🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Bí mật thành Paris - Tập 1 Ebooks Nhóm Zalo BÍ MẬT THÀNH PARIS (TẬP 1) Nguyên tác: Les Mystères de Paris (1842–43) —★— Tác giả: Eugène Sue Dịch giả: Nguyễn Xuân Dương & Lâm Phúc Giáp & Hoàng Tiến Hành & Lưu Đức Hiên & Cao Hữu Nhu NXB Hội nhà văn & Phúc Minh – 2020 Nguồn: VCTVEGROUP Chuyển text: Blue Rose & Caruri LỜI GIỚI THIỆU Từ tháng 6 năm 1842 đến tháng 10 năm 1843, người dân và giới trí thức Paris hồi hộp ngóng chờ tờ báo Le Journal des débats mỗi ngày để đón đọc phần mới nhất trong bộ tiểu thuyết Bí mật thành Paris của nhà văn Eugène Sue. Câu chuyện phiêu lưu hồi hộp, li kỳ của Rodolphe – một Đại công tước có trái tim nhân hậu và nghĩa hiệp – đã thu hút sự quan tâm của tất cả các tầng lớp xã hội tại Paris lúc bấy giờ. Lấy cảm hứng từ nguyên mẫu ngoài đời thực – Eugène François Vidocq, từ một tội phạm khét tiếng, sau đó hoàn lương trở thành cảnh sát đặc nhiệm tài ba, Eugène Sue đã xây dựng nhân vật Rodolphe như “một vị thám tử” cải trang, thâm nhập vào các khu ổ chuột của Paris để ngăn ngừa tội ác và thực thi công lý. Bộ tiểu thuyết đã dẫn dắt người đọc đi vào những ngõ hẻm của từng khu phố, qua những lối đi hôi hám tối tăm, để đến với những căn nhà tồi tàn, những quán rượu nhớp nhúa, nơi tá túc của những con người cùng khổ và giới lưu manh tại Paris… “Bí mật thành Paris là một trong những tác phẩm đáng kinh ngạc nhất của văn chương Pháp thế kỷ XIX. Thậm chí, nhiều độc giả bị cuốn theo các tình tiết trong câu chuyện, đã gửi cho tác giả phần kết thúc tác phẩm do chính họ nghĩ ra, tạo nên sự ‘tương tác’ giữa tác giả và người đọc.” (Philippe Dulac). Gần hai thế kỷ qua, Bí mật thành Paris vẫn tiếp tục được tái bản và dịch ra hàng chục thứ tiếng khác nhau, kèm theo đó là những phiên bản tranh minh họa đầy tính nghệ thuật. Chính tác phẩm này đã góp phần tạo cảm hứng cho Victor Hugo sáng tác Những người khốn khổ – một kiệt tác văn học kinh điển. Và với ấn bản mới lần này, không chỉ hiệu đính, Phuc Minh Books còn bổ sung một số tranh minh họa khắc kẽm, từng được sử dụng trong phiên bản Les Mystères de Paris (Bí mật thành Paris), do NXB J. Rouff xuất bản năm 1885, nhằm giúp độc giả có cái nhìn chân thực nhất về con người và xã hội Paris thế kỷ XIX. PHẦN I CHƯƠNG I QUÁN LIỀU Ổ BỢM 13 tháng Chạp năm 1838, trời mưa lạnh. Một người vạm vỡ mặc áo khoác ngắn đã cũ, đi qua cầu Change, vào sâu trong khu Nội Thành của Cung Tư Pháp đến nhà thờ Đức Bà. Khu Tòa Án, khu được quản lý và canh phòng nghiêm ngặt, vẫn là chỗ ẩn nấp, hò hẹn của bọn lưu manh Paris – kỳ lạ thật – hay do định mệnh thì đúng hơn – một sự thu hút không cưỡng nổi luôn luôn lôi cuốn bọn tội phạm tụ tập quanh tòa án – một nơi chuyên xét xử, tống giam, tù đày hoặc đưa chúng lên máy chém. Đêm đó, hun hút gió thổi vào các ngõ hẻm của khu phố, ánh sáng nhợt nhạt, chập chờn của những chiếc đèn cây, run rẩy trong gió bấc, hắt xuống những rãnh nước đen sì chảy trên nền đường lát đá lầy lội. Nhà một dãy xám xịt, thỉnh thoảng trổ một vài cửa sổ, khung cửa mọt rỗng, phần lớn đều không có kính. Các lối đi hôi hám, tối tăm, dẫn đến những cầu thang tối tăm, hôi hám hơn, lại còn dốc đứng, phải vịn vào sợi thừng cột chắc vào đinh sắt đóng trên tường mới trèo lên được. Tầng trệt của một vài ngôi nhà là quán bán than, bán lòng, bán thịt loại kém chất lượng. Mặc dù hàng họ chẳng đáng mấy, mặt trước những quán tối tăm đó đều có chấn song sắt vì người bán hàng vẫn sợ các tay bợm liều mạng quanh đấy. Đến phố Hàng Đậu, giữa Nội Thành, nhân vật nói trên bước chậm hẳn lại, y thấy mình đang đi trên mảnh đất làm ăn quen thuộc. Trời tối như mực, mưa như trút, gió đập mạnh vào tường. Đồng hồ Cung Tư Pháp văng vẳng điểm mười giờ khuya. Nhiều phụ nữ nấp dưới những vòm cửa tối om, sâu hun hút như hang động, khe khẽ hát một vài điệp khúc dân ca. Một người trong bọn họ, ý chừng có quen biết người chúng ta vừa nói tới, nên bị y đột ngột dừng lại, nắm lấy tay. – Chào “Chọc Tiết”. – Người này có tiền án, lúc ngồi tù đã mang biệt hiệu như vậy. – Mày đấy ư, Sơn Ca? Khao tao một chầu rượu ngay đi, nếu không muốn tao riềng cho một trận. – Tôi không có tiền. – Cô gái run sợ trả lời. Cả khu này, ai cũng khiếp y. – Nếu cô em rỗng túi thì mụ Quỷ Cái chủ quán ngại gì mà chẳng cho ký nợ. – Trời ơi! Tôi còn nợ mụ tiền thuê bộ quần áo đang mặc đây này! – Mày lại văn với tao rồi! – Từ trong bóng tối, Chọc Tiết quát to và bất thình lình cho cô gái một quả đấm thật mạnh khiến cô thét lên đau đớn. – Không phải chỉ thế thôi đâu, con ạ. – Vừa nói xong, y đã chửi thề và quát to. – Ái chà chà! Mày dám lấy kéo làm xước da tao hả? – Rồi y hung hăng rượt theo cô gái trong ngõ tối. – Đừng đụng đến tao, nếu không tao sẽ lấy cái kéo này móc mắt mày. – Cô gái nói giọng quả quyết. – Tao không làm gì mày, sao mày lại đánh tao? – Tao sẽ cho mày biết tay. – Y vừa nói vừa sấn lại trong bóng đêm. – A, tao tóm được mày rồi, mày sẽ phải ăn đòn. – Y vừa nói vừa dùng bàn tay hộ pháp của mình bóp mạnh cổ tay thanh mảnh của cô gái. – Chính mày sẽ nếm đòn. – Một giọng đàn ông cắt ngang. – Thằng nào đấy? Có phải thằng Cánh Tay Đỏ không? Trả lời đi và đừng siết chặt tay tao thế! Tao đi vào ngõ nhà mày, vậy thì chắc là mày chứ còn ai nữa! – Đếch phải! – Được, đã không cùng cánh thì cho nhau tí tiết. – Chọc Tiết quát to. – Ơ! Cái giò bé nhỏ tao nắm đây là của đứa nào đấy? – Nó cũng giống cái này này! Ngay lúc đó Chọc Tiết cảm thấy một bàn tay thon nhỏ nhưng rắn như thép nguội siết chặt cổ họng mình. Nấp ở cuối con hẻm, Sơn Ca đã kịp bước vội lên mấy bậc thang, dừng lại và nói to với vị cứu tinh không quen biết: – Ôi! Cảm ơn ông đã bênh vực cháu. Thằng này đánh cháu vì cháu không có tiền cho y uống rượu. Cháu đã đánh lại, nhưng cái kéo nhỏ của cháu thì làm được trò trống gì! Bây giờ cháu đã thoát nạn, kệ xác y thôi, ông ạ. Mà ông phải coi chừng đấy. Y là Chọc Tiết, không phải tay vừa đâu. Ông không nghe cháu nói sao? Cháu đã bảo là tay Chọc Tiết đấy! Người lạ mặt đáp: – Là dân chơi thì sợ gì chứ! Rồi tất cả lại im lặng. Sau đó vài giây lại có tiếng đánh nhau huỳnh huỵch. – À, mày muốn tao khử mày sao? – Tên côn đồ vừa thét lên, vừa cố sức vùng ra khỏi đối thủ mà y thấy khỏe ghê gớm. – Được! Mày sẽ phải trả nợ cho con bé kia và cả cho mày nữa. – Y nghiến răng nói thêm. – Đúng! Tao sẽ trả bằng những quả đấm này. Chọc Tiết hổn hển: – Nếu mày không buông tay ra, tao sẽ đập nát mặt mày. – Mặt tao ấy à? Cứ thử xem nào, anh bạn! – Vậy thì hãy đến dưới cây đèn kia. – Được, đến đây sẽ biết tay nhau thôi. – Người lạ mặt trả lời, tay vẫn siết chặt cổ y. Ông ta đẩy lùi Chọc Tiết đến tận đầu ngõ, và lăn mạnh y ra giữa đường, dưới ánh sáng yếu ớt của cây đèn. Chọc Tiết loạng choạng, nhưng vừa đứng vững y đã điên cuồng lao vào người khách lạ có thân hình mảnh dẻ, khó tin là ông ta có sức mạnh khác thường như vừa thấy. Mặc dù có thân hình hộ pháp và giỏi ẩu đả vào bậc nhất, Chọc Tiết cũng phải thừa nhận đã gặp phải đối thủ trên tài. Người khách lạ dùng chân ngáng rất hiểm, quật ngã y hai lần liền. Hình như không nhận thấy sự vượt trội của đối phương, Chọc Tiết gầm lên, lại giận dữ lao vào. Lập tức người bảo vệ Sơn Ca thay đổi cách đánh, ông ta giáng mạnh xuống đầu gã Chọc Tiết những cú đấm như mưa, nặng như búa bổ, những mánh võ mà ngay đến cả Jack Turner, võ sĩ giỏi nhất London cũng phải bái phục, khác hẳn lối tỉ thí thông thường khiến y lảo đảo. Đến lần đo ván thứ ba này, Chọc Tiết gục xuống như một con bò trên vỉa hè, rên rỉ. – Thôi! Tao xin thua. Liều đứng xem cuộc ẩu đả từ trên thềm nhà Cánh Tay Đỏ, Sơn Ca can ngăn: – Y đã chịu nhún, đừng giết y, hãy tha cho y. – Rồi Sơn Ca ngạc nhiên hỏi thêm. – Nhưng ông là ai vậy? Trừ lão Thầy Đồ, thì từ phố Saint-Éloi đến nhà thờ Đức Bà chưa ai địch nổi Chọc Tiết. Ôi! Cháu rất cảm ơn ông, không có ông thì chắc y đã đánh chết cháu rồi. Người khách lạ không trả lời nhưng lại chú ý đến giọng nói dịu dàng, thánh thót của Sơn Ca, ông ta cố gắng nhìn rõ mặt cô gái nhưng đành chịu vì trời rất tối mà ánh sáng cây đèn lại quá yếu. Sau mấy phút nằm bất động, Chọc Tiết cựa quậy chân tay rồi ngồi dậy. – Hãy coi chừng! – Cô gái vẫn nấp trong lối đi, vừa la to, vừa kéo tay người bảo vệ mình. – Coi chừng y trả thù đấy! – Hãy yên tâm, cô bé ạ! Nếu y còn muốn ăn đòn, ta sẽ cho y xơi đủ. Nghe những lời đó, Chọc Tiết nói với người khách lạ: – Tôi đã bị đánh nhừ tử, hôm nay thế là đủ, lần khác gặp lại, ta sẽ tính chuyện với nhau. – Mày chưa vừa ý sao? Mày còn phàn nàn gì nữa? – Người khách lạ quát to, giọng hăm dọa. – Tao đánh trộm mày à? – Không, không đâu! Tôi không phàn nàn gì, ông thật đáng mặt đại ca. – Tên côn đồ khá thô lỗ nhưng lại tỏ ra tôn trọng đối thủ như tất cả đồng bọn cảm thấy khuất phục trước vũ lực. – Ông đã cho tôi một trận ra trò, ngoài lão Thầy Đồ khỏe như vâm, chưa đứa nào dám khoe hạ nổi tôi đâu đấy. – Sao nữa? – Sao à? Tôi đã tìm được tay trùm thổ, thế thôi! Nhưng sớm muộn gì thì ông cũng sẽ gặp người trên tài. Nếu không có ai, còn có Chúa, như bọn “áo chùng thâm”linh mục hay nói. Có điều bây giờ ông đã hạ được Chọc Tiết, chắc chắn ông có thể tung hoành trong thành phố. Tất cả bọn gái làm tiền sẽ quỳ dưới chân ông, Quỷ Đực và Quỷ Cái chẳng đứa nào dám từ chối không cho ông ghi sổ nợ. Nhưng chà chà! Ông là ai vậy? Ông nói tiếng lóng như người trong hội. Nếu ông là “dân đập hộp”dân trộm cướp thì tôi đếch chơi đâu. Tôi đã đâm một gã đàn ông, đúng như thế, vì khi đã nóng mắt, tôi chỉ còn thấy máu. Nhưng tôi đã phải trả giá bằng mười lăm năm khổ sai. Mãn hạn, tôi chẳng còn nợ nần gì bọn “tọc mạch”quan tòa và không bao giờ tôi đập hộp nữa, ông cứ hỏi con Sơn Ca mà xem. – Đúng đấy, ông đây không phải là dân đập hộp. – Vậy thì hãy cùng đi “mổ” rồi anh sẽ biết tôi là ai. – Người lạ mặt nói. – Đi nào! Xí xóa mọi chuyện nhé! – Thật đáng mặt đại ca, ông là đại ca của tôi, tôi chịu đấy! Tay quyền của ông sao mạnh gớm! Nhất là trận mưa đấm cuối cùng. Cực kỳ mạnh mẽ! Cứ như búa máy. Hẳn là miếng võ mới. Ông phải truyền nghề cho tôi đấy. – Tôi sẽ làm lại khi anh muốn. – Không phải với tôi! Không phải với tôi! Tôi vẫn còn nảy đom đóm mắt đây này. Nhưng ông quen biết Cánh Tay Đỏ à? Ông đi vào ngõ nhà hắn mà. – Cánh Tay Đỏ! – Người lạ mặt ngạc nhiên vì câu hỏi ấy. – Tôi không hiểu anh muốn nói gì, hẳn là chỉ có mình Cánh Tay Đỏ trong nhà này sao? – Đúng vậy. Cánh Tay Đỏ có lý do để không ưa có hàng xóm. – Chọc Tiết vừa nói vừa mỉm cười ranh mãnh. – Thôi được, mặc nó, – người khách lạ như không muốn nói tiếp chuyện đó nữa – tôi chẳng biết Cánh Tay Đỏ hay Cánh Tay Đen nào cả. Trời mưa, tôi vào ngõ này một lát để tránh mưa. Anh ăn hiếp cô bé đáng thương này, tôi đã trừng phạt anh, có thế thôi. Chọc Tiết vẫn nói: – Đúng thế! Vả lại công việc của ông chẳng liên quan gì đến tôi, tất cả những ai cần đến Cánh Tay Đỏ chẳng bao giờ nói thật. Thôi, đếch nói nữa. – Rồi y quay sang Sơn Ca. – Thật tình mày là gái ngoan, tao thụi mày một quả, mày trả lại tao một nhát kéo, đúng luật chơi thôi. Nhưng được cái tốt là mày không đổ thêm dầu vào lửa. Thôi, đi nhậu với bọn này đi, ông đây sẽ bao mà! Nếu như thế, ông anh ơi, – y quay sang người lạ mặt – đáng lẽ cho đi “nốc”, chúng ta đi “mổ” ở nhà mụ Quỷ Cái, chủ quán Thỏ Trắng, một ổ bợm đấy. – Được! Tôi sẽ bao bữa tối, đến chứ Sơn Ca? – Ôi! Cháu đói lắm, nhưng cứ thấy ẩu đả là cháu đã nôn nao chẳng thiết ăn uống gì nữa. – Không sao! Không sao! Cứ ăn, sẽ thấy ngon miệng thôi. Quán Thỏ Trắng nấu tốt chứ! – Chọc Tiết nói. Cả ba người vui vẻ đi về phía quán ăn. Trong khi người lạ mặt đánh nhau với Chọc Tiết thì một người bán than, to như hộ pháp, nấp trong một ngõ khác, hồi hộp theo dõi nhưng không vào hỗ trợ bên nào cả. Khi thấy ba người đi về phía quán ăn, người ấy liền đi theo. Chọc Tiết và cô gái bước vào trước, người lạ mặt theo sau, lúc đó người bán than tiến lại gần và nói thầm bằng tiếng Anh, vừa lễ phép, vừa như nhắc nhở: – Xin Đức ông cẩn thận cho. Người lạ mặt nhún vai và bước đi. Người bán than không rời cửa quán, dỏng tai nghe ngóng, chốc chốc lại nhìn qua lỗ hổng khoét ở mặt kính cửa sổ quét bột trắng. CHƯƠNG II MỤ QUỶ CÁI Quán Thỏ Trắng ở giữa phố Hàng Đậu, chiếm tầng trệt của một ngôi nhà cao to, mặt trước có hai cửa sổ kiểu lá sách sậpcửa máy chém. Trên vòm cửa ra vào tối om treo lủng lẳng một đèn lồng dài có hàng chữ đỏ trên mặt kính rạn nứt: Có nơi nghỉ trọ đêm. Ba người bước vào trong quán. Đấy là một căn phòng rộng, thấp, trần ám khói với những rầm đen nhuốm ánh sáng nhờ nhờ của một cây đèn dầu. Tường trát vữa quét vôi, đầy những hình vẽ tục tĩu, những câu tiếng lóng. Nền đất nện ẩm ướt nhớp nháp bùn trải rơm vun thay thảm. Quầy của mụ chủ quán đặt bên phải cửa ra vào, ngay dưới cây đèn. Mỗi bên cửa căn phòng có sáu chiếc bàn kèm ghế, một đầu gắn chặt vào tường. Cuối phòng có cửa thông xuống bếp; bên phải gần quầy hàng có một lối đi vào những phòng trọ ổ chuột giá ba xu một tối. Vài nét về mụ chủ quán và khách hàng của mụ: Mụ tên là Ponisse, làm nghề chứa trọ, bán quán và cho những người khốn khổ đầy rẫy trong các ngõ hẻm thuê quần áo. Mụ khoảng bốn mươi tuổi, cao lớn, đẫy đà, có ria mép, giọng ồm ồm như giọng đàn ông, cánh tay to, bàn tay rộng chứng tỏ một sức khỏe khác thường. Mụ đội mũ trùm, vấn khăn mỏ quạ màu vàng đỏ, quàng một khăn san lông thỏ vắt chéo xuống ngực và thắt ra sau lưng. Chiếc váy bằng len xanh không che kín đôi giày đen cháy lẹm nhiều chỗ vì mụ hay gác lên bếp lò. Nước da mụ đỏ gay do uống nhiều rượu mạnh. Mặt quầy hàng bọc kẽm bày những chiếc bình đai sắt có quai và nhiều cốc bằng thiếc. Trên một chiếc giá gắn vào tường có nhiều bình thủy tinh vụng về tạo hình Hoàng đế toàn thân. Trong bình đựng các loại rượu xanh đỏ đã pha chế thường được gắn nhãn Tình yêu tuyệt vời, Nguồn an ủi… Một con mèo đen, to, mắt vàng ngồi cạnh mụ chủ quán trông như một tà thần. Một nghịch cảnh khó tưởng, nếu không nhận biết tâm hồn con người là một cái gì không dễ thâm nhập, đó là một cành thông lộc thánh mua ở nhà thờ vào ngày lễ Phục sinh, đặt sau chiếc vỏ đồng hồ treo tường cũ kĩ. Hai người mặt mày hung ác, râu ria lởm chởm, quần áo rách bươm, không thiết gì đến rượu, nhớn nhác thì thầm. Một trong hai tên, xanh xao, mặt tái mét đội mũ có chỏm kiểu Hy Lạp sụp xuống tận mí mắt, cố giấu bằng được bàn tay trái. Ở bàn phía xa, một gã khoảng mười sáu tuổi, mặt non choẹt, hốc hác, bủng beo, da thiết bì, mắt lờ đờ, tóc đen trùm kín gáy, loại thiếu niên sớm trác táng đang rít một tẩu thuốc ngắn. Lưng dựa vào tường, hai tay thủ trong áo khoác, chân duỗi thẳng trên ghế, nó chỉ rời chiếc tẩu khi tu chai rượu mạnh đặt trước mặt. Những khách quen khác của quán rượu, nam cũng như nữ đều có chung bộ mặt hoặc dữ tợn hoặc lì lợm. Khi vui thì thô bỉ, tục tĩu, lúc lặng thì ủ rũ. Đây là tất cả khách của quán rượu khi bọn ba người Chọc Tiết, Sơn Ca và người lạ mặt bước vào. Không thể không giới thiệu kĩ ba nhân vật quan trọng nổi bật trong thiên truyện này. Chọc Tiết cao to như hộ pháp có bộ tóc vàng nhạt gần như trắng, lông mày rậm, chòm râu quai nón hung hung dữ tợn. Nắng gió, đói khát, công việc khổ sai nặng nhọc đã khiến nước da y sạm lại xanh bủng, nhợt nhạt, đúng là màu da đặc biệt của bọn tù. Mặc dù mang cái tên khủng khiếp “Chọc Tiết”, đặc điểm của con người này là táo bạo, lỗ mãng chứ không hung ác, tuy cái trán dô ra khác thường cho thấy trội lên tính cách khát khao tình dục, giết chóc. Y mặc áo khoác xanh cũ kĩ, quần bằng nhung thô, trước đây màu xanh, bây giờ phủ một lớp bùn dày nên không phân biệt được màu gì nữa. Dị thường và kỳ lạ, Sơn Ca thuộc tầng lớp những người trong trắng chân thực giữa lúc sa ngã vẫn giữ được bản chất. Ở những con người như thế, dường như thói hư tật xấu trở nên bất lực, không thể xóa được các dấu ấn cao quý mà Thượng đế đã đặc ân phú cho họ. Sơn Ca mới ngoài mười sáu tuổi, vầng trán trắng trẻo, thanh khiết, gương mặt trái xoan đều đặn, lông mi dài hơi cong chia nửa đôi mắt xanh và to. Tuổi dậy thì khiến đôi má tròn hồng hào thêm mịn màng, miệng nhỏ, đỏ thắm, mũi dọc dừa thanh tú, má có lúm đồng tiền tạo nét dịu dàng, duyên dáng. Hai bím tóc màu tro sáng rũ xuống đến giữa má được tết thành lọn vắt sau dái tai trắng hồng và thắt bằng chiếc khăn tay lớn vải xanh trông như đuôi sóc. Một chuỗi hạt san hô ôm lấy cái cổ đẹp trắng nõn nà, chiếc váy vải tơ pha len quá rộng cho thấy một thân hình thanh mảnh, mềm mại, thon thả. Chiếc khăn quàng da cam cũ viền rua xanh lục thắt chéo xuống ngực. Giọng nói duyên dáng của cô khiến người bảo vệ cô sững sờ. Quả thế, giọng nói dịu dàng, ngân vang, êm ái ấy có sức lôi cuốn mạnh nên đám người mạt hạng gồm những tên gian ác và những phụ nữ lạc loài cùng cảnh, thường nài cô hát, lắng nghe đắm đuối và gọi cô bằng cái tên đáng yêu: Sơn Ca. Sơn Ca còn một biệt hiệu khác nữa, có lẽ vì những nét ngây thơ trong trắng mà bọn người ấy gọi cô là Fleur-de Marie, theo tiếng lóng của chúng có nghĩa là Trinh Nữ. Rodolphe Người bênh vực Sơn Ca chừng ba mươi đến ba mươi sáu tuổi. Bề ngoài của Rodolphe (ta gọi ông là Rodolphe) tập trung nhiều nét tương phản kỳ lạ. Ông đẹp, có thể nói là quá đẹp đối với một người đàn ông. Nước da ông tai tái một cách thanh nhã, đôi mắt màu xanh sáng viền quầng xanh nhạt, ít khi mở to, dáng đi uể oải, ánh nhìn lơ đãng; nụ cười châm biếm của một người dường như chán đời vì thể chất nếu không suy yếu thì ít ra cũng ảnh hưởng cuộc sống giàu sang thừa thãi, ăn không ngồi rồi, thế nhưng, với bàn tay thanh nhã, trắng trẻo, Rodolphe vừa quật ngã một tên côn đồ to khỏe nhất, đáng gờm nhất trong khu phố. Một vài nếp nhăn trên trán chứng tỏ Rodolphe là người hay suy nghĩ sâu xa, trầm tư mặc tưởng, thế nhưng vành môi cương nghị, phong thái uy nghi, quả quyết lại nói lên con người hành động, có sức mạnh và gan dạ, vượt hẳn người thường. Ánh mắt ông thường chứa đựng một nét u sầu và lòng trắc ẩn hào hiệp, lòng thương xót thiết tha hiện lên nét mặt phúc hậu. Trái lại có những lúc ánh mắt đó trở nên nghiêm khắc, dữ tợn, khinh khi, tàn nhẫn khiến người ta khó tin rằng ở con người đó có thể có những xúc cảm dịu dàng. Trong lúc giao đấu với Chọc Tiết, Rodolphe không tỏ ra giận dữ, thù hằn. Tin vào sức mình, vào tài nghệ của mình, Rodolphe chỉ có sự khinh khi, giễu cợt khi quật ngã y. Để hoàn chỉnh chân dung Rodolphe, ta phải nói đến màu tóc hạt dẻ sáng đồng màu với đôi mày cong cong cao quý và hàng ria mảnh, mượt mà, cái cằm hơi dô, cạo nhẵn. Riêng lời ăn tiếng nói của Rodolphe giống hệt đám khách trong quán. Một chiếc cà vạt đen thắt chểnh mảng quanh cái cổ thon, thanh nhã, đẹp như tượng, buông lơi xuống cổ áo choàng xanh có màu trắng nhờ nhờ cũ kĩ. Hai hàng đinh đóng dưới đôi giày thô. Tóm lại, nhìn bề ngoài, trừ đôi bàn tay thanh nhã khác thường, khó mà phân biệt được Rodolphe với lũ khách trong quán, trong khi dáng vẻ quả quyết của ông lại biểu hiện lòng gan dạ, tỉnh táo khiến khoảng cách giữa họ rất lớn. Bước vào quán, Chọc Tiết đặt bàn tay rộng, lông lá lên vai Rodolphe và nói to: – Tất cả hãy chào đại ca của tao đi! Các mày ạ! Người anh em này vừa quật ngã tao. Đó là lời khuyến cáo đối với những ai vẫn có ý định muốn bị gãy sườn hoặc muốn bị đập vỡ sọ. Kể cả Thầy Đồ, lần này lão sẽ gặp kẻ trên tài… Tao xin đảm bảo và cược thế đấy! Nghe câu nói đó, từ mụ chủ quán đến mọi người trong quán, tất cả đều nhìn người đánh ngã Chọc Tiết bằng con mắt kính nể, sợ sệt. Một số kéo lùi những chiếc cốc, chiếc bình ở đầu bàn, vội vàng như muốn dành chỗ ngồi cho Rodolphe. Một số khác đến gần Chọc Tiết khẽ thì thào để hỏi những chi tiết về người lạ mặt đã gia nhập thế giới của họ một cách vẻ vang như vậy. Mụ chủ quán mỉm nụ cười duyên dáng nhất chào Rodolphe, một sự kiện thật khác thường, quá sức tưởng tượng, hoang đường đối với lịch sử quán Thỏ Trắng. Mụ rời quầy đến bàn Rodolphe xem ông muốn cho những người cùng đi dùng món gì. Nên nhớ rằng ngay cả Thầy Đồ, tuy khét tiếng gian ác, đã từng khiến Chọc Tiết phải run sợ cũng không được mụ quan tâm đối đãi như vậy. Một trong hai người khách mặt mày hung ác mà ta đã biết (người xanh xao, luôn che giấu bàn tay trái và kéo sụp chiếc mũ Hy Lạp xuống trán) cúi xuống bên cạnh mụ chủ quán hỏi bằng giọng khàn khàn khi mụ đang lau kĩ chiếc bàn mà Rodolphe ngồi: – Hôm nay Thầy Đồ có đến không? – Không. – Thế hôm qua? – Lão có đến. – Với con ghệ mới à? – Ái chà, mày coi tao là “cớm” à, mày tưởng rằng nghe mày phỉnh thì tao sẽ bán khách hàng của tao ư? – Mụ đốp chát trả lời. – Chiều nay tôi hẹn gặp Thầy Đồ, chúng tôi có việc làm ăn với nhau. – Công với việc! Chắc lại một vụ đánh quả đặc biệt của chúng mày chứ gì, quân giết người! – Giết người! – Tên côn đồ đay lại, giận dữ. – Chính bọn giết người nuôi sống mụ đấy. – Ái chà, có để tao yên không nào? – Mụ chủ quán quát to, lăm lăm giơ cao chiếc bình trên đầu gã. Tên kia lẩm bẩm lùi về chỗ ngồi. Sơn Ca bước theo Chọc Tiết vào trong quán, gật đầu chào gã thiếu niên có bộ mặt ủ rũ. Chọc Tiết nói lớn với gã này: – Ê, Cá Trê, mày vẫn nốc rượu đều đấy chứ? – Vẫn! Tôi thà nhịn đói, chân không giày còn hơn là thiếu rượu đổ cổ họng, thuốc nhồi tẩu. – Gã thiếu niên the thé trả lời và vẫn không thay đổi tư thế, phun khói thuốc lá mù mịt. – Chào mẹ Ponisse. – Sơn Ca lên tiếng. – Chào Sơn Ca. – Mụ chủ quán chào lại và đến gần để xem xét bộ quần áo mà mụ cho cô bé đáng thương thuê. Sau đó, mụ nói với giọng hài lòng, cục cằn. – Tốt! Cho mày thuê quần áo cũng khoái, mày sạch như con mèo con. Vì vậy tao không muốn cho cái bọn phải gió như con Thợ Tiện và con Đầu Lâu thuê chiếc khăn quàng đẹp màu da cam này đây. Cũng chính tao đã bảo ban mày từ ngày mày ra tù là phải thật thà. Cả thành phố này, nói thật, không ai sánh được với mày. Sơn Ca cúi đầu không mảy may kiêu hãnh trước những lời khen của mụ. – Này! – Rodolphe nói. – Bà cũng có cành lộc thánh ư? – Vừa hỏi ông vừa chỉ nhánh cây thiêng liêng đặt sau chiếc đồng hồ. – Sao kia? Thế cứ phải sống như những kẻ vô đạo à? – Mụ khờ khạo trả lời. Rồi quay lại với Sơn Ca: – Sơn Ca, con hát cho chúng ta nghe một vài bài chứ? – Sau bữa ăn đã, mẹ Ponisse ạ. – Thưa ông, tôi có thể dọn hầu ông món gì? – Mụ hỏi để lấy lòng Rodolphe, mong được che chở lúc cần. – Bà hỏi Chọc Tiết ấy. Anh ta ăn, tôi trả tiền. – Tốt thôi! – Mụ nói và quay sang tên côn đồ. – Mày muốn ăn gì, thằng nỡm? – Hai lít vang mười hai xu, một món thập cẩm* và ba khoanh bánh mì thật mềm, thêm một bát thập cẩm nữa. Các thức ăn thừa, khi dọn bàn, đầu bếp nhà giàu lấy đem bán cho các hàng cơm đầu ghế. – Tao thấy lúc nào mày cũng là thằng phàm ăn, mày luôn thích món thập cẩm. – Này Sơn Ca, – Chọc Tiết hỏi – bây giờ cô em có thấy đói không? – Cháu muốn ăn gì, ngoài món thập cẩm? – Rodolphe hỏi. – Ồ không, cơn đói của cháu qua rồi. – Nhưng mày hãy nhìn ông anh tao! – Vừa cười lớn, Chọc Tiết vừa chỉ Rodolphe. – Mày không dám liếc nhìn ông ấy nữa sao? Chọc Tiết, Rodolphe và Sơn Ca Sơn Ca đỏ mặt, lim dim mắt không trả lời. Một lúc sau, mụ chủ quán thân hành đến bày lên bàn một bình rượu vang, một đĩa bánh và món thập cẩm. Chọc Tiết thấy đúng khẩu vị của mình, khoái quá: – Trời! Ngon tuyệt! Cứ như một cái xe thồ, ai mà chẳng khoái, người ưa ăn mỡ cũng như người thích ăn nạc, người thích ngọt cũng như người thích mặn. Gà này, cá này, sườn này, vỏ pa tê này, cá trích này, pho mát này, rau này, lại cả đầu cun cút, cả bánh quy, xa-lát. Ăn đi nhóc, ngon lắm… Thế hôm nay mày đã ních gì chưa? – Có chứ! Sáng nay tôi đã ăn một xu sữa, một xu bánh như mọi ngày. Giữa lúc ấy một nhân vật bước vào quán làm ngừng câu chuyện và mọi người đều ngẩng đầu lên. Đấy là một người khó đoán tuổi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, mặc áo vest, đội mũ kết và khá quen cách xử sự trong quán. Gọi bữa ăn tối bằng ngôn ngữ quen thuộc nơi đây, người ấy nhanh nhẹn tìm chỗ ngồi để theo dõi hai nhân vật có bộ mặt gian ác, một tên trước đó đã hỏi thăm về Thầy Đồ. Mắt anh ta không rời bọn chúng, lại ngồi khuất nên bọn này không hề biết là đang bị theo dõi. Câu chuyện bị ngắt quãng lại tiếp tục. Tuy lỗ mãng, Chọc Tiết vẫn giữ thái độ tôn kính trong xưng hô với Rodolphe. Loại người này không tôn trọng pháp luật nhưng lại tôn trọng sức mạnh. Y nói với Rodolphe: – Thật tình tôi đã bị nhừ đòn nhưng tôi rất khoái vì đã được gặp ông. – Vì món thập cẩm hợp khẩu vị chứ gì? – Vì tôi nóng lòng được thấy ông đụng độ với lão Thầy Đồ, lão luôn luôn quật ngã tôi, được thấy đến lượt lão bị hạ gục, tôi rất khoái. – À, anh tưởng để làm anh vui thích tôi sẽ chồm lên lão như một con chó ngao chăng? Chọc Tiết xoa tay: – Không đâu, nó sẽ nhảy xổ vào ông khi nó nghe nói ông trên tài nó. – Tôi còn dư sức để tiếp nó. – Rodolphe lơ đãng nói, rồi tiếp tục. – Thời tiết quả tệ thật. Ta gọi thêm một bình rượu mạnh với đường, may ra mới làm Sơn Ca có hứng để hát. – Đúng đấy! – Và, để biết nhau, có lẽ ta sẽ kể cho nhau nghe chúng ta là ai. – Rodolphe nói thêm. – Bạch Tạng*, tù mãn hạn được thả, bốc gỗ ở bến Saint Paul, bị rét cóng vào mùa đông, hun cháy vào mùa hè, đó là đặc điểm của tôi. – Chọc Tiết nói, giơ tay trái chào Rodolphe kiểu nhà binh và nói thêm. – À! Ông anh ơi! Đây là lần đầu tiên tôi thấy ông trong Nội Thành. Và, không dám trách ông anh đã hiên ngang bước qua đầu tôi. Mẹ kiếp! Nhớ đời mấy quả đấm cuối cùng, tôi nhắc lại, miếng đòn hết ý… nhưng ông anh còn nghề gì ngoài cái tài quật ngã tôi? Biệt danh trước đây của Chọc Tiết. – Tôi làm nghề vẽ quạt, tên tôi là Rodolphe. – Vẽ quạt? Hèn gì ông anh có đôi bàn tay trắng thế. Chẳng sao, nếu tất cả các bạn của ông đều giống ông, có lẽ họ cũng quá khỏe để làm công việc đó… Nhưng vì ông là người thợ và chắc chắn là một người thợ lương thiện… Tại sao ông lại lao vào cái tổ quỷ này, nơi đây chỉ có bọn trộm cắp, côn đồ hay tù mãn hạn như tôi ra vào vì không thể đến chỗ khác. – Tôi đến vì thích giao thiệp. – Hừ! Hừ! – Chọc Tiết lắc đầu ngờ vực. – Tôi thấy ông đã vào ngõ nhà Cánh Tay Đỏ. Thôi, đủ rồi… ông bảo ông không biết nó. – Anh còn muốn làm phiền tôi đến bao giờ với cái thằng Cánh Tay Đỏ của anh? Quỷ tha ma bắt hắn đi! – Vâng, thưa đại ca, ông có thể nghi ngờ tôi và ông không lầm. Nhưng nếu ông muốn, tôi sẽ kể về tôi nhưng ông hứa sẽ dạy tôi những thế võ lợi hại đã làm tôi hôm nay nhừ đòn nhé… Tôi thiết tha mong như vậy. – Đồng ý! Anh sẽ kể về anh và Sơn Ca cũng kể về mình. – Hay lắm! Trời này thì chẳng ai muốn ra ngoài. Thế mới vui! Sơn Ca có đồng ý không? – Em cũng muốn kể chuyện đời em nhưng không dài dòng đâu. – Và ông cũng kể về ông chứ? Ông bạn Rodolphe? – Đúng, tôi sẽ bắt đầu. – Vẽ quạt, đó là một nghề thú vị. – Sơn Ca nói. – Thế ông được trả bao nhiêu tiền công? – Chọc Tiết hỏi. – Tôi mỗi ngày kiếm được bốn franc, đôi khi năm franc, nhưng chỉ vào mùa hè thôi. – Ông đi chơi la cà luôn chứ, ông bợm? – Chừng nào tôi có tiền, trước hết mỗi đêm tôi mất sáu xu ngủ trọ. – Xin lỗi, thưa “Đức ông”, ngài trọ hết những sáu xu. – Chọc Tiết vừa nói vừa đặt tay lên mũ chào. Từ “Đức ông” mà Chọc Tiết nói một cách giễu cợt khiến Rodolphe mỉm cười kín đáo. – Ôi! Tôi cần thoải mái, sạch sẽ. – Như một công khanh nước Pháp! Một chủ ngân hàng! Một phú ông! – Chọc Tiết nói to. – Ngài trọ hết những sáu xu đấy! – Lại thêm bốn xu thuốc lá và mười bốn xu ăn sáng, mười bốn, mười lăm xu ăn chiều, một hay hai xu rượu, tất cả ba mươi xu tròn một ngày. Tôi không cần làm việc cả tuần, thời giờ còn lại tôi đi chơi. – Thế còn gia đình ông? – Sơn Ca hỏi. – Chết nhẵn vì dịch tả rồi! – Thế trước đây cha ông làm gì? – Sơn Ca lại hỏi. – Bán quần áo cũ ở chợ giời, buôn đồ cũ. – Thế vốn liếng gia tài của các cụ để lại cho ông được nhiều không? – Lúc đó tôi còn rất trẻ, người đỡ đầu của tôi đã bán tất, khi lớn lên tôi còn phải trả nợ họ ba mươi franc. – Chủ của ông bây giờ là ai? – Chủ của tôi là Borel, phố Bourdonnais, đã ngu dốt lại độc ác, đã ăn cắp lại biển lận, lão thà bị móc mắt còn hơn phải trả công cho thợ. Thế đấy! Nếu lão đi lạc, cứ để cho lão chết, đừng ai dắt lão về xưởng. Tôi học việc ở nhà lão từ năm mười lăm tuổi, tôi may mắn không phải nhập ngũ. Tôi ở phố Juiverie ở tầng bốn, mặt tiền, tên họ là Rodolphe Durand. Đấy là tiểu sử của tôi. – Bây giờ đến lượt cô em đấy! – Chọc Tiết nói. – Chuyện của tao, dành lại sau cùng. CHƯƠNG III SƠN CA – Hãy kể từ đầu đi. – Chọc Tiết nói. – Đúng đấy. Cha mẹ cháu là ai? – Rodolphe hỏi. – Cháu không có cha mẹ. – Chà, quái thật! – Chọc Tiết nói. – Vâng, không hề thấy, không hề biết, cháu sinh ra dưới gốc bắp cải như người ta thường nói với trẻ con. – Thật lạ lùng! Sơn Ca ạ, chúng ta cùng một hoàn cảnh. – Anh cũng thế ư? – Mồ côi, trên vỉa hè Paris, giống như cô em. – Thế ai nuôi cháu? – Rodolphe hỏi. – Cháu không biết… từ lâu lắm rồi, cháu nhớ lại là lúc lên bảy, lên tám, cháu ở với một mụ già chột, người ta gọi là mụ Vọ. Mụ có cái mũi khoằm, một mắt xanh tròn xoe giống như con cú bị móc một mắt. Chọc Tiết cười ha hả: – Tao biết ngay là mụ. Đúng là mụ Vọ rồi. Sơn Ca (Marie) Sơn Ca kể tiếp: – Mỗi buổi chiều, mụ Vọ bắt cháu đi bán kẹo mạch nha trên cầu Mới, một kiểu ăn xin đấy. Nếu cháu không mang về được ít nhất mười xu thì mụ đánh nhừ đòn chứ không cho ăn. – Hiểu rồi cô em ạ, – Chọc Tiết nói – một cú đá thay cơm, ăn kèm với những cái bớp tai. – Trời ơi! Đúng vậy. – Chắc chắn mụ không phải là mẹ cháu chứ? – Cháu biết chắc chắn điều đó, mụ Vọ vẫn nhiếc cháu là đứa không cha không mẹ, mụ ấy thường bảo là đã nhặt được cháu ở ngoài phố. – Thế là cô em bị ăn đòn thay cơm khi không mang về được mười xu phải không? Sơn Ca kể tiếp: – Mỗi lần như thế, cháu chỉ được một cốc nước lạnh, suốt đêm đói, run cầm cập trong cái đệm rơm trải dưới đất, mụ Vọ đã trải một cái ổ như thế dành cho cháu. Đừng tưởng như thế mà ấm đâu, lầm to! – Đệm lông xứ Beauce* ư? Đúng là lạnh chết cóng đi được! Phân khô còn ấm gấp trăm lần. Nhưng ta lại nói đổng. Chó thật! Cứ thích đi! Xứ Beauce: vựa lúa nước Pháp, ở đây Chọc Tiết nói đùa “đệm lông xứ Beauce” chỉ ổ rơm. Câu nói đùa đó khiến Sơn Ca mỉm cười và tiếp tục: – Sáng hôm sau, mụ Vọ cũng chỉ cho cháu ăn cả ngày như mức hôm trước và bắt cháu phải đến Montfaucon đào giun cho mụ câu cá, ban ngày mụ có ngôi hàng bán cần câu dưới cầu Đức Bà… Đối với một đứa trẻ gần như chết đói, chết rét như cháu, đi từ phố Mortellerie đến Montfaucon thì xa quá. – Luyện tập như thế khiến mày lớn phổng lên, thẳng như một cây sậy, còn kêu ca gì nữa cô em. – Chọc Tiết vừa bật lửa châm thuốc vừa chêm vào. – Đến trưa, cháu mệt lử, trở về với một giỏ đầy giun, lúc bấy giờ mụ Vọ mới cho cháu một mẩu bánh to. Cháu ngốn hết cả, cháu cam đoan đúng như thế. – Không được ăn đủ nên người mày mới thon thả, còn phàn nàn nỗi gì. – Chọc Tiết nói và rít mạnh tẩu thuốc. – Nhưng ông làm sao thế? Sao ông thừ người ra thế? Có phải vì tuổi thơ của Sơn Ca cực nhục quá không? Này! Tất cả chúng ta đều khổ cả. – Ôi! Tôi cược là anh khổ hơn tôi thế nào được. – Tao ấy à, Sơn Ca ạ. Cô em thử tượng tượng xem, so với tao thì cô em còn là bà hoàng! Ít ra khi nhỏ, cô em còn được nằm ổ rơm, còn có bánh mà ăn… Tao đây, đêm đêm ngủ bên lò nung thạch cao ở Clichy như một đứa ma cà bông thực thụ. Và tao chỉ ăn có lá bắp cải nhặt được quanh vòi nước. Nhiều khi đến Clichy quá xa, đói run cả chân, tao phải ngủ dưới mái đá của Viện bảo tàng Louvre… Vào mùa đông, tao có đệm trắng để nằm mỗi khi tuyết xuống. – Với người lớn như vậy thì cực khổ thật, nhưng so với một con bé khốn khổ như tôi đây thì đã thấm tháp gì, – Sơn Ca nói – tuy thế, tôi nhớ tôi vẫn lớn, nhưng yếu như sên. – Cô em nhớ như thế nào? – Nhớ chứ! Khi mụ Vọ đánh tôi, tôi ngã từ roi đầu tiên, thế là mụ giẫm lên tôi và thét: “Con ăn mày, yếu như con sên ấy, chẳng chịu nổi hai cái bạt tai.” Rồi mụ gọi tôi là con Lỏi Con. Tôi không có tên khác, đó là tên thánh của tôi. – Cũng như tao thôi, tao có tên thánh của những con chó hoang. Người ta gọi tao là cu, cò hoặc thằng Bạch Tạng. Lạ thật, sao chúng ta khổ như thế hả cô em? – Đúng như vậy. – Sơn Ca nói và luôn luôn chỉ hướng về Chọc Tiết thôi. Hình như cô cảm thấy xấu hổ trước Rodolphe, cô không dám nhìn thẳng vào ông tuy ông có vẻ thuộc lớp người mà cô vẫn thường gặp. – Khi cô em đã tìm được giun cho mụ Vọ rồi, mụ còn bắt cô em làm gì nữa? – Mụ Vọ bắt tôi đi ăn xin cho đến tối, ban đêm mụ bán thức ăn trên cầu Mới. Còn lâu tôi mới được ăn. Nhưng nếu tôi trót dại xin mụ, mụ lại đánh và bảo: “Xin được mười xu mới được ăn.” Và, vừa đói vừa bị đòn, tôi đã khóc hết nước mắt. Mụ Vọ đeo cái khay kẹo mạch nha vào cổ tôi và bảo tôi đứng bán trên cầu Mới. Tôi tha hồ nức nở, run lập cập vì rét và đói. – Cũng như tao thôi, cô em ạ. Thường người ta không tin thế đâu nhưng quả là khi đói thì cũng run chẳng kém gì khi rét. – Vậy là tôi phải đứng trên cầu Mới cho đến mười một giờ đêm với khay kẹo mạch nha đeo trên cổ và khóc to hơn. Thấy tôi khóc, những người qua lại thương hại, đôi khi có người cho tôi đến mười, mười lăm xu, tôi phải nộp hết cho mụ Vọ. – Buổi tối rõ ngon cho con bé! – Nhưng mụ Vọ chẳng đã nhìn thấy rồi sao? – Bằng một mắt ư? – Chọc Tiết cười. – Bằng một mắt, như anh biết, mụ chỉ có một mắt. Từ đó mụ nảy ra một mẹo, trước khi bắt tôi lên cầu, mụ đánh tôi vài roi để tôi phải khóc trước mặt mọi người qua lại, thế là tiền thu được nhiều hơn. – Quỷ quyệt thật! – Vâng! Anh cũng biết thế ạ, anh Chọc Tiết, về sau tôi dạn đòn không khóc khiến mụ Vọ phát điên, và để trêu tức mụ thêm, mụ càng đánh tôi càng cười. Buổi tối đáng lẽ phải vừa nức nở vừa bán kẹo, tôi hát như một con sơn ca dù tôi chẳng muốn hát tí nào. – Này, những chiếc kẹo mạch nha chắc đã khiến mày thèm nhỏ dãi đây! Khổ thân con bé! – Ồ! Tôi biết chứ! Anh Chọc Tiết, nhưng chưa bao giờ tôi được nếm, đó là niềm khao khát của tôi… Và chính sự thèm thuồng đó đã khiến tôi khốn đốn, anh sẽ thấy tại sao. Một hôm, mấy đứa trẻ mất dạy đánh tôi và cướp cái giỏ giun. Tôi biết trước cái gì đang chờ tôi. Tôi sẽ bị đòn và không được ăn. Tối hôm ấy, mụ Vọ sẵn tức vì hôm trước, lần đầu tiên tôi không mang đồng xu nào về cho mụ. Trước khi cho tôi lên cầu, đáng lẽ đánh tôi như mọi ngày, mụ Vọ lại giật tóc mai tôi đến chảy máu để hành hạ tôi. Chọc Tiết đập bàn: – Trời đất ơi! Đánh một đứa bé con thì còn được, nhưng đày đọa nó như thế thì thật quá quắt. Rodolphe chăm chú nghe Sơn Ca kể, thấy Chọc Tiết nhạy cảm thế, ông rất ngạc nhiên. – Anh làm sao thế Chọc Tiết? – Tôi ấy à! Tôi ấy à! Sao! Như vậy mà ông không thấy sao? Mụ Vọ đã hạ nhục con bé. Ông cũng sắt đá như những quả đấm của ông rồi! – Kể tiếp đi cháu. – Rodolphe không trả lời câu nói móc của Chọc Tiết. – Cháu đã nói mụ Vọ hành hạ cháu cốt để cho cháu khóc. Cháu giở bướng để chọc tức mụ, cháu phá lên cười và đem kẹo mạch nha lên cầu. Lúc ấy mụ Vọ đang bận với cái chảo. Thỉnh thoảng mụ lại giơ quả đấm lên dọa cháu. Thế là đáng lẽ khóc thì cháu lại hát rất to; đã vậy cháu lại đói, đói lắm. Sáu tháng liền, từ khi đem kẹo đi bán chẳng bao giờ cháu được nếm thử một chiếc… Thú thật hôm đó cháu không giữ nổi nữa. Vừa vì đói vừa muốn trêu cho mụ tức điên lên, cháu liền lấy một cái kẹo ra ăn. – Hoan hô cô bé! – Cháu ăn liền hai cái. – Hoan hô! Muôn năm Hiến chương*. Hiến chương đem lại quyền tự do. “Muôn năm Hiến chương” cũng như “muôn năm tự do”. – Ngon tuyệt. Nhưng liền đó có một mụ bán cam mách với mụ Vọ: “Mụ kìa, con Lỏi Con đang ăn hết vốn của mụ kia kìa!” – Trời đất! Nguy mất, nguy mất! – Chọc Tiết bồn chồn. – Khổ thân con chuột nhắt! Mụ Vọ đã biết, chắc là mày run tợn. – Cháu làm sao thoát được, hả Sơn Ca tội nghiệp? – Rodolphe cũng bị lôi cuốn như Chọc Tiết. – Chao ôi! Gay quá. Nhưng có điều rất đáng buồn cười, – Sơn Ca vừa cười vừa nói thêm – là tuy mụ Vọ tức điên lên khi thấy cháu nhai kẹo của mụ nhưng lại không thể bỏ chảo mỡ đang rán. – Ha ha! Đúng là khó xử! – Chọc Tiết cười phá lên. Sơn Ca cũng cười rồi kể tiếp: – Nghĩ đến trận đòn đang chờ, cháu tự nhủ: Mặc kệ, ăn một cái kẹo cũng bị đòn, ăn ba cái cũng chẳng bị đòn hơn bao nhiêu, cứ ăn! Và thế là cháu lấy thêm thanh kẹo thứ ba. Trước khi ăn, mặc cho mụ Vọ từ xa dứ dứ cái nĩa sắt lên dọa, cháu giơ cao cho mụ thấy chiếc kẹo và nhai rau ráu ngay trước mặt mụ. – Hoan hô! Hèn gì vừa rồi mày lấy kéo đâm tao. Tao đã nói mà, mày can trường, chịu chơi đấy. Nhưng rồi chắc mụ Vọ sẽ lột da mày. – Xong mẻ rán, mụ đến chỗ cháu. Người ta đã cho cháu ba xu nhưng cháu lại ăn của mụ năm xu… Khi mụ Vọ kéo tay cháu, cháu muốn ngất ngay tại chỗ vì quá sợ. Bây giờ nhớ lại cháu vẫn còn run. Vì đúng vào những ngày Tết đầu năm, ông biết không, thường có nhiều cửa hiệu bên cầu Mới bán đồ chơi, cả buổi tối cháu chỉ nhìn hoa cả mắt mà thèm những con búp bê và những đồ chơi khác. Ông nghĩ xem, đối với một đứa trẻ như cháu! – Chẳng bao giờ cô em có đồ chơi nhỉ? – Tôi ấy à? Sao anh ngốc thế! Ai cho tôi những thứ đó. Những buổi tối như vậy cũng qua đi. Mùa đông tôi chỉ có một cái váy cà khổ, rách mướp, vải thô, không tất, không áo lót và dưới chân là một đôi giày thổ tả, không đến nỗi chết ngột. Khi mụ Vọ túm lấy tay tôi, tôi sợ toát mồ hôi hột. Cái làm tôi hoảng nhất là mụ chỉ nghiến răng ken két suốt dọc đường. Mụ không buông tay tôi, lôi tôi đi nhanh đến nỗi với đôi chân bé nhỏ, tôi phải chạy mới kịp. Khi chạy, tôi đánh rơi một chiếc giày, thế là tôi chạy với một chân đất, về đến nhà bàn chân ấy đầy máu. – Đồ chó dại, cái con mụ Vọ ấy! – Chọc Tiết giận dữ đập tay xuống bàn, nghe chuyện mà gai gai cả người khi hình dung một con bé nhảy cà nhắc với đôi chân nhỏ đầy máu lẽo đẽo chạy theo sau mụ bợm già. – Chúng tôi ở trên gác một nhà kho phố Mortellerie, ngay cạnh cửa đi vào có tiệm rượu nhỏ. Tay luôn luôn túm lấy tôi, mụ Vọ vào nốc nửa lít rượu mạnh ngay tại quầy. – Chết thật! Tao mà uống thế thì say chết. – Đây là suất rượu hàng ngày của mụ, lần nào sau đó mụ cũng say mềm. Khi say mụ hay đánh tôi nhiều. Chúng tôi lên thang gác về nhà, tôi thấy mình tủi nhục và khốn khổ. Mụ Vọ đóng cửa và khóa những hai vòng. Tôi quỳ xuống chân mụ xin tha tội, mụ không trả lời. Mụ đi đi lại lại trong phòng, lẩm bẩm: “Tối nay tao sẽ làm gì mày đây hả con Lỏi Con ăn vụng kẹo? Xem nào? Sẽ làm gì nó nào?” Mụ giương con mắt tròn xoe, xanh lè, láo liên nhìn tôi lúc đó vẫn cứ quỳ trên sàn gác. Đột nhiên, mụ đến bên một tấm ván và lấy cái kìm. Chọc Tiết la lên: – Cái kìm! – Đúng! Cái kìm. – Để làm gì? – Để đánh cháu ư? – Để làm đẹp cho mày à? Mẹ kiếp! Hay để rứt tóc? – Các ông không hiểu đâu, không đoán nổi đâu! Chịu chưa? – Chịu thôi. – Chúng tôi chịu thôi! – Để bẻ răng cháu. Chọc Tiết lớn tiếng chửi thề và nguyền rủa dữ dội đến nỗi mọi người trong quán phải sửng sốt quay lại. – Sao? Anh làm sao thế? – Sơn Ca hỏi. – Sao à? Tao sẽ thí con mụ Vọ ấy nếu tao tóm được mụ! Mụ ở đâu? Nói đi! Ở đâu? Gặp mụ, tao sẽ băm xác mụ! – Mắt Chọc Tiết vằn tia máu đỏ. Rodolphe cũng ghê tởm hành động dã man của mụ Vọ nhưng ông lại tự hỏi: Tại sao một tên giết người như Chọc Tiết lại có thể nổi xung khi nghe kể chuyện một em bé khốn khổ bị mụ già ác nghiệt đang tâm bẻ răng vì ba cái kẹo? – Mụ khốn kiếp ấy đã bẻ răng cháu, khổ thân cháu. – Vâng đúng thế… nhưng mụ không nhổ ngay. Mụ kẹp cháu vào giữa hai đầu gối, sau đó vừa bằng kìm, vừa bằng tay mụ đã bẻ răng cháu và dọa: “Từ nay, mỗi ngày tao sẽ bẻ của mày một cái răng. Khi nào bẻ hết tao mới quẳng mày xuống sông cho cá rỉa thịt để chúng trả thù mày đã bắt giun câu chúng.” Cháu nhớ câu đó và thấy nó vô lý quá. Cháu có thích thú gì việc bắt giun đâu. Rodolphe nhận thấy không biết có phải vì vô tâm hay vì lòng cao thượng mà cô bé đáng thương trong khi kể chuyện xưa lại không hề tỏ ra căm thù con mụ độc ác đã hành hạ mình như vậy. – Chà! Con mụ khốn kiếp! Mụ bẻ gãy răng một bé gái khốn khổ! – Chọc Tiết lại càng sôi máu hơn. – Sau thì thế nào? Bây giờ thì ra sao? Xem nào? Sơn Ca hé đôi môi thắm, phô ra hai hàm răng nhỏ và trắng bóng như ngà. – Thế sau đó cô em làm gì? – Chọc Tiết hỏi. – Nói thực là cháu không còn có gan chịu đựng được nữa. Hôm sau đáng lẽ đi bắt giun thì cháu trốn chạy về phía điện Panthéon, cháu đi suốt ngày về phía đó vì rất sợ mụ Vọ. Cháu thà đến tận cùng thế giới còn hơn là lại rơi vào nanh vuốt mụ. Do đi vào các phố vắng, cháu chẳng gặp được ai, mà có gặp cũng chẳng dám ngửa tay xin. Đêm đó, cháu ngủ ở một công trường, dưới một chồng gỗ. Như một con chuột, cháu chui qua một cái cửa và vùi mình giữa đống vỏ cây. Cái đói hành hạ cháu, cháu nhai một ít vỏ cây để quên đi nhưng không thể được. Chỉ có thể gặm được một ít vỏ cây bạch dương vì nó mềm hơn, rồi thiếp đi. Sáng ra, khi nghe tiếng động, cháu rúc sâu thêm vào đống gỗ, ở đây nóng như trong hầm lò, nếu có ăn, mùa đông ở đây thì tuyệt. – Cũng giống như tao trong lò nung thạch cao. – Cháu không dám ra khỏi đống gỗ, cứ hình dung mụ Vọ đang lùng khắp nơi để bẻ răng và ném mình xuống sông là cháu không dám cựa quậy. – Sơn Ca! Thôi đừng nói về con mụ khốn kiếp đó nữa. Tao đã sôi máu lên đây này! – Sang ngày thứ hai, đúng lúc cháu đang nhai một ít vỏ bạch dương và lại bắt đầu thiếp đi thì đột nhiên nghe tiếng sủa của một con chó to. Cháu bật dậy… lắng nghe… Con chó vẫn sủa và đến gần chồng gỗ, lại một nỗi lo sợ khác ập đến. Nhưng thật may, không biết sao con chó không đến gần. Mà sao anh lại cười… – Dù sao mày cũng là người tốt. Thật tình tao rất giận mình vì đã trót đánh mày. – Sao anh lại không đánh tôi? Có ai bênh vực tôi đâu? – Có ta! – Rodolphe nói. – Ông tốt quá, ông Rodolphe ạ, nhưng lúc đó anh Chọc Tiết nào biết có ông ở đây, cả cháu cũng thế. – Dù sao tao cũng vẫn cứ nói, tao rất giận mình đã đánh mày. – Kể tiếp đi cháu. – Chó vẫn sủa ăng ẳng và cháu nghe đâu đó một giọng nói to: “Chó của ta đã sủa thì chắc có đứa nào trốn trong công trường.” Một giọng khác chêm vào: “Bọn trộm đấy!” Rồi họ suỵt chó sục vào. Con chó xông vào, thế là cháu la toáng lên. “Kỳ lạ, nghe như tiếng trẻ con.” Người ta giữ chó lại và đi tìm đèn, cháu ra khỏi chỗ nấp và thấy một người đàn ông to lớn cùng với một anh giúp việc mặc áo choàng. “Mày làm gì ở công trường của tao, con nhãi ăn cắp này?” Người to lớn quát hỏi dữ tợn. “Ông ơi! Thưa ông, đã hai ngày nay cháu nhịn đói, cháu trốn khỏi nhà mụ Vọ, mụ đã bẻ của cháu một cái răng và muốn quăng cháu xuống sông cho cá. Chẳng biết ngủ ở đâu, cháu chui qua cửa xưởng vào ngủ trong đống vỏ cây dưới đống gỗ, tưởng chẳng có hại gì đến ai cả.” Người chủ xưởng gỗ cười bảo với anh phụ việc: “Đừng có hòng lừa tao, nó là con ăn cắp, nó đến lấy củi của tao.” – Một lão già keo kiệt! Lão già bẩn thỉu! – Chọc Tiết la lên. – Một con bé tám tuổi mà lấy cắp củi. – “Rõ vô lý! Ăn cắp củi của ông ư? Ông chủ?” Anh phụ việc trả lời ông ta. “Làm sao nó lấy được, nó không lớn hơn thanh củi nhỏ nhất của ông?” “Mày có lý.” Ông chủ xưởng nói. “Nhưng nếu nó không lấy cho nó thì cũng thế cả. Bọn kẻ trộm dùng những đứa trẻ như vậy, thăm dò, náu mình để rồi mở cổng cho chúng. Phải nộp con bé này cho Sở Cảnh sát.” – Đồ súc sinh ngu xuẩn! – Chọc Tiết nói. – Người ta dẫn tôi đến Sở Cảnh sát. Tôi kể hết nỗi niềm, tôi tự nhận là đứa trẻ bụi đời. Tôi bị bỏ tù, bị đưa vào nhà trừng giới, bị giam giữ cho đến năm mười sáu tuổi. Tôi rất đội ơn các quan tòa. Mẹ ơi! Anh nghĩ xem… Trong tù, tôi được ăn, không bị ai đánh, đối với tôi, đó là thiên đường so với nhà kho của mụ Vọ. Hơn nữa, tôi còn được học may vá. Nhưng thật vô phúc, tôi lười nhác, thích rong chơi, tôi thích hát hơn làm việc, nhất là khi đẹp trời. Ôi! Khi nắng đẹp trong sân trại giam, không tự kiềm chế được, tôi hát, và lạ chưa, tôi càng hát càng thấy hình như mình không phải là tù nhân nữa. – Nghĩa là cháu sinh ra để làm chim sơn ca. – Rodolphe mỉm cười. – Ông nói rất đúng, ông Rodolphe ạ! Cũng từ đó người ta gọi cháu là Sơn Ca, không gọi là con Lỏi Con nữa. Đến năm mười sáu tuổi, cháu được tha. Ở cổng trại, cháu thấy mụ Ponisse, chủ quán này, cùng với hai, ba mụ già nữa thường đến thăm bạn tù của cháu và cũng bảo cháu khi nào được tha sẽ tìm việc làm cho cháu. – Tốt, tốt, tao hiểu! – Chọc Tiết nói. – “Công chúa của mẹ, thiên thần của mẹ, con gái xinh đẹp của mẹ.” Mấy bà già và mụ chủ quán thường nói với cháu như vậy. Rồi là: “Con muốn về với chúng ta không, sẽ có quần áo đẹp cho con, con chỉ việc rong chơi.” Đã tám năm trong tù, không phải cháu không biết những lời đó có ý nghĩa như thế nào. Cháu đã tống cổ họ đi và tự nhủ: Mình biết may vá, mình có ba trăm franc và trước mắt mình, tuổi trẻ… – Và tuổi trẻ tươi đẹp, cô em ạ! – Chọc Tiết bảo. – Đã tám năm trong tù, cháu nghĩ mình phải hưởng thụ cuộc đời một chút chứ, điều đó chẳng thiệt đến ai. Mình sẽ làm việc khi thiếu tiền. Thế là cháu phung phí hết số tiền ba trăm franc, đấy là sai lầm lớn của cháu. – Sơn Ca nói thêm và thở dài, – đáng lẽ trước hết cháu phải tìm việc làm đã… Nhưng chẳng có ai khuyên bảo. Cháu bắt đầu tiêu số tiền của cháu, trước hết cháu mua rất nhiều hoa, cháu rất thích hoa, rồi mua một chiếc váy, một chiếc khăn quàng đẹp và cháu cưỡi lừa đi chơi rừng Boulogne, đi chơi Saint Germain cũng bằng lừa. – Với người yêu? – Chọc Tiết hỏi. – Không! Tôi thích tự do. Tôi chỉ dạo chơi với một người bạn tù trước đây ở nhà nuôi trẻ mồ côi, một cô gái rất tốt, người ta gọi là Rigolette* vì cô ấy hay cười. Nhại theo tên Rigoletto, vai hề gù lưng trong vở opera của Giuseppe Verdi. Rigolette, cô bé hay cười. Ai nhỉ? Chọc Tiết lẩm bẩm, cố lục lại những kỷ niệm cũ. – Chắc anh không biết cô này đâu, một người thật đứng đắn, là thợ giỏi, bây giờ ít nhất mỗi ngày cô ấy cũng kiếm được hai mươi lăm xu. Cô ấy đã có nhà riêng… và tôi chẳng dám gặp lại cô ấy nữa. Cuối cùng do quá phung phí, tôi chỉ còn lại hơn bốn mươi franc. – Đáng lẽ với số tiền ấy, mày nên mua một ít nữ trang làm vốn. – Chọc Tiết nói. – Thật tình đời tôi có thể khác đi nếu như tôi không gặp cái chị xứ Lorraine, người giặt thuê, một người ngoan đạo. Chị ấy có thai gần đến ngày đẻ, bụng chửa vượt mặt mà vẫn suốt ngày ngâm tay trong thùng giặt! Anh nghĩ xem! Không thể làm việc được nữa, chị ấy xin vào nhà thương làm phúc để đẻ. Ở đấy hết chỗ, người ta không nhận. Chị ấy không còn kiếm được đồng nào, lại gần đến ngày đẻ, chẳng có gì để thuê giường nhà trọ. May sao, một buổi chiều, chị ấy gặp một chị người Goubin, đã bốn ngày đêm trú trong một ngôi nhà đổ nát sau bệnh viện Nhà Chung*. Bệnh viện cổ nhất Paris, cũng là bệnh viện cổ nhất thế giới ngày nay còn hoạt động, nằm ở trung tâm thành phố, bên trái Nhà thờ Đức Bà (Caruri). – Này! Tại sao cái chị người Goubin lại phải giấu mặt ban ngày? – Để trốn chồng đang muốn giết chị ấy! Chỉ ban đêm, chị ấy mới dám mò ra tìm cái ăn. Trong hoàn cảnh đó, chị ấy gặp cái chị xứ Lorraine đang lúng túng không biết chui vào đâu mà đẻ. Thấy vậy, chị người Goubin đã đưa cái chị xứ Lorraine về căn hầm mình đang ẩn trốn. Dù sao đấy cũng là nơi nương náu. – Thong thả, thong thả, nhà chị người Goubin tên là Helmina phải không? – Chọc Tiết hỏi. – Vâng, một chị rất tốt, người đã khâu vá cho tôi và Rigolette. Thế đấy! Chị ấy nhiệt tình nhường cho cái chị xứ Lorraine nửa căn hầm, cả ổ rơm và phần cơm nữa. Chị ấy sinh được một thằng bé. Thật đáng thương, chẳng có chăn đệm gì, chỉ có rơm rạ! Thấy thế chị Helmina không thể chịu được nữa, tuy bị chồng săn lùng để giết, giữa ban ngày, chị ấy cũng ra khỏi hầm để tìm tôi. Lúc đó tôi và Rigolette đang bước lên xe song mã để đi chơi. Tôi vẫn yêu cảnh đồng quê, ruộng nương, đồng cỏ bao la, cây cối… nhưng bỏ hết, nghe Helmina kể về nỗi khổ của cái chị xứ Lorraine, tôi không lên xe nữa, chạy luôn về phòng, lấy tất cả những thứ tôi có, nào quần áo, nào chăn đệm, chất lên lưng người chở thuê và chạy đến hầm cùng với chị Helmina. Có bao nhiêu tiền tôi đưa hết cho cái chị xứ Lorraine cho đến khi chị ấy có thể trở lại với cái thùng giặt. Bây giờ thì bà ấy đã khá rồi. Tôi nói mãi chị ấy vẫn không chịu lấy tiền công giặt, tôi biết chị ấy muốn đền ơn tôi. Tôi dọa nếu vậy thì tôi không đưa đồ giặt nữa, chị ấy mới chịu. – Còn chị Helmina? – Chọc Tiết hỏi. – Sao? Anh không biết ư? Ôi! Khổ thân chị ấy. Chị ấy chết rồi! Ba nhát dao đâm vào giữa hai vai! Người ta đồn, một buổi chiều chị ấy đang quanh quẩn phía bệnh viện để tìm sữa cho thằng bé con bà Lorraine, thằng chồng khốn nạn đã giết chị ấy. – Có phải vì vậy mà hắn đã bị hành hình sau đó tám ngày không? – Đúng như vậy. – Khi cháu đã cho cái chị xứ Lorraine hết tiền thì cháu làm gì? – Rodolphe hỏi. – Chao ôi! Cháu tìm việc làm, cháu khâu vá giỏi, lại can đảm nên cháu chẳng bối rối tí nào. Cháu đến một cửa hàng may quần áo ở phố Saint-Martin, vốn tính thật thà, cháu nói cháu vừa mãn hạn tù được hai tháng cháu rất muốn xin việc làm. Người ta không nhận, lại còn chế giễu cháu. Buồn quá, trở về nhà, cháu gặp mụ chủ quán đây và mấy mụ khác, thì ra từ ngày cháu ra tù, họ vẫn theo sát cháu. Họ dẫn cháu về nhà, cho cháu uống rượu mạnh… và biến cháu thành nông nỗi này đây. – Tao hiểu, bây giờ tao hiểu, – Chọc Tiết nói – như thể chính tao là cha mẹ cô em, quả là cô em đã thổ lộ chân tình hết mực. – Có phải cháu buồn khi kể lại chuyện đời mình không? – Cháu rất buồn khi nhìn lại quá khứ, đây là lần đầu cháu nhớ lại tất cả. Chẳng vui chút nào, phải không anh Chọc Tiết? – Đúng thế. – Chọc Tiết chua chát nói đùa. – Chắc mày tiếc rằng không được làm gái hầu bàn trong một quán tồi tàn hay đi ở hầu hạ những mụ già đần độn chứ gì! – Như thế cũng tốt thôi, được làm người lương thiện hẳn là tốt chứ! – Sơn Ca ngừng lời, cố giấu một tiếng thở dài. – Ôi! Nhưng sao mà khó thế! – Lương thiện! Ồ! Đầu với óc! – Chọc Tiết cười ầm ĩ. – Lương thiện! Sao không nói ngay là làm người đức hạnh để cho cha mẹ mà mày không biết được đẹp mặt. Trong chốc lát, cô bé mất đi vẻ hồn nhiên vốn có, đoạn nói với Chọc Tiết: – Này anh Chọc Tiết, tôi không phải đứa hay kêu ca. Cha mẹ tôi đã vứt bỏ tôi bên đường như con chó con thừa, tôi cũng không oán cha mẹ tôi, chắc cha mẹ tôi cũng chẳng có gì ăn, nhưng không vì thế mà không có những số phận sung sướng hơn tôi. – Mày ấy à? Nhưng mày còn đòi gì nữa? Mày đẹp như tiên, mày chưa đến mười bảy tuổi, mày hát hay như sơn ca, mày có vẻ như gái đồng trinh, mọi người gọi mày là Fleur de-Marie mà mày còn phàn nàn. Mày sẽ nói thế nào khi mày có cái lò sưởi dưới chân, cái áo trùm lông sóc như mụ Quỷ Cái kia. – Ồ! Chẳng bao giờ tôi sống đến tuổi đó. – Thế mày có phép để trẻ mãi sao? – Không! Nếu như tôi không sống khổ quá! Tôi ho dữ lắm. – Ái chà, mày nói như mày sắp chết đến nơi. Chỉ nói dại thôi… Thôi đi. – Cháu có hay nghĩ như vậy không, Sơn Ca? – Rodolphe hỏi. – Đôi khi… thưa ông Rodolphe, có thể ông hiểu đấy. Buổi sáng khi cháu đi mua một xu sữa của chị bán sữa ở góc phố và khi thấy chị ta trở về trên chiếc xe nhỏ có lừa kéo. Cháu thấy đến thèm… Cháu tự nhủ: Chị ấy đi về nông thôn, có không khí trong lành, về nhà mình, về gia đình mình. Còn ta, ta trở về cô đơn, leo lên cái ổ chó của mụ chủ quán, nơi mà ngay giữa ban ngày vẫn thiếu ánh sáng. – Này! Hãy cứ đứng đắn mới được cô bé ạ. Hãy cứ đứng đắn đi… Coi đó như trò đùa thôi. – Chọc Tiết nói. – Trời ơi! Anh bảo tôi cứ đứng đắn đi, lấy gì để mà đứng đắn. Quần áo tôi mặc là của mụ chủ quán, tôi nợ mụ ấy tiền trọ, tiền ăn. Tôi không thể nhúc nhích khỏi đây. Mụ ấy sẽ nhờ người truy nã tôi như một kẻ ăn cắp. Tôi thuộc về mụ ấy… Tôi phải lấy thân trả nợ. – Khi nói những lời ghê sợ cuối cùng ấy, cô bé rùng mình. – Vậy thì mày cứ sống như hiện nay và đừng so sánh với bọn thôn nữ nữa. Mày điên à. Nên nghĩ rằng mày thì nổi bật ở kinh thành mà trong khi đó thì chị bán sữa về chúi đầu với con cái, vắt sữa, kiếm cỏ cho thỏ và no đòn khi chồng say khướt ở quán rượu về. Đấy là đời sống có thể tự hào à? Lừa dối cả thôi! Sau một lúc im lặng khá lâu, đột nhiên Sơn Ca đưa cốc ra: – Sống như thế thì tự hào cái nỗi gì? Rót rượu đi, anh Chọc Tiết! Không, không uống vang đâu, rượu mạnh kia! Vẫn với giọng êm ái, cô xua xua cái bình rượu vang Chọc Tiết định rót. – Rượu mạnh! Đúng lúc quá! Sao tao khoái mày thế, mày bạo gan đấy. – Chọc Tiết nói mà không hiểu cử chỉ của cô bé, không nhận thấy giọt lệ long lanh trên mắt cô. – Đáng tiếc là rượu mạnh khó nuốt… Nhưng nó khiến người ta mụ mẫm đi. Sơn Ca nhăn mặt, chán chường cạn cốc. Rodolphe càng lúc càng chú ý lắng nghe câu chuyện thương tâm được kể lại một cách hồn nhiên. Sự túng quẫn và buông thả chứ không phải bản chất xấu xa đã làm hư hỏng cô bé khốn khổ này. CHƯƠNG IV CHỌC TIẾT Hẳn bạn đọc chưa quên hai người khách trong quán bị một người thứ ba theo dõi chăm chú. Đặc biệt người đội mũ Hy Lạp luôn che giấu bàn tay trái và đã khẩn khoản hỏi mụ chủ quán tại sao Thầy Đồ chưa đến. Khi Sơn Ca kể chuyện, họ nhiều lần thầm thì với nhau và bồn chồn nhìn ra cửa. Người đội mũ Hy Lạp nói với đồng bọn: – Lão Thầy Đồ đếch tới, miễn sao chiến hữu của lão đừng xóa sổ lão để giật phần. – Nếu thế thì phèo mất công ta tăm vụ đánh quả. – Tên kia nói. Người khách vào sau cùng vẫn chú ý hai người kia. Nhưng ông ta ngồi hơi xa để nghe được câu nói cuối cùng của họ. Sau nhiều lần khéo léo xem lại một mảnh giấy nhỏ kẹp kín trong mũ kết, người đó có vẻ hài lòng về những nhận xét của mình. Ông ta ra khỏi bàn và nói với mụ chủ quán đang ngủ gà ngủ gật sau quầy, chân kề bếp lò, con mèo trên ghế: – Này, mẹ Ponisse, tôi sẽ trở vào ngay, trông hộ bình rượu và đĩa thức ăn nhé, kẻo lũ bợm ních hết. – Ông mãnh yên tâm, nếu bình đã cạn, đĩa đã nhẵn thì chẳng có ai đến đâu. Người đó phá lên cười tỏ ra hiểu câu nói khôi hài của mụ Ponisse và rút êm. Trước khi cửa đóng lại, Rodolphe đã kịp nhìn ra phố thấy bộ mặt lấm lem và thân hình đồ sộ của người bán than. Rodolphe tỏ thái độ bực bội trước sự theo sát bảo vệ của người bán than. Người này biết vậy nhưng vẫn không rời xa quán rượu. Rượu mạnh không khiến Sơn Ca vui vẻ hơn, trái lại càng ủ rũ hơn. Cô ngồi tựa vào tường, đầu gục xuống, đôi mắt to và xanh lơ đãng nhìn quanh với những ý nghĩ xót xa dồn dập. Cô không nhận thấy vẻ quan tâm đặc biệt của người cứu mình, chỉ ân hận chưa đền đáp được gì và gần như lấy làm tiếc là đã kể chuyện đời mình quá thành thật. Chọc Tiết Chọc Tiết trái lại rất vui. Món thập cẩm, vang và rượu mạnh đã khiến y cởi mở, quên cả nỗi xấu hổ vì bị quật ngã. Y thấy Rodolphe trên tài mình rất xa nên từ xấu hổ chuyển sang ngưỡng mộ, sợ sệt, tôn trọng. Không biết hằn thù, thú nhận thành thật là đã giết người và đã bị trừng phạt đích đáng, tự hào không bao giờ thèm trộm cắp, y tuy phạm tội ác nhưng chưa đến nỗi chai sạn. Khía cạnh đó không thoát khỏi sự nhận xét minh mẫn, tinh tế của Rodolphe. Nhiều tham vọng và cũng hiếu thắng như một số người, Rodolphe nôn nóng có ngay một cuộc chạm trán với Thầy Đồ, mà ông tin là có thể chiến thắng. Vì thế, ông cố thôi thúc để Chọc Tiết đi ngay vào câu chuyện, cho đỡ bồn chồn. – Nói đi cậu, chúng tôi nghe đây. – Rodolphe giục Chọc Tiết. Y tợp nốt cốc rượu và bắt đầu: – Sơn Ca, cô chỉ là cô bé đáng thương. Ít nhất cô em còn được mụ Vọ nhặt về. Đem mà tống mụ xuống địa ngục. Cô em còn có chỗ trú chân cho đến khi bị bắt vào tù. Còn tao, tao không nhớ có lúc nào tao được ngủ trên giường không, cho đến năm mười chín tuổi, vừa đúng tuổi đi lính. – Anh đã từng đi lính à? – Rodolphe hỏi. – Vâng, ba năm, nhưng đó là chuyện về sau. Đã ở Viện bảo tàng Louvre, những lò nung thạch cao ở Clichy và những công trường ở Montrouge, đấy là những khách sạn của tôi thời trai trẻ. Ông biết không, tôi đã từng có cơ ngơi cả ở Paris, cả ở nông thôn. – Lúc đó anh làm nghề gì? – Tôi nhớ mang máng lúc nhỏ, tôi chỉ là đứa trẻ lẽo đẽo đi theo ông lão nhặt giẻ rách thường nện tôi bằng cái que cời. Chẳng thế thì sao, sau này mỗi khi thấy người đeo giỏ mây đan và que cời như hình thần Ái tình Cupidon là tôi cứ muốn nhảy xổ vào mà nện. Vốn trước kia bọn người nhặt giẻ thường hay bắt nạt tôi mà! Nghề đầu tiên của tôi là phụ việc cho những người hàng thịt chọc tiết ngựa ở Montfaucon. Lúc đó tôi mới mười hoặc mười hai tuổi. Lần đầu tiên chọc dao bầu vào những con vật già khốn khổ, tôi thấy ghê tay. Sau một tháng, tôi không nghĩ đến nữa, tôi thấy quen nghề. Không ai có đường dao bén ngọt như của tôi… Cái đó làm cho tôi rất khoái. Xong việc người ta ném cho tôi một miếng thịt ngựa để trả công, còn tất cả thịt đều đem bán cho bọn lái buôn bịp bợm ở phố Trường Y, người ta chế biến thành thịt bò, thịt bê, thịt dã thú theo sở thích của khách hàng. Có miếng thịt ngựa, tôi thấy mình sướng hơn vua. Ít ra là như thế! Tôi chạy ngay về lò nung thạch cao, rồi như con sói đói về hang, được sự cho phép của người đốt lò, tôi làm món quay hết ý. Khi lò không đốt, tôi nhặt củi khô ở Romainville, nhóm lửa và quay thịt trong góc một bức tường của lò mổ. Thế đấy, nửa chín, nửa tái, không có món gì khác. – Trước đây tên anh là gì? – Rodolphe hỏi. – Tóc tôi hoe hoe nhạt hơn bây giờ, mắt lúc nào cũng vằn đỏ, vì thế người ta gọi tôi là Bạch Tạng. Bạch Tạng là con thỏ trắng có đôi mắt đỏ. – Thế còn cha mẹ, gia đình? – Cha mẹ tôi ư? Cũng cùng một số nhà như cha mẹ Sơn Ca. Nơi sinh ư? Góc phố của bất kỳ con đường nào, cột vòi nước bên phải hay bên trái, ngược hay xuôi dòng chảy. – Anh oán giận cha mẹ đã bỏ rơi anh sao? – Việc đó không liên quan gì đến ai… nhưng dù sao các cụ vẫn xỏ tôi, cho tôi ra đời… Nhưng tôi không muốn nói nhiều về điều đó. Các cụ đã làm như Thượng đế đáng lẽ phải an bài cho dân nghèo. Vì Người có mất gì đâu, và cũng chẳng buộc người nghèo chúng tôi phải trả giá để được lương thiện… – Anh đói, anh rét và anh không trộm cắp phải không? – Không. Mặc dù tôi khổ! Đôi khi tôi phải nhịn đói nhiều ngày liền, nhưng những lần như thế, tôi không bao giờ trộm cắp. – Anh sợ vào tù à? – Ồ! – Chọc Tiết thốt lên, nhún vai và cười to. – Tôi đã không ăn cắp vì sợ sẽ có cơm ăn. Lương thiện, tôi chết đói, ăn cắp, người ta sẽ nuôi tôi trong tù. Không, tôi không trộm cắp vì… vì tôi không hề có ý muốn ăn trộm. Câu trả lời rất hay đó đã khiến Rodolphe ngạc nhiên hết sức. Một người nghèo khổ mà giữ được lòng lương thiện trong muôn vàn thiếu thốn gieo neo thì thật đáng kính trọng gấp bội. Vì sự trừng phạt tội phạm lại có thể trở thành người nuôi sống chắc chắn cho họ. Rodolphe bèn đưa tay ra cho con người khốn khổ thô lỗ, cục cằn của cái xã hội được coi là văn minh, con người mà sự nghèo hèn không tha hóa nổi. Chọc Tiết ngạc nhiên và kính nể nhìn người khoản đãi mình, khó khăn lắm mới dám đụng đến bàn tay chìa ra cho mình bắt. Y cảm thấy giữa mình và Rodolphe là cả một hố sâu ngăn cách. – Tốt, tốt! – Rodolphe nói. – Anh vẫn còn lương tâm và danh dự. – Thực tâm tôi chẳng hiểu gì cả – Chọc Tiết cảm động – những lời ông nói với tôi, tôi chưa bao giờ được nghe cả. Chưa bao giờ tôi cảm thấy như thế này… Ông đã quật ngã tôi, thế nhưng ông lại cho tôi ăn và ông nói với tôi những lời mà… thế là đủ, từ nay tôi sẽ trung thành với ông đến trọn đời. Ông hãy tin ở thằng Chọc Tiết này. Rodolphe không muốn biểu lộ niềm xúc động của mình. – Anh làm nghề phụ đồ tể có lâu không? – Khá lâu. Ban đầu tôi rất ngán nhưng sau khi thấy hay hay, tới tuổi thành niên, tôi làm việc như điên và tôi say mê chọc tiết đến quên cả ăn. Phải nhìn thấy lúc tôi làm việc mới biết. Giữa mười lăm, hai mươi con ngựa đang chờ đến lượt. Chà! Chà! Tôi như lên con điên. Tôi cởi trần trùng trục, tai ù ù, tay cầm con dao to và tôi đâm… Tôi đâm cho đến khi con dao rời khỏi tay. Trời ơi! Thật khoái, có làm ra tiền triệu tôi cũng không khoái bằng nghề này. – Có phải vì thấy máu mà anh nhiễm phải thói quen đâm chém không? – Có thể. Tôi nhớ có lần thói tật ấy khiến tôi nổi khùng thật sự và làm hỏng công việc. Tôi làm hỏng cả các tấm da vì tôi đâm lung tung. Cuối cùng người ta đuổi tôi khỏi lò mổ. Bệnh thích đâm chém cũng nhạt đi, tôi muốn tìm nghề khác. Tôi muốn xin việc làm ở hàng xeo, nhưng, lầm quá đi thôi, họ làm cao, coi khinh tôi như anh thợ chuyên đóng ủng khinh anh thợ sửa giày. Không tìm được việc làm, tôi thường phải nhịn đói. Về sau tôi làm việc tại công trường đá ở Montrouge. Được hai năm, bực mình vì chỉ loanh quanh với trục đá đến phát chán để được mỗi ngày hai mươi xu, cao lớn, mạnh mẽ, tôi đăng lính. Người ta hỏi tên và giấy tờ của tôi. Tên tôi ư? Bạch Tạng. Tuổi ư? Nhìn râu tôi đây. Giấy tờ ư? Đây, chứng chỉ của ông chủ mỏ đá. Tôi nói tôi có thể làm một pháo thủ tốt, thế là người ta cho tôi nhập ngũ. – Với sức khỏe và lòng can đảm, nếu lúc đó có chiến tranh, có thể anh sẽ thành sĩ quan. – Trời đất ơi! Tôi biết thừa đi rồi. Đâm bọn Anh hay bọn Phổ* chắc phải thích hơn đâm những con ngựa già… Nhưng không may là không có chiến tranh mà lại có kỷ luật. Nếu người học việc gây sự với ông chủ, được thôi, nếu yếu anh ta bị ăn đòn, nếu khỏe, đánh được thì anh ta bị đuổi, đôi khi còn bị tống giam. Nhưng trong quân đội lại là chuyện khác. Một hôm người đội trưởng xô tôi vì tôi không thực hiện mệnh lệnh. Hắn có lý, vì tôi lười. Bực mình, tôi kháng cự, hắn xô tôi, tôi xô lại. Hắn nắm cổ tôi, tôi quay lại. Mọi người ùa vào túm lấy tôi làm tôi hăng máu, sẵn dao trong tay, tôi đang làm bếp mà, tôi đâm hắn, đâm bị thương hai người lính khác nữa. Đúng là một cuộc tàn sát, mười một nhát dao cho ba người. Máu lênh láng như ở lò mổ. Vương quốc Phổ là một vương quốc trong lịch sử Đức, tồn tại từ năm 1701 đến 1918, cho đến khi nước Đức bị đánh bại tại Chiến tranh thế giới thứ nhất. Chọc Tiết cúi đầu, ảo não rồi lặng im. – Lúc này anh đang nghĩ gì thế? – Rodolphe hỏi và thấy hay hay khi quan sát y. – Tôi quên không nói là khi tại ngũ tôi đã từng cứu hai người bạn suýt chết đuối trên sông Seine khi chúng tôi đóng quân ở Melun. Và một lần khác tôi đã cứu được một bà già khỏi bị lửa thiêu trong một vụ cháy nhà khủng khiếp. Đáng lẽ phải lên máy chém, người ta hạ án tôi xuống khổ sai, lão thầy cãi ra sức múa tay quay lưỡi đã chuyển được án cho tôi. Khi biết không bị xử tử nữa, cử chỉ đầu tiên của tôi là muốn nhảy đến bóp cổ lão thầy cãi, ông hiểu tại làm sao chứ? – Anh tiếc vì được giảm nhẹ tội ư? – Vâng, giết người đền mạng, như thế mới đúng, trộm cắp thì tra chân vào cùm, tội nào án ấy. Nhưng buộc anh phải sống khi anh đã giết người thì bọn quan tòa nào có hiểu được bọn sát nhân chúng tôi phải chịu đựng như thế nào trong những buổi đầu đâu! – Anh hối hận à, Chọc Tiết? – Hối hận, không, dù sao tôi cũng đã mãn hạn tù, tuy nhiên không có đêm nào mà tôi không bị những cơn ác mộng ám ảnh. Tôi gặp lại người đội trưởng và những người lính bị tôi đâm. Mà đâu có phải chỉ một mình họ – Chọc Tiết rùng mình – có đến hàng chục, hàng trăm, hàng vạn người chờ đến lượt mình bị đâm như khi tôi giết ngựa ở Montfaucon. Tôi thấy điên lên, tôi chọc tiết họ như trước kia tôi chọc tiết những con ngựa. Nhưng càng đâm họ lại càng đến nhiều hơn, và trong khi chết họ nhìn tôi dịu dàng biết bao nhiêu, dịu dàng đến nỗi tôi tự nguyền rủa mình đã giết họ nhưng tôi không thể ngừng lại được. Nào đã hết đâu… Tôi chưa bao giờ có anh em, trong khi đó những người tôi cứa cổ đều lại là anh em bè bạn… Những người anh em mà tôi sẵn sàng nhảy vào lửa để cứu họ. Khi không chịu được nữa, tôi thét lên và tỉnh dậy, toát mồ hôi lạnh cóng như tuyết tan. – Giấc mơ dữ dội thật! – Ồ vâng! Thật thế! Thời gian đầu bị giam, đêm nào tôi cũng nằm mơ như thế. Ông biết không, chính vì vậy mà tôi muốn hóa điên hóa dại. Chẳng thế mà đã hai lần tôi tìm cách tự sát. Một lần tôi uống gỉ đồng, lần khác tôi thắt cổ bằng một sợi xích. Nhưng tôi khỏe như con bò mộng. Gỉ đồng chỉ làm tôi khát nước ghê gớm, còn sợi xích chỉ để lại một vết hằn như chiếc cà vạt xanh tự nhiên. Nhưng rồi khát vọng sống đã thắng, những đêm ác mộng giảm dần, tôi trở lại bình thường như những người khác. – Trong tù tha hồ sẵn thầy bạn mà học nghề của bọn trộm cướp, thế mà vượt qua được mọi cám dỗ à? – Vâng, đúng thế. Tôi ghét gian lận, lừa đảo và trộm cắp. Cũng vì vậy những tay trộm cắp thường giễu cợt tôi, tôi đã lấy xích vụt chúng cứng họng. Tôi đã gặp lão Thầy Đồ trong một trận nện xích như vậy, nhưng lão đã cho tôi nếm một trận nên thân, như ông ấy. – Đấy là một người tù mãn hạn phải không? – Lão là tên tù chung thân nhưng đã vượt ngục. – Và lão vẫn lẩn tránh? Sao không ai tố cáo lão? – Tất nhiên người tố cáo lão không phải là tôi – tôi sợ lão. – Sao mật thám không phát hiện ra được, hay là không có dấu vết nhận dạng của lão? – Dấu vết nhận dạng à! Khó đấy! Từ lâu lão đã xóa trên mặt những nét mà Chúa an bài. Bây giờ chỉ có thánh mới nhận ra Thầy Đồ thôi. – Lão xóa bằng cách nào? – Đầu tiên lão xóa bớt cái mũi quá dài, thêm vào đó lão bôi acid lên mặt. – Anh không đùa đấy chứ? – Nếu tối nay lão đến, ông sẽ thấy. Trước đây mũi lão dài khoằm như mỏ vẹt, bây giờ thì tẹt hẳn, đây là chưa kể đôi môi phồng to như nắm tay và cái mặt xanh ô liu chằng chịt sẹo như áo vá. – Như thế thì khó nhận ra thật. – Lão trốn khỏi ngục Rochefort* đã được sáu tháng. Cớm gặp lão hàng trăm lần mà vẫn không nhận ra lão. Nơi giam giữ tù khổ sai. – Sao lão bị tù khổ sai? – Lão làm bạc giả, ăn trộm và giết người. Người ta gọi lão là Thầy Đồ bởi chữ lão rất đẹp và lão cực kỳ thông thái. – Lão là kẻ đáng sợ lắm phải không? – Lão sẽ không còn đáng sợ nếu như ông quật lão như đã quật tôi. Trời đất ơi! Được thấy thế thì tôi khoái biết mấy! – Hiện nay lão làm gì để sống? – Lão khoe cách đây ba tuần lão đã trấn lột và giết một người lái bò trên đường Poissy. – Sớm hay muộn rồi người ta cũng tóm được lão thôi. – Phải có từ hai người trở lên, rất can đảm mới làm được việc đó, lão luôn thủ trong áo choàng hai khẩu súng ngắn đã nạp đạn và một con dao găm. Lão thường nói, máy chém chờ lão, có chết chỉ chết một lần. Lão sẽ giết tất cả, để chạy trốn. Ái chà, lão không thèm giấu điều đó đâu. Lão khỏe gấp đôi ông và tôi, hạ lão khó lắm. – Anh làm nghề gì sau khi mãn hạn tù? – Tôi đã xin việc với chủ thầu xếp dỡ hàng ở cảng Saint Paul và nhờ đấy mà sống. – Nhưng tại sao đã không trộm cắp mà anh lại sống trong Nội Thành? – Vậy ông muốn tôi sống ở đâu? Ai thích gì cái việc tiếp xúc với một tên tù mãn hạn. Với lại sống một mình tôi buồn lắm. Tôi thích chỗ đông người, ở đấy tôi sống với những người cùng cảnh ngộ. Tôi có ẩu đả đôi lần… Trong Nội Thành, người ta sợ tôi như cọp, cảnh sát cũng chẳng làm gì tôi ngoài một vài lần phạt giam tôi hai mươi tư giờ vì tội đánh nhau. – Mỗi ngày anh kiếm được bao nhiêu tiền? – Ba mươi lăm xu một ngày, mạnh chân khỏe tay thì cứ thế mà kéo, còn yếu đi, tôi lại cầm cái thuốn và cái giỏ như ông già nhặt giẻ rách mà hình ảnh đã từng in đậm nét trong ký ức tuổi thơ của tôi. – Anh có bao giờ thấy khổ không? – Không. Tôi biết còn nhiều người khổ hơn tôi. Nếu không thường thấy người đội trưởng và những người lính bị tôi đâm đêm đêm trong giấc ngủ, tôi có thể nhắm mắt bình yên ở một xó xỉnh nào đó hoặc ở bệnh viện làm phúc như mọi người khác. Nhưng cơn ác mộng ấy… Thôi, còn nghĩa lý gì nữa mà phải nhắc đến. Câu chuyện của Chọc Tiết khiến Sơn Ca thẫn thờ trong đau đớn mơ màng. Rodolphe cũng vậy, im lặng suy nghĩ. Câu chuyện của hai người gợi lên trong ông những dự kiến mới. Một sự cố bi thảm xảy đến khiến cả ba người sực nhớ họ đang ở chỗ nào. CHƯƠNG V BẮT BỚ Sau khi dặn mụ chủ quán trông bình rượu và đĩa thức ăn, người đàn ông vừa đi ra trở lại ngay cùng với một người vai rộng, nét mặt cương nghị. Người đó nói với người cùng đi: – Tình cờ chúng ta gặp nhau thế này, Borel, vào đi, chúng ta làm cốc rượu. Chọc Tiết nói nhỏ với Rodolphe, Sơn Ca và chỉ cho họ người mới vào. – Lại sắp có chuyện… Cớm đấy! Hãy coi chừng! Hai tên kẻ cướp trong đó có một tên đội mũ Hy Lạp kéo sụp xuống nháy mắt cho nhau, đứng dậy và đi ra cửa. Cùng lúc, hai cảnh sát mặc thường phục lao vào chúng và hô to một ám hiệu đặc biệt. Một cuộc vật lộn khủng khiếp xảy ra. Cửa quán ăn bật mở, nhiều nhân viên khác ùa vào trong phòng và người ta thấy bên ngoài thấp thoáng những cây súng của hiến binh. Nhân lúc lộn xộn, người bán than tiến vào ngưỡng cửa và tình cờ gặp ánh mắt Rodolphe, ông đưa ngón tay lên môi ra hiệu. Rodolphe với cử chỉ vừa nhanh vừa oai vệ lệnh cho người này đi ra rồi tiếp tục theo dõi mọi việc diễn ra trong quán. Người đội mũ Hy Lạp điên cuồng rú lên, nằm vật ngửa trên mặt bàn, giãy giụa tuyệt vọng, ba người phải vất vả mới giữ được. Hắn mệt lử, ủ ê, mặt tái mét, môi trắng bệch, hàm dưới trễ xuống co giật lập cập, tên đồng đảng của hắn không dám chống cự, tự đưa tay cho người ta cùm. Mụ chủ quán đã quen với cảnh này nên ngồi bất động trong quầy, hai tay thủ trong tạp dề. – Hai thằng ấy đã làm gì hả ông Borel? – Mụ hỏi một nhân viên mà mụ quen. – Hôm qua chúng vừa giết một bà già ở phố Saint Christophe để cướp của. Trước khi chết, bà già xấu số đã nói là bà cắn vào tay một trong hai tên sát nhân. Chúng tôi chú ý theo dõi hai thằng ác ôn này, người đồng đội của tôi vào khi nãy đã xác nhận đúng hình tích của chúng, thế là chúng bị tóm gọn. – Thật may cho tôi, chúng đã trả tiền trước chai rượu chúng uống. Ông không dùng gì sao ông Borel? Xin mời ông cốc rượu. – Cảm ơn bà Ponisse, tôi phải đưa chúng đi tống giam đã. Đấy, một tên còn chống cự! Tên giết người đội mũ Hy Lạp còn giãy giụa điên cuồng khi người ta đẩy hắn lên một chiếc xe ngựa đợi sẵn bên đường, hắn kháng cự quyết liệt đến nỗi người ta phải xốc hắn lên. Tên đồng bọn của hắn run rẩy, khó khăn lắm hắn mới đứng vững được, môi tím lại mấp máy như muốn nói điều gì. Người ta cũng quẳng luôn khối thịt bất động đó vào xe. – Bà Ponisse, – ông Borel nói – bà phải đề phòng Cánh Tay Đỏ mới được, hắn tinh quái lắm, hắn có thể gây tổn thất cho bà đấy. – Cánh Tay Đỏ ấy à? Đã mấy tuần nay không thấy hắn lai vãng đến khu này, ông Borel ạ. – Hắn luôn luôn ở quanh đây thôi, không ai thấy hắn ló mặt, bà biết chứ, chớ có nhận giữ gì cho hắn hoặc cho hắn gửi bất kỳ thứ gì, tội chứa chấp đấy! – Ông yên tâm, tôi sợ Cánh Tay Đỏ như sợ quỷ. Chẳng ai biết hắn ở đâu, đi đâu và từ đâu đến, lần cuối cùng tôi thấy hắn, hắn bảo mới ở Đức về. – Dù sao tôi cũng dặn phòng xa. Hãy cẩn thận! Trước khi rời quán, viên cảnh sát quan sát kĩ những người khách khác và nói với Chọc Tiết bằng một giọng ban ơn, bề trên: – Mày đấy à! Thằng ác ôn? Từ lâu không nghe nói đến mày? Mày không đánh lộn nữa sao? Đã tu tỉnh rồi à? – Hiền như bụt ạ. Ông Borel, ông biết cho, cháu chỉ đập vỡ gáo những thằng muốn ngứa ngáy thôi ạ! – Chỉ còn thiếu có thế, mày chẳng khỏe mà! – Vậy mà tôi phải chịu đại ca đây của tôi, ông Borel ạ. – Chọc Tiết vừa nói vừa đặt tay lên vai Rodolphe. Viên cảnh sát chú ý ngắm Rodolphe và nói: – Ta không biết anh chàng này. – Chúng ta sẽ không làm quen với nhau đâu ông bạn ạ. – Rodolphe nói. – Tôi cũng mong được như vậy, – rồi viên cảnh sát quay lại mụ chủ quán – này bà Ponisse, quán của bà đúng là cái bẫy chuột, đã đến thằng giết người thứ ba tôi bắt được trong quán này. – Và tôi cũng hy vọng rằng chẳng phải thằng cuối cùng, ông Borel ạ! Sẵn sàng hầu ông… – Mụ chủ quán duyên dáng và nghiêng mình chào. Sau khi viên cảnh sát rời đi, gã thanh niên mặt xám ngoét luôn hút thuốc và uống rượu trắng nhồi lại tẩu và nói với Chọc Tiết: – Anh không nhận ra tay đội mũ Hy Lạp à? Hắn là dân Boulotte, tên là Vélu. Khi tôi thấy cảnh sát đi vào, tôi biết ngay là có chuyện gì rồi, với lại từ lúc vào, Vélu luôn giấu tay dưới gầm bàn. – Cũng may cho lão Thầy Đồ không đến đây. – Mụ chủ quán nói. – Thằng đội mũ Hy Lạp nhiều lần hỏi tôi về lão, về công việc chúng làm ăn với nhau nhưng tôi không bao giờ phản khách hàng của tôi. Người ta bắt chúng, được thôi, mỗi người một nghề nhưng tôi không bán chúng. Này, khi người ta nói đến chó sói là người ta thấy nó lòi ngay cái đuôi ra. – Mụ chủ quán nói thêm khi một người đàn ông và một người đàn bà bước vào quán; đấy là Thầy Đồ và vợ lão. Mọi người trong quán đều rùng mình. Thầy Đồ và Mụ Vọ Rodolphe cũng vậy, mặc dù vốn rất can đảm, ông cũng không chế ngự nổi sự khiếp đảm khi nhìn thấy tên cướp ghê gớm, ông ngắm lão vài phút, vừa tò mò vừa tởm lợm. Chọc Tiết nói đúng. Thầy Đồ đã tự hủy hoại thể xác để biến dạng một cách kinh khủng. Không thể thấy thứ gì đáng ghê sợ hơn bộ mặt của tên kẻ cướp này. Mặt lão đầy vết sẹo sâu hoắm ngang dọc, xám ngắt. Tác dụng ăn mòn của acid đã khiến môi lão sưng phồng lên, sụn ở mũi đã cắt, hai cái hố dị dạng thay cho hai lỗ mũi. Mắt màu xám rất sáng, rất nhỏ, rất tròn, ánh lên man rợ, trán dẹt như trán cọp khuất một nửa dưới chiếc mũ lưỡi trai có tua bằng lông thú dài màu vàng… Có thể nói đó là cái bờm của con quái vật. Thầy Đồ cao khoảng mét bảy, đầu to quá khổ, rụt sâu xuống hai vai rộng, nhô cao, bắp thịt nổi u, hằn rõ dưới nếp áo vải thô rộng thùng thình, hai tay dài, gân guốc, bàn tay ngắn mà to, đầy lông đến tận đầu ngón tay, chân vòng kiềng nhưng bắp chân to, báo hiệu một sức mạnh của đô vật. Con người ấy tóm lại, đúng là một loại đô vật. Biểu hiện của tính tàn bạo toát ra từ bộ mặt khủng khiếp, từ cặp mắt nhìn lấm lét nhanh như chớp, dữ dội như mắt dã thú, khó tả. Mụ đàn bà đi cùng Thầy Đồ đã già, khá tươm, mụ mặc một chiếc váy nâu và áo kẻ ô vuông, đội mũ trùm đầu màu trắng. Rodolphe quan sát từ phía bên, con mắt xanh và tròn, mũi khoằm, đôi môi mỏng dính, cái cằm dô, vẻ mặt vừa gian ác vừa xảo quyệt của mụ khiến ông nhớ lại hình dáng mụ Vọ của Sơn Ca. Sắp trao đổi nhận xét của mình với Sơn Ca, Rodolphe thấy cô bé tái mặt, lặng đi vì khiếp sợ người vợ gớm ghiếc của Thầy Đồ, sau đó run run nắm cánh tay Rodolphe, cô thì thầm: – Mụ Vọ… Trời ơi, mụ Vọ… Mụ Vọ! Lúc đó, Thầy Đồ thì thầm trao đổi khẽ với một trong những khách quen trong quán và thong thả đi lại bàn mà Rodolphe, Chọc Tiết và Sơn Ca đang ngồi. Lão nói với Sơn Ca bằng giọng khàn khàn, ồ ồ như tiếng gầm của cọp: – Ê này, cô bé tóc hoe xinh đẹp, rời hai thằng ngợm này đi, để đến với tao. Sơn Ca không trả lời, nép sát vào Rodolphe, răng đánh lập cập. – Và chị… chị chẳng ghen đâu. – Mụ Vọ nói và cười phá lên. Mụ chưa nhận ra Sơn Ca chính là con Lỏi Con ngày xưa, nạn nhân của mụ. – Ái chà, con nhãi, mày không nghe thấy tao nói à? – Gã quái ác vừa hỏi vừa tiến lại gần. – Nếu mày không đến, tao sẽ móc một mắt mày để mày xứng đôi với mụ Vọ. Và này, thằng để ria mép kia, – lão nói với Rodolphe – nếu mày không tống con bé tóc hoe này đến chỗ tao, tao sẽ bóp chết mày. – Trời ơi! Trời ơi! Ông ơi! Ông che chở cho cháu với! – Sơn Ca chắp tay lại kêu cứu. Rồi nhận thấy mình sắp gây ra tai họa lớn cho Rodolphe, cô hạ thấp giọng. – Thôi, thôi đừng nhúc nhích, ông Rodolphe ạ, nếu lão đến gần, cháu sẽ kêu cứu, sợ cuộc cãi vã ồn ào sẽ khiến cảnh sát chạy đến, mụ chủ quán sẽ đứng về phía cháu. – Bình tĩnh cháu ạ. – Rodolphe nói và nhìn thẳng Thầy Đồ một cách thách thức. – Cứ ở bên ta, cháu không đi đâu hết và nếu tên mất dạy quái ác kia dám đụng đến cháu, ta sẽ quẳng nó ra đường. – Mày ấy à? – Thầy Đồ nói. – Tao chứ ai! – Rodolphe đáp lại, mặc dù cô bé cố kéo lại, ông vẫn đứng dậy. Thầy Đồ lùi một bước trước sự phẫn nộ ghê gớm của Rodolphe. Sơn Ca và Chọc Tiết kinh ngạc trước vẻ cuồng nộ dữ tợn làm cau có nét mặt thanh tao của Rodolphe, ông như khác hẳn, không nhận ra được nữa. Khi đánh nhau với Chọc Tiết, ông đã coi thường, ra vẻ trêu cợt, nhưng khi mặt đối mặt với tên Thầy Đồ, hình như Rodolphe mang sẵn lòng thù hận ghê gớm: đồng tử giãn to vì giận dữ, lóng lánh khác thường. Có những tia mắt như chứa ma lực khó cưỡng lại, nhiều tay kiếm sĩ quyết đấu nổi tiếng đã chiến thắng tuyệt đối nhờ ánh mắt mê hoặc và làm tê liệt đối phương. Rodolphe vốn sẵn có ánh mắt đáng sợ ấy. Nó xoáy vào khiến người ta run sợ. Và những ai bị nó ám ảnh đều cảm thấy bối rối, bị chế ngự, họ thấy rõ ràng như vậy, và dù không muốn, vẫn cứ bị hút vào, không thể rời được nó. Thầy Đồ rùng mình, lùi thêm một bước nữa, và không dám trông cậy ở sức mạnh ghê gớm của mình, lão vội tìm cán dao giấu trong áo khoác. Một vụ chém giết đẫm máu có thể xảy ra nếu như mụ Vọ không túm lấy tay chồng, nói to: – Hượm đã… Hượm đã… ông mãnh! Nghe tôi nói đã. Lát nữa, hãy làm thịt hai thằng nỡm này, chúng không thoát được đâu… Thầy Đồ ngạc nhiên nhìn mụ Vọ. Trong suốt thời gian ấy, mụ Vọ theo dõi Sơn Ca với sự chú ý ngày càng tăng, cố lục lại trí nhớ. Cuối cùng, không còn hồ nghi gì nữa, mụ đã nhận ra con Lỏi Con ngày xưa của mụ. – Có thể như vậy ư? – Mụ Vọ ngạc nhiên chắp tay lại lẩm bẩm. – Đúng con nhãi rồi, con ăn cắp kẹo. Nhưng mày ở xó nào ra? Có phải ma quỷ xui mày đến đây không? – Mụ nói thêm và giơ quả đấm về phía cô bé. – Mày lại vẫn luôn luôn rơi vào tay bà. Yên trí, nếu bà không nhổ răng mày nữa, bà sẽ làm mày khóc hết nước mắt. A! Chắc mày sẽ điên lên! Mày không biết sao? Bà biết cha mẹ mày. Lão Thầy Đồ đã gặp trong tù người đã giao mày cho bà khi mày bé tí tẹo. Người đó đã nói tên mẹ mày. Bố mẹ mày là bọn sụ! Sơn Ca sửng sốt: – Cha mẹ tôi! Bà biết họ ư? – Đúng, chồng tao biết tên mẹ mày… nhưng tao thà rút lưỡi lão còn hơn để lão nói cho mày biết… Hôm qua, lão còn gặp người đã đưa mày đến nhà tao, bởi vì người ta không trả tiền nuôi mày cho vợ nó nên nó mới tống mày sang nhà tao. Vả lại, mẹ mày cũng chẳng thiết gì mày, mẹ mày sẽ thích lắm nếu biết là mày đã chết, chắc hẳn thế! Nhưng được, nếu bây giờ mày biết họ mẹ mày, chắc mày có thể tống tiền bà ta, đồ con hoang kia! Người mà tao nói có đủ giấy tờ, ông ta có những bức thư của mẹ mày… Mày khóc à, con nhãi. À, mà mày sẽ không biết mẹ mày đâu… mày sẽ không biết mẹ mày đâu. – Tôi muốn tin là mẹ tôi đã chết, như thế còn hơn! – Sơn Ca vừa nói vừa lau nước mắt. Rodolphe như quên đi Thầy Đồ, mê mải lắng nghe câu chuyện mụ Vọ kể. Trong khi đó, tên cường đạo thoát khỏi ánh mắt chế ngự của ông đã lấy lại can đảm; lão không tin con người trai trẻ với dáng tầm thước, mảnh khảnh lại dám đấu với lão. Tin ở sức mạnh ghê gớm của mình, lão xông đến gần người che chở Sơn Ca và ra lệnh cho mụ Vọ: – Thôi, vừa mồm chứ! Tao muốn đập vỡ mặt cái thằng tẩn này để cho con bé tóc hoe thấy tao còn khá hơn hắn. Phóc một cái, Rodolphe nhảy qua bàn. – Cẩn thận, kẻo vỡ hết bát đĩa của tôi. – Mụ chủ quán vẫn nhắc đi nhắc lại. Thầy Đồ thủ thế, hai bàn tay đưa ra phía trước, thân người trên hơi ngả ra sau, đứng thật vững bằng cách xuống tấn trên đôi chân to đùng sừng sững như cột đá. Khi Rodolphe nhào vào tên cường đạo, cửa quán ăn bật mở dữ dội. Người bán than xông vào trong phòng, xô mạnh Thầy Đồ, tiến đến gần Rodolphe và rỉ tai bằng tiếng Anh: – Thưa ông, Tom và Sarah… họ đang ở đầu phố. Nghe câu nói đó, Rodolphe cáu kỉnh, ném một đồng tiền vàng lên mặt quầy và chạy ra cửa. Thầy Đồ toan cản đường nhưng Rodolphe đã quay lại tống vào giữa mặt lão hai quả đấm mạnh đến nỗi con bò mộng này lảo đảo, choáng váng và gần như ngã lộn nhào trên một cái bàn. – Đúng là những ngón quyền mà tao đã xơi cuối hiệp lúc nãy! – Chọc Tiết hò to. – Vài lần như thế này nữa là tao học mót được… Hồi tỉnh lại sau một vài giây, Thầy Đồ lao đuổi theo Rodolphe, nhưng ông và người bán than đã biến mất trong những ngõ hẻm ngoắt ngoéo tối tăm của thành phố; tên kẻ cướp chịu không theo kịp. Lúc Thầy Đồ trở vào, tức sùi bọt mép, có hai người chạy ngược chiều với Rodolphe, hổn hển ùa vào quán như vừa phải cố sức chạy một thôi dài. Cử chỉ đầu tiên của họ là đảo mắt nhìn khắp quán ăn. – Tai hại cho tôi! – Một người nói. – Lại một lần nữa hắn tránh được bọn ta. – Hãy kiên nhẫn… mỗi ngày có hai mươi tư giờ và cuộc đời còn dài. – Người kia trả lời. Cả hai người mới đến đều nói với nhau bằng tiếng Anh. CHƯƠNG VI TOM VÀ SARAH Hai người vừa vào quán Thỏ Trắng thuộc một tầng lớp cao hơn nhiều so với những người khách quen ở đó. Một người cao lớn, dong dỏng, tóc gần như trắng, lông mày và chòm râu má đen, mặt xương xương rám nắng, bộ dạng cay nghiệt, nghiêm khắc. Trên chiếc mũ tròn của gã có một dải băng tang: cái áo đuôi tôm đen, dài, cài cúc đến tận cổ, gã mặc quần dạ xám bó sát người nhét trong đôi ủng kiểu Suwarow. Người đi cùng gã, nhỏ nhắn, cũng mặc đồ tang – xanh xao và đẹp. Mái tóc dài, đôi lông mày và đôi mắt đen sẫm làm nổi lên màu trắng bệch của gương mặt. Nhìn dáng đi, tầm vóc, đường nét thanh tú của khuôn mặt dễ đoán đó là người đàn bà cải trang đàn ông. – Tom! Gọi cái gì uống đi và hỏi những người này về hắn. – Sarah nói, luôn luôn dùng tiếng Anh. – Được, Sarah ạ. – Người tóc trắng lông mày đen đáp. Ngồi vào bàn trong lúc Sarah lau mồ hôi trán, gã nói với mụ chủ quán bằng tiếng Pháp rất thạo và gần như không pha giọng. – Thưa bà, bà vui lòng cho chúng tôi cái gì để uống. Việc hai nhân vật này vào quán đã kích thích mạnh sự chú ý của mọi người, quần áo, tác phong của họ chứng tỏ chẳng bao giờ họ lui tới thứ quán ăn hạ đẳng này. Thấy vẻ lo ngại, vội vã của họ, người ta đoán ngay được họ đến khu phố này có lý do quan trọng. Chọc Tiết, Thầy Đồ và mụ Vọ nhìn họ chăm chú, tò mò. Sơn Ca, kinh hãi vì cuộc gặp gỡ với mụ Vọ, sợ những lời đe dọa của Thầy Đồ muốn bắt cô theo lão, nhân lúc vợ chồng tên khốn kiếp sơ ý, cô liền lách qua cánh cửa còn hé mở, ra khỏi quán. Trong khi đó, Chọc Tiết và Thầy Đồ thấy chẳng có lý do gì để dấy lên một cuộc ẩu đả mới. Bất ngờ trước sự xuất hiện của hai người khách lạ, mụ chủ quán cũng chia sẻ sự chú ý chung. Tom sốt ruột nhắc lại lần nữa: – Chúng tôi đã gọi rượu, thưa bà, bà hãy vui lòng dọn cho chúng tôi. Mụ Ponisse, cảm động trước thái độ lịch sự đó, rời khỏi quầy, duyên dáng vịn vào bàn Tom ngồi và nói: – Ngài muốn dùng vang lít hay vang nguyên chai ạ? – Cho chúng tôi một chai vang, cốc và nước lọc. Mụ chủ quán dọn rượu, Tom quẳng cho mụ một trăm xu và từ chối không nhận tiền thừa trả lại. – Bà giữ lấy, bà chủ, và mời bà vui lòng dùng một cốc với chúng tôi. – Ngài lịch sự quá, thưa ngài! – Mụ Ponisse nói và nhìn Tom ngạc nhiên nhiều hơn là cảm kích. – Thưa bà, bà cho biết, chúng tôi có hẹn gặp một người bạn ở trong những quán phố này, có lẽ chúng tôi nhầm chăng? – Đây là quán Thỏ Trắng, chúng tôi luôn sẵn sàng hầu ngài. Không thể có hai quán Thỏ Trắng ở phố này. – Mụ chủ quán huênh hoang khoe. – Nhưng bạn của ngài là ai? – Vâng, bạn tôi phải đợi tôi ở quán Thỏ Trắng. Anh ta dong dỏng cao, tóc và râu màu nâu hạt dẻ sáng. – Tom nói. – Thong thả nào! Thong thả nào! Thôi đúng là người ban nãy rồi, một người bán than rất cao to đến tìm ông ta và họ cùng đi ra. – Chính họ đấy. – Tom nói. – Và chỉ có mình họ ở đây sao? – Sarah hỏi. – Nghĩa là người bán than chỉ đến có một thoáng còn người bạn kia của các vị thì ăn tối ở đây với con Sơn Ca và anh Chọc Tiết. – Mụ chủ quán đưa mắt chỉ người cùng ăn với Rodolphe hiện còn ở lại trong quán. Tom và Sarah quay sang nhìn Chọc Tiết. Sau vài phút xem xét, Sarah nói bằng tiếng Anh với người cùng đi: – Anh biết người này không? – Không. Karl đã mất dấu Rodolphe khi vào đến đầu những phố tối tăm này. Nhìn thấy Murph cải trang thành người bán than lởn vởn bên quán này và luôn luôn nhìn ra cửa kính, anh ta nghi có chuyện gì nên đã đến báo với chúng ta. Trong khi hai người thì thầm trao đổi bằng tiếng Anh, tên Thầy Đồ vừa nói khẽ với mụ Vọ vừa nhìn Tom và Sarah: – Thằng cao gầy đã rút trăm xu trả cho mụ chủ quán, sắp nửa đêm rồi, trời lại mưa gió. Chúng ta phải hành động ngay, tao sẽ quật thằng lớn cướp lấy tiền, gã đi với một con đàn bà chắc không dám kêu đâu. – Nếu con nhỏ dám kêu cứu, sẵn lọ acid trong túi đây, tôi sẽ đập vỡ cái chai trên đầu nó, – mụ Vọ bảo – phải luôn luôn cho bọn nhãi con uống cái đó để ngăn chúng nó kêu – rồi mụ nói thêm – này, lão trùm, hễ mà tìm thấy con Lỏi Con, cứ lôi cổ nó đi, không đi không xong. Một khi đã nhốt nó trong nhà ta, ta sẽ hắt acid vào mõm nó để cho nó hết làm bộ với cái mặt non choẹt xinh đẹp của nó. – Này, mụ Vọ, thế nào tao cũng lấy mụ. Không ai gan góc và thiện nghệ bằng mụ. Cái đêm ta khử lão lái bò ấy, tao đã đánh giá đúng về mụ, tao bảo: “Mụ phải là vợ ta, mụ sẽ hành nghề tốt hơn đàn ông.” Suy nghĩ một lúc, Sarah chỉ vào Chọc Tiết và nói với Tom: – Nếu hỏi người này về Rodolphe, có thể chúng ta sẽ biết điều gì đã dẫn hắn đến đây. Tom bảo: – Thử xem. – Rồi quay về phía Chọc Tiết: – Anh bạn ạ, chúng tôi phải tìm gặp trong quán này một người bạn, ông ta vừa ăn tối với anh; vì anh đã biết ông ta, anh hãy cho chúng tôi rõ nếu anh biết bây giờ ông ta đi đâu. – Tôi chỉ mới biết ông ta cách đây hai giờ vì ông ta đã bênh con Sơn Ca và nện tôi một trận ra trò. – Anh chưa gặp ông ta bao giờ ư? – Chưa bao giờ… Chúng tôi gặp nhau trong ngõ nhà Cánh Tay Đỏ. – Bà chủ! Thêm một chai nguyên nhé! Loại hảo hạng ấy. – Tom gọi. Sarah và gã chỉ mới nhấp sơ sơ, cốc rượu vẫn còn đầy. Mụ Ponisse muốn đề cao hầm rượu của mình, đã nhiều lần nâng cốc. – Và bà sẽ dọn rượu cho chúng tôi trên bàn của ông đây nếu ông ấy cho phép. – Tom nói thêm đồng thời cùng với Sarah đến ngồi bên Chọc Tiết; Chọc Tiết vừa ngạc nhiên vừa khoái chí về cử chỉ lễ độ đó. Thầy Đồ và mụ Vọ luôn luôn thì thầm về những dự kiến đen tối của chúng. Chai rượu được đem ra, Tom và Sarah ngồi cùng bàn với Chọc Tiết, mụ chủ quán chẳng cần mời đến lần thứ hai, cũng sáp lại, cuộc nói chuyện tiếp tục. Chạm cốc với Chọc Tiết, Tom hỏi: – Ông bạn ạ, ông bảo với chúng tôi là ông đã gặp ông