🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Ánh Lửa Trong Tro Tàn Ebooks Nhóm Zalo ÁNH LỬA TRONG TRO TÀN Tác giả: Sabaa Tahir Người dịch: Lê Hồng Vân, Trần Thị Thu Hương Phát hành: Nhã Nam Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 01/2020 PHẦN I CUỘC ĐỘT KÍCH I: LAIA A nh trai tôi trở về nhà vào lúc tờ mờ sáng, cái thời điểm mà đến ma quỷ cũng đã nghỉ ngơi. Người anh có mùi thép, mùi than và mùi lò rèn. Mùi của kẻ thù. Anh luồn cơ thể ăn vận rách rưới qua cửa sổ, khẽ đặt đôi chân trần lên lớp cói. Một luồng gió như thể từ sa mạc lùa vào, làm lớp rèm rủ khẽ sột soạt. Cuốn sổ ký họa của anh rơi xuống sàn nhà, anh nhanh chân hất nó vào gầm giường, như thể nó là một con rắn. Anh đã ở đâu thế, Darin? Tôi tưởng tượng trong đầu rằng mình đang có đủ can đảm để hỏi anh và Darin có đủ lòng tin ở tôi để trả lời. Sao anh cứ liên tục biến mất vậy? Tại sao, ngay cả khi ông bà cần anh nhất? Khi em cần anh nhất? Trong gần hai năm qua, đêm nào tôi cũng muốn hỏi anh như vậy. Nhưng đêm nào cũng thế, tôi vẫn không đủ can đảm để hỏi. Tôi chỉ còn lại duy nhất một người anh. Tôi không muốn anh gạt tôi ra ngoài cuộc đời anh như anh đã làm với tất cả những người khác. Nhưng đêm nay thì khác. Tôi biết trong cuốn sổ ký họa của anh có gì. Tôi biết ý nghĩa của nó. “Em nên ngủ đi chứ.” Tiếng thì thầm của anh cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. Anh có trực giác cực kỳ nhạy bén trước các tình huống bẫy - anh thừa hưởng nó từ mẹ. Trong lúc anh thắp đèn, tôi nhổm dậy trên giường. Giả vờ ngủ cũng chẳng ích gì. “Đã quá giờ giới nghiêm và có ba lính tuần vừa qua đây. Em lo lắm.” “Anh có thể tránh đám lính, Laia ạ. Luyện tập nhiều rồi.” Anh tì cằm lên thành giường và nở nụ cười méo xệch ngọt ngào như nụ cười của mẹ. Ánh mắt quen thuộc mà anh dành cho tôi mỗi khi tôi choàng dậy vì ác mộng hoặc những lúc chúng tôi hết lương thực. Ánh mắt như muốn nói Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Anh nhặt cuốn sách trên giường tôi. “Tụ họp trong đêm,” anh đọc tựa đề cuốn sách. “Đáng sợ ghê. Sách viết về gì thế?” “Em mới bắt đầu đọc thôi. Sách nói về jinn*…” tôi ngừng lại. Thông minh. Rất thông minh. Anh thích nghe kể chuyện cũng nhiều như việc tôi thích kể chuyện. “Mà quên quyển sách này đi. Anh đã ở đâu thế? Sáng nay ông có cả tá bệnh nhân đấy.” Và em phải làm thay anh vì ông không thể làm từng ấy việc một mình được. Thế nên bà đành phải tự đóng chai đống mứt cho thương lái. Rốt cuộc là bà không thể xong việc. Giờ thì thương lái sẽ không trả tiền và chúng ta sẽ chết đói trong mùa đông này. Mà sao anh chả quan tâm chút quái nào thế? Tôi tự nhủ những điều này trong đầu. Nụ cười vụt tắt trên gương mặt Darin. “Anh không hợp với mấy vụ chăm sóc vết thương đâu,” anh đáp. “Ông biết thế mà.” Tôi muốn xuống nước nhưng rồi lại nghĩ đến hình ảnh đôi vai ông sụm xuống sáng nay. Tôi nghĩ đến cuốn sổ ký họa. “Ông bà đều dựa cả vào anh. Ít nhất anh cũng nên nói chuyện với ông bà đi chứ. Đã mấy tháng rồi.” Tôi chờ anh bảo rằng tôi không hiểu. Rằng tôi nên để mặc anh. Nhưng anh chỉ lắc đầu, buông mình xuống giường và nhắm mắt lại như thể chẳng buồn trả lời tôi. “Em đã thấy mấy hình vẽ của anh.” Tôi buột miệng nói và Darin lập tức bật dậy, gương mặt đanh lại. “Không phải em theo dõi anh đâu,” tôi nói. “Một trang giấy bị rơi ra. Em tìm thấy nó khi dọn đám cói sáng nay.” “Em đã nói với ông bà chưa? Ông bà có trông thấy không?” “Không, nhưng mà…” “Laia, nghe này.” Chết tiệt, tôi không muốn nghe. Tôi không muốn nghe mấy lời bao biện của anh. “Những gì em thấy thật sự rất nguy hiểm,” anh bảo. “Em không được nói về nó với bất kỳ ai. Không bao giờ. Không chỉ mạng sống của riêng anh sẽ gặp nguy. Còn mạng sống của nhiều người khác nữa…” “Anh đang làm việc cho Đế Chế à, Darin? Anh theo Quân Binh sao?” Anh im lặng. Tôi nghĩ mình đã nhìn thấy câu trả lời trong mắt anh và cảm thấy khó chịu. Anh trai tôi đã phản bội chính đồng bào của mình? Anh trai tôi theo phe Đế Chế? Nếu anh tôi tích trữ lương thực, bán sách hay dạy trẻ em tập đọc, tôi sẽ hiểu cho anh. Tôi sẽ tự hào vì anh đã làm những việc mà tôi không có đủ can đảm để làm. Đế Chế truy quét, cầm tù và giết hại những ai phạm các “tội ác” này, nhưng dạy chữ cho một cô bé sáu tuổi đâu phải chuyện xấu xa - đặc biệt là trong suy nghĩ của chúng tôi, những người Trí Thức. Nhưng việc Darin làm thì thật sự đáng kinh tởm. Đây là sự phản bội. “Đế Chế đã giết hại cha mẹ chúng ta,” tôi nói khẽ. “Cả chị của chúng ta nữa.” Tôi muốn hét vào mặt anh nhưng lại nghẹn lời. Quân Binh đã xâm chiếm đất đai của người Trí Thức từ năm trăm năm trước và kể từ đó, chúng chỉ toàn đàn áp và bắt chúng tôi làm nô lệ. Ngày trước, Vương quốc Trí Thức là nơi có những trường đại học và thư viện tốt nhất thế giới. Giờ đây, phần lớn dân tộc chúng tôi không còn phân biệt được trường học với kho vũ khí nữa. “Sao anh có thể về phe bọn Quân Binh ấy được?” tôi hỏi. “Tại sao chứ, Darin?” “Không phải như em nghĩ đâu, Laia ạ. Anh sẽ giải thích mọi chuyện, nhưng…” Anh đột ngột dừng lại, giơ tay ra hiệu cho tôi im lặng khi tôi đòi lời giải thích mà anh vừa hứa. Anh hất đầu về phía cửa sổ. Qua lớp tường mỏng, tôi nghe thấy tiếng ông đang ngáy, tiếng bà trở mình trong giấc ngủ, tiếng gù rầu rĩ của con bồ câu. Những âm thanh quen thuộc. Những âm thanh gia đình. Darin nghe thấy âm thanh khác. Mặt anh trắng bệch và một nỗi khiếp sợ lóe lên trong mắt anh. “Laia,” anh nói. “Lính đi càn đấy.” “Nhưng nếu anh làm việc cho Đế Chế…” Thì tại sao đám lính lại vây bắt chúng ta? “Anh không làm việc cho chúng.” Giọng anh bình tĩnh. Bình tĩnh hơn cảm giác của tôi hiện giờ. “Giấu cuốn sổ ký họa đi. Đó là thứ chúng muốn. Đó là lý do chúng tìm đến đây.” Rồi anh ra khỏi cửa và tôi chỉ còn lại một mình. Đôi chân trần của tôi di chuyển chậm chạp, còn bàn tay cứng đờ như khúc gỗ. Nhanh lên nào Laia! Các đợt càn của Đế Chế thường diễn ra giữa ban ngày. Bọn lính muốn những người mẹ và đám trẻ con Trí Thức phải chứng kiến tận mắt. Chúng muốn những người cha và anh em trai nhìn thấy gia đình một người đàn ông khác bị bắt làm nô lệ. Đợt càn ban ngày đã tệ hại như vậy nhưng những đợt càn đêm còn kinh khủng hơn. Chúng diễn ra mỗi khi Đế Chế không muốn ai chứng kiến. Tôi tự hỏi liệu đây là sự thực hay chỉ là cơn ác mộng. Nó là thật đấy, Laia ạ. Đi nào. Tôi ném cuốn sổ ký họa qua cửa sổ, xuống một bờ giậu. Chỗ giấu đó rõ tệ nhưng tôi chẳng còn thời gian nữa. Bà tập tễnh đi vào phòng tôi. Bàn tay bà hằng ngày quấy mứt và tết tóc cho tôi vững vàng là vậy mà giờ đây run rẩy như cánh chim trong cơn hoảng loạn, khẩn thiết giục tôi đi nhanh lên. Bà kéo tôi ra hành lang. Darin đang đứng với ông ở cửa sau. Mái tóc trắng của ông rối tung như đám cỏ khô, quần áo thì nhăn nhúm, nhưng những rãnh nhăn hằn sâu trên khuôn mặt cho thấy ông đã hoàn toàn tỉnh ngủ. Ông thì thầm gì đó với anh trai tôi rồi đưa cho anh con dao bếp to nhất của bà. Tôi không hiểu vì sao ông phải làm vậy. Trước lưỡi đao làm từ thép Serra của Quân Binh, con dao đó chỉ có nước gãy vụn. “Cháu và Darin hãy đi qua sân sau,” bà nói, mắt lướt nhanh qua các cửa sổ. “Chúng vẫn chưa bao vây toàn bộ căn nhà đâu.” Không. Không. Không. “Bà ơi,” tôi khẽ gọi bà, suýt vấp ngã khi bị bà đẩy về phía ông. “Trốn ở đầu phía Đông của Khu Phố ấy…” Bà nghẹn ngào ngưng lại và hướng mắt về cửa sổ trước nhà. Qua lớp rèm rách, tôi bắt gặp ánh sáng lóe lên từ một gương mặt màu bạc bóng loáng. Ruột gan tôi thắt lại. “Mặt Nạ,” bà thốt lên. “Chúng đem cả một tên Mặt Nạ tới. Đi đi, Laia. Trước khi hắn vào được đây.” “Còn bà thì sao? Cả ông nữa?” “Ông bà sẽ giữ chân chúng.” Ông đẩy nhẹ tôi ra ngoài cửa. “Nhớ giữ kín bí mật nhé, cháu yêu. Hãy nghe lời Darin. Darin sẽ chăm sóc cho cháu. Đi đi.” Cái bóng gầy còm của Darin đổ về phía tôi và anh nắm lấy tay tôi ngay khi cánh cửa đóng lại sau lưng. Anh cúi thấp người để núp mình vào bóng đêm ấm áp, lặng yên di chuyển trên lớp cát mềm ở sân sau bằng sự quả quyết mà tôi ước mình cũng có. Mặc dù tôi đã mười bảy tuổi và đủ lớn để có thể kiểm soát nỗi sợ hãi trong mình, nhưng tôi vẫn bám chặt lấy tay anh như thể đó là thứ duy nhất vững chãi trên thế giới này. Anh không làm việc cho chúng, Darin đã nói thế. Vậy anh đang làm việc cho ai? Bằng cách nào đó, anh đã tiếp cận được các lò rèn của Serra đủ gần để vẽ lại chi tiết quá trình chế tác tài sản quý giá nhất của Đế Chế: những thanh đao lưỡi cong không thể bẻ gãy, chém được ba người cùng lúc. Năm trăm năm trước, người Trí Thức đã bại trận trước cuộc xâm lăng của Quân Binh vì lưỡi kiếm của chúng tôi gãy vụn dưới chất thép siêu việt của chúng. Từ đó đến nay, chúng tôi vẫn chưa tìm hiểu được gì về cách chúng chế tạo thép. Những kẻ bủn xỉn giữ vàng như thế nào thì Quân Binh cũng cất giữ bí mật của chúng y như vậy. Bất kỳ ai bị phát hiện tới gần các lò rèn của thành phố mà không có lý do chính đáng - dù là Trí Thức hay Quân Binh - đều có thể bị xử tử. Nếu Darin không theo Đế Chế, làm sao anh lại gần các lò rèn của Serra được? Và sao đám Quân Binh lại phát hiện ra cuốn sổ ký họa của anh? Ở phía bên kia căn nhà có tiếng đập cửa rất mạnh. Tiếng những đôi ủng lê bước, tiếng thép va vào nhau loảng xoảng. Tôi điên cuồng nhìn xung quanh, chờ đợi những tên lính lê dương của Đế Chế trong lớp giáp bạc và áo choàng đỏ, nhưng sân sau vẫn yên tĩnh. Không khí buổi đêm mát rượi không thể ngăn được những giọt mồ hôi lăn dài xuống cổ tôi. Từ xa, tôi nghe thấy tiếng trống đập thình thình từ Blackcliff, trường huấn luyện của bọn Mặt Nạ. Âm thanh đó biến nỗi sợ hãi thành một mũi dao sắc nhọn đâm vào tim tôi. Không phải trong bất kỳ cuộc càn quét nào, Đế Chế cũng đưa lũ quỷ đeo mặt nạ bạc đó tới. Tiếng đập cửa vang lên lần nữa. “Nhân danh Đế Chế,” một giọng nói cáu kỉnh cất lên, “ta yêu cầu các ngươi mở cửa ra.” Cả tôi và Darin đều đông cứng người. “Nghe không giống bọn Mặt Nạ,” Darin thì thầm. Bọn Mặt Nạ có chất giọng nhẹ với những lời nói như thanh đao cắt ngang người. Trong lúc đám lính lê dương gõ cửa và ra lệnh, một tên Mặt Nạ có thể đã vào nhà, dùng vũ khí chém bất cứ người nào chắn đường hắn. Darin nhìn vào mắt tôi và tôi hiểu chúng tôi đang có cùng suy nghĩ. Nếu tên Mặt Nạ không ở cửa trước cùng đám lính còn lại, vậy thì hắn đang ở đâu? “Đừng sợ, Laia,” Darin trấn an tôi. “Anh sẽ không để chuyện gì xảy ra với em đâu.” Tôi muốn tin anh lắm, nhưng nỗi sợ hãi trong tôi như một dòng nước xiết không ngừng cuốn lấy cổ chân tôi, kéo tôi xuống. Tôi nghĩ về cặp đôi sống cạnh nhà: ba tuần trước, họ bị khám xét, cầm tù rồi bán làm nô lệ. Tội buôn lậu sách, Quân Binh kết luận. Năm ngày sau đó, một trong những bệnh nhân lớn tuổi nhất của ông, một ông lão đã chín mươi ba tuổi, hầu như không thể đi lại được nữa, đã bị xử tử tại chính căn nhà của mình, cổ họng bị rạch xuyên từ tai nọ sang tai kia. Tội cấu kết với quân Kháng Chiến. Bọn lính sẽ làm gì ông bà đây? Tống giam họ? Bắt họ làm nô lệ? Giết họ? Chúng tôi đã ra tới cổng sau. Darin đang kiễng chân mở chốt cửa thì tiếng sột soạt ở con hẻm phía trước làm anh dừng lại đột ngột. Một cơn gió nhẹ thổi qua, cuốn một đám bụi lên không trung. Darin đẩy tôi ra phía sau anh. Những đốt ngón tay anh siết chặt cán dao đến trắng bệch khi cánh cổng bật tung ra và kêu lên ken két. Nỗi sợ hãi chạy dọc sống lưng tôi. Tôi đưa mắt qua vai anh nhìn về phía con hẻm. Ngoài kia không có gì ngoại trừ những dòng cát chảy lặng lẽ. Không có gì ngoài những cơn gió thi thoảng thổi qua và các ô cửa sổ đóng chặt của những người hàng xóm đang say giấc. Tôi thở phào nhẹ nhõm và bước vòng qua Darin. Chính lúc đó, tên Mặt Nạ hiện ra từ trong bóng tối và bước qua cánh cổng. II: ELIAS K ẻ đào tẩu sẽ chết trước bình minh. Thằng bé để lại vết chân ngoằn ngoèo trên lớp bụi trong khu hầm mộ Serra, hệt như dấu chân một con hươu vừa bị đâm phải. Đường hầm này đã khiến nó mệt lử. Bầu không khí nóng bức dưới này quá ngột ngạt, mùi chết chóc và thối rữa quá nồng nặc. Đến lúc tôi thấy các dấu vết này, chúng đã hằn ở đây được hơn một giờ. Đám lính giờ đã ngửi thấy mùi của nó, thằng nhóc tội nghiệp. Nếu may mắn, nó sẽ được chết trong cuộc truy đuổi. Nếu không thì… Không nên nghĩ đến điều đó. Giấu ba lô đi. Ra khỏi đây thôi. Tiếng sọ người kêu lạo xạo khi tôi đẩy ba lô chứa đầy đồ ăn và nước uống vào trong một hốc đá. Helene sẽ không tha cho tôi nếu thấy tôi đối xử với người chết như vậy. Thế nhưng, nếu Helene biết được lý do tôi ở dưới này, chắc cậu ấy còn chả thèm trách móc tôi về hành động báng bổ đó. Cậu ấy sẽ không phát hiện ra. Cho tới khi quá muộn. Cảm giác tội lỗi khiến tôi day dứt, nhưng tôi gạt nó đi. Helene là người mạnh mẽ nhất mà tôi biết. Cậu ấy sẽ ổn dù không có tôi. Tôi ngoái lại nhìn sau lưng, có cảm giác như đây đã là lần thứ một trăm tôi làm như vậy. Đường hầm tĩnh lặng. Kẻ đào tẩu đã dẫn đám lính đi theo hướng ngược lại. Nhưng cảm giác an toàn là một ảo giác mà tôi biết mình không bao giờ được phép tin tưởng. Tôi hành động thật nhanh, xếp lại đống xương phía trước hốc đá để che dấu vết của mình, các giác quan cảnh giác cao độ trước mọi điều bất thường. Chỉ thêm một ngày như thế này nữa thôi. Thêm một ngày sống trong nỗi hoang tưởng, trốn chui trốn lủi và nằm vạ vật thế này. Chỉ một ngày nữa là tốt nghiệp. Rồi tôi sẽ được tự do. Khi tôi đang xếp lại đống sọ người trước hốc đá, hơi nóng dịch chuyển như một con gấu vừa thức dậy sau một giấc ngủ đông dài. Mùi cỏ và tuyết xen lẫn với cái mùi hôi hám của đường hầm. Tôi chỉ có hai giây để tránh xa khỏi hốc đá và quỳ xuống, kiểm tra mặt đất như thể ở đây có thể có dấu vết. Rồi cậu ấy xuất hiện sau lưng tôi. “Elias? Cậu đang làm gì dưới này vậy?” “Cậu chưa nghe sao? Có một kẻ đào ngũ đang lẩn trốn.” Tôi vẫn hướng sự tập trung vào mặt sàn bụi bặm. Dưới lớp mặt nạ bạc che kín từ trán tới hàm, không ai có thể đọc vẻ mặt tôi. Nhưng Helene Aquilla và tôi đã ở bên nhau gần như mỗi ngày trong suốt mười bốn năm chúng tôi được huấn luyện ở Học viện Quân sự Blackcliff; cậu ấy có khi còn đọc được cả ý nghĩ của tôi ấy chứ. Cậu ấy lặng lẽ đi vòng qua tôi và tôi ngước lên nhìn vào mắt cậu ấy, đôi mắt màu xanh nhạt như dòng nước ấm áp ở những hòn đảo phương Nam. Lớp mặt nạ phủ ngoài khuôn mặt tôi, tách biệt và lạ lẫm, che giấu những đường nét lẫn cảm xúc của tôi. Nhưng mặt nạ của Hel lại áp vào khuôn mặt cậu ấy như làn da thứ hai màu bạc và tôi như có thể thấy cậu ấy khẽ nhăn mày khi cúi xuống nhìn tôi.Thư giãn đi, Elias, tôi tự nhủ. Mày chỉ đang tìm kiếm một kẻ đào tẩu thôi mà. “Thằng nhóc không đi đường này,” Hel nói. Cậu ấy đưa tay vuốt mái tóc vàng ánh kim luôn được tết chặt và quấn quanh đầu như một chiếc vương miện. “Dex đã dẫn một nhóm trợ chiến từ chòi canh phía Bắc vào đường hầm Nhánh Đông rồi. Cậu có nghĩ họ sẽ tóm được nó không?” Dù không được huấn luyện bài bản như lính lê dương và chẳng là gì so với Mặt Nạ, nhưng lính trợ chiến vẫn là những thợ săn tàn bạo. “Đương nhiên họ sẽ tóm được nó.” Tôi không giấu được sự chua xót trong giọng mình và Helene nhìn tôi chòng chọc. “Cái thằng hèn nhát,” tôi nói thêm. “Nhưng sao cậu đã dậy rồi thế? Sáng nay cậu có phải trực đâu.” Mình đã đảm bảo chắc chắn chuyện này rồi mà. “Mấy hồi trống chết tiệt ấy,” Helene nói, nhìn quanh đường hầm, “đã đánh thức mọi người.” Tiếng trống. Hẳn rồi. Có kẻ đào ngũ, những tiếng trống rền vang ngay giữa buổi canh đêm. Mọi đơn vị tác chiến tập hợp về phía tường thành. Helene chắc hẳn đã quyết định tham gia cuộc săn lùng. Dex, cấp phó của tôi, chắc đã nói cho Helene biết tôi đi hướng nào. Hẳn là cậu ta thấy làm như vậy cũng chẳng vấn đề gì. “Mình nghĩ tên đào tẩu có thể đã đi hướng này.” Tôi quay lưng lại chỗ giấu chiếc ba lô của mình và nhìn qua một đường hầm khác. “Chắc là mình sai rồi. Mình nên bám theo Dex.” “Mặc dù mình rất ghét thừa nhận việc này, nhưng cậu hiếm khi đoán sai mà.” Helene ngẩng đầu cười với tôi. Tôi lại cảm thấy tội lỗi, nó như cú đấm thẳng vào ruột gan tôi. Cậu ấy sẽ tức điên khi biết việc tôi vừa làm. Cậu ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi. Chả sao cả. Mày đã quyết định rồi. Không thể quay đầu lại nữa. Hel chìa bàn tay khéo léo, từng trải xuống quệt đám bụi trên sàn. “Mình chưa bao giờ thấy đường hầm này trước đây.” Một giọt mồ hôi lăn xuống cổ tôi. Tôi lờ nó đi. “Chỗ này nóng và hôi quá,” tôi nói. “Hệt như mọi thứ dưới đây.” Đi thôi, tôi muốn nói thêm. Nhưng làm thế chẳng khác nào khắc dòng chữ “Tôi đang hành xử một cách đáng ngờ” lên trán mình. Tôi giữ im lặng và tựa vào thành mộ, khoanh tay lại. Chiến trường là thánh đường của ta. Trong đầu tôi vang lên câu nói mà ông tôi đã dạy vào cái ngày ông gặp tôi, năm tôi lên sáu. Ông đinh ninh châm ngôn đó sẽ giúp tôi mài sắc ý chí theo cách hòn đá mài giúp ta mài sắc con dao. Mũi kiếm là linh mục của ta. Điệu nhảy tử thần là lời cầu nguyện của ta. Đòn chí tử sẽ giải thoát ta. Helene chăm chú quan sát những dấu vết mờ nhạt tôi để lại và chẳng hiểu sao lại đi theo chúng đến được hốc đá nơi tôi đã nhét ba lô vào và chất đống sọ phía trước. Helene đang nghi ngờ và bầu không khí giữa chúng tôi bỗng trở nên căng thẳng. Chết tiệt. Tôi phải đánh lạc hướng Helene. Trong khi cậu ấy cứ đảo mắt qua lại giữa tôi và hầm mộ, tôi biếng nhác nhìn dọc khắp thân hình cậu ấy. Cô gái này thiếu năm phân nữa thì đủ mét tám - thấp hơn tôi khoảng mười lăm phân. Cậu ấy là học viên nữ duy nhất ở Blackcliff; trong bộ đồng phục dã chiến màu đen được may đo vừa vặn cho các học viên, dáng dấp mảnh mai nhưng mạnh mẽ của cậu ấy luôn thu hút những ánh nhìn ngưỡng mộ. Nhưng không phải từ tôi. Chúng tôi đã là bạn bè quá lâu để có thể có cảm giác đó. Thôi nào, chú ý mình đi. Hãy chú ý tới ánh nhìn đầy ham muốn của mình và bực bội đi. Khi tôi nhìn vào mắt Hel, gan lì như một chàng thủy thủ vừa vào cảng, cậu ấy mở miệng như thể định chất vấn tôi. Nhưng rồi cậu ấy quay lại nhìn cái hốc. Nếu cậu ấy thấy chiếc ba lô và đoán được ý định của tôi thì tôi chết chắc. Có thể cậu ấy không muốn tố cáo tôi, nhưng luật của Đế Chế sẽ buộc cậu ấy làm thế, mà cả đời Helene lại chưa từng phạm bất cứ điều luật nào. “Elias…” Tôi chuẩn bị lời nói dối. Chỉ muốn bỏ đi vài ngày thôi, Hel ạ. Cần chút thời gian để suy nghĩ. Không muốn làm cậu lo lắng. THÌNH-THÌNH-THÌNH-THÌNH. Tiếng trống. Tôi lập tức hiểu được thông điệp những nhịp trống khác nhau này muốn truyền tải. Kẻ đào ngũ đã bị bắt. Yêu cầu tất cả học viên trình diện tại sân trung tâm ngay lập tức. Ruột gan tôi quặn lại. Phần ngờ nghệch nào đó trong tôi vẫn hy vọng kẻ đào ngũ ít nhất cũng thoát được ra khỏi thành phố. “Bắt được nhanh ghê,” tôi nói. “Chúng ta nên đi thôi.” Tôi hướng đến đường hầm chính. Helene đi theo tôi, tôi biết cậu ấy sẽ làm thế. Helene thà tự đâm vào mắt mình còn hơn là chống đối bất kỳ mệnh lệnh trực tiếp nào. Cậu ấy là một Quân Binh đích thực, trung thành với Đế Chế hơn cả với chính mẹ đẻ của mình. Như mọi thực tập sinh Mặt Nạ giỏi giang khác, cậu ấy khắc sâu khẩu hiệu của Blackcliff trong tim: Nghĩa vụ trước nhất, cho đến chết. Tôi băn khoăn liệu cậu ấy sẽ nói gì nếu biết việc tôi thực sự đang làm dưới đường hầm này. Tôi băn khoăn liệu cậu ấy sẽ cảm thấy thế nào về nỗi căm giận của tôi đối với Đế Chế. Tôi băn khoăn liệu cậu ấy sẽ làm gì nếu phát hiện ra người bạn thân nhất của mình đang lên kế hoạch đào ngũ. III: LAIA T ên Mặt Nạ đi qua cánh cổng, đôi bàn tay to lớn buông thõng bên sườn. Món kim loại kỳ dị có tên gọi trùng với tên của hắn phủ từ trán tới cằm như một lớp sơn màu bạc, làm lộ rõ từng đường nét trên gương mặt hắn, từ đôi lông mày mỏng tới những góc cạnh thô cứng trên gò má. Chiếc áo giáp mạ đồng bó sát phần cơ bắp làm tôn thêm sức mạnh từ cơ thể hắn. Một cơn gió thổi tung chiếc áo choàng đen và hắn nhìn quanh mảnh sân sau như thể vừa tới một bữa tiệc sân vườn. Đôi mắt nhạt màu của hắn phát hiện ra tôi, lướt nhìn khắp người tôi rồi dừng lại trên khuôn mặt tôi với kiểu săm soi thẳng thừng của một kẻ đê tiện. “Chẳng phải đây là một cô nàng xinh đẹp hay sao,” hắn lên tiếng. Tôi giật mạnh gấu váy sờn rách của mình và ước gì nó là chiếc chân váy rộng thùng thình dài tới mắt cá chân mà tôi mặc khi sáng. Tên Mặt Nạ thậm chí còn không nhúc nhích. Mặt hắn không để lộ cho tôi biết hắn đang nghĩ gì. Nhưng tôi có thể đoán được. Darin bước lên phía trước tôi và nhìn ra phía hàng rào như thể đang tính xem mất bao lâu thì tới được đó. “Ta chỉ có một mình thôi, nhóc,” tên Mặt Nạ nói với Darin, lạnh lùng như một xác chết. “Số còn lại đang ở trong nhà các ngươi. Ngươi có thể chạy nếu muốn.” Hắn đi ra khỏi cổng. “Nhưng ta yêu cầu ngươi để cô gái đó lại.” Darin giơ con dao lên. “Nghĩa hiệp quá nhỉ,” tên Mặt Nạ nói. Rồi hắn lao tới, tia sáng màu đồng và bạc lóe lên giữa bầu trời trong vắt. Lúc tôi còn đang thở hổn hển, tên Mặt Nạ đã dúi mặt anh tôi xuống nền cát và dùng đầu gối ghì chặt thân hình đang cố vật lộn của anh xuống. Con dao của anh rơi xuống đất. Tôi bật ra một tiếng hét đơn độc giữa đêm hè tĩnh lặng. Vài giây sau, đầu một thanh đao đã chĩa vào họng tôi. Tôi thậm chí còn không kịp nhìn thấy tên Mặt Nạ rút vũ khí ra từ lúc nào. “Im miệng,” hắn nói. “Giơ tay lên. Đi vào trong ngay.” Tên Mặt Nạ dùng một tay nắm cổ Darin kéo lên, tay kia cầm thanh đao đẩy tôi đi. Anh tôi đi khập khiễng, mặt bê bết máu, ánh mắt bàng hoàng. Khi anh giãy giụa như một con cá mắc câu, tên Mặt Nạ càng ghì chặt hơn. Cửa sau căn nhà bật mở và một tên lính lê dương trong chiếc áo choàng đỏ bước ra. “Ngôi nhà đã bị bao vây, thưa chỉ huy.” Tên Mặt Nạ đẩy Darin về phía tên lính. “Trói hắn lại. Hắn khỏe lắm đấy.” Rồi hắn túm tóc tôi, xoắn lại cho đến khi tôi bật khóc. “Hừm.” Hắn cúi xuống sát tai tôi và tôi co rúm lại, nghẹn họng vì sợ hãi. “Ta vẫn luôn thích những cô gái tóc đen.” Tôi tự hỏi không biết hắn có chị em gái, vợ hay một người đàn bà nào ở bên không. Nhưng nếu có thì cũng chẳng quan trọng. Với hắn, tôi không phải là gia đình của ai đó. Tôi chỉ là một thứ để chiếm lấy, sử dụng và vứt bỏ. Tên Mặt Nạ thản nhiên kéo tôi qua hành lang đến phòng khách như một tay thợ săn kéo lê con thú mình vừa bắt được. Đánh trả đi, tôi tự nhủ. Đánh trả đi. Nhưng, cứ như đánh hơi được những nỗ lực can đảm đầy thảm hại của tôi, hắn siết tay mạnh hơn và cơn đau lan đến tận óc tôi. Tôi buông thõng và để hắn kéo mình đi. Đám lính lê dương đứng thành hàng ngang giữa đống đồ đạc chỏng ngược và những lọ mứt vỡ trong phòng khách. Chẳng còn gì cho thương lái nữa. Bao nhiêu ngày làm việc quần quật bên những chiếc nồi bốc hơi nghi ngút, đến nỗi tóc và da tôi ám cả mùi mơ và quế. Bao nhiêu hũ mứt đã được hấp, sấy, đổ đầy và đậy chặt. Giờ thì vô nghĩa. Hoàn toàn vô nghĩa. Đèn bật sáng, ông bà đang quỳ giữa sàn, tay bị trói ngược ra sau. Tên lính giữ Darin xô anh xuống sàn bên cạnh ông bà. “Tôi có cần trói cô gái không, thưa chỉ huy?” Một tên lính khác sờ vào sợi dây giắt ở thắt lưng hắn, nhưng tên Mặt Nạ cứ để tôi đứng giữa hai tên lính lê dương lực lưỡng. “Cô ta sẽ không gây rắc rối đâu.” Hắn nhìn tôi bằng ánh mắt công kích. “Phải không?” Tôi lắc đầu lùi lại, tự căm ghét bản thân sao hèn nhát đến vậy. Tôi chạm vào chiếc vòng xỉn màu của mẹ, giờ đang ôm quanh bắp tay tôi, và lần theo những hoa văn thân thuộc để tìm sức mạnh. Tôi chẳng thấy gì. Nếu là mẹ thì mẹ đã chiến đấu. Mẹ thà chết còn hơn để mình bị làm nhục. Nhưng tôi chẳng thể nhúc nhích. Nỗi sợ hãi đã kìm chặt tôi. Một tên lính lê dương tiến vào phòng với vẻ mặt đầy lo âu. “Nó không có ở đây, thưa chỉ huy.” Tên Mặt Nạ nhìn xuống anh trai tôi. “Cuốn sổ ký họa đâu rồi?” Darin im lặng nhìn chằm chằm về phía trước. Tiếng thở của anh khẽ và đều, trông anh không còn bàng hoàng nữa. Trên thực tế, anh rất bình tĩnh. Tên Mặt Nạ ra hiệu bằng một động tác nhỏ. Một tên lính lê dương túm cổ bà và ném thân hình yếu đuối của bà vào tường. Bà cắn môi, đôi mắt ánh lên sắc xanh. Darin cố chồm dậy nhưng lại bị một tên lính khác ghì xuống. Tên Mặt Nạ nhặt một mảnh vỡ lọ thủy tinh. Hắn đưa lưỡi liếm mứt như một con rắn. “Uổng quá, phải bỏ hết đống này rồi.” Hắn mơn trớn khuôn mặt bà bằng cạnh mảnh vỡ. “Hẳn là trước đây bà rất xinh đẹp. Đôi mắt này.” Hắn quay sang Darin. “Ta có nên khoét chúng ra không nhỉ?” “Nó ở bên ngoài cửa sổ phòng ngủ nhỏ. Trong bờ giậu.” Tôi chỉ có thể thì thầm, nhưng đám lính vẫn nghe được. Tên Mặt Nạ gật đầu và một trong những tên lính lê dương biến vào hành lang. Darin không nhìn tôi nhưng tôi cảm nhận được sự thất vọng của anh. Tại sao anh lại bảo em giấu nó, tôi những muốn hét lên. Tại sao anh lại đem cái thứ đáng nguyền rủa đó về nhà? Tên lính lê dương quay lại cùng quyển sổ. Trong khoảnh khắc như kéo dài đến vô tận, âm thanh duy nhất trong phòng là tiếng sột soạt của các trang giấy khi tên Mặt Nạ lật xem các bức ký họa. Nếu những trang còn lại của cuốn sổ cũng giống trang mà tôi tìm được thì tôi biết tên Mặt Nạ sẽ thấy gì: dao, gươm, bao kiếm, lò rèn, công thức, chỉ dẫn của Quân Binh - những thứ mà không một Trí Thức nào nên biết chứ đừng nói gì đến việc phác lại chúng trên giấy. “Làm thế nào ngươi vào được Khu Vũ Khí vậy, nhóc?” Tên Mặt Nạ rời mắt khỏi cuốn sổ. “Bọn Kháng Chiến đã hối lộ tên nô lệ Dân Đen nào đó cho ngươi lẻn vào hả?” Tôi gắng nén tiếng nấc. Một phần trong tôi nhẹ nhõm hẳn bởi Darin không phải một kẻ phản bội, nhưng phần còn lại thì muốn nổi điên vì anh là một kẻ đại ngốc. Cấu kết với quân Kháng Chiến của người Trí Thức là chuốc lấy án tử hình. “Tôi tự vào,” anh tôi trả lời. “Quân Kháng Chiến chẳng liên quan gì hết.” “Đêm qua, ngươi bị phát hiện đột nhập vào hầm mộ sau giờ giới nghiêm” - tên Mặt Nạ có vẻ đã chán ngấy - “cùng một đám Trí Thức nổi loạn đã rõ danh tính.” “Đêm qua, nó đã ở nhà từ trước giờ giới nghiêm rồi,” ông lên tiếng và tôi thấy thật lạ khi nghe ông nói dối. Nhưng chẳng ích gì. Cặp mắt của tên Mặt Nạ chỉ dán vào mình anh tôi. Hắn chẳng thèm chớp mắt, cố đọc vẻ mặt của Darin giống như cách tôi đọc một cuốn sách. “Mấy kẻ nổi loạn đã bị tống giam hôm nay,” tên Mặt Nạ nói. “Một trong số chúng đã khai ra tên của ngươi trước khi chết. Ngươi đã làm gì cùng bọn chúng?” “Họ đi theo tôi.” Giọng Darin rất bình thản. Như thể anh đã từng làm việc này. Như thể anh chẳng sợ hãi chút nào. “Trước đây tôi chưa từng gặp họ.” “Vậy mà chúng biết cuốn sổ của ngươi ở đây. Chúng đã khai hết cho ta về cuốn sổ này. Làm sao chúng biết được những điều đó? Chúng muốn gì ở ngươi?” “Tôi không biết.” Tên Mặt Nạ gí sâu mảnh thủy tinh vào lớp da mỏng dưới mắt bà, làm hai cánh mũi bà phập phồng. Một dòng máu chảy dọc theo nếp nhăn trên khuôn mặt bà. Darin hít sâu, dấu hiệu duy nhất cho thấy anh đang căng thẳng. “Họ đòi cuốn sổ của tôi,” anh lên tiếng. “Tôi đã từ chối. Tôi xin thề.” “Thế còn nơi ẩn náu của chúng thì sao?” “Tôi không thấy. Họ bịt mắt tôi. Chúng tôi đã ở trong khu hầm mộ.” “Chỗ nào trong khu hầm mộ?” “Tôi không nhìn thấy. Họ bịt mắt tôi.” Tên Mặt Nạ quan sát anh tôi một lúc lâu và tôi không biết làm thế nào Darin có thể giữ bình tĩnh trước cái nhìn ấy. “Ngươi đã được chuẩn bị cho việc này.” Một chút ngạc nhiên xen vào giọng nói của tên Mặt Nạ. “Thẳng lưng. Thở sâu. Cùng câu trả lời cho các câu hỏi khác nhau. Ai đã huấn luyện nhóc?” Thấy Darin không trả lời, tên Mặt Nạ nhún vai. “Vào tù vài tuần là tự mở mồm thôi.” Bà và tôi trao nhau cái nhìn kinh hãi. Nếu Darin bị đưa vào nhà tù của Quân Binh thì chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh được nữa. Anh sẽ bị tra khảo hàng tuần liền, sau đó chúng sẽ bán anh làm nô lệ hoặc giết anh. “Nó chỉ là một thằng nhóc thôi mà,” ông cất tiếng nhỏ nhẹ như thể nói với một bệnh nhân đang tức giận. “Các người làm ơn…” Một ánh thép lóe lên và ông gục xuống bất động như một hòn đá. Tên Mặt Nạ chuyển động nhanh đến mức tôi không hiểu hắn đã làm gì cho đến khi bà nhào tới khóc thét lên, tiếng khóc đớn đau như mũi giáo khiến tôi khuỵu xuống. Ông ơi. Trời ơi. Không, ông ơi. Cả tá lời thề ập đến trong đầu tôi. Cháu sẽ không bao giờ cãi lời nữa, cháu sẽ không bao giờ làm gì sai trái, cháu sẽ không bao giờ than phiền về công việc của mình, chỉ cần ông sống thôi. Nhưng bà đang giật tóc và gào khóc, nếu ông còn sống thì sẽ không bao giờ để bà làm như vậy. Ông sẽ chẳng thể chịu đựng được việc đó. Vẻ bình tĩnh của Darin như bị một lưỡi hái phá tan, mặt anh trắng bệch với nỗi khiếp đảm mà tôi cũng cảm thấy trong xương tủy mình. Bà lập cập đứng dậy và lảo đảo tiến một bước về phía tên Mặt Nạ. Hắn giơ tay lên như thể để nắm lấy vai bà. Thứ cuối cùng tôi nhìn thấy trong mắt bà là nỗi khiếp sợ. Rồi cái cổ tay đeo giáp của tên Mặt Nạ lại lóe sáng, để lại một đường cắt mảnh màu đỏ ngang cổ bà, một đường cắt cứ lớn và đỏ dần khi bà ngã xuống. Cả người bà đổ uỵch xuống sàn, đôi mắt vẫn mở và lóng lánh nước, trong khi máu trào ra từ cổ bà và thấm vào tấm thảm mà tôi đã dệt cùng bà từ mùa đông trước. “Thưa chỉ huy,” một tên lính lê dương lên tiếng. “Còn một tiếng nữa là trời sáng.” “Lôi cổ thằng nhóc ra khỏi đây.” Tên Mặt Nạ chẳng thèm liếc bà lấy một lần. “Và đốt trụi chỗ này đi.” Rồi hắn quay sang tôi, và tôi chỉ ước mình có thể tan vào cái bóng trên bức tường phía sau. Dẫu vẫn biết điều đó thật ngớ ngẩn, nhưng tôi chưa từng ước gì tha thiết đến thế. Hai tên lính đang giữ tôi nhăn nhở cười với nhau khi tên Mặt Nạ tiến dần đến chỗ tôi. Hắn nhìn tôi chằm chằm cứ như có thể đánh hơi thấy nỗi sợ hãi đang ngự trị trong tôi, tựa hồ con rắn hổ mang đang thôi miên con mồi của nó. Ôi không, làm ơn, không. Biến mất đi. Mình muốn biến mất. Tên Mặt Nạ chớp mắt, một cảm xúc lạ lẫm nào đó lóe lên trong mắt hắn - tôi không chắc đó là vẻ ngạc nhiên hay một cú sốc. Nhưng chẳng quan trọng. Bởi chính trong giây phút ấy, Darin từ dưới sàn nhảy vọt lên. Trong khi tôi còn co rúm lại thì Darin đã tự cởi trói cho mình. Hai bàn tay anh vươn ra như móng vuốt, cào vào cổ tên Mặt Nạ. Sự căm phẫn đã cho anh sức mạnh như một con sư tử và trong giây lát, anh bỗng giống hệt mẹ, mái tóc màu mật ong óng ánh, đôi mắt rực sáng và miệng bật ra một tiếng hằm hè dữ tợn. Tên Mặt Nạ lùi vào vũng máu gần phía đầu bà và Darin nhảy bổ lên người hắn, ghìm hắn xuống sàn rồi đấm tới tấp. Mấy tên lính lê dương hóa đá vì sốc, sau đó lấy lại ý thức, xông lên cùng những tiếng la hét, chửi rủa. Darin đã lôi ra được một con dao găm từ thắt lưng tên Mặt Nạ trước khi đám lính lê dương túm lấy anh. “Laia,” anh tôi quát lớn. “Chạy đi…” Đừng chạy, Laia. Hãy giúp anh ấy. Chiến đấu đi. Nhưng tôi nghĩ đến ánh nhìn lạnh lùng của tên Mặt Nạ, nghĩ đến sự tàn ác trong đôi mắt hắn. Ta vẫn luôn thích những cô gái tóc đen. Hắn sẽ cưỡng hiếp tôi. Rồi hắn sẽ giết tôi. Tôi rùng mình lùi về phía hành lang. Chẳng ai chặn tôi lại. Chẳng ai để ý. “Laia!” Darin gọi bằng giọng tôi chưa từng nghe thấy từ anh. Điên cuồng. Bế tắc. Anh đã kêu tôi chạy đi, nhưng nếu tôi gọi tên anh như thế, nhất định anh sẽ đến. Anh sẽ không bao giờ bỏ tôi lại. Tôi dừng chân. Giúp anh ấy đi, Laia, một giọng nói ra lệnh trong đầu tôi. Hành động đi. Một giọng nói khác, dứt khoát và mạnh mẽ hơn. Mày không thể cứu anh ấy đâu. Hãy làm như anh ấy nói. Chạy đi. Qua khóe mắt, tôi thấy ánh lửa bập bùng, rồi ngửi thấy mùi khói. Một tên lính lê dương đã bắt đầu châm lửa đốt nhà. Ngọn lửa sẽ nuốt trọn căn nhà trong vài phút nữa. “Lần này thì trói nó chặt vào rồi đưa về ngục tra khảo.” Tên Mặt Nạ vừa xoa cằm vừa tránh ra khỏi đám ẩu đả. Khi thấy tôi đang chạy về phía hành lang, hắn vẫn đứng im một cách kỳ lạ. Tôi miễn cưỡng nhìn vào mắt hắn và hắn hơi nghiêng đầu. “Chạy đi, cô bé,” hắn nói. Anh trai tôi vẫn cố chống cự và tiếng gào thét của anh cứa thẳng vào lòng tôi. Lúc ấy, tôi biết mình sẽ còn nghe thấy những tiếng gào thét đó dội lại từng giờ mỗi ngày cho đến khi tôi chết, hoặc cho đến khi tôi có thể chuộc lỗi. Tôi biết rõ điều đó. Dù vậy, tôi vẫn chạy. ••• Các con phố chật hẹp và những khu chợ bụi bặm của Khu Phố Trí Thức lờ mờ vụt qua tôi như khung cảnh của một cơn ác mộng. Cứ chạy được một bước, trong đầu tôi lại nghe thấy tiếng gào thét kêu tôi quay lại, trở về giúp Darin. Sau mỗi bước chạy, ý nghĩ đó càng trở nên mờ nhạt hơn, cho đến khi tôi biết mình không thể quay lại được nữa, cho đến khi từ duy nhất tôi có thể nghĩ là chạy. Đám lính đuổi theo tôi, nhưng vì đã lớn lên giữa những ngôi nhà thấp bé xây bằng gạch bùn của Khu Phố nên tôi nhanh chóng bỏ xa những kẻ đang truy lùng mình. Bình minh hé rạng, các bước chạy hoảng loạn biến thành những bước khập khiễng khi tôi lang thang từ con hẻm này đến con hẻm khác. Tôi đi đâu bây giờ? Tôi làm gì bây giờ? Tôi cần một kế hoạch, nhưng tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Ai có thể giúp đỡ hay an ủi tôi bây giờ? Hàng xóm sẽ làm ngơ vì lo sợ cho chính tính mạng của họ. Người thân của tôi đều đã chết hoặc bị cầm tù. Bạn thân nhất của tôi, Zara, đã mất tích trong một cuộc càn quét hồi năm ngoái, những người bạn khác cũng đều có khó khăn riêng. Tôi chỉ có một mình. Tảng sáng, tôi thấy mình ở trong một tòa nhà trống nằm sâu trong khu vực cũ nát nhất của Khu Phố. Tòa nhà đã bị phá trụi bên trong, giờ nằm thu mình như một con thú bị thương giữa mê cung những căn nhà đổ nát. Mùi hôi thối của rác rưởi ngập tràn trong không khí. Tôi rúc vào một góc phòng. Mái tóc tết gọn gàng đã bung ra thành một mớ bù xù vô vọng. Những mũi thêu bằng chỉ đỏ dọc theo viền váy tuột ra, sợi chỉ sáng màu buông lủng lẳng. Bà đã thêu những đường viền đó nhân dịp sinh nhật lần thứ mười bảy của tôi, khiến bộ đồ màu xám tẻ nhạt trở nên sáng sủa hơn. Đó là một trong những món quà ít ỏi mà bà có thể tặng tôi. Giờ bà không còn nữa. Ông cũng thế. Cả cha mẹ và chị gái tôi cũng vậy, từ lâu lắm rồi. Còn Darin. Bị bắt. Bị đưa vào ngục tra khảo nơi đám Quân Binh sẽ làm những việc chỉ có trời mới biết với anh. Cuộc sống được dệt nên từ rất nhiều những khoảnh khắc vô nghĩa. Rồi đến một ngày, một khoảnh khắc duy nhất sẽ định đoạt tất cả những gì diễn ra sau đó. Thời khắc Darin gọi tên tôi - chính là thời khắc quyết định đó. Đó là một bài kiểm tra dũng khí, kiểm tra sức mạnh. Và tôi đã không vượt qua. Laia! Chạy đi! Sao tôi lại nghe lời anh? Lẽ ra tôi nên ở lại. Lẽ ra tôi nên làm gì đó. Tôi rền rĩ ôm đầu. Tiếng anh vẫn văng vẳng. Giờ này anh đang ở đâu? Bọn chúng đã bắt đầu tra khảo anh chưa? Anh sẽ tự hỏi điều gì đã xảy ra với tôi. Anh sẽ tự hỏi tại sao em gái anh có thể bỏ lại anh như thế. Một chuyển động lén lút thoáng qua trong bóng tối thu hút sự chú ý của tôi, khiến tôi dựng tóc gáy. Chuột? Quạ? Những bóng đen di chuyển, hai con mắt ác độc của chúng sáng rực. Rồi nhiều cặp mắt khác hiện ra, ti hí và hiểm ác. Ảo giác, trong đầu tôi văng vẳng tiếng ông chẩn đoán. Triệu chứng của một cú sốc. Dù là ảo giác hay không, những cái bóng kia nhìn rất thật. Cặp mắt chúng rực sáng như những vầng mặt trời thu nhỏ và chúng vây quanh tôi như một bầy linh cẩu, càng lúc càng hung dữ mỗi lần vụt ngang qua tôi. “Chúng ta đã thấy,” chúng rít lên. “Chúng ta biết điểm yếu của ngươi. Anh ấy sẽ chết vì ngươi.” “Không,” tôi thì thầm. Nhưng chúng, những bóng đen đó, đã đúng. Tôi đã bỏ Darin lại. Tôi đã bỏ rơi anh. Dù anh là người đã bảo tôi đi, nhưng chuyện đó đâu quan trọng. Sao tôi có thể hèn nhát đến vậy? Tôi chạm vào chiếc vòng tay của mẹ, nhưng làm vậy chỉ càng khiến tôi cảm thấy tệ hơn. Nếu là mẹ thì mẹ đã đánh lừa được tên Mặt Nạ đó. Có lẽ mẹ đã cứu được ông, bà và cả Darin. Ngay cả bà cũng dũng cảm hơn tôi. Bà, với cơ thể yếu ớt và đôi mắt như có lửa. Cùng một ý chí sắt thép. Mẹ đã thừa hưởng ngọn lửa ý chí đó từ bà, và sau mẹ là Darin. Nhưng tôi thì không. Chạy đi, cô bé. Những bóng đen tiến sát lại và tôi nhắm mắt để khỏi thấy chúng, hy vọng chúng sẽ biến mất. Tôi gắng nắm bắt những ý nghĩ đang nhảy loạn xạ trong đầu, cố kiểm soát chúng. Xa xa, tôi nghe tiếng la hét và tiếng ủng thình thịch. Nếu bọn lính vẫn đang tìm kiếm tôi thì nơi đây không hề an toàn. Có lẽ tôi nên để bọn chúng tìm thấy mình và làm những gì chúng muốn. Tôi đã bỏ rơi anh trai ruột. Tôi đáng bị trừng phạt. Nhưng cũng chính cái trực giác khi trước thôi thúc tôi chạy trốn khỏi tên Mặt Nạ giờ lại buộc tôi đứng dậy. Tôi chạy vào các con phố và hòa vào giữa dòng người đông đúc buổi sáng. Vài Trí Thức ngạc nhiên nhìn tôi, một số có vẻ cảnh giác, số còn lại tỏ ra thông cảm. Nhưng hầu hết họ không nhìn. Điều đó khiến tôi tự hỏi đã bao nhiêu lần, ngay trên những con phố này, tôi lướt qua ai đó đang chạy trốn, ai đó vừa bị mất mọi thứ trên đời. Tôi nghỉ chân trong một con hẻm loang lổ nước cống trơn trượt. Đám khói đen đặc cuộn lên từ phía bên kia Khu Phố và mờ dần khi bốc lên khoảng trời nóng nực phía trên. Nhà tôi đã bị đốt. Mấy bình mứt của bà, thuốc của ông, các bức vẽ của Darin và cả đống sách của tôi đều mất hết rồi. Mọi thứ thuộc về tôi. Tất cả đều đã mất. Không phải mọi thứ đâu, Laia. vẫn còn Darin. Một cái nắp cống nằm ngay giữa con hẻm, chỉ cách tôi vài thước. Như mọi nắp cống khác trong Khu Phố, nó dẫn xuống khu hầm mộ Serra: nơi trú ngụ của những bộ xương, ma, chuột, trộm… và có thể là cả quân Kháng Chiến của người Trí Thức. Có phải Darin làm gián điệp cho họ? Có phải quân Kháng Chiến đã bắt anh vào Khu Vũ Khí? Mặc những điều anh tôi nói với tên Mặt Nạ, đó là câu trả lời duy nhất có lý. Nghe nói các chiến binh của quân Kháng Chiến ngày càng mạnh bạo, không chỉ chiêu mộ dân Trí Thức mà còn cả các Thủy Thủ suốt từ đất nước tự do Marinn lên phía Bắc, cùng Thổ Dân đến từ những vùng sa mạc được Đế Chế bảo hộ. Ông bà chẳng bao giờ nhắc đến quân Kháng Chiến trước mặt tôi. Nhưng khi đêm xuống, tôi nghe thấy ông bà thì thầm rằng những kẻ chống đối đó vừa thả tự do cho tù nhân Trí Thức, vừa tấn công đám Quân Binh. Rằng những chiến binh đã đột kích các đoàn xe buôn của giới thương lái Quân Binh - đám Thương Nhân, và ám sát các thành viên giới thượng lưu - đám Quý Tộc. Họ là những người duy nhất đứng lên chống lại Quân Binh. Dù hiếm có khó tìm, nhưng họ chính là vũ khí duy nhất mà người Trí Thức có. Chỉ họ mới có thể đến gần các lò rèn. Tôi nhận ra quân Kháng Chiến có thể giúp tôi. Nhà tôi đã bị đột kích và thiêu trụi, gia đình tôi bị giết vì hai trong số những kẻ chống đối đã khai ra tên của Darin với Đế Chế. Nếu tôi tìm được quân Kháng Chiến và giải thích những chuyện đã xảy ra, họ có thể giúp tôi giải cứu Darin ra khỏi tù - không chỉ vì họ nợ tôi mà còn vì họ tuân theo Izzat, một tôn chỉ sống đã tồn tại lâu đời cùng với người Trí Thức. Chỉ huy của lực lượng chống đối là những Trí Thức giỏi nhất và dũng cảm nhất. Cha mẹ đã dạy tôi điều đó trước khi bị Đế Chế giết chết. Nếu tôi yêu cầu giúp đỡ, quân Kháng Chiến sẽ không từ chối. Tôi tiến về phía nắp cống. Tôi chưa từng vào khu hầm mộ Serra. Hàng trăm cây số đường hầm và hang động chạy quanh co phía dưới thành phố, một số nơi có những bộ xương đã hàng trăm năm tuổi. Chẳng ai dùng hầm mộ cho việc an táng nữa, ngay cả Đế Chế cũng chưa thể vẽ được bản đồ của toàn thể khu hầm mộ. Nếu Đế Chế có dốc hết sức cũng không thể lần ra lực lượng chống đối thì làm cách nào tôi tìm được họ? Mày sẽ không dừng lại tới chừng nào tìm ra họ. Tôi nâng nắp cống lên và nhìn vào cái hố đen bên dưới. Tôi phải xuống đó. Tôi phải tìm quân Kháng Chiến. Vì nếu không, anh tôi sẽ chẳng có cơ hội trốn thoát. Nếu không tìm được các chiến binh và nhờ họ giúp đỡ, tôi sẽ chẳng bao giờ được gặp lại Darin nữa. IV: ELIAS K hi Helene và tôi đến tháp chuông của Blackcliff, gần như tất cả ba nghìn học viên của trường đã tập trung đầy đủ. Còn một tiếng nữa trời mới sáng nhưng tôi không thấy bất kỳ ai ngái ngủ. Thay vào đó những tiếng bàn tán háo hức rì rầm khắp đám đông. Lần cuối cùng có người đào tẩu, cả sân trường khi ấy đang bị phủ bởi sương giá. Mọi học viên đều biết điều gì sắp diễn ra. Tôi hết siết tay rồi lại xòe ra. Tôi không muốn chứng kiến cảnh này. Cũng như tất cả các học viên của Blackcliff, tôi đến đây khi mới lên sáu và trong mười bốn năm tiếp theo, tôi đã chứng kiến những cảnh trừng phạt như thế hàng nghìn lần. Lưng của chính tôi cũng chẳng khác nào một tấm bản đồ chằng chịt các dấu vết hung bạo của ngôi trường này. Nhưng hình phạt cho những kẻ đào tẩu luôn là tệ nhất. Cơ thể tôi căng cứng như một chiếc lò xo, nhưng tôi gắng giữ ánh mắt thờ ơ và vẻ mặt vô cảm. Các giáo viên bộ môn của Blackcliff, những Sĩ Quan Huấn Luyện, sẽ giám sát. Để họ nổi giận khi tôi sắp sửa bỏ trốn được sẽ là điều ngu ngốc không thể tha thứ. Helene và tôi bước qua đám học viên nhỏ tuổi nhất, bốn lớp Sơ Cấp chưa đeo mặt nạ, những đứa sẽ được nhìn cảnh chém giết sắp tới rõ nhất. Đứa nhỏ nhất chưa đầy bảy tuổi và đứa lớn nhất mới chỉ gần mười một. Đám Sơ Cấp nhìn xuống khi chúng tôi đi qua; chúng tôi là học viên cuối cấp và đám nhóc đó thậm chí còn bị cấm nói chuyện với chúng tôi. Bọn nhóc đứng thẳng người, đao dựng đúng góc bốn mươi lăm độ sau lưng, ủng đánh bóng loáng và nét mặt vô hồn như tượng đá. Đến giờ, thậm chí những học viên nhỏ tuổi nhất trong đám Sơ Cấp cũng đã học được bài học quan trọng nhất ở Blackcliff: phục tùng, tuân thủ và im miệng. Phía sau đám Sơ Cấp là một khoảng trống để tưởng nhớ những học viên cấp hai của Blackcliff, được gọi là học viên năm Năm vì quá nhiều người đã chết khi học đến năm thứ năm. Tới mười một tuổi, các Sĩ Quan Huấn Luyện sẽ đưa chúng tôi ra khỏi Blackcliff và quẳng vào vùng rừng hoang của Đế Chế mà không cho đem theo quần áo, đồ ăn hay vũ khí, để chúng tôi tìm cách sống sót trong suốt bốn năm. Những học viên năm Năm sống sót sẽ quay lại Blackcliff, nhận mặt nạ và lại dành tiếp bốn năm làm Thiếu Sinh Quân, rồi thêm hai năm huấn luyện thành Tập Sự. Hel và tôi là những Tập Sự năm cuối - sắp hoàn thành năm cuối cùng của kỳ huấn luyện. Các Sĩ Quan Huấn Luyện giám sát chúng tôi từ phía dưới những mái vòm bao quanh sân, tay cầm roi da trong lúc đợi Sĩ Quan Chỉ Huy của Blackcliff xuất hiện. Họ đứng im như tượng, những chiếc mặt nạ từ lâu đã bao trọn các đường nét khuôn mặt họ và việc thể hiện cảm xúc giờ chỉ còn là một ký ức xa xôi. Tôi đặt tay lên mặt nạ của mình và ước sao có thể giật nó ra dù chỉ trong giây lát. Giống như các bạn cùng lớp, tôi nhận chiếc mặt nạ đó vào ngày đầu tiên được làm Thiếu Sinh Quân, lúc tôi mười bốn tuổi. Khác với những học viên còn lại - và như Helene lo ngại - cái lớp chất lỏng bằng bạc trơn mượt ấy không tiệp vào da tôi như dự định. Có lẽ là vì tôi thường bỏ cái thứ đáng nguyền rủa đó ra mỗi khi chỉ còn một mình. Tôi đã ghét mặt nạ kể từ ngày một Nhà Tiên Tri - thầy tế của Đế Chế - trao nó cho tôi trong một chiếc hộp viền nhung. Tôi ghét cái cách nó bám lấy tôi như một loài ký sinh. Tôi ghét cái cách nó ép lên mặt tôi, hòa vào da thịt tôi. Tôi là học viên duy nhất chưa bị chiếc mặt nạ tiệp vào da - một điều mà các kẻ thù của tôi rất ưa chỉ ra. Nhưng dạo gần đây, nó đã bắt đầu chống lại tôi, thúc đẩy quá trình tiệp da bằng việc thọc những sợi tơ li ti vào gáy tôi. Nó khiến tôi sởn gai ốc, làm tôi cảm thấy như không còn là chính mình nữa. Như thể tôi sẽ chẳng bao giờ được là chính mình nữa. “Veturius.” Demetrius, trung đội phó của Hel với mái tóc hung đỏ và thân hình cao gầy, gọi tôi khi chúng tôi về vị trí với các Tập Sự năm cuối khác. “Ai thế? Kẻ đào tẩu là ai vậy?” “Tớ không biết. Dex và nhóm trợ chiến đã bắt thằng nhóc về.” Tôi nhìn quanh để tìm trung đội phó của mình, nhưng cậu ta vẫn chưa đến. “Tớ nghe nói đó là một nhóc Sơ Cấp.” Demetrius nhìn chằm chằm vào khúc gỗ trồi ra từ đám sỏi nhuốm máu khô dưới chân tháp chuông. Cột chịu đòn. “Một đứa lớp lớn. Một học viên năm Tư.” Helene và tôi nhìn nhau. Em trai Demetrius cũng đã cố bỏ trốn hồi mới lên mười, khi học năm Tư tại Blackcliff. Trước khi bị đám lính lê dương bắt về đối mặt với Sĩ Quan Chỉ Huy, nó đã ra ngoài cổng trường được ba tiếng - lâu hơn hầu hết những người khác. “Có thể đó là một Tập Sự.” Helene liếc nhìn một lượt những học viên lớp lớn, cố đoán xem còn thiếu ai. “Có thể là Marcus,” Faris, thành viên cùng trung đội chiến đấu với tôi, người có vóc dáng to lớn gấp đôi tất cả chúng tôi, vừa nói vừa nhăn nhở cười, mái tóc vàng hoe vểnh lên thành một túm lởm chởm giữa trán. “Hoặc là Zak.” Đáng tiếc là không phải. Marcus, học viên có nước da ngăm đen và đôi mắt màu vàng, đang đứng ở đầu hàng chúng tôi cùng với đứa em song sinh tên Zak, người có vóc dáng thấp bé hơn, nhưng tàn bạo không kém. Hel gọi chúng là Rắn và Cóc. Mặt nạ của Zak vẫn chưa hoàn toàn bám chắc vào quanh mắt nó, nhưng mặt nạ Marcus thì đã ôm khít, khớp với hắn đến nỗi tất cả những đường nét trên mặt hắn - thậm chí cả đôi lông mày rậm và xiên xẹo - đều có thể được nhìn thấy rõ phía dưới tấm mặt nạ. Nếu bây giờ cố gắng tháo cái mặt nạ ra, Marcus sẽ kéo toạc cả nửa khuôn mặt hắn. Biết đâu thế lại làm hắn dễ coi hơn. Như thể cảm nhận được cái nhìn của Hel, Marcus quay lại liếc Helene bằng ánh mắt như muốn ăn tươi nuốt sống cậu ấy, khiến tay tôi ngứa ngáy muốn siết cổ hắn. Đừng làm gì bất thường, tôi tự nhắc mình. Đừng gây chú ý. Tôi ép mình nhìn đi chỗ khác. Tấn công Marcus trước toàn trường chắc chắn sẽ được xếp vào diện bất thường. Helene nhận thấy ánh mắt đểu cáng của Marcus. Hai bàn tay cậu ấy nắm lại bên sườn, nhưng trước khi cậu ấy có thể dạy cho Rắn một bài học thì viên cảnh vệ đã tiến vào sân. “CHÚ Ý.” Ba nghìn người đồng loạt quay về phía trước, ba nghìn đôi ủng đồng loạt táp vào nhau, ba nghìn tấm lưng rướn thẳng như thể bị kéo bởi bàn tay của diễn viên điều khiển rối. Trong sự tĩnh lặng theo sau, ta có thể nghe thấy tiếng rơi của một giọt nước mắt. Nhưng chúng tôi không nghe thấy tiếng bước chân của Sĩ Quan Chỉ Huy Học viện Quân sự Blackcliff; chúng tôi cảm thấy bà ta như cái cách người ta cảm thấy một cơn bão đang đến. Bà ta di chuyển một cách lặng lẽ, rồi hiện ra từ chỗ mái vòm như một con mèo rừng lông vàng chui ra khỏi bụi cây. Bà ta mặc tuyền một màu đen, từ chiếc áo khoác quân phục ôm sát cơ thể đến đôi ủng có mũi bọc thép. Như mọi khi, mái tóc vàng hoe của bà ta được túm thành một búi thật chặt sau cổ. Bà ta là Mặt Nạ nữ duy nhất còn sống - sẽ là như vậy cho đến khi Helene tốt nghiệp vào ngày mai. Nhưng không giống Helene, ở Sĩ Quan Chỉ Huy toát ra một sự ớn lạnh chết người như thể cặp mắt xám và các đường nét sắc như dao cắt của bà ta được tạc từ đáy một dòng sông băng. “Mang kẻ tội đồ lại đây,” bà ta ra lệnh. Từ phía sau tháp chuông, hai tên lính lê dương tiến ra, kéo theo một thân hình nhỏ bé, dặt dẹo. Bên cạnh tôi, Demetrius lộ vẻ căng thẳng. Lời đồn đại đã đúng - kẻ đào tẩu là một học viên Sơ Cấp năm Tư, không quá mười tuổi. Máu chảy thành giọt xuống khuôn mặt nó, thấm vào cổ áo của bộ đồ dã chiến màu đen nó đang mặc. Khi hai tên lính ném phịch nó xuống ngay trước mặt Sĩ Quan Chỉ Huy, nó không nhúc nhích. Khuôn mặt bạc của Sĩ Quan Chỉ Huy chẳng lộ ra điều gì khi nhìn xuống cậu học viên Sơ Cấp. Nhưng tay bà ta lại lần về phía cái roi quất ngựa có đầu nhọn giắt ở thắt lưng, được làm từ gỗ lim thâm đen. Bà ta không rút nó ra. Vẫn chưa. “Học viên Sơ Cấp năm Tư, Falconius Barrius,” bà ta cất giọng, nghe có phần nhỏ nhẹ và mềm mỏng. “Trò bỏ vị trí tại Blackcliff mà không có ý định quay lại. Hãy giải thích lý do.” “Không có lý do nào cả, thưa Chỉ huy.” Thằng bé nói ra những từ mà tất cả chúng tôi đã từng nói cả trăm lần với Sĩ Quan Chỉ Huy, những từ duy nhất mà chúng tôi có thể nói tại Blackcliff khi vừa gây chuyện trầm trọng. Tôi phải nỗ lực để giữ vẻ mặt vô hồn, để không thể hiện cảm xúc từ ánh mắt. Barrius sắp bị trừng trị vì cái tội mà tôi sẽ phạm phải trong chưa đầy ba mươi sáu tiếng nữa. Có thể tôi sẽ là người bị lôi lên đó trong hai ngày tới. Máu me bê bết. Tàn tạ. “Để ta hỏi ý kiến các bạn của trò.” Sĩ Quan Chỉ Huy đưa mắt nhìn chúng tôi, khiến tất cả có cảm giác như bị thổi bay bởi một cơn gió núi buốt lạnh. “Có phải học viên Sơ Cấp Barrius đã phạm tội phản nghịch hay không?” “Vâng, thưa Chỉ huy!” Tiếng thét dữ dội và tàn bạo làm rung chuyển cả những phiến đá lát. “Lính đâu,” Sĩ Quan Chỉ Huy ra lệnh. “Đưa nó ra cột.” Tiếng gầm rú từ đám học viên khiến Barrius đang đờ đẫn liền giật bắn dậy và khi đám lính lê dương trói thằng bé vào cột hành hình, nó quằn quại giãy giụa điên cuồng. Những đồng môn Sơ Cấp năm Tư của nó, chính những thằng nhóc đã cùng nó chiến đấu, đổ mồ hôi và chịu đựng suốt mấy năm, giờ dùng ủng đá những phiến đá lát dưới chân và giơ cao nắm đấm. Ở hàng của những Tập Sự năm cuối phía trước tôi, Marcus reo hò cổ vũ, ánh mắt sáng lên vẻ thích thú đáng nguyền rủa. Hắn nhìn Sĩ Quan Chỉ Huy với thái độ sùng kính thường dành cho thần thánh. Tôi cảm thấy mình đang bị theo dõi. Phía bên trái, một trong những Sĩ Quan Huấn Luyện đang đưa mắt giám sát. Đừng làm gì bất thường. Tôi giơ nắm đấm và reo hò cùng đám học viên mà thấy ghét chính mình. Sĩ Quan Chỉ Huy rút roi ra, vuốt ve nó như một người tình. Rồi bà ta quất nó xuống lưng Barrius. Tiếng hổn hển của thằng bé vang vọng khắp sân trường, khiến tất cả học viên im bặt, gắn kết với nhau trong cùng một khoảnh khắc thương cảm ngắn ngủi. Blackcliff có nhiều quy tắc đến nỗi người ta không thể không phạm luật ít nhất vài lần. Tất cả chúng tôi đều đã từng bị trói vào cái cột đó. Tất cả chúng tôi đều đã từng nếm trải mùi vị cái roi da của Sĩ Quan Chỉ Huy. Sự tĩnh lặng đó chẳng kéo dài bao lâu. Barrius gào thét và đám học viên đáp lại bằng những tiếng la ó, cười nhạo thằng bé. Marcus là đứa to mồm nhất, nhoài cả người về phía trước rồi phấn khích khạc nhổ. Faris cũng la lớn cổ vũ. Ngay cả Demetrius cũng hò hét một hai tiếng, đôi mắt xanh lục của cậu ta vô hồn và xa xăm như thể toàn bộ tâm trí đang ở một nơi khác. Bên cạnh tôi, Helene cũng reo hò, nhưng trông mặt cậu ấy chẳng vui chút nào, chỉ lộ vẻ buồn bã lạnh lùng. Quy tắc ở Blackcliff buộc cậu ấy phải thể hiện sự giận dữ của mình đối với tội phản bội của kẻ đào tẩu. Thế nên cậu ấy làm đúng như vậy. Sĩ Quan Chỉ Huy có vẻ dửng dưng trước những tiếng la hét, chỉ tập trung vào việc đang làm. Cánh tay bà ta giơ lên rồi hạ xuống với vẻ duyên dáng của một vũ công. Cứ quất được một nhát, bà ta lại nghỉ tay đi vòng quanh Barrius trong lúc tứ chi gầy guộc của thằng bé bắt đầu co giật, chắc chắn là để nghĩ xem làm thế nào bà ta có thể đánh roi sau đau hơn roi trước. Sau hai mươi lăm roi, bà ta túm cái gáy ngoặt ngoẹo của Barrius và quay nó lại. “Nhìn họ đi,” bà ta nói. “Nhìn những con người mà trò đã phản bội đi.” Ánh mắt cầu khẩn của Barrius nhìn quanh sân trường, tìm ai đó có thiện ý trao cho nó một chút xót thương. Đáng lẽ nó phải lường trước kết quả này. Mắt nó cụp xuống nhìn những phiến đá lát. Tiếng cổ vũ tiếp tục vang lên và cái roi lại nện xuống. Liên tục. Barrius quỵ xuống những phiến đá trắng, vũng máu quanh người nó nhanh chóng lan ra. Đôi mắt nó chớp chớp lờ đờ. Tôi hy vọng nó không còn tỉnh táo nữa. Tôi hy vọng nó không còn cảm thấy gì nữa. Tôi bắt mình quan sát. Đây là lý do mày cần ra đi, Elias. Để mày không bao giờ phải tham gia vào việc này nữa. Một tiếng rên rỉ bật ra từ miệng Barrius. Sĩ Quan Chỉ Huy buông tay và sân trường im lặng. Tôi thấy kẻ đào tẩu đang thở. Hít vào một lần. Thở ra. Rồi im lìm. Không một tiếng reo hò. Bình minh ló dạng, các tia nắng xuất hiện trên nền trời phía trên tháp chuông đen như gỗ mun của Blackcliff như những ngón tay thấm máu, nhuộm lên từng người trong sân trường một màu đỏ gớm ghiếc. Sĩ Quan Chỉ Huy lau roi vào bộ quần áo dã chiến của Barrius trước khi giắt lại nó vào dây lưng. “Đưa nó ra đụn cát,” bà ta ra lệnh cho đám lính lê dương. “Cho lũ kền kền rỉa.” Rồi bà ta quay sang quan sát chúng tôi. “Nghĩa vụ trước nhất, cho đến chết. Nếu phản bội Đế Chế, các trò sẽ bị bắt và phải trả giá. Giải tán.” Các hàng học viên lần lượt giải tán. Dex, người đã bắt được kẻ đào tẩu, lặng lẽ chuồn đi, khuôn mặt điển trai ảm đạm có chút khó chịu. Faris ì ạch theo sau, chắc chắn sẽ vỗ lưng Dex và khuyên cậu ta tới nhà thổ quên sầu. Demetrius lánh đi chỗ khác một mình, tôi biết cậu ta đang nhớ lại ngày này hai năm trước, khi cậu ta bị bắt chứng kiến cảnh em trai mình chết hệt như Barrius. Không nên bắt chuyện với cậu ta trong vài giờ tới. Những học viên khác cũng nhanh chóng rời sân trường trong khi vẫn tiếp tục bàn tán về trận đòn. “… chỉ có ba mươi roi, đúng là một kẻ yếu đuối…” “… mày có nghe tiếng nó thở hổn hển không, cứ như một con bé bị hoảng loạn ấy…” “Elias.” Giọng Helene nghe thật dịu dàng, cả cái chạm tay của cậu ấy vào cánh tay tôi cũng thật nhẹ nhàng. “Đi nào. Sĩ Quan Chỉ Huy sẽ thấy cậu đấy.” Cậu ấy nói đúng. Mọi người đều đang tản đi. Tôi cũng nên làm như vậy. Nhưng tôi không thể. Chẳng ai buồn nhìn cái xác đẫm máu của Barrius. Nó là một kẻ phản bội. Nó chẳng là gì. Nhưng phải có ai đó ở lại chứ. Phải có ai đó tiếc thương nó dù chỉ trong giây lát chứ. “Elias,” Helene nói, lần này có vẻ cấp bách. “Đi nào. Bà ta sẽ thấy cậu đấy.” “Cho mình một phút,” tôi đáp. “Cậu đi trước đi.” Helene muốn tranh cãi với tôi, nhưng sự có mặt của cậu ấy rất dễ gây chú ý, còn tôi thì đang không thèm nhúc nhích. Cuối cùng Hel cũng bỏ đi sau khi trao cho tôi ánh mắt nghi ngại. Khi cậu ấy đi khỏi, tôi ngước lên và thấy Sĩ Quan Chỉ Huy đang quan sát tôi. Chúng tôi nhìn nhau qua khoảnh sân dài và tôi cảm thấy vô cùng kinh ngạc, lần thứ một trăm, về những khác biệt giữa chúng tôi. Tôi tóc đen, còn bà ta tóc vàng. Tôi có nước da ánh lên màu nâu đồng, da bà ta lại trắng như phấn. Miệng bà ta luôn mím chặt nghiêm nghị, trong khi nhìn tôi lúc nào cũng vui vẻ ngay cả khi tôi không thấy thế. Tôi lực lưỡng và cao trên mét tám, nhưng bà ta lại nhỏ con hơn cả một người phụ nữ Trí Thức bình thường, đồng thời mang vẻ ngoài yểu điệu ngụy tạo. Nhưng bất kỳ ai thấy chúng tôi đứng cạnh nhau đều có thể nhận ra mối quan hệ của cả hai. Mẹ đã cho tôi hai gò má cao và đôi mắt màu xám nhạt. Bà ta cho tôi sự mau lẹ và bản năng tàn bạo khiến tôi trở thành học viên giỏi nhất mà Blackcliff từng có trong suốt hai thập kỷ. Mẹ. Đó không phải là từ thích hợp. Mẹ gợi lên sự ấm áp, ngọt ngào và tình thương yêu. Không phải gợi lại việc bỏ rơi con mình trên sa mạc của Thổ Dân vài giờ sau khi sinh. Không phải gợi lại hàng năm trời câm lặng và nỗi oán hận không thể nguôi ngoai. Bà ta, người phụ nữ sinh ra tôi, đã dạy tôi nhiều thứ. Khả năng kiểm soát là một trong số đó. Tôi nén nỗi giận dữ và ghê tởm của mình lại, gạt đi mọi cảm xúc. Bà ta cau mày, hơi mím môi và đưa một tay lên cổ, những ngón tay lần theo các vòng xoắn của một hình xăm kỳ lạ màu xanh dương lộ ra nơi cổ áo. Tôi tưởng bà ta sẽ tiến đến và hỏi sao tôi còn ở đây, sao tôi lại nhìn bà ta đầy thách thức. Nhưng bà ta không làm vậy. Thay vào đó, bà ta quan sát tôi thêm một lúc nữa trước khi quay đi và biến vào bên dưới mái vòm. Tháp chuông điểm sáu tiếng, trống đập thình thình. Tất cả học viên điểm danh ăn sáng. Dưới chân tháp, một đám lính lê dương nhấc xác Barrius mang đi. Sân trường tĩnh lặng và không còn ai, ngoại trừ tôi đang chăm chăm nhìn vũng máu nơi một cậu bé từng đứng, rồi ớn lạnh khi nhận ra rằng nếu không cẩn thận, tôi cũng sẽ có cái kết giống như vậy. V: LAIA S ự tĩnh lặng nơi hầm mộ vô tận như một đêm không trăng và vô cùng kỳ quái. Thế không có nghĩa là đường hầm trống không; khi tôi tụt xuống nắp cống, một con chuột chạy tót qua bàn chân trần của tôi và một con nhện trong suốt to bằng cả nắm tay thòng xuống từ một sợi tơ chỉ cách mặt tôi vài phân. Tôi cắn bàn tay để khỏi thét lên. Cứu Darin. Tìm quân Kháng Chiến. Cứu Darin. Tìm quân Kháng Chiến. Thỉnh thoảng tôi thì thầm những từ đó. Thường thì tôi niệm chúng trong đầu. Chúng giục tôi tiếp tục di chuyển, như một thứ bùa mê giúp tôi gạt đi nỗi sợ hãi đang bủa vây tâm trí. Tôi không chắc, thực sự không chắc về thứ mình đang tìm kiếm. Một doanh trại? Một nơi ẩn náu? Bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống ngoài mấy loài gặm nhấm trong tự nhiên? Vì hầu hết các điểm đóng quân của Đế Chế đều tập trung ở phía Đông Khu Phố Trí Thức nên tôi tiến về phía Tây. Thậm chí ở cái chốn không có mặt trời này, tôi vẫn có thể chỉ chính xác hướng mặt trời mọc và lặn, hướng thủ phủ Antium của Đế Chế ở phía Bắc và cảng chính của Navium tại phía Nam. Đó là một khả năng mà tôi đã có từ lâu lắm rồi. Khi còn bé và thấy Serra có vẻ là một nơi quá rộng lớn, tôi đã luôn xác định được phương hướng. Nhờ vậy nên tôi rất tự tin - ít nhất tôi cũng sẽ không bị đi lòng vòng vô định. Trong phút chốc, ánh mặt trời lọt qua cửa hầm mộ chiếu xuống đường hầm, soi lên lòng hầm một thứ ánh sáng yếu ớt. Tôi bám vào các bức tường bao quanh hầm mộ, cố chống lại cảm giác buồn nôn trước cái mùi nồng nặc của những bộ xương thối rữa. Hầm mộ đúng là một nơi ẩn náu lý tưởng nếu lính tuần tra của Quân Binh đến quá gần. Xương cũng chỉ là xương thôi, tôi tự nhủ. Còn lính tuần thì sẽ giết mày đấy. Dưới ánh nắng ban ngày, tôi dễ dàng đẩy lùi những nghi hoặc để tự thuyết phục bản thân rằng tôi sẽ tìm thấy quân Kháng Chiến. Nhưng tôi cứ lang thang nhiều giờ liền, rồi cuối cùng, ánh sáng nhạt dần và bóng tối ập đến, như một tấm rèm phủ xuống mắt tôi. Cùng với bóng tối, nỗi sợ hãi lại ào tới tâm trí tôi, như dòng nước mạnh phá tan con đập. Mỗi tiếng huỳnh huỵch là một tên lính trợ chiến giết người, mỗi tiếng rít là một bầy chuột. Khu hầm mộ đã nuốt chửng tôi như con trăn nuốt gọn một con chuột. Tôi rùng mình nhận ra cơ hội sống sót của tôi ở dưới này cũng mong manh như cơ hội sống của một con chuột. Cứu Darin. Tìm quân Kháng Chiến. Bụng tôi thắt lại vì đói và cổ họng bỏng rát vì khát. Tôi phát hiện có ánh đuốc lập lòe phía xa và cảm thấy như một con bướm đêm bị thôi thúc tiến về phía đó. Nhưng những ngọn đuốc đó đánh dấu lãnh thổ của Đế Chế và mấy tên lính trợ chiến làm nhiệm vụ dưới đường hầm có lẽ là đám Dân Đen thuộc tầng lớp thấp kém nhất trong lực lượng Quân Binh. Nếu những tên Dân Đen đó bắt được tôi dưới này, tôi thậm chí không muốn nghĩ đến những việc bọn chúng sẽ làm nữa. Tôi như một con thú đầy sợ hãi đang bị săn lùng, đó cũng chính là cách mà quân Đế Chế nhìn nhận tôi - cách mà chúng nhìn nhận tất cả những người Trí Thức. Hoàng Đế nói rằng chúng tôi là những người tự do sống dưới sự độ lượng của hắn. Thật lố bịch. Chúng tôi đâu được sở hữu tài sản hay đến trường, rồi ngay cả một tội nhẹ nhất cũng khiến chúng tôi bị đày làm nô lệ. Chẳng ai khác phải chịu đựng sự hà khắc này. Các Thổ Dân được bảo vệ bởi một hiệp ước; trong quá trình bị xâm lược, họ đã chấp nhận luật lệ của Quân Binh, đổi lại, dân tộc họ sẽ được tự do đi lại. Các Thủy Thủ thì được bảo hộ bởi địa lý cùng một số lượng lớn gia vị, thịt và sắt mà họ giao thương. Ở Đế Chế, chỉ có người Trí Thức bị đối xử như rác rưởi. Vậy hãy chống lại Đế Chế, Laia, tôi nghe thấy giọng Darin. Cứu anh. Tìm quân Kháng Chiến. Bóng tối làm bước chân tôi chậm lại cho đến khi tôi gần như phải bò đi. Đường hầm hẹp dần và các bức tường ngày một sát lại. Mồ hôi chảy xuống lưng tôi, toàn bộ cơ thể tôi run lên - tôi ghét những chỗ chật hẹp. Tiếng thở đứt quãng của tôi vang vọng. Ở đâu đó phía trước, một giọt nước đơn độc nhỏ xuống. Có bao nhiêu hồn ma đang ám nơi đây? Có bao nhiêu linh hồn thù hận đang lởn vởn khắp những đường hầm này? Thôi đi, Laia. Chẳng có ma quỷ gì hết. Khi còn bé, tôi đã dành hàng giờ ngồi nghe các Thổ Dân thêu dệt nên truyền thuyết về những thực thể huyền bí: Thần Bóng Đêm và các jinn; ma quỷ, efrit*, linh hồn và xác sống. Đôi khi các câu chuyện đó vẫn đi vào những cơn ác mộng của tôi và mỗi lúc như vậy, Darin luôn là người giúp tôi xua đi nỗi sợ hãi. Không như các Thổ Dân, người Trí Thức không mê tín và Darin luôn có tâm thế hoài nghi sáng suốt của một người Trí Thức. Chẳng có ma quỷ gì ở đây hết, Laia. Trong đầu văng vẳng tiếng anh nói, tôi nhắm mắt, tưởng tượng anh đang đứng ngay cạnh mình, tự cho phép bản thân đón nhận niềm an ủi từ sự hiện diện vững vàng của anh. Cũng chẳng có linh hồn nào hết. Không có cái gì như vậy cả. Tôi sờ chiếc vòng ở bắp tay - tôi vẫn luôn làm như vậy mỗi khi cần được tiếp thêm sức mạnh. Nó gần như cáu đen vì bẩn nhưng tôi thích thế; như vậy sẽ ít gây chú ý hơn. Tôi lần theo hoa văn trên lớp bạc, một loạt các đường nối mà tôi thuộc lòng ngay cả trong mơ. Mẹ đã tặng tôi chiếc vòng tay đó vào lần cuối cùng tôi nhìn thấy mẹ, khi tôi lên năm. Nó là một trong những ký ức hiếm hoi về mẹ mà tôi còn nhớ rõ - cùng mùi hương quế từ tóc mẹ và ánh sáng lấp lánh trong đôi mắt dữ dội như bão biển của mẹ. “Giữ nó an toàn cho mẹ nhé, dế con. Chỉ một tuần thôi. Cho đến khi mẹ về.” Giờ mẹ sẽ nói gì nếu biết tôi đã giữ chiếc vòng đó an toàn nhưng lại để mất đứa con trai duy nhất của mẹ? Nếu biết tôi đã tự cứu lấy mình và hy sinh mạng sống của chính anh trai? Hãy chuộc lỗi. Cứu Darin. Tìm quân Kháng Chiến. Tôi buông tay khỏi chiếc vòng và lảo đảo bước tiếp. Chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy những tiếng động đầu tiên từ phía sau. Tiếng thì thầm. Tiếng gót giày trên nền đá. Nếu không nhờ sự tĩnh mịch của các ngôi mộ, tôi không nghĩ mình phát hiện ra được vì những âm thanh đó rất nhẹ. Quá nhẹ với một tên lính trợ chiến. Quá lén lút đối với quân Kháng Chiến. Phải chăng là một tên Mặt Nạ? Tim đập mạnh, tôi lao đi tìm một chỗ tối nhất. Mấy tên Mặt Nạ có thể đi trong bóng tối dễ dàng như một hồn ma. Tôi chờ đợi, đông cứng người, nhưng khu hầm mộ lại chìm vào yên lặng. Tôi không động đậy. Nín thở. Chẳng nghe thấy gì. Chuột. Chỉ là một con chuột. Có lẽ là một con chuột cực lớn… Khi có đủ can đảm để bước tiếp, tôi ngửi thấy mùi da thuộc và gỗ cháy - mùi của con người. Tôi ngồi sụp xuống và lần tìm một thứ vũ khí nào đó dưới sàn - một hòn đá, một que củi, một khúc xương - bất kỳ thứ gì có thể đấu với kẻ đang săn đuổi tôi. Tôi nghe thấy tiếng đánh lửa vào bùi nhùi và tiếng rít xé toạc không trung, rồi một thoáng sau, cây đuốc bắt lửa phát ra một tiếng xèo. Tôi đứng lên lấy tay che mặt, ánh lửa bập bùng sau mi mắt. Khi cố gắng mở mắt, tôi thấy sáu người đội mũ trùm đầu đang quây quanh, giương tên về phía ngực tôi. “Cô là ai?” một người vừa hỏi vừa tiến đến. Dù có chất giọng lạnh lùng và vô cảm như mấy tên lính lê dương, nhưng anh ta không có vóc dáng to cao của một Quân Binh. Với hai cánh tay trần cơ bắp và rắn chắc, anh ta bước đi một cách uyển chuyển. Con dao trên tay trông không khác gì một phần cơ thể anh ta, tay còn lại thì cầm một ngọn đuốc. Tôi gắng nhìn vào mắt anh ta, nhưng chúng đang bị giấu dưới lớp mũ che mặt. “Nói đi.” “Tôi…” Sau hàng giờ im lặng, tôi chỉ có thể phát ra một tiếng lầm bầm trong cổ họng. “Tôi đang tìm…” Sao tôi lại hấp tấp thế nhỉ? Tôi không thể nói cho họ biết tôi đang tìm quân Kháng Chiến. Một người khờ đến mấy cũng không bao giờ thừa nhận mình đang đi tìm quân phản loạn. “Kiểm tra cô ta,” người đàn ông ra lệnh khi thấy tôi không nói tiếp. Một người khác, nhỏ con và có vẻ là phụ nữ, giắt lại cây tên ra sau lưng. Ngọn đuốc cháy xèo xèo phía sau khiến khuôn mặt chị ta chập chờn trong bóng tối. Chị ta quá nhỏ bé để có thể là một Quân Binh, làn da trên bàn tay chị ta cũng không đen đúa như Quân Binh. Chị ta có thể là một Trí Thức hoặc một Thổ Dân. Chắc tôi có thể thương lượng với chị ta. “Làm ơn, để tôi…” tôi cất tiếng. “Im miệng,” người đàn ông ban nãy nói. “Sana, có gì không?” Sana. Tên của một Trí Thức, ngắn gọn và đơn giản. Nếu là một Quân Binh, tên chị ta chắc chắn phải là Agrippina Cassius, Chrysilla Aroma hay gì đó vừa dài vừa phô trương giống như vậy. Nhưng việc chị ta là Trí Thức không có nghĩa tôi đã an toàn. Tôi từng nghe đồn về bọn cướp Trí Thức ẩn náu dưới khu hầm mộ, bất thình lình vọt qua cửa hầm để cướp bóc, tấn công và thường là giết hại bất kỳ ai lảng vảng gần đó trước khi rút về hang ổ của chúng. Sana sờ nắn chân tay tôi. “Một cái vòng tay,” chị ta nói. “Có thể là bằng bạc. Tôi không chắc lắm.” “Các người không được lấy nó!” Tôi giật mạnh người ra khỏi tay chị ta, những mũi tên vừa hạ xuống của bọn cướp lại đồng loạt giương lên. “Làm ơn, hãy để tôi đi. Tôi là một Trí Thức, là một trong số các người.” “Lục soát nốt đi,” người đàn ông khi nãy nói rồi ra hiệu cho những người còn lại trong nhóm lùi dần vào đường hầm. “Xin lỗi nhé.” Sana thở dài, nhưng trên tay chị ta giờ đang cầm một con dao găm. Tôi lùi lại một bước. “Xin đừng. Làm ơn.” Tôi đan các ngón tay lại với nhau để chúng khỏi run lên. “Nó là của mẹ tôi. Đó là thứ duy nhất còn lại của gia đình tôi.” Sana hạ thấp con dao, nhưng rồi tên cầm đầu bọn cướp gọi chị ta, sau đó tiến về phía chúng tôi khi thấy chị ta ngập ngừng. Tên cầm đầu đang di chuyển thì một trong những tên còn lại ra hiệu cho anh ta. “Keenan, chuồn thôi. Bọn lính trợ chiến.” “Bắt cặp rồi rải ra.” Keenan hạ thấp ngọn đuốc. “Nếu bọn chúng đuổi theo, hãy dẫn chúng ra xa khỏi căn cứ, nếu không cậu sẽ phải chịu trách nhiệm. Sana, lấy cái vòng bạc của con bé đó và chuồn thôi.” “Chúng ta không thể để em ấy lại,” Sana nói. “Bọn chúng sẽ tìm thấy em ấy. Cậu biết bọn chúng sẽ làm gì mà.” “Không phải việc của chúng ta.” Thấy Sana không di chuyển, Keenan nhét cây đuốc vào tay chị ta. Khi anh ta túm lấy cánh tay tôi, Sana chen vào giữa. “Đúng là chúng ta cần bạc,” chị ta lên tiếng. “Nhưng không phải từ người của ta. Tha cho em ấy đi.” Nhịp điệu nhanh và không thể nhầm lẫn từ giọng nói của đám Quân Binh vang vọng dọc đường hầm. Chúng vẫn chưa thấy ánh đuốc, nhưng chỉ trong giây lát nữa là sẽ nhận ra thôi. “Chết tiệt, Sana.” Keenan cố đi vòng qua Sana nhưng lại bị chị ta đẩy ra bằng một sức mạnh đáng kinh ngạc, khiến chiếc mũ trùm đầu của chị ta tuột ra phía sau. Khi ánh đuốc soi rõ khuôn mặt chị ta, tôi thở dốc. Không phải vì Sana lớn tuổi hơn tôi tưởng hay vì sự thù hận sục sôi của chị ta, mà vì tôi thấy trên cổ chị ta xăm hình một nắm đấm giơ cao trên nền một ngọn lửa. Bên dưới hình xăm là từ Izzat. “Chị… chị là…” Tôi không bật ra được từ đó. Keenan nhìn xuống hình xăm và chửi thề. “Tại chị cả đấy,” anh ta nói với Sana. “Giờ chúng ta không thể bỏ cô gái này lại. Nếu cô ta nói đã nhìn thấy chúng ta, chúng sẽ lũ lượt kéo quân xuống đường hầm cho đến khi tìm ra ta thì thôi.” Anh ta nhanh chóng tắt ngọn đuốc rồi túm tay tôi lôi đi. Khi tôi bổ nhào vào tấm lưng rắn chắc của Keenan, anh ta quay đầu lại và trong giây lát, tôi bắt gặp ánh nhìn giận dữ trong mắt anh ta. Mùi khói hăng hắc từ cơ thể anh ta thoảng vờn qua tôi. “Tôi xin…” “Im lặng và bước cho cẩn thận.” Anh ta ở gần hơn tôi tưởng, hơi thở ấm nóng của anh ta phả bên tai tôi. “Nếu không, tôi sẽ đánh cô bất tỉnh và vứt cô vào một trong những nấm mồ này đấy. Giờ thì nhanh chân lên.” Tôi cắn môi đi theo, gắng không nghĩ đến lời đe dọa của anh ta mà tập trung vào hình xăm của Sana. Izzat. Đó là ngôn ngữ của người Trí Thức trước khi Quân Binh tới xâm lược và bắt chúng tôi nói tiếng Serra. Từ Izzat mang nhiều ý nghĩa. Sức mạnh, danh dự, kiêu hãnh. Nhưng trong thế kỷ vừa qua, nó mang một ý nghĩa rất cụ thể: tự do. Họ không phải một băng cướp. Họ là quân Kháng Chiến. VI: ELIAS T iếng gào thét của Barrius cứ văng vẳng trong đầu tôi hàng giờ liền. Tôi thấy thân hình nó gục xuống, nghe thấy tiếng rít khi nó trút hơi thở cuối cùng, ngửi thấy mùi tanh từ máu của nó trên nền đá lát. Mấy cái chết của học viên thường không ám ảnh tôi theo cách như vậy. Không nên như vậy - tôi vốn không sợ chết. Thần Chết đã luôn đồng hành cùng tất cả chúng tôi tại Blackcliff ở một thời điểm nào đó. Nhưng chứng kiến Barrius chết lại khác. Suốt cả ngày hôm đó, tôi trở nên xao lãng và nóng nảy. Ai ai cũng đều nhận ra tâm trạng khác thường của tôi. Khi tôi lê bước đến bãi tập giao tranh cùng một nhóm Tập Sự năm cuối khác, tôi nhận thấy Faris đã hỏi tôi cùng một câu hỏi đến ba lần. “Nhìn cậu như thể ả gái điếm yêu thích của cậu vừa mắc giang mai ấy,” cậu ta nói khi tôi lầm bầm lời xin lỗi. “Cậu đang bị cái quái gì vậy?” “Chẳng gì cả.” Khi tôi nhận ra giọng mình nghe giận dữ thế nào, chẳng hề giống một Tập Sự sắp trở thành Mặt Nạ chuyên nghiệp, thì đã quá muộn. Đáng ra tôi nên phấn khích - nên vỡ òa vì háo hức mới đúng. Faris và Dex ngờ vực nhìn nhau, còn tôi gắng không thốt ra một câu chửi thề. “Cậu chắc chứ?” Dex hỏi. Cậu ta là một đứa tuân thủ luật lệ. Trước giờ vẫn thế. Mỗi lần bắt gặp ánh nhìn của Dex, tôi biết cậu ta lại đang tự hỏi tại sao mặt nạ vẫn chưa tiệp vào da tôi. Quỷ tha ma bắt cậu đi, tôi muốn nói. Nhưng tôi tự nhủ rằng cậu ta không phải đang soi mới. Dex là bạn tôi và cậu ta đang thật lòng lo lắng. “Sáng nay,” cậu ta tiếp tục, “lúc trận đòn diễn ra, cậu…” “Này, để yên cho anh chàng tội nghiệp đó đi.” Helene tiến đến từ phía sau, thoáng cười với Dex và Faris rồi vô tư quàng tay qua vai tôi khi chúng tôi tiến vào kho vũ khí. Helene hất đầu về phía giá để mã tấu. “Nào, Elias, chọn vũ khí đi. Mình sẽ đấu với cậu, ba hiệp nhé.” Cậu ấy quay sang những người còn lại và thì thầm gì đó khi tôi đi khỏi. Tôi lấy một cây mã tấu thực hành đã cùn, kiểm tra độ cân bằng của nó. Một loáng sau, tôi cảm thấy sự xuất hiện đầy điềm tĩnh của Helene bên cạnh. “Cậu đã nói gì với bọn họ?” tôi hỏi. “Rằng ông cậu đang thúc giục cậu.” Tôi gật đầu. Lời nói dối hay nhất luôn xuất phát từ sự thật. Ông tôi là một Mặt Nạ, thế nên cũng như hầu hết các Mặt Nạ khác, ông không bao giờ hài lòng với những gì chưa hoàn hảo. “Cảm ơn, Hel.” “Không có gì. Trả ơn mình bằng cách tĩnh trí lại đi.” Cậu ấy khoanh tay khi thấy tôi cau mày. “Dex là trung đội phó của cậu, vậy mà cậu chả thèm tuyên dương khi cậu ta tóm được kẻ đào tẩu. Cậu ta nhận thấy điều đó. Cả trung đội của cậu đều nhận thấy. Và trong trận đòn, cậu đã không… về phe bọn mình.” “Nếu ý cậu là mình đã không hú hét vì máu của một thằng nhóc mười tuổi thì cậu nói đúng rồi đấy.” Mắt Helene nheo lại, đủ để tôi biết rằng phần nào đó trong cậu ấy cũng đồng cảm với tôi, ngay cả khi cậu ấy sẽ chẳng bao giờ thừa nhận điều đó. “Marcus đã thấy cậu nán lại sau trận đòn. Hắn và Zak đang đi nói với tất cả mọi người là cậu nghĩ hình phạt đó quá khắc nghiệt.” Tôi nhún vai. Làm như tôi quan tâm đến những gì Rắn và Cóc nói về mình không bằng. “Đừng có ngốc thế. Marcus mà chọc khoáy được người nối nghiệp dòng tộc Veturia chỉ một ngày trước khi tốt nghiệp thì khoái chí lắm.” Cậu ấy nhắc đến gia đình tôi, một trong những gia tộc lâu đời và được kính trọng nhất Đế Chế, bằng một danh hiệu trịnh trọng. “Hắn suýt nữa đã quy cho cậu tội xúi giục nổi loạn đấy.” “Tuần nào hắn chẳng quy kết cái tội ấy cho mình.” “Nhưng lần này, cậu đã cho hắn một bằng chứng.” Tôi nhìn vào mắt Helene và trong một thoáng căng thẳng, tôi nghĩ cậu ấy đã biết tất cả. Nhưng không có sự giận dữ hay phán xét trong nét mặt cậu ấy. Chỉ có lo lắng mà thôi. Cậu ấy như nhìn thấu tim đen của tôi. “Cậu là đội trưởng của trung đội trực hôm nay mà lại không bắt được Barrius. Trung đội phó của cậu tóm được thằng bé nhưng cậu không tuyên dương cậu ta. Cậu dường như tỏ ra phản đối khi kẻ đào tẩu bị trừng trị. Chưa kể đến việc còn một ngày nữa là ngày tốt nghiệp rồi mà da cậu mới chỉ bắt đầu tiệp với mặt nạ.” Helene đợi một câu trả lời và khi thấy tôi im lặng, cậu ấy thở dài. “Trừ phi cậu còn ngốc hơn cả vẻ ngoài của cậu, nếu không thì đến chính cậu cũng có thể thấy chuyện gì sẽ xảy ra, Elias. Nếu Marcus báo cho Vệ Binh Đen thì họ sẽ có đủ chứng cứ để đến thăm cậu một chuyến đấy.” Một cảm giác khó chịu như kim châm lan xuống cổ tôi. Nhiệm vụ của Vệ Binh Đen là bảo đảm sự trung thành trong quân đội. Họ đeo huy hiệu hình con chim và người chỉ huy, khi được chọn, sẽ từ bỏ tên thật của mình và chỉ được biết đến với cái tên Huyết Ưng. Đó là cánh tay phải đắc lực của Hoàng Đế và là người có quyền lực lớn thứ hai trong Đế Chế. Huyết Ưng đương nhiệm có thói quen tra tấn trước, thẩm vấn sau. Một cuộc viếng thăm vào nửa đêm từ những tên khốn vận giáp đen đó sẽ khiến tôi phải nằm bệnh xá hàng tuần liền. Toàn bộ kế hoạch của tôi sẽ bị phá sản. Tôi cố không nhìn Helene. Có thể tin tưởng một cách nhiệt thành như vậy vào những điều Đế Chế móm cho chúng tôi hẳn là thích lắm. Sao tôi không được như cậu ấy - như mọi người khác? Vì tôi bị mẹ bỏ roi sao? Vì tôi đã dành sáu năm trời ở cùng các Thổ Dân và được họ dạy về lòng khoan dung, trắc ẩn thay vì sự tàn bạo và hận thù? Vì đám bạn từng chơi với tôi đều là các Thổ Dân, Thủy Thủ và Trí Thức, thay vì những đứa trẻ Quý Tộc? Hel đưa cho tôi một cây mã tấu. “Hãy về đúng vị trí của cậu,” cậu ấy nói. “Làm ơn đi, Elias. Chỉ một ngày thôi. Rồi chúng ta sẽ được tự do.” Phải rồi. Tự do để báo cáo công việc như những người đầy tớ đã đủ lông đủ cánh của Đế Chế, sau đó sẽ bị điều đi giết chóc trong các cuộc chiến biên giới chẳng bao giờ có hồi kết với tộc Dã Nhân và tộc Man Di. Trong số chúng tôi, những ai không bị điều ra biên giới sẽ ở lại thành phố, nhận mệnh lệnh truy lùng các chiến binh Kháng Chiến hoặc các điệp viên Thủy Thủ. Chúng tôi sẽ được tự do, đúng vậy. Tự do tán dương Đế Chế. Tự do cưỡng hiếp và giết người. Nực cười, nghe chẳng giống tự do chút nào. Tôi im lặng. Helene nói đúng. Tôi đang thu hút quá nhiều chú ý về phía mình và Blackcliff là cái chốn không thích hợp nhất để làm điều đó. Học viên ở đây chẳng khác nào những con cá mập đói khát khi nghe nhắc đến chuyện phản loạn. Chỉ cần thoảng thấy một chút mùi là tập họp thành bầy ngay. Suốt thời gian còn lại của ngày hôm ấy, tôi cố hết sức cư xử như một Mặt Nạ sắp tốt nghiệp - kiêu căng, hung hăng và tàn bạo. Chẳng khác nào ngụy trang cho bản thân bằng rác rưởi. Đến tối, trong vài phút rảnh rỗi quý giá được về doanh trại không khác nhà tù là bao, tôi giật phăng chiếc mặt nạ và quăng nó lên giường, thở phào khi cái thứ kim loại lỏng ấy giải phóng tôi khỏi sự giam hãm của nó. Tôi nhăn nhó nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trên bề mặt bóng láng của chiếc mặt nạ. Ngay cả với hàng mi đen dày mà Faris và Dex hay chế nhạo, đôi mắt tôi vẫn giống hệt mẹ, đến nỗi tôi căm ghét khi phải nhìn thấy chúng. Tôi chẳng biết và lâu rồi cũng không còn quan tâm cha mình là ai, nhưng có đến cả trăm lần tôi ước giá mà mình ít nhất cũng được thừa hưởng đôi mắt của ông ấy. Một khi tôi thoát được khỏi Đế chế, điều đó sẽ chẳng còn quan trọng nữa. Mọi người sẽ nhìn vào mắt tôi và nghĩ đến Quân Binh chứ không phải Sĩ Quan Chỉ Huy. Có nhiều Quân Binh lượn lờ khắp các vùng phía Nam như những thương gia, người làm thuê và thợ thủ công. Tôi sẽ là một trong hàng trăm người như vậy. Bên ngoài, tháp chuông điểm tám tiếng. Còn mười hai tiếng nữa là đến lễ tốt nghiệp. Mười ba tiếng nữa là kết thúc buổi lễ. Thêm một tiếng cho những lời chúc tụng. Veturia là một dòng tộc lỗi lạc và ông sẽ muốn giới thiệu rất nhiều người với tôi. Nhưng cuối cùng, tôi sẽ cáo lui và rồi… Tự do. Cuối cùng sẽ được tự do. Chưa từng có học viên nào đào tẩu sau khi tốt nghiệp. Tại sao phải làm vậy chứ? Blackcliff là một địa ngục luôn dồn học viên tới ý định bỏ trốn, nhưng sau khi tốt nghiệp, chúng tôi đều sẽ có mệnh lệnh và nhiệm vụ riêng của mình. Chúng tôi sẽ có tiền, địa vị và sự nể trọng. Ngay cả Dân Đen thuộc tầng lớp hạ lưu nhất cũng có thể cưới một cô vợ ở tầng lớp thượng lưu nếu anh ta trở thành một Mặt Nạ. Chẳng ai có chút đầu óc tư duy lại từ chối điều đó, đặc biệt là sau gần mười lăm năm huấn luyện. Đó cũng là điều khiến cho ngày mai trở thành thời điểm lý tưởng để bỏ trốn. Hai ngày sau tốt nghiệp là khoảng thời gian điên cuồng - những buổi liên hoan, tiệc tùng, dạ hội, rồi yến tiệc. Nếu tôi biến mất, phải mất ít nhất một ngày mới bắt đầu có người nghĩ đến việc đi tìm. Họ sẽ cho rằng tôi đã uống say mèm ở nhà một người bạn nào đó. Lối đi dẫn từ phía dưới lò sưởi phòng tôi đến khu hầm mộ Serra hiện ra ở khóe mắt tôi. Tôi đã mất ba tháng trời để đào cái đường hầm chết tiệt ấy. Thêm hai tháng để gia cố và che giấu nó khỏi những cặp mắt soi mới của đám lính tuần trợ chiến. Rồi thêm hai tháng nữa để vẽ lại bản đồ tuyến đường qua khu hầm mộ ra khỏi thành phố. Bảy tháng với những đêm không ngủ, lén lút quan sát và cố cư xử bình thường. Nếu tôi trốn thoát thì tất cả những điều đó đều xứng đáng. Tiếng trống vang lên, báo hiệu bắt đầu buổi lễ tốt nghiệp. Vài giây sau, tôi nghe tiếng gõ cửa phòng mình. Chết tiệt. Tôi phải gặp Helene bên ngoài doanh trại mà giờ thậm chí còn chưa ăn mặc cho tử tế. Helene tiếp tục gõ cửa. “Elias, ngừng uốn mi và ra đây đi nào. Chúng ta muộn rồi.” “Chờ chút,” tôi nói. Tôi vừa lột bộ đồ dã chiến trên người ra thì cửa bật mở và Helene xông vào. Trước tình trạng không mảnh vải che thân của tôi, cả mặt lẫn cổ Helene đỏ ủng lên, rồi cậu ấy quay đi. Tôi nhướn mày. Helene đã thấy tôi trần truồng cả tá lần rồi - khi bị thương, khi ốm, hay khi phải trải qua một trong những bài tập huấn luyện sức bền khắc nghiệt của Sĩ Quan Chỉ Huy. Đến giờ, nhìn tôi trần truồng đáng lẽ sẽ chỉ khiến cậu ấy đảo mắt và ném cho tôi cái áo thôi chứ. “Cậu có nhanh lên không thì bảo?” Hel lóng ngóng xua đi bầu không khí im lặng đang bao trùm. Tôi chộp bộ lễ phục trên móc và vội mặc lên người, bực mình vì vẻ ngượng nghịu của cậu ấy. “Mấy người khác đã đi trước rồi. Họ nói sẽ giữ chỗ cho bọn mình.” Helene xoa xoa hình xăm Blackcliff sau gáy - một viên kim cương đen bốn cạnh cong được xăm lên từng học viên ngay khi bước chân vào trường. Helene chịu đựng giỏi hơn hầu hết bọn cùng lớp suốt quá trình xăm, bình thản và chẳng rơi giọt nước mắt nào trong khi lũ chúng tôi luôn mồm rên rỉ. Các Nhà Tiên Tri chưa bao giờ giải thích tại sao ở mỗi thế hệ họ chỉ chọn một cô gái cho Blackcliff. Kể cả Helene cũng không được biết. Cho dù lý do là gì, rõ ràng họ không chọn một cách ngẫu nhiên. Helene có thể là cô gái duy nhất ở đây, nhưng phải có lý do cậu ấy mới được xếp thứ ba trong lớp chúng tôi. Đó cũng là nguyên nhân mấy đứa chuyên bắt nạt sớm nhận ra rằng chúng nên để cậu ấy yên thân. Cậu ấy là người thông minh, nhanh nhẹn và tàn nhẫn. Còn ngay lúc này, trong bộ đồng phục đen, với bím tóc óng mượt được tết vòng quanh đầu như chiếc vương miện, cậu ấy xinh đẹp như bông tuyết đầu đông. Tôi nhìn những ngón tay thon dài của cậu ấy lướt trên gáy, quan sát cái cách cậu ấy liếm môi và tự hỏi sẽ như thế nào nếu được hôn lên khuôn miệng đó, được ép cậu ấy vào cửa sổ và tì cơ thể mình lên cậu ấy, được gỡ những chiếc kẹp tóc trên đầu cậu ấy và cảm nhận sự mềm mượt của mái tóc Helene giữa các ngón tay. “Này… Elias?” “Hả…” Nhận ra mình đang nhìn cậu ấy chằm chằm, tôi quay phắt đi. Mày đang tơ tưởng đến người bạn thân nhất của mày đấy, Elias. Thật đáng xấu hổ. “Xin lỗi. Mình chỉ hơi… mệt. Đi nào.” Hel trao cho tôi cái nhìn kỳ lạ rồi hất cằm về phía chiếc mặt nạ vẫn đang nằm trên giường. “Cậu có thể cần đến nó đấy.” “Ờ.” Xuất hiện mà không đeo mặt nạ là một lỗi sẽ bị phạt đòn. Kể từ hồi mười bốn tuổi, tôi chẳng bao giờ thấy Tập Sự nào không đeo mặt nạ. Cũng chưa một ai từng thấy mặt tôi, trừ Hel. Tôi đeo nó lên, gắng không rùng mình khi nó hăm hở bám lấy da thịt tôi. Chỉ một ngày nữa thôi. Rồi tôi sẽ tháo bỏ nó mãi mãi. Sấm gióng từng hồi trên nền trời hoàng hôn khi chúng tôi ra khỏi doanh trại. Bầu trời xanh dần sẫm thành màu tím và không khí khô nóng của vùng sa mạc như dịu mát hơn. Bóng tối hòa với màu đá đen sẫm của Blackcliff khiến những dãy nhà khối trông to lớn quái dị. Tôi đảo mắt nhìn quanh những chỗ tối, tìm kiếm các mối đe dọa, một thói quen hình thành từ lúc còn là học viên năm Năm. Trong một thoáng, tôi có cảm giác như bóng tối đang nhìn lại mình. Nhưng rồi cảm giác đó dần phai đi. “Cậu nghĩ các Nhà Tiên Tri có tham dự buổi lễ tốt nghiệp không?” Hel cất tiếng hỏi. Không, tôi muốn nói. Các thầy tu của chúng ta có nhiều việc hay ho hơn để làm, tỷ dụ như nhốt mình trong động và đọc ruột cừu*. “Mình không nghĩ vậy” là toàn bộ câu trả lời của tôi. “Mình đoán là sau năm trăm năm thì mấy buổi lễ như thế này cũng trở nên chán ngắt với họ.” Cậu ấy nói ra điều này mà không hề có ý mỉa mai và tôi cau mày trước cái ý nghĩ hoàn toàn ngu muội đó. Sao một người thông minh như Helene lại có thể thực sự nghĩ rằng mấy Nhà Tiên Tri ấy sẽ bất tử cơ chứ? Nhưng cậu ấy chẳng phải là người duy nhất. Quân Binh tin rằng “quyền năng” của các Nhà Tiên Tri xuất phát từ việc họ bị ma ám. Riêng Mặt Nạ thì vô cùng sùng kính các Nhà Tiên Tri vì chính họ là người quyết định đứa trẻ nào từ các gia đình Quân Binh sẽ được đào tạo tại Blackcliff. Cũng chính họ là người trao mặt nạ cho chúng tôi. Và chúng tôi đã được dạy rằng chính các Nhà Tiên Tri đã gầy dựng nên Blackcliff chỉ trong một ngày, cách đây năm thế kỷ. Hội mắt đỏ đáng ghét đó chỉ có mười bốn người, nhưng vào những dịp hiếm hoi mà họ xuất hiện, tất cả mọi người đều quy phục họ. Nhiều thủ lĩnh trong Đế Chế - các tướng lĩnh, Huyết Ưng, thậm chí cả Hoàng Đế - hằng năm đều hành hương lên núi đến động Tiên Tri để tìm lời khuyên về các vấn đề trong vương quốc. Và dù bất kỳ ai có chút đầu óc logic đều biết rõ rằng các Nhà Tiên Tri chẳng qua chỉ là những kẻ chuyên lòe bịp, nhưng trên khắp Đế Chế, họ được đối đãi không chỉ như những người bất tử mà còn như bậc thánh nhân và nhà ngoại cảm. Hầu hết các học viên của Blackcliff chỉ được nhìn thấy các Nhà Tiên Tri hai lần trong đòi: khi được chọn vào Blackcliff và khi được trao mặt nạ. Nhưng các thầy tu luôn có sức mê hoặc đặc biệt với Helene nên chẳng có gì ngạc nhiên khi cậu ấy hy vọng họ sẽ tới buổi lễ tốt nghiệp. Tôi tôn trọng Helene, nhưng trong việc này, tôi không đồng tình với cậu ấy. Mấy chuyện hoang đường của Quân Binh cũng chỉ đáng tin như những truyền thuyết về jinn và Thần Bóng Đêm của Thổ Dân mà thôi. Ông tôi là một trong số ít những Mặt Nạ không tin vào mấy lời nhảm nhí của các Nhà Tiên Tri và tôi nhẩm lại câu thần chú của ông trong đầu. Chiến trường là thánh đường của ta. Mũi kiếm là linh mục của ta. Điệu nhảy tử thần là lời cầu nguyện của ta. Đòn chí tử sẽ giải thoát ta. Câu thần chú ấy là tất cả những gì tôi cần. Tôi phải gắng hết sức mới có thể không bật ra thành tiếng. Và Helene nhận thấy điều đó. “Elias, mình tự hào về cậu.” Helene lên tiếng với một giọng điệu trang trọng kỳ lạ. “Mình biết cậu đã phải đấu tranh rất nhiều. Mẹ cậu…” Hel nhìn quanh và hạ giọng. Sĩ Quan Chỉ Huy có gián điệp ở khắp nơi. “Mẹ cậu đã nghiêm khắc với cậu hơn với bất kỳ ai trong bọn mình. Nhưng cậu đã cho bà ta thấy. Cậu đã rất chăm chỉ. Cậu đã làm tốt mọi việc.” Giọng Hel chân thành đến nỗi trong một thoáng, tôi thấy mình dao động. Chỉ hai ngày nữa, cậu ấy sẽ không còn nghĩ như vậy. Chỉ hai ngày nữa, cậu ấy sẽ căm ghét tôi. Hãy nhớ đến Barrius. Hãy nhớ những gì mày được mong đợi sẽ thực hiện sau khi tốt nghiệp. Tôi huých nhẹ vai Helene. “Cậu đang giở mấy trò ủy mị con gái với mình đấy à?” “Thôi quên đi, đồ đáng ghét.” Cậu ấy đấm vào cánh tay tôi. “Mình chỉ đang gắng tử tế với cậu thôi.” Tôi bật ra một tiếng cười giả tạo. Rồi bọn họ sẽ cử cậu đi truy lùng mình khi mình bỏ trốn. Cậu và cả những người khác nữa, những người mà mình gọi là anh em chiến hữu. Chúng tôi tiến vào phòng ăn tập thể và bị tiếng ồn ào ập tới như một đợt sóng - những lời cười đùa, khoác lác và nói chuyện phát ra từ ba nghìn thanh niên sắp tốt nghiệp hoặc bỏ học. Bầu không khí sẽ chẳng bao giờ được ồn ào náo nhiệt thế này khi có mặt Sĩ Quan Chỉ Huy, vậy nên tôi thả lỏng một chút, cảm thấy mừng vì không phải chạm mặt bà ta. Hel kéo tôi đến một trong hàng loạt các dãy bàn dài, nơi Faris đang ba hoa với lũ bạn chúng tôi về lần phóng túng gần đây nhất của cậu ta ở mấy nhà thổ ven sông. Ngay cả Demetrius, vốn bị ám ảnh bởi cái chết của em trai, cũng phải bật cười. Faris đểu cáng liếc nhìn chúng tôi đầy ẩn ý. “Hai người làm gì lâu thế?” “Veturius phải sửa soạn làm đẹp vì cậu đấy.” Hel đẩy thân hình đá tảng của Faris ra để chúng tôi ngồi xuống. “Tớ phải kéo mãi cậu ấy mới rời cái gương ra được.” Đám nguôi còn lại ở bàn la ó và Leander, một học viên trong trung đội của Hel, bắt Faris kể nốt câu chuyện. Bên cạnh tôi, Dex đang tranh luận với trung đội phó của Hel - Tristas - một anh chàng nghiêm chỉnh, tóc đen, có ánh nhìn tưởng như ngây thơ với đôi mắt to màu xanh dương, trên bắp tay xăm chữ in hoa AELIA, tên vợ chưa mới của cậu ta. Tristas ngả người về phía trước. “Hoàng Đế đã gần bảy mươi mà chẳng có con trai. Năm nay có thể là thời điểm đó. Thời điểm các Nhà Tiên Tri lựa chọn một Hoàng Đế mới. Một triều đại mới. Tớ đang bàn với Aelia về chuyện đó…” “Năm nào cũng có nguôi nghĩ thời điểm đó đã tới.” Dex đảo mắt. “Nhưng năm nào cũng không phải. Elias, nói cho cậu ta biết đi. Bảo Tristas rằng cậu ta là một tên đại ngốc đi.” “Tristas, cậu đúng là một tên đại ngốc.” “Nhưng các Nhà Tiên Tri nói…” Tôi khẽ khịt mũi và Helene trao cho tôi ánh nhìn sắc lẻm. Đừng có thể hiện ra sự nghi ngờ của cậu, Elias. Tôi kiếm việc cho mình bằng cách chất đồ án lên hai cái đĩa rồi đẩy một cái về phía Helene. “Của cậu đấy. Ăn chút đi,” tôi nói. “Mà cái này là gì vậy?” Hel chọc vào đĩa đồ ăn nhão nhoét rồi ngập ngừng ngửi thử. “Phân bò sao?” “Đừng có phàn nàn,” Faris nói, miệng còn ngậm đầy thức ăn. “Tội nghiệp mấy cu cậu năm Năm. Bọn nó sẽ phải quay lại ăn mấy thứ này sau bốn năm sung sướng cướp bóc các trang trại.” “Tội nghiệp lũ nhóc Sơ Cấp ấy,” Demetrius phản bác. “Các cậu có tưởng tượng được chúng nó phải chịu thêm mười hai, mười ba năm nữa không?” Phía bên kia phòng án, hầu hết các học viên Sơ Cấp đều cười nói như tất cả những người khác. Nhưng có vài đứa quan sát chúng tôi, như cách bầy cáo đói khát quan sát một con sư tử - ước ao có được những gì chúng tôi đang có. Tôi nghĩ đến việc mai này một nửa đám nhóc sẽ ra đi, một nửa tiếng cười đùa kia sẽ tắt lịm và thân thể của một nửa trong số chúng sẽ lạnh ngắt. Vì đó là những gì sẽ xảy ra trong mấy năm khốn khó và đày đọa sắp tới của chúng. Chúng sẽ phải đối mặt với sự sống hoặc cái chết, hoài nghi hoặc chấp nhận. Những kẻ hoài nghi là những kẻ sẽ phải nhận lấy cái chết. “Dường như chúng chẳng mấy quan tâm đến Barrius.” Mấy từ đó bật ra khỏi miệng trước khi tôi kịp chặn lại. Bên cạnh tôi, Helene đông cứng người như nước đóng băng. Dex cau mày bất bình, đang định nhận xét gì đó bỗng dưng im bặt, rồi sự tĩnh lặng bao trùm quanh bàn chúng tôi. “Tại sao chúng phải thấy buồn chứ?” Marcus, khi ấy đang ngồi cùng Zak và đám bạn thân cách chúng tôi một bàn, lên tiếng. “Cái thằng cặn bã đó đã nhận một hình phạt thích đáng. Tao chỉ ước nó trụ được lâu hơn để phải chịu đựng nhiều hơn thế.” “Này Rắn, có ai hỏi ý kiến của cậu đâu,” Helene lên tiếng. “Dù sao thì thằng nhóc đó cũng chết rồi.” “May cho nó.” Faris xúc một nĩa đầy rồi chán nản để chỗ thức ăn đó rơi lại vào chiếc đĩa sắt của mình. “ít nhất nó cũng chẳng còn phải ăn món cám heo này nữa.” Vài tiếng cười khùng khục bật ra quanh bàn và các cuộc hội thoại lại tiếp diễn. Nhưng Marcus đã đánh hơi thấy máu và dã tâm của hắn nhuốm uế cả bầu không khí. Zak quay sang nhìn chằm chằm Helene rồi thì thầm gì đó với anh trai. Marcus lờ nó đi mà dán cặp mắt linh cẩu của hắn vào tôi. “Mày đã rất đau lòng cho kẻ phản bội đó, Veturius. Nó là bạn mày à?” “Quỷ tha ma bắt mày đi, Marcus.” “Còn dành nhiều thời gian dưới khu hầm mộ nữa.” “Cậu nói vậy nghĩa là sao?” Helene đặt tay lên vũ khí và Faris túm lấy tay cậu ấy. Marcus phớt lờ Helene. “Mày muốn bỏ trốn sao, Veturius?” Tôi dần dần hiểu ra. Đó chỉ là phỏng đoán. Hắn chỉ đang phỏng đoán thôi. Hắn không thể nào biết được. Tôi đã rất cẩn trọng, nhưng đối với hầu hết mọi người, cẩn trọng ở Blackcliff có nghĩa là hoang tưởng. Sự im lặng bao trùm lên cả bàn tôi và bàn Marcus. Phủ nhận đi, Elias. Họ đang đợi đấy. “Mày là đội trưởng đội trực sáng nay, phải không?” Marcus hỏi. “Đáng ra mày phải thấy phấn khích khi nó bị trừng phạt. Đáng ra mày phải là người bắt được nó. Nói nó đáng bị như vậy đi, Veturius. Nói Barrius xứng đáng với những gì nó đã nhận đi.” Nói mỗi thế thì chẳng có gì khó. Chỉ cần thâm tâm tôi tin Barrius không đáng bị như thế là được. Nhưng tôi không thể mở miệng, không thể bật ra mấy từ đó. Barrius không đáng bị đánh cho tới chết. Nó chỉ là một đứa trẻ, một cậu bé vì quá sợ ở lại Blackcliff mà bất chấp tất cả để bỏ trốn. Sự im lặng như lan rộng ra. Vài Sĩ Quan Huấn Luyện từ bàn đầu ngước mắt nhìn. Marcus đứng dậy và bầu không khí trong phòng án bỗng thay đổi nhanh như một cơn lũ, tất cả đều tò mò và trông ngóng. Thằng khốn nạn. “Có phải đó là lý do mặt nạ vẫn chưa tiệp vào da mày không?” Marcus hỏi. “Vì mày không cùng phe với bọn tao? Nói đi, Veturius. Nói kẻ phản bội đáng phải chết đi.” “Elias,” Helene thì thầm với ánh mắt van nài. Hãy về đúng vị trí của cậu. Chỉ một ngày nữa thôi. “Nó…” Nói đi nào, Elias. Nói ra cũng có sao đâu. “Nó đáng bị như vậy.” Tôi lạnh lùng nhìn vào mắt Marcus và hắn nhăn răng cười như thể biết rõ mấy từ đó đáng giá thế nào. “Khó đến vậy hả, đồ con hoang?” Tôi cảm thấy nhẹ cả người khi bị hắn láng mạ. Lời sỉ nhục đó cho tôi cái cớ mà tôi hằng mong muốn. Tôi muốn giơ nắm đấm lao vào hắn. Nhưng các bạn tôi đều đã lường trước được chuyện này. Faris, Demetrius và Helene cùng đứng lên, giữ tôi lại, tạo thành một bức tường tóc vàng và đen khó chịu, ngăn cản tôi đánh bật cái điệu cười nhăn nhở đáng ghét kia ra khỏi khuôn mặt Marcus. “Không, Elias,” Helene nói. “Sĩ Quan Chỉ Huy sẽ phạt roi cậu vì tội gây chiến đấy. Marcus không đáng đâu.” “Hắn là đồ con hoang…” “Thực ra là mày đấy,” Marcus nói. “ít nhất thì tao cũng biết cha mình là ai. Tao không được nuôi dưỡng bởi một đám Thổ Dân cưỡi lạc đà.” “Thằng Dân Đen rác rưởi…” “Các Tập Sự năm cuối.” Sĩ Quan Huấn Luyện Đại đội Đao tiến đến cuối bàn. “Có chuyện gì sao?” “Không, thưa thầy,” Helene trả lời. “Đi đi, Elias,” cậu ấy thủ thỉ. “Ra ngoài hít thở chút đi. Mình sẽ lo chuyện này.” Máu trong người vẫn đang sôi sục, tôi lao qua cánh cửa phòng ăn tập thể rồi thấy mình đứng trong sân tháp chuông trước cả khi kịp nhận ra mình đang đi đâu. Làm thế quái nào Marcus phát hiện ra được chuyện tôi định bỏ trốn? Hắn đã biết những gì rồi? Chắc không nhiều, nếu không tôi hẳn đã bị gọi lên phòng Sĩ Quan Chỉ Huy. Quỷ tha ma bắt hắn đi. Tôi đã gần đến đích. Rất gần rồi. Tôi đi quanh sân, gắng bình tâm trở lại. Bầu không khí nóng nực của vùng sa mạc đã dịu lại, vầng trăng lưỡi liềm đang treo lơ lửng phía chân trời, mảnh và rực đỏ như nụ cười của một kẻ ăn thịt người. Qua các mái vòm, những ngọn đèn của thành phố Serra tỏa ra thứ ánh sáng lờ mờ, hàng chục nghìn ngọn đèn dầu bị nuốt chửng bởi màn đêm mênh mông của vùng sa mạc bao quanh. Ở phía Nam, một màn khói che phủ ánh sáng lấp lánh trên mặt sông. Thoảng qua không khí là mùi của sắt thép và lò rèn, thứ mùi đặc trưng của một thành phố chỉ được biết đến vì quân đội và các loại vũ khí. Tôi ước mình có thể thấy Serra trước khi những thứ này xuất hiện, khi nó còn là thủ phủ của Vương quốc Trí Thức. Dưới thời của người Trí Thức, các tòa nhà lớn đều được dùng làm thư viện và trường đại học thay vì doanh trại và các khu huấn luyện. Phố Người Kể Chuyện chỉ toàn là nhà hát và sân khấu chứ không phải một chợ vũ khí, nơi mà giờ đây, người ta chỉ kể cho nhau nghe những câu chuyện về chiến tranh và cái chết. Đúng là một điều ước ngớ ngẩn, giống như ước mình có thể bay vậy. Để bảo tồn tất cả những kiến thức về thiên văn, kiến trúc và toán học, người Trí Thức đã đầu hàng trước sự xâm lược của Đế Chế. Vẻ đẹp của Serra đã mất từ lâu rồi. Giờ nó là một thành phố Quân Binh. Trên cao, bầu trời như sáng hơn nhờ ánh sao lấp lánh. Phần nào đó đã bị chôn vùi từ lâu trong tôi biết rằng đây chính là cái đẹp, nhưng tôi không thể thán phục nó như cách tôi đã làm khi còn là một cậu bé. Hồi đó, tôi đã trèo thật cao lên những cây mít xù xì để có thể đến gần các vì sao hơn, trong lòng dám chắc rằng chỉ cần cao thêm vài mét là tôi có thể nhìn thấy chúng rõ hơn. Khi đó, cả thế giới của tôi chỉ có cát, bầu trời và tình yêu của bộ tộc Saif, những người đã cứu sống tôi. Khi đó, mọi thứ đều rất khác. “Mọi thứ đều sẽ thay đổi, Elias Veturius. Cậu không còn là một đứa bé nữa, giờ cậu đã là một người đàn ông với gánh nặng trên vai và sự lựa chọn phía trước.” Tôi cầm con dao trên tay dù không nhớ đã rút nó ra khi nào, sau đó kề nó vào cổ của kẻ đội mũ trùm đầu đứng bên cạnh mình. Nhiều năm huấn luyện đã giúp tôi có cánh tay rắn chắc như đá và một bộ óc nhanh nhạy. Kẻ đó từ đâu đến? Tôi có thể thề trên sinh mạng của tất cả mọi người trong trung đội là một giây trước hắn không hề có mặt ở đó. “Ngươi là kẻ quái quỷ nào vậy?” Ông ta kéo mũ trùm đầu xuống và tôi đã có câu trả lời. Nhà Tiên Tri. VII: LAIA C húng tôi chạy qua khu hầm mộ, Keenan chạy phía trước và Sana chạy sau tôi. Khi dám chắc chúng tôi đã cắt đuôi được đám lính tuần trợ chiến, Keenan chạy chậm lại và ra lệnh cho Sana bịt mắt tôi. Tôi giật bắn mình trước sự gay gắt trong giọng điệu của anh ta. Quân Kháng Chiến đã biến thành thế này rồi sao? Một băng cướp du côn? Chuyện gì đã xảy ra? Mới mười hai năm trước, khi lực lượng nổi dậy còn ở đỉnh cao quyền lực, họ đã liên minh với Thổ Dân và vua của vùng Marinn. Họ sống theo tôn chỉ của mình - Izzat - chiến đấu vì tự do, bảo vệ người vô tội, đặt sự trung thành với người dân của mình trên tất cả những thứ khác. Quân Kháng Chiến còn nhớ tôn chỉ đó không? Dù khả năng này rất thấp, nhưng nếu vẫn nhớ thì họ sẽ giúp tôi chứ? Họ có thể giúp tôi không? Em nhất định phải nhờ họ giúp. Giọng Darin lại vang lên, mạnh mẽ và đầy tự tin, giống như khi anh dạy tôi trèo cây, khi anh dạy tôi đọc chữ. “Đến nơi rồi,” Sana thì thầm sau một quãng thời gian như dài đến hàng tiếng đồng hồ. Tôi nghe thấy một loạt tiếng gõ cửa, rồi cánh cửa ken két mở ra. Sana dẫn tôi tiến về phía trước, một luồng gió mát lạnh thổi qua, tươi mát như mùa xuân, phủ lên mùi hôi thối nồng nặc của khu hầm mộ. Ánh sáng luồn vào mép tấm khăn bịt mắt, mùi thuốc lá mới châm tỏa ra đậm đặc khiến tôi nghĩ đến hình ảnh cha vừa ngậm tẩu vừa vẽ lũ efrit và xác sống cho tôi. Cha sẽ nói gì nếu thấy tôi lúc này, tại nơi trú ẩn của quân Kháng Chiến? Tôi nghe thấy tiếng thì thầm. Những ngón tay ấm nóng luồn vào tóc và một giây sau, miếng khăn bịt mắt rới ra. Keenan đang ở ngay sau lưng tôi. “Sana,” anh ta gọi. “Cho cô ta chút lá Neem rồi đưa cô ta ra khỏi đây.” Anh ta quay sang một chiến binh khác, một cô gái lớn hơn tôi vài tuổi và thoáng đỏ mặt khi anh ta nói chuyện với mình. “Mazen đâu? Đã có tin gì từ Raj và Navid chưa?” “Lá Neem là gì vậy?” tôi hỏi Sana khi đã chắc chắn Keenan không thể nghe thấy. Tôi chưa từng nghe đến nó, dù tôi biết hầu hết các loại thảo dược nhờ làm việc cùng với ông. “Đó là một loại thuốc phiện. Nó sẽ làm em quên đi những gì đã xảy ra trong mấy tiếng vừa qua.” Trước đôi mắt mở to của tôi, Sana lắc đầu. “Chị sẽ không bắt em uống đâu. vẫn chưa phải lúc. Ngồi đi. Trông em luộm thuộm quá.” Trong động quá tối nên khó mà nhìn ra được nó dài rộng thế nào. Ánh lửa xanh từ những ngọn đèn lồng, thường được thấy ở các khu Quý Tộc sang trọng bậc nhất, hắt ra đây đó trong động, xen giữa là những ngọn đuốc tẩm dầu bập bùng. Không khí trong lành của buổi đêm ùa vào qua một loạt các khe hở trên trần đá và tôi có thể thoáng thấy các vì sao. Chắc hẳn tôi đã ở trong khu hầm mộ được gần một ngày. “Chỗ này hơi tuềnh toàng.” Sana cởi áo choàng ra, mái tóc đen ngắn của chị lỉa chỉa như bộ lông xù của một chú chim cáu kỉnh. “Nhưng vẫn là nhà.” “Sana. Chị về rồi đấy à?” Một anh chàng có thân hình chắc khỏe với mái tóc đen tiến đến và tò mò nhìn tôi. “Chào Tariq,” Sana cất tiếng. “Chúng tôi tình cờ gặp phải đám lính tuần. Trên đường còn nhặt được một cô bé nữa. Cậu lấy gì đó cho em ấy ăn được không?” Tariq biến mất và Sana ra hiệu cho tôi ngồi lên một băng ghế gần đó, tảng lờ ánh mắt của cả tá người qua lại trong động. Số lượng phụ nữ và đàn ông ở đây bằng nhau, hầu hết đều mặc quần áo đen bó và đeo lủng lẳng cả dao lẫn mã tấu, như thể chuẩn bị đối phó với một đoàn đột kích của Đế Chế bất cứ lúc nào. Một số người phụ trách việc mài vũ khí, trong khi những người còn lại thì lo chuyện bếp núc. Vài người đàn ông lớn tuổi hút thuốc bằng tẩu. Những dãy giường kê dọc vách động đều có người đang ngủ. Tôi vén vài sợi tóc đang lõa xõa trước mặt ra và quan sát xung quanh. Sana nheo mắt dõi theo các đường nét trên mặt tôi. “Nhìn em… quen quen,” chị nhận xét. Tôi thả tóc lại như cũ. Sana chắc đã tham gia quân Kháng Chiến được một thời gian rồi. Chắc là đủ để biết cha mẹ tôi. “Em thường giúp bà bán mứt ngoài chợ.” “Ờ.” Chị vẫn nhìn tôi chằm chằm. “Em sống trong Khu Phố à? Tại sao em…” “Sao cô ấy vẫn còn ở đây?” Sau khi xong việc với một nhóm chiến binh ở góc động, Keenan tiến đến và kéo chiếc mũ trùm đầu ra sau. Trông anh ta trẻ hơn tôi tưởng rất nhiều, chỉ tầm tuổi tôi chứ không bằng tuổi Sana - chắc đó là lý do khi nãy chị sửng cồ trước giọng điệu của anh ta. Mái tóc hung đỏ với phần chân tóc sẫm đen xòa qua trán xuống mắt anh ta. Anh ta chỉ cao hơn tôi một chút, nhưng trông mạnh mẽ, rắn rỏi với những đường nét đẹp và cân đối của một Trí Thức. Chút râu hoe vàng mọc lún phún quanh cằm, mũi lấm tấm tàn nhang. Giống những chiến binh khác, anh ta mang nhiều vũ khí gần bằng một tên Mặt Nạ. Tôi nhận ra mình đang chằm chằm nhìn Keenan nên liền quay đi, hai má ửng đỏ. Tôi chợt hiểu tại sao những cô gái trẻ ở đây lại nhìn anh ta như ban nãy. “Cô ấy không thể ở lại đây,” anh ta nói. “Đưa cô ấy đi đi, Sana. Ngay bây giờ.” Tariq quay lại rồi vứt phịch một đĩa thức ăn lên chiếc bàn phía sau tôi khi nghe được những gì Keenan vừa nói. “Cậu đừng có bảo chị ấy phải làm gì. Sana không phải một tên lính mới đần độn, chị ấy là trưởng cánh quân của chúng ta, còn cậu…” “Tariq.” Sana đặt bàn tay lên cánh tay Tariq, nhưng lại trao cho Keenan ánh mắt có thể làm mòn cả đá. “Tôi chỉ cho cô bé đó chút thức ăn thôi mà. Tôi muốn tìm hiểu xem em ấy làm gì trong đường hầm.” “Em tìm các anh chị,” tôi nói. “Em tìm quân Kháng Chiến. Em cần các anh chị giúp. Hôm qua, anh trai em đã bị bắt đi trong một cuộc đột kích…” “Chúng tôi không giúp được gì đâu,” Keenan nói. “Lực lượng của chúng tôi quá mỏng.” “Nhưng…” “Chúng. Tôi. Không. Thể. Giúp.” Anh ta nói rất chậm, như thể tôi chỉ là một con nhóc. Trước cuộc đột kích, sự lạnh lùng trong đôi mắt anh ta có thể sẽ làm tôi im miệng. Nhưng giờ thì không. Đặc biệt là khi Darin cần tôi. “Anh đâu phải chỉ huy của quân Kháng Chiến,” tôi nói. “Tôi là phó chỉ huy.” Chức vị của anh ta cao hơn tôi tưởng. Nhưng chưa đủ. Tôi hất những lọn tóc đang che mặt mình ra và đứng dậy. “Vậy thì anh không được quyết định việc tôi ở hay đi. Chỉ huy của anh mới là người quyết định điều đó.” Tôi gắng nói bằng giọng đanh thép, mặc dù nếu Keenan phản đối thì tôi cũng không biết mình sẽ làm gì tiếp theo. Bắt đầu van xin, có lẽ vậy. Nụ cười trên gương mặt Sana sắc như dao. “Cô bé này nói có lý đấy.” Keenan tiến lại cho tới khi đứng sát tôi đến mức khó chịu. Mùi chanh quyện với gió và chút mùi khói, như mùi cây tuyết tùng, tỏa ra từ cơ thể anh ta. Anh ta nhìn tôi từ đầu tới chân và tôi hẳn sẽ nghĩ đó là một cái nhìn xúc phạm nếu trên gương mặt anh ta không thoáng vẻ bối rối, như thể anh ta đang nhìn một thứ gì đó mà bản thân không hiểu. Đôi mắt anh ta mang một sắc sẫm bí ẩn - tôi không chắc là màu đen, nâu hay xanh nữa. Dường như đôi mắt ấy có thể nhìn thấu tôi, nhìn đến tận cái tâm hồn yếu đuối và hèn nhát của tôi. Tôi khoanh tay và quay mặt đi, xấu hổ vì bộ đồ tả tới, đống đất cát bẩn thỉu cùng những vết cắt và thương tích trên người mình. “Đó không phải là một chiếc vòng tay bình thường.” Anh ta vươn tay ra sờ chiếc vòng. Đầu ngón tay anh ta sượt qua cánh tay tôi, khiến tôi cảm thấy như có một luồng điện truyền qua da và phải giật tay lại. Anh ta không phản ứng gì. “Nó xỉn màu đến nỗi suýt nữa tôi đã không nhận ra nó. Nó bằng bạc, phải không?” “Tôi không ăn cắp nó, được chứ?” Toàn thân đau nhức và đầu óc quay cuồng, nhưng tôi vẫn nắm chặt tay, trong lòng vừa lo sợ vừa giận dữ. “Và nếu muốn lấy nó thì anh… anh sẽ phải giết tôi trước.” Keenan lạnh lùng nhìn vào mắt tôi và tôi hy vọng anh ta sẽ không lật tẩy tâm can mình. Cả hai chúng tôi đều biết giết chết tôi cũng không phải việc gì khó khăn cho lắm. “Tôi đồ là mình sẽ phải làm vậy,” anh ta nói. “Tên cô là gì?” “Laia.” Anh ta không hỏi họ của tôi - các Trí Thức rất ít khi xưng họ. Sana sửng sốt nhìn chúng tôi. “Để tôi đi gọi Maz…” “Không.” Keenan quay người bỏ đi. “Tôi sẽ đi tìm ông ấy.” Tôi ngồi xuống, Sana cứ nhìn khuôn mặt tôi, cố tìm hiểu tại sao trông tôi lại quen quen. Nếu gặp Darin thì chắc chắn chị sẽ nhận ra ngay. Anh là bản sao của mẹ - và không ai có thể quên được mẹ. Cha thì khác - luôn ở phía sau, vạch đường, lập kế hoạch và suy nghĩ. Tôi thừa hưởng từ cha mái tóc ngái ngủ lộn xộn, đôi mắt vàng, gò má cao và đôi môi dày nghiêm nghị. Ở Khu Phố, không ai biết cha mẹ tôi. Không ai nhìn tôi hay Darin đến hai lần. Nhưng ở một doanh trại Kháng Chiến thì khác. Đáng lẽ tôi phải nhận ra điều đó mới phải. Tôi thấy mình đang chăm chú nhìn hình xăm của Sana và ruột gan tôi thắt lại trước hình ảnh nắm đấm và ngọn lửa. Lúc trước, mẹ cũng có một hình xăm hệt như vậy ở ngay trước ngực. Cha đã phải mất hàng tháng trời để hoàn thiện trước khi xăm nó lên da mẹ. Thấy tôi vẫn chăm chú nhìn, Sana lên tiếng, “Lúc chị xăm hình này, quân Kháng Chiến không như bây giờ,” chị giải thích trước cả khi tôi kịp hỏi. “Khi đó bọn chị mạnh hơn. Nhưng rồi mọi thứ đã thay đổi. Mazen, thủ lĩnh của bọn chị, nói rằng quân Kháng Chiến cần táo bạo hơn và phải chủ động tấn công. Đa số các chiến binh trẻ tuổi, những người được Mazen huấn luyện, đều đồng tình với triết lý đó.” Rõ là Sana không thích điều này. Tôi đang đợi chị tiếp tục thì một cánh cửa phía xa bật mở cho Keenan cùng một người đàn ông khập khiễng với mái tóc điểm bạc bước vào. “Laia,” Keenan cất tiếng. “Đây là Mazen, ông ấy là…” “Thủ lĩnh của quân Kháng Chiến.” Tôi biết tên ông vì hồi còn nhỏ vẫn thường nghe cha mẹ nhắc đến. Tôi còn biết mặt ông vì đã thấy nó trên các lệnh truy nã được dán khắp Serra. “Vậy ra cháu là người cần chúng ta giúp đỡ.” Ông tiến đến trước mặt tôi, phẩy tay ra hiệu bảo tôi cứ ngồi khi thấy tôi định đứng dậy chào. Ông ngậm một chiếc tẩu và khói thuốc che mờ khuôn mặt đầy thương tích của ông. Hình xăm Kháng Chiến của ông, tuy đã mờ nhưng vẫn có thể nhìn thấy, có màu lục lam và được xăm trên vùng da dưới cổ. “Cháu muốn gì?” “Anh trai cháu, Darin, đã bị một Mặt Nạ bắt đi.” Tôi nhìn kỹ gương mặt của Mazen xem ông có nhận ra tên của anh tôi không, nhưng ông không để lộ biểu cảm gì. “Tối qua, khi nhà cháu bị đột kích. Cháu cần sự giúp đỡ của mọi người để cứu anh ấy.” “Chúng ta không giải cứu trẻ lạc,” Mazen quay sang Keenan. “Đừng làm mất thì giờ của ta nữa.” Tôi gắng đè nén nỗi tuyệt vọng của mình. “Darin không phải trẻ lạc. Đáng ra anh ấy đã không bị bắt nếu không phải vì quân của ông.” Mazen quay lại. “Quân của ta?” “Hai trong số các chiến binh của ông bị Quân Binh thẩm vấn và đã khai ra tên của Darin trước khi chết.” Khi Mazen nhìn Keenan chờ xác nhận, anh ta tỏ vẻ bồn chồn. “Là Raj và Navid,” anh ta nói sau một hồi ngập ngừng. “Hai tân binh. Lúc đó họ nói đang làm gì đó rất quan trọng. Sáng nay, Eran vừa tìm thấy xác họ ở đầu phía Tây Khu Phố. Tôi cũng chỉ vừa nghe tin ít phút trước.” Mazen chửi thề và quay lại phía tôi. “Tại sao quân của ta lại cho Đế Chế biết tên anh trai cháu chứ? Sao họ biết được cậu ta?” Nếu Mazen không biết gì về cuốn sổ, tôi cũng sẽ không kể cho ông nghe. Chính tôi cũng không hiểu cuốn sổ có ý nghĩa gì. “Cháu không biết,” tôi đáp. “Có thể họ muốn anh ấy tham gia. Có thể họ là bạn. Dù lý do là gì đi chăng nữa, chính họ đã dẫn Đế Chế đến nhà cháu. Chính tên Mặt Nạ giết họ đã đến tìm Darin đêm qua. Hắn ta…” Giọng tôi nghẹn lại, nhưng tôi hắng giọng và cố giữ bình tĩnh để nói tiếp. “Hắn đã giết ông bà cháu. Hắn đã tống Darin vào tù. Tất cả là vì quân của ông.” Mazen rít một hơi thuốc dài, trầm ngâm nhìn tôi một hồi rồi lắc đầu. “Ta rất tiếc về mất mát của cháu. Thật sự rất tiếc. Nhưng chúng ta không thể giúp cháu.” “Ông… ông nợ cháu một món nợ máu. Quân của ông đã khai ra Darin…” “Và họ đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Cháu không thể đòi hỏi gì hơn nữa.” Chút hứng thú ít ỏi của Mazen với tôi bỗng biến mất. “Nếu đi giúp đỡ từng Trí Thức bị Quân Binh bắt đi thì quân Kháng Chiến sẽ chẳng còn gì. Chúng ta có thể làm gì đó nếu cháu là người của chúng ta…” Ông nhún vai. “Nhưng cháu đâu phải.” “Vậy còn Izzat thì sao?” Tôi túm lấy cánh tay ông, nhưng ông đẩy tôi ra, vẻ giận dữ hiển hiện trong ánh mắt. “Các người phải tuân theo tôn chỉ đó. Phải giúp đỡ bất kỳ ai gặp…” “Tôn chỉ đó chỉ áp dụng đối với người của chúng ta. Các thành viên của quân Kháng Chiến. Gia đình họ. Những người đã hy sinh mọi thứ để chúng ta được sống. Keenan, cho cô bé này chút lá đi.” Keenan nắm một cánh tay tôi và giữ chặt khi tôi gắng đẩy anh ta ra. “Chờ đã,” tôi nói. “Ông không thể làm như vậy.” Một chiến binh khác đến giữ tôi. “Ông không hiểu. Nếu cháu không cứu anh ấy ra, chúng sẽ tra tấn anh ấy… chúng sẽ bán hoặc giết chết anh ấy. Anh ấy là tất cả những gì cháu có - anh là người thân duy nhất còn lại của cháu!” Mazen vẫn bỏ đi. VII: ELIAS P hần lòng trắng trong mắt Nhà Tiên Tri có màu đỏ ma quái, sống động quanh tròng mắt đen nhánh. Làn da phủ ngoài xương mặt ông ta são ra như một thân thể bị kéo phanh thây. Ngoài màu mắt, người ông ta chỉ trong suốt như những con nhện ẩn nấp trong khu hầm mộ Serra. “Cậu đang lo lắng sao, Elias?” Nhà Tiên Tri đẩy mũi dao của tôi ra khỏi cổ ông ta. “Tại sao? Cậu không cần sợ ta. Chẳng phải ta chỉ là một kẻ lừa bịp nhốt mình trong hang động và đọc ruột cừu sao?” Chết tiệt. Sao ông ta biết được tôi đã nghĩ những điều như vậy? Ông ta còn biết gì nữa? Mà sao ông ta lại ở đây? “Đó chỉ là một câu nói đùa thôi,” tôi vội trả lời. “Một câu nói đùa ngớ ngẩn…” “Còn kế hoạch đào tẩu của cậu nữa. Đó cũng là nói đùa sao?” Cổ họng tôi nghẹn lại. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ là làm thế quái nào ông ta… ai đã nói cho ông ta… mình sẽ giết hết bọn chúng… “Gieo nhân nào gặp quả nấy,” Nhà Tiên Tri nói. “Nhưng cái giá phải trả sẽ rất đắt đấy.” “Cái giá phải trả…” Phải mất một giây tôi mới hiểu được. Ông ta sẽ bắt tôi trả giá cho những việc tôi định làm. Không khí buổi đêm bỗng trở nên lạnh hơn và tôi nghĩ đến sự hỗn loạn lẫn mùi hôi thối của Ngục Kauf, nơi Đế Chế gửi mấy kẻ đào ngũ vào tay những tên thẩm vấn tàn bạo nhất. Tôi nhớ đến cái roi da của Sĩ Quan Chỉ Huy và cảnh máu Barrius nhuộm đỏ những phiến đá lát sân trường. Adrenalin dâng lên, những kỹ năng được học thúc giục tôi tấn công Nhà Tiên Tri, giải thoát mình khỏi sự đe dọa của ông ta. Nhưng lý trí đã thắng được bản năng. Các Nhà Tiên Tri vô cùng được nể trọng và giết họ không phải là một lựa chọn sáng suốt. Mà khom lưng trước họ có lẽ sẽ chẳng mất gì. “Tôi hiểu,” tôi trả lời. “Tôi sẽ sẵn sàng chấp nhận mọi hình phạt mà ông cho là…” “Ta không ở đây để trừng phạt cậu. Trong mọi trường hợp, tương lai của cậu sẽ chính là sự trừng phạt thích đáng. Nói ta nghe, Elias. Sao cậu lại ở đây? Sao cậu lại ở Blackcliff?” “Để thực hiện ước vọng của Hoàng Đế.” Tôi thuộc những từ này còn hơn cả chính tên mình vì đã nói chúng rất nhiều lần. “Để đánh đuổi mọi mối đe dọa, cả nội bộ lẫn bên ngoài. Để bảo vệ Đế Chế.” Nhà Tiên Tri quay về phía tháp chuông được dựng theo hình viên kim cương. Các từ được khắc trên gạch xây tháp đã trở nên quen thuộc đến nỗi tôi hầu như không để ý đến chúng nữa. Giữa thế hệ trẻ dạn dầy kinh nghiệm chiến trường sẽ xuất hiện một người được tiên đoán trở thành Đại Đế, người đem tai họa tới cho kẻ thù của chúng ta, thủ lĩnh của một đạo quân có sức mạnh hủy diệt vô song. Và Đế Chế sẽ được thống nhất. “Đó là điềm báo, Elias,” Nhà Tiên Tri nói. “Các Nhà Tiên Tri có khả năng thấy trước được tương lai. Đó là lý do chúng ta xây dựng ngôi trường này. Đó là lý do cậu có mặt ở đây. Cậu có biết câu chuyện đó không?” Câu chuyện về nguồn gốc của Blackcliff là điều đầu tiên tôi được học hồi mới vào năm nhất: Năm trăm năm trước, một chiến binh tàn bạo tên là Taius đã tập hợp các thị tộc Quân Binh riêng rẽ phía Bắc rồi tràn xuống Vương quốc Trí Thức, chiếm gần như toàn bộ lục địa này. Ông ta xưng đế và thiết lập vương triều của mình. Ông ta được gọi là Kẻ Đeo Mặt Nạ vì trên mặt luôn đeo một chiếc mặt nạ bạc kỳ dị để hù dọa kẻ thù. Nhưng các Nhà Tiên Tri, từ hồi đó đã được xem như thần thánh, nhìn thấy trước rằng một ngày kia, triều đại của Taius sẽ sụp đổ. Khi ngày đó đến, các Nhà Tiên Tri sẽ lựa chọn một Hoàng Đế mới qua hàng loạt những cuộc kiểm tra về thể chất và trí tuệ: gọi là Thử Thách. Vì những lý do hiển nhiên, Taius không ưa lời tiên đoán này, nhưng các Nhà Tiên Tri hẳn đã đe dọa siết cổ ông ta bằng ruột cừu, vì ông ta chẳng kêu ca một lời khi họ xây dựng Blackcliff và bắt đầu huấn luyện các học viên ở đây. Và giờ chúng tôi ở đây sau năm trăm năm, tất cả đều đeo mặt nạ như Taius đệ Nhất, chờ đợi triều đại của tên ác quỷ xưa kia sụp đổ để một trong số chúng tôi có thể trở thành Hoàng Đế mới. Tôi sẽ không nín thở chờ đợi. Nhiều thế hệ Mặt Nạ đã được huấn luyện, phụng sự rồi chết mà chẳng hề nghe ai nhắc tới những Thử Thách. Blackcliff có thể đã khởi đầu như một nơi để chuẩn bị cho Hoàng Đế mới, nhưng giờ nó chỉ là sân huấn luyện những cỗ máy giết người ghê rợn nhất của Đế Chế. “Tôi biết câu chuyện đó,” tôi trả lời câu hỏi của Nhà Tiên Tri. Nhưng tôi chẳng tin dù chỉ một từ, vì đó chỉ là chuyện nhảm nhí hoang đường. “Ta e là nó không nhảm nhí, cũng không hoang đường chút nào,” Nhà Tiên Tri điềm tĩnh nói. Tôi bỗng thấy nghẹt thở. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra đã lâu lắm rồi mình không thấy sợ như thế. “Ông có thể đọc suy nghĩ của người khác.” “Một cách diễn đạt đơn giản cho một nỗ lực phức tạp. Nhưng, đúng thế. Chúng ta có thể.” Vậy là ông đã biết mọi thứ. Kế hoạch bỏ trốn của tôi, hy vọng của tôi, nỗi oán hận của tôi. Tất cả. Chẳng ai mách lẻo tôi với Nhà Tiên Tri cả. Chính tôi đã tự dẫn xác đến. “Đó là một kế hoạch tốt, Elias,” Nhà Tiên Tri khẳng định. “Hầu như không có sơ hở nào. Nếu cậu muốn thực hiện kế hoạch đó, ta sẽ không ngăn cản cậu.” DỐI TRÁ! tôi nghĩ. Nhưng khi nhìn vào mắt Nhà Tiên Tri, tôi không thấy sự dối trá. Ông ta đang chơi trò gì vậy? Các Nhà Tiên Tri đã biết việc tôi muốn bỏ trốn được bao lâu rồi? “Chúng ta đã biết nhiều tháng nay rồi. Nhưng chỉ đến khi cậu giấu vật dụng của mình dưới đường hầm sáng nay thì chúng ta mới hiểu là cậu đã quyết tâm. Đến lúc đó, chúng ta biết mình cần nói chuyện với cậu.” Nhà Tiên Tri hất đầu về phía con đường nhỏ dẫn tới tháp canh phía Đông. “Đi dạo với ta nào.” Tôi như bị tê liệt, chẳng biết làm gì khác ngoài việc nghe theo. Nếu không định ngăn tôi bỏ trốn thì Nhà Tiên Tri muốn gì? Ông ta có ý gì khi nói rằng chính tương lai của tôi sẽ là sự trừng phạt thích đáng? Ý ông ta là tôi sẽ bị bắt sao? Chúng tôi đến tháp canh và tất cả các lính gác trực trạm ở đó đều rời đi như thể đang làm theo một mệnh lệnh ngầm. Giờ chỉ còn lại Nhà Tiên Tri và tôi, cùng nhìn về phía những đụn cát tối đen trải dài tới tận Dãy Serra. “Ý nghĩ của cậu làm ta nhớ đến Taius đệ Nhất,” Nhà Tiên Tri lên tiếng. “Giống như cậu, phẩm chất người lính đã ăn sâu vào trong máu ngài. Và cũng giống như cậu, ngài đã chiến đấu với định mệnh của mình.” Nhà Tiên Tri mỉm cười trước cái nhìn nghi hoặc của tôi. “Ừ, đúng vậy. Ta biết Taius. Ta biết cả tổ tiên của ngài. Nhà Tiên Tri chúng ta đã sống trên mảnh đất này cả nghìn năm, Elias. Chúng ta đã chọn Taius để thành lập Đế Chế, cũng giống như đã chọn cậu, năm trăm năm sau, để phụng sự Đế Chế này.” Không thể nào, lý trí của tôi lên tiếng. Im đi nào, lý trí. Nếu người này đọc được ý nghĩ thì có khi cũng có thể bất tử. Như vậy nghĩa là tất cả những câu chuyện về việc các Nhà Tiên Tri bị linh hồn người chết ám đều là thật sao? Giá mà Helene có thể thấy tôi lúc này. Cậu ấy hẳn sẽ hả hê phải biết. Tôi liếc Nhà Tiên Tri qua khóe mắt. Nhìn nét mặt nghiêng của ông ta, tôi bỗng nhận ra nó quen thuộc đến kỳ lạ. “Tên ta là Cain, Elias. Ta đã đưa cậu đến Blackcliff. Ta đã chọn cậu.” Ông đã kết án tôi thì đúng hơn. Tôi gắng không nghĩ đến buổi sáng u ám hôm Đế Chế đến gọi tôi, nhưng nó vẫn thường ám ảnh tôi trong mơ. Đám lính vây quanh chiếc caravan của bộ tộc Saif, lôi tôi ra khỏi giường. Mamie Rila, mẹ nuôi của tôi, đã hét vào mặt chúng cho đến khi bị các anh em của bà lôi lại. Anh nuôi của tôi, Shan, dụi dụi đôi mắt ngái ngủ, ngơ ngác hỏi khi nào tôi sẽ về. Và người này, cái thứ này, đã lôi tôi đến chỗ một con ngựa đang đợi sẵn với một lời giải thích vô cùng kiệm lời. Cậu đã được chọn. Cậu sẽ đi với ta. Trong đầu óc của một đứa trẻ đang khiếp sợ như tôi, Nhà Tiên Tri đó dường như to lớn và dữ dằn hơn. Còn bây giờ, ông ta chỉ cao đến vai tôi và nhìn như thể chỉ một cơn gió mạnh cũng có thể quật ngã ông ta xuống mồ. “Tôi cho là ông đã chọn cả nghìn đứa trẻ trong suốt những năm qua.” Tôi thận trọng giữ giọng lễ phép. “Đó là công việc của ông mà, đúng không?” “Nhưng cậu là người ta nhớ nhất. Vì các Nhà Tiên Tri có thể dự đoán tương lai: mọi kết quả, mọi khả năng. Và cậu luôn len lỏi có mặt trong mọi