🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn Tên sách : VIỆT-NAM THI-NHÂN TIỀN-CHIẾN QUYỂN THƯỢNG Tác giả : NGUYỄN TẤN LONG – NGUYỄN HỮU TRỌNG Nhà xuất bản : SỐNG MỚI Năm xuất bản : 1968 ---------------------- Nguồn sách : Thích Đức Châu Đánh máy : windyclover, huonggiang, ThanhVan, cakeo, Linh_tt, Searatsuki, Kimduyen, Nhapcua, Songsongsau, Juyci, trung_luoc, thaytumap, quyche, nhnhien, Uyên Bùi, kvkhuong, mientay2012, thuhang1319, ZzmarszZ97, satsukiphan, uZumni, lovesnake289, yuubui, kimtientang, ngotheanh86, thuythaolien, 912209288 Kiểm tra chính tả : vavavoom14, kimngan_810, retsroi, Lười Đọc Sách, Lại Thị Thu Hà, thaole92, Thiên Vũ, lotus, Hanna Le, Caruri, Trương Thu Trang, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Tuấn Anh Biên tập ebook : Thư Võ Ngày hoàn thành : 21/03/2018 https://thuviensach.vn Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE 4U.ORG Cảm ơn tác giả NGUYỄN TẤN LONG – NGUYỄN HỮU TRỌNG và nhà xuất bản SỐNG MỚI đã chia sẻ kiến thức đến người đọc. https://thuviensach.vn MỤC LỤC QUÁ TRÌNH SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA NỀN THƠ MỚI TẢN-ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU (1888-1939) Nhớ mộng Tống biệt Vịnh bức dư đồ rách Thề non nước Lại say Còn chơi Hầu Trời THI TUYỂN Hủ nho lo việc đời Lo văn ế Ngày xuân nhớ xuân Thăm mả cũ bên đường Gặp xuân Khuyên người giúp dân lụt Say Thơ đề thay bài tựa Trần ai tri kỷ Hài đàm « Thơ Mới » Phong thi Thơ rượu Gió Thu https://thuviensach.vn THƠ DỊCH Hoàng-hạc lâu Gác Hoàng-hạc Tự thuật Nói về mình Trì Thượng Trên ao Dịch-thuỷ tống biệt Sông Dịch tiễn biệt Khuê oán Nhớ chồng Oán tình Buồn vì tình TƯƠNG-PHỐ NỮ SĨ Ước chi Anh hẹn Xuân lạnh Mấy độ sen tàn Mong thư Từ đây Nhìn ảnh THI, VĂN TUYỂN Giọt lệ thu Tự tình Em còn nhớ https://thuviensach.vn Bước chân ra Tái tiếu sầu ngâm Khúc thu hận Bình Hương lỗi nguyện Chia phôi Nụ cười dưới trăng Ngày giỗ nhớ Sương giá lòng em Tim em Thu tâm sự Sau cơn mưa gió PHAN KHÔI (1887-1959) Bài học Phan Khôi Đọc lệch… giết lầm ! THI, VĂN TUYỂN Trên dòng sông Nhuệ – Tình già Hai mươi bốn năm sau Chơi thuyền sông Tân-bình Cảm đề khi đọc bản dịch Thuỷ-hử của Á-Nam Trần tuấn Khải Thơ Phan Khôi Hớt tóc Hồng gai Nắng chiều Các ác ý bởi nghề nghiệp « Văn học tiểu thuyết » là cái quái gì https://thuviensach.vn Ông Năm Chuột Bài hát bán tre Ông bình vôi LƯU TRỌNG LƯ Trên đường đời Vắng khách thơ Thơ thách họa các cụ đồ Suối mây Mưa… mưa mãi THI TUYỂN Thú đau thương Mộng Oanh Oanh Nắng mới Thơ sầu rụng Lại uống Hôm qua Điệu huyền Một chút tình Gió Tiếng thu Giang hồ Một mùa đông Tình điên Sứ giả Thuyền mộng https://thuviensach.vn Túp lều cũ Xin rước cô em Hoàng hôn Chia ly Trăng lên Cảnh thiên đường Còn chi nữa Trên bãi biển Bâng khuâng Khi thu lá rụng Mộng chiều về O tiếp tế NGUYỄN THỊ MANH-MANH THI TUYỂN Viếng phòng vắng Hai cô thiếu nữ Bức thư gởi cho tất cả ai ưa hay là ghét lối thơ mới THẾ LỮ Trụy lạc Ác mộng THI TUYỂN Nhớ rừng Cây đàn muôn diệu Mấy vần ngây thơ Tiếng gọi bên sông https://thuviensach.vn Bên sông đưa khách Tiếng trúc tuyệt vời Giây phút chạnh lòng Lựa tiếng đàn Ý thơ Lời than thở của nàng mỹ thuật Tự trào Vẻ đẹp thoáng qua Trả lời Giục hồn thơ Đêm mưa gió Ma túy Trưa NGUYỄN NHƯỢC PHÁP (1914-1938) THI TUYỂN Sơn-Tinh Thủy-Tinh Chùa Hương Một buổi chiều xuân Tay ngà Giếng Trọng-Thủy Mỵ-Châu Đi cống Mỵ-ê Nguyễn thị Kim khóc Lê Chiêu-Thống Mây https://thuviensach.vn NGUYỄN BÍNH (1919-1966) Người hàng xóm Ghen Cuộc đời của Nguyễn-Bính đi trong khói lửa chiến chinh Một giai thoại về Nguyễn-Bính và nhà thơ Kiên-Giang THI TUYỂN Lỡ bước sang ngang Tương tư Bước đi bước nữa Xuân về Cô hái mơ Cô lái đò Hà-nội ba mươi sáu phố phường Vẩn vơ Những bóng người trên sân ga Lòng người trinh nữ Thôi nàng ở lại Dòng dư lệ Hôn nhau lần cuối Rượu xuân Thoi tơ Khăn hồng Lòng mẹ Vâng Lòng nào dám tưởng https://thuviensach.vn Giọt nến hồng Dối lòng Mỵ-nương Áo đẹp Người con gái ở lầu hoa Thanh đạm Cầu nguyện Một lần Lòng yêu đương Một nghìn cửa sổ Tỉnh giấc chiêm bao Tỳ bà truyện THANH-TỊNH THI TUYỂN Tơ trời với tơ lòng Mòn mỏi Lời cuối cùng Et s’il revenait un jour Nếu chàng trở lại Hoa giấy và hoa đồng quê Lời than thở của đồng quê Cô láng giềng tôi Thất vọng trên thất vọng Tiếng gọi của « con tim » Vàng, máu https://thuviensach.vn Vì đàn câm tiếng Tình yêu Về quê Tiếng gọi của đồng quê Nắng mai Tiếng vọng ban đêm Muôn bến Chiều về NGUYỄN VỸ Tiếng súng đêm xuân Sương rơi Hoàng hôn Tiếng chuông chùa Mưa rào THI TUYỂN Gửi Trương-Tửu Hương giang dạ khúc Hai con chó Trăng, chó, tù… Cám ơn ngài Giấc mơ bom nguyên tử Chim hấp hối Hoa phượng Đêm sầu về Cũng thế thôi https://thuviensach.vn Sài-gòn đêm khuya Đêm trinh Đêm giao thừa tắm biển Hoa lệ Phổ Thông mười năm cảm nghĩ THƠ TRÀO PHÚNG Hoa hồng Việt-nam Hài nhi lai Mẽo vứt trôi sông… Diệu-Huyền không hoan nghênh ông Thiệu câu cá Dâng đức Khổng-tử Bà hoả viếng Bộ Văn hoá Giáo-dục Vài nét phác hoạ về Tao-đàn Bạch Nga Của Nguyễn Vỹ T.T.KH. THI TUYỂN Hai sắc hoa ty-gôn Bài thơ thứ nhất Đan áo cho chồng Bài thơ cuối cùng Hoa ty-gôn Thu ngục thất Tan vỡ THÂM-TÂM (1917-1948) THI TUYỂN Màu máu ty-gôn Gửi T.T.Kh https://thuviensach.vn Dang dở Tống biệt hành Vọng nhân hành Hoa gạo Chết Một mảnh tình (?) Ngậm ngùi cố sự Vạn lý trường thành Chào Hương-sơn Tráng Ca Lưu biệt Ngược gió Phụ Lục : NGHI ÁN T. T. KH và THÂM TÂM VŨ HOÀNG CHƯƠNG Vườn tâm sự Quên Chết nửa vời Đô-thành hoa lệ Lửa cháy băng tan Thôi hết băn khoăn THI TUYỂN U tình Hờn giỗi Tối tân hôn Mười hai tháng sáu https://thuviensach.vn Mời say Phương xa Buồn đêm đông Hơi tàn Đông Á Bài ca siêu thoát Bài ca sông Dịch Lá thư ngày trước Chậm quá rồi Bạc tình Lửa từ bi Nổi lửa từ bi Người với người Bánh xe Diệu Pháp Nguyện cầu XUÂN-DIỆU Riêng tây Sầu Tương tư chiều Hoa đêm Cuộc đời Xuân Diệu xuyên qua thi ca Dại khờ Nguyên nhân thành công trong thi ca của Xuân-Diệu Hoa nở để mà tàn THI TUYỂN Cảm xúc https://thuviensach.vn Thời gian Yêu Hẹn hò Vội vàng Hư vô Tặng thơ Kỷ niệm Hết ngày hết tháng Muộn màng Trăng Phải nói Chỉ ở lòng ta Xuân đâu Ý thoáng Giã từ thân thể Xuân rụng Nguyệt cầm Giục giã Đây mùa thu tới Lời kỹ nữ Chiều đợi chờ Nhị hồ Viễn khách Một tình yêu Vì sao https://thuviensach.vn Vô biên Giới thiệu Tiếng gió Gửi hương cho gió Đẹp Thanh niên Những kẻ đợi chờ Buồn trăng Tình trai Ý thu Lạc quan Chiều Bài thơ tuổi nhỏ Giờ tàn Biệt ly êm ái Cặp hài vạn dặm Bên ấy bên này Thở than Ca tụng Trở về TIỂU LUẬN Giã từ tuổi nhỏ Chú lái khờ (1939) Lệnh Lệnh được vâng https://thuviensach.vn Đóa hồng nhung Tâm sự của cái giường hư Quan niệm văn chương sáng tác của XUÂN DIỆU BÀNG BÁ LÂN Quê tôi Người trâu Tôi yêu Đôi lời tâm sự THI TUYỂN Tịch mịch Vườn cũ nào đâu, cô hái dâu ? Kiếp ve Trưa hè Cổng làng Tiếng mưa đêm Ngùi trông về Bắc Mùa gặt Tiếng võng đưa Dặn dò Tình trong mưa Đêm ở làng Bốn mùa mưa Mưa sông Lạc loài Mơ về Hà-nội https://thuviensach.vn Xóm chợ chiều đông Vườn dừa Giếng làng Trở lại đồng quê Đói ANH-THƠ Vườn xưa Trở lại đồng quê Viếng nhà tổ phụ THI TUYỂN Đại hạn Chiếc nón quai thao Rằm tháng bảy Vào hè Đêm dông tố Chiều ba mươi tết Đêm ba mươi tết Ngày tết Bến đò ngày phiên chợ Chợ mùa hè Chiếc cáng thơ Đêm trăng xuân Buổi gặt chiều Chiều xuân Bến đò ngày xưa https://thuviensach.vn Sáng hè Trưa hè Xuân quê Đêm ba mươi tết gửi Ai Mai Nàng tiên Sớm hè Nắng Nhớ dài NGUYỄN GIANG THI TUYỂN Con đường nắng Mẹ Xuân Thu ngâm Chant d'automne PHẠM ĐÌNH TÂN THI TUYỂN Mẹ và con Một phút lành thôi Dâng thơ Đau đớn Trở về Tìm bình an Phút buồn thương Đá vọng phu https://thuviensach.vn U trầm Thành xưa Bãi tha ma Ý đêm Tỏ thông https://thuviensach.vn Thi nhân là kẻ hòa lòng mình vào cảnh vật. Tiếng nói của họ là tiếng nói của sinh hoạt thiên nhiên. Đọc lại thơ của họ là đọc lại hình ảnh của tâm linh và nghệ thuật. https://thuviensach.vn QUÁ TRÌNH SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA NỀN THƠ MỚI TRÊN lịch sử văn học Việt-nam, phải nói năm 1932 đã xảy ra một sự kiện quan trọng. Có thể coi đó là một biến cố lịch sử, làm đảo lộn cả khuynh hướng tư tưởng, thành hình một hướng đi mới, và mọi ý thức mới về văn nghệ. Nếu bảo thế hệ văn học 1932 là thời kỳ thoát thai, thì chính sự thụ thai của nó là thời kỳ 1922-1926. Vào lúc đó, chúng ta thấy những thất bại quân sự làm tắt lịm mọi niềm tin, gieo mầm chán nản vào lớp sĩ phu khiến họ không còn nghĩ đến chiến đấu. Những bậc túc nho đi tìm quên lãng trong việc khảo cứu, dịch sách, viết báo ; lớp người trẻ thì say sưa đi tìm những cảm giác thê lương, ốm yếu để rồi tự hủy mình trong tuyệt vọng trước một viễn cảnh tương lai đen tối. Tình trạng bi quan quá độ đó đã tạo một phản ứng nổi dậy từ cuộc sống bế tắc. Vào đêm mồng 9 tháng 2 năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Việt-nam Quốc-dân Đảng, cách mạng bùng nổ ở Yên-bái, báo hiệu sự vùng dậy của toàn dân Việt-nam chống thực dân Pháp. Tuy thiếu tổ chức, đảng cách mạng thất bại, song cũng gây được ảnh hưởng lớn lao về tinh thần tự cường dân tộc. Cũng trong năm 1930, nhiều đảng phái mới ra đời chứng tỏ một thực trạng bị dồn nén đã đến lúc nổ tung. Nhận thấy tinh thần quật khởi đang bồng bột khó lòng dập tắt, nên người Pháp bắt đầu năm 1930 tỏ ra mơn trớn người Việt-nam, tung ra nhiều hứa hẹn. Đặc biệt vào năm 1932, họ lợi dụng cơ hội vua Bảo-Đại hồi hương gây thành một phong trào cởi mở giả tạo, cốt làm cho các phần tử có tinh https://thuviensach.vn thần quốc gia tin vào vai trò khai hóa của người Pháp sẽ đưa Việt-nam đến một tương lai rực rỡ. Thật vậy, không những người Pháp tỏ ra hoan hỉ, không những người dân đơn sơ tỏ ra vui mừng vì có được một vị vua đầu tiên văn minh tân tiến, mà cả dư luận báo chí toàn quốc đều hưởng ứng. Các nhật báo, tuần báo, nguyệt báo đều có những bài xã thuyết bàn về việc Bảo-Đại hồi loan coi như một biến cố chính trị quan trọng, hứa hẹn nhiều với quốc dân. Chủ trương của vua Bảo-Đại cũng như người Pháp lúc ấy là hô hào canh tân, xây dựng một nước Việt-nam mới. Trong bài chỉ dụ canh tân nội các, cũng như bài diễn văn đọc tại điện Cần-chính, vua Bảo-Đại nhấn mạnh đến tính cách đổi mới chế độ : « Chí tôi muốn từ bỏ những cách chính trị quá cũ, không thích hợp với thời đại này. Tôi muốn nước Việt-nam tiến bộ theo thời, không kém các nước khác trong thiên hạ nữa. Làm thế không phải là bạo động bách biến, mà là tuần tự canh tân. Nước không đổi mới là nước hỏng. Tôi muốn nước này được hoạt động nên đem hết quyền lực giúp cho tiến hóa, văn minh ». Tách rời vấn đề chính trị và xã hội, văn học Việt-nam lúc bấy giờ là thế hệ lãnh đạo của Nam-phong tạp chí. Nhiều người nói : « Muốn hiểu xã hội Việt-nam chỉ cần nhìn vào triều đình Huế. Muốn hiểu văn học Việt-nam thời ấy, chỉ cần nhìn vào tạp chí Nam phong. Nam phong là linh hồn văn học thế hệ 1913-1932. » Câu nói trên tưởng không phải quá đáng. Bởi vì từ năm 1932 trở về trước, các nhà văn chúng ta chưa có ý nghĩ viết sách, xuất bản sách, mà chỉ có thói quen viết văn trên báo. Vậy Nam phong hầu như cơ quan ngôn luận duy nhất. Nếu đem đốt hết Nam phong đi thì văn học Việt-nam thế hệ 1913- 1932 sẽ rỗng tuếch, không có gì để nói nữa. Thật vậy, trong suốt mười chín năm, tạp chí Nam phong hầu như giữ vai trò một viện hàn lâm, uy tín Nam phong rất to tát. Người ta coi Nam https://thuviensach.vn phong như bậc thầy. Thế mà năm 1932, những gì trước kia được trọng vọng, được tôn sùng, bỗng chốc long lay tận gốc rễ qua cơn bão văn học. Nếu trên chính trường những Nguyễn hữu Bài, Võ Liêm, Tôn thất Đàn, Phạm Liệu đã phải về hưu, nhường cho những Ngô đình Diệm, Phạm Quỳnh, Bùi bằng Đoàn thì trên văn đàn những Phạm Quỳnh, Đông-Hồ, Hoàng ngọc Phách, Tương-Phố... cũng rút lui vào bóng tối để nhường trường sở cho những Nhất-Linh, Khái-Hưng, Lưu trọng Lư, Thế-Lữ. Điều đáng chú ý là cũng trong thời gian này, nhiều báo chí mới ra đời. Tuy nhiên, không giống các báo khác, năm 1932, có thể nói tuần báo Phong hóa là tờ báo dẫn đầu cho thế hệ trẻ. Trong lúc các báo chỉ hoan nghênh khi tiếp nhận những thay đổi mới lạ về chính trị, về xã hội... thì báo Phong hóa tiến sâu vào địa hạt văn học, dàn thành mặt trận đánh thẳng vào Nam phong, đánh thẳng vào người lãnh đạo Nam phong, đánh ngay đường lối chủ trương về tư tưởng, nghệ thuật, tức là phá vỡ cái cơ cấu văn học do Nam phong đã kiến tạo và được quốc dân sùng mộ trong mười chín năm qua. Phong hóa là luồng gió mới thổi tung lớp bụi phủ trên lâu đài văn hóa cũ kỹ, mở đầu những hiện tượng văn học dồn dập xảy đến, báo hiệu sự thành hình một khuynh hướng mới, đánh dấu một chuyển hướng sâu xa của nền văn học Việt-nam. Nhận thấy văn học Việt-nam thế hệ 1932 là một biến cố lịch sử, thì nền thi ca Việt-nam, một bộ môn của văn học, không thể đứng yên. Lãnh vực thi ca là nơi ký thác tâm hồn, gởi gắm tình cảm, tất nhiên phải chịu một xáo trộn to lớn. Nếu những văn nhân thế hệ 1932 ra sức đả phá những gì cũ kỹ, phong tục lễ giáo Khổng Mạnh ràng buộc, lập thành mặt trận tân tiến chống đối cựu học, thì ở lãnh vực thi ca, các thi nhân thế hệ trẻ cũng không ngừng đập https://thuviensach.vn đổ những khuôn sáo cũ kỹ của thời xưa, đưa thi ca đến một hình thức mới, hòa hợp với tư tưởng mới, tình cảm mới, nếp sống mới trong thế hệ mới. Chính vì vậy mà nền thi ca Việt-nam vươn mình đến một cuộc cách mạng, để lại trên lịch sử thi ca những chứng tích giữa cuộc bút chiến thơ cũ và thơ mới. Đứng về quan điểm văn học nhận xét thì nền thi ca thế hệ 1932 đã thụ thai từ năm 1917 chứ không phải diễn biến một cách đột ngột. Trên tờ Nam phong tạp chí số 5 tháng 11-1917 nơi bài Bàn về thơ nôm, chính Phạm-Quỳnh cũng đã nẩy ra ý thức cho thơ cũ là phiền phức, luật lệ ràng buộc, khắc nghiệt không khác luật hình. Ông viết : « Người nào thuộc luật thì bằng trắc tất không lộn, vần tất áp, luật tất niêm, điệu tất xứng, đối tất chỉnh, sành những khóe thôi xao, giỏi những cảnh xuất sáo, mà gây nên những bức âm thanh tuyệt diệu. Người nào không thuộc luật thì phạm phải tội ghê gớm, đọc đến mà rùng mình ; nào là tội thất niêm, tội thất luật, tội khổ độc, tội cưỡng áp, tội trùng ý, trùng chữ, điệp điệu... « ...Người ta thường nói thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho nghề làm thơ thật là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy cho nó hạp hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên nhiên đi vậy. » Ý thức của Phạm-Quỳnh là kết quả của sự cảm thông cái huyền diệu của thơ Pháp, không gò bó, nhưng ông chủ trương « dung hợp », chỉ muốn nới rộng phạm vi niêm luật của thơ nhà để thu thập một ít sắc thái của thơ nước ngoài thôi. Nếu năm 1917, Phạm-Quỳnh đã có ý thức, nhưng chưa dám mạnh dạn chê bai thơ cũ, thì năm 1928, trên Đông Pháp thời báo, Phan Khôi đã lớn tiếng đả kích một cách táo bạo, cho luật lệ thơ cũ là trói buộc, hãm đà, thô tục. Ông viết ở Chương đàm thi thoại, trang 46 : https://thuviensach.vn « ...Từ ngày đem thất ngôn luật vào khoa cử rồi thì thể ấy trở nên bó buộc quá mà mất cả sinh thú... Ấy chỉ là luật riêng, dạy về lối làm thi trong khoa cử mà thôi, nào có phải cái phép tắc chính truyền của nghề thi như vậy ? Nhưng mà ngày nay người ta cũng tuân theo, không biết cởi mình ra khỏi trói. Thấy có một vài cuốn sách quốc ngữ tự xưng dạy phép làm thi mà cũng dạy theo lối thi khoa cử ấy, thì thật tức quá. Thi quý nho nhã, mà đã tục tài thì dạy ai ? » Năm 1929, liên tiếp một loạt bài của ông Trịnh đình Rư bình luận về văn thơ trên Phụ nữ tân văn, ông cho rằng thơ là sản phẩm của chế độ xã hội. Mỗi chế độ xã hội có mỗi tình cảm khuynh hướng khác nhau ; cái hay thời xưa không còn là cái hay bây giờ. Và mỗi thời phải có sự đổi mới. Như Phạm Quỳnh và Phan Khôi trước đây, Trịnh đình Rư cũng cảm thấy lối thơ Đường luật gò bó, nên lên tiếng đả kích ở báo Phụ nữ tân văn số 29, ngày 21-11-1929 : « Lối thơ Đường luật bó buộc người làm thơ phải theo khuôn phép tỉ mỉ, mất cả hứng thú tự do, ý tưởng dồi dào. Nếu ngày nay, ta cứ sùng thượng lối thơ ấy mãi thì làng văn nôm ta không có ngày đổi mới được... » Tuy nhiên, dù bất mãn với lối thơ cũ, khuyên mọi người nên cải tiến, ông Trịnh đình Rư cũng không đề ra được một lối thơ nào mới, mà chỉ đề nghị nên lấy hai lối thơ lục bát và song thất lục bát ; theo ông, hai thể thơ này dễ làm, không bó buộc, lại có tính chất Việt-nam. Ông Trịnh đình Rư cũng tán thưởng thơ song thất lục bát, cho thể thơ này có tính chất Việt-nam, chẳng những hay hơn thơ Đường luật mà còn hay hơn thơ lục bát nữa vì nó uyển chuyển, tự do hơn. Ý thức canh tân về thi ca của ông Trịnh đình Rư rất mạnh, nhưng có lẽ ông không tìm ra lối thơ mới nào để thay thế thơ cũ nên phải nghĩ đến thơ lục bát. https://thuviensach.vn Lấy hai thể thơ này làm thơ độc tôn cho Việt-nam, đó là một sự lúng túng của ông Trịnh đình Rư trên địa hạt canh tân. Vì ông thấy ngoài mảnh đất ấy ra không còn biết bám víu vào đâu nữa. Xem thế, chúng ta thấy trước năm 1932 là một thời kỳ bế tắc về thi ca. Bế tắc ở chỗ cái cũ không còn thích hợp nữa, cái mới chưa tìm ra, tình cảm con người bị cô đọng mà không có lối thoát. Phải đợi mãi đến ngày 10 tháng 3 năm 1932, Phụ nữ tân văn mới cho nổ trái bom cách mạng vào thành trì thơ cũ, làm cho nền móng thơ cũ sụp đổ tan tành, mà người chỉ huy cuộc tấn công này là Phan Khôi. Nếu từ năm 1917 là thời kỳ thai nghén thì năm 1932 là thời kỳ thoát thai của thơ mới. Tiếng khóc chào đời đầu tiên là tiếng khóc « Tình già » của đứa con Phan Khôi. Đứa con «Tình già » ấy phải được coi là tên lính xung phong vào thành trì thơ cũ. Trong bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ viết ở Phụ nữ tân văn số 122 (10-3-1932) để phân trần, Phan Khôi đã cho việc khai sinh đứa con « Tình già » của ông là một hành động mạo hiểm. Ông viết : « Mới đây tôi có gặp ông Phạm Quỳnh... Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước. Trong đó tỏ rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ. Mà quả thế, gần mười năm tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có. « Trước kia tôi dẫu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn khắc Hiếu, ông Trần tuấn Khải, song ít ra trong một năm tôi cũng có được năm bảy bài hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ nôm. Mà năm bảy bài của tôi không phải là nói phách, đều là năm bảy bài nghe được. Vậy mà gần mười năm nay, mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, thì kể như là không có. https://thuviensach.vn « Xin thú thật với mấy ông thợ thơ. Không có không phải là tại tôi không muốn làm, hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được. « Vậy thì hiện nay đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu tôi có nhận lời đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi ra làm sao. Đó, chính là cái vấn đề ở chỗ đó rồi. « Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh thì cái hồn thơ của tôi bị lúng túng. Thơ chữ Hán ư ? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ nôm ư ? Thì cụ Tiên-Điền, bà Huyện Thanh-quan đè ngang ngực làm cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói lại không nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào chưa nói, mình muốn nói ra thì lại bị những niêm luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức. « Duy tân đi ! Cải lương đi ! » Nếu chỉ đả kích và bất mãn lối thơ cũ thì việc đó trước đây Phạm Quỳnh và Trịnh đình Rư đã làm, không có gì đáng nói. Nhưng Phan Khôi sau khi công kích, liền trình làng đứa con Tình già của ông (xin xem bài thơ Tình già ở phần Phan Khôi). Một bài thơ mới đầu tiên, mới cả về cách gieo vần lẫn điệu, cách dùng tiếng. Câu thơ dài thướt lướt, ngắn nhất cũng trên mười chữ, dài nhất cũng tới mười sáu, mười bảy chữ, luật bằng trắc bị phá vỡ hoàn toàn. Ông Phan Khôi viết : « Đó là bài thơ tôi làm trước đây mấy tháng mà tôi kêu là một lối thơ mới đó. Chẳng phải vì tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh đạo của thơ cũ ; tôi phải đi kiếm miếng đất mới, mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có được không, nên mới ra mà trình chánh giữa làng thơ. Chẳng phải tôi là người thứ nhất làm ra việc này. Hơn mười năm trước ở Hà-nội cũng có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại. Tôi lại dại https://thuviensach.vn gì lại đi theo cái dấu xe đã úp ? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ cũ của ta đã hết chỗ hay rồi, chẳng khác một đế đô mà vượng khí đã tiêu trầm, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi sẽ thất bại lần nữa, nhưng tôi tin rằng sau này có người làm như tôi mà thành công. » Quả đúng như lời phân trần, việc làm của ông không vì danh vì hiếu sự, mà chính vì tình cảnh thúc bách, ý hướng duy tân, tìm một mảnh đất mới cho thế hệ trẻ. Chính Phan Khôi đã đau lòng khi xác nhận điều này : « Thay đổi một chế độ xã hội còn dễ hơn thay đổi một khuynh hướng trong con người ». Vậy thì thái độ và tình cảm lưu luyến trong bài Tình già chính ông Phan Khôi đã bộc lộ sự khó khăn ấy. Tuy nhiên, cuối cùng ông mạnh dạn đoạn tuyệt tình xưa. Lời tiên tri thứ nhất của Phan Khôi rất đúng. Bài thơ « hỗn loạn » của ông đưa ra liền bị ngay nhiều người chỉ trích. Họ cho là cái quái thai thời đại, một điều sỉ nhục cho văn học. Họ nhìn đứa con đầu lòng của thế hệ thơ trẻ với đôi mắt khắc nghiệt, đầy đe dọa, muốn bóp chết nó ngay khi cất đôi tiếng chào đời. Nhưng nếu lời tiên tri thứ nhất của ông đúng thì lời tiên tri thứ hai cũng không sai. Chính Lưu trọng Lư đã theo chân ông mà thành công. Vào tháng 6 năm 1932, trên Phụ nữ tân văn số 153 có đăng một bức thư của Lưu trọng Lư gởi cho Phan Khôi tỏ ý hưởng ứng, trách Phan Khôi đánh trống bỏ dùi, không tiếp tục sứ mệnh khai phá mảnh đất thơ mới. Bức thư Lưu trọng Lư là lời hưởng ứng đầu tiên, là tiếng nói thiết tha trên thi đàn. Tuy mang tính chất cá nhân, nhưng đại diện cho ước vọng tập thể của thế hệ. https://thuviensach.vn Cái gì có xướng họa tất phải gây phong trào, thì bức thư của Lưu trọng Lư là mồi lửa đầu tiên châm vào làm nổ ngòi tranh luận giữa hai phái thơ cũ, thơ mới. Người công kích đầu tiên và mạnh mẽ nhất có lẽ là ông Vân-Bằng. Trên An-nam tạp chí ra ngày 30-4-1932 số 39, Vân-Bằng viết bài Tôi thất vọng vì Phan Khôi lấy cớ Phan Khôi thất lễ với Nguyễn tiến Lãng, chê trách Phan Khôi là con người lập dị, việc gì cũng muốn làm khác người. Nếu bất mãn vì việc khai sinh một lối thơ mới mà đả kích Phan Khôi, đem ý thức tranh luận thì chẳng nói làm chi. Cái « độc địa » của Vân-Bằng là thấy phong trào thơ mới được số đông hưởng ứng, nên muốn « hạ » ngay người đề xướng bằng cách bôi lọ, phá uy tín Phan Khôi. Thế là ngòi thuốc súng bùng nổ ! Luồng gió mới thổi đến ầm ầm. Báo Phong hóa số 14 ngày 22-9-1932 lên tiếng kịch liệt đả kích thơ cũ, hô hào bênh vực thơ mới. Phong hóa viết : « ...Phong hóa đã bàn về những chỗ không hay, không hay vì bị bó buộc vào trong khuôn sáo của lối thơ Đường luật. ...Bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ, nghĩa là tóm tắt, đừng bắt chước cổ nhân một cách nô lệ. Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng. » Nếu trong lãnh vực văn chương trước đây có cuộc tranh luận giữa hai khuynh hướng cũ mới, chỉ dùng báo chí làm chiến trường, dùng bút mực làm vũ khí thì nay trong lãnh vực thi ca, người ta dùng cả hai mặt : khẩu chiến và bút chiến. Theo lời tưởng thuật của Hoài-Thanh – Hoài-Chân, bài Một thời đại thi ca trong quyển Thi nhân Việt-nam viết : « ...Ngày 26 tháng 7 năm 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn thị Kiêm, đã lên diễn đàn Hội Khuyến-học Sài-gòn hết sức tán dương thơ https://thuviensach.vn mới. Hội Khuyến-học Sài-gòn thành lập đến bây giờ đã 25 năm. Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như thế. Nối gót cô Nguyễn thị Kiêm còn nhiều diễn giả cũng theo một mục đích, giành lấy phần thắng lợi cho thơ mới. Juin 1934 : Ông Lưu trọng Lư diễn thuyết tại nhà Học-hội Qui-nhơn. Janvier 1935 : Ông Đỗ đình Vượng diễn thuyết tại Hội Trí-tri Hà-nội. Janvier 1935 : Cô Nguyễn thị Kiêm lại diễn thuyết tại Hội Khuyến-học Sài-gòn để tranh luận với ông Nguyễn văn Hanh. Novembre 1935 : Ông Vũ đình Liên diễn thuyết tại Hội Trí-tri Nam định. Février 1936 : Ông Trương-Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại Hội Khai-trí Tiến-đức Hà-nội. » Về phái bênh vực thơ cũ cũng có các cuộc diễn thuyết, Hoài-Thanh viết : « Août 1933 : Một tuần sau cuộc diễn thuyết thứ nhất của cô Nguyễn thị Kiêm, ông Tân-Việt bỉnh bút báo Công luận 1bênh vực thơ cũ tại diễn đàn Hội Khuyến-học Sài-gòn. ... ... ... 9 Janvier 1935 : Ông Nguyễn văn Hanh diễn thuyết tại Hội Khuyến học Sài-gòn. 9 Janvier 1935 : Ông Nguyễn văn Hanh lại diễn thuyết tại Hội Khuyến-học Sài-gòn cùng một hôm với cô Nguyễn thị Kiêm (diễn thuyết tranh luận). Août 1937 : Ông Nguyễn văn Hanh diễn thuyết tại Hội Quảng-trị Huế. » (Hoài-Thanh – Hoài-Chân, Thi nhân Việt-nam) https://thuviensach.vn Về mặt bút chiến lại càng sôi nổi hơn. Phái bênh vực thơ cũ : « Octobre 1933 : Văn học tạp chí Hà-nội chê các nhà thơ mới không biết cân nhắc chữ dùng. Novembre – Décembre 1934 : Tản-Đà nói chuyện thơ mới thơ cũ trên Tiểu thuyết thứ bảy. Décembre 1934 : Trên Văn học tạp chí, ông Hoàng duy Từ phản đối bài diễn thuyết của ông Lưu trọng Lư tại nhà Học-hội Qui-nhơn. Avril 1935 : Hai ông Tường-Vân và Phi-Vân xuất bản tập thơ cũ « Những bông hoa trái mùa » ở Vinh. Juin 1935 : Ông Tùng-Lâm Lê cương Phụng công kích thơ mới trên Văn học tuần san Sài-gòn. Avril 1936 : Ông Thái-Phỉ công kích thơ mới trên báo Tin văn Hà-nội. Juin 1941 : Ông Huỳnh thúc Kháng, sau nhiều lần chỉ trích và mạt sát, cả quyết rằng thơ mới đã đến ngày mạt vận. » (Hoài-Thanh – Hoài-Chân, Thi nhân Việt-nam) Phái bênh vực thơ mới : « Tháng 6-1933 : Lưu trọng Lư xuất bản « Người sơn nhân » kịch liệt đả phá thơ cũ và thiết tha với thơ mới. Tháng 12-1934 : Lưu trọng Lư gởi hai bức thư lên Khê-thượng nói chuyện thơ mới với Tản-Đà đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy số 29 và số 34. Tháng 1-1935 : Ông Lê tràng Kiều viết tám bài đăng ở Văn học tạp chí và Hà-nội báo (1936) để trả lời ông Tùng-Lâm và Thái-Phỉ, nội dung ca tụng các nhà thơ mới. Tháng 12-1932 : Phong hóa số 28 bài bác Tản-Đà nơi bài Họa nguyên vận. » https://thuviensach.vn Ngoài ra những đề tài lặt vặt có tính cách bênh vực thơ mới rất nhiều. Nếu ở mặt trận tân học và cựu học chống đối nhau, tân học đưa hai nhân vật điển hình của cựu học là Phạm Quỳnh, Nguyễn văn Vĩnh ra để chế diễu, thì ở mặt trận thơ cũ và thơ mới, Phong hóa đã lấy Tản-Đà làm điển hình cho thành trì thơ cũ để châm biếm. Ngược lại, phái thơ cũ cũng không vừa, trên mặt trận khẩu chiến họ chĩa mũi dùi vào cô Nguyễn thị Kiêm bài xích thật độc địa. Nếu về nữ giới, cô Nguyễn thị Kiêm đã khuấy động mặt trận khẩu chiến, thì bên nam giới, Lưu trọng Lư cũng được mọi người chú ý. Bài diễn thuyết của Lưu trọng Lư có một nội dung hàm súc ý tưởng thiết tha, mới lạ, một cảm quan dị biệt mà thời ấy ít người quan niệm nổi. Tuy không gây được sức phản ứng trực tiếp sôi nổi như cô Nguyễn thị Kiêm, Lưu trọng Lư vẫn được kể vào hàng chiến sĩ trong mặt trận khẩu chiến. Ở mặt trận bút chiến chúng ta có nhiều tài liệu hơn, tuy nhiên, cũng không thể góp nhặt đầy đủ những tài liệu bút chiến nẩy lửa bị thất lạc. Nhìn chung, cuộc bút chiến giữa thơ cũ và thơ mới không phải với tính cách cá nhân hay địa phương, trái lại nó đã tạo thành phong trào đối lập từ Nam chí Bắc, chống đối kịch liệt. Các cơ quan ngôn luận hầu hết dùng làm chiến trường cho cuộc bút chiến này. Về phía thơ cũ có những tờ báo như : An-nam tạp chí, Văn học tạp chí, Công luận, Tiếng dân, Văn học tuần san, Tin văn. Những chiến sĩ nòng cốt của phong trào như : Vân-Bằng, Dương tự Quán, Thương-Sơn, Động-Đình, Tùng-Lâm, Thiết-Diện, Đẩu-Tiếp, Tản-Đà, Thái-Phỉ v.v... Về phía bênh vực thơ mới có các báo như : Phong hóa, Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà-nội báo, Loa, Ngày nay. Những chiến sĩ nòng cốt của phong trào như Lưu trọng Lư, Lê-Ta, Lê tràng Kiều, Hoài-Thanh, Phan Khôi, Việt-Sinh, v.v... https://thuviensach.vn Ngoài ra, bên nào cũng có một số người không tham gia phong trào, chỉ đứng ngoài ủng hộ. Duyệt qua mặt trận này, chúng ta ngược lại thời gian từ 1932 trở đi ; trong lúc khắp mặt trận khẩu chiến bùng nổ thì cùng một lúc, cuộc bút chiến trên các báo cũng nổi dậy ứng chiến mãnh liệt. Mở đầu chiến dịch, báo Phong hóa đả kích thơ cũ bằng việc mạt sát Tản-Đà trong bài Họa nguyên vận (số 28, ngày 30-12-1932) để trả đũa bài Tửu nhập thi xuất của Tản-Đà nhắn nhủ báo Phong hóa ; Phong hóa viết : « Anh lên giọng rượu khuyên Phong-hóa Sặc sụa hơi men khó ngửi quá Đã dạy bao lần, tai chẳng nghe, Hẳn còn nhiều phen mồm bị khóa. Thân mềm chưa chắc đứng ngay đâu, Lưỡi ngắn thì nên co lại nhé. Phong-hóa mà không hóa nổi anh, Túy nhân quả thật là nan hóa. » Sự thật không phải Phong hóa vô tình đưa Tản-Đà ra đả kích, mà họ nhằm vào chủ trương chung tìm mục tiêu để tấn công vào thành trì thơ cũ, vì lúc bấy giờ trên thi đàn, Tản-Đà được coi như tiêu biểu cho khuynh hướng thơ cũ. Cũng bắt đầu từ đấy, ngoài việc viết bài chửi thơ cũ, bênh vực thơ mới, Phong hóa còn chú trọng nhất về việc đăng tải thơ mới của các bạn thi nhân gởi đến nữa. Người tham gia phong trào chống thơ cũ hăng say nhất lúc ban đầu chính là Lưu trọng Lư. Lưu trọng Lư đã đứng cả về hai mặt khẩu chiến và bút chiến. Sau khi diễn thuyết ở Học-hội Qui-nhơn, gởi bài đăng ở Phụ nữ tân văn, ở Phong hóa, Lưu trọng Lư vẫn chưa lấy làm thỏa mãn, nên tháng 5 https://thuviensach.vn năm 1933, khi xuất bản tập tiểu thuyết đầu tiên Người sơn nhân, ông còn đính kèm ở phần hai một bài đả kích thơ cũ, ca ngợi thơ mới. Đó là bài Một cuộc cải cách về thi ca, nội dung ông ghi nhận là trên thi đàn, khuynh hướng thơ mới đã nẩy chồi. Tiếp đến ngày 20-7-1933, Thạch-Lam đứng trong hàng ngũ mặt trận thơ mới, đưa một vị thanh niên thi sĩ Hồ văn Hảo lên báo Phụ nữ tân văn giới thiệu với độc giả bài Con nhà thất nghiệp. Không cần lý thuyết dài dòng, đưa tác phẩm thi ca lên mặt báo phân tích cái hay, cũng là một lối tranh luận rất có hiệu quả. Ngày 3-8-1933, Phụ nữ tân văn số 210 lại giới thiệu thêm bài Tình thâm của Hồ văn Hảo, kèm một bài của ông T.L. thuộc phái thơ mới, ông đưa ra lý luận chống lại quan niệm phái thơ cũ đề nghị giữ lại hình thức cũ, chỉ phát huy tư tưởng mới mà thôi. Bài của T.L. tuy ngắn những biện bạch rất rõ ràng về điểm hình thức và nội dung không thể tách rời. Thực ra, không thể mặc áo cổ y mà bắn súng. Mỗi thế hệ có một hình thức, một bộ mặt khác nhau. Các cụ thời xưa cũng không thể không thừa nhận như vậy. Tuy nhiên, họ vẫn chống lại quan niệm thơ mới. Đó là vấn đề tâm lý. Một người cha già nua, đã sống với thế hệ cũ, không muốn đứa con vì đổi mới mà xa lìa mình, hoặc ít ra tạo thành một bức tường ngăn cách giữa tâm hồn già và trẻ. Một dân tộc cũng thế, lớp người lớn không muốn con em mình dựng lên một bức tường chia đôi tư tưởng, từ chối sự trưởng thành trong tình thương của họ. Khi đã đặt vấn đề cũ, mới tức là đã tạo ý thức chia rẽ giữa hai lớp tuổi tác. Mặt khác lớp người lớn lại thấy con đường giải phóng của thế hệ trẻ chưa có định hướng, chưa có mục tiêu, mà chỉ phá vỡ, đập đổ một ngôi nhà https://thuviensach.vn đang sống, mặc dù xấu xa chật hẹp, để lao mình đến một nơi vô định, chưa biết nguy hiểm hay hạnh phúc ra sao ! Bản chất nghi ngờ và thủ cựu là bản chất của lớp người tuổi tác ; ngược lại tuổi trẻ thì chỉ biết dấn thân vào bánh xe xã hội, nhảy tung vào đà tiến hóa của nhân loại một cách vô tư. Nhân loại bảo họ tiến, luật vũ trụ bảo họ phải nẩy nở để thay thế lớp người sắp tàn. Họ có quyền sống, họ phải được sống, mà họ sống cho họ chớ không phải sống cho những người sắp chết, tại sao buộc họ phải làm một kẻ già nua, cằn cỗi trong lúc nguồn sinh lực của họ nẩy nở dồi dào. Suốt nửa năm 1933 và 1934, trong lúc cuộc khẩu chiến và bút chiến giữa hai phái thơ cũ mới tranh luận nhau, Tản-Đà hình như tự đặt mình ngoài vòng, mặc dù đã bị báo Phong hóa thỉnh thoảng lôi ông ra chế biếm. Tuy nhiên, ngày 30-11-1934, Tản-Đà có viết một loạt bài đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy nhan đề Phong trào thơ mới, ông trình bày với mọi người những bài thơ ông làm cách đấy 20 năm ; những bài thơ không theo lối cũ, mà không tự gọi là thơ mới, Tản-Đà dùng lời lẽ ôn hòa cảnh tỉnh lớp người mới, cái mà lớp người trẻ gọi mới, chính Tản-Đà đã trải qua, hay ít nữa đã nếm thử nó. Chỉ có khác ở nội dung, thơ Tản-Đà ý tứ không thiên về lãng mạn như những thơ mới của phái thi nhân trẻ. Thế thì cái mới của phái trẻ, theo Tản-Đà, chỉ là cái ồ ạt của tâm hồn họ, họ chỉ thấy nội giới tâm hồn mà không thấy ngoại giới vũ trụ. Chỉ trích như vậy, Tản-Đà muốn nói lớp người trẻ chỉ là một động lực hăng say, bồng bột và lầm lẫn. Vì phần chủ quan quá mạnh, họ có thể tự đánh lừa họ. Loạt bài của Tản-Đà càng đi sâu vào tính chất tranh luận với những lý lẽ vững chắc và cảm thông. Sau đấy Lưu trọng Lư liền gởi lên Khê-thượng cho Tản-Đà hai bức thư và được đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy số 27 (1-12-34) và số 29 (15-12-34). Điều đáng chú ý là khác với thái độ hăng say đả kích lúc ban đầu, lúc này https://thuviensach.vn Lưu trọng Lư nói chuyện với các nhà thơ cũ bằng một tâm hồn cởi mở, một tâm hồn muốn mở ra để đón lấy một tâm hồn. Phải chăng cuộc bút chiến trong thời gian qua đã gieo vào tâm hồn Lưu trọng Lư một cái gì đau khổ. Đau khổ vì thấy bức tường tư tưởng ngăn cách giữa hai thế hệ, đau khổ vì thấy lớp người sắp bị luật đào thải khỏi xã hội phải ngậm ngùi nhìn con em họ, trước khi họ trở thành người thiên cổ, bàn giao cuộc sống cho thế hệ mai sau. Cảm thông được lẽ ấy, Lưu trọng Lư đã làm được hai trọng trách trước lịch sử văn học. Thứ nhất, vượt khó khăn, vươn mình tới, dẫn đầu thế hệ trẻ tìm một luồng sinh lực mới cho tâm hồn ; thứ hai là phá hẳn mọi thành kiến, lấy tình cảm làm môi trường hàn gắn những vết thương đã rạn nứt trong cuộc « xung đột » tư tưởng mới cũ. Rồi vào cuối năm 1934, Hoài-Thanh viết một bài báo đại ý cho rằng không có thơ mới mà cũng không có thơ cũ. Chỉ có thơ mà thôi. Tức là thơ ngày xưa và thơ ngày nay. Theo Hoài-Thanh chỉ có tuyệt tác của thời gian, chứ không có vấn đề cũ mới. Tuy nhiên, Hoài-Thanh nhận rằng có « cái mới » ; ý kiến ấy, phải chăng ông cho rằng không có thơ mới, chỉ có con người mới làm thơ. Nhận xét của Hoài-Thanh là kết quả sau loạt bài của Tản-Đà. Tản-Đà đưa ra mấy bài thơ theo thể mới mà ông làm từ trước, chính Lưu trọng Lư cũng nhận là mới, nên Hoài-Thanh theo đó phủ nhận sự mới cũ của thơ chăng. Hoài-Thanh còn đem ví thi cảm như một dòng sông. Dòng sông bị nước tràn chảy ra ngoài để tạo thêm những dòng sông khác. Tuy ta thấy có nhiều dòng sông, nhưng nước sông chỉ là một ; cũng như ta thấy bề ngoài hình như có thơ cũ và thơ mới, song kỳ thực thơ cũ và thơ mới cũng chỉ là một, chẳng khác những dòng nước chảy thông thương với nhau. https://thuviensach.vn Đầu năm 1935, trên báo Phong hóa số 134 (30-1-1935), Tứ-Ly tổng kết phong trào đấu tranh thơ mới trong mục Thơ mới và quần áo mới. Đem so sánh thơ mới và quần áo mới, Tứ-Ly đã phản ảnh được tâm hồn người Việt-nam lúc bấy giờ. Thơ mới và quần áo mới tuy là hai lãnh vực, nhưng vẫn là một. Nó xuất phát từ ở mỹ cảm, ở khuynh hướng mà ra. Cho nên, khi một tình cảm mới, một tâm hồn mới xâm nhập vào dĩ nhiên hình thức phải đổi khác. Một chế độ xã hội thay đổi làm cho tâm hồn con người thay đổi, hoặc ngược lại. Vạn vật đều tương quan và sự thay đổi ấy cũng là luật tất nhiên của vũ trụ. Cuộc bút chiến về thơ mới là một cuộc tranh đấu về ý thức, nó liên hệ đến mỹ cảm, đời sống con người. Cho nên, khi phong trào quần áo tân thời mỗi ngày một thịnh, chúng ta thấy rõ ý thức chuộng mới thắng cuộc, và đó cũng là nguyên nhân đưa phong trào thơ mới đến thắng lợi chung cuộc. Tuy nhiên, những sự dằng co về ý thức rất phức tạp. Nhất là về mặt tình cảm và phong tục khi đã tiêm nhiễm vào đầu óc con người, thì nhất đán không thể cởi bỏ dứt khoát. Phong trào đổi mới càng mạnh bao nhiêu thì sức phản ứng tăng gia bấy nhiêu. Những bài chỉ trích thơ mới không vì thế mà buông lơi nhịp công kích đều đều của nó. Ngoài Bắc thì có ông Chất-Hằng dùng tờ Văn học tạp chí làm cơ quan bài bác thơ mới. Trong Nam, ông Tùng-Lâm Lê Cương Phụng dùng tờ Văn học tuần san chửi thơ mới quyết liệt. Theo ông Tùng-Lâm thì lịch sử văn chương từ chỗ phôi thai tiến đến chỗ chặt chẽ, cũng như xã hội loài người, từ chỗ phôi thai tiến đến chỗ có tổ chức trật tự, tạo thành một nếp sống chung. Xã hội loài người từ chỗ rời rạc đi đến chỗ kết đoàn, tổ chức xã hội, đặt ra pháp luật, bảo vệ luật pháp và điều hành cuộc sống. https://thuviensach.vn Còn văn chương từ chỗ phôi thai tiến dần đến chỗ có quy tắc, có luật lệ mỗi ngày một phong phú và chặt chẽ hơn. Như vậy luật lệ trong văn chương là yếu tố minh định sự tiến bộ lọc lừa trải qua thời gian, vượt từng thế hệ. Luật lệ không phải là ràng buộc mà chính là « vật dụng » lọc lừa, đào thải những cái xấu, cái dở, đưa văn chương dần dần đến chỗ tinh vi. Ông còn xác định vị trí thi ca trong lãnh vực nghệ thuật, sánh với điệu đàn, bức họa. Đã là nghệ thuật, dĩ nhiên phải là một công trình đòi hỏi ở công phu, thế thì cái công phu đẽo gọt, tô điểm là việc làm cần thiết của một nghệ sĩ, không thể gọi là gò bó được. Mỉa mai nhất, là ông khinh thường lớp người mới, ông liệt họ vào hạng phàm phu tục tử mà đòi thưởng thức thú tiêu dao. Ông còn chê « bọn thơ mới» là dốt, không hiểu ý vị thơ cũ. Ông đòi « căng nọc » ra đánh như các cụ đồ nho đánh học trò. Trong cuộc tranh luận, các nhà văn trẻ ranh mãnh, hiểm hóc, thì ông Tùng-Lâm hằn học một cách đạo mạo của người đàn anh. Để đương đầu với ông Tùng-Lâm, tờ Phong hóa số 148 (10-5-1935) đưa tập thơ Những bông hoa trái mùa của hai thi nhân phái cũ lên bàn mổ, Lê-Ta đóng vai bác sĩ mổ xẻ tập thơ này với dụng ý bài kích thơ cũ sáo ngữ. Đây là một « đòn trả » khi ông Tùng-Lâm lên vai ông đồ đòi căng nọc lớp người trẻ ra giảng dạy, chê lớp tân thi nhân là dốt, thì nay Lê-Ta chê lớp người cũ là « nhai lại », chỉ giỏi nghề « xào nấu ». Đáp lại bài phê bình của Lê-Ta, ông Thiết-Diện lên tiếng bày tỏ thái độ ác cảm trong bài Quan niệm của tôi đối với thơ mới ở báo Văn học tuần san số 8 (15-8-1935). Thiết-Diện cực lực chê trách thơ mới, coi nó chỉ là thứ đồ rác rưởi, trò múa may quay cuồng của bọn người ngu dốt, có khác nào bọn du đảng ăn mặc rằn ri, bọn lẳng lơ đi giày cao gót. Theo ông, đã gọi là thơ mới thì phải đổi mới như thơ của Hồ-Thích bên Tàu, chứ chỉ đổi mới bằng cách đem tâm hồn ủy mị, tính chất bạc nhược, tinh thần thua trận, lo cho cá nhân, xa rời đại chúng thì sự đổi mới ấy chẳng ích gì. https://thuviensach.vn Trong lúc phái thơ mới cho thơ cũ là sáo, là « nhai lại », là bắt chước điển tích xưa, thì ông Thiết-Diện « tố » ngược lại thơ mới. Trước kia chê rằng thơ cũ mang tính chất thương mây khóc gió, khép mình trong cái bi ai sầu não, xem thơ cũ như là chỗ chứa nước mắt, chứa buồn thảm, thì nay, đối với Thiết-Diện, thơ mới vẫn với giọng điệu ấy, mặc dù không bắt chước tiếng khóc cũ, nhưng lại cũng rên rỉ cho duyên phận, cho ái tình, cho biệt ly, cho đau khổ. Chê người ta than thở, buồn bực, rồi mình lại khóc lóc thảm sầu, theo ông Thiết-Diện, không có gì mới cả. Đầu năm 1936, cuộc diện còn trong vòng tranh luận sôi nổi ; với một ngón đòn chiến tranh cân não, ông Lê tràng Kiều kiểm điểm thành tích thơ mới trưởng thành trong phong ba bão táp. Ông ví ba năm va chạm thi ca trong giai đoạn 1932-1936 dài như một thế kỷ. Trên Hà-nội báo số 14 (8-4- 1936), ông viết bài chúc mừng chiến thắng của thơ mới, ông bảo : « Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần một tâm hồn hùng tráng như Huy Thông, dồi dào như Thế-Lữ, huyền diệu như Thái-Can, âm thầm như Đông Hồ, trong sáng như Nguyễn nhược Pháp, mơ màng như Leiba, buồn não như Nguyễn-Vỹ, và, một tâm hồn đầy nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu trọng Lư. » Rồi ông Lê tràng Kiều trưng ra một loạt thi nhân mới với những sáng tác của họ như những « chiến lợi phẩm ». Thực ra, ý kiến của Lê tràng Kiều không có gì mới mẻ, cái dí dỏm chỉ ở chỗ ông « dàn trận » theo một phương pháp khác biệt mà thôi. Theo sau loạt bài của Lê tràng Kiều, phái thơ cũ đưa ra ông Đẩu –Tiếp ứng chiến bằng một loạt bài như muốn kết thúc. Sau loạt bài của Lê tràng Kiều bênh vực phái thơ mới và Đẩu-Tiếp bênh vực phái thơ cũ, hình như hai bên bắt đầu thu dọn chiến trường. Cuộc bút chiến dịu dần. * https://thuviensach.vn Xưa nay không cuộc chiến tranh nào không có kết thúc. Nhưng, mọi kết thúc không nhất thiết phải giống nhau. Có những cuộc chiến tranh khi chấm dứt hai bên còn nuôi hận. Có những cuộc chiến tranh tàn phai trong bẽ bàng, im lặng. Có những cuộc chiến tranh chấm dứt bằng tang tóc đau thương. Cuộc bút chiến giữa hai nền thơ cũ, mới ở Việt-nam thoát ra ngoài công lệ ấy. Nó kết thúc bằng tình tha thiết của dân tộc, bằng tình thương của lớp người giữa hai thế hệ, bằng nguồn thông cảm của những đứa con cùng chung bầu sữa mẹ. Hỡi bà Mẹ Việt-nam ! Máu huyết của Mẹ đang chuyển vào động mạch, chảy rần rật trong cơ thể đàn con. Bầu sữa Mẹ đã trút ra rất nhiều, vun quén mầm non đất nước. Dòng máu ấy, giọt sữa ấy là nguồn sinh lực, là động cơ thúc đẩy từng thế hệ đứng lên, chịu trách nhiệm trước lịch sử, vun bồi cho danh dự của non sông, cho uy linh của dân tộc. Nếu có gì bất bình thoáng qua, chính là cử chỉ vươn lên của lớp người trẻ từ chối nuông chiều, gạt bỏ tình quyến luyến của lớp người già nua để đi tìm nghĩa vụ. Mọi cuộc phân ly không cuộc phân ly nào khỏi gieo sầu. Nhưng rồi ai cũng phải hài lòng với trách nhiệm. Và khi đã xa cách nhau rồi, tình thương càng nhiều, nhớ mong càng nặng. Cuộc bút chiến về thơ cũ, thơ mới, chính lớp người trẻ đã thắng cuộc hoàn toàn. Cái lâu đài cổ kính mấy ngàn năm kia lần lần coi như một ngôi cổ mộ, chôn chặt những công trình kiến trúc xa xưa, mà lớp người trẻ nhìn lại với con mắt kính yêu, nhưng không muốn trở về ở đó nữa. Cái lâu đài cổ kính ấy là nền thi ca cũ vậy. Nhưng khi đã đi tìm được một mảnh đất mới, dựng một ngôi nhà mới rồi, tự nhiên lớp người trẻ như thấy có cái gì ân hận, nhớ thương. Họ không https://thuviensach.vn còn muốn có sự ngăn cách nữa. Họ không muốn nói đến danh từ thơ mới, thơ cũ nữa, mà chỉ có « thơ » mà thôi. Nếu từ năm 1933 đến năm 1936 là những năm tranh đấu quyết liệt giữa hai ý thức thơ cũ, thơ mới, thì qua năm 1937 chúng ta không còn thấy một bài tranh luận nào trên báo chí nữa, mà thay vào đó bằng những bài hàn gắn tình thương. Trước tiên, ta đi vào tâm trạng phái cựu học. Phái cựu học bây giờ đã thấy được đà tiến của bánh xe xã hội, không còn có thể giữ lại được nữa. Nho học phải nhường lại cho Tây-học. Hay nói cách khác, thế hệ già nua phải bàn giao sự nghiệp tinh thần cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, nỗi lòng của phái cựu học băn khoăn không ít. Chính họ thấy trong ngôi nhà cổ kính sắp sụp đổ kia có nhiều ngọc quí, nhiều báu vật, nếu bỏ đi rất uổng. Họ sợ lớp người sau, con em của họ, của thế hệ trẻ, không sao biết đến. Thừa hưởng một gia tài văn học ngàn năm, lúc chết đi có lẽ không có một tờ di chúc ? Ước vọng của họ là làm sao gởi gắm vào lớp người trẻ tiếng nói cuối cùng của họ, chỉ cho lớp người trẻ biết trong ngôi nhà sắp sụp đổ mà họ đã sống qua có cái gì quí, cái gì xấu, cái gì nên, cái gì hư. Như vậy họ mới tròn trách nhiệm đối với tiền nhân. Trong số người thiết tha với sự nghiệp Nho học, chúng ta có thể kể như : Phan kế Bính, Nguyễn hữu Tiến, Nguyễn đôn Phục, Huỳnh thúc Kháng, Trần trọng Kim... Nhưng người đã có tiếng nói làm ta cảm động nhất là Trần trọng Kim. Ông đã ký thác lời cuối cùng vào quyển Nho giáo. Nó là một « bản di chúc », là một « của tin », là những gì của lớp cựu học muốn gởi lại. Lời của ông Trần trọng Kim thật thiết tha và đầy tâm huyết ! Tiếng nói cuối cùng của phái cựu học chẳng những chứa đựng một tình thương nồng nàn đối với lớp người trẻ, mà còn tỏ ra những lo lắng cho tiền đồ văn học. https://thuviensach.vn Cái gì sắp mất thì tinh thần lưu luyến càng tăng. Có xa nhau mới thấy cái buồn ly biệt. Có lẽ sự ưu ái của lớp người cựu học đã gieo vào lớp tân học một vết thương lòng, mà bổn phận họ phải hàn gắn vết thương ấy. Phải ! Không có gì thiêng liêng bằng tình dân tộc. Xóa bỏ mọi khuôn phép ràng buộc của gia đình, không có nghĩa là bỏ tình ruột thịt. Từ chối một nền văn minh lỗi thời không có nghĩa là tách rời tình dân tộc. Và lớp người trẻ đã tự nhận trách nhiệm mình như thế. Việc làm của họ là trở lại tình cảm lúc đầu. Trước kia, phái thơ mới đưa Tản-Đà ra làm tiêu biểu cho phái thơ cũ, đổ xô vào mạt sát, châm biếm, thì từ năm 1938 trở đi, Tản-Đà được coi như vị thánh sống của làng thơ. Họ chia nhau viết về Tản-Đà, ca tụng thơ của Tản-Đà. Nhóm Tự lực văn đoàn : Văn-Bình viết : Thi sĩ Tản-Đà (Ngày nay số 147, ngày 29-1-1939) Xuân-Diệu viết : Công của thi sĩ Tản-Đà (Ngày nay, số 166 ngày 17-6- 1939) Khái-Hưng viết : Một tháng với Tản-Đà (Ngày nay số 171 ngày 22-7- 1939) và Cái duyên của Tản-Đà (Ngày nay số 166 ngày 17-6-1939). Báo Tao đàn số đặc biệt ra mắt Tản-Đà (số 9 ngày 1-7-1939) gồm có các bài : - Lưu trọng Lư viết : Bây giờ đây, khi nắp quan tài đã đậy lại. - Trương-Tửu viết : Sự thai nghén một thiên tài. - Nguyễn-Tuân viết : Chén rượu vĩnh biệt. - Nguyễn triệu Luật viết : Ảnh hưởng Tản-Đà đối với nhà văn lớp sau. - Trúc-Khê viết : Tản-Đà triết học. https://thuviensach.vn - Xuân Diệu viết : Một vài kỷ niệm về yêu thơ Tản-Đà. - Nguyễn Xuân Huy viết : Tản-Đà dịch văn. - Nguyễn-Tuân viết : Tản-Đà một kiếm khách. - Nguyễn công Hoan viết : Ông Tản-Đà đi làm việc để tái bản An-nam tạp chí. - Ngô tất Tố viết : Tản-Đà ở Nam-kỳ. - Nguyễn Nhất-Lang viết : Tản-Đà tửu điếm. - Nguyễn công Hoan viết : Ông soát vé xe lửa với thi sĩ Tản-Đà. - Lê-Thanh viết : Mộng và Mộng. * Sau cơn bồng bột của lớp người trẻ, họ đã dùng mọi biện pháp phũ phàng, cố thực hiện khát vọng của thế hệ đang nẩy mầm, của lòng giục giã đổi mới. Họ đã chà đạp lên tình thương, đập đổ gia sản phụ ấm để tranh đoạt chiến thắng ý thức cho kỳ được. Và ngày nay họ đã thắng. Nhìn lại dấu vết đổ nát hoang tàn của thế hệ cũ đã thảm bại, lòng họ bùi ngùi, hối hận ; cái phần thiêng liêng của con người được khơi động. Nó sống sót một cách đáng thương. nó khuyên nhủ, vỗ về. Tiếng nói của nó thiết tha, êm đềm, đủ khả năng làm dịu lòng người, chiếm được tình cảm, xóa tan mọi hờn giận oán ghét, hàn gắn cách ngăn, gây lại tình thương yêu dân tộc. - Nó là gì ? - Là cái lương tâm thức tỉnh của lớp người trẻ vậy ! 2 https://thuviensach.vn TẢN-ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU (1888-1939) TẢN-ĐÀ là biệt hiệu (tên ghép của núi Tản và sông Đà), tên thật là Nguyễn khắc Hiếu, sinh năm 1888 tại làng Khê-thượng, huyện Bất-bạt, tỉnh Sơn-tây (Bắc-phần). Thân phụ là cụ Nguyễn danh Kế, thân mẫu là một ả đào hát hay, thơ giỏi, thường gọi là Phủ Ba. Tản-Đà là con dòng thứ. Ông có hai người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn tài Tích và Nguyễn Cổn ; ngoài ra, còn người anh cùng mẹ là Nguyễn Mạn. Thuở nhỏ ông theo học Hán văn, sau nhờ người anh cả là Phó-bảng Nguyễn tài Tích làm Đốc-học, hết lòng chỉ dẫn nên ông nổi tiếng văn hay chữ tốt. Ngay lúc còn học ở trường Quy-thức ông nổi danh với bài Âu Á nhị châu hiện thế, được các báo Trung-hoa ở Hương-cảng đăng trong mục xã thuyết. Năm 1909, ông bị hỏng ở khoa thi Hương (Kỷ-dậu). Năm 1912, ông yêu cô gái bán sách họ Đỗ ở phố Hàng Bồ. Tản-Đà chiều theo ý muốn của nàng đã phải dùng bằng Ấm-sinh để thi Hậu-bổ, nhưng bị rớt vấn đáp. Mùa thu năm ấy, ông thi Hương lại hỏng luôn. Mối tình vì đó mà tan vỡ ; nàng đi lấy chồng ; Tản-Đà đành ôm khối tình tuyệt vọng từ đây. Sau khi ông anh cả Nguyễn tài Tích mất, Tản-Đà ra làm báo. Vừa viết cho Đông-dương tạp chí của ông Nguyễn văn Vĩnh (1913), vừa viết cho Nam phong thì bị ông Phạm Quỳnh vì muốn tranh thời danh mà thẳng tay mạt sát quyển Giấc mộng con nên không hợp tác được. Ra làm chủ bút tạp chí Hữu thanh (1921) ; nhưng vốn là nhà thơ, không quen nghề làm báo nên không bao lâu Hữu thanh đình bản. Ông lập Tản-Đà thư cục, rồi cho ra An-nam tạp chí (1926) ; nhưng cũng đình bản. Tản-Đà vào Gia-định (Nam phần) ở tại Xóm Gà viết cho báo Thần chung và Đông Pháp thời báo của https://thuviensach.vn ông Diệp văn Kỳ. Nhưng rồi ông lại ra Bắc tái bản An-nam tạp chí. Tờ báo này lại chết làm tan vỡ cái mộng « bồi lại bức dư đồ » của Tản-Đà. Ông đành quay về dịch thơ Đường cho báo Ngày nay, chú thích truyện Kiều, dịch Liêu trai chí dị cho nhà xuất bản Tân Dân. Tác phẩm của ông suốt 25 năm trong nghề văn, nghề báo gồm có : Tiểu thuyết : Thề non nước, Trần ai tri kỷ (truyện ngắn, 1932), Giấc mộng lớn, Giấc mộng con I (1916), Giấc mộng con II (1932). Luận thuyết : Tản-Đà tùng văn (bản chính, bản phụ), Tản-Đà văn tập (hai quyển gồm những bài viết ở Đông phương tạp chí in thành sách 1932). Tản-Đà xuân sắc (1934), Khối tình (1918). Giáo khoa : Lên sáu, Lên tám, Đài gương truyện, Quốc sử huấn mông, Đàn bà Tàu (trích dịch liệt nữ truyện). Dịch thuật : Đại học, Đường thi, Liêu trai chí dị (40 truyện). Tuồng chèo : Tây-Thi, Tỳ-bà hành, Lưu Nguyễn nhập Thiên-thai. Đến năm 1939, Tản-Đà qua đời tại số 71 Ngã tư Sở, ngày 20 tháng 4 năm Kỷ-mão Âm-lịch, nhằm ngày 7 tháng 5 năm 1939 tại Hà-nội. * Đem đặt Tản-Đà lên hàng đầu chiếc chiếu thi đàn Việt-nam ở giai đoạn tiền chiến mở màn cho kỷ nguyên thi ca mới, có lẽ các bạn sẽ gợn lên một thoáng ngạc nhiên, nhưng rồi sự cảm xúc ấy sẽ lắng dịu ngay khi chúng ta hiểu rằng Tản-Đà là một hồn thơ cũ đã sớm cảm thông hồn thơ mới của lớp người trẻ ; thi nhân đã đóng vai trò của nhịp cầu nối liền hai thế hệ tân và cựu. Sau khi thực dân chiếm xong giải đất này, đặt ngay guồng máy cai trị, nhốt chặt muôn triệu linh hồn Việt-nam, tuy chậm tiến trước sức mạnh vũ bão của cơ giới văn minh, nhưng vẫn là những tâm hồn khao khát cái cao rộng của trời xanh. Tản-Đà tuy không phải là chiến sĩ tích cực giải phá lao https://thuviensach.vn lung, nhưng cũng phát lộ được ý chí « bồi lại bức dư đồ », giãi tỏ nỗi niềm ưu ái đối với quốc gia, dân tộc. Tiếp đấy là một cuộc tấn công mới của thực dân trên địa hạt văn hóa ; họ đem cái học thuật Tây-phương gieo rắc sự hiểu biết cần thiết của một trách vụ phục dịch để củng cố thế đứng vững chắc trên thực dân địa ; tuy nhiên nó cũng có khả năng tiêu hủy căn bản văn hóa cổ truyền của một dân tộc nhỏ bé. Đó là hồi chuông gióng lên báo hiệu sự bắt đầu suy tàn của nền học cũ. Hồn thể của Tản-Đà đã hấp thụ thâm đậm nền Nho-học Đông hương, những mong đem sự hiểu biết của mình để thi thố với đời. Nào ngờ, ngọn gió văn minh Tây-phương thổi đùa cái căn bản tri thức của Tản-Đà tan như khói tỏa, cho nên Tản-Đà đã buồn đau khi phải chứng kiến sự thoái vị của nền cựu học. Như để cứu vãng một thân bị lỡ làng, Tản-Đà đã không bắt chước các cụ thời xưa thường hay rút về an hưởng cảnh nhàn khi chán ngán một thực tế đắng cay, hoặc lấy tay bưng bít việc đời mặc kệ sự giả dối, lật lọng, phản trắc cứ tiếp diễn ; Tản-Đà khác hơn, đã thả hồn mình trong « giấc mộng con », « giấc mộng lớn », làm một cuộc viễn du vòng quanh thế giới như cố tìm hiểu tận cội rễ cái mới mẻ của nền tân học. Sau đấy, ta thấy Tản-Đà như làm cuộc cách mạng trong tâm hồn, tư tưởng liền biến đổi, thu được khoảng cách trước bước tiến của lớp trẻ ; tiếng lòng của thi nhân được diễn đạt thành tiếng tơ réo rắt giữa cái tân kỳ của lớp người mới mà ta không cảm mấy bị lỗi nhịp hoặc sượng sùng ; vì lúc bấy giờ Tản-Đà đã trang bị cho mình những gì cần thiết trong cuộc hòa nhạc. Cũng có cái lãng mạn của J.Leiba hay Hồ Dzếnh sau khi bị « tiếng sét ái tình » của người con gái họ Đỗ ; cũng có cái mộng mơ hư thực của Lưu trọng Lư, Thế-Lữ ; cũng có nỗi niềm tha thiết với quê hương trong mấy vần thơ của Thâm-Tâm, Trần huyền Trân ; lại có cả cái say sưa của Vũ hoàng Chương ; Tản-Đà còn vượt bực hơn thi nhân trẻ ở cái ngông. Một cái ngông mà Trời còn chạy mặt ; nó https://thuviensach.vn đã trở thành một bản án của vị trích tiên Tản-Đà còn ghi rành rành trong quyển sổ Thiên-tào : Bẩm quả có tên « Nguyễn khắc Hiếu » Đày xuống hạ giới về tội ngông. (Hầu Trời) Bây giờ ta thử lược qua khái quát những dòng tư tưởng của Tản-Đà. Trước nhất, hãy nói đến khuynh hướng lãng mạn. Sau khi bị tan vỡ mộng tình cùng nàng Đỗ thị, Tản-Đà đã dành cho tình yêu chiếm một chỗ quan trọng trong thi ca. Từ thuở ban sơ khi tim tình bắt đầu rung động, thi nhân tự hỏi : Quái lạ vì sao cứ nhớ nhau ? Nhớ nhau đăng đẳng suốt đêm thâu. Bốn phương mây nước người đôi ngả, Hai gánh tương tư một gánh sầu. Nhịp lòng dậy lên niềm thổn thức khi thẫn thờ cô độc đứng dưới ánh trăng suông, thảng thốt thi nhân kêu lên như than thở : Mình ơi có nhớ ta chăng ? Nhớ mình đứng tựa ánh trăng ta sầu. Nhớ thì vẫn nhớ đấy, nhưng từ lúc chàng trượt kỳ thi Hậu-bổ, rồi lại thi Hương lần nhì hỏng nốt, con chim hồng của thi nhân vội tung cánh tuyệt mù, để lại một tâm hồn sầu tủi lỡ dở bước đường mây, tan rã giấc mộng tình. Ta hãy nghe thi nhân kêu đau trong những vần thơ nhẹ nhàng, gợi cảm : Duyên hồ thắm bỗng dưng phai lạt, Mối tơ vương đứt nát tan tành, Tấm riêng, riêng những thẹn mình, Giữa đường buông đứt gánh tình như không ! https://thuviensach.vn Ái ân thôi có ngần này, Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh... Thực tế quá đắng cay, chua chát ! Thi nhân xoay đường tình vào cõi mộng. Một « giấc mộng con » cũng đã làm thỏa mãn yêu đương còn hơn mười năm nuôi dưỡng ái tình cùng người đẹp. Tản-Đà đã đem thực tế và cõi mộng ra so sánh : Nhớ mộng Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi, Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi. Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng, Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời. Những lúc canh gà ba cốc rượu, Vài khi cánh điệp bốn phương trời. Tìm đâu cho thấy người trong mộng, Mộng cũ mê đường biết hỏi ai ? (Giấc mộng con) Thất bại đường tình ở hiện thực, thi nhân xây giấc mộng tình cùng người con gái ở tận trời Tây, nàng Chu Kiều-Oanh, – phải chăng là hình ảnh nàng Đỗ thị ? – Ở Giấc mộng con, chúng ta còn thấy bóng dáng người con gái mến yêu ; đến bài Tống biệt, tình ái của thi nhân lờ mờ trong sương phủ. Hãy đọc : Tống biệt Lá đào rơi rắc lối Thiên-thai, Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi. Nửa năm tiên cảnh, Một bước trần ai. Ước cũ duyên thừa, có thế thôi ! https://thuviensach.vn Đá mòn, rêu nhạt, Nước chảy, huê trôi, Cái hạc bay lên vút tận trời ! Trời đất từ nay xa cách mãi. Cửa động, Đầu non, Đường lối cũ, Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. * Bàn đến tinh thần ái quốc, chúng ta thấy bộc lộ sự bất mãn 3ngay từ khi Tản-Đà va chạm phải cái thối nát của đám quan lại ở chốn trường thi ; chỉ vì tin ở tài bộ có thừa mà không chịu uốn mình theo khuôn phép nên bị đánh hỏng. Đã đau lòng trước cảnh nước nhà gặp bước suy vong lụn bại trong vòng kiềm tỏa, cương thường đạo nghĩa nghìn xưa đảo lộn, lại thêm bọn sâu dân mọt nước tiếp tay với thực dân đục khoét mảnh giang san ra tơi tả, đau thương, thi nhân đã bày tỏ ý gì trong bài : Vịnh bức dư đồ rách Nọ bức dư đồ thử đứng coi, Sông sông núi núi khéo bia cười. Biết bao lúc mới công vờn vẽ, Sao đến bây giờ rách tả tơi ? Ấy trước ông cha mua để lại, Mà sau con cháu lấy làm chơi ! Thôi thôi có trách chi đàn trẻ, Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi ! Tình yêu nước của Tản-Đà nhẹ nhàng, loáng thoáng. Sau khi người anh cả chết, ông nhất quyết ra làm báo vì nghĩ rằng đấy là phương tiện để https://thuviensach.vn ông dùng ngòi bút – khí giới muôn đời của kẻ sĩ – đóng góp với non sông. Tản-Đà đã lập chí như thế nào ? Ta hãy nghe : Phận nam nhi tang bồng là chí, Chữ trượng phu ý khí nhường ai. Non sông thề với hai vai, Quyết đem bút sắt mà mài lòng son. Giá lúc bấy giờ lòng ông đen tối, ham chạy theo bả lợi danh, chỉ cần đồng ý với thực dân Vayrac, ra làm quan thì thoát ngay cảnh nghèo dễ như bỡn. Nhưng không, lòng ông đã nặng thề cùng non nước : Thề non nước Nước non nặng một lời thề, Nước đi đi mãi không về cùng non. Nhớ lời « nguyện nước thề non », Nước đi chưa lại non còn đứng không. Non cao những ngóng cùng trông, Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày. Xương mai một nắm hao gầy, Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương. Trời Tây ngả bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha. Non cao tuổi vẫn chưa già, Non thời nhớ nước, nước mà quên non. Dù cho sông cạn đá mòn, Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa. Non xanh đã biết hay chưa ? Nước đi ra bể lại mưa về nguồn. Nước non hội ngộ còn luôn, Bảo cho non chớ có buồn làm chi. https://thuviensach.vn Nước kia dù hãy còn đi, Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui. Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non, nước nước không nguôi lời thề. * Say và Ngông của Tản-Đà phải đi đôi. Nó là trạng thái tất nhiên của một tâm hồn kết tụ bởi buồn, chán và bực tức. Buồn cho ái tình dở lỡ, bẽ bàng ; chán cho tình đời đen bạc, thêm nghĩ mình sinh bất phùng thời, mang một kiếp tài hoa mà chẳng có đất thi thố để cho phường vô tài thiếu đức múa rối trên tấn kịch xã hội. Tản-Đà mới mượn câu thơ chung rượu khỏa lấp sầu tư để quên sự đời, quên cái thân hình phù du của con người. Tản-Đà vẫn biết « say sưa là hư đời », nhưng trong cái đau nhừ của thể xác thi nhân đã tìm được đôi khắc sung sướng ở tâm hồn. Nhiệt độ của men rượu quả có năng hiệu đốt cháy mọi phiền não của tâm cơ, nâng đẩy hình hài thoát khỏi thực tại chua chát, hồn phách bỗng trở nhẹ lâng lâng. Ta hãy đọc những vần dưới đây để biết tại sao Tản-Đà cần phải say : Lại say Say sưa nghĩ cũng hư đời, Hư thì hư vậy, say thì cứ say. Đất say đất cũng lăn quay, Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười ? Say chẳng biết phen nầy là mấy, Nhìn non xanh chẳng thấy lại là say. Quái ! Say sao ? Say mãi thế nầy ? Say suốt cả đêm ngày như bất tỉnh, Thê ngôn túy tửu chân vô ích. Ngã dục tiêu sầu thả tự do. https://thuviensach.vn Việc trần ai, ai tỉnh, ai lo, Say lúy túy nhỏ to đều bất kể, Trời đấy nhỉ ! Cái say là sướng thế ! Vợ khuyên chồng, ai dễ đã chừa ngay, Muốn say lại cứ mà say. Từ say đến ngông chỉ là một bước lân cận. Nếu tình yêu đã choán nhiều chỗ trong tác phẩm của ông, thì tánh ngông cũng không chịu kém. Có người viết về cái ngông của Tản-Đà như sau : « Nếu đọc thơ Tản-Đà trên mọi khía cạnh mà không đọc những bài thơ cũng như những đoạn văn về ngông của ông thì thật là một lỗi lầm rất lớn và có thể cho rằng như vậy chính là chưa đọc hết thơ của Tản-Đà ! » Nếu ở mười tám năm trước đây, một Trần tế Xương suốt đời phải lận đận lao đao vì khoa cử công danh mà nảy ra tư tưởng chán đời đến độ bất cần sự đời, đâm ra lêu lổng ăn chơi, nổi tiếng là : « Vị-xuyên có bác Tú Xương, Quanh năm ăn quỵt, chơi lường mà thôi. » hay : « Một ngọn đèn xanh, một quyển vàng, Bốn con làm lính, bố làm quan. Quạt nước chưa xong con nhảy ngược ; Trống chầu chưa dứt, bố leo thang. » Thật là ngông không ai hơn. Thế rồi chẳng bao lâu, nhà thơ Tản-Đà lại tiếp tục sự nghiệp ngông ấy. Cái ngông trong thơ Tản-Đà gần như là một vấn đề phải có đối với ông, vì nó đã phản ảnh được cá tính cũng như cuộc sống lúc bấy giờ của tác giả. Như mọi người đều biết, Tản-Đà làm văn-nghệ nhưng suốt đời vẫn sống trong cảnh túng thiếu, nghèo nàn không thua gì ông tú làng Vị-xuyên, https://thuviensach.vn nghèo đến nước : « Ôi trời ! ôi đất ! ôi là tết ! Tháng cận năm cùng, gạo cũng hết. » (Than tết) hay : « Tết đến năm nay nghĩ cũng buồn, Tiền thì không có, nợ đòi luôn. » (Tết than việc nhà) Với cảnh nhà cùng quẫn, tiền bạc không có, vay trước trả sau, Tản-Đà quá chán chường cuộc sống, nảy sinh tư tưởng bất cần đời, vì ông tin rằng « bôn ba chẳng qua thời vận » rồi ông đâm ra liều lĩnh, ăn chơi cho thỏa thích, mặc đến đâu thì đến. Làm văn chương chẳng cần mực thước, vui thì làm, buồn thì nghỉ. Những điều vừa nói, ta thấy tâm trạng của thi nhân qua bài Còn chơi, tiêu biểu khuynh-hướng ngông của tác giả : Còn chơi Ai đã hay đâu tớ chán đời, Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi. Chơi cho thật chán, cho đời chán, Đời chán nhau rồi, tớ sẽ thôi. Nói thế, can gì tớ đã thôi, Đời đương có tớ, tớ còn chơi. Người ta chơi đã già đời cả, Như tớ năm nay mới nửa đời. Nửa đời chính độ tớ đương chơi, Chơi muốn như sao thật sướng đời. Người đời ai có chơi như tớ, Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi. https://thuviensach.vn Chơi văn sướng đến thế thì thôi, Một mảnh trăng non chiếu cõi đời. Văn vận nước nhà đương buổi mới, Như trăng mới mọc, tớ còn chơi. Làng văn chi thiếu khách đua chơi, Dan díu, ai như tớ với đời. Tớ đã với đời dan díu mãi, Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi. Đời đương dan díu, chửa cho thôi, Tớ dám xa xôi để phụ đời. Vắng tớ bấy lâu, đời nhớ tớ, Nhớ đời, nên tớ vội ra chơi. Tớ hãy chơi cho quá nửa đời, Đời chưa quá nửa, tớ chưa thôi. Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ, Buồn cả cho đời vắng bạn chơi. Nào những ai đâu, bạn của đời ? Sao mà bỏ vắng, ít ra chơi ? Chớ ai chờ mãi, ai đâu tá ? Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi ? Nếu tớ như ai : cũng ngán đời, Đời thêm vắng bạn, lấy ai chơi ? Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán, Nếu ngán thời xưa tớ đã thôi. Tớ nhớ năm xưa nửa ngán đời, Nghĩ đi, nghĩ lại, lại ra chơi. Mê chơi cho tới thành dan díu, Đời dẫu cho thôi, tớ chẳng thôi. https://thuviensach.vn Nghĩ tớ bao nhiêu, lại nghĩ đời, Nghĩ đời như thế, dám nào thôi. Còn đời, còn tớ, còn chơi mãi, Chơi mãi cho đời có bạn chơi. Tớ muốn chơi cho thật mãn đời, Đời chưa thật mãn ; tớ chưa thôi. Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng ! Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi. Trăm năm, tớ độ thế mà thôi, Ức, triệu, nghìn năm chửa hết đời. Chắc có một phen đời khóc tớ. Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi. Trăm năm còn độ bấy nhiêu thôi, Ngoài cuộc trăm năm, tớ dặn đời. Ức, triệu, nghìn năm đời nhớ tớ. Tớ thôi, tớ cũng hãy cùng chơi. Bút đã thôi rồi, lại chửa thôi, Viết thêm câu nữa, hỏi đời chơi : « Lộng hoàn » này điệu từ đâu trước ? Họa được hay không ? Tớ đố đời. Bất mãn với thời thế, Tản-Đà cũng như bao nhiêu người khác, những lúc quá ê chề chán nản cho cuộc sống hẩm hiu, người ta thường sống trong cõi mộng, nuôi một hy vọng ở tương lai sẽ sáng sủa, thắm tươi hơn, vì tin rằng « hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai » nên thi nhân tự hỏi : « có lẽ ta đâu mãi thế này », bởi thế cho nên Tản-Đà mơ mộng thật nhiều, mơ mộng cuộc sống sẽ huy-hoàng, tên tuổi sẽ sáng chói, những tác phẩm sẽ bán thật nhiều để điểm tô cho cuộc đời thêm khởi sắc, đây ta hãy nghe thi nhân kể lại giấc mơ đó trong bài : https://thuviensach.vn Hầu Trời Đêm qua chẳng biết có hay không, Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng. Thật hồn, thật phách, thật thân thể, Thật được lên tiên sướng lạ lùng ! Nguyên lúc canh ba nằm một mình, Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh. Nằm buồn ngồi dậy đun nước uống, Uống xong ấm nước nằm ngâm văn. Chơi văn ngâm chán, lại chơi trăng, Ra sân cùng bóng đi tung tăng. Trên trời bỗng thấy hai cô xuống, Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng : « Trời nghe hạ giới ai ngâm nga, Tiếng ngâm vang cả sông Ngân-hà. Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng Có hay lên đọc, Trời nghe qua. » Ước mãi bây giờ mới gặp Tiên ! Người Tiên nghe tiếng lại như quen Văn chương nào có hay cho lắm, Trời đã sai gọi thời phải lên. Theo hai cô Tiên lên đường mây, Vù vù không cánh mà như bay. Cửa son đỏ chói oai rực rỡ ! Thiên môn Đế-khuyết như là đây ? Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy, Trời sai Tiên-nữ dắt lôi dậy, https://thuviensach.vn Ghế bành như tuyết, vân như mây, Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đây. Tiên đồng pha nước, uống vừa xong, Bỗng thấy chư Tiên đến thật đông, Chung quanh bày ghế ngồi la liệt, Tiên bà, Tiên cô, cùng Tiên ông. Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc, Trời sai pha nước để nhắp giọng. Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe, « Dạ, bẩm lạy Trời, con xin đọc. » Đọc hết văn-vần, sang văn xuôi, Hết văn thuyết-lý, lại văn chơi. Đương cơn đắc ý đọc đã thích, Chè trời nhắp giọng càng tốt hơi ! Văn dài, hơi tốt ran cung mây, Trời nghe Trời cũng lấy làm hay. Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi, Hằng-Nga, Chức-nữ chau đôi mày. Song-Thành Tiểu-Ngọc lắng tai đứng Đọc xong mỗi bài, cùng vỗ tay. « Bẩm con không dám man cửa Trời, Những các văn, con in cả rồi : Hai quyển « Khối tình » văn thuyết-lý ; Hai « Khối tình con » là văn chơi ; « Thần tiên », « Giấc mộng », văn tiểu thuyết ; Đài gương », « Lên sáu » văn vị đời ; Quyển « Đàn bà Tàu » lối văn dịch ; Đến quyển « Lên Tám » nay là mười, https://thuviensach.vn Nhờ Trời văn con mà bán được Chửa biết con in ra mấy mươi ! » Văn đã giàu thay, lại lắm lối, Trời nghe Trời cũng bật buồn cười. Chư tiên ao ước, tranh nhau dặn « Anh gánh lên đây bán chợ trời. » Trời lại phê cho : « Văn thật tuyệt ! » « Văn trần được thế chắc có ít ? Lời văn chuốt đẹp như sao băng ! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển ! Êm như gió thoảng, tinh như sương ! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết ! Chẳng hay văn sĩ tên họ gì ? Người ở phương nao ? Ta chửa biết ! » - « Dạ, bẩm lạy Trời, con xin thưa : Con tên « Khắc Hiếu » họ là « Nguyễn » Quê ở Á-châu về Địa-cầu. Sông Đà, núi Tản, nước Nam-Việt. » Nghe xong, Trời ngợ một lúc lâu, Sai bảo Thiên Tào lấy sổ xét. Thiên-Tào tra sổ xét vừa xong, Đệ sổ lên trình Thượng-đế trông : « Bẩm quả có tên « Nguyễn khắc Hiếu » Đày xuống hạ giới về tội ngông ». Trời rằng : « Không phải là trời đày, Trời định sai con một việc này : Là việc « thiên lương của nhân loại » Cho con xuống thuật cùng đời hay. » https://thuviensach.vn - « Bẩm trời, cảnh con thật nghèo khó, Trần gian thước đất cũng không có. Nhờ trời năm xưa học ít nhiều, Vốn liếng còn một bụng văn đó. Giấy người, mực người, thuê người in, Mướn cửa hàng người bán phường phố. Văn chương hạ giới rẻ như bèo ! Kiếm được đồng lãi thật rất khó !. Kiếm được có ít, tiêu phải nhiều, Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu. Lo ăn, lo mặc suốt ngày tháng, Học ngày một kém, tuổi ngày cao ! Sức trong non yếu, ngoài chen rấp, Một cây che chống bốn năm chiều. Trời lại sai con việc nặng quá, Biết làm có nổi, mà dám theo ? » Rằng : « Con không nói, Trời đã biết, Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết. Cho con cứ về mà làm ăn, Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết. Cố xong công việc của Trời sai, Trời sẽ cho con về Đế-khuyết. » Vâng lời Trời dạy, lại xin ra, Trời sai Khiên-Ngưu đóng xe tiễn. Xe trời đã chực ngoài Thiên-môn, Chư tiên theo ra cùng tiễn biệt. Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi, Trông xuống trần gian vạn dặm khơi. Thiên tiên ở lại, Trích-tiên xuống, https://thuviensach.vn Theo đường không khí về trần ai. Đêm khuya khí thanh, sao thưa vắng, Trăng tà đưa lối về non Đoài. Non Đoài đã tới quê trần giới, Trông lên chư tiên không còn ai ! Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy, Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi. Một năm ba trăm sáu mười đêm, Sao được đêm đêm lên hầu trời. Đọc qua ta thấy cái ngông của Tản-Đà nhẹ nhàng, ý nhị, không quá trắng trợn như cái ngông của ông Tú Vị-xuyên Trần tế Xương : Vị-xuyên có bác Tú-Xương, Quanh năm ăn quỵt chơi lường mà thôi. Hay là : Ông trông lên bảng thấy tên ông, Ông tớp rượu vào, ông nói ngông, Cụ Sứ có cô con gái đẹp, Lăm le xui bố cưới làm chồng. Trình bày cái ngông của mình, trước mặt Trời thi nhân kể lể tâm sự một khách văn-chương như ông, văn rất hay nhưng khổ nỗi « văn chương hạ giới rẻ như bèo », bởi thế cho nên : Kiếm được đồng lãi thật rất khó ! nhưng : Kiếm được có ít, tiêu phải nhiều. Chính vì thế mà : Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu. https://thuviensach.vn Lo ăn, lo mặc, suốt ngày tháng. Trong khi đó thì : Sức trong non yếu, ngoài chen rấp, Một cây che chống bốn năm chiều. Chính vì những ý nghĩ đó mà Tản-Đà ngông và muốn : « Tớ muốn chơi cho thật mãn đời, Đời chưa thật mãn, tớ chưa thôi. Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng ? Dù chóng hay lâu tớ hãy chơi. » Tình và ý thơ của Tản-Đà còn bàng bạc trong các tác phẩm. Một phần nhỏ mọn của quyển sách này không làm sao luận cạn. Từ cái hướng nhắm của hai tác phẩm Lên sáu và Lên tám, tác giả đã lấy sự giáo dục làm lợi khí trong việc tạo tinh thần đoàn kết và lòng thương nước thương nòi của trẻ con ; qua Đài gương truyện và Đàn bà Tàu đã nói nhiều về trách vụ người phụ nữ ; đến lòng ái quốc của tiên sinh được bộc lộ rải rác trong những văn thi phẩm mà chúng tôi đã luận qua khái quát ở phần trên. Riêng phương diện tình ái, ta thấy tình yêu của Tản-Đà tuy nhẹ nhàng nhưng không kém đậm đà, tha thiết. Ngọn lửa yêu đương đã thành hình và bốc cháy trong tâm can cũng như đã trải ra trên trang thơ nét chữ là thứ tình yêu mang màu sắc của người phương Đông ; mặc dù yêu nhau nặng, tình cảm đã trào dâng nhưng không dám thổ lộ quá cởi mở như người phương Tây. Nói đến cái ngông. Từ khi Tản-Đà lỡ bước đường mây, thua thiệt trong tình ái, lại thấy trên sân khấu đời nhởn nhơ phường bất tài bất trí, rồi nghĩ lại mình, thương cho một thân chứa đựng tài hoa mà đành khoanh tay chịu cảnh nghèo, nhìn mọi diễn biến chán ghét trong vở bi hài kịch xã hội ; ngần ấy bất mãn đã nung sôi lòng bực tức, ông đâm ra ngông ngênh, nói theo danh từ thời đại nó là cái bốc đồng nhất thời vậy. Ngông là cái thói khinh https://thuviensach.vn đời, ngạo thế. Nó là trạng thái khi cái tri thức bị rượt đuổi đến bước đường cùng. Bị uất ẩn mà không làm sao giải tỏa ; ước định lo cho đời mà đời chẳng cho lo ; những tâm hồn bị đè nén đâm ra tư tưởng cóc cần đời. Vì thế, Tản-Đà quyết định : vậy thì cứ ăn chơi cho thỏa thích, chơi đến đời chán mới thôi ; nhưng như vậy là đã thiên về vật chất ; cái tình vị tha vị xã trước kia nay bị co rút vào tháp ngà của cuộc sống hiện hữu được gói ghém kỹ trong một cá thể. Nói chung, cái ngông này, Tản-Đà quyết định mang đến kỳ cùng hơi thở. Nó là một hình thức chống đối thời thế đã không chiều lòng người, mà còn hất hủi xô đẩy Tản-Đà trở thành một con người bất đắc chí vì chưa thỏa mãn được sứ mạng thi hành cái « thiên lương 4 » mà Trời đã giao phó. https://thuviensach.vn THI TUYỂN Hủ nho lo việc đời Đáng nực cười cho bác Hủ-nho ! Việc đời ai khiến gánh mà lo, Lo to, lo nhỏ, lo nào xiết. Lo thế mà ai có biết cho. Lo vì công việc báo « An-nam », Đã trót đa mang cứ phải làm. Bốn bể phen nầy không trắng nợ, Tuyết sương âu hẳn bạc đầu thêm. Lo vì tin nước đã lưng sông, Đâu đó đê điều có vững không ? Con cháu Rồng tiên đương đói dở, Không hay Hà-bá có thương cùng ? Lo vì xã hội thiếu tiền tiêu, Một kẻ phong lưu chín kẻ nghèo. Cái nỗi sinh nhai mà khốn khó, Con đường tiến hóa cố mà theo. Lo vì phong hóa mỗi ngày suy, Thánh giáo không ai kẻ hộ trì. Hằng sản cũng không, tâm cũng mất, Sĩ còn chưa trách, trách dân chi ! Lo vì thế cục nát như tương, Cái ruột tằm ai rối vấn vương. Nhọn chẳng ăn ai, ngòi bút sắt, https://thuviensach.vn Cùng ai lo tính lúc đêm trường. Đáng nực cười cho cái sự lo, Lo quanh, lo quẩn chẳng ra trò. Việc đời ai có lo chăng tá ? Ai có lo cùng bác hủ nho ? Lo văn ế Như tớ xưa nay vốn vẫn nghèo, Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu. Quanh năm luống vẫn lo văn ế, Thân thế xem thua chú hát chèo. Hát chèo lắm lúc nghĩ mà ngoan, Vẽ mặt pha trò với thế gian. Cưới vợ đêm nay, mai lại cưới, Đêm đêm cưới vợ lại làm quan. Làm quan ví có dễ như chèo, Tớ đến năm nay đã chẳng nghèo. Bởi bước công danh trèo cũng khó, Trèo leo chẳng được phải nằm meo ! Nằm meo cho tớ nghĩ ra văn, In bán ra đời cách kiếm ăn. Vô sự ăn xong nằm lại nghĩ, Con tằm rút ruột lá dâu xanh. Dâu xanh rút giả sợi tơ vàng, Thân thế con tằm những vấn vương. Tớ nghĩ thân tằm như tớ nhỉ, Tơ tằm đòi đoạn mối văn chương. Văn chương nào dám nói hơn ai, https://thuviensach.vn Nghề nghiệp làm ăn phải thế thôi. In hết quyển này ra quyển khác, Có văn có ích, có văn chơi. Văn chơi in bán để chơi chung, Dẫu được lời riêng có mấy đồng. Buôn chữ gặp ngay hồi giấy đắt, Người mua ai có biết cho không ? Cho không ai biết đấy là đâu, « Bán nói » khi đâu dám đặt điều. Tốn kém vì văn chưa tính đến, Nhưng tiền giấy mực những bao nhiêu. Bao nhiêu củi nước mới thành văn. Được bán văn ra chết mấy lần. Ông chủ nhà in, in đã đắt ! Lại ông hàng sách mấy mươi phân ! ! Mươi phân gửi bán lấy tiền sau. Bán hết thu tiền nghĩ cũng lâu. Lắm lúc túng tiền mang bán rẻ. Trừ đầu, trừ cuối, nghĩ càng đau. Càng đau mà vẫn phải càng theo, Theo mãi cho nên cứ vẫn nghèo. Nghèo chỉ có văn, văn lại ế ! Ế văn cho tớ hết tiền tiêu. Tiền tiêu không có những băn khoăn, Vay ngược vay xuôi thực khó khăn. Công nợ nhà in còn chất đống, Còn đâu gan ruột nghĩ ra văn. Ra văn mà bán chẳng ra tiền, https://thuviensach.vn Cái nghiệp văn chương nghĩ thật phiền. Văn ế bao giờ cho bán hết ? Phen nầy có nhẽ gánh lên tiên. Ngày xuân nhớ xuân Bính-tý sang, mà Ất-hợi qua, Đổi thay cũ mới khắp gần xa. Vui xuân thiên hạ bao nhiêu kẻ, Ngồi nhớ xuân xưa họa có ta. Xuân xưa nhớ lúc ta lên năm, Vỡ lòng đi học, phố thành Nam. Học sách ba chữ, thơ năm chữ, Đến sách Dương-Tiết vừa hết năm. Xuân xưa đến lúc ta lên sáu, Học sách Luận-ngữ đọc làu táu. Ở nhà Hà-nội, phố hàng Bông, Bốn tám, đến nay còn nhớ số. Cuối năm lên sáu, ta về Khê, Đà-giang, Tản-lĩnh, nước non quê. Sách nho học Truyện, lại học Sử, Quốc-ngữ cũng mới làu A, B. Xuân xưa bẩy, tám, chín, mười tuổi, Văn chương ta mới làm câu đối. Đến xuân mười một, học làm thơ, Xuân mười bốn tuổi, văn đủ lối. Đà-giang nước chảy, Tản mây bay, Mười bốn xuân qua trải tháng ngày. Hết xuân mười bốn từ Khê-thượng, https://thuviensach.vn Về học phủ Quảng, gần Sơn-tây. Quảng-oai vừa trải bốn xuân dư, Xuân, mỗi ngày cao, học cũng nhừ. Cuối xuân mười chín, ra Hà-nội, Học trường Quy-thức, đường Gia-ngư. Hà-thành qua trải một đôi xuân, Học chẳng cao thêm cũng rộng dần. Mới học Pháp văn từ lúc ấy, Ấy năm Thành-Thái sang Duy-Tân. Xuân xưa đến tuổi ta hai mươi, Phủ Vĩnh cầm thư quẩy gánh chơi. Hán học, Pháp văn, kiêm giảng tụng, Ba gian nhà cỏ bóng trăng soi. Sang xuân hăm mốt học đi thi Thi tại trường Nam, lọt một kỳ. Kỳ luận hỏng vì vua Hạ-võ ! Hỏng thi càng học để đi thi ! Xuân hăm bốn tuổi thi Ẩm-sinh, Tên đỗ thứ ba đăng nhật trình, Hậu-bổ thi luôn, hỏng vấn đáp, Chữ Pháp thất bại đường công danh. Xuân qua thu lại, lại đi thi, Nam-định bay luôn đệ nhất kỳ. Càng học để thi, càng cứ hỏng ; Thi tàn, học cũng tàn theo thi ! Ngày xuân thấm thoát nghĩ như thoi, Cái học năm xưa đã cũ rồi. Học cũ đi mà xuân lại mới, https://thuviensach.vn Thơ xuân nhớ lại viết mà chơi. Thăm mả cũ bên đường Chơi lâu, nhớ quê về thăm nhà, Đường xa, người vắng, bóng chiều tà. Một dẫy lau cao làn gió chạy, Mấy cây thưa lá sắc vàng pha. Ngoài xe trơ một đống đất đỏ, Hang hốc đùn trên đám cỏ gà Người nằm dưới mả ai ai đó, Biết có quê đây hay vùng xa ? Hay là thuở trước kẻ cung đao, Hám đạn, liều tên, quyết mũi dao ? Cửa nhà xa cách, vợ con khuất, Da ngựa gói bỏ lâu ngày cao. Hay là thuở trước kẻ văn chương. Chen hội công danh, nhỡ lạc đường. Tài cao, phận thấp, chí khí uất, Giang-hồ mê chơi quên quê hương ? Hay là thuở trước khách hồng nhan, Sắc xảo khôn ngoan trời đất ghen. Phong trần xui gặp bước lưu lạc, Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn ? Hay là thuở trước khách phong lưu. Vợ con, đàn hạc đề huề theo. Quan san xa lạ đường lối khó, Ma thiêng, nước độc phong sương nhiều ? Hay là thuở trước bậc tài danh, https://thuviensach.vn Đôi đôi, lứa lứa cũng linh tinh. Giận duyên, tủi phận, hờn ân ái, Đất khách nhờ chôn một khối tình ? Suối vàng sâu thẳm biết là ai ? Mả cũ không ai kẻ đoái hoài. Trải bao ngày tháng trơ trơ đó, Mưa dầu, nắng dãi, trăng mờ soi ! Ấy thực quê hương con người ta, Dặn bảo trên đường những khách qua. Có tiếng khóc oe thời có thế, Trăm năm ai lại biết ai mà ! Gặp xuân MƯỠU : Gặp xuân ta giữ xuân chơi, Câu thơ chén rượu là nơi đi về. Hết xuân cạn chén xuân về. Nghìn thu nét mực thơ đề vẫn xuân ! NÓI : Xuân ơi, xuân hỡi ! Vắng xuân lâu, ta vẫn đợi, chờ, mong. Trải bao nhiêu ngày, tháng, hạ, thu, đông, Ròng rã nỗi nhớ nhung, xuân có biết ? Khứ thế xuân quy, sầu cửu biệt. Kim niên xuân đáo, khách tương phùng. Gặp ta nay, xuân chớ lạ lùng, Tóc có khác, trong lòng ta chẳng khác. Kể từ thuở biết xuân bốn chín năm về trước. Vẫn rượu thơ non nước thú làm vui. Đến xuân nay ta tuổi đã năm mươi ; Tính trăm tuổi đời người, ta có nửa, https://thuviensach.vn Còn sau nữa, lại bao nhiêu xuân nữa, Mặc trời cho, ta chửa hỏi làm chi. Sẵn rượu đào, xuân uống với ta đi, Chỗ quen biết, kể gì ai chủ, khách. Thiên cổ vị văn song Lý Bạch, Nhất niên hà đắc lưỡng Đông Quân. Dầu trăm năm gặp gỡ đủ trăm lần, Thơ với rượu cùng xuân ta cứ thế. Ngoài trăm tuổi vắng ta trên trần thế, Xuân nhớ ta chưa dễ biết đâu tìm ! Cùng nhau nay hãy uống thêm. Khuyên người giúp dân lụt Này những ai, này những ai, Ai có nghe rằng việc thủy tai : Tỉnh Bắc, tỉnh Đông, cùng tỉnh Thái, Ruộng ngập nhà chìm, thây chết trôi. Thây chết trôi, thôi thời thôi, Ai tìm người vớt lúc thiên tai ! Những mạng chết ai đành đã thế, Người còn sống sót nghĩ thương ôi ! Nghĩ thương ôi ! Ai những người, Trời làm tai vạ biết kêu ai. Đói thời chịu đói, rét chịu rét Đầy vơi mặt nước, lệ đầy vơi. Lệ đầy vơi, tình chia phôi, Bồng bế con thơ bán khắp nơi : Năm hào một đứa trẻ lên sáu, https://thuviensach.vn Cha còn sống đó, con bồ côi. Con bồ côi, tình thương ôi ! Trời làm tai vạ phải chia phôi, Sinh con ai nỡ đang lòng bán, Thương con nào biết lấy gì nuôi. Lấy gì nuôi, lúc thiên tai, Chẳng có ngô mà chẳng có khoai, Miếng ăn chẳng có, con nhìn bố, Nông nỗi như kia, đáng ngậm ngùi ! Đáng ngậm ngùi, ai hỡi ai ! Ăn sung mặc sướng ngồi thảnh thơi. Nghĩ kẻ cơ hàn nơi nước lụt, Như ai khi cũng dạ đầy vơi. Dạ đầy vơi, thương cùng ai, Thương người khổ hại lúc thiên tai. Hai chữ « đồng bào » ân nghĩa nặng, Đùm nhau lành rách, hỡi ai ơi ! Hỡi ai ơi ! Là những người, Ông trên mạn ngược, bà vùng xuôi, Có nhiều cho nhiều, ít cho ít, Cứu kẻ bần dân lúc thủy tai. Lúc thủy tai, nầy ai ơi ! Quý tiếc yêu thương lấy giống nòi. Con cháu Rồng, Tiên khi đã bĩ, Đừng nên rẻ rúng bỏ nhau hoài ! Say MƯỠU : Đêm xuân một trận nô cười https://thuviensach.vn Dưới đèn chẳng biết rằng người hay hoa. Khi vui quên cả cái già, Khi say chẳng rốc giang hà cũng say. NÓI : Kim tịch thị hà tịch ? Mảng gương nga đã tếch lối non đoài. Đó kìa ai ba bốn, bốn năm người. Người đâu tá còn chơi trong mộng thế ? Nhãn ngoại trần ai không nhất thế, Hung trung khối lũy thuộc tiền sinh. Kiếp say sưa đã chấm sổ thiên đình. Càng đắm sắc mê thinh càng mải miết. Say lắm vẻ : say mệt, say mê, say nhừ, say tít ; Trong làng say ai biết nhất ai say ? Mảnh hình hài quen giả trá xưa nay, Chúng sinh tướng lúc này coi mới hiện. Thôi xếp cả nguyệt hoa, hoa nguyệt, Cảnh bồng lai trải biết gọi làm duyên. Tửu trung ưng thị thần tiên. Thơ đề thay bài tựa (Đài-gương truyện 1919) Phàm dân trong một nước, Một nửa là đàn bà. Kể từ con gái bé, Cho đến bà cụ già. Đều là người của nước, Mà lo việc trong nhà. Nhà nào đàn bà hay, Thịnh vượng và vui hòa ; https://thuviensach.vn Nhà nào đàn bà hư, Lụn bại và xấu xa ! Đây là truyện nước Tàu. Dịch ra chữ nước ta. Trên từ vợ vua quan, Dưới đến nhà dân gia. Mẹ hiền dạy con cái, Con hiếu với mẹ cha. Vợ càng hay lắm vẻ, Đạo tam tòng hòa ba. Ngoài ba đạo chính ấy, Nhiều truyện còn thiết tha. Tư tính sao cao minh, Thật tự trời sinh ra. Hãy xem cách ăn ở, Vằng vặc như gương nga. Lại những lời ăn nói, Như gấm càng thêu hoa. Ấy các vị thánh hiền, Cùng trong làng quần thoa. Đất nước dẫu Nam, Bắc, Đạo lý không quan hà. Phòng văn lúc nhàn rỗi, Lời quê diễn nôm ra, Mong chờ cơn gió thanh, Hương thơm đưa gần xa. Trần ai tri kỷ Luân thường đổ nát, phong hóa suy. https://thuviensach.vn Tiết nghĩa rẻ rúng, ân tình ly. Vợ chồng kết tóc chưa khăng khít, Nhân tình, nhân ngãi còn kể chi. Trần ai tri kỷ ai với ai ? Chẳng là bác Cả với chị Hai. Nào ai khuê tú, ai tài tuấn, Lầu xanh gặp gỡ người làng chơi. Nửa gian nhà cỏ ngọn đèn xanh, Mấy dịp cầu ao, một gánh tình. Bể khổ đã qua cơn sóng gió, Giàu sang mây chó kiếp phù sinh. Cái nợ phong lưu trả đã thừa, Qua trải hồng nhan mấy nắng mưa. Hương phai, phấn nhạt, duyên càng thắm, Lòng chàng khi cuối, thiếp khi xưa. Tri kỷ xưa nay dễ mấy người ? Trần ai nào đã ai với ai ? Nhắn khách giai nhân với tài tử : Ngồi buồn xem « Truyện thế gian » chơi. Hài đàm « Thơ Mới » Từ khi Lý-Bạch chết, thiên hạ không chuộng thơ, mà thơ kém hay. Bởi thế mới có Phan tiên sinh ra đời. Từ khi Bá-Nha chết, thiên hạ không chuộng đờn, mà đờn kém hay. Bởi thế mới có Quách tiên sinh ra đời. Phan tiên sinh cải lương về nghề thơ, ở đời chưa gặp ai tri kỷ. Quách tiên sinh cải lương về nghề đờn, ở đời chưa gặp ai tri âm. Một hôm, kỳ ngộ duyên may, hai tiên sinh gặp gỡ. https://thuviensach.vn Trong một nhà ở phố Khâm-thiên, Phan đương nằm hút ở trên gác, bỗng nghe ở dưới gác có tiếng đờn nẩy, nhận lâu rất thấy khác thường : tiếng đờn thực hay mà như không có cung bậc. Do bụng hoài nghi, Phan tiên sinh bước xuống bực thang ngó thử coi, thấy người nẩy đờn đó chừng cũng là một du tử, mà coi ra có vẻ cao nhân ; nhân bước luôn xuống thang, làm quen nói chuyện chơi. Người đó là ai ? Tức là Quách vậy. Rồi đó Quách tiên sinh nói chuyện đờn ; Phan tiên sinh nói chuyện thơ. Rồi Quách đờn một chập, Phan thơ một hồi. Rồi Quách lại đờn, Phan lại thơ. Rồi Phan, Quách lại truyện thơ, truyện đờn. Cái thú gặp tri kỷ, khó bút mực nào vẽ cho hết. Chị chủ đó nguyên là một tay tài tình, văn thơ âm nhạc, đều có hiểu qua ; nhân bàn quanh một cuộc cầm thi, cũng cảm tác một bài « Thơ mới » : Đờn là đờn, Thơ là thơ ; Thơ thời có chữ, đờn có tơ. Nếu không phá cách vứt điệu luật, Khó cho thiên hạ đến bao giờ ! Bá-Nha xa, Lý-Bạch khuất, Thơ có họ Phan, đờn họ Quách, Thơ có chữ, Đờn có tơ ? Đờn thời ngơ ngẩn, thơ vẩn vơ, Tài tử văn nhân nhường rứa rứa. Bút huê ngao ngán bận đề thơ. (Số mùa xuân, Phụ nữ tân văn tháng 2 năm 1934) https://thuviensach.vn Phong thi Suối tuôn róc rách ngang đèo, Gió thu bay lá, bóng chiều về tây. Chung quanh những đá cùng cây, Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm ? Hỏi thăm những cá cùng chim, Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm ! Bây giờ vắng mặt tri âm, Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình ? Nước non vắng khách hữu tình, Non xanh nước biếc cho mình chờ ai ? Anh xuôi, em tựa đầu cầu, Con sông vẫn đó, con tàu đã qua. Lạy trời gió bão phong ba. Cho tàu đổ ngược, cho ta thấy mình. Muốn cho đêm ngắn hơn ngày, Sớm vỡ ruộng rậm, trưa cày ruộng chiêm. Muốn cho ngày ngắn hơn đêm, Đèn khuya chung bóng cho em đỡ sầu. Mình ơi có nhớ ta chăng ? Nhớ mình đứng tựa bóng trăng ta sầu. Trăng kia soi nửa vòng cầu, Mà ai tìm cái phong hầu thấy chưa ? Đường đi nho nhỏ, Bờ cỏ xanh xanh, Không duyên không nợ, không tình, Đồng không quãng vắng, sao mình gặp ta ? Bây giờ trời nắng đường xa, Rủ nhau vào dưới gốc đa ta ngồi. https://thuviensach.vn Yêu nhau chẳng lọ thề bồi, Kẻ Nam, người Bắc, ngậm ngùi nhớ thương. Tơ tầm ai vấn mà vương ? Đêm qua mất cắp như chơi, Có chỗ mất vợ, có nơi mất chồng ! Ông tơ nghĩ chẳng thẹn thùng, Còn đương chấp mối tơ hồng se ai ! Một con sông, ba bảy con sông đào, Trăm công nghìn nợ trông vào một em Bao giờ sạch nợ giàu thêm, Để anh đi kéo gỗ lim làm nhà. Đôi ta trăm tuổi cùng già, Con tằm khác kén, cùng là nhộng non. Chữ đồng tạc núi ghi sông. Đêm thu gió đập cành cau, Chồng ai xa vắng ai sầu chăng ai ? Đêm thu gió hút ngoài tai, Gió ơi có biết chăng ai nơi nào ? Đêm thu gió lọt song đào, Chồng ai xa vắng, gió vào chi đây ? Đêm thu gió lạnh đôi mày, Gió ơi có biết nỗi nầy cho chăng ? Con sông chạy buột về Hà, Nhớ ai Hà-nội, trông mà ngùi thương, Nhớ người cố quận tha hương, Nhớ ai thời nhớ, nhưng đường thời xa. Ai xuôi em lấy học trò, Thấy nghiên, thấy bút những lo mà gầy ! Người ta đi lấy ông Tây, https://thuviensach.vn Có tiền, có bạc cho thầy mẹ tiêu. Ai đi ! đợi với tôi cùng, Tôi đi kiếm rượu cho chồng tôi xơi. Chồng hư mang tiếng mang tai, Tiếng tai thiếp chịu, hơn ai không chồng. Cô kia đen thủi đen thùi, Phấn đổ vô hồi, cái má vẫn đen. Lắm vàng cho thắm nhân duyên, Cô kia trắng nõn, không tiền lấy ai. Trách ai đánh đá nung vôi. Trách ai ngả gỗ trên đồi đốt than. Làm cho vôi trắng than đen, Cho lòng đen bạc, thế gian lắm người ! Bờ hồ những gió cùng trăng, Những trăng cùng gió lăng nhăng sự đời, Ai lên nhắn trách ông Trời, Bày chi trăng gió, cho người gió trăng ! Thơ rượu Người đời như giấc chiêm bao, Nghìn xưa đã mấy ai nào trăm năm ? Một đoàn lao lực lao tâm, Quí chi chữ « thọ » mà lăm sống nhiều ? Có tiền chưa dễ mà tiêu, Ham danh lắm kẻ như diều đứt dây. Thương ai cho bận lòng đây ? Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ ! Cảnh đời gió gió mưa mưa, Buồn trong, ta phải say sưa đỡ buồn. https://thuviensach.vn