🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Tiểu Sử David Ben Gurion Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn Table of Contents Foreword By Israel Ambassador Lời nói đầu Chương 01. David Gruen Chương 02. Những năm tháng tươi đẹp Chương 03. Tha hương Chương 04. Thẻ thành viên số 03 Chương 05. Chinh phục phong trào Xiôn Chương 06. Sự kết thúc của chủ nghĩa Xiôn chính trị Chương 07. Những năm tháng chiến tranh Chương 08. Cuộc đấu tranh cho sự thành lập quốc gia Chương 09. Cuộc chiến trước chiến tranh Chương 10. Chiến đấu để tồn tại Chương 11. Những năm tháng anh hùng Chương 12. Sdeh Boker Chương 13. Những cơn gió chiến tranh Chương 14. Chiến dịch Sinai Chương 15. Thời Vàng son Chương 16. Cơn bão Chương 17. Những ngả đường Vĩ Thanh Đối Diện Với Thiên Niên Kỷ Mới Lời tựa của Đại sứ Israel tại Việt Nam https://thuviensach.vn https://thuviensach.vn Foreword By Israel Ambassador Dear readers, This book about David Ben-Gurion (1886-1973), Israel’s first Prime Minister is a book about the history of the State of Israel and its establishment. This is a biography of Israel’s founding father written by his official biographer, Dr. Michael Bar-Zohar. The book was translated and published in many countries throughout the world. This is a political, as well as a personal biography. In this book, you will learn about Ben–Gurion’s uncompromising vision of Jewish unity and statehood, combined with a genius for pragmatic political and military tactics that enabled him to establish the State of Israel and guide it through the social, economic, and military challenges of its early years. David Ben-Gurion was one of the most important Zionist leaders of the 20th century. Ben-Gurion’s passion for Zionism, which began early in life, led him to become a major Zionist leader and Executive Head of the World Zionist Organization in 1946. As head of the Jewish Agency, and later President of the Jewish Agency Executive, he became the de facto leader of the Jewish community in Palestine, and largely led its struggle for an independent Jewish state in Palestine. On 14 May 1948, he formally proclaimed the establishment of the State of Israel, and was the first to sign the Israeli Declaration of Independence. We are grateful to history for placing a man like him at the crossroads of the most important and difficult decisions of our https://thuviensach.vn people’s history. I am positive that Vietnamese will learn through this book about Israel’s establishment. Like Vietnam’s founding father Ho Chi Minh, David Ben-Gurion was brave in leading his people from destruction to independence. Both leaders fought against greater forces, stronger armies than their own and then led their countries to a new future. It can be said that both peoples - Vietnamese and Israelis - were blessed with leaders with strong determination and high integrity. https://thuviensach.vn Lời nói đầu Tháng Tư năm 1964, tôi xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, Suez Ultra-Secret (tạm dịch: Suez Tối-mật), đề cập đến liên minh phi thường giữa Pháp và Israel trong Cuộc chiến Suez. Cuốn sách dựa trên luận án tiến sĩ đã được Đại học Paris công nhận gần đây của tôi. Suez Ultra-Secret_ ra mắt đồng thời tại Paris và Tel Aviv, và tôi đã gửi một bản sao riêng cho Ben-Gurion, người mới giã từ quyền lực cách đây mười tháng. Vài ngày sau, tôi nhận được lá thư với lời cảm ơn nồng hậu từ ông. Tôi chưa từng gặp ông cụ trước đó, song được giọng điệu thân thiện trong thư khích lệ, tôi nhờ thư ký của ông chuyển giúp hai câu hỏi: ông có đồng ý để tôi viết hồi ký của ông không? Và ông sẽ cho phép tôi tùy nghi sử dụng kho lưu trữ của ông chứ? Tôi không ảo tưởng và cũng không thật sự mong đợi ông sẽ nghiêm túc cân nhắc đề xuất của mình. Nhiều tác giả, học giả và hiệu trưởng trong một số trường đại học từng cố gắng để có được sự hợp tác của Ben Gurion và quyền sử dụng tài liệu của ông trong vô vọng, nhưng ông cụ chỉ đồng ý trả lời phỏng vấn hai cây bút - những người vốn chưa từng một lần nhìn qua kho lưu trữ của ông; và những hồi ký họ viết ra chủ yếu đầy tính giai thoại và thiếu xác thực. Sự ngạc nhiên của tôi lớn biết bao khi vài tuần sau đó, thư ký của Ben-Gurion gọi điện và cho tôi câu trả lời ngắn gọn: “ông cụ đồng ý rồi.” Tôi thật sự không tin nổi ông đã nói thế. Tôi tự nhủ chắc Ben-Gurion chỉ đồng ý gặp và lắng nghe nguyện vọng của tôi. Rồi tôi quay về Pháp, chủ nhà xuất bản bảo đảm ông sẽ ủy thác cho tôi việc viết hồi ký của Ben-Gurion. Thế là tôi chuẩn bị một biên bản ghi nhớ, trong đó tôi giải thích chi tiết tại sao tôi nghĩ mình có khả năng đảm nhiệm thách thức lớn lao này. Tôi đến gặp Ben- https://thuviensach.vn Gurion vào ngày 23 tháng Mười một năm 1964, mang theo bản ghi nhớ đồ sộ bên mình. “Vậy anh là Bar-Zohar,” ông nói khi tôi vừa bước vào phòng làm việc của ông. Chúng tôi trao đổi vài ý kiến về cuốn sách Suez của tôi, và ông bỗng hỏi cắt ngang: “Ừ, thế những câu hỏi là gì?” Bối rối và ngạc nhiên – “Tôi mang đến ông danh sách câu hỏi này,” – tôi bắt đầu. “Không, không,” Ben-Gurion nói một cách thiếu kiên nhẫn, “anh sẽ viết hồi ký cho tôi, đúng không? Vậy những câu hỏi của anh là gì? Anh muốn làm việc theo hình thức nào? Anh cần những tư liệu gì?” Tôi hiểu ông đã mở lòng. Tôi không bao giờ biết tại sao ông quyết định tin tưởng, giãi bày tâm sự với tôi – một người lạ mặt hai mươi-sáu-tuổi. Nhiều năm sau, tôi tìm thấy trong nhật ký của ông đoạn ghi chép sau: “Chiều nay, Michael Bar-Zohar đến gặp tôi. Cậu ấy đã viết cuốn sách về Sinai và cuộc chiến Suez bằng tiếng Pháp... Cậu có bằng Tiến sĩ sau công trình ấy. Cậu sinh ra ở Bulgaria... Cậu ấy muốn viết về tiểu sử cuộc đời tôi cho một ấn phẩm và muốn sự giúp đỡ từ tôi. Cậu ta muốn nói chuyện với tôi nhiều lần về các chủ đề khác nhau, để tìm hiểu ý kiến của tôi về Do Thái giáo và các vấn đề toàn cầu. Tôi bảo cậu rằng trong một tuần tôi sẽ trở về Sdeh Boker (Kibbutz của mình), và tôi sẵn sàng cho cậu ấy sử dụng kho hồ sơ của mình, với điều kiện không được công bố các bí mật quốc gia.” Tôi đã bắt đầu viết tiểu sử của Ben-Gurion như thế. Ông cụ đã thật sự cho tôi tiếp cận các cuốn nhật ký, kho lưu trữ, thư từ và các tài liệu cá nhân của ông. Ông cũng cho phép tôi có mặt bên cạnh https://thuviensach.vn trong suốt quá trình làm việc tại nhà riêng ở Tel Aviv và Sdeh Boker, cũng như khi ông đi công tác khắp đất nước. Từ năm 1964 đến 1966, tôi dành phần lớn thời gian của mình bên cạnh ông. Tôi từng ngồi, gần như mỗi ngày, trong góc phòng làm việc của ông, lắng nghe những cuộc hội thoại giữa ông với các vị khách – bao gồm lãnh đạo các đảng, chính khách, ký giả, sĩ quan quân đội cấp cao và giới trí thức. Tôi đã có mặt trong những hội đồng cơ mật khép kín, và các buổi diễu hành công khai hoành tráng, có lúc là những cuộc gặp gỡ nồng hậu với hàng đoàn người ủng hộ, lúc lại biến thành những cuộc đối đầu lộn xộn giữa Ben-Gurion và các đối thủ chính trị thù địch của ông. Tôi tận dụng từng giờ rảnh trong lịch làm việc của ông để phỏng vấn ông về những chủ đề đa dạng nối kết cuộc đời và thành tựu của ông. Khi không bên cạnh ông, tôi nghiên cứu đống tài liệu mà ông lưu trữ, đào sâu phần lớn tư liệu đã được xuất bản như sách, bài viết, công trình nghiên cứu cũng như phỏng vấn các bằng hữu và đối thủ chủ chốt của ông. Tôi sớm nhận ra nguồn tư liệu quá phong phú. Có hàng trăm cuốn sách liên quan – trực tiếp lẫn gián tiếp – đến Ben-Gurion cùng những lĩnh vực mà các hoạt động của ông đã để lại dấu ấn, đã được xuất bản tại Israel và nước ngoài: những bài báo, tạp chí, công trình khoa học khắp thế giới nhiều đến mức không thể đếm xuể. Lần kiểm tra gần nhất, số tài liệu trong kho lưu trữ riêng của Ben-Gurion đạt gần con số nửa triệu. Những cuộc phỏng vấn mà trợ lý nghiên cứu và bản thân tôi thực hiện cũng là một nguồn tư liệu rất quan trọng, song cần được kiểm tra và xác minh cẩn thận. Những đóng góp quan trọng nhất được thực hiện bởi tên tuổi các lãnh đạo Israel như Shimon Peres, Itzhak Navon, Moshe Dayan, Teddy Kollek, Yigael Yadin, Yisrael Galili, Igal Alon, Itzhak Rabin, Moshe Sharett, Rachel Yanait Ben-Zvi, Ariel Sharon, Dov Joseph, Ze’ev Shareff, Pinhas Sapir, Abba Eban, Isser Harel và nhiều người khác. Những cuộc phỏng vấn còn tạo ra các https://thuviensach.vn sản phẩm phụ bao gồm tài liệu, thư từ, ghi chú và nhiều tư liệu viết tay khác. Những thành viên trong gia đình Ben-Gurion và bạn bè thân thiết của ông từ thời trẻ cũng sẵn lòng hợp tác với tôi. Năm 1967, tôi xuất bản hồi ký đầu tiên của Ben-Gurion, The Armed Prophet (tạm dịch: Nhà tiên tri vũ trang) (NXB Arthur Barker, London, 1967/NXB Prentice Hall, New Jersey, 1968). Cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng, nhưng tôi có cảm giác công việc của mình vẫn chưa kết thúc. Tôi đã quyết định mở rộng biên độ nghiên cứu của mình, cho dù việc này lấy đi của tôi thêm vài năm nữa. Tôi khởi động giai đoạn mới này như một công việc bán thời gian trong suốt những năm 1968–1970, và kể từ năm 1970 nó đã trở thành việc chính của tôi. Trong giai đoạn nghiên cứu tiếp theo này, tôi đã khám phá thêm nhiều tư liệu mới mẻ quan trọng chưa được xuất bản. Kho văn kiện lưu trữ của Weizmann cho ra hàng trăm lá thư, văn bản và bản ghi chép tốc ký miêu tả chi tiết xung đột gay gắt giữa Weizmann và Ben-Gurion trong suốt Thế chiến II. Meyer Weisgal, bằng hữu trung thành của Weizmann đã nài nỉ tôi đọc chương viết về những mối quan hệ miễn cưỡng giữa Ben-Gurion và Weizmann, đã bị người sau kiên quyết xóa khỏi ký ức. Trong kho lưu trữ của Ben-Gurion, vốn đã được sắp xếp lại, tôi cũng tìm thấy nhiều tài liệu khác nhau: lời phản hồi ông dành cho các Ngoại trưởng Anh quốc – Herbert Morrison và Anthony Eden – khi ông cố đàm phán một liên minh với nước Anh và Thủ tướng Anh Harold Macmillan trong suốt cuộc khủng hoảng Trung Đông 1958, những lần trao đổi thư từ xúc động giữa ông với Tổng thống Mỹ Kennedy và Tổng thống Pháp de Gaulle vài ngày trước khi ông từ chức vào năm 1963, những giải thích chi tiết cho cơn khủng hoảng lớn giữa Israel và Hoa Kỳ vào đầu những năm 1960 về việc xây dựng lò phản ứng hạt nhân ở Negev, nhật ký đầy đủ của viên sĩ quan thân cận nhất đã quá cố của ông – https://thuviensach.vn Nehemia Argov, những thư cá nhân giữa Ben-Gurion và Quý bà Doris May đã rọi một luồng sáng mới lên cuộc đời riêng tư của Ben Gurion. Vài quyển nhật ký về những năm tháng quan trọng từ năm 1950 và đầu 1960 của Ben-Gurion mà ông tưởng đã thất lạc lại xuất hiện tại Sdeh Boker và cung cấp cho tôi sự miêu tả đến từng chi tiết về hội nghị Sevres vào tháng Mười năm 1956, nơi Cuộc chiến Suez được định đoạt, và chi tiết về kết quả mà liên minh tối mật ông đã đạt được với Thổ Nhĩ Kỳ trong một chuyến bay đêm bí mật đến Ankara vào năm 1958. Những nhật ký về quãng đời sau này của Ben-Gurion tiết lộ sự phản đối ông đối với quyết định tham chiến tháng Sáu năm 1967 của Chính phủ Israel, và bi kịch cá nhân khi kết quả của Cuộc chiến Sáu ngày khiến ông nhận ra sự nghiệp chính trị của mình đã chính thức kết thúc. Cùng lúc đó, tấm mạng che bí mật đã được gỡ bỏ khỏi nhiều đề tài trước đó bị xem là bí mật quốc gia, và tôi đã có thể đem chúng vào trong cuốn sách của mình, tôi còn được tiếp cận với những nhật ký thuộc về vài cộng tác viên thân cận nhất của Ben-Gurion. Tôi cũng tìm thấy nhiều sự trợ giúp trong các tác phẩm xuất bản gần đây như các nhật ký riêng của Sharett, tự truyện của Dayan và vài tài liệu khác, trong đó thuật lại những nỗ lực đàm phán của Ben-Gurion với Tổng thống Nasser của Ai Cập năm 1956 thông qua nhà hòa giải Robert Anderson – đặc phái viên ngoại giao của Tổng thống Eisenhower. Nếu thành công, cuộc đàm phán này đã có thể ngăn chặn Cuộc chiến Suez. Trong những tài liệu của Cục Lưu trữ công ở London, và trong Thư viện Trung Đông thuộc trường St. Anthony’s College của Đại học Oxford, tôi tìm được những tư liệu hấp dẫn về thái độ của nhiều bộ phận Chính phủ và cơ quan tình báo Anh đối với Ben-Gurion trong suốt và sau Thế chiến II. Chỉ một phần cực kỳ nhỏ trong số tư liệu khổng lồ về Ben Gurion được dùng trong cuốn sách này. Ben-Gurion từng là người https://thuviensach.vn của những hoạt động phi thường: kể từ khi mười bốn tuổi và cho đến lúc gần qua đời ở tuổi tám mươi bảy, ông đã tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ trước công chúng, đã viết không biết bao nhiêu bài viết, diễn văn, lá thư, ghi nhật ký chi tiết đến mức đáng kinh ngạc, đã tham gia sâu sắc vào đời sống chính trị, hoạt động công đoàn, Chủ nghĩa Xiôn, ngoại giao, an ninh, tham gia vào thế giới trí thức, và đóng vai trò quan trọng trong mọi sự kiện lớn của lịch sử hòa giải Do Thái – Palestine, và sau này là nhà nước Israel. Công việc chọn lựa tư liệu và câu chuyện phù hợp để miêu tả và trích dẫn trong sách không hề dễ dàng, và tôi chỉ có thể hy vọng là tôi đã khách quan. Tôi đã suy nghĩ rất kỹ khi lựa chọn văn phong cho cuốn hồi ký này và đi đến kết luận là phải đạt được sự hài hòa giữa việc miêu tả một chính khách Ben-Gurion và một người ẩn sau những huyền thoại; giữa việc trình bày các quyết định mang tính sinh tử, các lựa chọn sai lầm và phơi bày những thống khổ, những lý lẽ, những giấc mơ và kỳ vọng sâu kín của người đàn ông cô đơn trên đỉnh cao quyền lực. Có lẽ việc khó khăn nhất là bóc đi lớp vỏ thần thoại và lý tưởng hóa phủ lên hình ảnh giàu sức hút của Ben-Gurion từ chính những người ủng hộ sùng kính cũng như các kẻ thù cay đắng của ông. Ben-Gurion và vợ ông, Paula, qua đời trước khi cuốn sách này được xuất bản. Phải thú thật là điều này dễ dàng hơn cho tôi khi tự do xử lý vài khía cạnh trong đời tư Ben-Gurion, những điều tôi sẽ không đề cập đến nếu ông và vợ còn sống. Cuốn sách này, như tôi đã nhấn mạnh, được dựa trên chủ yếu những nguồn tin chưa được công bố. Những tư liệu được công bố - sách vở, bài viết, vân vân – đều có mức độ quan trọng rất nhỏ. Phần lớn viết bằng tiếng Hebrew, tôi không tin rằng một bảng liệt kê tham khảo lại có ích với một học giả không đọc được ngôn ngữ https://thuviensach.vn này. Vì thế sẽ không có bảng liệt kê tham khảo nào được kèm trong bản dịch cuốn sách này. Tôi ghi nhận và biết ơn sự giúp đỡ của tất cả những người hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu: những người đồng ý để tôi phỏng vấn hết lần này đến lần khác, các ban ngành thuộc các nguồn lưu trữ khác nhau đồng ý cho tôi tiếp cận các tài liệu và văn bản của họ gồm: kho lưu trữ quân đội, kho lưu trữ của đảng Xiôn, kho lưu trữ của đảng Lao động, Học viện Jabotinsky, kho lưu trữ Weizmann (tất cả đều ở Israel), Văn phòng Lưu trữ Công cộng ở London và rất nhiều kho lưu trữ tư nhân, thư viện và học viện công khác, ở Israel lẫn nước ngoài. Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến những trợ lý Yehuda Kave, Dalia Zidon và Hanna Eshkar. Tôi đặc biệt hàm ơn trợ lý nghiên cứu chính của tôi, Nilly Ovnat, ông Haim Israeli, thư ký trung thành của Ben-Gurion, người đã giúp đỡ tôi một cách tận tụy trong hơn mười một năm, và Ina Friedman vì khả năng biên tập hiệu quả và thành thạo bản tiếng Anh của cuốn sách này. Giảng viên Yehuda Slutzki (Đại học Tel Aviv), ông Ahuvia Malkin và ông Gershon Rivlin đã dành nhiều tháng đọc bản thảo và cho tôi các lời khuyên vô giá, và chỉ dẫn quý báu đến những nguồn tư liệu hạng nhất. Tuy nhiên, tôi không thể kết thúc phần lời tựa này mà không nhấn mạnh đến tầm quan trọng rất lớn phần đóng góp của chính Ben-Gurion cho cuốn sách này. Tôi không chỉ nói đến sự đóng góp ở việc ông đồng ý để tôi phỏng vấn hết lần này đến lần khác, hay cho phép tôi đọc và trích dẫn tài liệu và nhật ký của ông. Chúng ta đều biết các cuộc phỏng vấn có thể kém chính xác ra sao, và những tài liệu cùng thư từ có thể gây hiểu nhầm, hay chỉ thể hiện những mảnh ghép giới hạn của toàn bộ bức tranh như thế nào. Như chúng ta đã biết, nhật ký dùng làm tư liệu hồi ký thậm chí còn nguy hiểm hơn nếu không được phân tích, so sánh và đối https://thuviensach.vn chiếu kỹ lưỡng. Khi nói đến sự đóng góp của Ben-Gurion, tôi nói đến việc ông cho tôi cơ hội được theo chân hoạt động thường nhật của ông một cách gần gũi trong khoảng thời gian dài. Nhìn thấy Ben-Gurion làm việc, nghiên cứu cách suy nghĩ và phát ngôn của ông, quan sát hành vi của ông, cảm nhận được gần như về mặt thể chất và sức mạnh của nhân cách ông trong các cuộc gặp riêng tư đã cho phép tôi – tôi tin như thế - thấu hiểu sức hút ông tỏa ra và chứng thực việc ông sử dụng những phẩm chất không thể định nghĩa về quyền lực, cảm hứng và tinh thần lãnh đạo để cảm hóa mọi người thành những người ủng hộ trung thành của ông, và cho phép ông dẫn dắt đất nước vượt qua những cuộc chiến hiểm nghèo nhất để có được độc lập và sống còn. https://thuviensach.vn Chương 01. David Gruen David mới mười một tuổi, một cậu bé Do Thái xanh xao mặc áo choàng dài màu đen trong một giáo đường Do Thái ở Plonsk, khi cậu lần đầu tiên nghe tin Messiah vị cứu tinh đã đến. Thiên hạ đồn ông là người tuấn tú với cặp mắt kiêu hãnh, rực lửa và chòm râu đen. Tên ông là Theodor Herzl, và ông sẽ dẫn dắt người dân Israel trở về vùng đất của cha ông họ. Với sự thơ ngây của con trẻ, David tin câu chuyện và lập tức trở thành một tín đồ nhiệt thành của Chủ nghĩa Xiôn vốn đang lan truyền khắp thế giới Do Thái. Hạt giống niềm tin vào chủ nghĩa này đã được gieo vào cậu từ thời thơ ấu, lúc cậu ngồi trong lòng ông nội mình là Zvi Aryeh Gruen để học tiếng Hebrew từng chữ một; khi cậu lắng nghe cha mình, Avigdor Gruen, một trong các lãnh đạo địa phương của Hovevei Zion (tạm dịch: Những người yêu Xiôn), một vị tiền bối của Phong trào Xiôn mới khởi sinh. Khi còn là một đứa trẻ, David Gruen quyết định một ngày nào đó cậu sẽ dựng nên ngôi nhà của chính mình trên chính Vùng đất Israel. Niềm tin David hấp thụ tại quê nhà được nuôi dưỡng bằng bầu không khí độc nhất vô nhị của Plonsk. Có điều gì đó rất đặc biệt về thị trấn này. Không lớn, không nổi tiếng, cũng không trù phú. Trên thực tế, nó không hơn gì một thị trấn nhỏ bé hàng tỉnh ở nước Ba Lan thuộc Nga, phát triển xung quanh tòa lâu đài được xây dựng bởi một hoàng tử Ba Lan thời Trung Cổ. Plonsk mang đậm bản sắc Do Thái nhiều hơn cả Nga hay Ba Lan. Năm 1881, năm năm trước khi David chào đời, có 4.500 người Do Thái trong tổng số 7.824 cư dân ở đây, hầu hết là thương nhân và thợ thủ công vô cùng nghèo khó. https://thuviensach.vn Tuy nhiên, thị trấn vẫn lấy làm kiêu hãnh nhờ ngôi trường Kochari, do một nhóm học giả điều hành, những người – dưới danh xưng là Kohol Koton – đạt được tiếng tăm rộng khắp nhờ trình độ học vấn của mình. Sau một khoảng thời gian, một hội Kohol Koton nữa được thành lập tại Plonsk, dù bản chất khác: mục đích “hạ thấp xuống nhân gian” bằng cách truyền bá Kinh Thánh và ngữ pháp tiếng Hebrew cho người nghèo và ít học. Được lãnh đạo bởi giới trí thức địa phương, hội này được cho là hoạt động hiệu quả, và năm 1865, tất cả trí thức hàng đầu trong thị trấn đã thành lập Hội Bằng hữu Học hỏi và kinh Torah, tuyên bố: “Chúng ta sẽ nỗ lực kết hợp kinh Torah với việc học hỏi... nhằm thăng hoa ngôn ngữ thiêng liêng của chúng ta và văn học Hebrew, vốn – đáng tiếc biết bao – bị các trí thức hiện tại xua đuổi như gió thoảng... họ cho nó cũ kỹ và lỗi thời.” Trong số những lãnh đạo của hội có một nhà buôn giàu có từng dạy tiếng Hebrew tại ngôi trường danh tiếng Kochari. Zvi Aryeh Gruen, “một người Do Thái cao lớn, tuấn tú,” một người ngoan đạo không bao giờ đi ngủ trước khi đọc xong năm chương trong Kinh Thánh. Ông là người có học, thông thạo tiếng Hebrew, Đức và Ba Lan (khi về già ông học thêm tiếng Nga), và thư viện phong phú của ông bao gồm rất nhiều tác phẩm của Spinoza, Plato và Kant. Nhưng mối quan tâm hàng đầu của ông lại là ngôn ngữ Hebrew. Gruen có bốn người con trai. Đứa thứ ba, Avigdor – gắn bó sâu sắc với Zvi Aryeh và tín ngưỡng của ông – tự cho mình là người thừa kế về mặt tâm linh của cha. Cũng như cha mình, Avigdor được giáo dục bài bản, là một học giả Hebrew tận tụy và thành viên tích cực của Hội Bằng hữu Học hỏi và kinh Torah. Ông cũng theo đuổi việc cha mình thực hiện khi về già: đại diện pháp lý. Avigdor cũng trở thành “một trong hai ‘luật sư’ Do Thái của thị trấn.” Thực tế, Avigdor là người viết các loại đơn từ, nhưng ông cũng được ủy quyền tham gia các vụ tố tụng pháp đình. Trong quá trình làm việc, ông thiết lập https://thuviensach.vn các mối ràng buộc chặt chẽ với giới chức Nga và Ba Lan của thị trấn, và có được vị trí đáng kính trọng giữa cộng đồng Do Thái. Avigdor cao lớn và thanh nhã, khuôn mặt dài của ông mang một hàng ria và chòm râu uy quyền. Ông cũng rất kỹ lưỡng về ngoại hình của mình, khi là công dân đầu tiên của Plonsk từ bỏ bộ quần áo Do Thái truyền thống để thay bằng áo đuôi tôm đen, cổ cứng, áo chẽn là cứng và nơ bướm. Khi còn trẻ, ông đã cưới Sheindel Friedman, một người họ hàng xa và là con gái duy nhất của một địa chủ, người đã tặng đôi trẻ hai căn nhà gỗ cuối đường Goats với khu vườn lớn ở giữa. Sheindel “có dáng người nhỏ nhắn, với những nét nổi bật”. Sức khỏe của cô không được tốt và sáu trong mười một đứa con của hai người đều chết không lâu sau khi sinh. Gia đình Gruen tận hưởng một cuộc sống thoải mái. Tầng trên của nhà họ là nơi ở của một gia đình. Những người này làm công việc chăm đàn bò và các vật nuôi, lau dọn và nấu ăn. Avigdor Gruen cùng gia đình sống ở tầng dưới. Đôi khi công việc của Avigdor sẽ đưa ông đến Warsaw, cách đó bốn mươi dặm. Nhưng hầu hết quãng đời của ông đều trôi đi yên bình và trầm lắng. Ông nắm giữ một vị trí quan trọng trong cộng đồng Do Thái địa phương và được tôn thờ tại “Tân Giáo đường Do Thái”, dành riêng cho những công dân giàu có và được kính trọng nhất của thị trấn. Có vẻ rất ngạc nhiên, khi mà, cột trụ xã hội này bị tiêm nhiễm bởi cơn điên mang tên “Tình yêu Xiôn”. Tuy nhiên, sự nhạy cảm của Avigdor đối với căn bệnh này có từ ấu thơ, lúc ông đã ôm ấp lòng cảm mến sâu đậm dành cho Vùng đất Israel. Cùng với sự hình thành của phong trào Những người yêu Xiôn năm 1884, ông trở thành một trong những thành viên đầu tiên, và ngôi nhà của ông biến thành trụ sở cho các hoạt động xã hội và buổi họp mặt của hội nhánh Plonsk. Tại đây, Những người yêu Xiôn đã dệt nên các giấc mơ non trẻ sự trở về của Chủ nghĩa Xiôn, trình bày những bài diễn https://thuviensach.vn thuyết đầy say mê về sự phục quốc Do Thái, ngâm các vần thơ khai trí, thu thập tiền quyên góp và thề trung thành với quê hương do tổ tiên để lại. Và cũng tại đây, hai năm sau sự thành lập của phong trào Những người yêu Xiôn, Sheindel Gruen đã hạ sinh đứa con thứ tư sống sót của bà: David Yosef Gruen. David là một đứa trẻ bệnh tật, thấp và gầy giống mẹ. Cậu không kết bạn với đám trẻ cùng tuổi và hiếm khi ra ngoài để chạy nhảy sau vườn. Đầu cậu to một cách không cân đối, và người cha lo lắng đã mang cậu đến thị trấn kế bên Plonsk để tham vấn một chuyên gia, người này đã sờ tay lên đầu cậu bé và trấn an Avigdor rằng, con trai ông sẽ trở thành một người vĩ đại. Sheindel, một phụ nữ Do Thái sùng đạo, kết luận một cách tự hào rằng “Duvcheh” (biệt danh của David) của bà lớn lên sẽ thành một giáo sĩ Do Thái vĩ đại và nghiên cứu kinh Torah. Sheindel quan tâm đặc biệt tới cậu con trai ít nói và ưu ái cậu hơn các anh em của mình, sự ưu ái thể hiện trong cả niềm tự hào về trí khôn lẫn việc đáp ứng các nhu cầu của cậu. Thể trạng của cậu bé rất tệ, cậu hay ốm và bị ngất. Lo lắng cho sức khỏe của con, bà rời những đứa con còn lại để mang cậu đến một ngôi làng vào dịp hè. David, vốn luôn xa cách anh chị mình, lại rất gắn bó với mẹ. Năm David mười một tuổi, cái chết của người mẹ trong lúc sinh đã gây nên cú sốc rất lớn với cậu. Phải mất rất lâu Ben-Gurion mới có thể chấp nhận thực tế nghiệt ngã này. “Hằng đêm, tôi gặp Mẹ trong mơ. Tôi trò chuyện và hỏi bà ‘Tại sao chúng con không thấy mẹ ở nhà?’. Suốt nhiều năm nỗi đau này không hề thuyên giảm,” ông viết lại sau này. Sau cái chết của Sheindel, cậu bé trầm ngâm, cô độc lại càng thu mình hơn. Chị em cậu không thể thay thế mẹ, và người vợ hai của cha không thể có được cảm tình của David. Ngược lại, cậu làm ngơ và xa lánh người mẹ kế cho đến bà qua đời. Nhưng David rất gắn bó https://thuviensach.vn với cha, “Nhờ cha mà tôi thừa hưởng tình yêu dành cho Vùng đất Israel... và ngôn ngữ Hebrew.” Hẳn thế, cha của David đã lấp đầy trái tim cậu bằng tinh thần Xiôn với hình hài nguyên bản nhất của nó. Nhưng chính ông nội Zvi Aryeh mới là người thật sự dạy cậu tiếng Hebrew. Mỗi ngày, khi David đến văn phòng, ông cụ dẹp công việc sang một bên, đặt cậu ngồi lên đầu gối và kiên nhẫn dạy cậu từng chữ Hebrew. Theo cách này, Hebrew trở thành ngôn ngữ mẹ đẻ thứ hai của David: cậu nói và viết vô cùng thành thạo. “Duvcheh” học hành bài bản tại ngôi trường dòng Do Thái còn được gọi là heder. Bắt đầu từ tuổi lên năm, cậu học tại một trường heder truyền thống, khi bảy tuổi cậu tiếp tục học với một thầy giáo “hiện đại”, một người gù lưng dạy ngữ pháp Hebrew và Kinh Thánh. Vị giáo viên thường đọc một đoạn văn trong Kinh Thánh tiếng Đức, và bắt học sinh lặp lại các từ tiếng Đức mà không cần hiểu nghĩa, rồi ông mới dịch nghĩa từng câu văn. Sau này, David tiếp tục học tại một “trường heder cải cách”, ở đây cậu học Kinh Thánh và tiếng Hebrew. Ngoài nền giáo dục Do Thái, cậu bé tóc xoăn, ham học hỏi còn theo học một trường công của người Nga, ở đó cậu đã tiếp thu các nguyên lý cơ bản của tiếng Nga và được biết đến những tác gia Nga vĩ đại, ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan của cậu sau này. Có ba cuốn sách để lại dấu ấn lên thế giới quan của David. The Love of Zion (Tình yêu Xiôn) của Avraham Mapi... “đã thổi hồn cuộc sống vào những trang giấy của Kinh Thánh... và tăng thêm lòng thành của tôi đối với Vùng đất Israel.” Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của bác Tom) của Harriet Beecher Stowe “truyền cảm hứng đối với tôi về sự kinh hãi nô lệ, nô dịch và lệ thuộc... Sau khi đọc xong The Resurrection (Phục sinh) của Tolstoy, tôi đã trở thành người ăn chay, tuy nhiên, khi rời khỏi nhà của cha, tôi không thể https://thuviensach.vn chuẩn bị đồ ăn phù hợp với mong muốn bản thân, nên tôi đã ăn thịt trở lại.” Song nhân sinh quan của David được vun đắp bởi nhiều thứ khác ngoài việc đọc và học hành bài bản. Mỗi ngày, từ trường trở về nhà, cậu ném mình vào thế giới của Những người yêu Xiôn, và cuốn sách này trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn cậu. Giữa David và cha còn có một sự thấu hiểu sâu sắc. Avigdor thích cậu bé ngồi cạnh mình trên giường và dành toàn bộ các buổi tối để giảng cho cậu về địa lý và lịch sử. Chỉ một lần duy nhất Avigdor đánh con trai mình. “Khi cha biết tôi đã không tuân theo các nghi thức đeo bùa, ông đã tát vào mặt tôi, lần duy nhất trong đời.” Tuy nhiên, cậu nhóc không chịu thôi, vẫn lì lợm từ chối tuân thủ các quy tắc tín ngưỡng và ngừng cầu nguyện. Cặp môi mỏng mím chặt và chiếc cằm nhô ra một cách quyết liệt minh chứng cho cá tính ngoan cố và mạnh mẽ của cậu. Avigdor Gruen đã phải nhượng bộ. Avigdor rất tự hào về David. Tuy là người quá uy quyền để có thể chia sẻ ý nghĩ của mình với con, ông vẫn tin rằng David nổi trội hơn bạn bè cùng trang lứa. Vì vậy, ông quyết định cậu bé nên được hưởng nền giáo dục ưu việt nhất, và ông đặc biệt lo lắng về những trở ngại trong các ngôi trường Nga thường hiện diện trên hành trình của những thiếu niên Do Thái. Năm 1896, với sự góp mặt của Theodor Herzl với cộng đồng Do Thái, Avigdor đã trở thành một người nhiệt thành theo Chủ nghĩa Xiôn. Quá lo lắng cho tương lai của David, ông quyết định cầu cứu vị thầy tâm linh của mình. David chỉ mới mười lăm tuổi khi – không chút hay biết – cha viết thư về cậu gửi đến Herzl, chủ tịch của Tổ chức Xiôn: “Plonsk, ngày 1 tháng 11, 1901. https://thuviensach.vn Kính gửi Lãnh đạo của dân chúng tôi, người phát ngôn quốc gia, Tiến sĩ Herzl, người đứng trước các Đấng Quân vương! Tôi đã quyết định sẽ trải lòng với Người... Dù tôi là kẻ trẻ tuổi nhất trong số hàng ngàn người Israel, Chúa đã ban phước cho tôi có một đứa con xuất chúng, học cao hiểu rộng. Vẫn còn trong thời huy hoàng của những năm tháng thiếu niên, khoảng mười lăm tuổi, song bụng dạ nó đã chứa đầy kiến thức, và ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta, tiếng Hebrew, nó còn biết quốc ngữ, kiến thức toán học và nhiều môn khác, linh hồn nó luôn khao khát học hỏi. Nhưng mọi ngôi trường đều đóng cửa trước mặt nó, chỉ vì thằng bé là người Do Thái. Tôi đã quyết định gửi nó ra nước ngoài để học khoa học, và có người đã khuyên tôi gửi nó đến Vienna, nơi cũng có một trung tâm dạy học cho người Do Thái, một trường đại học cho các giáo sĩ. Vì thế, tôi đã quyết định mang việc này đến trước Người, để Người có thể tiến cử con trai tôi và để tôi cũng có thể hưởng lợi từ lời khuyên và sự sáng suốt của Người. Vì còn ai có thể làm thầy được như Người, và ai – nếu không phải Người – có thể chỉ dạy tôi biết phải làm gì? Vì tôi quá bất lực để nuôi dạy con trai, đứa con tôi trân quý như con ngươi trong mắt mình. Với tất cả thành kính. Avigdor Gruen.” Lá thư này không bao giờ được hồi đáp, và cho đến lúc chết, Avigdor cũng không hề nói cho con trai ông biết về nỗ lực tiếp cận vị chủ tịch của Tổ chức Xiôn. Khi David mười bốn tuổi, cậu đi theo con đường của cha và người anh Avraham bằng cách lao vào các hoạt động phục quốc Do Thái. Cùng với những người bạn thân nhất, David giúp thành lập Hội Ezra, mục tiêu là đẩy mạnh ngôn ngữ nói Hebrew. Mặc dù rất ít đứa https://thuviensach.vn thể hiện bản thân bằng thứ tiếng này, lũ nhóc trai bắt đầu chỉ gọi nhau bằng tiếng Hebrew và dùng từ ngữ Hebrew để thay thế các cụm từ tiếng Nga, Ba Lan hay tiếng Yiddish. Sau những cuộc thảo luận mệt mỏi kéo dài cùng các bậc phụ huynh đầy nghi ngại, các giáo viên bảo thủ và những ông chủ khắc nghiệt tuyển dụng lao động trẻ em, các thành viên Ezra đã thành công khi tập trung được khoảng 150 đứa trẻ – rất nhiều trong số chúng mồ côi và là thợ học nghề – để dạy Kinh Thánh và tiếng Hebrew – các kỹ năng đọc, viết và nói. Chỉ trong nửa năm, các nỗ lực đã sinh trái ngọt: lũ trẻ rách rưới của họ đã giao tiếp với nhau bằng tiếng Hebrew trong lúc lang thang trên khắp nẻo đường ngập rác của thị trấn Plonsk. Không chỉ là một câu lạc bộ của những nam sinh tỉnh lẻ, Ezra là một nhóm độc nhất vô nhị của những thân hữu do ba thủ lĩnh lãnh đạo: Shmuel Fuchs, người lớn tuổi nhất, cao lớn, cường tráng và là nhà lãnh đạo tài năng; Shlomo Zemach, trẻ hơn hai tuổi, con của một trong những gia đình nổi bật và giàu có nhất thị trấn; và David Gruen, người trẻ nhất. Trong bài diễn thuyết đầu tiên tại Hội Ezra, David đã chọn đề tài “Chủ nghĩa Xiôn và các nền văn hóa.” Cậu cũng lần đầu thử viết lách. Cùng với Shlomo Zemach và Shmuel Fuchs, cậu quyết định xuất bản một tờ báo dành cho người trẻ dưới sự bảo trợ của Hội Ezra. Tờ báo bao gồm những sáng tác đầu tiên của David – thơ ca – nhưng sau vài số đã thất bại. Shlomo và Shmuel một lần nữa sát cánh bên David khi – ở tuổi mười bảy – cậu thực hiện quyết định quan trọng nhất trong đời mình. Vào một sáng tháng Tám nóng bức, bộ ba ra ngoài bơi lội nơi dòng sông Plonka chậm rãi chảy qua thị trấn tạo thành một khúc sông tĩnh lặng, râm mát. Trần truồng, ướt nhẹp và cao hứng, chúng cùng ngồi xổm ở bờ sông đọc tờ báo ngày và bản báo cáo của Hội nghị Xiôn lần thứ Sáu ở Basel, trong đó Herzl đã trình bày “Chương trình Uganda” nhằm thành lập một nhà nước Do Thái ở châu Phi https://thuviensach.vn như chốn dừng chân tạm thời cho người Do Thái, vốn đang gặp họa từ hàng loạt vụ tàn sát. Vô cùng thất vọng với bản kế hoạch, ba chàng trai trẻ đưa ra các ý nghĩ nổi loạn. Với họ, Vùng đất Israel là quê hương duy nhất của người Do Thái, và họ bắt đầu cuộc trò chuyện nghiêm túc làm sao để chống lại điều tai ương họ gọi là “Chủ nghĩa Uganda” một cách tốt nhất. Tại nơi đó và chính lúc đó, họ đạt được quyết định: “Chúng tôi đã kết luận rằng cách hiệu quả nhất để chống lại ‘Chủ nghĩa Uganda’ chính là giành lại Vùng đất Israel.” Quyết định này còn hơn cả một kế hoạch tác chiến, nó là sự kết tinh của một lý tưởng. Giấc mộng giành quyền kiểm soát Vùng đất Israel của họ chỉ có thể hiện thực hóa bằng hành động, chứ không phải bằng chữ nghĩa: quyết định này ngụ ý một sự cam kết dành cho con đường hành động cá nhân và sự phản đối toàn diện đến Chủ nghĩa Xiôn “bằng miệng”. Buổi sáng mùa hè nóng bỏng đó đã chứng kiến màn biểu diễn đầu tiên của lý tưởng đánh dấu phẩm chất của David Gruen. Từ đó trở đi, ông không bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào để chứng minh sự ưu tiên dành cho hành động thay vì ngôn từ. “Trong mắt con” – về sau ông viết cho cha mình – “giành được một vùng đất là Chủ nghĩa Xiôn duy nhất, còn mọi thứ khác chỉ là huyễn hoặc, nói suông và tuyệt đối phí thời gian.” Một cách công chính, bộ ba đánh dấu vào lịch làm việc của họ chuyến đi đến Palestine. Shlomo là người đầu tiên khởi hành, anh sẽ khảo sát vùng đất rồi quay về Plonsk. Còn có một lý do lãng mạn khác đằng sau quyết định này: chàng Shlomo Zemach trẻ tuổi đang yêu người chị gái xinh đẹp của Shmuel và hy vọng cùng nàng đến Palestine. Thế là chàng quyết định rằng sau khi đã chuẩn bị xong cơ sở để đón nàng, chàng sẽ trở về Plonsk. Rồi, với sự trợ giúp của Shmuel và David, cậu sẽ trốn đi cùng nàng, và cả bốn người sẽ cùng đào tẩu đến Palestine. https://thuviensach.vn David sẽ là người cuối cùng ra đi. Trong bất cứ trường hợp nào, cậu cũng không quá vội vã. Palestine cần thợ xây dựng, cậu nói với bạn bè mình, nên cậu tìm học các môn kỹ thuật, và ngay khi lấy được bằng kỹ sư, cậu mới ra đi. Tuy thế, cậu quyết định phải đến Warsaw trước tiên để chuẩn bị cho kỳ thi đầu vào trường đại học kỹ thuật. Chuyến khởi hành đến Warsaw của David được lên lịch vào mùa hè đó. Tuy nhiên, mùa thu và cả mùa đông đã qua mà cậu vẫn trì hoãn. Những câu hỏi chất vấn của bạn bè chỉ nhận được câu trả lời lảng tránh, che đậy lý do chính của sự trì hoãn: cậu đang yêu một cách điên dại. Cậu từ chối nói với bất kỳ ai, nhưng khi Zemach và Fuchs đọc những bài thơ được David trữ tình hóa như “khởi nguồn đời anh, hy vọng và niềm tin của anh, giếng mát đời anh và linh hồn của linh hồn anh,” họ hiểu cậu đang yêu. Rõ ràng cậu ngầm thừa nhận điều ấy, nhưng lại từ chối cho biết tên cô gái hay thú nhận độ sâu sắc tình cảm của mình. Một năm sau cậu mới chịu mở lòng, trong lá thư gửi Shmuel Fuchs: “Tôi luôn có khát khao trải lòng cho một người khác, nhưng một thế lực bí ẩn đã ngăn tôi lại, khóa chặt môi tôi... Đúng, tôi đã yêu – như cậu đã biết – nhưng cậu không biết tôi yêu mạnh mẽ đến nhường nào... như vụ nổ của một ngọn núi lửa đang hoạt động, lửa tình đang thiêu đốt tim tôi. Mọi bài thơ tôi viết chẳng hơn gì chiếc bóng mờ của tim mình... Đột nhiên, tôi bắt đầu nghi ngờ tình yêu của mình... tôi đã thật sự yêu chưa? Câu hỏi này không cho tôi ngơi nghỉ hằng đêm. Cùng lúc đó, còn có những khoảnh khắc khác khi tôi không thể tin rằng linh hồn mình có thể tìm thấy chỗ cho câu hỏi ngây ngô như vậy... tình yêu của tôi chưa mãnh liệt đến vậy. Tuy nhiên, dần dần tôi nhận ra mình không yêu nàng... trong tim, tôi vẫn cảm thấy có một tình cảm luyến ái mạnh mẽ, nhưng không phải dành cho cô ấy. (Đến ngày hôm nay, tôi vẫn không biết mình đã https://thuviensach.vn ngừng yêu cô ấy, hay chỉ là chưa từng yêu...) Đó là lúc giữa đông. Đến khi ấy, tôi vui không tả; sau đó, tôi khốn cùng... trái tim khiến tôi phiền não làm sao, hối tiếc khiến tôi khổ sở dường nào, đến khi ấy vẫn có những lúc tôi ngồi trên giường cả đêm để khóc... Tôi không thể sống tiếp tại Plonsk nữa. Đó là một trong những lý do thúc giục tôi đến với Warsaw mùa hè năm ấy – cũng hệt như khi tình yêu là lý do để tôi lưu lại Plonsk lúc mới vào đông. Nhưng tất cả điều đó đã thuộc về quá khứ... Ngay cả hiện tại, có lúc ái tình vẫn thoáng qua tim tôi như tia chớp, một nhúm lửa hồng sẽ bùng cháy – đặc biệt khi tôi một mình và nhớ lại những sự tưởng đã lãng quên... Nhưng chỉ giây lát sau, nó liền qua đi... Liệu tim tôi đã cứng lại, hóa đá? Ai có thể giải những câu đố của tâm hồn?” Trên đây chính là David Gruen ở tuổi mười bảy, một chàng trai nhạy cảm đang yêu, khóc thầm hằng đêm vì cõi lòng lần đầu tan nát, một cậu bé viết thơ về người mình yêu và liên tục trì hoãn hiện thực hóa mong muốn được ở gần nàng. Về sau trong cùng lá thư, cậu cố gắng phủ nhận lời tâm sự chân thành của mình: “‘Bình minh luôn minh mẫn hơn chiều tà’ một ngạn ngữ Nga đã nói như vậy – và nói đúng. Nhớ lại những gì đã viết đêm trước, tôi đã tự cười mình. Thật là sự yếu mềm lố bịch – tôi thậm chí còn định bắt đầu một lá thư hoàn toàn mới, nhưng tôi quá lười cho chuyện đó, và thời gian thì không cho phép.” Với một trái tim tan vỡ (mặc dù sau này cậu đã quên tên của mối tình đầu), David rời Plonsk và khởi hành đến Warsaw. Nhưng có vẻ, trong một năm rưỡi cậu sống tại thủ đô Ba Lan, hàng loạt trở ngại lớn lao cùng lúc xuất hiện. Cậu cảm thấy bị cô lập và trầm cảm giữa thành phố lớn này. Trên tất cả, nhóm bạn cậu bỏ lại ở Plonsk đã tan rã và đường ai nấy đi. Trái với kế hoạch ban đầu, Shmuel Fuchs lại là người đầu tiên khởi hành, và điểm đến của cậu – nước Anh – là cú giáng mạnh cho David, người từng rất gắn bó và xem https://thuviensach.vn Fuchs như một “người anh trai”. Việc chia ly của họ đã để lại nỗi buồn sâu sắc cho David. Tại Warsaw, David ở cùng những người họ hàng. Nhưng cậu nhanh chóng thấy rõ họ đang gặp khó khăn tài chính, vốn cũng ảnh hưởng đến chính cậu. Hơn nữa, trong thời gian này tình hình tài chính của cha cậu cũng bị giảm sút, và David không muốn hỏi xin tiền ông. May mắn thay, David đã tìm được việc làm bán thời gian là gia sư, và mọi việc khá lên trong một khoảng thời gian. Cậu thuê nhà cùng với một người bạn, song cậu không thể tìm thấy bình yên trong tâm hồn và thường bị trầm cảm. Mọi việc tệ hơn khi các kế hoạch cá nhân của David đều gặp trở ngại. Cậu đến Warsaw để học, nhưng một người Do Thái rất khó được nhận vào một ngôi trường trung học Nga vì các quy định ngặt nghèo của chính quyền Nga hoàng. Nên cậu quyết định theo học tại trường kỹ thuật cho thanh niên Do Thái, do nhà thiện nguyện người Do Thái tên Vavelberg sáng lập. Để chuẩn bị cho kỳ thi đầu vào, cậu bắt đầu học thêm tiếng Nga, vật lý và toán học. Nhưng vào năm 1904, đầu vào trường Vavelberg chỉ dành cho học sinh đã tốt nghiệp trung học, và giấc mơ của David lại tan thành mây khói. Chàng trai trẻ đang dò dẫm lối đi thì tin dữ lại ập đến: Theodor Herzl đã qua đời. Đầu tiên David chìm vào tuyệt vọng và mất hết tự tin: “Những ý nghĩ buồn bã và cay đắng thỉnh thoảng cứ dâng trào trong tim tôi, những lo lắng về tương lai của Chủ nghĩa Xiôn và nhân dân chúng tôi,” ông viết trong thư cho một người bạn. “Hoài nghi và sự không chắc chắn hút cạn máu huyết và đầu độc sức khỏe tôi, và có lúc chúng tiêm nhiễm nỗi tuyệt vọng – lạnh và kinh khủng như cái chết – vào tâm hồn tôi... Liệu ai có thể trả lại niềm tin mãnh liệt và tươi sáng cho tôi, không bị hoen ố bởi bóng đen của hoài nghi, hay ý nghĩ tuyệt vọng!” Có vẻ cậu không có ai ở bên ủng hộ và khích lệ tinh thần. Nhưng ngay khi đó thì Shlomo Zemach, chàng https://thuviensach.vn trai trẻ mơ mộng từ Plonsk, nổi lên dẫn đường, và tấm gương của chàng được nhiều người học theo, trong đó có David Gruen. Ngày 25 tháng Mười một năm 1904, David trở về Plonsk trong một chuyến thăm kéo dài hai ngày. Cùng ngày đó, cậu tổ chức một buổi họp mặt bí mật với Shlomo, và hai người quyết định rằng Shlomo sẽ đến Palestine ngay khi có cơ hội đầu tiên. Vào ngày 12 tháng Mười hai, cha của Shlomo bảo chàng trai trẻ đến ngân hàng rút tiền từ tờ ngân phiếu 580 rúp. Vượt qua sự cắn rứt lương tâm, chàng trai đi đến quyết định: cầm tiền và đến Warsaw, nơi người bạn David đang chờ. Mất trọn một ngày để Shlomo chuẩn bị cho chuyến du hành đến Palestine. Lo ngại cha sẽ đuổi theo và lôi mình về nhà, cậu trốn ở nhà một người bạn. Chiều tối hôm đó, anh trai Zemach xuất hiện trong phòng David. “Tôi thấy anh ta đang ngồi trong phòng chúng ta,” David viết cho Fuchs ngày hôm sau. “Anh ấy nói với tôi một cách điềm tĩnh, không thể hiện bất cứ cảm xúc nào. Bạn có thể tưởng tượng ra cuộc trò chuyện không. Tôi trấn an anh ấy rằng Shlomo đã đi rồi. Tôi không biết liệu anh ấy có tin mình hay không, nhưng anh ấy đã không trở lại nữa và có thể đã quay về Plonsk.” Shlomo khởi hành vào ngày 13 tháng Mười hai, và vài tuần sau cậu đã ở Palestine. Xúc động vì hưng phấn, Shlomo Lavi, một người bạn của David, xông vào ngôi trường dòng Do Thái ở Plonsk để đọc to tấm danh thiếp vừa nhận được từ Shlomo Zemach: “Các bạn tôi ơi, Shalom! Tôi giờ đang ở Rishon le-Zion. Trước mặt tôi đây, khi đang viết cho các bạn, là hai đồng bishliks tôi kiếm được bằng chính đôi tay của mình... việc kiếm sống ở vùng đất của chúng ta là khả thi. Tôi ăn bánh mì và ôliu cho bữa sáng và trưa... Đừng lo lắng, hãy đến đây, và các bạn sẽ có việc làm.” https://thuviensach.vn Bước tiến của Shlomo Zemach đã tác động sâu sắc đến những con người trẻ tuổi ở thành phố Plonsk. Qua một đêm, chàng trai trẻ đã trở thành biểu tượng của cuộc nổi dậy chống lại sự thỏa hiệp, chống lại cuộc sống trong tình trạng Diaspora, phản đối việc những bậc phụ huynh dùng vũ lực ngăn con mình đến Vùng đất Israel. Quyết định cá nhân của David Gruen được cho là bị ảnh hưởng bởi Zemach. Cậu hoãn lại chuyến khởi hành của mình trong hơn một năm, nhưng mọi hoạt động khác của cậu trong giai đoạn đó đều được định hướng cho một mục tiêu duy nhất: chuẩn bị bản thân cậu – và những người bạn – cho cuộc sống tại Palestine. Cậu không còn là chàng trai trẻ chân chất từng trì hoãn đi đến Warsaw trong bộ com-lê lịch duyệt, áo gilê sẫm màu cùng cà vạt lụa. David trở về Plonsk trong bộ rubashka, và điều này biểu thị không chỉ sự thay đổi về trang phục. Trong khi ở Warsaw, cậu đã tận mắt chứng kiến những chính biến của Cách mạng Nga 1905 và cơn cuồng nộ bạo lực xã hội quét qua thủ đô Ba Lan vào thời điểm đó. Cậu đã chứng kiến công nhân bãi công và người biểu tình, những nhà hùng biện kêu gọi tự do và công lý, và những binh lính, cảnh sát Nga bắn vào đám đông. Mặc dù sự miêu tả của cậu với các sự kiện này rất thận trọng, nhưng không gì nghi ngờ rằng tầm nhìn của cậu đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các cảnh tượng này và còn hơn thế nữa trong suốt giai đoạn thứ hai của cuộc cách mạng. Rồi một thử thách khác lại xuất hiện mang đến hương vị mới cho cuộc đời của David Gruen: sự trỗi dậy của Bund, đe dọa thay thế Chủ nghĩa Xiôn trong trái tim nhiều người. David tuyên bố cuộc chiến không khoan nhượng đối với Bund, và trong trận đấu ý thức hệ diễn ra sau đó, bạn bè cậu giật mình nhận ra cậu là một nhà diễn thuyết tài ba và là một nhà tranh biện dữ dội với năng lực thuyết phục mạnh mẽ. Chiến dịch chống lại Bund không phải là lần đầu tiên David bước lên bục diễn giả. Vào tháng Năm năm 1904, tại một phiên họp của Ezra, cậu đã trình bày bài phát biểu về quan điểm của https://thuviensach.vn Spinoza đối với “Sự lựa chọn dân tộc Israel của Thượng Đế”, và vài tháng sau, khi trình bày xong một bài tán dương Herzl tại một giáo đường, “anh ấy đã khiến người ta rơi lệ”. Nhưng màn ra mắt với tư cách một diễn giả tầm cỡ chỉ đến trong quá trình diễn ra “cuộc bút chiến” với Bund. Hết lần này đến lần khác, đại bản doanh Bund ở Warsaw – xem Plonsk như cái gai cần nhổ bỏ – gửi những diễn giả giỏi nhất đến; và hết lần này đến lần khác, “Duvcheh” Gruen, thấp bé và rắn rỏi trong bộ rubashka, lại đứng trên bục diễn thuyết của giáo đường và đánh bại họ bằng khả năng hùng biện sắc bén của mình. Trong quá trình đối đầu này, David không chỉ vươn lên thành một nhà diễn thuyết lưu loát với khả năng phân tích tài ba, mà còn là một người có hệ tư tưởng chính trị vững chắc. Từ giữa năm 1905, cậu đã là một trong những thành viên tích cực của phong trào lao động Do Thái mới – Poalei Zion (tạm dịch: Những công nhân Xiôn). Poalei Zion nổi lên như sự tổng hòa của hai phong trào đang gây hào hứng cho cộng đồng Do Thái: Chủ nghĩa Xiôn và chủ nghĩa xã hội Nga. Poalei Zion xem Chủ nghĩa Xiôn là mục tiêu chính của người Do Thái, còn chủ nghĩa xã hội là cơ cấu lý tưởng cho xã hội công bằng sẽ thống lĩnh ở quê hương Do Thái. David tìm thấy chi nhánh của Poalei Zion ở Plonsk. Cậu cũng tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của thị trấn dành cho giới thợ may và thợ kéo sợi để đòi hỏi điều kiện lao động tốt hơn. Trong bóng tối của Cách mạng Nga 1905, cuộc tranh cãi của những người Xiôn theo chủ nghĩa xã hội và những người Bund cũng theo chủ nghĩa xã hội diễn ra dưới bầu không khí “cách mạng” rất phù hợp. Đại biểu phe Bund có mặt tại giáo đường Plonsk với một khẩu súng ngắn bên hông cùng sự hộ tống của hai vệ sĩ. David, cũng được vũ trang và bảo vệ, sẽ bước lên diễn đàn để đối đầu với ông ta. Khi sự im lặng kịch tích, căng thẳng đã lan khắp giáo đường, hai người đàn ông dè chừng nhau và cuộc https://thuviensach.vn khẩu luận bắt đầu. Không mất nhiều thời gian để David Gruen giành được thắng lợi đầu tiên của mình: cậu chặn đứng pha công kích của phe Bund tại Plonsk, khiến cho Poalei Zion trở thành phong trào dẫn đầu những người trẻ của thị trấn. Ảnh hưởng của David sớm vượt xa khỏi ranh giới Plonsk. Ban lãnh đạo của Poalei Zion tại Warsaw, nhanh chóng công nhận tài năng của cậu, bắt đầu để cậu thực hiện những nhiệm vụ khác nhau đến các tỉnh lân cận. Bất chấp ngoại hình quá trẻ của mình, cậu cũng đạt được những thành công tương tự. Khuôn mặt trẻ thơ của cậu bắt đầu cứng cáp hơn, cậu để râu và lần đầu tiên để tóc dài. Trên thực tế, mái tóc xoăn dài, chiếc áo choàng Nga và chiếc mũ kêpi (thời trang mới nhất khi đó giữa những nhà cách mạng) là bằng chứng đủ để cảnh sát Ba Lan bắt giữ cậu vì những hoạt động mang tính lật đổ chính quyền. Những người họ hàng khiếp sợ của cậu ở Plonsk đã đoán chắc rằng “gã cách mạng nguy hiểm” phải đối mặt với giá treo cổ. Tuy nhiên, bằng sự can thiệp của cha, người đã vội chạy đến từ Plonsk, David nhanh chóng được thả tự do. Sự cầm tù là một trải nghiệm đau đớn đối với David. Lần đầu tiên trong đời, cậu đối mặt với những kẻ Do Thái đầu đường xó chợ. “Tôi còn nghe được những thứ làm tôi kinh sợ. Việc buôn bán phụ nữ là độc quyền trong những bàn tay Do Thái. Trước đó tôi không bao giờ hình dung những kẻ như vậy lại tồn tại.” Tuy nhiên không lâu sau cậu lại bị bắt giam (trên đường đến dự một buổi phân xử ở thành phố láng giềng), và lần này cậu mang theo những tài liệu phạm pháp liên quan đến hoạt động chính trị của mình. Một lần nữa cha cậu lại cứu nguy với “khoản đóng góp” một nghìn đồng rúp để cảnh sát quên đi tội trạng của David. Ngay sau khi được thả, cậu lại quay về với những hoạt động của mình. Mùa hè năm 1905, Shlomo Zemach trở về từ Palestine trong vài tháng như đã hứa trước đó. Cậu chưa quên kế hoạch ban đầu, và với https://thuviensach.vn sự giúp sức của David cậu cố gắng thuyết phục chị gái của Shmuel Fuchs trốn theo cậu đến Palestine. Cuối cùng cô từ chối, và khi nhóm những nhà tiên phong bắt đầu lên kế hoạch cho chuyến khởi hành đến Palestine vào đầu mùa hè năm 1906, cô đã không đi cùng. Nhưng Rachel Nelkin thì có. Rachel là con gái nuôi của Simcha Eizik, lãnh đạo Hovevei Zion ở Plonsk. Nàng là một cô gái cao ráo, xinh đẹp với đôi mắt đen và mái tóc đen được vấn quanh đầu. Gia đình Gruen và Eizik là bạn bè thân thiết, và David biết Rachel từ khi còn bé. Khi trở về Plonsk, cậu bỗng nhận thấy nàng đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Với tất cả niềm say đắm của tuổi trẻ, cậu phải lòng nàng, và lần này cậu không thèm che giấu cảm xúc của mình với bạn bè và gia đình nữa. Rachel cũng gắn bó rất sâu đậm với David và đi xa đến mức phạm một lỗi dẫn đến kết quả là nhiều gia đình cấm con gái họ làm bạn với nàng: nàng công khai đi cạnh cậu trên đường phố mà không có ai đi kèm! “Người dân Plonsk rất bảo thủ,” ông nhớ lại nhiều năm sau đó. “Một chàng trai và cô gái không được sánh bước cùng nhau trên đường. Nên khi tôi đi dạo cùng nàng, đã có một sự phản ứng dữ dội nổ ra ở Plonsk: Chuyện này là sao? Sao hắn dám chứ?” Mối tình lãng mạn của họ suýt kết thúc trong bi kịch. David không phải người duy nhất có tình cảm với Rachel. Trong số nhiều người thầm yêu nàng có Shlomo Lavi, nhưng cậu ta quá nhút nhát không dám nói chuyện với nàng. Shlomo ghen tuông cuồng dại với David, vì đã đến thăm nhà Rachel quá thường xuyên và thậm chí còn dạo phố cùng nàng. Một ngày nọ, trong cơn cuồng ghen, Shlomo rút dao và lao vào tình địch. David chạy trối chết, Lavi truy đuổi cậu khắp hang cùng ngõ hẻm của Plonsk đến khi cậu kiệt sức và “bi kịch kiểu Shakespeare” đi đến hồi kết. Tuy nhiên, theo thời https://thuviensach.vn gian, hai chàng trai đã làm lành và thiết lập tình bằng hữu bền vững. Cuối hè năm đó, một nhóm những “nhà tiên phong” – quy mô lớn nhất đến thời điểm đó – rời Plonsk đến Palestine. Họ bao gồm Shlomo Zemach, David Gruen, Rachel Nelkin và mẹ của nàng. Rachel và David đã bên nhau trong suốt chặng đường đến Odessa, và họ cùng lên con tàu Nga xiêu vẹo mang họ đến Palestine. Nhưng họ không được nằm cạnh nhau vì lúc phải tìm chỗ ngủ trên sàn tàu khô cứng của khoang vé hạng tư, mẹ của Rachel, e sợ trước gã trai trẻ nồng nhiệt, quyết định bảo vệ khuôn phép bằng cách xếp khăn trải giường của bà vào giữa nệm của David và Rachel. Trong suốt chuyến du hành, bà nằm giữa hai người như một chiến hào. Với hầu hết những người tiên phong trong thế hệ của David, thực hiện Chủ nghĩa Xiôn bằng việc định cư tại Vùng đất Israel là cuộc nổi loạn chống lại cha mẹ họ, cuộc sống ở khu ổ chuột và sự cứng nhắc của truyền thống Do Thái. Điều này không đúng với David. Việc trở thành người theo Chủ nghĩa Xiôn với cậu không phải là lối thoát, cũng không phải phương tiện nổi loạn. Cậu sinh ra trong một gia đình Xiôn, và quen thuộc với tiếng Hebrew từ khi còn bé. Thực tế, khi cậu bỏ đến Palestine, cậu đã nói thứ ngôn ngữ này thành thạo. Ngay trước chuyến khởi hành của David, người cha Avigdor Gruen đầy kiêu hãnh thậm chí đã chụp hình chung với con trai mình, cạnh băng rôn của Poalei Zion. Có lẽ đây là những lý do tại sao David đã điềm tĩnh và tự tin đi tìm con đường cho mình. Nhiều năm sau, khi nhắc đến tình trạng vong quốc của người Do Thái, cậu nói về “cuộc sống thấm đẫm nghèo đói và khổ đau” của phần lớn người dân Do Thái. Nhưng bản thân David lại chưa bao giờ nếm mùi tủi nhục của đói ăn, hay vị cay đắng của những cuộc tàn sát người Do Thái vốn đã đóng vai trò to lớn trong quyết định tìm đến Palestine của hàng trăm người Do https://thuviensach.vn Thái trẻ tuổi. Những làn sóng tàn sát người Do Thái quét qua nước Nga phong kiến chưa bao giờ chạm đến Plonsk. Với những người trẻ của Plonsk, đi đến Palestine không phải là một cuộc tháo chạy, mà được thực hiện với tất cả niềm yêu thích và hứng khởi tự nhiên. Chuyến du hành trên con tàu Nga rách nát băng qua đại dương tưởng như vô tận là nguồn kỳ quan lẫn sửng sốt bất tận cho David. Khi con thuyền thả neo ở Smyrna, lần đầu tiên cậu đã bắt gặp những sắc màu hoang dã của vùng phía Đông, ngắm nhìn đầy hứng thú những người da đen, Gypxi, Thổ Nhĩ Kỳ và Ả-rập. Cậu dạo bước trên những con đường đầy gió, thỉnh thoảng tránh sang một bên nhường chỗ cho đoàn người và những chú lạc đà đeo đầy chuông quanh cổ. Những vị khách Ả-rập trên tàu có “ấn tượng rất tốt” với cậu, thể hiện mình như “một đứa trẻ lớn trước tuổi, tốt bụng và dễ gần.” Trong đêm cuối cùng của chuyến du hành, David không hề chợp mắt cho đến khi từ giữa sương mù của ánh bình minh vịnh Palestine xuất hiện. “Ánh sáng ban ngày và con tàu của chúng tôi dần cập bến Jaffa... một làn gió tươi mát thổi qua mặt, và tiếng chim lần đầu chúng tôi nghe trong chuyến đi của mình lọt vào tai... lặng yên không thốt nên lời, tôi đứng đó và nhìn vào Jaffa, tim tôi đập dữ dội... Tôi đã đến nơi.” https://thuviensach.vn Chương 02. Những năm tháng tươi đẹp Tất cả bắt đầu – người ta đã nói như thế - vào năm 1878, với nhân vật quá khích kiêm công dân Jerusalem thế hệ thứ ba, Yoel Moshe Salomon. Salomon là một người quyết liệt, luôn xung khắc với các quy ước. Không hài lòng với việc thoát khỏi những đường biên giới chật hẹp của khu Thành Cổ bên trong Jerusalem để thấy Nahalat Ha’Shiva bị chia làm bốn phần bên ngoài các bức tường, ông quyết định dẫn dắt người Do Thái ở Palestine quay về vùng đất của họ. Cùng lúc đó, cộng đồng Do Thái gồm vài ngàn người ở Jerusalem, Jaffa, Safed, Hebron và Tiberias, phần lớn trong số họ sống nhờ viện trợ của người Do Thái hải ngoại và dành trọn đời nghiên cứu thánh kinh Do Thái. Nhưng hai người nhập cư gần đây đến từ Hungary – Yehoshua Stampfer và David Gutmann – đã bị giấc mơ của Salomon chinh phục và cùng ông du hành đến bãi sông Yarkon, gần ngôi làng Ả-rập Mulabbis, một khu vực đầm lầy đang được rao bán. Bộ ba đánh giá, điều nghiên những người Ả-rập bị nhiễm khuẩn, sốt rét, xác súc vật trôi dạt ven sông, đất lầy và tất cả dấu hiệu dịch bệnh khác. Viên bác sĩ Hy Lạp đi cùng đã nhanh chóng quay ngựa và phi nước đại về lại Jaffa, sau khi thông báo bầu không khí bị nhiễm độc và tuyên bố cái chết chờ đợi mọi sinh vật đặt chân đến nơi này. Salomon nhìn các bạn đồng hành và nói: “Ai rồi cũng thế cả!” Stampfer đáp lời: “Chúng ta cứ thử xem!” và họ đã làm thế: trong thung lũng chết chóc ấy, họ đã thành lập Petah Tikvah. Theo sau đó là Rishon le-Zion, Zichron Ya’akov và Rehovot. Mỗi khu vực đi theo lối riêng của mình, trải đầy mồ mả, đình trệ và tuyệt vọng. Mỗi khu vực có những anh hùng của riêng mình – một nhóm những nhà tiên phong đi ủng và mặc áo choàng Nga, ánh mắt họ rực cháy https://thuviensach.vn và trái tim họ vững tin vào quyết tâm cắm rễ vào Vùng đất Israel. Những người Ả-rập địa phương nhìn và lắc đầu trước những gã Do Thái điên khùng đến dựng lều ở rìa khu đầm lầy trong vùng đất đã bị cả Chúa và loài người bỏ rơi. Khi những người nhập cư đầu tiên từ các cộng đồng Xiôn Nga – thuộc phong trào Hovevei Zion và B.I.L.U (phong trào Những nhà tiên phong Palestine) – đặt chân đến nơi này, chẳng có mảnh đất ngập tràn sữa với mật nào đón chào họ cả. Hàng thế kỷ chiến tranh, bị bỏ mặc và tàn phá để lại những vết sẹo xấu xí trên vùng đất từng một thời được tán dương không ngớt trong những trang Kinh Thánh. Khu đồng bằng duyên hải và những vùng trũng khác đầy đầm lầy. Sự kết hợp giữa ánh nắng gay gắt và mưa như trút nước đã xói mòn những sườn đồi và các cánh rừng um tùm. Những cư dân người Ả-rập đã canh tác y hệt cách cha ông họ đã làm qua bao thế hệ. Những thị trấn nghi ngút khói bị cai trị bởi những quan chức Thổ Nhĩ Kỳ độc đoán, những kẻ hợp nhất nết kiêu ngạo và thói lãnh đạm chung với tính dễ nhận của hối lộ. Dọc theo những nhà thờ Hồi giáo và các khu chợ nhiều màu sắc, những thuộc địa được xây dựng bởi các giáo phái Thiên Chúa giáo cuồng tín – Đức, Pháp, Mỹ, Thụy Điển. Vùng đất Thánh đã thu hút giới hành hương từ khắp nơi trên thế giới. Một vài người trong đó là những người phương Tây giàu có, song đa số là những đoàn nông dân Nga rách rưới nắm chặt cờ phướn, biểu tượng và cùng hát những khúc thánh ca ai oán trong lúc lê từng bước đến sông Jordan. Tuy nhiên, với hàng triệu người Do Thái, đây chính là mảnh đất trong mơ của họ, nơi những niềm hy vọng và lời cầu nguyện hội tụ. Đây còn là điểm đến của một nhóm ít ỏi những người tiên phong trẻ tuổi, phần lớn đều không đủ sức khỏe, không quen với lao động tay chân và không có kinh nghiệm làm nông. Tất cả những gì họ sở hữu là niềm tin ngây thơ cùng quyết tâm mang tính cuồng tín và sự hy https://thuviensach.vn sinh. Lao động nặng nhọc, bệnh sốt rét và thiếu đói đã lấy đi sinh mạng của rất nhiều người. Trong số những kẻ sống sót, nhiều người đã quyết định rời mảnh đất bị nguyền rủa trên chuyến tàu sẵn có đầu tiên. Sau này, Ben-Gurion từng quả quyết rằng cứ mười người nhập cư đến Miền Aliyah Thứ Hai, thì chín người sẽ bỏ cuộc. Huyền thoại “Trở về Đất Tổ” không phải là công trình của hàng ngàn người tiên phong. Bấp chấp “lý do” của những người theo Chủ nghĩa Xiôn, những kẻ tiên phong không quá vài trăm – có lúc còn không quá hai mươi người – thanh niên rách rưới, thiếu ăn và ốm yếu. Sự miêu tả cảnh toàn bộ dân tộc trở về cố hương chỉ có trong thần thoại, đó chỉ là một nỗ lực che đậy thực tế vốn khiêm tốn và, vì thế, cảnh tượng thần thoại kia hùng tráng hơn rất nhiều. Vào buổi sáng nóng bức, ẩm ướt của ngày 7 tháng Chín năm 1906, vài nhà tiên phong chào đón David Gruen trên bến cảnh Jaffa khi anh, vui sướng và mê mẩn, đặt chân lên Vùng đất Israel. Khi bước qua cổng bến cảng, David nhìn lại nơi đó. “Nơi đây còn tệ hơn là Plonsk nữa!” anh nghĩ. Anh nhận ra Jaffa là một cơn ác mộng: những ngôi nhà với mặt tiền loang lổ bong tróc, những con đường bẩn thỉu và những đám đông ồn ã với những kẻ vô công rỗi nghề rách rưới trôi dạt vô định thật quá ghê tởm. “Những người Ả-rập mập ú ngồi xổm kế bên những chiếc xe kéo của họ, ở giữa là các cửa hiệu Do Thái xập xệ” là cách anh miêu tả cảnh tượng đó. “Tôi không muốn ở đây.” Bạn bè dẫn anh đến một khách sạn trong khu Do Thái của thị trấn, song anh từ chối: “Tôi sẽ không ở lại Jaffa, dù chỉ trong một đêm. Đây không phải là Vùng đất Israel! Trước lúc ngày tàn, tôi sẽ đến Petah Tikvah!” Chiều hôm đó, mười bốn người trẻ tuổi, bao gồm Rachel Nelkin và Shlomo Zemach khởi hành chuyến đi bộ đến Petah Tikvah. “Chúng tôi đi bộ vì giờ đó không còn chuyến xe ngựa nào nữa. Khắp mặt đất đầy những rặng cam, và một trong số những https://thuviensach.vn thanh niên đó nhảy nhót khắp chuyến đi,” Rachel Nelkin hồi tưởng lại. Đó là một đêm trăng sáng tuyệt vời khi họ đến được Petah Tikvah. Chàng Gruen trẻ tuổi đã bị quyến rũ và “tràn đầy say mê”. Những trải nghiệm mới mẻ nối tiếp nhau không ngừng. Nghe thấy một tiếng động lạ từ khu đất trống, người ta bảo đó là tiếng khỉ kêu. “Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một con khỉ, chứ đừng nói biết ‘khỉ kêu’ là gì.” Từ xa vọng lại, anh nghe thấy một tiếng hú ghê rợn và được bảo rằng “đó là những con cáo nhỏ, đang phá phách ruộng nho.” Đối với đôi tai của kẻ mộng mơ bị bỏ bùa này, những tiếng khóc than “giống như âm thanh của một bản giao hưởng.” Suốt đêm đó, David Gruen không nhắm mắt. Cứ phút chốc anh lại bước ra đứng trong màn đêm và ngẫm về bản thân. Phần đầu tiên trong giấc mộng của anh đã thành hiện thực. Ngày tiếp theo, David và Shlomo Zemach cùng thuê một căn phòng. Lúc bình minh, David đã có mặt ở chỗ làm tại vườn cam của Petah Tikvah, đổ phân bón vào những lỗ mới đào cho các cây mới. “Công việc không dễ dàng,” anh viết cho cha mình, “nó đòi hỏi sự kiên nhẫn và tận tâm lớn lao với những ai chưa từng làm bao giờ mà hầu hết công nhân đều là những người như thế để có thể chịu đựng sức nóng mùa hè và cày bừa trên đất đỏ... Mồ hôi rỏ xuống, bàn tay chúng con chai sần và đau nhức, và tứ chi như muốn rã rời... Trong khi đó, người chủ hoặc đốc công đứng bên cạnh lại gào Yalla!...” David Gruen rất quyết tâm cuốc đất, vì đây là điều cơ bản của công cuộc phục quốc Do Thái. Người Do Thái lao động trên đất đai Do Thái – đây là cách duy nhất để dân tộc Do Thái giành lại chủ quyền Vùng đất Israel. “Chinh phục bằng lao động” là câu khẩu lệnh của những người tiên phong trẻ tuổi. “Chỉ có hai loại người sẽ lao động thành công trên đất nước này,” David viết, “những kẻ với lòng quyết tâm mãnh liệt và những kẻ đủ khả năng, là những tráng niên https://thuviensach.vn đã quen với công việc nặng nhọc”. David đương đầu với thách thức của công việc lao động. Nhưng khi không đáp ứng được những đòi hỏi về thể lực nữa, bệnh sốt rét lên ngôi, chỉ vài tuần sau khi đến nơi, David đã ngã gục. Từ đó về sau, bệnh sốt rét luôn hành hạ anh đều đặn. Bác sĩ Stein, thầy thuốc Do Thái được triệu đến để chữa trị cho anh đã từ bỏ mọi hy vọng. “Không còn gì tác dụng ở đây,” ông tuyên bố. “Cậu không thể ở đây được. Hãy rời khỏi xứ sở này đi!” nhưng David vẫn bám trụ. Sau khi nhiễm bệnh sốt rét, anh còn nếm trải sự thiếu ăn. “Thời gian dành cho công việc của tôi còn ít hơn thời gian bị sốt và đói. Cả ba thứ – công việc, sốt rét và đói ăn – đều mới mẻ với tôi, và đầy thú vị. Suy cho cùng, đây là lý do tại sao tôi đến với Vùng đất Israel.” Nếu tìm cách tiết kiệm vài đồng bạc thôi, anh đã mua được một pitta mỗi ngày và để dành đến buổi chiều, rồi sẽ nhai chiếc bánh một cách từ từ để xoa dịu cơn đói cồn cào gan ruột. Nhưng có những ngày thậm chí anh không thể có nổi chiếc bánh pitta đó. “Ban ngày thì không đến nỗi tệ lắm – tôi có thể trò chuyện cùng bạn bè hoặc cố tập trung vào việc khác. Nhưng đến tối thì thật kinh khủng. Từ khoảnh khắc tôi nhắm mắt, niềm mơ ước của tôi chỉ hướng đến những nồi đầy ắp thịt, gà rán, những đĩa chất đầy thức ăn. Tôi đã lo rằng mình sẽ bị tê liệt mọi giác quan. Sáng sáng, khi thức dậy, tôi thường đưa tay vuốt tóc và thấy từng đám tóc rụng trong kẽ ngón tay mình.” Những tin đồn về tình hình tại Palestine đến tai Plonsk. Người cha Avigdor Gruen đầy lo lắng đã gửi cho con mình một lá thư với mười đồng rúp. Nhưng ông nhận lại tờ giấy bạc cùng hồi âm của David: “Tiền bạc tuyệt đối không có tác dụng với con.” David không đơn độc trong niềm kiêu hãnh cũng như sự thiếu thốn của mình. Trên thực tế, chính tình cảnh khốn cùng về kinh tế khiến những nhóm lao động Do Thái sống với nhau với tinh https://thuviensach.vn thần cộng đồng cao độ. Vì thế, họ đã thiết lập những cộng đồng cư dân đầu tiên ở Palestine chính trên nền tảng tinh thần này. Những đồng lương ít ỏi kiếm được được dành cho thức ăn, mặc dù có lúc một bưu kiện hay phiếu chuyển tiền vẫn được gửi đến từ quê nhà. Vào những buổi chiều, họ sẽ họp mặt ở bếp khu nhà ở công nhân, hát hò và nhảy múa đến tận khuya. Nhưng cũng có những đêm và ngày bị đói, tuyệt vọng và đầy giận dữ. “Tôi là kẻ lao động theo ngày,” David Gruen thuật lại trong nhiều năm sau, và lời của ông vẫn chứa đựng nỗi cay đắng những lúc ông phải đối mặt với sự sỉ nhục mỗi ngày dưới bàn tay của giới chủ nghiệt ngã, những kẻ bình thản lựa chọn công nhân làm việc theo từng ngày. Bản thân những người chủ này cũng là Do Thái, những nông dân ở thị trấn Judea. Hai mươi năm trước, bản thân họ cũng là những kẻ mơ mộng đầy lý tưởng. Khi mới đến từ Nga, trái tim họ cũng tràn đầy nhiệt huyết Xiôn. Nhưng chỉ trong vài năm, họ trở nên không thể nhận ra nổi. Những thay đổi này là do chỗ vàng của “nhà thiện nguyện” Baron Edmond de Rothschild gây nên. Baron là “kẻ có tầm nhìn thực tế”. Ông thu mua đất đai, thành lập những khu nông nghiệp, gửi các chuyên gia và tư vấn viên giúp những người định cư xây dựng nhà cửa trong khu thuộc địa “của ông ấy” – là Petah Tikvah, Rishon le Zion, Zichron Ya’akov. Nhưng Baron càng bơm tiền của cho những người định cư nhiều bao nhiêu, thì bầu nhiệt huyết phục quốc Do Thái trong họ lại càng phai nhạt bấy nhiêu. Họ từ bỏ việc tự mình lao động và thuê những công nhân Ả-rập với tiền lương rẻ mạt. Khi những người tiên phong thuộc làn sóng Aliyah Thứ Hai bắt đầu có mặt, họ nhận thấy các kibbutz đầy những nông dân nghèo khổ đã rời rất xa lý tưởng phục quốc Do Thái và công khai nghi ngờ những kẻ chân ướt chân ráo mới đến. Những người tiên phong với ánh mắt sáng rực bị yêu cầu phải trình diện tại trung tâm kibbutz mỗi https://thuviensach.vn buổi sáng, cùng với các công nhân Ả-rập đổ xô đến từ các ngôi làng lân cận. Các nông dân cùng đốc công sẽ rảo bước giữa họ và quan sát đánh giá xem ai sẽ được thuê và ai bị loại. Tuy nhiên, ngay cả khi một công nhân được tuyển, những rắc rối vẫn chưa hết: anh biết anh sẽ phải dành cả ngày cạnh tranh quyết liệt với những lao động người Ả-rập, và kết quả sẽ định đoạt số phận của anh trong những ngày tiếp theo. Trong khi đó, những người Ả-rập đã quen với khí hậu, quen với làm việc trên những cánh đồng và thể chất mạnh mẽ. Đây là thử thách đầu tiên mà những người nhập cư phải đối mặt khi đặt chân đến đây. Điều này đã làm khẩu hiệu “Chinh phục bằng lao động” mang sắc màu u ám. Bản thân đã trải qua sự tủi nhục của một công nhân làm việc theo ngày, chàng Gruen trẻ tuổi quyết tâm nổi dậy. Ý thức giác ngộ giai cấp anh mang theo từ nước Nga hợp nhất cùng những lý tưởng phục quốc Do Thái lôi kéo anh vào mối mâu thuẫn với các nông dân Do Thái ở Jueda. Một số người quả quyết rằng con đường của David Gruen được xây đắp bởi hai cuộc nổi dậy: thứ nhất là chống lại cuộc sống Do Thái Diaspora, vốn đã mang anh đến Palestine, thứ hai là sự chống lại những nông dân đồn điền ở vùng trũng Judea, đã nâng cao giác ngộ xã hội của anh. Lẽ tự nhiên khi giờ đây sự nghiệp chính trị của anh trong phong trào Poalei Zion đang nâng cao. Poalei Zion và Hapoel Hatzair khi đó là những đảng Lao động Do Thái duy nhất ở Palestine. Sự thù hằn mù quáng giữa hai đảng này đã giáng trúng David Gruen vào đúng khoảnh khắc anh đặt chân lên đất Palestine. Khi vẫn còn ở cảng Jaffa, một lao động Do Thái đã bắt chuyện với anh, tra hỏi không ngừng liệu anh ủng hộ hay chống lại chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong vô vọng, David tròn mắt nhìn hắn ta một cách đầy ngạc nhiên. “Đó là ngày đầu tiên của tôi tại Palestine, và tôi đã ở trong trạng thái lâng lâng, nhưng anh ta đã làm tôi choáng váng bởi màn tấn công về chủ nghĩa duy vật lịch sử và https://thuviensach.vn các thứ vớ vẩn tương tự. ‘Anh muốn gì ở cuộc đời tôi?’ tôi gặng hỏi, song hắn không để tôi yên.” Hai đảng này bị chia rẽ bởi vết rạn sâu sắc, một thực tế mà David Gruen thấy rất lạ, đặc biệt khi anh biết rằng trong số chín “vị cha sáng lập” của Hapoel Hatzair ở Palestine thì có bốn người đến từ Plonsk. David bị thuyết phục rằng không có lời biện hộ nào cho sự tồn tại hai đảng riêng rẽ tại đất nước Palestine. Khi sắp khởi hành đến Palestine, Shlomo Zemach nói với anh về sự thành lập Hapoel Hatzair, và David trả lời: “Tôi là một thành viên của Poalei Zion. Không có sự khác biệt nào giữa hai chúng ta: cả hai ta đều đang tranh đấu vì ngôn ngữ Hebrew và đều có lợi cho lao động Do Thái.” Hai người đồng ý rằng khi đến Palestine, họ sẽ quyết tâm thống nhất hai đảng. Nhưng “ngay sau khi chúng tôi đặt chân đến Palestine – bị ảnh hưởng hoặc bởi bạn bè anh ấy hoặc do thay đổi môi trường – Shlomo Zemach ngừng theo đuổi ý tưởng thống nhất. Tôi thì không.” Không phải chỉ sự thay đổi môi trường đã phá hỏng kế hoạch thống nhất, vì còn tồn tại sự khác biệt lý tưởng sâu sắc giữa Hapoel Hatzair và Poalei Zion. Poalei Zion đang trên đường trở thành một đảng theo chủ nghĩa Mác-xít, bị ảnh hưởng triệt để bởi những ý tưởng cách mạng Nga, và dần dần loại bỏ cương lĩnh phục quốc Do Thái. Vì thế, khi mới đến Palestine, những nhà tiên phong từ Plonsk – những người Xiôn thuần khiết, nói tiếng Hebrew, với gốc rễ truyền thống sâu nặng – đã quay lưng lại đảng này. Sự thành lập Hapoel Hatzair chủ yếu là phản ứng lại Poalei Zion. Những thành viên Hapoel Hatzair không phải người Mác-xít, gìn giữ ngôn ngữ Hebrew, Trở về Tổ quốc Do Thái và đặc biệt trung thành với lý tưởng phục quốc Do Thái của mình. Vì rất nhiều nguyên nhân, David Gruen lại gần gũi với Hapoel Hatzair hơn là Poalei Zion khi đến Palestine. Suy cho cùng, anh là https://thuviensach.vn một người Xiôn thành kính và là người Hebrew ngoan đạo, và sự Trở về Tổ quốc Do Thái quan trọng với anh hơn bất kỳ tư tưởng chính trị hay xã hội nào khác. Cùng lúc đó, như chính anh thú nhận, anh sở hữu một ý thức giác ngộ giai cấp đặc biệt cao và ngưỡng mộ tinh thần của cuộc cách mạng Nga. Anh cũng tin vào lý luận của chủ nghĩa xã hội, song ý thức chủ nghĩa xã hội của anh rất thực tế, linh hoạt và trên tất cả khai thác để phục vụ cho những mục tiêu quốc gia và phục quốc Do Thái của anh. Với David Gruen, Chủ nghĩa Xiôn và chủ nghĩa xã hội đã hợp thành một tư tưởng trung tâm độc nhất: giai cấp công nhân là mũi nhọn cho sự phục hưng Do Thái, và sự hồi sinh của đất nước Do Thái chỉ có thể đạt được bởi lao động trên Vùng đất Israel. Lý tưởng chủ nghĩa xã hội và đảng Hapoel Hatzair đã định hình nhân cách Ben-Gurion trong suốt con đường chính trị của ông. Năm 1906, Poalei Zion tổ chức buổi hội thảo đầu tiên tại Palestine và bầu ra Ủy ban Trung ương gồm năm người, bao gồm Gruen. Trong cuộc trưng cầu kín, anh cũng được bầu vào Ủy ban mười người chịu trách nhiệm soạn thảo cương lĩnh đảng. Đúng với truyền thống bí mật vốn là đặc tính gắn liền với những đảng xã hội ngầm ở Nga, mười người nhóm họp một cách kín đáo trong căn phòng thiếu ánh sáng, chật chội ở khu nhà trọ Ả-rập cũ kỹ. Suốt hai ngày và ba đêm, những thành viên của Ủy ban mười người nằm soài trên sàn đá, chiếu cói và tranh luận gay gắt đến khi họ soạn thành công văn kiện được chờ đợi đã lâu: “Cương lĩnh Ramleh” (được đặt theo tên thị trấn nơi văn kiện được soạn thảo). Bản cương lĩnh có thể được viết tại Ramleh, nhưng nó chứa đựng sự tương đồng đáng chú ý với bản Tuyên ngôn Cộng sản, với vài điều chỉnh khiêm tốn mang nội dung Phục quốc Do Thái. Nó là ví dụ tiêu biểu cho sự thiếu hiểu biết về tình hình Palestine và xa rời Chủ nghĩa Xiôn của nhóm tác giả, trên thực tế, từ “Chủ nghĩa Xiôn” https://thuviensach.vn thậm chí còn không được nhắc đến! Chỉ vào phiên họp thứ hai của hội nghị Poalei Zion, những nhà Xiôn mới giành được thắng lợi đầu tiên, khi các đại biểu thông qua một nghị quyết miêu tả rõ rằng: “Đảng ta (Poalei Zion) khao khát độc lập chính trị cho người dân Do Thái ở quốc gia này (Palestine).” Lần đầu tiên, Poalei Zion đặt mục tiêu cho chính nó: thành lập một nhà nước Do Thái. Đó rõ ràng là khởi đầu của một cuộc cách mạng – nhưng chỉ dừng lại ở mức bắt đầu. Trong vài năm, David vẫn chỉ thuộc nhóm thiểu số của Poalei Zion, và anh thất bại trong nỗ lực giới thiệu tiếng Hebrew vào những tiến trình và tài liệu xuất bản của đảng. Và kết quả là anh đã không đảm nhận vai trò đặc biệt tích cực nào trong hoạt động đảng. Mặc dù là thành viên của Ủy ban Trung ương, và đầu năm 1907, anh đã dành một khoảng thời gian sống tại Jaffa, theo yêu cầu của đảng, có vẻ những hoạt động của đảng đã không đặc biệt thu hút anh. Thay vào đó, anh thích cuốc đất hơn. Mùa đông năm 1906-1907 rất khắc nghiệt. Palestine chưa từng hứng chịu đợt lạnh như thế trong nhiều thập niên. Gruen trải qua mùa đông đầu tiên ở Jaffa rồi Petah Tikvah. Anh không có quần áo ấm, và đôi ủng được cha gửi đến lại quá nhỏ với anh. Nhưng rồi anh được thuê hái cam, một công việc anh thấy quá dễ dàng. Vào mùa xuân, David chuyển đến Kfar Saba, kibbutz mới thành lập cách Petah Tikvah hai giờ đi bộ. Sau vài tuần ở đó, anh khởi hành đến Rishon le-Zion để làm việc trong những hầm rượu vang. Mặc tạp dề dài, quần xắn đến gối, anh đạp nho bằng chân trần trong hầm rượu. Một lần, anh cược với một đồng nghiệp rằng ai có thể đạp nho lâu hơn. David đạp không nghỉ suốt ba ngày ba đêm và đã chiến thắng. Nhưng hệ quả là trong nhiều năm sau đó, anh không thể chịu nổi mùi rượu vang. https://thuviensach.vn David cũng không định cư tại Rishon le-Zion. Sau khi sống một thời gian tại kibbutz Rehovot gần đó, anh định mua ít đất và làm nông dân, để có thể mang gia đình mình đến Palestine. Nhưng lối sống này không phải là điều đã dẫn anh đến Palestine. Anh đang tìm kiếm một thứ gì khác, xác thực hơn để có thể biểu lộ thái độ toàn vẹn với lý tưởng “Trở về Tổ quốc”. Một lần nữa, cũng lại là người bạn Shlomo Zemach can đảm bước lên phía trước và mở lối tiên phong. Vài tuần sau khi trở về Palestine cùng David, Shlomo khởi hành đi Galilee. Vào lúc ấy, David viết cho cha mình: “Tại Galilee, mọi thứ khác hơn nhiều. Ở đó có nhiều sữa, bơ và phô-mai. Không có lao động theo ngày... thay vào đó, có những lao động thuê hằng năm được nhận đầy đủ thứ họ cần và cả tiền lương hằng tháng. Làm việc ở đó khác lắm... chủ yếu là việc đồng áng giản đơn.” Tuy nhiên, đó không phải sự khác biệt thật sự giữa Judea và Galilee. Galilee nằm ở nơi tiền tiêu hẻo lánh, vùng đất không có Jaffa, không có những kibbutz của Baron, không có những chủ đất, không có những tàn dư của cuộc sống Diaspora. Galilee đầy các ngôi làng và bộ tộc Ả-rập thù địch. Có ít kibbutz, cư dân không hơn vài tá nông dân, và dưới bốn mươi lao động nông nghiệp người Do Thái. Đến Galilee là hành vi mang tính Xiôn có tầm quan trọng sâu sắc. Hành vi này nghĩa là bỏ lại sau lưng những cơ cấu tồn tại thiết lập sẵn bởi giới lãnh đạo Thổ, những người nhập cư Nga, hay gã người Pháp Baron và thi hành lý tưởng Chủ nghĩa Xiôn tiên phong bằng cách tạo ra những kibbutz trong một tỉnh bị cách ly với thế giới bên ngoài. Một năm sau khi đặt chân đến Palestine, David Gruen rời khỏi Galilee, đóng lại một chương trong cuộc đời anh và cũng mở ra một chương khác. Sự kiện này không chỉ liên quan đến vai trò nhà tiên phong, mà còn ảnh hưởng đến những mối quan hệ luyến ái của anh. Quyết định rời Judea của David rõ ràng được thúc đẩy bởi https://thuviensach.vn nhiều thứ hơn là hệ tư tưởng. Tuy nhiên, đến tận hôm nay, bảy mươi năm đã trôi qua, ảnh hưởng cụ thể của một chặng đường trong cuộc sống cá nhân ông vẫn phần lớn chưa được tiết lộ. Đó chính là tình yêu của David dành cho Rachel Nelkin. Những người tị nạn từ Plonsk tạo dựng tên tuổi bản thân khắp Judea như một cộng đồng chăm chỉ và bền chí khác thường. Nhưng Rachel lại là ngoại lệ. Bị đuổi khỏi công việc đầu tiên trong những vườn cam ở Petah Tikvah, người phụ nữ trẻ đẹp bị sỉ nhục khi không thể tìm việc làm, nhưng nàng còn bị tổn thương hơn khi biết những đồng chí trẻ tuổi từ Plonsk tức giận với nàng vì đã làm hoen ố danh tiếng những người lao động và tiên phong ưu tú. Khi dàn đồng ca chê bai dâng cao, tiếng nói của David đã không cất lên để bảo vệ nàng, mà trái lại, anh ủng hộ việc phê phán nàng. Rõ ràng đây là nguồn cơn cho vết rạn nứt giữa họ. Bất chấp tình yêu của anh cho cô, David chỉ trích Rachel đã thất bại trong việc anh cho là nhiệm vụ chính: chinh phục bằng lao động trên Vùng đất Israel. Rõ ràng tình yêu và hệ tư tưởng là hai địa hạt xung khắc lẫn nhau. Cảm xúc David dành cho Rachel có lẽ là tình yêu sâu nặng nhất anh từng nếm trải. Tuy nhiên, anh không cưới cô. Nhiều năm sau, khi hỏi tại sao lại thế, Rachel ngập ngừng giây lát và trả lời: “David lo việc công, chứ không màng chuyện riêng.” Còn bản thân David nói: “Cưới vợ?... Lúc đấy ai mà nghĩ đến cưới xin chứ? Chúng tôi đã tránh chuyện đó... bởi vì chúng tôi không muốn mang con cái vào cuộc đời quá sớm. Đất nước (Palestine) khi ấy hoang tàn và chậm tiến. Chúng tôi không thể đảm bảo cho lũ trẻ một nền giáo dục Hebrew đàng hoàng. Chỉ một thời gian sau đó... chúng tôi mới nhận ra rằng bất chấp mọi thứ, việc nuôi dạy con cái là khả thi trên Vùng đất Israel.” https://thuviensach.vn “Ngoài chuyện đó ra,” ông bổ sung thêm, “Rachel đã gặp và đem lòng yêu người khác...” Ông bỏ dở câu nói lơ lửng giữa không trung. Chắc chắn, vào lúc ấy, Yehezkel Bet-Halachmi đã xuất hiện trong cuộc đời Rachel. Anh là một thanh niên trầm tĩnh điển trai, người đã gặp Rachel lần đầu tiên ở Plonsk khi trên đường đến Palestine. Như những bạn cùng trang lứa, Yehezkel đã say mê cô. Cô cũng nhận ra anh khi đến Palestine và tái ngộ anh trên bến cảng Jaffa. Cô chạm trán anh lần thứ ba khi quay lại làm việc trong những vườn cam ở Petah Tikvah, vẫn thẹn thùng và ăn năn vì đã làm ô uế thanh danh của những người tiên phong Plonsk. “Nhưng Yehezkel, từ tâm và nhạy cảm, đã luôn động viên, gieo cấy niềm tin và hy vọng.” Vì thế định mệnh của đôi trẻ đã đưa đường dẫn lối cho họ. Từ nhiều góc độ, Yehezkel là mặt đối lập của David, và sở hữu chính những nét tính cách mà Rachel tìm kiếm vô vọng ở David. Dần dần cô ngày càng căm hận David vì đã “gần như không bao giờ ở nhà” (ở Petah Tikvah) và không dành thời gian cho cô. Cô cũng cảm thấy vị thế của mình bị sa sút vì không thể duy trì công việc và tin rằng tầm quan trọng của việc được thừa nhận từ quan điểm của số đông đã trở thành điều mang tính cá nhân đối với David. Cuối cùng chuyện của hai người hoàn toàn kết thúc. Chính vào lúc ấy David rời Petah Tikvah. Anh đã yêu và vẫn yêu Rachel say đắm trong nhiều năm tiếp đó. Một năm sau chuyến khởi hành đi Galilee của David, Rachel Nelkin cưới Yehezkel Bet-Halachmi. Phải mất nhiều năm nỗi đau của David mới nguôi ngoai. Điểm đến của David ở Galilee là Sejera, với hai hàng nhà mái đỏ kéo dài, những tòa nhà bằng đá trải xuống sườn đồi gần đường Tiberias. Kibbutz, chứa nhà của vài tá nông dân, hoàn toàn cô lập, và đám dân cư Ả-rập láng giềng thì không thân thiện lắm. Khi David tìm đến chân đồi vào một ngày mùa thu, anh dừng lại trong sự kỳ thú. Khi anh bước vào làng và gặp những cư dân của nó, niềm kinh https://thuviensach.vn ngạc của anh còn dâng cao hơn. Sejera là kibbutz duy nhất ở Palestine mà mọi công việc đều do người Do Thái đảm nhận. “Chính nơi đây tôi đã tìm thấy Vùng đất Israel mà mình hằng mơ đến. Không còn các chủ cửa hàng hay chủ đại lý, không còn những công nhân ngoại lai, không còn những kẻ chây lười sống bám người khác. Mọi thành viên của kibbutz đều làm việc và tận hưởng trái ngọt của chính sức lao động bản thân.” David được thuê làm việc trong nông trại trên đỉnh đồi. Có lúc anh cũng làm cho chính kibbutz, được thuê bởi một thợ làm yên ngựa đến từ Nga, người đã quyết định trở thành nông dân ở Palestine. Ở Petah Tikvah, David đã mơ đến việc “lắng nghe bài hát người thợ cày”, giờ đây chính anh đã trở thành một thợ cày. Anh miêu tả cảnh tượng này cho cha mình: “Cán cày trong tay trái con, gậy thúc trong tay phải con, con đi sau cái cày và nhìn những tảng đất đen bị xới tung lên, trong khi lũ bò chậm rãi tiến từng bước, giống các bậc đức cao, vọng trọng đang làm việc. Có thời gian để nghĩ và mơ – và làm sao có thể không mơ cho được khi cha vung cày, xới tung đất của vùng đất Israel, và cha nhìn thấy những người Do Thái đang cày bừa mảnh đất của họ? Vùng đất kiên cường này ẩn chứa mọi diệu kỳ bên trong nó, và những sắc màu tráng lệ mà nó có. Chẳng lẽ bản thân điều này không phải giấc mơ sao?” Ở đây, trên những cánh đồng của Sejera, David Gruen đã trải qua những năm tháng đẹp nhất đời mình tại Palestine. Những miêu tả đẹp đẽ và lãng mạn của David đã cho thấy đây là một nhân vật sở hữu năng lực biểu đạt tuyệt vời, được trời phú khả năng thuyết phục, tràn đầy nhiệt huyết và niềm tin vào Chủ nghĩa Xiôn. Theo đó có vẻ như David nổi bật trong những người đồng trang lứa với mình. Nhưng trên thực tế không phải như vậy. https://thuviensach.vn Dĩ nhiên không còn nghi ngờ gì nữa, David đã thật sở hữu mọi phẩm chất này. Tuy nhiên chúng đều bị giấu sâu dưới vẻ ngoài nhút nhát và cô độc. Thỉnh thoảng, nhiệt huyết của anh bùng lên – trong bài diễn văn phát biểu tại một hội nghị đảng, trong bài thuyết trình tiếng Hebrew trước những nông dân ở Sejera, hay trong hội nghị địa phương của cộng đồng công nhân Do Thái ở Galilee, nơi những quan điểm của anh rất được ngưỡng mộ. Nhưng hầu hết thời gian anh đều thu mình, và thậm chí trong một thời gian dài anh còn ngủ một mình trong những nhà kho. Bạn đồng hành của anh không biết anh làm gì trong những buổi tối dài mùa đông. Trên thực tế, những đồng chí của anh ở Sejera còn không biết liệu anh có thích việc nhà nông hay không. David không thật sự nhận mình là một người lao động. Nhiều câu chuyện đã được kể giữa những công nhân về niềm đam mê đọc sách của anh. Chuyện kể rằng một lần anh đang đi sau lũ bò thì hoàn toàn bị chìm đắm vào trong một tờ báo. Khi anh đọc xong và ngước mắt nhìn, anh thấy mình đứng giữa cánh đồng, nhưng không còn dấu vết gì của lũ bò. Chúng đã đi quá nửa mảnh đất sang cánh đồng gần đó mà David không hay biết gì. Một cách bản năng, những công nhân khác cũng cảm nhận được rằng, khác với họ, anh không hướng đến việc làm nông dân cả đời. Thay vào đó, với cá tính độc đáo và những thiên bẩm hiếm có của mình, anh “cảm thấy rằng mình có thể làm nhiều việc quan trọng hơn là đi sau những con bò.” Nhưng David chưa bao giờ chia sẻ những ý nghĩ như vậy với bất cứ ai trong số họ. Sự cách ly của anh – cả bị bắt buộc lẫn tự hành xác – có vẻ như đã tăng lên ở Sejera. Cô gái anh yêu đã rời xa, bạn bè thân cận thì không ở bên. Những người bạn gần gũi còn lại của David, Shlomo Zemach, đã sớm rời Sejera sau khi đến. Những lá thư của anh phản ánh niềm thương nhớ sâu nặng dành cho những người bạn chí cốt, tuy nhiên anh vẫn cô độc hoàn toàn. Trong những năm tháng đó, David đã nếm trải mùi vị cô đơn sẽ trở thành định mệnh của anh, giống https://thuviensach.vn như số phận những nhà lãnh đạo kiệt xuất. Nhưng đó là điều rất khó chịu đựng, và nhu cầu có ai đó kề bên luôn tuôn trào trong những lá thư đầy hoài niệm anh gửi cha và gia đình: “Có những lúc con đi bộ một mình, mắt hướng lên những vì sao và tim con nhớ về cha... Ở đây, trên vùng đất của con, một vùng đất diệu kỳ, ngay trước mắt con – rất gần đến nỗi nó khuấy động tâm can con – và vẫn cứ thế, tim con bị bóp nát bởi niềm khao khát có được vùng đất xa lạ đó, vùng đất của bóng ma thần chết... như một người tù được thả về tự do, người trước đó đã để lại toàn bộ bạn bè và chiến hữu sau lưng trong tù – và anh bước đi, dù tự do đấy, nhưng cứ bị kéo ngược về những bức tường kín đó mãi...” Hoàn cảnh đã trao cho chàng Gruen trẻ cơ hội để ghé thăm “nhà tù” ấy. Giữa năm 1908, anh phải đăng ký nghĩa vụ trong quân đội Nga. Để cứu cha khỏi món tiền phạt ba trăm rúp nếu trốn nghĩa vụ, David quyết định trở về Plonsk. Cha cho anh ba mươi lăm rúp làm lộ phí và bốn mươi rúp nữa để trả mấy khoản nợ vặt. Đầu mùa thu, Gruen giong buồm đi từ Jaffa. Chuyến hành trình khởi hành thuận lợi, anh gặp lại gia đình và đăng ký nghĩa vụ quân sự. Được thông báo đủ tiêu chuẩn và thề trung thành với Nga hoàng, anh nhanh chóng chuồn khỏi doanh trại và vượt biên giới sang Đức bằng giấy tờ giả. Vào cuối tháng Mười hai, anh đã quay lại Palestine. Trong vài tuần, David làm việc trên bãi biển Galilee ở kibbutz Kinneret, được xây dựng trong thời gian anh vắng mặt. Từ đó, anh đi về phía Nam đến kibbutz Menahamiya, nơi anh đã làm việc trong vài tuần. Nhưng anh nhanh chóng bị bủa vây bởi nỗi nhớ Sejera, là nơi anh xem như nhà mình. Ở mọi kibbutz Do Thái, Sejera là nơi đầu tiên phát động “Chinh phục bằng lao động” và cũng là nơi đầu tiên thiết lập hệ thống phòng thủ của nó. Khi David Gruen đến Sejera, hàng rào phòng thủ cả khu định cư lẫn nông trại trên đồi https://thuviensach.vn được giao cho những cảnh vệ người Circassian nổi tiếng là những chiến binh can trường đủ để giữ kibbutz được an toàn khỏi những thổ phỉ Ả-rập địa phương. Cũng như “lao động Do Thái”, khái niệm “phòng thủ Do Thái” cũng là một phần giấc mơ của những nhà tiên phong trẻ. Một ngày kia, những lao động trong nông trường Sejera đối mặt với viên quản lý, Krause, và yêu cầu được làm thay việc của người gác. Vì những bài diễn thuyết đầy cảm động về viễn cảnh phục quốc Do Thái cùng với tình cảnh tha hương của họ, những lao động trẻ quyết định lập mưu. Họ biết những người Circassian không bao giờ canh gác cẩn thận nông trại vào ban đêm, mà thích ở lại ngôi làng Ả-rập gần đó hơn. Một đêm nọ, vài công nhân ăn trộm con ngựa quý của viên quản lý, giấu thật kín trong nông trại và chạy đi báo Krause về vụ trộm. Viên quản lý thổi còi và gọi cảnh binh, nhưng những tay Circassian đang say ngủ ở ngôi làng bên cạnh. Krause không còn lựa chọn nào khác: ngày hôm sau ông ra lệnh cho một trong những người làm công Do Thái đảm nhiệm công việc bảo vệ. Mùa đông năm đó, những người làm công của nông trại lại chiến thắng lần nữa: tay cảnh binh của kibbutz, bị bắt quả tang ăn trộm tài sản hắn được giao bảo vệ, bị đuổi việc và hàng phòng thủ của kibbutz, cũng như của nông trại, sau đó được giao hết về cho những người canh gác Do Thái. David Gruen cho biết trong một thời gian, anh từng làm cảnh vệ đầu tiên cho kibbutz. Đến lúc này, ban quản lý nông trường và những nông dân trong kibbutz đã từ bỏ thái độ chế giễu hay phản đối những nhà tiên phong. Khi các thanh niên một lần nữa xin Krause cung cấp khí tài cho mọi người làm công, ông gửi một chuyến xe đến Haifa mua súng. Khi những người người làm công chạm tay vào súng, họ phấn khích như trẻ con. David viết: https://thuviensach.vn “Hội trường lớn của đoàn lữ hành, nơi hầu hết công nhân trú nghỉ, bỗng xuất hiện hang ổ của một băng cướp. Ai ghé thăm vào buổi tối sẽ thấy một nhóm thanh niên ngồi trên giường, mỗi người cầm một khẩu súng: người đang lau nòng súng, người khác thì hết tháo ra rồi lại nạp đạn, người nữa thì đang nhét đạn vào túi. Những khẩu súng được so sánh với nhau và được liệt kê điểm mạnh – yếu, chúng được treo lên tường rồi lại tháo xuống, đeo trên vai rồi cởi ra, cho đến tận giờ đi ngủ.” Trong kỳ nghỉ Lễ Vượt qua năm 1909, bài kiểm tra đầu tiên đã đến. Giữa màn đêm bao phủ quanh sảnh chính vang lên tiếng súng nổ. Một thanh niên Do Thái xuất hiện ở cửa, thở nặng nhọc. Cậu đang trên đường từ Haifa đến Sejera cùng hai bạn đồng hành thì bị ba gã Ả-rập có vũ trang tấn công, cố cướp lấy con lừa chở hành trang và đánh gục người đánh xe Ả-rập. Trong cuộc ẩu đả sau đó, một trong số những người Do Thái rút ra một khẩu súng ổ quay và khai hỏa vào những kẻ tấn công, làm bị thương một trong số chúng. Một nhóm thanh niên rời các hoạt động lễ hội và chạy đến hiện trường. Hoàn toàn vắng lặng, song họ phát hiện vết máu ở ven đường. Khi các cư dân Sejera nghe tin, một đám mây chán chường bao phủ lấy họ. Họ đã biết truyền thống trả nợ máu ở đây, nếu người Ả-rập bị thương kia chết, các thành viên trong bộ tộc sẽ ra ngoài đòi nợ máu cho anh ta. “Từ khoảnh khắc đó trở đi, chúng tôi biết một trong số mình sẽ bị giết,” David Gruen nói. “Câu hỏi duy nhất là Ai?” Sự căng thẳng tại Sejera tăng lên khi người Ả-rập bị thương chết tại một bệnh viện Nazareth hai ngày sau đó. Các thành viên trong bộ tộc anh ta lập tức tấn công bầy gia súc của Sejera và gặt sạch lúa mạch trên các thửa ruộng của kibbutz. Rồi, trong ngày cuối cùng của Lễ Vượt qua, cảnh vệ khu nông trại, Israel Korngold, đi làm sớm để đảm nhận vị trí. Nhận thấy hai người Ả-rập tại sườn đồi, anh tiến lại bọn họ, đi kèm là một nông dân nói tiếng Ả-rập. Bất ngờ https://thuviensach.vn tiếng súng vang lên. Người lao động lấy súng và chạy đến hiện trường. Họ tìm thấy xác của Korngold đã bị bắn xuyên tim. Những kẻ tấn công đã đánh cắp vũ khí và bỏ chạy. Khi chuông của nông trại gióng lên cảnh báo, vài nhóm lao động chạy đến các khe nước gần đó để tìm kiếm những kẻ giết người. Ba gã Ả-rập thình lình xuất hiện. Hai người Do Thái đuổi theo chúng, còn ba người khác – trong đó có David Gruen – tìm cách chặn đường chúng. Ba gã đó không nhận ra chúng đang chạy thẳng vào bẫy. Khi chạy qua hàng cây xương rồng đầu tiên, David nghe người kế bên gào lên: “Tôi bị bắn trúng rồi!” Gruen dừng lại, cúi nhìn người đồng đội, và thấy anh ta đã chết. Những vụ giết người ở Sejera có ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm và hành trình tương lai của David Gruen. Quan điểm của anh về việc vũ trang và lực lượng vũ trang tự quản ảnh hưởng bởi cú sốc lớn lao mà anh nếm trải từ các vụ giết hại bạn bè mình. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, vụ việc là dấu chấm hết cho chương đầu tiên trong binh nghiệp. Hội cảnh vệ Hashomer Society từ chối đơn xin gia nhập của anh, mặc dù anh đã làm việc tích cực trong vai trò cảnh vệ. Sau này thành viên của hội nhận xét họ loại anh vì trông anh quá lơ đãng và mơ mộng, luôn thả hồn trong những thế giới khác. Sáu tháng sau, David Gruen rời Sejera, sau một cuộc bãi công không đạt được bất cứ lợi ích thiết thực nào. Anh mang theo vài thứ trong hành trang, nhét súng lục vào túi, và đi làm cho kibbutz Yavniel, anh ở lại đó vài tuần rồi trôi dạt đến Zichron Ya’akov, anh thấy thích hợp với nơi này. Ở đó anh bắt đầu học một chút tiếng Pháp và Ả-rập, chuẩn bị một cách có ý thức và có hệ thống cho những mục tiêu đã đề ra. Những điều này đã được hun đúc trong tâm trí anh vào những ngày dài một mình cùng bầy gia súc trên những cánh đồng của Sejera. Theo sau cuộc chính biến của đảng Young Turks, dẫn đến việc những cộng đồng dân tộc thiểu số https://thuviensach.vn giành được ghế tại quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ, David bắt đầu nghĩ đến tương lai chính trị cho mình, bắt đầu bằng việc học luật tại Constantinople. Sau đó anh hy vọng được bầu vào quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ với tư cách đại biểu công nhân Do Thái của Palestine và có lẽ thậm chí trở thành bộ trưởng trong Nội các. Tại Zichron Ya’akov, anh bắt đầu hun đúc ý tưởng này ngày một rõ rệt hơn: “Trong tương lai tôi hoặc vẫn làm nông dân trên đất, hoặc trở thành luật sư. Tôi tự thấy mình thích hợp với cả hai nghề, và tôi thiên về cả hai... Dù là công nhân hay luật sư, tôi chỉ có một mục tiêu duy nhất: phục vụ lao động Do Thái trên Vùng đất Israel. Đó là mục đích của đời tôi, vì nó tôi sẽ cống hiến đời mình ở mọi nơi tôi cư trú. Sứ mệnh này thiêng liêng với tôi, tôi sẽ tìm thấy hạnh phúc trong việc hoàn thành nó.” Với cùng sự sốt sắng trước đó mang anh đến Palestine rồi Galilee, giờ đây David chuyên tâm với kế hoạch mới này. Để trở thành luật sư, anh đòi hỏi phải có một nền giáo dục mở rộng; để được nhận vào trường đại học, anh phải vượt qua kỳ thi tuyển đầu vào và học ngoại ngữ. Trong khi tiếp tục công việc của lao động nông nghiệp, anh dành phần lớn thời gian ban đêm để học. Thực tế, từ lâu trước khi đến Zichron Ya’akov, David Gruen đã bắt đầu mở rộng kiến thức của mình. Bắt đầu từ Warsaw sáu năm trước, anh đã nỗ lực có được kiến thức rộng lớn. Ngoài học toán với gia sư, anh đọc thêm Goethe, Shakespeare và Tolstoy. Tại Sejera, anh duy trì thói quen chăm chỉ của mình. Nhà ở hiếm hoi, anh tìm thấy một kho chứa thóc phía sau hàng rào kibbutz, dựng một chiếc giường ở góc kho, và vào những buổi chiều khi không phải dạy tiếng Hebrew cho các bạn lao động, anh sẽ nghỉ sớm một tiếng. Vào cuối mùa đông, đã có những tin đồn giữa những người lao động rằng David biết tiếng Ả-rập và thậm chí còn đọc kinh Koran. Lời đồn không thật sự chính xác, và chắc chắn đã bị thổi phồng. Nhưng nó https://thuviensach.vn tô đậm khao khát khai sáng và học hỏi của David Gruen, và những nỗ lực của anh để giành lấy chúng, bất chấp hoàn cảnh. Giữa năm 1910, David được Yitzhak Ben-Zvi thông báo rằng anh đã được chọn phục vụ trong ban biên tập tờ Ahdut (“Thống nhất”), tờ tạp chí chính thức của đảng Poalei Zion. Rachel Yanait và Yitzhak Ben-Zvi đã thúc giục hội nghị Poalei Zion tổ chức vào mùa xuân năm 1910 kết nạp David vào ban biên tập Ahdut. Gruen rất ngạc nhiên khi nghe về việc bổ nhiệm của mình và e ngại đón nhận nó. “Tôi sẽ viết gì đây?” anh hỏi bạn mình, “Tôi không biết viết thế nào, tôi chưa bao giờ viết.” Tuy nhiên, cuối cùng, anh cũng thu xếp tư trang và chuyển đến Jerusalem. Sau này, ở đó anh thỉnh thoảng có cơ hội dành đôi ba tuần làm việc tại một trong những kibbutz. Nhưng vì đến Jerusalem bốn năm sau khi đặt chân lên Palestine, David Gruen đã kết thúc một chương xa hơn trong đời mình. Ý nghĩa thực tế của lý tưởng phục quốc Do Thái và sự thực thi cương lĩnh của nó về mặt cá nhân Ben-Gurion đã trở thành vấn đề của quá khứ. Từ bây giờ trở đi, anh sẽ phải tất bật với việc công: viết, tổ chức và công việc của đảng. Thời gian trôi đi, những ký ức của anh về công việc đồng áng sẽ mang lại ánh hào quang vui sướng kỳ diệu. Những ngày và đêm tại Galilee và Zichron Ya’akov chỉ còn lại trong tâm trí anh như một cuộc sống viên mãn, và anh sẽ nhìn lại thời gian đó với nỗi nhớ và hoài niệm trong suốt phần đời còn lại. https://thuviensach.vn Chương 03. Tha hương Những làn gió đầu tiên của mùa thu thì thầm trên các con phố của Thành Cổ khi David Gruen bắt đầu làm việc tại Jerusalem. Anh hai mươi bốn tuổi, là một thanh niên tóc xoăn, gầy với cặp mắt đen rực lửa, gương mặt tái và hàng ria được cắt tỉa cẩn thận. Anh mặc một chiếc áo rubashka và quần bạc màu, hoặc một bộ com-lê vải flannel dày và đi ủng. Anh không có áo măng tô, và khi gió lạnh thổi qua đồi Judea, anh thường thu mình trong chiếc áo choàng đen mỏng mang đến từ Nga. Chiếc áo choàng vừa là áo măng tô, vừa làm chăn đắp, nhưng nó không đủ ấm cho anh trong những đêm Jerusalem lạnh giá. Gruen thuê căn phòng tồi tàn trong khu ổ chuột còn được gọi là “Sân nhà Floyd”. Đó thật ra là một căn hầm không cửa sổ – ẩm, mốc và thiếu sáng. Anh treo chiếc đèn dầu và mang vào nào hộp nào ván ép để tự đóng một cái bàn, vài chiếc ghế và giường. Những đồng hai mươi xu mới của Gruen đặt ra cho anh vấn đề nan giải: lương tháng của anh chỉ đủ trả tiền thuê nhà và ăn trưa. “Trong thời gian ở Ahdut,” Rachel Yanait nhớ lại, “Ben-Gurion... thật sự luôn bị đói..” Tuy nhiên anh không đơn độc như lúc sống trong những kibbutz. Lần đầu tiên từ khi chia tay Shlomo Zemach, David Gruen có bạn và thiết lập tình bằng hữu khắng khít với họ. Cả hai đều là đảng viên và thành viên ban biên tập Ahdut. Một người là Yitzhak Ben-Zvi, cao, gương mặt nhợt nhạt được tô điểm bởi hàng ria và một chòm râu nhỏ. Lớn hơn Gruen hai tuổi, anh là một trong những người sáng lập Poalei Zion và là thành viên kỳ cựu của thế giới ngầm hoạt động mãnh liệt ở Nga. Người còn lại là Rachel Yanait, một phụ nữ trẻ, mơ mộng, đến Palestine một mình, không xu dính https://thuviensach.vn túi nhưng tràn đầy tinh thần Xiôn nhiệt thành và đem lòng yêu Jerusalem. Hình ảnh của bộ ba bắt đầu quen thuộc trên đường phố Jerusalem. Khi đêm buông xuống, họ tìm đến một tiệm cà phê Ả rập trong khu Thành Cổ nơi tự hào có công nghệ hiện đại nhất: một máy hát phát ra những giai điệu Á Đông. Ba người thường chiếm lấy một bàn trong góc, gọi cho mỗi người một ly cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, và tranh luận nảy lửa về Chủ nghĩa Xiôn. Những cuộc tranh luận này không dừng lại trong tiệm cà phê. Trong nhiều giờ liền, có khi đến sáng, bộ ba vẫn đi dọc theo các con đường Jerusalem và tranh luận về tương lai đất nước. Với sự phấn khích không che giấu, họ nói về một evreyskoye gosudarstvo – một nhà nước Do Thái. Trong suốt những cuộc tranh luận tóe lửa này, David bắt đầu định hình và bày tỏ những quan điểm chính trị xã hội được kết tinh trong suốt bốn năm đi sau chiếc cày. Anh vẫn rụt rè và thu mình, và khi được yêu cầu phát biểu tại một buổi mít-tinh, anh thường nài Rachel hoặc Yitzhak thế chỗ mình. Nhưng khi rốt cuộc đứng lên để trình bày bài diễn văn, câu chữ của anh trở nên trong sáng và lưu loát, và anh thể hiện sự tự tin tuyệt đối. Đầu tiên, anh còn ngại chuyện viết. “Tôi nói với bạn mình rằng tôi chưa bao giờ viết cho một tờ báo, và tôi không biết tôi có hợp với việc đó không... Nhưng một tuần trước kỳ xuất bản số đầu tiên, có điều gì đó thúc giục tôi viết hai bài. Lần ấy, tôi không ký tên.” Chỉ tới số thứ hai của tờ Ahdut, ra một tháng sau đó, anh mới có can đảm ký tên. Đó là một tên mới, một cái tên Do Thái: Ben-Gurion. Có vẻ anh đã lấy nó từ cái tên Yosef Ben-Gurion, người lãnh đạo chính quyền Do Thái tự chủ trong suốt cuộc nổi dậy chống lại người La Mã và được ghi nhận vì lòng can đảm, trung thực, tình yêu cho dân tộc và tranh đấu mãnh liệt vì tự do. https://thuviensach.vn Ben-Gurion ở lại Jerusalem thêm một năm, đều đặn viết cho Ahdut. Lúc ấy, chàng trai trẻ hiểu rằng, người Do Thái chỉ có thể giành lấy Palestine theo cách duy nhất – không bằng ngôn từ, mà bằng hành động. Anh biết rằng sứ mệnh thực tiễn như thế chỉ có thể do người lao động đảm đương. Vì thế họ phải thống nhất được tổ chức, bất luận đảng phái, trong một khuôn khổ hợp nhất, biến họ trở thành đội quân tiên phong sẽ lãnh đạo cả một dân tộc tiến đến việc hiện thực hóa mục tiêu phục quốc Do Thái. Vào thời điểm của những cuộc đấu đá và thù địch dữ dội trong nội bộ đảng, những tầm nhìn như vậy là rất bất thường. Cùng lúc đó Ben-Gurion ủng hộ một cương lĩnh mới, sẽ đóng vai trò tôn chỉ của anh: không phải hoạt động Poalei Zion hay các thành viên của Chủ nghĩa Xiôn sẽ ra lệnh cho hoạt động của giới lao động Palestine. Chính những người lao động tại Palestine sẽ định đoạt số phận của riêng họ. Nếu những người Do Thái tha hương muốn tạo ảnh hưởng cho sự phát triển ở Palestine, họ phải định cư tại đó. Nhiều năm sau, Ben-Gurion nói về công việc của mình cho tờ Ahdut là “một giai đoạn luyện tập chính trị”. Lần đầu tiên, viết lách và tổ chức chính trị trở thành nghề chính của anh. Vào đầu tháng Tám năm 1911, đảng viên tập sự trẻ tuổi này đã vượt qua bài kiểm tra đầu tiên khi, cùng với Ben-Zvi, đến Vienna để đại diện đảng Palestine Poalei Zion tại hội nghị lần thứ ba Công đoàn thế giới của Poalei Zion. Theo như những gì hai đại biểu Palestine lo ngại, tiến trình bắt đầu với một chút rủi ro. Những đại biểu khác tức giận với những nghị quyết mang tính “ly khai” của đảng Poalei Zion Palestine, trình bày cương lĩnh rằng những chính sách thực tiễn của tổ chức lao động tại Palestine không phải do hội nghị quốc tế định đoạt, mà do chính những người lao động Palestine sẽ làm điều đó. Cuối cùng, khi hai đại biểu nhấn mạnh rằng sự thống nhất của những lao động Palestine, bất chấp khác biệt đảng phái, là quan trọng hơn mối liên kết của họ với đảng Diaspora, một cơn náo loạn https://thuviensach.vn đã xảy ra. Hội nghị này sau đó đã thông qua một nghị quyết cáo buộc các đại biểu Palestine tội “ly khai”. Lời kết tội này, và nghị quyết về hai đại biểu Palestine của mặt trận thống nhất các đảng viên Diaspora đã cho Ben-Gurion thấy rõ sự chia rẽ quan điểm giữa các nhà tiên phong tại Palestine và những người Xiôn Diaspora. Nó cho anh thấy rằng nếu muốn đạt được những mục tiêu của mình, anh sẽ phải hành động một mình, thậm chí từ một vị trí thấp kém. Vào một thời điểm nào đó trong tương lai, anh sẽ tiếp quản Phong trào Xiôn Diaspora và khai thác nó vì những mong muốn riêng mình. Từ những ngày ở Sejera, Ben-Gurion đã phát triển ý tưởng “Ottoman-hóa”, tức là, người Do Thái ở Palestine nên từ bỏ quốc tịch nước ngoài của họ và trở thành công dân của đế chế Ottoman. Điều này sẽ cho phép họ làm việc hướng đến sự hiện thực hóa mục tiêu trong khuôn khổ Chính phủ và luật pháp. Theo đó, thành lập tập thể lãnh đạo biết nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và rành luật pháp Ottoman là cần thiết, và Ben-Gurion quyết định rằng bước tiếp theo trong đời anh là học luật và ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ. Trong vòng hai tháng, hai trong số những người bạn thân nhất của Ben-Gurion, Israel Shochat và Yitzhak Ben-Zvi, cũng quyết định học ở Constantinople. Bản thân David cũng đi đến quyết định cuối cùng sau khi cha anh đồng ý gửi cho anh ba mươi rúp một tháng để trả học phí. Vào ngày 7 tháng Mười một năm 1911, Ben-Gurion xuống cảng Salonika, thủ phủ tỉnh Ottoman của Macedonia. Trước khi đăng ký vào khoa luật ở Constantinople, anh định học tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Anh chọn học tại Salonika vì giá sinh hoạt ở đó thấp hơn nhiều so với Constantinople và, trong miêu tả của cá nhân anh, bởi vì “Salonika là một thành phố thuần Do Thái. Vào những ngày đó, là thành phố Do Thái duy nhất trên thế giới.” Những người Do Thái ở Salonika là https://thuviensach.vn một cộng đồng khác thường, và làm Ben-Gurion kinh ngạc, chủ yếu vì nghề nghiệp của họ: hầu hết đều tham gia lao động chân tay nặng nhọc, hầu hết là công nhân bốc vác tại cảng. “Trong thâm tâm, nhiều người nghi ngờ liệu dân tộc Do Thái – bị tách khỏi đất đai và lao động trong hàng trăm năm – có khả năng tạo nên một giai cấp lao động hay không. Ở đây [Salonika] tôi tìm thấy lời đáp cho câu hỏi đó.” Những người Do Thái có học ở Salonika nói tiếng Pháp, nhưng Ben-Gurion lại đến để học tiếng Thổ. Thầy của anh là một người Do Thái trẻ ở khoa luật. Dưới sự hướng dẫn của anh ta, David học tấn tới một cách kỳ diệu. Vào cuối tháng Mười hai, anh đã có thể đọc báo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, bất chấp sự tiến triển này, tâm trạng của Ben-Gurion lại đi xuống. Khoản tiền anh nhận từ cha chỉ vừa đủ sống. Năm anh sống tại Salonika là giai đoạn khổ hạnh và đơn độc tự nguyện. Anh tuyệt đối cô đơn, không có lấy một người bạn để chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc. Bị chia tách khỏi những người Do Thái trong thành phố bởi hàng rào ngôn ngữ và tôn giáo, anh thường ngồi trong phòng, bao quanh bởi từ điển, báo và tạp chí, học từ sáng đến khuya. Nhân cách dị thường của chàng trai trẻ ốm yếu, thấp đậm, đến từ Palestine để học tiếng Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo ra sự quan tâm giữa những người Do Thái ở Salonika. Một người Do Thái gốc Đức, từng xuất bản một cuốn sách về ấn tượng của ông với Salonika, đã không bỏ qua Ben-Gurion. “Có vẻ như có những người mà với họ, ngôn từ là không cần thiết. Với chúng tôi ở đây, ví dụ, là ông Gruen, người vừa mới lôi bảy quyển tạp chí tiếng Do Thái (Hebrew) khỏi túi áo, và sẽ, không nghi ngờ gì, chỉ trở về thế giới thực sau khi đã ngấu nghiến chúng từ A đến Z... Ông Gruen cứ đọc nữa đọc mãi... Chẳng mấy chốc, ông ấy sẽ đứng dậy và đi mất mà không chào hỏi gì. Nhưng không ai vì https://thuviensach.vn thế mà ngạc nhiên, vì, suy cho cùng, đây là Gruen, và mọi người đều biết rõ thói quen của ông.” Với sự trỗi dậy của mùa xuân, “ông Gruen” bắt đầu chuẩn bị cho kỳ thi đầu vào đại học. Anh thiếu một số tài liệu cần thiết để đăng ký, trong đó quan trọng nhất là giấy chứng nhận tốt nghiệp phổ thông. Nhưng với sự giúp đỡ của người bạn tốt Ben-Zvi và tiền của cha anh đã có được giấy chứng nhận tốt nghiệp giả mạo từ một trường trung học Nga. Vào tháng Sáu năm 1912. anh tham gia những bài kiểm tra đầu vào đại học và hoàn thành tất cả một cách thành công. Hai tháng sau, Ben-Gurion đến Constantinople và được nhận vào trường đại học, vốn có cái tên phương Đông cầu kỳ: “Ngôi nhà Thông thái”. Lửa đại bác và tiếng gào xung trận là nhạc nền ghê sợ cho quá trình học của những chàng trai trẻ ở Constantinople. Chỉ mới vài tháng trôi qua kể từ khi xung đột vũ trang giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Ý đạt đỉnh điểm khi quân Ý oanh tạc Dardanelles. Hai tháng sau khi Ben Gurion đến Thổ Nhĩ Kỳ, Cuộc chiến Balkan nổ ra, hủy hoại địa vị của Thổ Nhĩ Kỳ tại châu Âu và mang cuộc chiến đến mọi ngóc ngách của thành phố thủ đô. Ở đường chân trời, những đám mây bão đang tụ họp đe dọa gây nên cuộc thế chiến, trong khi chính quyền đảng Người Thổ trẻ đang dò dẫm một cách ngờ vực. Đế chế Ottoman hùng mạnh, thối nát từ bên trong và bị hủy hoại từ bên ngoài, đang dần tan rã. Ben-Gurion và bạn bè vẫn không tin rằng họ đang sống trong những ngày tháng cuối cùng của một đế chế đang hấp hối và vẫn bám lấy ý tưởng “Ottoman-hóa”. Họ vẫn kiên trì nỗ lực lấy cho được quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ và thậm chí còn chạy theo “mốt” thời trang Thổ Nhĩ Kỳ mới nhất. Ben-Gurion đội một chiếc mũ tarboush dẹp, tỉa ria mép theo kiểu Thổ và may một bộ com-lê kiểu effendis – đuôi tôm đen và áo gi-lê có khuy, kèm túi đựng chiếc https://thuviensach.vn đồng hồ có dây đeo lấp lánh. Nhưng lối làm màu này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Khi Cuộc chiến Balkan nổ ra, hàng trăm sinh viên được gửi ra tiền tuyến và trường đại học bị đóng cửa. Ben Gurion và Ben-Zvi quyết định trở về Palestine cho đến khi trường mở lại. Ngay khi đặt chân xuống cảng Jaffa, Ben-Gurion liền trở lại thành nhà hoạt động đảng, nhà tổ chức và nhà diễn thuyết. Trước khi trở về Constantinople bốn tháng sau, Ben-Gurion bị ốm vài lần. Trước đó anh đã bị suy dinh dưỡng kéo dài, giờ đây còn bị bệnh scurvy, gây ra bởi sự thiếu hụt vitamin trầm trọng. Tình trạng tài chính của anh ở Constantinople thật tồi tệ, vì khoản trợ cấp từ cha không đủ và không đến đều đặn. Anh thường bị đói, và có lúc anh còn loạng choạng trước bờ vực tuyệt vọng. Hầu hết lá thư anh gửi cha đều lặp đi lặp lại điệp khúc: Khi nào thì tiền đến? Avigdor, lúc ấy đang tìm người gả cưới cho con trai và con gái, cũng gặp khó khăn trong việc hỗ trợ tài chính cho David. Trong phút yếu lòng, ông ủng hộ lời đề nghị do Rivka chị gái lớn nhất của David đưa ra, rằng David phải rời Constantinople, từ bỏ Palestine và quay về Nga để xây dựng tương lai ở đó. “Nhiệm vụ con đặt ra cho mình là vấn đề sống còn với con,” David bùng nổ theo lối đầy cảm xúc của anh. “Chỉ có một thứ duy nhất có thể cản con đạt được nó – đó là cái chết.” Thật khó mà đứng vững trước cơn thịnh nộ như vậy. Mặc dù bị đói và ốm đau, David vẫn học giỏi. Anh được điểm cao nhất trong các kỳ thi và rất tự hào khi báo cáo điều này cho gia đình và họ hàng. Nhưng vào cuối tháng Mười hai năm 1913, giữa năm thứ hai, anh lại ốm lần nữa và phải nhập viện tại Constantinople trong thời gian dài. Lần này gia đình anh đến hỗ trợ. Khi xuất viện, họ gửi tiền viện phí và đón anh về Nga trong hai tháng. Anh không thể về thăm Plonsk vì bị xem là kẻ đào ngũ, nhưng có đến Warsaw, Lodz và Odessa, và ở lại cùng chị gái Rivka, người chăm sóc anh một cách chiều chuộng và tận tâm. Thời gian https://thuviensach.vn anh vắng mặt, các bạn bè trung thành ký tên thay cho anh vào giấy điểm danh tại các buổi giảng ở trường đại học. Giữa mùa xuân, anh quay về Constantinople và tham gia lại các kỳ thi với thành công đáng kể. Vào ngày 28 tháng Sáu anh cùng Ben Zvi giong buồm đi nghỉ tại Palestine. Ba ngày sau, khi vẫn trên biển, họ biết việc Thế chiến đã bùng nổ khi hai tàu chiến Đức tham gia truy đuổi con tàu Nga cũ nát đang chở họ. Sau một vòng kiệt sức qua mọi cảng của Địa Trung Hải, cuối cùng họ cũng cập bến Jaffa. Tại Palestine, họ đối diện với cảnh tượng tuyệt vọng và suy tàn. Sau hai tháng ngập ngừng, Thổ Nhĩ Kỳ tham chiến đứng về phía Đế quốc Đức, cùng lúc nỗi băn khoăn, sợ hãi và nghèo khổ lan khắp cộng đồng Do Thái. Một số người chạy trốn khi chính quyền Thổ đầy ngờ vực liên tục ban hành những hạn chế ngặt nghèo lên cộng đồng Do Thái, tịch thu vũ khí, đánh thuế nhập khẩu nặng nề, và bắt đầu trục xuất những người Do Thái có quốc tịch nước ngoài. Toàn bộ dự án định cư có nguy cơ bị phá hủy. Ở London và Cairo, các lãnh đạo Xiôn kêu gọi người Do Thái Palestine đứng về phe Đồng minh. Ben-Gurion và Ben-Zvi phản đối kịch liệt những lời kêu gọi này. Trên tất cả, họ sợ rằng người Thổ Nhĩ Kỳ sẽ trút thù hận lên người Do Thái ở Palestine bằng cách trục xuất tất cả. Ben-Gurion và Ben-Zvi nhanh chóng tham gia Hội nghị Ottoman hóa tổ chức tại Jerusalem và được chấp thuận vào một đội dân quân Do Thái để bảo vệ Palestine. Nhưng đội dân quân này đi đến hồi kết với sự xuất hiện của vị tể tướng hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, Kemal Pasha, người được chỉ định chỉ huy Quân đoàn 04 tại mặt trận Ai Cập. Trên đường tiến về phương nam, Jemal Pasha đập tan bất cứ sự biểu lộ nào của chủ nghĩa quốc gia. Đầu tiên, ông tấn công phong trào quốc gia Ả-rập, treo cổ một số lãnh đạo của nó tại Beirut. Rồi đến lượt Phong trào Xiôn ở Palestine: đội dân quân tình nguyện bị giải tán và Ahdut bị đóng cửa. Jemal Pasha ra lệnh bất cứ ai chứa https://thuviensach.vn chấp tài liệu phục quốc Do Thái sẽ bị xử tử. Rồi đến những vụ bắt bớ. Ben-Gurion cùng Ben-Zvi bị thẩm vấn chi tiết về sự tiếp xúc giữa họ và Phong trào Xiôn. Không lâu sau đó, họ nhận lệnh bị trục xuất khỏi Đế chế Ottoman. Tay bị trói, họ bị tống lên một con thuyền tại bến cảng Jaffa. Theo lệnh trục xuất, lãnh đạo chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ viết: “Trục xuất vĩnh viễn khỏi Đế chế Thổ Nhĩ Kỳ.” Trong thoáng chốc, cả Ben-Gurion lẫn Ben-Zvi đều không tin điều này. Ngược lại, với tinh thần khai phá và lạc quan, họ giong buồm đến Hoa Kỳ trên một con thuyền Hy Lạp xiêu vẹo mang tên Patrus. Đó là chuyến hải trình khắc nghiệt dài một tháng, và điều kiện sống ở khoang hạng ba thật kinh khủng. Nhưng giữa những cơn bão, và thậm chí trong những cơn bão Ben-Gurion vẫn không lãng phí thời gian. Anh đọc vài chương trong những tác phẩm của Hegel ghi chú lại cho hoạt động chính trị ở Mỹ. Trên tất cả, anh đã học tiếng Anh bằng sự siêng năng và nghiêm túc đặc trưng của mình. Cuối cùng, từ trên boong thuyền, Ben-Gurion trông thấy bờ biển New York. Những ấn tượng đầu tiên của anh không tích cực cho lắm: “Đây là tượng Nữ thần Tự do kiêu hãnh, vươn cao từ đại dương ở lối vào Tân thế giới. Và đây là những ‘tòa chọc trời’ lừng danh – những tòa nhà ba mươi tầng. Lạ thay – dù rất cao, trông chúng lại chẳng vĩ đại gì. Vì vài lý do, chúng thật lố bịch, nhìn giống những lồng giam.” Ăn mặc nhếch nhác, Ben-Gurion cùng Ben-Zvi trải qua thủ tục nhập cảnh và cập cảng New York. Những thành viên Poalei Zion chào đón họ, và điều đầu tiên họ làm là tháo những chiếc mũ tarboush Thổ Nhĩ Kỳ khỏi đầu những người mới đến. Việc hai lãnh đạo Xiôn từ Palestine dạo bước trên đường phố New York ăn mặc giống người Thổ không được xem là phù hợp cho lắm. Những chiếc mũ tarboush trở nên hữu dụng hơn ở những cửa hàng phục trang diêm https://thuviensach.vn dúa của Poalei Zion trong những bữa tiệc Á Đông “Oriental Ball” hằng năm của đảng. Đó là đoạn kết phù hợp cho giai đoạn Ottoman trong đời Ben-Gurion. “Bộ đôi Ben”, như cách gọi Ben-Gurion cùng Ben-Zvi của các đồng chí, không lãng phí thời gian trong các buổi mít-tinh và dạo chơi. Họ rất nóng lòng bắt đầu thực hiện kế hoạch mang đến từ Palestine. “Chúng tôi lập tức giải thích rằng chúng tôi đến để tổ chức... những thành viên thành các nhóm Hehalutz (tạm dịch: Người tiên phong) với mục đích di cư đến Palestine và làm việc tại đó,” Ben-Zvi nói lại sau này. “Theo đó, chúng tôi yêu cầu ban lãnh đạo Poalei Zion tổ chức một ‘chuyến tham quan’ nước Mỹ cho hai chúng tôi, để chúng tôi có thể thành lập các nhóm Hehalutz ở mọi nơi...”. “Chúng tôi không biết khi nào sẽ trở về Palestine,” Ben-Gurion nhớ lại, “nhưng chúng tôi hy vọng được hộ tống bởi cả một đội quân tiên phong trong chuyến trở về.” Ben-Gurion cùng Ben-Zvi mua một tấm bản đồ lớn của Hoa Kỳ, xé làm đôi cho mỗi người, và bắt đầu du hành từ thành phố này sang thành phố khác để trò chuyện cùng những thanh niên và thuyết phục họ gia nhập tổ chức mới. Nhưng cục diện chiến dịch mới của họ lại đáng thất vọng. Chỉ vài thanh niên tình nguyện gia nhập Hehalutz. Ben-Gurion dành nhiều tháng đằng đẵng đi hết thị trấn này đến thị trấn khác, nói chuyện trong các hội trường vắng đến ¾ số ghế, và thu nhặt những khoản đóng góp nhỏ nhoi cho tờ tuần san mà đảng sắp phát hành. Đó đây, anh chiêu mộ vài nhà tiên phong mới. Một trong số những người bị thuyết phục bởi lòng nhiệt huyết của anh là một phụ nữ trẻ từ Milwaukee có tên Goldie Mabovitch, sau này được biết với tên Golda Meir. Trong những năm tháng chiến tranh, có một số nỗ lực với chủ trương về “đạo quân lao động” chinh phạt Palestine. Trung tâm của Phong trào Xiôn dành cho mọi ý định thực tiễn tại London, và tâm https://thuviensach.vn trạng thường trực ở đó là Vùng đất Israel sẽ được quân đội Đồng minh chiến thắng trao tặng cho người Do Thái như một phần của thỏa hiệp chính trị hậu chiến. Cùng lúc đó, một lãnh đạo Xiôn trẻ tên Vladimir Jabotinsky rất tích cực trong việc quảng bá chủ trương của một Binh đoàn Do Thái để giành Palestine từ tay quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và giành lấy nó cho người Do Thái. Ý tưởng sau ít thu hút sự quan tâm ở Hoa Kỳ, vốn chưa tham chiến, và ý tưởng đầu tiên thì ít kêu gọi hoạt động từ phần đông người Do Thái. Tuy nhiên Ben-Gurion phản đối cả hai về mặt nội dung. Vào tháng Chín, anh viết: “Có nhiều cách để chinh phục một quốc gia. Nó có thể bị chiếm đoạt nhờ sức mạnh vũ trang, nó có thể được giành lấy nhờ mưu mẹo chính trị hay thủ đoạn ngoại giao, nó thậm chí có thể được mua bằng tiền... Tất cả phương pháp này đều có mục tiêu duy nhất – là nô dịch hóa và khai thác cư dân địa phương. Chúng ta, tuy nhiên, đang tìm kiếm thứ rất khác biệt tại Palestine – một quê hương. Một quê hương thì không được trao hay nhận như một món quà, nó không thể bị sở hữu bởi vàng hay chinh phục bằng sức mạnh nắm đấm, mà nó phải được xây dựng trên mồ hôi nước mắt. Chúng ta sẽ nhận lại vùng đất của mình không phải từ một hội nghị hòa bình... mà từ những người lao động Do Thái sẽ cắm rễ trên vùng đất đó, hồi sinh nó và sống trong nó. Vùng đất Israel sẽ là của chúng ta khi đa số công nhân và vệ binh của nó là người của dân tộc ta.” Hai tháng sau, Ben-Gurion trình bày chi tiết quan điểm của anh trong một bài diễn văn dài trước Hội nghị Cleveland của Poalei Zion. Bài phát biểu của anh đã thu hút được một số sự ủng hộ và đồng tình trong nội bộ phong trào, nhưng như chính Ben-Gurion đã nói: “Phong trào Xiôn về tổng thể vẫn còn xa rời viễn cảnh này.” Thực tế, các thành viên của Poalei Zion cũng thế (dù có đồng tình) vì khi Ben-Gurion cùng Ben-Zvi đánh giá cục diện những nỗ lực của https://thuviensach.vn mình, họ phát hiện mình đã chiêu mộ được không quá 150 nhà tiên phong trên khắp Hoa Kỳ và Canada. Để phổ biến quan điểm của mình, “bộ đôi Ben” xuất bản hai cuốn sách. Yizkor (tạm dịch: Kỷ niệm), viết cùng hai thành viên Xiôn khác, kể lại cuộc sống hiểm nguy và cái chết anh dũng của những cảnh vệ đầu tiên ở Palestine, cuốn sách tạo ra cơn địa chấn mạnh đến nỗi họ quyết định viết tiếp quyển thứ hai, Eretz Israel, trong đó miêu tả Vùng đất Israel cho những người Do Thái ở Hoa Kỳ. Nhằm tiến hành cuộc nghiên cứu, Ben-Gurion dành mười ba tiếng mỗi ngày trong Thư viện công cộng New York. Anh cũng tìm đến Thư viện Quốc hội ở Washington, và những trung tâm tư liệu khác. Ủy ban Trung ương đảng cấp cho anh mười đô-la Mỹ một tuần cho đến khi anh hoàn thành cuốn sách. Eretz Israel được xuất bản ngay trong mùa xuân 1918, lúc hàng loạt sự kiện có tầm quan trọng lớn lao trong thế giới Do Thái tạo nên ảnh hưởng sâu sắc trên con đường chính trị của “Bộ đôi Ben”. Trong lúc đó, “quá trình tập sự chính trị” của Ben-Gurion, vốn bắt đầu ở Jerusalem, được tiếp tục ở New York. Anh viết, giảng bài, thu tiền, di chuyển khắp các chi nhánh của đảng trên toàn nước Mỹ để tranh cãi và thảo luận dữ dội tại các hội nghị, hội thảo và mít-tinh. Có những lúc anh thấy mình thuộc về thiểu số, và có ít nhất một lần anh đã bị buộc phải từ bỏ một trong những chức vụ của mình. Anh gặp và làm việc cùng với một số lãnh đạo cao nhất của đảng mình – hẳn thế, của toàn thể phong trào Chủ nghĩa Xiôn – và mặc dù anh vẫn là lãnh đạo hạng hai, tên tuổi anh bắt đầu lan rộng. Thậm chí có những người cho rằng anh đang chuẩn bị bản thân một cách có hệ thống cho vai trò một lãnh đạo chính trị. Người ngồi cạnh Ben-Gurion trong Thư viện công cộng New York là một người Do Thái theo chủ nghĩa xã hội đến từ Nga, tên Lev Deutsch. Theo một câu chuyện, Deutsch từng hỏi một người bạn của Ben-Gurion: https://thuviensach.vn “Chàng trai trẻ đó là ai thế?” Người bạn đáp lại: “Một trong những lãnh đạo phong trào công nhân ở Palestine.” Deutsch kinh ngạc. “Gần như mỗi ngày anh ta ngồi cạnh tôi và đọc sách. Một cách tự nhiên, tôi tò mò muốn biết anh ấy đang đọc gì. Và tôi thấy những cuốn sách đều rất chuyên môn: lịch sử về các đảng phái Hoa Kỳ, hướng dẫn thực tiễn về kỹ thuật chinh phục đám đông, sách thực hành về công cụ quản lý, và nhiều nữa.” Với cường độ hoạt động điên cuồng, Ben-Gurion lặp lại cách sống quen thuộc của mình ở Mỹ. Anh thu mình và hướng nội, và sự cô độc của anh tăng mạnh. Anh chỉ hé lộ những suy nghĩ sâu kín của mình trong những lá thư gửi cha, nhưng anh ngừng viết cho ông khi đường bưu chính bị cắt đứt sau cuộc xâm chiếm Ba Lan của quân Đức. Anh không thật sự có nhiều bạn thân ngoại trừ Ben-Zvi, và anh sống trong một vùng đất mà anh thấy rộng lớn và lạ lẫm. Trong những năm tháng tại Mỹ, anh cảm nhận nỗi khao khát trở lại đối với tình yêu tươi đẹp ấu thơ của anh, Rachel Nelkin. Những lá thư anh gửi nàng từ Hoa Kỳ thật đáng kinh ngạc, nếu ta biết những tục lệ của thời đó: David cầu xin nàng bỏ mọi thứ để đến Mỹ với anh! Nhưng Rachel đã lập gia đình, và việc quay ngược chiều kim đồng hồ là bất khả. Ben-Gurion khi đó ba mươi tuổi, một thanh niên nghiêm nghị tái xanh trong bộ com-lê sờn cũ quen thuộc, khi anh gặp Paulina (“Paula”) Monbaz tại nhà một người bạn chung. Thấp, đeo kính cận cùng gương mặt vuông, Paula không đẹp nhưng cô thẳng tính, đầy sức sống và nghĩ gì nói nấy. Tương phản với chàng trai trẻ sống nội tâm, cô rất cởi mở, tự do, thích có bạn và ham vui. Cô sinh ra trong một gia đình gia giáo ở Minsk, nhưng khi cha mất, gia đình cô lâm cảnh nghèo túng, cô phải ngừng học y và làm y tá trong phòng phẫu thuật của một bệnh viện. Cô không phải một người Xiôn. Vùng đất Israel, Trở về Tổ Quốc, Nhà nước Do Thái – những thứ này https://thuviensach.vn không có ý nghĩa gì với cô. Cô sống trong một thế giới khác, và có lúc, cô còn bị mê hoặc bởi những ý tưởng vô chính phủ. Cô ngưỡng mộ Trotsky, khi đó sống tại New York, và ngồi ở hàng ghế đầu trong những buổi giảng bài của ông này, tưởng tượng rằng ông quan sát thấy sự hiện diện của mình và rằng giữa những bài phát biểu nảy lửa, ông sẽ ném những cái nhìn tình tứ về phía cô. Paula đã hẹn hò với một bác sĩ được vài năm, và họ đã nghĩ tới việc kết hôn. Tuy nhiên, cô bị quyến rũ bởi chàng tiên phong trẻ tuổi đến từ Plonsk. “Bạn phải nhìn thấy bộ dạng của anh ấy cơ!” cô hồi tưởng lại sau này. “Cặp mắt lờ đờ và ăn mặc xoàng xĩnh. Nhưng ngay khi anh ấy cất lời, tôi đã thấy đây là một người đàn ông vĩ đại.” Khi nghe đến những tác phẩm viết lách của anh, cô đã hỏi xem có giúp gì được không. “Nếu cô muốn, vâng, làm ơn” anh đáp. Cô bắt đầu sát cánh cùng anh tại thư viện công cộng vào những buổi chiều và sao chép lại những đoạn văn dài cho anh. Cả hai bắt đầu hẹn hò, và vì cả hai đều không dư dả, họ đồng ý chia sẻ tình phí. Dần dần, họ yêu nhau. Hơn một năm là khoảng thời gian kể từ ngày họ gặp nhau cho đến khi Ben-Gurion cầu hôn. Nhưng kèm theo lời cầu hôn, anh cảnh báo: nếu đồng ý lấy anh, nàng sẽ phải rời bỏ nước Mỹ để khởi hành đến một “vùng đất đói nghèo, nhỏ bé, nơi không có điện, khí đốt hay xe điện.” Paula chấp nhận. Vào buổi sáng ngày 5 tháng Mười hai năm 1917, nàng rời phòng phẫu thuật, lấy áo choàng và lao đến Tòa thị chính New York, nơi Ben-Gurion đang chờ. Cặp đôi bước vào văn phòng đăng ký kết hôn, đóng hai đô la, và các quan chức ở đó tuyên bố Paula Monbaz và Ben-Gurion là vợ chồng. Sau buổi lễ, cô dâu chạy vội về bệnh viện, một ca phẫu thuật khẩn đang chờ nàng, và Ben Gurion thì đến dự một buổi mít-tinh của ban lãnh đạo Poalei Zion. “Tôi đến trễ mười lăm phút, và những anh em ở đó đều ngạc nhiên vì sự lề mề của tôi. Tôi giải thích rằng tôi trễ hẹn vì tôi vừa cưới vợ. https://thuviensach.vn Dĩ nhiên, tất cả đều chúc mừng tôi, ngạc nhiên rằng tôi cưới vợ mà không nói cho ai biết trước cả. Và tôi đã không cưới vợ dưới sự chứng giám của một rabbi.” Tối đó, Paula trở về căn hộ ở chung với những bạn gái, trong khi Ben-Gurion trở về căn phòng sống cùng Ben-Zvi. Chỉ đến cuối tuần tiếp theo cặp đôi mới gặp lại và ra ngoài tìm thuê một căn hộ. Họ tìm thấy một căn ở số 631 Đại lộ Bedford ở Brooklyn. Nhưng họ không ở chung với nhau được lâu. Năm tháng sau khi cưới, họ xa nhau mười tám tháng như hệ quả của đại sự kiện xảy ra vào ngày 2 tháng Mười một năm 1917 – Tuyên bố Balfour. Bản tuyên bố không ngờ đến – xuất hiện dưới hình thức một lá thư từ Arthur Balfour gửi Ngài Rothschild – đã vượt quá những giấc mộng điên rồ nhất của những người Xiôn lạc quan nhất. Nó tuyên bố rằng, “Chính quyền của Nữ hoàng xem trọng sự hình thành một quê nhà dành cho dân tộc Do Thái tại Palestine, và sẽ nỗ lực tối đa để tạo điều kiện thuận lợi cho thành quả của mục tiêu này...” Công trạng dành cho việc đạt được tuyên ngôn này được dành cho Tiến sĩ Chaim Weizmann, người giờ đây đã trở thành lãnh đạo tối cao của Phong trào Xiôn. Năm 1916, khi đang điều hành một phòng thí nghiệm hóa học tại Manchester, Weizmann trình bày trước Bộ trưởng Hải quân Hoàng gia Anh, Winston Churchill, một giải pháp xuất chúng cho vấn đề sản xuất đạn dược: công thức chế tạo hợp chất hữu cơ axeton nhân tạo. Vài tháng sau – theo một giai thoại – tân Thủ tướng Anh, Lloyd George, hỏi Weizmann ông muốn được tưởng thưởng gì cho cống hiến của mình cho cuộc chiến. “Hãy làm gì đó cho dân tộc tôi,” Weizmann đáp – và hỏi xin Palestine. Thật đáng nghi ngờ rằng liệu đây có phải là cách mọi thứ thật sự đã diễn ra hay không, và thật đáng ngờ chuyện người Anh đã chấp thuận yêu cầu đó nếu được đánh giá một cách tỉnh táo trong thời bình. Họ từng giao Palestine cho người Pháp cũng như hứa với người https://thuviensach.vn Ả-rập. Cùng lúc đó, người Anh tỏ ra hồ hởi trong việc giành lấy sự ủng hộ của cộng đồng Do Thái thế giới trong cuộc đấu tranh của họ chống lại khối Quyền lực Trung tâm. Những lãnh đạo của họ đặc biệt quan tâm đến người Do Thái ở Nga và Hoa Kỳ và lo lắng trước sự cảm thông mà nhiều người Do Thái dành cho nước Đức bởi cuộc chiến giữa họ chống lại Nga – vùng đất đàn áp và tàn sát người Do Thái. Từ Lục địa châu Âu xuất hiện tin đồn rằng Đức sẽ sớm thành lập một tuyên bố ủng hộ Phong trào Xiôn và thi hành ảnh hưởng của họ lên Thổ Nhĩ Kỳ để cấp quyền nhập cư và định cư cho người Do Thái. Năm triệu người Do Thái ở Nga, và ở Hungary, Áo cũng như ở Đức đều là nhân tố chính trị không thể bị bỏ qua. Số phận đã đùa giỡn khi chỉ năm ngày sau Tuyên bố Balfour, Chính phủ của Kerensky đã bị cuộc Cách mạng Bôn-sê-vích lật đổ. Một số học giả tin rằng, nếu cuộc cách mạng diễn ra chỉ trước đó một tuần, Tuyên bố Balfour có thể đã bị hoãn lại. Những phân tích như thế thuận lợi cho tầm nhìn muộn sáu mươi năm. Vào thời điểm đó, người Do Thái trên toàn thế giới tung hô Tuyên bố Balfour trong sự say sưa đến điên cuồng. Có lẽ ghi chú nghịch tai duy nhất giữa làn điệp khúc hân hoan là câu nói nhắc lại quen thuộc của Ben-Gurion: “Nước Anh đã không trao trả Palestine cho chúng ta. Thậm chí nếu cả nước (Palestine) bị người Anh chinh phục, nó cũng không là của chúng ta thông qua việc nước Anh tỏ ra ủng hộ và những nước khác đồng thuận... Nước Anh đã làm một cử chỉ cao quý, họ đã công nhận sự tồn tại của chúng ta như một quốc gia và đã thừa nhận quyền lợi của chúng ta với đất nước (Palestine). Nhưng chỉ dân tộc Do Thái mới có thể chuyển hóa quyền này thành thực tế rõ rệt. Chỉ họ, với thể xác và linh hồn, với sức khỏe và vốn liếng, phải xây dựng ‘Ngôi nhà Quốc gia’ và tạo nên sự cứu chuộc quốc gia.” https://thuviensach.vn Quan điểm gai góc của anh không có ý xem thường giá trị chính trị của bản Tuyên bố Balfour. Nhưng trong những tuần ăn mừng say sưa đó, nhiều người đã tưởng Đấng Cứu thế đã đến trong bộ đồ của một quan chức Anh quốc, và mật khẩu của ngày hôm đó là người Do Thái sắp được cứu độ. Ben-Gurion đơn giản là chỉ muốn đặt các vấn đề trong vị trí xác đáng của chúng. Tuyên bố Balfour đã thay đổi các quan điểm của Ben-Gurion về một vấn đề. Với sự tham chiến của Hoa Kỳ, cán cân giờ đây rõ ràng đã nghiêng về phe Đồng minh, và vào cuối mùa hè năm 1917, khi quân đội Anh đứng trước cửa ngõ Palestine, rõ ràng sự thống trị của người Thổ đã đi đến hồi kết. Câu hỏi dành cho Quân đoàn Do Thái giờ đây lại nổi lên lần nữa, và lần này Ben-Gurion tin rằng binh lính Do Thái có mặt trong những người đang hy sinh tính mạng vì sự giải phóng Palestine là rất quan trọng. Tuyên bố Balfour đã đẩy nhanh sự hình thành Quân đoàn Do Thái một cách tự nhiên, và Ben-Gurion đặt mình vào vị trí tiên phong của những người đang đòi hỏi thành lập một đạo quân Do Thái. Anh đến Washington để trình bày ý tưởng trước Louis Brandeis của Pháp viện Tối cao Hoa Kỳ, một trong những nhân cách lỗi lạc của Chủ nghĩa Xiôn tại Mỹ, để tiếp tục đề đạt lên Tổng thống Wilson. Nhưng Wilson bác yêu cầu này, và một nghị quyết chỉ được thông qua khi, nhờ sự thúc đẩy của Vladimir Jabotinsky, những binh đoàn Do Thái mới được thành lập bên trong quân đội Anh quốc. 150 thành viên của Hehalutz giờ đây đã tình nguyện tham gia Quân đoàn Do Thái và, cùng với hai trăm người Palestine tha hương tại Mỹ, họ đã trở thành những hạt nhân của quân đoàn Hoa Kỳ vốn được đổi tên thành Tiểu đoàn Hỏa mai Hoàng gia thứ 39. Vào ngày 26 tháng Tư năm 1918, Ben-Gurion đến căn hộ nhỏ bé tại Brooklyn và báo cho vợ biết anh đã đăng ký vào Quân đoàn Do Thái. Paula bật khóc cay đắng. Đã có mang bốn tháng, nàng lo sợ https://thuviensach.vn phải xa chồng. Việc nhắc nàng rằng trước khi kết hôn, anh đã cảnh báo về ý định của mình và nàng cũng đã đồng ý là vô ích. Nàng cầu xin anh đừng đi, nhưng anh chỉ hứa rằng sau khi nàng sinh con, anh sẽ lập tức mang nàng và con đến Palestine. Vào ngày 28 tháng Năm, Ben-Gurion thề trung thành trong văn phòng của lãnh sự Anh ở New York, và ngày tiếp theo anh khởi hành đến trại huấn luyện của tiểu đoàn ở Windsor, Canada. Khi ấy là mùa xuân ở Mỹ, và cứ ở đâu xe lửa dừng, ở đó lại có hàng đoàn người Do Thái nhiệt thành chào đón các anh hùng đang trên đường giành lại Palestine. Tại Windsor, Ben-Gurion gặp một người lính da nâu trong bộ quân phục Anh. Đó là Yitzhak Ben-Zvi, người đã đến trước đó một tuần. Ben-Gurion khi đó ba mươi hai tuổi, không hẳn còn trẻ, nhưng anh rất hạnh phúc với cuộc sống trong doanh trại. Nhưng binh nhì Ben-Gurion không phải một binh sĩ thông thường. Anh là một nhà hoạt động chính trị giàu kinh nghiệm, một nhà diễn thuyết tài năng, và tên tuổi anh nổi danh giữa những người lính của Quân đoàn Do Thái. Theo lời tâm sự cá nhân, ngay cả những tay cựu tội phạm và những kẻ tính tình hoang dã nhất cũng nể phục anh. Các sĩ quan nhận thấy địa vị đặc biệt của Ben-Gurion và vội vàng đặt con dấu quân đội lên đó. “Sáng nay, tôi được thượng sĩ của đại đội, Wilson, triệu đến để nhận chức vị hạ sĩ. Tuy nhiên, tôi đã từ chối với lòng biết ơn, giải thích rằng tôi sẽ có ích với vai trò lính trơn hơn là mang cấp bậc.” Cuộc nổi dậy thầm lặng của Ben-Gurion sớm kết thúc. Lúc kiểm tra lều, viên thượng sĩ báo cáo về chỉ huy trại rằng “đây là người tốt nhất trong tiểu đoàn Do Thái,” và nói với ông rằng Ben-Gurion đã từ chối cấp bậc hạ sĩ. Viên sĩ quan triệu Ben-Gurion lên và nói rõ rằng “ở nước ngoài sẽ không có ủy viên và binh lính sẽ phải chịu trách nhiệm, vì thế nên chấp nhận sự đề bạt này.” Chấp nhận số https://thuviensach.vn phận và trong chưa đến một tháng, anh đã được thăng cấp lên thành hạ sĩ toàn quyền. Ngày 11 tháng Bảy những binh sĩ lê dương giong buồm đến nước Anh và Palestine trong một đoàn gồm hai mươi con tàu. Vào ngày 22 tháng Bảy, đại đội của Ben-Gurion cập cảng Tilbury, Anh quốc và được trở về doanh trại Hounslow. Ben-Gurion nhận một kỳ nghỉ phép vài ngày, được anh dành để du ngoạn London và gặp gỡ các lãnh đạo Do Thái. Anh đã thất vọng cay đắng khi biết những đơn vị tiền phong của Quân đoàn Do Thái đã bị giữ lại một cách có chủ tâm tại Ai Cập vì Tướng Allenby cùng các sĩ quan của ông phản đối Tuyên bố Balfour và không hề có ý định cho phép người Do Thái đóng vai trò dù là nhỏ nhất trong việc giải giáp quốc gia (Palestine). Tuy nhiên, vào ngày 14 tháng Tám, toàn bộ Tiểu đoàn Hỏa mai Hoàng gia số 39 đã khởi hành đi Ai Cập. Sau hai tuần, họ cập cảng thành phố Port Said. Ben-Gurion rất hào hứng về viễn cảnh gặp lại những người bạn cũ vốn đã lưu lại Palestine trong cuộc chiến. Nhiều người trong số họ giờ đây tình nguyện tham gia tiểu đoàn Do Thái Palestine. Sau một tuần ở Ai Cập, anh rời trại và đến Cairo, nơi tiểu đoàn Palestine đóng quân. Cùng ngày đó, anh bị ốm vì bị kiết lỵ nặng, và nhanh chóng được đưa vào bệnh viện, nơi anh lưu lại trong vài tuần. Ở bệnh viện, anh nhận được một bức điện tín từ Paula báo đã sinh con gái, Ge’ula. Như thường lệ, niềm vui cá nhân của anh được cảm nhận ở tầm vóc quốc gia. “Sự sinh thành của con chúng ta,” anh viết gửi Paula, “xảy ra vào khoảnh khắc vui sướng khi vùng đất của chúng ta đang được lấy lại, và vinh quang của khoảnh khắc này sẽ thắp sáng cho toàn bộ cuộc đời nó.” Cơn bốc đồng tầm quốc gia và những cảm xúc thân mật cá nhân của anh còn được bện vào nhau như mô-típ trung tâm trong những thư tín giữa Ben-Gurion và Paula trong suốt thời gian anh https://thuviensach.vn phục vụ trong Quân đoàn Do thái. Trước khi đến Ai Cập, anh viết cho Paula gần như mỗi ngày. Anh làm nàng choáng ngợp với sự bày tỏ tình yêu nồng cháy, nhưng anh không thể – và cũng không muốn – chia lìa niềm vui cá nhân anh với ước mơ dân tộc. “Anh biết cái giá em đang phải trả bằng tuổi xuân và hạnh phúc của em để đổi lấy anh và những lý tưởng anh,” anh viết cho nàng từ Windsor. “Cái giá quá đắt, và anh không biết nếu anh có thể đền đáp em cách nào xứng đáng. Nhưng đó là sự tàn nhẫn của tình yêu cao cả. Nếu anh ở lại với em bây giờ, anh sẽ không đáng để em mang trong mình giọt máu của anh, và toàn bộ cuộc đời hai ta sẽ thành ra nhỏ mọn và vô nghĩa mất thôi...” Từ những lá thư của nàng, anh biết rằng thật khó để nàng chịu đựng sự xa cách và rằng nàng không tìm thấy an ủi trong những lý tưởng của anh. Để củng cố tinh thần nàng, anh thường xuyên miêu tả tương lai trải hoa hồng đang chờ đón hai người, kết hợp phong cách của một cuốn pam-fơ-lê mang tính cách mạng cùng sự tuôn trào cảm xúc tình yêu: “Anh hiểu em đủ rõ để có niềm tin rằng em sẽ chịu đựng gánh nặng to lớn này và sẽ trèo lên, dẫu có đau khổ và rơi lệ, tới đỉnh núi cao mà ở đó em sẽ trông thấy một thế giới mới, một thế giới của ánh sáng và niềm vui, long lanh lấp lánh tia sáng của một lý tưởng tươi đẹp vĩnh hằng, một thế giới khác đang chờ ở đó, một thế giới của hạnh phúc tối thượng, một vũ trụ tuyệt diệu, một thế giới mà chỉ ít người mới có vinh hạnh bước vào, vì chỉ có những linh hồn tốt đẹp và những trái tim sâu nặng mới được phép tiếp cận, và anh biết rằng tâm hồn em giàu đẹp và tim em đặc biệt đủ lớn cho thế giới đẹp đẽ và cuộc sống tốt tươi mà anh muốn chuẩn bị cho em.” Và còn có những lá thư mà Ben-Gurion hoàn toàn ngã gục trước nỗi nhớ và tình yêu dành cho vợ mình: https://thuviensach.vn “Lần nữa, như một cậu chàng mới lớn, một gã trai trẻ, anh cảm thấy như thể anh đang yêu em lần đầu, và anh tìm kiếm bờ môi em, đôi tay em, và anh muốn siết em vào lòng, để ôm em với đôi tay rực cháy, để đứng cạnh giường em, để hòa quyện và chìm đắm trong vòng tay em, để lãng quên mọi thứ ngoại trừ em, như thế, để được hạnh phúc trong tình yêu say đắm của em – cùng nhau, tay trong tay, môi chạm môi, tim chạm tim, trên chiếc giường trinh nữ của em vốn quá đỗi thiêng liêng với anh.” Nhưng điện tín giữa họ cho thấy sự “nồng cháy cách mạng” này – sự kết hợp của tình yêu dành cho một phụ nữ và tình yêu dành cho một tổ quốc – hoàn toàn một chiều. Paula yêu Ben-Gurion chân thành. Nhưng bất chấp mọi nỗ lực của anh, và cả của chính nàng, nàng không thể vượt qua những vấn đề của một phụ nữ cuồng si, cô đơn và bị bỏ rơi. Nàng cũng không tìm được cách có nhuệ khí đấu tranh cho “lý tưởng cao đẹp” mà anh đã khắc họa cho nàng. Khoảng cách sâu sắc trong tầm nhìn của họ đã chặn đứng sự “hòa hợp tinh thần” mà Ben-Gurion rất mong muốn. Paula luôn cay đắng, hay cáu kỉnh, bị đè nặng bởi cuộc sống thường nhật ở New York, và nhấn chìm bởi cơn khát chồng. Đơn chiếc, nàng phải sinh con, nuôi con, và vượt qua cơn eo hẹp về tiền bạc. Nàng thường miêu tả nỗi đau và những rắc rối của mình trong những lá thư u sầu, trách tội anh đã không yêu thương nàng đầy đủ, nghi ngờ rằng anh đã chán việc viết thư cho nàng mỗi lần thư về muộn. Không khó để hiểu lòng nàng. Paula không phải người Xiôn, và lý tưởng của chồng nàng không thể là nguồn an ủi cho nàng. Nàng yêu Ben-Gurion và dành trọn đời cho anh. Nhưng tình yêu của họ không thể san lấp khoảng trống giữa hai người. Ben-Gurion đã không chịu nổi một thử thách đầu tiên. Trước lúc tiểu đoàn của anh đến tiền tuyến, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã sụp đổ và Palestine bị người Anh cai trị. Chỉ trong ngày 6 tháng Mười một https://thuviensach.vn năm 1918, sau một hành trình kéo dài ba ngày, anh mới đến được Tel Aviv trong kỳ nghỉ phép. Hơn ba năm trước đó, anh đã bị “trục xuất vĩnh viễn”. Giờ đây anh đã quay lại trong vòng tay bè bạn, tự hào và hạnh phúc trong bộ quân phục được gắn hình Ngôi sao David trên ống tay áo. Chuyến tha hương của anh đã chấm dứt, và một chương mới đang mở ra trong đời anh. https://thuviensach.vn Chương 04. Thẻ thành viên số 03 Khi Ben-Gurion nằm trong bệnh viện quân y tại Cairo, anh nhận được quyển tạp chí Ba’Avodah (tạm dịch: Ở chỗ làm), do Liên hiệp Nông nghiệp ở Palestine xuất bản. Nổi bật trong số báo đó là một bài viết dài, có hệ thống của Berl Katznelson với nhan đề “Hướng đến những ngày sắp tới”. Đó là một dạng cương lĩnh, được viết vào lúc bình minh của một thời đại mới trong lịch sử phục quốc Do Thái, và chủ đề trung tâm của nó là việc Palestine sẽ được xây dựng bởi những công nhân nông nghiệp Do Thái. Katznelson nhấn mạnh rằng những công nhân – đội quân tiên phong đích thực của Chủ nghĩa Xiôn – sẽ quyết định con đường mà Phong trào Xiôn quốc tế đảm nhiệm. Ben-Gurion đọc bài viết với sự quan tâm sâu sắc và thấy rằng “trên thực tế, chúng ta cùng chung một tư duy”. Khi đứng dậy từ giường bệnh, anh tìm đến trại lính tiểu đoàn Palestine để tìm Berl Katznelson, người thầy thấp đậm, tóc xoăn của những kẻ tiên phong theo chủ nghĩa xã hội không một xu dính túi, vừa trải qua những năm tháng lê lết khắp Palestine và làm hết việc này đến việc khác. Khi anh tìm thấy Katznelson trong trại, và trình bày về một liên minh của hai đảng Lao động tại Palestine – Poalei Zion và Hapoel Hatzair – Berl nói, “không chút ngập ngừng: ‘Được thôi, hãy đến với những người Hapoel Hatzair.’ Họ đều sống cùng một lều,” ám chỉ các nhóm tiên phong Do Thái lúc bấy giờ nhỏ bé ra sao, “và người Hapoel Hatzair đã đồng ý về ý tưởng thống nhất này.” Khoảng hai tuần sau, cuối cùng tiểu đoàn của Ben-Gurion cũng khởi hành đi Palestine. Một ngày sau khi đến nơi, anh rời trại không phép và loanh quanh ở khu Jaffa để tìm kiếm người ủng hộ ý tưởng https://thuviensach.vn thống nhất. Những hoạt động chính trị của anh đã đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp quân sự của Hạ sĩ Ben-Gurion. Trong chuyến trở về sau khi vắng mặt bốn ngày, anh bị bắt, thẩm vấn và bị phạt giáng cấp thành binh nhì, bị cắt ba ngày lương và chuyển đến một đại đội khác. Nhưng Ben-Gurion không quá phiền lòng vì quyết định này, bởi chỉ vài ngày sau đó, anh nhận được kỳ phép một tháng và lại quay về những hoạt động chính trị của mình. Anh gặp thách thức đầu tiên khi trình bày ý tưởng thống nhất trước đảng của mình, Poalei Zion, tại một hội nghị vào tháng Hai năm 1919. Nhiệm vụ không dễ dàng, vì anh vẫn chỉ là một lãnh đạo khiêm tốn và luôn chống lại giáo điều theo quan điểm xã hội chủ nghĩa của bản thân. Tuy nhiên, anh sở hữu một năng lực đặc biệt là ném mình vào cuộc xung đột với tất cả nhiệt huyết đáng nể của mình. Hội nghị đã quyết định, thông qua đa số phiếu, để ủng hộ đề xuất hợp nhất, nhưng một hội nghị Hapoel Hatzair nhóm họp cùng thời gian lại bác bỏ ý kiến này. Không chịu chấp nhận quyết định đó, Berl Katznelson cùng Ben-Gurion giờ đây triệu tập “tổng hội nghị của công nhân trên toàn Vùng đất Israel”. 81 đại biểu đã nhất trí với kế hoạch hợp nhất do Berl soạn thảo và quyết định đặt tên cho tổ chức mới của họ: Ahdut ha-Avodah (tạm dịch: Thống nhất Lao động). Một trong những nghị quyết quan trọng được thông qua tại hội nghị đã yêu cầu “sự đảm bảo quốc tế cho việc thành lập một nhà nước Do Thái tự do bên trong Vùng đất Israel sẽ tranh đấu vì sự hình thành của một cộng đồng Do Thái trong một quốc gia dưới sự bảo trợ của đại diện Liên minh quốc gia.” Sự thành lập của Ahdut ha-Avodah mới chỉ là thắng lợi một phần, hay chỉ là một bước đến con đường chiến thắng. Vào lúc đó, các phong trào lao động Xiôn chỉ là thiểu số trong Phong trào Xiôn thế giới, và những người lao động Palestine chỉ là thiểu số trong thiểu số đó. Berl Katznelson và Ben-Gurion đã nung nấu https://thuviensach.vn những khát vọng lớn lao hơn nhiều: họ muốn thống nhất giới công nhân Palestine vào tập thể hợp nhất với nhiệm vụ lãnh đạo hoạt động phục quốc Do Thái tại Palestine, cũng như đánh giá những chính sách của Phong trào Xiôn thế giới. Vì mục đích này, việc thống nhất toàn bộ các công nhân tại Palestine vào một tổ chức duy nhất là cần thiết. Ahdut ha-Avodah có tiềm năng trở thành một tập thể như vậy. Nhưng khi việc các thành viên Hapoel Hatzair không chịu gia nhập tổ chức mới trở nên rõ ràng thì nhu cầu thành lập một tổ chức trung ương khác – vượt trên mọi đảng phái – để thống nhất toàn bộ người lao động trên đất nước (Palestine) là cần thiết. Vào tháng Mười hai năm 1920, nguyện vọng này được hoàn thành với sự thành lập Liên đoàn Trung ương của Lao động Do Thái trên Vùng đất Israel, ngày nay được biết đến với tên gọi Histadrut. Ben Gurion, tuy nhiên, không có may mắn được ở trong số những người soạn thảo cương lĩnh cơ bản của liên đoàn. Vào thời điểm đó, anh lại ở nước ngoài, và theo dõi từ xa sự thành lập của tổ chức công nhân vốn rất quan trọng đối với anh. Tuy nhiên, những tháng ở tại Palestine mang đến nhiều niềm vui khác cho anh. Vào chủ nhật ngày 15 tháng Mười một năm 1919, binh nhì Ben-Gurion đứng bến tàu cảng Jaffa ngập tràn cảm xúc khi ôm vợ và đứa con gái mười bốn tháng tuổi, Ge’ula, mà anh chỉ mới gặp lần đầu trong tay. Anh đưa gia đình mình vào một khách sạn và lo mọi nhu cầu của họ với lòng tận tụy đặc biệt, như trách nhiệm của người đàn ông có gia đình. Anh đã không đùa khi hứa với Paula trước lúc nàng khởi hành: “Anh sẽ gửi trứng và sữa, không chỉ để uống mà còn để tắm cho con chúng ta, nếu em muốn... Anh hứa với em, Paula của anh, rằng Ge’ula sẽ có mọi tiện nghi có ở khu Brooklyn và Bronx, ít nhất cho đến khi nó muốn đến Nhà hát Opera Metropolitant.” Khi rốt cuộc cũng nhìn thấy con gái, sự phấn khích của anh thật khó kiềm chế: “Không phải lòng thiên vị của người bố đâu, anh phải nói rằng con bé là một trong những cô gái https://thuviensach.vn nhỏ sáng láng, xinh đẹp, quyến rũ, hấp dẫn và đáng yêu nhất anh từng thấy đấy.” Không lâu sau khi họ đến, Ben-Gurion bị sa thải khỏi quân đội. Trong vài tháng, anh luôn bận rộn với công việc của Ahdut ha Avodah. Tuy nhiên, vào cuối mùa xuân, Ahdut ha-Avodah quyết định gửi anh đến London để thiết lập đầu mối với văn phòng của Liên đoàn Poalei Zion thế giới. Vào đầu tháng Sáu năm 1920, cả gia đình khởi hành. Paula lại có thai và mong chờ sinh hạ vào cuối mùa hè. Khởi đầu năm ấy tại châu Âu đầy giông tố và kịch tính: tương lai thật mờ mịt và nặng gánh. Không lâu sau khi đến London, Ben Gurion để hai mẹ con Paula và Ge’ula lại để đi dự hội nghị Liên đoàn Poalei Zion thế giới tại Vienna. Không khí buổi hội nghị rất căng thẳng, và trước khi kết thúc, Liên đoàn thế giới đã bị chia rẽ giữa phe cánh tả - vốn trung thành với Quốc tế thứ Ba cùng với việc cắt đứt liên hệ với Hội nghị Xiôn thế giới, cũng như với phe cánh hữu, tuân theo đường lối của chủ nghĩa xã hội kết hợp Chủ nghĩa Xiôn của Ahdut ha-Avodah. Ben-Gurion chịu sức ép căng thẳng, vì cuộc chia ly sắp đến và vì anh đang chờ bức điện tín thông báo Paula sắp sinh con. Khi cuộc tranh luận lên đến đỉnh điểm, bức điện tín đến và Ben-Gurion vội về London. Một tuần sau khi anh quay về, Paula đã hạ sinh một đứa con trai. Ben-Gurion đặt tên con là Amos. Sau cơn hưng phấn ban đầu, gia đình Ben-Gurion ổn định chỗ ở trong một căn hộ tí hon tại Maida Vale. Mỗi sáng, Ben-Gurion đi tàu điện ngầm đến văn phòng Poalei Zion và trực tiếp nếm trải cuộc sống đáng thất vọng của một lãnh đạo Xiôn Diaspora. Công việc hằng ngày và sự xa cách Palestine, mọi thứ đang diễn ra thật sự khiến anh trầm cảm. Trong một lá thư bất thường gửi Rachel Yanait, anh tiết lộ những cảm xúc u ám của mình: “Ở London, em https://thuviensach.vn yêu, anh luôn sống trong màn sương buồn tẻ và lạnh lẽo, mặc dù, nói thật lòng, anh chưa thấy một màn sương cho ra hồn... Khi nào, Rachel yêu dấu của anh ơi, thì những văn phòng sẽ bị trục xuất khỏi thế gian này?” Lúc đó, Ben-Gurion thiết lập lại đường dây liên lạc truyền thống với cha và gia đình anh ở Ba Lan và Nga, nhưng có một sự thay đổi xa cách trong mối quan hệ giữa họ. Giờ đây Ben-Gurion nhận trách nhiệm trụ cột của gia đình, hỗ trợ cha và áp đặt ý chí của anh lên họ hàng mình – không ít lần khiến họ nổi giận. Cha và các chị gái cầu xin anh giúp họ di cư đến Palestine, nhưng Ben-Gurion cương quyết từ chối, bảo với cha rằng “câu hỏi này phụ thuộc rất lớn vào tương lai con. Con tuyệt đối chưa biết khi nào mới có thể thu xếp được.” Khi đến Anh, David khuyên giải cơn bất mãn của cha bằng cách đề nghị ông đến sống với họ tại London. Đầu tiên, anh đề nghị ông đến “cùng với dì” (vợ sau của Avigdor Gruen), nhưng rồi anh rút lại đề nghị này và giới hạn chỉ cho mỗi Avigdor, nói rằng anh thiếu tiền trả lộ phí cho “dì”. Thái độ của Ben-Gurion dành cho chị gái Rivka cũng không khá hơn. Bà cầu xin anh giúp bà đến Palestine, tuyên bố bà đã chuẩn bị làm bất cứ công việc gì ở đó. David từ chối thẳng thừng. “Tôi không tin bà ấy có thể lao động, hoặc tìm thấy công việc phù hợp.” Anh chỉ chấp nhận giúp bà nhập cư với điều kiện phải mang một số tiền đủ lớn để sống! Tác giả của những bài viết và bản ghi nhớ quyết liệt ủng hộ nhập cư hàng loạt đã cư xử như một gã tỉnh lẻ bài Chủ nghĩa Xiôn khi đụng chuyện liên quan đến chính gia đình mình. Anh thậm chí còn khuyến khích chị gái mình sống theo cách mà mọi nhà xã hội chủ nghĩa tập sự sẽ đều bác bỏ vì tính chất ăn bám. Quan hệ giữa Ben-Gurion và cha trở nên xấu hơn sau chuyến thăm của Paula đến Plonsk, ban đầu chỉ định trong vài tuần https://thuviensach.vn