ Linh Công trọng dụng gian thần Di Tử Hà, Tử Ngư đ~ nhiều lần can gián, song không có kết quả. Trước khi chết, Tử Ngư dặn con trai không tiến hành tang lễ ở nhà chính theo phong tục, l{m như vậy gọi l{ “Thi gi|m” (can gi|n của kẻ đ~ chết), hy vọng Vệ Linh Công loại bỏ Di Tử H{ để trọng dụng Cừ Bá Ngọc. Tấm lòng của Tử Ngư thật chí thành.
Khi Đường Cao Tông - Lý Trị l{m Vua, Địch Nhân Kiệt l{m Đại lý thừa (quan xét xử). Một lần có hai quan võ chặt nhầm cây bách ở Chiêu Lăng (Lăng mộ của Lý Thế Dân). Theo luật pháp, phải cách chức l{m d}n thường. Đường Cao Tông tức giận hạ lệnh chặt đầu hai quan võ. Địch Nhân Kiệt cho rằng họ không đ|ng bị chém. Đường Cao Tông vô cùng tức giận Địch Nhân Kiệt. Địch Nhân Kiệt nói “Từ xưa đến nay nói thẳng rất khó vì sợ phạm húy. Thần cho rằng gặp hôn qu}n như Kiệt, Trụ cüng rất khó, nhưng gặp minh qu}n như Nghiêu, Thuấn lại rất dễ. Nay theo pháp luật, hai kẻ chưa phạm tội chết mà bệ hạ lại hạ lệnh chém đầu, như vậy là làm pháp luật nh{ Đường thất tín với thiên hạ. Nếu vì một cây bách mà giết hai quan võ, đời sau sẽ đ|nh gi| bệ hạ như thế nào. Thần sở dĩ không d|m nhận lệnh vì sợ bệ hạ mang tiếng bất đạo”. Lý Trị cho rằng Nhân Kiệt nói có lý, liền thu hồi mệnh lệnh, xử cách chức hai quan võ, đuổi về Lĩnh Nam. Mấy ngày sau Cao Tông phong Nhân Kiệt làm thị ngự sử.
Thời Bắc Tống, Tiền Nhược Thủy l{m quan gi|m s|t Đồng Ch}u. Lúc đó có người ở gái của một nhà giàu mất tích, bố mẹ cô gái kiện lên tri châu. Tri châu lệnh cho lục sự điều tra xét xử vụ án này. Viên lục sự tên l{ Tham Qu}n đ~ từng vay tiền nh{ gi{u kia không được, ôm hận trong lòng, nay nh}n cơ hội này vu cáo cha con nhà giàu giết người ở gái rồi ném xuống sông phi tang nên phải xử tử. Cha con nhà giàu không chịu được sự tra tấn, nên nhận tội bừa. Tri châu thấy vậy cüng định kết |n. Nhược Thủy đề nghị chưa kết án vội. Ông cho người đi tìm. 10 ng{y sau cô g|i trở về, cha con nh{ gi{u được tha. Cha con nh{ gi{u đến tạ ơn, song Nhược Thủy đóng cửa không tiếp, nói là công này là của tri châu. Tri châu báo về triều đình, Tống Th|i Tông phong Nhược Thủy làm Phó sứ cơ mật. Mặc dù ở chức cao, Nhược Thủy vẫn giữ tính chính trực như cü.