🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Vương Triều Sụp Đổ Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn VƯƠNG TRIỀU SỤP ĐỔ Thông tin ebook : Tác giả : Hoàng Quốc Hải Nhà xuất bản Phụ Nữ - 2006 Khổ 14.3 x 20.3 cm Số trang : 527 Thực hiện ebook : hoi_ls https://thuviensach.vn SƠ GIẢN PHẢ HỆ NHÀ TRẦN I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII XIII XIV XV XVI XVII XVIII XIX XX XXI XXII XXIII XXIV XXV XXVI XXVII XXVIII XXIX https://thuviensach.vn XXX XXXI XXXII VÀI LỜI CUỐI SÁCH https://thuviensach.vn SƠ GIẢN PHẢ HỆ NHÀ TRẦN Để bạn đọc tiện theo dõi các nhân vật trong truyện, tác giả tạm sắp xếp một giản yếu tới tối giản về phả hệ nhà Trần. Song có một điều lộn xộn cần nói, đó là việc hôn nhân của họ Trần. Vì muốn giữ gìn sự trường tồn của dòng họ, nhà Trần nghiêm cấm con trai, con gái kết hôn với người ngoại tộc. Cho nên, bạn đọc sẽ thấy anh em con chú bác ruột lấy nhau như cặp Trần Thủ Độ (Thái sư) lấy Trần Thị Dung (Linh từ quốc mẫu) Cô cháu ruột lấy nhau như cặp Thiên Thành công chúa (em ruột Trần Liễu, Trần Cảnh) lấy Trần Quốc Tuấn (con Trần Liễu). Chị em con chú con bác trực hệ lấy nhau: Khâm từ, Tuyên từ (con gái Trần Hưng Đạo) lấy Trần Nhân tông (con trai Trần Thánh tông). Vân vân và v.v… Tuy nhiên, việc cấm kết hôn với người ngoại tộc chỉ có hiệu lực trong một hai triều đại đầu của nhà Trần, tới các triều sau, việc đó nhạt dần đi. Và chưa nghe có vụ nào làm nghiêm (tức trị tội) đối với các cuộc hôn nhân dị tộc. Ngay Trần Minh tông cũng lấy hai người cô ruột của Hồ Quý Ly về làm phi. Dẫu sao, đây cũng là một cuộc đại loạn luân mà lịch sử từng biết đến và không có gì có thể biện minh được. Trong phả hệ này, tôi sẽ không thống kê đầy đủ mỗi đời vua sinh được mấy hoàng tử, mấy công chúa, mà chỉ đề cập tới những người nổi tiếng trong lịch sử và là nhân vật của tiểu thuyết. Ví như Trần Thái tông riêng con trai sinh được 6 người. Trong phả hệ này tôi chỉ kể có 5. Các vị khác cũng vậy. Và sau rốt, phả hệ tối giản này dùng cho cả 4 tập: Bão táp cung đình; Thăng Long nổi giận; Huyền Trân công chúa; Vương triều sụp đổ. Coi như ta chấp nhận gia hệ nhà Trần bắt đầu từ cụ Trần Hấp. TRẦN HẤP sinh TRẦN LÝ. https://thuviensach.vn TRẦN LÝ sinh TRẦN THỪA. TRẦN THỪA sinh TRẦN LIỄU và TRẦN CẢNH Do sự tế vi của thời thế khi nhà Trần làm cuộc đảo chính, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nên Trần Cảnh là em lên ngôi vua, còn Trần Liễu lúc ấy đã trưởng thành mà không được tức vị, từ đó nảy sinh mâu thuẫn khá sâu sắc trong hai dòng trưởng và thứ âm ỉ lâu dài. https://thuviensach.vn Chi trưởng: TRẦN LIỄU sinh: - TRẦN QUỐC TRUNG còn gọi là TRẦN TUNG có pháp danh TUỆ TRUNG THƯỢNG SỸ. - TRẦN QUỐC TUẤN tức HƯNG ĐẠO VƯƠNG. - TRẦN VŨ THÀNH tức VƯƠNG DOÃN. Trần Quốc Tuấn sau làm Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự, tương đương với chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh quân đội ngày nay. Trần Quốc Tuấn sinh được bốn người con trai, đồng thời là bốn danh tướng: - Hưng Vũ vương TRẦN QUỐC NGHIỄN. - Hưng Trí vương TRẦN QUỐC HIẾN. - Hưng Hiếu vương TRẦN QUỐC UẤT. - Hưng Nhượng vương TRẦN QUỐC TẢNG. Trong lịch sử đã có một giai đoạn khá dài nhầm lẫn, coi Trần Quốc Tảng là Tuệ Trung Thượng sỹ. Sự thật Thượng sỹ là bác ruột của Quốc Tảng. https://thuviensach.vn Chi thứ: TRẦN CẢNH lên ngôi vua miếu hiệu là Trần Thái tông. TRẦN CẢNH (Trần Thái tông) sinh: - TRẦN QUỐC KHANG. (Bà Thuận Thiên là vợ thứ của Trần Liễu, khi đã có chửa Quốc Khang được hai tháng, Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung ép Trần Cảnh (Thái tôn) phải cướp lấy. Do vậy khi Quốc Khang lớn lên không được truyền ngôi). - TRẦN HOẢNG (Trần Thánh tông). - TRẦN QUANG KHẢI. - TRẦN ÍCH TẮC. - TRẦN NHẬT DUẬT. Các con của Trần Thái tông đều là những bậc danh tướng văn võ toàn tài, sử sách không ngớt lời ca ngợi, trừ Trần Ích Tắc trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ II (1285 - 1286) đem cả nhà đi đầu hàng quân xâm lược, sau chúng đưa về Yên Kinh rồi chết già ở đó. Trần Thái tông còn có nàng công chúa út nổi tiếng trong lịch sử là AN TƯ. TRẦN HOẢNG (Trần Thánh tông) sinh: - TRẦN KHẨM (Trần Nhân tông). - TRẦN NHÂN TÔNG sinh: - TRẦN THUYÊN (Trần Anh tông). Trần Nhân tông còn có người con gái út là công chúa HUYỀN TRÂN, gả cho vua Champa, mà sính lễ gồm cả hai châu: Ô, Lý (miền đất Trị - Thiên ngày nay). TRẦN ANH TÔNG sinh - TRẦN MẠNH (Trần Minh tông có 11 người con trai). TRẦN MINH TÔNG sinh: - TRẦN VƯỢNG (Trần Hiến tông). - TRẦN HẠO (Trần Dụ tông). https://thuviensach.vn - TRẦN PHỦ (Trần Nghệ tông). - TRẦN KÍNH (Trần Duệ tông). Trần Minh tông còn có người con nữa là CUNG TÚC ĐẠI VƯƠNG NGUYÊN DỤC, lấy vợ là đào hát chèo đã có mang sẵn. Nguyên người này là vợ của người phường hát chèo Dương Khương. Sau đẻ ra Nhật Lễ. Khi Dụ tông mất, bà thái hậu phò Nhật Lễ lên ngôi. Chưa được một năm thì những người trong tôn thất nổi lên như Trần Phủ, Trần Kính, Trần Nguyên Đán (Nguyên Đán là cháu trực hệ bốn đời của Trần Quang Khải) và công chúa Thiên Ninh (con Trần Minh tông) diệt Nhật Lễ, lấy lại ngôi vua. Trần Kính (Trần Duệ tông) còn có người con là Trần Hiện. Duệ tông chết trận tại thành Chà Bàn (Champa). Trần Nghệ tông cho cháu là Trần Hiện lên ngôi vua. Sau vì có ý bài xích Hồ Quý Ly, nên Quý Ly xúi Nghệ tông phế truất rồi buộc phải thắt cổ tự tử. Trần Nghệ tông có người con là Ngự Câu vương Húc theo chú là Trần Duệ tông sang đánh Champa, bị Chế Bồng Nga bắt làm con tin. Một người nữa là thiếu úy (Thiếu úy: thuộc hàng tam công (Thiếu úy - thiếu sư - thiếu bảo) - ba chức quan trong đầu triều.) Trang Định vương Ngạc bị Hồ Quý Ly giết. Và sau rốt người con út là Trần Ngung (con rể của Hồ Quý Ly). Sau khi phế truất Trần Hiện, Ngung được đặt lên ngôi vua, hiệu là Trần Thuận tông. Hồ Quý Ly ép Trần Thuận tông đi tu rồi bức tử. Đem con của Thuận tông là hoàng tử Án 3 tuổi lên ngôi vua, hiệu là Trần Thiếu đế. Hơn một năm sau (1400), Hồ Quý Ly phế Án (cháu ngoại), tự lập mình lên ngôi vua. Vậy là nhà Trần diệt, nhà Hồ lên. https://thuviensach.vn I Uống xong tuần trà cuối cùng Chu An dừng lại ngắm ngọn bạch lạp đã sắp tàn. Ông định nối thêm ngọn sáp khác vào giá, chợt nghe tiếng chim vít chè hót. Vậy là trời sắp sáng. Bỏ ngọn sáp vào chiếc tráp gỗ mun, ông ngồi nghe giọng hót sắc gọn của chim mẹ, và giọng non nớt chiêm chiếp như tiếng gà mới nở của mấy cái chim non, đang cố láy theo giọng mẹ. Từ nhỏ, mẫu thân ông đã dạy phải chăm chỉ học hành như loài vít chè kia, may ra mới thấu đáo được chữ nghĩa thánh hiền. Và đúng là ông đã học "như thiết như tha, như trác như ma" để khỏi phụ công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Thế là người học trò của ông - những năm gần đây ông chỉ có mỗi một người học trò, ấy là đức Dụ tông, đã gần hai tháng nay bỏ học, không nói với ông một lời. Từ ngày ông được triệu về làm Quốc tử giám tư nghiệp, có đôi ba lần tiếp xúc với đức thượng hoàng Minh tông. Nhà vua quả là người có văn chất, có đức độ. Thượng hoàng ngỏ ý muốn mời ông về dạy cho quan gia, để khai sáng thêm con đường trị nước của Dụ tông. Gọi là mời, nhưng đấy là mệnh vua, ông chỉ biết tuân phục. Mấy năm trước, quả Dụ tông có chăm nghe, chăm hỏi về kinh sách, về đạo trị, loạn ở đời, về nhân, nghĩa, và về đủ mọi thứ ứng xử từ nội trị đến bang giao. Nhưng từ ngày thượng hoàng Minh tông băng; Dụ tông hay tìm đọc những yêu thư, rồi lại kết bè kết cánh với lũ thần tử đồi bại, thả lỏng kỷ cương, xa dời phép tắc, sa vào con đường đọa lạc. Ông đã hết lời can ngăn, kể cả dẫn dụ về gương sáng các đời, những mong nhà vua hồi tâm tỉnh ngộ, nhưng vô ích. Cực chẳng đã, ông đành liều thân can gián, dâng sớ xin chém bảy tên quyền gian, quan cao, chức trọng vào loại đầu triều, được vua sủng ái. Có trừ được lũ yêu quái ấy mới nối lại được thể thống. Thật ra, việc này là phải do quan tả gián nghị đại phu Trương Hán Siêu đàn hặc ngay từ những năm ông còn sống. Ngặt vì Hán Siêu tuổi già lại bị bưng bít, thành thử ông không biết đầu cuối ra sao. https://thuviensach.vn Nhưng cũng từ ngày quan Tư nghiệp dâng sớ, nhà vua không lai vãng đến tòa Kinh Diên để nghe giảng nữa. Chu An nghĩ lung lắm. Mái đầu đã bạc, bụng chất chứa kinh luân, mà ngày nào ông cũng phải đến chờ người học trò vĩ đại kia để hầu giảng cho trọn đạo một ông thầy, trọn nghĩa vua tôi. Nhưng Dụ tông vẫn không ló đến tòa Kinh Diên. Bữa nay vừa đúng hai tháng. Ông quyết không chờ thêm một ngày nào nữa. Ngay từ tối hôm trước, ông đã gói ghém tất cả phẩm phục vua ban lại và đặt trên mặt chiếc kỷ, nơi ông vẫn ngồi hầu giảng nhà vua. Bây giờ chỉ còn mỗi một việc là ra đi. Chu An búi lại lọn tóc cho gọn, bên ngoài, ông quấn chiếc khăn vành dây bằng lượt đen trùm lên búi tó. Rồi khoác lên mình chiếc áo thụng xanh thuở hàn vi. Chợt nhớ ra điều gì, ông quay lại gọi tên trà nô và dặn: "Ngươi lau rửa cẩn thận bộ đồ trà rồi để vào chỗ cũ. Hôm nay có việc ta phải đi sớm". Xong, quan Tư nghiệp xỉa cho y ba tiền. Y chắp tay vái lia lịa. Bỗng y sực nhớ ra, liền hỏi: - Bẩm quan sư phó, ngài không chờ xem, ngộ nhỡ hôm nay quan gia đến nghe giảng thì sao? Chu An hất hàm: "Ờ ta bận". Với lấy cây gậy trúc, ông bước ra khỏi nhà bái đường. Đi qua cửa Huyền Vũ, là cửa nhà vua vẫn thường qua đó để vào tòa Kinh Diên, Chu An đặt chiếc mũ vua ban vào đầu gậy rồi treo lên cánh cổng, và đi về phía bến Đông-bộ-đầu, nơi ấy tiểu đồng đã chờ sẵn ông với một lá thuyền. Sương giăng trắng cả kinh thành. Thăng Long như vẫn còn đang mơ ngủ. Chu An vừa đi vừa ngoái lại nhìn những tòa tháp, những lâu đài, điện các của kinh thành, như đang cố ngoi lên để khỏi bị ngợp chìm trong cái bể sương kia mà lòng bùi ngùi khôn xiết. Có nhẽ nào, ông nghĩ - Có nhẽ nào kinh thành của nước Đại Việt sừng sững thế này, chất chứa bao hào khí, khiến lũ giặc Nguyên - Mông phái tán đởm kinh hồn, nhưng rồi một ngày nào đó lại phải sập đổ vì một tên hôn quân. Lòng ông nghẹn uất. Trông trước trông sau không thấy có ai, Chu An đưa ống tay áo thụng lên gạt thầm mấy giọt lệ. Gần tới bến, quan Tư nghiệp cứ đi vài bước lại quay lại ngắm rặng hòe, đang phơi những nhánh cành khẳng khiu ra che đỡ tuyết sương. Vừa trông thấy con thuyền, Chu An đã kịp nhận ra có hai người từ dưới bến https://thuviensach.vn đi lên. Sương bay lấp lóa, không nhìn rõ mặt khách. Hai người đó đến trước Chu An cung kính chắp tay vái: - Lạy thầy, cho anh em con theo tiễn. Chợt nhận ra Phạm Sư Mạnh và Lê Quát, Chu An giận lắm. Ông nghiêm giọng, nói: - Hóa ra các anh vào hùa với quân đốn mạt vẫn giám sát ta mà ta không hay biết. Liệu các anh có trói ta đem về triều không? Chu An giơ chiếc gậy trúc gạt hai người ra rồi xăm xăm xuống bến. Lê Quát, Phạm Sư Mạnh cùng hối hả chạy theo thầy. Phạm Sư Mạnh níu thuyền lại, còn Lê Quát đỡ cho thầy bước xuống. Phạm Sư Mạnh nói: - Bẩm thầy, ít bữa nay chúng con thấy thầy có vẻ buồn quá. Đã mấy lần anh em con lảng vảng đánh tiếng, nhưng không thấy thầy gọi, nên không dám vào kính yết. Chiều hôm qua, nhân có việc con phải ra bãi sông, thấy chú Tồn đang cho thuyền cập bến. Con không dám hỏi, nhưng ngầm đoán là thầy sắp đi xa. Con về, nói lại với anh Quát, hai anh em con bàn nhau cứ chờ thầy ở đây. Chu An thấy hai người học trò nói tình thực, trong lòng xem đã nguôi nguôi. Ông cúi nhìn họ và nói: - Thôi các anh về, thầy đi. - Lạy thầy, đầy triều rắn rết, chúng con ở lại mà làm gì. Thầy cho chúng con theo hầu. - Không được! - Chu An nghiêm giọng.- Các anh còn trẻ lại là rường cột, phải ở lại triều mà gánh vác việc nước. Thầy già, bất lực rồi, phải đi thôi! - Nhưng thưa thầy chúng con phải làm gì ạ? - "Kiến cơ nhi tác!"( Cứ xem diễn biến thời cơ mà liệu cách hành động). Chu An nói rồi phẩy tay cho tiểu đồng nhổ sào, ông đi thẳng vào trong khoang. Dõi trông cho tới khi con thuyền đã khuất hẳn, không gian chỉ còn là một biển mây trắng mịt mùng, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh nhìn nhau vừa bùi ngùi vừa ngơ ngác. Chợt Lê Quát hỏi Phạm Sư Mạnh: - Tôn huynh có biết tại sao thầy bỏ Thăng Long mà đi không? https://thuviensach.vn Lê Quát nghĩ rằng Phạm Sư Mạnh giữ chức chưởng bạ thư, kiêm Khu mật tham chính, được gần vua, nên biết rõ ngọn nguồn hơn mình. Còn mình, tuy là Hữu bộc xạ, tham dự chính phủ, nhưng thường lĩnh mệnh đi kinh dinh các lộ, các trấn luôn. Nghe Lê Quát hỏi, Phạm Sư Mạnh thở dài: - Chắc là đệ cũng không biết gì nhiều hơn tôn huynh. Có điều rằng tính thầy nghiêm khắc, nghe đâu đã hai tháng nay hoàng thượng bỏ học. Cũng không ra thị triều nữa. Công việc nhà nước phó mặc cho các dài, sảnh, viện tự lo. Lại còn bao điều chướng tai gai mắt hàng ngày, thầy cứ phải nghe, phải thấy. Người có trí lự, có tâm huyết như thầy, làm sao chịu nổi. Hai người vẫn vừa đi vừa nói chuyện, sau vài đắn đo, Lê Quát lại hỏi: - Đệ nghe như thầy có sớ, điệp gì dâng lên hoàng thượng, tôn huynh có biết việc ấy không? - Có! Việc ấy thì đệ biết. Vì các giấy tờ, sớ, điệp trình lên hoàng thượng đều phải qua bên Khu mật viện. Nhưng nội dung như thế nào thì chỉ có hoàng thượng mới rõ. Bỗng Phạm Sư Mạnh đấm ngực thùm thụp - Thôi đúng rồi. Đệ nhớ ra rồi. Tính đến hôm nay là vừa tròn hai tháng, kể từ ngày thầy dâng sớ. Và cũng đúng hai tháng hoàng thượng bỏ học, bỏ thị triều. - Thế là rõ, Lê Quát đáp - Hoàng thượng lánh mặt. Chắc là những điều thầy nói có phương hại đến các thú ăn chơi của nhà vua. - Hẳn nhiên như thế rồi - Phạm Sư Mạnh tiếp. Từ ngày thượng hoàng băng, nhà vua đổi niên hiệu thành Đại trị, thì bắt đầu từ những năm Đại trị tới giờ, lại chứa chấp quá nhiều mầm đại loạn. Có phải thế không tôn huynh? - Dạ, đệ cũng thấy thế. Mà có nhẽ chỉ có thầy chúng ta mới đủ dũng khí, để nói ra cái mầm họa loạn ấy với hoàng thượng. - Vâng đúng thế. Ngay cả đến quan Tả gián nghị đại phu Trương Hán Siêu là người đã có công trong thời Trùng hưng, lại trải thờ bốn đời đế mà còn phải ngậm miệng, huống nữa là người khác. ( Trùng hưng : niên hiệu thứ hai đời Trần Nhân tông bắt đầu từ tháng 9 năm Ất dậu- 1285). https://thuviensach.vn - Thế còn quan lớn đại hành khiển, thượng thư hữu bật kiêm tri khu mật viên, thị kinh diên đại học sĩ trụ quốc khai huyện bá Nguyễn Trung Ngạn thì sao? Chẳng nhẽ con người văn võ toàn tài, trải mấy đời vua đều đắc sủng mà cũng ngậm miệng sao? Lê Quát hỏi lại. Phạm Sư Mạnh thở dài đáp: - Tôn huynh còn lạ gì. Đôi khi vì ngậm miệng mà được đắc sủng. Huynh không thấy dân gian thường nói: "Ngậm miệng ăn tiền" đó sao? Với Nguyễn Trung Ngạn thì không hẳn thế. Nhưng ông ta đã gần tám mươi tuổi, lại nghễnh ngãng, nghe chẳng được, còn nói cái gì. Hai người im lặng đi một quãng nữa vừa tới cửa Đại Hưng, Phạm Sư Mạnh bèn rủ Lê Quát: - Hay là đệ cùng với huynh thử ghé vào cung Cảnh Linh xem hoàng thượng có đấy không. Hai người định rủ nhau đến chầu Dụ tông, nhưng vừa tới gần cung Cảnh Linh đã nghe tiếng đàn phách cứ rộn lên, cứ xốn xang lên. Bước mau tới cổng lại thấy quân canh nghiêm mật, và bên tả môn treo một tấm biển, nét chữ sắc như dao: “Miễn chầu”. Hai vị đại thần cùng buông một tiếng thở dài. Họ buồn bã chia tay nhau, ai về phủ nấy. Trong cung, trên chiếc long sàng trải nệm gấm, tấm màn the buông rủ và phía ngoài che hờ một bức bình phong, nhưng vẫn nhìn thấy lấp ló Dụ tông đang úp mặt trên cái bộ ngực trần lồ lộ của một vũ nữ để ngủ. Cả đức vua cùng vũ nữ đều còn lõa thể sau cơn hành lạc. Cạnh đó những kẻ đàn, hát diễn xướng cứ việc nào việc nấy. Họ diễn cho nhau xem, và chờ bất chợt ngài ngự thức giấc là đã thấy ngay trò vui. Trâu Canh, viên đệ nhất ngự y đang lúi húi mở nắp chiếc hộp bạc, lấy ra một củ nhân sâm to bằng ngón chân cái đã xắt làm ba đoạn. Y dùng chiếc cật nứa thái ra từng khoanh mỏng, bỏ vào chiếc ấm “Diêu biến", do cánh thuyền buôn phương Bắc từ Hàng Châu đem sang biếu hoàng thượng, từ năm Kỷ sửu (1349). Trâu Canh cứ lật đi lật lại chiếc ấm, xem mãi sắc men và kiểu dáng. Y tự nhủ: "Đây là bọn nhà buôn bịp bợm, chứ làm gì có lắm đồ "Diêu biến" thế này. Nguyên ủy là do những người làm đồ gốm, sứ ở https://thuviensach.vn Hàng Châu vào thời Nam Tống, khi phơi hàng mộc ngoài trời, bỗng có đàn chim diêu bay qua, thình lình có con ỉa rơi đúng vào thành một chiếc bình. Khi người thợ nhúng men không biết, cứ để thế tắm men. Kịp khi nung chín rồi dỡ hàng ra, thấy một chiếc bình có màu sắc rực rỡ kỳ lạ, khác hẳn với những chiếc cùng loại Mãi sau người ta mới phát lộ ra cái chuyện "phân diêu". Cánh thợ gốm đặt cho nó cái tên: "Diêu biến". Cho là vật quý, lò gốm đem dâng vua Tống. Nhà vua ưng ý lắm, sai chế ít món đồ có kiểu men này. Nhưng chế làm sao nổi. Vài năm sau có người thợ giỏi, chế tác được loại men có màu gần giống như thế, gọi là "Định Diêu”. Đem tiến, vua tạm ưng. Và dụ rằng: "Các loại đồ chế theo kiểu men này, cấm không được bán ra ngoài dân gian, vì vậy mới có tên là "Quân Diêu”. Và dưới trôn mỗi món đồ đều viết hai chữ: "Ngư dụng" đóng khung chữ nhật, màu đỏ. Ấy là ở đời Nam Tống khi còn thịnh kia, chứ bây giờ thì họ bán như bán rau đầy các chợ Hàng Châu. Việc ấy Dụ tông sao biết được. Thấy Dụ tông cựa mình, Trâu Canh giơ tay làm hiệu cho đám nhạc công, ca công hãm bớt âm lượng để nhà vua ngủ thêm lát nữa. Trâu Canh biết, nhà vua chỉ ngủ chập chờn thôi. Suốt ngày đêm hành lạc và hưởng lạc, thì làm sao mà ăn ngon ngủ yên được. Y bỏ củ sâm thái dở vào hộp đậy kín lại rồi chế nước sôi vào ấm “Diêu biến" đặt trong chiếc giỏ ủ, lót gấm màu huyết dụ. Là một thầy thuốc lão luyện, lại được chân truyền từ nhiều dời, Trâu Canh biết Dụ tông yểu thọ lắm. Chân âm của ông ta hầu như đã kiệt. Mà hằng ngày ông lại hối thúc phải bổ dương cho ông ta hành lạc. Còn một phương thuốc cuối cùng, Trâu Canh đem ra cung hiến nốt. May mà y đã liệu tính từ mấy năm nay, lại được quan chi hậu Mai Thọ Đức, là một hoạn quan được nhà vua tin cẩn vào bậc nhất tiếp tay, nếu không thời cũng đến thúc thủ. Quan chi hậu cục là người được đặc cách trông coi đám cung nữ và phi tần của nhà vua. Lại được toàn quyền tuyển lựa mĩ nữ, thục nữ trong toàn cõi Đại Việt, đưa về cung hiến cho vua dùng dần. Vì thế Trâu Canh đã nhờ Mai Thọ Đức lựa cho mấy đứa trẻ con cỡ chín, mười tuổi đem về nuôi vỗ. Và cứ đứa nào vừa tới tuổi dậy thì, tức là khi chúng vừa tròn 13 tuổi, thì quan ngự y đến khám lại cho thật tinh tường một lần nữa. Thiếu nữ đó phải https://thuviensach.vn thật khỏe mạnh, tươi nhuận, mới cho ngậm sâm và uống thuốc để ngủ ròng rã chín ngày đêm liền. Trong khi thiếu nữ ngủ say, thời đem nhân sâm ủ vào trong âm đạo để ngày đêm nó tiết âm khí, làm cho củ nhân sâm trương lên trong đủ chín đêm. Lúc lấy sâm ra phải hong phơi trong chín ngày đêm ở nơi thoáng mát, rồi cất trong hộp bằng bạc có nắp kín. Vì bạc là chất thuộc âm tính, nó tạo sự ôn nhuận cho vị thuốc. Và một liều dùng của nó cũng là chín củ dùng trong chín đêm. Nếu trong thời gian dùng thuốc này mà lánh dục được thời công hiệu vô cùng, chân âm hồi phục cấp kỳ. Liền đó lại bổ dương nữa thì âm dương cân bằng. Chân khí lại vượng, không kém gì nguyên khí trong độ dậy thì của đám con trai mười sáu mười bảy tuổi. Trâu Canh lắc đầu, y tự nghĩ: đức vua là một kẻ háo dục, đến một ngày còn không kiêng nổi, nói gì tới cả chín ngày đêm. Đây là phương thuốc cải lão hoàn đồng mà ông nội y ngày trước là Trâu Tôn đã dâng Hốt-tất-liệt, vị hoàng đế của nhà Đại Nguyên. Sau khi dùng phương thuốc này công hiệu, Thiên tử có ban cho Trâu Tôn chức vạn hộ hầu. Tức là được ăn lộc trong ấp có một vạn nhà. Kíp đến khi thiên triều mở cuộc Nam chinh, Trâu Tôn được theo dưới trướng của thái tử Thoát-hoan. Cuộc chiến đại bại, Trâu Tôn bị quân Đại Việt bắt, rồi y xin ở lại luôn không về đất Nguyên nữa. Bữa nay Trâu Canh dâng phương thần dược này. Y định lát nữa hoàng thượng thức dậy, sẽ tâu sự thể đầu đuôi để ngài còn kiêng cữ. Nếu kiêng được, mà phục hồi nguyên khí, thì lo gì không thêm tuổi thọ. Nghe trong màn có tiếng hắt hơi, Trâu Canh liếc nhìn thấy nhà vua ngồi nhổm dậy, ngài co chân đạp thật mạnh vào mặt ả vũ nữ, khiến ả lăn huỵch xuống chân long sàng. Ả sợ quá, cứ thế chạy ra giữa sàn diễn, nơi đám ca kỹ và nhóm nhạc công đang đàn hát rời rạc. Nom ả trắng hếu như một con lợn vừa mới cạo lông. Viên quan hoạn Mai Thọ Đức lấp lé sau cánh gà thét lên cái giọng the thé: - Nổi nhạc to lên, ca lên cho mùi mẫn! Ngài ngự thức dậy rồi! Giọng y hồ hởi. Đoạn y quay lại phía sau, nói vọng vào đám thị nữ đang trố mắt nhìn ả vũ nữ đang trần truồng ngơ ngác. -Các ả vào ngay ngự tẩm, hầu hoàng thượng mặc ngự bào! https://thuviensach.vn Một lũ con gái xiêm y rực rỡ chạy túa về phía long sàng, nơi đức vua còn đang tồng ngồng như một đứa trẻ chưa biết lẫy. Dụ tông xúng xính trong bộ áo hoàng bào, trước ngực thêu hai con rồng chầu cái mặt trời đỏ chóe, lại đính thêm viên hồng ngọc to bằng chiếc trứng chim sâu, và loáng thoáng vài gợn mây thêu ngũ sắc. Ông không đội vương miện, mà đội chiếc mũ bình thiên dát đầy ngọc quý. Dù ánh lấp lóa từ những viên hồng ngọc phát ra, vẫn không làm tươi được nước da xanh bủng của nhà vua. Hai thị nữ dìu ông ngồi vào chính tẩm, nơi đã trải chiếc nệm gấm và đặt một chồng gối xếp để nhà vua ngồi xem các trò diễn. Nhìn thấy Trâu Canh ở phía bên tả, vua vẫy lại. Trâu Canh đứng hầu. Vua cho ngồi vào góc long sàng. Viên ngự y rủ rỉ nói về phương thần dược mà y đã sắp sẵn, chỉ còn chờ thánh ý. Cứ mỗi lời Trâu Canh nói, mắt nhà vua lại sáng lên, đầu gật lia lịa. Thấy nhà vua chịu lời, Trâu Canh nói thêm: - Bệ hạ mới có hai mươi nhăm tuổi. Việc hồi sức nhanh lắm. Nhưng bệ hạ nhớ phải kiêng đủ chín ngày như thần dặn thời thuốc mới thực công hiệu. - Được rồi! Được rồi! Ngươi đưa ta dùng luôn xem nào. Trâu Canh hai tay dâng bát nước sâm lên Dụ tông, còn dặn thêm: - Bệ hạ nhớ kiêng. - Ờ, ta nhớ, Dụ tông đáp. Thấy trò đàn hát nhàm tai, nhà vua phẩy tay cho lui. Hoạn quan chi hậu cục Mai Thọ Đức biết ý ngài ngự, nên vẫy tay vào phía sau cánh gà, lập tức một đội vũ nữ mười hai ả đẹp như tiên giáng trần ùa ra. Họ múa theo điệu múa của người Chiêm Thành, nên mỗi người chỉ quây quanh bụng một mảnh xiêm bằng kim tuyến xẻ tướp ra như ta tước mảnh lá chuối, ngắn độ một gang tay. Vậy là nó chỉ che được lấp lửng cái chỗ cần phải che ở phía dưới của người con gái. Trên ngực, theo đúng cốt cách Chiêm, cũng có một mảnh vải nịt gọn hai bầu vú, nhưng đã nhiều lần ngài quở về việc che nịt ấy. Vì vậy, lần này quan chi hậu cục bắt các ả cứ để ngực trần. Trên đầu mỗi ả đội một chiếc mũ Chàm làm thuần bằng vàng ròng, có trạm trổ hoa lá tinh vi. Trên đỉnh mỗi chóp mũ lại gắn một viên https://thuviensach.vn ngọc. Mỗi mũ một màu ngọc khác nhau, cho nên khi các nàng múa, ngọc bắt ánh sáng phát ra những tia hào quang lấp lánh bảy sắc cầu vồng, lại phảng phất mùi hương xạ, mùi thơm tho từ da thịt các thiếu nữ tỏa ra, khiến ta có cảm nhận như đang sống ở cõi thiên tiên. Lại thêm hai cổ tay các vũ nữ đều có đeo vòng vàng và hai chùm nhạc. Xem các nàng múa, đức vua lại thấy rạo rực. Đúng là từ lúc uống thuốc của ngư y vào tới giờ, vua cảm thấy trong người mát dịu, khí huyết lưu thông, hơi thở điều hòa, lại cả thèm ăn nữa. Đảo mắt nhìn thấy viên chính chưởng phụng ngự Bùi Khoan, cũng là một cận thần được nhà vua sủng ái, Dụ tông bèn vẫy lại: - Cho ta ăn cái gì đi. Vua nói. - Tâu hoàng thượng, có ngay ạ. Bùi Khoan cho bê vào một chiếc khay vàng, trên đó có món ngọc dương hầm hoài sơn và liên nhục, khởi tử còn bốc khói. Bên cạnh đó là món long tu nấu với nước hầm tắc kè, lại kèm thêm một tô rượu thạch xương bồ pha với huyết dê thơm phức. Dụ tông vừa ăn, uống vừa khen ngon. Quay về phía Trâu Canh, ngài mỉm cười: - Thánh y! Thần dược! Ta chưa thấy bao giờ trong người lại khỏe như bây giờ. Ta hết bệnh rồi Trâu tiên sinh ! Nhà vua nháy mắt cho bọn hoạn quan Mai Thọ Đức. Y lạch bạch chạy đến ghé tai nghe vua phán: - Bắt con ngực to nhất kia vào hậu tẩm - Nói rồi ngài đứng dậy săm săm đi về phía hậu cung. Trâu Canh cúi mặt nén một hơi thở. https://thuviensach.vn II Chu An biệt Thăng Long dã ba ngày, kinh thành vẫn yên ắng. Ngoài Phạm Sư Mạnh, Lê Quát và mấy người tọa thượng nô trong tòa Kinh Diên biết, tịnh không một người nào khác hay tin ấy. Những chuyện khác, việc khác thì dã không cánh mà bay. Nhưng việc nghiêm trọng này không ai dại gì lại bép xép. Bởi trong triều, phe này cánh nọ đang hầm hè nhau, chỉ chờ có cơ hội là lấn lướt nhau, hại nhau. Ngay cả chiếc mũ Chu An treo trước cổng Huyền Vũ cũng không ai dám đụng đến. Vì cổng đó chỉ dành riêng cho vua đi. Mấy bữa nay Hiển từ hoàng thái hậu ở trong cung Thánh Từ người bứt rứt quá. Bà đứng ngồi không yên, ăn ngủ không được. Ngự y chẩn mạch không thấy ngài có bệnh gì, nên chỉ bốc thang "an thần", và nói mấy lời yên ủy cho thái hậu bình tâm. Bỗng thái hậu nhớ tới thượng hoàng và những lời căn dặn trước khi ngài băng: "Ta chết, không có gì ân hận. chỉ thương hậu cô đơn. Vả lại Dụ tông tuy đã ở ngôi nhưng lại thiếu vắng người giám sát, nên y mặc sức muôn làm gì thì làm. Cho nên hậu phải đê mắt tới việc triều chính. Ta biết, điều này ngoài tầm nghĩ hiểu của hậu. Nhưng cứ xem các việc quan gia làm, việc nào hậu thấy lương tâm áy náy, thời quan gia thế nào cũng có sự lầm lỡ trong đó. Cốt nhất là sự học của Dụ tông. Ta đã ủy thác cho Chu An là người có văn chất, có khí chất bậc nhất của Đại Việt để giáo huấn cho quan gia. Vậy hậu cũng nên đế ý tới việc này". Nhớ như in những lời Minh tông căn dặn, vậy mà bấy lâu nay hậu cũng có qua lại thăm viếng gì quan Tư nghiệp Quốc tử giám đâu. Có để ý gì đến việc học hành của quan gia đâu. Thế có nghĩa là chính hậu cũng đã xao nhãng lời dặn của Thượng hoàng. Lại nữa quan gia, cũng lâu không thấy tới viếng thăm cung Thánh Từ. Thái hậu bèn sai lấy kiệu để bà sang tòa Kinh Diên. Bà đi thẳng vào cổng Huyền Vũ là cổng đi tắt vào nội điện. Vật đầu tiên bà trông có vẻ https://thuviensach.vn nghịch mắt là chiếc mũ treo trên cánh cổng, hai chiếc dải rủ xuống như hai cánh tay buông xuôi. Thái hậu quát hỏi, bọn tọa thượng nô tâu: - Bẩm thái hậu, đấy là mũ của quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu An, treo ở đó đã từ ba hôm nay. - Quan sư phó đâu? Quan gia đâu, hôm nay có học không? Thái hậu dằn giọng hỏi và bà nhìn sói vào tòa nhà sừng sững, im phắc. Đám nô bộc ngơ ngác nhìn nhau khép nép. Rồi một lão nô vòng tay lễ phép thưa: - Tâu đức thái hậu, từ hơn hai tháng nay quan gia không lui tới điện Kinh Diên. Còn quan Tư nghiệp thì treo mũ ở đây đã ba ngày vẫn không thấy người trở lại. Thái hậu thở dài. Bà vừa buồn vừa giận. Giận con thì ít, giận mình nhiều hơn. Bà bước vào nhà bái đường, trông thấy mấy bọc quần áo và chiếc mũ treo ngoài cửa Huyền Vũ kia, thế là bà hiểu tất cả cơ sự. Bà không khỏi bàng hoàng về việc Chu An đã bỏ đi. Bà thật lấy làm tiếc. Âu cũng là bài học cho con ta và cả cho ta nữa, bà thành thật nghĩ như vậy. Và tận đáy sâu lòng mình, bà thấy kính trọng người thầy học này; kính trọng cả việc bỏ đi của ông ta nữa. Con người vừa lẫm liệt cao ngạo, vừa khí phách tiết tháo của một bậc nho giả, bậc thức giả. Chán vạn kẻ khác, nếu ở vào vị thế của ông ta là tự phụ tự mãn lắm rồi, quỳ gối uốn lưng cốt để làm vừa lòng thiên tử. Nỗi giận con lại cháy bùng lên, mặc dù bà là một người mẹ yếu đuối. Bà sai kiệu vào thẳng điện Thiên An và cho nổi trống đăng văn liên hồi. Các quan từ nhất nhị phẩm đến lục thất bát phẩm ở các đài, sảnh, viện, phủ đệ lục tục kéo nhau đến chầu. Tất cả đã gần đủ, chỉ thiếu có Dụ tông và dăm bảy viên đại thần nữa. Thái hậu sai đặt ghế cho bà ngồi trước ngai vàng. Thấy có cuộn giấy đã mở niêm phong đặt trên long án, bà liền trải ra coi. Bà không tin ở mắt mình ngay từ hàng chữ đầu: “Sớ xin trảm bảy tên đại gian thần". Lướt xuống trang cuối cùng thấy dòng chữ: "Chu An kính bái!". https://thuviensach.vn Thái hậu biến sắc mặt, và run bần bật. Bà cố trấn tĩnh để đọc lần lượt tên tuổi và tội trạng từng đứa. - Hoạn quan chi hậu cục Mai Thọ Đức, kẻ cai quản phi tần và tuyển chọn mĩ nữ, đã lạm dụng chức quyền bắt về vô số con gái nhà lương dân. Để nhiều người chết trẻ, chết già vì mòn mỏi trong cung thất, lại bầy ra các trò dâm ô trác táng, dẫn hoàng thượng vào con đường vô đạo. - Trâu Canh, viên ngự y phạm tội làm cho hoàng thượng liệt dương từ năm ba tuổi, lại bày trò phục dương cho bề trên khi mười lăm tuổi. Đã bắt cóc hai mươi mốt đứa trẻ khỏe mạnh, con nhà lương dân, giết đi lấy mật làm thang cho bài thuốc hồi dương của quan gia. Rồi bầy trò cho quan gia thông dâm với chị ruột mình, nói là phương thuốc chữa trị. Trong khi chữa trị cho quan gia, y lại thông dâm với cung nhân của chính quan gia. Trâu Canh là người Hán, cháu nội Trâu Tôn đi theo quân nhà Nguyên vào xâm lược Đại Việt, năm ất dậu (1285) thất trận bị bắt xin hàng, lại xin được cư trú. Nay y lộng hành, dẫn dắt đức vua vào con đường thương luân bại lý. - Bùi Khoan, chính chưởng phụng ngự. Bầy mọi trò cờ bạc, rượu chè dơ dáy ngay trong cung thất, dẫn đức vua vào mê lộ, bê tha như đám dân đen ngu muội. - Văn Hiến hầu can tội gây bè lập đảng khiến các đại thần chia rẽ, ngờ vực nhau. Làm cho đức vua khó phân biệt người ngay kẻ nịnh. - Hành khiển tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương xảo trá, dẫn vua vào con đường ăn chơi xa xỉ, tới cạn kiệt của kho nhà nước còn chưa đủ. - Hành khiển hữu ty, hữu bộc xạ Tâm Đức Ngưu đồng lõa với Nguyễn Thanh Lương tìm đủ mọi cách tăng thu thuế khóa, tăng các sắc thuế từ thượng cổ chưa có, để bòn rút của dân, lấy tiền chi vào các cuộc ăn chơi trác táng của hoàng thượng. Kể cả những năm mất mùa đói kém, dân chết đói đầy đường, chúng cũng không tha giảm. - Đoàn Nhữ Cẩu, đồng binh chương sự bòn rút khẩu phần của lính, các đồ binh khí đã cũ hỏng vẫn không chịu thay thế để lấy tiền công bỏ túi. Lại sao nhãng việc luyện tập canh phòng, biên cương phía Bắc, phía Nam gần https://thuviensach.vn như bỏ ngỏ. Hiện thời Chiêm Thành đang ráo nết nhòm ngó miền châu Hóa. Điều tệ hại đáng nói nhất là lũ gian thần này mượn danh hoàng thượng, để làm các việc mà nhìn bề ngoài thiên hạ cứ ngỡ là chúng làm vì hoàng thượng. Nhưng kỳ thực các khoản chi tiêu cho hoàng thượng chỉ một phần, còn vào túi chúng tới chín phần. Để giữ nghiêm phép nước, nối dòng đại thống từ Thái tôn cao hoàng đế, xin bệ hạ cho chém đầu bảy tên gian thần trên, và tịch thu sản nghiệp của chúng sung quốc khố, để làm gương răn kẻ khác... Đọc xong, thái hậu toát mồ hôi ướt đẫm cả mấy lần áo gấm. Mặc dù tiết trời giá lạnh mà thái hậu cảm thấy như có lò lửa đốt ngay trong bụng, trong ngực mình. Giữa lúc thái hậu đang nổi cơn thịnh nộ thì tại cung Cảnh Linh, Dụ tông vẫn say sưa hành lạc. Thình lình có kẻ đến báo, Dụ tông cùng bè lũ hoảng hốt lên kiệu hấp tấp vào thẳng điện Thiên An. Trông thấy Dụ tông mặt xám như chì, lại dẫn theo một bầy trong đó có gần đủ mặt bảy tên mà Chu An xin chém, lửa giận nổi lên đùng đùng, Thái hậu vỗ long án quát: - Quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu An, dâng sớ xin chém bảy tên gian thần, phạm nhiều tội đại ác. Ta y án! Giọng bà rít lên nghe ghê sợ - Nhưng ta còn muốn chém tên thứ tám nữa kia - thái hậu chỉ vào Dụ tông đang quỳ mọp, run bần bật - Hành án xong, triều đình sẽ nghị bàn lập vua mới! Nói xong, bà ngã ngất lịm từ ghế cao gieo xuống thềm điện. Lời thái hậu phán, như tiếng sét đánh vào điện Thiên An giữa một ngày đông không mưa gió. Các triều quan đều nghi hoặc những người theo nhà vua vào chầu muộn, hẳn là bọn bảy tên mà Chu An xin chém. Riêng Lê Quát và Phạm Sư Mạnh thì không những không nghi ngờ gì bọn chúng, mà chỉ thầm phục thầy mình nắm rất chắc tình hình nội trị trong. triều, và dám đưa ra một bản án vô tiền khoáng hậu trong lịch sử cổ kim. Vì ai cũng thừa biết bảy tên đó đang thao túng mọi mặt của triều đình. Các đài, sảnh, viện chẳng qua chỉ là hình thức của một bộ máy cai trị, chứ thực sự quyền điều hành công việc quốc gia đều nằm trong tay lũ gian thần ấy cả. Mà bảy tên https://thuviensach.vn đó lại là bảy tên chân tay thân tín nhất của đức vua. Có điều lạ, thái hậu chỉ nói Chu An xin chém bảy tên gian thần, chứ ngài chưa đọc rõ tên từng đứa. Nhưng mỗi triều quan đều ngầm hiểu chúng là những tên nào. Như vậy là tội ác của chúng đã quá rõ ràng, ai ai cũng thấy được, dân gian càng thấy rõ hơn, chỉ có đức vua anh minh là không thấy được. Khi thái hậu ngã xuống, các quan vội vã xúm vào khiêng bà sang thái y trang. Dụ tông sững sờ chưa biết phải làm gì. Giữa lúc mọi người đang rối bời lên, thì hoạn quan Mai Thọ Đức lạch bạch chạy vọt lên, vơ lấy toàn bộ cái nắm giấy (đúng ra là sớ thất trảm) mà thái hậu ném vào mặt Dụ tông. Việc sa vào thú ăn chơi để triều đình bê trễ khiến thái hậu uất lên mà lâm bệnh, làm cho Dụ tông có phần hối hận. Và lo lắng nữa. Nếu như mai đây bà hồi sức, lại thu lấy quyền chấp chính như Thượng hoàng, thì việc ông bị phế truất cũng có thể xảy ra lắm. Dụ tông hình dung đến việc thượng phụ (ông nội) ngài là đức Anh tông, chỉ uống rượu say nhân tết Đoan ngọ, bỏ mất một buổi thiết triều mà đức Nhân tông còn định phế truất. Ông tự nghĩ, lỗi của mình nặng quá. Nặng quá. Nhưng Dụ tông làm gì có thì giờ để nghĩ nhiều đến việc đổi lỗi, như Anh tông ngày trước. Bọn gian thần luôn luôn đến săn sóc ngài, chỉ dẫn cho ngài những việc dối trá cần phải làm, để che tai bịt mắt thái hậu. Hành khiến tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương rỉ tai nhà vua: "Bệ hạ phải luôn túc trực bên thái hậu, cho tới khi nào thái hậu bình phục hẳn rồi lựa lời xin ngài tha cho. Tình mẫu tử, thần tin là thái hậu không cố chấp đâu. Nhất là bệ hạ phải làm ra vẻ buồn rầu, ân hận đến héo hon, ắt thái hậu sẽ động tâm. Lại nữa, cấm ngặt không cho đám học trò của Chu An và các bọn khác vào thăm hỏi chuyện trò với thái hậu. Nếu việc này không giữ cho nghiêm cẩn, bệ hạ sẽ nguy dấy". Đồng binh chương sự Đoàn Nhữ Cẩu cũng vào cung tâu nhỏ: "Thần sẽ nắm chắc quân ngoài các lộ, các trấn đề phòng bất trắc. Nhưng để yên lòng trăm quan và dân chúng kinh kỳ, xin bệ hạ dụ cho đại hành khiển Tri khu mật viện sự Nguyễn Trung Ngạn, duyệt cấm quân tại Giảng Võ đường, tại bến Đông-bộ-đầu và hồ thủy quân, cho dân chúng kinh kỳ xem...". Bọn https://thuviensach.vn gian thần cứ thay nhau ém nhà vua như thế, hóa ra tiếng nói trung thực không lọt tới tai vua. ( Cấm quân túc trực thuộc thượng thư sảnh điều hành. Nhưng từ năm Ất tị (1341) Nguyễn Trung Ngạn được coi Tri khu mật viện thì giao luôn cả cấm quân cho Tri khu mật viện điều hành.) Trâu Canh không dám xuất lộ, nhưng y vẫn lén lút cho người đến dâng thuốc hàng ngày. Thật tình y lại thấy mừng, vì nếu hoàng thượng cứ phải túc trực bên thái hậu độ mươi ngày, thì thuốc của y công hiệu không biết đâu mà lường. Trong những ngày thái hậu lâm bệnh, hoàng trưởng tử Cung túc vương Nguyên Dục cũng vào ra cung Thánh từ thăm viếng hậu. Thái hậu vẫn có lòng thương Nguyên Dục là trưởng tử mà không được lập. Bởi Minh tông tính rất nghiêm; ngài không câu nệ việc lập trưởng hay lập thứ ở ngôi. Mà ngài chỉ quan tâm đến tư chất người ở ngôi cao, có đủ tài đức trị vì một quốc gia hay không. Nguyên Dục vì ham mải chơi bời, đắm chìm trong hoan lạc, thượng hoàng đã nghiêm dạy nhiều lần vẫn không chịu đổi lỗi, nên không cho lập. Khi Minh tông truyền ngôi cho hoàng tử Vượng là con bà thái hậu Minh từ, Dục vẫn ngầm oán cha. Tới khi Hiến tông yểu thọ mà băng, Minh tông lại lập thái tử Hạo lúc ấy mới có sáu tuổi lên ngôi, thì Nguyên Dục yên tâm rằng mình bị phế. Dù sao thì Dục cũng tạm bằng lòng vì Hạo và Dục là hai anh em cùng mẹ. Và hai người tính nết cũng hợp nhau. Nhưng cũng từ đây, Dục lao vào con đường ăn chơi đến cùng xa cực xỉ. Từ khi thượng hoàng băng, hai người đi lại với nhau thân tình lắm. Nay nhân có chuyện thái hậu bất bình, Dụ tông có ý nhờ Cung túc đại vương giải hòa. Nguyên Dục đã có đôi ba lần nói, bà thái hậu vẫn còn im hơi lặng tiếng chưa tỏ lộ điều gì. Nhưng bà vẫn chú ý xem Dụ tông có thật sự ăn năn không. Từ bữa hồi tỉnh lại tới nay, cứ lúc nào mở mắt bà đã thấy Dụ tông ân cần thăm hỏi. Ngày ba lần nhà vua tự tay bê thuốc mời bà uống. Nét mặt lúc nào cũng rầu rĩ. Ngoài việc hầu thuốc, nhà vua kê ghế ngồi ngay dưới chân ngự tẩm đọc sách suốt ngày. Có lúc Dụ tông ra ngoài, bà đã xem thử nhà vua đọc sách gì. Hóa ra con bà nghiền ngẫm kinh Xuân - Thu. Đọc kinh Xuân - Thu của đức Khổng Phu Tử, lại biện biệt được lẽ phải quấy, ác thiện https://thuviensach.vn thời gỗ đá cũng trở thành hiền nhân quân tử; xưa bà đã nghe Minh tông nói vậy. Thật ra thái hậu đã mềm lòng. Nhiều lúc bà muốn gọi nhà vua lại, nói đôi điều hòa giải cho tình mẫu tử lại yên ấm như xưa. Nhưng bà cứ vờ nén tâm để thử thách con thêm dăm ba ngày nữa. Tội nghiệp cho bà thái hậu nhân từ, bà đâu biết con bà sầu héo là vì nhà vua nhớ tới các cảnh hoan lạc bên cung Cảnh Linh, tự nhiên phải đứt đoạn. Nhất là Trâu Canh phục thuốc cho ông, sức lực xem ra đã sung mãn, đã rạo rực lắm rồi. Dụ tông béo hẳn ra, da dẻ đỏ tự. Hằng ngày, trước khi vào chầu thái hậu, hoạn quan Mai Thọ Đức phải lấy tro bếp trộn với sáp rồi thoa lên mặt cho nhà vua, lại dặn phải ngồi vào chỗ tối, vì mắt thái hậu kém, sẽ không nhận thấy Dụ tông nuôi mẹ ốm mà béo ra. Còn sách, thì nhà vua cứ mở hàng chục trang một mà không đọc được chữ nào. Dụ tông đang nóng lòng chờ hòa giải xong với thái hậu, để lại tiếp tục các thú dâm bôn. Với ông lúc này, một trăm đức Khổng Tử cũng không bằng bộ ngực con mĩ nữ mà ông đang khao khát tới cháy lòng. Bữa nọ thái hậu gọi Dụ tông đến bên giường phán bảo: - Quan gia đã nhận ra lỗi lầm của mình chưa? Lòng Dụ tông vui khôn xiết tả. Ông biết thời cơ đã đến, nhưng nếu hấp tấp thì lại hỏng. Bởi vậy ông hết sức gìn giữ lòng mình, làm ra vẻ khổ đau ân hận lắm. Ông nói lí nhí như rặn ra từng tiếng một: - Trăm lạy mẫu hậu đại xá. Dụ tông mới chỉ thốt ra được có sáu tiếng thôi mà bà thái hậu đã ngồi bật dậy. Mới hay lòng hiếu kính của con cái còn quý hơn nhiều lắm, tác dụng hơn nhiều lắm so với các loại sâm, nhung, quế, phụ. Khốn thay bà thái hậu với từ tâm của người mẹ, có biết đâu những lời nói kia chỉ là lời điêu sảo. Vì không phải các việc con bà làm bị sai hỏng, mà nó sai hỏng tự cái tâm của nhà vua. Sự thật ông ta có nói gì đâu, có hứa hẹn đổi lỗi gì đâu. Mục đích của ông ta chỉ gói gọn trong hai chữ "Đại xá". Có nghĩa là xin mẹ đừng truất ngôi con. Hiển từ thái hậu ân cần nói với nhà vua: https://thuviensach.vn - Quan gia, dù sao thì mẹ con ta cũng phải kiểm xét lại cái "sớ thất trảm" của ông Chu An, xem kẻ nào đáng tội thì phải xử để giữ nghiêm phép nước. Ta định xong rồi sẽ đưa sang Viện Đăng văn, cho bọn đình úy nghị tội, theo quốc triều hình luật. Nghe mẹ nói, Dụ tông bủn rủn cả người, nếu như bà nhất quyết đòi chém đầu cả bảy tên ấy, thì ta như người cụt hết tay chân đầu óc. Nhưng trong lòng ông không khỏi thán phục bọn kia, vì tất cả sự nghĩ hiểu của mẹ con ông, đều nằm trong dự liệu của họ cả. Vì vậy ông bình tĩnh đáp lời thái hậu: - Trăm lạy, con xin nghe sự phán xét của mẫu hậu. - Theo ý quan gia thì viên Chi hậu cục Mai Thọ Đức là người thế nào? Bà thái hậu lần lượt đưa ra điểm xét từng tên một. Không cần nói vội, Dụ tông làm ra vẻ nghĩ suy đắn đo lắm. Lâu sau nhà vua mới nhẩn nha đáp: - Tâu mẫu hậu, viên hoạn quan này được phụ hoàng con lựa tuyển, và đã được người huấn dạy chu đáo, tin cẩn. Con vẫn sắp đặt ông ta ở các công việc xưa phụ hoàng đã cho làm, chứ chưa có dám thay đổi gì. Con sợ nếu tự ý thay đổi sẽ mang tội bất kính với tiên đế. Vả lại ông ta cũng chưa có biểu hiện gì lầm lỗi. Lại đến lượt bà thái hậu suy nghĩ. Bà buột miệng hỏi: - Thế còn những lời buộc tội của ông Tư nghiệp Chu An thì sao? - Lạy mẫu hậu. Chu An là một nhà giáo, nên ông nhìn các sự việc thường khắt khe. Nghe ra cũng có lý, bà Hiển từ lại hỏi đến viên ngự y Trâu Canh. - Tên thầy thuốc này, theo ta thời nó ác độc quá, phải trị tội Không thể cứu một người khỏe mạnh như con, mà phải giết tới hai mươi mốt người khác. Lại còn cái chuyện y xui con làm điều thương luân bại lý với chị con. Tiếc thay, các việc ấy có nhẽ cả triều đình đều biết, cả nước đều biết, chỉ riêng mình ta, nay mới được biết! Thái hậu buông một tiếng thở dài. Dụ tông đang trầm ngâm nhớ lại các điều mà ông đã được biết, cũng như những điều lũ "thất trảm" bầy trước cho ông. Một lát sau, nhà vua với giọng buồn bã đến thảm thiết tâu: https://thuviensach.vn - Trăm lạy mẫu hậu, đúng là nếu chỉ nhìn vào các hành vi của quan ngự y, thời đáng trăm lần xử giảo. Nhưng mẫu hậu thử nghĩ lại đêm trung thu năm Kỷ mão (1339) xem? Mới nghe nhắc đến cái đêm ghê rợn ấy, bà thái hậu đã rùng mình. Dường như cảnh ấy vẫn chưa phai trong đầu óc bà. Bà nhớ đó là một đêm trăng sáng, bà cùng nhà vua đi trên chiếc lâu thuyền để ngắm trăng Dâm Đàm và xem dân gian thả các loại đèn xếp trên mặt hồ. Cảnh tượng thật là đẹp. Cứ như cả một trời sao, sa xuống mặt nước hồ. Còn quanh hồ thì người trong các phường đổ ra rước đèn, múa lân và hát hò giao duyên vừa vui tai, lại vui mắt. Rõ là một thời thái bình. Cuộc chơi đã tàn, nhà vua và hậu lên kiệu thời không thấy hoàng tử Hạo (húy của Dụ tông) đâu cả. Hỏi nhũ mẫu, nhũ mẫu nói hoàng tử đòi lại với mẫu hậu. Đúng là lúc ấy bà có ẵm hoàng tử một lúc. Nhưng rồi hoàng tử lại đòi về với nhũ mẫu. Ai dè hoàng tử lăn xuống nước lúc nào không ai hay. Hô hoán lên, vua sai cả đội quân thủy rải ra khắp mặt hồ, và ven các bến bãi quanh hồ. May thay tìm thấy hoàng tử trôi vào cái lờ đơm cá của dân chài, nằm chết cứng trong hom chiếc giỏ thời. Người ta bắt hoàng thượng và hoàng hậu không được nhìn vào hoàng tử, họa chăng mới cứu nổi. Lập tức Trâu Canh được triệu đến, y đã châm cứu các huyết mạch chừng đến nửa trống canh mới thấy nước trong bụng hoàng tử ộc ra, mi mắt hơi động đậy. Ngày ấy hoàng tử chưa đầy ba tuổi. Trâu Canh cũng nói hoàng tử lớn lên sẽ bị liệt dương, không thể có con được. Đúng là Trâu Canh đã cứu sống hoàng tử, nếu không bà sẽ phải ân hận suốt đời. Vì thế bà đã tâu với hoàng thượng sung Trâu Canh vào thái y viện. Còn như bây giờ Chu An nói, y cố tình làm cho thái tử bị bệnh ấy để có cớ tiến thân. Chẳng biết hư thực thế nào. Thái hậu lại nghĩ, ơn ấy coi như bà đã trả cho Trâu Canh rồi. Nhưng còn cái tội giết hai mươi mốt đứa trẻ con nhà lương dân lấy mật làm thang thuốc, cùng cái trò vô luân bỉ ổi kia thì phải trị tội chứ. Khó nhọc lắm thái hậu mới lại nói được nên lời: - Thế còn các tội khác của Trâu Canh thì phải trị chứ quan gia? Như tội giết trẻ con chẳng hạn. https://thuviensach.vn - Bẩm mẫu hậu, vào năm Tân mão (1351) con 15 tuổi, tức là đến tuổi trưởng thành của người con trai thì Trâu Canh dâng phương thuốc phục dương. Con thấy việc này là cần cho con, nhưng phương hại nhiều lắm, nên không dám tự quyết. Con có nói y đem trình thượng hoàng. - Ý thượng hoàng thế nào? Thái hậu nóng lòng hỏi. - Dạ bẩm, phụ hoàng con chấp thuận. - Có đúng phụ hoàng con chấp thuận không? Giọng thái hậu nửa phần nghi hoặc nửa phần lo sợ. - Tâu mẫu hậu con không dám sai lời. Sau khi phụ hoàng con chấp thuận bèn mật giao cho hoạn quan chi hậu cục Mai Thọ Đức, là người tin cẩn lo liệu. Nếu mẫu hậu không tin lời con thời cho Chi hậu cục vào đối chất. Cả hiền tỉ con, công chúa Thiên Ninh chắc cũng chưa quên việc này. Dụ tông nói trôi chảy, lại có phần đanh thép nữa. Chính vì thế mà bà thái hậu thất vọng. Hình ảnh bậc minh quân đức độ như Minh tông, suốt một đời bà thờ phụng, nay cái tấm mạng che ấy rơi bịch xuống đất rồi. Bà nhìn gương mặt ông ghê tởm, như mặt của một tên đồ tể đóng giả đấng minh quân. Còn Dụ tông thì nói làm gì. Tuổi trẻ vừa háo sắc lại háo dục, vả lại nó được cha dung dưỡng. Bà thốt ra mấy tiếng lục bục như trẻ con tập nói: - Bất nhân! Bất nhân ! Dụ tông nghe được các lời ấy, bèn vội vã phân bua: - Tâu, việc không phải chỉ có thế. Phụ hoàng con làm chỉ vì mẫu hậu đó thôi. - Vì ta? Bà nói như thét lên. - Bẩm vâng, xin mẫu hậu bình tâm để con nói. Chẳng là mẫu hậu chỉ sinh được hai anh em chúng con là trai. Huynh trưởng con vì tính tình phóng đãng nên phụ hoàng không cho nối ngôi. Việc ấy khiến mẫu hậu càng buồn. Lại nữa tới khi ấy Cung túc vương vẫn chưa sinh con. Mà thầy thuốc cho biết huynh trưởng con mắc chứng bệnh vô sinh khó chữa. Nếu con suốt đời mang bệnh, thời hai anh em con đều vô sinh. Việc đó khiến cho mẫu hậu rất buồn, vì phụ hoàng con, ngoài mẫu hậu ra còn nhiều bà phi khác, con cháu đông đúc chả nói làm gì. https://thuviensach.vn Thái hậu chép miệng thở dài: - Ta không ngờ thượng hoàng hẹp lượng thế. Các con cháu của thượng hoàng không phải là con cháu ta sao. Với lại, ta thà không có cháu ruột còn hơn phạm vào tội ác giết người. Dụ tông cảm thấy buốt nhói ở trong lòng. ông tự nghĩ: "Vậy là mẫu hậu không thương ta, không cảm thông với nỗi khổ đau bệnh tật của ta". Nhà vua sắp nói, mà không hề nghĩ rằng mình nói ra những điều tàn nhẫn, bất nhân. - Con thấy mẫu hậu không nên quá quan hoài đến vài chục cái mật của đám trẻ con bẩn thỉu kia. Thử hỏi, mạng sống của chúng có gì đáng quý. Đến hàng ức vạn đứa cũng thế thôi, cứ gì vài chục đứa. Trời sinh ra thế. Phượng hoàng ăn thịt các loài chim thú yếu hơn nó. Con hổ ăn thịt con chó sói. Con chó sói ăn thịt con cáo. Con cáo ăn thịt con thỏ... Còn như sinh mệnh của trăm họ đều thuộc quyền vua. Vua muốn làm gì thì làm. Xin mẫu hậu cho qua chuyện ấy để khỏi mang nỗi u buồn, có hại cho tuổi già. Nghe Dụ tông nói, thái hậu rụng rời hết cả tay chân. Bà không ngờ. Thật không ngờ con bà lại ác độc đến thế. Bà không nói được lời nào nữa. Nước mắt bà cứ xối tuôn ra không cầm giữ được. Thấy mẹ buồn, lại có ý như giận cả hai cha con nhà vua, nên Dụ tông nói thêm để an ủi mẹ: - Vả chăng mẫu hậu nên biết, phụ hoàng con làm các việc đó cho con, không phải chỉ vì con, mà còn vì mẫu hậu như con vừa nói. Thêm nữa, phụ hoàng con muốn nhân việc này chuộc cả sự lầm lỡ về cái án của quốc phụ thượng tể năm Mậu thìn (1328). Dụ tông không ngờ, ông đã khoét sâu vào vết thương không bao giờ kín miệng của mẹ từ hơn ba chục năm nay. Thái hậu ngồi phắt dậy. Đôi mắt bà ráo hoảnh, vằn những tia máu. Bà nhìn thẳng vào cặp mắt của Dụ tông, nhưng không thấy gì cả. Mắt bà lạc đi như mắt người điên. Hiện ra trước mắt bà là máu. Máu của bố bà chảy phọt lên từ chiếc cổ không đầu, nhuốm đỏ toàn thân, lênh láng thành vũng dưới chân cột pháp trường. Còn chiếc đầu rụng xuống đất, mắt vẫn mở trừng trừng, như là ngơ ngác tự hỏi: "Vì sao ta chết?". https://thuviensach.vn Vụ án như một vết nhơ không bao giờ gột rửa được của triều Minh tông. Chính Minh tông đã giết chú mình cũng tức là giết bố vợ mình - người mà ông ta tôn làm quốc phụ thượng tể. Chuyện thật là vớ vẩn. Chỉ vì bè này đảng nọ, chỉ vì hiềm khích, chỉ vì tham vọng quyền lực và ngôi báu. Tên vô lại Cương đông Văn Hiến hầu đem một trăm lạng vàng đút lót cho thằng Trần Phẫu, gia thần của cha ta, để nó vu cho cha ta là mưu phản. Việc này còn có tên hành khiến thiếu bảo Đỗ Khắc Chung tòng phạm, cùng với người đồng hương ở Giáp Sơn là thái phi Lê thị - kẻ đã sinh ra thái tử Vượng (Hiến tôn), mưu đánh đổ cha ta, cũng tức là đánh đổ ta để lập con thị. Chuyện không có chứng cớ gì mà Minh tông giết cha ta. Nhớ ngày ấy, nhà vua nhốt cha ta vào ngực không cho ăn uống. Ta phải mặc áo ướt vào trong tù thăm cha, rồi vắt kiệt áo lấy nước cho cha uống. Chao ôi, nhớ mãi ánh mắt cha ngày ấy. Đó là thứ ánh sáng sầu thảm, ai oán và căm giận. Ánh sáng kết tụ từ đôi mắt cha ta, là mối oan khuất muôn đời không gì hóa giải được. Thế rồi chỉ vài năm sau, vì ghen tuông, vợ tên Phẫu đã tố giác việc này ra. Minh tông vờ hối hận, cho phục các chức tước hão, còn cha ta thì chết thật! Lại đến bây giờ phải nghe thằng con ta nói vài chục mạng người, hàng ức vạn người có giết đi thì cũng chẳng việc gì phải hối. Nó lại ví nó với cha nó, cái lũ làm vua ấy, dẫu có ăn thịt người thì cũng giống như con hổ, con sói ăn thịt các loài cáo, cầy, thỏ, chuột. Ôi, những tên vua hung bạo, đúng là những con hổ, con sói hai chân. Thái hậu rền rĩ, lòng bà như rỉ máu. Bà tự nói với mình. "Bất hạnh thay, ta đã lấy phải một con hổ hai chân, rồi lại sinh ra một con sói hai chân nữa. Tiếc thay chúng không có vằn lông mà lại khoác hoàng bào, đội vương miện nên người đời khó nhận ra. Lịch sử có thể tôn Minh tông như một đấng minh quân thì kệ thây lịch sử. Với ta, ông ấy chỉ là một tên nghịch tử, bất hiếu, bất mục - một đấng ngu quân trở thành bạo chúa". Thái hậu mệt mỏi - lịm ngất đi, nhưng Dụ tông lại tưởng bà thiếp ngủ, nên nhà vua lui xuống chiếc ghế ở chỗ tranh tối tranh sáng, để lại đọc cuốn thánh thư của đức Khổng Phu Tử. https://thuviensach.vn Việc xét định "thất trảm sớ" còn kéo dài vài ba ngày nữa. Nhưng Dụ tông đã biện minh cho tất cả bọn chúng trắng án. Vì một lẽ rất giản đơn rằng, các vị đại thần ấy, công thần ấy thuần là người của tiên đế để lại, mà tội trạng thì chưa có gì minh bạch cả. Hoặc có người mà tiên đế đã tha cho từ trước, như Trâu Canh chẳng hạn. Thật ra thì không phải chỉ có bảy tên như Chu An đòi trảm, mà là tám tên kia. Bởi bữa trước tại triều, bà Hiển từ thái hậu đã chỉ vào Dụ tông nói: "Ta còn muốn chém tên thứ tám nữa!". Và nếu như việc đó có xảy ra, thời cũng phù hợp với ý nguyện của muôn dân. Bảy hoặc tám tên gian quân, gian thần thời Trần Dụ tông tuy thoát cảnh rơi đầu, nhưng bản án của chúng do một con người phách lực như Chu An cáo giác, thì vẫn còn treo lơ lửng trên đầu mọi triều đại. https://thuviensach.vn III Thế là vụ sớ "thất trảm" của Chu An bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Lũ "thất trảm" được vua về hùa thắng thế, càng huênh hoang lấn lướt các bậc trung thần. Chúng còn phao tin rằng sớ "thất trảm" chỉ là cuộc gây rối của một ông đồ gàn, khí tiết hão, may mà hoàng thượng nể mặt là thầy học, nếu không thì Chu An cũng mất đầu rồi. Bọn chúng tha hồ thao túng, mà Dụ tông thì cứ mỗi ngày một mê muội đắm chìm trong sắc dục. Nghi thánh hoàng hậu - công chúa Ý Từ ( Ý Từ với Dụ tông là anh em họ nội), con gái của bình chương sự Huệ túc vương; cùng thứ phi Triều Môn - con gái của thái úy Nguyên Trác, bấy lâu Dụ tông cũng bỏ mặc trong cảnh phòng không gối lẻ.( Triều Môn là cháu ruột của Dụ tông. Vì Nguyên Trác với Dụ tông là anh em cùng bố khác mẹ). Viên hành khiển tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương còn giảng giải cho Dụ tông mọi nhẽ huyền vi của trời đất. Rằng số của Dụ tông lẽ ra phải chết từ năm ba tuổi. Vì trong thân, mệnh cung của nhà vua tuy có Thiên khôi, Thiên quý, Thiên tài, nhưng bị Địa không, Địa kiếp, Phi liêm án ngữ. May mà cung phúc đức lại có Thiên Đức với Tả phù, Hữu bật giải cứu, nếu không thì khó thoát cái hạn năm ba tuổi ở hồ Dâm Đàm. Nhưng xét cung điền trạch có chính tinh Liêm trinh, là ác tinh tọa thủ. Lại hợp với một bầy ma quỷ là Hóa kỵ, Tang môn, Đại hao cùng các hung tinh là Hỏa, Linh hội tụ, thì nhà vua không thể cư ngụ trong những chính điện do các tiên đế để lại được. Ngay từ đầu năm chúng đã mời Dụ tông về ngự hẳn tại cung Cảnh Linh. Sự thật, Cảnh Linh là nơi xa cung Thánh Từ nhất, bà thái hậu không dễ dàng lui tới kiềm chế. Ngay cung Cảnh Linh, chúng cũng cho là không hợp với tuổi xuân của nhà vua. Phải tạo lập các cung thất mới, hợp với số mệnh của vua, may chăng hoàng thượng còn trường thọ mà hưởng thụ các thứ quý lạ ở trên đời. Việc này, Dụ tông còn băn khoăn lắm. Ở hẳn cung Cảnh Linh thì ông không phản bác gì. Bởi vì đây là cung sang quý nhất trong các cung điện https://thuviensach.vn mà các bậc tiên đế để lại. Chẳng thế, hồi quân Nguyên xâm lấn, Thoát-hoan cũng chọn cung này làm nơi hành lạc. Nhưng còn việc xây cất hàng loạt cung thất mới, thì lấy đâu ra tiền bạc mà làm, Dụ tông đem điều đó hỏi lại hành khiển tả ty Nguyễn Thanh Lương. Nguyễn Thanh Lương ung dung đáp: - Tâu hoàng thượng, thần vì sự trường cửu của triều ta mà ra công sắp đặt việc xây cất, kỳ cho hoàng thượng thấy được cảnh tiên nơi hạ giới này mới nghe. Còn tiền bạc thì dựa vào quốc khố. Việc này chỉ có quan hữu ty mới biết rõ. Nói rồi y hất hàm sang phía hành khiển Tâm Đức Ngưu. Tâm Đức Ngưu cười khẩy, rồi y nghiêm mặt tâu: - Trình thánh thượng, nếu thánh thượng cho những điều chúng thần tâu là vì thánh thượng, thời chỉ xin thánh thượng châu phê, còn tiền bạc thì thánh thượng khỏi phải quan hoài đến, thần đã có cách. - Tức là khanh lại tăng thu thuế khóa? Dụ tông hỏi. - Tâu bệ hạ, tiền của ở trong dân như nước, lấy lúc nào, lấy như thế nào, mẹo ấy là ở chúng thần, còn thuế khóa cũng chỉ là một phương sách thôi ạ. Dù sao thì Dụ tông cũng còn phân vân. Sau cái vụ "sớ thất trảm" ông vẫn chưa hoàn hồn. Vả lại còn những tay trung thần lẫm liệt như Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát... cùng biết bao các vương hầu như Trần Nguyên Đán cũng là tướng kiêm thông văn võ kiệt hiệt lắm, dễ gì che tai bịt mắt họ. Đùng một cái, trời không mưa không gió mà sét đánh sạt một góc điện Thiên An. Từ cung Cảnh Linh trở về, xem tận mắt một góc điện cháy đen thui, đất dưới nền điện sụt sâu hàng trượng, rắn như gạch nung, Dụ tông tái mặt. Trong bụng nhà vua hoang mang sợ hãi lắm. Từ đấy, lũ "thất trảm" nói gì nhà vua cũng tin. Vài ngày sau đó, cung điện mới được hưng công. An phủ sứ các lộ ngày đêm hối thúc dân vào rừng già kiếm tìm gỗ quý như ô mễ( gỗ mun, sắc đen), gụ, lim, đinh, vàng tâm, thạch lát. Số lượng, kích thước, chủng loại triều đình đều đã có phân bổ và quy định rõ ràng, tới mức không gì có thể lầm lẫn được. Các lộ, trấn còn phải săn lùng cho bằng được các thứ chim quý, thú lạ, các kỳ hoa dị thảo cùng là kỳ nam, trầm hương, tùng hương; các loại ngọc quý, đá quý để https://thuviensach.vn trang điểm cho vườn ngự và trang trí cung thất. Những loại này tùy từng địa phương có sản vật hay không mà phân bổ. Các địa phương không có sản vật, được nộp bằng tiền hoặc vàng thay thế. Ngoài ra các lộ cũng phải cung hiến thợ giỏi, gạch, đá cùng phu phen tạp dịch và gạo thóc đem theo tự nuôi lấy thợ của mình. Lại nói về bà Hiển từ thái hậu, từ sau bữa nổi trống coi chầu ở điện Thiên An, và sau các cuộc bàn luận với Dụ tông về lũ gian thần trong sớ "thất trảm" của Chu An thì tinh thần bà sụp hẳn. Bà không hề màng tới việc con bà làm những điều phải quấy, ác thiện ra sao nữa. Bà thây kệ sự đời. Bà chỉ xót đau cho thân phận cha bà bị chết thảm thương, oan uổng. Cũng từ bữa Dụ tông khơi lại chuyện cũ, bà căm ghét cả hai cha con nhà vua. Dạo này bà hay đi cúng cầu lễ bái ở các cửa đền, chùa. Lòng bà rất muốn chịu pháp giới nhà Phật cho thanh thản, nhưng đã trót hứa với Minh tông trước khi ông ta qua đời. Vì ông ta cứ nài nỉ: "Sau khi ta chết thì người nên ở lại cung Thánh Từ, đừng xuất gia". Không xuất gia, nhưng Hiển từ vừa nhờ vị hòa thượng ở chùa Diên Hưu thiết lập một điện thờ Phật tại gia ở ngay Song hương đường( Nơi ở chính của thái hậu trong cung Thánh Từ). Thái hậu chưa nghĩ đến cái chết, nhưng thực tình bà chán ngán hết thảy. Ngay cảnh lầu son điện ngọc, với bà cũng chỉ là một thứ giam cầm trói hãm. Dụ tông hụp lặn trong trường hoan lạc dâm bôn với lũ gian thần không gì ngăn cản được đã đi một nhẽ, song còn Cung túc vương Nguyên Dục, huynh trưởng của nhà vua thì sống ra sao? Nếu như Dụ tông vì thể diện là đấng quân vương, các trò khả ố chỉ diễn ra trong cung Cảnh Linh cùng với một số gian thần, thì Cung túc vương Nguyên Dục không có gì phải gìn giữ. Ông ta hành lạc ở bất cứ nơi nào ông ta muốn. Nhất là từ năm Đinh dậu (1357), thượng hoàng Minh tông mất đi, không còn ai chế hãm nữa thì anh em Dụ tông càng đi sâu vào con đường phóng đãng. Và nữa, ngay cả khi Minh tông còn sống cũng không ngăn được Nguyên Dục. Nhớ một bữa Nguyên Dục đi xem đám giáo phường trình diễn tích "Vương Mẫu hiến bàn đào". Chính là gánh hát của vợ chồng nhà Dương Khương. Thấy Dương thị (vợ của Dương Khương) đóng vai https://thuviensach.vn Vương Mẫu đẹp quá, hát hay quá, Nguyên Dục mê liền. Dương thị quả là một người đàn bà nhan sắc. Nàng có khuôn mặt trái xoan thanh tú, chiếc mũi nhỏ và thẳng, đôi môi đỏ mọng lúc nào cũng chúm chím như hé cười. Mà khi nàng cười thì hai hàm răng của nàng ánh lên như những viên ngọc tỏa sáng. Giọng hát của nàng mới mê đắm làm sao. Khi nàng đã cất tiếng lên, chẳng khác gì tiếng chuông vàng trong trẻo, cứ len lỏi vào tận đáy sâu huyết quản ta, óc não ta, và nó cứ ngân vang mã' mãi trong lòng ta. Lại đôi mắt nàng nữa chứ, đôi mắt lá răm lúng liếng như là có thần nhãn, vì nó phát hào quang trùm sáng cả gương mặt ai được nàng nhìn tới. Còn tóc nàng thì là cả một suối mây đen nhức. Và da nàng mịn trắng với hai má hồng mũm mĩm như hai trái đào tiên. Ngay từ phút đầu, Nguyên Dục đã được mắt nàng soi chiếu, khiến cho tâm hồn đại vương cứ bấn loạn cả lên. Đại vương len vào giằng lấy trống chầu. Nhưng hết cả một tích trò, đại vương cứ đờ đẫn như người ngây, không điểm được một tiếng trống nào đúng nhịp. Tích trò đã mãn, phường đã xếp gánh mà Cung túc vương tay vẫn khư khư nắm chiếc dùi trống, mắt vẫn cứ còn dán vào phía sau cánh gà. Dương Khương khúm núm quỳ trước Cung túc vương mà rằng: - Bẩm đại vương, chẳng hay đám giáo phường chúng tôi có phạm điều gì bất kính với đại vương không, mà mãn cuộc trò vẫn chưa thấy đại vương hồi quý phủ? Cung túc vương giật mình nhìn xuống, hóa ra không phải là "Vương Mẫu". Ông hơi bực mình gắt: - Nhà ngươi muốn gì? - Dạ tâu đại vương, trò đã mãn rồi ạ. - Ờ, ờ… Cung túc vương như vẫn còn mê đắm "Vương Mẫu" mà chính là Dương thị thủ vai. Đoạn ông lại hỏi: - Ai là chủ gánh trò này? Dương Khương đáp: - Tâu đại vương, chính là kẻ tiểu nhân này. - Chẳng hay "Vương Mẫu" là ai đó? - Nguyên Dục hỏi. - Dạ bẩm, mụ đó là vợ của tiểu nhân. https://thuviensach.vn Cung túc vương trừng mắt quát: - Hỗn! Sao ngươi dám gọi "Vương Mẫu" là mụ? Ta cấm đó, từ nay chỉ được gọi nàng là "Vương Mẫu". - Dạ, xin tuân ý bề trên. Vậy là từ đấy Dương thị mang tên "Vương Mẫu", ngay cả khi thị không đóng tích trò. Rồi Cung túc vương xuống lệnh: - Toàn ban hát của nhà ngươi về phủ ta diễn một tháng. Dương Khương mỉm cười nịnh bợ. Trong thâm tâm y cũng linh cảm có một điều gì đấy chẳng lành, nên y khéo léo chối từ: - Bẩm vương, tích diễn của bản phường ít lắm ạ, làm sao mà mua vui được cho đại vương lấy cả tháng. - Ngươi có mấy tích trò cả thảy - Nguyên Dục hỏi. - Trình bề trên, chúng tôi chỉ có ba tích thôi ạ. - Tích gì? - Dạ! Một là "Vương mẫu hiến bàn đào". - Ta biết rồi! Cung túc vương ngắt lời - Nói các tích khác. - Dạ! Tích thứ hai là "Chung Vô Diệm phó hội kỳ bàn". Tích thứ ba là... là... - Dương Khương ấp úng. Cung túc vương gắt: - Là cái gì, ngươi không biết à? Dương Khương đỏ mặt với vẻ ngượng ngùng nói khẽ: - Dạ, tích thứ ba là "Dương Khương lập nghiệp". Cung túc vương sửa luôn: - Ngươi nói sai rồi. Có phải ngươi muốn nói tới tích Khương Tử Nha giúp Vũ Vương mở nghiệp cho nhà Chu? Dương Khương ngượng chín người, nói lại: - Bẩm vương, "Dương Khương lập nghiệp" chính là tích trò kể về kẻ tiểu nhân này. - Sao lại thế ? Nguyên Dục ngạc nhiên hỏi. - Dạ bẩm, vợ chồng tiểu nhân thường bảo nhau: "Đời chúng mình cũng lắm chuyện hay, tội gì không đem ra diễn cho thiên hạ xem". Thế là hai vợ https://thuviensach.vn chồng kẻ tiểu nhân này bèn sắp xếp lại thành tích trò, và diễn. - Có hay không? Công chúng có xem không? Nguyên Dục hỏi. - Dạ, công chúng xem còn đông hơn cả các tích khác. Bởi vì vợ chồng tiểu nhân diễn cứ gọi là khóc thì khóc hết nước mắt, mà cười thì cười xoắn cả ruột lại. - Thôi, thế là đủ rồi, các ngươi vào luôn phủ ta nghỉ đêm nay. - Dạ, xin dại vương rộng cho khi khác. - Không được. Ta đã bảo vào phủ ta là phải vào. Dương Khương lại xin: - Dạ, tâu bề trên, ngày mai làng tôi mở hội, chúng tôi phải về diễn cho dân làng xem. Dương thị giấu mặt, nhưng nghe thấu cả chuyện bèn chạy ra trước Nguyên Dục vòng tay kính cẩn nói, thị vẫn còn giữ nguyên áo mũ "Vương Mẫu". - Tâu đại vương, chồng thiếp là kẻ quê mùa thường hay thủ tín, nhất là với dân làng, nơi mình sinh sống suốt đời. Nhưng thiếp tôi trộm nghĩ, cơ may được ra mắt đại vương thời ngàn năm chỉ có một lần thôi, nên không được phép chối từ. Vả lại mình ạ, thị nhìn vào mắt chồng nói - với dân làng, vợ chồng mình đành nộp khoán vậy chớ sao. Mà biết ta diễn trong phủ đại vương đây, thì đến bố làng cũng chẳng dám động đến chân lông vợ chồng mình, chứ còn nói gì khoán với vạ. Thị lúng liếng đôi mắt như ngầm bảo với chồng: - "Cứ nhận nhời đi, sao mình ngu thế". Cung túc vương thấy ánh mắt nàng liếc xéo sang vương, khiến vương càng thêm mê đắm. Và Cung túc vương lên kiệu về trước, gánh hát của vợ chồng nhà Dương Khương nối bước theo sau. Đêm sau, đêm sau nữa, lại đêm sau nữa, Cung túc vương Nguyên Dục chỉ đòi diễn có một tích: "Vương Mẫu hiến bàn đào"! Và lửa dục bốc lên, vương muốn đuổi Dương Khương đi, chiếm trọn "Vương Mẫu" cho mình. Trong ba đêm ba ngày ấy, Dương thị như bắt mất hồn vương. Và thị cũng thừa biết vương mê đắm thị. Vì thế, thị càng chao mắt đưa tình, càng https://thuviensach.vn cao giọng hát cả những khi không có diễn trình gì. Một hôm Cung túc vương cho đòi Dương Khương lên tận gác tía trên đại điện. Vương nói: - "Vương Mẫu" đã vào phủ ta là không ra được, ngươi phải nhường nàng lại cho ta. Ngươi muốn lấy gì ta cũng đổi. Dương Khương cũng đã liệu tính, cơ sự sẽ diễn ra như vậy. Y lớn tiếng cười, như Đổng Trác cười trong "Phụng Nghi Đình". - Ngươi cười gì? Vương hỏi. - Đại vương nghĩ quẩn rồi. Ai lại đi đổi vợ. Nếu vậy vợ đổi vợ. Đại vương lấy vợ tôi, tôi lấy vợ của đại vương. Đó là luật chơi trong sự đổi chác. Đổi hòa. Đại vương nghĩ sao? - Hỗn! Vương mắng - Ngươi là tiện dân, sao dám sánh với vợ ta. - Sao vương sánh với vợ tôi thì được? Dương Khương lại cười lớn, khiến vương càng tức. - Ta không giỡn với ngươi đâu. Hỗn là mất đầu. Vợ ngươi sẽ là thiếp của ta. Còn ngươi hoặc là lấy 100 đĩnh vàng. Hoặc là lấy mười cung nhân trẻ đẹp như "Vương Mẫu". Hoặc là ngươi muốn lấy cả hai thứ ta cũng cho. Miễn là "Vương Mẫu" thuộc về ta. - Đại vương nghe tôi nói đây ! Dương Khương cao giọng - Đại vương có đổi cả vương phủ và thái ấp cùng các chức tước của đại vương để lấy nàng, tôi cũng không đổi. Chúng tôi lấy nhau vì yêu nhau, đã thề trước đền thiêng cùng sinh cùng tử. Chúng tôi đầu gối, tay ấp chưa bao giờ dời nhau nửa bước. Nếu đại vương tính chuyện ức hiếp thì một là tôi chết hai là đại vương phải chết. Nguyên Dục giật mình đứng dậy canh chừng. - A, ngươi dám phạm thượng! Ta chỉ hô lên một tiếng là ngươi rụng đầu. Dương Khương cười khẩy. - Tôi đã làm gì đại vương đâu. Chắc là người phải chết sẽ là tôi. Mà nếu tôi chết, thì nàng "Vương Mẫu" của tôi cũng tự vẫn liền theo, đại vương không có cách gì ngăn được nàng đâu. https://thuviensach.vn - Ngươi nghĩ kỹ đi, ngươi còn có cha mẹ nữa chứ, đừng tính chuyện liều. Ta bảo thật, ngươi cứ lấy quách 100 đĩnh vàng cùng mấy đứa hầu non của ta, sung sướng suốt đời. Mắt Dương Khương đỏ sọc nhìn thẳng vào mặt Nguyên Dục, y nói: - Mất nàng, những thứ đó của vương chỉ đáng giá như một cục phân. Y nói thế rồi bỏ lửng. Với Dương Khương, đây cũng là một tích trò mà y đang diễn tới điểm nút. Y tự biết cái giá của mình lắm. Thật ra vợ chồng y đã có bàn bạc kỹ lưỡng với nhau rồi. Y đang sắp xếp đến chỗ hạ màn. Khương lại tiếp - Thôi được, ý bề trên là ý trời. Tôi sẽ để "Vương Mẫu" lại vương phủ cho đại vương. - Chao ôi, ngươi thật là cao thượng! Nguyên Dục thốt lên với vẻ hoan hỉ. - Nhưng... Khương ngập ngừng. - Lại còn nhưng gì nữa? Hả, thế ngươi còn muốn gì nào? Ta mong ngươi không đổi ý. - Nhưng tôi muốn báo trước cho đại vương biết một điều mà chưa chắc đại vương đã ưng ý. Nàng là một người đàn bà độc nhất vô nhị trên thế gian này. Nếu đại vương đã được ngủ với nàng một lần. Tôi chỉ nói một lần thôi, thì tất cả các loại đàn bà con gái khác, kể cả công chúa, quận chúa, cả tiên sa cá lặn gì thì cũng đều là một thứ giẻ rách hết. Vì vậy các bà vương, các cung nữ của vương sẽ căm ghét vương lắm đấy. - Trời, ta không ao ước gì hơn thế. Vì vậy ta mới đổi cho ngươi cả một chục đứa hầu non. - Một chục cái giẻ rách. Tôi không thèm. Dương Khương nhấn giọng - Tuy vậy, tôi vẫn để nàng lại cho đại vương với hai điều ước thúc sau đây. - Sao, chỉ có hai điều thôi ư? Đến cả hai trăm điều, hai ngàn điều ta cũng nhận - ngươi nói đi? Dương Khương hắng giọng rồi nhìn trước nhìn sau trong khắp gian điện. Bỗng y hạ thấp giọng: - Đây là điều tối mật, đại vương thử xem có kẻ nào nghe trộm được không. Nguyên Dục ngó quanh ngó quẩn rồi vào. https://thuviensach.vn - Không có ai cả, ngươi cứ nói đi. Nhìn xoáy vào đôi mắt hau háu của Nguyên Dục, Khương tiếp: - Hiện thời nàng đã có thai được hai tháng. Nhưng đứa con đó phải là con của Đại vương. Đại vương hiểu ý tôi chứ. - Hiểu, hiểu. Ta hiểu. Đúng rồi, nó là con ta. Nó mang họ ta. Nó kế nghiệp ta. - Đấy là một điều ước. - Thế điều thứ hai nữa là gì? - Điều thứ hai là thi thoảng tôi phải được ghé vào cung phủ thăm mẹ con nàng. Tất nhiên, sự ra vào ấy là phải che mắt thế gian. Lại đến lượt Cung túc vương im lặng. Vương cảm thấy bứt rứt. - Ngươi làm ta khó xử quá ! Vương thốt lên - Chính điều ước thứ hai này làm ta bận tâm đấy. Hay là ngươi cứ dứt khoát với một cái giá nào đi. Thật đắt cũng được. Ta không tiếc của đâu. - Tôi đã kính báo với đại vương như thế là cạn nhẽ. Tôi không cần vàng ngọc, không cần hầu non gái đẹp. Đại vương thử đặt mình vào địa vị tôi, thử một chút thôi, xem nên như thế nào là phải. Kẻ tiện dân như chúng tôi, đúng là không có một tí ti quyền hành nào cho bản thân cả. Không có một thứ gì để che đỡ cho sinh mệnh của mình. Pháp luật là của các vương hầu và quan lại. Nhưng chúng tôi có một cái quyền duy nhất, mà ngay cả đến đức vua cũng không thể tước đoạt được. Bước cùng quẫn là chúng tôi phải dùng đến nó. - Cái gì vậy? Nguyên Dục hỏi với vẻ tò mò. - Cái chết ! Dương Khương đáp một cách thản nhiên, cứ như là vợ chồng y có thể chết ngay trước mặt vương. Nguyên Dục hơi chột dạ, vương nói: - Thôi được, ta nhận cả với ngươi hai điều ước thúc đó. Nhưng ta cũng phải ước lại với ngươi một điều. Rằng ngươi chỉ thăm viếng nàng và đứa nhỏ thôi. Không được tiết lộ ngươi là cha nó. Không được tư thông với nàng. Bội ước là mất mạng. - Tôi chấp nhận ! Dương Khương cười khẩy - Vương đa nghi quá. Vậy xin vương lập tờ bảo chứng. Cả ba người cùng ký, và mỗi người giữ một https://thuviensach.vn bản. - Được! https://thuviensach.vn IV Trước viện đăng văn có xây một cái lầu nhỏ, và treo ở đấy một chiếc trống cái. Mặt trống to đến hai thước bảy tấc rưỡi. Tang trống sơn son, thếp rồng vàng uốn lượn cùng những lọn mây rực lên như ngọn lửa. Ý chừng đấy là lửa công lý. Trống ấy để cho những người có nỗi oan khuất, kêu mãi không thấu cửu trùng, thì đến đó thúc lên một hồi ba tiếng, khắc có người ở Viện đăng văn, tức là cơ quan luật pháp cao nhất của triều đình ra tiếp. Muốn đánh trống ấy, phải leo lên một chiếc thang cao quá đầu người mới lấy được cái dùi. Nhưng lâu nay, suốt ngày đêm người trong nước đổ về đông như trẩy hội. Họ chen chúc nhau tranh dùi trống, mấy lần suýt gây án mạng, mà tiếng trống thì không bao giờ dứt được. Viện đăng văn không đủ người tiếp dân. Vả.lại, dẫu có tiếp cũng không có cách nào xử hết được các điều oan khuất nhan nhản trong dân, nhiều như lá cây trên rừng. Vì vậy quan đình úy đã cho đốt chiếc thang ấy đi, và phái hẳn một đô quân đến canh không cho ai vào trong lầu trống. Dân các lộ trong nước, những ai còn chưa biết việc này, kéo về kinh sư, ngó nhìn chiếc trống từ xa, chửi đổng vài câu rồi cắp đít đi liền. Bởi thế, Viện đăng văn trở nên vắng ngắt. Và hai mặt trống da đã mốc xanh. Đây là học đòi chính sách thân dân từ đời Lý Thái tổ. Đời Thái tổ, Thái tông da trống cũng mốc xanh như bây giờ. Không phải người ta đốt thang, giấu dùi và rải lính canh nghiêm ngặt, mà vì dân tình không có ai bị oan ức tới mức phải kêu cầu, để cất công về kinh sư gõ trống. Ấy thế mà một buổi sớm kia, khi tam cung lục viện dang im ắng, thì bỗng tiếng trống từ Viện đăng văn hối thúc đến náo loạn cả kinh thành. Các quan đình úy, tự khanh, thiếu khanh và ngay cả tốp lính canh lầu trống cũng nhìn nhau ngơ ngác đến hoảng loạn. Vì lầu trống, không những vẫn có quân https://thuviensach.vn canh, mà cửa lầu lâu nay lại còn được gài vào một ổ khóa lớn. Hai cánh cửa lầu vẫn khép kín, ổ khóa vẫn im ỉm nằm kia, nhưng đúng là trong lầu có người đang thúc trống. Cả một đô lính hò hét, giáo mác bao vây lầu trống. Khi hai cánh cửa mở toang ra, người ta thấy một bà già tóc bạc trắng đang ngồi vắt vẻo trên chiếc xà ngang, vẫn giương thẳng cánh nện dùi xuống mặt trống mỗi lúc một thêm hối hả. Trên nóc lầu, một mảng trời sáng hiện ra to bằng chiếc sàng gạo. Chính bà lão ấy đã rỡ ngói chui vào lầu từ đêm mà lính canh không biết. Đích thân quan đình úy ân cần mời bà vào viện. Bà lão mệt như muốn ngất. Mồ hôi toát ướt hết áo, tóc hai bên mang tai bà cũng bết dính lại. Nhưng đôi mắt bà rực sáng, đến nỗi ta có cảm giác, đặt vào đó một dúm bùi nhùi; lửa sẽ bùng lên. Quan đình úy hơi cúi xuống, tuồng như ông sợ nhìn vào đôi mắt ấy. Nhiều năm trong cuộc đời làm cái nghề án tích này cho ông biết, những người như thế, đừng có chọc giận họ. Vì vậy, ông bỏ qua tất cả những gì gọi là lỗi lầm khi bà đột nhập lầu trống như một tên đạo chích, mà nhẹ nhàng hỏi: - Vậy chớ lão bà có điều gì oan khuất cần đến cán cân công lý ? - Ai giữ cán cân công lý ở đây? Bà bất chấp cả lễ nghi trên dưới. Bà hỏi cứ như bà là quan tòa chứ không phải nạn nhân. Cũng không chấp nê với người đang oan ức, lòng đầy oán hờn. Quan đình úy nhẹ nhàng đáp: - Tôi đây, lão bà. Tôi là đình úy tự khanh. Đây là Viện đăng văn, cơ quan luật pháp cao nhất của triều đình. - Thế ông đình úy đây, có phải tên là Nguyễn Trung Ngạn không? Nếu là ông Ngạn thời tôi mới nói hết khúc nhôi để ông xét. Quan đình úy rất lấy làm đau lòng, vì như thế có nghĩa là tiếng tăm đã đồn khắp trong dân, rằng ông không phải là kẻ đại diện trung thực cho cán cân công lý. Tuy suốt đời ông giữ một lòng ngay thẳng, thanh liêm, nhưng đúng là ông chưa dám làm một việc gì đụng đến các đại quan khi họ mắc trọng án. Ông đành nói với bà lão: https://thuviensach.vn - Có phải bà lão chỉ muốn gặp quan đại hành khiển, thượng thư hữu bật kiatilm tri khu mật viện Nguyễn Trung Ngạn không ? - Dạ phải ! Tôi chỉ tin có ông ta mới là người chính trực. Lúc này lão bà xem ra dỡ mệt hơn, bà ăn nói đã có vẻ bình tĩnh và lễ độ hơn. - Thật đáng tiếc, bây giờ đại quan không coi sóc bên thẩm hình viện nữa, thì làm sao mà xét án cho bà. - Không. Đã là người tốt thì việc gì mà chả làm được. Bố tôi là một ông đồ nho. Tôi vẫn thấy ông dạy đám học trò "kiến ngãi bất vi vô dũng dã !" (Thấy việc nghĩa mà không ra tay hành động thì không phải là người dũng lược vậy!). Quan đình úy thở dài, và có phần như tự hổ thẹn, vì mình đứng đầu cả cái cơ quan pháp luật của triều đình mà dân không tin. May thay, lúc đó có kiệu của quan đại hành khiển vào. Quan đình úy chỉ cho bà lão hãy ngồi tạm vào chiếc ghế phía sau bức bình phong. Theo hầu quan đại hành khiển có viên thư lại, bê cả một đống hồ sơ đặt lên mặt án. Liền đó quan đại hành khiển Nguyễn Trung Ngạn nói luôn: - Các đô phòng đoàn ở hai châu thượng hạ Hồng, bắt được một số tên trong đảng của Ngô Bệ đang hoành hành ở vùng Trà Hương, thanh thế của tên này lớn lắm. Chúng dám ra mặt đánh phá các châu, quận và bắt giết nhiều xã quan. Vậy bản chức nhờ quan đình úy cùng toàn thể các vị bên Đăng văn viện tra xét việc này cho sáng tỏ, để sớm dẹp yên đám giặc ấy cho dân chúng yên ổn làm ăn. ( Thời Dụ tông sưu cao thuế nặng, quan lại tham nhũng, dân đói khổ, trộm cướp nhiều. Năm Giáp thân (1344) triều đình đặt 20 đô phòng đoàn ở các lộ, chuyên đi trấn áp giặc cướp và các cuộc nổi dậy của dân nghèo tương tự với lực lượng cảnh sát dã chiến đặc biệt của các nước bây giờ. Hai châu thượng hạ Hồng đời Trần thuộc lộ Hải Đông tức Hưng Yên, Hải Dương và một phần Hải Phòng ngày nay. Trà Hương thuộc vùng đất huyện Kim Thành, Hải Dương.) Lão bà ngồi nghe không sót một tiếng. Thấy nói đến cái tên Ngô Bệ, bà nghe quen quen. Hình như dân Thanh Hóa của bà, người ta đang xì xào bàn https://thuviensach.vn tán rủ nhau theo Ngô Bệ. Nhiều người bảo cái ông tướng cướp này nhân đức lắm. Ông ta thuần cướp của bọn quan lại tham nhũng, bọn phú hào vơ vét của dân. Cứ gọi là chúng có gì, ông ta cho quân lấy hết. Rồi lại đem chia khắp cho người nghèo. Thật khác với triều đình như mặt trăng với mặt trời. Triều đình thì chuyên cướp (thôi thì sưu cao thuế nặng với đủ các thứ đóng góp phục dịch, có khác gì cướp) của người nghèo, để bù đắp cho cái đám quan lại gian tham ác độc vốn đã giàu sụ. Lão bà ngừng hẳn mạch suy tư, có một cái gì đấy thức dậy trong trí nhớ của bà. Bà ghé mắt vào khe bình phong nhìn ra. Thôi đúng rồi! Đúng ông ta trước làm an phủ sứ ở Thanh Hóa. Và ông đã lập ra "Bình doãn đường" để xét kiện, không một vụ nào còn bị oan uổng. Dân Thanh cứ gọi ông là "ông Bao Công". Nhưng sao bây giờ ông ta khác thế. Già lắm. Cằm chảy xệ xuống chứ không còn vẻ cân quắc như hồi ông ở trong Thanh. Dù sao thì vẫn là ông ta. Nghĩ vậy, bà liền bước ra phủ phục trước mặt ông mà lạy. Nguyễn Trung Ngạn giật mình ngơ ngác không còn biết là chuyện gì nữa. Quan đình úy lấy làm bực mình, bèn thuật lại các chuyện cho quan đại hành khiển nghe. Nhưng quan ngài nghễnh ngãng nghe câu được câu chăng. Quan đình úy quay ra nói với bà lão: - Nào, có chuyện oan khuất lớn lao gì, bà trình cho quan đại hành khiển nghe đi. Đại danh ngài chính là Nguyễn Trung Ngạn như bà mong gặp đấy. Quan ông đứng đầu các viện trong triều chính, bà cứ nói đi. Bà lão tươi cười, chắp hai tay vái Nguyễn Trung Ngạn. Ông chậm chạp gật gật cái đầu, vì quan ông rất béo, cổ ngài bự lắm. - Cháu là con cụ đồ Tạ Thái Ẩn nhà có Kim cúc viên; hồi trọng trị ở Thanh Hóa, cụ hay đến chơi với bố cháu, cụ có nhớ không? Nguyễn Trung Ngạn giương dôi mắt mờ mờ nhìn xói vào người đàn bà. Ông lại hơi nghiêng vành tai để nghe bà ta nói. Khi thấy bà ta ngậm miệng rồi ông bảo: "Ờ, ờ, cái gì nhỉ?". Bà lão chán ngán quá. Bởi bà thấy vị đại thần lẫm liệt tượng trưng cho thần công lý nơi lộ Thanh Hóa mấy chục năm trước, nay đã là một ông lão già nua ngơ ngơ ngẩn ngẩn như một lão tiều phu, như một lão thất phu. https://thuviensach.vn Giữa lúc ấy thì quan đình úy lại giục: - Bà kêu cầu gì thì kêu đi. Quan ông đây bận nhiều việc nước lắm. Lão bà nói mà không cần biết ông già kia có nghe được hay không. Bà chỉ nói điều bà cần phải nói. Giọng bà đau xót: - Tôi xin hỏi, con tôi có tội gì mà triều đình giết nó? - Triều đình nào giết con bà? Giết bao giờ? Tên nó là gì? Nó phạm tội gì? Quan đình úy hỏi. - Cháu là Tạ Lai, giữ chức ngự thư hỏa, hầu cận vua. Nguyễn Trung Ngạn nghe được hai tiếng "Tạ Lai", ông hình dung đầy đủ các sự việc. Quan đình úy cũng tường tận việc này lắm. Thì ra bà ta là mẹ tên Tạ Lai. Tội tầy đình. Án tích đã xong. Ai dám xét lại vụ này chỉ có mất mạng. - Vậy nó có tội tình gì đại quan cho tôi được biết? Lão bà nói với tất cả sự bộc bạch chân thành nhưng nghẹn uất - Con tôi là một đứa đức độ. Cha nó vẫn khen là hiền. Cháu được học hành kinh sách không thiếu một thứ gì. Nhưng cha nó không cho đi thi. Nó lại được người cậu dậy cho ít bài quyền thuật để phòng thân. Bởi cái thời này hỗn đạo lắm. Đùng một cái nhà vua bắt đi lính. Thôi thì cũng được, ba năm sau nó về, con tôi lại vưỡn là con tôi. Khốn nạn làm sao, người ta lại đưa nó vào cái đội thiên tử binh. Ông đồ nhà tôi đã mất. Cảnh mẹ góa con côi. Tôi tự nhủ: thế là con tôi khổ rồi? Gần lửa rát mặt. Gần vua thì cũng như gần lửa thôi. Người ta quan cao chức trọng mới mong gần vua để còn thăng bổ, còn bổng lộc; con tôi là thằng lính, cắp giáo đi hầu, xơ múi gì. Lại tới khi tôi nghe nó nhắn về, rằng nó được chuyển vào ngự thư hỏa, chuyên việc canh phòng hầu cận vua. Mấy ông câu đương trong làng được tin ấy đến nhà tôi khúm núm, nói rằng: "ông Tạ Lai được làm quan tại triều". Ối giời ơi, thế là nhà tôi thất đức rồi! Thế là nó vào hùa với lũ ăn cướp rồi. Thì cái đám quan lại ở vùng tôi đều thế cả, trừ cái ông này hồi trước - Bà vừa nói vừa chỉ vào Nguyễn Trung Ngạn. Ngừng để thở một lát, bà lại nói - Hầu vua, nó có tội gì mà giết nó? Ai giết nó, xin các đại quan chỉ cho tôi, tôi phải giết kẻ ấy. https://thuviensach.vn - Bà đừng ăn nói hỗn hào mà phạm thượng. Bà phải bình tâm lại để tôi nói cho mà nghe. Mất con ai chẳng xót. Nhưng vụ này không khiếu nại ở nơi nào được đâu. Vốn là đầu tháng vừa rồi ngự thư hỏa Tạ Lai, chính con bà ấy, đứng hầu vua ngủ giữa ban ngày tại Lương phong đường. Tức là trong cung cấm ấy. Chẳng biết thế nào y lại rút gươm ra để xem. Đúng lúc vua thức dậy nom thấy, ngờ là thích khách, sai đem chém đầu ngay. Việc này không hề có qua Viên ngoại lang, Thẩm hình viện hay Đăng văn viện. Bà biết đấy, tất cả là tự đức vua xuống lệnh. ( Theo thứ tự công việc thì Viên ngoại lang, tuân chỉ lệnh của nhà vua lập hồ sơ ban đầu đưa sang Thẩm hình viện. Thẩm hình viện lập án tụng xong rồi đưa sang Đăng văn viện để xử (Đăng văn viện thời Trần Thái tôn có Kiểm pháp quan, từ năm Thiệu phong thứ 4 đời Trần Dụ tôn, tức năm Giáp thân (1344) đổi sang các chức đình úy, tự khanh, thiếu khanh). Nghe chưa dứt lời, lão bà đã ngất khuỵu xuống. Quan đại hành khiển Nguyễn Trung Ngạn nặng nề đứng dậy, ông nói như người nói ngọng: - Tạ Lai nó định giết vua. Rồi ông lên kiệu về dinh phủ. Lát sau tỉnh dậy, lão bà phờ phạc. Bà nói đứt nối từng lời : - Con tôi chết oan. Thằng này tính nó táy máy lắm. Không cái gì là không nghịch. Giời ơi, sao vua của các ông ngu thế. Thử hỏi nó có bè nọ đảng kia gì mà bảo có người xui nó giết vua. Thử hỏi nó giết vua rồi, các ông có chịu thờ nó làm vua không, hay các ông cũng giết nó. Bà chỉ mong cho người ta giết bà đi, để bà được theo về với chồng với con, để khỏi phải sống ở cái thời đơn mạt này. Bà lại gào lên: - Ngu! Một lũ các người ngu! Chỉ lấy nghi hoặc, lấy hiếu sát làm đầu. Sẽ có người khác giết lũ các ông. Nói xong bà phủi đít đi liền. Phải nói là bà lê từng bước để ra khỏi cái tòa công lý ấy. https://thuviensach.vn V Cung túc vương Nguyên Dục, hoàng trưởng tử của đức tiên đế Trần Minh tông, cướp vợ của một tên phường chèo, tin đồn ầm ĩ khắp Thăng Long, khắp nước. Nhưng rồi cái tin ấy cũng nhạt dần đi. Vì so với đương kim thiên tử Trần Dụ tông, thì việc chơi bời trác táng của Cung túc vương đã thấm tháp gì. Tin ấy, cuối cùng cũng đến tai Hiển từ thái hậu, bà giận Nguyên Dục lắm. Bà cho đó là một sự điếm đàng, làm nhục cả gia phong. Từ khi đón được "Vương Mẫu” về, và lập xong "điều ước" với Dương Khương, Cung túc vương lấy làm mãn nguyện. Vương cho rằng Dương Khương đã nói đúng. "Vương Mẫu” quả là người đàn bà thế gian hy hữu. Vì tất cả những gì thuộc về nàng đều hoàn hảo cả. Da thịt nàng vừa ấm dịu, vừa thơm ngọt như mùi trầm, mùi xạ, mùi lê, táo, mùi của các loài hoa thanh khiết. Đúng ra nó là một thứ mùi thơm không phân biệt được, mà dường như chỉ có các tiên nữ trên thượng giới mới có sự thơm tho cao khiết ấy. Còn ăn nằm với nàng ư. Hồn phách ta cứ như được phiêu diêu trên tận chín tầng trời, mà sự khoái lạc thì không gì tả xiết. Khi giao phối với nàng, ta được tận hưởng sự đê mê trần thế. Nhưng có điều lạ, là các cuộc giao hoan, có thể kéo suốt đêm ngày, không hề làm cho ta có cảm nhận gì về sự mệt mỏi. Rõ ràng chính nàng tiếp nối sinh lực cho ta, chứ không phải nàng hút tủy xương sức lực ta như bọn đàn bà khác. Lại cũng đúng như Dương Khương nói, sau khi ta đã ăn nằm với nàng rồi, thời tất cả bọn mĩ nữ khác đều là một thứ giẻ rách. Ta giận vì ta chậm chân hơn Dương Khương. Thằng đốn mạt tiện dân này, sao nó lại có diễm phúc hơn ta. Chính có nàng, có sự giao hòa phối dục với nàng, ta mới cảm thấy cuộc đời này thật đáng sống. Phải thừa nhận rằng, nàng mới chỉ khẽ thổi vào ta một làn hơi thoáng nhẹ, lập tức ta biến thành một ông hoàng có niềm thống khoái đệ nhất thế gian. Điều lạ nữa là, giao phối với nàng lần thứ hai, thứ ba, thứ tư... trở đi thì cứ lần sau ta lại được hưởng cái đê mê dịu ngọt hơn lần trước. Sự bí ẩn về nàng, muôn đời vẫn cứ còn là bí ẩn. https://thuviensach.vn Cung túc vương trong những ngày đầu được "Vương Mẫu”, ngoài các cuộc giao hoan trong phòng the, vương đều bắt nàng mặc nguyên y phục "Vương Mẫu”, đúng cái vai nàng đóng mà lần đầu vương nhìn thấy. Song chỉ độ mươi ngày sau, vương chợt nhận ra rằng, khi không khoác xiêm y lên người, nàng còn đẹp hơn nhiều, rực rỡ hơn và khêu gợi hơn. Vì vậy suốt ngày đêm vương bắt nàng ở trong cung với tấm thân trần. Suốt ngày đêm sáp thắp sáng lòa. Trời rét thì đốt lò sưởi, đốt trầm. Và rồi chính vương, vương cũng không cần áo tía đai vàng, mũ mão đại vương. Tức là đại vương cũng tồng ngồng như một đứa trẻ sơ sinh. Nhưng cơ thể đại vương thì đúng là một kiệt tác méo mó của hóa công. Toàn thân đại vương tựa như một con chó già bị bỏ đói tới cả năm. Ngực lép, lưng vẹo, da thịt nhăn nheo, nhũn nhẽo, khắp người điểm những nốt rỗ đậu mùa sâu hoáy. Suốt ngày đêm, hai cơ thể họ như dính với nhau làm một. Và rồi các cung thất của các bà chánh thất, thứ thất, các tần nữ, thục nữ, mỹ nữ trong Cung túc vương phủ, dường như mạng nhện đã giăng đầy các tiểu môn, đại môn; ngay cả màn trướng cũng lương vương tơ nhện. Về phần "Vương Mẫu” thì sao? Phải ăn nằm với một con người xấu xí, thô bạo, nàng không khỏi không dấy lên cảm giác kinh tởm. Nhưng rồi cái quyền lực của đại vương quá lớn. Của cải tài sản của đại vương cũng không có giới hạn như quyền lực của ông ta vậy. Nghĩa là ông ta chỉ thua có vua. Mà vua lại là em ruột ông, ít tuổi hơn ông nhiều lắm. Nói gì Dụ tông chẳng phải nghe. Lại điều quan trọng vào bậc nhất là ông ta không có con. Ông ta sẽ nhận cái bào thai trong bụng của nàng với Dương Khương đây, là con ruột của mình. Và nếu cần đẻ nữa, thì lại vẫn có Dương Khương vào ra tự tiện trong cung này như ước thúc đã ghi. Vậy là vì tương lai của con nàng, và của chính vợ chồng nàng nữa, nên nàng phải hầu tiếp một bộ xương dâm dục, trước còn gượng gạo, e ấp. Nhưng sau quen dần lại cảm thấy hứng thú, vì nó có cả một trời quyền lực và của cải lấp ló ở phía sau cây gỗ mục kia. Chính là nàng yêu những thứ đó. Đã có lần Dương Khương nói với Dương thị: "Biết đâu thằng bé đang nằm trong bụng nàng, lại chẳng trở thành một Tần Thủy hoàng đế". https://thuviensach.vn Kỳ lạ, những cuộc giao hoan của Nguyên Dục như là không có một hạn giới nào, một chừng mực nào. Vương cứ triền miền, ngay cả khi bụng "Vương Mẫu" đã to vượt mặt. Và vương chỉ tạm dừng khi nàng đau đẻ. Nàng đẻ cho vương được một đứa con trai thật là khôi ngô, tuấn tú. Vương đặt cho nó cái tên: Trần Nhật Lễ. Nghe tin thiếp của Cung túc vương Nguyên Dục sinh con trai, bà Hiển từ thái hậu mừng lắm. Từ bấy lâu, bà vẫn sầu héo bởi cả hai người con trai bà, trời đều bắt tội vô sinh. Nếu quả thế, thì đời bà bất hạnh quá. Các con bà bất hiếu quá. Phúc đức nhà vua mỏng quá. Nhưng bây giờ Cung túc vương đã sinh đặng hoàng nam, mọi sự hẳn là phải đổi khác. Các bà thái phi, thần phi không dám nhìn bà với con mắt giễu cợt, và ngầm có sự thích thú trong thâm tâm. Thái hậu chăm đi lại thăm nom mẹ con "Vương Mẫu" lắm. Tựa như nàng chính là con gái bà. Ngày hoàng tôn tròn một tháng tuổi, thái hậu tặng cho cháu một chiếc vòng ngọc nạm vàng, cùng một chiếc vuốt hổ bịt bạc để đeo cho kỵ nắng gió. Đúng thằng bé là cục vàng của bà. Lại nói từ khi "Vương Mẫu" sinh con, nàng không còn hứng thú gì trong việc ăn nằm với Nguyên Dục nữa. Mọi tình cảm, tâm lực, nàng dồn hết vào cho con. Vì vậy cái thần dục của nàng mất hẳn. Nguyên Dục ngủ với nàng, không những không cảm thấy khoái hoạt như xưa, mà còn mệt rã rời tới mấy ngày liền. Có lúc Nguyên Dục nghĩ: hay nàng là một con yêu tinh đến lừa ta để hút hết tinh khí của ta. Vương lại nghĩ đến truyện đời Lương vương xưa, có hai con yêu tinh đội lốt hai người con gái đẹp mang cái tên rất đáng yêu. Một nàng là Bạch Vân Nương, một nàng là Quế Thanh Hương. Hai "nàng" yêu tinh ấy, suýt hãm hại hết các con của Lương vương và phá nát cả vương triều nhà Lương. Tự nhiên, Nguyên Dục lại thấy chán "Vương Mẫu". Song không vì thế mà vương quay lại với các mĩ nữ trong cung phủ. Vương nghĩ ra các trò chơi quái đản, để tiêu cho đến kiệt cùng sức lực. Trâu Canh đã cho vương phương thuốc cực kỳ hiệu nghiệm. Thạch khởi tử ngâm với rượu và cao sơn dương toàn tính. Và mỗi khi hành lạc lại thắt thêm ba vòng dây "dâm https://thuviensach.vn dương hoắc" vào lưng. Vương đã làm như thế trước một đội vũ nữ khỏa thân ba chục ả, ngay trong cung cấm của mình. Kèn, trống, sênh, phách, đàn sáo cứ nỉ non hòa tấu. Các mỹ nhân cứ múa. Và Vương cứ bắt từng ả một hành lạc trước hai mươi chín ả kia cùng với cả một dàn nhạc. Y làm kế tiếp như thế, tựa như một con dê cụ đầu đàn đứng án ngữ trước cửa chuồng mỗi khi đóng mở cửa, các nàng dê cái đều phải lần lượt chịu cho nó... rồi mới được ra hoặc vào chuồng. Cho đến ả thứ ba mươi thì Vương gục xuống, và không bao giờ dậy nữa. Cung túc vương Nguyên Dục đã chết. Người ta chôn vương mà không gỡ bỏ ba vòng dây dâm dương hoắc. Nếu như lại có kiếp sau của mỗi con người, thì chắc rằng cái dây định mệnh thắt ngang lưng kia, sẽ đưa vương về kiếp sống của loài dê. Phải chăng đó cũng là ước vọng cao cả của các bậc vương giả khi đã sa vào vòng đọa lạc. Cung túc vương Nguyên Dục chết, khiến Hiển từ thái hậu buồn vô hạn. Tuy vương có ham mải chơi bời, nhưng không hẳn là đứa con bất hiếu. Chỉ vì thượng hoàng nghiêm khắc quá, cha con lại không hợp tính nhau, nên vương không được lập. Cũng từ khi biết mình bị phế, Nguyên Dục lại càng lao vào con đường cùng quẫn. Nay Dục mất, thái hậu càng thương. Sợ có sự ghen tức trong mấy vị phu nhân của Nguyên Dục với mẹ con "Vương Mẫu", nên thái hậu đưa mẹ con nàng sang cung Thánh Từ ở cùng với bà. "Vương Mẫu" là một người đàn bà không những có nhan sắc vào loại chim sa cá lặn mà còn duyên dáng, khiêm nhường, biết đường cư xử. Nên càng ngày thái hậu càng thương yêu. Cũng từ khi Cung túc vương Nguyên Dục mất đi, "Vương Mẫu" không cho Dương Khương (chồng nàng) lui tới cung phủ nữa. Và bên cung Thánh Từ thì nàng nghiêm cấm. Hai người chỉ hẹn gặp nhau mỗi tháng một lần ở chùa Tư Phúc, là ngôi chùa mà Dương Khương có người bác ruột trụ trì tại đó. "Vương Mẫu" đã chấp nhận cho Dương Khương lấy vợ khác. Nhưng tình nghĩa giữa hai người vẫn còn khăng khít lắm. Và "Vương Mẫu" chuyển của cải về cho chồng mở mang sản nghiệp, giàu có vô cùng. Vợ mới của https://thuviensach.vn Dương Khương, tịnh không biết gì về các việc tư riêng cũng như các mối quan hệ của y với nàng "Vương Mẫu". Ấy là những chuyện trong cung cấm của triều đình. Còn như ngoài dân gian thì thật là cùng cực. Suốt từ tháng tư đến tháng tám trời nắng như rang, không hề có một giọt mưa. Lúa giỗ nghẹn đòng rồi rũ héo chết khô. Cây cối trong các vườn đều úa lá. Các giếng, đầm, ao, hồ đều cạn nẻ cả đáy bùn. Cá, tôm, ếch, nhái chết phơi mình đầy nội. Đi về nẻo nào cũng có mùi hôi thối. Ấy là chưa kể vụ mùa năm trước, sâu cắn gié, thiệt hại tới quá nửa, mà thuế má, sưu dịch không có khoan giảm. Việc xây cất cung thất mới cho nhà vua vẫn không có gì cản trở. Số người chết vì các tai nạn gỗ, gạch, cưa xẻ, đá đè... nhiều vô kể. Song cũng không thấm vào đâu, so với số phu phen bị chết đói, ngay trong khi làm việc. Nhiều thợ xẻ, mới đưa dược vài mạch cưa đã gục xuống. Chết nhiều nhất vẫn là đám phu hồ và phu đốn gỗ. Các chuyện ấy, việc ấy đều không đến tai, đến mắt nhà vua. Thảng, bọn "thất trảm" có mời vua dạo qua xem. Vua khen thợ giỏi, làm nhanh. Dụ tông lấy làm hài lòng lắm. Nếu như hạn hán kéo dài vua không biết. Dân đói, chết đầy đường vua không biết, thì cái nạn lụt hồi tháng chín, tức là sau kỳ đại hạn là mưa rả rích, mưa như vỡ đê trời, khiến cả nước đều ngập trắng băng. Điện Thiên An cao nhất, nước cũng vào láng nền. Cung Cảnh Linh nước ngập lưng cột. Vậy là nạn lụt năm ấy vua Dụ tông có biết. Nằm trên lầu ngọc, nhà vua tiếp tục các cuộc hành lạc. Chi hậu cục, hoạn quan Mai Thọ Đức rủ rỉ nói với nhà vua nửa kín nửa hở: - Tâu hoàng thượng, khi nào khánh thành cung thất mới, chúng thần sẽ có một món quà kỳ thú nhất thế gian để kính dâng hoàng thượng. Tính tò mò, Dụ tông dời tay khỏi ngực ả vũ nữ đang hầu tiếp ngài, liền hỏi: - Ngươi định dâng ta cái gì đó? Nhà vua mỉm cười thật vui. - Dạ tâu, chúng thần đã ước với nhau là phải giữ cho tuyệt mật, ai nói hở ra là phạm điều ước thiêng. - Khanh nói chúng thần là những ai đó? https://thuviensach.vn - Dạ tâu, chỉ có thần và Trâu ngự y thôi ạ. - Sao ngươi bảo phải "giữ cho tuyệt mật" lại còn đi nói với ta. - Tâu, vì kính quí bệ hạ, nên thần mới tiết lộ có món quà, chớ thần đã nói quà gì đâu ạ? - Ngươi láu lắm. Dụ tông cười lớn - Ta tha tội cho ngươi không gạn hỏi nữa, nhưng phải xây cất nhanh lên nữa chứ? - Muôn tâu, không thể nhanh hơn được nữa ạ. Nước rút đi, khắp kinh thành nhơ nhớp. Khắp nước bệnh dịch hoành hành. Dân chết đói, chết bệnh nhiều không kém đời Lý Cao tông. ( Lý Cao tông (1176-1210): dưới triều đại này đã xảy ra nạn đói, dân nước chết quá nửa mà nhà vua vẫn không ngừng việc xây cất cung điện và ăn chơi xa xỉ.) Đã thế, trộm cướp lại nổi lên nhan nhản, không một người lương thiện nào đêm hôm dám ló mặt ra đường. Đêm đêm có nghe thấy tiếng kêu "cướp", thì nhà nào nhà ấy gài cổng, ngõ cửa rả cho chặt. Nhà ai còn một chút máu mặt thì phải chôn giấu của cải, hễ nghe tiếng động thì bỏ nhà đi trốn. Ngay giữa ban ngày, giữa chốn phố phường đông đúc như đất Thăng Long, bọn côn đồ vẫn ngang nhiên sấn vào chợ, vào các cửa hàng, cướp của ngay trước mặt bọn lính tứ sương, bọn đô phòng đoàn. Quan đại hành khiển Nguyễn Trung Ngạn, xin vua cho, hễ nơi nào còn thóc kho Nhà nước thì mở ra phát chẩn cho dân. Lại bán quan tước từ hàng lục phẩm trở xuống tới bát phẩm để lấy thóc, lấy tiền, chẩn cấp cho bàn dân thiên hạ. Các việc, vua đều y cho cả. Song, còn việc tên Ngô Bệ tại vùng Trà Hương thì thanh thế mỗi ngày một mạnh, dân theo về y không phải ít. Quan bình chương sự đang nghĩ cách trừ khử, ngài vẫn chưa đi đến một quyết sách nào. Phủ Thiên Trường là nơi có cung Trùng Quang và cung Trùng Hoa ở đó. Lại là đất mở nghiệp của vương triều Trần, lụt cũng làm cho dân tình trở nên bi thảm. Quan an phủ sứ có sớ về triều, xin nhà vua ngự giá giáng lâm để làm yên lòng dân chúng. Vua không thể không về. Nhưng giữa lúc dân đói khát bệnh tật mà vua về, thời phải có gì chẩn cấp. Bọn "thất trảm" bàn đến nát nước, Trâu Canh https://thuviensach.vn dâng kế. - Tâu bệ hạ, sau lụt, dân vùng nào cũng mắc các chứng cảm mạo và kiết lị, ỉa chảy. Tốt nhất bệ hạ nên phát thuốc cho họ. - Nhưng thuốc đâu mà phát. - Tâu, thần đã có làm được hơn ba ngàn viên thuốc tễ, trị các chứng cảm hàn, cảm nhiệt... chỉ xoay thang thôi ạ. Thần sẽ bán cho bệ hạ. - Nhưng sao ngươi nói bây giờ bệnh dịch nhiều kia mà. - Dạ, có sao đâu ạ. Thuốc ở trong tay bệ hạ ban cho thần dân, thời trị được bá bệnh chớ sao. Thần đang nghĩ phải đặt cho nó một cái tên. Có khi chỉ nghe tên thuốc thôi, lại tự tay bệ hạ phát cho, người bệnh chưa kịp uống đã khỏi. Quả là Trâu Canh đang vắt óc tìm ra một cái tên đặt cho loại thuốc cảm của y thật. Táy máy y mở nắp một hũ thuốc lấy ra vài viên xem. Mùi quế, quy... vừa thơm vừa hắc. Nhìn viên thuốc có màu hồng của vị thần sa, Trâu Canh "à" lên một tiếng: - "Hồng ngọc sương!". Tâu bệ hạ, gọi loại thuốc này là “Hồng ngọc sương". "Hồng ngọc sương trị bách bệnh". Bệ hạ cứ ban lời nói ấy, dân còn tin hơn cả bọn thầy phù thủy khoác lác thánh thần, mà lại chỉ cho họ uống có tàn hương, nước thải thôi. Dụ tông cười khà: - Khanh đúng là một tên đại ma giáo. May mà thượng hoàng tha chém cổ ngươi. - Nếu thần mất đầu, lấy ai trị bệnh cho bệ hạ. Nhà vua nhìn tên thầy thuốc hỏi nửa như trêu chọc nửa như nghi ngờ: - Vậy chớ các phương thuốc ngươi dâng cho ta, có giống như "Hồng ngọc sương" không? Trâu Canh chột dạ. Y hơi biến sắc, vội tâu: - Thần đội ơn bệ hạ nhiều lắm, dẫu gan óc lầy đất chưa dễ đáp đền trong muôn một. Những phương thuốc dâng bệ hạ đều là bí truyền, cực kỳ công hiệu, chỉ dành chữa trị cho các bậc thiên tử uy đức trùm thiên hạ: Ngay đến các bậc vương giả, các đại phú gia đức mỏng cũng không dùng được. Vả lại khi dâng các phương thuốc cứu bệ hạ, là thần cũng bị giảm thọ, tai họa để https://thuviensach.vn lại cho con cháu không biết đâu mà lường được Vì rằng, nó phạm vào cái thiên lương thiên đức của người thầy thuốc. ( Ý Trâu Canh muốn nói đến việc phải giết trẻ con lấy mật làm thang để phục dương cho Dụ tông.) Dụ tông về Thiên Trường, giữa lúc dân chúng đang xếp hàng đông nghìn nghịt, dưới trời nắng chang chang để chờ ngài. Mãi gần trưa nhà vua mới tới dinh an phủ sứ. Bốn đô cấm vệ quân đi theo nhà vua gồm 320 tên, đứa nào cũng béo tốt mập mạp, da trắng như da con gái. Đứa thì lăm lăm thanh mã tấu, đứa thì trường kiếm, đoản kiếm đứng ken thành hai hàng dài cho tới trung tâm bãi đất cửa dinh, nơi đã đựng lên một đài cao và che bảy chiếc lọng vàng. Vua ngự ở đó cho dân chúng trông thấy mặt rồng. Nhà vua không nói gì. Chỉ có quan an phủ sứ Thiên Trường lên nói lời chúc tụng nhà vua. Lại nói, vua sẽ ban "Hồng ngọc sương" là thuốc trị bá bệnh cho dân. Cứ mỗi đầu người được phát hai viên thuốc, hai tiền và hai thăng gạo. Viên an phủ sứ vừa dứt lời, dân chúng tung hô "Đức vua vạn tuế", "Đức vua vạn tuế"' tưởng như sắp sập đổ cả vùng đất Thiên Trường. Xong đâu đó, vua lên kiệu ra lâu thuyền để ngược Thăng Long. Còn việc phát các thứ thuốc, tiền, gạo thì sao? Vì đông người quá, không làm thế nào để phát có thứ tự được. Sợ rằng có kẻ khỏe mạnh chen được, sẽ lĩnh nhiều lần. Có người lại chẳng được gì. Đại quan bèn dụ rằng: "Dân chúng hãy về. Các xã quan làm tờ khai đệ trình lên phủ. Phủ thu thập lấy đệ trình lên lộ. Rồi các ty chức trên lộ sẽ chiểu danh sách phát về tận thôn ấp". Dân nghe có lý, lục tục kéo nhau ra về, để lại trên bãi đất trước dinh an phủ sứ bảy xác người bị chen giẫm bầm tím cả mặt mũi, lòi cả ruột gan. Những tin đồn nhà vua đi đến tận các vùng miền có lụt lớn, tự tay ngài ngư chẩn cấp thuốc men, gạo tiền cho từng người dân bị nạn, đã bay khắp bốn cõi trong cả nước. https://thuviensach.vn VI Ngô Bệ người vùng Trà Hương, y không phải là tên đứng đầu đảng cướp. Bệ vốn con nhà lương dân lại có được theo đòi học hành, nên phân biệt được đôi điều phải quấy. Bệ quê Giáp Sơn, đất võ. Y người to khỏe. Khi chưa tinh thông võ nghệ, Bệ đã có thể đánh thắng cả chục người. Sau được một võ sư trong vùng, thấy Bệ là người có khí chất trượng phu, nên thu về dạy cho. Chẳng bao lâu Bệ nổi tiếng là tay võ nghệ cao cường. Bọn cướp dù đông đến mấy, ngổ ngáo đến mấy cũng không dám xông vào vùng đất của Ngô Bệ. Ngô Bệ tụ tập trai tráng không phải đi cướp của giết người như bọn trộm cướp bất lương. Sự bất bình của Bệ là ở chỗ bọn xã quan, bọn châu, quận nhũng nhiễu dân chúng, tàn ác quá đáng. Dân kêu cầu không thấu, không đâu xét xử cho. Ngay trong xã ấp, bọn câu đương cũng lập nhà giam, để giam cùm những ai dám trái ý chúng. Triều đình chỉ có một sắc thuế đất ruộng, ban bố từ đời vua Thiệu Bảo, nhưng chúng lại tự dặt ra hàng chục thứ ước, khoán khác để bắt dân phải gánh nộp. Ngay thuế đất ruộng, triều đình thu một, chúng lạm bổ đến gấp ba gấp bốn lần. ( Thiệu Bảo niên hiệu của Trần Nhân tông khi mới lên ngôi. Niên hiệu kéo dài 7 năm từ Kỷ mão (1279) đến Ất Dậu (1285). Sau đó là Trùng hưng.) Bệ đã tụ họp cùng với một số người có lương tri, ra tờ bố cáo, phần thì kêu gọi, phần thì cảnh tỉnh chúng. Ai dè chúng không khoan nới mà còn thẳng tay đàn áp. Các trại giam ở ấp xã chỉ hẹp như một gian chuồng trâu, mà chúng tống giam tới cả trăm người. Có cụ già nghẹt thở mà chết. Thế không đừng được, Ngô Bệ bèn phất cờ tụ nghĩa. Mới có bảy ngày treo yết bảng trong vùng, trai tráng theo về đông tới cả ngàn người. Ngô Bệ lấy vùng núi An Phụ làm nơi tụ tập nghĩa quân. Trận đầu, diệt bọn xã quan có tội ác. Liền đó, lấy của các nhà giàu bất chính chia cho dân https://thuviensach.vn nghèo trong vùng. Khắp mấy châu, phủ từ Trà Hương đến Nam Sách, Chí Linh bọn quan lại tham nhũng có tội ác đều bị bắt ra trừng trị hết. Dân theo về ngày một đông. Thanh thế Ngô Bệ ngày một lớn. An phủ sứ lộ Hải đông dâng sớ xin quân triều đình về tăng viện. Triều đình bèn cử viên tướng trẻ, nhưng dũng lược Trần Khắc Chấn, lĩnh ấn tiên phong, đem theo một vệ quân thần sách về thẳng An Phụ thảo phạt. Lại nói Ngô Bệ vì có sức khỏe lại vì lòng tức giận đám quan lại châu, huyện, xã ức hiếp dân lành quá đáng, nên nổi máu trượng phu bèn tụ nghĩa, dấy quân chống lại. Nay các mục đích như trừ gian, diệt ác, quân phân của cải đã làm xong, Bệ không biết phải làm gì nữa. Vì trong quân của Bệ không có một kẻ sĩ nào theo, nên không ai vạch đường chỉ lối cho y. Và cái chí của Bệ cũng không phải là chống lại triều đình. Nên y cho họp tả hữu, định về hàng triều đình. Giữa lúc ấy thì quân bản bộ của lộ Hải đông đã vây kín đồn trại của Ngô Bệ. Bệ kéo cờ xin hàng, nhưng quan quân cứ xông vào đánh giết. Bệ không cho quân chống cự. Nên chỉ một loáng là quân Bệ tan tác. Ngô Bệ bị bắt cùng với ba mươi tên thủ túc khác đóng cũi giải về kinh. Vua sai chém hết. Khi Trần Khắc Chấn cho quân tới gần An Phụ, thì được tin Ngô Bệ đã bị bắt giải về kinh sư. Trần Khắc Chấn bèn đem theo cả vệ quân thần sách qua vùng Chí Linh, xem dư đảng của tên Tề nào đó, tự xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo đại vương, dám tụ tập số dân đói khát quanh vùng đi cướp bóc, nhũng nhiễu trong dân. Tới nơi, được biết bọn chúng đã tự tan. Tên Tề trốn đi biệt tích, quan quân còn đang tróc nã. Tiện đường, Trần Khắc Chấn rẽ vào thăm thái ấp của quan Chương túc quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán. Trần Khắc Chấn nhận ra đây là một vùng đất kỳ thú. Núi non trùng điệp, rừng bạt ngàn, sông lớn sông nhỏ chằng chịt, ruộng đồng phì nhiêu. Dân đông, biết giữ lễ mà chân chất, mộc mạc. Thảo nào xưa kia Yên Sinh vương Liễu, rồi đến Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, nay là quan Chương https://thuviensach.vn túc; và gần đây lại có cả quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu An cũng từ quan về núi Phượng Hoàng ẩn dật. Sau khi phát lộ ra điều đó, tướng quân Trần Khắc Chấn rất lấy làm lạ, vùng đất này lại bao chứa được cả hai phần trái ngược nhau, mà phần nào cũng ưu việt cả. Tức nó vừa là đất dụng võ, lại vừa là đất ẩn dật. Thật ra, Trần Khắc Chấn ghé vào thái ấp của quan quốc thượng hầu cũng là một sự cầu may, chưa chắc ông đã có nhà. Vì hiện ông đang coi sóc tòa Khâm thiên giám, lại kiêm cả việc quân tại trấn Quảng Oai. Gặp Trần Khắc Chấn, quốc thượng hầu vui lắm. Về thứ bậc, Trần Nguyên Đán thuộc hàng thúc bá của Khắc Chấn. Nhưng mỗi người ở một chi khác. Trần Nguyên Đán vốn là Chắt nội Trần Quang Khải, một chi tộc lẫy lừng từ thời kình chống giặc Nguyên - Mông, vẫn làm cho Khắc Chấn ngưỡng mộ. Tuy hai bác cháu cùng làm quan tại triều, nhưng ít khi gặp nhau lắm. Vì Khắc Chấn chỉ là một chức quan nhỏ, lại thuộc hàng dưới. Còn quốc thượng hầu thuộc hàng đại công khanh thì làm sao mà gặp nhau được. Nguyên Đán là người học rộng, văn chất cao nhã, tuổi trẻ thích giao du. Không phải ông thích giao du trong hàng vương tôn quý tộc, mà thích được thù tiếp với các bậc danh sĩ đương thời. Những năm gần đây chán ngán thời thế, ông còn giao du với cả các bậc tu sĩ, ẩn sĩ ở các chùa, quán. Ông cũng từng nghe danh Khắc Chấn là một tướng trẻ nhưng đảm lược, và có chí tiến thủ. Nhất lại khao khát con đường chân, thiện. Vái Nguyên Đán ba vái, Trần Khắc Chấn nói: - Cháu đường đột đến vấn an bá phụ, chẳng hay có điều gì phiền phức không ạ? - Không, không có gì phiền cho ta cả. Ta lại còn mong cháu đến nữa là khác. Cháu tính, ta ở chốn sơn lâm cùng cốc này mà cháu còn tìm đến thăm, thời quý lắm. Quý lắm. Trần Nguyên Đán nắm tay Trần Khắc Chấn ân cần mời ngồi vào kỷ. sau một tuần trà, Nguyên Đán hỏi: - Vậy chớ tiện việc quân cháu ghé thăm ta, hay có lệnh hoàng thượng triệu ta đó? https://thuviensach.vn Vẫn là quý chàng trai, mới nom cũng biết là con người đàng hoàng đáng bậc chính nhân quân tử, nhưng năm tháng cũng cho ông thấy cần phải thận trọng, cẩn tắc vô ưu. Thời thế bây giờ khó lắm. Khó lắm. Trần Khắc Chấn vội đặt chén nước xuống vái quan quốc thượng hầu, rồi thưa: - Để bá phụ phải hỏi tới điều đó, cháu thật có lỗi. Chàng bèn thuật hết đầu đuôi công việc. Và ghé lại đây, chính là lòng chàng từ lâu ngưỡng mộ và kính ái bậc bề trên, chớ không có điều gì quan ngại. - Vậy điệt điệt ở chơi với ta được bao lâu? Ta biết việc quân không thể thư nhàn, nhưng đã tới đây, ta muốn lưu cháu ít nhất vài ba ngày. Rồi ta sẽ dẫn cháu đi xem ấp trại của ta. Có nhẽ trong khắp nước, ta thích vùng này hơn cả. - Dạ bẩm bá phụ, đúng là việc quân thì bá phụ không còn lạ gì, nên cháu không thể lưu lại vài ba ngày hầu bá phụ được. Nhưng thực quả, nếu chưa được bá phụ dạy bảo điều gì mà đã ra đi thời cháu ân hận lắm. Cháu xin bá phụ cho phép ở lại thăm bá phụ qua đêm nay. Sớm mai, cháu lại phải dẫn quân về kinh ạ. - Ha ha...- Nguyên Đán cười hể hả - Đành vậy. Nhưng ta biết nói chuyện gì với cháu nhỉ? Liền đó, ông gọi đám gia nô đem cho ông bình rượu cúc. Rượu cúc vàng óng, sánh như mật ong, rót ra bát ngọc, mùi hương cúc, hương men tỏa thơm ngào ngạt. Tự tay ông đưa mời. Khắc Chấn nâng hai tay đỡ bát rượu. Đúng là chàng chưa được trông thấy thứ rượu kim cúc nào thơm ngon tinh khiết như thế này. Sức chàng có thể uống một hơi hàng chục bát. Nhưng viên tướng trẻ Trần Khắc Chấn chỉ khẽ mím môi nhấp một chút, rồi đặt bát xuống. Trong đầu chàng đang vương vấn về một cái gì đó. Đang nghi hoặc một cái gì đó. Chương túc quốc thượng hầu lại nói: - Cháu uống rượu đi. Rượu này tự tay ta cất lấy. Cúc cũng do ta trồng lấy. Ta có ba sào kim cúc, với cả mẫu ruộng chỉ cấy có một thứ nếp cái hoa vàng, để cất rượu uống quanh năm. https://thuviensach.vn "Thế là rõ rồi - Trần Khắc Chấn tự nghĩ - Bá phụ đã chán thời thế muốn về ẩn dật mất rồi". Bỗng chàng cười vang, nói: - Trình bá phụ, ông Đào Tiềm trồng những ba mẫu kim cúc kia, bá phụ mới trồng có ba sào còn ít quá đấy ạ. ( Đào Tiềm, hiệu là Đào Uyên Minh, một cao sĩ đời Tấn (Trung Hoa cổ đại) chán ghét thời thế, từ quan về ở ẩn. Ông trồng ba mẫu kim cúc để cất rượu thết bạn bè.) Trần Nguyên Đán đứng xốc dậy như thế hổ vồ mồi. Ông ôm lấy hai vai Trần Khắc Chấn mà lắc: - Cháu hiểu hết cả gan ruột ta rồi. Cháu thông tuệ lắm. Đã thế, ta chỉ nói với cháu về cái chí muốn đi ở ẩn của ta, cùng các thứ cỏ cây hoa lá trong trang ấp thôi, chứ không nói chuyện thời thế, nghe chưa? Trần Khắc Chấn mỉm cười, đáp: - Thưa vâng ạ. - Nào cháu uống đi, Trần Nguyên Đán giục. Uống rồi ta dẫn cháu đi xem vườn cúc. À, mà ta mới trồng được giống hồng Bảo Lâm quý lắm. Năm ngoái đã bói được ít quả. Lại mấy khóm bạch trà, và có dễ đến vài trăm cây quất, giống lấy từ Thiên Trường về. Ứớc gì tết cháu ghé đây mà xem hoa trái, cây cảnh của ta. Nếu được xem đúng độ, đúng mùa của nó, thời đến chí trượng phu như cháu cũng muốn đi ở ẩn kia? - Nguyên Đán lại cười sảng khoái. ông tiếp - Gọi là ẩn thôi, chớ ta phải làm việc tối ngày với đám gia nô đấy. Mà ta cũng đã từ quan đâu. - Thưa bá phụ, lại còn việc đọc sách nữa chứ ạ. - À, đúng. Đúng, ta đọc đến mải mê. Đọc đủ thứ. - Thưa bá phụ, nếu bỏ cái thú làm bạn với thiên nhiên, cây cảnh và đọc sách, cháu chắc chắn là ít người ở ẩn được lắm. - Ờ, ờ… cháu nói đúng. Nhưng sao ta càng đọc sách càng thấy đầu óc trống rỗng. - Dạ, thưa bá phụ, thế thì những thứ đó tự thân chẳng có ý nghĩa gì. Mà nó chỉ trở nên quan yếu đối với các bậc ưu thời mẫn thế, chán đường công danh, chán thế tục đi cầu tìm cái sự nhàn thôi có phải không ạ? https://thuviensach.vn - Đúng! Cháu ta còn ít tuổi mà nghị luận xem ra có thể so với Đổng Trọng Thư đời Hán được. - Lạy bá phụ, cháu đâu dám nghĩ thế. - Ấy là ta nghĩ thế. Mà cháu quả cũng giống thế. - Bá phụ quá yêu mà khen. Thực cháu thấy một điều khác còn quan yếu, hơn cả các thứ sách vở cùng thiên nhiên cây cảnh. - Điều gì vậy cháu? Trần Nguyên Đán hỏi, giọng hồ hởi. Bởi càng nói chuyện với viên tiểu tướng này, ông càng thấy mến chàng. - Trình bá phụ, các bậc đi ở ẩn xưa nay thường lánh đục tìm trong. Trước hết cầu cho cái thân được an, sau nữa cho cái tâm được tĩnh. Nhưng thưa bá phụ, một khi cái thân đã an thì cái tâm lại không tĩnh nữa. Cháu đoán chắc với bá phụ như vậy. Người ta nói, xưa nạy chỉ có ông Đào Tiềm là toại nguyện khi ở ẩn. Nhưng cháu vẫn không tin. Đấy là chuyện đời sau thêm thắt vào, để lấp cho đẩy cái chỗ khiếm khuyết của thuyết ẩn dật. Trần Nguyên Đán giật mình vì sức kiến giải vững vàng của Khắc Chấn . Đúng thế, ông mới chỉ sửa soạn cho việc về ở ẩn thôi, mới định cố quên đi chuyện đời thường cho quen mà sao nó vẫn cứ cộm lên, cứ như có cái gì bất như ý, như là một sự tự vấn của lương tâm. Chao ôi cái thằng nhỏ, đúng là cái lòng nó trung dũng, cái tâm nó sáng trong, nên nó nhìn sự vật cái gì cũng rành rõ, tỏ tường. Quả vậy, tuổi trẻ là phải nghĩ đến việc kinh bang tế thế, việc chấn hưng đất nước, nếu không chỉ là đồ bỏ. Nhớ lại thời Trùng hưng, đức Nhân tông mới chỉ 27 tuổi mà cầm đầu cả một dân tộc, một quốc gia, kình chống lại một thế lực có sức mạnh ngang trời đất. ấy là quân Thát đát. Nghĩ không thể tiếp mãi câu chuyện này với thằng bé được bởi ông đã hẹn không nói chuyện thời thế. Vậy mà nó lại đang dẫn ông vào cuộc rồi. Nguyên Đán bèn nắm tay Trần Khắc Chấn, ông nói: - Ta phải khoe với cháu cái này. Thế là ông kéo tuột chàng ra hoa viên. Ông chỉ vào một cây bạch mai có cái dáng thật đẹp. Thể hiện sự cân quắc của một tư tưởng cao siêu, thanh khiết. Các cành thưa thớt, khẳng khiu trơ ra với sương tuyết, không còn một chiếc lá nào, nhưng lại chúm chím những nụ bật ra từ khe nách của thân cành. https://thuviensach.vn Nhìn cây lão mai và sự hào hứng của Trần Nguyên Đán, Khắc Chấn biết chí trượng phu cùng tài trí hơn đời của bá phụ đã chìm trong cái thế của cây cảnh mất rồi. Những bậc hiền tài như thế này mà làm ngơ trước thế nước, thì thật là điều chàng không thể hiểu nổi. Chàng nhất định phải tìm cho ra nhẽ. Trần Khắc Chấn bèn lên tiếng: - Trình bá phụ, nhìn toàn thể hoa viên của bá phụ, quả là đẹp. Nhưng đi vào tiểu thể từ thế cây, dáng cảnh đến các giống, các loài cây lạ, hoa quý thời cháu quả là mù đặc. Nhưng riêng cây lão mai mà bá phụ chỉ cho cháu kia, cháu thấy nó có một vẻ đẹp dị thường, ít loài cây khác có được. - Cháu thử nói ta nghe ! - Dạ, cháu thấy loài cây này tuy mảnh mai nhưng có một năng lực tự bảo tồn thật mãnh liệt. Bá phụ nhìn kìa, để chống lại tuyết sương, nó trút hết lá để lấy nhựa nuôi thân, và nuôi cả những cái mầm nụ; chỉ mai đây nó lại xòe tung ra rực rỡ, cùng với những đọt lá non đẹp hơn cả bộ lá già cũ. Loài cây này, thưa bá phụ, cháu thấy nó có khí chất từa tựa như dân tộc Đại Việt ta vậy. Cho nên cháu không nghĩ rằng chi mai lại hợp với tâm thức người ẩn dật, mà thực nó hợp với tính quật khởi của các bậc có chí khí anh hào. Nghe Trần Khắc Chấn nói, Nguyên Đán không khỏi khâm phục tính mẫn nhuệ của tuổi trẻ. Nhưng ông thật đau lòng và có phần hơi hổ thẹn, vì có lúc ông đã nghĩ: "Không biết nó thuộc phe đảng nào đến dò tìm ta". Khi vào tiệc rượu, rượu được ba tuần, chủ khách xem ra không còn dè dặt nữa. Trần Nguyên Đán hỏi: - Vừa rồi ta nghe dân chúng khắp cõi đồn rằng sau vụ lụt, hoàng thượng về Thiên Trường và nhiều nơi khác, ban thần dược "Hồng ngọc sương" cùng gạo, tiền đến tận tay dân bị nạn, ta mừng quá. Nếu các việc tiếp theo mà cứ cái đà nhân nghĩa này, lòng dân chắc sẽ quy phụ, chứ không còn cái nạn như Ngô Bệ nữa để cháu phải ra tay. Trần Khắc Chấn dằn mạnh bát rượu xuống, mặt sa sầm: - Tiếc thay đó là điều bá phụ nghe người ta đồn. Chính cái vụ Thiên Trường đó, mà chỉ có Thiên Trường thôi không có nơi nào khác nữa đâu. https://thuviensach.vn Cháu dẫn quân cấm vệ đi hộ giá chứ ai. Trần Khắc Chấn kể lại các việc như nó đã xảy ra. Nghe xong, Trần Nguyên Đán thở dài: - Đại bất hạnh cho cả dân tộc, khi mà sự dối trá lại ngự trị trên chính ngai vàng điện ngọc. Vậy cháu bảo ta không ẩn dật thì còn làm gì được nữa? Đoạn ông đứng dậy với tay lấy cuốn sách trên án thư. Vừa mở sách, Nguyên Đán vừa nói - Nhân vụ lụt ta có viết vài dòng cảm tác, cháu thử đọc xem sao. Trần Khắc Chấn vội đón lấy. Chàng nhẩm đọc: Nhâm dần niên lục nguyệt tác Niên lai hạ hạn hựu thu lâm Hòa cáo miêu thương hại chuyển thâm Tam vạn quyển thư vô dụng xứ Bạch đầu không phụ ái dân tâm. Dịch nghĩa: Thơ làm vào tháng 6 năm Nhâm dần (1362) Năm nay mùa hè bị hạn, mùa thu bị lụt, Lúa khô mạ thối, tai hại càng nhiều. Đọc ba vạn cuốn sách mà thành vô dụng, Bạc đầu luống phụ lòng thương dân. Đọc xong Trần Khắc Chấn lặng người đi. Chàng biết bá phụ thương dân đến cháy lòng, nhưng bất lực, nên dồn trút tâm can vào ngọn bút. Vẻ mạnh dạn, chàng thưa: - Trình bá phụ, cháu thấy cái tâm của bá phụ quả là đã mệt mỏi, muốn lánh ẩn thật, nhưng cái chí của bá phụ thì không hẳn thế. Cháu chỉ mong sao các bậc tài đức, quyền thế như bá phụ, hãy góp sức lại hưng thế nước lên. Cứ như thiển ý của cháu thì thế nước đang có đà lâm nguy. Lúc này Nguyên Đán không còn dè dặt nữa, ông nói: - Cháu còn ít tuổi đã biết nghĩ thế, huống chi ta. Nhưng tình thế khó lắm. Triều đình thì năm bè bảy mối. Bè nọ đảng kia hằm hè cắn xé nhau. Hoàng thượng thì mải mê trong thú vui đọa lạc, bị lũ bảy tên thao túng. Thực quyền trị nước, hiện ở trong tay bọn chúng. Vì chúng được hoàng thượng mê muội tin dùng. Cháu bảo bọn ta làm gì được. Hoàng thượng gạt https://thuviensach.vn hết các người thân tín, vừa có tài có đức trong hoàng tộc ra khỏi bộ máy triều đình rồi. Như ta, hàm là quốc thượng hầu, một trong những tước vị đầu triều, nhưng thực quyền lại không có gì. Ta chỉ được coi sóc một trấn nhỏ, vài chục tên quân với một dúm dân, chúng nó bóp chết lúc nào mà chẳng được. Còn cái Đài khâm thiên giám kia, có ai cần gì đến nó. - Cháu thật có lỗi, trước đây cháu đã ngờ bá phụ cầu tìm sự an nhàn. Nào đâu cháu có biết được nội tình lại suy đốn đến mức này. Đáng tiếc, dạo ấy giá thái hậu cứ làm già lên, cứ thi hành cái án theo sớ thất trảm của quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu An cáo giác, thì phúc cho nước biết mấy? - Đó là sự tức giận nhất thời thôi, chứ bà thái hậu không có bản lĩnh như Ỷ Lan phu nhân, hoặc Linh Từ quốc mẫu. Âu cũng là vận số nước mình thôi cháu ạ! Trần Nguyên Đán buông một câu đầy thất vọng. - Trình bá phụ, cháu không tin vào vận số. Cháu chỉ tin vào các bậc cân quắc ra tay, thì lũ tiểu nhi chúng cháu dù có phơi thây trên nội cỏ cũng xin vác giáo theo hầu. - Thôi được, hẵng cứ ngẫm. Nhưng ta mừng, nước vẫn còn được những người có tâm huyết như cháu, thời còn cspan hi vọng. Khắc Chấn lại hỏi: - Thưa bá phụ, cháu xem như sức quân ta bây giờ yếu lắm. Giả sử có giặc bắc, giặc nam, chưa chắc đã giữ được nước như thời Trùng hưng. - Cháu đo sức quân thế là đúng. Ta cũng lo lắm. - Dạ, thưa bá phụ, mặt nam, quân Chiêm Thành đang ráo riết nhòm ngó đất Hóa Châu. Mà người Châu Hóa cũng chia lòng lắm. Họ không còn mấy tin ở triều đình nữa. Ngừng một lát, như để suy nghĩ thêm điều gì đấy mà từ lâu ấp ủ. Trần Khắc Chấn lại nói: - Trình bá phụ, thế tại sao hiện nay dân đói, tướng hèn, quân nhát? Chẳng nhẽ Hưng Đạo binh pháp hết phép mầu rồi chăng? Trước câu hỏi có quan hệ đến sinh mệnh của bản thân, và sự hưng vong của nước mà Trần Khắc Chấn đặt ra, quan quốc thượng hầu suy nghĩ lung lắm. Ông chưa say, sức rượu ông không kém Lê Tần, Trần Nhật Dưật xưa kia. Vì thế mà ông phải cân nhắc. Biết điều xấu, tốt mà không giảng giải https://thuviensach.vn cho con cháu nghe là ích kỷ, là không phải đạo. Biết điều phải quấy mà không giúp cho người khác biện biệt được là hèn. Chẳng lẽ ta lại là một kẻ vừa ích kỷ vừa hèn sao? Trần Nguyên Đán tự hỏi. Và ông cũng thầm trả lời – Không! Ta chưa bao giờ là một kẻ hèn, một kẻ ích kỷ. Nếu có nhiều việc ta chưa làm được như chí ta ấp ủ, thì đấy là do thời thế. Còn ta thì chưa đủ sức để tạo ra thời thế, đành khoanh tay thúc thủ như một kẻ bất tài. Ông sửa lại nếp áo rồi nhìn thẳng vào mắt Trần Khắc Chấn, như để một lần nữa đo lường tính trung thực và cương dũng của chàng. Đoạn ông nói: - Này cháu! - Dạ! - Cháu có biết điều ta hỏi cháu hệ trọng đến mức nào không? Nếu bàn cạn nhẽ mà việc này tới tai hoàng thượng, là bác cháu ta mắc tội khi quân đấy. Thôi được, bác cháu ta có khi chỉ còn lần gặp này. Bác xem cháu như người bạn tri ngộ. Bác sẽ nói tất cả. Nhưng trước khi nói, có khi ta với cháu phải đến trước bàn thờ tổ phụ thắp một tuần nhang. Ta muốn thế, vì đây là cuộc luận bàn có quan hệ đến thế nước, mà từ lâu ta đã cố quên không nghĩ tới. Trần Nguyên Đán liền đứng dậy đi trước, Trần Khắc Chấn theo sau vào hậu đường. Nơi có bài vị thờ Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo. Nguyên Đán lầm rầm khấn điều gì Khắc Chấn không nghe được, nhưng chàng cho đó là những lời tâm huyết thiêng liêng lắm. Từ nhà thờ hai vị đại anh hùng bước ra, Trần Khắc Chấn thấy lòng thư thái, và chàng cảm thấy như mình vừa được gột rửa một thứ nước thơm tinh khiết. Chàng chờ đợi. Trần Nguyên Đán nhìn cháu, thong thả nói: - Cháu hỏi ta vì sao dân đói? Dân đói là do triều đình ăn của dân nhiều quá. Tức là tô thuế quá nặng; và do quan lại tham nhũng, bòn rút của dân đến cạn kiệt. Còn tướng hèn, là do cất nhắc người không có năng lực và khí chất vào các cương vị trọng yếu. Một tướng văn dốt nát, cho sang làm bình chương quân quốc trọng sự, thì các tướng dưới quyền sẽ khinh mà không tòng phục. Cầm quân đánh dẹp một vài trận mà thua, là khí thế ba quân đâm nhát sợ đi, hèn đi chứ sao. Hoặc tướng võ, mà không tinh thông binh pháp, văn chương, thì chỉ là một thứ võ biền, là ngu tướng. Tướng đã ngu, https://thuviensach.vn đã hèn thì quân còn dũng làm sao được mà không nhát. Cháu xem thời Trùng hưng, các vị tiền bối của chúng ta, các bậc tướng soái đều văn võ kiêm thông, mà yêu lính như con. Thời Trùng hưng được thế, là vì có các đấng minh quân trị vì. Triều đình không những thâu tóm được tất thảy người tài đức dùng cho nước, mà còn có chính sách thân dân, lo cho dân từ mảnh ruộng cấy con trâu cày. Bây giờ thế nào thì cháu đã biết. Triều đình khinh dân lắm. Coi mạng dân không bằng con chó, con lợn. Vua đã coi dân như chó, lợn, thì dân cũng coi vua như hùm, như sói, như cừu thù. Vì thế mới có nạn Ngô Bệ, và xem ra sẽ còn nhiều Ngô Bệ khác nữa cháu ạ.- Với một vẻ chán ngán đến mệt mỏi, quốc thượng hầu bèn tựa thân vào chồng gối xếp. Nuốt một hơi thở sâu vào đáy bụng, ông lại nói - Hưng Đạo binh pháp không bao giờ hết phép mầu được. Nhưng dùng nó phải có đức. Đức lớn lắm mới dùng được. Thử hỏi, thượng tể Quốc Chẩn có tội gì mà phải rụng đầu nơi pháp trường? Đem quân pháp giết người đồng tông vô tội là ngu quân, thất đức chứ sao. Cháu có nhớ trong "Vạn kiếp tông bí truyền thư" có một nhời huấn giáo như sau: “Sau này con cháu và bồi thần của ta có học được bí thuật này, thì nên lấy lòng sáng suốt mà thi hành bày xếp, không nên lấy ngu tối mà dạy truyền, trái thế thì mình phải chịu tai ương mà vạ lây đến con cháu”. Nghe bá phụ đọc lại lời dặn của Hưng Đạo, Trần Khắc Chấn thấy lạnh gáy. Chàng nhớ lại vụ án Thượng tể Quốc Chẩn năm Mậu thìn (1328) thời Trần Minh tông, mà sinh thời cha chàng thường kể, với tất cả sự nhức nhối và phẫn uất. Như thế là các việc đều đã tỏ sáng. Nguyên Đán ngừng lời, đôi mắt ông lim dim như mơ như thực. Trần Khắc Chấn nhẹ nhàng nói: - Lạy bá phụ, trước đây trong đầu óc, trong suy nghĩ của cháu cứ như một lớp mây mờ, không thể nào mà gạt đi để nhìn cho thấu suốt được. Nay nghe bá phụ giảng giải, cháu như người mù thấy lại ánh sáng, nhận biết đường đi. Cháu biết, đây là những điều trọng yếu, cháu hứa sẽ không hở môi ở bất cứ nơi chốn nào với bất cứ ai. Nhưng có nhẽ, bá phụ cho phép cháu mà đừng coi cháu như một kẻ mạn xược bất kính các bậc bề trên, vì https://thuviensach.vn cháu còn trẻ, nên cháu vẫn phải đi theo đường của cháu, bá phụ đi theo đường của bá phụ. - Giỏi! Cháu nói thế là hữu lý và trung thực. Trần Nguyên Đán tỏ lời khen. - Thưa bá phụ, còn một việc nữa cháu vẫn cứ phân vân. Bởi nhẽ hồi ấy cháu còn nhỏ chưa biết gì, mà các bậc bề trên khi xác định đương kim hoàng thượng thường nói rằng đời Thiệu phong công việc chính trị tốt, chỉ có từ Đại trị tới giờ chính sự mới đổ đốn. - Nhầm! Trần Nguyên Đán phân định ngay mà không cần phải suy xét. Đời Thiệu phong bắt đầu từ năm Tân tỵ (1341). Khi ấy đức Dụ tông lên ngôi mới có sáu tuổi. Niên hiệu này kết thúc năm Đinh dậu (1357) cũng là năm thượng hoàng Minh tông băng. Phải hiểu rằng các quyết sách thời ấy đều do ở tay thượng hoàng cả. Những gì mà Dụ tông làm được cũng bắt đầu từ niên hiệu Đại trị. Vì vậy thầy học của nhà vua mới phải dâng sớ "thất trảm" chứ. - Dạ cháu hiểu! Đa tạ bá phụ. ( Niên hiệu Đại trị từ Mậu tuất (1358) đến Kỷ dậu (1369) là năm Dụ tông mất.) https://thuviensach.vn VII Không phải sớm ấy Chu An bỏ Thăng Long không về thẳng núi Phượng Hoàng vùng Chí Linh, mà phải sống tá túc vào đâu đó Việc này ông đã có dự liệu từ trước. Nghĩa là từ năm Tân mão (1351), khi Trâu Canh dâng phương thuốc phục dương cho Dụ tông, được thượng hoàng Minh tông chấp thuận. Ông nhận ngay ra tính phi nhân của thượng hoàng. Năm ấy Dụ tông vừa tròn 15 tuổi. Chữa trị xong được bệnh liệt dương thì Dụ tông mắc phải hai bệnh mới: bất nhân và vô luân. Vì rằng ông ta phải dùng tới 21 chiếc mật của trẻ con mạnh khỏe làm thang cho phương thuốc, rồi lại thông dâm với chị ruột mình là công chúa Thiên Ninh. Cũng từ đấy, Chu An nhận thấy người học trò của mình dần dần đổi tâm đổi tính. Sao nhãng việc học. Lén dấu đọc các loại yêu thư. Và nhất là ham mải con đường sắc dục, do Trâu Canh cùng tên hoạn quan chi hậu cục Mai Thọ Đức dẫn dắt. Đã đôi lần quan Tư nghiệp có trình lên thượng hoàng Minh tông về sự lo lắng của mình, và xin thượng hoàng nghiêm huấn cho nhà vua. Nhưng xem ra thượng hoàng cũng không quan hoài gì nhiều lắm. Thành thử người học trò vĩ đại của ông ngày càng xa lánh cái đạo của người quân tử, mà lại yêu thích cái đạo của lũ tiểu nhân. Tiếp đến các năm của niên hiệu Đại trị, tức là từ sau khi thượng hoàng Minh tông mất, nhà vua đã 23 tuổi, bắt đầu vào tuổi trưởng thành và tự xác lập vương quyền, thì nhà vua càng tin dùng bọn bất nhân, vô tài. Chúng đua nhau đục khoét dân lành, kéo bè lập đảng để hại người hiền tài không thuộc phe cánh chúng. Căm giận bọn quan lại sói lang, Chu An đã nhiều lần bầy tỏ nỗi lo lắng của mình trước nhà vua. Xin đức vua lưu tâm dùng người tài đức, và chỉnh đốn mối rường cho có kỷ cương của một triều đại; rồi còn phải lo đến việc dân, việc binh. Cương mục của một nước không thể tùy tiện được. Nhà vua https://thuviensach.vn không phản bác ý thầy, nhưng cũng không nghe, không làm các việc quang minh chính đại, ích quốc lợi dân như Chu An đã xướng xuất. Tự biết rồi cũng có ngày phải từ quan, phải vĩnh biệt đất Thăng Long văn hiến, nên nhân một cuộc nhàn du về vùng Kiếp Bạc, Bình Than rồi ra cửa sông Bạch Đằng do Trương Hán Siêu mời đi trong chuyến ông kinh dinh lộ Hải đông hồi năm Nhâm thìn (1352). Dọc hành trình Chu An thường chú ý đến tài thơ văn, và phần nào là đức hạnh của họ Trương, nên cũng cảm mến ông. Bởi ông là môn khách của đức Hưng Đạo đại vương từ thuở niên thiếu, hẳn nhiên là hấp thụ được đức tốt của ngài. Trong số các trước tác của Trương Hán Siêu, Chu An thích nhất bài "Phú sông Bạch Đằng". Nói về hào khí Đại Việt, mà viết như "Bạch Đằng giang phú” thời thực là tuyệt bút. Sông Bạch Đằng từ Ngô vương Quyền chém Lưu Hoằng Tháo (938), đến Hưng Đạo cả phá quân Nguyên trong trận đại thủy chiến năm Mậu tí (1288), đã có biết bao người viết về chiến công hiển hách này, nhưng đều bị lu mờ trước Hán Siêu. Phải chăng Hán Siêu được nuôi dưỡng trong cái hào khí đó, nên phát lộ được ra bằng thi phú chăng? Ngồi trong thuyền nghe sóng vỗ lóc róc quanh mạn, lại cả tiếng gió ngàn từ hai bên bờ lau sậy, rừng rú bạt ngàn; tưởng như nghe lại được tiếng gươm khua, tiếng quân thét. Chợt thi hứng nổi lên, Chu An đã toan lấy giấy bút ra viết. Nhưng ngửng thấy Hán Siêu ngồi trước mặt, Chu An chột dạ đành nén lại một tứ thơ. Tựa như Lý Bạch tới lầu Hoàng Hạc, ngửng nhìn lên vách đã thấy thơ Thôi Hiệu. Đọc xong, ông buồn bã thốt lên: Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu ( Trước mắt có cảnh nói không được. Thôi Hiệu (đã) đề thơ ở trên đầu rồi.) Chuyến đi này Chu An ngắm được một thế đất ưng ý. Ấy là một dải núi, rừng già phủ kín, nom có cái dáng của một con phượng hoàng giương cánh. Thấy tình thế trong triều ngày một khó chịu, vài năm sau Chu An sai một số môn sinh và gia nhân ra dựng cho ông một nếp thảo lư bên khe suối. Có bậc đá dẫn tới thềm, có cổ thụ bao quanh, lại có giếng thơi và một vài thứ cây cảnh mà ông ưa xem ngắm. https://thuviensach.vn Giận vì Dụ tông mê đắm vào con đường vô đạo, lại khi mạn không đếm xỉa gì đến sớ cáo giác bảy tên quyền gian, mà ông đã dâng tới hai tháng. Chu An liền phủi áo ra đi. Ông đi một mạch tới mái lều tranh của ông nơi núi Phượng Hoàng. Tưởng rằng xa lánh một ông vua ngu tối, một triều đình mục nát về bạn bầu với cây cỏ chốn lâm tuyền cho thư tĩnh. Ai dè, ở chưa ấm chỗ, các bậc cố lão trong vùng nghe danh tiếng ông, tới tấp đến thăm viếng. Và nài nỉ xin lập một ngôi trường ngay cạnh thảo đường của tiên sinh, để tiên sinh dạy cho con cháu họ. Không thoái thác được, Chu tiên sinh đành trở lại với nghề. Những đứa trẻ con nhà lương dân này, xem ra chúng biết tôn sư trọng đạo hơn nhà vua nhiều. Bởi vậy, tiên sinh cũng tìm được nguồn vui trong cái đạo của người thầy. Lại nói đến Dụ tông, sau khi thầy học đã bỏ đi, mặc nhiên ông không học ai, và cũng không ai dạy ông được nữa. Nhưng thái hậu Hiển từ, đôi khi vẫn cứ nhắc tới Chu An với tấm lòng kính ái. Để làm vừa lòng mẹ, Dụ tông lại cho sứ đến thăm hỏi sức khỏe Chu An và ban cả áo mũ. Bất đắc dĩ phải nhận, nhưng khi sứ giả đi rồi, thời ông lại đem các thứ đó cho các bậc cao niên nghèo túng trong vùng. Và ông cũng chỉ gởi lời sứ giả về đáp lễ vua, chứ không hề có một chữ nào cho Dụ tông cả. Nhiều lần Dụ tông phàn nàn với thái hậu: "Con đã mấy phen cho triệu Chu tiên sinh về triều, muốn giao cho tiên sinh vài trọng trách mà ông đều từ chối". Biết tính của tiên sinh, bà thái hậu khuyên Dụ tông: Người cao thượng, tiết tháo như thế, quan gia sai bảo sao được. Từ đấy không bao giờ Dụ tông nhắc đến người thầy học của mình nữa, mà ông chỉ lo xem việc xây cung thất mới đến bao giờ thì hoàn tất. Cũng là chuyện không may, khi khởi công xây dựng được ít lâu thì trời làm hạn hán. Tiếp đó là lụt, phá nát tới gần nửa số công trình. Của kho nhà nước có hạn. Dân chết đói đầy đường, lại còn các việc binh nhung, hàng trăm thứ chi tiêu mà chỉ trông vào có ngọn lúa của đám dân cày, rồi liền năm mất mùa, dân lấy gì đóng thuế. Việc xây cất có nguy cơ phải đình hoãn. https://thuviensach.vn Lũ gian thần họp nhau lại bàn mưu tính kế. Chúng quyết bằng mọi cách phải xây cất được cung thất như đã hứa, để làm đẹp lòng vua. Trước hết là phải gia tăng thuế khóa, không đánh vào bọn khố rách áo ôm được vì mùa màng mất trắng, thì phải thẳng tay móc túi bọn giàu có. Hành khiển hữu ty Tâm Đức Ngưu xin vua cho ban một sắc luật mới, tức là luật kiểm điểm tài sản. Luật này chỉ áp dụng cho các nhà quyền quý, các đại phú gia. Tức như trước kia, những người quyền quý ấy, những chủ nhân gia sản lớn ấy mất đi, đương nhiên mọi thứ của cải tài sản, vợ con họ có quyền thừa kế. Nay theo luật mới, khi các người ấy chết đi, lập tức phải kê biên tài sản. Vật gì quý báu, nhà nước thu lấy. Vì sắc luật mới này mà nhiều người chết, quàn đến thối ra cũng chưa báo tử, chưa phát tang, bởi gia nhân còn tìm cách chôn giấu hoặc phân tán tài sản. Một sắc luật khác về điền thổ có tên là “xắn chân bãi cát bồi". Hầu hết các bãi đất mầu mỡ ven sông, trước đây đều chia cho các vương hầu, các công chúa để lập điền trang. Còn nông nô được tha thải, muốn có ruộng cấy phải khai phá các đất rừng hoặc đất ngập mặn. Các chân bãi bồi ấy nếu như thủy lưu thay đổi bồi đắp lên, có khi cả một dải dài tới mấy trăm mẫu, mặc nhiên người chủ của bãi đất có chân cát bồi ấy được tọa hưởng. Nay theo sắc luật mới, chiểu theo diện tích được cấp cũ, dôi ra bao nhiêu thì chủ đất phải đóng thuế. Thuế truy thu từ ngày có chân bãi bồi mới. Vậy có người phải đóng ngược lên tới mấy chục năm liền. Nhiều nhà khuynh gia bại sản về luật thuế mới, ai không đóng thuế, đất ấy nhà nước thu lấy bán. Chỉ với hai sắc thuế này, lũ quyền gian thu về không biết bao nhiêu của cải tài sản tiền bạc; cho nên việc xây cất cung thất cho vua không lúc nào ngơi nghỉ. Nhưng cũng chỉ với hai sắc thuế này, nhà vua đã bị toàn bộ giới vương hầu và quý tộc ngấm ngầm chống lại. Như thế cũng có nghĩa là dưới triều Đại trị của Dụ tông, khắp trong nước, không kể giàu nghèo, ai ai cũng được nhà vua móc túi. Ngoài các sắc thuế mới mà từ thượng cổ chưa có, lũ quyền gian còn tìm mọi cách để sao vơ vét được nhiều tiền bạc nhất, trước hết là cho chúng, sau đó mới cho vua. Bởi thế, chúng moi móc không trừ một thứ gì, không https://thuviensach.vn từ một ai, kể cả thân tín trong hoàng gia, hoàng tộc cũng thế thôi. Ví như Ngô Dẫn, trại chủ xã Đại Lại, là một phú gia địch quốc, trong nước ai cũng biết tiếng. Lai lịch là do về đời Minh tông, cha Dẫn bắt được một viên ngọc rết to, đem ra thương cảng Vân Đồn bán cho người ngoại quốc. Một chủ thuyền buôn lớn người nước Nguyên, biết đây là viên ngọc cực quý. Ông ta liền bán hết cả hàng hóa và đội thương thuyền của mình đi, để mua bằng được viên ngọc ấy. Gia đình Dẫn trở nên giàu có. Minh tông bèn đem công chúa Nguyệt Sơn gả cho Ngô Dẫn. Viên phò mã này phần thì ở xa triều đình, phần thì cậy của, nên đôi khi xử sự với công chúa có phần khiếm khuyết, công chúa giận lắm. Dò biết được chuyện này, lũ Tâm Đức Ngưu cho người ra khích công chúa. Lại phao tin đồn rằng Ngô Dẫn đi tư thông với bọn con gái khác, và tỏ vẻ khi mạn công chúa. Tức giận vì ghen tuông, công chúa Nguyệt Sơn cáo giác về triều. Nhận được tờ điệp này, bọn chúng xin vua trị tội phò mã Ngô Dẫn. Vua y án. Ngô Dẫn được tha tội chết, nhưng toàn bộ gia sản bị tịch thu. Ấy đại loại những chuyện kiếm cớ cướp lột trắng trợn như thế, nhiều không kể hết được. Thấy bọn từ hoạn quan Mai Thọ Đức đến ngự y Trâu Canh, rồi hành khiển tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương, hành khiển hữu ty lang trung Tâm Đức Ngưu, đồng bình chương sự Đoàn Nhữ Cẩu tên nào cũng lập được kỳ công với vua. Đứa thì nghĩ ra cách xây dựng cung thất, đứa tìm tiền, đứa trị bệnh, đứa dắt gái cho vua hành lạc, mà mình cũng trong bọn tâm phúc cố cựu của vua cả, chẳng nhẽ không có kế gì dâng vua chăng; chính chưởng phụng ngự Bùi Khoan nghĩ vậy, y đang ngày đêm vắt óc kiếm kế tìm tiền cho vua. Và cũng là cho y. Một hôm nhân đi qua thấy đám cung nữ đang chơi trò đánh chuyền ăn tiền. Cả cái đám trong ban nhạc cung đình, giờ nghỉ rỗi rãi chúng cũng đánh bạc. Bùi Khoan tự hỏi: "Tại sao ta lại không lập một chiếu bạc cực lớn trong cung này mà chơi. Cứ gọi là hốt bạc của thiên hạ". Y ngỏ ý xin phép vua. Vua bằng lòng cho. Thế là chính chưởng phụng ngự tư giấy triệu đến từng nhà các phú hộ trong nước. Từ vùng Bắc Giang thượng hạ đến vùng https://thuviensach.vn Hồng, Khoái, Hải Đông, Quốc Oai, Thanh Hóa... Trong giấy y nói rõ vào cung Cảnh Linh đánh bạc để giải khuây cho hoàng thượng. Các nhà giàu được giấy triệu về kinh sư nghĩ rằng, vinh hạnh nào bằng được vua biết đến. Nay lại có dịp vào cung hầu ngài ngự, biết đâu chẳng có cơ may tiến thân. Vậy là họ dốc hầu bao được bao nhiêu vàng, bạc tiền nong, tính toán xem để lại ít nhiều, còn đâu mang đi hết. Người gần thì đi ngựa, kẻ xa thì đi thuyền. Nhưng dù đi ngựa hay đi thuyền qua địa giới trấn, lộ nào thời trấn lộ ấy phải cho quân hộ tống hết địa hạt của mình, rồi lại giao khách bạc cho địa giới tiếp theo, cứ thế các con bạc được lính hầu dẫn tới cung Cảnh Linh. Chờ cho hàng trăm con bạc đã tề tựu hết về cung, Bùi Khoan mới bầy trò vua thết yến trước khi vào cuộc chơi. Trong dạ yến, Dụ tông chỉ nói có mỗi một câu: "Thấy các ngươi là bọn làm ăn giỏi, có của ăn của để, ta cho gọi các ngươi về kinh, coi là để khích lệ con dân trong nước, ai ai cũng có chí làm giàu. Dân giàu thời nước mạnh. Ta không mong gì hơn thế”. Được nhà vua khen, bọn phú hộ lấy làm phấn khích lắm. Khai mào cuộc chơi bạc, nhà vua lánh mặt để Bùi Khoan chủ sự. Quan chính chưởng phụng ngự nói rằng, hoàng thượng cho phép khách được lưu lại cung vui chơi trong khoảng mười ngày. Cho nên đêm ấy chỉ chơi chiếu lệ, chưa có gì gọi là sát phạt. Cũng đêm ấy, sau khi đã hành lạc xong với hai cung nữ mà viên hoạn quan Mai Thọ Đức mới kiếm được về, đã gây cho nhà vua sự sướng khoái đến không thể chợp mắt được. Mặc dù vua vẫn quen sau khi hành lạc thì gối đầu lên ngực một mỹ nữ, lại gác chân lên đùi một mỹ nữ khác thì thiếp ngủ được ngay. Trong khi nhà vua không ngủ được, hai cung nhân lại ngủ say như chết. Dụ tông nghĩ gần nghĩ xa đến bọn tay chân thân tín, đứa nào cũng giàu nứt đố đổ vách, mà bản thân nhà vua tiếng rằng có cả thiên hạ, chứ thực của riêng thì chẳng có gì. Nhưng của kho cũng rỗng cả rồi, mà bọn tâm phúc thì cứ nay thúc phải thu khoản này, mai lấy khoản kia, thời mới có tiền chi cho việc xây cất. Vua nghĩ: "Thế tại sao ta không tìm cách lấy tiền https://thuviensach.vn của thiên hạ về cho riêng ta, mà không cần qua quốc khố. Như thế sẽ mặc sức chi tiêu, mặc sức hưởng lạc". Việc đầu tiên vua nghĩ tới là việc các con bạc kìn kìn tải tiền vào cung. Chúng tưởng rằng qua cuộc đỏ đen này nhiều đứa trắng tay, nhưng cũng nhiều đứa hốt được của trời cho. Bọn này cực ngu, khi đã mang tiền vào tận đây, sao Bùi Khoan nó cho các người đem ra, nếu như nó chưa lấy đến đồng tiền cuối cùng của lũ các người. Vua lại nghĩ: "Bùi Khoan cũng là tên điêu xảo. Nếu cứ để nó lột hết của lũ này, thì nó cũng chỉ cho ta một, hai phần, còn nó lấy tới tám chín phần cho mà xem". Bỗng nhà vua bật cười lên thành tiếng, và ông reo lên thành lời: "Ta có cách rồi?". Hôm sau, vua đi dạo quanh các chiếu bạc xem họ đánh, khi vua đến đâu, các con bạc lấy làm hãnh diện, đánh càng hăng. Cứ đi lượn vòng như thế, xem nước bạc nào đặt trên chiếu tới vài ba trăm quan, vua liền nói: "Ta cho các ngươi vào cung chơi, vui hả? Nước bạc này ta lấy hồ lì!". Nói rồi nhà vua quờ tay vơ liền. Theo đó bọn cận thị thự lục cục tống hết vào bao. Vua làm như thế, cho đến khi các con bạc ra khỏi cung với hai bàn tay trắng. Bùi Khoan lắc đầu chửi thầm: "Lão này nhỏ tuổi mà ranh như ma!". Và như vậy, tiền bọn nhà giàu đem tới đã vào túi nhà vua tám, chín phần, mà chỉ chạy vào túi Bùi Khoan có hai, ba phần. Vua lấy làm khoái chí lắm, và càng tìm cách để hái ra tiền. Mấy hôm sau, Dụ tông lại nghĩ ra một mẹo mới, ngay trong khi hành lạc với hai ả mỹ nữ. Đã lâu, Trâu Canh tạo cho nhà vua một sức hám dục kỳ lạ, từ các phương thuốc kích dục và các món ăn bổ béo. Cho nên Dụ tông có thói quen bắt hai mỹ nữ vào ngự tẩm cùng một lúc. Vua chơi một ả, còn ả kia nằm bên cạnh, chờ đến lượt. Đang cỡi trên bụng mỹ nhân, vua phát đánh đét một cái vào mông ả, rồi hét toáng lên: "Hay lắm! Hay lắm!". Ả này tưởng mình làm đẹp lòng vua nên toét miệng cười, bị nhà vua đấm cho một đấm vào giữa mặt. Dụ tông có thói quen tàn bạo ngay trong khi hành lạc. Sướng khoái thì ông ta làm đủ trò, nhưng lỡ có mỹ nhân nào chưa biết tính vua mà dám chia sẻ niềm khoái lạc ấy, thì hãy coi chừng. Bởi vua cho rằng, đàn bà mà như thế là không đoan trang, không trung tiết! https://thuviensach.vn Hôm sau hoàng thượng cho đòi quan quốc khố và hình quan vào chầu tại cung Cảnh Linh. Dụ tông nói: - Ta cũng cần có tiền để tiêu mà không phải cứ mỗi lúc đều lấy trong quốc khố. Nghe vua nói các quan mừng lắm, tưởng nhà vua đã hồi tâm, từ bỏ con đường xa phí, nhưng các quan chưa kịp vui thì vua lại tiếp: - Nay các ngươi theo ý ta mà ban một đạo dụ về tiền tỉnh mạch. Tức là việc xuất nhập tiền kho của nhà nước. Lệ thu vào, cứ mỗi quan là 60 tiền, vẫn như cũ, nhưng khi xuất ra, mỗi quan chỉ có 58 tiền thôi. Mỗi tháng quốc khố phải dồn tính vào một ngày cuối, xem đã xuất là mấy mươi vạn quan, chiểu theo số xuất ấy, bạc dôi ra bao nhiêu đem sang cung Cảnh Linh nộp cho ta. Các quan tái mặt, không tin ở tai mình nữa. Hình quan liền can: - Xin bệ hạ tỉnh trí lại, khắp thế gian từ thượng cổ chưa có luật này. Dụ tông giận lắm, đập long án quát: - Sao các ngươi ngu thế! Ta đã nghĩ bao đêm ròng mới nảy ra được mẹo đó. Ngàn vàng không mua nổi. Các ngươi ngẫm xem, luật này chỉ có lợi. Một là bớt được tiền quốc khố phải chi, hai là ta cũng đỡ mang tiếng phải tiêu tốn tiền kho nhiều quá. Thật là nhất cử lưỡng lợi. Nhà vua nở một nụ cười cầu hòa. Các quan biết có liều can hơn nữa cũng không được, đối với một người vừa tham bẩn, vừa có quyền lực tót vời, muốn giết ai chỉ một cái phẩy tay là xong. Hình quan tự nghĩ: Suy cho cùng thì khi ta ban hành những luật lệ mới, dù có ích cho xã hội để hủy bỏ những luật lệ đã thành nếp quen thuộc đời đời đối với dân chúng, là ta phạm vào tội chống lại những luật lệ trước đó. Ấy thế mà hiện thời phải ban những luật lệ mà bản thân nó đã là tội ác đối với đương thời rồi thì thật là khủng khiếp quá, man rợ quá. Đời sao nhố nhăng làm vậy. Luật pháp kiểu này chỉ là lưỡi gươm cực sắc để cho một người dùng bậy. Với lòng khinh ghét đến tận tủy xương, quan quốc khố quỳ lạy nhà vua đủ bốn lạy, giọng ông run lên: https://thuviensach.vn - Bệ hạ đúng là một đấng anh minh! Chỉ một mẹo nhỏ của bệ hạ, giá còn cao hơn cả nghìn vàng! Đầu óc chúng thần ngu tối, trì độn không sao theo kịp được tài trí của bệ hạ! - Được, các khanh cứ thế mà làm - Nói rồi nhà vua vẫy tay cho lui. https://thuviensach.vn VIII Điện chính và cung thất đã xây cất xong. Phải nói đây là một kỳ công và cũng là một kiệt tác của con người trên thế gian. Nếu như cung Cảnh Linh được liệt vào cung đẹp nhất trong các cung trước đây, đến ngay Thoát-hoan hồi sang xâm lấn cũng phải thốt lên: "Cung thất của Nguyên triều không thể hơn được", thời so với cung mới này chưa thấm vào đâu. Nóc điện chính cao gần bằng tháp Báo Thiên, là ngọn tháp cao nhất Thăng Long hồi đó. Cũng trên nóc điện ấy đắp hai con rồng, vây cẩn toàn bằng ngọc bích, hai mắt là hai viên ngọc minh châu, chầu về chiếc mặt nhật bằng vàng hình lá đề to bằng cái mẹt, giữa cẩn một viên hồng ngọc to như cái đấu. Mái điện lợp ngói lưu ly men vàng. Những màu sắc ấy, những vàng ngọc ấy, ngày bắt ánh sáng mặt trời, đêm bắt ánh sáng trăng sao, luôn tỏa ra những thứ màu huyền ảo, khiến ta có cảm giác đây là một tòa điện từ chốn thiên tiên rơi xuống Thăng Long. Các hàng cột hành lang điện to tới ba người ôm, đều được bọc bằng vàng dát mỏng. Hành lang dài, rộng có thể đặt đại tiệc tới cả ngàn người vẫn chưa hết chỗ. Những bức trạm trên các khung cửa hoặc các vách ngăn, là những công trình tinh xảo, do các tay thợ giỏi vào bậc nhất của kinh sư, và của cả nước dồn về. Mỗi bức trạm là một cảnh sinh hoạt trong tứ dân. Lại có cả một bức trạm liên hoàn chạy theo bốn mặt của tòa điện, nói về các trận phá quân Nguyên thời Trùng hưng. Cái tài tình của họa sư và các thợ khắc trạm là ở chỗ, chỉ xem hết các cảnh ở đây, đã có thể hình dung đầy đủ cuộc chiến thời ấy náo nhiệt và oanh liệt biết dường nào. Nó chính là cuốn sử được viết bằng tranh khắc trạm cực kỳ tinh xảo. Đấy mới chỉ là phía ngoài của tòa điện. Còn trong nội thất thì không thể nào tả hết được các đồ trần thiết bầy biện quý hiếm, và xa xỉ. Các loại mà ta thường nói như đũa ngà, chén ngọc, mâm vàng, giường thất bảo chỉ là những thứ được xếp vào loại bình xoàng ở cung này. Điện chính đã xây xong, nhưng các công trình khác nằm trong thế hài hòa thời vẫn còn đang gấp rút hoàn thành. Tác giả kỳ tài của tòa điện này, là một người buộc phải ẩn danh. https://thuviensach.vn Nhưng hành khiển tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương thì mạo nhận là do y phác kiểu, và truyền đạt các ý đồ cho thợ làm. Ngôi điện chính tuy đã xong, nhưng vẫn chưa đặt nổi một cái tên. Việc này còn đang tranh cãi nhau dữ lắm. Tới khi hàng trăm người chuyển được hai cây quế lớn từ rừng về, thân cây to tới hai người ôm không xuể đem trồng trước điện. Dụ tông bèn nói: "Sao không gọi điện này là điện Song Quế". Thế là triều thần ùa vào tán dương cao ý của hoàng thượng. Và điện mang tên: "Song Quế". Trong vườn ngư phía sau điện Song Quế, hàng mấy ngàn nông nô đang ngày đêm đào một cái hồ cực lớn. Giữa hồ, lấy đá đắp thành một trái núi với hình dáng, hang hốc và cây cỏ, tưởng như nó đã có ở đấy tới cả ngàn năm. Lại khai chín con ngòi chầu vào hòn núi giữa hồ, tạo cái thế cửu long tranh châu. Và chín con ngòi kia thông với nhau được bởi một con kênh lớn bao vòng quanh ngoài hồ. Thuyền nhỏ có thể đi lại dễ dàng trong ngòi. Trên bờ hồ và bờ kênh trồng tùng và đủ các thứ hoa thơm cỏ lạ. Hàng trăm cây cầu vồng nhỏ, gọi là tiểu kiều, bắc qua các con ngòi, tạo thành những lối đi kỳ thú dưới các vòm cây tỏa bóng mát rượi, và hương hoa thơm phức. Lại có ba cây cầu vồng lớn gọi là đại kiều, bắc vào trái núi giữa hồ làm theo kiểu thượng gia hạ kiều( Cầu có mái che như mái nhà), có lan can, tay vịn, soi trạm kỳ công. Mọi công việc đều đang được tiến hành gấp gáp để còn kịp khánh thành vào dịp nguyên tiêu. Vì thế, hễ ai có sơ suất gì là trị tội liền. Số người chết từ ngày khởi công đến nay, tính đến gần ba năm, cộng lại tới hàng vạn. Đủ các kiểu chết: Chết đói, chết bị gỗ đè, đá rơi. Chết vì kiệt sức. Chết vì ốm bệnh. Chết vì làm sai quy cách. Chết... chết nhiều lắm ! Có thể nói điện Song Quế được xây cất thuần bằng xác của nông nô, của sơn tràng, của các loại thợ tinh xảo trong toàn cõi Đại Việt Để ngày khánh thành điện là ngày hội vui của cả nước, ngay từ tháng mười, vua đã truyền cho các vương thần, các công chúa và các trấn, lộ dâng các trò chơi vui, lạ. Vua sẽ đích thân chấm chọn, rồi ban thưởng cho trò chơi nào hay nhất. Và cũng qua cuộc thi này, sẽ chọn một số trò được đem vào trình diễn tại điện Song Quế, nhân lễ đại khánh. Nhưng tới kỳ hạn, vua ra đài ngự để xem các trò lạ; thì cũng thật là lạ, không có một vương hầu, https://thuviensach.vn một công chúa, một lộ trấn nào về dâng trò cả. Chờ mãi đến gần trưa, mới thấy có một đám leo dây múa rối vào. Phường rối diễn tích: "Đường Minh hoàng du nguyệt điện", vua thích lắm. Sở dĩ phải đón phường rối vào lấp chỗ trống, là do chính chưởng phụng ngự Bùi Khoan không thấy các vương hầu hưởng ứng, nghĩ cứ để thế sẽ làm vua bẽ mặt, bèn cho người đi gọi phường rối. Và dặn trước: phải diễn tích ấy. Còn nhà vua tuy bầm giận đám vương hầu thật đấy, nhưng chẳng có lý gì để trị tội họ. Vì đây là cuộc thi trò vui. Ai có trò và thích thì thi, không thích thì thôi. Lại nói đến các công trình trong điện Song Quế. Cuối tháng mười thì thẩy thẩy công việc trong khu vực hồ như núi non, cây cảnh đã hoàn tất, bèn dẫn nước hồ Dâm Đàm vào. Nước mấp mé bờ hồ, lập tức cảnh sắc trở nên huy hoàng. Để việc trang điểm khu hồ và vườn ngự thật ngoạn mục, người ta cho làm thêm vườn chim, thú. Các loài chim như hạc, công, phượng, họa mi, đại bàng, trĩ, yểng, vẹt, ri, sáo... thôi thì không thiếu một loài nào. Các con vật này đều được ở trong những chiếc lồng theo đủ các kiểu dáng khác nhau, dáng nào cũng đẹp, cũng xinh. Những chiếc cóng đựng nước, đựng thức ăn cho chúng đều bằng sứ men ngọc do phường gốm Bát Tràng cống nạp. Còn các loại thú thì từ voi, hổ, sư tử, tê giác, hươu, nai, cầy cáo, chồn, khỉ, gấu, báo... không thiếu một loài nào. Nhưng kỳ lạ nhất trong vườn thú này là đồ cống vật của Chiêm Thành từ năm Nhâm thìn (1352) vẫn còn giữ được. Ấy là một con voi trắng, một con ngựa trắng tuyền. Tức là toàn thân các con vật ấy từ mắt tới móng guốc, lông da đều một sắc trắng phau. Lại có cả một con kiến trắng dài một thước chín tấc, mỗi ngày ăn hết hai bộ gan gà. Kể cũng là vật lạ trên đời hiếm thấy. Những cung vàng điện ngọc, chim thú quý lạ, hoa thơm trái quý, tất cả những thứ đó, tuy chưa hoàn hảo để mở hội khánh thành, nhưng đức vua đã trông thấy, đã sờ thấy. Còn như "món quà dâng ngày đại khánh" mà bọn Mai Thọ Đức cùng Trâu Canh nói hé, thì quả nhà vua chưa biết nó là cái gì. Trong đầu óc, nhà vua dự đoán: Chẳng qua lại cũng mấy con mỹ nữ mà bọn kia còn dấu ta. Song không biết nó xinh đẹp, nó khác lạ kỳ thú ở chỗ nào, https://thuviensach.vn chứ cứ như cái bọn gái tơ, thì có gì mà lũ này phải giấu giếm. Tuy nhiên, Dụ tông cũng thừa biết, đó là thứ cực lạ. "Đằng nào rồi chúng cũng phải dâng ta". Nghĩ vậy, nên nhà vua cũng không thóc mách dò tìm nữa. Nhà vua nghĩ giản đơn có vậy, nhưng đối với Mai Thọ Đức và Trâu Canh là cả một kỳ công, mà chúng phải lo từ bốn năm nay. Trâu Canh đặt cho Mai Thọ Đức một số quy chuẩn về lựa tuyển đám mỹ nhân này, khi chúng còn trong độ chín tuổi. Mỗi đứa một vẻ khác nhau, nhưng phải có ngày sinh tháng đẻ xê xích nhau không quá mười ngày. Mai Thọ Đức đi tới ba tháng ròng, bắt về hơn bốn chục đứa, Trâu Canh không ưng một đứa nào. Cuối cùng là cả Trâu, Mai đi khắp nước mới lựa được tám đứa con gái chín tuổi, mà Trâu Canh gọi là đội "Bát tiên". Việc nuôi dưỡng và dạy dỗ bọn này, cũng là một kỳ công không kém việc xây cất điện Song Quế. Trông nom nuôi dạy bọn chúng, giao hẳn cho đám hoạn quan cùng với nữ nhạc sư, và mấy bà cung trung giáo tập. Những người đã được tham dự vào việc này đều phải giữ mồm giữ miệng, ai bép xép, mất đầu như chơi. Với đám trẻ, hàng ngày chúng được học các nghi lễ chốn triều đình. Học ăn, học nói, học cách thức mặc xiêm y và cách trang điểm, cách giữ gìn sắc đẹp. Sau rốt là học đàn, học hát và học chữ. Bằng ấy thứ học mà chỉ có trong bốn năm. Nhưng đến năm thứ ba, tức năm chúng 12 tuổi thời bắt buộc chúng phải học cho bằng được các ngón nghề gợi dục và kích dục khi được hợp cẩn với hoàng thượng. Lại còn một việc tối hệ trọng có liên quan đến sinh mạng của các kẻ quản chế và giáo huấn chúng, nhất là bọn hoạn quan không được táy máy nghịch ngợm, khiến lũ trẻ có thể bị rách màng trinh. Và chúng cũng không được phép sờ mò nghịch ngợm vào cái của quý của chính chúng, mà tất cả chỉ là để dành dâng hoàng thượng. Vì vậy mà chúng được mặc một thứ xiêm y đặc biệt, khiến chúng không tự cởi ra được. Còn việc, đại, tiểu tiện hoặc tắm táp thì nhất loạt theo giờ giấc. Mỗi lần chúng đi đại tiểu tiện hoặc tắm táp đều có hai hoạn quan dẫn đi, và cũng là để các quan giám sát lẫn nhau khỏi tò mò bậy bạ. Các hoạn quan trước khi được giao cho cai quản bọn này, đã được quan ngự y Trâu Canh khám xét rất kỹ, xem bọn họ có còn sót một ly nào về khả năng tình ái nam nữ nữa không. Tức là khi thiến, vô tình còn để sót một tí https://thuviensach.vn