🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Báo Cáo 10 Năm Thực Hiện Cương Lĩnh 2011 Ebooks Nhóm Zalo LỜI NHÀ XUẤT BẢN Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh 1991 có giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước ta. Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc. Nhiều vấn đề mới nảy sinh từng bước được Đảng ta nhận thức và giải quyết có hiệu quả; nhiều vấn đề liên quan đến Cương lĩnh đã có nhận thức mới, sâu sắc hơn; quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng rõ hơn; đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần được giải đáp. Vì vậy, Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Trong 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng ngày càng được hiện thực hóa; việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp đạt kết quả quan trọng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân 5 có bước tiến rõ; quyền dân chủ được Hiến pháp khẳng định và thực hiện tốt hơn; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đạt những thành tựu quan trọng; quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu; tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững chủ quyền biên giới, lãnh thổ, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; công tác xây dựng Đảng được triển khai đồng bộ, toàn diện; việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo quyết liệt, đạt nhiều kết quả thiết thực… Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn những mặt hạn chế cả trong nhận thức lẫn trong hoạt động thực tiễn dẫn đến một số mục tiêu đề ra trong Cương lĩnh 2011 chưa thực hiện được và những vấn đề mới đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu. Chính vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ đạo xây dựng “Báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011” nhằm tổng kết về lý luận và thực tiễn sự lãnh đạo của Đảng sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011. Báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011 là kết quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có nội dung phong phú, tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản về quan điểm, đường lối, chiến lược của cách mạng nước ta. Thực hiện ý kiến của Thường trực Ban Bí thư về việc xuất bản Báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản Báo cáo này tới cán bộ, đảng viên. Tháng 3 năm 2020 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 6 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG Khoá XII ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Hà Nội, ngày 09 tháng 3 năm 2020 BÁO CÁO 10 NĂM THỰC HIỆN CƯƠNG LĨNH 2011 I- BỐI CẢNH THỰC HIỆN CƯƠNG LĨNH 2011 1. Bối cảnh quốc tế 2011-2020 Sau khủng hoảng (năm 2008), kinh tế thế giới phục hồi, nhưng chậm và không ổn định. Các nước lớn thực hiện nhiều điều chỉnh chiến lược toàn diện, đẩy mạnh cải cách trên nhiều lĩnh vực, trong đó tập trung vào việc điều chỉnh cơ cấu để thiết lập lại nền tảng cho sự phát triển bền vững. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự trỗi dậy của các nước mới nổi và sự suy yếu tương đối của các nước phát triển. Các cường quốc mới nổi, nhất là Trung Quốc, và các nước Nga, Ấn Độ, ngày càng có ảnh hưởng đến các vấn đề toàn cầu. 7 Hoà bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn của thế giới. Tuy nhiên, xung đột vũ trang, xung đột văn hoá, sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên tiếp tục diễn ra phức tạp. Các thể chế toàn cầu suy giảm vai trò, xuất hiện những liên kết mới, những cơ chế đa phương mới đan xen với các thể chế hiện hành. Một số định chế toàn cầu và khu vực như UN, WTO, EU, ASEAN, APEC... đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới để đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi, xu thế phát triển và tương quan lực lượng mới trên thế giới. Việc các nước, nhất là các nước phát triển, giảm cam kết đối với một số cơ chế đa phương đã tạo ra những thách thức mới cho các tổ chức quốc tế và khu vực. Xu hướng toàn cầu hoá và mở cửa nền kinh tế vẫn tiếp tục, song đứng trước những thách thức mới, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn đối với thương mại, đầu tư quốc tế. Xu hướng toàn cầu hoá đi vào chiều sâu, với việc ký kết những Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, sự liên thông ngày càng cao của các thị trường tài chính toàn cầu. 8 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đang diễn ra mạnh mẽ; tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong sự phát triển. Đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển mới đang tạo ra những đột phá trong nhiều lĩnh vực. Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu khách quan đối với các nền kinh tế. Nhờ thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và đổi mới công nghệ, các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận và gia nhập các mạng sản xuất toàn cầu. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, nhất là các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, bất bình đẳng giàu nghèo, già hoá dân số,... Ngoài ra, những biến đổi của cục diện thế giới với sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước lớn, nhất là cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gay gắt, phức 9 tạp. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Đặc biệt, Biển Đông trở thành điểm nóng của bàn cờ chính trị quốc tế do tranh chấp chủ quyền và sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc. 2. Bối cảnh trong nước 2011-2020 Toàn Đảng, toàn dân tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, XII của Đảng, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện ba đột phá chiến lược và đã đạt được những kết quả quan trọng. Cải cách hành chính được đẩy mạnh, môi trường kinh doanh từng bước cải thiện, kết cấu hạ tầng được nâng cấp, chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng cao. Những năm đầu, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tăng trưởng kinh tế rơi xuống mức thấp nhất. Những năm gần đây, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tỷ lệ lạm phát giảm mạnh; nợ công và bội chi ngân sách giảm; cán cân thương mại bắt đầu có thặng dư. 10 Nói chung, nền kinh tế đang có những bước chuyển biến tích cực. Văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển và đạt được những kết quả quan trọng, nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập, gây bức xúc trong nhân dân. Hiến pháp 2013 thể chế hoá Cương lĩnh 2011, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, chống tham nhũng, lãng phí... được đẩy mạnh và quyết liệt hơn, đạt được những kết quả quan trọng, nổi bật. Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh. Việt Nam đã tổ chức nhiều sự kiện quốc tế lớn, ký kết những hiệp định thương mại tự do quan trọng1; ___________ 1. Các hiệp định: Hiệp định Thương mại tự do với Chilê năm 2014, với Hàn Quốc năm 2015; Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA) năm 2016; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2019; và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã ký kết vào ngày 30/6/2019. 11 các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh tế cho Việt Nam trong thời gian tới. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông, quốc phòng, an ninh tiếp tục được tăng cường, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Các tác động tiêu cực của Internet, mạng viễn thông, mạng xã hội, lại bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, đã tác động xấu đến một bộ phận xã hội, nhất là ở giới trẻ. Tình hình thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, bất thường tại nhiều vùng, ngày càng nghiêm trọng hơn cả về cường độ và tần suất, gây thiệt hại nặng nề, để lại hậu quả lâu dài, tác động lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. II- NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN 10 NĂM THỰC HIỆN CƯƠNG LĨNH 2011, NHÌN LẠI 30 NĂM THỰC HIỆN CƯƠNG LĨNH 1991 1. Những vấn đề chung về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Cương lĩnh 2011 kế thừa, bổ sung, phát triển những nội dung cơ bản của Cương lĩnh 1991, trình 12 bày những vấn đề căn cốt nhất, những nguyên tắc và định hướng căn bản nhất trong đường lối xây dựng, bảo vệ đất nước trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội với tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI. Từ năm 2011 đến nay, các văn kiện Đảng đã quán triệt, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời không ngừng cụ thể hoá, làm phong phú, sâu sắc hơn nội dung của Cương lĩnh, tiếp tục làm sáng rõ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhận thức về bối cảnh quốc tế trong thế giới đương đại: Từ những dự báo, nhận định tổng quát, được trình bày trong Cương lĩnh 2011, Đảng đã tiếp tục cập nhật những động thái, xu hướng, diễn biến mới ở khu vực, quốc tế, nhất là sự điều chỉnh chiến lược và sự cạnh tranh, đấu tranh quyết liệt giữa các nước lớn; sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa bảo hộ... trong khi xu thế toàn cầu hoá vẫn tiếp tục phát triển; sự gia tăng các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống; sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư...; đồng thời phân 13 tích những tác động thuận, không thuận đến nước ta để chủ động ứng phó. Về 8 đặc trưng của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa được xác định trong Cương lĩnh 2011: Những năm qua, Đảng nhận thức sâu sắc hơn nội hàm của từng đặc trưng và mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc trưng. Nổi bật là nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa, về vai trò và quyền làm chủ của nhân dân; về vị trí trung tâm của kinh tế - xã hội, về phát triển kinh tế nhanh, bền vững, chú trọng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; về vai trò nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh của văn hoá, vai trò chủ thể, động lực phát triển của con người; về vai trò, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; về sự gắn bó dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế. Đảng cũng nhận thức sâu sắc hơn thời cơ, thách thức đối với đất nước để tính toán các bước đi, thiết kế các hình thức tổ chức kinh tế, xã hội quá độ phù hợp với yêu cầu, điều kiện của từng thời đoạn. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện 14 đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định trong Cương lĩnh 2011 là định hướng quan trọng. Đại hội XI, XII và các hội nghị Trung ương (đặc biệt là các hội nghị Trung ương 5, 7, 8 khoá XII) đã cụ thể hoá mục tiêu, tiêu chí, chỉ tiêu phấn đấu qua chiến lược phát triển 10 năm, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, với tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI. Về các phương hướng cơ bản, trong 10 năm qua, bám sát 8 phương hướng cơ bản nêu trong Cương lĩnh 2011, Đảng đã cụ thể hoá, bổ sung, làm sáng tỏ hơn phương hướng phát triển đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được tiếp cận theo tư duy mới gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; nhấn mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; chú trọng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh; phát triển nhanh, bền vững. Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập, bảo đảm độc lập, tự chủ đồng thời chủ động, tích cực hội nhập 15 quốc tế. Phương hướng xây dựng văn hoá, con người; phát triển xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng và chỉnh đốn Đảng... được cụ thể hoá, bổ sung về nhận thức, ngày càng hoàn thiện, phong phú hơn. Đặc biệt, quan hệ gắn bó giữa 8 phương hướng cơ bản đã được Đảng nhận thức một cách khoa học theo tư duy tổng thể: "Thời kỳ mới đòi hỏi phải phát triển đất nước toàn diện, đồng bộ hơn về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hoá, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên". Về các mối quan hệ lớn, Cương lĩnh 2011 nhấn mạnh, trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn giữa: đổi mới, ổn định và phát triển; đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; kinh tế thị trường và định hướng xã hội 16 chủ nghĩa; phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đây là sự khái quát ở tầm lý luận những vấn đề cốt lõi phản ánh quy luật vận động của cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới. Trong quá trình thực hiện Cương lĩnh 2011, trên cơ sở bám sát thực tiễn đổi mới, Đảng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc nhận thức, giải quyết các mối quan hệ lớn, đồng thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu mới. Văn kiện Đại hội XII của Đảng điều chỉnh quan hệ "giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa" thành "giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa", bổ sung mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Nghị quyết Trung ương 5 khoá XII phát triển mối quan hệ "giữa Nhà nước và thị trường" thành "giữa Nhà nước, thị trường và xã hội". 17 2. Về phát triển kinh tế Về nhận thức: Qua 10 năm (2011 - 2020), nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được bổ sung, phát triển, ngày càng hoàn thiện. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được nhận thức là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đó là nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo vệ. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. 18 Đó là nền kinh tế có sự phát triển đầy đủ các yếu tố thị trường và các loại hình thị trường, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển; là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Đó là nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; không ngừng củng cố, nâng cao tiềm lực kinh tế của đất nước, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn mạnh; đồng thời, tham gia tích cực vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định thương mại, đầu tư song phương, đa phương, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước. Chủ động có giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài vào kinh tế đất nước. Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường thể hiện ở vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản 19 Việt Nam lãnh đạo; ở mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"; ở quan hệ sở hữu, phương thức tổ chức quản lý, quan hệ phân phối để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, ngăn ngừa, giảm thiểu các khuyết tật, tác động tự phát của cơ chế thị trường, gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế trong từng giai đoạn; thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia và hưởng thụ thành quả phát triển. 10 năm qua, nhận thức của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã có những phát triển mới cả về nội dung và phương thức thực hiện; phù hợp với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế; gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển đất nước nhanh, bền vững cả kinh tế, xã hội, môi trường. 20 Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao trong từng doanh nghiệp, từng ngành, lĩnh vực; cơ cấu lại đầu tư, hệ thống thị trường, cơ cấu lại các doanh nghiệp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động từ những ngành, lĩnh vực có năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp sang những ngành, lĩnh vực có năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và thế giới. Tập trung phát triển những ngành công nghiệp có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; có khả năng tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp cơ khí, điện tử, hoá chất, công nghiệp năng lượng tái tạo, sản xuất vật liệu mới, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp quốc phòng, an ninh, công nghiệp hỗ trợ; từng bước phát 21 triển công nghiệp sinh học, công nghiệp văn hoá, công nghiệp môi trường. Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, có giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý. Có chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất thích hợp, hiệu quả, thu hút mạnh các nguồn đầu tư phát triển nông nghiệp, từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao. Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân ở nông thôn. Phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại, nhất là các ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, logistic, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất khác. Đổi mới, hoàn thiện thể chế để phát triển các dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá, thông 22 tin, thể thao, dịch vụ việc làm. Phát triển mạnh hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ trong nước, tham gia vào mạng phân phối toàn cầu. Hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế. Phát triển mạnh kinh tế biển: công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí; đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá; kinh tế hàng hải (đóng và sửa chữa tàu, vận tải biển, dịch vụ cảng biển); du lịch biển, đảo; phát triển năng lượng tái tạo và các khu kinh tế ven biển. Có cơ chế thu hút mạnh các nguồn lực để phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên biển, đảo một cách bền vững. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại, trọng tâm là hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hạ tầng thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu; hạ tầng đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị hiện đại. 23 Về thực tiễn: Qua 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, nền kinh tế nước ta đã đạt được những kết quả to lớn, quan trọng. Đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được thể chế hoá trong Hiến pháp 2013 và nhiều luật, văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước. Môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được hoàn thiện, công khai, minh bạch, thông thoáng, thuận lợi hơn, bình đẳng hơn. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đạt nhiều kết quả tích cực. Các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp tiếp tục phát triển đa dạng. Việc đổi mới, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh; kinh tế tập thể được đổi mới, tiếp tục phát triển; kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng, có bước phát triển nhanh, có vai trò ngày càng lớn 24 trong nền kinh tế; thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả tích cực1. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường tiếp tục phát triển, thị trường trong nước ngày càng gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Hầu hết giá cả hàng hoá, dịch vụ do thị trường xác định, giá cả do Nhà nước quy định ngày càng thu hẹp; đấu thầu cạnh tranh, công khai, minh bạch để xác định giá cả và phân bổ nguồn lực trở thành phổ biến; quan hệ cung - cầu đóng vai trò chủ yếu trong luân ___________ 1. Năm 2011, cả nước có 324.691 doanh nghiệp; trong đó có 3.265 doanh nghiệp nhà nước (1%), 312.416 doanh nghiệp ngoài nhà nước (96,2%) và 9.010 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (2,8%). Đến hết năm 2017, số doanh nghiệp cả nước là 560.417 doanh nghiệp, bằng 1,7 lần năm 2011; trong đó, doanh nghiệp nhà nước là 2.486 (0,4%), doanh nghiệp ngoài nhà nước là 541.756 (96,7%), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 16.178 (2,9%) (Niên giám Thống kê 2018, tr.317). Năm 2011, đóng góp của các thành phần kinh tế vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) là: kinh tế nhà nước: 29,01%, kinh tế tập thể: 3,98%, kinh tế tư nhân: 39,89%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: 15,66%,... Đến năm 2018, đóng góp vào GDP của kinh tế nhà nước là 27,67%, kinh tế tập thể là 3,74%, kinh tế tư nhân là 42,08%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 19,63%... 25 chuyển hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Các thị trường phát triển về quy mô, vận hành ngày càng thông suốt, phương thức giao dịch ngày càng hiện đại1. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ năm 2011 là 203,655 tỷ USD, năm 2019 đạt 517 tỷ USD, tăng hơn 2,5 lần. Thị trường tài chính, tiền tệ phát triển nhanh, quy mô ngày càng lớn, cơ cấu ngày càng hoàn chỉnh, phương thức giao dịch ngày càng hiện đại2. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. 10 năm qua, Việt Nam đã đàm phán, ký kết nhiều hiệp định thương mại, đầu tư song phương, đa phương, trong đó có nhiều hiệp định thương mại tự ___________ 1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cả nước theo giá hiện hành năm 2011 là 2.079,5 nghìn tỷ đồng; năm 2018 ước tăng hơn 2,1 lần so với năm 2011, đạt 4.416,6 nghìn tỷ đồng (Niên giám Thống kê 2018, tr.601). 2. Tổng tài sản của các ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng gấp hơn 2 lần GDP của đất nước, cung ứng 90% nhu cầu vốn của nền kinh tế. Quy mô thị trường chứng khoán năm 2018 cũng vượt GDP của nền kinh tế; trong đó, thị trường cổ phiếu bằng khoảng 75% GDP, thị trường trái phiếu chính phủ bằng khoảng 27% GDP, trái phiếu doanh nghiệp bằng khoảng 7% GDP. 26 do thế hệ mới, mức độ cam kết cao, nhiều lĩnh vực, với nhiều đối tác kinh tế lớn trên thế giới1. Việt Nam đã tham gia, trở thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại khu vực và thế giới, như WB, IMF, ADB, WTO, APEC, ASEAN, khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)... Hội nhập kinh tế quốc tế tạo nhiều thuận lợi, cơ hội cho kinh tế đất nước đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, thu hút vốn, công nghệ nước ngoài, tạo việc làm, phát triển kinh tế đất nước. Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước, quan hệ thương mại với 220 nước và vùng lãnh thổ. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Cơ cấu lại đầu tư đã chuyển căn bản từ kế hoạch đầu tư công hằng năm sang kế hoạch đầu tư công trung hạn. Tình trạng đầu tư dàn trải, nợ đọng xây ___________ 1. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Đối tác Toàn diện khu vực (RCEP); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Việt Nam - Hàn Quốc,... 27 dựng cơ bản giảm xuống. Các dự án trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Thị trường tài chính được cơ cấu lại hợp lý hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, giữa các thị trường cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp. Quy mô thị trường chứng khoán tăng nhanh. Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu có kết quả tích cực, bảo đảm an toàn hệ thống. Cơ cấu lại, thoái vốn, cổ phần hoá, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Các ngành, lĩnh vực kinh tế đều được cơ cấu lại, có bước phát triển tích cực. Tăng trưởng kinh tế đã giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, tăng vốn đầu tư. Công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng khẳng định vai trò dẫn dắt và động lực tăng trưởng. Nông nghiệp phát triển ổn định, từng bước chuyển đổi cơ cấu sản xuất; phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Xây dựng nông thôn mới được đẩy 28 mạnh. Các ngành dịch vụ phát triển nhanh, đa dạng, chất lượng và năng lực cạnh tranh được nâng lên. Các dịch vụ bưu chính, viễn thông, logistic, tài chính, ngân hàng, vận tải, thương mại, thương mại điện tử, khoa học và công nghệ, tư vấn pháp lý... đều phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm xây dựng, nhiều công trình, dự án kết cấu hạ tầng, nhất là các công trình giao thông quan trọng, như các tuyến đường cao tốc, cảng hàng không, cảng biển được đầu tư xây dựng, đưa vào khai thác sử dụng. Hệ thống hạ tầng năng lượng, thuỷ lợi được đầu tư xây dựng, nâng cấp; hạ tầng thông tin, truyền thông phát triển nhanh theo hướng hiện đại. Hạ tầng đô thị, nhất là ở các đô thị lớn, như các trục giao thông chính, các đường vành đai, đường sắt đô thị, đường tàu điện ngầm, hệ thống điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải... được tập trung đầu tư, phát triển. GDP năm 2020 ước đạt gần 300 tỷ USD, tăng gần 2,6 lần so với GDP năm 2010 là 116 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt hơn 29 3.000 USD, so với năm 2010 là 1.332 USD, tăng gần 2,5 lần. Chất lượng tăng trưởng có bước cải thiện1. Tuy nhiên, về mặt nhận thức, đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chưa được làm rõ, như vai trò và định hướng phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vai trò của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, của kinh tế tập thể, của kinh tế tư nhân, của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, của kinh tế có sở hữu hỗn hợp. Còn có những nội dung chưa được làm rõ về vai trò, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, như: trong huy động, phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển; trong quyết ___________ 1. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng lên. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế (theo GDP) tăng từ 33,6% giai đoạn 2011-2015 lên 46,11% giai đoạn 2016-2019. Chỉ số hiệu quả đầu tư (ICOR) giảm từ 6,25 giai đoạn 2011-2015 xuống 6,14 giai đoạn 2016-2019. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. 30 định giá cả, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp, các loại thị trường, điều tiết lưu thông hàng hoá, dịch vụ, sản xuất và tiêu dùng xã hội; trong phát huy vai trò tích cực, khắc phục những hạn chế, khuyết tật của cơ chế thị trường và quản lý nhà nước. Các mối quan hệ khác cũng còn những nội dung chưa được nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn, như: mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế; mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Về thực tiễn: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được hoàn thiện, tổ chức thực hiện chưa nghiêm, hiệu lực và hiệu quả chưa cao. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thật sự thông thoáng, còn nhiều "điểm nghẽn", trở ngại 31 do sự chồng chéo, mâu thuẫn trong luật pháp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; các thủ tục hành chính phiền hà, "lợi ích nhóm" và sự nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức... gây rất nhiều khó khăn, làm mất thời cơ, thời gian, tiền bạc của doanh nghiệp và người dân. Huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực còn chưa theo cơ chế thị trường, kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí còn lớn, nhất là trong một số công trình, dự án trọng điểm quốc gia. Chưa hình thành, phát triển được những ngành công nghiệp mũi nhọn, thực sự là nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Kinh tế nhà nước chưa thể hiện được vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể phát triển chậm, kinh tế tư nhân chưa trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thiếu liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết. Sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội còn chưa chặt chẽ. 32 Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực hiện còn chậm, kết quả đạt được còn hạn chế. Thoái vốn, cổ phần hoá, đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước chưa đạt mục tiêu đề ra. Đầu tư công còn dàn trải, tình trạng kéo dài, đội vốn, chất lượng thấp, tham nhũng, lãng phí chưa được khắc phục. Giải quyết nợ xấu và những yếu kém trong hệ thống ngân hàng thương mại còn chậm. Cơ cấu thu, chi ngân sách nhà nước còn chậm chuyển biến, nợ công còn cao; hiệu lực, hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách, tài sản công... chưa cao. Cơ cấu lại các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ chưa tạo được chuyển biến căn bản. Nông nghiệp phổ biến còn là sản xuất nhỏ, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, bấp bênh, thiếu ổn định. Nhiều ngành công nghiệp có trình độ công nghệ thấp so với thế giới; tỷ lệ nội địa hoá còn thấp, tỷ lệ gia công, lắp ráp còn cao; tham gia vào chuỗi giá trị ở những phân khúc công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Khu vực dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Các dịch vụ công nghệ cao phát triển còn chậm, chi phí logistic 33 cao hơn mức trung bình thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, thiếu tính kết nối, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người thấp, Việt Nam vẫn là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. 3. Về văn hoá, xã hội và con người (1) Về xây dựng nền văn hoá và phát triển con người Về nhận thức: Tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của văn hoá đối với sự phát triển của đất nước. Cương lĩnh 2011 chỉ rõ: "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ". Văn kiện Hội nghị Trung ương 9 khoá XI nêu rõ: "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hoá phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội", trong mối quan hệ tổng thể, biện chứng, hữu cơ với sự phát triển bền vững đất nước. 34 Nhận thức về chức năng xã hội của văn hoá cụ thể hơn, quan tâm hơn các chức năng về giải trí, kinh tế của văn hoá. Xác định xây dựng thị trường văn hoá lành mạnh, phát triển công nghiệp văn hoá là một trong những mục tiêu quan trọng cả trước mắt và lâu dài, điều kiện để góp phần tăng cường sức mạnh mềm của dân tộc, mở rộng ảnh hưởng văn hoá Việt Nam ra bên ngoài. Nhìn tổng quát, sự phát triển về nhận thức của Đảng được thể hiện thống nhất, xuyên suốt, vừa mang tính kế thừa, phát triển, vừa mang tính tổng thể, toàn diện, bao quát không chỉ trong lĩnh vực văn hoá mà còn lan toả và thể hiện rõ tác động của văn hoá với chính trị và kinh tế, vừa thể hiện bản sắc của văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Nhận thức lý luận về nhân tố con người, vị trí, vai trò của con người cũng có nhiều điểm mới. Cương lĩnh 2011 xác định: "Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển". Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 khẳng định: "Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là 35 chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển". Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, xác định: "Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hoá. Trong xây dựng văn hoá, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo". Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển". Trên thực tế, nhận thức chung của các cấp uỷ đảng, chính quyền và nhân dân về vị trí, vai trò của văn hoá và phát triển con người được nâng lên rõ rệt; công tác chỉ đạo, phối hợp, tổ chức thực hiện đã có những đổi mới, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Nhiều giá trị mới về văn hoá được bổ sung, phát triển. Môi trường pháp lý được tăng cường... Việc chăm lo, xây dựng con người cũng thu được nhiều kết quả tích cực. Nhiều chỉ số phát triển con người Việt Nam, như tuổi thọ, cơ cấu dân số, nguồn lực 36 con người, xoá đói, giảm nghèo chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh được coi vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều tỉnh, thành phố, cơ quan, công sở đã ban hành quy chế, nội quy, các quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, ứng xử nơi công cộng, quan tâm tới sự hài lòng của người dân trong thực thi công vụ. Xây dựng văn hoá trong nhà trường, gia đình cũng được quan tâm. Bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá, hoạt động nghệ thuật biểu diễn, sáng tạo đều được quan tâm, phát triển; xuất hiện một số tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, mang ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Hệ thống thư viện, bảo tàng tiếp tục được đầu tư, từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất. Các hội văn học nghệ thuật phát triển cả về số lượng và chất lượng. Công tác nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật từng bước được củng cố. Hệ thống báo chí, thông tin truyền thông đã được quy hoạch lại một bước. Tỷ lệ người dùng điện 37 thoại thông minh và Internet ở Việt Nam ngày càng tăng. Việc hoàn thiện thể chế, thiết chế văn hoá tiếp tục được quan tâm, tăng cường đầu tư, nâng cao hiệu quả trên thực tế. Hợp tác, giao lưu quốc tế được quan tâm mở rộng. Tuy nhiên, nhận thức về phát triển văn hoá và con người còn nhiều hạn chế, chưa quán triệt sâu sắc và đầy đủ về vị trí, vai trò của văn hoá đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chưa thấy hết vai trò của văn hoá với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm, là động lực để phát triển bền vững đất nước; việc triển khai thực hiện đường lối của Đảng về văn hoá, con người chậm và chưa toàn diện. Chưa thực sự coi văn hoá ngang bằng với chính trị, kinh tế, xã hội. Việc thể chế hoá mối quan hệ giữa văn hoá với chính trị, kinh tế, xã hội còn lúng túng, chậm hơn so với nhu cầu thực tiễn. Thiếu các tiêu chí cụ thể về xây dựng văn hoá trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, trong doanh nghiệp...; đầu tư cho hoạt động văn hoá chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức về mối quan hệ giữa xây dựng văn hoá để phát triển con người và xây dựng con người 38 nhằm phát triển văn hoá chưa đầy đủ, rõ ràng. Vấn đề xây dựng hệ giá trị chuẩn mực, cụ thể hoá các đặc trưng văn hoá dân tộc, đặc tính con người Việt Nam chưa kịp thời, ảnh hưởng tới việc định hướng giá trị, giáo dục truyền thống và chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay. Trong thực tiễn, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và trong nhân dân còn diễn biến phức tạp, gây bức xúc dư luận xã hội. Tình trạng thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, vi phạm đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp ở một số cơ quan, trong đó có cả các lĩnh vực được xã hội tôn vinh, như giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh chậm được khắc phục, thậm chí có mặt còn tăng lên. Bạo lực gia đình, bạo lực học đường và trong xã hội chưa được ngăn chặn kịp thời. Tác động phức tạp của Internet, đặc biệt là mạng xã hội Facebook và Google trong không ít trường hợp làm mất an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến giáo dục lớp trẻ. Chất lượng và hiệu quả một số hoạt động văn hoá còn hạn chế. Công tác bảo tồn các di sản còn 39 bị động; việc xây dựng, khai thác các thiết chế văn hoá chưa hiệu quả, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, giáo dục đạo đức, nhân cách con người còn nhiều bất cập. Chất lượng sáng tạo, giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ, giáo dục lý tưởng cách mạng trong không ít tác phẩm còn mờ nhạt. Hợp tác quốc tế về văn hoá chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, hiệu quả thấp. Công tác nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật còn lạc hậu, chưa đủ sức định hướng, điều chỉnh các hoạt động văn học, nghệ thuật một cách hiệu quả. Giáo dục thẩm mỹ, đạo đức, lối sống trong thanh niên, thiếu niên chưa được quan tâm đúng mức. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc còn nhiều hạn chế. Quản lý an ninh mạng, mạng xã hội còn nhiều bất cập. Chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá triển khai chậm; một số lĩnh vực nghệ thuật truyền thống, sân khấu, điện ảnh gặp nhiều khó khăn trong hoạt động. Hệ thống các thiết chế văn hoá truyền thống, văn hoá mới chưa được phát huy 40 đầy đủ, chất lượng chưa cao, cá biệt có nơi còn hình thức, lãng phí. Xây dựng hệ thống pháp luật về một số lĩnh vực của văn hoá còn chậm. Sự chênh lệch, phân hoá về hưởng thụ văn hoá trong xã hội, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn còn lớn, kinh phí đầu tư hạn chế; hủ tục lạc hậu trong tổ chức lễ hội ở một vài địa phương chậm được khắc phục. (2) Về giáo dục và đào tạo Về nhận thức: Nhận thức của Đảng ta về giáo dục và đào tạo tiếp tục được nâng lên, thể hiện rõ hơn vai trò, vị trí, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong bối cảnh mới của đất nước. Cương lĩnh 2011 khẳng định: "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu". Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khoá XI khẳng định: "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách". 41 Mục tiêu, sứ mệnh, trọng tâm và bước đi của sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được nhận thức đầy đủ, cụ thể hơn theo hướng "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học". Coi trọng chất lượng giáo dục, "Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ", "Xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân, vì dân", thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, bám sát với thực tiễn phát triển đất nước cũng như xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới. Chuyển mạnh từ tư duy bao cấp, khép kín sang thích ứng với cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định con người là trung tâm trong sự nghiệp phát triển giáo dục, gắn kết chặt chẽ với văn hoá, xã hội; khoa học và công nghệ, phù hợp với phát triển kinh tế, trong đó giáo dục phải đi trước một bước; trực tiếp góp phần phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực 42 chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là một yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng... Về thực tiễn: Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đã có nhiều chuyển biến, chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện, công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế được quan tâm... Phương châm học đi đôi với hành, nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội, lý luận gắn với thực tiễn cuộc sống được coi trọng. Hệ thống chương trình giáo dục được đổi mới; phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực được chú trọng. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh. Hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học phổ thông được tăng cường. Nhiều cơ sở đào tạo đã quan tâm tiếp cận chương trình theo chuẩn quốc tế, công bố chuẩn đầu ra. Đã có bước chuyển tích cực từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả; đào tạo và nghiên cứu khoa học ở nhiều trường đại học đã gắn hơn với đòi hỏi thực tiễn và chuẩn mực 43 thế giới. Hệ thống giáo dục đã chuyển dịch theo hướng linh hoạt, liên thông, mở giữa các bậc học, cấp học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục và đào tạo; tiếp tục phát triển các trường ngoài công lập. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách. Đã có một số giải pháp phát huy mặt tích cực, hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo. 5 năm 2016-2020, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo bình quân đạt khoảng 20% tổng chi ngân sách. Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm bảo đảm bình đẳng hơn về cơ hội học tập... Hợp tác quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Đã ban hành các văn bản, quy định pháp luật khuyến khích việc thu hút các tổ chức quốc tế, tổ chức giáo dục nước ngoài, các nhà khoa học, giáo dục tham gia vào đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, phát triển giáo dục và đào tạo cũng còn nhiều hạn chế. Về nhận thức, chưa nhận thức rõ bản chất và cơ chế phát triển giáo dục trong 44 điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, do đó dẫn đến tình trạng có nơi, có lúc không vận dụng phù hợp hiệu quả các yếu tố tích cực của cơ chế thị trường để phát triển giáo dục và đào tạo, chạy theo lợi nhuận, để các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường tác động xấu đến giáo dục và đào tạo. Chưa cụ thể hoá quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu", cùng với "khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt" bằng các chính sách cụ thể, cơ chế thiết thực, hiệu quả. Nhận thức về định hướng giáo dục con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế còn khác nhau. Hệ thống giáo dục hiện nay vẫn trong tình trạng phân tán, nhiều chủ thể quản lý, việc phân cấp trong quản lý chưa triệt để, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm chưa toàn diện, khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân chậm triển khai. Việc xây dựng xã hội học tập và học suốt đời còn nhiều bất cập cả về nhận thức và triển khai thực hiện. Trên thực tế, chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. 45 Kỹ năng thực hành và năng lực ngoại ngữ của người lao động Việt Nam còn hạn chế. Việc ban hành các chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa mới còn chậm so với yêu cầu đổi mới giáo dục. Vấn đề đổi mới đánh giá, thi ở các cấp học và trình độ đào tạo chưa căn bản. Hệ thống đánh giá kết quả giáo dục vẫn chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế. Chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa chú trọng đúng mức tới giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được hiện đại hoá, còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành. Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục quốc dân còn chậm, còn có một số vấn đề chưa hợp lý và thiếu đồng bộ. Công tác phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh còn bất cập. Cơ sở vật chất, điều kiện học ở nhiều nơi còn hạn chế, nhất là vùng sâu, vùng xa. Chất lượng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có bước phát triển, nhưng nhìn tổng thể, chất lượng vẫn còn 46 hạn chế, cơ cấu không hợp lý. Đầu tư cho giáo dục chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Công tác quản lý cơ sở giáo dục nước ngoài, cơ sở liên kết giáo dục còn nhiều bất cập. (3) Về khoa học và công nghệ Nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển đất nước được nâng lên đáng kể. Hiến pháp 2013 khẳng định: "Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước". Vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ được xác định rõ hơn. Nhận thức rõ hơn về yêu cầu gắn kết khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ Tổ quốc, với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Xác định đầu tư cho nhân lực khoa học, công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc; xác định rõ Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực quốc gia để đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia 47 phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới và ứng dụng, chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường khoa học và công nghệ. Quan tâm hơn đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến. Về thực tiễn: Hệ thống pháp luật, chính sách phát triển khoa học và công nghệ ngày càng hoàn thiện, quản lý nhà nước từng bước được đổi mới. Đến nay Quốc hội đã ban hành 8 đạo luật chuyên ngành, đặc biệt là Luật Khoa học và công nghệ đã được Quốc hội khoá XIII thông qua. Nhiều nội dung về khoa học, công nghệ được đề cập trong Nghị quyết Đại hội XI, XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 khoá XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 và các văn bản pháp lý khác đã tạo môi trường, điều kiện thúc đẩy môi trường sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phát triển. 48 Tiềm lực khoa học quốc gia ngày càng được nâng lên, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành tiếp tục được đầu tư. Hạ tầng nghiên cứu trong một số lĩnh vực trọng điểm được tăng cường. Đến đầu năm 2019, cả nước có hơn 63.000 cán bộ nghiên cứu và phát triển (R&D), 3.590 tổ chức đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và 8 khu công nghệ thông tin tập trung. Đầu tư tài chính từ xã hội và doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ được cải thiện theo hướng tích cực. Khoa học và công nghệ đã đạt được một số thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đất nước. Kết quả nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp quan trọng cho tổng kết 30 năm đổi mới và xây dựng văn kiện các kỳ đại hội Đảng, cung cấp luận cứ cho việc xác định mô hình và hoàn thiện hơn thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khoa học tự nhiên, đã có một 49 số nghiên cứu cơ bản có giá trị, một số lĩnh vực có thế mạnh như toán, vật lý lý thuyết đạt thứ hạng cao trong ASEAN. Khoa học ứng dụng có khả năng thiết kế, chế tạo thành công nhiều công nghệ, thiết bị nội địa theo tiêu chuẩn quốc tế, năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ mới, công nghệ cao trong một số ngành được nâng lên. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, năm 2019 xếp thứ 42/129 quốc gia. Đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế và khu vực; là thành viên của hơn 100 tổ chức quốc tế và khu vực; ký kết và thực hiện hơn 80 hiệp định, thỏa thuận hợp tác cấp Chính phủ và ngành. Cơ chế, chính sách thu hút, tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp về khoa học cho đất nước tiếp tục được hoàn thiện. Tuy nhiên, sự phát triển khoa học và công nghệ cũng còn nhiều hạn chế: Nhận thức chưa đầy đủ về 50 vai trò quốc sách hàng đầu, động lực then chốt của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội. Đóng góp của khoa học và công nghệ cho tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và tăng năng suất lao động xã hội còn nhiều hạn chế. Nhiều nhiệm vụ nghiên cứu chưa bám sát yêu cầu sản xuất và đời sống. Đầu tư còn dàn trải, trùng lặp, hiệu quả không cao. Chậm cụ thể hoá và triển khai đồng bộ, có hiệu quả các chủ trương, định hướng quan trọng của Đảng, Nhà nước về phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn. Nhận thức của nhiều cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, doanh nghiệp về vai trò, tầm quan trọng của khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập. Khoa học xã hội và nhân văn ở một số nơi vẫn còn bị coi nhẹ. Năng lực hấp thụ, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu, còn khoảng cách không nhỏ so với các nước trong nhóm dẫn đầu của khu vực. Tư duy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có bước phát triển, song chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập. Nhân tố con người và điều kiện hoạt động khoa học chưa được nhận thức đầy đủ và đầu tư 51 tương xứng. Các trường đại học chưa là chủ thể mạnh trong nghiên cứu, thiếu các tập thể khoa học mạnh, các chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới hoặc chỉ đạo, triển khai nhiệm vụ quốc gia ở trình độ quốc tế. Chính sách thu hút nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ chưa thực sự hiệu quả. Hợp tác quốc tế chưa thực sự đi vào chiều sâu, thiếu trọng tâm, chưa chú trọng đến chuyển giao, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến. Cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị cho hoạt động khoa học và công nghệ còn thiếu và chưa đồng bộ. Một số chỉ tiêu lớn về khoa học và công nghệ chưa đạt được mục tiêu đặt ra, ví dụ như mục tiêu đến năm 2020, khoa học và công nghệ đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; năng suất lao động trong nhiều ngành kinh tế của Việt Nam còn rất thấp; tác động của khoa học, công nghệ đối với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Thể chế, cơ chế, chính sách, nhất là về tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ còn nhiều 52 bất cập, chưa khuyến khích mạnh các cá nhân, tổ chức, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp, hấp thụ và phát triển công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới. Chưa có sự gắn bó chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội với phát triển khoa học và công nghệ và ngược lại, nhất là đối với các loại hình kinh tế, dịch vụ mới, hiện đại. Còn nhiều bất cập trong các chính sách thu hút FDI gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ nguồn cho các doanh nghiệp bản địa trong chuỗi sản xuất. Việc cấu trúc lại các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo đồng bộ theo chuỗi sản xuất chưa thực sự đi vào chiều sâu. Thiếu các chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư từ bên ngoài ngân sách, từ hợp tác quốc tế, từ doanh nghiệp trong và ngoài nước vào hoạt động khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, hỗ trợ hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo quốc gia. Đầu tư cho khoa học và công nghệ còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. (4) Về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu Về nhận thức: Đảng ta khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội 53 dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương... Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. Cương lĩnh 2011 xác định: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường" và "Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia". Vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được nhận thức ở tầm toàn cầu, liên quan đến vận mệnh của loài người. Các nghị quyết của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã cụ thể hoá các quan điểm được nêu trong Cương lĩnh 2011: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nội dung bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường được đưa vào trong chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, vùng và lãnh thổ. 54 Về thực tiễn: Nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền và người dân từng bước được nâng lên; hệ thống luật pháp về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở cho hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu có hiệu quả hơn. Nền kinh tế đã bước đầu chuyển dần sang mô hình tăng trưởng dựa vào nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên khoáng sản1. Hình thành các phương thức mới trong phát triển kinh tế theo hướng chuyển từ "nâu" sang "xanh" trong nông nghiệp, du lịch, công nghiệp. Bước đầu hình thành khung chính sách hỗ trợ, phát triển ngành kinh tế môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, khai thác, xử lý chất thải, nước thải. Công tác bảo vệ môi trường, phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường tiếp tục được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực. Hệ thống tiêu chuẩn, ___________ 1. Tỷ trọng công nghiệp khai khoáng trong GDP giảm từ 8,8% (bình quân giai đoạn 2011-2015) xuống còn 6% năm 2018. 55 quy chuẩn về môi trường tiếp tục được hoàn thiện. Việc kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường; ngăn chặn và kiểm soát việc nhập công nghệ, máy móc, thiết bị lạc hậu, nguyên, nhiên, vật liệu không bảo đảm yêu cầu về môi trường có chuyển biến tích cực. Chủ động phối hợp với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong khắc phục hậu quả chất độc hoá học và bom mìn do chiến tranh để lại. Kiểm soát chất lượng không khí, nước khu vực đô thị, nông thôn được quan tâm hơn. Chú trọng bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Có nhiều chuyển biến tích cực trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức được tăng cường. Đã có nhiều chủ trương, giải pháp căn bản cả trong nước và cam kết quốc tế được ban hành, cụ thể hoá trong mô hình tăng trưởng, Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020. Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai được nâng lên một bước, kết cấu hạ tầng về phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu 56 được quan tâm đầu tư; thiệt hại về tài sản và người đã giảm đáng kể so với trước đây. Chủ động cắt giảm phát thải khí nhà kính, với cam kết giảm 8% phát thải khí nhà kính đến năm 2030. Chương trình quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng, bảo tồn, nâng cao trữ lượng cácbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng đến năm 2030; Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 được triển khai... Tuy nhiên, chưa nhận thức và phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền và người dân, nhất là người đứng đầu trong việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Còn tình trạng tư duy nhiệm kỳ, chỉ coi trọng lợi ích kinh tế trước mắt, coi nhẹ hoặc bỏ qua vấn đề môi trường. Một số nơi thực hiện chưa nghiêm, chưa quyết liệt, chưa quan tâm đúng mức đến cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về gắn kết giữa đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế với tổ chức thực hiện các biện pháp sản xuất kinh doanh xanh, sạch; 57 chưa chú trọng đúng mức đến việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, ít chất thải, phát triển vật liệu mới, năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường, thực hiện lối sống xanh, bền vững, hài hoà với thiên nhiên. Hệ thống thể chế, chính sách vẫn còn những bất cập, nhất là các vấn đề về quản lý, khai thác bền vững, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Hiệu lực quản lý nhà nước còn hạn chế, công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa kịp thời. Vai trò của truyền thông trong công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu chưa được chú trọng đúng mức. Công tác quản lý khai thác tài nguyên vẫn còn nhiều bất cập, không bền vững, gây ô nhiễm môi trường còn xảy ra ở nhiều nơi; đất đai bị thoái hoá, giảm màu mỡ; tài nguyên nước bị khai thác thiếu quy hoạch, quá mức, đặc biệt là nguồn nước ngầm. Tình trạng chặt phá rừng trái phép chưa chấm dứt. Tài nguyên thuỷ sản chưa được khai thác và bảo vệ bền vững, nguồn lợi thuỷ sản tiếp tục suy giảm. Ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân 58 và doanh nghiệp chưa cao. Ô nhiễm môi trường ở một số nơi còn nghiêm trọng, chậm được khắc phục. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên, nhất là rừng, đất ngập nước, thảm thực vật biển bị suy giảm. Việc khắc phục ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến tranh để lại còn chậm. Năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ sở vật chất còn hạn chế. Công tác dự báo chưa đáp ứng yêu cầu. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng khoa học, công nghệ để thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất còn bất cập. An ninh môi trường trở thành vấn đề hệ trọng, tác động đến mọi lĩnh vực trong sự phát triển bền vững đất nước. (5) Về quản lý phát triển xã hội Về nhận thức, vấn đề quản lý phát triển xã hội đã được quan tâm hơn và dần chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Đại hội XII của Đảng, lần đầu tiên vạch ra định hướng riêng về "Quản lý phát triển xã hội; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội". Quản lý phát triển xã hội được xác định vừa là mục tiêu, vừa là công cụ để thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước. 59 Nhận thức về mô hình quản lý phát triển xã hội cũng thể hiện rõ hơn, phù hợp với các giá trị chung của nhân loại, với 3 yếu tố cấu thành, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: mục tiêu phát triển đất nước; sự thay đổi cơ cấu xã hội cùng với các đặc điểm văn hoá, truyền thống; năng lực quản trị quốc gia và chất lượng thể chế. Nhận thức rõ hơn về mối quan hệ giữa quản lý phát triển xã hội với ổn định và phát triển đất nước nhanh và bền vững, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau, phát triển bền vững về kinh tế, về môi trường và về xã hội. Trong thực tiễn, quản lý phát triển xã hội đạt được những chuyển biến tích cực. Sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường đều đạt những thành tựu rất quan trọng. Phát triển kinh tế là cơ sở để bảo đảm việc thực hiện chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội tốt hơn, và ngược lại. Phát triển bền vững môi trường là cơ sở để phát triển bền vững kinh tế, nâng cao chất lượng sống của người dân và bảo đảm sự ổn định, thuận lợi cho quản lý phát triển xã hội. Chất lượng thể chế và năng lực quản trị xã hội của Nhà nước từng bước được nâng lên. Nhiều chủ 60 trương, chính sách, pháp luật về các vấn đề xã hội, chính sách xã hội, chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công, xoá đói, giảm nghèo; dân tộc, tôn giáo, được ban hành; các chương trình mục tiêu quốc gia, đầu tư cho các vấn đề xã hội được nâng lên. Việc giải quyết những điểm nóng, bức xúc xã hội luôn được quan tâm, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi để đất nước phát triển. Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu Thiên niên kỷ. Đời sống và thu nhập của người dân không ngừng được nâng lên, nhóm nghèo và cận nghèo giảm mạnh, nhóm trung lưu đang hình thành và phát triển nhanh chóng. An ninh, an toàn của người dân được bảo đảm hơn. Tuy nhiên, vấn đề quản lý phát triển xã hội cũng còn nhiều hạn chế. Nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền chưa đầy đủ, chỉ coi trọng phát triển kinh tế, coi nhẹ quản lý phát triển xã hội; chưa đầu tư nghiên cứu, dự báo mang tầm chiến lược xu hướng biến đổi xã hội. Quản lý phát triển xã hội chưa mang tính tổng thể, đồng bộ. Nhận thức về quản lý phát triển xã hội và quản trị xã hội chưa đủ rõ, một số cơ chế, chính sách 61 xã hội còn chồng chéo, bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn. Chưa đánh giá đầy đủ tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế đối với xã hội, ổn định xã hội trong quá trình phát triển. Xác định trách nhiệm về quản lý phát triển xã hội chưa rõ ràng, chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của hệ thống chính trị và của cộng đồng dân cư trong quản lý phát triển xã hội. Đại hội XII của Đảng nhận định: "Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều hạn chế, khuyết điểm... chưa có chính sách, giải pháp kịp thời, hiệu quả đối với vấn đề biến đổi cơ cấu, phân hoá giàu - nghèo, phân tầng xã hội, kiểm soát rủi ro, giải quyết mâu thuẫn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, an ninh cho con người". Sự biến đổi cơ cấu xã hội có những phương diện không theo hướng tích cực, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Nhóm nghèo và cận nghèo tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn, vùng khó khăn, rất khó tiếp cận việc làm và thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Việc mở rộng diện bao phủ của hệ thống an sinh xã hội đối với lao động khu vực phi chính thức, lao động trong khu vực 62 nông thôn còn hạn chế, bất bình đẳng về cơ hội chậm được khắc phục. Việc xử lý một số vấn đề bức xúc trong xã hội còn chậm, nhất là khiếu kiện, tranh chấp đất đai, tai nạn giao thông, bạo lực học đường, ô nhiễm môi trường, một số vấn đề dân tộc, tôn giáo... luôn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn xã hội. Vấn đề quản lý phát triển xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại do bị tác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, cùng với sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch; mặt trái của kinh tế thị trường; tác động của Internet và mạng xã hội. (6) Vấn đề dân tộc và tôn giáo, tín ngưỡng Về nhận thức: Tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức của Đảng về dân tộc, vị trí và vai trò của vấn đề dân tộc trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về các nguyên tắc thực hiện chính sách dân tộc, về quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc. Xác định vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nguyên tắc thực hiện chính sách dân tộc là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, thương yêu, giúp nhau cùng phát triển, 63 cùng gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính sách dân tộc là chính sách tổng hợp - liên ngành, quản lý nhà nước về công tác dân tộc phù hợp với điều kiện cư trú, phân bố dân cư và đời sống các dân tộc nước ta gắn với chiến lược phát triển tổng thể đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức về tôn giáo, tín ngưỡng đã có bước phát triển quan trọng, xác định tôn giáo còn tồn tại lâu dài, gắn bó và đồng hành cùng dân tộc; tín ngưỡng và tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân; đạo đức, văn hoá tôn giáo có nhiều giá trị tích cực, phù hợp với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Về thực tiễn: Đã từng bước thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng, hình thành nhiều cơ chế, 64 chính sách, chương trình mục tiêu ưu tiên phát triển vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nên nhiều chuyển biến rõ nét. Kết cấu hạ tầng phát triển tương đối đồng bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Giảm nghèo thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Bản sắc văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc được tôn trọng, bảo tồn, phát huy. Giáo dục, y tế có bước phát triển mạnh mẽ. Hệ thống chính trị vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số được củng cố. Tỷ lệ đại biểu người dân tộc thiểu số trong các cơ quan dân cử được bảo đảm. Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số được giữ vững. Quan điểm đổi mới của Đảng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Thực hiện nhiều chính sách, biện pháp và chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào các tôn giáo, từ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đến giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, phát triển giáo dục, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu. Tín đồ, chức sắc các tôn giáo nhìn chung đã thực hiện tốt chính sách, 65 pháp luật của Nhà nước, đoàn kết tôn giáo được củng cố, tăng cường. Tín ngưỡng truyền thống của các cộng đồng cư dân được tôn trọng gắn với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Các giá trị đạo đức tôn giáo tốt đẹp được tôn trọng, phát huy trong đời sống. Bảo đảm các tôn giáo hoạt động theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước; rút ngắn thời gian công nhận tổ chức tôn giáo, công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Quản lý hoạt động tôn giáo ngày càng toàn diện và hiệu quả hơn, nhiều vấn đề tồn đọng trước đây như đất đai tôn giáo, hội đoàn tôn giáo, pháp nhân tôn giáo... được quan tâm giải quyết. Hạn chế: Nhận thức về dân tộc và tôn giáo, tín ngưỡng có lúc, có nơi chưa đầy đủ, toàn diện. Chính sách dân tộc thiếu tính liên thông giữa kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và tầm nhìn dài hạn; giữa phát triển dân tộc với phát triển vùng và liên vùng; giữa ban hành chính sách và bố trí đủ nguồn lực thực hiện. Đời sống đồng bào các dân tộc 66 thiểu số nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, hạ tầng cơ sở còn yếu kém. Thiếu cơ chế khơi dậy, phát huy mạnh mẽ ý chí tự lực, tự cường của các dân tộc; tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; quan hệ thị trường chậm phát triển; môi trường tự nhiên bị suy thoái. Việc triển khai một số chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội còn chậm, hiệu quả thấp; một số công trình đầu tư cho vùng dân tộc, miền núi còn để thất thoát, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân. Một bộ phận người Việt Nam đã định cư lâu dài ở nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn khi hoà nhập với xã hội sở tại, bị phân biệt đối xử, thiếu cơ chế bảo hộ, hỗ trợ. Tuyên truyền, giáo dục luật pháp, vận động chức sắc tôn giáo ở những địa bàn phức tạp còn hạn chế. Phát huy nguồn lực tôn giáo trong quá trình thực hiện xã hội hoá một số lĩnh vực của đời sống còn lúng túng. Hoạt động tôn giáo trái pháp luật vẫn xảy ra, nhất là ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc 67 vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lôi kéo, kích động một bộ phận tín đồ cực đoan, tạo nên các "điểm nóng". 4. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế (1) Về quốc phòng, an ninh Nhận thức về quốc phòng, an ninh có nhiều chuyển biến tích cực. Cương lĩnh 2011 đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là "bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta". Đại hội XI của Đảng đã bổ sung "giữ vững chủ quyền biển đảo" và "ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống" vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời nhấn mạnh "an ninh chủ động". Đại hội XII của Đảng đã nâng tầm nhận thức, coi nhiệm vụ bảo vệ 68 Tổ quốc còn là: "Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng". Cương lĩnh 2011 nêu chủ trương: "Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế". Đại hội XII nhấn mạnh thêm: "Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh"; xác định rõ hơn về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; về quan hệ đối tác, đối tượng cụ thể hơn; về "Xây dựng "thế trận lòng dân", tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến". Đã nhận thức ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn vị trí, vai trò và mối quan hệ chặt chẽ giữa hai 69 nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế. Về thực tiễn: Đã ban hành và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị khoá XII về quốc phòng, quân sự, an ninh. Xây dựng toàn diện nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; thế trận lòng dân được tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố. Trên các địa bàn chiến lược, xung yếu, phức tạp, việc xây dựng các khu vực phòng thủ có bước phát triển mới cả chiều rộng và chiều sâu, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; tăng cường sự tham gia của toàn xã hội đối với nhiệm vụ quốc phòng, 70 an ninh. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường, củng cố. Vai trò quản lý của Nhà nước về quốc phòng được tăng cường, thực hiện có hiệu quả trên phạm vi cả nước và từng địa phương, cơ sở. Tiềm lực quốc phòng được quan tâm xây dựng và từng bước được tăng cường; lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng vững mạnh toàn diện, từng bước hiện đại, theo hướng tinh, gọn và mạnh. Chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang được nâng cao, thực sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chủ động phòng ngừa, tấn công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình"; hoạt động chống phá, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các loại tội phạm hình sự; ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; tham gia tích cực, có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống và khắc phục thiên tai, dịch bệnh. 71 Kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được quan tâm triển khai thực hiện đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Nhận thức và giải quyết các mối quan hệ giữa đối tác, đối tượng có bước phát triển mang tính đột phá. Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh được đẩy mạnh, góp phần củng cố và gia tăng mức độ tin cậy đối với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Thành quả cơ bản, quan trọng và bao trùm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh 10 năm qua là đã kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, trật tự, an toàn xã hội và môi trường hoà bình để tập trung xây dựng, phát triển đất nước. Tuy nhiên, có nơi, có lúc nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; về kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ 72 nghĩa; về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nhận thức về xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, về nội hàm và mối quan hệ giữa an ninh truyền thống với an ninh phi truyền thống còn một số vấn đề chưa rõ. Trên thực tế, việc quán triệt và triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở một số địa phương, đơn vị chưa sâu sắc, thiếu kiên quyết, triệt để, thiếu những giải pháp mang tính chiến lược, tổng thể. Cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh chưa thật đầy đủ. Việc kết hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở một số nơi còn mang tính hình thức. An ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa thật vững chắc. Cuộc đấu tranh tư tưởng, chống các quan điểm sai trái, thù địch chưa đạt hiệu quả cao; những thông tin xấu, độc vẫn xuất hiện trên mạng xã hội chưa được ngăn chặn triệt để. Công tác dự báo, tham mưu chiến lược còn hạn chế trên một số mặt; có lúc, có nơi còn lúng túng trong dự báo, 73 đánh giá, đối phó và xử lý tình huống về an ninh, trật tự ở cơ sở. Việc kết hợp các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở một số nơi, một số ngành còn lúng túng, hiệu quả chưa cao. (2) Về đối ngoại và hội nhập quốc tế Nhận thức về nhiệm vụ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc và thực tế hơn. Cương lĩnh 2011 đã xác định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế...". Trong quá trình thực hiện Cương lĩnh 2011, nhận thức của Đảng ta về thời đại, về thế giới và 74 khu vực ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn là cơ sở quan trọng để xác định nhiệm vụ đối ngoại. Đảng ta xác định nhiệm vụ đối ngoại quan trọng nhất là giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài để tập trung phát triển đất nước. Xác định rõ mục tiêu hàng đầu của nhiệm vụ đối ngoại là bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi, gắn lợi ích của Việt Nam với quan tâm chung của khu vực và toàn cầu. Tư duy của Đảng về đối ngoại đa phương đã phát triển một cách có hệ thống, liên tục được bổ sung, điều chỉnh. Văn kiện Đại hội XII đã chỉ rõ định hướng lớn "nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương". Đối ngoại đa phương chuyển từ "ký kết, gia nhập, tham gia" sang "chủ động và tích cực đóng góp xây dựng và định hình" các quy tắc, luật lệ mới; góp phần vào quá trình hình thành các cấu trúc khu vực và toàn cầu; 75 tích cực tham gia vào những vấn đề quan trọng đối với an ninh và phát triển của đất nước. Qua các kỳ đại hội, Đảng ta đã xác định rõ các quan điểm chỉ đạo, định hướng lớn đối với quá trình hội nhập quốc tế: thứ nhất, hội nhập quốc tế chủ động và tích cực; thứ hai, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị; thứ ba, đẩy mạnh hội nhập trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; thứ tư, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác là quan trọng và cần thiết; thứ năm, hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi; thứ sáu, hội nhập quốc tế vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập. Đại hội XII chỉ rõ những định hướng lớn đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hoá, xã hội và các lĩnh vực khác. Hội nhập kinh tế tập trung thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, 76 xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do đối với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng. Hội nhập trong lĩnh vực chính trị tập trung vào việc đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất. Hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh theo hướng: chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, trong đó có việc tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hoá, xã hội tập trung vào việc tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm phát triển văn hoá, quản lý xã hội, phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Về thực tiễn: Những phát triển và hoàn thiện trong nhận thức và tư duy mới về đối ngoại của Đảng là tiền đề đưa tới những kết quả quan trọng trong quá trình thực hiện Cương lĩnh 2011. 77 Chúng ta tiếp tục duy trì, củng cố môi trường hoà bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, công tác đối ngoại đã được đẩy mạnh, đưa quan hệ với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, khuôn khổ ổn định, phục vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước. Củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng. Triển khai thực hiện có hiệu quả những quan hệ đối ngoại trong Cộng đồng ASEAN, quan hệ với các nước láng giềng, các bạn bè truyền thống, quan hệ với các nước lớn, các thể chế đa phương như UN, IMF, WB, APEC... Thực hiện phương châm "Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế", Việt Nam ngày càng chủ động trong hoạt động đối ngoại đa phương, tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương. Vị thế và vai trò của Việt Nam được khẳng định và không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Công tác đối ngoại đã góp phần trực tiếp vào các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần quan trọng thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho phát triển, tranh thủ khai thác vị thế 78