🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Xác Thịt Về Đâu
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đã bao giờ thử nghĩ về các thế hệ trong đại gia đình của mình và tự hỏi: tại sao ông mình suốt đời chỉ là một người thợ lặng lẽ dù ông rất giỏi, tại sao cha mình lúc nào cũng rao giảng đạo đức và ép mình phải đi theo nghề của cha, tại sao mẹ mình nhẫn nhục chịu đựng cha đến mức tự biến mình thành một người đàn bà giả trá, chao chát; tại sao các cô chú, cậu mợ và anh chị em họ của mình trở thành những người như họ đã trở thành... Và tại sao tất cả những cá thể người riêng rẽ, dường như hoàn toàn khác biệt này lại dính chặt với nhau trong cái liên kết gọi là “gia đình”, mà ở đó sự hành hạ lẫn nhau có khi còn nhiều hơn tình thương yêu?
Trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Xác thịt về đâu của Samuel Butler, Ernest Pontifex sinh ra trong một đại gia đình và đã bắt đầu cuộc sống bằng sự trung thành tuyệt đối với gia đình mình. Ở tuổi bắt đầu trưởng thành, anh tuân ý người cha độc đoán theo đuổi việc học hành với ý định trở thành một mục sư. Nhưng cuộc sống được sắp xếp trước này không suôn sẻ; cuộc đời Ernest trải qua nhiều thăng trầm, bao gồm cả việc vỡ mộng với các tín điều tôn giáo, vào tù, bị cha mẹ từ bỏ, nghèo khó, bị vợ phản bội, ốm đau, bị lừa dối... Trước khi có thể trở thành một con người độc lập, sống cuộc đời mình. Là cuốn tiểu thuyết có tính phá vỡ khuôn mẫu các tiểu thuyết đạo đức thời Victoria, Xác thịt về đâu mổ xẻ cuộc sống của bốn thế hệ nhà Pontifex; đồng thời cho chúng ta thấy những mẫu số chung trong cuộc sống gia đình và trong đời người. Samuel Butler viết: “... Khi về già... Chúng ta biết rằng cuộc sống chủ yếu là những hù dọa nhau hơn là những tổn thương thật sự.” Quả thật, những trò vè mà con người ta, nhất là người trong gia đình, dùng để hành hạ nhau nhiều khi chỉ xuất phát từ sự hù dọa và khẳng định quyền lực cá nhân một cách vô thưởng vô phạt, nhưng đôi khi để đi đến chỗ hiểu ra điều đó, chúng ta mất cả một đời.
Ngô Bảo Châu & Phan Việt
https://thuviensach.vn
1
◄○►
Hồi những năm đầu thế kỷ, khi còn là một cậu trai nhỏ, tôi nhớ có một ông già mang quần ống túm và bít tất len, thường tập tễnh chống gậy bước đi trên còn đường làng. Vào năm 1807, hẳn ông đã phải được tám mươi tuổi rồi. Tôi khó có thể nhớ được trước đó ông thế nào, bởi đến năm 1802 tôi mới chào đời. Mái tóc đã bạc, lưng hơi còng và đôi chân mỏng manh, nhưng ông vẫn còn vẻ tráng kiện, và vẫn được tôn trọng ở Paleham, cái thế giới bé nhỏ của chúng tôi. Tên ông là Pontifex.
Người ta nói ông là người sợ vợ; tôi đã được nghe là bà ấy có đem lại cho ông một ít tiền, nhưng chắc chắn chỉ một ít mà thôi. Đó là một người đàn bà thân dài vai rộng (cha tôi thường gọi bà ấy là mụ đàn bà Gothic). Bà đã nhất nhất đòi cưới ông vào cái thời mà ông còn trẻ và quá tử tế, chưa thể chối từ bất cứ ai theo đuổi mình. Cuộc sống của họ vẫn ổn, bởi ông Pontifex là người dễ dãi và sớm biết cách nhân nhượng trước tính khí như lửa của bà vợ.
Nghề nghiệp chính của ông Pontifex là thợ mộc, và theo tôi nhớ thì cũng có một thời gian ông làm người giúp lễ. Tuy nhiên, ông đã phất lên nhiều và nhờ đó không còn phải lao động tay chân nữa. Thời trai trẻ, ông đã tự mày mò học vẽ, tôi không nói là ông vẽ giỏi, nhưng việc ông vẽ được như thế quả là một điều đáng ngạc nhiên rồi. Vốn sống ở Paleham từ năm 1797, cha tôi đã có được nhiều bức họa đẹp của ông cụ này. Ông luôn vẽ tranh về quê hương mình, và hết sức kỳ công đến mức trông chúng tựa như tác phẩm của một bậc thầy hội họa thời xưa vậy. Tôi nhớ là chúng đã được lồng khung kính treo trong văn phòng mục sư của cha tôi, với gam màu nhẹ hòa với màu gian phòng, và màu xanh lá trong tranh tựa hồ như phản chiếu màu những
https://thuviensach.vn
dây thường xuân đang quấn quanh khung cửa sổ. Tôi cứ ngỡ là những nhánh thường xuân đang vươn dài ra mãi, hòa cùng làm một với khung tranh xanh xanh đó.
Làm họa sỹ chưa đủ, ông Pontifex còn muốn mình làm nhạc sỹ. Ông tự tay làm cây dương cầm đặt trong nhà thờ, và làm một cây khác nhỏ hơn cho riêng mình. Khả năng âm nhạc của ông không kém gì khả năng hội họa, dù không tuân theo những tiêu chuẩn chuyên nghiệp cho lắm, nhưng cũng hơn những gì người ta có thể kỳ vọng. Khi biết tôi cũng hứng thú với âm nhạc từ thuở nhỏ giống mình, ông đã dành cho tôi một sự ưu ái rất ư là đặc biệt.
Người ta có thể nghĩ là với một mớ bộn bề những thứ muốn làm như thế, rất khó để ông có thể trở nên thật giàu có, nhưng sự thực không phải vậy. Cha của ông là một người làm công nhật, và ông cũng khởi nghiệp chỉ với lương tri và sức khỏe của mình; nhưng giờ đây, ông làm chủ một xưởng bán gỗ lớn, và cơ ngơi của ông đã yên bề ổn định. Cho đến những năm cuối của thế kỷ trước, không lâu trước lúc cha tôi đến Paleham nhận nhiệm sở, ông đã có một trang trại chín mươi mẫu Anh[1], một dấu ấn đáng kể cho thành công trong cuộc sống. Cùng với nó là một căn nhà theo kiểu cổ nhưng đầy tiện nghi với sân vườn, cùng vườn cây ăn quả tuyệt đẹp. Ông dời xưởng mộc ra một trong những ngôi nhà phụ, vốn là một phần của kiến trúc tu viện cũ Abbey Close mà phần nào vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Bao quanh bởi cây kim ngân và dây hồng leo, ngôi nhà của ông là nơi đẹp đẽ nhất làng, và bên ngoài rực rỡ bao nhiêu thì nội thất trong nhà cũng ngăn nắp chuẩn mực bấy nhiêu. Người ta đồn rằng bà Pontifex còn là hồ cứng cho khăn trải giường của mình, và tôi cũng tin như thế thật.
Tôi còn nhớ khá rõ về phòng khách của bà với cây dương cầm được chính tay ông Pontifex làm chiếm trọn nửa gian, cùng vài trái lê khô thơm nức hái từ cây mọc cạnh nhà; trên bệ lò sưởi là tác phẩm con bò đạt giải tự tay ông Pontifex vẽ, cùng bức tranh kính mờ vẽ một người soi đèn cho chiếc tứ mã trong đêm mưa tuyết, vốn cũng là tác phẩm của khổ chủ; trang trí trong phòng còn có hai bức tượng ông bà già nho nhỏ, chuyên dùng để báo thời tiết, cặp tượng cô cậu mục đồng bằng sứ, một vài lọ hoa lá với đôi chiếc lông công thật nổi bật, cùng những bát sứ đựng đầy cánh hồng khô và muối
https://thuviensach.vn
hồng. Tất cả những thứ đó đã biến mất, giờ chỉ còn trong ký ức, dẫu phai mờ nhưng vẫn còn thoang thoảng trong tôi.
Và tôi vẫn còn nhớ căn bếp của bà, chút hình ảnh về hầm rượu ở đó, nơi có chút tia sáng hắt ra từ chiếc bình sữa, hay từ những bàn tay và khuôn mặt của các cô gái đang hớt bọt kem, còn những thứ quí giá bà cất nơi nhà kho, trong đó có loại sáp môi nổi tiếng vốn là một trong những niềm hãnh diện của bà, cũng như món thịt đông hằng năm bà thường giới thiệu cho những người mà bà thấy đáng trọng và đáng mến. Vài năm trước khi mất, bà đã viết công thức món này cho mẹ tôi, nhưng chúng tôi chẳng bao giờ làm món đó ngon được như bà. Khi chúng tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng bà có gửi lời hỏi thăm đến mẹ tôi, và xin phép cho chúng tôi đến dùng trà với bà, những lúc như vậy bà thường cho chúng tôi ăn uống thật no nê. Theo những gì tôi thấy được, quả thật chúng tôi không nghĩ có người phụ nữ nào lại thú vị bằng bà, cho dù ông Pontifex có phải chịu đựng bà điều gì đi nữa thì riêng chúng tôi vẫn chẳng có gì để phàn nàn về bà. Sau khi đã chén no nê, chúng tôi được nghe ông Pontifex chơi đàn, cả nhóm đứng vòng quanh há hốc mồm và nghĩ rằng ông là người thông thái tuyệt vời nhất trên thế gian, tất nhiên là ngoại trừ cha chúng tôi.
Bà Pontifex không có chút hài hước nào, ít nhất thì tôi nhớ chưa lần nào thấy bà tỏ ra hóm hỉnh, nhưng chồng bà lại là người rất có óc khôi hài, mặc dù ít người đoán được điều đó qua vẻ ngoài của ông. Tôi nhớ có một lần cha tôi bảo tôi đến xưởng của ông để xin ít hồ, và tôi tình cờ được thấy ông già đang trách mắng cậu nhỏ của ông. Ông xách tai nó – cái thằng đầu đất ấy và nói ‘Thế nào, đầu óc lại vơ vẩn đâu rồi, cái thằng ngốc này ’ (Tôi tin rằng người ta đã đoán trước rằng thằng bé đó sinh ra phải là đứa vẩn vơ, nhưng đến khi nó như thế thật thì người ta lại gọi nó là đồ vơ vẩn) ‘Nào, nhìn đây, ông tướng,’ ông nói tiếp, ‘có một số đứa bị dốt bẩm sinh, và mày là một đứa như vậy; có một vài đứa dốt do đào tạo, và mày cũng loại đó, Jim à, mày vừa dốt bẩm sinh vừa biết tăng cái bản tính đó của mày lên nhiều lần’ (và đến chỗ cao trào này thì đầu và tai thằng bé bị lắc qua lắc lại liên tục) ‘và có đứa bị cái dốt nhập vào, nhưng nếu Chúa cho phép, thì mày sẽ không phải loại đấy bởi vì ta sẽ trục cái dốt ra khỏi mày, cho dù để được như vậy ta có
https://thuviensach.vn
phải cho mày vài cái bạt tai,’ nhưng tôi không thấy ông già tát tai thằng nhỏ cái nào, và ông cũng chẳng làm gì khiến nó sợ, bởi cả hai đều hiểu nhau quá rõ rồi. Lần khác, tôi nhớ là đã nghe ông gọi người bắt chuột của làng, ‘lại đây nào, cái thằng ba ngày ba đêm’ về sau tôi được biết rằng câu đó ám chỉ những lúc say sưa của ông bắt chuột, nhưng những chuyện đùa giỡn như thế, tôi sẽ không kể thêm nữa. Mỗi khi nhắc đến tên ông già Pontifex, vẻ mặt cha tôi lại sáng lên. ‘Ta nói con nghe này Edward, ông già Pontifex không chỉ là một người tài, mà còn là một trong những người giỏi giang nhất ta từng biết.’ một thiếu niên như tôi chưa đủ để hiểu điều đó. Tôi trả lời cha, ‘Cha ơi, vậy ông ấy đã làm những gì? Ông ấy có thể vẽ được chút ít, nhưng cả đời ông ấy có bức tranh nào được triển lãm ở học viện hoàng gia đâu? Ông ấy làm được hai cây đàn và có thể một tay chơi bản minuet trong vở Samson, tay kia chơi hành khúc trong vở Scipio; ông là một thợ mộc tài ba và có đôi chút khiếu ăn nói; ông xứng là một ông già tốt, nhưng lại sao cha lại đề cao ông ấy quá mức như vậy?’
Cha tôi trả lời, ‘Con à, con không được đánh giá bằng thành quả, mà phải xét thành quả trong phạm vi hoàn cảnh. Con nghĩ xem, liệu Giotto hay Filippo Lippi[2] có được bức tranh nào dự triển lãm không? Liệu trong những bức tranh tường mà chúng ta đã thấy ở Padua, có bức nào có chút cơ hội được treo lên trong triển lãm thời nay hay không?
Trời, những người của viện hàn lâm hẳn sẽ không thèm hạ cố viết thư báo cho Giotto tội nghiệp đến để đem tranh về nhà. ‘Chao ôi,’ ông tiếp lời với chút giận dữ, ‘nếu ông già Pontifex có được cơ hội như của Cromwell[3], thì ông sẽ làm được tất cả những điều Cromwell đã làm, và còn làm tốt hơn nữa; nếu ông có được cơ hội như của Giotto, thì ông hẳn sẽ làm được những việc không kém gì Giotto; nhưng mà đời là thế, ông ấy là một thợ mộc làng, và ta bảo đảm với con rằng suốt cuộc đời mình, ông ấy chưa bao giờ cẩu thả với bất cứ sản phẩm nào.’
‘Nhưng chúng ta không thể đánh giá một người bằng nhiều chữ ‘nếu’ như thế,’ tôi thốt lên. ‘Nếu ông Pontifex sống vào thời của Giotto, hẳn ông đã là một Giotto thứ hai, nhưng ông lại sống vào một thời khác mất rồi.’
https://thuviensach.vn
‘Ta nói cho con nghe này, Edward.’ Cha tôi nói với một giọng có phần nghiêm khắc, ‘chúng ta không dựa nhiều vào những gì cụ thể người ta làm để đánh giá họ, mà dựa vào những gì họ khiến chúng ta thấy cái tầm của họ. Nếu một người đã làm nhiều việc trong hội họa, âm nhạc hay trong đời sống đến mức người đó khiến cho ta cảm thấy ta có thể tin tưởng họ trong một tình huống hiểm nghèo thì nghĩa là người đó có tầm. Ta không đánh giá một người dựa trên những nét cọ mà người ta đã thực sự đưa trên tấm toan, cũng không dựa vào những hành động họ đã làm, hay có thể nói là chúng ta không đánh giá một người dựa trên những nét vẽ trên tấm toan cuộc đời của họ, mà ta đánh giá dựa trên cảm nhận của ta về việc người đó đã cảm thấy và đã hướng đến cái gì. Nếu người đó khiến ta thấy rằng anh ta trân trọng những thứ mà bản thân ta cũng trân trọng thì ta chẳng đòi hỏi gì hơn nữa; ngữ pháp của anh ta có thể không hoàn hảo nhưng ta vẫn có thể hiểu anh ta; giữa ta và người đó đã có sự đồng cảm rồi; và nghe này Edward, ta nói lại lần nữa, ông già Pontifex đó không chỉ là một người có tài, mà còn là một trong những người giỏi giang nhất ta từng biết.’
Chẳng còn gì để phản bác lại cha tôi, và chị của tôi cũng đã đưa mắt bảo tôi im lặng. Không biết sao hễ mỗi lần tôi với cha có bất đồng gì, chị của tôi đều đưa mắt bảo tôi im lặng.
Bị kích động do tôi, cha tôi khịt mũi nói tiếp ‘Còn nói về đứa con thành đạt của ông ấy, nó không đáng đánh giày cho cha nó. Nó có vài ngàn bảng[4] một năm, trong khi cha nó có lẽ chỉ có ba ngàn shilling[5] mỗi năm cho đến cuối đời. Nó là một kẻ thành đạt, nhưng cha nó, người tập tễnh bước trên đường Paleham với đôi tất len xám, chiếc mũ rộng vành và cái áo đuôi tôm đáng giá gấp trăm lần cái thằng Geogre Pontifex đó, bởi tất cả xe, ngựa và mọi thứ, ông đều tự mình gây dựng nên.’
‘Nhưng mà,” cha tôi nói thêm “Geogre Pontifex cũng không phải là kẻ ngu.’ Và câu này đẩy chúng tôi bàn đến thế hệ thứ hai của nhà Pontifex mà chúng tôi có chút liên hệ.
https://thuviensach.vn
2
◄○►
Ông già Pontifex cưới vợ vào năm 1750, nhưng suốt một thời gian dài, họ chẳng có được mụn con nào. Rồi chợt đến năm thứ mười lăm, bà Pontifex khiến cho cả làng kinh ngạc với những biểu hiện không thể nhầm lẫn là bà đang mang thai đứa con thừa tự cho ông Pontifex. Đã từ lâu người ta xem bà chẳng còn hy vọng con cái gì nữa, và rồi khi bác sỹ chỉ ra ý nghĩa của những triệu chứng này, bà nổi cơn thịnh nộ và rủa xả ông ta là ăn càn nói bậy. Bà không chịu ở cữ cũng như chẳng chuẩn bị gì cho ngày sinh nở, nhưng những hàng xóm của bà hiểu rõ về cái thai hơn bà nên đã giấu bà mà chuẩn bị đủ hết mọi thứ. Có lẽ bà kính sợ nữ thần Báo ứng, mặc dù chắc chắn bà chẳng biết nữ thần là ai hay cái gì; có lẽ bà sợ bác sỹ đã chẩn đoán sai và bà sẽ thành trò cười cho thiên hạ; dù gì đi nữa, bà đã không chịu thừa nhận mầm sống rõ ràng đó, bà rõ ràng đã chối bỏ không chịu nhận ra nó, cho đến một đêm tháng Giêng đầy tuyết người ta phải gọi vị bác sỹ làng khẩn cấp chạy trên con đường gồ ghề xóc nảy mà đến hộ sinh cho bà. Khi đến nơi, ông thấy có hai chứ không chỉ một một bệnh nhân, bởi đứa trẻ đã kịp được rửa tội và đặt tên là George. Tôi tin chắc rằng bản tính của George Pontifex chịu ảnh hưởng nhiều từ người mẹ ương bướng này, một người mẹ luôn nghĩ rằng trên thế giới này bà yêu chồng mình hơn bất cứ ai (và tiếp theo là núm ruột của mình, tất nhiên). Khi sinh nở vào tuổi đó, người mẹ này gắn chặt âu yếm nhất với đứa con mà bà vốn không dám mơ tới, dù bà ít khi thể hiện tình cảm đó ra ngoài.
George lớn lên thành một chú bé nhanh nhẹn mạnh khỏe, rất sáng dạ và có lẽ cực kỳ hứng thú sách vở. Sống trong một gia đình trìu mến, giống như mọi người, tự bản chất cậu yêu mến cha mẹ, nhưng ngoài ra cậu chẳng mến
https://thuviensach.vn
ai. Cậu có ý thức khá mạnh về bản thân, và ít biết quan tâm đến người khác. Được nuôi nấng trong bầu khí trời của một làng quê lành mạnh và đẹp đẽ nhất nước anh, cậu được nô đùa khá nhiều, và vào thời đó đầu óc con trẻ không chịu nhiều thứ nặng nề như bây giờ, nên có lẽ đó là lý do vì sao cậu tỏ ra rất khao khát được học hỏi. Đến năm bảy hay tám tuổi, cậu đã có thể đọc, viết và làm toán giỏi hơn bất kỳ đứa trẻ nào cùng tuổi trong làng. Lúc đó cha tôi chưa nhận nhiệm sở ở Paleham, và ông không thể nhớ nổi tuổi thơ của George, nhưng tôi nghe chòm xóm nói với ông rằng, đứa trẻ này nhanh nhẹn và khôn lanh nổi trội. Theo tự nhiên, cha mẹ của cậu cũng tự hào về đứa con của mình, và mẹ cậu quả quyết rằng một ngày nào đó cậu sẽ trở thành một nhà cầm quyền và một trong những người quản cả địa cầu.
Tuy nhiên, quyết tâm cho con mình đạt được những danh giá tột bậc trong cuộc sống là một việc, nhưng sắp xếp sao cho đạt được thành công đó lại là một việc khác. Có lẽ George Pontifex đã được nuôi dạy để làm một người thợ mộc, và chỉ có thể nối nghiệp cha mình làm một trong những ông chủ nhỏ ở Paleham, mặc dù như thế là đã quá cao so với thực chất của anh rồi, bởi theo tôi chẳng có thành tựu nào trong thế giới này vững chắc hơn những gì ông bà Pontifex đã đạt được. Tuy nhiên, khoảng năm 1780, lúc George được mười lăm tuổi, có một việc xảy đến: người chị của bà Pontifex, phu nhân của ông Fairlie, đã ghé thăm Paleham trong vài ngày. Ông Fairlie là chủ một nhà xuất bản, chuyên in sách tôn giáo, ông có một trụ sở ở phố Paternoster; cuộc sống của ông phất lên, và bà vợ cũng nhờ đó mà thơm lây. Suốt vài năm, hai chị em chẳng có mối thân tình sâu sắc nào, và tôi chẳng nhớ được chính xác vì sao ông bà Fairlie lại viếng thăm ngôi nhà yên tĩnh nhưng cực kỳ dễ chịu của ông bà Pontifex; nhưng vì một lý do gì đó, kết quả chuyến viếng thăm là cậu George sớm được dì dượng của mình chiếu cố đến. Một cậu bé thông minh nhanh nhẹn, thể chất tốt, biết cách nói chuyện và cha mẹ thì đáng kính, rõ ràng tiềm ẩn nhiều giá trị trong mắt một thương gia có óc thực tế như ông Fairlie, người cần nhiều thuộc cấp có thể khiến ông an tâm giao phó công việc. Cuối chuyến viếng thăm, ông Fairlie đề xuất với ông bà Pontifex cho mình đưa cậu George vào làm việc cho ông, và cũng hứa rằng nếu cậu làm tốt thì ông sẽ giữ cậu lâu dài. Bà Pontifex biết
https://thuviensach.vn
con mình rất háo hức với lời đề nghị đó, nên mọi chuyện nhanh chóng được quyết định, và rồi khoảng hai tuần sau khi ông bà Fairlie đi, George được gởi đến London để sống với dì dượng của mình.
Đây là bước khởi đầu quan trọng đối với anh. Giờ đây anh mang trên mình những bộ áo hợp thời trang hơn, cái dáng đi cũng như cách nói chuyện có phần mộc mạc quê mùa của Paleham sớm hoàn toàn biến mất, để rồi chẳng bao lâu sau anh đã như thể được sinh ra và nuôi dạy từ lâu trong môi trường của những con người thường được gọi là có học thức. Anh dành toàn tâm toàn ý cho công việc của mình, luôn thể hiện bản thân còn đầy triển vọng hơn những gì ông dượng Fairlie đã từng nghĩ về anh. Thỉnh thoảng, ông Fairlie cho anh về Paleham nghỉ vài ngày, và ông bà Pontifex sớm nhận ra rằng anh đã mang lấy dáng vẻ và cách nói chuyện khác hẳn với thời còn ở nhà. Họ tự hào về anh, cũng như sớm thích ứng với tình trạng mới này. Họ không còn thể hiện sự chi phối của bậc cha mẹ lên anh, vì điều đó thật sự không cần thiết nữa. Đáp lại, George luôn ân cần với họ, và cho đến tận cuối đời, trong anh vẫn giữ một tình cảm trìu mến đối với cha mẹ, một tình cảm tràn trề hơn bất cứ cảm xúc nào mà anh có đối với bất kỳ một con người nào khác.
Những chuyến viếng thăm của George không bao giờ kéo dài, bởi khoảng cách giữa London và Paleham chưa đến mười dặm, hơn nữa đã có xe ngựa nối hai nơi, nên việc đi lại rất dễ dàng; do đó cả anh và cha mẹ anh đều luôn cảm nhận được những điều mới lạ đang diễn ra giữa họ. George thích không khí miền quê trong lành và những cánh đồng xanh so với phố Paternoster tăm tối mà anh đã quen, mà bây giờ con phố đó trông như một con hẻm u ám hơn là một con đường. Dù chẳng có chút hứng thú nào đối với việc gặp gỡ những người nông dân quen thuộc trong làng, nhưng anh vẫn thích được người ta nhìn nhận và khen ngợi là một cậu trẻ đẹp trai và triển vọng, bởi anh không phải loại thanh niên giấu diếm niềm tự hào của mình. Mỗi buổi tối, ông Fairlie dạy anh tiếng Latin và Hy Lạp; anh thành thạo hai ngôn ngữ này và nhanh chóng nắm bắt được những điều mà các cậu trẻ cùng tuổi phải mất hằng năm mới học được. Tôi cho rằng kiến thức đã cho anh sự tự tin, một sự tự tin tự nó nảy sinh cho dù anh có chủ định như vậy hay không; dù
https://thuviensach.vn
gì đi nữa, anh sớm bắt đầu tự cho mình là một nhà phê bình văn học, rồi dần dần là phê bình nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc, và tất cả mọi thứ. Như cha mình, anh biết giá trị của đồng tiền, nhưng anh lại sớm khoa trương hơn và ít rộng rãi hơn ông; hơn nữa, lúc còn là một đứa trẻ, anh đã là một con người rất cẩn thận, tuân theo những nguyên tắc mà chính anh đã trải nghiệm và rút ra hơn là theo những lời khuyên thâm thúy mà cha anh vốn tuân theo tự bản năng mà chẳng băn khoăn gì.
Như tôi đã nói, ông Pontifex bối rối về anh và để mặc anh tự do. Anh với ông có một khoảng cách nào đó, và ông vẫn biết rất rõ điều đó, dù không nói ra. Sau vài năm, bất kỳ lúc nào anh về nhà, ông đều lấy những bộ áo đẹp nhất để mặc thay cho những bộ đồ thường cho đến khi anh về lại London. Tôi tin rằng với lòng tự trọng và tình cảm của mình, ông già Pontifex cũng phần nào thấy sợ hãi chính đứa con của mình, cho dù ông không thể hiểu thấu điều này, và những cách hành xử đó, mặc dù bên ngoài tỏ ra hài lòng, nhưng vẫn không phải là cách hành xử của ông. Bà Pontifex chẳng nhận thấy gì, với bà, cậu George hoàn hảo tuyệt đối, và bà thấy, hay tôi nghĩ là bà thấy, hài lòng rằng về mặt tính cách thì anh giống bà và giống gia đình bà hơn là chồng mình và gia đình chồng.
Khi George khoảng hai mươi lăm tuổi, ông Fairlie cho anh vào công ty với những điều kiện rất thoải mái. Ông hầu như chẳng có gì phải hối hận về việc này. Chàng trai trẻ Pontifex đã truyền thêm luồng khí lực tươi mới cho một công ty vốn đã mạnh mẽ rồi, và theo thời gian, lúc ba mươi tuổi anh chợt nhận ra mình đã có trong tay khoản thu nhập không dưới một ngàn năm trăm bảng một năm tính theo phần chia lợi tức của mình. Hai năm sau, anh kết hôn với một quý cô trẻ hơn anh bảy tuổi, và cô đã đem lại cho anh một khoản hồi môn đáng kể. Cô ấy mất vào năm 1805, lúc sinh đứa con út Alethea, và George cứ ở vậy, không tái giá.
https://thuviensach.vn
3
◄○►
Hồi những năm đầu thế kỷ, bắt đầu có những chuyến viếng thăm định kỳ đến Paleham của năm đứa trẻ và hai bảo mẫu. Bọn trẻ là những người nối dõi nhà Pontifex, và không cần phải nói thì ông bà nội chúng quý chúng hết mực, như thể bọn trẻ là con của Ngài Quản hạt vậy. Chúng tên là Eliza, Maria, John, Theobald (sinh cùng năm 1802 với tôi) và Alethea. Ông già Pontifex luôn luôn thêm chữ ‘cậu’ hoặc ‘cô’ lúc gọi những đứa cháu của mình, ngoại trừ với Alethea, đứa cháu ông yêu quý nhất. Để những đứa cháu đừng quá quắt với chồng cũng như với mình, thậm chí bà Potifex phải nhún nhường trước chúng, cho chúng làm tất cả mọi chuyện, những thứ mà chẳng bao giờ bà cho tôi và các chị tôi, những người bà thương chỉ sau cháu bà, được phép làm. Hai nguyên tắc duy nhất mà những đứa cháu này phải tuân theo là, chùi giày trước khi bước vào nhà, không được mạnh tay với cây đàn của ông Pontifex, cũng như không được tháo những ống sáo ra ngoài.
Ở nhà chúng tôi, không có thời gian nào đáng trông đợi cho bằng chuyến viếng thăm Paleham thường niên của các cô cậu nhỏ nhà Pontifex. Chúng chính là giấy phép đặc biệt cho chúng tôi. Chúng tôi đến dùng trà với bà Pontifex để gặp các cô cậu, rồi mời chúng đến nhà dùng trà với mình, đó là những khoảng thời gian thật tuyệt vời. Tôi yêu Alethea say đắm. Thật sự là chúng tôi yêu nhau. Chúng tôi đóng giả và thay nhau diễn vai vợ chồng một cách công khai thoải mái trước mặt các bà bảo mẫu. Chúng tôi đã rất vui vẻ, nhưng thời đó đã quá lâu rồi, đến nỗi tôi gần như quên mất mọi thứ ngoại trừ việc chúng tôi ĐÃ rất vui vẻ. Hầu như thứ duy nhất còn đọng lại trong tâm trí tôi là vào một ngày nọ, Theobald đã đánh và chọc tức bà bảo mẫu,
https://thuviensach.vn
rồi khi bà nói trong nước mắt là bà sẽ nghỉ việc, nó đáp rằng ‘Bà sẽ không đi đâu hết, tôi sẽ giữ bà ở lại đây để hành hạ bà.’
Nhưng rồi vào một buổi sáng mùa đông năm 1811, lúc còn đang thay đồ, chúng tôi nghe thấy tiếng chuông nhà thờ đổ hồi và được biết đó là chuông báo tử của bà Pontifex. Anh hầu John đã báo cho chúng tôi và còn lỡ lời nói thêm là những tiếng chuông đó rung lên để người ta đến và đưa bà đi chôn. Cái chết của bà xảy đến do một cơn tê liệt bất ngờ. Ai cũng sốc, càng sửng sốt hơn bởi bà bảo mẫu đã quả quyết với chúng tôi rằng nếu Chúa đã chọn, thì hết thảy chúng tôi sẽ chịu nhiều cơn tê liệt và rồi sẽ bị đưa thẳng đến Ngày Phán xét. Theo những người có vẻ biết chuyện nhất, thì dù thế nào đi nữa, Ngày Phán xét sẽ sớm đến trong vài năm nữa, cả thế giới sẽ tàn lụi, còn chúng tôi sẽ bị đẩy vào chốn ngục hình vĩnh viễn, trừ phi chúng tôi biết sửa đổi lối sống hiện tại của mình. Tất cả những điều này khiến chúng tôi hoảng hốt vô cùng, đứa nào đứa nấy hét toáng cả lên, gây náo động đến nỗi bà bảo mẫu phải cố gắng lắm mới giữ yên được. Rồi khi nghĩ đến cảnh mình sẽ không còn được dùng trà bánh ở chỗ bà Pontifex nữa, chúng tôi khóc nấc, dẫu cũng đã bình tĩnh hơn rồi.
Tuy nhiên, đến ngày đưa tang, chúng tôi lại phấn khích vô cùng, ông già Pontifex gởi cho mỗi đứa một chiếc bánh đồng xu theo một tập tục vẫn còn phổ biến cho đến hồi đầu thế kỷ. Trước đó, chúng tôi chưa bao giờ được biết về tập tục này, và mặc dù thường được nghe về bánh đồng xu nhưng lại chưa từng được thấy cái nào. Hơn nữa, người ta phát bánh cho chúng tôi với tư cách một người dân làng, và chúng tôi được đối xử như một người lớn, bởi cha mẹ và những người hầu, mỗi người cũng đều có bánh, nhưng họ cũng chỉ được một cái như chúng tôi mà thôi. Và bởi chưa bao giờ nghĩ đến việc mình là một dân làng, nên những chiếc bánh này đối với chúng tôi mà nói quả thật là điều mới mẻ, chúng khiến chúng tôi thích thú vô cùng; chúng là những thứ chúng tôi hiếm khi hoặc không bao giờ được phép giữ, như thể đó là thứ gì không mấy tốt đẹp. Bởi thế, lòng thương cảm dành cho bà bạn già của chúng tôi phải cự lại với nỗi hào hứng về nguồn gốc của tục lệ phát bánh, về quyền công dân và quyền sở hữu, về vẻ đẹp mắt và sự ngon lành của những chiếc bánh, và về ý thức rằng chúng tôi là những người quan
https://thuviensach.vn
trọng nhờ đã từng thân thiết với người quá cố. Thế rồi còn thật ngốc nghếch khi cả bọn ngồi bàn với nhau xem ai sẽ sớm ra đi, và bởi lẽ chẳng có lý do gì để đoán trước được là đứa nào, chúng tôi thích thú với ý tưởng là sẽ có một người khác vào nghĩa địa chứ không phải là một trong số chúng tôi. Thế là trong một thời gian ngắn, từ đau khổ vô cùng chúng tôi chuyển sang hân hoan tột bậc, một thiên đường mới, một trần gian mới mở ra cho chúng tôi khi nhận ra được những điều hay ho sẽ đến lúc một người bạn của chúng tôi qua đời, và tôi sợ rằng đôi khi chúng tôi chú tâm đến sức khỏe của một ai đó trong làng chỉ bởi họ sẽ sớm mang lại cho chúng tôi những chiếc bánh tang lễ.
Thời đó, những điều vĩ đại dường như đã trôi xa vào quá khứ, chúng tôi lấy làm kinh ngạc khi khám phá ra rằng Napoleon là một con người có thực. Đứa nào cũng cho rằng một người vĩ đại như thế chỉ có thể sống vào một thời xưa, rất xưa, thế mà giờ đây ông ta lại như thể đang đứng sờ sờ trước mặt chúng tôi vậy. Điều này khiến cả bọn thấy Ngày Phán xét có lẽ gần hơn trong tiềm thức, tuy nhiên bà bảo mẫu nói rằng bà biết mọi việc hiện giờ vẫn đang tốt đẹp ổn thỏa. Vào thời đó, tuyết rơi lâu hơn và đọng dày hơn trên đường so với bây giờ, đôi khi cả sữa còn đóng tuyết vào những ngày đông giá, và chúng tôi thường chạy xuống bếp để xem nó. Tôi cho rằng ở đâu đó trong anh quốc vẫn còn có những trường học đôi lúc có sữa đóng băng vào mùa đông, nhưng ở London thì tôi chưa thấy bao giờ, nên đồ rằng bây giờ mùa đông ấm hơn thời trước.
Một năm sau cái chết của người vợ, ông Pontifex cũng về với tổ tiên. Cha tôi đã được gặp ông một ngày trước khi ông mất. Ông già có một nguyên tắc riêng về hoàng hôn, ông đã xây hai bậc cấp nơi bức tường trong khu vườn bếp để vào những lúc trời quang đãng, ông thường đứng đó ngắm mặt trời xế bóng. Cha tôi đến thăm ông vào buổi chiều hôm đó, lúc hoàng hôn đang đổ xuống, thấy ông đặt tay dựa trên gờ tường nhìn về phía mặt trời đang hắt bóng trên cánh đồng, nơi con đường cha tôi đang tiến đến. Lúc mặt trời mất dạng, cha tôi nghe ông nói ‘Tạm biệt mặt trời. Tạm biệt mặt trời.’ Qua giọng nói và dáng vẻ của ông, cha tôi biết ông đang rất yếu. Và rồi ông đã ra đi trước buổi hoàng hôn tiếp theo.
https://thuviensach.vn
Lần này chẳng có ai phát bánh. Có vài đứa cháu của ông đến dự đám tang, và chúng tôi trách chúng đôi chút về việc này. John Pontifex, lớn hơn tôi một tuổi, tỏ ra khinh miệt chuyện về những chiếc bánh, nó cho rằng tôi muốn có bánh chỉ bởi vì cha mẹ tôi không thể mua nổi một cái cho tôi, tôi còn nhớ là chúng tôi đã đánh nhau vì chuyện đó, có lẽ John bị thương nhiều hơn tôi, nhưng cũng có thể là ngược lại. Tôi còn nhớ bà bảo mẫu của em tôi đã mách lại hết mọi việc có phóng đại thêm phần nào khiến cả hai chúng tôi đều bị cho là xấu xa, nhưng nhờ đó chúng tôi đã tỉnh mộng hoàn toàn. Một thời gian lâu sau đó, John và tôi đều lấy làm hổ thẹn khi nghe ai nhắc đến bánh đồng xu. Về sau, có đến cả tá lần người ta phát thứ bánh đó, nhưng chúng tôi chẳng buồn đụng đến một cái nào.
George Pontifex dựng một bia tưởng niệm cha mẹ trong nhà thờ Paleham. Đó là một tấm đá phẳng được khắc những dòng mộ chí sau: TƯỞNG NHỚ ĐẾN
JOHN PONTIFEX
SINH NGÀY 16 THÁNG TÁM, 1727
VÀ MẤT NGÀY 08 THÁNG HAI, 1812
HƯỞNG THỌ 85 TUỔI
CÙNG TƯỞNG NHỚ RUTH PONTIFEX, VỢ ÔNG
SINH NGÀY 13 THÁNG MƯỜI, 1727
VÀ MẤT NGÀY 10 THÁNG GIÊNG, 1811
HƯỞNG THỌ 84 TUỔI.
HỌ SỐNG GIẢN DỊ NHƯNG GƯƠNG MẪU ĐỐI VỚI NHỮNG BỔN PHẬN TÔN GIÁO, ĐẠO ĐỨC, VÀ XÃ HỘI.
CON TRAI ĐỘC NHẤT PHỤNG LẬP.
https://thuviensach.vn
4
◄○►
Trận Waterloo xảy ra sau đó một hoặc hai năm, và rồi hòa bình đến âu châu. Ông George được xuất ngoại nhiều lần. Tôi nhớ là nhiều năm sau đó, ở Battersby, tôi đã được đọc quyển nhật ký mà ông mang theo trong suốt chuyến đi đầu tiên. Đó là một quyển sổ rất đặc biệt. Tôi có cảm giác rằng ông George đã chuẩn bị cho mình một tư tưởng chỉ ái mộ những gì ông cho là đáng ái mộ, chỉ nhìn vào tự nhiên và nghệ thuật qua những lăng kính mà ông học được từ những kẻ mạo danh và hợm hĩnh vốn truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Lần đầu tiên nhìn thấy đỉnh mont Blanc khiến ông ngất ngây như thói thường người ta vẫn vậy. ‘Tôi không thể diễn tả nổi cảm giác của mình. Lúc chớm thấy tòa tu viện trên rặng núi, tôi đã há hốc mồm, và thậm chí còn không dám thở ra hơi. Dường như tôi thấy thần linh đang ngồi trên chiếc ngai kì diệu, vươn cao khỏi những người anh em đang mong mỏi Người, và dường như sự cô độc của Người bất chấp cả vũ trụ này. Cảm xúc tràn ngập trong tôi đến nỗi tôi gần như mất tự chủ và ngoại trừ tiếng kêu bật lên lúc mắt mới nhìn thấy ngọn núi, tôi không dám thốt lên một lời nào cho đến khi dòng nước mắt tuôn trào xoa dịu khoảng hồn thao thức của tôi. Tôi đau đớn bật khóc khi nghĩ đến việc lần đầu tiên được chứng kiến cảnh tượng siêu phàm này từ khoảng không mờ mờ ảo ảo (mặc dù tôi cảm thấy tâm hồn và đôi mắt mình đã cuốn theo nó mất rồi).’ Sau khi đã xem cận cảnh dãy Alpes từ Geneva, và đi được chín trên mười hai dặm đường dốc xuống, ông viết: ‘Tâm trí và tâm hồn tôi tràn ngập quá đỗi, đến mức tôi không thể ngồi nghỉ, và chỉ thấy nhẹ nhõm được đôi chút sau khi chuyến đi bộ đã vắt kiệt xúc cảm của mình.’ một lúc sau, ông đến được thị trấn Chamonix và rồi dành ngày Chủ nhật để lên đỉnh Montanvert ngắm biển băng Mer de Glace.
https://thuviensach.vn
Tại đó, ông viết những dòng thơ sau trong quyển sổ tham quan, và ông xem những dòng đó thật ‘hợp với thời gian và cảnh vật’.
‘Lạy Chúa con, những kiệt tác tay Ngài Khi trông thấy, linh hồn con kính phục.
Cô tịch siêu vời và yên bình kinh hãi
Tháp tuyết vươn lên tinh khôi hùng vĩ
Đây đỉnh vút nhọn, kia đồng bằng êm
Mặt biển chìm trong mùa đông bất diệt
Hết thảy đều do tay Ngài tác tạo
Và lúc lặng ngắm những kỳ công đó
Trong thinh không, con nghe lời tán tụng vang vang’
Một vài nhà thơ luôn bắt đầu chới với sau bảy hoặc tám dòng. Ông Pontifex đã rất vất vả với hai dòng cuối, và gần như mọi chữ đều bị xóa đi viết lại ít nhất một lần. Dù vậy, trong quyển sổ tham quan tại Montanvert, hẳn ông đã phải đắm mình vào những dòng thơ đó. Xem qua những dòng thơ này, tôi có thể nói rằng ông đã đúng khi cho rằng chúng hòa hợp với thời gian; nhưng tôi không muốn quá bắt bẻ về chuyện biển băng, nên tôi sẽ không bình luận gì về việc chúng có phù hợp với cảnh vật hay không. Rồi ông Pontifex đến đèo Great St. Bernard và tại đây ông cũng viết một vài dòng thơ nữa, lần này tôi e là bằng tiếng Latin. Ông cũng ấn tượng với nhà nghỉ hospice cùng vị thế của nó. ‘Toàn bộ chuyến hành trình vô cùng đặc biệt này như thể một giấc mơ, nó tóm lược thật kì diệu một xã hội hào hoa, với sự êm ái và hài hòa ẩn trong cả những khối đá thô cứng nhất và trong cả một vùng đất quanh năm tuyết phủ. Ý nghĩ rằng mình đang ngủ trong một tu viện và nằm trên chiếc giường của chính Napoleon, rằng tôi đang được ở trên đỉnh cao nhất của thế giới, trong một chốn đầy danh tiếng, khiến nhiều lần tôi phải giật mình tỉnh giấc trong đêm.’ Để thấy được một thứ trái ngược với cảm giác của ông, có lẽ tôi nên trích dẫn lá thư mà cháu nội ông, Ernest đã viết cho tôi, trong đó có câu: ‘Con lên đến đèo Great St. Bernard, và trông thấy những con chó.’ rồi sau đó, ông Pontifex tìm qua nước Ý, chìm đắm trong tột đỉnh ngưỡng mộ sự trang nhã của những họa phẩm và các tác phẩm nghệ thuật, những thứ ít nhất đang là xu thế thời thượng thời bấy giờ.
https://thuviensach.vn
Ông viết về phòng trưng bày Uffizi ở Florence như sau: ‘Tôi dành trọn ba tiếng sáng nay trong nhà triển lãm, và xác quyết với mình rằng nếu được chọn một trong số những kho báu của Ý quốc, thì tôi sẽ chọn ngay gian phòng triển lãm này. Nó lưu giữ bức tượng Vệ Nữ của Medici, tượng Nhà Thám hiểm, bức tượng Đấu sỹ, tượng Thần Nông Nhảy múa và một bức tượng thần Apollo thật đẹp. Những bức tượng này còn giá trị hơn cả tượng Laocoon và tượng Belvedere Apollo ở Rome. Ngoài ra, trong phòng này còn có họa ảnh thánh John do Raphael vẽ và nhiều kiệt tác của những nghệ nhân vĩ đại nhất thế giới’. Tôi thấy khá hay khi so sánh tình cảm dạt dào của ông Pontifex với sự hào hứng tột bậc của những nhà phê bình nghệ thuật ở thời đại này. Gần đây, một ngòi bút đáng kính tuyên cáo với thế giới rằng ông ta sẵn sàng khóc trong vui sướng trước một tác phẩm của Michael Angelo. Tôi tự hỏi rằng nếu như những nhà phê bình nhận xét rằng Michael không phải là một thiên tài, hay nếu như lúc đó Michael chưa có được danh tiếng gì, thì liệu ông ta có sẵn sàng làm vậy trước một Michael Angelo bằng xương bằng thịt hay không. Nhưng tôi cho rằng một kẻ hợm hĩnh đầu ngập tiền vào sáu mươi, bảy mươi năm về trước cũng sẽ làm giống hệt như ông ta bây giờ vậy.
Hãy xem cách Mendelssohn nói về gian phòng mà ông Pontifex đã cảm thấy quá xứng đáng để gắn liền danh tiếng của mình với tư cách là một con người của văn hóa và thẩm mỹ. Mendelssohn thấy như thế không đáng cho lắm và viết ra những dòng sau, ‘rồi tôi đến gian phòng Tribune. Nó là một gian phòng đầy thú vị và chỉ rộng khoảng mười lăm bước chân, nhưng lại chứa đựng cả một thế giới nghệ thuật. Một lần nữa, tôi lại tìm thấy chiếc ghế tay dựa yêu thích của tôi đặt dưới bức tượng ‘Người nô lệ mài dao’ (bức l’arrotino), và tự thưởng cho mình được ngồi vào đó trong hai giờ đồng hồ; rồi từ đây, tôi nhìn ngắm được bức ‘Madonna del Cardellino’ của giáo hoàng Julius II, một bức chân dung phụ nữ do Raphael vẽ, và trên nó là một bức ảnh Thánh gia đẹp đẽ của họa sỹ Perugino; và gần bên tôi đến nỗi tôi có thể chạm vào được là tượng Venus của Medici; xa hơn nữa là những tác phẩm của Titian... Phần còn lại trong gian phòng treo những họa ảnh khác của Raphael, Titian, hay Domenichino, vân vân và vân vân. Tất cả đều đặt trọn trong một chu vi hình bán nguyệt nhỏ bằng một gian phòng của bạn mà
https://thuviensach.vn
thôi. Đây là nơi con người ta có thể cảm thấy sự tầm thường của mình cũng như sẽ học được cách cư xử khiêm cung.’ Đối với những người như Mendelssohn, gian phòng Tribune không phải là một nơi để nhận biết sự thấp hèn của chính mình. Nói chung những người như thế càng lại gần gian phòng này thì lại càng rời xa nó hơn. Tôi tự hỏi Mendelssohn đã tự thán phục mình đến mức nào về việc ngồi hai tiếng đồng hồ trên chiếc ghế đó. Tôi cũng không biết liệu trong hai tiếng ngồi ở đó, bao nhiêu lần ông đã xem đồng hồ và tự cho phép mình được sánh ngang với những nghệ sỹ có họa phẩm trưng bày trong gian phòng này, và cũng không biết bao nhiêu lần ông tự hỏi có khách tham quan nào nhận ra ông và ngưỡng mộ ông vì đã ngồi ở chiếc ghế đó lâu đến vậy không, và bao nhiêu lần ông bực tức vì người ta đi ngang qua mà chẳng thèm chú ý đến ông. Nhưng có lẽ thực sự thì ông chẳng ngồi đó được hai giờ đồng hồ đâu.
Lại nói về ông Pontifex, không biết liệu ông có thích thứ mà ông tin là những kiệt tác của nghệ thuật Hy Lạp và Ý quốc hay không, nhưng ông đã mang về một vài bản sao của các nghệ nhân Ý, những họa bản mà tôi tin là ông đã tự hài lòng rằng chúng cực kỳ giống với bản gốc. Theobald thừa kế hai trong số những bản sao này, và tôi thường thấy chúng mỗi khi đến Battersby thăm vợ chồng anh. Chúng là bức họa Madonna của Sassoferrato với chiếc mũ trùm màu xanh trên đầu Đức mẹ làm mờ đi phân nửa bức tranh, và còn lại là bức Magdalena của Carlo Dolci với mái tóc đẹp cầm chiếc bình ngọc trên tay. Thời thanh niên, tôi đã từng nghĩ rằng những bức họa này thật đẹp, nhưng mỗi lần viếng thăm Battersby, tôi lại càng thấy chúng khó ưa hơn bởi phải nhìn thấy cái tên ‘George Pontifex’ ký trên đó. Cuối cùng tôi liều lĩnh giả vờ đòi xóa chúng đi, nhưng Theobald và vợ anh cùng nhau nổi nóng với tôi ngay lập tức. Họ không thích cha của mình, nhưng lại tin tưởng vào uy thế và khả năng của ông, cũng như tin tưởng khiếu thẩm mỹ tuyệt vời của ông đối với văn học và nghệ thuật – rõ ràng là quyển nhật ký hành trình xuất ngoại của ông đã chứng tỏ điều đó. Tôi sẽ trích dẫn quyển nhật ký này thêm một câu ngắn nữa thôi. Đó là trong thời gian ở Florence, ông Pontifex có viết: ‘Tôi đã vừa nhìn thấy Đại Công tước và gia đình ngài trên hai cỗ xe ngựa, nhưng người ta chỉ chú ý họ hơn chú ý
https://thuviensach.vn
tôi, một kẻ hoàn toàn vô danh ở đây.’ Ông tin là mình hoàn toàn vô danh ở Florence hay ở bất kỳ nơi nào khác ư? Tôi không nghĩ như thế!
https://thuviensach.vn
5
◄○►
Chúng ta được bảo rằng Tài lộc là một người mẹ nuôi con một cách mù quáng và thất thường, những tặng vật của bà được trao cho con cái một cách ngẫu nhiên. Nhưng nếu chúng ta tin như vậy thì thật là bất công vô cùng đối với bà. Hãy theo dấu sự nghiệp của một người từ lúc anh ta mới khởi nghiệp cho đến tận khi xuống mồ, và chú ý xem Tài lộc đã xử thế nào với anh ta, bạn sẽ thấy được rằng một khi anh ta đã chết thì Tài lộc có thể được bào chữa khỏi tội thất thường hời hợt mà người ta gán cho bà. Sự mù quáng của bà chỉ là chuyện bịa đặt, bà có thể nhìn ra được những người bà yêu quý, trước cả khi họ được sinh ra. Chúng ta ngày hôm nay và ông cha chúng ta thời trước, đều bình đẳng với nhau trong đôi mắt trong sáng đầy tình mẫu tử của bà mẹ Tài lộc, bà có thể nhìn ra được hết những giông tố đang kéo đến. Bà mỉm cười khi đặt những kẻ bà yêu quý nơi một con hẻm của London và đặt kẻ bà quyết định loại bỏ nơi chốn cung điện vua chúa. Hiếm khi bà động lòng đối với những kẻ mà bà đã nuôi nấng trong tàn nhẫn và cũng hiếm khi bà hoàn toàn bỏ rơi một đứa trẻ mà bà đã chiếu cố.
Vậy George Pontifex là một đứa trẻ được bà mẹ Tài lộc chiếu cố hay là không? Tóm lại toàn bộ, tôi có thể nói là không, bởi ông không tự cho mình là một người như vậy, ông quá đậm chất tôn giáo để tôn thờ bà mẹ Tài lộc; ông nhận lấy tất cả những gì bà cho và không bao giờ tạ ơn bà, ông tin chắc rằng bất cứ thứ gì ông có được là do tay ông mà ra. Nhưng tất cả những thứ ông có được chính là bởi thần Tài lộc đã cho ông có thể có được như vậy.
‘Nos te, nos facimus, Fortuna, deam,’ một nhà thơ đã từng tuyên bố như thế. ‘hỡi thần Tài, chính chúng ta đã tôn người làm thần.’ Và như thế thần Tài đã cho chúng ta có thể tạo ra bà. Nhà thơ đó đã chẳng nói gì về việc tạo
https://thuviensach.vn
nên cái ‘chúng ta.’ Có thể một số người không lệ thuộc vào quá khứ, hoàn cảnh và đã có được một sức mạnh nội tại tuyệt đối không dính dáng gì với quan hệ nhân quả; nhưng điều này được xem là một vấn đề nan giải, và nên tránh xa nó. Chúng ta chỉ cần cho rằng George Pontifex không xem mình là một người may mắn, và cũng không xem vận thế của mình là vận rủi.
Ông quả thật là một người giàu có, được hết thảy mọi người tôn trọng và có một bản tính nổi trội. Nếu ông ăn nhậu ít hơn, thì hẳn không bao giờ bị xem là một kẻ sống về đêm. Có lẽ sức mạnh chính yếu của ông nằm ở việc dù có hơn mức trung bình một chút, nhưng năng lực của ông vẫn không quá cách xa với mọi người. Rất nhiều người khôn ngoan đã bất đồng ý kiến về điểm này. Một người thành đạt sẽ nhìn ra nhiều điều hơn hẳn những gì mà các đồng bạn của anh nhìn ra, nhưng những điều đó nếu được chỉ ra thì các đồng bạn của anh phải có khả năng hiểu được nó. Biết quá ít vẫn tốt hơn biết quá nhiều. Người ta sẽ chê bai người biết quá ít, nhưng sẽ phẫn uất khi phải cố gắng nỗ lực chạy theo người biết quá nhiều. Lúc này ví dụ khá nhất mà tôi có thể chỉ ra về sự khôn ngoan của ông Pontifex trong các vấn đề kinh doanh là cuộc cách mạng mà nhờ đó ông đã tác động đến phong cách quảng cáo các sản phẩm của công ty mình. Lúc ông mới vào làm thì các mẩu quảng cáo của công ty như sau:
‘Những quyển sách đáng mua mùa này…
‘Giáo Dân Ngoan Đạo, là những đường hướng một Kitô hữu nên sống mỗi ngày để trọn cuộc sống được bảo đảm và thành công; sống ngày Sabbath như thế nào; sách Kinh Thánh nào nên đọc trước hết; toàn bộ phương pháp giáo dục; tập hợp những đức hạnh quan trọng nhất để làm đẹp linh hồn; một bài viết về Buổi Tiệc ly; những nguyên tắc để cứu chữa linh hồn đang yếu đuối; bởi thế trong tập này có đủ tất cả những nguyên tắc cần thiết cho ơn cứu độ. Xuất bản lần thứ tám, kèm theo phụ lục. Giá 10đ.
Sẽ có chiết khấu cho người mua sách để bán hoặc tặng.’> Vài năm sau, quảng cáo đó thành như thế này:
‘Giáo Dân Ngoan Đạo. Một tập sách đầy đủ cho Ơn gọi Kitô hữu. Giá 10đ.
https://thuviensach.vn
Sẽ giảm giá cho những người mua với mục đích phân phát rộng rãi cho người khác.’
Thật là một bước tiến dài từ mẫu quảng cáo trước đến mẫu sau này, và khi người khác không nhận ra sự khiếm nhã trong mẫu quảng cáo cũ, thì ông Pontifex thật thông minh khi biết loại bỏ nó.
Vậy điểm yếu của George nằm ở đâu? Tôi cho rằng điểm yếu của ông chính là việc ông đã phất lên quá nhanh. Gần như cần thiết phải có một sự giáo dục truyền qua nhiều thế hệ để người ta có thể thoải mái hưởng dùng một khối tài sản lớn. Người đời dễ dàng thoải mái chấp nhận sự vươn lên dần dần qua nhiều thế hệ hơn là chấp nhận việc một người chỉ cần một đời nỗ lực là đã có được giàu sang tột bậc. Tuy nhiên, một sự may mắn nào đó thường sẽ song hành với một người tự lập đến tận cùng. Chính con hay cháu của họ mới là những kẻ chịu nhiều mối nguy hại, bởi dòng dõi đó có thể sẽ không còn lặp lại những thành quả ấn tượng đột ngột và những triều sóng thành công như cá nhân người khởi nghiệp đã từng làm, và người thành đạt bước đầu đó càng khôn ngoan bao nhiêu, thì sự suy sụp của thế hệ nối tiếp càng lớn bấy nhiêu, sự tàn lụi đó cứ tiếp diễn cho đến khi mọi thứ trở lại như thuở ban đầu. Do đó, thường là đứa cháu của người thành đạt đó sẽ thành công hơn người con – hạt giống tinh thần của người cha đã bị người con bỏ mặc, và nó được nghỉ ngơi để làm tươi mới hầu sẵn sàng bùng nổ mới mẻ nơi người cháu. Hơn nữa, một người cực kỳ thành đạt mang trong mình một sự lai tạp, ông ta là một giống vật mới, thoát thai từ tập hợp những yếu tố lạ lẫm và ai ai cũng biết là một lứa cây trồng hay thú vật dị thường là một thứ bất thường và không đáng tin, cho dẫu chúng tuyệt đối không vô dụng.
Và tôi chắc rằng thành công của ông Pontifex đến cực kỳ nhanh chóng. Chỉ vài năm sau khi gia nhập công ty, dượng và dì của ông đều qua đời trong vòng vài tháng và để lại cho ông quyền thừa kế gia sản của họ. Ông không chỉ là cổ đông duy nhất trong công ty, mà hơn nữa còn có được một gia tư 30.000 bảng, một khối tiền lớn vào thời đó. Tiền đổ vào túi ông, và tiền vào càng nhiều ông lại càng say mê nó, mặc dù ông thường nói rằng ông xem trọng đồng tiền không phải vì nó là tiền, mà chỉ vì nó là phương tiện để ông chăm lo cho con cái của mình.
https://thuviensach.vn
Nhưng khi một người say mê tiền của mình quá đỗi, thì không dễ dành hết thời gian chăm chút cho con cái.
Tiền và con cái giống như Phú quý và Chúa Trời. Ngài Macaulay có viết một đoạn so sánh những thích thú của việc đọc sách với sự phiền phức do đồng bạn của người đó gây nên. ‘Platon không bao giờ ủ rũ. Cervantes chẳng đời nào hờn dỗi. Demosthenes có bao giờ lỗi nhịp đâu. Dante chẳng ở nơi nào quá lâu. Bất đồng chính kiến không thể làm Cicero nên khó ưa. Chẳng một dị giáo nào khiến nổi Bossuet tỏ ra ghê tởm.’ Tôi dám nói là có lẽ tôi không tán thành ngài Macaulay trong đánh giá về những nhân vật ngài vừa kể ra, nhưng không thể bác được ý chính của ông, đó là chúng ta không được để những vấn đề của người khác vượt ngoài tầm mức suy nghĩ của bản thân mình, cho dù đám bạn bè không phải lúc nào cũng dễ dàng tha cho chúng ta. George cảm nhận được điều này khi suy xét về con cái và tiền bạc. Tiền của ông không bao giờ quấy ông, chúng không bao giờ làm ầm ĩ hay bày bừa ra đó, chúng không đổ đồ ăn ra khăn trải bàn, hay không để mặc cửa mở toang lúc ra ngoài. Những lợi tức của ông không tranh cãi nhau, và những khoản thế chấp của ông cũng không khiến ông phải lo lắng xem liệu đến tuổi trưởng thành nó có tiêu hoang rồi bắt ông phải gánh nợ hay không. Ông thấy John có những chiều hướng khiến ông rất lo lắng, còn đứa con thứ hai Theobald thì biếng nhác và nhiều lần không trung thực. Có lẽ những đứa con của ông biết cha chúng xem trọng điều gì, biết rằng cha chúng thường khó khăn với chúng nhưng chẳng bao giờ khó dễ với tiền. Ông chưa bao giờ hấp tấp hay bực bội với tiền của mình, và có lẽ nhờ đó mà ông và tiền bạc chung sống thật tốt đẹp với nhau.
Phải nhớ rằng vào đầu thế kỷ xIx, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái vẫn còn rất tệ. Như những mẩu quảng cáo kiểu cũ của hãng Messrs. Fairlie & Pontifex một thời đã bị loại bỏ, giờ đây trong văn học cũng hiếm có hình ảnh một người cha bạo hành như thường thấy trong mô tả của Fielding, Richardson, Smollett và Sheridan, nhưng về bản chất thì dạng người cha độc đoán đó vẫn chưa biến mất hẳn. Hình ảnh cha mẹ trong những tiểu thuyết của Austen không còn là những quái vật man rợ như thời trước, nhưng rõ ràng trong phần lớn các tác phẩm của mình, cô nhìn cha mẹ với một sự ngờ
https://thuviensach.vn
vực, và cảm thấy khó chịu về việc người cha có quyền làm tất cả mọi thứ. Vào thời nữ hoàng Elizabeth, mối liên hệ cha mẹ con cái này nói chung đã êm đềm hơn nhiều. Trong phần lớn truyện của Shakespeare, cha và con là những người bạn với nhau, thói xấu cũng không xuất hiện và vươn lên đến đỉnh điểm xấu xa của nó cho đến thời kỳ mà Thanh giáo khiến người ta quen với những tư tưởng Do Thái mà chúng ta phải cố gắng làm theo mỗi ngày. Những tiền lệ nào mà Abraham, Jephthah và Jonadab con của Rechab đã không làm? Trong thời mà hiếm người có lý trí biết nghi ngờ về việc liệu mỗi một lời trong Cựu Ước có thật là lời được truyền từ miệng Thiên Chúa hay không, thì quá dễ để trích dẫn sách và tuân theo những luật đó. Hơn nữa, Thanh giáo cấm tiệt những khoái cảm tự nhiên; nó lấy ai ca thay cho Khải hoàn ca, và nó quên mất rằng những hủ tục của mọi thời luôn muốn được tiếp tục duy trì.
Ông Pontifex có thể nghiêm khắc với con cái hơn người ngoài một ít, nhưng chỉ một ít mà thôi. Ông đánh đòn các cậu nhỏ hai hay ba lần mỗi tuần và có lúc còn nhiều hơn nữa, nhưng thời đó các bậc làm cha vẫn thường luôn làm vậy. Sẽ dễ dàng thấy hợp lý hơn nếu những người khác cũng làm vậy, nhưng may thay mà cũng có thể bất hạnh thay, kết quả của những trận đòn chẳng có giá trị gì để xác định là đám con có lỗi hay không có lỗi, mà chúng chỉ là một việc làm cho có, bất kể kết quả là gì đi nữa. Có lỗi hay không có lỗi chẳng thay đổi gì được kết quả; việc này đặt ra một vấn đề là liệu những người biết lý lẽ có hành động theo kiểu quá máy móc như thể đó là một nhiệm vụ được giao hay không. Vào thời đó, ai ai cũng cho rằng không dùng đến roi vọt là làm hư con trẻ, và thánh Phaolo đã xem việc không vâng lời cha mẹ là một điều vô cùng xấu xa. Nếu con cái làm điều gì đó mà ông Pontifex không thích, có nghĩa là rõ ràng chúng đã không vâng lời ông. Và như thế chỉ có một lối duy nhất mà một người biết lý lẽ buộc phải làm. Điểm mấu chốt trong việc trừng phạt này chính là để kiểm soát những dấu hiệu đầu tiên của thói tự tung tự tác trong những đứa con của ông, lúc chúng vẫn còn chưa đủ lớn để phản ứng lại một cách nghiêm trọng hơn. Nói theo lối thịnh hành, là nếu ý muốn của chúng được ‘đập tan một cách tốt đẹp’ từ thuở nhỏ, thì chúng sẽ có được những thói quen vâng lời mà
https://thuviensach.vn
chúng sẽ không dám liều lĩnh phá vỡ cho đến khi được hai mươi mốt tuổi. Rồi có lẽ chúng sẽ tự chiều theo ý mình; còn ông phải biết cách để tự bảo vệ mình; như thế, cho đến lúc đó chúng sẽ biết cảm kích ông và tiền của ông hơn.
Chúng ta biết quá ít về những suy nghĩ của mình, hành động phản chiếu chính chúng ta, tất nhiên là vậy, nhưng chính suy nghĩ cũng vậy! Quả thật, con người tự tôn là nhờ vào ý thức. Chúng ta tự hào rằng chúng ta khác với những cơn gió, con sóng, những hòn đá rơi cũng như cây cối, những thứ chẳng biết vì sao chúng lớn lên, và chúng ta cũng khác với những sinh vật lang thang rình mò săn mồi. Liệu chúng ta có thỏa chí nói được như thế nếu không nhờ có lý luận? Chúng ta biết rõ rằng chúng ta đang làm gì, và tại sao chúng ta làm như thế, hoặc không làm như thế. Thời này có một quan điểm đang lên, và tôi cho rằng nó đúng phần nào, đó là ý kiến cho rằng những suy nghĩ và hành động thiếu ý thức của chúng ta là nét định hình chính cho đời sống của chúng ta và của những kẻ hậu sinh của chúng ta.
https://thuviensach.vn
6
◄○►
Ông Pontifex không phải là một người bận lòng nhiều về vấn đề động cơ cho những hành động. Người thời đó không suy xét nội tâm nhiều bằng chúng ta; họ sống theo một luật tự đặt ra cho mình. Tiến sỹ giáo dục arnold đã không tạo nên một loạt những nhà tư tưởng nhiệt tâm mà chúng ta đang có, và người thời đó cũng không nhìn ra được tại sao họ không được hành động theo cách riêng của mình khi dường như việc đó chẳng đem lại hậu quả xấu gì cho họ. Nhưng rồi bây giờ khi đã thay đổi, đôi khi người ta lại để mình vướng vào những hậu quả tệ hại hơn những gì họ tính toán nhiều.
Giống như những người giàu có đầu thế kỷ này, ông Pontifex ăn uống nhiều hơn mức cần thiết. Ngay cả thể trạng tốt của ông cũng không thể phủ nhận quá trình ăn uống vô độ kéo dài, mà ngày nay chúng ta có thể gọi là nhậu nhẹt quá nhiều. Gan của ông hay trở chứng, và ông thường xuống ăn sáng với đôi mắt vàng héo. Những lúc như vậy các cậu nhỏ biết rằng tốt hơn chúng nên đề phòng cẩn thận. Không thể bảo đảm rằng việc đòi hỏi bọn trẻ quá mức sẽ làm hại chúng. Nhưng những bậc cha mẹ tốt hiếm khi đòi hỏi con cái quá sớm, và chính những người đòi con cái mình phải giỏi giang quá mức mới là kẻ làm hại con mình.
Tôi cho là thoạt nhìn qua thì thật là bất công khi đời cha ăn mặn đời con khát nước, nhưng các bạn trẻ nên nhớ rằng trong suốt nhiều năm ròng, con cái là một phần gắn liền với cha mẹ và do đó chúng cũng được dự phần hưởng dùng cùng cha mẹ chúng. Nếu chúng đã quên mất những hưởng dùng chúng có thì, chẳng khác gì một người đau đầu sau khi quá chén tối hôm trước. Người đau đầu không thể đòi hỏi mình tách biệt khỏi người đã quá chén, và không thể nói rằng bản thân mình say sưa tối qua không phải là
https://thuviensach.vn
chính mình phải chịu khổ sáng nay; con cái không nên than phiền cơn đau trút xuống trên chúng là do đã gắn liền với cha mẹ mình, bởi cho dù không rõ ràng ngay lập tức, nhưng sự đồng nhất nối tiếp giữa cha mẹ và con cái luôn luôn hiện diện. Tuy nhiên, điều khó chấp nhận là việc cha mẹ vẫn còn chơi bời sau khi đã có con cái, và buộc chúng phải chịu khổ vì việc đó.
Rồi khi đến thời khốn khổ của mình, người cha sẽ nhìn mọi vật thật u ám và tự nói với mình rằng tại sao mình đã tốt với con cái như thế mà chúng lại không yêu thương mình. Nhưng ai có thể yêu thương một người thất thường như vậy? Ông có thể than với mình rằng đám con thật vô ơn đến đốn mạt. Thật là khó chấp nhận đối với ông, một người con tốt, và luôn tôn kính vâng lời cha mẹ cho dù họ không cho ông một phần trăm tài sản của họ để ông hoang phí thời trai trẻ. Ông có thể tự nói với mình rằng ‘luôn là vậy, những đứa con này càng được cho nhiều thì càng vô ơn; ta đã phạm một sai lầm nghiêm trọng; ta đã quá tốt với đám con cái; nhưng chẳng thành vấn đề, ta đã hoàn thành bổn phận với chúng, và còn làm hơn thế nữa; nếu chúng thiếu tôn kính ta, đó là việc chúng phải trình bày với Chúa. Còn ta, dù gì đi nữa, ta vô can. Sao, sao đây, ta nên tái hôn và làm chủ một gia đình mới và có lẽ là một gia đình đầm ấm yêu thương hơn,... v.v...?’
Ông thương thân vì đã dùng nhiều tiền của cho con cái ăn học, ông không nhận ra rằng vì việc học của chúng, bọn trẻ phải đánh đổi nhiều hơn ông, bởi nó lấy đi của chúng năng lực tự kiếm sống hơn là đưa chúng đến với đời, nó còn khiến chúng phải sống nhờ vào sự chiếu cố của cha mình nhiều năm sau khi đáng ra chúng đã đến tuổi nên sống tự lập rồi. Trường học chặn đứng đường lùi của đám trẻ, khiến chúng không còn có thể trở thành một lao công hay một thợ máy, và chúng chỉ còn cách sống lệ thuộc trong một thời hạn nhất định – tất nhiên ngoại trừ những kẻ được thừa kế một gia sản hay những kẻ sống đời thanh niên trong một lối mòn an toàn cũ kỹ. Ông Pontifex không nhìn ra được chút gì trong điều này; tất cả những gì ông thấy chỉ là, ông đã dành quá nhiều tiền bạc cho con cái hơn mức luật buộc, và ai có thể làm nhiều hơn ông nữa đây? Sao ông không cho hai đứa con đi theo nghề bán rau nhỉ? Nếu chưa làm vậy thì sao lại không làm vậy ngay ngày mai? Ý nghĩ ưa thích này tất nhiên gây hứng thú với ông mỗi khi ông nổi
https://thuviensach.vn
nóng; nhưng cũng tất nhiên, ông không bao giờ cho con đi theo nghề bán rau, tuy vậy, những đứa con của ông khi nghĩ đến việc này, đôi lúc lại mong muốn giá mà ông làm như vậy thì hơn.
Những lúc thấy không thoải mái, ông lại lấy cái ý tưởng đó ra để dọa chúng mà mua vui. Ông tưởng tượng đến cảnh ông cắt hết tiền của từng đứa một rồi để dành số đó mà làm từ thiện, cho đến tận lúc ông buộc phải kêu chúng về, để rồi ông lại được hưởng cái thú đuổi chúng đi lần nữa mỗi lúc bực mình.
Tất nhiên, nếu những người trẻ để tư cách của mình bị ảnh hưởng bởi ý muốn của người khác, thì đó là một điều sai lầm và phải biết là nó sẽ dẫn đến những kết cục tồi tệ, tuy thế, sức mạnh của sự áp chế ảnh hưởng về mặt ý muốn hoàn toàn có thể xâm phạm và liên tục trở thành một công cụ hành hạ người khác đến nỗi nếu có quyền, tôi sẽ thông qua một luật tước hết mọi quyền được quyết định ý muốn của một người trong vòng ba tháng kể từ ngày họ xâm phạm ý muốn của người khác, và để mặc cho ban hội thẩm và quan tòa toàn quyền quyết định tài sản của kẻ đó theo cách mà họ xem là đúng đắn và hợp lý trong trường hợp người đó qua đời trong khoảng thời gian chịu án.
Ông Pontifex hẳn đã nói với những đứa con trai của ông trong giờ cơm thế này. ‘John và Theobald yêu quý của ta, hãy nhìn vào ta đây. Lúc khởi nghiệp, ta chẳng có gì ngoài bộ áo quần mà ông bà nội các con đã cho ta để đến London. Cha ta cho ta mười và mẹ ta cho năm shilling để dằn túi và ta nghĩ như thế là đã hào phóng quá rồi. Suốt đời, ta không bao giờ hỏi xin cha ta một đồng, cũng không lấy chút gì từ ông, ngoại trừ khoản tiền ông trợ cấp cho đến lúc ta bắt đầu nhận lương. Ta đã tự làm mọi thứ, và ta hy vọng những đứa con của ta cũng sẽ làm được như vậy. Ta cầu xin các con đừng nuôi ý nghĩ rằng ta dùng cả đời để làm lụng kiếm tiền còn các con là người tiêu xài. Nếu các con muốn có tiền, thì hãy tự làm lấy như ta trước đây, bởi ta tuyên bố rằng ta sẽ không để lại cho các con một xu nào nếu các con không chứng minh được là mình xứng đáng với nó. Ngày nay, đám thanh niên dường như mong muốn những xa hoa hưởng thụ mà ta chưa từng nghe đến khi còn là một đứa trẻ. Tại sao, bởi cha ta là một người thợ mộc bình
https://thuviensach.vn
thường, còn bây giờ, cả hai con đều được đi học, và tiêu tốn của ta hàng trăm bảng mỗi năm, trong khi vào tuổi các con, ta phải cật lực làm việc bàn giấy trong phòng tài vụ của ông dượng Fairlie. Nếu có được một nửa điều kiện mà các con đang có bây giờ, thì còn gì mà ta không làm được nữa đây? Các con phải trở thành một công tước, hay thiết lập nên một đế quốc mới ở một vùng đất chưa ai biết đến, và thậm chí như vậy ta vẫn không chắc là các con đã có thể sánh ngang với những gì ta đã làm hay chưa. Không, không, ta sẽ để các con học xong đại học, và rồi, xin các con tự bước trên đường đời giùm ta.’
Như thế, ông làm khổ mình khi cho rằng những nóng giận của mình là chính đáng để rồi đôi lúc đánh bọn trẻ vì những cái cớ ông bất thần nghĩ ra. Nhưng mà, lớn lên, những đứa trẻ nhà Pontifex thật may mắn, bởi cứ mười nhà có con trẻ trở nên tồi tệ, mới có một nhà có con cái giỏi giang lên; hơn nữa, chúng còn được ăn uống đầy đủ, ngủ trên giường êm ái, có những bác sỹ tốt nhất chăm sóc cho chúng, và có được nền giáo dục tốt nhất có thể mua được bằng tiền. Bọn trẻ sống nơi những con phố London không cần không khí trong lành cho lắm: phần lớn chúng vẫn hát ca vui đùa như thể chúng đang ở một cánh đồng hoang Scotland vậy. Bởi chưa bao giờ biết đến, nên chúng không cảm nhận được sự thiếu thốn một môi trường dễ chịu cho trí óc. Những người trẻ có khả năng lạ thường là chúng có thể tự loại bỏ hoặc hòa nhập vào những hoàn cảnh khác nhau. Thậm chí nếu chúng thấy không vui, rất không vui, thì thật lạ là chúng gần như không nhận ra điều đó, và chúng cũng chẳng quy kết nỗi buồn đó cho bất cứ lý do gì ngoài chính lỗi lầm của chúng.
Tôi muốn nói với những bậc cha mẹ muốn có một cuộc sống yên ả như thế này: hãy nói với con bạn rằng chúng rất hư đốn – hư đốn hơn hầu hết những đứa trẻ khác. Hãy chỉ cho chúng thấy những người chúng quen biết vốn có thể làm hình mẫu cho sự hoàn hảo và đồng thời gây cho chúng một ấn tượng mạnh về sự tồi tệ của bản thân mình. Bạn có nhiều khí giới hơn chúng và như thế chúng sẽ không thể chống lại bạn. Điều này được gọi là tác động về mặt tinh thần, và nó sẽ cho bạn kìm hãm chúng theo đúng mức bạn mong muốn. Chúng nghĩ rằng bạn hiểu biết, và chúng sẽ không nhận
https://thuviensach.vn
biết đủ rằng bạn đang nói dối để rồi nuôi hoài nghi về việc bạn có phải là một con người thanh tao và chân thật như những gì bạn nói với chúng hay không; và chúng cũng không biết bạn là một kẻ hèn nhát đến thế nào, cũng như không biết rằng bạn sẽ thoái lui nhanh chóng đến mức nào nếu chúng nổi dậy chống lại bạn với đầy đủ phán đoán và quyết tâm. Bạn là người điều hành cuộc chơi của bạn và con cái bạn. Hãy gian lận đi, bởi bạn sẽ dễ dàng chặn đứng không cho chúng kiểm tra độ chân thật của cuộc chơi. Hãy nói với chúng là bạn đã khoan dung vô cùng đến thế nào; hãy nhấn mạnh vào vô số đặc ân mà bạn đã ban cho chúng, đầu tiên là đã đưa chúng đến với thế giới, và đặc biệt hơn nữa là đã cho chúng làm con bạn chứ không phải con của một kẻ nào khác. Bất cứ lúc nào bạn nổi nóng và muốn làm khổ mình, hãy nói rằng chúng không còn quan tâm đến bạn nhiều nữa. Hãy lặp đi lặp lại nhiều lần rằng chúng phải quan tâm đến bạn trên hết mọi sự. Hãy tay đấm tay xoa như trong những câu chuyện ngày chủ nhật của ông giám mục Winchester. Bạn giữ hết những lá bài chủ, hay nếu như không có, bạn có thể trộm chúng, nếu bạn dùng những lá bài chủ cho chuẩn, bạn sẽ thấy mình quả thật là người chủ của một gia đình hạnh phúc, hợp nhất, và biết kính sợ Thiên Chúa, hệt như ông bạn già Pontifex của tôi vậy. Thật sự là một ngày nào đó, con cái của bạn sẽ biết được hết mọi sự thật, nhưng thời điểm đó sẽ không đến sớm đâu, và như thế bạn sẽ không phải chịu nhiều phiền hà cũng như con cái bạn cũng sẽ chẳng được hưởng lợi nhiều từ nó. Một vài ngòi bút châm biếm đã than van về cuộc sống bởi tất cả mọi khoái lạc đều thuộc về lớp người đi trước, và khi truyền đến chúng ta, nó đã hao hụt đi nhiều cùng với những khốn cùng của tuổi già hư nát.
Đối với tôi, tuổi trẻ như thể mùa xuân, một mùa đáng ca ngợi quá đỗi; đầy say mê nếu người ta yêu quý nó, nhưng thực sự thì hiếm người yêu quý nó, nói rõ ra là bởi, theo quy luật chung, nó mang trong mình cơn gió đông cắt da cắt thịt hơn là làn gió nhẹ êm đềm. Mùa thu là một mùa dịu dàng hơn, và cây trái đã thay thế thậm chí còn tốt đẹp hơn những đóa hoa nữa. Vào tuổi chín mươi, khi được hỏi rằng đâu là thời gian đẹp nhất trong đời mình, Fontenelle đã nói rằng ông không biết thời nào hơn thời nào, nhưng có lẽ những năm tháng đẹp đẽ nhất cuộc đời ông là khoảng năm ông năm mươi
https://thuviensach.vn
lăm đến bảy mươi lăm tuổi. Còn ngài Johnson cho rằng tuổi già nhiều niềm vui hơn xa tuổi trẻ. Thật vậy, khi về già chúng ta sống dưới bóng Thần Chết, như thể dưới lưỡi gươm của Damocles có thể hạ xuống bất kì lúc nào, nhưng từ lâu chúng ta đã biết được rằng trong cuộc sống chủ yếu là những hù dọa nhau hơn là những tổn thương tật sự, và như thế chúng ta giống như những người sống dưới ngọn núi lửa Vesuvius, và đánh liều với nó mà chẳng e ngại gì.
https://thuviensach.vn
7
◄○►
Có lẽ chương trước đã nói đủ về lứa thanh niên rồi, còn bây giờ tôi bàn riêng về con cái của ông Pontifex. Hai cô chị Eliza và Maria, không đẹp mà cũng không xấu, họ rõ ràng là những quý cô thời thượng, nhưng Alethea thì cực kỳ xinh đẹp và tâm tính của cô đầy trìu mến và vui tươi, đối lập sâu sắc với những anh chị của mình. Cô thừa hưởng nhiều điều từ ông nội mình, không chỉ ở nét mặt, mà còn ở tính vui vẻ, thứ mà cha cô không có, dù cho ông cũng có được kiểu hóm hỉnh ồn ào và thậm chí là thô thiển.
John lớn lên trở thành một anh chàng điển trai và lịch thiệp, xét nét đến cả những tiểu tiết một cách quá thường xuyên và tỉ mẩn. Anh ăn vận rất đẹp, tác phong tốt, và chăm chú vào sách vở đến đỗi mọi thầy giáo đều yêu quý anh; và anh còn mang trong mình bản năng ngoại giao vốn không dễ gì thấy được nơi những cậu bé. Thay vì dạy bảo, cha anh thường đoán xem anh nghĩ gì, về sau ông rất tự hào về anh; hơn nữa, ông thấy nơi anh triển vọng của một thương nhân giỏi, và như thế gia đồ trong tay anh sẽ không lụn bại. John biết cách chiều lòng cha cũng như biết cách làm đẹp lòng bất cứ ai, như thể đó là bản chất của anh vậy. Từ lúc còn khá nhỏ, John đã được cha tín nhiệm rất nhiều.
Theobald không so bì được với anh mình, nó biết điều đó cũng như chấp nhận số phận như vậy. Nó không bảnh trai cũng không ăn nói có duyên bằng anh nó, khi còn nhỏ, nó là một đứa dễ kích động, nhưng bây giờ nó lại kín đáo và rụt rè, tôi có thể nói rằng nó biếng nhác cả về trí óc lẫn thể xác. Nó không ngăn nắp bằng John, cũng không có khả năng khẳng định mình như anh, và ít biết cách làm vừa lòng tính khí thất thường của cha. Tôi không nghĩ là nó có thể yêu ai thật lòng, trong gia đình này ai ai cũng muốn kìm
https://thuviensach.vn
hãm cái tính này của nó, ngoại trừ Alethea, một người quá nhanh nhẹn và hoạt bát so với tính khí phần nào ủ ê của nó. Theobald luôn luôn là đứa giơ đầu chịu báng, đôi khi tôi nghĩ là nó có đến hai ông cha để phải trình bày, là cha của nó và anh John, rồi còn hai người chị là Eliza và Maria nữa. Có lẽ nếu cảm nhận được cảnh tù túng của bản thân một cách sâu sắc, thì hẳn nó đã bỏ đi bụi rồi, tuy nhiên Theobald mang trong mình bản tính sợ sệt, và sự khắc nghiệt của người cha càng khiến nó gắn chặt với anh chị của mình hơn.
Xét theo mặt nào đó, hai cậu con trai nhỏ rất có giá trị với cha chúng. Ý của tôi là ông dùng chúng để giữ lẫn nhau. Ông không cho chúng nhiều tiền tiêu, và ông thuyết phục Theobald rằng những đòi hỏi của John là quan trọng nhất, trong khi đó ông lại nhấn mạnh với John rằng gia đình mình đông con, và quả quyết nghiêm túc rằng những chi phí ông phải trả quá nhiều và đến cuối đời, ông chẳng còn gì nhiều để chia cho con cái. Ông không quan tâm liệu chúng có đối chiếu những lời đó với nhau hay không, miễn là chúng đừng có làm vậy trước mặt ông là được. Theobald không than phiền về cha mình, ngay cả khi không có ông. Tôi biết rõ nó từ khi còn bé, đến lúc đi học, và rồi vào đại học Cambridge, nhưng rất hiếm khi tôi nghe nó đề cập đến tên cha mình thậm chí cả lúc ông còn sống, còn lúc ông đã mất thì nó tuyệt đối không nhắc đến nữa. Ở trường, nó không bị ganh ghét nhiều như anh nó, nhưng nó quá đần và thiếu sôi nổi nên chẳng ai biết đến.
Trước khi Theobald được phong chức, mọi chuyện đã được quyết định rằng nó hẳn phải trở thành một mục sư. Ông Pontifex, một nhà xuất bản sách tôn giáo có tiếng, dường như muốn dâng hiến ít nhất một đứa con của mình cho Giáo hội; việc này có thể thúc đẩy công việc kinh doanh của ông, hoặc ít nhất cũng làm cho nó được vững chãi, hơn nữa, ông Pontifex phần nào có quan hệ với các giám mục và giáo chức, nên có thể ông hy vọng rằng ảnh hưởng của ông sẽ tạo thuận lợi cho con đường thăng tiến của con mình. Ông chỉ cho Theobald số phận tương lai của nó từ lúc còn rất nhỏ, và xem đó như một vấn đề gần như đã được nó chấp nhận rồi. Tuy vậy, nó cũng thể hiện phần nào rằng nó tự do ưng thuận việc đó. Ông Pontifex nói rằng thật hợp lý khi cho con cái quyền chọn lựa, và thật xác đáng quá đỗi khi buộc phải ưng thuận với con mình bất cứ điều gì có lợi cho nó. Ông sẽ thốt lên
https://thuviensach.vn
rằng ông ghê sợ việc hướng một người trẻ theo một nghề nghiệp mà nó không thích. Ông chẳng bao giờ gây áp lực lên con cái để chúng thuận theo ý ông trong việc chọn nghề nghiệp, nhất là đối với ơn gọi tận hiến cho Chúa.
Điệu nói này ông thường dùng đến mỗi khi có khách đến nhà và khi có Theobald ngồi với ông. Ông cũng nhấn mạnh về điểm này, và những ông hói, những bà cô quá hiền lành không thể không say mê với bài nói của ông. Tôi tin là hẳn phải có hai hay ba người chủ gia đình quanh đó đã cho con họ toàn quyền lựa chọn nghề nghiệp, và tôi không chắc về sau họ có hối hận nhiều vì việc đó hay không. Những người khách, khi thấy Theobald khép nép và hầu như không nhúc nhích suốt cuộc nói chuyện bàn về mơ ước của nó, hẳn sẽ tự nhủ rằng cậu bé này hầu như không thể sánh với cha nó và hẳn sẽ đánh giá thấp nó như một đứa thụ động, một đứa cần thêm sinh khí và cần phải ý thức hơn về những thuận lợi nó đang có được nhờ cha nó.
Không một ai tin vào sự hợp lý của toàn bộ tiến trình này hơn chính Theobald, cảm giác bồn chồn khiến nó im lặng, nhưng việc này quá sâu xa và quá sức đối với nó khiến nó không thể lĩnh hội được hoàn toàn, cũng như không thể tự mình hiểu được. Nó sợ cái quắc mắt của cha mỗi khi nó thể hiện sự chống đối dù là nhỏ nhất. Một đứa trẻ mạnh mẽ sẽ không xem những lời đe dọa dữ dằn hay những lời châm chích thô thiển của cha nó là nghiêm trọng, nhưng Theobald là một đứa yếu đuối, và dù đúng hay sai, nó đã cho là cha nó sẵn sàng biến những lời đe dọa này thành sự thật. Chống đối cha nó chẳng đem lại kết quả mong muốn nào, và thậm chí nhún nhường cũng vậy, ngoại trừ lúc nó đột nhiên muốn làm đúng ngay điều mà cha nó mong muốn. Nếu nó đã từng ấp ủ ý định kháng cự, thì giờ đây suy nghĩ đó đã tan biến hết, và sức lực để chống đối của nó cũng không còn bởi quá hiếm khi nó dám làm vậy; nó chẳng còn biết làm gì ngoại trừ ưng thuận một cách vô tri như một kẻ ngu si bị đè nén.
Nó có thể mập mờ nhận thức rằng đó không phải là cuộc sống của nó, có thể đôi lúc nó mơ mình là một chiến binh hay một thủy thủ nơi vùng đất ngoại bang xa xôi, hay thậm chí là một đứa con nông dân trên đồng hoang ruộng vắng, nhưng như vậy vẫn chưa đủ để cho nó một cơ hội biến những
https://thuviensach.vn
giấc mơ đó thành hiện thực, và rồi nó cứ trôi vô định trong dòng chảy cuộc đời, một dòng chảy tẻ ngắt và, tôi e rằng, còn đục ngầu nữa. Tôi nghĩ là Giáo lý Giáo hội còn nhiều điều phải làm với những mối quan hệ không tốt đẹp vốn phổ biến đến tận bây giờ, giữa cha mẹ và con cái. Thủ bản giáo lý hiện thời được viết hoàn toàn từ quan điểm của các ông cha bà mẹ, và người soạn ra nó không nhờ đến con cái giúp mình trong việc này, ông ta rõ ràng không phải là một người trẻ, và tôi có thể nói rằng ông ta không thích trẻ con, cho dẫu, nếu tôi nhớ không nhầm, thì có một lần ông dùng đến từ ‘đứa con tốt của ta’ nhưng với giọng không được âu yếm cho lắm. Ấn tượng chung của con trẻ khi đọc cái này là chúng thấy mình xấu xa từ lúc lọt lòng, được gột rửa ‘phần nào’ nhờ phép rửa tội, và sự thật đơn giản rằng tuổi đời còn nhỏ của chúng đang góp phần vào trong cái ‘phần nào’ đó đang gần như tô đậm thêm cái bản chất tội lỗi trong chúng. Nếu cần một thủ bản giáo lý mới, tôi muốn mở đầu bằng vài lời nhấn mạnh về bổn phận kiếm tìm tất cả những vui thú hợp lý và tránh đi tất cả những nỗi đau có thể tránh được. Tôi muốn thấy những đứa trẻ được dạy rằng chúng không nên nói là chúng thích những thứ mà chúng không thích chỉ đơn giản bởi vì người ta bảo rằng chúng thích điều đó, và thật là ngu xuẩn khi nói rằng chúng tin tưởng điều này hay điều kia lúc chúng còn chẳng hiểu chút gì về nó. Nếu người ta cho rằng những thêm thắt này khiến cho thủ bản trở nên quá dài, thì tôi sẽ cắt ngắn bớt phần nói về bổn phận đối với đồng loại và đối với các bí tích. Tôi sẽ bỏ luôn câu đầu ‘Tôi khao khát Chúa Trời tôi, Cha chúng tôi’ – nhưng có lẽ tôi nên để việc chỉnh sửa này lại cho những người có thẩm quyền hơn, và quay lại với anh bạn Theobald của tôi.
https://thuviensach.vn
8
◄○►
Ông Pontifex đã quyết tâm phải cho Theobald học đại học trước khi trở thành một mục sư. Điều này sẽ dự phòng cho cậu và bảo đảm cho cuộc sống của cậu trong trường hợp những người bạn giáo chức của ông không giúp gì được. Việc học hành của cậu đủ tốt để vào đại học, và cậu được ông gởi vào một trường thuộc đại học Cambridge và được kèm cặp bởi những gia sư tốt nhất có thể. Một năm trước khi Theobald lấy bằng, hệ thống thi cử mới đã được áp dụng và nó cho cậu nhiều cơ hội thăng tiến hơn, bởi năng lực của cậu phù hợp với ngành cổ điển hơn là ngành khoa học, mà hệ thống này lại thiên về những nghiên cứu cổ điển hơn thời nay.
Theobald nhận thức được rằng cậu đang có cơ hội thoát khỏi sự ràng buộc của cha mình, nếu như biết học hành chăm chỉ, và cậu cũng thích thú với việc được trở thành một sinh viên. Bởi thế, cậu đã chuyên tâm hết sức vào việc học, và cuối cùng lấy được bằng, và như thế chuyện cậu được nhận vào hàng giáo sỹ chỉ là vấn đề thời gian. Ông Pontifex thật sự hài lòng về cậu, và hứa rằng sẽ tặng cậu tác phẩm của các tác giả nổi tiếng tùy theo ý cậu chọn. Theobald chọn những tác phẩm của Bacon, và rồi mười tập sách hay của Bacon đến tay cậu ngay. Nhưng khi xem xét một chút, thì cậu thấy những quyển này chỉ toàn là sách cũ.
Giờ đây, khi đã lấy được bằng, việc tiếp theo của cậu chỉ là chờ được phong chức, và Theobald cho đến nay hầu như ưng thuận việc đó như thể nó là chuyện tất yếu phải vậy. Tuy nhiên, khi việc này đã thực sự đến và sẽ thành hiện thực chỉ trong vòng vài tháng nữa thì cậu bỗng hoảng sợ khi nghĩ về nó như một thứ mà một khi bước vào cậu sẽ chẳng bao giờ thoát ra được. Cậu không thích việc tấn phong sắp đến, và thậm chí đã thể hiện vài nỗ lực
https://thuviensach.vn
yếu ớt để trốn tránh nó. Có thể thấy được thái độ này qua những thư tín mà Ernest, con trai cậu đã tìm thấy nơi những tờ giấy thiếp vàng, với những dòng mực đã phai, được cột lại gọn gàng, kèm theo một dòng phân loại trên đó, nhưng lại không có thêm bất kỳ chú thích nào nữa. Tôi viết lại nguyên văn lá thư đó ra đây:
‘Cha kính mến,
Con không thích bàn đến một vấn đề đã được cân nhắc kỹ lưỡng rồi, nhưng theo thời gian, con bắt đầu thấy rối trí về việc con rất khó hòa hợp với đời sống của một mục sư. Con không hoài nghi điều gì về Giáo hội anh, và con có thể chân thành tán đồng tất cả mọi điểm trong bản Ba mươi chín điều[6], một bản văn đối với con thật sự là đỉnh cao khôn ngoan hoàn mỹ của nhân loại, đến nỗi không gì có thể công kích được điểm này, ngay cả nhà thần học Paley cũng phải đồng ý như vậy; nhưng con chắc rằng con sẽ đi ngược lại mong muốn của cha, nếu như con giấu diếm với cha rằng con không cảm nhận được ơn gọi làm mục sư Tin mừng bên trong con, thứ mà trong lễ tấn phong, con buộc phải nói là con đã cảm nhận được. Con đã cố để cảm nhận, con sốt sắng cầu nguyện xin ơn này, có đôi khi con ngờ ngợ rằng con đã có được nó, nhưng rồi nó mau chóng biến mất, và cho dù con hoàn toàn không khó chịu với việc trở thành một mục sư và con cũng tin tưởng rằng, nếu trở thành một mục sư, con sẽ tận tâm sống theo Vinh quang Thiên Chúa và làm sáng Danh Ngài, nhưng con cảm nhận rằng để hoàn toàn xứng đáng dấn thân trong hội Thánh, thì con còn cần thêm nhiều điều nữa. Con biết rằng dù cho có đỡ phần nào nhờ học bổng của con, thì cha vẫn đã phải tiêu tốn rất nhiều cho con, nhưng cha đã từng dạy con rằng phải tuân theo lương tâm mình, và lương tâm của con mách bảo rằng nếu con trở thành mục sư thì đó sẽ là một hành động sai lầm. Con đã quả quyết với cha là con có tinh thần tu trì, con cũng đã liên lỉ cầu nguyện xin ơn đó, nhưng có lẽ Chúa đã không ban cho con, và như thế liệu có tốt hơn nếu con cố gắng tìm kiếm một lối đi khác hay không?
Con biết rằng cả cha và anh John đều không muốn con theo nghiệp cha, và con cũng chẳng hiểu gì về chuyện tiền bạc, nhưng con còn có thể làm được gì nữa đây? Con không thích phải xin cha nuôi con để con học ngành
https://thuviensach.vn
y hay luật, nhưng một khi con được nhận vào học rồi, việc này cũng không lâu nữa đâu, thì con sẽ cố gắng hết sức để không khiến cha phải phí tiền vì con nữa, có lẽ con sẽ kiếm được ít tiền nhờ việc viết lách và dạy học. Con tin rằng cha sẽ không nghĩ lá thư này là vô phép, con hoàn toàn không muốn làm cha phải phiền lòng. Con hy vọng rằng cha sẽ đồng thuận với cảm giác hiện thời của con, một cảm xúc chỉ bắt nguồn từ sự tôn trọng đối với lương tâm của con, một điều mà chính cha đã thường dạy con phải làm. Mong sớm nhận được thư của cha. Con hy vọng cơn cảm lạnh của cha chóng qua. Cho con gởi lời thăm Eliza và Maria, con trai yêu dấu của cha.
THEOBALD PONTIFEX.’
Và đây là lá thư trả lời của cha cậu:
‘Theobald, con thân mến, ta có thể hiểu những cảm giác của con và hoàn toàn không muốn chê trách con điều gì về chuyện giãi bày nó. Thật bình thường và hợp lý khi con có những cảm giác như vậy ngoại trừ một điểm mà thôi, một điểm mà nếu suy xét kỹ thì con sẽ cảm nhận được rõ ràng là nó vô phép, và ta sẽ chỉ nói ngắn gọn rằng, ý nghĩ đó của con thật sự khiến ta bị tổn thương. Con không nên nói rằng ‘dù cho có đỡ phần nào nhờ học bổng của con’. Câu đó của con chỉ đúng, khi con có thể làm được gì đó giúp ta bớt đi gánh nặng nuôi con ăn học, nghĩa là tiền đó phải được chuyển cho ta. Mọi lời trong thư của con khiến ta tin chắc rằng con đang chìm trong tính nhạy cảm không lành mạnh, một công cụ yêu thích của ma quỷ để dẫn lối người ta đến diệt vong. Đúng như con nói, ta đã tiêu tốn rất nhiều cho việc học của con. Ta đã không tiếc gì để cho con những điều kiện học hành thuận lợi, và với tư cách là một quý ông người anh, ta đã lao tâm biết bao để có thể chu cấp cho con, nhưng ta không sẵn sàng để thấy những phí tổn đó tan thành mây khói và lại phải xây lại từ đầu, chỉ bởi những ngại ngùng xuẩn ngốc của con, những thứ mà con phải thấy là nó sẽ gây tệ hại cho con hơn là cho ta.
Cái mong muốn luôn mãi được biến động đó, thứ sẽ hủy hoại nhiều người trong thời đại này, đừng để nó lớn lên trong con.
Tất nhiên, nếu con không thấy cần phải chịu chức thánh; thì chẳng ai ép con, con được tự do hoàn toàn, con đã hai mươi ba tuổi rồi và tự biết suy
https://thuviensach.vn
nghĩ, nhưng tại sao con không nhận ra ý muốn đó sớm hơn, và lại chẳng bao giờ hé một lời bóng gió nào phản đối việc này cho đến tận khi ta đã trang trải hết mọi phí tổn để cho con học Đại học, một việc ta sẽ chẳng bao giờ làm nếu không tin rằng con đã xác quyết với chính mình về việc dấn thân làm mục sư? Ta đã nhận được nhiều thư của con bày tỏ sự sốt sắng gần như hoàn toàn cho việc được phong chức, và anh chị con cũng sẽ đồng ý với ta là đã chẳng có ai gây áp lực gì lên con cả. Con đang sai lầm và vô cùng hoang mang, đó có thể là điều rất tự nhiên, nhưng chính nó cũng phải chịu trách nhiệm cho những hậu quả nghiêm trọng xảy đến với chính con. Ta vốn không được khỏe lắm, và lá thư gây nhiều lo lắng của con đang giày vò ta nhiều hơn nữa. Xin Chúa chỉ lối cho con quyết định sáng suốt hơn. Cha yêu quý của con.
G. PONTIFEX.’
Khi nhận được lá thư này, Theobald mạnh dạn hơn. Anh tự nhủ, ‘Cha tôi nói là tôi không cần phải chịu chức nếu tôi không muốn. Tôi không muốn điều đó, bởi vậy tôi sẽ không chịu chức. Nhưng mà ‘chịu trách nhiệm cho những hậu quả nghiêm trọng xảy đến với chính con’ nghĩa là gì? Những lời đó có hàm ý đe dọa gì không đây, mặc dù thật không thể hiểu nổi những từ này cũng như ý mà cha định nói. Liệu cha có cố ý nói như vậy để khiến mình e sợ mà vẫn không cần phải thể hiện ra giấy hay không?’
Theobald biết cha mình đủ rõ để ít khi hiểu sai ý của ông, nhưng do anh quá bạo dạn đối ngược lại ý của cha mình, và cũng quá ước ao được thoát khỏi việc chịu chức, nên anh đã đánh liều với ông một phen. Anh viết những dòng sau gởi lại cho ông:
‘Cha kính mến. Cha nói với con, và con chân thành cám ơn cha vì điều đó, rằng sẽ không ai ép buộc con phải chịu chức. Con biết rằng cha sẽ không ép buộc con phải làm theo sắp đặt của cha, nếu lương tâm của con thật sự phản đối việc đó; bởi thế con đã kiên quyết từ bỏ ơn gọi, và con tin rằng nếu cha tiếp tục cho con những thứ như lâu nay vẫn vậy, cho đến khi con có được học bổng, vốn sẽ không lâu nữa đâu, thì con sẽ không làm cha phải tốn thêm một đồng nào nữa. Con sẽ cố gắng hết sức mình để sớm xác
https://thuviensach.vn
định nghề nghiệp con muốn theo đuổi, đến lúc đó con sẽ báo cho cha luôn thể.
Con yêu dấu của cha,
THEOBALD PONTIFEX.’
Còn đây là lá thư cuối cùng, rất ngắn gọn nhưng rõ ràng.
‘Theobald yêu quý, ta đã nhận được thư con. Ta rất bối rối khi nhận ra được những động cơ trong quyết định của con, nhưng lại rất rõ ràng khi ra quyết định dựa trên lá thư đó. Con sẽ không nhận được đồng nào từ ta cho đến khi con đổi ý. Nếu con ngoan cố lỳ lợm với sự điên rồ ngu muội của mình, thì ta vẫn hài lòng biết rằng ta còn có những đứa con khác với cách cư xử sẽ cho ta được vẻ vang cũng như hạnh phúc hơn. Người cha yêu quý nhưng đang đầy lo lắng của con,
G. PONTIFEX.’
Tôi không biết hệ quả ngay lập tức của loạt thư này là gì, nhưng đến cuối cùng thì mọi chuyện đều tốt đẹp. Hoặc Theobald đổi ý, hoặc anh hiểu những lời thúc đẩy bên ngoài của cha anh như là tiếng gọi nội tâm hướng đến điều mà tôi chắc rằng anh đã sốt sắng cầu xin rất nhiều – bởi anh là một tín hữu tin tưởng vững chắc vào tác động của lời cầu nguyện. Tôi không chắc lắm về chuyện này. Tennyson đã nói rằng lời cầu nguyện còn cho chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta mơ tưởng, nhưng ông cũng đã khôn ngoan không nói ra chúng là những điều tốt hay xấu. Lời cầu nguyện cũng có thể làm được nhiều thứ, đó có thể là mơ mộng mà cũng có thể là một nhận thức chung, nhưng rõ ràng không dễ xác định được nó. Cuối cùng, nhờ may mắn, không lâu sau khi tốt nghiệp, Theobald được thu nhận, và được phong chức vào mùa thu năm đó, 1825.
https://thuviensach.vn
9
◄○►
Ông Allaby là mục sư Crampsford, một ngôi làng cách Cambridge vài dặm. Ông cũng có được một tấm bằng khá, và được Giáo hội thu nhận, rồi có được khoản thu nhập 400 bảng một năm cùng một ngôi nhà, còn thu nhập riêng của ông không đến 200 bảng một năm. Ông đã cưới một phụ nữ trẻ hơn mình nhiều và sinh được mười một người con, bây giờ còn lại chín người, hai nam bảy nữ. Hai người con gái lớn của ông đã có gia đình yên ổn, nhưng lúc này vẫn còn năm người con gái chưa thành thân, tuổi đời từ ba mươi đến hai mươi hai, và thêm hai người con trai vẫn còn sống nhờ vào ông. Rõ ràng là nếu có chuyện gì xảy ra cho ông Allaby, gia đình ông sẽ rơi vào cảnh nghèo khó, và điều này hẳn nhiên khiến ông bà Allaby lo lắng phiền lòng vô cùng.
Các bạn đọc của tôi, có bao giờ các bạn rơi vào cảnh thu nhập cao nhất cũng chẳng nhiều nhặn gì cho lắm, và nếu bạn mất thì nó cũng tiêu tan, chỉ còn lại 200 bảng một năm mà thôi, hay không? Có bao giờ bạn vừa có hai người con trai phải khởi nghiệp cùng năm người con gái vẫn chưa thành thân, và thật sự cũng khó kiếm chồng cho chúng, hay không? Nếu sống hợp đạo nói chung cho người ta được an bình lúc xế chiều, thì thành thật mà nói, liệu ở trong những hoàn cảnh như trên, bạn có hy vọng hão rằng mình đã có một đời sống hợp đạo hay không?
Và cho dù bạn có một người vợ tốt, chẳng khiến bạn phiền lòng, và cũng không bệnh tật để làm bạn phải đổ bệnh theo; và dù gia đình bạn có mạnh mẽ, tử tế, và có phúc như người ta thường nói, thì bạn có chắc là mình có một đời sống hợp đạo hay không? Tôi biết nhiều người lớn tuổi có tiếng là đạo đức, nhưng lại sống với những người bạn đời mà họ đã hết yêu từ lâu,
https://thuviensach.vn
hay có những đứa con gái ở giá xấu xí gắt gỏng chẳng bao giờ có chồng, những đứa con gái mà họ khinh ghét và cũng khinh ghét họ trong lòng, hoặc có những đứa con trai ngu ngốc hay hoang phí, liên tục gây phiền phức cho họ. Liệu một người có những điều như thế có được kể là sống hợp đạo không? Như những gì ông già Pecksniff Bacon[7] đã làm được cho khoa học, thì cũng cần phải có một ai đó làm điều tương tự cho đạo đức chứ.
Nhưng chúng ta hãy trở lại với ông bà Allaby. Bà Allaby nói về đám cưới của hai cô con gái đầu như là một chuyện dễ dàng chưa từng có. Bà nói vậy bởi bà nghe những bà mẹ khác cũng nói như vậy, nhưng tự thâm tâm mình, bà chẳng biết làm thế nào mình lại làm được vậy, mà thật sự đó cũng chẳng phải là việc do tay bà. Trước hết, phải tìm được một chàng trai chịu kết giao với những đứa con gái mà bà đã cố gắng tập cho chúng những kỹ thuật nhất định, những thứ bà tưởng tượng ra hết lần này đến lần khác, nhưng lại hoàn toàn không thể áp dụng vào thực tế. Rồi tiếp theo là những tuần lễ xen lẫn hy vọng và e sợ, cùng đôi chút mưu mẹo thường được tính toán rất cẩn thận, và đến cuối cùng, chàng trai trẻ si tình phải quỳ gối cầu hôn con gái họ. Đối với bà, dường như đó là một điều quá may mắn, và thật khó hoặc chẳng bao giờ lặp lại lần nữa. Thật ra bà đã lặp lại được phép màu này thêm một lần, và có lẽ cũng nhờ vào vận may, nhưng năm lần sau đều thất bại! Thật tồi tệ: tại sao bà lại sinh ra đến bảy đứa con gái, mà không phải là ba đứa, để giờ đây cùng lắm bà chỉ phải đau khổ bởi một đứa chưa chồng mà thôi.
Dù gì đi nữa thì cũng phải kiếm chồng cho chúng, và bà Allaby tội nghiệp luôn luôn nhìn những chàng trai trẻ như thể họ là những con rể tương lai của mình vậy. Các ông cha bà mẹ thường hỏi những cậu trai rằng tình ý các cậu dành cho con gái họ liệu có đáng tin được không. Tôi nghĩ rằng có những lúc các cậu trai sẽ hỏi những ông cha bà mẹ đó rằng nếu họ đồng ý ghé thăm những gia đình còn nhiều cô gái chưa chồng thì thử hỏi xem tình ý của họ có đáng tin nữa hay không.
Ông Allaby nói với vợ mình khi cả hai bàn về kế hoạch sắp tới. ‘Tôi không đủ tiền để mời thêm một phụ tá giúp việc giáo xứ. Sẽ thoải mái hơn nếu có một người trẻ đến giúp tôi vài giờ trong ngày Chủ nhật. Tôi sẽ trả một đồng guinea mỗi ngày Chủ nhật, và chúng ta có thể tiếp tục chọn lựa
https://thuviensach.vn
cho đến khi có được người thích hợp.’ Ông Allaby chắc chắn đã không còn sung sức nữa, và ông cần một ai đó giúp mình trong các tác vụ ngày Chủ nhật.
Bà Allaby có một người bạn lớn, là bà Cowey, vợ của Giáo sư Cowey lừng danh. Bà ta là một người thật sự rộng rãi, hơi đẫy đà, có ria mép mờ, và quan hệ rộng với các sinh viên, đặc biệt là với những người thích tham gia vào các phong trào Phúc âm đang nở rộ. Mỗi hai tuần, bà tổ chức một buổi tiệc tối, và một phần buổi tối đó được dành để cầu nguyện. Bà không chỉ là một người rộng rãi sẵn lòng giúp đỡ người khác, mà theo như những gì bà Allaby thường nói, thì bà ta còn là một người phụ nữ hoàn hảo, và mang trong mình sự mạnh mẽ của một người đàn ông. Bà có hai người con gái, nhưng bà thường than thở với bà Allaby rằng mình không được tốt số bằng, bởi từng đứa một đã theo chồng và để tuổi già của bà thực sự sẽ sống trong cô đơn nếu như không còn ông Giáo sư ở bên nữa.
Tất nhiên, bà Cowey biết được xu thế của tất cả giáo sỹ chưa vợ trong Đại học, và cũng chính bà sẽ giúp tìm một người đủ tư cách phụ tá cho chồng bà Allaby. Nên vào một buổi sáng tháng mười một năm 1825, theo sắp xếp trước, bà Allaby đến dùng bữa nhẹ với bà Cowey và nán lại ở đó cả buổi chiều. Sau khi dùng bữa, hai người cùng nghỉ với nhau, và lúc đó chuyện của hai bà mới thực sự bắt đầu. Họ bàn về việc cả hai đã tranh luận thế nào, họ nhận xét nhau thế nào, điều gì họ không muốn người kia làm, rồi họ bàn đến những chuyện nhăng nhít nhỏ nhặt như người phó tế này nọ có xứng đáng không, rồi khi đã thấy là xứng đáng, họ lại bàn đến những chuyện tốt xấu của người đó, tất cả những chuyện này tôi xin phép để tùy theo trí tưởng tượng của các bạn. Bà Cowey đã quen với việc tự xác định với mình rằng bà nên chỉ ra đường đi lối bước cho người ta hơn là để mặc họ. Nhiều bà mẹ tìm đến bà lúc cần kíp, và bởi họ cũng là những người rộng rãi, nên bà Cowey luôn luôn cố hết sức để giúp họ; nếu như cuộc hôn nhân của một Cử nhân Nghệ thuật không phải do Chúa, thì nó cũng hoàn toàn có thể, hay cao nhất có thể, là do bởi tay bà. Và lúc này đây, hai bà đang bàn thấu đáo về những phó tế đầy tiềm năng ở trường Đại học, rồi bà Cowey kết luận rằng anh bạn Theobald của chúng ta là người tốt nhất bà có thể tìm được.
https://thuviensach.vn
‘Tôi không cho rằng đó là một cậu trai đặc biệt hấp dẫn, và cậu chỉ là con thứ, nhưng rồi cậu ta sẽ được chọn làm mục sư, và tôi thấy là con của chủ nhà xuất bản Pontifex, dù chỉ là con thứ, cũng sẽ mang lại được nhiều điều tốt đẹp.’
Bà Allaby mãn nguyện reo lên, ‘Tại sao lại không chứ, bà bạn của tôi, đây chính là điều tôi cần đó.’
https://thuviensach.vn
10
◄○►
Mọi cuộc vui đều có giờ tàn, ngày đã hết, và bà Allaby còn sáu dặm đường phải đi về nhà ở Crampsford. Khi bà quấn khăn ngồi vào xe, James, người quản gia nhà Allaby không thấy biến đổi nào lạ thường trên khuôn mặt bà, và suốt đoạn đường về cũng chẳng nhận ra gì nhiều những viễn cảnh tươi đẹp mà bà chủ của ông đang họa nên trong đầu.
Giáo sư Cowey có xuất bản một vài tác phẩm ở nhà xuất bản của cha Theobald, do đó bà Cowey đã dìu dắt anh từ những bước đầu tại trường Đại học. Bà đã dõi theo anh và gần như xem mình có trách nhiệm phải tìm cho anh một người vợ, giống như kiểu bà Allaby cố gắng kiếm chồng cho con gái mình vậy. Lúc này, bà đã viết thư mời anh đến gặp bà nếu anh thấy hứng thú. Khi anh đến, bà bắt đầu đề cập đến tình hình sức khỏe của ông Allaby, và trông bộ dạng nhiệt tình của bà cứ như thể chính bà phải chịu trách nhiệm giải quyết những khó khăn này vậy. Cuối cùng, hai người quyết định rằng Theobald sẽ đến Crampsford trong sáu ngày chủ nhật liên tục, và sẽ làm phân nửa công việc của ông Allaby với tiền công là nửa guinea một ngày, do bà Cowey đã hạ thấp mức thù lao thông thường một cách không thương tiếc còn Theobald lại không đủ cứng rắn để thương lượng.
Theobald chẳng hay biết gì về những toan tính được chuẩn bị sẵn để giăng bẫy tâm hồn đơn giản của anh, mà cũng không nghĩ gì ngoài việc kiếm được ba đồng guinea, và có lẽ là thêm việc gây ấn tượng cho dân chúng Crampsford bằng kiến thức học viện của mình. Sáng sớm ngày Chủ nhật, chỉ vài tuần sau khi được phong chức, Theobald rảo bộ tiến về nhà xứ Crampsford để nhận việc. Bài giảng hôm đó khiến anh vất vả rất nhiều. Đó là bài giảng về địa chất học, một vấn đề thần học nhức nhối hàng đầu. Anh
https://thuviensach.vn
chỉ ra rằng nếu như địa chất học chẳng chứng minh được gì – và anh là người quá rộng rãi, không thành kiến để trở nên khinh miệt ngành đó – thì như thế là chứng thực cho yếu tố lịch sử tuyệt đối rõ ràng trong trình thuật Sáng tạo mà Moses đã viết trong sách Sáng Thế, và bất cứ giả thiết nào thoạt qua đối lập với quan điểm này đều là giả thiết đầy thiên kiến và không đáng nghiên cứu. Thật là một bài giảng tuyệt vời, khi Theobald trở về nhà xứ để dùng bữa, ông Allaby khen ngợi anh hết lời vì khởi đầu hoàn hảo của anh, còn các cô con gái của ông chẳng tìm ra lời nào để thể hiện hết sự ngưỡng mộ dành cho anh.
Theobald chẳng biết gì về phụ nữ. Những phụ nữ duy nhất anh gần gũi là các chị em của anh mà hai trong số đó lại luôn khiển trách anh, ngoài ra chỉ còn thêm một vài người bạn học ở Elmhurst nữa mà thôi. Những cô gái này hoặc quá nhút nhát nên Theobald chưa bao giờ hòa hợp với họ, hoặc có thể quá khôn ngoan và nói những lời quá cao sang đối với anh. Theobald không nói những lời cao sang và cũng chẳng muốn người ta dùng những lời như vậy. Ngoài ra, họ thường nói chuyện về âm nhạc, anh ghét âm nhạc, về hội họa, anh ghét hội họa, về sách vở, mà ngoài thể loại cổ điển ra, còn lại anh ghét sách vở luôn thể. Rồi đôi khi anh muốn khiêu vũ với họ, nhưng lại chẳng biết cách, mà cũng chẳng muốn học khiêu vũ làm gì. Anh cũng đã được gặp và được người ta giới thiệu với nhiều quý cô ở những bữa tiệc của bà Cowey. Anh đã cố tỏ ra dễ chịu, nhưng lại luôn luôn có ấn tượng rằng mình đã không làm được như vậy. Các quý cô anh gặp ở nhà bà Cowey hoàn toàn không phải là những người hấp dẫn nhất trường Đại học, và có lẽ người ta cũng chấp nhận được nếu Theobald chẳng ưng ý phần nhiều trong số những cô đó, nếu anh thấy cảm một cô nào đó xinh xắn hơn và tốt tính hơn, thì gần như ngay lập tức đều bị những kẻ bạo dạn hơn hớt tay trên, và rồi anh tránh đi như một tên bất lực.
Tôi không thể nói trước liệu một cô gái thật sự tốt sẽ làm gì với anh chàng này, nhưng số phận đã không cho anh gặp được cô gái nào như vậy, ngoại trừ cô em gái nhỏ Alethea, và nếu như đó không phải là em gái mình, thì hẳn anh đã phải lòng cô mất rồi. Kinh nghiệm nói với anh rằng phụ nữ chẳng bao giờ làm điều gì tốt đẹp cho anh, và anh cũng không quen với việc thoải
https://thuviensach.vn
mái kết bạn cùng họ; nếu như Hamlet có chút gì liên hệ với phụ nữ, thì khi biên tập vở kịch người ta cũng cắt bỏ đoạn đó đi, bởi Hamlet buộc phải hành động như thể anh không tin tưởng vào sự hiện diện của đám phụ nữ đó. Theobald chưa bao giờ hôn một người con gái nào ngoại trừ em gái anh, và những đứa em gái của tôi nữa, lúc chúng tôi còn nhỏ. Ngoài những nụ hôn đó, mãi cho đến gần đây anh còn bị bắt phải nghiêm chỉnh hôn lên má cha để chúc ngủ ngon và chào buổi sáng, tôi tin rằng đó là tất cả những người anh từng hôn cho đến nay. Kết quả là anh trở nên ghét phụ nữ, như thể họ là những sinh vật bí ẩn, chẳng có chút gì giống anh trong cả cách cư xử cũng như suy nghĩ.
Với những chuyện cũ như vậy, lẽ tự nhiên Theobald cảm thấy thật ngại khi nhận ra năm quý cô chưa quen biết này lại ái mộ anh đến thế. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, có lần tôi đã dùng trà ở trường nữ sinh của các chị em tôi. Lúc đó tôi chỉ mới mười hai tuổi. Suốt tuần trà, mọi chuyện đều tốt đẹp, bởi bà hiệu trưởng cũng có mặt ở đó. Nhưng rồi bà rời đi để tôi lại một mình với các cô gái nhỏ. Ngay lúc bà vừa quay gót, cô gái cầm đầu cả đám, cũng chỉ trạc tuổi tôi, tiến đến chỉ tay vào tôi, đanh nét mặt và gằn giọng, ‘Thă-ằ-ă-ng bâ-ẩ-ân thỉu!’ Toàn bộ đám con gái còn lại cũng thay nhau lặp lại hành động và lời nói đó để rủa xả bản tính con trai của tôi. Tôi thật sự quá sợ hãi. Tôi tin là tôi đã khóc, và sau đó tôi phải mất một thời gian dài mới dám đối mặt với một cô gái mà không quay đầu bỏ chạy.
Lúc đầu, Theobald cũng có cùng cảm giác như những gì tôi từng lãnh lấy nơi trường nữ sinh, nhưng các quý cô Allaby lại không nói anh là một thă-ằ ă-ng bâ-ẩ-ân thỉu. Cha mẹ các cô quá thân thiện còn các cô đã khéo léo tán dương anh suốt buổi trò chuyện, đến nỗi trước cả khi bữa ăn kết thúc, Theobald đã có suy nghĩ rằng đây thật là một gia đình tuyệt vời, và nhận thấy một cảm giác mà anh chưa từng biết đến, một sự trân trọng lạ lùng dành cho mình.
Bữa ăn đó đã xóa tan đi cảm giác rụt rè trong anh. Rõ ràng anh không tầm thường, danh tiếng học thuật của anh rất đáng được người ta chú ý. Anh chẳng có gì để người ta coi là lố bịch hay bất thường, anh gây ấn tượng cho
https://thuviensach.vn
các cô bao nhiêu thì chính anh cũng bị ấn tượng bởi các cô bấy nhiêu, bởi những cô gái đó biết nhiều về đàn ông hơn là những gì anh biết về phụ nữ. Ngay khi anh vừa rời đi, không khí trong nhà liền bị phá vỡ bởi một vấn đề mới nổi lên là ai trong số năm cô sẽ được trở thành bà Pontifex. Khi thấy các con không thể giải quyết chuyện này với nhau, ông Allaby mới nói ‘Các con, hãy chờ đến ngày mai, rồi hãy chơi bài mà giành lấy anh ta.’ Nói xong, ông rút về phòng làm việc, hút thuốc và dùng một ly whisky theo thông lệ buổi tối.
https://thuviensach.vn
11
◄○►
Sáng hôm sau, lúc Theobald đang dạy kèm trong phòng mình, thì nơi phòng của cô chị cả nhà Allaby, các quý cô này đang sát phạt lẫn nhau trên ván bài và phần thưởng chính là Theobald.
Kẻ thắng cuộc là Christina, người con gái chưa chồng thứ hai, đã hai mươi bảy tuổi và như thế là lớn hơn Theobald đến bốn tuổi. Các cô em phàn nàn rằng thật là phí phạm một người chồng tương lai nếu để Christina thử tán tỉnh anh, bởi cô quá già và chẳng có chút cơ hội nào; nhưng việc này khiến cho Christina hùng hổ một cách bất thường, bởi thường ngày cô vốn rất nhu mì và điềm đạm. Bà Allaby quyết định rằng cô cần phải được giúp đỡ, và rồi hai đứa con gái lên tiếng chống đối bị đẩy đi xa thăm bạn bè, trong nhà chỉ còn lại những người biết nghe theo sắp xếp của bà mà thôi. Về phần mình, các anh em trai chẳng nhận thấy điều gì lạ lùng, và vẫn tin rằng việc tuyển phụ tá chỉ là bởi cha mình thật sự muốn có người giúp đỡ, thế thôi.
Những chị em được ở lại trong nhà vẫn giữ lời và giúp Christina hết sức có thể, bởi ý thức công bằng của họ cho biết rằng Theobald càng sớm lấy Christina thì càng sớm có một phó tế khác đến thay, và đó là cơ hội mới cho họ. Tất cả mọi chuyện được sắp đặt quá nhanh, nên chưa đến chủ nhật tiếp theo, ngày Theobald lại đến, thì hai cô em chống đối đã bị đẩy đi khỏi nhà rồi.
Thời gian này, Theobald cảm giác gần như thể đang ở nhà mình khi ghé thăm những người bạn mới này (bà Allaby đã nhấn mạnh rằng anh nên gọi họ như vậy). Bà đã nói rằng, bà thương những chàng trai trẻ, đặc biệt là những giáo sỹ, như con mình vậy. Theobald tin mọi lời bà nói, cũng như anh
https://thuviensach.vn
tin tưởng cha và anh chị mình từ thuở nhỏ. Christina ngồi cạnh anh và từng lời ăn tiếng nói của cô vẫn đầy cẩn trọng như lúc chơi bài với chị em mấy hôm trước. Bất cứ lúc nào anh quay sang nói chuyện với cô, cô đều mỉm cười (nụ cười là một trong những điểm mạnh của cô); cô dùng hết chút tự nhiên của mình, và dùng hết chút khôn khéo của mình sao cho có tác dụng nhất. Ai có thể trách cô đây? Theobald không phải là mẫu người lý tưởng mà cô mơ về mỗi lúc đọc truyện của Byron hàng đêm trên gác với các chị em, nhưng anh là một người thực mà cô có khả năng có được, hơn hết, anh vẫn tốt hơn những người thực đã trốn khỏi đời cô. Cô có thể làm gì nữa đây? Chạy trốn khỏi nhà? Cô không dám. Cưới một người thấp kém hơn mình và mang tủi nhục cho gia đình? Cô cũng không dám. Ở lại nhà và trở thành một bà cô già bị cười chê? Không, sẽ không làm như vậy nếu cô vẫn còn xoay xở được. Cô chỉ làm điều được xem là hợp lý mà thôi. Cô đang chết chìm, và Theobald dù chỉ là một cọng rơm mỏng manh, nhưng cô có thể nắm được anh và cô đã làm như vậy.
Nếu con đường tình yêu không bao giờ bằng phẳng, thì đôi khi con đường xe đôi kết lứa cũng như vậy. Chuyện xe tơ kết nguyệt cho Theobald diễn tiến quá chậm. Anh rơi vào bẫy đã đặt sẵn một cách dễ dàng hơn mức mong đợi của hai bà Cowey và Allaby. Dáng vẻ lôi cuốn của Christina đã quy phục được Theobald: anh ái mộ vẻ đạo đức trong mọi lời cô thốt ra; ái mộ sự dịu dàng cô dành cho các chị em cũng như cha mẹ, ái mộ sự sẵn lòng làm lấy những việc nhỏ nhặt mà vốn chẳng ai muốn làm, anh cũng ái mộ phong cách hoạt bát của cô, tất cả mọi điều ở cô khiến anh say mê, bởi dù anh không quen với phụ nữ, nhưng tất nhiên vẫn là một con người. Anh được tôn lên nhờ vẻ khiêm nhu của cô, nhưng rõ ràng tự anh vẫn thấy thán phục chính mình; dường như cô nhìn anh với một ánh mắt đầy âu yếm và hiểu anh hơn bất kỳ ai. Thay vì chỉnh đốn anh như cha và anh chị của anh thường làm, cô lại khơi gợi anh, chăm chú lắng nghe tất cả những gì anh muốn nói, và rõ ràng là muốn được nghe anh nói thêm nữa. Anh kể với một bạn học rằng anh biết là anh đang yêu, anh thực sự đang yêu, bởi anh thích được sống với quý cô Allaby hơn bất kỳ người chị em nào của mình.
https://thuviensach.vn
Ưu điểm mạnh nhất của Christina có lẽ là một giọng nữ trầm rất êm tai. Chắc chắn cô mang giọng nữ trầm, bởi cô không thể hát cao hơn nốt rê, nhưng giọng của cô có một điểm yếu duy nhất là nó cũng không xuống thấp được; tuy nhiên, vào thời đó, người ta cho giọng nữ trầm cũng bao gồm cả giọng nữ cao nếu giọng nữ cao không thể hát đến những nốt cao được, và không nhất thiết phải có những tiêu chí giọng nữ trầm như của thời nay. Quãng dài và sức giọng của cô phụ thuộc vào cảm hứng lúc cô hát. Cô đã chuyển bài ‘Những thiên thần sáng ngời ngay thẳng’ qua tông giọng thấp hơn để phù hợp với giọng mình, và điều đó chứng minh điều mà mẹ cô thường nói là cô rành về âm luật; không chỉ vậy, mỗi đoạn dừng cô đều thêm vào một hợp âm rải dọc suốt bàn phím, theo một quy luật mà nhạc sư đã dạy cho cô; và như thế cô đã thêm sinh khí và hứng thú cho đoạn nhạc vốn nặng nề của handel. Về phần nhạc sư của cô, thì đó thật sự là một nhạc công hoàn hảo hiếm thấy: bà là học trò của ngài Clarke lừng danh ở Cambridge, và đã từng chơi khúc mở màn ở atalanta, trong dàn nhạc của Mazzinghi.
Nhưng cũng phải mất một thời gian, Theobald mới đủ dũng khí để nói lên lời cầu hôn. Anh xác định khá rõ với mình rằng anh đã bị cô cướp mất trái tim rồi, nhưng tháng này qua tháng khác, gia đình Allaby vẫn cứ phải hy vọng chờ anh, còn ông Allaby thậm chí không dám thừa nhận rằng mình đã đủ sức làm việc một mình, và cứ mỗi nửa đồng guinea trả công cho anh, ông càng thấy nóng ruột hơn nữa, nhưng anh vẫn chưa chịu nói lời cầu hôn. Bà Allaby thì đoan chắc với anh rằng Christina là cô gái hoàn hảo nhất, và sẽ là một bảo vật vô giá cho bất kỳ ai cưới được cô. Theobald chân thành đón nhận những tình cảm của bà Allaby, nhưng cho dù thường viếng thăm nhà ông mục sư hai đến ba lần mỗi tuần không kể ngày chủ nhật, anh vẫn chưa quyết định cầu hôn. Một ngày nọ, bà Allaby lân la nói với anh ‘anh Pontifex à, con bé có một con tim chân thật, ít nhất thì tôi tin là vậy. Tôi nói như thế không phải là muốn có nhiều người ái mộ nó, không phải vậy, nó thật sự có nhiều người ái mộ, nhưng thật khó để có ai làm nó vừa lòng. Tuy nhiên tôi nghĩ là, con bé sẽ phải lòng một người CAO THƯỢNG VÀ TỬ TẾ.’ Và bà nhìn sang Theobald đang đỏ mặt, nhưng rồi nhiều ngày nữa trôi qua mà vẫn chưa thấy lời cầu hôn đâu. Một lần khác Theobald đã tin tưởng tâm sự với
https://thuviensach.vn
bà Cowey, có lẽ bà cũng đã đoán được tình cảm của anh với Christina đến mức nào rồi. Bà Cowey cố dùng sự ghen tuông để dẫn dụ anh, và ám chỉ đến một tình địch có thể xuất hiện. Theobald đã, mà cũng có thể là giả bộ như, rất hoảng hốt; lòng anh nhói lên một chút ghen tuông và anh bắt đầu tin tưởng hoàn toàn rằng anh không chỉ đang yêu, mà còn đang yêu một cách sâu sắc, nếu không anh đã không cảm thấy ghen tuông đến thế. Tuy nhiên, anh vẫn để thời gian trôi qua mà chẳng ngỏ lời cầu hôn với cô.
Gia đình Allaby đã cư xử rất khôn ngoan, thận trọng. Họ chiều lòng anh cho đến khi anh hết rụt rè, dù lâu nay anh vẫn luôn tự khoa trương rằng mình là một người cởi mở. Một ngày nọ, khoảng sáu tháng sau khi Theobald đã là một vị khách gần như hằng ngày ở nhà ông mục sư, hai người bàn nhau về chuyện gắn bó lâu dài. Theobald đã rất khinh suất nói ra: ‘Tôi không thích làm việc lâu dài, ông cũng vậy đúng không?’. Với một giọng gắt, ông Allaby trả lời, ‘Không, và tôi cũng không muốn chuyện tán tỉnh lâu dài’, rồi ông nhìn Theobald với một ánh mắt mà có cố anh cũng không thể chối cãi ý nghĩa của nó được. Lập tức, anh rút về Cambridge nhanh nhất có thể. Với cảm giác hốt hoảng vì cuộc trò chuyện vừa rồi, anh thảo ngay thư và gởi đi cùng chiều hôm ấy đến Crampsford. Nội dung lá thư như sau:
‘Cô Christina thân mến, Tôi không biết liệu cô có đoán được những tâm tư đang lớn dần trong tôi về cô hay không, những tâm tư mà tôi đã cố gắng hết sức giấu diếm, bởi tôi sợ rằng nếu không làm như vậy, tôi sẽ kéo cô vào một việc hứa hẹn mà tôi biết là phải khá lâu dài; nhưng dù đã cố, tôi không còn đủ sức để giấu diếm nó lâu hơn nữa; tôi yêu cô, yêu nồng nàn, yêu hết lòng, và tôi gởi cô những dòng này để hỏi xem cô có muốn làm vợ tôi hay không, bởi tôi không dám tin vào miệng lưỡi của mình để bày tỏ sự dạt dào trong tình cảm mà tôi dành cho cô.
Tôi không thể giả vờ trao cho cô một trái tim chưa bao giờ biết đến tình yêu hay thất tình. Tôi đã từng yêu, và đau đớn nhìn cô ấy theo người khác, giờ đây sau nhiều năm, con tim tôi đã yên bình trở lại. Tuy nhiên, như chính mắt cô thấy, mọi chuyện đã qua rồi, và tôi đã vui trở lại sau nỗi đau thất tình mà tôi đã từng nghĩ là nó sẽ giết chết tôi. Có lẽ nó khiến tôi yêu bớt nồng nhiệt hơn trước kia, nhưng lại làm tăng gấp mười lần khả năng nhận
https://thuviensach.vn
thức và cảm kích sự duyên dáng của cô cũng như cảm được nỗi khát khao trong tôi muốn cưới cô làm vợ. Mong cô hãy hồi âm vài dòng trao ngay cho người mang thư, và cho tôi biết liệu lời thỉnh cầu của tôi có được chấp nhận hay không. Nếu cô chấp nhận, tôi sẽ đến ngay và thưa chuyện này với ông bà Allaby, những người mà tôi hy vọng một ngày không xa, tôi sẽ được gọi là cha và mẹ.
Tôi nên báo cho cô biết rằng, thời gian từ lúc cô ưng thuận làm vợ tôi cho đến lúc kết hôn sẽ phải mất vài năm, bởi tôi không thể kết hôn cho đến lúc có được thu nhập từ nhiệm sở mới. Bởi thế, nếu cô cho là hợp lý khi từ chối thì tôi sẽ không ngạc nhiên, dù lòng tôi sẽ đau đớn lắm. Người yêu cô hết lòng,
THEOBALD PONTIFEX.’
Và đó là tất cả những gì mà việc học hành đến cấp đại học có thể giúp ích cho anh! Cho dù về phần mình, anh nghĩ đây là một lá thư hay, và tự tán dương mình về sự khôn khéo khi sáng tạo ra câu chuyện về người tình cũ, với ý định rằng sẽ dùng chuyện đó để tránh né nếu như Christina trách anh thiếu nhiệt tình với cô.
Tôi không cần phải bàn đến lời đáp của Christina, tất nhiên là cô ưng thuận. Dù Theobald rất sợ ông Allaby, nhưng tôi không nghĩ là anh sẽ dám nói lên một lời cầu hôn thực sự, bởi thời gian hứa hôn sẽ phải kéo dài rất lâu, có cả tá vấn đề có thể nảy sinh và hủy hoại hôn ước đó. Anh thường rất bất bình với những hôn ước hứa hẹn kéo dài của người khác, tuy nhiên, tôi không biết liệu trong trường hợp này của mình, anh có còn phản đối người ta như trước nữa hay không. Đôi uyên ương hệt như hoàng hôn và bình minh: chúng có đó hằng ngày nhưng hiếm khi chúng ta nhìn thấy chúng. Theobald tỏ vẻ như mình là một tình nhân rạo rực nhất có thể tưởng tượng ra được, nhưng, nói theo kiểu đơn giản thời này, thì đó chỉ là ‘chuyện vặt’. Christina đang yêu, và thực sự tình yêu của cô lớn hơn của Theobald cả chục lần. Nhưng cô là người nhạy cảm và không thể cầm được nước mắt mỗi khi nghe đến thành phố Missolonghi[8]. Mỗi Chủ nhật, lúc Theobald để lại túi bài giảng của mình, Christina đều ôm nó vào lòng trong giấc ngủ và rồi đau khổ vô cùng khi phải trả nó lại vào ngày Chủ nhật tới; nhưng tôi không nghĩ là
https://thuviensach.vn
Theobald lại ôm chiếc bàn chải của Christina đi ngủ bao giờ. Tôi đã từng biết một chàng trai ôm đôi giày trượt băng của người yêu đi ngủ suốt cả hai tuần lễ và khóc nấc lên mỗi khi phải rời nó. Vậy vì sao Theobald lại không như thế?
https://thuviensach.vn
12
◄○►
Chuyện đính ước của Theobald tiến triển rất tốt, nhưng nơi văn phòng tài vụ phố Paternoster, còn có một quý ông đầu hói má hồng, người sớm hay muộn phải được biết về dự định của con trai mình, và Theobald rất bối rối mỗi khi tự hỏi mình về thái độ của cha anh đối với vấn đề này. Tuy nhiên, mọi chuyện chẳng thể che đậy mãi, và Theobald quyết định thú nhận dự định, có lẽ là khinh suất của mình. Anh gởi thư thưa với cha rằng anh và Christina, người đã cùng anh thảo lá thư này, luôn nghĩ đến đạo làm con, và cũng bày tỏ rằng chính anh đang mong chờ được kết hôn càng sớm càng tốt. Anh không thể không nói ra điều này, bởi Christina đang đứng sau lưng lúc anh viết những dòng này, nhưng anh cũng nghĩ rằng sẽ chẳng có chuyện gì đâu bởi tin rằng có lẽ ông sẽ chẳng giúp anh việc này. Anh kết thư bằng lời hỏi xin cha dùng tầm ảnh hưởng của ông để giúp anh kiếm được một việc gì đó đủ nuôi sống mình, vì có lẽ phải mất thêm vài năm nữa, anh mới có được nhiệm sở, và ngoài hướng này ra anh chẳng thấy một cơ may nào có thể cho phép anh tiến tới cuộc sống hôn nhân, vì hiện tại và tương lai, anh chẳng có gì ngoài học bổng của mình, mà khoản tiền này sẽ biến mất ngay nếu anh chính thức kết hôn.
Tất cả mọi nước đi của Theobald chắc chắn đều sẽ khiến cha anh phật ý, nhưng đặc biệt việc một chàng trai hai mươi ba tuổi muốn kết hôn với một cô gái không đồng xu dính túi và còn lớn hơn anh đến bốn tuổi là một sai lầm quá rõ ràng khiến quý ông lớn tuổi này, từ bây giờ có lẽ tôi nên gọi ông như vậy, bởi ít nhất ông cũng đã sáu mươi rồi, vô cùng hăm hở nắm lấy để bác bỏ.
https://thuviensach.vn
‘Sự điên rồ cùng cực,’ ông hồi âm cho Theobald ‘trong tình cảm nhất thời con dành cho cô Allaby khiến ta vô cùng ái ngại. Dung thứ cho sự mù quáng của một kẻ đang yêu, ta vẫn tin chắc rằng đó hẳn là một cô gái trẻ trung, có hạnh kiểm tốt và tử tế, một người sẽ không làm bẽ mặt gia đình, nhưng cho dù cô ấy có hơn kỳ vọng của ta gấp chục lần, thì cảnh nghèo khó chung của hai con vẫn là một vật cản không thể vượt qua trên con đường tiến đến hôn nhân. Ta có bốn đứa con nữa, và những khoản chi quá nhiều không cho phép ta để dành một đồng tiết kiệm nào. Năm nay ta còn phải chi nhiều hơn nữa, thật sự ta đã phải tậu hai mảnh đất khá tốt đột nhiên được người ta rao bán và ta cũng cần chúng để hoàn thiện khối tài sản mà bấy lâu nay ta hằng mong ước. Ta đã không tiếc tiền cho con một nền tảng giáo dục xứng đáng, và nó đã cho con có một khoản thu nhập khá thoải mái, trong khi những người bằng tuổi con vẫn phải sống phụ thuộc vào gia đình. Con đã được nhận từ ta một khởi đầu đáng kể, và có lẽ ta nên nói rõ rằng con phải ngừng việc ăn bám vào ta. Hứa hôn lâu dài rõ ràng là một việc không được tốt đẹp cho lắm, và trong hoàn cảnh hiện tại của con thì dường như chẳng biết bao giờ mới có thể cưới được. Vậy con nghĩ ta có gì để cho con một khoản thu nhập đây? Liệu ta có thể đi quanh đất nước này cầu xin người ta chu cấp cho con trai của ta bởi nó đã có ý nghĩ muốn kết hôn lúc chưa có đầy đủ tài lực hay không?
Ta không muốn dùng những lời nhẹ nhàng, tất cả những gì ta nói ra đều xuất phát từ tình cảm thật sự ta dành cho con, nhưng có lẽ những lời khô khan lại ân cần hơn những lời có cánh nhưng vô thực. Thật lòng mà nói, ta ghi nhớ trong đầu rằng, con đã lớn rồi, và do đó con có thể làm những gì con thấy vừa lòng, nhưng nếu con chọn cách viện đến luật pháp, và hành động bất kể cảm giác của cha con, thì con đừng lấy làm ngạc nhiên khi có một ngày ta dùng đến những đặc quyền của ta. Hãy tin vào ta, người cha yêu quý của con, G. PONTIFEx.’ lá thư này kèm với những thư mà tôi đã cho các bạn biết ở trên và một vài lá thư khác không cần thiết phải dẫn ra, nhưng xuyên suốt những lá thư này là luôn cùng một giọng điệu, và tất cả đều gần như có một điểm rung động ý chí rõ ràng ở cuối thư. Nhớ lại việc Theobald hầu như chẳng nhắc đến cha mình nhiều năm sau cái chết của ông, và qua
https://thuviensach.vn
việc anh giữ lại những lá thư này cùng lời chú thích viết trên chúng ‘Những lá thư của cha tôi’ đã nói lên hết sự yếu đuối về thân xác cũng như bản tính của anh.
Theobald không cho Christina biết về những lá thư của cha mình, và tôi tin rằng anh cũng chẳng cho ai xem nó. Bản chất anh kín đáo, và anh còn bị đè nén quá nhiều cũng như quá sớm đến nỗi không thể làm ầm ĩ hay xả giận những gì có liên quan đến cha anh. Cảm giác về sự bất công vẫn cứ câm nín trong anh, như một khối nặng nề tê bại vô tri đè nén trên anh ngày này qua ngày khác, và nó còn khiến anh giật mình thức giấc nhiều đêm, nhưng anh vẫn hầu như không biết nó là thứ gì. Có lẽ tôi là người bạn thân nhất với anh, nhưng tôi chỉ hiểu được chút ít về anh, bởi tôi và anh không sống với nhau được lâu. Anh nói rằng tôi không có lòng tôn kính, nhưng trái lại tôi nghĩ là tôi rất tôn kính những gì đáng tôn kính, ngoại trừ đối với những linh thần mà anh tưởng là bằng vàng nhưng thực sự chỉ được làm từ kim loại tầm thường mà thôi. Như tôi đã nói, anh không bao giờ than phiền về cha mình, và những người bạn hiếm hoi của anh cũng như thế, điềm đạm và đạo đức, có khuynh hướng phúc âm, và hằn sâu một ý thức tội lỗi đối với bất kỳ hành động nào chống lại cha mẹ; thật là những chàng trai tốt, và người ta chẳng thể xả giận vào một chàng trai tốt được.
Khi nghe Theobald cho biết về thái độ phản đối của cha, và về khoảng thời gian cần thiết để có thể tiến đến hôn nhân, Christina quyết định giải thoát anh khỏi hôn ước này, chẳng biết cô có thật lòng trong quyết định này không nữa; nhưng Theobald không muốn như vậy, ‘ít nhất’ anh nói ‘không phải là hiện giờ.’ Christina và bà Allaby biết là họ có thể điều khiển anh, và như thế, dù không hài lòng lắm, nhưng họ vẫn giữ hôn ước.
Trong suy nghĩ của Theobald, việc đính hôn và quyết định không hủy hôn ước, cả hai cùng nhau khiến anh thấy mình có giá trị hơn. Một kẻ ngốc nghếch như anh chẳng biết tự tán thưởng mình trong im lặng. Anh ngưỡng mộ chính mình vì cái danh Đại học, vì đời sống trong sạch (tôi đã từng nói rằng chỉ cần tính khí anh khá hơn một chút thì hẳn anh đã vô tội như quả trứng mới đẻ rồi), và vì sự liêm chính không thể bắt bẻ về vấn đề tiền bạc. Anh vẫn hy vọng một khi được nhận nhiệm sở mình sẽ thăng tiến hơn nữa
https://thuviensach.vn
trong Giáo hội, và tất nhiên anh nuôi hy vọng về khả năng một ngày nào đó sẽ trở thành giám mục, mà Christina cũng bảo rằng cô cảm thấy chắc chắn anh sẽ được như vậy.
Là con gái và vợ chưa cưới của một mục sư, những suy nghĩ của Christina hướng nhiều đến tôn giáo là một điều tự nhiên, và cô xác quyết rằng cho dẫu cô và Theobald không có được những địa vị cao quý, thì đức hạnh của họ vẫn sẽ đầy giá trị ở đời sau. Quan điểm tôn giáo của cô hoàn toàn hợp với Theobald, và hai người đã nhiều lần trò chuyện về vinh quang Thiên Chúa, về sự hòa hợp mà họ sẽ cùng nhau dâng lên Chúa ngay khi Theobald có được sinh kế và cả hai đi đến hôn nhân. Cô quá tin chắc vào những kết quả cao vời nên đôi lần cô tự hỏi về sự Quan Phòng mà cô hoàn toàn không thấy được, là liệu Thiên Chúa có thật sự không muốn sớm gọi về trời những mục sư đang giữ vị trí mà Theobald cần để có sinh kế hay không.
Vào thời đó, người ta tin một cách thật thà đơn giản, một kiểu tin chẳng thấy nơi những người có ăn học thời bây giờ. Chưa bao giờ Theobald có ý nghĩ hoài nghi về nghĩa đen của bất kỳ chữ nào trong Kinh Thánh. Anh chưa đọc quyển sách nào chống đối, và cũng chưa từng gặp một ai nghi ngờ về điểm này. Thật ra, người ta có chút e ngại địa chất học, nhưng cũng chẳng có chuyện gì xảy ra. Nếu Kinh Thánh nói Thiên Chúa dựng nên trời đất trong vòng sáu ngày, thì tại sao lại là sáu ngày mà không hơn không kém; nếu Kinh Thánh nói Thiên Chúa đã cho Adam ngủ say, lấy một xương sườn của ông và làm nên một người đàn bà, thì tại sao người ta lại cho là chắc chắn phải như vậy. Adam cũng ngủ y hệt như Theobald vậy, trong một khu vườn cũng giống như khu vườn ở nhà mục sư tại Crampsford, đẹp đẽ suốt những tháng hè, chỉ khác là nó lớn hơn và có những loài động vật hoang dã hiền lành. Rồi Thiên Chúa đến bên Adam giống như ông Allaby hoặc cha Theobald đến bên anh, khéo léo lấy ra một xương sườn của anh mà không làm anh thức giấc, và chữa lành vết thương một cách kỳ diệu đến nỗi hoàn toàn không có một vết tích nào. Cuối cùng, Thiên Chúa đem xương sườn, có lẽ, vào trong nhà vườn, rồi biến nó thành một người phụ nữ như Christina. Đó là cách mọi chuyện xảy ra; chẳng có gì khó khăn hay thậm chí là tưởng như khó khăn trong việc này. Liệu Thiên Chúa có thể làm tất cả mọi việc
https://thuviensach.vn
Ngài thích, và liệu, trong quyển sách mà Ngài đã linh hứng cho viết ra, Ngài có giấu diếm việc gì mà Ngài đã làm hay không?
Đây là quan điểm bình thường đối với thuyết sáng thế của Moses trong những người trẻ có giáo dục cách đây khoảng năm mươi, bốn mươi hay thậm chí là hai mươi năm trước. Bởi thế, cuộc chiến chống những người vô tín ngưỡng đã không cho những giáo sỹ trẻ đầy táo bạo nhiều đất diễn, và Giáo hội cũng chẳng nhận thức được ý nghĩa những hành động của mình nơi lớp dân nghèo thành thị. Do vậy, những người kế nghiệp Wesley trong phái Kháng Cách gần như không có một nỗ lực nào để đương cự lại hay kết hợp với tầng lớp lao động. Việc truyền giáo ở những nước ngoại đạo vẫn được thúc đẩy mạnh, nhưng Theobald không nhận thấy chút gì về ơn gọi này. Christina đã nhiều lần gợi ý điều này với Theobald, và quả quyết với anh rằng cô sẽ hạnh phúc khôn tả khi được làm vợ một nhà truyền giáo, cùng chia sẻ hiểm nguy với anh; có thể cả hai người sẽ được tử đạo, tất nhiên là tử đạo cùng lúc, và lúc đang ngồi trong vườn nhà mục sư nghĩ đến việc tử đạo phải nhiều năm sau mới xảy đến, thì chẳng có gì là đau đớn, hơn nữa nó sẽ bảo đảm cho họ vinh quang nước trời, cùng với đó là tiếng tăm truyền hậu thế, ngay cả khi họ không được sống lại đi nữa; đó chẳng phải là những gì mà các thánh tử đạo đã từng nhận được hay sao. Tuy nhiên, nhiệt tình của Christina không lay chuyển được Theobald, nên cô quay sang Giáo hội Roma, một kẻ thù có thể còn nguy hiểm hơn cả dân ngoại đạo. Dấy lên chiến sự với Giáo hội Roma có thể cho hai người triều thiên tử đạo. Thật vậy, vào thời điểm đó, Giáo hội Roma đang khá im hơi lặng tiếng, nhưng đó là khoảng lặng trước cơn bão, cô chắc chắn như vậy, và tin tưởng sâu sắc điều này cho dẫu cô chẳng có bao nhiêu lý lẽ để ủng hộ nó.
Cô nói với giọng quả quyết, ‘Theobald yêu dấu, chúng ta sẽ giữ vững đức tin. Chúng ta sẽ kiên cường đứng vững và động viên nhau cả trong giờ chết. Chúa lòng lành sẽ giải thoát chúng ta khỏi án thiêu sinh. Ngài sẽ làm như vậy hoặc không. Lạy Chúa tôi,’ và cô hướng mắt về trời, ‘xin giải cứu Theobald, hoặc nếu không thì hãy cho anh ấy chịu chém đầu cũng được.’
Theobald trang trọng tiếp lời, ‘Em thân yêu, đừng để chúng ta dao động vào thời điểm quan trọng này. Nếu giờ phán xét đến, chúng ta sẽ được chuẩn
https://thuviensach.vn
bị tốt nhất để đón nhận nó bằng một đời sống âm thầm bỏ mình và dâng hiến cho vinh quang Thiên Chúa. Một đời sống như thế là lời cầu nguyện của chúng ta xin Chúa rủ lòng cho chúng ta biết cầu nguyện xin ơn được Ngài dẫn dắt.’
Với dòng nước mắt chực tuôn trào, Christina kêu lên, ‘Theobald yêu dấu, anh luôn luôn, luôn luôn đúng. Chúng ta hãy từ bỏ chính mình, hãy sống trong sạch, công chính, chân thật trong lời nói và việc làm.’ Và cùng với lời nói, hai tay cô siết lại, mắt ngước lên trời.
Người yêu Theobald của cô đáp lời, ‘Em thân yêu, cho đến nay, chúng ta đã nỗ lực để có được tất cả những điều này; chúng ta không phải là những đứa con của thế gian, chúng ta phải tỉnh thức và cầu nguyện để tiếp tục sống được như thế cho đến tận cùng.’
Trăng đã lên và khu vườn đang chìm dần trong bóng tối, nên họ tạm ngừng chuyện này lại cho một dịp khác thuận tiện hơn. Trong những buổi chuyện trò khác, Christina hình dung cô và Theobald sẽ phải đương đầu với sự khinh miệt của gần như hết thảy mọi người, để hoàn thành một bổn phận cao cả nào đó hầu góp phần vào vinh quang Đấng Cứu Độ của cô. Và vì Chúa, cô có thể đương đầu với bất kỳ điều gì xảy đến. Nhưng cuối những tưởng tượng của cô luôn có một cảnh đăng quang nho nhỏ nơi Thiên đàng, chính Con Thiên Chúa đặt mũ miện lên đầu cô, và chư vị thiên thần cùng tổng lãnh thiên thần đứng nhìn cô với ánh mắt ghen tỵ cùng ngưỡng mộ, và thậm chí Theobald cũng không được như cô. Nếu như có Thần bảo đảm sự Công chính, thì chắc chắn Christina đã làm bạn với ông. Cha mẹ cô là những người rất đáng kính trọng và việc họ có được một lâu đài trên nước trời để hưởng an bình thanh thản vô hạn chỉ là vấn đề thời gian mà thôi, và chắc chắn các chị em của cô cũng vậy; có lẽ là cho cả các anh của cô nữa; nhưng riêng bản thân mình, cô nghĩ rằng số mệnh của mình phải cao hơn nữa, và bổn phận của cô là không được xao lãng đích nhắm đó. Bước đầu tiên đến với số mệnh đó là cuộc hôn nhân với Theobald. Tuy nhiên, cho dẫu có những mộng mơ bay bổng về tôn giáo, Christina vẫn là một cô gái đủ tốt tính, và nếu như cô cưới một giáo dân biết phải trái, một người chủ khách
https://thuviensach.vn
sạn chẳng hạn, cô cũng sẽ trở thành một giáo dân tốt và xứng đáng được lòng với khách khứa của mình.
Cuộc sống đính hôn của Theobald cứ thế trôi qua. Họ tặng nhau nhiều món quà nhỏ, và ân cần chuẩn bị những bất ngờ nho nhỏ dành cho nhau. Chẳng bao giờ họ cãi nhau, cả hai người đều không có thói ong bướm. Bà Allaby và các cô chị em vợ đều thần tượng Theobald cho dù họ chưa thể kiếm được một phó tế mới để dẫn dụ trong thời gian anh còn có thể giúp việc cho ông Allaby, tất nhiên là bây giờ anh giúp không công và chẳng toan tính gì hết; hai cô em vốn xoay xở tìm chồng trước cả Christina giờ đã lập gia đình, và chồng của cả hai cô đều nhờ Theobald giới thiệu cho. Cuối cùng chỉ còn hai trong số bảy cô con gái vẫn chưa được lập gia đình.
Sau ba hay bốn năm, ông Pontifex đã quen với với việc đính hôn của con trai mình, và xem nó như một việc đáng phải được ông rộng lòng chấp nhận. Vào mùa xuân năm 1831, hơn năm năm sau ngày đầu tiên Theobald bước vào nhà ông mục sư ở Crampsford, một trong những vị trí mục sư tốt nhất bất ngờ trống chỗ, và vì nhiều lý do khác nhau mà hai người thâm niên hơn đã từ chối nhận nó, nên vị trí đó được trao cho anh, người mà cả hai đều nghĩ là phù hợp với vị trí này. Người ta đề nghị anh và tất nhiên anh nhận lời, đó là một nhiệm sở với thu nhập ít nhất 500 bảng một năm cùng một ngôi nhà vườn tương xứng. Ông Pontifex rộng tay hơn bình thường khi cho con trai và con dâu 10.000 bảng để lo cho cuộc sống. Vào tháng Bảy năm 1831, Theobald và Christina đã chính thức được nên vợ nên chồng.
https://thuviensach.vn
13
◄○►
Những đôi giày được ném lên chiếc xe ngựa chở đôi uyên ương[9] xuất phát từ nhà mục sư rồi rẽ hướng ở cuối làng Crampsford. Người ta còn thấy được chiếc xe thêm hai hay ba trăm yard[10] nữa khi nó băng qua bãi cây linh sam, rồi mất hút sau đó.
‘John, đóng cổng’, ông Allaby nói với người hầu và đi vào nhà với tiếng thở dài nhẹ nhõm dường như muốn nói lên rằng: ‘Ta đã làm được, và ta vẫn còn sống.’ Đây là phản ứng sau một sự phấn khích hào hứng tràn đầy mà do nó, quý ông này đã chạy theo xe ngựa hai mươi yard để ném vào đó một đôi giày bệt, và ông đã ném trúng.
Nhưng Theobald và Christina cảm giác thế nào khi xe ngựa đang rời xa ngôi làng và lặng lẽ băng qua cánh đồng linh sam đó? Trong hoàn cảnh như thế này, ngay cả những con tim mạnh mẽ nhất cũng phải xáo động, chỉ ngoại trừ những con người đang chìm đắm trong tình yêu mà thôi.
Nếu một chàng trai đang ở trong con thuyền nhỏ giữa biển khơi sóng động, cùng với cô dâu mới của mình mà cả hai đều đang bị say sóng, và nếu chàng trai đó có thể quên đi những khó chịu mình phải chịu để chìm trong hạnh phúc được ôm lấy người yêu đang rã rời, thì đó chính là anh đang yêu, và cánh đồng linh sam ủ rũ của chính anh sẽ chẳng thể bao trùm nỗi buồn lên anh được. Những người không như thế sẽ phải trải qua mười lăm phút hay nửa tiếng ít nhiều khốn khổ tùy trường hợp của họ, và bất hạnh thay, quá nhiều người sau khi kết hôn được xếp vào loại ‘những người không như thế’ này. Xét cho kỹ, tôi nghĩ rằng con đường dẫn từ nhà thờ thánh George ở quảng trường Hanover, còn chứng kiến nhiều thống khổ tinh thần hơn là những gian phòng tử tù ở nhà giam Newgate. Không có quãng thời gian nào,
https://thuviensach.vn
mà la figlia della Morte, con gái Thần Chết theo cách nói của người Ý, rũ hơi lạnh khủng khiếp xuống một người đàn ông cho bằng nửa giờ đầu tiên ngồi một mình với người phụ nữ anh mới cưới nhưng lại chưa bao giờ thật lòng yêu.
Con gái Thần Chết không chừa Theobald. Từ trước đến giờ anh đã cư xử rất tốt. Khi Christina cho phép anh ra đi, anh đã cao thượng ở lại và anh tự hào về điều đó. Từ lúc đó trở đi, anh tự nhủ rằng: ‘Dù gì đi nữa, ta là một tâm hồn cao thượng; ta không phải là cái này cái kia...v.v. Thật sự, lúc anh thể hiện hành động cao thượng đó, thì tiền bạc vẫn còn là thứ có thể nói là xa vời đối với anh; lúc cha anh chính thức ưng thuận cho anh tiến đến hôn nhân, mọi thứ bắt đầu thật hơn; khi có một vị trí mục sư bỏ trống và anh nhận lấy vị trí đó, mọi chuyện càng thật hơn nữa; nhưng khi Christina xác định ngày cưới, thì con tim của Theobald chết lặng trong anh.
Thời gian đính hôn quá dài, khiến anh đi vào lối mòn quen thuộc, và giờ viễn cảnh thay đổi cuộc sống lại xáo trộn mọi thứ. Anh tự nhủ rằng Christina và anh đã có nhiều năm trời tốt đẹp; tại sao, tại sao, tại sao nó không tiếp tục như thế cho đến hết đời. Nhưng anh như con cừu bị đem đi giết thịt, không thể thoát khỏi hoàn cảnh này, và cũng như con cừu, anh cảm nhận được rằng chống đối chẳng đem lại được gì, nên anh hoàn toàn chẳng có hành động nào hết. Đúng ra mà nói, anh đã cư xử rất đúng với hình ảnh một chú rể, và tất cả đều xác nhận rằng anh là một trong những người đàn ông hạnh phúc nhất trên thế gian này.
Tuy nhiên, chúng ta hãy dùng đến một phép ẩn dụ khác, án treo cổ đã thực hiện, và kẻ tội nghiệp khốn khổ đang chơi vơi giữa không trung cùng với thứ phát xuất từ cảm tính của hắn. Thứ này giờ đã ba mươi ba tuổi, và nhìn xem: cô đang khóc lóc, mắt và mũi ửng đỏ; nếu ‘Ta đã làm xong, và ta còn sống’ là những lời trên gương mặt ông Allaby sau khi ném được chiếc giày lên xe ngựa, thì ‘Ta đã làm xong, và ta thấy rõ là làm sao ta có thể sống nổi một thời gian quá lâu nữa đây’ là những lời hằn trên gương mặt của Theobald suốt con đường dọc bãi linh sam. Tuy nhiên, lúc còn ở nhà mục sư thì điều này chưa hiện rõ. Ở đó, tất cả những gì người ta nhìn thấy chỉ là cái
https://thuviensach.vn
đầu nhô lên nhấp xuống, lúc ẩn lúc hiện sau hàng rào mỗi lúc anh nhấp bàn đạp, cùng với màu đen vàng của cỗ xe ngựa.
Một khoảng lâu, hai người chẳng nói gì; cảm giác của họ trong nửa tiếng đầu tiên này như thế nào, các bạn phải đoán, bởi tôi không thể nói cho các bạn được, tuy nhiên hết nửa giờ đó, Theobald lục tìm trong ngóc ngách nào đó của tâm hồn mình một kết luận là bây giờ anh và Christina kết hôn càng sớm thì tương lai quan hệ của họ càng tốt đẹp hơn. Nếu những người đang gặp rắc rối chỉ cần làm theo điều hợp lý chút ít đầu tiên mà họ có thể nhận ra được là nó hợp lý, thì bước tiếp theo sẽ luôn thật dễ dàng cho họ nhìn nhận và thực hiện. Rồi Theobald nghĩ rằng ở đây, ngay lúc này, vấn đề đầu tiên và rõ ràng nhất cần phải xem xét là gì, và nhìn nhận mối liên hệ giữa anh và Christina như thế nào mới hợp lý? Có một chuyện rõ ràng là bữa ăn đầu tiên sẽ là bước mở màn cho những trách nhiệm và hạnh phúc của đời sống hôn nhân. Và cũng rõ ràng là Christina có trách nhiệm gọi món, còn Theobald thì ngồi ăn và trả tiền.
Những suy nghĩ lý lẽ cuối cùng cũng dẫn đến một kết luận, và nó nảy sinh trong đầu Theobald vào khoảng ba dặm rưỡi kể từ Crampsford, trên con đường đến Chợ mới. Anh đã dùng bữa sáng khá sớm, nhưng thói thèm ăn thường có giờ lại đang làm khổ anh. Anh đã rời nhà cha vợ vào buổi trưa mà không chịu nán lại dùng bữa ăn nhẹ cho đám cưới. Theobald thích được ăn tối sớm, anh chợt nghĩ rằng anh bắt đầu đói, và việc này dễ dàng dẫn đến bước quyết định tiếp theo mà chúng ta đã biết ở trên. Sau vài phút suy nghĩ, anh bắt đầu đề cập chuyện này với cô dâu của mình, và nó đã xua tan đi sự lạnh lẽo giữa hai người.
Bà Theobald chưa chuẩn bị cho một nhiệm vụ quá quan trọng ập đến bất ngờ như vậy. Thần kinh của cô vốn yếu, và sự kiện đám cưới ban sáng đã khiến cô căng thẳng hết sức rồi. Cô muốn tránh mặt mọi người, cô biết là bây giờ trông cô già đi hơn đôi chút so với hình tượng cô dâu ban sáng, cô sợ bà chủ khách sạn, người hầu phòng, người phục vụ, tất cả mọi người và tất cả mọi thứ, tim cô đập quá nhanh đến nỗi cô nói không thành tiếng, giờ đây cô lại phải chịu đựng thêm một việc khó khăn là gọi món trong một khách sạn lạ lẫm với một bà chủ lạ lẫm. Cô van nài cầu xin cho được thoát
https://thuviensach.vn
khỏi việc này. Nếu lần này Theobald gọi món, thì từ nay trở về sau, cô sẽ luôn chịu trách nhiệm làm việc này.
Nhưng Theobald ngoan cố không chịu bỏ qua với một lý do ngớ ngẩn như thế được. Bây giờ anh là người chủ gia đình. Chẳng phải mới chưa đầy hai giờ trước, Christina đã trang trọng thề hứa sẽ tôn trọng và vâng phục anh hay sao? Vậy mà sao giờ đây cô lại quay ngoắt thái độ chỉ vì một chuyện vặt vãnh như thế này? Nụ cười khả ái biến mất trên gương mặt anh, thay vào đó là một cái quắc mắt, mà đến gã quỷ già, cha anh còn phải chào thua. ‘Thật vớ vẩn và vô lý, Christina yêu dấu của anh à,’ anh nói nhẹ nhàng với đôi chân hậm hực giậm lên sàn xe ngựa. ‘Trách nhiệm của người vợ là gọi món cho chồng, em là vợ anh, và anh hy vọng rằng em sẽ gọi món cho anh.’ Bởi Theobald luôn là người sống bằng sự hợp lý.
Cô dâu bắt đầu khóc, và nói rằng anh không tốt; anh chẳng nói gì nhưng suy xét trong lòng những chuyện khó khăn này. Liệu đây là kết quả cho sáu năm tận tình không ngơi nghỉ hay sao? Khi Christina muốn giải thoát hôn ước nhưng anh nhất quyết giữ lại chỉ để đi đến chuyện như thế này hay sao? Cô nói cho nhiều về bổn phận và đời sống tôn giáo để rồi kết quả là ngay ngày cưới, cô lại không nhìn ra bước đầu tiên trong việc vâng phục Thiên Chúa chính là phục tùng chồng mình sao? Anh sẽ lái xe về lại Crampsford và than trách ông bà Allaby, anh đã không muốn cưới Christina, mà đúng anh đã không cưới cô, đây chỉ là một cơn ác mộng mà thôi, anh sẽ làm như vậy. Nhưng có một giọng nói vang lên trong anh:
‘NGƯƠI KHÔNG THỂ, NGƯƠI KHÔNG THỂ, KHÔNG THỂ.’ Con người đang buồn bực trong anh gào lên:
‘TÔI KHÔNG THỂ Ư?’
‘ĐÚNG’ giọng nói lạnh lùng cất lên, ‘NGƯƠI KHÔNG THỂ, NGƯƠI ĐÃ LẬP GIA ĐÌNH.’
Anh buông mình vào góc xe, và lần đầu tiên anh cảm nhận được luật hôn nhân của anh quốc vô lý đến mức nào. Nhưng anh sẽ mua những tác phẩm của milton và đọc luận bàn của ông về vấn đề li dị. Có lẽ anh sẽ có thể mua được chúng ngay tại Chợ mới. Rồi cô dâu ngồi khóc một góc, góc kia chú rể ngồi hờn dỗi, và e ngại theo đúng kiểu một chú rể.
https://thuviensach.vn
Tuy nhiên, từ góc cô dâu ngồi, một giọng yếu ớt cất lên:
‘Theobald yêu dấu, Theobald yêu dấu, thứ lỗi cho em, em đã rất, rất sai trái. Xin đừng giận em nữa. Em sẽ gọi...’ - từ ‘món’ bị nghẹn lại trong tiếng thổn thức.
Khi Theobald nghe những lời này, anh hồi tâm trở lại, nhưng anh chỉ ngồi nhìn cô, và vẫn chưa hài lòng lắm.
Giọng nói nhỏ nhẹ lại tiếp tục, ‘anh hãy cho em biết anh thích món gì, và em sẽ nói với bà chủ khách sạn khi chúng ta đến Chợ m...’ – một tiếng nấc nữa lại chặn đi từ cuối cùng của cô.
Lòng Theobald lại nhẹ nhõm hơn nữa. Xét cho cùng, có thể không phải là cô ấy muốn xỏ mũi mình? Ngoài ra, liệu cô ấy có đang khôn khéo chuyển sự chú ý của mình từ cô sang bữa ăn sắp đến hay không?
Anh loại bỏ ý nghĩ đó và nói, giọng vẫn còn rầu rĩ, ‘anh nghĩ chúng ta nên dùng gà nướng với sốt kèm bánh mỳ, khoai tây nấu với đậu xanh, và rồi xem thử chúng ta có thể gọi được món bánh nhân hạnh đào với một ít kem được không.’ Vài phút sau, anh kéo cô lại, hôn xóa những giọt nước mắt, và cam đoan với cô rằng anh biết cô có thể trở thành một người vợ tốt.
‘Theobald yêu dấu,’ cô reo lên đáp lời, ‘anh đúng là một thiên thần.’ Theobald tin tưởng lời cô, và mười phút sau, đôi uyên ương hạnh phúc đã bước xuống khách sạn ở Chợ mới.
Christina mạnh dạn thực hiện nhiệm vụ khó khăn của cô. Cô lặng lẽ đến nài bà chủ quán đừng để Theobald của cô phải chờ lâu ngoài thời gian cần thiết tối thiểu để làm món.
‘Bà Barber, nếu bà có món súp đã chuẩn bị sẵn, thì nó sẽ bớt được mười phút, bởi chúng tôi nên có món đó để dùng trong thời gian chờ nướng gà.’ Việc cần phải làm đã kích thích cô. Dù thực sự đầu cô đã đau như búa bổ, và muốn vứt bỏ hết mọi thứ để được ngồi một mình mà thôi. Buổi ăn diễn ra tốt đẹp. Một panh[11]rượu xerex đã làm ấm lòng Theobald, và anh bắt đầu hy vọng rằng, sau tất cả, mọi chuyện vẫn sẽ tốt đẹp với anh. Anh đã chiến thắng trong trận chiến đầu tiên và nó làm tăng trọng lượng lời nói của anh lên rất nhiều. Thật là dễ dàng! Tại sao anh lại không cư xử như thế với các bà chị của anh nhỉ? Lần sau gặp họ, anh sẽ làm như vậy; và có
https://thuviensach.vn
thể một lúc nào đó phù hợp, anh sẽ đối diện thẳng với anh trai John hay thậm chí là cha anh. Và đó là cách chúng ta xây lên cho mình một lâu đài trên cát khi được chuốc say bởi men rượu và men say chiến thắng.
Đến cuối kì trăng mật, bà Theobald trông đúng là người vợ biết vâng lời và tận tình nhất trên toàn nước anh. Theobald đã uốn cây từ thuở còn non, hay nói theo kiểu anh là giết con mèo ngay từ lúc đầu. Đó có thể là một con mèo rất nhỏ, một con mèo con, hay cũng có thể là anh ngại đối mặt với nó, nhưng rồi anh đã đấu với nó một mất một còn, và đem xác nó trưng ra trước mặt vợ. Sau lúc đó, mọi chuyện còn lại thật dễ dàng.
Thật là lạ khi một người mà từ trước đến giờ tôi mô tả như một kẻ nhút nhát và dễ bị bắt nạt lại bất ngờ cư xử mạnh mẽ như một chiến binh du mục ngay ngày cưới của mình. Có lẽ tôi đã quá vội vàng bỏ qua những năm tháng anh và Christina chưa kết hôn. Suốt thời gian này, anh đã trở thành một giảng viên đại học, và cuối cùng là một phó chủ nhiệm khoa. Tôi chưa gặp người nào lại không thay đổi ý thức về tầm quan trọng của bản thân một khi đã nắm được một địa vị chính thức trong năm hoặc sáu năm. Nhưng có một sự thật là, ngay khi vừa đến cách nhà cha anh khoảng mười dặm, sự hăng hái bỗng lìa bỏ anh, đôi chân anh chợt trở nên yếu đuối, sự tự tôn biến mất, và anh lại thấy mình như một đứa trẻ to xác luôn mãi chịu thất thế; nhưng may thay anh không thường ngụ lại Elmhurst, và mỗi khi rời nó, lời nguyền thất thế lại được rũ bỏ, để rồi anh lại là một giảng viên đại học, một phó chủ nhiệm khoa, vị hôn phu của Christina, thần tượng của các cô nhà Allaby. Từ tất cả những chuyện này, chúng ta có thể thấy được là, nếu như Christina là một con gà rừng, biết xù lông lên phản kháng thì hẳn Theobald đã không dám bắt nạt cô, nhưng cô không phải là gà rừng, mà chỉ là một con gà nhà bình thường, và tính can đảm trong cô cũng chỉ hơn con gà nhà một chút mà thôi.
https://thuviensach.vn
14
◄○►
Battersby Trên Đồi là tên của ngôi làng Theobald đến đảm nhiệm vị trí mục sư. Nó có khoảng bốn hay năm trăm dân, sống rải rác trong một khu vực rộng lớn, và toàn bộ đều là nông dân hoặc là lao công nông nghiệp. Nhà mục sư rất rộng rãi và nằm trên đỉnh đồi nên khung cảnh nhìn từ đó thật tuyệt vời. Quanh đó có vài người hàng xóm trong tầm có thể đi lại thăm viếng nhau được, nhưng ngoại trừ một, hai ngoại lệ, còn lại đều là nhà của mục sư các làng lân cận.
Nhờ đó, gia đình Theobald được chào đón như một người hàng xóm đáng giá. Người ta kháo nhau rằng ông Pontifex đây là một học giả kinh điển và một nhà biện luận trình độ; thực sự là một thiên tài hoàn hảo, hơn nữa ông còn là người đầy óc thực tiễn. Là con trai của một nhân vật xuất chúng như nhà xuất bản Pontifex, thế nào trong tương lai anh cũng sẽ được nắm một gia tài lớn. Theobald vẫn còn một người anh nữa mà? Đúng là thế, nhưng khối tàn sản đó quá lớn, và chắc chắn dù có chia ra, Theobald vẫn sẽ có được một khoản đáng kể. Tất nhiên những người hàng xóm thân thiện này sẽ dùng bữa tiệc tối với nhau. Và bà Pontifex thật là một người phụ nữ duyên dáng, có thể cô không thật sự xinh đẹp, nhưng cô có một điệu cười quá đỗi ngọt ngào và dáng vẻ của cô toát lên sự rạng rỡ và quyến rũ. Cô tận tình hết sức với chồng mình và chồng cô cũng vậy; họ thật sự giống hệt như hình mẫu uyên ương lý tưởng thời đó; thật hiếm khi gặp được một đôi như vậy trong những thời suy đồi này; họ thật đáng yêu biết bao,... V.v. Đó là những lời hàng xóm đã bàn tán về hai người lúc họ mới vừa dọn đến.
Trong giáo xứ của Theobald, các nông dân biết lễ độ còn các lao công và những bà vợ của họ thì đầy khúm núm. Có một chút rắc rối nho nhỏ là đống
https://thuviensach.vn
hỗn độn từ người tiền nhiệm bất cẩn để lại, nhưng bà Theobald đã tự hào nói, ‘Tôi nghĩ chúng ta có thể tin tưởng Theobald trong việc xử lý CHUYỆN NÀY.’ Ngôi thánh đường ở Battersby khá đẹp với phong cách cuối thời Norman, cùng vài nét điểm xuyết mang phong cách anh thời kỳ đầu. Nếu theo tiêu chuẩn ngày nay, thì có thể nói là nó được sửa chữa rất tệ hại, nhưng cách đây bốn mươi, năm mươi năm, ít có nhà thờ nào được tu sửa cho thật tốt. Nếu muốn tìm một nét đặc biệt của thế hệ này so với những thế hệ đi trước thì đó chính là việc đại tu những ngôi thánh đường.
Horace đã nói về việc phục hồi các thánh đường trong bài tán ca của ông: Những đứa con thành Roma hỡi
Tội lỗi của cha ông chúng ta
Đâu đến nỗi phải hứng lấy trừng phạt
Bao lâu chúng ta còn biết phục hồi những thánh đường
Tân trang những ngôi nhà của Thần
Và phủ áo mới cho các bức tượng đen mù đổ nát.
Sau thời thịnh trị của Agustus, Roma chẳng bao giờ thịnh vượng được lâu dài, nhưng tôi không chắc điều này là do họ đã không tu sửa những ngôi đền hay ngược lại nữa. Sau thời Constantine, rõ ràng là Roma đã đi xuống, nhưng dù gì hiện giờ nó vẫn là một trong những thành đô đầy quyền lực.
Tôi phải kể ra luôn ở đây là sau vài năm coi xứ Battersby, Theobald bỗng nảy ý định làm một việc thiết thực là phục hồi lại nhà thờ này, một việc mà anh dự tính sẽ tốn khá nhiều, và anh phải tự mình quyên tiền cho việc đó. Anh tự làm kiến trúc sư, và điều này tiết kiệm được cho anh một khoản, nhưng vào năm 1834, lúc Theobald bắt đầu khởi công, người ta vẫn chưa nắm bắt được nhiều về ngành kiến trúc, và kết quả công trình của anh không được hài lòng cho lắm, giá mà anh chờ thêm vài năm nữa có lẽ nó đã khá hơn nhiều rồi.
Tác phẩm của một con người, cho dù trong văn học, âm nhạc, hội họa, kiến trúc hay bất cứ ngành nào khác đều là bức chân dung của chính người đó, và anh ta càng cố gắng che đậy chừng nào thì đặc nét của anh ta lại càng thể hiện ra chừng đó. Nói như thế cũng có thể là tôi đang lên án chính mình, bởi tôi biết rằng suốt thời gian viết quyển sách này, cho dù thích hay không,
https://thuviensach.vn
thì tôi cũng đang thể hiện chính mình hơn là thể hiện bất cứ nhân vật nào mà tôi giới thiệu với các bạn. Tôi rất lấy làm tiếc vì điều đó, nhưng tôi chẳng thể làm gì khác. Còn về Theobald, tôi cho rằng nhà thờ Battersby sau khi được tu sửa, luôn luôn gây ấn tượng cho tôi rằng nó là bức chân dung thực nhất về anh, thực hơn bất kỳ kiệt tác điêu khắc hội họa nào có thể diễn tả.
Tôi nhớ là đã đến thăm Theobald khoảng sáu hay bảy tháng sau khi anh kết hôn, và lúc đó nhà thờ vẫn chưa được tu sửa. Tôi đến viếng nhà thờ và cảm giác trong tôi giống hệt như cảm giác mà hẳn Naaman phải cảm nhận được những lúc tháp tùng vua của mình sau khi ông đã được chữa khỏi bệnh cùi, có thể nói là cái cảm giác đang sống cùng một người mình từng tôn thờ nhưng bây giờ đã mất đi uy thế đó vậy. Những chuyện, những người tôi gặp trong chuyến viếng thăm này, tôi không nhớ lắm, ngoại trừ bài giảng của Theobald. Thậm chí đến bây giờ, những gì tôi vẫn còn nhớ được trong nhà thờ chỉ là những người mặc áo choàng xanh phủ đến gót chân, và vài bà già đang mặc áo choàng đỏ; một dãy những anh nhỏ lơ đãng, ngốc nghếch, chưa được dạy bảo, bị nuôi nấng một cách hời hợt, khuôn mặt thì vô duyên, vô hồn, lãnh đạm, loạt người này thật giống như những nông nô Pháp trước thời cách mạng mà Carlyle đã mô tả, một thời đã quá dĩ vãng; loạt người đó giờ đã bị hất cẳng bởi một thế hệ thông minh hơn, duyên dáng hơn, và có triển vọng hơn, một thế hệ đã khám phá ra rằng họ có quyền mưu cầu hạnh phúc theo khả năng của mình, và cũng ý thức rõ ràng về những phương tiện tốt nhất để đạt được hạnh phúc đó.
Họ nối nhau kéo đến nhà thờ, hơi thở lạnh ngắt bởi đang là mùa đông, và tiếng giày tuyết gõ ầm ĩ trên đường; họ rũ tuyết khỏi người rồi bước vào, qua cánh cửa nhà thờ tôi chợt thoáng thấy bầu trời u ám ảm đạm và một bia mộ ngập trong tuyết. Không biết làm sao, tôi bỗng nhớ ra giai điệu mà handel phổ cho câu này ‘Đây người thợ cày sát gần trong tầm tay,’ về sau tôi vẫn không quên được nó. Handel thật hiểu những người nông dân này biết bao! Họ cúi chào Theobald lúc đi qua bục giảng (Christina nói nhỏ với tôi, ‘những người này thật lễ phép, họ biết tôn trọng những người cao hơn họ’), rồi ngồi xuống những dãy ghế dài sát tường. Ca đoàn đi lên chỗ dành cho mình, cùng với nhạc cụ của họ, một cây cello, một kèn clarinet, và một kèn
https://thuviensach.vn
trombone, tôi chỉ nhìn ra các ca viên lúc họ cất lên bài ca nhập lễ, một giai điệu thật thô kệch, nếu tôi không lầm thì hẳn nó là tàn tích của kinh nguyện trước thời Kháng Cách. Tôi tin là mình đã từng nghe nguyên bản xa xưa của nó ở nhà thờ hai Thánh Giovanni và Paolo tại Venice cách đây không đến năm năm; và thêm một lần nữa được nghe nó ở một chốn xa xôi nơi vùng biển trung Đại Tây Dương vào một ngày Chủ nhật xám xịt, nơi sóng và gió đều đờ đẫn, những người di cư tụ lại trên sàn tàu và cất lên những bài Thánh vịnh não nùng cuốn lên bầu trời mù sương bạc, còn biển cả hoang vắng quanh họ vẫn mãi vang vang tiếng thở dài trầm buồn đến vô vọng. Và người ta cũng còn có thể nghe được bài ca này nơi Trại họp mặt của phái Giám lý ở vùng đồi xứ Wales, nhưng đã từ lâu chẳng ai dùng đến nó trong nhà thờ anh giáo nữa. Nếu là một nhạc sỹ thì hẳn tôi đã lấy nó làm ví dụ cho tính khoan thai chậm rãi trong hòa âm của phái Giám lý rồi.
Tiếng clarinet, cello, và trombone cất lên hỗn loạn như những tạo vật than van ai oán trong sách Ezekiel, thật nghịch tai nhưng đầy thống thiết. Rồi vang lên giọng oang oang ầm ĩ của người thợ rèn nghe như thể con bò Basan cất tiếng rống, rồi đến giọng nhẹ nhàng của người thợ mộc, tiếp theo là giọng chắc mạnh của người mục đồng với mái tóc đỏ, tiếng anh át hẳn những người khác, cho đến đoạn ‘Những mục tử với đoàn chiên trung thành’ thì tính e lệ làm anh bối rối, và khiến anh nín hẳn, cho dẫu chất giọng của anh vẫn còn dư rất nhiều. Họ khốn khổ và mặc cảm tội lỗi ngay từ lúc đầu tiên tôi thấy họ, nhưng chất ca viên vẫn còn trong mình, và họ hát to lên:
‘Những bàn tay độc ác đã đâm vào và giữ lấy Ngài, xuyên sâu ghìm chặt Ngài trên cây thập giá.’
Nhưng tôi chẳng còn thêm lời nào để tả cho đúng về đoạn này nữa. Rất lâu về sau, lần cuối cùng tôi dự lễ nhà thờ Battersby, có một cô gái dễ thương ngồi chơi hạc cầm cùng dàn đồng ca thiếu nhi, và chúng hát thánh ca đúng giai điệu nhất, tôi nhớ đó là bài Thánh ca xưa và nay; còn những chiếc ghế dành riêng đã không còn, chính xác thì chỗ cho dàn đồng ca thời xưa đã bị bỏ đi như một thứ xấu xa gợi cho người ta về sự phân biệt địa vị. Lúc đó Theobald đã già, còn Christina đã yên nghỉ dưới gốc thủy tùng trong vườn nhà thờ rồi.
https://thuviensach.vn
Nhưng tối sau hôm đó, tôi lại thấy ba người đàn ông rất già đang cười khoái trá trong một nhà nguyện bất chính thống, và chắc chắn đó là người thợ rèn, người thợ mộc, và người mục đồng năm xưa. Trên gương mặt họ toát lên sự mãn nguyện, và tôi tin chắc rằng đó là do họ đã được hát, cho dù không chắc là có dàn nhạc đệm như xưa hay không, nhưng dù gì họ vẫn được hát những bài ca Sion thời xưa chứ không phải cất lên những bài ca theo phụng vụ mới.
https://thuviensach.vn
15
◄○►
Bài thánh ca đã thu hút sự chú ý của tôi, lúc nó kết thúc tôi mới có thời gian để nghĩ về cộng đoàn này. Họ chủ yếu là những nông dân mập mạp, khá sung túc, một vài người trong số họ đưa theo vợ con từ những trang trại xa xôi cách đó vài dặm, họ ghét chế độ Giáo hoàng và ghét bất cứ thứ gì người ta xem là có liên quan đến Giáo hoàng, họ cũng là những người tốt, tử tế, căm ghét giáo điều dưới mọi hình thức, lý tưởng của họ là giữ vững nguyên trạng mọi thứ và có lẽ là họ hoài niệm đầy âu yếm những thời chiến tranh xưa, họ còn ý thức sai lầm rằng mình có thể hoàn toàn điều khiển được thời tiết, họ mong muốn giá cả lên cao và tiền công xuống thấp, nhưng ngược lại, thấy hài lòng khi mọi thứ ít biến động nhất, nếu không yêu mến thì họ cũng cam chịu những gì đã quen thuộc, và ghét tất cả những gì chưa quen, hẳn họ đều sẽ thấy gớm ghiếc khi nghe nói, hoặc nhìn thấy trong thực tế, một ai đó hoài nghi đạo của họ.
‘Liệu giữa Theobald và giáo dân của anh có được điểm chung nào hay không?’ Christina nói với tôi, lúc Theobald không hiện diện ở đó. ‘Tất nhiên là không nên phàn nàn, nhưng chắc chắn tôi rất đau lòng khi thấy một người đầy khả năng như Theobald bị đẩy vào một nơi như thế này. Nếu chỉ cần chúng tôi ở Gaysbury mà thôi, nơi có ông này, bà kia, ngài nọ ở gần, như anh cũng biết đó, thì tôi sẽ không thấy như thể mình đang sống giữa sa mạc như thế này, nhưng tôi tin vào những khả năng tốt nhất có thể có,’ cô tươi giọng lên, ‘và tất nhiên nếu Giám mục có đi đâu đó gần đây thì hẳn ngài sẽ ghé thăm chúng tôi, chứ nếu như chúng tôi đang ở Gaysbury, thì thế nào ngài cũng sẽ chỉ ghé qua nhà một ngài lớn nào đó mà thôi.’
https://thuviensach.vn
Có lẽ tôi đã nói đủ nhiều để trình bày cho các bạn biết nơi anh được bổ nhiệm là chốn như thế nào, và vợ anh là kiểu đàn bà nào. Còn nói về công chuyện thường ngày của anh, tôi đã từng thấy anh mệt mỏi lê bước trên những con hẻm bùn lầy và những cánh đồng đầy chim choi choi để thăm viếng người vợ sắp chết của một lão nông. Anh lấy thịt và rượu từ nhà mình mà cho bà, không phải chỉ cho một ít, mà thực sự anh rất rộng tay trong việc này. Theo quan điểm của mình, anh làm những gì mà anh thấy hài lòng để đem lại sự khuây khỏa trong tâm hồn.
‘Thưa ngài, tôi sợ rằng tôi phải xuống hỏa ngục,’ người bệnh nói với giọng rên rỉ. ‘Ôi thôi, xin ngài hãy cứu tôi, cứu tôi với, đừng để tôi phải xuống đó. Tôi không chịu nổi điều này, ngài ơi, tôi sẽ chết trong sợ hãi mất, ý nghĩ đó khiến tôi đổ mồ hôi lạnh suốt.’
‘Bà Thompson,’ Theobald trang trọng đáp lời, ‘bà phải tin vào máu vô giá Đấng Cứu Chuộc đã đổ ra; chỉ có mình Ngài mới cứu được bà.’ ‘Nhưng, thưa ngài,’ bà nói giọng buồn bã, ‘ngài có chắc là Chúa sẽ tha thứ cho tôi hay không, bởi tôi đã không sống tốt, chắc chắn là không tốt; và nếu tôi hỏi Chúa rằng tội của tôi có được tha hay không, liệu Ngài có đáp lời ‘Có’ hay không?’
‘Nhưng bà Thompson ơi, tội lỗi của bà đã ĐƯỢC tha,’ Theobald nói với giọng nghiêm nghị, bởi cách nói như thế đã hiệu quả nhiều lần rồi, và anh đã nâng đỡ cho nỗi sợ của người đàn bà này trong suốt mười lăm phút. Rồi anh chấm dứt câu chuyện bằng cách lặp lại những lời cầu nguyện trong bản kinh ‘Thăm viếng người bệnh,’ và với những bày tỏ lo âu hơn về tình trạng của bà, nhưng chính anh lại khiến cho con người khốn khổ này càng sợ hãi và lo lắng hơn nữa.
‘Thưa ngài,’ bà kêu lên thảm thương lúc thấy anh chuẩn bị quay đi, ‘ngài không thể nói với tôi rằng không có Ngày Phán xét, và không có Địa Ngục nào cả, hay sao? Không có Thiên Đàng tôi chịu được, nhưng tôi không chịu nổi Địa ngục.’ Theobald đã bị kích động nhiều vì lời này.
‘Bà Thompson à,’ Theobald nhẹ nhàng đáp lại, ‘tôi nài xin bà hãy chấp nhận không chút nghi hoặc về hai tảng đá góc trong tôn giáo của chúng ta, nhất là trong thời khắc này. Nếu có điều gì chắc chắn, thì đó là chúng ta sẽ
https://thuviensach.vn
trình diện trước Ngai Đức Kitô, và kẻ dữ sẽ chết dần mòn trong biển lửa không bao giờ tắt. Bà Thompson, nếu bà hoài nghi điều này, thì bà sẽ mất linh hồn.’
Người đàn bà tội nghiệp vùi đầu vào trong chăn với nỗi sợ lên đến cực điểm, cuối cùng, trong những giọt nước mắt trào ra, bà được nhẹ lòng hơn đôi chút.
‘Bà Thompson,’ Theobald nói khi đang đứng ở ngưỡng cửa, ‘hãy bình tĩnh lại; bà phải đón nhận lời của tôi rằng vào Ngày Phán xét, tội lỗi của bà sẽ được rửa sạch trong máu Con Chiên.’ anh nói tiếp trong quay cuồng, ‘Đúng, cho dẫu chúng có đỏ như máu, cũng sẽ được trắng như bông,’ và rồi anh rời khỏi túp lều tranh hôi hám đó nhanh nhất có thể để về lại với không khí trong lành bên ngoài. Ôi, thật nhẹ lòng biết bao khi chấm dứt được buổi nói chuyện này!
Anh về lại nhà, ý thức rằng anh đã làm xong trách nhiệm của mình, và đã mang được sự an ủi tôn giáo đến cho một tội nhân đang hấp hối. Người vợ đáng ngưỡng mộ của anh đang chờ ở nhà, và đoan chắc với anh rằng chưa có một mục sư nào lại tận tụy với con chiên của mình như anh. Anh tin cô, về bản chất, anh có thiên hướng tin tưởng tất cả những gì người ta nói với anh, và còn ai biết chuyện hơn vợ của anh nữa đây. Anh chàng tội nghiệp! Anh đã làm hết sức mình, nhưng một con cá rời xa mặt nước, thì dù làm hết mình nó sẽ được cái gì đây? Anh đã cho họ thịt và rượu, đó là những gì anh có thể làm; anh sẽ lại ghé thăm và lại cho họ thêm thịt rượu; ngày qua ngày, anh lại lê bước qua những cánh đồng đầy chim choi choi, và cuối cùng, đều lắng nghe một nỗi sợ hãi lo xa giống nhau. Ngày qua ngày, anh vẫn im lặng, nhưng không rời đi, cho đến tận lúc sự suy nhược quá đỗi khiến người bệnh không còn bận tâm đến tương lai của mình nữa, và Theobald hài lòng rằng giờ đây tâm hồn bà ta đã được nghỉ ngơi yên bình trong tay Chúa.
https://thuviensach.vn
16
◄○►
Trong số những trách nhiệm nghề nghiệp của mình, anh không thích thú gì việc đi thăm bệnh nhân này, thực sự là anh ghét nó, nhưng lại không dám thừa nhận với chính mình điều đó. Thói quen không dám thừa nhận với chính mình đã ăn rễ thâm căn cố đế trong anh rồi. Dù vậy, chúng vẫn ám ảnh trong anh một ý thức rõ ràng và không lành mạnh, đó là cuộc đời sẽ thoải mái hơn nếu như không có những tội nhân đau bệnh, hoặc nếu không thì họ cũng nên lãnh đạm hơn với sự trừng phạt đời đời. Anh không thấy mình đang sống đúng môi trường. Dường như môi trường này hợp hơn với những người nông dân. Họ đầy đặn, khỏe mạnh và mãn nguyện, nhưng giữa anh và họ có một hố sâu lớn ngăn cách. Trên khóe miệng anh bắt đầu hằn lên vẻ nặng nề và co lại, đến nỗi nếu anh không mang bộ áo đen và dải băng trắng, những đứa trẻ vẫn có thể nhận ra anh là một mục sư.
Anh biết là anh đang thực thi bổn phận của mình. Mỗi ngày trôi qua anh càng chắc chắn về nó hơn, nhưng rồi anh lại chẳng có nhiều việc để làm. Anh buồn vì mong muốn có một việc gì đó để làm. Anh không hứng thú gì với các môn thể thao ngoài trời, những thứ được xem là không thích hợp với một mục sư cách đây bốn mươi năm. Anh không cưỡi ngựa, không săn bắn, không câu cá, không đua ngựa, và cũng không chơi cricket. Anh cũng chưa bao giờ thích học hành hết sức mình, và ở Battersby này có động lực gì để anh phải vùi đầu vào sách vở chứ? Sách cũ hay sách mới, anh đều không đọc. Anh chẳng có hứng thú với nghệ thuật hay khoa học, hay chính trị, nhưng lại mau chóng thay đổi thái độ nếu có ai đó nói về những tiến bộ mới mà anh chưa biết. Thật sự là anh tự viết những bài giảng của mình, nhưng ngay cả vợ anh cũng cho rằng, điểm mạnh của anh chính là đời sống gương
https://thuviensach.vn
mẫu (một đời sống tận hiến lâu dài) hơn là đứng trên bục giảng. Sau bữa ăn sáng, anh rút về phòng nghiên cứu sách vở, ở đó, anh cắt một vài mẩu nhỏ trong sách Kinh Thánh và tỉ mỉ dán chúng cho thật khéo bên cạnh nhau, việc này được anh gọi là Tân Cựu Ước hòa hợp. Sát bên những mẩu này, anh sao chép lại thật hoàn hảo những mẩu viết tay của mede (người duy nhất, theo Theobald, thật sự hiểu được sách Khải huyền), Patrick, và những thần học gia cổ khác. Anh đều đặn làm việc này suốt nửa tiếng mỗi buổi sáng suốt nhiều năm, và kết quả của nỗ lực này thật đáng giá. Vài năm sau, anh dạy con cái mình học, và hằng ngày chúng đều thét lên rằng những gì trong sách lại đang nói về những chuyện khủng khiếp trong nhà của chúng. Anh cũng thu thập mẫu cây, và nhờ cha mình, đã một lần anh được nhắc đến trong Báo Thứ bảy về việc là người đầu tiên khám phá ra một giống cây ở vùng phụ cận Battersby, tên gì thì tôi quên mất rồi. Số báo này được anh gói trong da dê, và đặt nơi bàn phòng khách. Anh thường đi vẩn vơ trong vườn, và nếu nghe thấy tiếng gà mái cục tác thì liền chạy vào báo Christina rồi đi tìm quả trứng ngay lập tức.
Thỉnh thoảng hai ông bà Allaby đến ở với Christina, và mỗi lần như vậy, họ đều nói là cuộc sống của hai vợ chồng Theobald quá đỗi điền viên vui thú. Thật sự thì Christina hạnh phúc với lựa chọn của mình, bởi nó giống những quyển tiểu thuyết mà cô ưa thích, còn hạnh phúc của Theobald lại tùy nơi Christina. Không biết vì sao Christina luôn ngại chơi bài với các chị em của mình, trong khi lại rất hứng chơi bài kipbi hay bài uýt với người khác, nhưng các chị em của cô hiểu rằng nếu đề cập đến chuyện này thì sẽ chẳng bao giờ họ được mời tới Battersby một lần nữa, và để được mời thì tất nhiên các cô sẽ chẳng hé môi về ván bài năm xưa. Nhưng ngay cả nếu Theobald là người khó chịu, anh cũng sẽ không trút giận lên họ.
Theo bản tính vốn có của Theobald, thì chỉ cần có người chịu nấu ăn cho mình, anh sẵn sàng sống trên một hoang đảo. Trong thâm tâm, anh đồng ý với Giáo hoàng rằng ‘mối phiền toái nhất cho một con người chính là một con người,’ và phụ nữ, có lẽ là ngoài Christina ra, thì còn tệ hơn nữa. Dù suy nghĩ như thế, nhưng khi một vị khách gọi đến tên mình, anh đều tươi nét mặt một cách lạ lùng không ngờ đến.
https://thuviensach.vn