🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Tiếng Cú Kêu - Patricia Highsmith
Ebooks
Nhóm Zalo
Patricia Highsmith
Tiếng Cú Kêu
~ The Cry Of The Owl ~ Người dịch: Mai Trang
Phát hành: Bách Việt
Nhà xuất bản Thanh Niên 2019
Chương 1
R
obert tiếp tục làm thêm khoảng một tiếng sau khi tan làm lúc năm giờ chiều. Anh chẳng phải vội về nhà làm gì, hơn nữa ngồi lại bàn làm việc còn giúp anh tránh được đám đông hỗn loạn
trong khoảng thời gian từ năm giờ đến năm rưỡi khi dàn xe nhân viên rời khỏi bãi đỗ của công ty Langley Aeronautics. Robert để ý thấy Jack Nielson cũng làm việc muộn, cả Benson già, người thường ra về cuối cùng. Robert tắt cây đèn huỳnh quang trên bàn mình đi.
“Chờ tôi với,” Jack nói. Giọng anh ta vang vọng trong phòng phác thảo vắng tanh.
Robert lấy áo ra khỏi tủ đựng đồ.
Họ chào tạm biệt Benson và đi ra sảnh tiếp khách với bức tường kính dài dằng dặc, nơi đặt thang máy.
“Vậy là anh đã mua đôi giày không gian này rồi à?” Robert nói. “Ừ.” Jack nhìn xuống đôi chân to bè của mình.
“Buổi trưa anh đâu có đi đôi này đâu đúng không?”
“Không, lúc ấy chúng nằm trong tủ đồ của tôi. Mới đầu đi loại giày này, anh không nên xỏ chúng vào nhiều hơn hai tiếng một ngày.”
Họ vào thang máy.
“Nhìn cũng được đấy,” Robert nói.
Jack cười. “Chúng trông phát gớm, nhưng bạn à, chúng thoải mái lắm. Tôi có chuyện muốn nhờ anh. Anh có thể cho tôi mượn mười đô từ giờ tới ngày lương được không? Ngày hôm nay tình cờ…”
“Ôi, được mà.” Robert rút ví ra.
“Hôm nay là kỷ niệm ngày cưới của Betty và tôi, chúng tôi định ra ngoài ăn tối, nhưng anh có muốn ghé qua uống một ly với chúng tôi không? Chúng tôi sẽ khui một chai sâm-panh.”
Robert đưa cho anh ta mười đô. “Kỷ niệm ngày cưới - anh và Betty phải ăn mừng riêng chứ.”
“Thôi mà. Chỉ một ly sâm-panh thôi. Tôi đã nói với Betty là sẽ cố rủ anh tới rồi mà.”
“Không đâu, cảm ơn anh, Jack. Mà anh có chắc số tiền đó là đủ không, nếu anh định ra ngoài ăn tối?”
“Tuyệt đối chắc chắn, vả lại tôi chỉ cần tiền để mua hoa. Sáu đô là đủ rồi nhưng số mười thì dễ nhớ hơn. Tôi đáng ra không cần vay anh đâu nếu như không phải là hôm nay tôi vừa trả nốt khoản tiền mua giày cuối cùng. Bảy mươi lăm đô, tốt nhất là đi chúng phải thoải mái. Ghé qua nhà tôi nhé, Bob.”
Họ đang đứng trong bãi đỗ xe. Robert sẽ không đi cùng anh ta nhưng anh không tài nào nghĩ ra nổi một cái cớ từ chối thích hợp. Anh nhìn khuôn mặt dài, có phần xấu trai của Jack với mái tóc đen nhuốm bạc cắt ngắn hai bên. “Kỷ niệm năm thứ bao nhiêu vậy?”
“Thứ chín.”
Robert lắc đầu. “Tôi phải về nhà đây, Jack. Gửi lời chúc của tôi tới Betty nhé!”
“Năm thứ chín có liên quan gì tới chuyện đó chứ?” Jack nói vọng theo lưng anh.
“Không gì hết! Gặp lại anh ngày mai!”
Robert vào xe và lái đi trước Jack. Jack đã kể là bọn họ có một căn nhà khiêm tốn, tẻ nhạt ở Langley, và cả hai luôn trong tình trạng cạn tiền vì tình trạng ốm đau triền miên của mẹ của Jack và bố của Betty, vậy nên mỗi khi họ nghĩ họ dư ra chút tiền để đi nghỉ dưỡng hay cải thiện nhà cửa thì hoặc mẹ anh ta hoặc bố của Betty chắc chắn sẽ cần đến nó. Nhưng bọn họ có một cô con gái nhỏ năm tuổi và họ hạnh phúc.
Màn đêm nhanh chóng buông xuống, như một đại dương đen ngòm trực trùm xuống Trái đất. Khi Robert lái xe qua các nhà nghỉ, qua các quầy hamburger bên ven đường ở Langley, cơ thể anh
chống đối lại ý nghĩ lái xe vào thị trấn. Đi về đường nhà anh. Anh rẽ vào một trạm xăng, quành xe lại, và quay lại con đường vừa đi qua. Hẳn là do chạng vạng, anh nghĩ thầm. Ngay cả trong mùa hè, khi thời khắc đó tới chậm rãi và dễ chịu hơn, anh đã không thích rồi. Vào mùa đông, trong khung cảnh thiên nhiên Pennsylvania hiu quạnh mà anh không quen thuộc, nó còn đến nhanh một cách đáng sợ, và làm anh thấy trầm cảm. Như cái chết đến đột ngột vậy. Vào thứ Bảy và Chủ nhật, hai ngày không làm việc, anh kéo rèm cửa xuống từ bốn giờ chiều, bật đèn lên, và chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ sau sáu giờ, khi bóng tối đã bao trùm, đã yên vị, đã xong. Robert lái xe tới một thị trấn nhỏ có tên là Humbert Corners, cách Langley khoảng mười lăm cây số, rẽ vào một con đường đá dăm nhỏ hẹp để ra khỏi thị trấn và tiến vào vùng ngoại ô.
Anh muốn nhìn cô gái ấy một lần nữa. Có thể là lần cuối cùng, anh nghĩ. Nhưng trước đây anh cũng đã từng nghĩ vậy rồi, và chưa có lần nào là lần cuối cùng hết. Anh tự hỏi có phải cô gái đó chính là lý do hôm nay anh làm việc muộn một cách không cần thiết, có phải anh ở lại muộn chỉ để đảm bảo trời đã tối khi anh rời khỏi chỗ làm?
Robert bỏ xe lại trên một con đường mòn trong khu rừng gần nhà cô gái và sải bước đi bộ. Khi tới đường vào nhà cô ta, anh đi chậm lại, vượt qua cột bóng rổ ở cuối đường và tiến vào cánh đồng cỏ ở phía sau.
Cô gái lại đang ở trong bếp. Căn bếp rộng bốn mét vuông sáng ánh đèn và thỉnh thoảng bóng cô ta đi qua đi lại trong phòng, nhưng chủ yếu là ở phía bên trái, nơi đặt bàn ăn. Trong tầm mắt của Robert, ô cửa sổ như một ống kính máy ảnh nhỏ xíu. Không phải lúc nào anh cũng tiến lại gần ngôi nhà. Anh rất sợ bị cô ta nhìn thấy, bị cảnh sát lôi đi như một gã nhìn trộm biến thái hay thị dâm. Nhưng tối nay trời đen như mực. Anh tiến lại gần ngôi nhà hơn.
Đây là lần thứ tư hay thứ năm gì đấy anh tới đây. Lần đầu tiên anh nhìn thấy cô ta là khi đang lái xe rong ruổi khắp thôn quê vào một ngày thứ Bảy cuối tháng Chín rực rỡ, ngập nắng. Cô ta đang rũ một cái thảm nhỏ ở hiên trước khi anh lái xe ngang qua, chắc anh chỉ kịp nhìn cô ta tầm mười giây, vậy nhưng hình ảnh ấy gây ấn tượng cho anh như một khung cảnh đã từng thấy, một tấm hình hay
một người mà anh đã gặp đâu đó. Từ các thùng giấy các-tông trên hiên trước và ô cửa sổ không rèm, anh đoán là cô ta chỉ mới chuyển tới. Đó là một căn nhà trắng hai tầng với cửa chớp và viền gỗ màu nâu, rất cần được sơn lại, bãi cỏ thì quá rậm rạp, hàng rào trắng dọc đường vào nhà đã đổ sập và xiêu vẹo. Cô ta có mái tóc màu nâu sáng và khá cao. Đó là tất cả những gì anh có thể nói về cô ta từ khoảng cách mười tám mét. Cô ta xinh hay không anh cũng chẳng rõ, mà điều đó cũng chẳng quan trọng. Vậy điều gì mới quan trọng? Robert không thể diễn tả nổi. Nhưng trong lần thứ hai và lần thứ ba anh nhìn cô ta, mỗi lần cách nhau từ hai đến ba tuần, anh đã nhận ra mình thích điều gì ở cô ta. Đó là vẻ ngoài điềm tĩnh của cô, tình yêu hiển hiện mà cô ta dành cho ngôi nhà tương đối xập xệ của mình, cùng sự mãn nguyện với cuộc sống của cô ta. Tất cả những điều đó anh đều có thể nhìn thấy rõ qua ô cửa sổ phòng bếp.
Khi còn cách nhà khoảng ba mét, anh dừng lại, và đứng sát rìa vùng ánh sáng phát ra từ cửa sổ. Anh nhìn sang hai bên và đằng sau lưng. Ánh đèn duy nhất gần đó ở ngay sau lưng anh, từ bên kia cánh đồng xa xôi, có thể phải cách đến hai mét, từ một ngọn đèn lẻ loi sau cửa sổ của một nông trại. Trong bếp, cô gái đang chuẩn bị bàn ăn cho hai người, điều đó có nghĩa là nhiều khả năng bạn trai của cô ta sắp ghé qua ăn tối. Robert đã thấy cậu ta hai lần, một thanh niên cao ráo với mái tóc đen gợn sóng. Họ từng hôn nhau một lần. Anh đoán là họ yêu nhau, có thể sẽ kết hôn, và hy vọng cô gái được hạnh phúc. Robert di chuyển lại gần hơn, lê chân để không dẫm lên một cành cây nào, rồi đứng lại, một tay nắm lấy một cành cây khẳng khiu.
Tối nay cô gái đang rán gà. Có một chai rượu vang trắng trên bàn. Cô ta đeo tạp dề để bảo vệ bản thân, nhưng Robert nhìn thấy, cô ta giật mình và xoa cổ tay lên chỗ vừa bị mỡ gà bắn phải. Anh có thể nghe thấy tiếng bản tin phát ra từ cái đài radio nho nhỏ trong bếp đang phát bản tin. Lần trước anh ở đây, cô gái đã cất giọng hát theo một giai điệu trên đài. Giọng cô ta không hay cũng chẳng dở, chỉ tự nhiên và chân thật. Cô ta khoảng hai mươi đến hai lăm tuổi, cao tầm một mét bảy, khung xương lớn, bàn chân bàn tay to. Khuôn mặt sáng sủa, thanh tú, có vẻ chẳng bao giờ cau có, mái tóc màu nâu
sáng gợn sóng nhẹ rủ xuống vai. Tóc được chia ngôi giữa và được cài lại bằng hai chiếc kẹp vàng trên tai. Miệng cô ta rộng, mỏng, và thường mang bộ dạng nghiêm nghị rất trẻ con, cũng hệt như đôi mắt xám của cô ta. Mắt cô ta khá nhỏ. Đối với Robert, cô ta hội tụ đủ mọi yếu tố, như một bức tượng được tạc một cách phù hợp. Kể cả đôi mắt của cô ta quá nhỏ thì chúng cũng phù hợp với các bộ phận khác trên cơ thể, và nhìn chung thì anh nghĩ là xinh đẹp.
Bất kỳ lúc nào Robert nhìn cô ta vào buổi tối, lần đầu tiên sau cứ hai đến ba tuần, anh đều thấy chấn động hoặc mê đắm theo một cách khiến tim anh đập gấp gáp trong vài giây. Một tối cách đây khoảng một tháng, dường như cô ta đã nhìn thẳng vào anh qua cửa sổ, lúc ấy trái tim của Robert như ngừng đập. Anh đã nhìn thẳng vào cô ta, không sợ hãi, không cố gắng ẩn núp bằng cách đứng bất động, nhưng trong vài giây ngắn ngủi ấy anh phải đối diện với nhận thức không mấy dễ chịu, là cảm giác hãi hùng khi cô ta nhìn anh, và cả khả năng là cô ta - chuyện này - có thể hỏng bét trong vài phút tới: cô ta sẽ gọi cảnh sát, cô ta sẽ nhìn anh thật kỹ, anh sẽ bị giam vì tội nhìn trộm, đó quả là cái kết ngớ ngẩn cho hết thảy mọi chuyện. May mắn thay, cô ta không hề nhìn thấy anh và việc cô ta nhìn thẳng về phía anh qua cửa sổ chẳng qua chỉ là do tình cờ chứ không vì một nguyên nhân nào khác.
Tên cô ta là Thierolf - nó được ghi trên hòm thư ven đường - và đó là tất cả những chi tiết riêng tư mà anh biết về cô ta. Trừ một việc nữa là cô ta lái một chiếc xe Volkswagen màu xanh dương nhạt. Nó nằm trên lối vào nhà, vì căn nhà không có cái gara nào. Robert chưa bao giờ thử bám theo cô ta vào buổi sáng để xem cô ta làm việc ở đâu. Anh nhận ra niềm vui sướng của mình khi quan sát cô ta cũng phần nhiều gắn liền với ngôi nhà. Anh thích vẻ đảm đang của cô ta, thích nhìn cô ta tìm niềm vui trong việc treo rèm và tranh ảnh. Anh thích nhất là ngắm cô ta làm việc lặt vặt trong bếp, một điều thật may mắn vì căn bếp có ba cửa sổ, tất cả đều bị cây cối che khuất một phần, tạo thành chỗ ẩn náu cho anh. Trên khoảng đất này còn có một nhà kho nhỏ cao tầm hai mét, cộng thêm cột bảng rổ đã hỏng ở cuối đường vào nhà, nó đã từng một lần che chắn cho anh
khi bạn trai của cô ta xuất hiện trên đường vào nhà với đèn pha sáng choang.
Có lần Robert đã nghe cô ta gọi cậu ta là “Greg! Greg!” khi cậu ta đang ra khỏi nhà. “Em cần cả một ít bơ nữa! Trời ơi, trí nhớ của em chán thật!” Và Greg đã lái xe đi mua những món bị quên.
Robert tựa đầu vào tay và nhìn cô gái lần cuối. Giờ cô ta đã làm xong việc và đang dựa vào kệ bếp cạnh bếp lò, hai chân vắt chéo, mắt nhìn chằm chằm xuống sàn với biểu cảm xa xăm như thể đang nhìn một thứ cách xa cả dặm. Cô ta cầm một cái khăn lau chén màu xanh dương pha trắng trong đôi bàn tay đang thả lỏng, gần như rũ xuống trước người. Rồi cô ta đột ngột mỉm cười và nâng người dậy, gấp khăn lại, và móc nó lên một trong ba cái móc đỏ gắn trên tường, cạnh bồn rửa. Robert đã nhìn thấy cô ta buổi tối cô ta gắn giá treo khăn lên tường. Giờ thì cô gái đi thẳng về phía ô cửa sổ nơi Robert đang đứng, và anh chỉ có vừa đủ thời gian để kịp tránh ra sau một cái cây nhỏ.
Anh ghét việc hành động như một tên tội phạm, và - đúng lúc đó - anh dẫm lên một cành cây chết tiệt! Anh nghe tiếng đập ở cửa sổ và biết đó là âm thanh gì - một cái kẹp tóc của cô ta va vào kính - và trong giây lát anh nhắm mắt lại vì xấu hổ. Khi mở mắt ra, anh thấy cô đang nghiêng đầu ép vào cửa kính, nhìn sang hướng khác, về phía lối vào nhà. Robert liếc nhìn cột bóng rổ, tự hỏi có nên lao ra đấy trước khi cô ta ra khỏi nhà không. Rồi anh nghe thấy tiếng đài radio được vặn to hơn và anh mỉm cười. Anh đoán là cô ta cũng sợ hãi nên đã bật radio to hơn để có bạn. Một hành động phi logic nhưng cũng rất logic và thôi thúc người ta thực hiện. Anh hối hận vì đã gây ra khoảnh khắc bất an ấy cho cô ta. Và anh biết đó cũng không phải là lần đầu tiên. Anh là một gã nhìn trộm rất vụng về. Có lần anh đã đá vào một cái can bảy lít cũ ở cạnh nhà, và cô gái, đang ngồi một mình làm móng trong phòng khách, đã nhảy bật dậy và cẩn trọng mở cửa trước, hét vọng ra, “Ai ở đó thế? Có ai ở đó không?” Rồi cửa đóng sập lại và then được chốt. Rồi lần mới đây, vào một tối trở gió, khi một cành cây đập qua đập lại các tấm ván ghép của căn nhà, cô ta đã nghe thấy, bước tới cửa sổ, rồi quyết định không làm gì cả và quay lại xem tiếp chương trình tivi của mình. Nhưng tiếng
xột xoạt vẫn vang lên, cuối cùng Robert đã túm lấy cành cây và bẻ cong nó, cành cây cào qua tường nhà lần cuối. Rồi anh bỏ đi, để cành cây bị quặt xuống nhưng chưa gãy. Giả như sau đó cô ta thấy cành cây và bảo bạn trai mình chú ý đến nó thì sao?
Sự nhục nhã khi bị tóm như một kẻ nhìn trộm thật khó mà có thể tưởng tượng được. Những kẻ nhìn trộm thường ngắm phụ nữ cởi đồ. Bọn chúng cũng có những thói quen trái đạo đức khác nữa, Robert đã nghe nói vậy. Còn thứ mà anh cảm thấy, thứ anh có trong đầu chỉ như một cơn khát khủng khiếp cần được tiếp nước. Anh phải nhìn thấy cô ta, phải quan sát cô ta. Khi thú nhận điều đó, anh cũng đồng thời thừa nhận mình sẵn lòng chịu rủi ro một tối nào đó sẽ bị phát hiện. Anh sẽ mất việc. Bà chủ nhà tốt bụng của anh, bà Rhoads của chung cư Camelot, sẽ phát hãi và bắt anh chuyển đi ngay lập tức. Các đồng nghiệp ở văn phòng - À, trừ Jack Nielson, Robert có thể dễ dàng mường tượng họ nói với nhau, “Không phải tôi vẫn luôn nói gã đó có vẻ gì đấy kỳ kỳ rồi sao?… Có bao giờ chơi poker với chúng ta đâu?” Phải mạo hiểm thôi. Cho dù sẽ chẳng bao giờ có ai hiểu được việc chỉ quan sát một cô gái bình lặng làm việc nhà cũng khiến anh cảm thấy yên bình, khiến anh thấy rằng đối với một vài người cuộc sống cũng có thể có mục đích và niềm vui, và khiến anh đôi phần tin tưởng rằng mình cũng có thể tìm lại được mục đích và niềm vui sống đấy. Cô gái đang giúp anh.
Robert rùng mình, nhớ lại trạng thái tinh thần của mình hồi tháng Chín, khi anh mới chuyển tới Pennsylvania. Anh không chỉ thấy tuyệt vọng hơn bao giờ hết trong đời, mà còn thật lòng tin rằng chút lạc quan ít ỏi còn lại, ý chí cũng như trạng thái tỉnh táo của anh, đang tuột đi như những hạt cát cuối cùng trong đồng hồ cát. Anh phải làm tất cả mọi việc theo lịch trình định trước, như thể đang tham gia vào quân đoàn một người: ăn, tìm việc, ngủ, tắm, cạo râu, rồi lặp lại tuần tự như thế, không thì anh sẽ vỡ vụn thành từng mảnh. Bác sĩ tâm lý của anh ở New York, bác sĩ Krimmler, hẳn cũng sẽ tán đồng, Robert cảm thấy vậy. Họ đã từng nói chuyện vài lần về vấn đề này. Robert: “Tôi có cảm giác rất rõ ràng rằng nếu mọi người trên thế giới này không còn quan sát và theo dõi người khác làm gì nữa thì tất cả chúng ta đều sẽ phát điên lên thôi. Bị bỏ mặc một
mình thì mọi người sẽ không biết phải sống ra sao.” Bác sĩ Krimmler, nghiêm nghị và đầy sức thuyết phục: “Trạng thái bầy đàn mà anh liên tục nói đến này không phải trạng thái bầy đàn thật sự. Đó chỉ là những thói quen mà nhân loại đã sinh ra qua nhiều thế kỷ. Chúng ta ngủ về ban đêm, làm việc về ban ngày. Ba bữa một ngày tốt hơn là một bữa hay bảy bữa. Những thói quen đó giúp xây dựng một tinh thần khỏe mạnh, anh nói đúng.” Nhưng nó chưa thỏa đáng.
Bên dưới đó là cái gì, Robert muốn biết. Sự hỗn loạn? Hư không? Sự độc ác? Sự bi quan và tuyệt vọng cũng hoàn toàn có lý do xác đáng chứ? Hay chỉ là cái chết đơn thuần, sự kết thúc, một sự trống rỗng đáng sợ đến mức không ai thèm nói về nó? Mà thực ra anh cũng không quá nhiệt tình thảo luận toàn bộ suy nghĩ của mình với Krimmler, dù có vẻ như tất cả những gì họ làm là nói chuyện và tranh luận, chẳng mấy khi có khoảng thời gian im lặng. Nhưng Krimmler là một bác sĩ tâm lý chứ không phải chuyên gia phân tích. Dẫu sao đi nữa thì những lập luận của ông ta cũng đã giúp anh, vì Robert đã nghe theo lời khuyên này và sống chuẩn mực, vả lại anh chắc chắn là nó cũng có ích khi anh phải nhận những cuộc gọi từ cô vợ cũ Nickie, bằng cách nào đó mà cô ta đã lần ra anh, có thể là qua công ty điện thoại, có thể là qua một trong những người bạn của họ ở New York mà anh đã báo số điện thoại.
Robert, không thèm liếc nhìn xung quanh, di chuyển từ chỗ ẩn nấp dưới tán cây nhỏ, vòng qua khoảng ánh sáng hình chữ nhật rọi ra từ cửa sổ, hướng về lối vào nhà. Đúng lúc ấy thì một đôi đèn pha tiến đến từ bên phải đường. Bằng hai bước nhảy, Robert đã tới được cột bảng rổ và nấp sau đó, ngay khi chiếc ô tô rẽ vào đường vào nhà. Đèn pha của xe chiếu qua người Robert, chiếu thẳng vào hai mặt của nhà kho rộng mét tám. Nhớ đến các khe hở trên mấy tấm ván cũ, anh cảm thấy bị lộ tẩy, như thể người anh in một bóng đen lên bảng rổ vậy.
Đèn pha tắt ngóm, cửa xe mở ra, rồi đến cửa nhà.
“Chào Greg!” Cô gái nói.
“Chào em yêu. Xin lỗi vì anh đến muộn. Có mang một cái cây cho em này.”
“Ôi, cảm ơn anh. Nó đẹp tuyệt trần Greg ơi!”
Giọng nói dừng lại, bị cắt đứt khi cánh cửa đóng sập. Robert thở dài, không muốn ra về ngay lập tức, dù bây giờ là thời điểm an toàn để anh làm vậy, khi họ vẫn còn đang loay hoay quanh cái cây. Anh muốn hút một điếu thuốc. Anh cũng đã lạnh cóng cả người. Rồi anh nghe tiếng một ô cửa sổ được nâng lên. “Ở đâu? Ngoài này à?” Greg hỏi.
“Ngay ở đây, em đoán thế. Nhưng em chẳng nhìn thấy gì hết.” “À, tối hôm nay là một dịp tốt đấy,” Greg nói vui vẻ. “Trời quang lại tối thui. Có thể sẽ có chuyện gì đó xảy ra.”
“Sẽ không có chuyện gì đâu nếu anh dọa người đó sợ bỏ đi,” cô gái nói, cười, giọng to như đàn ông.
Họ không muốn tìm ai đâu, Robert nghĩ. Ai lại muốn thế cơ chứ? Đôi giày của người đàn ông nện xuống hàng hiên cạnh nhà. Greg đang đi một vòng quanh nhà. Robert nhẹ nhõm khi thấy cậu ta không có đèn pin. Nhưng cậu ta vẫn có thể sẽ đi vòng quanh bảng rổ. Cô gái đang nhìn ra ngoài cửa sổ, nó được kéo lên khoảng hai chục phân. Greg kết thúc việc đi tuần tra quanh nhà và quay vào qua lối cửa bếp. Cửa sổ được kéo xuống rồi lại được Greg nhấc lên, cao hơn lúc trước một chút, rồi cậu ta quay đi. Robert đi từ cột bảng rổ về phía ngôi nhà, chỗ ô cửa sổ đang mở. Anh sải bước một cách gần như ngông nghênh, như để chứng minh cho bản thân thấy rằng anh không bị uy hiếp chỉ vì phải ẩn núp trong vài phút. Anh đứng đúng nơi đã đứng lúc trước, cạnh cái cây nhỏ, cách cửa sổ khoảng một mét. Dũng cảm, anh nghĩ. Đơn thuần là can đảm và liều lĩnh một cách dại dột.
“… cảnh sát,” Greg nói bằng giọng chán chường. “Nhưng để anh nhìn một vòng trước đã. Anh sẽ ngủ trong phòng khách nhé, em yêu, vì ngủ ở đấy anh dễ chạy ra ngoài hơn là ngủ trên gác. Anh sẽ mặc nguyên quần và đi nguyên giày để ngủ, nếu anh tóm được kẻ nào đó…” Nhăn nhó, cậu ta giơ nắm đấm bự chảng của mình lên trước mặt.
“Muốn lấy một thanh củi làm dùi cui hay gì không?” Cô gái hỏi bằng giọng nhẹ nhàng, mỉm cười, như thể hoàn toàn không nhận thức được tính bạo lực trong lời nói của cậu ta. Tuy vậy, cô ta là kiểu
con gái sẽ vẫn mỉm cười và bình thản khi lo lắng, Robert cảm thấy như vậy và anh cũng thích điều đó. Cô ta chẳng bao giờ trông lo lắng. Anh yêu điều đó. Cô ta còn nói thêm điều gì nữa mà anh không nghe được, nhưng anh chắc chắn cô ta sắp đi vào phòng khách để cho Greg xem thanh củi vừa được nhắc đến. Cô ta có một chiếc xô đựng than đen cạnh lò sưởi chất đầy củi.
Tiếng cười của Greg vang vọng từ phòng khách, to và mạnh mẽ. Robert nhún vai, mỉm cười. Rồi anh cởi áo khoác, đút hai tay vào túi quần và ngẩng cao đầu, sải bước rời khỏi nhà, theo lối dẫn vào nhà.
Cô gái sống ở đường Conarack, đi thẳng thêm sáu cây số nữa trên đoạn đường nhiều đồi núi là tới Humbert Corners, nơi mà Robert đoán là chỗ cô làm việc. Robert đi qua Humbert Corners trên đường tới Langley, nơi anh sống, một thị trấn rộng hơn nhiều, nằm ven bờ sông Delaware. Langley nổi tiếng như một trung tâm mua sắm, bản doanh của những nhà phân phối xe cũ lớn nhất quận - “Binh Đoàn Xe Cũ của Red Redding” - và là nơi tọa lạc Langley Aeronautics, nhà máy chế tạo linh kiện cho máy bay tư nhân và trực thăng. Robert đã làm việc ở đó với tư cách kỹ sư công nghiệp từ cuối tháng Chín. Đó không phải là một công việc quá thú vị nhưng được trả lương khá hậu hĩnh, và Langley Aeronautics rất vui khi tuyển được anh vì anh đến từ một vị trí danh giá ở New York, từ một công ty chuyên thiết kế lại máy nướng bánh mỳ, bàn là điện, radio, máy thu âm, và gần như mọi thiết bị điện tử trong một căn nhà Mỹ. Robert đã đem theo một dự án từ New York, dự án hoàn thiện một bộ sưu tập gồm hai trăm năm mươi có lẻ tranh vẽ chi tiết của các loài côn trùng và nhện mà một thanh niên trẻ ở Pháp đã khởi động cho Giáo sư Gumbolowski. Peter và Edna Campell, bạn của Robert, đã giới thiệu anh với vị giáo sư này ở New York, và khăng khăng ép Robert mang các bức tranh vẽ hoa diên vĩ của anh theo vào buổi tối gặp ông. Vị giáo sư cũng mang theo vài bức tranh cho quyển sách mà ông đã ký hợp đồng với một nhà xuất bản Mỹ. Anh chàng người Pháp vẽ các bức tranh đầu tiên và cũng gần như hoàn thành được hơn một nửa số đó thì đã chết. Bản thân chuyện đó đã đủ để khiến Robert từ chối dự án này - không phải vì anh mê tín, nhưng tình
huống ấy có phần ảm đạm và anh đã có đủ sự ảm đạm trong đời rồi. Anh cũng không mê đắm gì loài côn trùng và loài nhện. Nhưng vị giáo sư mê mệt các bông hoa diên vĩ của anh, những bức tranh mà Robert chỉ bất chợt nảy ra ý định vẽ khi nhìn những bông hoa trong căn hộ của anh và Nickie, và ông ta chắc chắn anh có thể hoàn thành bộ tranh của anh chàng người Pháp theo cùng phong cách mà họ đã bắt đầu. Trước khi buổi tối kết thúc, Robert đã nhận dự án đó. Chắc chắn là nó rất khác những gì mà anh đã từng làm trước đó, và anh đang cố tạo dựng cho mình một cuộc sống “khác.” Anh đã chia tay Nickie và đang sống trong một khách sạn ở New York, chuẩn bị nghỉ việc và đang cố chọn một thành phố để tới sống và ổn định lại. Quyển sách côn trùng có thể dẫn tới các dự án khác tương tự, anh có thể mê mẩn hoặc căm ghét nó, nhưng ít nhất thì anh cũng sẽ biết mình muốn gì. Nên anh đã tới Rittersville, Pennsylvania, một thị trấn lớn hơn Langley, ở lại đó mười ngày và hoàn toàn không tìm được công việc nào khả dĩ, sau đó anh chuyển tới Langley để khám phá Langley Aeronautics. Thị trấn buồn tẻ nhưng anh không hối hận vì đã rời khỏi New York. Dù người ta phải mang theo cái tôi cũ kỹ của mình tới bất kỳ nơi nào thì việc thay đổi hoàn cảnh cũng là đủ và có ích với anh. Anh sẽ nhận được tám trăm đô la khi hoàn thành bộ tranh vào cuối tháng Hai. Robert tự đặt chỉ tiêu cho mình phải xong bốn bức tranh một tuần. Anh vẽ lại từ các bản phác họa chi tiết và các bức ảnh phóng to mà giáo sư đã đưa cho anh. Robert nhận thấy mình thích công việc này và nó giúp anh vượt qua những dịp cuối tuần dài đằng đẵng.
Robert đi vào Langley từ phía đông và lái qua “Binh Đoàn Xe Cũ của Red Redding.” Nơi đây có những chiếc ô tô có mui và không mui đậu thành từng khu hình vuông, được chiếu sáng một cách ma quái bởi những ngọn đèn đường trên những con đường xi măng hẹp chạy giữa các xe. Các cỗ xe trông như một đội quân khổng lồ gồm toàn những chiến binh mặc áo giáp đã chết, liệu những chiếc ô tô này có thể thuật lại trận chiến nào, Robert tự hỏi? Có phải sau một vụ va chạm, chúng được đem đi sửa nhưng chủ xe thì đã chết? Hay một gia đình đã bị phá sản nên phải đem bán xe?
Khu căn hộ Camelot, nơi Robert sống, là một tòa nhà bốn tầng ở mé tây của Langley, chỉ cách nơi anh làm việc gần hai cây số. Hành lang căn hộ được chiếu sáng bởi hai cây đèn bàn rọi qua các chậu cây ráy thơm. Một bảng tổng đài điện thoại bị bỏ quên ở góc nhà nhưng chẳng bao giờ bị tháo ra: Bà Rhoads đã kể với anh là bà nghĩ “người” của bà vẫn thích các đường điện thoại cá nhân hơn, dù chúng không thể nào nhận được tin nhắn. Bà Rhoads sống ở căn phòng bên tay phải của tầng trệt, và bà thường ngồi trong sảnh hoặc phòng khách, nơi cửa luôn được mở khi có người đi ra đi vào. Khi Robert bước vào, bà đã ở trong sảnh và đang tưới nước cho các chậu ráy thơm từ một cái bình đồng.
“Chào buổi tối, cậu Forester. Tối nay cậu thế nào?” Bà hỏi. “Cháu khỏe, cảm ơn bà,” Robert nói, mỉm cười. “Còn bà thì sao?”
“Cũng tốt. Tối nay cậu làm việc muộn à?”
“Không, cháu chỉ lái xe loanh quanh thôi. Cháu thích ngắm nhìn cảnh đồng quê.”
Rồi bà hỏi lò sưởi phòng anh có đủ ấm không, và Robert trấn an bà là mọi chuyện vẫn ổn, dù anh không hề chú ý gì đến cái lò sưởi đó hết. Rồi anh lên gác. Có sáu đến tám căn hộ trong tòa nhà này, và không có thang máy. Căn hộ của Robert nằm ở tầng trên cùng. Anh không hề gặp rắc rối trong việc kết bạn với những người còn lại - hai chàng trai trẻ độc thân, một cô gái tuổi đôi mươi, một quả phụ trung niên đi làm từ rất sớm - nhưng anh vẫn gật đầu và chào hỏi mỗi khi chạm mặt bất kỳ ai. Một trong hai chàng trai, Tom Shive, còn từng rủ anh đi chơi bowling, và Robert đã nhận lời. Bà Rhoads cũng có cái tính hiếu kỳ của một người giữ cửa điển hình, luôn để ý xem ai đến và đi, anh cảm thấy vậy. Nhưng bà cũng tốt tính và thật ra thì anh thấy thích cảm giác có người trong nhà quan tâm, hay ít nhất là có ý kiến về việc anh ở một mình hay ở cùng ai đó, liệu anh sẽ về nhà lúc năm giờ, bảy rưỡi tối, hay một giờ sáng. Cùng khoản tiền ấy, chín mươi đô một tháng, Robert có thể thuê được một căn nhà vừa phải ở đâu đó quanh Langley, nhưng anh không muốn ở một mình. Đến cả đồ nội thất xoàng xĩnh trong căn hộ hai phòng của anh cũng có phần dễ chịu sao đó: có những người khác đã sống ở đây trước
anh, đã xoay sở sao đó để không thiêu rụi cái ghế xô-pha, không gây ra thiệt hại nào lớn hơn một vệt sém thuốc lá trên mặt bàn làm việc, đã đi tới đi lui trên chính tấm thảm màu xanh lục sậm này, và có thể là còn chịu khó hút bụi cho nó vào các ngày thứ Tư và thứ Bảy. Những người khác đã từng sống ở đây trước anh và rồi chuyển tới một nơi nào đó, sống những cuộc sống hoàn toàn bình thường và có thể là hạnh phúc hơn. Anh thuê nhà bà Rhoads theo tháng. Anh không muốn ở lại đây quá một, tối đa là hai tháng nữa, anh nghĩ. Hoặc anh sẽ tìm một căn nhà ở vùng ngoại ô hoặc chuyển tới Philadelphia, nơi Langley Aeronautics đặt nhà máy chính làm công việc lắp ráp. Anh có sáu nghìn đô la trong tài khoản ngân hàng và chi phí tiêu pha của anh ở đây ít hơn ở New York. Anh vẫn chưa nhận được hóa đơn thanh toán thủ tục li dị nhưng Nickie đang xử lý điều đó qua các luật sư của cô ta ở New York. Cô ta sẽ tái hôn và không muốn nhận bất kỳ khoản tiền cấp dưỡng nào từ anh.
Robert bật lò điện trong căn bếp nhỏ của mình lên, nhìn về phía mấy hộp đồ đông lạnh, rồi mở chúng ra và đẩy vào lò mà không thèm làm nóng lò trước. Anh nhìn đồng hồ đeo tay rồi ngồi xuống ghế bành cùng một quyển sách nhỏ về cây cối của Mỹ. Anh đọc về “Cây Du Trơn.” Đoạn văn miêu tả khô khan, chân thực này đọc khá dễ chịu.
Vỏ trong của các cành cây du trơn trước kia được nhai để chữa đau họng. Các cành cây có nhiều lông tơ nhưng không gồ ghề… To, cứng và nặng, nó làm thành các hàng rào.
Anh lật trang một cách sung sướng và đọc tiếp cho tới khi mùi thức ăn cháy khét khiến anh bật dậy khỏi ghế.
Chương 2
M
ười ngày sau, khoảng giữa tháng Mười hai, Jennifer Thierolf và Gregory Wyncoop ngồi uống cà phê trong phòng khách nhà cô và xem một chương trình tivi. Đó là một buổi tối Chủ nhật.
Họ ngồi trên chiếc ghế xô-pha kiểu Victoria cũ mà cô đã mua lại được ở một buổi đấu giá và tân trang lại bằng dầu hạt lanh và đồ giặt vải nhung và họ đang nắm tay nhau. Đó là một bộ phim trinh thám giết người, nhưng không quá hấp dẫn như phần lớn những tập khác của cùng chương trình mà họ đã xem.
Jenny lơ đãng nhìn màn hình. Cô đang nghĩ về quyển sách mình đang đọc, The Possessed của Dostoevski. Cô không hiểu Kirilov, ít nhất không hiểu bài diễn thuyết dài dòng cuối cùng của ông ta, nhưng hỏi Greg chuyện đó chẳng để làm gì. Anh nói mình đã đọc cuốn sách ấy, nhưng câu hỏi mà cô có thể hỏi anh, dù rất rõ ràng trước bữa tối, giờ lại có vẻ mù mịt. Nhưng cô không nghi ngờ gì về việc khi đọc xong cuốn sách, hoặc có thể là vài ngày sau khi đọc xong, khi đang rửa bát hoặc lúc ngồi trong bồn tắm một tối nào đó, tất cả mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng và quen thuộc.
“Em đang nghĩ chuyện gì vậy?” Greg hỏi.
Jenny, thấy xấu hổ, ngồi tựa lưng ra sau và mỉm cười. “Chẳng lẽ lúc nào em cũng phải nghĩ tới một chuyện gì đó à? Lúc nào anh cũng hỏi em câu đó.”
“Chừng nào em còn không nghĩ về ngôi nhà rẻ rách này hoặc lo lắng về…”
“Đừng có nói ngôi nhà rẻ rách nữa.”
“Được rồi.” Greg ngả người về phía cô, nhắm mắt lại, và dụi mũi vào cổ cô. Một âm thanh trầm đục vang lên khiến anh bật dậy và lại nhìn màn hình, nhưng không có gì xảy ra hết. “Dẫu sao đi nữa, đây
là một căn nhà cũ và tất cả các căn nhà cũ đều tạo ra những thứ âm thanh kỳ quái hết. Theo ý của anh gác mái kêu cọt kẹt vì toàn bộ phần trên của ngôi nhà đều dịch chuyển theo gió.”
“Em không lo lắng. Chính anh mới là người lo lắng về ngôi nhà này hơn em đấy,” Jenny nói với điệu bộ bất chợt đầy tính chống chế. “Về các tiếng động này à? Còn các tiếng động bên ngoài thì chắc chắn. Anh nghĩ là có kẻ nhìn trộm đấy. Em đã hỏi Susie xem cô ấy có nhìn thấy ai như anh đã dặn em chưa?”
Susie Escham là cô gái sống cùng bố mẹ trong căn nhà cạnh nhà Jenny.
“Em chưa, em quên mất đấy,” Jenny nói.
“Thế thì hỏi cô ấy đi. Ngoài một người lãng mạn như em ra thì có ma mới chuyển vào một căn nhà biệt lập như thế này. Nếu có một trận bão tuyết thực sự lớn, các dây điện đổ sập xuống hết thì em sẽ hối hận đấy.”
“Anh tưởng em chưa thấy vài trận bão tuyết ở Scranton à?” “Nhưng ở Scranton em không sống trong một căn nhà như thế này. Anh biết chắc là thế vì anh đã thấy căn nhà em từng sống.” Jenny thở dài, nghĩ đến căn nhà hai tầng ấm cúng, được chăm chút kỹ lưỡng của bố mẹ cô ở Scranton - được xây toàn bằng gạch và hoàn toàn vững chắc trong gió, tất nhiên. Cô hai mươi ba tuổi, đã bỏ học vào năm thứ ba đại học và làm nhân viên kế toán cho một văn phòng ở Scranton, sống ở nhà tới tận cuối mùa hè năm ngoái. Rồi cô muốn tự mình làm một việc gì đó, và đã đấu tranh xem nên đi tới châu Âu với số tiền đã dành dụm được hay chuyển tới sống ở San Francisco, và rồi cô quyết định chuyển đến một thị trấn nhỏ nên đã chọn Humbert Corners. Cô muốn có một ngôi nhà của riêng mình, một ngôi nhà thú vị mà cô có thể tự trang trí, một ngôi nhà không ở quá gần những căn nhà khác, như kiểu của bố mẹ cô. Vậy nên cô rất thích chỗ này, bất chấp những âm thanh kỳ cục thỉnh thoảng vẫn đánh thức cô dậy giữa đêm và làm cô sợ hãi. “Điều duy nhất phải làm với căn nhà này là quen với nó,” Jenny nói một cách nghiêm trang. “Ngoài ra không có vấn đề gì với căn nhà hết.”
“Được rồi, Jenny, nhưng em đừng nghĩ anh sẽ sống ở đây hay bất kỳ một ngôi nhà nào như thế này một khi chúng ta kết hôn. Và anh hy vọng ta sẽ cưới trước tháng Sáu.”
“Em đâu có bảo anh phải làm vậy, nhưng trong khoảng thời gian đó, em sẽ tận hưởng căn nhà này.”
“Anh biết như vậy, em yêu.” Anh hôn má cô. “Chúa ơi, em đúng là trẻ con.”
Cô không thích điều đó cho lắm. Anh cũng chỉ lớn hơn cô có năm tuổi. “Tin tức kìa,” cô nói.
Đến giữa bản tin, bên ngoài có tiếng nghe như tiếng người ho. Jenny nhảy bật dậy và Greg đứng lên ngay lập tức, cơ thể cao to lao về bếp tìm chiếc đèn pin đang đặt trên bàn. Anh cầm nó trở lại phòng khách và mở cửa trước ra.
“Ai ở ngoài đấy?” Anh hét lên, quét ánh đèn quanh cây đầu xuân trụi lá, cây vân sam cao hai mét, quét dọc đường lái xe vào nhà xuống tới cuối con đường. Anh chuyển ánh đèn sang hướng khác, không thấy gì ngoài hàng rào trắng đã đổ và một cột đèn gỗ cũ kỹ với một cái lồng đèn đã vỡ treo bên trên.
“Có nhìn thấy gì không?” Jenny hỏi, đứng sát sau lưng anh. “Không, nhưng anh sẽ đi nhìn một vòng.” Anh nhảy xuống các bậc thềm phía trước và vòng ra góc nhà, chiếu đèn vào sân sau, rồi chậm rãi tiến lên, cẩn thận nhìn ra sau các hàng giậu cao có thể dễ dàng che giấu một người đàn ông. Anh di chuyển song song với bảng rổ để xem có ai đứng phía sau không. Anh chĩa đèn về phía nhà chứa dụng cụ và đi vòng quanh nó, thậm chí còn nhìn cả vào bên trong. Rồi anh đột ngột chĩa đèn về phía đường vào nhà và chiếu loạn sang hai bên.
“Không có gì. Không một thứ gì hết,” Greg nói khi quay vào nhà. Giờ tivi đã tắt. Một lọn tóc đen loăn xoăn rủ xuống trán anh. “Nghe giống tiếng ho nhỉ?”
“Đúng thế,” cô nói quả quyết, nhưng thờ ơ.
Anh mỉm cười trước vẻ nghiêm trọng và thờ ơ của cô, và anh lại nghĩ đến việc ở lại thêm một đêm. Giá mà họ có thể nằm cùng nhau trên ghế xô-pha trong bộ pyjama - nhưng anh sẽ không thể ngủ
được trừ khi làm tình với cô, và họ đã ngừng việc đó rồi. Họ đã làm việc đó hai lần, và thỏa thuận sẽ đợi tới khi sau kết hôn mới tiếp tục. Một thỏa thuận không chính thức, đặc sệt kiểu Jenny mà anh có thể tìm cách phá vỡ. Nhưng không phải tối nay. Không phải khi có thể có ai đó đang nhìn trộm họ, hoặc đang cố gắng nhìn trộm, qua rèm cửa phòng khách. “Anh có ý này!” Anh đột ngột nói. “Mua một con chó. Anh sẽ mua một con chó cho em. Giống Doberman là tốt nhất. Một con chó giữ nhà.”
Cô dựa vào một cái gối trên ghế xô-pha. “Em không ở nhà nhiều. Làm sao em có thể để một con vật một mình ở đây tám tiếng một ngày được.”
Anh biết việc đó vô vọng rồi. Cô có thể bị thuyết phục trong hầu hết tất cả mọi việc, nhưng anh sẽ không thể khiến cô đổi ý về chuyện động vật, một thứ mà cô nghĩ có thể phải chịu khổ vì cô. “Có thể một con chó nào đó ở trại nhốt động vật hoang sẽ mừng đến chết đi được nếu có một mái nhà - thay vì bị ép phải chết.”
“Ôi, đừng nói về chuyện đó nữa.” Cô đứng dậy và đi vào bếp. Anh nhìn theo cô, ngơ ngác, tự hỏi có phải mình lại vừa khiến cô thấy khó chịu không. Em trai của cô mất cách đây ba năm vì viêm màng não. Jenny đã dành rất nhiều thời gian ở viện với thằng bé. Điều đó đã tác động mạnh mẽ tới cô, quá mạnh mẽ. Anh không bao giờ nên nói đến từ “chết” với cô mới phải.
“Có biết em cảm thấy thích cái gì không?” Cô nói vọng ra từ bếp. “Một cốc sô-cô-la nóng. Anh có muốn một cốc không?” Anh mỉm cười, nỗi lo lắng hoàn toàn biến mất trên gương mặt. “Chắc chắn rồi, nếu em muốn.” Anh nghe tiếng sữa sóng sánh trên chảo, tiếng bật lò điện - món đồ hiện đại duy nhất trong nhà. Anh châm một điếu thuốc và đứng ở cửa bếp, quan sát cô. Cô đang khuấy sữa từ từ. “Anh có biết tội ác kinh khủng nhất mà một người có thể thực hiện là gì không? Em đang nghĩ về nó.” Tội giết người xuất hiện trong đầu anh, nhưng anh mỉm cười và nói, “Là gì?”
“Cáo buộc nhầm một người tội hiếp dâm.”
“Ha!” Anh cười và vỗ lên trán. “Điều gì khiến em nghĩ như thế?”
“Một chuyện mà em đọc được trên báo. Một cô gái nào đó buộc tội một ai đó. Họ vẫn chưa chứng minh được điều đó.” Anh nhìn cô, lúc này đang tập trung khuấy sữa, nhìn từ cơ thể trẻ trung và rắn rỏi của cô xuống đôi giày bệt bằng da lộn màu đen trên chân cô, trông không trẻ con cũng chẳng thanh lịch, mà ở đâu đó giữa hai thái cực. Anh nghĩ, nếu có kẻ dám cưỡng hiếp cô thì anh sẽ giết gã, bóp chết gã một cách sung sướng. “Nói anh nghe, Jenny, em chưa hề nhìn thấy người lạ nào ở quanh đây phải không? Em sẽ kể cho anh nghe đúng không?”
“Tất nhiên là em sẽ làm vậy. Anh đừng có ngớ ngẩn thế chứ.” “Anh không ngớ ngẩn. Em có quá nhiều bí mật, những bí mật nhỏ. Đó là điều biến em thành một người phụ nữ thú vị đến thế.” Anh vòng tay ôm lấy cô từ sau lưng và hôn lên sau đầu cô. Cô cười, một tiếng cười chậm rãi, e thẹn. Cô quay người lại, vòng tay qua cổ anh và hôn anh.
Họ uống sô-cô-la trong bếp và ăn vài cái bánh quy nâu lấy thẳng từ trong hộp. Greg nhìn đồng hồ đeo tay và thấy đã gần nửa đêm. Anh phải dậy lúc sáu rưỡi để kịp tới Philadelphia trước chín giờ. Anh là một người bán dược phẩm, và ngày nào cũng phải lái xe. Chiếc Plymouth mới của anh chưa gì đã đi được ba nghìn bốn trăm cây số. Anh có một căn hộ trên một gara trên đất của bà Van Vleet ở Humbert Corners, chỉ cách nhà Jenny tám cây số, và khoảng cách đó chẳng đáng là bao khi anh đến gặp cô mỗi tối, một cảm giác sung sướng mê ly sau một ngày lái xe từ hai trăm đến ba trăm cây số. Cũng giống như chính Jenny - một sự đối lập buồn cười với những thứ anh bán cả ngày dài, thuốc ngủ, thuốc tỉnh táo, thuốc giúp người ta dừng việc uống rượu, hút thuốc hay ăn quá nhiều, thuốc kìm hãm một số dây thần kinh và kích thích một số dây thần kinh khác. Người ta hẳn sẽ nghĩ thế giới này đầy rẫy người ốm; không thì anh hẳn đã thất nghiệp. “Chết tiệt!” Jenny đã nói khi lần đầu tiên anh mở vali của mình ra và cho cô xem những món mà anh rao bán. Hàng trăm chai thuốc đủ mọi màu sắc và kích cỡ, tất cả được dán nhãn với những cái tên tự đặt, liệt kê những thành phần không đọc nổi tên. Thứ thuốc duy nhất mà Jenny giữ trong tủ thuốc ở nhà là aspirin, và cô nói mình chỉ uống chúng khoảng hai lần một năm, nếu cảm thấy sắp
bị cúm. Đó là điều anh thích ở cô, một trong những điều anh thích ở cô - cô vô cùng khỏe mạnh. Có thể không được lãng mạn khi thích một cô gái vì cô ta khỏe mạnh, nhưng điều đó khiến Jenny xính đẹp và rạng ngời. Nó cho cô một lợi thế rất lớn so với bất kỳ cô gái nào mà anh từng đi chơi hay yêu đương trước đây. Trước cô mới chỉ có hai người, hai cô gái ở Philadelphia, và cả hai đều ỡm ờ từ chối khi anh cầu hôn. Jenny khiến bọn họ trông thật ốm yếu khi so sánh. Jenny muốn có con. Cô sẽ sinh con ngay sau khi kết hôn. Mẹ của các con mình, Greg thường xuyên nghĩ đến điều đó khi nhìn cô. Anh có thể mường tượng ra cảnh cô với các con của họ, có thể là hai, ba, hoặc bốn đứa, cùng trò chuyện, cùng cười đùa. Cô đối xử với lũ trẻ như là những người trưởng thành dù chúng có hành động ngớ ngẩn, và trên hết là cô luôn kiên nhẫn và tốt tính, không bao giờ nổi giận. Greg nghĩ rằng Jenny sẽ là người mẹ tốt nhất thế giới.
Anh lắng nghe, có phần bực bội với chuyện cô kể về Rita ở ngân hàng. Rita là một người trực điện thoại luôn ăn trưa về muộn, điều đó có nghĩa là Jenny phải phụ trách hộ cô ta và do đó cũng bị lẹm vào chính thời gian ăn trưa của cô, vì cô ăn ngay sau cô ta. Jenny không phàn nàn mà ngược lại, cô luôn cười đùa về chuyện đó và giờ thì cô đang cười vì ông chủ của cô, ông Stoddard, ngày hôm qua đã mời cô đi ăn trưa và cô thì không thể đi cho tới khi Rita quay lại, điều đó làm ông Stoddard cáu tiết và ông ta đã nói chuyện với Rita khi cô ta trở về, tay cầm đầy túi mua sắm, về việc đi ăn lâu hơn một giờ đồng hồ.
Greg khoanh tay lại. Công việc ngớ ngẩn của Jenny đằng nào cũng sẽ không kéo dài lâu. Có thể tới tháng Hai, hoặc tháng Ba, khi họ kết hôn. “Sao ông Stoddard lại mời em đi ăn trưa? Anh không chắc là mình thích chuyện đó đâu.”
“Thôi nào. Ông ấy đã bốn hai tuổi rồi!”
“Kết hôn rồi à?”
“Em không biết.”
“Em không biết à?”
“Em không biết vì em không quan tâm.”
“Đó có phải là lần đầu tiên ông ấy mời em không?”
Greg không biết phải nói gì nữa nên anh im lặng. Một lát sau, anh đứng dậy ra về. Anh dịu dàng hôn cô, đứng lại cạnh cửa bếp. “Đừng quên khóa cửa đấy. Anh đã khóa cửa trước rồi.” “Vâng.”
“Chẳng lâu nữa là đến Giáng sinh rồi.” Họ sẽ đến nhà anh ở Philadelphia trong đêm Giáng sinh và về nhà cô ở Scranton vào ngày Giáng sinh.
“Một Giáng sinh nữa,” cô nói, mỉm cười và thở dài, bằng một giọng điệu chứa vô vàn hàm nghĩa.
“Em mệt rồi đấy. Ngủ ngon nhé. Chào em, em yêu.” Anh lao ra cửa, gần như trượt chân trên các bậc thềm tối om, mò mẫm tìm tay nắm cửa xe.
Gần một tiếng sau đó Jenny vẫn chưa lên giường. Cô dọn dẹp căn bếp một cách hết sức từ tốn, cất từng cái đĩa lại sau khi đã rửa chúng. Cô không nghĩ về bất kỳ một điều gì cả. Thỉnh thoảng những suy nghĩ thú vị và dễ chịu nhất lại đến sau khi cô thử làm như vậy. Tối nay cô cảm thấy mệt mỏi và hết sức mãn nguyện. Suy nghĩ dễ chịu duy nhất xuất hiện với cô như một ảo ảnh hay một bức tranh: một con cá màu sắc rực rỡ như cá vàng, chỉ có điều to và đỏ hơn, bơi qua một rừng cỏ đẹp đẽ dưới nước. Cát vàng rực như thể mặt trời rọi qua làn nước xuống tới tận đáy biển. Nó là một bức tranh êm đềm và tĩnh lặng, đủ để đưa cô vào giấc ngủ. Cô lại nhìn thấy nó khi nhắm mắt lại trên giường.
Chương 3
R
obert đã hy vọng sẽ nhận được một bức thư từ Nickie hoặc luật sư của cô ta vào ngày thứ Bảy, nhưng chẳng có gì đến hết. Anh mang áo sơ mi và khăn trải giường đi giặt, lấy một bộ vest từ
tiệm giặt là, ngồi trong thư viện Langley cổ kính để đọc sách trong khoảng một tiếng, và rồi đi bộ về căn hộ của mình với một quyển tiểu thuyết của John O’Hara và một quyển tiểu sử về Franz Schubert, người mà vì một lý do kỳ lạ nào đó anh đã nghĩ tới trong sáng nay. Từ hai đến hơn bốn giờ chiều, anh vẽ bọ đuôi bật, thành viên của bộ đuôi bật. Một trong các bức phác họa của Giáo sư Gumbolowski về loài bọ đuôi bật khá hấp dẫn, dù hiển nhiên là ông không chủ tâm làm vậy. Hai chân trước của con côn trùng được miêu tả như cử chỉ của một đấu sĩ bò tót chuẩn bị đâm giáo vào một con bò. Robert tự giải trí bằng cách vẽ một bức tranh riêng biệt lên một tấm bưu thiếp, hình bọ đuôi bật đeo bọc đầu gối của đấu sĩ bò tót trên đôi chân gầy nhẳng, đội mũ tam giác, và cầm các mũi phi tiêu có đính tua rua vui nhộn trong tay. Anh gửi nó cho Edna và Peter Campbell kèm lời nhắn: “Đang có những tiến triển rất khả quan! Gửi tình yêu tới cả hai, Bob.”
Điều anh muốn làm là lái xe tới nhà của cô gái. Tính đến giờ đã sáu ngày anh không đến nhà cô ta rồi, và thứ Tư vừa rồi, mà cũng có thể là thứ Ba, khi anh chống lại thôi thúc muốn tới đó, anh đã thề sẽ không đến nó nữa. Đó là một hành động nguy hiểm. Chúa ơi, nếu có ngày Nickie phát hiện ra! Cô ta sẽ cười phá lên, gào rít, và giễu cợt! Anh cảm thấy mình nên cảm ơn thần may mắn của mình vì đến giờ vẫn chưa bị phát hiện, và anh nên chấm dứt. Vậy nhưng nó ảnh hưởng đến anh hệt như cái cách rượu ảnh hưởng đến những kẻ nghiện rượu, anh nghĩ, những người đã thề sẽ từ bỏ rồi vẫn quay lại với thần Lưu linh. Có thể vì chẳng còn điều gì khác lấp đầy cuộc
sống của anh, hiện tại xung quanh anh chẳng còn gì hấp dẫn trừ cô gái mang tên Thierolf ấy. Đó cũng là những gì mà người ta hay nói về những kẻ nghiện rượu, chẳng còn gì thú vị hơn để làm trong đời nên họ cứ uống. Còn điều mà anh cảm thấy, khi đi quanh căn phòng của mình lúc sáu giờ mười phút một tối thứ Bảy, là sự cám dỗ. Anh tự trấn an bản thân là không phải mình không thể kháng cự lại cám dỗ ấy. Cứ đi xem một bộ phim dở tệ nào đó, nếu cần. Hoặc mạnh mẽ hơn, ăn tối ở đâu đó, quay về, và đọc sách cả tối. Viết thư cho nhà Campell và mời họ xuống đây chơi một cuối tuần nào đó. Anh không thể mời họ ở lại nhà được, nhưng khách sạn Putnam không phải là một chỗ tồi. Đẩy cô gái ra khỏi tâm trí mình đi. Những hành động điên rồ như là thăm dò một cô gái ở nhà cô ta không thể xem là góp phần tạo dựng một cuộc sống ngăn nắp gọn gàng được. Hay tăng cường sức khỏe tinh thân. Robert khẽ cười. Nó đi ngược với mọi yêu cầu của bác sĩ.
Giờ trời đã tối om. Sáu giờ mười tám phút. Anh bật đài radio lên nghe tin tức.
Anh ngồi xuống tràng kỷ, vừa nghe các tin tức tóm tắt vừa đấu tranh xem tối nay có nên đi hay không. Lần cuối này thôi. Có thể cô ta không ở đó, vì tối nay là tối thứ Bảy. Robert nhận thức rõ là một phần não bộ của anh đang lập luận như một diễn giả hùng hồn đứng dậy phát biểu khi phải im lặng một lúc lâu: “Đi thêm một lần nữa thì có làm sao? Đến giờ mày đã bị bắt đâu. Cô ta mà nhìn thấy mày thì có gì nghiêm trọng? Trông mày đâu có giống một gã tâm thần.” (Giọng nói thứ hai: “Mấy gã tâm thần có nhất thiết phải trông giống như bị tâm thần không? Chắc chắn là không rồi.”) “Dẫu sao đi nữa, mày đâu có quan tâm xem có bị tóm hay bị nhìn thấy. Mày có gì để mất đâu? Không phải mày vẫn luôn nói như vậy hay sao?” Diễn giả ngồi xuống. Không, đó không phải là điều anh vẫn luôn nói, và anh cũng lo lắng việc bị cô gái nhìn thấy. Vậy nhưng ở nhà tối hôm đó cũng giống như đi chết vậy, một cái chết chậm rãi và lặng lẽ, còn được nhìn thấy cô gái giống như sống lại. Robert Forester, mày sẽ chọn phe nào? Sao sống lại khó khăn thế?
Ra khỏi đại lộ chính dẫn ra khỏi Langley, anh rẽ vào con đường hai làn gồ ghề đi tắt tới Humbert Corners. Không có một cây đèn
đường nào ở đây hết, và vì vài tư gia mà anh đi qua đều nằm cách đường rất xa, anh cảm thấy như đang lái xe xuyên qua một thế giới đen kịt. Anh đi với tốc độ dưới sáu mươi cây số một giờ vì phải liên tục tránh ổ gà. Ở Humbert Corners, anh quành qua một khúc quanh, rẽ phải ở trụ sở ngân hàng với hòm thư màu xanh dương-đỏ ở góc, tiếp tục leo lên một ngọn đồi dốc đến mức anh phải chuyển sang số hai. Cuối cùng ngôi nhà tối om với hàng cửa chớp trắng xóa bên trái cũng xuất hiện, điều đó có nghĩa là con đường mòn nơi anh luôn đỗ xe lại chỉ còn cách tầm nửa cây số. Anh đi chậm lại và giảm ánh đèn xuống, cho tới khi chỉ còn lái xe nhờ đèn đường. Anh đi vào con đường mòn khoảng mười mét, dừng xe và ra ngoài, rồi thò tay vào ngăn cạnh cửa để lấy đèn pin. Cứ cách quãng anh lại chiếu đèn pin xuống đường, chủ yếu để xem nên bước chỗ nào để tránh một con xe đi ngang qua, dù những lần tới đây anh thấy có rất ít xe đi ngang qua.
Có một ánh đèn ở cửa sổ trước, cửa sổ phòng khách, và cả ở cửa sổ sau, trong bếp. Robert từ tốn bước đi, đến giờ vẫn nghĩ là mình có thể quay lại, và biết rằng mình sẽ vẫn đi tiếp. Anh loáng thoáng nghe thấy tiếng nhạc cổ điển từ căn nhà - không phải Schubert, cái tên đầu tiên xuất hiện trong đầu anh. Anh nghĩ đó là một bản giao hưởng của Schumann. Anh đi vội qua ánh đèn cửa sổ phòng khách, vòng qua bảng rổ, đi về phía những cái cây nhỏ sau nhà. Anh chưa tới gần hàng cây khi cửa bếp mở ra và có tiếng bước chân bước trên hiên bằng gỗ. Bước chân của cô gái, anh chắc chắn. Cô ta đi về hướng bảng rổ. Cô ta đang cầm một cái giỏ lớn. Một cái khăn choàng cổ màu trắng bay phấp phới sau lưng. Cô ta đặt giỏ xuống và anh nhận ra cô ta sẽ đốt rác trong cái giỏ kim loại nằm phía sau, bên trái con đường lái xe vào nhà. Vì gió thổi, cô ta mất khoảng một phút để châm mồi lửa. Rồi ngọn lửa bùng lên, chiếu sáng mặt cô ta. Cô ta đang đứng đối diện với anh, nhìn chằm chằm xuống ngọn lửa. Họ chỉ cách nhau chừng mười mét. Cô ta cầm giỏ và đổ tất cả chỗ rác còn lại vào ngọn lửa, và nó bùng lên cao đến mức cô ta phải bước lùi lại. Tuy vậy, cô ta vẫn nhìn ngọn lửa chăm chú với vẻ mê mẩn xa xăm mà anh đã thấy rất nhiều lần trên mặt cô khi cô dừng một việc gì đó đang làm dở trong bếp.
Rồi đột nhiên cô ta ngước mắt lên và nhìn thẳng vào anh. Môi cô ta hé ra và cô ta thả cái giỏ xuống. Cô ta cứ đứng đờ ra đó. Vô thức thực hiện một cử chỉ để tỏ ra đầu hàng và xin lỗi, Robert dang rộng hai cánh tay. “Chào buổi tối,” anh nói.
Cô gái thở dốc và trông có vẻ muốn bỏ chạy, dù không hề cử động.
Robert tiến một bước về phía cô ta. “Tên tôi là Robert Forester,” anh thốt ra tự nhiên và rõ ràng.
“Anh đang làm gì ở đây?”
Robert im lặng và bất động, một chân định bước lên mà không dám.
“Anh sống gần đây à?”
“Không hẳn. Tôi sống ở Langley.” Robert cảm thấy phải cầu xin lòng thương hại của cô ta, mà nếu không nhận được thì đành vậy. “Tôi không có ý dọa cô sợ,” Robert nói, vẫn giơ hai tay hai bên người. “Cô có muốn quay vào nhà mình không?”
Nhưng cô gái không cử động. Có vẻ cô ta đang cố ghi nhớ gương mặt anh vào ký ức của mình, nhưng giờ ngọn lửa đã tắt ngóm. Bóng tối trở nên dày đặc giữa họ. Robert không còn đứng trong vùng ánh sáng chiếu ra từ cửa sổ phòng bếp nữa.
“Cứ đứng đó đi,” cô ta nói.
“Được rồi.”
Cô ta bước đi chậm rãi, bỏ cái giỏ lại, suốt quãng thời gian ấy vẫn quan sát anh. Còn Robert, để cô ta có thể nhìn được mình, nhích tới trước để đi qua góc nhà. Cô gái đứng trên hàng hiên, tay đặt trên nắm cửa.
“Anh vừa nói tên mình là gì?”
“Robert Forester. Tôi đoán là cô sắp gọi cảnh sát.”
Cô ta cắn môi dưới, rồi nói, “Anh đã từng tới đây rồi phải không?” “Phải.”
Tay nắm cửa kêu ken két trong tay cô ta nhưng cô ta không mở cửa.
“Tôi đoán là cô muốn gọi cảnh sát. Cứ gọi cho họ đi. Tôi sẽ đợi.” Anh di chuyển để đứng trong ánh đèn lờ mờ tỏa ra từ cửa sổ hông phòng bếp và bình thản nhìn cô gái. Tất cả thật trùng khớp, anh nghĩ - để mình bị phát hiện trong một tối mà anh đã thề sẽ không tới, đứng trong ánh lửa khi mà anh có thể dễ dàng bước lùi vào bóng tối ở mé nhà bên kia, rồi hứa với cô gái là anh sẽ đợi cảnh sát tới.
“Tôi không muốn gọi cảnh sát,” cô ta nói một cách dịu dàng và thành thật, với một giọng mà anh đã nhìn thấy nhưng chưa bao giờ được nghe, “nhưng tôi không muốn một kẻ rình mò quanh nhà mình. Nếu tôi có thể chắc chắn anh sẽ không bao giờ làm phiền tôi nữa…”
Robert khẽ cười. “Tôi có thể đảm bảo.” Anh mừng vì có thể hứa hẹn một điều gì đó với cô. “Tôi rất tiếc vì trước đây đã dọa cô sợ. Rất xin lỗi. Tôi…” Những từ ngữ không dự kiến trước của anh ngừng lại.
Cô gái run rẩy trong gió lạnh. Cô ta không rời mắt khỏi mặt anh nhưng giờ đôi mắt ấy không còn vẻ sợ sệt nữa, mà chỉ có vẻ mãnh liệt và bối rối. “Anh vừa định nói gì thế?”
“Tôi muốn xin lỗi. Tôi thích… tôi thích nhìn cô trong bếp. Nấu ăn. Treo rèm. Tôi không phải đang cố giải thích gì đâu. Tôi không thể. Nhưng tôi không muốn cô thấy sợ hãi. Tôi không phải là một tên tội phạm. Tôi cô đơn, trầm cảm, và tôi đã nhìn một cô gái trong bếp. Cô hiểu chứ?” Trong sự im lặng của cô ta, anh cảm thấy cô ta không hiểu, không thể hiểu. Mà ai có thể chứ? Răng anh va lập cập. Cơ thể anh lạnh vì mồ hôi túa ra. “Tôi không mong cô hiểu được điều đó. Tôi không hy vọng cô sẽ bỏ qua. Tôi chỉ đơn giản muốn cố gắng giải thích nhưng không thể. Ngay bản thân tôi còn không rõ lý do thật sự là gì. Lý do thật sự cả tôi cũng không biết.” Anh liếm đôi môi lạnh cóng của mình. Giờ cô gái sẽ khinh miệt anh. Anh sẽ không bao giờ có thể nghĩ tới cô mà không nhớ tới việc cô ta biết về anh và chán ghét anh. “Có lẽ cô nên đi vào trong nhà. Trời lạnh quá.”
“Tuyết đang rơi,” cô gái nói bằng giọng ngạc nhiên.
Robert nhanh chóng quay đầu về phía đường lái xe vào nhà, thấy có vài bông tuyết nhỏ đang rơi xuống, rồi một nụ cười nở ra trên môi anh. Trận tuyết này có vẻ thật ngớ ngẩn, và đề cập tới nó
vào lúc này còn ngớ ngẩn hơn. “Chúc ngủ ngon, cô Thierolf. Chào tạm biệt.”
“Chờ đã.”
Anh quay lại.
Cô đang đứng đối mặt với anh, tay không còn đặt trên cái nắm cửa nữa. “Nếu anh đang tuyệt vọng, tôi không nghĩ anh nên thấy tồi tệ hơn vì… vì tôi…”
Anh hiểu. “Cảm ơn cô.”
“Cảm giác tuyệt vọng có thể rất khủng khiếp. Nó như một thứ bệnh vậy. Khiến người ta mất trí.”
Anh không biết phải đáp lại như thế nào.
“Tôi hy vọng anh không trở nên quá tuyệt vọng,” cô nói thêm. “Tôi hy vọng cô không bao giờ thấy tuyệt vọng,” anh nói như thể đang ước nguyện. Một ước nguyện không cần thiết, anh nghĩ. “À, tôi từng có lúc như vậy rồi. Cách đây ba năm. Nhưng gần đây thì không, tạ ơn Chúa.”
Âm điệu chậm rãi, nhấn nhá của cô khi nói những từ cuối khiến anh cảm thấy bớt căng thẳng. Cô đã nói bằng giọng điệu như thể với một người quen lâu năm. Làm anh không muốn rời đi.
“Anh có muốn vào nhà không?” Cô hỏi. Cô mở cửa, vào nhà, giữ cửa mở cho anh.
Anh đi về phía cô, trong thời khắc ấy quá sững sờ để làm bất kỳ việc gì khác. Anh bước vào bếp.
Cô cởi áo và khăn choàng trắng, treo chúng vào trong một tủ đồ nhỏ cạnh cửa, liếc nhìn anh qua vai như thể vẫn còn hơi sợ sệt. Anh đang đứng giữa nhà.
“Tôi chỉ nghĩ thật ngớ ngẩn khi đứng nói chuyện ngoài trời lạnh giá như vậy,” cô nói.
Anh gật đầu. “Cảm ơn cô.”
“Anh có muốn cởi áo ra không? Anh có muốn uống một chút cà phê không? Tôi vừa pha đấy.”
Anh cởi áo khoác, lộn ngược nó lại, và vắt nó lên lưng một cái ghế cạnh cửa. “Cảm ơn cô nhiều, nhưng tôi đã ngừng uống cà phê
rồi. Nó làm tôi mất ngủ.” Anh nhìn chằm chằm vào cô một cách khó tin, nhìn mái tóc mềm mại đang ở quá gần với anh, chỉ cách có hai mét, rồi đôi mắt xám với những tia sáng màu xanh dương bên trong. Mọi thứ gần đến nỗi anh có thể chạm vào, cạnh tấm rèm trắng mà anh đã thấy cô treo lên, cánh cửa lò điện mà anh thường xuyên thấy cô cúi xuống để mở ra. Và anh còn nhận ra một điều nữa: cảm giác sung sướng hay thỏa mãn khi được nhìn cô ở khoảng cách gần thế này cũng chẳng nhiều hơn khi nhìn qua cửa sổ, và anh còn lường trước rằng chỉ cần hiểu một chút về cô thôi cũng sẽ làm giảm giá trị và ý nghĩa của cô đối với anh - hạnh phúc, bình yên, không dấu vết của sự căng thẳng.
Cô đang đun bình thủy tinh đựng cà phê. Trong khi nhìn nó, cô cũng quay đầu lại hai đến ba lần để nhìn anh. “Tôi đoán là anh nghĩ tôi bị điên khi mời anh vào nhà,” cô nói, “nhưng sau vài phút, tôi không còn sợ anh nữa. Anh sống ở gần đây à?”
“Tôi đến từ New York.”
“Thật à? Tôi từ Scranton. Tôi chỉ mới đến đây bốn tháng.” Cô rót một tách cà phê.
Thế điều gì đưa cô tới đây, anh đã dợm hỏi vậy. Nhưng anh thậm chí còn không quan tâm muốn biết điều đó. Anh rút một bao thuốc ra. “Cho phép tôi nhé?”
“À, tất nhiên.” Cô lắc đầu khi anh mời cô hút một điếu. “Anh có công việc ở Langley chứ?”
“Có. Tôi làm ở Langley Aeronautics. Trong ba tháng qua. Tôi sống ở khu căn hộ Camelot.”
“Vì sao anh lại rời New York? Tôi cứ nghĩ…”
“Tôi muốn có sự thay đổi. Thay đổi hoàn cảnh.”
“Đó cũng là lý do duy nhất của tôi. Tôi kiếm được nhiều tiền hơn ở Scranton. Mọi người đều nghĩ tôi bị điên mới bỏ việc, nhưng lúc ấy tôi sống ở nhà bố mẹ và tôi nghĩ mình đã hơi già để tiếp tục làm vậy rồi,” cô nói với một nụ cười e thẹn.
Anh ngạc nhiên, ngạc nhiên đến mức im lặng vì sự ngây thơ của cô. Cái cách cô nhả chữ không phải để thêm phần kịch tính mà giống kiểu một đứa trẻ nhả chữ, do vô tình hoặc do thói quen. Cô
hẳn ở độ tuổi chớm hai mươi, anh nghĩ, nhưng cô trông trẻ hơn nhiều, như một thiếu nữ vị thành niên.
Cô mang bình cà phê của mình tới một cái bàn có thể gập lại và đặt nó lên một miếng lót màu xanh dương sậm. “Đây là gạt tàn thuốc,” cô nói, đẩy nó về phía anh khoảng năm phân. “Anh không muốn ngồi xuống à?”
“Cảm ơn cô.” Anh ngồi xuống một cái ghế đối diện với cô. Ngay lập tức, anh muốn đứng dậy, muốn bỏ đi. Anh thấy xấu hổ, và anh không muốn cô gái nhìn thấy sự xấu hổ của mình. Ngay khi hút xong điếu thuốc anh sẽ ra về, anh nghĩ. Anh nhìn bàn tay dài, thả lỏng của cô đang khuấy cà phê bằng muỗng trà.
“Anh có tin vào các cuộc gặp gỡ kỳ lạ không?”
Anh nhìn vào mặt cô. “Ý cô là gì?”
“Ý tôi là - do vô tình, tôi đoán vậy. Như việc tôi gặp anh tối nay. Chúng có mặt trong mọi cuốn sách kinh điển. À thì, không phải tất cả, tôi đoán vậy, nhưng phần lớn. Những người vô tình gặp nhau là do có duyên gặp gỡ. Nó có ý nghĩa hơn nhiều so với việc được giới thiệu cho một ai đó, vì điều đó chỉ đơn thuần là có ai đó đã biết họ rồi và giới thiệu anh cho họ. Tôi đã gặp Greg - hôn phu của tôi - qua Rita, ở ngân hàng nơi tôi làm việc, nhưng vài người bạn thân thiết nhất của tôi là do vô tình gặp gỡ.” Cô nói chuyện một cách chậm rãi và từ tốn.
“Ý cô là - cô tin vào số mệnh.”
“Tất nhiên. Tôi cũng tin việc mỗi người là đại diện cho một điều gì đó.” Mắt cô trông xa xăm và buồn bã.
“Phải,” anh tán đồng một cách mơ hồ, nghĩ rằng trước cuộc trò chuyện này, cô chắc chắn cũng đại diện cho một điều gì đó với anh. Nhưng còn bây giờ? Có vẻ cô không có trí tuệ hay hiểu biết thường thức, chắc vậy, như anh đã đánh giá khi quan sát cô qua khung cửa sổ. “Thế với cô tôi đại diện cho điều gì?”
“Tôi chưa biết. Nhưng là một điều gì đó. Tôi sẽ sớm biết thôi. Có thể là ngày mai hoặc ngày kia.” Cuối cùng cô cũng nhấc tách cà phê của mình lên và nhấp nhẹ. “Hồi tôi thấy tuyệt vọng, đã có một người lạ ở trong nhà tôi, một người bạn của bố tôi ở cùng chúng tôi vài
ngày. Tôi không hề thích ông ta và cảm thấy ông ta đại diện cho sự chết chóc. Rồi một tuần sau khi ông ta rời đi, em trai tôi bị mắc bệnh viêm màng não và ra đi.”
Robert nhìn cô ta chằm chằm, sửng sốt tới mức im lặng. Cái chết là điều cuối cùng anh mong đợi cô ta nói đến. Và lời nói của cô ta gợi anh nhớ tới giấc mơ của chính anh, cái giấc mơ chết tiệt tái diễn liên tục của anh.
“Đối với anh tôi đại diện cho điều gì?” Cô gái hỏi.
Anh hắng giọng, xấu hổ. “Một cô gái với một mái nhà, một công việc - một vị hôn phu. Một cô gái hạnh phúc và mãn nguyện.” Cô ta cười, tiếng cười chậm rãi, dịu dàng. “Tôi chưa từng nghĩ mình mãn nguyện.”
“Tôi đoán là mọi người đều như vậy. Chỉ là đối với tôi thì cô có vẻ như thế. Tôi cảm thấy chán chường và tôi trông cô thật hạnh phúc. Đó là lý do tôi thích nhìn cô.” Anh không còn cảm thấy mình phải xin lỗi hay thấy xấu hổ về điều đó nữa. Cô không phải loại con gái sẽ nghĩ rằng anh đã nhìn trộm cô cởi đồ. Cô có vẻ quá trong sáng để nghĩ vậy.
“Anh thấy tuyệt vọng vì điều gì vậy?” Cô ta hỏi.
“À, không phải chuyện tôi có thể kể được.” Anh cau mày. “Chuyện này sẽ thật khó hiểu trừ phi tôi nói rằng cuộc sống thật vô nghĩa nếu không phải cô sống vì một người khác. Tôi đã sống vì cô từ tháng Chín - dù tôi không hề biết cô.” Anh cau mày nhìn xuống bàn, cảm thấy mình như vừa có một bài diễn văn Gettysburg vậy. Cô gái sẽ cười phá lên, lờ nó đi, hoặc chỉ nói, “Ra vậy.”
Cô thở dài. “Tôi hiểu ý anh. Thật sự hiểu đấy.”
Anh ngẩng lên khỏi bàn, mặt nghiêm nghị. “Cô làm việc ở Humbert Corners à?”
“Phải, trong ngân hàng ở đó. Tôi là người trực tổng đài và tôi cũng giúp xử lý sổ sách, vì tôi đã được đào tạo ngành đó ở đại học. Chuyên ngành của tôi là xã hội học nhưng tôi chưa bao giờ học xong đại học. Tôi đoán mình sẽ là một trong những người lập gia đình đã rồi mới quay lại trường học cho xong.”
Cô ta chắc hơi lười biếng, anh nghĩ, rất dễ gần và lười biếng. “Cô sẽ sớm kết hôn à?”
“Vâng, vào mùa xuân. Greg muốn tổ chức sớm hơn, nhưng sau cùng thì, chúng tôi mới chỉ quen nhau bốn tháng. Tên anh ấy là Greg Wyncoop. Anh ấy bán dược phẩm.”
Robert đột nhiên cảm thấy không thoải mái. “Tối nay cô sẽ gặp anh ta à?”
“Không, tối nay anh ấy đi làm. Mai anh ấy mới quay lại.” Cô ta lơ đễnh nhận điếu thuốc lá mà anh mời, cầm lấy bật lửa của anh như thể không quen hút thuốc.
“Cô yêu anh ta lắm à?” Anh muốn cô ta như vậy.
“Tôi nghĩ vậy,” cô ta trả lời một cách thành thật. “Không phải loại cảm xúc phấn khích hoang dại. À, có một anh chàng ở Scranton mà tôi thích hơn, từ hai năm trước, nhưng anh ta đã kết hôn với người khác rồi. Greg là một thanh niên tuyệt vời. Anh ấy tử tế vô cùng. Và gia đình chúng tôi cũng mến nhau, điều đó có lợi. Gia đình tôi không tán thành anh chàng tôi từng thích ở Scranton. Dù tôi cũng không quá bận tâm điều đó, nhưng nó cũng khiến mọi chuyện khó khăn hơn.”
Robert thấy nó thật nhạt nhẽo và đáng buồn. Theo cách cô ta nói thì cô ta không yêu Greg cho lắm. Nhưng cô ta có thể là kiểu con gái vẫn có một cuộc hôn nhân tốt đẹp với một người đàn ông mà cô ta không mê đắm nhưng rất quý mến. Hãy xem chuyện gì đã xảy ra với anh và Nickie sau khởi đầu cuồng nhiệt của họ. Anh vừa chuẩn bị đẩy lùi ghế ra sau và đứng dậy thì cô nói, “Tôi nghĩ mình sợ hôn nhân.” Cô đang nhìn chằm chằm vào gạt tàn thuốc, tay chống cằm, các ngón tay cụp lại.
“Tôi đã từng nghe nhiều cô gái nói như vậy trước khi họ kết hôn. Cả đàn ông cũng thế.”
“Anh đã từng kết hôn chưa?”
“Chưa.”
“Tôi không thể hình dung ra ai dễ kết hôn hơn Greg, nên tôi đoán nếu có kết hôn thì sẽ là với anh ấy.”
“Tôi hy vọng cô sẽ rất hạnh phúc.” Anh đứng dậy. “Tôi phải đi đây. Cảm ơn… cảm ơn… vì…”
“Anh có thích bánh quy không?”
Anh nhìn cô mở cửa lò, rồi lôi một ít giấy sáp ra khỏi một cuộn giấy và xé ra. Mỗi cái bánh quy đều có nho khô ở chính giữa. Cô đặt khoảng nửa tá bánh lên tờ giấy sáp.
“Tôi biết,” cô nói một cách xấu hổ, “anh nghĩ tôi điên rồ hay sao đó. Có thể là do tinh thần Giáng sinh. Nhưng tặng bánh quy cho ai đó thì đâu có gì là sai, đúng không?”
“Tôi nghĩ điều đó rất tử tế,” anh đáp lại và cả hai cùng bật cười. Anh nhẹ nhàng cất bánh quy vào túi áo khoác. “Cảm ơn cô nhiều.” Anh ra cửa.
“Nếu anh còn muốn nói chuyện - à thì, cứ gọi cho tôi và ghé qua. Tôi muốn anh gặp Greg. Chúng ta không cần phải cho anh ấy biết chúng ta đã gặp nhau như thế nào. Chắc anh ấy sẽ không hiểu đâu. Tôi sẽ bảo với anh ấy - à thì, anh là một người bạn mà Rita giới thiệu cho tôi chẳng hạn.”
Robert lắc đầu. “Cảm ơn, cô Thierolf. Tôi chắc chắn là Greg sẽ không hiểu đâu. Tốt nhất là tôi không gặp cậu ta.” Ngay lập tức anh thấy rằng cô xem đó như là lời từ chối gặp mặt cả chính cô nữa. À, cứ thế đi, anh nghĩ.
“Tôi hy vọng thỉnh thoảng anh sẽ gọi điện,” cô nói một cách đơn thuần khi đi ra cửa. “Anh có xe chứ?”
“Cách đây một đoạn đường.” Toàn bộ sự xấu hổ của anh quay trở lại. “Chào tạm biệt.”
“Tạm biệt.” Cô bật đèn hiên lên cho anh.
Ánh đèn giúp anh nhìn được vài mét trên lối vào nhà, rồi anh dùng đèn pin. Khi đã ra đường chính, anh bắt đầu huýt sáo một giai điệu nào đó, vì lo lắng, xấu hổ, điên rồ, hoặc cả ba.
Nửa tiếng sau, anh đã về đến nhà. Anh vừa châm một điếu thuốc lá thì điện thoại reo. Đó là Nickie gọi từ New York.
“Anh đã ở đâu thế?”
Robert ngồi xuống và ườn người trên ghế để giữ giọng thoải mái và dễ chịu. “Vừa ra ngoài một lát. Xin lỗi. Cô đã gọi cho tôi à?” “Suốt mấy tiếng rồi đấy. Tôi mang tin tức tốt lành đến cho anh đây. Anh sẽ thành người tự do trong một tháng nữa. Tôi sẽ cưới Ralph ngay khi có thể.”
“Tốt lắm. Tôi mừng vì mọi chuyện có tiến triển. Tôi không nghe được thông báo gì từ luật sư hết.”
“Thật sao? Tôi mới ra chỉ thị cho anh ta mà.” Giờ giọng cô ta có phần hào hứng quá mức.
“À, thế cảm ơn nhiều vì đã báo cho tôi.”
“Hóa đơn sẽ được gửi cho anh khi đến hẹn. Cưa đôi, nhất trí?” “Chắc chắn rồi.”
“Dạo này đầu óc anh thế nào? Mất trí chưa?”
“Tôi không nghĩ vậy.” Anh thấy thật hối hận vì đã từng nói chuyện với Nickie về “sự tỉnh táo” của mình. Anh đã vô ý nói ra trong một cuộc trò chuyện của họ về tâm trạng tuyệt vọng của anh, nói rằng sự tuyệt vọng là một trò tra tấn khủng khiếp có thể khiến một người mất đi sự tỉnh táo, hoặc điều gì đó tương tự như vậy, và Nickie đã tỏ ra thương cảm, bảo anh nên tới gặp bác sĩ tâm lý, nên anh đã làm theo. Và rồi, chỉ sau có vài ngày, cô ta bắt đầu quăng chính những từ ngữ của anh vào mặt anh, nói rằng anh đã thừa nhận mình bị điên, nên lẽ tự nhiên anh điên thật, và cô ta sợ phải ở chung nhà với anh, làm gì có người bình thường nào có thể yêu hay tin tưởng một người điên được cơ chứ?
“Vẫn vùi đầu trong cái hố nhỏ đấy à?” Cô ta vẫn tiếp tục và anh nghe tiếng bật lửa thuốc lá của cô ta kêu tách khi cô ta đóng nó lại. “Nó hoàn toàn không phải là một thị trấn tồi tệ. Nhưng tôi cũng không dự định sống ở đây đến cuối đời.”
“Tôi đâu có hứng thú với kế hoạch của anh.”
“Được rồi, Nickie.”
“Có gặp cô gái nào thú vị không?”
“Veronica, sao cô không dính lấy Ralph và mấy bức tranh của cô, rồi để tôi yên?”
“Tôi sẽ để anh yên. Đương nhiên. Anh là một tên bệnh hoạn và tôi phát ớn mấy tên bệnh hoạn lắm rồi. Còn về tranh của tôi, hôm nay tôi đã vẽ được hai bức và đang thực hiện dở một bức sơn dầu đây. Thế nào? Ralph truyền cảm hứng cho tôi, anh thấy không? Anh ấy không như anh, ủ rũ…”
“Phải, tôi biết. Tôi hiểu.”
Cô ta cười khinh khỉnh. Trong vài giây khi cô ta đang nghĩ xem phải nói gì, anh vội nói:
“Cảm ơn lần nữa, Nickie, vì đã gọi điện cho tôi để thông báo.” “Chào!” Cô ta dập điện thoại xuống.
Robert cởi cà vạt, vào phòng tắm và rửa mặt. Anh tự hỏi vì sao lúc nào cô ta cũng giận dữ, xấc xược, hăm hở muốn làm tổn thương người khác như vậy? Anh cũng ớn việc cứ tự băn khoăn điều đó rồi, vậy nhưng đó lại là một việc hoàn toàn tự nhiên, anh nghĩ. Đến cả Peter Campbell - hay đó là Vic McBain nhỉ? - từng hỏi anh điều tương tự khi Robert kể cho anh ta nghe về một trận cãi vã của anh với Nickie. Đó là một cuộc cãi vã kỳ cục về chuyện hiểu nhầm màu sắc của vỏ bọc ghế sô pha, đó là lý do anh kể lại. Nhưng kết cục của nó thì chẳng vui vẻ chút nào, vì Nickie cứ nhai đi nhai lại tai nạn đấy cả ngày lẫn đêm, sang cả ngày hôm sau, và đến cả cuối tuần, theo Robert nhớ. Anh đã kể chuyện đó cho Peter, và giờ anh nhớ là nụ cười của anh ta nhạt dần và Peter hỏi, “Nhưng tại sao cô ta lại giận dữ vì chuyện đó đến vậy?” Robert có thể đưa ra vài câu trả lời cho bản thân, chẳng hạn như Nickie không thích anh vì anh hay tuyệt vọng, u sầu thất thường, và anh không thể trách cô vì điều đó. Hay Nickie rất tham vọng với sự nghiệp hội họa mà người đàn ông của đời cô lại đại diện cho một nguy hiểm tiềm tàng, có thể lấy đi thời gian của cô hoặc một thứ gì đó khác, cô có nguy cơ bị áp đảo chẳng hạn (cân nhắc đến việc cô ta chọn Ralph Jurgen để kết hôn, một người có cá tính khá yếu đuối, một người mà Nickie có thể dễ dàng lấn át). Hay cái tôi của Nickie quá yếu ớt và nhạy cảm, cô ta không thể chịu nổi dẫu chỉ một sự chỉ trích nhỏ nhất, và đến giai đoạn cuối của cuộc hôn nhân, cô ta bắt đầu buộc tội anh nói những điều anh không hề nói, và khi anh chối thì cô ta lại bảo anh mất trí. Robert có thể liệt kê một loạt, nhưng chúng vẫn không lý giải được sự giận dữ
mà cô ta nhằm vào anh, những lý do ấy chưa khiến anh thỏa mãn. Hẳn phải có một mắt xích bị thiếu, và anh nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ tìm được nó, sẽ chẳng có ngày nó nảy ra trong đầu anh để anh có thể nói, “à giờ thì mình hiểu rồi, tất cả đã hợp lý rồi.”
Anh đứng nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy căn nhà trắng hai tầng bên kia đường, với ô cửa sổ trên tầng hai đầy chậu cây. Thỉnh thoảng một ông già sẽ ngồi đọc báo trong cái ghế bành sau các chậu cây, nhưng tối nay cái ghế trống trơn. Anh có thể nhìn thấy một cái xe ba bánh của trẻ con trong bóng râm trên hiên. Ở góc trái, có một tiệm dược phẩm đồng thời là cửa hàng ăn nhỏ đầy mùi siro sô-cô-la, nơi Robert đã hai lần mua kem đánh răng và lưỡi dao cạo. Cuối góc phố, khuất khỏi tầm mắt của anh, là một trụ sở Y.M.C.A trông khá u ám. Cách đó hai đến ba dãy phố, thẳng trước mặt, là ga tàu, nơi anh đến lấy cái hộp mà Nickie gửi những vật dụng anh đã để quên. Phần lớn trong số đó không phải anh quên, vì đa số đều là những thứ anh mua cho căn nhà - một cái chổi chải quần áo đắt tiền, một lọ hoa, một cái gạt tàn thủy tinh lớn, một bức tượng Maya cao hai lăm phân mà anh tìm thấy trong một cửa hàng ở trung tâm mua sắm Village. Nhưng gửi chúng cho anh là một cách để Nickie nói, “Chúng ta đã kết thúc hoàn toàn rồi, mau mang tất cả những thứ của nợ của anh đi ngay!” Phải, cô ta đã chấm dứt với anh một cách đột ngột, hệt như cách cô ta ngừng sử dụng một bút danh để vẽ. Đến giờ cô ta đã dùng đến cái tên thứ tư hay thứ năm gì đấy rồi - Amat. Hoặc có thể Ralph đã truyền cảm hứng cho cô ta lấy một cái tên khác rồi. Và Robert tự hỏi đến lúc nào thì Ralph bắt đầu được nhận cách đối xử như anh lúc này. Kiểu hành xử thất thường, những trận cãi cọ có chủ đích, những cơn thịnh nộ theo sau đó là lời xin lỗi thống thiết. Khi nào thì Ralph chán ngấy với những gã say xỉn ngủ quên trong bồn tắm, trên xô-pha phòng khách, hay trên chính cái giường của anh ta?
Robert đi vào bếp và tự lấy cho mình một ly Scotch pha nước. Anh đã mất tròn sáu tháng để hiểu ra rằng Nickie đang chơi một trò chơi, chơi giỏi đến mức cô ta có thể tự nặn ra những giọt nước mắt nóng hổi, chân thành khi cô ta nói lời xin lỗi, khi cô ta bảo với anh là cô ta yêu anh, cô ta vẫn tin họ có thể đi tiếp cùng nhau. Và lần nào
hy vọng cũng dâng lên trong Robert, và anh đã nói, “Tất nhiên là chúng ta có thể. Vì Chúa, chúng ta yêu nhau mà!” Và theo lệnh của Nickie, anh sẽ chuyển ra khỏi khách sạn mà chính cô ta đã bảo anh đã vào ở, và rồi trò chơi sẽ lặp lại, với một trận cãi vã có chủ đích: “Cút về cái khách sạn dơ dáy của anh đi! Tối nay tôi không muốn thấy mặt anh ở trong nhà! Về mà ngủ với một con điếm nào đấy đi, tôi cóc quan tâm!” Và chậm rãi nhưng bền bỉ, Ralph Jurgen xuất hiện trong cuộc chơi, khi Nickie chắc chắn hơn về anh ta thì hứng thú mà cô ta dành cho trò chơi với Robert cũng biến mất.
Anh và Nickie đã khởi đầu một cách khác hẳn, hai người yêu nhau nồng nhiệt, và không biết bao nhiêu lần cô ta nói rằng “Em sẽ yêu anh đến cuối đời. Anh là người đàn ông duy nhất trên thế gian này dành cho em,” và anh có đủ lý do để tin rằng cô ta thật lòng. Bạn bè của họ cũng kể với anh rằng cô ta cũng nói với họ như vậy về anh. Đây là cuộc hôn nhân thứ hai của Nickie, nhưng những người quen người chồng đầu tiên của cô ta - thật ra là rất ít, tầm hai đến ba người gì đó, vì rõ ràng là Nickie đã cắt đứt liên lạc với tất cả những ai cô quen cùng Orrin Desch - đều nói cô ta chẳng bao giờ quan tâm nhiều đến Orrin. Robert và Nickie đã lên kế hoạch đi du lịch vòng quanh thế giới trong hai năm - anh nhận ra giờ là một rồi. Anh còn nhớ cô ta đã từng đi tới tận Brooklyn chỉ để tìm mua cho được một cây cọ vẽ mà anh muốn. Và có thể trong một giai đoạn, chắc là khoảng một năm, Nickie đã thực sự yêu anh. Rồi các xô xát bắt đầu ập đến, những cơn cãi vã nho nhỏ bị Nickie thổi bùng lên thành một trận bão. Chẳng hạn, tại sao các bức thư mà Marion - cô người yêu cũ từ bốn năm trước - gửi lại nằm trong ngăn kéo bàn làm việc ở nhà của anh? Robert thậm chí đã quên mất là mình vẫn giữ những bức thư đó. Nhưng Nickie lại tìm được chúng và đã đọc hết tất cả. Cô ta nghi ngờ anh thỉnh thoảng còn hẹn hò với Marion - một người đã kết hôn - ở New York, có thể là đi ăn trưa, hoặc có thể khi anh nói mình phải làm thêm giờ ở văn phòng. Cuối cùng Robert đã phải mang những bức thư ra ngoài hành lang tòa nhà và ném chúng vào lò đốt rác - rồi sau này thấy hối hận. Nickie có quyền gì mà lục lọi ngăn bàn của anh? Robert nghĩ cảm giác bất an của cô ta về bản thân - có vẻ là vậy - có thể đến từ việc cô ta không thỏa mãn
với nghiệp họa sĩ của mình. Robert đã gặp cô ta vào thời điểm cô ta bắt đầu nhận ra mình không thể có mặt trong các phòng triển lãm ở khu phố trên chỉ bằng việc tổ chức các bữa tiệc xa hoa cho các nhà bình luận và chủ phòng tranh. Nickie có một khoản tiền nhỏ từ gia đình và với số tiền đó, cộng thêm lương của Robert, cô ta có thể chi trả những bữa tiệc hào nhoáng. Nhưng có vẻ như mọi quản lý phòng tranh đều bảo cô ta hãy thử trưng bày tranh ở đường 10 trước rồi tiến lên dần, và cuối cùng Nickie đã chấp nhận thực tế là cô ta phải làm như vậy. Và đến cả việc được trưng bày tranh trên đường 10 cũng đủ khó rồi. Trong vòng hai năm sáu hay bảy tháng gì đấy mà họ kết hôn, Nickie hình như chỉ có ba buổi triển lãm và đều được tổ chức trong các buổi triển lãm nhóm ở đường 10. Không có mấy lời đánh giá.
Robert đi ra tủ đồ và sờ thấy tờ giấy sáp gói bánh quy trong túi áo khoác. Chúng ở đó, hữu hình, thậm chí là có thể ăn được. Anh mỉm cười. Sau cùng thì, trên thế giới này vẫn có những người tử tế, tốt bụng, thân thiện, thậm chí là cả những cặp đôi đã kết hôn mà không cãi nhau như kẻ thù một mất một còn. Robert tự trách mình vì đã quá đặt nặng việc chia tay của anh và Nickie chỉ vì họ từng là một đôi, còn giờ nỗi đau của anh quá lớn vì nó là của mình anh. Người ta phải nhìn nhận sự việc theo tỷ lệ. Đó là điều tạo nên sự khác biệt giữa một người tỉnh táo và một người mất trí. Hãy nhớ lấy điều này, anh tự nhủ.
Anh nhấm nháp một chiếc bánh quy và nghĩ về Giáng sinh. Jack Nielson đã mời anh tới dự Giáng sinh với anh ta và Betty, và Robert nghĩ mình sẽ nhận lời. Anh sẽ mua rất nhiều đồ chơi cho đứa con gái nhỏ của họ. Chuyện đó có vẻ tuyệt hơn hẳn việc đi tới tận Chicago để gặp mẹ anh và chồng bà, ông Phil, và nếu anh đi thì chắc chắn anh sẽ phải kể cho họ nghe một chuyện gì đó về cuộc chia tay của mình với Nickie, dù mẹ anh không phải là kiểu người hỏi han quá trớn. Cha dượng của Robert có hai cô con gái từ cuộc hôn nhân đầu tiên và họ đều có con nhỏ, nên đằng nào thì trong Giáng sinh căn nhà cũng đông vui lắm rồi. Lời mời của gia đình Nielson hấp dẫn hơn đôi ba lời mời khác mà anh đã nhận được từ
bạn bè ở New York, vì những người này còn là bạn chung với Nickie nữa.
“X
Chương 4
in chào,” cô nói. “Anh cảm thấy khỏe hơn chưa?”
“Ai đấy nhỉ?”
“Jenny Thierolf đây,” giọng nói cười cười, nhẩn nha nói. “Em vừa nghĩ hay là gọi điện chào một câu và hỏi xem anh thế nào. Anh đã có một Giáng sinh tuyệt vời chứ?”
“Rất tuyệt vời, cảm ơn. Tôi hy vọng em cũng vậy.”
“À, chắc chắn rồi. Ở nhà bố mẹ em và bố mẹ Greg. Rất ấm cúng.”
“À, Giáng sinh nên như thế mà. Em có bị kẹt trong bão tuyết không?”
“Có bị hay không à? Em đang mắc kẹt đây này. Anh đang ở đâu thế?”
Anh cười. “Trong thị trấn. Tôi cho là ở những chỗ thế này sẽ dễ chịu hơn.”
“Ngay sáng mai sẽ có người cào tuyết giúp em ra ngoài. Tám đô một lần. Đây là lần thứ ba rồi đấy. Đúng là một mùa đông khó chịu! Điều tốt đẹp duy nhất là đường dây điện thoại của em không bị hỏng nhưng có đêm điện nhà em cũng bị cắt mất.”
Im lặng. Anh không nghĩ ra được điều gì để nói. Tâm trí anh nấn ná vài giây trong dòng suy nghĩ mình đã không gửi hoa tặng cô hoa nhân dịp Giáng sinh, anh đã có phút bốc đồng muốn làm điều đó nhưng kiềm chế lại được. Anh đã chẳng gửi cho cô một thứ gì cả.
“Giọng anh không còn đượm vẻ tuyệt vọng nữa rồi,” cô nói. “Mọi chuyện khá lên rồi.”
“Em đang nghĩ một tối nào đó trong tuần này anh có thể muốn ghé qua chỗ em ăn tối. Thứ Tư thì thế nào?”
“Cảm ơn em, nhưng… sao tôi không thể mời em nhỉ? Em không thích ra ngoài à?”
“Em thích ra ngoài lắm chứ.”
“Có hai nhà hàng khá được ở gần đây. Em có biết nhà hàng Jasserine Chains ở Cromwell không?”
“Jasserine Chains à?”
“Đó là tên của một nhà trọ nhỏ. Kèm một nhà hàng. Tôi nghe nói đồ ăn ở chỗ đó ngon lắm. Vậy gặp nhau ở đó nhé?” “Được đấy.”
“Lúc bảy giờ nhé?”
“Bảy giờ cũng được,” cô nói.
Cuộc điện thoại của cô làm anh vui vẻ được vài phút, cho tới khi một suy nghĩ nảy ra trong đầu anh: Cô sẽ đi cùng Greg và Greg sẽ giao anh cho cảnh sát. Rồi ý tưởng đấy biến mất. Đơn giản cô gái đó không phải kiểu người như thế, không tính toán như thế, anh cảm thấy chắc chắn như vậy. Robert thấy hài lòng, rằng anh đã định trước mà đề nghị gặp cô ở một nhà hàng thay vì đến đón cô. Nó khiến cho cuộc hẹn của họ trở nên tự nhiên hơn một chút.
Vào tối thứ Tư, mưa đá rơi xuống những đống tuyết đã nằm ỳ ra cả mười ngày nay, khiến đường sá trơn trượt và nguy hiểm. Robert cứ nghĩ cô gái sẽ đến muộn, có khi còn gọi cho anh báo không thể tới được cũng nên, nhưng cô đã không gọi điện và đã có mặt ở Jasserine Chains vào đúng bảy giờ. Robert đang chờ ở sảnh nhà hàng, ở đó có một cái cầu thang bằng gỗ gụ, thảm, gương và các bức tranh, như đại sảnh của một dinh thự riêng. Cô đi bốt có lót lông, đôi giày cao gót được cầm trong tay, và cô bám vào tay anh để thay giày trước quầy gửi đồ.
“Thời tiết này kinh khủng thật đấy,” cô nói một cách hối lỗi. Họ được dẫn vào một chiếc bàn nằm cách lò sưởi một khoảng cách dễ chịu. Khi anh đề nghị uống một ly cocktail, cô nói mình sẽ uống Manhattan. Cô mặc một chiếc váy họa tiết màu xanh dương đen mà Robert thấy có phần quá già dặn và nhạt nhẽo đối với cô. Khuyên tai của cô có hình nửa khối cầu bằng bạc. Cuộc nói chuyện của họ, trong khoảng mười lăm phút đầu tiên, thật vô vị. (“À, nếu có
loại xe nào có thể di chuyển trong tuyết tan thì phải là Volkswagen,” Jenny nói.) Robert thì lấn cấn không thoải mái về mùi hương trên tóc mình: anh vừa cắt tóc, người thợ cắt tóc đã xịt đầy mùi thơm vào tóc anh trước khi anh kịp ngăn anh ta lại. Đôi mắt của cô gái nấn ná trên người anh, nhìn anh chăm chú, nhưng cô đang nghĩ gì về anh thì Robert không dám chắc, và những câu nói của cô cũng không đưa ra được một manh mối nào. Cô ngẫu nhiên kể về gia đình mình ở Scranton, về ông bố cổ lỗ sĩ của cô, người không muốn cô lên đại học và khăng khăng ép cô học mấy khóa kinh doanh cũng như lớp về xã hội học. Cô hỏi thăm về trường của anh. Anh đã học ở Đại học Colorado. Anh kể rằng phải tới năm hai mươi tư tuổi anh mới học xong, vì vấn đề tiền nong, anh kể với cô như vậy, dù thật ra thì anh không thể học xong sớm hơn vì năm mười chín tuổi, một năm sau khi mẹ anh tái hôn, anh đã rơi vào một trạng thái khủng hoảng cùng cực. Robert đánh giá đó là thời điểm tồi tệ nhất cuộc đời mình, một giai đoạn mà anh thấy có phần xấu hổ khi nghĩ lại. Anh đã suy sụp vì cảm thấy gia đình mình đã sụp đổ, dù anh thật sự ủng hộ việc mẹ mình tái hôn và anh cũng mến người đàn ông mà bà cưới. Bố đẻ của Robert uống rượu quá nhiều, chưa bao giờ biết cách kiểm soát tiền nong, và chỉ nhờ sự kiên nhẫn của mẹ anh mà gia đình anh còn gắn kết thành một mối - ba người họ, vì anh không có anh trai hay em gái - cho tới khi bố anh tự giết mình trong một tai nạn xe hơi năm Robert mười bảy tuổi. Nhưng anh không muốn kể những chuyện này cho Jenny.
“Anh sẽ ở Langley trong bao lâu?” Cô hỏi.
“Tôi chưa biết. Có chuyện gì sao?”
“Vì anh trông không giống một người sẽ ở lại đó lâu. Một người mê thành phố lớn hơn.”
Robert rót thêm cho cô một ít rượu, để cốc của cô chỉ đầy một nửa. Anh nhận ra mình đang dùng cặp khuy măng sét vàng mà Nickie đã tặng anh nhân kỷ niệm ngày cưới đầu tiên, và anh kéo ống tay áo khoác xuống để che chúng đi. “Em và Greg sẽ sống ở đâu sau khi hai người kết hôn?”
“À, Greg thích Trenton. Vì lí do công việc. Nơi đó xấu xí hơn khi so với Princeton, nhưng Princeton thì đắt đỏ quá. Anh ấy đã chọn
được một căn nhà ở Trenton và chúng em dự định nhận nó vào ngày mùng một tháng Sáu.”
“Em có thích căn nhà đó không?”
Cô mất một lúc lâu để cân nhắc, rồi nghiêm túc nói, “Em nghĩ vấn đề ở đây là em không chắc mình có nên cưới Greg hay không.” “Ồ? Vì sao?”
“Em không nghĩ là mình yêu anh ấy đủ nhiều.”
Robert không có lời bình luận nào xem chừng thích hợp. Cô đã dùng xong bữa tối.
“Em sẽ không kết hôn với anh ấy đâu,” cô nói.
“Em đã quyết định như vậy từ khi nào?”
“Ngay sau Giáng sinh.” Cô dụi mẩu thuốc lá còn lại vào gạt tàn. Người bồi bàn đến dọn đĩa rồi nghe họ gọi món tráng miệng. Robert không muốn ăn món tráng miệng, nhưng món bánh táo tự làm được chào mời nhiệt tình trên thực đơn, và Jenny cũng đồng ý khi anh gợi ý, nên anh đã gọi hai phần dùng cùng cà phê. “Lời khuyên của tôi dành cho em là,” anh nói, “hoãn đám cưới lại vài tháng. Có thể em chỉ đang thấy lo lắng vì bị Greg giục giã.” Hàng lông mày mảnh của cô khẽ nhíu lại. “Trì hoãn chẳng có ích gì đâu. Em đang nói đến một chuyện mà em đã quyết.” “Em đã trao đổi chuyện này với Greg chưa?”
“Rồi, nhưng anh ấy nghĩ em sẽ đổi ý. Em đã nói chuyện với anh ấy trong khoảng thời gian từ Giáng sinh tới trước năm mới.” Bánh táo và cà phê được mang ra. Robert gọi thêm hai ly cô nhắc hiệu Courvoisier anh nghĩ. Rốt cục rồi cô sẽ kết hôn với Greg thôi, anh nghĩ.
“Em có thể hỏi anh một câu hỏi hết sức riêng tư được không?” Jenny hỏi.
“Chắc là được. Gì vậy?”
“Anh rời bỏ New York vì một cô gái đúng không?”
Robert nhìn cô không chớp mắt. “Không phải. Vì một vụ cãi lộn ở chỗ làm của tôi. Bên cạnh đó, tòa nhà mà tôi sống lúc ấy cũng sắp sửa bị phá hủy.”
Cô không còn hỏi thêm câu nào nữa. Anh cảm thấy cô biết là anh đã nói dối. Họ nhấp rượu brandy trong im lặng.
“Chúng ta có thể về sớm được không?” Cô nói.
“Được chứ. Chắc chắn rồi.” Anh nhìn quanh tìm bồi bàn. Robert thanh toán hóa đơn ở cửa rồi quay lại bàn, để lại tiền tip. Cô gái đang xỏ đôi bốt đi tuyết vào ở cạnh tủ đồ. Anh giữ áo khoác hộ cô.
“Chúng ta lái xe dạo một vòng được chứ?” Cô hỏi.
“Được thôi,” anh nói, ngạc nhiên. “Xe của em hay của tôi?” “Xe của anh.”
Robert không biết phải phán đoán thế nào về trạng thái của cô. Anh thấy xe của cô đỗ trong bãi đỗ xe của nhà hàng. Anh mở cửa xe mình ra cho cô. Đó là một chiếc mui trần hiệu Oldsmobile, là xe chung của anh với Nickie trong khoảng một năm, nhưng Nickie nói cô ta không muốn giữ nó khi họ chia tay. Ralph Jurgen có tới hai cái xe ô-tô.
“Em muốn đi đâu?” Anh hỏi cô.
“Đâu cũng được.”
Những con đường duy nhất không có tuyết và đá là đường cao tốc chính, và lái xe ở chỗ đó thì thật nhạt nhẽo. Anh chỉnh nhiệt độ lên cao vì cô gái đang co rúm người lại trong áo khoác. Cô ta nhìn thẳng qua kính chắn gió trước mặt. Anh quyết định không cố gắng tán gẫu nữa, nhưng sau vài phút anh bắt đầu cảm thấy không thoải mái. Vì sao cô lại muốn đi cùng xe với anh trong một buổi tối như thế này chứ - trận mưa đá giờ đã chuyển thành một cơn mưa rả rích lạnh lẽo - không có mục đích gì thật chứ? Cô đang cố làm gì, dụ dỗ anh đỗ xe lại đâu đó và gạ gẫm cô sao? Một cô gái bình thường có đề nghị một người đàn ông đã từng rình trộm mình đưa mình đi một vòng trong xe của gã ta không? Đột nhiên Robert cảm thấy đau khổ và tuyệt vọng. “Tối nay không phải là một dịp thích hợp để lái xe,” anh nói và đỗ vào một trạm xăng. “Em có muốn chúng ta quay lại không?” Anh quay xe và đi về hướng nhà hàng.
“Em không ngại một tối như thế này. Thỉnh thoảng em cảm thấy mình phải chuyển đi, tới bất kỳ đâu cũng được.” Cô vẫn đang nhìn
chằm chằm xuyên qua kính chắn gió. “Mỗi lần cảm thấy như thế này thì em lại đi bộ thật lâu.”
Sự căm ghét và thù địch trong lòng Robert từ từ rút xuống. Cô ta hoàn toàn không nghĩ về anh. Cô ta đang hoàn toàn chìm đắm trọn vẹn trong dòng suy nghĩ của mình. Đột nhiên trong anh dâng lên một cảm xúc đồng cảm và thân thiết đầy hiếu kỳ với cô - anh cũng hay có tâm trạng như vậy. “Mất liên kết với thực tại,” theo như Nickie gọi.
Họ quay về bãi đỗ xe của nhà hàng, và cô gái mở cửa ngay khi anh dừng xe lại.
Anh theo cô ra ngoài. “Biết đường về chứ? Em có đủ xăng chứ?” “À, chắc chắn rồi.” Giọng cô có vẻ đượm buồn và lạc lõng. Robert thất vọng với cái cách buổi tối kết thúc. Anh muốn cô thật
vui vẻ và anh đã nghĩ đến một ly brandy thứ hai, hai người sẽ nấn ná tại bàn cho tới khoảng mười một giờ. Giờ còn chưa đến mười giờ nữa. “Cảm ơn nhiều vì buổi tối,” anh nói.
Cô có thể không nghe thấy anh. Cô vào trong xe.
“Jenny, nếu tối nay tôi có nói điều gì đó xúc phạm em thì tôi thực sự xin lỗi. Đáng nhẽ tôi không nên nói gì về Greg mới đúng. Đó không phải là chuyện của tôi.”
“Không, đó là chuyện riêng của em,” cô nói. “Anh không hề làm gì xúc phạm em cả, thật lòng đấy. Chỉ là thỉnh thoảng em không thể nói nổi một điều gì. Thật là tồi tệ, em biết, nhưng em không làm sao kiểm soát được.”
Anh mỉm cười. “Tôi không bận tâm đâu.”
“Thỉnh thoảng anh ghé qua nhà em được chứ?”
“Được chứ, nếu em muốn. Một dịp nào đó khi Greg cũng ở đấy thì sao? Em có thể giới thiệu tôi là bạn của Rita.”
“Em sẽ không gặp Greg cho tới ngày hai mươi tháng Một. Chúng em đã thỏa thuận như vậy. Đó là sinh nhật của anh ấy.” “À, vậy thì sau đó đi.”
“Thế tuần sau thì sao?” Cô hỏi, nở nụ cười một cách bẽn lẽn, như không thể kiềm chế. Thứ Hai có được không? Hay Chủ nhật? Em có thể nấu ăn, anh biết đấy.”
Anh nên biết mới phải. Robert không muốn tới nhà cô ta khi chỉ có mình cô ta ở đó. Anh đột nhiên nhìn nhận hành vi của cô gái dưới một góc độ khác hẳn. Anh nói một cách đau đớn nhưng quả quyết, “Tôi muốn đợi tới… tới sau ngày hai mươi tháng Một.”
“Đừng cứng đầu thế, em đang mời anh đấy. Hay anh bận đến thế cơ à?”
“Không. Không, tôi không quá bận.”
“Vậy thì tới ăn tối Chủ nhật này nhé. Đến tầm năm giờ ấy. Buổi chiều em sẽ đi trượt tuyết với một người bạn, nhưng em sẽ quay lại lúc bốn giờ. Anh có biết trượt tuyết không?”
“Trước đây thôi. Nhưng giờ tôi không có đồ trượt.”
“Anh có thể thuê chúng ở nơi chúng ta trượt tuyết. Chủ nhật này đi cùng chúng em nhé. Anh có biết Vareckville ở đâu không?” Anh không biết chỗ đó nhưng cô đã tả cho anh và cũng còn hướng dẫn anh cách tới trạm trượt tuyết nằm cách thị trấn một cây rưỡi. Cô có vẻ vô cùng hạnh phúc vì anh có thể sẽ đến cùng, Robert không thể nói là anh sẽ không đến. Anh đồng ý hẹn gặp cô lúc hai giờ chiều và sau đó ăn tối với cô ở nhà cô.
Tối hôm đó Robert ngủ không yên giấc. Có thể là do cà phê, do rượu. Hoặc do cái buổi tối ấy. Anh đã uống hết lọ Seconals mà anh mang theo từ New York nhưng lại không chịu đi tìm một vị bác sĩ ở Langley để được kê đơn lại. Anh đã nghĩ mình sẽ không cần thuốc ngủ nữa, nhưng rõ ràng là anh đã nhầm.
Chương 5
S
usie Escham, bạn của Jenny, là một cô gái tầm hai mươi tuổi. Cô ta kể là mình sống kế bên nhà của Jenny, tức là chỉ cách đó khoảng một cây số trên cùng một con đường, và cô ta sẽ học
kinh doanh ở Langley. Cô ta đã tự nguyện khai toàn bộ những thông tin này cho Robert. Và từ sau đó, dù là khi họ đang trượt xuống đường dốc thoai thoải tới bìa rừng, hay tự bám vào sợi dây thừng đu lên, Robert đều cảm thấy Susie đang đánh giá anh, quan sát anh với vẻ hứng thú và đầy tò mò. Không nghi ngờ gì Susie biết Greg, biết Jenny và Greg đã đính hôn, và do đó thấy kỳ lạ khi Jenny có một “anh bạn trai” khác. Robert cảm thấy mình thật già cỗi, như một người trưởng thành ở giữa đám thanh thiếu niên. Anh cố gắng tỏ vẻ thờ ơ và vô tâm với Jenny. Cô đang trong tâm trạng phấn khích, cười lớn Robert khi anh ngã, và anh bị ngã đến hai lần, rồi lao xuống để giúp anh đứng dậy. Cô có vẻ trượt tuyết khá giỏi và có thể trượt xuống những ngọn đồi có tính thách thức hơn thế này.
“Anh có biết Greg không?” Susie hỏi Robert.
Họ đang uống cà phê nóng từ chiếc bình giữ nhiệt mà Susie mang theo. Jenny đã uống hết cốc của mình và đứng cách đó vài mét, chuẩn bị tiếp tục trượt xuống đồi.
“Không, tôi chưa từng gặp cậu ấy,” Robert nói.
“Ồ? Tôi tưởng anh quen Jenny lâu rồi chứ.”
Robert không rõ Jenny đã kể gì với cô ta. Đôi mắt đen, sáng ngời của Susie dính chặt vào anh. Cô ta có một cái miệng nhỏ, đầy đặn, luôn trực nở nụ cười, và giờ thì đang cười một cách tinh quái, môi mím chặt lại. “Không, chưa lâu.” Lâu hay không lâu là một vấn đề có tính chủ quan, Robert nghĩ.
“Anh đã gặp Jenny như thế nào?”
Những câu hỏi tọc mạch khiến anh thấy vừa thú vị vừa bực bội. “Qua một người bạn chung,” anh đáp. Rồi anh đứng dậy khỏi băng ghế gỗ và lần tìm thuốc lá. “Cô có muốn một điếu không?”
“Tôi không hút thuốc, cảm ơn anh. Jenny bảo anh làm việc ở Langley nhỉ?”
“Phải. Langley Aeronautics.” Robert liếc nhìn xuống hai ống quần của mình, chúng được nhồi bên trong đôi bốt trượt tuyết đi thuê một cách quê mùa. “Tôi nghĩ mình sẽ thử trượt lần nữa đây,” anh nói, đi về phía hàng người đứng xếp hàng. Jenny đang bám dây leo lên.
“Anh có một căn nhà ở Langley à?”
“Không, chỉ là một căn hộ thôi,” anh nói vọng lại rồi lủi ra xa quá tầm nói chuyện.
Jenny bỏ một tay ra khỏi dây và chìa về phía anh. “Chà!” Cô hổn hển nói, hai má ửng hồng lên. “Sao họ không lắp cáp treo ở đây nhỉ?”
Robert kiềm chế thôi thúc muốn nắm lấy tay cô và kéo cô lên nốt đoạn còn lại. “Tôi không nghĩ mình sẽ trượt xuống lần nữa đâu,” anh nói, cau mày nhìn xuống đoạn đường dốc. “Không, tôi đã chơi đủ rồi.”
“Anh bắt đầu già rồi đấy,” Jenny nói.
“Em nói chuẩn đấy.”
“Anh bao nhiêu tuổi rồi?”
“Đến tháng Sáu này tôi sẽ tròn ba mươi.”
Họ ra về trước bốn giờ, Susie và Jenny ngồi trong xe của Jenny còn Robert lái xe của mình. Anh giữ một khoảng cách vừa phải sau xe của họ cho đến tận nhà của Jenny. Cô lái xe qua nhà mình để đưa Susie về, và xe của cô nhanh chóng khuất khỏi tầm mắt khi Robert rẽ vào nhà cô. Anh hy vọng Jenny không kể cho Susie biết việc anh chuẩn bị được mời tới nhà cô ăn tối. Lời tạm biệt mà Robert nói với Jenny được tính toán để nghe như lời chào cho cả ngày hôm đấy luôn. Anh đợi ở chỗ xe của mình tới khi chiếc Volkswagen của cô đỗ lại bên cạnh.
“Đốt lửa lên nào,” Jenny nói.
Căn nhà cũng đủ ấm, dù Jenny nói nó bị gió lùa khủng khiếp, và cô vẫn đang tìm chỗ để lắp len cách nhiệt và vật chắn gió. Họ đốt lửa trong lò sưởi ở phòng khách, và Robert ra ngoài để lấy thêm củi. Jenny đang ninh gà với sủi cảo. Họ uống rượu bourbon Manhattan trong phòng khách và xem album ảnh của Jenny. Phần lớn các bức ảnh chụp gia đình cô, dù có năm đến sáu anh “bạn trai.”
“Đây là anh chàng mà em đã mê mẩn,” Jenny nói, chỉ một chàng trai tóc vàng vạm vỡ mặc đồ tuxedo.
Đối với Robert thì trông cậu ta hoàn toàn không có vẻ gì là phi thường hay thú vị. “Cái người mà gia đình em không thích đấy à?” “Phải. Giờ thì em mừng vì họ không quý anh ta. Năm ngoái anh ta đã kết hôn với một cô nàng đần độn. Em nghĩ mình chỉ bị cảm nắng thôi.”
Lật tiếp vài bức ảnh nữa. Jenny và cậu em trai tuổi teen mặc đồ tắm ở trại hè của gia đình cô gần Scranton. Eddie, em trai của Jenny, đã mất năm lên mười hai tuổi.
“Eddie vẽ giỏi lắm. Em nghĩ nó đã có thể trở thành một họa sĩ,” Jenny nói. “Em vẫn còn giữ vài bức tranh của nó.”
Robert liếc nhìn cô. Mặt cô buồn bã nhưng không có giọt nước mắt nào. “Người đàn ông mà em nhắc tới, người tới ở nhà em trước khi em trai em ốm - ông ta trông như thế nào?”
“Ồ…” Jenny nhìn xa xăm. “Như một người bình thường,” cô nói. “Tóc nâu, mắt nâu. Tầm bốn lăm tuổi. Hơi nặng cân. Ông ta đeo răng giả.”
Robert mỉm cười với cảm giác nhẹ nhõm kỳ cục. Ông ta trông không hề giống Người Anh em Tử thần trong giấc mơ của anh chút nào. Robert đã sợ như thế.
“Sao vậy anh?” Jenny hỏi.
“À… thỉnh thoảng tôi lại mơ một giấc mơ kỳ lạ. Tôi sẽ tới chỗ một người đàn ông mặc đồ thầy tu ngồi một mình ở bàn. Tôi nói ‘Anh là anh Green à?’, hay đôi khi là ‘anh Smith’ hay ‘anh Jones’ hay một cái tên bất kỳ. Rồi anh ta sẽ ngẩng lên nhìn tôi, cười và nói, ‘Không. Người Anh em Tử thần đây.’”
“Và rồi sao?”
“Rồi tôi tỉnh giấc.”
“Anh ta trông như thế nào?”
“Anh ta có mái tóc đen dài lốm đốm bạc ở hai bên thái dương. Một cái răng bên mép của anh ta mạ vàng. Đeo kính gọng đen.” Robert nhún vai. Anh có thể kể nhiều hơn, thậm chí còn vẽ được một bức chân dung chính xác của Người Anh em Tử thần trên giấy. Anh rời mắt khỏi khuôn mặt đang nhìn chăm chú của Jenny.
“Và rồi anh tuyệt vọng,” cô nói.
“À, không lâu đâu. Chỉ khoảng hai phút thôi,” Robert mỉm cười nói rồi đứng dậy. “Tôi không thể làm gì để phụ em nấu nướng sao?” “Không, cảm ơn. Em nghĩ cái chết sẽ đến như vậy, dưới hình dạng một ai đó. Khi anh gặp hoặc nhìn thấy người đó, em nghĩ anh sẽ biết thôi vì nó sẽ liên quan rất mật thiết tới anh.”
Robert đang định nói rằng suy nghĩ đó thật ngớ ngẩn nhưng lại thôi. Jenny rất nghiêm túc coi trọng các ý nghĩ của mình, điều đó đã rõ mồn một. “Tôi chưa lên xem tầng trên nhà em. Có muốn dẫn tôi đi tham quan một vòng không?”
Trên gác có bốn căn phòng vuông vức hai bên hành lang, cộng thêm một phòng tắm. Các căn phòng được trang trí một cách vừa phải và dễ chịu, và nơi nào cũng có bình hoa, không quá nhiều mà chỉ vừa đủ, có bình còn được đặt trên bục hoa kiểu Victoria cao hơn một mét.
“Em có tua vít không?” Robert hỏi.
“Có. Để làm gì vậy?”’
Anh hất đầu về phía một cánh cửa tủ bị long ra, anh đã cố để đóng nó lại. “Tôi có thể sửa nó trong một phút. Cả cửa sổ trong phòng ngủ của em nữa. Nếu tôi gắn lại then cửa thì em không cần dùng sách chống nó lên nữa.”
Cô xuống bếp lấy tua vít và quay lại cùng một cái búa và một hộp vít.
Bốn mươi lăm phút sau, khi Robert xuống nhà thì anh đã gắn lại hai then cửa, một then cửa sổ, và đã tháo một cái giá bằng thủy tinh trông có vẻ xiêu vẹo một cách nguy hiểm trong phòng tắm và gắn nó
vào thanh gỗ dưới tủ thuốc. Jenny đã phải lên nhà xem xem anh đã làm gì.
“Trời ơi, là em thì sẽ mất một tuần để hoàn thành tất cả các việc đó!” Cô ta nói.
Robert nhận thấy cô ta đã xức nước hoa. “Tôi có mang rượu vang đấy,” anh nói, sực nhớ ra. Anh xỏ giày đi tuyết của mình vào rồi ra ngoài lấy rượu. Một chai rượu vang trắng, may mắn thay còn có món gà đi kèm.
Họ chỉ mới ngồi xuống bàn được năm phút thì một chiếc ô-tô tiến vào lối vào nhà.
“Chúa ơi, ai vậy không biết,” Jenny vừa nói, vừa đi ra cửa. Phanh xe thắng lại, cửa sập mạnh.
“Greg, anh đã hứa rồi mà,” Jenny nói, và Robert đứng dậy. Greg bước vào tới cửa và không cười.
“Greg, đây là… đây là…”
“Robert Forester,” Robert nói. “Chào cậu.”
“Chào anh.” Greg liếc nhìn bàn rồi Jenny, và quay sang Robert. “Tôi đã nghĩ mình phải tới gặp anh.”
“Giờ anh đã gặp rồi đấy. Bọn em đang ăn dở, Greg.” Jenny trông thật khốn khổ. “Anh không thể về được à? Ít nhất là trong lúc này?” Đó tuyệt đối không phải là điều nên nói ra, vì Robert thấy mắt Greg bùng lên vẻ tức giận.
“Anh không cố ý xông vào giữa bữa ăn, nhưng anh cũng không hiểu vì sao mình nên ra về. Vậy anh sẽ đợi ngoài phòng khách nhé?”
Jenny phát ra một cử chỉ vô vọng và quay về phía Robert. Greg hùng hổ đi vào phòng khách trên đôi chân xỏ tất, rõ ràng đôi giày của cậu ta đã bị tuột theo đôi ủng cao su.
“Greg, anh có thể đợi ở tầng trên được không?” Jenny nói từ cửa bếp.
Robert mỉm cười lo lắng. Giọng cô nghe như giọng một người em gái đang cầu xin một ân huệ từ một ông anh trai. Greg là một gã
trai đô con, cao hơn mét tám. Robert không thích thú gì với suy nghĩ phải đánh một trận với cậu ta.
“Không,” Greg nói và Robert nghe tiếng giấy kêu xột xoạt khi cậu ta ngồi xuống xô-pha.
Ít nhất thì Greg không thể nhìn được họ trong bếp. Jenny ngồi xuống và Robert ngồi theo. Mắt cô ta ầng ậng nước. Robert nhún vai và mỉm cười với Jenny, cầm dĩa lên và ra hiệu cho cô làm theo. Cô nhấc dĩa của mình lên rồi lại đặt xuống. Rồi cô ra phòng khách và cho đĩa nhạc vào máy quay đĩa. Robert đứng dậy khi cô quay lại bàn.
“Em có muốn tôi ra về không?” Anh thì thầm.
“Không. Em không muốn anh ra về.”
Họ ăn từng miếng nhỏ nhưng đầy kiên quyết. Bản ballet Hồ Thiên Nga vang lên. Tình huống đậm chất kịch này khiến Robert thấy nó càng thêm lố bịch, nhưng Jenny đang khó khăn đến mức anh không thể cười nổi. Anh đưa cho cô ta chiếc khăn tay trong túi áo ngực của mình.
“Không có gì phải lo đâu,” anh nói một cách dịu dàng. “Tôi sẽ về ngay lập tức. Em sẽ không bao giờ phải gặp lại tôi nữa.” Anh chạm vào cổ tay trái của cô, bóp nhẹ an ủi rồi thả ra, nhưng cô đã túm lấy tay anh.
“Chuyện này thật thô lỗ và không công bằng. Susie đã gây ra tình cảnh này. Em biết chắc là vậy. Quỷ tha ma bắt cô ta đi.” “Nhưng có gì quá bi kịch đâu.” Anh rút tay ra khỏi tay cô ta, phải mất đến hai lần mới thoát được. Cà phê có vẻ đã sôi nên anh đứng dậy và tắt máy đi. Jenny đang cúi gằm mặt. Anh chạm vào vai cô ta. “Tôi đi đây,” anh nói rồi nhận ra Greg đang đứng ở cửa. Cậu ta đã tắt nhạc đi.
“Anh… anh…”
“Forester,” Robert nói.
“Tôi không có thói quen quấy rầy người khác, nhưng trong hoàn cảnh như thế này… Anh thấy đấy, tôi đã đính hôn với Jenny.” “Phải, tôi biết,” Robert nói.
Jenny đột ngột quay phắt lại và nói, “Greg, anh đừng có làm lớn chuyện được không?”
“Không. Được rồi. Anh sẽ không làm gì cả,” Greg nói, thở hổn hển đầy tức giận, “nhưng anh nghĩ mình xứng đáng được nghe một lời giải thích.”
“Giải thích cái gì?”
“Thì… có phải anh ta là lý do em không muốn gặp anh không? Không muốn cưới anh?”
“Greg, anh đang khiến chuyện này trở nên thật bẽ mặt đấy!” Jenny nói. “Đây là nhà của em và anh không có quyền…” “Anh có quyền được nghe giải thích!”
“Greg, tôi không có ý định gì với Jenny cả,” Robert xen vào. “Không à?” Greg hỏi.
“Tôi chắc chắn cô ấy cũng không có ý định gì với tôi,” Robert nói. “Tôi không biết cậu đã nghe được những gì.”
Yết hầu của Greg nhô lên hạ xuống. “Em đã quen anh ta bao lâu rồi hả Jenny?”
Jenny nhìn thẳng vào Greg và nói, “Em không thấy muốn trả lời câu hỏi đó.”
“Susie đã kể hết cho anh rồi,” Greg nói.
“Thế thì em còn biết làm gì… Em chưa hề nói gì với Susie hết. Em không biết cô ta lấy chuyện đâu ra để kể, nhưng em nghĩ cô ta nên lo chuyện của mình đi thì hơn.” Jenny vẫn ngồi lỳ trong ghế. Tay cô túm chặt lấy lưng ghế.
“Đấy cũng là việc mà anh đang làm đấy, lo chuyện của mình,” Greg nói. “Anh không nghĩ một cô gái đã đính hôn nên có những cuộc hẹn hò bí mật với một người đàn ông khác mà cô ta mê mẩn, nghe đồn là mê mẩn, ít nhất là khi chưa nói gì với anh cả.”
“Ai đã nói thế? Susie à? Em không kể một chuyện gì cho Susie hết.”
“Anh đoán là Susie cũng tự nhận ra được.”
Robert đưa tay quệt trán. “Greg, điều Susie nói là sai, và tôi sẽ hứa với anh là tôi sẽ không gặp lại Jenny nữa nếu chuyện đó gây ra
nhiều rắc rối thế này.”
“Nếu nữa cơ đấy!”
Robert lấy áo khoác của mình ra khỏi tủ đồ.
“Anh từ đâu đến, anh Forester? Anh từ đâu đến đây?” “Tôi sống ở Langley,” Robert nói.
“Anh đi khá xa nhà đấy nhỉ.”
“Greg, em không thích cái cách anh đang nói chuyện đâu,” Jenny nói. “Anh đang xúc phạm khách của em đấy.”
“Anh có quyền được biết lý do cô gái mà anh đã đính hôn lại từ chối gặp mặt anh nhiều tuần liền và muốn chấm dứt quan hệ chứ,” Greg trả lời.
“Tôi không phải là nguyên nhân,” Robert nói gọn lỏn khi đi giày cao su vào. “Tạm biệt, Jenny. Và cảm ơn em. Tạm biệt,” anh nói với Greg.
Jenny đã đứng dậy. “Em xin lỗi… vì người bạn thô lỗ của mình. Em vô cùng xin lỗi, Robert.”
“Không sao,” Robert nói, mỉm cười, và ra ngoài. Anh nghe giọng Greg vang lên sau lưng mình, qua cánh cửa đã khép lại. “Được rồi, anh ta là ai?”
Một sai lầm khác, Robert nghĩ khi lái xe đi. Nhưng có thể nó lại có lợi. Greg giờ sẽ đặt ra luật với Jenny và cô sẽ không thể gặp hay gọi điện cho anh nữa. Robert chỉ trích bản thân vì đã gặp cô hôm nay. Anh nên kiên định nói “Không, cảm ơn” khi cô rủ đi trượt tuyết ngoài trời. Khuôn mặt của Greg có vẻ trẻ trung nhưng thô kệch - cái mũi gồ lên mạnh mẽ, hàng lông mày đen rậm, đôi bàn tay to, xương xẩu. Cậu ta mặc bộ vest len sọc màu xám mà Robert đã từng thấy trước đây - trên ve áo có một vết dầu loang, như hôm nay Robert để ý thấy - và áo sơ mi phồng lên dưới mép áo gi-lê và cạp quần. Cậu ta hẳn phải pha đậm dòng máu Ai-len.
Chương 6
Đ
iện thoại của Robert reo lên sau khi anh về nhà được chừng mười lăm phút.
“Chào anh Robert, Jenny đây. Greg đã đi rồi. Trời ơi, Robert, em rất xin lỗi vì chuyện hôm nay.”
“Em không cần phải làm vậy. Tôi rất tiếc vì nó làm hỏng bữa tối tuyệt vời của em.”
“À, một lúc nào đó chúng ta có thể lại ngồi ăn với nhau. Nghe này, Robert, em muốn gặp anh. Giờ vẫn còn sớm. Mới bảy rưỡi. Em có thể tới chỗ anh không? Em vừa nói chuyện xong với Greg. Anh ấy đã biết là em sẽ không làm đám cưới nữa nên anh ấy không có quyền can thiệp vào việc em làm gì hay gặp ai. Em nghĩ cuối cùng anh ấy cũng hiểu ra là em thật sự quyết tâm.”
Greg chắc sẽ kiểm tra để xem tối nay cô có ra ngoài không, Robert nghĩ. Hoặc thậm chí là theo dõi nhà cô để có thể đi theo sau xe nếu cô ra ngoài. “Jenny, em vẫn có vẻ rối trí lắm, sao em không ở nhà tối nay nhỉ?”
Cô rên rỉ. “Xin hãy cho em gặp anh. Em không thể tới chỗ anh được à?” Cô rất kiên định.
Có một cách để kết thúc chuyện này, anh nghĩ và anh sẽ làm vậy. Anh đồng ý, cô sẽ tới đây, và anh báo cho cô địa chỉ cách khu căn hộ Camelot hai con phố. Cô nói sẽ đi ngay lập tức.
Năm phút sau, điện thoại lại reo và anh hy vọng Jenny gọi lại để báo là đã đổi ý.
Lần này là Nickie. Cô ta đang dự một bữa tiệc cocktail và hơi ngà ngà say, cô ta nói đang ở với Ralph nhưng muốn chúc anh ngày kỷ niệm ngày cưới lần thứ ba hạnh phúc, dù biết thừa nó đã trôi qua được vài tuần rồi nhưng muộn còn hơn không.
“Cảm ơn,” anh nói. “Cảm ơn, Nickie.”
“Có nhớ ngày kỷ niệm thứ hai của chúng ta không?” Cô ta hỏi. Anh nhớ rất rõ. “Tôi thích nhớ ngày đầu tiên hơn.”
“Thật ủy mị. Có muốn nói chuyện với Ralph không? Ralph!” Robert muốn dập máy. Nhưng như thế có nóng nảy quá không? Hay hèn nhát? Anh giữ máy, nhìn lên trần nhà và chờ đợi. Các giọng nói xa xăm đâu đó ở Manhatthan, lầm bầm và réo ùng ục, như một cái nồi đang sôi. Rồi có tiếng tít tít. Cô ta đã dập máy hoặc ai đó dập máy hộ cô ta.
Robert pha một cốc Scotch với nước. Phải, anh vẫn nhớ ngày kỷ niệm thứ hai. Họ đã mời tám đến mười người bạn đến nhà, và Robert đã mua rất nhiều hoa hồng và hoa mẫu đon về để trang trí nhà cửa, anh lại còn mua một cái vòng vàng mảnh cho Nickie nữa. Nhưng chẳng có ai đến hết. Mọi người đáng ra phải có mặt lúc tám giờ để uống cocktail và ăn buffet, nhưng đến chín giờ kém mười lăm rồi mà vẫn không thấy mống nào, nên Robert đã nói, “Chết tiệt, em có nghĩ chúng ta mời mọi người sai ngày không?” Và Nickie, tay chống hông, nói, “Không ai đến đâu, cục cưng, đây là một bữa tiệc dành riêng cho đôi ta thôi. Nên hãy ngồi xuống cái bàn xinh đẹp này và để em nói cho anh nghe một, hai điều.” Nghe có vẻ say nhưng cô ta thậm chí còn không uống thêm một cốc rượu nào sau cốc đầu tiên đã pha lúc anh mới đến. Robert có thể nhận ra được đâu là cốc rượu đầu tiên, cốc thứ hai, và cốc thứ ba của cô ta. Và cách đây mười ngày, lúc lên kế hoạch cho buổi tối hôm ấy cô ta không hề say - hay nói đúng hơn là cô ta đã lên kế hoạch trong những khoảnh khắc tỉnh táo. Việc mời khách là nhiệm vụ của cô ta. Tối hôm ấy cô ta đã nói liên tục ít nhất một tiếng đồng hồ, át hết mọi cố gắng xen ngang của anh chỉ đơn giản bằng cách nâng giọng. Cô ta liệt kê mọi lỗi lầm nhỏ nhặt của anh, kể cả việc anh thỉnh thoảng bỏ lại lưỡi dao cạo trên mép bồn rửa thay vì cất nó lại trong tủ thuốc; kể cả việc mấy tuần trước anh đã quên đi lấy một chiếc váy ở chỗ người giặt là hộ cô ta; kể cả nốt ruồi trên má anh, nốt ruồi trứ danh mà đường kính còn chẳng được ba milimet (anh đã một lần lấy thước sắt nhỏ của mình ra đo trong phòng tắm), Nickie lúc đầu đã khen nó thật nổi bật, sau quay sang chê nó xấu xí, cuối cùng bảo nó là u ác tính, sao
anh không tẩy đi? Robert nhớ là đã pha cho mình một cốc rượu thứ hai giữa bài diễn thuyết của cô ta, một cốc rượu đặc ngon lành, vì hành động khôn ngoan nhất trong hoàn cảnh ấy là tỏ ra kiên nhẫn, và cốc rượu như một liều thuốc giảm đau. Thực tế thì, sự kiên nhẫn của anh tối hôm đó đã chọc giận cô ta, đến mức lát sau cô ta nhảy bổ vào anh, lấy cả người xô anh trong phòng ngủ khi anh đang thay đồ đi ngủ, và nói, “Anh không muốn đánh em sao, anh yêu? Đánh đi, đánh em đi, Bobbie!” Kỳ lạ thay, đó là một trong những lần anh cảm thấy không hề muốn đánh cô ta chút nào, nên anh đã có thể điềm tĩnh trả lời một câu “Không.” Rồi cô ta mắng anh bất bình thường. “Một ngày nào đó anh sẽ có hành vi bạo lực. Hãy nhớ lấy lời em.” Vẫn tối hôm đó, khi họ đang nằm trên giường, cô ta nói, “Đùa như thế không vui sao, Bobbie?” Tay cô ta áp lên má anh, không phải đầy vẻ trìu mến mà để chọc giận anh và ngăn anh ngủ. “Đùa thế không buồn cười sao, cục cưng?” Cô ta đã theo anh vào phòng khách khi anh cố gắng ngủ trên ghế xô-pha ngoài đó. Cuối cùng, cô ta ngủ trong phòng ngủ vào khoảng năm giờ sáng và thức dậy khi Robert dậy để đi làm. Cô ta rất đau dầu sau khi say, và như thường lệ, sau khi say, cô ta luôn thấy ăn năn, nắm lấy tay anh, hôn chúng, nói cô ta thật khủng khiếp, xin anh tha thứ, hứa sẽ không bao giờ, không bao giờ hành động như thế nữa, và anh đúng là một thiên thần, cô ta không thật sự nghĩ về lỗi lầm của anh như những gì đã nói, mà sau cùng thì chúng đều chỉ là những sai lầm nhỏ nhặt.
Anh nghe một tiếng còi rú to như còi thuyền tuần tra sông. Hoặc ai đó đang bị lạc trên thác hoặc một con thuyền đang gặp nguy hiểm, anh cho là thế. Tiếng còi vang lên liên tục, u sầu, khẩn cấp, nản lòng. Robert cố gắng hình dung cảnh bị lật đi lật lại trên đá, đập đến mức đờ đẫn, cố bám lấy các tảng đá nhưng phát hiện ra chúng quá trơn hoặc anh quá yếu để có thể giữ lấy. Trong khi còi kêu không ngớt thì đèn thuyền cứu hộ quét trên mặt sông Delaware, không tìm được thứ muốn tìm. Các đồng nghiệp ở văn phòng đã bảo anh là nếu có người bị rơi xuống thác - và có cả tá chỗ như vậy trên dòng sông - thì chỉ vô vọng. Việc tốt nhất mà đội tuần tra sông có thể làm là tìm được xác. Một người ở văn phòng còn kể đã từng thấy một cái xác nằm ở bờ sông đoạn sân sau nhà anh ta, xác một
ông già được vớt lên cách nơi ông ta đã rơi xuống khoảng ba mươi cây số. Hoặc cái xác có thể trôi xuống tận Trenton. Robert nghiến răng. Vì sao lại nghĩ đến chuyện đó khi anh không có ý định đi bơi, chèo thuyền, hay thậm chí là câu cá khi mùa hè tới chứ?
Robert về bàn làm việc và nhìn bản phác thảo một cây du ngoài cửa sổ mà anh đã vẽ, nó rõ ràng và quá chính xác để được xem là một bản phác thảo, nhưng anh là một kỹ sư và sự chính xác giống như một lời thề độc. Trang đối diện trong quyển sổ phác thảo vẫn để trống, sau này sẽ có hình vẽ một lá du, khi anh nhìn thấy nó vào mùa xuân.
Có tiếng gõ cửa. Robert đặt cốc rượu xuống và đi ra cửa. “Xin chào,” cô nói.
“Vào đi.” Anh đứng tránh sang bên cho cô. “Bỏ áo khoác ra nhé?”
Cô đưa áo cho anh và anh treo nó vào trong tủ. Lần này cô không đi bốt đi tuyết nữa. Cô đi đôi giày cao gót. “Một căn hộ thật dễ thương,” cô nói.
Anh gật đầu, không có lời nào để nói.
Cô đã ngồi xuống giữa ghế xô-pha của anh.
Anh châm một điếu thuốc lá, ngồi xuống ghế bành, rồi đứng dậy lấy cốc rượu của mình trên bàn làm việc. “Tôi rót một cốc cho em nhé? Hay cà phê? Tôi có espresso hoặc em có thể uống loại thường.”
“Không, cảm ơn, em không cần gì cả. Em chỉ muốn nói, Robert, lúc nãy khi nói chuyện với Greg em không hề đề cập anh là nguyên nhân của việc hủy hôn. Nhưng là một phần trong đó.” Anh nhìn chằm chằm xuống sàn.
“Anh khiến em nhận ra một thứ mà trước kia em chưa từng nhận ra. Như một chất xúc tác. Nhưng từ đó cũng không chuẩn lắm, nó chẳng có nhiều ý nghĩa ngoài thay đổi một điều gì đấy, phải không? Còn anh mang một ý nghĩa nào đó. Anh mới là điều em thích. Bất kể nó có nghĩa là gì… vậy đấy.”
“Em chẳng biết gì về tôi hết,” anh nói. “Chẳng hạn như, em không biết là tôi đã kết hôn. Tôi đã nói dối em. Tôi đã kết hôn ba
năm.”
“Ồ. Vậy đúng là anh đã rời New York vì một người phụ nữ. Vì vợ anh.”
“Phải.” Trông cô không ngạc nhiên nhiều như anh dự kiến. “Chúng tôi đã xảy ra bất đồng. Em cũng không biết, chẳng hạn chuyện tôi đã suy sụp tinh thần vào năm mười chín tuổi. Tôi đã phải trị liệu một thời gian. Tôi không phải là người có tính cách ổn định. Tháng Chín vừa rồi tôi đã gần như ngã quỵ ở New York. Đó là lý do tôi chuyển về đây.”
“Chuyện này thì có liên quan gì tới việc em thích anh hay không?”
Robert không muốn nói thẳng tuột ra là khi một cô gái thích một người đàn ông thì thường sẽ quan tâm đến việc người đó đã kết hôn hay chưa. “Em hiểu không, việc tôi chưa ly hôn sẽ khiến mọi chuyện khó khăn hơn.”
“Anh sẽ không ly hôn à?”
“Không. Chúng tôi chỉ muốn dành chút thời gian ở xa nhau, chỉ có thế.”
“Vậy… xin đừng nghĩ em sẽ xen vào. Đằng nào thì em cũng không thể nếu anh đã yêu một người rồi. Em chỉ muốn cho anh biết cảm nhận của em thôi. Em yêu anh.”
Mắt anh chớp lên nhìn cô rồi quay đi. “Tôi nghĩ em càng sớm thoát khỏi cảm xúc đó thì càng tốt.”
“Em sẽ không làm được đâu. Em biết. Em luôn nhận ra khi nó đến với em. Chỉ là em thật đen đủi khi anh đã kết hôn, nhưng điều đó cũng chẳng thay đổi được gì hết.”
Robert mỉm cười. “Nhưng em còn trẻ lắm. Mà em bao nhiêu tuổi rồi?”
“Hai mươi ba. Như thế đâu phải là quá trẻ.”
Robert cứ ngỡ cô trẻ hơn. Mỗi lần anh gặp cô là cô lại có vẻ trẻ hơn. “Tôi không rõ về Greg. Có thể cậu ta không phải người thích hợp với em. Nhưng cũng không phải tôi. Tôi là một người rất khó chung sống. Rất nhiều tật xấu. Luôn lạc lối chỗ này chỗ kia.”
“Em nghĩ mình được quyền nhận xét, phải không?”
“Quan sát em qua cửa sổ phòng bếp nhà em không phải là một đức tính tốt đẹp gì, không phải sao? Em nên nghe những gì vợ tôi nói về tôi. Cô ấy nghĩ tôi nên vào trại thương điên.” Anh cười. “Cứ hỏi cô ấy mà xem.”
“Em không quan tâm vợ anh nói gì.” Cô đang nghiêng người chống một tay vào ghế xô-pha, cơ thể thả lỏng nhưng mặt thì rất kiên định. Cô nhìn thẳng vào anh.
“Tôi không thích chơi đùa đâu, Jenny.”
“Em không nghĩ anh đang chơi đùa. Anh đang khá thành thật đấy chứ.”
Robert đứng phắt dậy, cầm theo cốc rượu của mình về chỗ cái bàn ở cuối ghế xô-pha và đặt nó xuống. “Nhưng trước đó thì không, không phải sao? Tôi sẽ nói thật nhé, Jenny, tôi là một người phải nỗ lực hết sức để duy trì sự… tôi gọi nó là gì đây nhỉ? Sự tỉnh táo à?” Anh nhún vai. “Đó là lý do tôi tới đây. Ở đây bớt căng thẳng hơn ở New York. Tôi khá hòa hợp với những người cùng chỗ làm. Tôi đã nghỉ Giáng sinh với một người đồng nghiệp, cùng vợ và con gái nhỏ của anh ta, và mọi chuyện diễn ra êm đẹp. Nhưng họ không biết thỉnh thoảng tôi phải nỗ lực để tỏ ra như vậy, tôi có cảm giác như mình phải cố gắng từng giây từng phút.” Anh dừng lại và nhìn cô, hy vọng lời mình nói có chút hiệu quả.
Mặt cô ta chỉ có vẻ bớt lo âu. “Ai chẳng phải cố gắng từng giây từng phút. Điều đó có gì mới mẻ nào?”
Anh thở dài. “Tôi là người mà người khác phải tránh xa. Đó là điều tôi muốn em hiểu. Đầu tôi có bệnh.”
“Ai nói anh có bệnh? Bác sĩ à?”
“Không, không phải bác sĩ. Vợ tôi. Cô ấy rõ điều đó nhất. Cô ấy sống chung với tôi mà.”
“Nhưng anh đã trị bệnh từ khi nào? Năm anh mười chín tuổi à?” “Lúc ấy họ đã nói gì nhỉ? Rằng tôi có những phản ứng thật yếu ớt trước một tuổi thơ khắc nghiệt. Như một kẻ nhu nhược. Tôi đã quỵ ngã, phải. Đó là sự yếu đuối, không phải vậy sao?” “Anh đã làm gì vậy?”
“Tôi đã phải tạm ngừng học đại học một thời gian. Một tối nọ, tôi đã nổi cơn bốc đồng và đi bơi trong hồ mà mặc nguyên quần áo. Tôi định tự tử, và đã từng thử làm vậy, nhưng rồi lại thôi. Một cảnh sát đã can thiệp. Họ nghĩ là tôi say. Sau một tối trong tù, tôi nộp phạt và ra về. Họ quả quyết là tôi đã uống say nên tôi đành đồng ý với họ. Em nghĩ vì sao cảnh sát lại nghĩ như vậy? Vì những điều điên rồ mà tôi đã nói.” Có vẻ không tài nào thuyết phục nổi cô. Anh động não tìm một cách khác. “Tôi đã từng chĩa súng vào vợ tôi. Cô ấy đang ngủ. Tôi ngồi trên một cái ghế đối diện với cô ấy, súng săn chĩa thẳng vào cô ấy. Khẩu súng đã được lên đạn.” Sự thật là nó không hề được lên đạn. Anh dừng lại lấy hơi, nhìn Jenny. Cô đang hơi nhăn mày, nhưng không hề có vẻ sợ sệt mà chỉ đầy tập trung.
“Và chuyện gì đã xảy ra?”
“Không gì cả. Tôi chỉ làm vậy để xem xem - hoặc biết chắc - tôi sẽ không bao giờ kéo cò súng. Ngay trước lúc ấy, cô ấy và tôi vừa mới cãi nhau. Lúc đó tôi đã nghĩ, ‘Mình ghét cô ta đến mức có thể giết cô ta để trả đũa cho tất cả những gì cô ta đã nói.’ Nhưng khi cầm súng trong tay, tôi chỉ ngồi đó, nghĩ rằng chẳng có một ai hay một cái gì đáng để phải giết người hết.”
“Đúng vậy đấy. Anh đã nhận ra điều đó mà.”
“Phải, nhưng em có thể hình dung cảnh tỉnh giấc và thấy có người đang chĩa súng vào em từ bên kia phòng không? Em nghĩ vợ tôi nghĩ gì? Em nghĩ mọi người nghĩ gì khi cô ta kể cho họ nghe chuyện đó? Và cô ta đã kể cho rất nhiều người. Vậy đấy. Cô ta nói tôi rơi vào trạng thái tuyệt vọng và dồn nén, một ngày nào đó tôi sẽ giết người. Cô ta nói tôi muốn giết cô ta. Có thể là thế thật. Ai mà biết được?”
Cô lấy bao thuốc lá của anh trên bàn cà phê. Robert châm hộ cô. “Anh vẫn chưa kể cho em một chuyện gì thật sự gây sốc hết.” “Chưa à?” Anh cười. “Em còn muốn gì nữa? Ma cà rồng à?” “Chuyện gì đã xảy ra khi anh phải thôi học?”
“À, tôi chỉ mất có một học kỳ thôi, trong khoảng thời gian đó tôi phải đi trị liệu. Trị liệu và làm rất nhiều công việc quái đản. Khi quay lại trường, tôi tới sống cùng một người bạn quen hồi đại học. Kermit.
Cậu ấy sống cùng gia đình ở gần trường. Cậu ấy có một cậu em trai, một cô em gái, căn nhà thật sự hỗn loạn.” Robert mỉm cười. “Nhưng đấy vẫn là một mái ấm, em hiểu không? Nếu chưa từng trải nghiệm điều đó thì dù tôi có nói, em cũng không thể cảm nhận được. Tôi có một căn phòng riêng bé tẹo và khó mà có nổi một tiếng đồng hồ trọn vẹn để học bài mà không bị quấy rầy, trẻ con ra ra vào vào mọi lúc, nhưng đến khoảng nửa đêm, nếu Kermit và tôi vẫn còn thức để học bài thì mẹ cậu ấy sẽ mang bánh nướng, bánh kem và sữa lên cho chúng tôi. Nghe thật ngớ ngẩn, nhưng đó là một mái ấm, nó tốt đẹp hơn những gì tôi từng trải qua ở nhà mình. Tôi cũng không trách cứ gì mẹ mình. Bà ấy cũng có khó khăn riêng với bố tôi, và bà đã làm hết khả năng. Nhưng bà không thể gây dựng một thứ gì vững chắc từ những gì đang có trong tay - bố tôi luôn say xỉn và việc ly dị hay ly thân chỉ là điều sớm muộn. Tôi không biết liệu mình đã trình bày rõ ràng hay chưa. Chắc là chưa.”
“Giờ anh Kermit đó thế nào?”
“Chết rồi.” Anh hút thêm một điếu thuốc nữa. “Cậu ấy đã chết trong một vụ tai nạn ở Alaska. Chúng tôi đang thực hiện nghĩa vụ quân sự và được xếp vào cùng một tổ. Chúng tôi tưởng là sẽ bị đưa tới Hàn Quốc, nhưng cả hai đều chưa bao giờ thấy đất nước đó hay một trận chiến nào. Kermit bị giết bởi một cái máy bắn đá. Bị đá đập trúng lưng. Chuyện xảy ra vào một buổi sáng. Tôi đi lấy cà phê cho cả hai và tôi vừa mới rời khỏi chỗ cậu ấy có năm phút, đang mang cà phê quay lại, thì cậu ấy đã nằm gục trên mặt đất, vài binh lính khác đang đứng xung quanh.” Đột nhiên Robert cảm thấy ngượng nghịu với đôi mắt nghiêm trang, kiên định mà cô đang hướng vào anh. Bấy lâu nay anh không hề nhắc đến Kermit cho bất cứ ai, chưa từng kể lại câu chuyện đấy cho một người bạn nào của anh ở New York hết. “Ngay khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tôi đã tới New York,” anh nói.
Jenny gật đầu. “Vậy là anh cũng hiểu đôi điều về cái chết.” “Tôi hiểu cảm giác khi mất một người bạn. Nhưng cái chết à? Tôi chưa bao giờ thấy những người đồng đội mà tôi quen biết bị giết sạch trước mắt mình như nhiều người khác từng chứng kiến trong chiến tranh. Cái chết à? Không đâu.” Robert lắc đầu.
“Em hiểu chính xác ý anh định nói về việc duy trì sự tỉnh táo. Em cũng phải làm vậy. Cách đây ba năm khi em trai của em mất, em bỗng nhiên nghĩ rằng chẳng còn điều gì có ý nghĩa nữa. Đối với em dường như tất cả mọi người đều điên rồ trừ em. Anh biết điều mà người ta vẫn luôn nói về những kẻ điên không?” Một nụ cười e thẹn nở trên môi cô và khiến đôi mắt của cô lấp lánh. “Ý em là, cả thế giới này vẫn tiếp tục guồng quay, bố em vẫn tới công ty, mẹ em vẫn dọn dẹp nhà cửa… vậy nhưng cái chết vẫn ở lại nơi ấy với gia đình em.” Cô nhả thuốc, nhìn chằm chằm vào khoảng không trống rỗng trước mặt. “Em từng sợ cái chết. Em đã phải liên tục suy nghĩ về nó cho tới khi có thể thỏa hiệp với nó, theo cách của em. Cho tới lúc nó trở nên quen thuộc… Anh có hiểu ý em không?” Cô liếc lên nhìn anh rồi lại nhìn ra trước mặt. “Giờ thì em không còn sợ nó nữa. Em có thể hiểu vì sao người đàn ông ấy nói ‘Người Anh em Tử thần’ trong giấc mơ của anh.”
“Này, tôi không hề thấy thoải mái khi mơ giấc mơ đó đâu,” Robert nói.
Cô nhìn anh. “Nhưng một ngày nào đó anh sẽ thấy vậy, nếu anh liên tục nghĩ về nó. Dành đủ thời gian để nghĩ về nó.” Robert lắc đầu một cách vô thức. Rùng mình. Anh nhìn chằm chằm vào khuôn mặt non nớt của cô và thấy bối rối.
“Khi em nhận ra điều ấy về cái chết,” cô tiếp tục, “em đã nhìn thế giới theo một cách khác. Greg nghĩ cái chết làm em thấy tuyệt vọng nhưng anh ấy đã nhầm. Em chỉ không thích nghe những người khác nói về nó với vẻ khiếp đảm thường thấy. Anh hiểu không? Và… sau khi em gặp anh, anh cũng khiến em nhìn thế giới theo một cách rất khác, chỉ là hạnh phúc hơn rất nhiều. Ví dụ, toàn bộ hoạt động của ngân hàng nơi em làm việc. Lúc trước nó thật ảm đạm và nhạt nhẽo. Giờ thì khác rồi. Nó vui tươi. Mọi chuyện đều dễ dàng hơn.”
À, anh biết cảm xúc đấy. Chìm đắm trong tình yêu. Đột nhiên thế giới trở nên tươi đẹp. Đột nhiên các cành cây trơ trọi cất tiếng hát. Cô gái này còn quá trẻ. Giờ cô đang nói đến Dostoevski, và anh chẳng để tâm nghe, vì anh đang cố nghĩ cách chấm dứt câu chuyện mà không làm cô tổn thương. Anh cảm thấy tất cả những gì mà cuộc trò chuyện của họ đem lại là khiến cô xa càng thêm xa với anh.
Anh đi lại trên sàn trong khi cô nói đến “định mệnh” và “vĩnh hằng” - có vẻ như cô tin vào thế giới sau cái chết - và rồi anh nói, “Jenny, tất cả những gì tôi đã cố gắng nói từ trước là tôi không thể gặp lại em nữa. Tôi xin lỗi, nhưng là thế đấy.”
Giờ đột nhiên trông cô thật thống khổ, hai khóe miệng trễ xuống, và anh thấy có lỗi vì đã nói huỵch toẹt ra như thế, nhưng anh còn có thể làm gì được? Anh đi đi lại lại, hai tay đút trong túi. “Anh không thích gặp em à?” Cô hỏi.
“Tôi rất thích. Nhưng làm thế là sai lầm. Tôi thích nghĩ đến cảnh em hạnh phúc. Em có thể hiểu được điều đó không? Hồi tôi quan sát em qua cửa sổ phòng bếp, tôi thích nghĩ đến em hạnh phúc, với một người bạn trai mà rồi em sẽ cưới, và đó là tất cả. Quen em là một sai lầm và…” Nói hết câu dường như không còn cần thiết nữa. Anh ước gì cô sẽ ra về. Anh quay người, nghe tiếng cô sột soạt đứng dậy.
“Có một điều mà em muốn cảm ơn anh,” cô nói, “đó là giúp em nhận ra mình không yêu Greg và không nên cưới anh ấy. Em vô cùng biết ơn anh vì điều đó.”
“Tôi không nghĩ Greg chung cảm nhận ấy đâu.”
“Em không thể can thiệp vào điều đó. Như anh nói, chuyện nó thế rồi.” Cô gượng cười. “Vậy tạm biệt.”
Anh tiễn cô ra cửa. Cô đã lấy áo ra khỏi tủ đồ và mặc nó vào trước khi anh kịp giúp. “Tạm biệt.”
Và đột nhiên cô đi mất. Căn phòng lại trống trải.
“T
Chương 7
hôi nào, Jen, anh ta sống ở đâu ở Langley?” Greg hỏi. “Anh đã lấy được số điện thoại của anh ta và anh muốn cả địa chỉ nữa.”
“Vậy hỏi anh ấy đi. Nếu anh ấy muốn cho anh biết thì sẽ nói cho anh.”
“À, anh không nghĩ anh ta sẽ muốn cho anh biết. Nhưng anh muốn biết.”
Jenny thở dài mất kiên nhẫn và nhìn qua vai để xem liệu ông Stoddard có đứng gần đó hay không. Ông ấy không thích nhân viên gọi điện thoại cá nhân và cô đã nói với Greg điều đó rất nhiều lần rồi. “Greg, em phải dập máy đây.”
“Anh có quyền được biết và cũng có quyền tới gặp anh ta nếu anh muốn.”
“Em không biết làm sao mà anh lại nảy ra được suy nghĩ này trong vòng hai mươi tư giờ. Anh đang cư xử như trẻ con đấy.” “Còn em thì đang nhát gan quá đấy, Jenny. Anh chưa bao giờ nghĩ em lại như thế. Còn cái gã…”
“Cứ gọi thế nào tùy thích. Em không quan tâm đâu.” Cô dập máy. Greg chắc đang ở Rittersville, cô nghĩ. Đó là điểm dừng chân quen thuộc mỗi chiều thứ Hai của anh ta, cửa hàng dược phẩm trong thị trấn và một cửa hàng khác trong trung tâm mua sắm. Cô không nghi ngờ việc khi Greg gọi cho Robert lúc năm rưỡi hoặc sáu giờ hoặc bất kỳ giờ nào mà anh ta đi làm về nhà, Robert sẽ trấn an anh ta rằng anh và cô sẽ không gặp lại nhau nữa. Jenny không muốn tự mình nói điều đó với Greg. Đó sẽ là chiến thắng về phía anh ta, cô nghĩ Greg đã hành xử một cách ghê tởm và không xứng đáng được nhận một chiến thắng nào, dù là nhỏ nhoi, và chắc chắn
chuyện này rất nhỏ, vì nó không hề thay đổi cảm xúc của cô dành cho Greg hay Robert một chút nào.
Giờ cô phải đếm lại số tiền trong két, vì đã không ghi lại con số đang đếm dở khi Steve gọi cô ra nghe điện thoại. Cô bắt đầu lại với tệp năm trăm đô la.
“Òa!” Steve hù, ôm lấy eo cô từ sau lưng. “Ai là người vừa gọi điện cho cô đấy?”
“Dừng lại đi, Steve, tôi đang đếm.”
“Greg không chờ được chứ gì?” Anh ta nói, bỏ đi.
Jenny vẫn cần mẫn đếm, đầu cúi xuống. Hơi nóng bốc lên từ lỗ thông khí dưới chân cô. Khi cô về tới nhà chắc nhà sẽ lạnh lắm. Cô sẽ bật máy điều nhiệt và căn nhà sẽ ấm lên trong vòng mười phút, nhưng tối nay cô sẽ ở một mình, không có ai ăn tối cùng. Nhưng Robert ở đó, ở Langley, cách đó chưa đầy hai lăm cây số. Anh không nói sẽ quay lại New York. Jenny tự hỏi có nên tin những gì anh nói về vợ mình không. Vậy nhưng cô không nghĩ Robert sẽ nói dối hay, cho dù anh có cố làm vậy thì cũng sẽ không giỏi che giấu, hay sẽ không giỏi như ngày hôm qua nếu thực sự lúc đó anh đã nói dối, nên cô buộc phải tin chuyện anh đã có vợ. Có thể họ sẽ không tìm ra cách để hòa giải, cô nghĩ. Ai mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra cơ chứ? Chẳng ai cả. Cô không mong Robert sẽ quay lại hay không quay lại với vợ mình, vì ước nguyện về một chuyện như thế chỉ vô ích. Thứ hai nữa, mà thực ra là điểm chính yếu, đó là cô hy vọng Robert được hạnh phúc. Thật kỳ lạ khi anh luôn nói mình cũng mong điều tương tự đến với cô. Jenny tính tổng cộng - mười một nghìn, năm lăm đô la và mười bảy xu - và cất két vào trong hộc, khóa nó lại bằng chiếc chìa nằm trong chùm chìa của cô. Rồi cô mang phiếu gửi tiền, hóa đơn hủy, các khoản trả tiền nợ, gia hạn nợ và phiếu gửi tiền quỹ Giáng sinh tới chỗ Rita, người đang ngồi ở chỗ máy kiểm tiền trong văn phòng.
“Bà McGrath nghĩ là mình bị trả thiếu mười đô,” Jenny nói, “nên hãy báo lại cho tôi nhé. Đây là số tổng của tôi.”
“À, cái bà già đó. Bà ta nghĩ mình bị trả thiếu tiền hai lần một tuần,” Rita nói, không rời mắt khỏi công việc đang làm.
Jenny rời ngân hàng lúc bốn giờ hai mươi. Cô hy vọng Robert sẽ tỏ ra cộc cằn, kiên quyết và không đồng ý gặp Greg. Cô có thể hình dung đến chuyện anh ta trở nên kích động đến mức sẵn sàng tấn công Robert, thậm chí là nện anh nhừ tử. Greg từng tập quyền anh ở một phòng gym và rất tự hào về nắm đấm của mình. Một thứ thật khủng khiếp để thấy tự hào, Jenny nghĩ. Bất kỳ một gã khốn nạn nào cũng có thể học cách đánh vào mặt ai đó. Cô không tưởng tượng nổi cảnh Robert đánh người. Trông anh rất hòa nhã, và đối với Jenny thì đó chính là phẩm chất nam tính nhất trong tất cả, sự hòa nhã. Cô tưởng tượng ra khuôn mặt của Robert trước mặt, mái tóc nâu dày, đôi mắt nâu sáng, khuôn miệng với khóe môi bên trái trễ xuống, cái cằm có một vết chẻ nhạt, cô hình dung ra anh hệt như ngày hôm qua sau khi đi trượt tuyết, mặc áo sơ mi trắng, quần màu xám đậm, cúi xuống lò sưởi để quẳng một khúc gỗ vào, và xương cô như tan ra thành nước, và cô phải bám chặt lấy vô-lăng để giữ xe chạy bon bon trên đường.
Về đến nhà, cô mở tủ lạnh rồi cất xà lách và sườn mà cô đã mua cho bữa tối ở cửa hàng Wayside trên đường từ Humbert Corners về nhà, sau đó cô đi tắm. Đây không phải thời điểm mà cô hay tắm, nhưng cô nghĩ tắm táp sẽ giúp mình thả lỏng và giết thời gian trong lúc chờ cuộc điện thoại không thể tránh khỏi từ Greg tối nay. Vì sao có người cứ phải làm cuộc sống khó khăn đến như thế? Khi Fritzie Schall ở Scranton, người mà cô đã từng rất yêu, đá cô để theo một cô gái khác, cô đã chấp nhận sự thật đó, không hề cố gắng gọi điện hay tìm gặp anh ta. Nhưng gã Greg này!
Cô mặc một cái áo len và váy cũ, đi đôi giày đế bệt, rồi ra tưới nước cho cây cối. Rồi cô phủi bụi trong phòng khách, rửa nốt hai cái đĩa trong bồn rửa mà cô đã phải bỏ lại sáng hôm nay vì suýt muộn giờ làm. Cô ngồi xuống phòng khách với một tách cà phê cùng cuốn Keats và Shelley ấn bản của Modem Library. Cô mở tới trang về Keats. Nhưng sau cùng thì, Keats không phải là điều cô muốn. Mà là Blake. Cô lấy quyển sách to đùng về Donne và Blake từ trên giá. Cô đã gạch chân vài đoạn trong cuốn Vần Điệu:
Dưới mọi đớn đau và khát khao
Là niềm vui xoắn xuýt lụa là.
Cô nhớ nhiều năm trước cô vẫn nghĩ “khát khao” chỉ một loại cây.
Người giễu cợt niềm tin của đứa trẻ
Sẽ bị giễu cợt bởi tuổi tác và cái chết.
Người dạy đứa trẻ hoài nghi
Nấm mồ thối rữa không thể trốn.
Người trân trọng niềm tin của đứa trẻ
Sẽ chiến thắng địa ngục và cái chết.
Nhịp điệu mạnh mẽ của các dòng thơ cũng có tác dụng an ủi như ý nghĩa của chúng vậy.
Cô nhảy bật dậy trước tiếng điện thoại. Mới sáu giờ năm phút. “Điện thoại đường dài. Xin giữ máy.”
Đó là mẹ của Jenny, gọi điện từ Scranton. Bà thấy buồn bực vì bức thư cô gửi về thông báo sẽ không cưới Greg nữa. “Có chuyện gì không ổn vậy, Jenny? Con còn làm bố con lo lắng nữa đấy.”
Cô có thể thấy mẹ mình ngồi thẳng người trên một cái ghế lưng thẳng trong sảnh, chắc là đang đeo tạp dề, vì gia đình cô thường ăn tối lúc sáu giờ, và mẹ cô hẳn sẽ lùi bữa tối lại vài phút, vì gọi điện sau sáu giờ rẻ hơn.
“Không có gì xảy ra hết đâu mẹ. Chỉ là con không yêu anh ấy đủ nhiều. Con đã biết từ cách đây vài tuần rồi, vậy nên…” “Không có người nào khác chứ, Thỏ con?”
Jenny mừng vì Greg chưa gọi điện cho bố mẹ cô. Cô nửa muốn nửa không muốn kể cho họ nghe về Robert. Một người đàn ông đã có vợ, họ sẽ thốt lên một cách hãi hùng. Nhưng cô cũng đã hình dung đến cảnh ngồi ở bàn ăn tối với họ, tiêu khiển cho họ với những gì Robert đã nói, đã làm, miêu tả diện mạo của anh, sự chín chắn của anh - hệt như cái cách cô vẫn luôn nói về đám con trai con gái
mà cô đã thích ở trường học. Cô phải kể về những người mình quý mến, dù hành động ấy có thể thật ngây thơ.
“Có đúng không, Jenny? Có, đúng không?”
“Có, nhưng con không nghĩ mình sẽ gặp lại anh ấy vì con không thể. Trời ơi, mẹ, mẹ đối xử với con như đứa con nít vậy!” “Thế con còn mong đợi gì ở gia đình mình khi chúng ta đã gần đến nước chuẩn bị gửi thiệp cưới và rồi nhận được một bức thư như vậy từ con? Giờ thì người đó là ai?”
“Tên anh ấy là Robert.” Cô thích nhắn nhủ tên anh về tới Scranton qua đường dây điện thoại.
“Robert gì?”
“Mẹ, chuyện đó không quan trọng vì con không nghĩ mình sẽ gặp lại anh ấy.”
“Mẹ chắc chắn như thế là tốt nhất. Vậy con đã gặp anh ta ở đâu?”
“Con đã gặp anh ấy một cách hết sức bình thường,” cô nói, nhấn mạnh chữ “bình” như cô vẫn làm khi muốn tỏ ra nói thật. “Nhưng bọn con đã thống nhất sẽ không gặp lại nhau nữa, thế thôi.”
“Vậy mẹ cho là nó không quan tâm nhiều đến con không thì đã muốn gặp con rồi. Giờ, mẹ gợi ý con nên nguôi nguôi lại một chút rồi nghĩ lại về Gregory. Nó là một chàng trai dễ chịu, ổn định, Thỏ con à, và nó rất mê con, chuyện đã rõ rành rành. Bố con cũng quý nó,” bà nói thêm như thể điều đó đóng đinh mọi chuyện. “Giờ thì mẹ phải dập máy vì đây là một cuộc điện thoại đường dài, nhưng mẹ nghĩ việc phải nói chuyện với con ngay tối nay là rất quan trọng.”
“Don thế nào hả mẹ?”
“Don ổn. Tối nay nó qua nhà bạn làm bài tập về nhà và ăn tối ở đó luôn, nên giờ nó không có ở đây, không thì mẹ đã bảo nó chào con rồi.”
Bài tập về nhà, Jenny nghĩ, trong khi Don đã học năm hai cao đẳng. Mẹ cô nói cứ như thể nó mới mười tuổi.
Cuối cùng họ dập máy, đều hứa sẽ viết thư.
Jenny làm món sườn, nghĩ rằng nếu cô không bắt đầu nấu chúng thì chắc tối nay sẽ chẳng được ăn món gì cho chắc dạ. Món ăn yêu thích của cô là salad, và cô có thể sống với chúng, salad xà lách, củ cải, cần tây, cà chua, đậu que sống, cà rốt, tất cả những thứ có màu xanh mọc trên mặt đất. Đó là lý do gia đình gọi cô là Thỏ con. Bố cô sợ cô thiếu máu. Gia đình cô luôn sợ hãi một thứ gì đó. Một phút sau Jenny cất một dẻ sườn đi. Một thôi là đủ cho bữa tối. Cô cất cái dẻ còn lại vào tủ đá rồi bắt đầu làm salad.
Greg gọi điện ngay trước bảy giờ.
“À, chào buổi tối,” anh ta nói. “Anh có tin thú vị cho em đây. Gã Forester sẽ về New York.”
“À thế à?” Jenny nói. “Em đoán là anh thấy tin tức đó thú vị chứ em thì không.”
“Như nhau thôi. Đó là quyết định mới đây của anh ta. Anh ta quá nhát gan không dám cho anh biết địa chỉ nhà. Anh nghĩ điều đó cũng có thể thú vị với em.”
“Không hề.”
“Và anh còn một chuyện nữa phải báo cho em đây. Anh đã gọi tới số điện thoại cũ của anh ta ở New York với tâm lý được chăng hay chớ và gặp được vợ anh ta. Họ sắp ly dị đấy Jenny, và theo những gì cô ta kể thì anh có thể hiểu vì sao. Anh ta điên lắm.”
“À, thế à?”
“Đúng thế đấy.”
“Đó là lí do để ly dị à? Em nghĩ ngờ đấy.”
“Không, chỉ là do ngoại tình ở New York, em biết đấy. Anh chắc chắn là gã Forester cũng phạm cái tội đó. Nhưng vợ anh ta nói rõ là anh ta bị điên. Em không nghĩ là gã Forester sẽ tự khai điều đó với em chứ? Em có biết là mình đã tự đặt tính mạng vào vòng nguy hiểm khi mời anh ta tới nhà ăn tối không? Mời anh ta ăn tối! Trời đất ơi! Thỉnh thoảng anh nghĩ em cũng cần đi khám não đó, Jenny.”
“Em chán ngấy mấy lời khuyên của anh rồi!” Jenny nói, giận dữ hơn bất kỳ lần nào từng nói chuyện với anh ta. “Cái ý tưởng gọi điện cho vợ anh ấy ở New York! Trời ơi, anh có nghĩ mình đang can thiệp một cách vô lý vào chuyện của người khác không?”
“Anh gọi đó là điều tra và anh mừng vì mình đã làm vậy. Anh đã dọa cho gã khốn đó phải chạy khỏi thị trấn, Jen, và em nên cảm thấy may mắn vì điều đó. Tiện đây, Rita bạn em chưa từng nghe đến tên hắn. Em có gì để nói về điều đó nào?”
“Trời ơi, trời ơi, cả ngày hôm nay anh chỉ dành để nói chuyện điện thoại thôi à?”
“Vì sao em lại bảo hắn là bạn của Rita?”
“Vì anh tọc mạch quá chứ sao, em phải nói điều gì đó để làm anh im lặng.”
“Anh không giữ im lặng đâu, bé à.”
“Nếu anh nghĩ là làm những chuyện này sẽ khiến em quý mến anh hơn thì anh đã nhầm.”
“Không. Không. Có thể anh không. Nhưng biết được sự thật là tốt nhất, không phải sao? Gã Forester chưa tiết lộ hết sự thật. Hắn sẽ không thừa nhận chuyện em say nắng hắn ta hay hắn cũng biết điều đó đâu.”
“Biết điều gì cơ?” Cô vặn lại.
“Ôi, Jenny, đừng cãi nhau vô ích nữa. Chuyện vợ hắn bảo hắn bị điên khiến anh nghĩ đến một chuyện. Có phải thằng đó chính là cái tên biến thái nhìn trộm em không Jen? Có phải vì thế mà em quen nó không? Có đúng không?”
“Anh mất trí rồi,” Jenny nói.
“Em đang khóc vì chuyện gì vậy? Vì Chúa, Jenny, anh không cố ý làm em khóc. Nghe này, anh ghé qua được chứ? Anh đang ở Langley. Mất chưa đầy nửa tiếng để tới đó.”
“Em không muốn gặp anh.”
“Hừ,” anh ta gầm ghè. “Gã Forester không kể hắn gặp em như thế nào khi nghe anh nhắc về Rita. Anh đã hỏi có phải hắn rình rập quanh nhà em không sau khi thuật lại những tiếng động mà chúng ta đã nghe thấy. Anh còn kể cho hắn những điều vợ hắn nói nữa. Gã đó buồn bực thấy rõ, cô Thierolf ạ. Hắn sẽ biến khỏi thị trấn, và nếu hắn ta không làm vậy thì anh sẽ tự tay thu xếp chuyện đó.”
Jenny dập máy. Cô đi ra bồn rửa bát và rửa mặt bằng nước lạnh. Greg chết tiệt! Anh ta còn là một kẻ tọc mạch xấu xa hơn cả Susie Escham. Rita có thể đã nắm được tình hình và xác nhận đã giới thiệu Robert cho cô, nhưng chắc là Greg đã chất vấn mãi không thôi nên mới lộ ra như thế. Và dù không hề xấu tính, Rita lại không được sáng dạ.
Cô rất muốn gọi điện cho Robert, báo rằng mọi chuyện không có gì quan trọng, đừng để nó quấy rầy anh và hãy quên nó đi. Nhưng sau cùng thì, Robert đã nói tất cả những gì muốn nói. Anh không muốn gặp lại cô nữa. Việc đúng đắn phải làm bây giờ là đừng gọi cho anh, dù chỉ để nói một vài lời an ủi thân mật, cô nghĩ. Cô tự hỏi vợ anh là kiểu phụ nữ như thế nào mà lại nói một điều khủng khiếp đến vậy về chồng mình với một kẻ ất ơ xa lạ.
Chương 8
T
rong suốt năm ngày, tối nào Greg cũng gọi điện đòi gặp cô. Jenny kiên quyết từ chối, một cách lịch sự, và họ không còn dành những lời giận dữ cho nhau nữa. Cô nói muốn được ở
một mình một thời gian, và tâm trí cô ngày một kiên định về chuyện đó, do đó lời nói của cô cũng ngày một có sức thuyết phục với Greg. Cô thấy mừng vì ngân hàng của anh ta ở Rittersville chứ không phải là Humbert Corners; cô không muốn nhìn thấy mặt anh ta dù chỉ qua lưới sắt cửa sổ. Mười ngày đã trôi qua, bao gồm cả sinh nhật của Greg, hôm đó Jenny chỉ gửi cho anh ta một tấm thiệp chúc mừng thân thiện nhưng không nhiệt tình. Cô thấy ngạc nhiên và biết ơn vì anh ta không xuất hiện ở đường vào nhà mình. Cô đoán là anh ta đang chờ cô nhận ra cảm giác cô đơn ngày một lớn dần lên khi phải ở một mình trong căn nhà biệt lập, nghĩ rằng chỉ hai tuần nữa thôi cô sẽ sướng rơn khi anh ta trở lại.
Khi nghĩ tới Robert, cô cảm nhận được một nỗi đau rõ ràng, nhưng phai đi gần như ngay lập tức, thế rồi một chuỗi hình ảnh xuất hiện: Robert trông thật nghiêm nghị dưới ánh nến trong nhà hàng, Robert trông ngờ vực ở đường trượt, Robert mặc áo sơ mi đi đi lại lại trong phòng khách của cô, rồi cả lần cuối cô gặp anh, khi anh bước tới bước lui trong phòng một cách lo âu nữa. Nhưng ký ức xúc động nhất mà cô có về anh là lúc nhìn thấy anh đứng trong ánh sáng phát ra từ ngọn lửa cạnh nhà cô - khi anh vẫn còn là kẻ xa lạ. Cô hoàn toàn không thấy e sợ ký ức ấy, chỉ thấy kỳ cục và chán nản khi phần lớn mọi người lại thấy sợ hãi nó. Phần lớn bọn họ không biết gì về cuộc sống cả. Tất nhiên cô không cho là mình biết tất cả, nhưng cô cảm thấy mình đang đi đúng hướng. Cô không bi quan theo cả chục hướng khác nhau như phần lớn mọi người. Có thể mối liên hệ của cô với Robert đã kết thúc, và nếu vậy thì cứ để vậy,
nhưng cũng có khả năng một thứ khác đã được định mệnh sắp đặt - hoặc tốt hoặc xấu. Và có thể cô đang quá thụ động khi cố gắng không liên lạc với anh vào thời gian này.
Một buổi tối, tầm chín giờ, cô gọi vào số điện thoại cũ của Robert ở Langley. Cô cứ nghĩ một người trực tổng đài sẽ nhận máy và thông báo số điện thoại này đã bị cắt. Hoặc một người lạ được chuyển giao số của Robert sẽ nghe máy.
“Cô đang gọi tới một số điện thoại đã bị cắt,” tổng đài viên sẽ nói. “Cô có muốn biết số mới không?”
“Có,” Jenny nói.
“À, tôi xin lỗi, chúng tôi không được phép báo số điện thoại mới. Đó là số điện thoại không công khai.”
“Ý cô là số ở Langley này à? Gọi tới Robert Forester?” “Phải. Đó là số ở Langley, nhưng không công khai.”
“Cảm ơn cô.”
Greg không biết là Robert vẫn còn ở Langley, Jenny nghĩ thầm. Hai tuần trước anh ta đã gọi cho cô, đắc thắng thông báo là Robert đã rời thị trấn, hẳn anh ta đã dựa vào việc số điện thoại cũ của Robert không còn hoạt động nữa. Có thể tổng đài viên mà Greg gặp không thông báo rằng Robert có một số điện thoại không công khai. Cô có thể gọi cho anh ở văn phòng vì chắc anh vẫn còn làm việc ở đó. Cô lên giường mà vẫn mải suy nghĩ về điều đó, dù cô biết dưới ánh sáng ban ngày cô sẽ nhìn nhận mọi thứ thấu đáo hơn và sẽ thấy quyết định gọi điện cho anh là một hành động sai lầm.
Sáng hôm sau cô gọi cho anh lúc mười một giờ, lấy cớ để ra khỏi ngân hàng trong giờ nghỉ giữa giờ, vì họ có một cái máy pha cà phê trong căn phòng sau két sắt. Cô phải nói chuyện với hai người, một người phụ nữ và một người đàn ông, trước khi Robert nghe máy.
“Chào, Robert. Anh khỏe không?” Cô hỏi.
“À, khỏe, cảm ơn em. Còn em thì sao, Jenny?”
“Cho tới tối qua em vẫn không biết anh vẫn còn ở thị trấn.” Cô ép mạnh ống nghe vào tai. “Em đã gọi vào số điện thoại cũ của anh.”
Tất cả những câu xã giao vui vẻ mà cô định nói đều biến đi đâu mất tăm.
“À, tôi đã chuyển ra một căn nhà biệt lập.”
“Anh thật sự vẫn ổn chứ?”
“Tất nhiên rồi. Ổn hơn lần cuối cùng em gặp tôi, tôi nghĩ vậy.” “Giờ anh đã li dị à?”
“Phải. Tôi đã nhận được giấy tờ.”
“Robert, em vô cùng xin lỗi vì việc Greg đã gọi cho anh. Có vẻ như tất cả những gì em có thể làm là xin lỗi hộ anh ta.” “À, chuyện đó đã xảy ra từ lâu rồi, cách đây một tháng, không phải sao? Tôi chỉ ước cậu ta đã không gọi đến New York.” “Em đã điên lên với Greg về chuyện đó. Em đã không gặp anh ta kể từ ngày anh ta phá hỏng bữa tối của chúng ta.” Cô dừng lại, muốn hỏi rằng giờ anh đã li dị, vậy họ có thể gặp nhau không? Cô vẫn nhớ anh đã nói gì về việc nhìn cô, thích ngắm cô qua cửa sổ bếp. Đó cũng là cảm giác cô dành cho anh. Cô chỉ đơn giản muốn nhìn thấy anh mà thôi.
“Tôi nghĩ là mình phải đi bây giờ đây, Jenny. Cảm ơn em vì đã gọi cho tôi.”
Họ đã dập máy trước khi cô kịp nhận ra. Cô tự kiểm điểm lại bản thân vì bật ra chuyện về vụ li dị: đáng ra cô không thể biết điều đó. Nó làm Robert thấy xấu hổ. Và anh hoàn toàn không có hứng thú với việc cô đã lâu không gặp Greg.
Khi công việc của cô kết thúc lúc bốn giờ ba lăm, Jenny lái xe tới Langley. Mặt trời đang lặn và hoàng hôn đã rơi xuống. Cô đoán là nhân viên ở Langley Aeronautics tan làm lúc năm giờ, và việc tìm được xe của Robert giữa hàng trăm con xe khác có lẽ là vô vọng, nhưng anh sẽ có mặt trong số đó, ở đâu đó, có thể cách cô năm trăm mét, có thể gần hơn. Bãi đỗ của Langley Aeronautics trông cũng giống những bãi xe cũ mà cô đã đi qua. Thậm chí còn có một cảnh sát điều tiết xe cộ đi ra khỏi nhà máy, qua các cánh cổng sắt. Và có ít nhất ba lối ra. Xe của Robert là một chiếc mui trần màu đen với khung crôm hai bên nóc - không có nhiều xe trông như vậy, nhưng ở đây có quá nhiều xe. Cô chầm chậm lái qua các lối ra cho
tới khi chỉ còn lại khoảng hai mươi xe trong bãi, nhưng vẫn không thấy xe của Robert đâu. Cuối cùng, cô đành lái xe về nhà. Cô được mời tới ăn tối ở nhà Tesser lúc bảy giờ dù cô không hào hứng với nó cho lắm. Gia đình Tesser nghĩ cô phiền muộn vì vụ chia tay với Greg - một chuyện mà họ không hiểu nổi - và cố gắng làm cô vui lên. Cô chưa hề kể cho họ về Robert. Nhưng có thể tối nay cô sẽ kể. Cô phải chia sẻ cho ai đó nghe.
Điện thoại reo khi cô mở cửa, cô đã hy vọng đó là Robert, nhưng hóa ra lại là Greg. Có một buổi hòa nhạc được tổ chức ở Thính phòng Langley nhân kỉ niệm ngày sinh của Washington, và Greg muốn đưa cô đi nghe. Cô cảm ơn anh ta và từ chối.
“Chuyện này còn kéo dài đến bao giờ nữa, Jenny? Anh đã cho em hơn một tháng rồi. Em đang làm cái gì vậy, vẫn thầm thương trộm nhớ gã Forester hay sao? Em đang nghĩ đến việc tới New York theo hắn à?”
“Em chỉ muốn được ở một m-mình thôi, Greg.”
“Em sẽ đi gặp ai thế? Susie à? Hay một thằng bạn trai của cô ta?”
“Không!”
“Được rồi, bé con. Anh yêu em. Nhưng có những lúc anh nghĩ em cần ăn no đòn. Em sẽ còn nghe tin từ anh đấy.”
Đó là tối thứ Năm, và cô lại nhận được một bức thư từ anh ta vào thứ Bảy. Bức thư dài bốn trang giấy, được đánh máy, đạt đến đỉnh điểm ở trang thứ tư khi anh ta nói về thái độ tàn nhẫn của cô khi từ chối gặp anh ta lâu đến như vậy, cũng chỉ ra rằng anh ta đã chiều theo cô với một sự kiên nhẫn phi thường mà hiếm có người đàn ông nào có thể sẵn lòng hay đủ khả năng thể hiện.
Vào tối thứ Ba kế tiếp, là lần thứ tư hay thứ năm gì đó khi Jenny cố tìm xe của Robert ở nhà máy Langley Aeronautics, và cô đã tìm ra. Anh ra khỏi một cánh cổng, rẽ về phía bắc, sáu con xe khác đi giữa họ, nhưng cô vẫn nhận ra xe của anh rẽ trái sau khoảng một cây số. Đó là một con đường rời khỏi thị trấn và dẫn thẳng tới một vùng nông thôn. Cô vẫn bám sau anh ở một khoảng cách đáng kể vì bây giờ không còn xe nào chắn giữa họ nữa. Cô chỉ muốn nhìn nhà
anh và biết nó ở đâu. Đèn hậu màu đỏ của xe anh rẽ sang phải rồi dừng lại, đèn pha chiếu sáng một ngôi nhà nhỏ có mái nhọn. Cô đi chậm lại, thấy Robert ra khỏi xe cũ, để yên đèn và đi về phía ngôi nhà. Khi đã ở gần đường vào nhà anh, cô đi chậm hơn nữa, muốn được nhìn thấy, muốn được gọi tên. Nó là một lối vào nhà ngắn.
“Jenny đấy à?” Anh gọi.
Cô rẽ vào đường vào nhà anh và dừng lại, nhìn anh bước về phía mình. Anh đang mỉm cười, ngạc nhiên, nhưng trông anh thân thiện chứ không có vẻ bực dọc.
“Ra đó là em,” anh nói. “Có vấn đề gì à?”
“Không.”
“À… muốn ra khỏi xe không? Vào nhà đi.”
Cô tắt động cơ, bước ra ngoài, cùng anh đi về phía căn nhà. Cửa hướng ra đường lái xe vào nhà, một cánh cửa với các ô kính hình kim cương ở nửa trên. Các cột chống mái hiên nhỏ được chạm rãnh hình xoáy ốc. Nó có màu đen và nâu, và đó là tất cả những gì cô có thể nhìn thấy và cô cũng chẳng mấy để tâm, vì còn mải chú tâm vào Robert, cô không thể tìm ra lời nào để nói với anh, không phải câu xin lỗi, lời bông đùa, không gì cả.
Anh bật đèn sau cửa. “Vào đi. Tôi sẽ vào ngay sau.” Anh ra ngoài để tắt đèn xe của mình.
Căn phòng trông như phòng chính của một lâu đài thời trung cổ. Có một lò sưởi ở bên trái, cao ba mét, khiến cho mặt lò sưởi không thể được dùng đúng chức năng của nó, và một chiếc tràng kỷ kiểu Shakespeare màu đỏ dựa vào tường. Trên ban công trên gác là phòng ngủ, quá rõ ràng, vì phòng khách choán gần hết diện tích tầng trệt.
“Một chỗ khá thú vị, đúng không?” Robert nói, mỉm cười. “Tôi thích nó lắm.”
“Nó như một thứ bước ra từ truyện cổ tích vậy.”
“Để tôi cất áo khoác cho em.”
Anh treo áo khoác của cô vào tủ cùng áo của anh, rồi tới bên lò sưởi, nơi củi đã nằm sẵn sàng chờ nhóm, chúng chỉ chiếm một không gian nhỏ xíu đến mức ngớ ngẩn trong cái lò sưởi rộng hoác.
Anh lấy diêm đốt một mẩu giấy đặt dưới củi rồi mở lưới sắt ra. Rồi anh bật một cây đèn trên cái bàn nằm chính giữa phòng và tắt bóng đèn trên đầu đi. Trên mặt bàn đầy các bức vẽ máy móc bằng bút chì và bút mực.
“Em ngồi đi. Em có muốn uống gì không?”
Cô ngồi xuống một cái ghế bành da gần lò sưởi.
“Nói xem, tối nay em không nói gì nhiều nhỉ.” Anh đi tới một cánh cửa dẫn vào căn bếp màu xanh dương.
Cô theo chân anh. Căn bếp nhỏ xíu, nhưng rất gọn gàng và sạch sẽ. Anh lấy đá ra và đo rượu Scotch bằng ly jigger, rồi đổ vào một cái cốc thủy tinh cao. Anh liếc nhìn cô qua vai hai lần, khiến cô nhớ lại lần anh tới nhà mình, khi ấy cô - cô phải thú nhận - đã hơi sợ hãi khi nhìn thấy anh. Giờ thì anh đang mỉm cười và trông hạnh phúc. Anh đưa một cốc rượu cho cô, và họ quay lại phòng khách. Cô nhận thấy giờ anh đã có máy nghe đĩa và có một giá toàn đĩa L.P. bên dưới.
“Trông anh như thể đã quyết định định cư ở đây. Anh đã ký hợp đồng thuê nhà chưa?” Cô hỏi, và ngay lập tức thấy ghét bản thân vì câu hỏi tầm thường ấy. Cô uống ba ngụm Scotch lớn từ cốc của mình.
“Rồi, hợp đồng một năm. Một trăm hai mươi lăm đô một tháng, gồm cả tiền khí đốt. Không tệ nhỉ, em nghĩ sao?” Anh nhìn cô với ánh mắt như đang cười. Anh ngồi trên một cái ghế độn bông cạnh lò sưởi.
“Không có nhiều phòng lắm,” cô nói một cách khó tính, nhìn lên chữ V nhọn ngược của trần nhà.
“Tôi không cần thêm phòng làm gì. Tôi mừng vì em ghé qua đây. Ở chỗ này có hơi cô đơn. Không giống như lúc sống trong một khu căn hộ.”
Trông anh hoàn toàn không cô đơn, cô nghĩ. Rồi cô nghĩ tới vụ li dị. “Em xin lỗi vì đã nhắc đến vụ li dị của anh. Em chỉ biết điều đó qua Greg.”
Nụ cười của anh biến mất rồi quay lại. “Không quan trọng. Tôi mừng vì đã li dị. Điều quan trọng là tôi chắc chắn Nickie cũng hạnh
phúc hơn, nên thế là tốt nhất cho tất cả. Greg thế nào? Em đã gặp cậu ta chưa?”
“Em đã bảo anh rồi,” Jenny nói, “em chưa hề gặp lại anh ta từ hôm Chủ nhật chúng ta đi trượt tuyết.”
“À.” Anh đút một thanh củi khác vào lò.
Jenny nhìn giá sách cạnh lò sưởi của anh. Phần lớn chúng đều có bìa mới. Có rất nhiều sách lịch sử và hồi ký. Anh lấy cốc khỏi tay cô.
“Muốn uống thêm chứ? Hay là thôi?”
“Có chứ, cảm ơn anh.”
Rượu nhanh chóng xộc lên đầu cô, khiến cô thả lỏng và buồn rầu. Cô sợ là mình có thể nói hay làm gì đó sai lầm khiến Robert không thích và không bao giờ muốn gặp lại cô nữa. Cô có thể thấy anh bắt đầu trông lo lắng vì cô ngày càng im lặng hơn, rồi anh mời cô ở lại ăn tối, vì anh có một miếng thịt bò đủ lớn cho hai người ăn, anh có thể nướng nó trên lửa và cô đồng ý ở lại. Rồi tâm trí lờ đờ, thực tế của cô tự hỏi miếng thịt ấy đã được rã đông chưa, và điều kế tiếp mà cô biết là Robert đang bọc những củ khoai tây trong giấy bạc, quỳ xuống trước lò sưởi, và miếng thịt đang nằm trên một tấm lưới sắt, sẵn sàng để được cho vào lò, rõ ràng nó đã được rã đông.
“Em trộn salad nhé? Em làm món đó ngon lắm.” Cô loạng choạng đứng dậy và cảm thấy nụ cười ngớ ngẩn của mình làm hai khóe miệng trĩu nặng, vẻ ngoài và cách cư xử của cô cứ như của một đứa con gái mười sáu tuổi, và cô thấy căm ghét bản thân vì điều đó.
Nhưng vào đến trong bếp thì cô quên đi trạng thái căng thẳng của mình khi trộn sốt trong cái bát salad bằng gỗ tối màu của Robert. Anh có tỏi, hành tây, và đủ loại rau thơm. Anh đã buộc một cái tạp dề bằng vải bò trông như của thợ mộc quanh người cô, và cô vẫn nhớ cảm giác khi tay anh lướt qua eo cô. Cô làm salad một cách cầu kỳ, đến lúc xong xuôi thì món thịt bò và khoai tây cũng vừa hoàn thành, Robert đã xếp bàn ăn ở một góc trong phòng khách, đúng điều mà cô định làm. Trên bàn còn có một chai rượu vang đỏ của Pháp.
Trong bữa ăn, Robert kể về công việc của mình và nói rằng có khả năng anh sẽ tới Philadelphia, nơi đặt nhà máy chính của Langley Aeronautics. Anh đang nghiên cứu việc kết hợp hai bộ phận của một thứ gì đó trong động cơ trực thăng và trên bàn làm việc của anh chính là bản vẽ của chúng. Anh cho cô xem một bức và Jenny cố gắng để hiểu nó, nhưng lại nhìn thấy nó nhân đôi. Chắc vì cô chẳng nhận xét gì nhiều về chúng nên anh cho cô xem một tập tranh vẽ côn trùng - thứ duy nhất mà cô từng nghe nói đến là bọ ngựa, trông thật đáng sợ trong bức vẽ của Robert. Anh kể cho cô biết là các bức tranh này sẽ được in thành sách và anh chuẩn bị gửi toàn bộ tới New York. Rồi cô thấy xấu hổ khi Robert thôi kể về công việc của mình và hỏi cô đã bao giờ tới dự buổi hòa nhạc của Mozart và Stravinsky ở Thính phòng Langley chưa, Jenny bảo chưa từng, dù cô không nói rằng Greg đã mời cô đi. Mới đầu cô còn hăm hở ngấu nghiến món thịt, nhưng rồi đột nhiên cô không thể ăn thêm được nữa. Lúc ăn salad do mình làm, cô cảm thấy muốn khóc nức nở.
“Robert, em yêu anh,” cô ngắt lời anh.
Anh phát ra một âm thanh nửa cười nửa thảng thốt ngạc nhiên, rồi cô thấy mình đã ngồi trên tràng kỷ đỏ, tựa lưng vào vài cái gối. Robert đang nói bằng giọng đều đều, “… một chút cà phê. Đây. Espresso mạnh. Tôi không nên đưa cốc Scotch thứ hai cho em. Nhưng em cũng chưa uống nhiều lắm. Chẳng lâu nữa em sẽ cảm thấy đỡ hơn thôi.”
Từ ngữ cứ trôi tuột qua tai mà cô không thể thốt nổi một lời. Robert đi đi lại lại, hút thuốc lá, dừng lại trước bàn cà phê tròn để nhấp một ít cà phê trong cốc của anh. Cô nghĩ họ sẽ kết hôn và cùng sống ở đây, và cô sẽ quen việc ngủ cùng giường với Robert và anh cũng quen với cô. Cô nhìn người anh xoay qua xoay lại, bước chân gần như không phát ra tiếng động trên thảm. Anh không nhìn cô. Anh quẳng điếu thuốc lá vào lò sưởi. Cô nhắm mắt lại trước hình ảnh cái áo trắng của anh chuyển động qua lại rồi ngủ thiếp đi. Cô tỉnh lại khi anh chạm vào vai cô. Anh đã đắp một cái chăn lên người cô và giờ đang ngồi cạnh cô trên tràng kỷ.
“Cảm thấy đỡ hơn chưa? Mới mười một rưỡi thôi. Tôi nghĩ có thể em muốn về nhà.”