🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Bí Mật Của Những Bí Mật Quyển 2 Ebooks Nhóm Zalo OSHO Bí mật của các bí mật Bài nói về Bí mật của Hoa Vàng Tập 2 HÀ NỘI - 12/2013 OSHO The Secret of Secrets Talks on the Secrets of the Golden Flower Volume 2 Mục lục Chương 17 Chút ít bầu trời ....................................................... 1 Chương 18 Yêu là người bạn duy nhất................................... 43 Chương 19 Hoa Vàng nở ra.................................................... 81 Chương 20 Lời không thể chứa nó ....................................... 117 Chương 21 Linh hồn trở lại và chạm trời .............................. 155 Chương 22 Một mình là tối thượng....................................... 191 Chương 23 Trăng thu lại mười nghìn nước .......................... 229 Chương 24 Tôi chắc hiểu rõ ông, con người ........................ 271 Chương 25 Với trống rỗng, vấn đề được giải quyết ............. 307 Chương 26 Vì yêu, chúng ta cùng nhau ............................... 347 Chương 27 Suy tư về trống rỗng .......................................... 385 Chương 28 Đạo đã xảy ra..................................................... 423 Chương 29 Đạo đã xảy ra..................................................... 455 Chương 30 Chính thế giới này là thiên đường ..................... 491 Chương 31 Chiều hướng liên hoan ...................................... 523 Về Osho................................................................................. 559 i ii Chương 17 Chút ít bầu trời Osho ơi, Thầy Lữ Tử nói: Công việc của ông sẽ dần trở nên được tập trung và chín chắn, nhưng trước khi ông đạt tới hoàn cảnh mà trong đó ông ngồi như cây khô trước vách đá, vẫn có nhiều khả năng của lỗi mà ta muốn đưa tới sự chú ý đặc biệt của ông. Những hoàn cảnh này được thừa nhận chỉ khi chúng đã được kinh nghiệm một cách cá nhân. Đầu tiên ta muốn nói về những sai lầm và thế rồi về những dấu hiệu xác nhận. Khi người ta bắt đầu tiến hành một quyết định của mình, phải cẩn thận để cho mọi thứ có thể xử lí theo cách thoải mái, thảnh thơi. Phải không được đòi hỏi quá nhiều từ tâm. Người ta phải cẩn thận rằng, hoàn toàn tự động, tâm và năng lượng được phối hợp. Chỉ thế thì trạng thái yên tĩnh mới có thể được đạt tới. Trong trạng thái yên tĩnh này các hoàn cảnh đúng và không gian đúng phải được cung cấp. Người ta phải không ngồi xuống (để thiền) ở giữa các chuyện phù phiếm. Đó là nói, tâm trí phải tự do 1 với các ưu tư hão huyền. Mọi vướng mắc phải được gạt sang bên; người ta phải được tách rời và độc lập. Các ý nghĩ phải không được tập trung vào thủ tục đúng. Nguy hiểm này nảy sinh nếu quá nhiều rắc rối được nhận. Ta không ngụ ý rằng không nhận rắc rối nào, nhưng cách đúng nằm ở việc giữ khoảng cách tương đương giữa hiện hữu và không hiện hữu. Nếu người ta có thể đạt tới vô mục đích qua mục đích, thế thì việc này đã được hiểu thấu. Bây giờ người ta có thể buông bỏ bản thân mình, tách rời và không lẫn lộn, đi theo cách độc lập. Hơn nữa, người ta phải không rơi thành nạn nhân của thế giới gài bẫy. Thế giới gài bẫy là chỗ năm loại quỉ tối tự đùa giỡn. Đây là hoàn cảnh, chẳng hạn, khi, sau khi nhìn cố định, người ta chủ yếu có các ý nghĩ về cây khô và tro chết, và vài ý nghĩ về mùa xuân tươi sáng trên đại lục. Theo cách này người ta chìm vào trong thế giới của tăm tối. Năng lượng là lạnh ở đó, việc thở là dồn dập, và nhiều hình ảnh về lạnh lẽo và hoang tàn tự chúng trình hiện. Nếu người ta nấn ná ở đó lâu người đi vào thế giới của cây và đá. Một người phải không bị dẫn đi lạc lối bởi mười nghìn cạm bẫy. Điều này xảy ra nếu, sau khi trạng thái yên tĩnh đã bắt đầu, cái nọ tiếp cái kia đủ mọi loại ràng buộc đột nhiên xuất hiện. Người ta muốn phá vỡ chúng và không thể phá được; người ta đi theo chúng, và cảm thấy dường như được giảm nhẹ bởi điều này. Điều này nghĩa là người chủ đã trở thành người hầu. Nếu một người nấn ná trong trạng thái này lâu người đó đi vào thế giới của các ham muốn ảo tưởng. 2 Tốt nhất, người ta thấy bản thân mình trong cõi trời, xấu nhất, giữa đám hồ li tinh. Một hồ li tinh như vậy, nó là thực, có thể có khả năng đi lang thang trong núi nổi tiếng tận hưởng gió và trăng, hoa và quả, và lấy vui thú trong cây san hô và cỏ ngọc. Nhưng sau khi có những thứ này, phần thưởng của người đó qua đi và người đó được sinh lại trong thế giới của rối loạn. Có lần một số thợ săn đi sâu vào trong rừng thẳm và tìm thấy một chiếc lều ở đó một ẩn sĩ đang cầu nguyện trước cây chữ thập gỗ. Mặt ông ấy toả ra hạnh phúc. “Chào người anh em. Cầu Thượng đế cho chúng tôi một buổi chiều tốt lành. Ông trông rất hạnh phúc.” “Ta bao giờ cũng hạnh phúc.” “Ông hạnh phúc khi sống ở cái lều đơn độc này để sám hối sao? Chúng tôi có mọi thứ và lại không hạnh phúc. Ông đã tìm hạnh phúc ở đâu vậy?” “Ta thấy nó ở đây trong cái hang này. Nhìn qua lỗ kia và ông sẽ bắt được thoáng nhìn về hạnh phúc của ta.” Và ông ấy chỉ cho họ một chiếc cửa sổ nhỏ. “Ông lừa chúng tôi, vì tất cả những gì chúng tôi có thể thấy là một cành cây nào đó.” “Lấy cái nhìn khác đi.” “Mọi điều chúng tôi thấy là những cành nào đó và chút ít bầu trời.” “Đó,” ẩn sĩ nói, “là lí do cho hạnh phúc của ta đấy - chỉ một chút ít cõi trời.” 3 Phúc lạc là bản tính cố hữu của con người. Nó phải không được đạt tới, nó chỉ phải được khám phá lại. Chúng ta đã có nó. Chúng ta là nó. Tìm nó ở đâu đó khác là cách chắc chắn để bỏ lỡ nó. Dừng tìm và nhìn vào trong và ngạc nhiện lớn nhất của đời bạn đang chờ đợi bạn ở đó, bởi vì bất kì cái gì bạn đã từng tìm kiếm trong nhiều thời đại, qua nhiều kiếp thế, đã là hoàn cảnh rồi. Bạn không cần là kẻ ăn xin, bạn được sinh ra là hoàng đế. Nhưng Vương quốc của Thượng đế là ở bên trong bạn và mắt bạn cứ tìm ở bên ngoài, do đó bạn cứ bỏ lỡ nó. Nó ở đằng sau mắt, không ở phía trước mắt. Vương quốc của Thượng đế không phải là đối thể, nó là tính chủ thể của bạn. Nó không được tìm vì nó là chính bản tính của người tìm kiếm. Và thế thì, ngay cả trong rừng thẳm, hoàn toàn một mình trong hang, người ta có thể hạnh phúc. Bằng không ngay cả cung điện cũng chỉ tạo ra khổ. Có mọi loại khổ trên thế giới: người nghèo khổ một kiểu khổ, người giầu khổ kiểu khổ khác, nhưng không có khác biệt khi có liên quan tới khổ. Và thỉnh thoảng điều xảy ra là người giầu khổ nhiều hơn, vì người đó có thể đảm đương được nhiều hơn. Người đó có nhiều khả năng hơn, nhiều phương án mở ra cho người đó. Người nghèo không thể mua được nhiều khổ, nhưng người giầu có thể mua được. Do đó người giầu nhất cảm thấy khổ nhất trên thế giới. Người giầu nhất trở thành người người nghèo nhất theo nghĩa này. Thực ra, khi bạn trở thành giầu, lần đầu tiên bạn cảm thấy cái nghèo của cuộc sống. Khi bạn nghèo bạn có thể hi vọng rằng một ngày nào đó bạn sẽ giầu, và sẽ có vui và sẽ có mở hội; nhưng khi bạn đã đạt tới giầu của bên ngoài, đột nhiên hi vọng này biến mất và vô vọng lớn lắng đọng lại. Bạn bị bao quanh bởi thất 4 vọng: bây giờ không có hi vọng không có tương lai, bây giờ hi vọng cuối cùng đã biến mất. Bạn đã sống với ý tưởng rằng “Một ngày nào đó mình sẽ giầu và thế thì mọi sự sẽ ổn.” Bây giờ bạn giầu và chẳng cái gì đã thay đổi; khổ bên trong vẫn tiếp tục như bao giờ. Thực ra, vì giầu có bên ngoài, tương phản với giầu có bên ngoài, bạn có thể thấy nghèo nàn bên trong rõ ràng hơn, chính xác hơn, xuyên thấu hơn. Giầu có bên ngoài chỉ cung cấp bối cảnh cho việc cảm thấy cái nghèo bên trong: của cải bên ngoài làm cho bạn nhận biết về trống rỗng bên trong. Do đó, không có gì ngạc nhiên là các nước giầu trở nên có tính tôn giáo. Ấn Độ có tính tôn giáo khi Ấn Độ giầu. Vào những ngày của Phật, Mahavira, Ấn Độ đã sung túc; bởi vì sung túc đó Ấn Độ đã nhận biết về cái nghèo bên trong. Và khi bạn trở nên nhận biết về cái nghèo bên trong, thế thì bạn bắt đầu tìm vào bên trong. Khi bạn trở nên nhận biết rằng không đồ vật nào bên ngoài có thể hoàn thành cho khao khát bên trong - rằng mọi cái bên ngoài vẫn còn là bên ngoài, bạn không thể đem nó vào được - khi điều này trở thành chắc chắn tuyệt đối, thế thì bạn bắt đầu việc tìm kiếm mới, cuộc phiêu lưu mới. Cuộc phiêu lưu đó là tôn giáo. Ấn Độ không thể có tính tôn giáo ngày nay. Ấn Độ là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới - làm sao nó có thể có tính tôn giáo được? Nó không thể đảm đương được tính tôn giáo. Tôn giáo là loại xa hoa nhất, tối thượng trong xa hoa. Nó là âm nhạc tối thượng, thơ ca tối thượng, điệu vũ tối thượng. Nó là say sưa tối thượng với bản thân sự tồn tại. Đói và chết đói, bạn không thể tìm được nó. Khi một người đói người đó cần bánh mì, người đó không cần thiền. Khi một người ốm người đó cần thuốc, không cần thiền. Chỉ người mạnh khoẻ mới có thể 5 nhận biết rằng cái gì đó bị thiếu mà có thể được hoàn thành bởi thiền - và không bởi cái gì khác. Mọi người hỏi tôi tại sao không có nhiều người Ấn Độ ở đây nghe tôi. Điều đó không gây ngạc nhiên. Họ không quan tâm tới thiền. Mối quan tâm của họ là trong các thứ vật chất, toàn thể ám ảnh của họ là với vật chất. Tất nhiên họ nói về tâm linh nhưng điều đó đơn thuần là nói, tàn dư từ quá khứ. Nó cho họ cảm giác thoải mái: ít nhất họ có tính tâm linh; nếu họ bỏ lỡ trong các thứ vật chất họ có thể ba hoa về tâm linh của họ. Nhưng với tôi, tâm linh là giai đoạn cao hơn vật chất; vật chất vận hành như bàn đạp. Chỉ nước giầu có mới bắt đầu cảm thấy nghèo tâm linh. Và nếu bạn đã bắt đầu cảm thấy nghèo tâm linh thế thì chỉ có hai khả năng: hoặc bạn tự tử hoặc bạn trải qua biến đổi bên trong. Thiền là phương pháp của biến đổi bên trong. Khi tự tử và thiền còn lại là hai phương án duy nhất và không cái gì khác còn lại - hoặc phá huỷ bản thân bạn vì toàn thể cuộc sống là vô nghĩa, hoặc biến đổi bản thân bạn trong bình diện mới của bản thể - người ta phải chọn giữa tự tử và thiền. Nước giầu trên thế giới bao giờ cũng ở trong thế khó xử này của việc chọn giữa tự tử và thiền. Các nước giầu chịu khổ từ tự tử, từ điên khùng, nhiều hơn các nước nghèo. Người nghèo không có thời gian nghĩ về tự tử; người đó bận rộn thế với cuộc sống. Người nghèo không có thời gian nghĩ tới biến đổi năng lượng của mình; người đó bận rộn thế với làm sao nuôi con cái, làm sao có chỗ ở tốt hơn. Người đó không quan tâm chút nào tới bất kì cái gì khác hơn thân thể, sâu hơn thân thể - và điều đó là tự nhiên, tôi không kết án điều đó. Nó là tuyệt đối tự nhiên, nó là cách nó phải vậy. Đó là lí do tại sao các nước nghèo trên thế giới đang nghiêng 6 ngày càng nhiều về chủ nghĩa cộng sản, và các nước tư bản trên thế giới đang nghiêng ngày càng nhiều tới chủ nghĩa tâm linh. Dự báo của Marx đã thất bại. Marx đã nói rằng các nước giầu sẽ trở thành cộng sản. Điều đó đã chứng tỏ là vô nghĩa: chỉ các nước nghèo mới trở thành cộng sản. Nga là một trong những nước thực sự nghèo nhất, Trung Quốc cũng vậy, và Ấn Độ cũng vậy. Ấn Độ có thể là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản một ngày nào đó: nó đang chuẩn bị, nó đang trên đường. Mĩ đã không biến thành cộng sản. Marx dự báo rằng các nước giầu sẽ trở thành cộng sản. Tôi dự báo rằng các nước giầu bao giờ cũng trở thành tôn giáo, các nước nghèo trở thành cộng sản. Và một khi, qua chủ nghĩa cộng sản, một nước trở thành giầu, nó sẽ bắt đầu tìm và kiếm tôn giáo. Đó là điều đang xảy ra sâu bên dưới trong linh hồn Nga bây giờ: bây giờ Nga đã đi tới điểm nó có thể lại nghĩ về Thượng đế và thiền, lời nguyện. Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng ở Nga mọi người gặp nhau trong bí mật để cầu nguyện, bởi vì lời nguyện không được chính phủ cho phép thêm nữa. Có tính tôn giáo là phạm tội. Do đó, có những ngôi đền và không ai tới; và nhà thờ có đó và mọi người phải được thuyết phục bằng cách nào đó đi nhà thờ, ít nhất vào chủ nhật. Mọi người phải được hối lộ để đi tới đền, tới nhà thờ, tới nhà thờ hồi giáo, tới giáo đường Do Thái. Bạn có thể quan niệm được về một nước mà mọi người gặp nhau ở chỗ bí mật, trong các tầng ngầm, để cầu nguyện - một cách im lặng, để cho không ai có thể nghe thấy không? Sâu trong linh hồn Nga, tôn giáo đang trồi lên bề mặt lần nữa. Nó phải nổi lên bề mặt: bây giờ Nga đủ giầu để nghĩ tới những thứ cao hơn. 7 Theo cách nhìn cuộc sống của tôi, chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tâm linh không phải là mâu thuẫn; chủ nghĩa vật chất lát đường cho tôn giáo. Do đó tôi là người hoàn toàn vật chất và hoàn toàn tâm linh. Đó là một trong những giáo huấn nền tảng nhất mà tôi đang chuyển giao cho bạn: không bao giờ tạo ra đối kháng nào giữa thân thể và linh hồn, giữa thế giới và Thượng đế. Không bao giờ tạo ra đối kháng nào giữa chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tâm linh - chúng đi cùng nhau, cũng như thân thể và linh hồn. Vẫn còn vật chất và dùng chủ nghĩa vật chất như bàn đạp hướng tới tâm linh. Điều đó tạo ra nhiều lẫn lộn trong tâm trí mọi người vì họ bao giờ cũng nghĩ rằng nghèo là cái gì đó tâm linh. Điều đó là hoàn toàn vô nghĩa. Nghèo là thứ phi tâm linh nhất trên thế giới. Người nghèo không thể có tính tâm linh được. Người đó có thể thử, nhưng tính tâm linh của người đó sẽ vẫn còn hời hợt. Người đó chưa bị vỡ mộng bởi giầu có - làm sao người đó có thể có tính tâm linh được? Vỡ mộng lớn được cần - vỡ mộng lớn với thế giới bên ngoài - thế thì bạn quay vào trong. Việc quay vào trong chỉ tới ở điểm nào đó khi bạn hoàn toàn bị vỡ mộng với cái bên ngoài - khi bạn đã thấy thế giới, bạn đã sống thế giới, bạn đã kinh nghiệm - và bạn đã đi tới biết rằng chẳng có gì trong nó: toàn bong bóng xà phòng, kinh nghiệm nhất thời. Chúng hứa hẹn nhiều nhưng chúng chẳng chuyển giao cái gì, và đến cuối chỉ trống rỗng còn lại trong tay bạn. Thế giới bên ngoài chỉ có thể cho bạn cái chết và không gì khác. Sống phải được tìm vào bên trong. Cội nguồn của sống là ở trong bạn. Cây là trong hạt mầm. Nếu bạn chặt hạt mầm mở ra bạn sẽ không thấy cây - đúng - vì đó không phải là cách để tìm thấy nó. Bạn sẽ phải để cho hạt mầm phát triển, thế 8 thì bản kế hoạch tổng thể được ẩn trong hạt mầm sẽ bước ra. Khi đứa trẻ được thụ thai trong bụng mẹ, nó chỉ là hạt mầm, nhưng nó có mọi bản kế hoạch tổng thể, mọi khả năng. Nó sẽ có loại thân thể nào, loại mặt nào, mầu mắt, nào, mầu tóc nào, chiều cao, tuổi, nó sẽ sống bao lâu, mạnh khoẻ hay không mạnh khoẻ, đàn ông hay đàn bà, đen hay trắng - tất cả đều được chứa trong hạt mầm này. Sống phát triển ra từ hạt mầm đó. Thiền là quay lại hướng tới cốt lõi bên trong nhất nơi mọi thứ đã nảy sinh - thân thể đã nảy sinh, ham muốn đã nảy sinh, ý nghĩ đã nảy sinh, tâm trí đã nảy sinh. Bạn phải quay lại cội nguồn. Tôn giáo là việc trở về cội nguồn - và biết cội nguồn là biết Thượng đế, biết cội nguồn là biết mục đích, bởi vì chúng cả hai là một. Quay lại với cốt lõi bên trong nhất của bạn từ nơi bạn đã bắt đầu nghĩa là bạn đã đi tới chỗ tối thượng nơi bạn muốn đạt tới - vòng tròn là đầy đủ. Có khoảnh khắc mà alpha trở thành omega, và có sự hoàn thành. Khi vòng tròn đầy đủ có sự hoàn thành. Và đó là toàn thể giáo huấn của Bí mật của Hoa Vàng, của Thầy Lữ Tử. Ông ấy đang cố gắng làm con đường sáng tỏ cho bạn: cách vòng tròn có thể là đầy đủ, cách ánh sáng có thể luân chuyển, cách bạn có thể đi vào trong - cách bạn cũng có thể có một chút ít bầu trời, chút ít cõi trời - và thế thì bạn có thể hạnh phúc ở bất kì chỗ nào. Ngay cả trong địa ngục bạn sẽ hạnh phúc. Ngay bây giờ, như bạn vậy, bạn sẽ bất hạnh ở bất kì chỗ nào, ngay cả trong cõi trời. Bạn sẽ thấy cách thức và phương pháp để bất hạnh ở đó nữa, bởi vì bạn sẽ mang mọi ghen tị, mọi giận dữ, mọi tham lam, mọi sở hữu, bạn sẽ mang mọi cuồng nộ, mọi dâm dục, mọi kìm nén của bạn - bạn sẽ mang toàn thể hành lí này. Khoảnh khắc bạn đạt tới cõi trời, bạn sẽ tạo ra địa ngục quanh bản thân bạn 9 ở đó nữa, bởi vì bạn sẽ mang những hạt mầm của địa ngục. Người ta nói rằng nếu bạn thuần khiết, nếu bạn im lặng, bạn đạt tới cõi trời. Sự thực chính là điều đối lập: nếu bạn thuần khiết, nếu bạn im lặng, cõi trời đạt tới bạn. Người ta chẳng bao giờ đi đâu cả, người ta bao giờ cũng ở đây, nhưng một khi bên trong trở nên đầy ánh sáng thì toàn thế giới bên ngoài được biến đổi. Phật đi vào cùng thế giới mà bạn đang đi, Phật đi qua cùng phố như bạn đi, nhưng Phật sống trong một thế giới khác toàn bộ - Phật sống trong thiên đường và bạn sống trong địa ngục. Bạn có thể ngồi bên cạnh vị phật, bạn có thể cầm tay ông ấy hay chạm chân ông ấy - gần thế vậy mà xa thế, xa xăm, các thế giới xa rời. Cái gì là bí mật của việc ở trong cõi trời, của việc ở trong phúc lạc hoàn toàn, của việc ở trong phúc lành, của việc ở trong niềm huy hoàng đó có tên Thượng đế? Đây là các bí mật đó: Thầy Lữ Tử nói: Công việc của ông sẽ dần trở nên được tập trung và chín chắn. Con đường của Đạo không phải là con đường của chứng ngộ bất thần. Nó không giống như Thiền. Thiền là chứng ngộ bất thần, Đạo là phát triển dần. Đạo không tin vào thay đổi bất thần, đột ngột. Đạo tin vào giữ nhịp cùng sự tồn tại, cho phép mọi thứ xảy ra theo cách riêng của chúng, không ép buộc cách của bạn theo bất kì cách nào, không xô đẩy dòng sông theo bất kì cách nào. Và Đạo nói: Không có nhu cầu để vội vàng vì vĩnh hằng là sẵn có cho bạn. Gieo mầm đúng thời và chờ đợi, và xuân tới vì nó bao giờ cũng tới. Và khi xuân tới sẽ có hoa. Nhưng chờ đợi, đừng vội vàng. Đừng bắt đầu kéo cây lên để cho 10 nó có thể mọc nhanh. Đừng trong tâm trí đó, điều đòi hỏi mọi thứ như cà phê uống liền. Học chờ đợi đi, bởi vì tự nhiên chuyển động rất chậm. Bởi vì chuyển động chậm đó mà có duyên dáng trong tự nhiên. Tự nhiên rất nữ tính, nó chuyển như đàn bà. Nó không chạy, nó không trong vội vàng, không có hấp tấp. Nó đi rất chậm, âm nhạc yên lặng. Có kiên nhẫn lớn trong tự nhiên, và Đạo tin theo cách thức của tự nhiên. ‘Đạo’ đích xác nghĩa là tự nhiên, cho nên Đạo không bao giờ trong vội vàng; điều này phải được hiểu. Giáo huấn nền tảng của Đạo là: học kiên nhẫn. Nếu bạn có thể chờ đợi vô hạn, nó thậm chí có thể xảy ra ngay lập tức. Nhưng bạn phải không đòi hỏi rằng nó phải xảy ra ngay lập tức: nếu bạn hỏi, nó có thể không bao giờ xảy ra. Chính việc hỏi của bạn sẽ trở thành rào cản, chính ham muốn của bạn sẽ tạo ra khoảng cách giữa bạn và tự nhiên. Vẫn còn trong hoà điệu với tự nhiên đi, để tự nhiên lấy tiến trình riêng của nó. Và bất kì khi nào nó tới điều đó là tốt, và bất kì khi nào nó tới nó đều nhanh, bất kì khi nào nó tới. Cho dù phải mất nhiều thời đại để tới, thế nữa nó cũng không muộn - không bao giờ muộn. Nó bao giờ cũng tới vào khoảnh khắc đúng. Đạo tin rằng mọi thứ xảy ra khi nó được cần: khi đệ tử sẵn sàng thầy xuất hiện, khi đệ tử sẵn sàng tối thượng Thượng đế xuất hiện. Sự xứng đáng của bạn, trống rỗng của bạn, nhạy cảm của bạn, thụ động của bạn làm cho điều đó thành có thể; không phải vội vàng của bạn, không phải hấp tấp của bạn, không phải thái độ hăm hở của bạn. Nhớ lấy, chân lí không thể bị chinh phục. Người ta phải buông xuôi theo chân lí, người ta phải được chinh phục bởi chân lí. Nhưng toàn thể giáo dục của chúng ta trong mọi nước qua nhiều thời đại đã từng là về hăm hở, về tham 11 vọng. Chúng ta làm cho mọi người thành rất nhanh chóng. Chúng ta làm cho họ rất sợ. Chúng ta bảo họ, “Thời gian là tiền bạc và rất quí giá, và một khi nó trôi qua rồi là qua mãi mãi, cho nên lẹ lẹ vào. Phải vội vàng vào.” Điều này đã làm cho mọi người điên. Họ vội vàng từ điểm này sang điểm khác, họ chưa bao giờ tận hưởng bất kì chỗ nào. Họ xô đi khắp thế giới từ khách sạn liên lục địa này sang khách sạn liên lục địa khác - và họ tất cả đều giống nhau. Dù bạn ở Tokyo hay ở Bombay hay ở New York hay ở Paris chẳng tạo ra khác biệt gì. Những khách sạn liên lục địa đó tất cả đều giống nhau, và mọi người cứ xô từ khách sạn liên lục địa này sang khách sạn khác cứ tưởng rằng họ đang đi vòng quanh thế giới. Họ có thể đã ở trong một khách sạn liên lục địa và chắc đã không cần đi đâu khác cả - nó tất cả như nhau - và họ nghĩ họ đang đạt tới đâu đó. Tốc độ đang làm cho mọi người thành thần kinh. Đạo là cách thức của tự nhiên, như cây mọc và sông dời, và chim, và trẻ con - đích xác theo cùng cách người ta đã lớn lên trong Thượng đế. Công việc của ông sẽ dần trở nên được tập trung và chín chắn. Đừng vội vàng và đừng trở nên tuyệt vọng. Nếu bạn thất bại hôm nay, đừng cảm thấy vô vọng. Nếu bạn thất bại hôm nay điều đó là tự nhiên. Nếu bạn liên tục thất bại trong vài ngày điều đó là tự nhiên. Mọi người sợ thất bại chỉ bởi vì sợ thất bại mà họ không bao giờ thử. Có nhiều người sẽ không rơi vào tình yêu vì họ sợ - ai biết được? Họ có thể bị bác bỏ - cho nên 12 họ đã quyết định vẫn còn không yêu, để cho không ai bác bỏ họ. Mọi người sợ thất bại tới mức họ chưa bao giờ thử cái gì mới - ai biết? Nếu họ thất bại, thì sao? Và một cách tự nhiên, đi vào trong thế giới bên trong bạn sẽ phải thất bại nhiều lần, bởi vì bạn chưa bao giờ đi tới đó. Mọi kĩ năng và hiệu quả của bạn đều là của chuyển động bên ngoài, của hướng ngoại. Bạn không biết cách đi vào trong. Mọi người nghe từ 'chuyển vào trong, đi vào trong’, nhưng nó không tạo ra nghĩa gì mấy cho họ. Mọi điều họ biết là cách đi ra ngoài, mọi điều họ biết là cách đi tới người khác. Họ không biết cách nào đi tới bản thân họ. Điều đó nhất định xảy ra, bởi vì thói quen quá khứ của bạn, mà bạn sẽ thất bại nhiều lần. Đừng trở nên vô vọng. Trưởng thành tới chậm chạp. Nó tới là cái chắc và chắc chắn, nhưng nó cần thời gian. Và nhớ lấy, với từng người khác nhau nó sẽ tới với nhịp khác nhau, cho nên đừng so sánh. Đừng bắt đầu nghĩ, “Ai đó đang trở thành im lặng thế và vui vẻ thế mà mình vẫn chưa trở thành. Cái gì xảy ra cho mình?” Đừng so sánh với bất kì người nào, bởi vì từng người đều đã sống theo cách khác nhau trong các kiếp sống quá khứ của mình. Ngay cả trong kiếp này mọi người đã sống khác nhau. Chẳng hạn, nhà thơ có thể thấy dễ đi vào trong hơn nhà khoa học; huấn luyện của họ là khác. Toàn thể huấn luyện khoa học là để có tính khách quan, để liên quan tới đối thể, để quan sát đối thể, để quên đi tính chủ thể. Nhà khoa học, là nhà khoa học, phải rút bản thân ông ấy hoàn toàn ra khỏi thực nghiệm của ông ấy. Ông ấy phải không được tham gia vào thực nghiệm, phải không có tham gia về tình cảm. Ông ấy phải ở đó hoàn toàn tách rời, giống như máy tính. Ông ấy phải không là con người chút nào; chỉ thế thì ông ấy mới là nhà khoa học thực sự, 13 và chỉ thế ông ấy mới thành công trong khoa học. Bây giờ đây là một kĩ năng khác toàn bộ. Nhà thơ thì có dính líu vào. Khi ông ấy quan sát đoá hoa ông ấy bắt đầu nhảy múa quanh nó; ông ấy tham dự, ông ấy không chỉ là người quan sát tách rời. Một vũ công có thể thấy điều đó dễ dàng hơn vì vũ công và điệu vũ của người đó là một thế, và điệu vũ là ở bên trong tới mức vũ công có thể đi vào trong không gian bên trong của mình rất dễ dàng. Do đó, trong các trường phái bí ẩn huyền bí, cổ xưa của thế giới, điệu vũ là một trong những phương pháp bí mật. Điệu vũ tiến hoá trong các trường phái và đền chùa huyền bí. Điệu vũ là một trong những hiện tượng có tính tôn giáo nhất. Nhưng nó đã mất nghĩa này hoàn toàn tới mức nó đã gần như rơi vào cực đối lập; nó đã trở thành hiện tượng dục. Điệu vũ đã mất chiều hướng tâm linh. Nhưng nhớ lấy, bất kì cái gì có tính tâm linh cũng có thể trở thành có tính dục - nếu nó sa ngã; và bất kì cái gì có tính dục cũng có thể trở thành có tính tâm linh - nếu nó vươn lên. Tính tâm linh và tính dục là xoắn xuýt. Nhạc sĩ sẽ thấy dễ đi vào thiền hơn nhà toán học. Bạn có những kĩ năng khác, tâm trí khác, ước định khác. Chẳng hạn, người Ki tô giáo có thể thấy khó thiền hơn Phật tử, bởi vì trong hai mươi nhăm thế kỉ của thiền thường xuyên, Phật giáo đã tạo ra phẩm chất nào đó trong những người đi theo nó. Cho nên khi một Phật tử tới tôi người đó có thể rơi vào thiền rất dễ dàng. Khi một người Ki tô giáo tới, thiền là rất xa lạ, bởi vì Ki tô giáo đã hoàn toàn quên mất về thiền; nó chỉ biết về lời nguyện. Lời nguyện là hiện tượng khác toàn bộ. Trong lời nguyện người khác được cần tới, nó không bao giờ có thể độc lập được. Lời nguyện giống yêu nhiều hơn, lời nguyện là đối thoại; thiền không phải là đối thoại, nó không giống yêu. Nó đích xác là đối lập của yêu. Trong 14 thiền bạn bị bỏ lại một mình, không đâu mà đi, không ai mà quan hệ, không đối thoại vì không có người khác. Bạn đơn giản là bản thân bạn, hoàn toàn bản thân bạn. Đây là cách tiếp cận khác toàn bộ. Cho nên điều đó sẽ tuỳ vào kĩ năng của bạn, tâm trí bạn, ước định của bạn, giáo dục của bạn, tôn giáo mà bạn đã được nuôi lớn, sách vở mà bạn đã đọc, người mà bạn đã sống cùng, rung động mà bạn đã tạo ra quanh bản thân bạn. Nó sẽ phụ thuộc vào cả nghìn lẻ một thứ - vào bạn có thể nhận bao nhiêu - nhưng nó tới là cái chắc và chắc chắn. Mọi điều được cần là kiên nhẫn, làm việc im lặng, làm việc kiên nhẫn, và tập trung xảy ra và chín chắn tới. Thực ra người chín chắn và người tập trung chỉ là hai khía cạnh của cùng một hiện tượng. Đó là lí do tại sao trẻ em không thể tập trung được: chúng thường xuyên chuyển động, chúng không thể ở một điểm, cố định - mọi thứ đều hấp dẫn chúng. Chiếc xe vừa chạy qua, chim hót, ai đó bắt đầu cười, hàng xóm mới bật radio, bướm bay - mọi thứ, toàn thế giới đều hấp dẫn. Chúng đơn giản nhảy từ thứ nọ sang thứ kia - chúng không thể tập trung được. Chúng không thể sống với một thứ hoàn toàn và toàn bộ tới mức mọi thứ khác biến mất, trở thành không tồn tại. Với trưởng thành, tập trung nảy sinh. Trưởng thành và tập trung là hai cái tên cho cùng một điều. Nhưng điều đầu tiên cần nhớ là ở chỗ nó tới dần; không so sánh, không trong vội vàng. nhưng trước khi ông đạt tới hoàn cảnh mà trong đó ông ngồi như cây khô trước vách đá, vẫn có nhiều khả năng của lỗi mà ta muốn đưa tới sự chú ý đặc biệt của ông. 15 Thầy Lữ Tử nói: Trước khi hoàn cảnh nảy sinh trong ông mà trong đó ông ngồi “như cây khô trước vách đá...” Đây là cách diễn đạt của Đạo cực kì hay và có ý nghĩa. Nó nghĩa là sống và vậy mà chết, chết và vậy mà sống hoàn toàn. Nó nghĩa là sống trong thế giới với niềm vui lớn và mở hội nhưng không là một phần của thế giới, ở trong thế giới nhưng không cho phép thế giới ở trong bạn - “như cây khô trước vách đá” - sống như người chết. Alexander muốn đưa một sannyasin từ Ấn Độ về nước mình vì thầy ông ấy, triết gia lớn, Aristotle, đã yêu cầu ông ấy, “Khi ngài quay về từ Ấn Độ, xin đem về một sannyasin” - vì đóng góp vĩ đại nhất của Ấn Độ cho thế giới là cách này, phong cách sống của sannyasin. Aristotle rất quan tâm. Ông ấy muốn thấy sannyasin là loại người nào, bởi vì điều đó đã xảy ra chỉ ở Ấn Độ. Đây là đóng góp đặc biệt của nó cho văn hoá thế giới và nhân loại, một cách sống hoàn toàn khác trong thế giới: sống trong thế giới vậy mà không là của thế giới, vẫn còn không gắn bó và tách rời; như hoa sen trong ao, sống trong nước và vậy mà không bị nước dính vào. Khi giọt sương tụ lại trên cánh sen chúng trông thật đẹp lung linh trong ánh mặt trời, như viên ngọc, nhưng vậy mà chúng không chạm tới hoa chút nào và hoa không chạm tới chúng. Gần thế vậy mà xa xăm thế.... “Sannyasin là loại người nào vậy?” - Aristotle đã quan tâm về mặt triết học. Ông ấy không phải là người trở thành sannyasin, nhưng ông ấy đã đề nghị Alexander đem về một người: “Ngài sẽ đem về nhiều thứ. Với ta, xin nhớ đem về một sannyasin.” Khi Alexander sắp rời khỏi Ấn Độ ông ấy chợt nhớ ra. Ông ấy đã cướp phá nhiều, thế rồi ông ấy đột nhiên nhớ ra, “Về sannyasin thì sao?” Ông ấy truy hỏi ở đồn binh cuối cùng ở Ấn Độ. Ông ấy đã truy 16 hỏi về sannyasin và mọi người nói, “Vâng, chúng tôi có một sannyasin hay, nhưng gần như không thể nào đem được ông ấy đi.” Alexander nói, “Để việc đó cho ta. Đừng lo. Các ông không biết ta đấy thôi. Nếu ta ra lệnh cho Himalayas tới ta chúng sẽ phải tới ta, nói gì tới một sannyasin? Ông ta ở đâu? Các ông cho ta địa chỉ” - và địa chỉ được trao. Sannyasin này là một người tu khổ hạnh trần trụi sống bên sông. Bốn lính lực lưỡng được phái đi với gươm tuốt trần để đem sannyasin này về cho Alexander. Sannyasin này, thấy bốn người mạnh khoẻ với gươm tuốt trần, bắt đầu cười. Họ nói, “Ông không hiểu - đây là lệnh từ Alexander đại đế, rằng ông phải được mang về triều đình của ông ấy. Ông ấy đang chờ đợi ông.” Và sannyasin này nói, “Ta đã dừng tới và đi từ lâu rồi. Nếu ông ấy muốn gặp ta, ta có thể gia ơn cho ông ấy; ông ấy có thể tới. Nhưng ta đã dừng tới và đi rồi. Việc tới và đi đó đã biến mất cùng với tâm trí ta rồi. Bây giờ không có ai tới và không có ai đi cả. Ta không tồn tại nữa!” Tất nhiên, những người Hi Lạp đó không thể hiểu được. Người Hi Lạp là cực đối lập của người Hindu. Người Hindu về căn bản là phi logic, và người Hi Lạp về căn bản là logic. Người Hindu có tính thơ ca, trực giác; người Hi Lạp là những nhà trí thức. Bốn lính đó nói với ông ấy, “Ông nói điều vô nghĩa gì vậy? Chúng ta có thể lôi ông đi!” Sannyasin này nói, “Các ông có thể lôi thân thể ta nhưng không lôi được ta. Các ông có thể để thân thể ta vào tù, nhưng không phải là ta. Tự do của ta sẽ vẫn còn 17 không bị đụng tới. Ta là hoa sen, nước không thể chạm vào ta được.” Bây giờ điều này là hoàn toàn vô nghĩa với những người Hi Lạp đó. Họ nói, “Ông đợi đấy. Để chúng ta thông báo cho Alexander, liệu chúng ta có làm cái gì sai không.” Alexander được thông báo về những câu nói hay đó của sannyasin này, và báo cáo là “Ông ấy là người đẹp, ngồi trần trụi trong ánh mặt trời bên bờ sông. Ông ấy có vẻ như một hoàng đế lớn, và không có gì quanh ông ấy. Ông ấy không sở hữu cái gì, thậm chí không có bát ăn xin. Nhưng vĩ đại, duyên dáng! Nhìn vào mắt ông ấy và dường như ông ấy là hoàng đế của toàn thế giới. Và ông ấy cười vào ngu xuẩn của chúng ta - rằng chúng ta đã tới với kiếm tuốt trần, và ông ấy không sợ chút nào. Và ông ấy nói, ‘Các ông có thể giết thân thể ta nhưng các ông không thể giết được ta.’ ” Alexander trở nên say mê. Ông ta đi tới xem sannyasin trần trụi này. Ông ta bị ấn tượng, ấn tượng lớn, và ông ta nói, “Ông sẽ phải tới cùng ta. Đây là lệnh của ta!” Nhưng sannyasin này nói, “Cái ngày ta trở thành một sannyasin ta đã dừng nhận bất kì mệnh lệnh nào từ bất kì người nào. Ta là người tự do, ta không phải là nô lệ. Không ai có thể ra lệnh cho ta được. Ông có thể giết ta, nhưng ông không thể ra lệnh cho ta được.” Alexander giận lắm. Ông ta rút kiếm ra và ông ta nói, “Ta sẽ lập tức chặt đầu ông!” Và sannyasin bắt đầu cười nữa. Và ông ấy nói, “Ông có thể chặt nó, bởi vì thực ra đích thân ta đã chặt nó từ lâu rồi. Ta là người chết.” 18 Bây giờ đây là nghĩa của tính chất sannyas thực: người chết. Và người này nói, “Làm sao ông có thể giết được người chết? Điều đó sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Làm sao ông có thể giết được người chết? Người chết là chết rồi, người đó không thể chết thêm nữa được - mọi thứ đã kết thúc rồi. Ông đã tới muộn chút ít: ta không tồn tại nữa. Được, ông có thể chặt cái đầu này - ông sẽ thấy cái đầu lăn trên cát, ta cũng quan sát cái đầu lăn trên cát. Ta là người quan sát, nhân chứng.” Đây là nghĩa của “cây khô trước vách đá.” Alexander là vách đá, và sannyasin này là cây khô. Vách đá có thể làm gì với cây khô? Cây khô đã chết rồi, qua rồi. Vách đá không thể phá huỷ được cây khô. Cây khô sẽ không sợ vách đá. Vẫn có nhiều khả năng trước khi điều này có thể xảy ra cho bạn: … nhiều khả năng của lỗi mà ta muốn đưa tới sự chú ý đặc biệt của ông. Những hoàn cảnh này được thừa nhận chỉ khi chúng đã được kinh nghiệm một cách cá nhân. Nhớ tất cả những điều này rằng Thầy Lữ Tử đang nói cho bạn trong thông điệp có giá trị mênh mông của ông ấy - đây là một trong những bản luận vĩ đại nhất cho người tìm kiếm. Ông ấy đang nói những điều này vì ông ấy đã kinh nghiệm những điều này trên cuộc hành trình riêng của ông ấy, ông ấy đã bắt gặp nững lỗi này và ông ấy muốn làm sáng tỏ cho các đệ tử của ông ấy để cho họ 19 không cần bị cản trở bởi những lỗi này, để cho họ không cần bị sao lãng bởi những lỗi này. Những người chưa bao giờ thiền sẽ không hiểu những lỗi này là gì. Khi chúng đã được kinh nghiệm một cách cá nhân, chỉ thế người ta mới hiểu chúng. Nhưng những người đang ở trên Đường, họ phải được chuẩn bị, họ phải được bảo cho các cạm bẫy trên Đường là gì. Đường không chỉ đơn giản: nhiều con đường khác phân nhánh từ nó tại nhiều chỗ và bạn có thể lấy con đường mà sẽ là đường cụt. Nhưng bạn sẽ đi tới biết rằng nó là đường cụt sau nhiều năm, hay có thể sau nhiều kiếp. Và mọi nỗ lực và cuộc hành trình sẽ bị phí hoài và bạn sẽ phải quay lại lần nữa tới điểm bạn bị lạc con đường chính. Và không có cột mốc, không bản đồ cố định nào sẵn có, không thể được làm ra, bởi vì Thượng đế cứ thay đổi. Sự tồn tại của ngài là việc thay đổi thường xuyên. Ngoại trừ thay đổi, mọi thứ liên tục thay đổi, cho nên không bản đồ cố định nào là có thể. Chỉ các hướng dẫn có thể được cho; đây là những hướng dẫn. Nếu bạn hiểu hướng dẫn bạn sẽ có khả năng đi theo đường đúng, và bất kì chỗ nào có khả năng đi vào lỗi, hiểu biết của bạn sẽ giúp bạn. Đầu tiên ta muốn nói về những sai lầm và thế rồi về những dấu hiệu xác nhận. Lữ Tử nói: Đầu tiên ta sẽ nói về những sai lầm mà có thể có và thế rồi ta sẽ nói cho các ông về các dấu hiệu xác nhận mà sẽ làm chắc chắn cho các ông rằng các ông đang trên đường đúng. 20 Khi người ta bắt đầu tiến hành một quyết định của mình, phải cẩn thận để cho mọi thứ có thể xử lí theo cách thoải mái, thảnh thơi. Đây là điều đầu tiên cần được hiểu. Một khi bạn lấy quyết định đi theo con đường bên trong, một khi bạn lấy quyết định là sannyasin, là thiền nhân, một khi bạn lấy quyết định rằng bây giờ bên trong đã gọi bạn và bạn sẽ tìm và kiếm theo cuộc truy tìm về “Tôi là ai?”, thế thì điều đầu tiên cần nhớ là: không đi theo cách căng thẳng, đi theo cách rất thảnh thơi. Phải chắc rằng cuộc hành trình bên trong của bạn là thoải mái. Bây giờ điều này có tầm quan trọng mênh mông. Bình thường, lỗi đầu tiên này xảy ra cho mọi người: mọi người bắt đầu làm cuộc hành trình nội tâm của họ phức tạp một cách không cần thiết, không thoải mái. Nó xảy ra vì lí do nào đó. Mọi người giận người khác trong cuộc sống bình thường của họ. Trong cuộc sống bình thường của họ, họ bạo hành với người khác. Trong cuộc hành trình hướng ngoại bình thường của họ, họ là kẻ tàn bạo: họ thích thú việc hành hạ người khác, họ thích thú đánh bại người khác, họ thích thú cạnh tranh với người khác, chinh phục người khác. Toàn thể niềm vui của họ là trong cách làm cho người khác cảm thấy thấp kém so với bản thân họ. Đây là điều cuộc hành trình hướng ngoại là gì. Đây là điều chính trị là gì. Đây là tâm trí chính trị, thường xuyên cố gắng trở thành cao siêu với người khác. Hợp pháp, bất hợp pháp, nhưng có nỗ lực thường xuyên để đánh bại người khác, với bất kì giá nào. Ngay cả nếu người khác phải bị tiêu diệt, thế thì người khác phải bị tiêu diệt. Nhưng người ta phải thắng: người ta phải là thủ tướng, người ta phải là tổng thống, người ta phải là thế này thế nọ - bằng bất kì giá nào! Và tất cả đều là kẻ thù 21 bởi vì tất cả đều là kẻ cạnh tranh. Nhớ điều này: toàn thể giáo dục của bạn chuẩn bị cho bạn, làm cho bạn sẵn sàng đánh nhau. Nó không chuẩn bị cho bạn về tình bạn và tình yêu, nó chuẩn bị cho bạn vào xung đột, thù địch, chiến tranh. Bất kì khi nào có cạnh tranh nhất định có thù địch. Làm sao bạn có thể thân thiện với những người bạn đang cạnh tranh, ai là nguy hiểm với bạn và bạn là nguy hiểm với ai? Hoặc họ sẽ thắng và bạn sẽ bị bại, hoặc bạn sẽ thắng và họ phải bị bại. Cho nên mọi cái gọi là tình bạn của bạn chỉ là mẽ ngoài, hình thức. Nó là một loại dầu bôi trơn làm cho cuộc sống chuyển động trơn tru. Nhưng sâu bên dưới không có ai là bạn cả. Ngay cả bạn cũng không là bạn vì họ đang so sánh lẫn nhau, đánh lẫn nhau. Thế giới này đã biến thành trại tù chiến tranh bằng việc giáo dục về tham vọng, chính trị. Khi một người quay vào trong vấn đề nảy sinh: người đó sẽ làm gì với giận, thù địch, hùng hổ, bạo hành của mình? Vì người đó một mình, người đó sẽ bắt đầu tự hành hạ bản thân mình, người đó sẽ giận bản thân mình - đó là điều cái gọi là các mahatma của bạn đang là. Tại sao họ tự hành hạ bản thân họ? Tại sao họ nhịn ăn? Tại sao họ nằm ra trên giường gai? Khi có cây bóng mát đẹp, sao họ đứng dưới mặt trời nóng? Khi trời nóng, tại sao họ ngồi bên cạnh lửa? Khi trời lạnh, tại sao họ đứng trần trong sông hay trong tuyết? Đây là những chính khách đảo ngược. Đầu tiên họ đánh lẫn nhau, bây giờ không ai còn lại - họ đánh bản thân họ. Họ bị phân liệt, họ đã phân chia bản thân họ. Bây giờ nó là nội chiến; họ đang đánh nhau với thân thể. Thân thể là nạn nhân của cái gọi là mahatma của bạn. Thân thể là hồn nhiên, nó không gây một điều sai 22 nào cho bạn. Nhưng cái gọi là tôn giáo của bạn cứ dạy bạn rằng thân thể là kẻ thù, hành hạ nó đi. Cuộc hành trình hướng ngoại là cuộc hành trình của tàn bạo. Cuộc hành trình hướng nội trở thành cuộc hành trình của kẻ tự bạo - bạn bắt đầu hành hạ bản thân bạn. Và có niềm hân hoan nào đó, một niềm vui suy đồi trong hành hạ bản thân người ta. Nếu bạn đi vào lịch sử bạn sẽ ngạc nhiên, bạn sẽ không tin được vào điều con người đã từng làm với bản thân mình. Mọi người đã làm bị thương thân thể họ và giữ các vết thương đó không chữa lành - bởi vì thân thể là kẻ thù. Đã từng có các giáo phái Ki tô giáo, giáo phái Hindu, giáo phái Jaina và nhiều giáo phái khác, những người đã trở nên rất rất tinh ranh, láu lỉnh, hiệu quả trong hành hạ thân thể bạn. Họ đã phát triển các phương pháp lớn về cách hành hạ thân thể. Đã có giáo phái Ki tô giáo không chỉ thiên về nhịn ăn, mà còn đánh đập thân thể người ta, quất mạnh roi vào thân thể người ta, và vị thánh lớn nhất là người bị thương gần khắp người bởi việc đánh riêng của ông ta. Mọi người sẽ tới và đếm vết thương của họ. Bây giờ đây là loại người gì, những người đếm vết thương của họ? Họ phải cũng đã thích thú - niềm vui suy đồi. Ở Ấn Độ có các muni Jaina người liên tục hành hạ thân thể họ. Các sư Digambara Jaina dứt tóc họ mọi năm, và việc tụ tập lớn xảy ra khi họ dứt tóc. Nó là đau đớn, và những người này vui sướng: “Việc khổ hạnh lớn được thực hiện.” Người này đơn giản là người tâm thần suy đồi. Người này cần sốc điện - không gì kém hơn sẽ có tác động. Có loại điên khùng nào đó mà trong đó mọi người bắt đầu dứt tóc của họ - và bạn biết nếu bạn là chồng, vợ 23 bạn thỉnh thoảng thử điều đó, khi cô ấy phát rồ, phát điên. Đàn bà thử điều đó nhiều hơn vì họ đã được dạy không đánh chồng. Thế thì phải làm gì? Họ muốn đánh và chồng không thể bị đánh: kinh sách nói chồng bạn là Thượng đế của bạn, và cô ấy biết điều đó toàn là vớ vẩn nhưng kinh sách là kinh sách. Cô ấy biết rõ chồng - rằng nếu anh ta là Thượng đế, thế thì ai sẽ là quỉ? Nhưng điều đó không thể được nói; cô ấy phải chạm chân anh ta. Khi cô ấy viết thư tình cho chồng cô ấy phải kí 'nô lệ của anh', và cô ấy biết ai là nô lệ! Thực ra mọi người đều biết, nhưng đó là hình thức. Và nếu cô ấy đánh chồng mặc cảm nảy sinh, rằng cô ấy đã làm cái gì đó phi tôn giáo, cái gì đó như tội lỗi, cho nên cô ấy không thể đánh chồng được. Nhưng cô ấy muốn đánh! Bây giờ phải làm gì? Hoặc cô ấy đập bát đĩa - và điều đó lại tốn kém, và bản thân cô ấy khổ theo cách đó, cái đó chẳng còn dùng được nữa - hay cách dễ nhất, cách rẻ nhất, kinh tế nhất, là tự đánh mình, dứt tóc mình, đập mình vào tường, đập đầu vào tường. Đây là cách rẻ nhất. Cô ấy muốn đánh đầu chồng nhưng cô ấy không thể làm được nó, điều đó không được phép; nó là vô đạo đức. Ai đã dạy cho cô ấy ý tưởng này? - chồng... chồng và các tu sĩ của họ và các chính khách của họ. Nếu bạn vào nhà thương điên bạn sẽ thấy nhiều người dứt tóc. Có một loại điên khùng nào đó trong đó mọi người dứt tóc họ. Bây giờ một sư Jaina dứt tóc mình thực sự là bệnh hoạn, nhưng mọi người tụ tập để mở hội dịp này - “Cái gì đó lớn lao đang xảy ra! Trông đấy! Vị thánh vĩ đại làm sao!” Và bởi vì tôi gọi những người này là bệnh hoạn, họ chống lại tôi. Điều đó là đơn giản, rất đơn giản; họ phải chống lại tôi thôi. 24 Trong giáo phái Ki tô giáo... ở Nga có một giáo phái mà các thành viên của nó cắt bộ phận sinh dục, và những đám đông lớn sự tụ tập lại. Có những ngày nào đó khi mọi người sẽ làm điều đó. Nó thực là điên cuồng. Một người sẽ cắt bộ phận sinh dục của mình và ném cho họ, và có máu chảy khắp chỗ đó. Thế rồi sự điên cuồng sẽ chiếm lĩnh những người khác, người đã tới chỉ để xem: thế rồi ai đó khác sẽ nhảy lên và người đó sẽ làm điều đó. Và đến lúc hội này kết thúc sẽ có cả đống bộ phận sinh dục. Và đây là những vị thánh lớn. Bây giờ đàn bà đâm lúng túng: họ sẽ bắt đầu cắt vú của họ, vì làm sao họ có thể bị thua được? Họ bắt đầu cắt vú. Mọi loại ngu xuẩn trở thành có thể bởi vì một lỗi đơn giản, và lỗi đó là: trong cuộc sống bạn cố làm cho cuộc sống thành khó khăn cho người khác; khi bạn bắt đầu quay vào trong, có một khả năng là tâm trí cũ sẽ cố làm cho cuộc sống của bạn thành khó khăn. Nhớ lấy, người tìm kiếm bên trong phải được thoải mái, bởi vì chỉ trong tình huống thoải mái, trong trạng thái thảnh thơi cái gì đó mới có thể xảy ra được. Khi bạn căng thẳng, không thoải mái, chẳng cái gì là có thể. Khi bạn căng thẳng, không thoải mái, tâm trí bạn lo nghĩ, bạn không trong không gian tĩnh lặng. Khi bạn đói làm sao bạn có thể ở trong không gian tĩnh lặng được? Và mọi người đã từng dạy nhịn ăn, và họ thấy nhịn ăn sẽ giúp cho bạn thiền. Thỉnh thoảng nhịn ăn có thể giúp cho bạn có sức khoẻ tốt hơn - nó sẽ giảm đi vài cân cho thân thể bạn, những cân không cần thiết - nhưng nhịn ăn không thể giúp cho thiền được. Khi bạn nhịn ăn bạn sẽ thường xuyên nghĩ tới thức ăn. Tôi đã nghe.... 25 Một đôi đã lấy nhau đi tới linh mục giáo xứ để xin tư vấn hôn nhân. Trong tiến trình đối thoại ban đầu là nghiêm trang, linh mục bình luận về một số cô gái dễ nhìn trong giáo xứ. “Cha ơi,” người chồng nói, “cha làm con ngạc nhiên.” “Sao vậy?” ông ta hỏi, “chỉ bởi vì ta ăn kiêng không có nghĩa là ta không thể nhìn vào menu đâu nhé.” Những người đang kìm nén dục của họ sẽ thường xuyên nhìn vào menu, và những người đang kìm nén cơn đói của họ sẽ thường xuyên nghĩ về thức ăn. Đó là tự nhiên! Làm sao bạn có thể thiền được? Khi bạn nhịn ăn, menu tiếp menu sẽ trôi nổi trong tâm trí bạn, sẽ tới từ mọi chỗ - toàn món ngon. Với mọi mùi vị của thức ăn, và hương thơm, lần đầu tiên bạn sẽ bắt đầu cảm thấy rằng mũi bạn sống động, và lần đầu tiên bạn sẽ cảm thấy rằng lưỡi bạn sống động. Điều tốt là thỉnh thoảng nhịn ăn để cho bạn có thể thu thập được sự quan tâm tới thức ăn lần nữa, nhưng điều đó sẽ không tốt cho thiền. Nó là tốt để làm cho thân thể bạn nhạy cảm hơn chút ít, để cho bạn có thể thưởng thức lần nữa. Nhịn ăn nên phục vụ cho bữa tiệc! Điều tốt là thỉnh thoảng không ăn để cho việc thèm ăn quay lại. Khôn ngoan về sức khoẻ là tốt, nhưng thiền không liên quan gì tới nó. Sẽ khó cho thiền khi bạn đói hơn là khi bạn được thoả mãn đầy đủ. Vâng, ăn quá nhiều sẽ lại tạo ra rắc rối, bởi vì khi bạn đã ăn quá nhiều bạn sẽ cảm thấy buồn ngủ. Khi bạn không ăn chút nào bạn sẽ cảm thấy đói. Ở giữa là cách đúng: Trung bình Vàng. 26 Ăn làm sao bạn không cảm thấy đói, nhưng đừng ăn quá nhiều để cho bạn cảm thấy quá tải, buồn ngủ - và thiền sẽ dễ dàng hơn. Trung bình Vàng phải được tuân theo trong mọi cách, trong mọi loại tình huống. Thoải mái, thảnh thơi. Không cần hành hạ bản thân bạn, không cần tạo ra rắc rối không cần thiết. Vứt bỏ tâm trí giận dữ, bạo hành, hung hăng, và chỉ thế thì bạn mới có thể đi vào trong - bởi vì chỉ trong tâm thức thảnh thơi người ta mới bắt đầu nổi bên trong, ngày càng sâu hơn. Trong thảnh thơi hoàn toàn người ta đạt tới cốt lõi bên trong nhất của mình. Khi người ta bắt đầu tiến hành một quyết định của mình, phải cẩn thận để cho mọi thứ có thể xử lí theo cách thoải mái, thảnh thơi. Phải không được đòi hỏi quá nhiều từ tâm. Và đừng đòi hỏi quá nhiều, bởi vì nếu bạn đòi hỏi quá nhiều bạn sẽ trở nên căng thẳng, lo âu sẽ nảy sinh. Thực ra, đừng đòi hỏi chút nào. Chỉ đợi. Chỉ để hạt mầm vào trong tâm và bắt đầu làm việc - đợi mùa xuân Phải không được đòi hỏi quá nhiều từ tâm. Và mọi người bắt đầu đòi hỏi quá nhiều: họ muốn có tỏ ngộ-satory, samadhi ngay lập tức, họ muốn niết bàn ngay lập tức. Thỉnh thoảng điều đó xảy ra - người ngu tới tôi và họ nói, “Chúng tôi đã thiền bẩy ngày và chẳng cái gì xảy ra cả.” Mới có bẩy ngày sao? Và bẩy mươi triệu kiếp sống họ đã từng làm mọi thứ chống lại thiền! Và trong bẩy ngày - dường như họ ép buộc Thượng đế, hay tôi - họ 27 tới với lời phàn nàn: “Chẳng cái gì xảy ra cả. Bẩy ngày đã qua rồi, chỉ ba ngày còn lại ở trại thôi,” và họ còn chưa chứng ngộ! Đừng đòi hỏi quá nhiều, đừng tham quá. Hiểu biết thêm chút ít đi. Mọi thứ đều cần thời gian. Người ta phải cẩn thận rằng, hoàn toàn tự động, tâm và năng lượng được phối hợp. Nhớ rằng bạn cần không lo nghĩ về kết quả. Nó bao giờ cũng tương ứng với nhu cầu của bạn và tương ứng với giá trị của bạn: bất kì cái gì bạn sẵn sàng đều sẽ xảy ra. Nếu nó không xảy ra điều đó đơn giản chỉ ra bạn không sẵn sàng cho nó. Sẵn sàng đi. Đòi hỏi nó sẽ không ích gì. Cứ nhớ rằng bạn còn chưa xứng đáng. Cho nên lau sạch tâm bạn nhiều hơn, tập trung nhiều hơn, thiền nhiều hơ, trở nên im lặng hơn, được thảnh thơi. Trở nên ngày càng hoà điệu với cái bên trong, và chờ đợi, bởi vì khi tâm và năng lượng được phối hợp, kết quả tự động theo sau. Nếu bạn đã gieo hạt bạn không cần đào đất mọi ngày và nhìn hạt mầm để xem cái gì đang xảy ra; bằng không bạn sẽ phá huỷ hạt mầm. Không cái gì sẽ xảy ra. Bạn chỉ đợi. Trong nhiều tháng không cái gì xảy ra - và bạn phải tưới nước và bạn phải bón phân và bạn phải liên tục chăm sóc và không cái gì xảy ra trong nhiều tháng. Thế rồi một hôm đột nhiên, một sáng sớm, phép màu: hạt mầm đã đâm chồi. Chỉ hai cái lá nhỏ nhú ra, phép màu đã xảy ra - rằng cái là vô hình đã trở thành hữu hình. Đây là phép màu lớn nhất trên thế giới: hạt mầm trở thành chồi non. Bây giờ nhảy múa đi! Nhưng nó bao giờ cũng xảy ra trong thời gian riêng của nó. 28 Chỉ thế thì trạng thái yên tĩnh mới có thể được đạt tới. Trong trạng thái yên tĩnh này các hoàn cảnh đúng và không gian đúng phải được cung cấp. Một cách tự nhiên, nếu bạn chuẩn bị vườn hồng bạn phải thay đổi toàn thể đất. Đá phải bị loại bỏ, rễ cũ phải bị bỏ ra, cỏ dại phải bị loại bỏ. Bạn phải tạo ra hoàn cảnh đúng và không gian đúng, được bảo vệ. Bạn phải làm hàng rào quanh nó. Khi bạn định trồng hoa hồng mọi chuẩn bị sẽ được cần. Thiền là hoa hồng - hoa hồng vĩ đại nhất, hoa hồng của tâm thức con người. Đó là lí do tại sao cuốn sách này có tên là Bí mật của Hoa Vàng... hoa hồng vàng. Cái gì là hoàn cảnh đúng? Và cái gì là không gian đúng? Người ta phải không ngồi xuống (để thiền) ở giữa các chuyện phù phiếm. Bạn phải tìm một chỗ làm nâng cao việc thiền. Chẳng hạn, ngồi dưới cây sẽ giúp ích, thay vì đi và ngồi trước rạp chiếu phim hay đi ra ga tầu hoả và ngồi trên sân ga; đi ra tự nhiên, đi lên núi, tới cây, tới sông nơi Đạo vẫn còn chảy, rung động, đập rộn ràng, chảy khắp xung quanh. Cây đang thường xuyên thiền, im lặng - vô ý thức là thiền đó, và tôi không nói trở thành cây. Bạn phải trở thành vị phật! Nhưng phật có một điều chung với cây: ông ấy xanh tươi như cây, đầy tinh tuý như cây, mở hội như cây, tất nhiên với sự khác biệt - ông ấy có ý thức và cây vô ý thức. Cây là vô ý thức trong Đạo, vị phật là có ý 29 thức trong Đạo. Và đó là khác biệt lớn lao, khác biệt giữa đất và trời. Nhưng nếu bạn ngồi cạnh cây, được bao quanh bởi chim đẹp đang hót, hay công múa, hay chỉ dòng sông chảy và âm thanh của nước trôi, hay bên cạnh thác đổ và âm nhạc lớn của nó.... Tìm một chỗ mà tự nhiên còn chưa bị quấy rối, ô nhiễm. Nếu bạn không thể tìm thấy một chỗ như vậy thế thì chỉ đóng các cửa nhà bạn lại và ngồi trong phòng riêng của bạn. Nếu có thể, dành một phòng đặc biệt cho thiền trong nhà bạn; chỉ một góc nhỏ cũng có tác dụng, nhưng đặc biệt dành cho thiền. Tại sao đặc biệt? - bởi vì mọi loại hành động đều tạo ra rung động riêng của nó. Nếu bạn đơn giản thiền trong chỗ đó, chỗ đó trở nên có tính thiền. Mọi ngày bạn thiền nó hấp thu rung động của bạn khi bạn đang trong thiền. Hôm sau khi bạn tới, những rung động đó sẽ bắt đầu rơi lại lên bạn: chúng giúp đỡ, chúng đáp lại, chúng đáp ứng. Đó là ý tưởng đằng sau đền chùa và nhà thờ và nhà thờ hồi giáo; ý tưởng này là hay. Ý tưởng là ở chỗ với mọi người họ có thể không có một chỗ đặc biệt cho cầu nguyện hay thiền, nhưng chúng ta có thể có một chỗ đặc biệt cho cả làng - ngôi đền được bao quanh bởi cây, trên bờ sông, nơi đám đông không tụ tập, nơi chuyện trần tục không được làm. Khi người ta muốn thiền người ta có thể đi tới đền này. Và mọi người đều biết rằng mình ở trong đền, mình không bị quấy rối. Một chỗ linh thiêng không là gì ngoài chỗ đúng cho thiền và hoàn cảnh đúng. Nếu bạn cảm thấy rất giận, đó không phải là lúc để thiền: nó sẽ đi ngược lại dòng chảy. Nếu bạn cảm thấy rất tham đây không phải là lúc cho thiền, bạn sẽ không thấy nó dễ dàng. Nhưng có những khoảnh khắc khi bạn thấy sẵn có dễ dàng cho thiền. Mặt trời đang lên và bạn đã thấy mặt trời lên, và đột nhiên mọi 30 thứ đều im lặng trong bạn, bạn không là một phần của bãi chợ - đây là khoảnh khắc cho thiền. Bạn đã cảm thấy thoải mái, mạnh khoẻ. Bạn không trong tranh đấu với bất kì ai hôm nay - đây là lúc cho thiền. Một người bạn đã tới và bạn đầy tình yêu - đây là lúc cho thiền. Bạn ở cùng người đàn bà của bạn và cả hai bạn đều cảm thấy cực kì hạnh phúc - ngồi cùng nhau và thiền, và bạn sẽ thấy niềm vui lớn nhất của đời bạn đang xảy ra nếu bạn có thể thiền cùng người yêu của mình, với bạn của mình. Tìm ra hoàn cảnh đúng đi, và chúng bao giờ cũng sẵn có. Không một người nào mà không thể tìm ra hoàn cảnh đúng. Trong thời gian hai mươi bốn giờ nhiều khoảnh khắc tới mà có thể được biến đổi thành thiền rất dễ dàng, bởi vì trong những khoảnh khắc đó bạn tự nhiên đi vào nội tâm. Đêm đầy sao: nằm ra trên đất, ngắm sao, cảm thấy trong hoà điệu, và thế rồi thiền. Thỉnh thoảng điều tốt là vào ngày nghỉ đi lên núi - nhưng đừng đem radio đi cùng bạn, bằng không bạn đang đem toàn thế thứ vô nghĩa theo bạn. Và khi bạn đi lên núi đừng đưa địa chỉ của bạn và số điện thoại của bạn cho bất kì ai, bằng không sẽ không cần đi đâu cả. Khi bạn đi lên núi, quên mọi thứ về thế giới trong vài ngày đi. Đó là nghĩa của ngày nghỉ: nó phải linh thiêng, chỉ thế thì nó mới là ngày nghỉ. Nếu nó không linh thiêng, nếu nó không hoà điệu với điều thiêng liêng, nó không phải là ngày nghỉ; mọi người mang theo thế giới đi cùng họ. Một lần tôi đi lên Himalayas cùng với vài người bạn, và thế rồi tôi phải đề nghị họ bỏ tôi lại vì họ đã mang đài bán dẫn của họ đi và báo chí và tạp chí, và tiểu thuyết mà họ đọc, và họ thường xuyên nói chuyện - nói về những thứ họ bao giờ cũng nói tới. Cho nên tôi bảo họ, “Sao các bạn đi tới Himalayas? Các bạn đã nói những điều này ở nhà hoàn toàn tốt rồi, và lần nữa các bạn lại 31 nói cùng điều đó, cùng chuyện tầm phào, cùng những tin đồn.” Và bất kì khi nào họ đi cùng tôi tới chỗ đẹp nào đó họ đều đem máy ảnh theo, họ chụp ảnh. Tôi bảo họ, “Các bạn đã tới đây để nhìn. Các bạn đã không mang máy ảnh để nhìn Himalayas!” Nhưng họ nói, “Chúng tôi sẽ làm an bum đẹp, và về sau chúng tôi sẽ nhìn những chỗ đẹp chúng tôi đã tới thăm.” Và ngay ở đó họ lại không ở đó, họ chỉ bấm máy ảnh. Cái ngu xuẩn này phải bị bỏ lại sau. Thỉnh thoảng đi lên núi là tốt. Và tôi không nói bắt đầu sống ở đó - điều đó là không tốt - vì thế thì bạn trở thành bị nghiện với núi và bạn trở nên sợ quay lại thế giới. Ngày nghỉ phải chỉ là ngày nghỉ thôi. Thế rồi quay lại vào thế giới và đem mọi an bình và im lặng và kinh nghiệm về điều thiêng liêng cùng bạn. Đem nó đi cùng bạn, làm nỗ lực để cho nó vẫn còn cùng bạn ở bãi chợ. Những gợi ý này dành cho người mới bắt đầu. Khi một người thực sự trở thành thiền nhân, người đó có thể thiền khi ngồi trước nhà tranh, người đó có thể thiền trên sân ga tầu hoả. Trong mười lăn năm tôi đã liên tục du hành khắp nước, liên tục du hành - hết ngày nọ tới ngày kia, năm nọ tới năm kia - bao giờ cũng trên tầu hoả, trên máy bay, trong xe ô tô. Điều đó không tạo ra khác biệt. Một khi bạn đã trở nên thực sự được bắt rễ trong bản thể bạn, không cái gì tạo ra khác biệt. Nhưng điều này không dành cho người mới bắt đầu. Khi cây đã trở nên được bắt rễ, để gió tới và để mưa tới và để mây giông sấm sét tới; tất cả nó đều tốt, nó cho tính toàn vẹn cho cây. Nhưng khi cây 32 còn nhỏ, mềm yếu, thế thì ngay cả đứa trẻ nhỏ cũng là đủ nguy hiểm hay chỉ con bò đi qua - con vật linh thiêng thế - nhưng điều đó là đủ phá huỷ nó. Khi bạn bắt đầu, nhớ lấy, gợi ý của Lữ Tử có tầm quan trọng mênh mông. Đó là nói, tâm trí phải tự do với các ưu tư hão huyền. Mọi vướng mắc phải được gạt sang bên; người ta phải được tách rời và độc lập. Khi bạn cố gắng thiền, rút dây điện thoại ra, ngắt bản thân bạn ra. Đặt một thông báo lên cửa rằng trong một giờ không ai được gõ cửa, rằng bạn đang thiền. Và khi bạn đi vào trong phòng thiền cởi giầy ra, bởi vì bạn đang bước đi trên mảnh đất thiêng. Và không chỉ cởi giầy ra, mà bỏ mọi thứ bạn đang bận tâm nữa. Để mọi thứ cùng giầy ở bên ngoài một cách có ý thức: đi vào bên trong không bận bịu gì. Người ta có thể để ra một giờ trong hai mươi bốn giờ. Để hai mươi ba giờ cho bận bịu của bạn, các ham muốn, ý nghĩ, tham vọng, phóng chiếu; để một giờ ngoài tất cả những điều này. Và đến cuối bạn sẽ thấy rằng chỉ một giờ đó đã là giờ thực của đời bạn; hai mươi ba giờ kia đã là phí hoài vô cùng. Chỉ một giờ đó đã được cứu vớt và tất cả những giờ khác đã tiêu hao hết. Các ý nghĩ phải không được tập trung vào thủ tục đúng. Và điều thứ hai cần nhớ: không trở nên quá bận bịu với thủ tục đúng, bằng không điều đó trở thành mối bận tâm - rằng người ta phải ngồi theo tư thế nào đó. Nếu bạn có thể ngồi, tốt, nhưng nếu nó trở thành mối bận tâm không cần thiết, bỏ nó đi. Chẳng hạn, nếu bạn không thể 33 ngồi được trong tư thế hoa sen đầy đủ - điều là khó cho những người đã từng ngồi cả đời trong ghế; nó là khó bởi vì cơ bắp của họ đã phát triển theo cách nào đó - thế thì chân bạn sẽ không cảm thấy thoải mái. Chúng sẽ đi ngủ hay chúng sẽ bắt đầu tạo ra rắc rối cho bạn, chúng sẽ thường xuyên khao khát sự chú ý. Cho nên không có nhu cầu ép buộc tư thế hoa sen. Tư thế hoa sen, nếu dễ dàng, là tốt. Bằng không thì bất kì tư thế nào cũng là tư thế hoa sen. Nếu bạn không thể ngồi trên đất, nếu điều đó là khó, thì ngồi trên ghế. Thiền không sợ ghế. Nó có thể xảy ra ở bất kì đâu. Mới hôm nọ Renu đã hỏi một câu hỏi: “Chứng ngộ có thể xảy ra trên ngựa gỗ bập bênh không?” Nó có thể xảy ra chứ. Thậm chí nó có thể xảy ra cho ngựa gỗ bập bênh nữa! Bạn không cần lo nghĩ về nó. Cho nên, Lữ Tử nói: Các ý nghĩ phải không được tập trung vào thủ tục đúng. Chỉ để quan tâm chút ít thôi, có vậy thôi, nhưng đừng trở nên quá lo nghĩ về nó - liệu xương sống có tuyệt đối thẳng hay không, liệu đầu bạn có thẳng với xương sống hay không, liệu mắt bạn có đích xác như Lữ Tử muốn chúng vậy không. Bây giờ bạn có loại mắt khác hơn Lữ Tử; bạn biết người Trung Quốc và mắt họ rồi. Thực ra họ bao giờ cũng dường như nhìn vào chỏm mũi, mắt họ chỉ mở một nửa. Khi tôi trao tính chất sannyas cho một người Trung Quốc, thế thì tôi có nhiều khó khăn nhìn vào mắt họ. 34 Bạn có loại mắt khác. Mọi người có các loại mắt khác và các loại mũi khác, cho nên đừng trở nên quá bận tâm với những điều nhỏ nhặt này. Chúng chỉ là các chỉ báo: hiểu chúng, hấp thu chúng, và thế rồi đi theo cách của bạn. Tìm ra cách riêng của bạn. Lưu ý cơ bản cần được nhớ là: bạn phải thoải mái và thảnh thơi. Nguy hiểm này nảy sinh nếu quá nhiều rắc rối được nhận. Ta không ngụ ý rằng không nhận rắc rối nào, nhưng cách đúng nằm ở việc giữ khoảng cách tương đương giữa hiện hữu và không hiện hữu. Người ta phải ở đích xác ở giữa. Mọi người hoặc trở thành quá tích cực hoặc trở thành quá thụ động. Nếu họ trở nên quá tích cực, lo âu được tạo ra - một loại xô đẩy, vội vàng, tốc độ, bất ổn; nếu họ trở nên quá thụ động, ngủ, một loại lờ phờ, lười nhác. Ở giữa đi. Việc ở giữa này là tiêu chí để bao giờ cũng được dùng. Đừng ăn quá nhiều, đừng bỏ đói quá nhiều. Đừng ngủ quá nhiều, đừng ngủ ít hơn được cần. Bao giờ cũng nhớ ở giữa: vượt quá là bị cấm, mọi loại cực đoan đều phải bị loại bỏ, bởi vì chỉ ở giữa mới có trạng thái thảnh thơi của tâm trí. Nếu người ta có thể đạt tới vô mục đích qua mục đích, thế thì việc này đã được hiểu thấu. Nếu người ta có thể đạt tới loại cân bằng này, giữa nỗ lực và vô nỗ lực, giữa mục đích và vô mục đích, giữa hiện hữu và vô hiện hữu, giữa tâm trí và vô trí, giữa hành động và bất hành động.... Nếu người ta có thể đạt tới vô mục đích qua mục đích, thế thì việc này đã được hiểu thấu. Bây giờ 35 người ta có thể buông bỏ bản thân mình, tách rời và không lẫn lộn, đi theo cách độc lập. Đây là cơ sở: thế thì người ta có thể cho phép bản thân mình tuôn chảy với luồng chảy của mọi thứ, “người ta có thể buông bỏ bản thân mình.” Hơn nữa, người ta phải không rơi thành nạn nhân của thế giới gài bẫy. Thế giới gài bẫy là chỗ năm loại quỉ tối tự đùa giỡn. Đây là hoàn cảnh, chẳng hạn, khi, sau khi nhìn cố định, người ta chủ yếu có các ý nghĩ về cây khô và tro chết, và vài ý nghĩ về mùa xuân tươi sáng trên đại lục. Nhớ lấy, vấn đề lớn nhất cho người tôn giáo là không quá nghiêm trang, vấn đề lớn nhất cho người tôn giáo là không quá buồn bã, vấn đề lớn nhất cho người tôn giáo là không phủ định, vì bình thường điều đó xảy ra. Người tôn giáo trở nên rất buồn, rất nghiêm trang, rất phủ định cuộc sống: họ quên tất cả về mùa xuân. Họ chỉ nghĩ về “cây khô và tro chết.” Họ đã mất cân bằng. Vài ý nghĩ về mùa xuân tươi sáng trên đại lục phải được nhớ tới. Người tôn giáo thực là người biết ý thức về khôi hài. Người tôn giáo thực là người chân thành nhưng không bao giờ nghiêm trang, hoàn toàn cống hiến cho công việc của mình nhưng không bao giờ với thái độ ‘linh thiêng hơn ngươi’, không bao giờ; không bao giờ cảm thấy bất kì cao siêu nào bởi vì nó, nhưng khiêm tốn. Người tôn giáo thực là người có thể nhảy múa cùng gió và mưa, người có thể mỉm cười và khúc khích với trẻ em, người có thể cảm thấy thoải mái với mọi loại tình huống của 36 cuộc sống. Đó là tự do, đó là tự do khỏi bản ngã. Bản ngã làm người ta thành nghiêm trang. Theo cách này người ta chìm vào trong thế giới của tăm tối. Nếu bạn trở nên quá nghiêm trang bạn sẽ chìm vào trong thế giới của tăm tối, trong thế giới tiêu cực. Năng lượng là lạnh ở đó, việc thở là dồn dập, và nhiều hình ảnh về lạnh lẽo và hoang tàn tự chúng trình hiện. Nhớ lấy, bạn không trở thành lạnh. Bạn sẽ thấy cái gọi là thánh nhân rất lạnh: họ đã hiểu lầm toàn thể vấn đề. Trở nên mát, nhưng không bao giờ trở thành lạnh - và có nhiều khác biệt giữa hai điều này, và một điều ngược đời rất sâu sắc có đó. Tôi gọi nó là ‘mát’: so với trạng thái đam mê nồng nhiệt, nó là mát; nó là ấm nếu so với cái lạnh của chết. Nó là ấm nếu so với cái lạnh của chết và nó là mát nếu so với thèm khát đam mê về sống. Nó là ấm và mát cả hai. Người thực tôn giáo là mát bởi vì người đó không có thèm khát, và người đó là ấm vì người đó không buồn, người đó không nghiêm trang. Nếu người ta nấn ná ở đó lâu người đi vào thế giới của cây và đá. Và nếu bạn trở thành quá lạnh, sớm hay muộn bạn sẽ trở thành đá: bạn sẽ trở thành vô ý thức, bạn sẽ rơi khỏi tính người. Nhiều người trong các thánh nhân, theo quan sát của tôi, là những người đã sa ngã khỏi tính người. Họ 37 đã không trở thành siêu nhân, họ đã trở thành tiểu nhân. Họ thuộc về thế giới của đá tảng và đá hòn. Một người phải không bị dẫn đi lạc lối bởi mười nghìn cạm bẫy. Điều này xảy ra nếu, sau khi trạng thái yên tĩnh đã bắt đầu, cái nọ tiếp cái kia đủ mọi loại ràng buộc đột nhiên xuất hiện. Người ta muốn phá vỡ chúng và không thể phá được; người ta đi theo chúng, và cảm thấy dường như được giảm nhẹ bởi điều này. Đây là chỗ phân tâm đã đi sai. Phân tâm đã trở thành phương pháp của kết hợp tự do các ý nghĩ. Bạn có thể cứ tiếp diễn mãi: ý nghĩ này dẫn tới ý nghĩ khác, tới vô hạn. Người ta phải vẫn còn tách rời khỏi cuộc diễu hành các ý nghĩ. Chúng sẽ tới, chúng sẽ bao quanh bạn từ mọi nơi, chúng sẽ giống như mây - ngay cả chút ít bầu trời này sẽ bị mất. Và khi có quá nhiều ý nghĩ, bản năng tự nhiên là tranh đấu với chúng, vì bạn đã đọc rằng thiền nghĩa là vô ý nghĩ. Nhưng bằng việc tranh đấu người ta không bao giờ trở nên vô ý nghĩ được. Nếu bạn tranh đấu, bạn sẽ bị thất bại. Chính việc tranh đấu trở thành nguyên nhân của thất bại của bạn. Bạn không thể tranh đấu với cái bóng được, bằng không bạn sẽ bị thất bại. Cố tranh đấu với cái bóng riêng của mình và bạn sẽ bị thất bại - không phải là cái bóng rất mạnh đâu, nhưng bởi vì cái bóng không hiện hữu. Và tranh đấu với cái gì đó không hiện hữu, làm sao bạn có thể thắng được? Ý nghĩ là cái bóng, đừng tranh đấu với chúng. Và nếu bạn không tranh đấu thì phương án khác lại mở ra - đó là điều phân tâm đã chọn: thế thì để cho chúng đi tới bất kì chỗ nào chúng đi - liên kết tự do các ý nghĩ. Thế thì ý nghĩ nào được gắn với ý nghĩ khác và với ý nghĩ 38 khác và với ý nghĩ khác, và nó cứ diễn ra mãi đến vô tận, phát ngán. Điều này sẽ cho cảm giác giống như một loại thảnh thơi. Đó là lí do tại sao từ phân tâm mọi người cảm thấy được giúp đỡ, được cứu. Họ không được cứu, họ không được giúp đâu; chỉ tranh đấu biến mất. Bởi vì bạn tranh đấu bạn mới trở nên căng thẳng. Khi bạn không tranh đấu căng thẳng biến mất - và việc biến mất đó của căng thẳng cho bạn cảm giác dường như bạn được cứu. Mulla Nasruddin hay đi giầy rất chật, chật hơn hai cỡ anh ta cần. Cả ngày anh ra nhăn nhó phàn nàn, và cả ngày anh ta bực mình với giầy. Một hôm tôi hỏi anh ta, “Sao anh không đổi giầy đi? Sao anh cứ phàn nàn mãi? Ai buộc anh phải đi những đôi giầy này? Anh có thể mua đôi khác.” Anh ta nói, “Điều đó tôi không thể làm được! Không bao giờ đâu!” Tôi nói, “Sao vậy?” “Bởi vì,” anh ta nói, “đây là niềm an ủi duy nhất của tôi. Sau cuộc vật lộn cả ngày với giầy tôi về nhà và ném đôi giầy này đi và nằm dài ra giường, cảm thấy sướng thế!” Nó sẽ cho cảm giác thoải mái. Khi bạn tranh đấu với ý nghĩ và bạn không thể thắng được, thế thì bạn vứt bỏ tranh đấu và bạn cho phép các ý nghĩ di chuyển và bạn bắt đầu đi cùng chúng, điều đó cho cảm giác thích thú. Đó là điều toàn thể bí mật của phân tâm là gì. Phân tâm không giúp chút nào: nó đơn giản làm bạn cảm thấy thoải mái vì nó giúp bạn vứt bỏ tranh đấu. 39 Lữ Tử nói, “Cả hai đều không đúng. Không cần tranh đấu, không cần cho phép ý nghĩ và trở thành người đi theo của chúng. Ông vẫn còn là người quan sát, nhân chứng.” Điều này nghĩa là người chủ đã trở thành người hầu. Nếu bạn theo các ý nghĩ, chủ đã trở thành tớ. Nếu một người nấn ná trong trạng thái này lâu người đó đi vào thế giới của các ham muốn ảo tưởng. Người chủ phải được giành lại. Bạn phải là người chủ, không là đầy tớ. Và làm chủ là gì? - là nhân chứng chính là việc là người chủ. Cứ quan sát các ý nghĩ đó; hoàn toàn bình thản và yên tĩnh, quan sát. Để chúng tới, để chúng đi, để chúng nảy sinh, để chúng biến mất: bạn đơn giản ghi chép - ý nghĩ đang nảy sinh, ý nghĩ có đấy, ý nghĩ mất rồi. Và chẳng mấy chốc bạn sẽ đi tới điểm chúng nảy sinh ít dần và ít dần và ít dần, và thế rồi một ngày nào đó, khe hở... mọi ý nghĩ đã biến mất. Trong khe hở đó, là kinh nghiệm đầu tiên về Thượng đế. Tốt nhất, người ta thấy bản thân mình trong cõi trời, xấu nhất, giữa đám hồ li tinh. Một hồ li tinh như vậy, nó là thực, có thể có khả năng đi lang thang trong núi nổi tiếng tận hưởng gió và trăng, hoa và quả, và lấy vui thú trong cây san hô và cỏ ngọc. Nhưng sau khi có những thứ này, phần thưởng của người đó qua đi và người đó được sinh lại trong thế giới của rối loạn. 40 Nếu bạn thành công trong thiền bạn được sinh ra trong cõi trời, trong phúc lạc vĩnh hằng. Nếu bạn không thành công, nếu bạn đi lạc lối.... Việc đi lạc lối đó trong Đạo giáo được gọi là “Xấu nhất, người ta được sinh giữa đám hồ li tinh.” Hồ li tinh là linh hồn của nhà thơ. Hồ li tinh là linh hồn của tưởng tượng. Ngay cả nếu bạn thất bại trong thiền, cái gì đó sẽ được thu lấy. Đây sẽ là cái thu được của bạn: bạn sẽ tận hưởng cây nhiều hơn và hoa nhiều hơn, và thế giới và cái đẹp nhiều hơn. Nhưng sớm hay muộn năng lượng đã được tạo ra bởi thiền sẽ biến mất và bạn sẽ phải rơi lại vào trong rối loạn cũ. Nhớ lấy, nếu bạn thành công trong thiền, niềm vui là của bạn một cách vĩnh hằng. Nhưng ngay cả bạn thất bại bạn sẽ thấy vài khoảnh khắc của niềm vui đẹp và thơ ca. Những người thất bại trong thiền trở thành nhà thơ, những người thành công trở thành người thấy. Người thấy là nhà thơ của vĩnh hằng, nhà thơ là nhà thơ của nhất thời. Đó là lí do tại sao đôi khi chuyện xảy ra: một chút ít thiền và bạn cảm thấy thoải mái tới mức bạn dừng việc thiền lại - bạn nghĩ tất cả được đạt tới rồi. Cây xanh hơn, hoa hồng đỏ hơn, yêu diễn ra đẹp đẽ, mọi sự bắt đầu xảy ra - sao bận tâm? Nhưng ngay khi năng lượng đã được tạo ra đó sẽ biến mất: bạn đã trở thành một hồ li tinh. Điều đó là điều đang xảy ra qua ma tuý trên khắp thế giới: ma tuý chỉ tạo ra hồ li tinh. Nhưng thiền, nếu không được hoàn chỉnh, cũng có thể làm cùng điều. Một khi quyết định đã được lấy, thế thì nó là cam kết: bạn phải đi tới tận cùng của nó. Nó là thách thức. 41 Chấp nhận thách thức này và đi với cuộc hành trình đẹp nhất này của việc tìm kiếm bên trong của bạn đi. Và đừng bao giờ dừng ở giữa bất kì chỗ nào trừ phi bạn đã đạt tới, trừ phi bạn đã đạt tới trung tâm của cơn xoáy lốc. Đủ cho hôm nay. 42 Chương 18 Yêu là người bạn duy nhất Câu hỏi 1 Osho ơi, Trong khi trong trị liệu bản thân tôi, tôi đã dành nhiều thời gian cho cầu nguyện. Qua nhiều năm tôi cảm thấy tốt hơn. Tôi chưa bao giờ biết liệu đó là liệu pháp hay lời nguyện. Là nhà trị liệu tôi muốn thôi thúc người khác cầu nguyện nhưng cảm thấy lúng túng. Sadananda, yêu là liệu pháp, và không có liệu pháp nào khác trên thế giới ngoại trừ yêu. Bao giờ cũng là yêu chữa lành, bởi vì yêu làm cho bạn thành toàn thể, yêu làm cho bạn cảm thấy được đón chào trong thế giới, yêu làm cho bạn thành một phần của sự tồn tại. Nó phá huỷ xa lạ. Thế thì bạn không còn là người ngoài ở đây, nhưng hoàn toàn được cần tới. Yêu làm cho bạn cảm thấy được cần, và được cần là nhu cầu lớn nhất. Không cái gì khác có thể 43 hoàn thành được nhu cầu lớn đó. Chừng nào bạn chưa cảm thấy rằng bạn đang đóng góp cái gì đó cho sự tồn tại, chừng nào bạn chưa cảm thấy rằng không có bạn sự tồn tại sẽ kém đi một chút, rằng bạn sẽ không bị bỏ qua, rằng bạn là không thể bị thay thế, bạn sẽ không cảm thấy mạnh khoẻ và toàn thể. Và lời nguyện là dạng cao nhất của yêu. Nếu yêu là hoa, thế thì lời nguyện là hương thơm. Yêu là thấy được, lời nguyện là không thấy được. Yêu là giữa người này và người khác, lời nguyện là giữa một sự hiện diện vô nhân và sự hiện diện vô nhân của cái toàn thể. Yêu là bị giới hạn, lời nguyện là vô giới hạn. Nếu bạn có thể nguyện, không liệu pháp nào khác được cần. Liệu pháp được cần trong thế giới bởi vì lời nguyện đã biến mất. Con người chưa bao giờ cần tới liệu pháp khi lời nguyện còn sống, tuôn chảy, khi mọi người nhảy múa trong lòng biết ơn lớn lao, ca bài ca trong lời ca ngợi Thượng đế, cực lạc chỉ vì hiện hữu, vì hiện hữu ở đây, đã biết ơn chỉ vì sự sống. Khi nước mắt chảy từ mắt họ - của tình yêu, của niềm vui - và khi có bài ca trong tim họ, không có nhu cầu về liệu pháp. Liệu pháp là nhu cầu hiện đại, cái thay thế nghèo nàn cho lời nguyện. Phân tâm là cái thay thế nghèo nàn cho tôn giáo, rất nghèo. Nhưng khi bạn không thể có được cái tốt nhất, thế thì bạn bằng lòng với cái tốt thứ hai hay cái tốt thứ ba, hay bất kì cái gì sẵn có. Bởi vì đền chùa đã trở nên mục nát, nhà thờ đã trở thành chính trị, tôn giáo đã trở nên bị ô nhiễm bởi các tu sĩ, con người bị bỏ lại một mình - không được chăm nom, không ai hỗ trợ cho con người. Chính nền tảng trên đó con người đã từng trụ trong nhiều thế kỉ đã biến mất. Con người đang ngã vào vực thẳm, cảm thấy bị mất gốc rễ. Phân tâm tới như một cái thay thế: nó cho bạn chút ít bắt rễ, nó cho bạn chút ít nền tảng để bám giữ. 44 Nhưng nó không là gì khi so với lời nguyện. Bởi vì bản thân nhà phân tâm cũng đang cần, bản thân ông ấy cũng ốm như bệnh nhân, không có mấy khác biệt giữa nhà phân tâm và bệnh nhân. Nếu có khác biệt gì, khác biệt đó là về tri thức - và điều đó không tạo ra khác biệt chút nào. Nó không khác biệt về hiện hữu. Nếu có khác biệt nào đó là về định lượng, nó không phải là khác biệt về chất lượng, và số lượng không tạo ra mấy khác biệt. Nhà phân tâm và bệnh nhân của ông ta cả hai đều trên cùng một con thuyền. Ngày xưa đã có một loại người khác di chuyển trên thế giới, người tôn giáo - Phật, Christ. Chính sự hiện diện của ông ấy đã chữa lành. Bởi vì ông ấy đã được chữa lành và là toàn thể, tính toàn thể của ông ấy lây lan. Cũng như bệnh tật có tính lây nhiễm, mạnh khoẻ cũng vậy. Cũng như bệnh có thể bị lây từ người khác, vậy bạn có thể bắt được cái gì đó của năng lượng chữa lành từ người khác. Nhưng để có điều đó, nhà phân tâm sẽ chẳng giúp ích gì mấy. Ông ấy có thể giúp chút xíu để giải quyết vấn đề của bạn, về mặt trí tuệ. Ông ấy có thể tìm ra nguyên nhân của vấn đề của bạn - và khi bạn biết nguyên nhân bạn cảm thấy khá hơn chút ít, bạn không trong dốt nát. Nhưng chỉ bởi việc biết nguyên nhân chẳng cái gì được giúp cả. Bạn khổ: nhà phân tâm sẽ chỉ ra rằng bạn đang khổ bởi vì mẹ bạn, vì giáo dục của bạn, vì thời thơ ấu của bạn. Điều đó làm cho bạn cảm thấy thoải mái chút ít: vậy là không phải bạn là nguyên nhân, đấy là do mẹ bạn, hay bao giờ cũng có cái gì đó khác bạn có thể đổ trách nhiệm lên. Phân tâm học dịch chuyển trách nhiệm, làm cho bạn cảm thấy bớt trọng lượng đi chút ít, đỡ nặng gánh, nhưng vấn đề không được giải quyết. Chỉ bởi việc biết nguyên nhân, nguyên nhân không biến mất. 45 Tôn giáo có xu hướng khác toàn bộ: nó không dịch chuyển đổ lỗi lên người khác. Thực ra, nó làm cho bạn cảm thấy trách nhiệm lần đầu tiên trong đời bạn. Do đó phân tâm là một loại hối lộ. Nó là một loại dầu bôi trơn, nó là một loại giúp đỡ trong bản ngã của bạn, làm mạnh cho bản ngã của bạn, đổ lỗi lên người khác. Nó là trò chơi rất nguy hiểm bởi vì một khi bạn bắt đầu đổ lỗi lên người khác bạn sẽ không bao giờ được biến đổi, bởi vì bạn sẽ không bao giờ cảm thấy có trách nhiệm. Đây là một trong những thảm hoạ lớn nhất mà có thể xảy ra cho thời đại này. Marx nói rằng chính xã hội chịu trách nhiệm cho mọi ốm yếu mà bạn đang chịu đựng. Bạn không chịu trách nhiệm: chính do xã hội phân chia giai cấp, chính do cấu trúc kinh tế. Freud nói không phải cấu trúc kinh tế mà do ước định đã được trao cho bạn từ bố mẹ bạn, từ xã hội, từ giáo dục, từ các tu sĩ, từ nhà thờ. Nó là ước định, đó là lí do tại sao bạn khổ. Bạn không chịu trách nhiệm. Đây là trò chơi cũ. Trong quá khứ nó được gọi là ‘trò chơi số phận’: số phận chịu trách nhiệm, bạn không chịu trách nhiệm. Đây là cùng trò chơi được chơi với những cái tên mới và nhãn mới, nhưng thủ đoạn là ở chỗ bạn không chịu trách nhiệm. Tất nhiên, người ta cảm thấy hạnh phúc hơn một chút, nhưng chẳng cái gì thay đổi. Sớm hay muộn hạnh phúc đó biến mất bởi vì nguyên nhân vẫn còn ở chỗ nó ở, vết thương vẫn còn: có thành vấn đề gì ai đã làm bạn bị thương? Chỉ bằng việc biết rằng mẹ bạn đã làm tổn thương bạn hay bố bạn hay xã hội hay nhà thờ, làm sao nó thành vấn đề được? Vết thương có đó, đầy mủ, phát triển, trở nên to hơn mọi ngày. Bạn có thể cảm thấy khá hơn chút ít trong một khoảnh khắc, không nặng gánh: vậy là bạn không chịu trách nhiệm, bạn chỉ là nạn nhân. Bạn có thể thông cảm với bản thân bạn, 46 bạn có thể cảm thấy thương hại bản thân bạn và bạn có thể cảm thấy giận người khác, những người đã tạo ra vết thương. Nhưng đây không phải là cách biến đổi. Vết thương có đó và vết thương sẽ tiếp tục phát triển, vết thương không bận tâm về điều bạn nghĩ về nó. Việc nghĩ của bạn không tạo ra khác biệt gì cho vết thương. Tôn giáo là cách tiếp cận khác toàn bộ: nó làm cho bạn cảm thấy có trách nhiệm. Nó chống lại bản ngã của bạn. Nó nói, “Chính bạn! Chính trách nhiệm của bạn đã chọn hình mẫu sống nào đó. Mọi hình mẫu đều sẵn có, không hình mẫu nào đã được áp đặt lên bạn.” Phật đã được sinh ra trong cùng xã hội mà trong đó những người khác bị khổ, địa ngục khổ, và ông ấy đã đạt tới ở đây-và-bây giờ, trạng thái phúc lạc tối thượng. Cho nên xã hội không thể chịu trách nhiệm. Christ đã được sinh ra trong cùng xã hội trong đó Judas được sinh ra, trong đó mọi người khác đã được sinh ra, nhưng ông ấy đã đạt tới Thượng đế. Tôn giáo làm cho bạn cảm thấy có trách nhiệm và tự do. Tự do và trách nhiệm là hai mặt của cùng một đồng tiền. Nếu bạn không sẵn sàng cảm thấy trách nhiệm, bạn sẽ không bao giờ được tự do. Bạn sẽ vẫn còn trong tù túng, trong tù túng của người khác. Phân tâm làm cho bạn cảm thấy trong tù túng. Nó không thể giúp đỡ thực sự. Lời nguyện làm cho bạn tự do. Lời nguyện nghĩa là tôn giáo. Lời nguyện nghĩa là: bạn chịu trách nhiệm, bạn đã chọn một cách sống nào đó. Bây giờ không cần làm om sòm về nó. Nếu bạn không thích nó, bỏ nó đi! Điều đó là tuỳ ở bạn, nó là tuyệt đối tuỳ vào bạn. Và bạn có thể bỏ nó trong một khoảnh khắc của nhận biết. Đó là điều satori là gì, samadhi là gì: bỏ toàn bộ điều vô nghĩa, trong một khoảnh khắc hiểu biết, thấy 47 ra vấn đề rằng “Mình đang mang nó và nếu mình không muốn, không cần mang nó. Không ai có thể áp đặt nó lên mình được - không số phận, không xã hội, không nhà thờ.” Nó có thể bị bỏ đi bởi vì điều tinh tuý bên trong của bạn vẫn còn tự do với nhân cách của bạn. Nhân cách cũng giống như quần áo: bạn có thể bỏ nó, bạn có thể trần trụi vào bất kì khoảnh khắc nào. Điều tinh tuý của bạn có thể được lột trần vào bất kì lúc nào. Và khi điều tinh tuý được lột trần, bạn được chữa lành - bởi vì điều tinh tuý không biết tới ốm bệnh. Điều tinh tuý bao giờ cũng ở trạng thái lành mạnh, ở trạng thái toàn thể. Lời nguyện là cách tối thượng để bỏ mọi nhân cách - người Ki tô giáo, người Hindu, người Jaina, Phật tử, người Ấn Độ, người Đức, người Anh. Lời nguyện là cách để gạt sang bên toàn thể vật liệu của nhân cách và chỉ hiện hữu, thuần khiết, hồn nhiên. Trong sự thuần khiết và hồn nhiên đó người ta bắt đầu cúi mình. Bạn có thể không tin vào Thượng đế, không cần tin vào Thượng đế; người tin không phải là người tôn giáo. Nhưng khi bạn hoàn toàn trần trụi trong điều tinh tuý của bạn, khi bạn đã vứt bỏ mọi quần áo - bạn đã vứt bỏ mọi điều đã từng được trao cho bạn, bạn đã gián đoạn bản thân bạn với điều được học, từ mọi điều bạn đã học, điều được dạy, điều được trau dồi - đột nhiên bạn ở trong sự sáng tỏ tinh khôi, như bạn đã từng ở từ trước việc sinh của bạn. Mặt nguyên thuỷ của bạn có đó. Nó tươi như giọt sương buổi ban mai, sáng lên như sao trong đêm, với mọi sự vĩ đại của hoa và cây, và với mọi sự giản dị và hồn nhiên của trẻ em, con vật, chim chóc. Trong khoảnh khắc đó bạn cảm thấy vui thế, từ niềm vui bạn cúi mình - không phải với một Thượng đế. Nhớ lấy, không cần tin vào một Thượng đế. Bạn đơn giản 48 cúi mình từ lòng biết ơn, không có đối tượng trong việc cúi mình của bạn. Bạn đơn giản cúi mình bởi vì thấy niềm vui vô hạn như thế trút xuống bạn chẳng bởi lí do nào cả - và bạn không xứng đáng, bạn không xứng với nó, bạn chưa bao giờ kiếm nó - làm sao bạn có thể vẫn còn đấy mà không bày tỏ lời cám ơn tận tâm với sự tồn tại? Đầu bạn cúi xuống, bạn buông xuôi. Bạn nằm ra trên đất trong im lặng hoàn toàn, tim bạn đập rộn ràng, đập cùng cực lạc. Việc thở của bạn có nhịp khác cho nó, giai điệu khác cho nó. Toàn thể năng lượng của bạn đang nhảy múa, tuôn chảy. Bạn đã rơi vào trong hài hoà với sự tồn tại. Đây là điều tôi gọi là lời nguyện, không phải là điều đang diễn ra trong nhà thờ và đền chùa. Điều đó là tựa như vẹt, nó là hình thức. Nó chẳng liên quan gì với lời nguyện thực. Và lời nguyện này chữa lành, lời nguyện này là liệu pháp thực. Sadananda, bạn đúng. Câu hỏi này nảy sinh trong bạn là có ý nghĩa vô cùng: liệu bạn đã được chữa lành bởi liệu pháp hay lời nguyện? Bạn đã được chữa lành bởi lời nguyện. Liệu pháp đã không giúp cho bất kì ai. Nhiều nhất, liệu pháp có thể làm cho bạn được điều chỉnh theo xã hội. Lời nguyện giúp bạn rơi vào hoà điệu với bản thân sự tồn tại. Xã hội là nhân tạo, giá trị của nó là nhân tạo, do đó chúng là khác nhau ở mọi nơi. Ở Ấn Độ có các giá trị khác, ở phương Tây có các giá trị khác. Cái gì đó hoàn toàn được ở phương Tây là tuyệt đối sai ở phương Đông, và ngược lại. Các giá trị này là do con người tạo ra. Bạn sống trong xã hội, bạn phải điều chỉnh theo xã hội. Liệu pháp tâm lí là việc phục vụ cho xã hội bạn đang sống trong. Khi bạn bắt đầu đi ra khỏi xã hội, bạn bắt đầu trở nên có tính nổi dậy chút ít: xã hội chộp lấy bạn và tuyên bố bạn ốm bệnh. Đây là thủ đoạn cổ điển, một 49 trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà xã hội đã chơi trên bạn. Bất kì khi nào bạn không đứng vào hàng với xã hội, xã hội bắt đầu kết án bạn. Trong quá khứ nó thường gọi bạn là 'tội nhân', và thế rồi nó chuẩn bị địa ngục cho bạn. Bây giờ, ngôn ngữ đó lạc hậu rồi: nó gọi bạn là 'ốm', 'ốm tâm thần', 'ca tâm thần'. Đó là kết án mới. Ở nước Nga xô viết, bất kì khi nào ai đó khác biệt với chủ nghĩa cộng sản, có ý tưởng riêng của mình về cuộc sống, sự tồn tại, xã hội, người đó lập tức bị tuyên bố là bệnh tâm thần, ca tâm thần. Một khi người đó bị tuyên bố là ca tâm thần, bây giờ xã hội có khả năng thao túng bạn. Bạn có thể cho người đó sốc điện, sốc insulin, ma tuý, bạn có thể buộc người đó sống trong nhà thương điên. Và mọi điều người đó đã làm là: người đó đã làm chút ít suy nghĩ. Tội của người đó là ở chỗ người đó không vâng lời theo mệnh lệnh chính thức của xã hội; người đó đã không vâng lời. Chừng nào xã hội còn chưa buộc người đó quay lại, cho người đó tẩy não, buộc người đó trở lại hàng, người đó sẽ bị giữ trong bệnh viện và sẽ bị đối xử như người ốm. Điều này là làm nhục, hạ giá trị, làm mất tính người, nhưng đó là điều đã từng được làm trên khắp thế giới, ít hay nhiều: bất kì khi nào một người khác với bạn, muốn sống cuộc sống khác, muốn được tự do khỏi tù túng mà bạn đã tạo ra nhân danh xã hội, bạn tuyên bố người đó là điên. Jesus bị tuyên bố là thần kinh, Mansoor bị tuyên bố là điên, Socrates bị tuyên bố là nguy hiểm cho thanh niên của xã hội: “Giết họ bây giờ!” Bây giờ xã hội có thể giết họ mà không bị cắn rứt lương tâm. Thực ra, xã hội đang làm điều đúng: đầu tiên kết án ai đó, dán nhãn lên người đó. Nếu bạn giết ai đó mà không dán nhãn lên người đó, bạn sẽ cảm thấy mặc cảm; để tránh mặc cảm tuyên bố người đó là điên và thế thì giết là dễ dàng thế, phá huỷ là 50 dễ dàng thế. Bây giờ chúng ta có công nghệ nữa, để phá huỷ tâm trí, để cho tâm trí việc tẩy não hoàn toàn, và để buộc người này nói có với mệnh lệnh chính thức, dù nó là bất kì cái gì: cộng sản, tư bản, phát xít. Liệu pháp, cái gọi là liệu pháp, là để phục vụ cho xã hội đã được thiết lập. Nó là trong phục vụ cho chết, cho quá khứ. Lời nguyện không phục vụ cho ai cả. Lời nguyện là tự do. Lời nguyện là các giao cảm với cái toàn thể, và giao cảm với cái toàn thể là linh thiêng. Bạn nói, “Trong khi trong trị liệu bản thân tôi, tôi đã dành nhiều thời gian cho cầu nguyện. Qua nhiều năm tôi cảm thấy tốt hơn. Tôi chưa bao giờ biết liệu đó là liệu pháp hay lời nguyện.” Nó chắc chắn là lời nguyện. “Là nhà trị liệu tôi muốn thôi thúc người khác cầu nguyện nhưng cảm thấy lúng túng.” Tôi có thể hiểu, Sadananda. Lời cầu nguyện đã trở thành từ bẩn thỉu. Nói về lời cầu nguyện là lúng túng, nói về Thượng đế là lúng túng: mọi người nghĩ bạn có chút ít lập dị, dở hơi hay cái gì đó. Nhưng đừng sợ. Vứt bỏ cái lúng túng này đi, thu lấy dũng cảm. Nói về lời nguyện - không chỉ nói về lời nguyện, rơi vào trong lời nguyện khi bệnh nhân ở cùng với bạn. Để cho bệnh nhân cảm thấy bầu khí hậu của lời nguyện. Có lần một đệ tử của Jesus hỏi ông ấy, “Lời nguyện là gì?” Ông ấy đơn giản quì xuống, bắt đầu nguyện, với nước mắt chảy từ mắt. Mắt ông ấy ngước lên trời, và ông ấy bắt đầu nói với Cha ông ấy - điều chỉ là biểu tượng. Ông ấy bắt đầu gọi, “Abba.” Ông ấy tạo ra bầu khí hậu: đó là cách duy nhất để biểu lộ lời nguyện là gì. Không có cách khác. 51 Nếu ai đó hỏi, “Yêu là gì?”, thì bầy tỏ yêu đi: ôm ghì người đó, cầm tay người đó, để cho tình yêu của bạn chảy tới người đó. Đó là cách duy nhất để nói yêu là gì. Đây là cách duy nhất để định nghĩa cái không thể định nghĩa được. Rơi vào trong lời nguyện trong khi bạn đang giúp bệnh nhân đi. Quì xuống. Lần đầu tiên bệnh nhân có thể cảm thấy kì lạ, chút ít kì dị - "Cái gì đang xảy ra?" - vì người đó đã tới với ý tưởng nào đó rằng người đó sẽ phải nằm trên tràng kỉ Freud và người đó sẽ nói đủ mọi thứ vô nghĩa, và nhà phân tâm sẽ lắng nghe một cách rất chăm chú, dường như người đó đang chuyển giao phúc âm hay khải lộ. Người đó đã tới với mong đợi nào đó; người đó sẽ không có khả năng tin vào điều đang xảy ra. Nhưng nếu lời nguyện có đó thì nó nhất định có hiệu quả: nó là lực tiềm năng thế. Bất kì khi nào có một người nguyện, người đó tạo ra rung động của lời nguyện quanh người đó. Và bệnh nhân đặc biệt là những người rất nhạy cảm - đó là lí do tại sao họ đã trở thành bệnh nhân. Nhớ điều đó! Họ thông minh hơn là số đông bình thường, do đó họ mới bị ốm! Số đông bình thường là không nhạy cảm thế, đờ đẫn thế, da dầy thế, nó liên tục mang mọi loại vô nghĩa mà không bị quấy rối bởi chúng. Nó liên tục sống cái gọi là cuộc sống vô nghĩa mà không bao giờ trở nên nhận biết về cái vô nghĩa của nó, cái ngu xuẩn và ngớ ngẩn hoàn toàn của nó. Bao giờ cũng nhớ rằn bệnh nhân là người nhạy cảm hơn số đông bình thường, tỉnh táo hơn, có nhiều tâm hơn để cảm. Do đó người đó thấy khó điều chỉnh được theo xã hội. Xã hội tồn tại cho cái thấp nhất vì nó tồn tại cho số đông, cho quần chúng, cho đám đông. Xã hội là hiện tượng bầy đàn. Bất kì khi nào có ai đó thông minh hơn một chút, có chỉ số IQ cao hơn một chút, có thêm chút 52 tiềm năng nào đó cho yêu và cho thơ ca, người đó sẽ cảm thấy bị điều chỉnh sai chút ít, người đó sẽ không cảm thấy như ở nhà. Thấy người ăn xin trên phố người đó sẽ khổ, thấy mọi loại khai thác đang diễn ra người đó sẽ khổ; thấy trạng thái nhân loại và việc xuống cấp người đó sẽ khổ - và tất cả những điều này sẽ trở thành quá nhiều. Người đó sẽ bắt đầu rạn nứt dưới gánh nặng này. Nhớ rằng bệnh nhân là thông minh hơn, nhạy cảm hơn, mong manh hơn - do đó người đó mới là bệnh nhân. Nếu bạn tạo ra bầu không khí của lời nguyện quanh người đó, có thể lần đầu tiên người đó sẽ nghĩ bạn có chút lập dị, nhưng đừng lo. Mọi người đều biết rằng các nhà phân tâm đều có chút lập dị. Tôi đã nghe.... “Tôi bị mất ngủ thực tệ,” nhà trị liệu tâm lí phàn nàn với bác sĩ điều trị. “Mất ngủ,” bác sĩ nói, “là mất ngủ thôi. Làm sao nó có thể tệ được? Ông ngụ ý gì, ‘mất ngủ thực tệ’?” “Thế này,” nhà trị liệu tâm lí nói. “Tôi bị nó thực tệ. Tôi thậm chí không thể ngủ được khi đến giờ dậy!” Hay chuyện này: Một bác sĩ trẻ đang học để là nhà phân tâm tiến tới giáo sư và hỏi một cách điều trị đặc biệt. Khi họ còn một mình trong văn phòng của giáo sư, anh thanh niên để lộ rằng anh ta có khá nhiều rắc rối với một số bệnh nhân của mình. Dường như là trong đáp ứng với câu hỏi của anh ta, 53 các bệnh nhân này đưa ra lời đáp mà anh ta không thể nào hiểu được hoàn toàn. “Được,” người già hơn nói, “giả sử anh hỏi tôi một số trong những câu hỏi này.” “Sao vậy, chắc chắn,” bác sĩ trẻ đồng ý. “Câu hỏi thứ nhất là, cái gì là cái mặc chiếc váy và từ người đó cái môi đưa tới vui thích?” “Sao vậy,” giáo sư nói, “dễ thế. Đó là một người Scotsman thổi kèn túi.” “Đúng,” bác sĩ trẻ nói. “Bây giờ câu hỏi thứ hai. Cái gì là cái có đường cong mượt mà và vào những khoảnh khắc bất ngờ trở thành không kiểm soát nổi?” Bác sĩ già nghĩ một thoáng, và thế rồi nói, “Aha! Tôi không nghĩ rằng điều đó là quá khó không trả lời được. Nó là cầu thủ bóng chầy liên đoàn ngoại hạng.” “Đúng,” anh thanh niên nói. “Bây giờ, thưa giáo sư, thầy không phiền mà nói cho tôi thầy nghĩ gì về hai cánh tay trượt quanh vai thầy?” “Một cú cản phá bóng đá,” giáo sư đáp. “Lại đúng,” bác sĩ trẻ nói. “Nhưng thầy sẽ ngạc nhiên với những câu trả lời ngu xuẩn tôi đang nắm.” Cho nên, Sadananda, đừng lo. Bạn có thể cầu nguyện, bạn có thể đi vào trong lời nguyện. Lần đầu tiên, có thể bệnh nhân sẽ nghĩ bạn hơi chút dở hơi. Và trong mầu cam, và với mala, bạn dở hơi rồi! Đừng lo nghĩ! Bạn được phép làm bất kì cái gì một khi bạn là một sannyasin: đây là chứng nhận. 54 Nhưng nếu bạn có thể tạo ra bầu khí hậu về lời nguyện, chẳng mấy chốc bạn sẽ thấy bệnh nhân tham gia cùng bạn. Người đó có thể cảm thấy, lần đầu tiên, cái gì đó của cái không biết và cõi bên kia. Và nếu người đó có thể lại cảm thấy cái gì đó của cái không biết, cuộc đời của người đó sẽ bắt đầu có nghĩa, ý nghĩa. Nếu người đó có thể có chút ít tiếp xúc với cái siêu việt, chỉ chút ít tiếp xúc thôi, cuộc đời của người đó sẽ không bao giờ như cũ nữa. Chỉ chút ít lối mở vào cõi bên kia, chút ít cửa sổ, và ánh sáng vào và bầu trời và mây và sao - chỉ chút ít cửa sổ và bạn đã biến đổi toàn thể con người của người đó. Dùng liệu pháp của bạn nữa, nhưng giúp đỡ thực sẽ tới từ lời nguyện. Dùng liệu pháp như bàn đạp cho lời nguyện đi. Câu hỏi 2 Tôi đang trong yêu, và tôi cảm thấy như một con bướm đang chết trong ngọn lửa nến. Tôi có được ngụ ý bằng cách nào đó thoát ra khỏi bản thân tôi và nhận biết và một mình, hay chết đi trong ngọn lửa này. Trong vui, trong đau, nó cứ tới mãi.... Madhuri, chết đi! vì chết trong yêu là được tái sinh. Nó không phải là cái chết, nó là bắt đầu của sống thực. Chết mà không yêu là chết. Sống mà không yêu là chết. Ở trong yêu là biết tới cái gì đó về Thượng đế, vì như Jesus nói, “Thượng đế là tình yêu.” Tôi thậm chí đã cải tiến nó; tôi nói: Yêu là Thượng đế. 55 Chết đi, Madhuri, chết đi. Hoàn toàn. Bỏ bản thân bạn đi. Mất đi. Không cần bảo vệ bản thân bạn chống lại yêu, bởi vì yêu không phải là kẻ thù. Yêu là người bạn duy nhất, Đừng bảo vệ bản thân bạn. Đừng trốn tránh khỏi yêu. Đừng sợ yêu. Khi tình yêu gọi, đi cùng nó. Dù nó dẫn tới bất kì chỗ nào, đi cùng nó, đi trong tin cậy. Vâng, sẽ có những khoảnh khắc cả đau đớn, vì chúng bao giờ cũng có đó khi có khoảnh khắc của cực lạc. Chúng tới cùng nhau. Nó là một gói, cũng như ngày và đêm, hè và đông, chúng tới cùng nhau. Nhưng khi có cực lạc của yêu, người ta sẵn sàng trả giá - dù bất kì đau khổ nào nó đem lại, người ta hạnh phúc trả giá. Và nhớ, không cái gì là cho không cả. Chúng ta phải trả giá cho mọi thứ. Bạn càng có thể trả nhiều, bạn sẽ càng nhận nhiều. Nếu bạn muốn đi tới những đỉnh cao nhất của Himalayas, bạn nhận rủi ro ngã vào trong thung lũng. Những người không thể nhận rủi ro của việc ngã vào trong vực thẳm sâu bao quanh các đỉnh Himalaya sẽ không bao giờ biết niềm vui của việc vươn lên ngày càng cao hơn. Yêu là đỉnh cao nhất của tâm thức, đỉnh Everest của tâm thức, và thỉnh thoảng người ta trượt và ngã. Và một cách tự nhiên, khi bạn đi lên đỉnh cao, bạn ngã rất sâu, đau đấy. Khi bạn biết ánh sáng và bạn rơi và bóng tối sâu, đau đấy. Nhưng một khi bạn đã biết những đỉnh đó, bạn sẵn sàng đi vào trong bất kì thung lũng nào cho những đỉnh đó. Một khoảnh khắc của cực lạc là đủ: người ta có thể chịu khổ vì nó trong địa ngục vĩnh hằng, thế thì điều đó nữa cũng là đáng có. Suy ngẫm về những lời này của Kahlil Gibran: 56 Khi yêu vẫy tay ra hiệu, đi theo nó đi, Cho dù con đường của nó là gian nan và dốc đứng. Và khi cánh nó ôm bạn, nhường nó đi, Cho dù kiếm giấu trong lông nó có thể làm bạn bị thương. Và khi nó nói cho bạn, tin vào nó đi, Mặc dầu tiếng của nó có thể làm tan nát giấc mơ của bạn Vì gió bấc đè rạp tàn phá khu vườn. Nhưng nếu trong sợ bạn sẽ tìm chỉ an bình của yêu và vui thú của yêu, Vậy tốt hơn cả là bạn che đậy sự trần trụi và đi qua va đập của yêu, Vào trong thế giới không mùa nơi bạn sẽ cười, Nhưng không phải toàn tiếng cười, Và khóc, Nhưng không toàn nước mắt. Yêu không cho gì ngoài bản thân nó và không lấy gì ngoài chính nó. Yêu không sở hữu không bị sở hữu: Vì yêu là đủ cho yêu. “Khi yêu vẫy tay ra hiệu, đi theo nó đi” - đi theo tới tận cùng, đi theo tới điểm bạn biến mất hoàn toàn. Trở thành con thiêu thân. Vâng, yêu là ngọn lửa và người yêu là con thiêu thân. Học nhiều từ con thiêu thân, nó có bí mật: nó biết cách chết. Và biết cách chết trong yêu, trong cực lạc, nhảy múa, là biết cách được tái sinh trên bình diện cao hơn. Và mỗi lúc bạn chết đi một bình diện cao hơn được đạt tới. 57 Khi bạn có thể chết đi một cách tối hậu và hoàn toàn, không giữ lại cho dù chút ít của bản thân bạn, thế thì cái chết đó đưa bạn vào Thượng đế. Điều đó là phục sinh. Câu hỏi 3 Tại sao thầy không nhất quán trong phát biểu của thầy? Tôi không thể thế được. Mục đích của các phát biểu của tôi là khác toàn bộ với phát biểu thông thường. Tôi không nói chân lí, vì chân lí không thể được nói. Thế thì tôi đang làm gì ở đây? Nếu bạn coi các phát biểu của tôi là đúng hay không đúng, bạn sẽ bỏ lỡ toàn thể vấn đề. Tôi đang dùng các phát biểu để đánh thức bạn. Chúng không đúng mà cũng không không đúng. Chúng không hữu dụng hay vô dụng. Nhưng chúng chẳng liên quan gì tới chân lí. Chúng có tính tiện dụng nào đó. Nó cũng giống như bạn ngủ say và tôi bắt đầu rung chuông, chẳng có gì là chân lí hay không chân lí trong việc rung chuông. Hỏi câu hỏi sẽ hoàn toàn không liên quan. Nhưng có cái gì đó hữu dụng trong nó: nếu nó giúp cho bạn thức dậy, nó đã là hữu dụng. Phật tương truyền đã nói, “Chân lí là cái có tính tiện dụng.” Chân lí là một phương cách, nó không nói gì về sự tồn tại cả. Nó chỉ là phương cách để khêu gợi cái gì đó đang ngủ say trong bạn. 58 Bây giờ tôi không thể nhất quán được, bởi vì tôi phải khích nhiều người thế - các kiểu tâm trí khác nhau, các kiểu ngủ khác nhau có đó. Tôi có thể rung chuông: nó có thể giúp cho ai đó thức dậy, với ai đó khác nó có thể có vẻ như lời ru và người đó có thể rơi vào giấc ngủ thậm chí còn sâu hơn. Với ai đó nó có thể là khích vào sự nhận biết, với ai đó khác nó có thể đơn giản cho giấc mơ đẹp: rằng người đó đang ở trong đền chùa và chuông đang ngân và người đó tận hưởng, và lời nguyện đang diễn ra và hương đang cháy. Người đó đã tạo ra giấc mơ, người đó đã không ra khỏi giấc ngủ. Người đó sẽ cần cái gì đó khác - có thể là cú đánh lên đầu, hay nước lạnh dội lên người đó, hay việc lay mạnh. Người khác nhau cần cách tiếp cận khác nhau để được khêu gợi, được thức tỉnh. Phát biểu của tôi không phải là về chân lí. Tôi không phải là triết gia! Tôi không cố cho bạn triết lí nào. Tôi chỉ cố mọi khả năng có thể để đánh thức bạn. Nếu khả năng này thất bại, tôi thử khả năng khác - nhưng tôi không thể bỏ bạn một mình. Cho nên một ngày nào đó tôi sẽ nói điều này, ngày khác tôi có thể nói điều khác. Bạn bỏ lỡ vấn đề nếu bạn không hiểu mục đích phát biểu của tôi. Mới hôm nọ tôi đã trả lời hai câu hỏi của Habib về Carl Gustav Jung. Anh ấy đã bỏ lỡ toàn thể vấn đề. Tôi cảm thấy tiếc cho Habib: anh ấy đã bỏ lỡ toàn thể vấn đề, anh ấy cảm thấy bị xúc phạm. Và anh ấy thậm chí không thể đợi và suy ngẫm trong vài giờ: tôi kết thúc lúc 9:45 và anh ấy viết bức thư lúc 9:55. Anh ấy không thể đợi được một phút để suy ngẫm về nó. Anh ấy đã nghĩ tôi chống lại Jung. Sao tôi phải chống lại Jung? - ông ấy đã không làm gì sai với tôi cả. Nhưng Habib đáng thương; anh ấy đã bỏ lỡ vấn đề. Anh ấy tưởng tôi chống lại Jung, cho nên anh ấy phải bảo 59 vệ Jung. Anh ấy đã viết trong thư rằng anh ấy muốn có thảo luận công cộng hay riêng tư với tôi, cuộc tranh cãi. Bây giờ bạn không thể thảo luận được với người điên! Điều đó sẽ hoàn toàn vô dụng, Habib. Điều đó sẽ là vô ích. Nó sẽ làm cho bạn phát rồ. Tôi đã nghe.... Ngày xửa ngày xưa, một vị vua Ai Cập phát điên. Ông ấy là một người chơi cờ vua giỏi. Mọi thuốc đều đã được thử, mọi lương y đã làm việc trên ông ấy, những chẳng được gì, chẳng ích gì. Và ông ấy cứ chìm mãi chìm mãi vào điên khùng. Thế rồi một sư khổ hạnh tới, một nhà huyền môn Sufi, và ông ấy nói, “Đợi đã! Nếu các ông có thể đem tới một người chơi cờ giỏi, điều đó sẽ có ích lắm. Người đó phải chơi cờ với nhà vua điên này.” Bây giờ ai muốn chơi cờ với người điên? Nhưng nhà vua sẵn sàng trả nhiều tiền như được yêu cầu. Một người chơi cờ sẵn sàng - nhiều tiền thế! Và nhà huyền môn này cũng đúng: sau một năm nhà vua hoàn toàn lành mạnh. Nhưng người chơi cờ phát điên. Cho nên nếu bạn có thảo luận với tôi, thận trọng vào - bạn sẽ phát điên! - bởi vì tôi không phải là người nhất quán, tôi không logic nữa. Tôi ngớ ngẩn. Và Habib bỏ lỡ vấn đề. Nếu anh ấy mà là một người theo Freud tôi chắc đã công kích Freud rồi, nếu anh ấy là người Mác xít tôi chắc đã công kích Marx rồi, và nếu anh ấy là người theo Osho, tôi chắc đã công kích Osho rồi! 60 Vấn đề không phải là Jung! Jung chả tới đâu trong nó cả. Việc công kích là vào bản ngã của Habib! Bởi vì bản ngã này là về tính Jung, cho nên Jung đáng thương phải bị công kích. Bây giờ nếu ngày mai ai đó tới và người đó theo Freud, và tôi sẽ công kích Freud. Và tôi sẽ nói, “Ông ấy chẳng là gì khi so với Jung - người lùn!” Và thế thì một cách tự nhiên tôi trở thành không nhất quán, vì bạn bỏ lỡ toàn thể vấn đề! Tôi chả liên quan gì tới Freud hay Jung. Ai chăm nom? Nỗ lực của tôi là khích bạn, chỉ ra cho bạn vấn đề. Không phải là Habib cảm thấy bị xúc phạm bởi vì tôi đã phê bình Jung đâu; anh ấy cảm thấy bị xúc phạm vì bản ngã anh ấy bị tổn thương. Nếu anh ấy có thể thấy điều đó, thế thì phát biểu của tôi là hữu dụng. Nếu anh ấy không thể thấy được điều đó, thế thì mũi tên bắn trượt điểm nhắm. Thế thì tôi sẽ phải dùng phương cách khác nào đó. Tôi phải phá huỷ cấu trúc bản ngã của bạn. Do đó, đừng hỏi đi hỏi lại tôi tại sao phát biểu của tôi là không nhất quán. Tôi chỉ có một nhất quán: đó là việc không nhất quán. Tôi nhất quán với việc không nhất quán, đó là nhất quán duy nhất mà tôi có. Và tôi có tự do vô hạn bởi vì người nhất quán không thể có tự do vô hạn được. Tôi có thể chơi, tôi có thể đùa, tôi có thể tận hưởng làm tan nát bản ngã của bạn, phá huỷ cấu trúc của bạn. Tôi không nghiêm trang về những điều này. Tôi dám chơi, thử điều này đầu tiên, thế rồi điều khác. Phát biểu của tôi giống như diễn viên trên sân khấu: để cho chúng mâu thuẫn nhau đi; chúng không có đó để nói lên chân lí, nhưng để khích bác, để khám phá nó. Và tôi muốn nói với bạn nữa: đừng làm gì đơn thuần chỉ vì nhất quán. Đó là chỗ trú cho người ngu và triết gia - thì cũng là cùng loại người thôi. Đừng bao giờ làm gì 61 chỉ vì nhất quán. Điều này là không mong muốn vì nó giới hạn thực nghiệm và thám hiểm. Hành động, sao cho nhất quán với quá khứ, phát triển thành việc nghiện chương trình. Nó làm đông cứng bạn trong tình trạng ngưng trệ, dừng bước đi tiến hoá của việc trở thành. Bạn phải giữ lại mọi sức mạnh qua hành vi hiện thời. Không cái gì phải được nhường cho quá khứ. Hành động nhất quán với cái đi trước là một dạng của chết và phá huỷ mọi tiềm năng để trưởng thành trong hiểu biết. Nhớ lấy, nhất quán là gì? Nó có nghĩa hôm nay của tôi phải vâng theo hôm qua của tôi - đó là nhất quán. Hiện tại của tôi phải tuân theo quá khứ của tôi - đó là nhất quán. Nhưng thế thì làm sao tôi sẽ trưởng thành được? Thế thì làm sao tôi sẽ di chuyển được? Nếu tôi vẫn còn nhất quán với quá khứ, thế thì không trưởng thành nào là có thể. Trưởng thành nghĩa là không nhất quán: hôm nay của bạn phải đi ra ngoài hôm qua của bạn, phải không nhất quán với nó, phải dùng nó như bàn đạp, phải không bị giới hạn bởi nó, và ngày mai của bạn phải đi ra ngoài hôm nay của bạn. Nếu từng ngày bạn cứ đi xa khỏi quá khứ của bạn, bạn sẽ trưởng thành, bạn sẽ đạt tới những đỉnh cao hơn. Người nhất quán là người ngu. Cuộc đời của họ tù đọng. Họ bốc mùi của chết, họ giống như cái xác: họ cứ mục nát ra, họ không sống. Sống về căn bản không phải là hiện tượng logic mà là hiện tượng biện chứng. Biện chứng nghĩa là chính đề, phản đề, tổng hợp: hôm qua của bạn là chính đề, hôm nay của bạn sẽ là phản đề và ngày mai của bạn sẽ là tổng hợp. Lần nữa ngày mai của bạn sẽ tạo chính đề và ngày tiếp lại phản đề và rồi tổng hợp - và cứ thế nó diễn ra. Bạn liên tục đi theo cách biện chứng. 62 Sống là quá trình biện chứng; nó không là quá trình tuyến tính, logic. Sống là quá trình mâu thuẫn. Đó là lí do tại sao tôi không thể xác định được bản thân mình - bởi vì định nghĩa của hôm nay sẽ không áp dụng được cho ngày mai. Tôi không thể xác định được bản thân tôi vì nó giống như xác định mây hay đại dương hay cây đang lớn hay như đứa trẻ. Tôi thường xuyên thay đổi, bởi vì thay đổi là chính linh hồn của sống. Ngoại trừ thay đổi, chẳng cái gì là vĩnh hằng. Tôi cam kết với thay đổi. Thay đổi là Thượng đế của tôi, bởi vì đó là hiện tượng không đổi duy nhất trong sống. Do đó tôi gọi nó là Thượng đế. Mọi thứ khác đều thay đổi: sống thay đổi, chết thay đổi - chỉ thay đổi còn lại. Tôi tôn thờ thay đổi. Tôi ở trong tình yêu với nó. Tôi không thể xác định được bản thân tôi một lần cho mãi mãi. Tôi phải xác định bản thân tôi từng khoảnh khắc của đời tôi; và người ta chẳng bao giờ biết khoảnh khắc tiếp sẽ đem tới cái gì. Ở cùng tôi là ở trong dòng chảy thường xuyên, trong chuyển động thường xuyên. Những người không đủ can đảm, sớm hay muộn phải bỏ dở cuộc hành trình mà tôi đang đem bạn đi. Những người không đủ dũng cảm và người không có bạo dạn để chấp nhận tương lai không biết và vẫn còn sẵn có cho điều không thể biết và điều huyền bí, và người đang vội vàng có giáo điều, hệ thống niềm tin, triết lí - để cho họ có thể dừng trưởng thành, để cho họ có thể níu bám lấy giáo điều, để cho họ có thể trở thành cuồng tín về giáo điều - những người thường xuyên tìm kiếm chính thống nào đó trong đó chẳng cái gì sẽ thay đổi, đây là những người chết, hèn nhát. Họ không thể trở thành người của tôi được. 63 Tôi đang mang bạn tới một loại tôn giáo khác toàn bộ. Nó chưa bao giờ xảy ra trước đây trong thế giới. Mọi tôn giáo trên thế giới đều là người tin vào thường hằng, tôi tin vào thay đổi. Mọi tôn giáo của thế giới đều theo giáo điều, tôi tuyệt đối phi giáo điều, phản giáo điều. Mọi tôn giáo của thế giới đều thu về các phát biểu triết lí. Khi tôi sẽ mất đi, tôi sẽ để cho bạn một đống lộn xộn thế, không ai sẽ bao giờ có khả năng thu gọn lại điều tôi đã nói, thực sự. Không ai sẽ có khả năng thu nó vào trong một giáo điều. Bạn không thể xác định được tôi, bạn không thể cố định được tôi. Tôi không phải là một vật. Tôi là sông, là mây thường xuyên thay đổi hình dạng của nó. Ý tưởng của tôi về nhất quán được bắt rễ trong sự thay đổi liên tục này, điệu vũ năng động này được gọi là sống. Vâng, với tôi Thượng đế là một vũ công: chuyển động thường xuyên, đó là cái đẹp của Thượng đế. Thực ra tôi không thích gọi Thượng đế là vũ công mà là bản thân điệu vũ, bởi vì ngay cả từ 'vũ công' cũng sẽ là sai. Nó cho ý tưởng về một thực thể nào đó. Nhưng chỉ điệu vũ, chỉ mây.... Có một chuyên luận huyền môn của Ki tô giáo cổ đại, Mây không biết. Không cuốn sách nào khác có tiêu đề hay thế: ‘Mây không biết’. Đó là định nghĩa về Thượng đế: ‘mây’ và ‘không biết’. Bạn không thể làm ra tri thức từ kinh nghiệm về Thượng đế. Thực ra, bạn càng kinh nghiệm Thượng đế, bạn sẽ càng biết ít hơn. Cái ngày Thượng đế đã xảy ra cho bạn một cách toàn bộ, bạn sẽ không được tìm thấy ở đó: người biết đã mất rồi, biến mất rồi, giọt sương đã trượt vào đại dương, hay... đại dương đã trượt vào trong giọt sương. 64 Tôi không bị nặng gánh bởi hôm qua của tôi. Nó đã bị thay đổi bởi hôm nay. Tôi tin vào hiện tại bởi vì không có cách khác để sống. Mọi cách khác đều là cách của chết. Cho nên xin bạn, đừng hỏi về nhất quán. Bạn phải học, bạn phải hiểu cái không nhất quán của tôi. Bạn phải hiểu mâu thuẫn của tôi. Điều cơ sở là ở chỗ các phát biểu của tôi không nói gì về chân lí cả. Phát biểu của tôi chỉ là lời khích. Tôi thôi thúc bạn khám phá, tôi không chuyển giao cho bạn chân lí! Chân lí không phải là thứ được trao cho bạn, nó không phải là món hàng. Nó là không thể truyền trao được. Tôi đơn giản tạo ra ham muốn và khao khát, một khao khát mãnh liệt trong bạn để tìm và kiếm và thám hiểm. Nếu tôi rất nhất quán, bạn sẽ dừng tìm kiếm. Bạn sẽ nghĩ, “Cần gì? Osho biết rồi, mình có thể tin vào ông ấy.” Đó là điều Ki tô giáo đã từng làm, Phật giáo đã từng làm, Jaina giáo đã từng làm. “Phật biết rồi, vậy cần gì? Chúng ta có thể tin. Ông ấy không lừa dối, ông ấy không thể nói dối được. Ông ấy đã phát biểu chân lí. Chúng ta sẽ khám phá chân lí nào thêm nữa? Ông ấy đã nói ra chân lí; chúng ta có thể tin vào nó.” Bạn không cần lo nghĩ về thám hiểm riêng của bạn. Và đây là một trong những điều nền tảng nhất về chân lí: rằng chừng nào nó chưa là của bạn, nó không phải là chân lí. Chân lí của tôi không thể là chân lí của bạn. Không có cách nào. Chân lí của tôi không thể được truyền cho bạn. Chân lí có tính cá nhân tuyệt đối. Mọi điều chư phật đã muốn trao nó cho bạn, tôi muốn nó được trao cho bạn, nhưng không có cách nào. Mọi điều có thể được làm là khích lệ việc truy hỏi trong bạn, một ham muốn vô cùng để biết rằng bạn bỏ mọi hành lí, hành lí không cần thiết, và bạn bắt đầu đi vào trong cuộc hành trình, rằng bạn thu 65 lấy dũng cảm để đi ra khỏi an ninh, thuận tiện, ý thức hệ, triết lí, chính thống của bạn; rằng bạn thu lấy dũng cảm để đi ra khỏi tâm trí bạn và đi vào trong cái không biết. Mây của sự tồn tại, người ta phải biến mất vào trong nó. Cho nên tôi sẽ không ép buộc bạn bằng việc cho bạn giáo điều. Không. Tôi sẽ cứ mâu thuẫn với bản thân tôi từng ngày, mọi khoảnh khắc. Dần dần, dần dần bạn sẽ thấy chẳng ích gì mà bám lấy bất kì ý tưởng nào của tôi. Và trong chính khoảnh khắc đó bạn sẽ trở nên nhận biết: không cần níu bám lấy bất kì ý tưởng nào về bất kì cái gì - của tôi, của Phật, của Jesus, của bất kì ai. Mọi ý tưởng đều phải bị vứt bỏ. Và khi không có ý tưởng trong tâm trí bạn, bạn sẽ thấy Thượng đế ở đó. Khi mọi triết lí đã biến mất, thế thì tôn giáo trào lên trong bản thể bạn như dòng suối. Câu hỏi 4 Tại sao khó hỏi câu hỏi thật thế? Và tại sao tôi cảm thấy ngu xuẩn thế về điều này và bất kì câu hỏi nào khác? Bhagwato, câu hỏi thực không thể được hỏi. Chỉ câu hỏi không thực mới có thể được hỏi. Đó là lí do tại sao bất kì khi nào bạn hỏi một câu hỏi bạn sẽ cảm thấy chút ít ngu xuẩn - bởi vì sâu bên dưới bạn sẽ biết nó là không thực. Và chỉ cái không thực mới có thể được hỏi! Câu hỏi 66 thực không thể được hỏi. Tại sao? - bởi vì tìm ra câu hỏi thực bạn sẽ phải đi sâu thế vào trong bản thể bạn, bạn sẽ phải đi tới chính trung tâm của bản thể bạn. Câu hỏi không thực tồn tại chỉ trên ngoại vi, câu hỏi không thực có cả triệu. Câu hỏi thực chỉ có một, nhưng nó tồn tại ở trung tâm. Nếu bạn muốn hỏi câu hỏi thực bạn sẽ phải đi vào trung tâm của bản thể bạn. Và vấn đề là: khi nào bạn ở trung tâm của bản thể bạn, bạn biết câu hỏi thực, nhưng ngay lập tức bạn biết câu trả lời thực nữa. Câu hỏi thực chứa câu trả lời thực trong nó. Chúng là tức khắc, cùng nhau, đồng thời chúng xảy ra. Cho nên đó là lí do tại sao câu hỏi thực không bao giờ có thể được hỏi. Nếu bạn không biết câu hỏi thực, làm sao bạn có thể hỏi được? Nếu bạn biết câu hỏi thực ngay lập tức bạn biết câu trả lời thực nữa. Chúng không phải là hai điều tách rời mà là hai mặt của cùng một đồng tiền: mặt bên này là câu hỏi thực, mặt bên kia là câu trả lời thực. Nhưng người ta phải hỏi nhiều câu hỏi không thực trước khi trở nên nhận biết về điều này, Bhagwato. Bạn nên cảm thấy được phúc lành rằng bạn đã nhận biết về hiện tượng rằng câu hỏi thực là khó hỏi thế, không thể nào hỏi được. Đây là dấu hiệu tốt, một cột mốc. Ngay cả hỏi “Tại sao khó hỏi câu hỏi thực thế?” đã chỉ ra rằng bạn đang đi theo hướng tới câu hỏi thực. Nó chỉ ra rằng bây giờ bạn có thể xác định ngay lập tức khi nào bạn bắt gặp câu hỏi giả. Bạn đã trở nên có khả năng biết cái giả là cái giả; đây là bước đầu tiên hướng tới biết cái thực là cái thực. Trước khi người ta có thể biết chân lí, người ta sẽ phải biết cái phi chân lí, hoàn toàn và tuyệt đối. Và đó là lí do tại sao bạn nói, “Và tại sao tôi cảm thấy ngu xuẩn thế về điều này và bất kì câu hỏi nào khác?” 67 Mọi câu hỏi đều là câu hỏi ngu xuẩn. Nhưng tôi không nói đừng hỏi chúng. Chỉ bởi việc không hỏi bạn sẽ không trở nên khôn ngoan đâu. Câu hỏi ngu xuẩn phải được hỏi để cho chúng có thể bị loại bỏ, và việc bỏ câu hỏi ngu xuẩn là bỏ tính ngu xuẩn. Và dần dần, dần dần, người ta trở nên nhận biết rằng “Mọi câu hỏi của mình đều vô dụng. Tại sao mình hỏi? Cho dù mình có được câu trả lời, làm sao nó sẽ làm thay đổi cuộc đời mình?” Có lần tôi ở lại trong một làng. Hai ông già tới tôi - một người là người Hindu, người kia là người Jaina. Người Jaina không tin vào sự tồn tại của Thượng đế. Cả hai đều là bạn, gần như bạn cả đời. Cả hai phải đã gần bẩy mươi, và cả hai đã cãi nhau trong cả đời họ - liệu Thượng đế có tồn tại hay không? Người Hindu khăng khăng rằng ngài tồn tại và sẽ trích dẫn Vedas và Upanishads và Gita, còn người Jaina sẽ khăng khăng rằng ngài không tồn tại và sẽ trích dẫn Mahavira và Neminath và Parshwanath và các tirthankaras của người đó. Và họ tranh cãi không kết thúc, bởi vì những câu hỏi này là vô nghĩa thế, vô tích sự thế, bạn có thể cứ cãi nhau mãi - đến vô hạn, không có chấm dứt cho nó. Không ai có thể chứng minh được một cách tuyệt đối, không ai có thể bác bỏ được một cách tuyệt đối. Các câu hỏi là vô dụng hoàn toàn thế. Không cái gì có thể được chứng minh một cách dứt khoát cách này hay cách nọ, cho nên câu hỏi cứ treo đó. Nghe thấy rằng tôi đang ở nhà khách bên ngoài làng, họ tới gặp tôi. Và họ nói, “Cả đời chúng tôi đã trong xung đột. Chúng tôi là bạn bè, trong mọi cách chúng tôi đều là bạn bè, nhưng về vấn đề Thượng đế này chúng tôi lập tức bắt đầu cãi nhau. Và chúng tôi đã cãi nhau cả đời rồi. Bây giờ ông ở đây: cho chúng tôi một câu trả lời dứt 68 khoát đi để cho việc cãi nhau này có thể được dừng lại, và chúng tôi ít nhất có thể chết trong thoải mái.” Tôi hỏi họ, “Nếu điều được chứng minh một cách dứt khoát rằng có Thượng đế, làm sao nó sẽ thay đổi được đời các ông?” Họ nhún vai. Họ nói, “Chúng tôi sẽ sống như chúng tôi vẫn đang sống thôi.” “Hay, nếu điều được chứng minh,” tôi bảo họ, “rằng Thượng đế dứt khoát không tồn tại, làm sao nó sẽ thay đổi đời sống của các ông?” Họ nói, “Nó sẽ không thay đổi cuộc sống của chúng tôi chút nào, bởi vì cả hai chúng tôi đều sống đích xác cùng một cuộc sống. Chúng tôi là đối tác trong kinh doanh. Ông ấy tin vào Thượng đế, tôi không tin vào Thượng đế, nhưng khi có liên quan tới cuộc sống chúng tôi, chúng tôi có cùng hình mẫu. Thượng đế của ông ấy không tạo ra khác biệt gì, không Thượng đế của tôi cũng chẳng tạo ra khác biệt gì.” Thế rồi tôi nói, “Đây là câu hỏi vô tích sự.” Câu hỏi nào là vô tích sự? Câu hỏi có câu trả lời không làm thay đổi trong cuộc sống của bạn, nó là vô dụng. Mọi người hỏi, “Ai tạo ra thế giới?” Làm sao nó sẽ thay đổi cuộc sống của bạn? Bất kì ai - A, B, C, D - bất kì ai; làm sao nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của bạn? “Có cuộc sống sau cái chết không?” - làm sao nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của bạn? Bạn không thể thấy những người hữu thần và người vô thần tất cả đều sống cùng loại cuộc sống, cùng loại cuộc sống mục ruỗng sao? Bạn không thể thấy người Cơ đốc giáo và người cộng sản sống cùng loại cuộc sống - 69 cùng dối trá, cùng giả dối, cùng mặt nạ sao? Bạn không thể thấy người Tin lành và người Cơ đốc giáo sống cùng cuộc sống đó sao? Bạn không thể thấy người Hindu và người Mô ha mét giáo sống cùng cuộc sống, không khác biệt chút nào đó sao? Mọi khác biệt đều chỉ trên lời nói. Không khác biệt lời nói nào tạo ra bất kì khác biệt gì trong sự tồn tại của họ. Họ đã từng thảo luận về những câu hỏi vô dụng. Nhưng tại sao mọi người hỏi các câu hỏi vô dụng? - để né tránh đi vào trong. Họ giả vờ rằng họ là người truy hỏi lớn: họ quan tâm tới Thượng đế, họ quan tâm tới kiếp sau, họ quan tâm tới cõi trời và địa ngục. Và điều thực là ở chỗ họ không quan tâm tới bản thân họ: để né tránh điều đó, để né tránh việc nhìn sự kiện này, rằng “Tôi không quan tâm tới bản thể riêng của tôi,” họ đã tạo ra mọi câu hỏi này. Những câu hỏi này là chiến lược của họ để né tránh câu hỏi trung tâm: “Tôi là ai?” Tôn giáo thực bao gồm trong câu hỏi: “Tôi là ai?” Và không ai khác có thể trả lời được nó. Bạn sẽ phải đào ngày càng sâu hơn vào bản thể bạn. Một ngày nào đó, khi bạn đã đạt tới chính cội nguồn cuộc sống của bạn, bạn sẽ biết. Ngày đó, câu hỏi thực và câu trả lời thực sẽ xảy ra đồng thời. Câu hỏi 5 Tôi thường có khả năng đạt tới trạng thái này - hay dường như giống trạng thái này - điều thầy gọi 'là cây tre hổng' - im lặng, quan sát, trống rỗng. Vấn đề 70 duy nhất là ở chỗ không có phúc lạc trong trống rỗng đó: nó chỉ là cái không. Tôi có thể mong đợi cái gì đó để lấp vào nó một trong những ngày này không? Mariel Strauss, chính bởi vì ý tưởng này mà bạn đang bỏ lỡ toàn thể cái đẹp của tính không rồi: ham muốn này để lấp đầy nó. Bạn không thực là cây tre hổng đâu, bởi vì trong cây tre hổng này ham muốn này vẫn có đó. Và ham muốn này là đủ để lấp đầy cây tre hổng, để chắn cái trống rỗng của nó. Ham muốn này để lấp đầy nó một ngày nào đó, mong đợi này rằng, “Một ngày nào đó, Thượng đế sẽ tới và rót đầy trống rỗng của tôi,” chính ý tưởng này đang ngăn cản bạn khỏi thực sự trở thành cây tre hổng. Vứt ham muốn này đi, quên tất cả về việc rót đầy cây tre hổng của bạn đi - thế thì bạn mới là cây tre hổng. Và khi bạn là cây tre hổng, nó lập tức tràn đầy Thượng đế. Nhưng không phải là bạn phải ham muốn nó. Nếu bạn ham muốn nó, bạn sẽ cứ bỏ lỡ nó. Đây là một trong những điều ngược đời cơ bản cần được hiểu về cuộc truy hỏi tôn giáo. Hiểu nó sâu sắc nhất có thể được đi, để cho nó chìm sâu vào trong tim bạn, bởi vì đây không chỉ là vấn đề của Mariel Strauss đâu, đây là vấn đề của mọi người. Bất kì ai đi vào trong việc tìm chân lí, bản thể, Thượng đế, hay bất kì cái gì bạn gọi nó, sẽ phải bắt gặp nó. Bạn có thể cảm thấy rằng bạn là trống rỗng, nhưng sâu bên dưới, lẩn khuất đâu đó là ham muốn này, hi vọng này, mong đợi rằng “Bây giờ, Thượng đế ở đâu? Đang muộn rồi và tôi vẫn còn là cây tre hổng lâu thế. Phỏng có ích gì? Đây chỉ là cái không.” 71 Có kết án khi bạn nói “Đây là chỉ là cái không.” Bạn không hạnh phúc với tính tre hổng này, bạn không hạnh phúc với cái trống rỗng này. Có kết án. Bạn đã xoay xở bằng cách nào đó, bởi vì bạn đã nghe tôi nói đi nói lại rằng khoảnh khắc bạn là cây trẻ hổng Thượng đế sẽ giáng xuống trong bạn: “Trở thành trống rỗng và bạn sẽ trở thành tràn đầy.” Bạn muốn trở thành đầy, cho nên bạn nói, “Được, chúng tôi sẽ trở thành trống rỗng. Nếu đó là cách duy nhất để trở thành tràn đầy, chúng tôi thậm chí sẽ cố điều đó.” Nhưng đây không phải là trống rỗng thực. Bạn đã không hiểu vấn đề. Tận hưởng trống rỗng, yêu mến nó, nuôi dưỡng nó đi. Để cho trống rỗng của bạn trở thành điệu vũ, việc mở hội. Quên tất cả về Thượng đế đi - tới hay không tới là việc của ngài. Sao bạn phải lo nghĩ? Để chuyện đó cho ngài đi! Và khi bạn đã hoàn toàn quên về Thượng đế ngài tới, ngay lập tức ngài tới. Ngài bao giờ cũng tới khi bạn hoàn toàn vô nhận biết về việc tới của ngài, bạn thậm chí không nghe thấy tiếng bước chân của ngài. Khoảnh khắc này ngài không có đó, và đột nhiên khoảnh khắc khác ngài có đó. Nhưng trống rỗng của bạn phải là toàn bộ. Và trống rỗng toàn bộ nghĩa là không mong đợi, không tương lai, không ham muốn. Bạn nói, “Tôi thường có khả năng đạt tới trạng thái...” Bạn phải ép buộc nó rồi, bạn phải cố gắng vất vả, bạn phải trau dồi nó, bạn phải tưởng tượng nó. Nó là việc tưởng tượng, nó không phải là thật. “... hay điều dường như là trạng thái...” Và sâu bên dưới bạn cũng biết rằng nó không phải là trạng thái thực. Bạn đã xoay xở bằng cách nào đó để 72 tạo ra một loại trống rỗng bên trong bản thân bạn. Nó là trống rỗng bị bắt buộc. “... điều thầy gọi ‘là cây tre hổng’ - im lặng, quan sát, trống rỗng....” Nó không phải là điều tôi gọi là trạng thái của việc là cây tre hổng đâu. Nó không phải vậy. Nếu mà nó vậy, thế thì đã không có ham muốn về Thượng đế rồi, bởi vì không có ham muốn. Không thành vấn đề bạn ham muốn gì. Thượng đế, tiền, quyền, danh, điều đó không thành vấn đề. Ham muốn là ham muốn, vị của nó bao giờ cũng là một: ham muốn dẫn bạn đi xa khỏi hiện tại, khỏi ở đây bây giờ vào trong tương lai, ở đâu đó khác; ham muốn không cho phép bạn thảnh thơi trong khoảnh khắc này. Nó đem bạn đi xa khỏi bản thể bạn. Cho nên điều bạn ham muốn không thành vấn đề: bạn có thể ham muốn quyền tổng thống của một nước, hay bạn có thể ham muốn tiền, hay bạn có thể ham muốn tính thánh thiện, hay bạn có thể ham muốn Thượng đế, bạn có thể ham muốn chân lí - ham muốn là ham muốn. Ham muốn nghĩa là bạn bị giằng ra giữa cái bạn đang là và cái bạn muốn là. Nỗi đau khổ này, nỗi lo âu này, và nỗi lo âu này sẽ không cho phép bạn trở thành cây tre hổng. Là cây tre hổng nghĩa là: trạng thái vô ham muốn. Thế thì bạn hoàn toàn trống rỗng, và thế thì cái trống rỗng đó có sáng tỏ trong nó, thế thì cái trống rỗng đó có huy hoàng trong nó, thuần khiết trong nó. Thế thì cái trống rỗng đó có phẩm chất linh thiêng cho nó. Nó thuần khiết, nó hồn nhiên tới mức bạn sẽ không gọi nó là ‘chỉ trống rỗng’ hay ‘chỉ cái không’. Cái trống rỗng đó là bản thân Thượng đế! Một khi bạn trống rỗng, một khi bạn ở đây bây giờ, không ham muốn đem bạn đi xa khỏi thực tại 73 của bạn, Thượng đế hiện hữu. Thượng đế nghĩa là ‘cái đang vậy’. Thượng đế đã là hoàn cảnh rồi; tâm trí ham muốn của bạn không cho phép bạn nhìn thấy nó. Tâm trí ham muốn của bạn làm cho bạn thành con khỉ: bạn cứ nhảy từ cành nọ sang cành kia. Bạn cứ nhảy, bạn chưa bao giờ trong trạng thái nghỉ ngơi. Ham muốn này và ham muốn kia, và ham muốn này tạo ra ham muốn khác, và nó là sự liên tục. Khi không có ham muốn bạn có thể đi đâu? Khi không có ham muốn tương lai ở đâu? Khi không có ham muốn thời gian ở đâu? Quá khứ ở đây? Khi không có ham muốn tâm trí ở đâu? Kí ức ở đâu? Tưởng tượng ở đâu? Tất cả đều mất! Cứ chặt một cái rễ là rễ chính của cây tâm trí mà xem: chặt ham muốn, và chỉ hiện hữu. Trong trạng thái đó của hiện hữu bạn là cây tre hổng. Và khoảnh khắc bạn là cây tre hổng, thực tại bùng phát lên bạn! Dường như nó bao giờ cũng chờ đợi nhưng bạn lại không sẵn có cho nó: nó làm ngập lụt bạn! Câu hỏi 6, câu hỏi cuối cùng. Sống chẳng phải kì lạ hơn hư cấu sao? Nó vậy đấy. Nó phải vậy, bởi vì hư cấu chỉ là phản xạ bộ phận của sống, một phản xạ rất hữu hạn của sống. Sống là phức tạp vô hạn. Sống không có bắt đầu, không kết thúc; nó bao giờ cũng tiếp diễn, nó sẽ cứ tiếp diễn mãi. Nó là cuộc hành hương không mục đích. 74 Hư cấu chỉ là phản xạ của một phần nhỏ của nó. Hư cấu giống như cửa sổ nhỏ trong phòng bạn. Vâng, khi trời đầy sao, bạn thấy một phần của bầu trời qua cửa số, nhưng bầu trời trở nên bị đóng khung bởi cửa sổ. Bản thân trời không có khung cho nó - nó là vô hạn, nó không biết tới biên giới - nhưng cửa sổ của bạn cho nó cái khung. Hư cấu là một phần có khung của bầu trời. Dù hư cấu có thể kì lạ, bí ẩn, không tin được đến thế nào, nó vẫn rất mờ nhạt khi so với cuộc sống thực. Cuộc sống thực là bí ẩn của các bí ẩn... chưa bao giờ có thể giải thích được nó. Và hư cấu nảy sinh ra từ tâm trí con người. Tâm trí là tấm gương: nó phản xạ vài thứ. Nếu bạn có gương tốt, gương sáng tạo, bạn có thể tạo ra thơ ca, bạn có thể tạo ra âm nhạc, bạn có thể tạo ra hư cấu, bạn có thể viết, bạn có thể vẽ. Nhưng mọi điều bạn sẽ vẽ và mọi điều bạn sẽ tạo ra và mọi điều bạn sẽ viết sẽ vẫn còn là một phần nguyên tử rất tí hon của thực tại - và không thực là một phần mà chỉ là phản xạ của một phần, trong tâm trí bạn. Nhìn cuộc sống như nó vậy, là thổi bay tâm trí. Nhìn cuộc sống như nó vậy, là phiêu diêu. Nhìn cuộc sống như nó vậy, là trở nên được mở rộng trong tâm thức. Hư cấu phải bắt đầu ở đâu đó. Do sự cần thiết, nó phải bắt đầu ở đâu đó. Nó sẽ phải có trang đầu và ở đâu đó nó phải có kết thúc, nó không thể tiếp diễn mãi được. Bạn có thể kéo dài nó, làm cho nó thành rất dài, như Chiến tranh và Hoà bình của Tolstoy. Và nó rất rất mệt mỏi và dài dòng. Nhưng dầu vậy một khoảnh khắc tới khi bạn phải đặt dấu chấm hết cuối cùng. Bạn không thể tiếp tục mãi mãi được. Nhưng cuộc sống cứ diễn ra mãi mãi. Con sóng này biến thành con sóng khác, cây này tạo ra cây khác, người 75