🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Tâm Linh Và Suy Ngẫm
Ebooks
Nhóm Zalo
MỤC LỤC
MỘT CUỐN SÁCH CÔNG PHU, NHỮNG SUY NGẪM TÍCH CỰC VỀ THẾ GIỚI TÂM LINH!
LỜI ĐẦU SÁCH
I . NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG
II. VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
III. TÔN GIÁO
IV. TÀ ĐẠO, HỦ TỤC
V. TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
VI. PHONG TỤC, TẬP QUÁN
VII. NGOẠI CẢM
VIII. CÓ GÌ ĐÁNG CHÚ Ý
IX. NHỮNG LÝ GIẢI THÚ VỊ
X. TIN HAY KHÔNG TIN
XI. TÍN NGƯỠNG
XII. CON NGƯỜI BẢN LĨNH, HIỂU BIẾT, TỰ TIN
XIII. ANH HÙNG, THIÊN TÀI VÀ ĐỊA LINH NHÂN KIỆT
XIV. GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC
XV. KHOA HỌC, KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN
XVI. CON NGƯỜI THỜI VĂN MINH, HIỆN ĐẠI Lời Cuối Sách
Tài Liệu Tham Khảo
MỘT CUỐN SÁCH CÔNG PHU, NHỮNG SUY NGẪM TÍCH CỰC VỀ THẾ GIỚI TÂM LINH!
Nhà báo TRẦN BÁ DUNG,
Tiến sĩ Báo chí Truyền thông, Trưởng Ban Nghiệp vụ,
Hội Nhà báo Việt Nam.
Tôi nhận được cuốn sách “TÂM LINH VÀ SUY NGẪM” của tác giả Trần Quốc Hưng trân trọng gửi bảo đảm qua đường bưu điện. Đọc xong bản thảo cuốn sách khá công phu, nhiều trang đọc đến hai ba lần, gấp sách lại và suy ngẫm theo dòng suy ngẫm cùng chính tác giả, với tôi, cuốn sách thật sự bổ ích.
Tôi quen thân tác giả từ hơn 25 năm nay. Ông là người làm báo chân chính, trung thực, nghiêm túc và có trách nhiệm xã hội. Làm báo, nhưng ông luôn có những suy nghĩ táo bạo, đi trước thời gian. Ông là tác giả ý tưởng xây dựng “Tượng Đài Việt Nam” kính dâng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội - 2010 (hiện trên Website: “tuongdaivietnam.com”). Phong cách lao động ở ông: Cần mẫn, tỉ mỉ, khoa học, cầu thị, luôn khám phá và luôn thăng hoa. Cái gì ông cũng muốn biết và giải thích nó cho người khác cùng hiểu.
Có lẽ vì sự thăng hoa của tính cách mà từ khi nghỉ hưu, ông dành nhiều thời gian cho việc tập hợp lại, viết ra, nói ra, vẽ ra những suy ngẫm của mình một cách mộc mạc nhưng sâu sắc, tuy không làm khoa học nhưng chặt chẽ, logic và thuyết phục, về những điều tâm linh vốn rất nhạy cảm, khó nói, mà ông ấp ủ lâu nay. Đụng vào thế giới tâm linh, mà lại tiếp cận, mổ xẻ từ nhiều vấn đề liên quan đến các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật... quả thực không đơn giản. Từ suy ngẫm, ông phân tích những hiện tượng mê tín lạc hậu nhưng không bài bác đời sống tâm linh của con người. Tôi cho đây là cuốn sách lành mạnh và dễ
LỜI ĐẦU SÁCH
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Trong quá trình hình thành, phát triển của Vũ Trụ và sự sống trên Trái Đất có biết bao điều huyền diệu nhưng cũng đầy bí ẩn, lạ kỳ. Những vận động của tự nhiên, hiện tượng xảy ra xung quanh cuộc sống đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu, chứng minh, lý giải bằng khoa học. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều vấn đề cần được khai mở cho nhận thức, hiểu biết của con người trước những gì còn rất huyền bí, mơ hồ, khó hiểu.
Giải thích như thế nào giữa Tâm Linh siêu hình và Khoa Học cụ thể khi những hiện tượng kỳ bí diễn ra? Vậy “Tâm Linh” là gì và “Khoa Học” là thế nào, để cho người bình thường cũng dễ hiểu về những hiện tượng ấy.
Những giấc mơ, chiêm bao, ngôi nhà ma, cây cầu, lùm cây quỷ ám; Những đoạn đường, khúc sông, vùng trời, vùng biển đầy bí hiểm; Thầy cúng, thầy bói, thầy mo, nhà ngoại cảm, cho đến Đền, Chùa, Nhà
Thờ, Am, Miếu, Thánh, Thần, Ma, Quỷ, ông Tiên, bà Mụ; Những lời tiên tri, lời nguyền, bùa ngải, bói tóan, tử vi, phù phép, vàng mã, hình nhân; Phong thủy, Kim lâu, Hoang ốc, thờ cúng, ngày giờ tốt, xấu; Trùng tang, nhập mộ... tại sao lại linh thiêng, có khi trở nên sợ hãi. Tại sao người ta quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Tại sao cầu, cúng lại an tâm, khỏe mạnh. Tại sao các đạo, các tôn giáo tôn thờ theo các tín ngưỡng khác nhau mà không ảnh hưởng lẫn nhau?..
Người ta còn ngồi đồng, xiên lình, rạch lưỡi, nhai bóng đèn thủy tinh, nói được quá khứ người xưa. Hiện tượng thần giao cách cảm, thần nhãn, thấu thị, mệnh ác, kiếp luân hồi, người chết rồi bất thần dựng đứng lên hoặc sống lại. Những hồn ma, bóng quỷ, ma trơi, mộng du, hoang tưởng, “người âm” báo mộng, trò chuyện với người âm, thiên đường và địa ngục... vẫn song hành dai dẳng với quan niệm và cuộc sống con người từ xa xưa cho đến ngày nay. Những hành vi và tâm lý “hâm hâm, dở dở” hoặc bệnh tật quái dị, lạ kỳ cũng gây ra khó hiểu và sợ hãi cho con người.
Đồng thời với những hiện tượng kỳ lạ, thần bí tồn tại là phong tục, tập quán, lễ nghi ở mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi tôn giáo, mỗi dân tộc lại giải thích, lý giải khác nhau về những hiện tượng xảy ra. Ngay trong cùng một hiện tượng, một địa phương lại có người không tin, có người cho là bình thường, có người lại vô cùng sợ hãi. Cho nên mới có người “vô thần, vô sư, vô sách”, sống thoải mái, khỏe mạnh bình thường. Có người quá tin, tin đến mù quáng sinh ra mê tín, dị đoan, trở thành những đệ tử cuồng tín ngoan đạo, nô lệ của kẻ buôn thần, bán thánh! Vì vậy mà “linh tại ngã, bất linh tại ngã” là do tự mình mà thôi.
Chúng ta còn chứng kiến những khả năng đặc biệt, khác thường của con người như khả năng chịu nóng, chịu lạnh, chịu đau đớn. Những kỳ nhân Yoga chôn sống không chết hoặc treo mình lơ lửng trên không, nhịn ăn, không ngủ. Trẻ em chưa đi học mà biết chữ, biết ngoại ngữ. Thần đồng thông minh trước tuổi. Những thiên tài phát minh khoa học, lập nên kỷ lục Guinnes hoặc lại làm điều vô cùng kỳ dị, ngớ ngẩn. Nghị lực phi thường của con người vượt qua được những thử thách, bất hạnh, khó khăn. Những năng lực đặc biệt, khả năng tiềm ẩn, siêu phàm của siêu nhân làm nên những điều kỳ diệu…
Làm thế nào cho mọi người hiểu được bản chất các hiện tượng mà suy ngẫm, đặt niềm tin, để tạo ra cuộc sống bình thường, trong khi Tâm linh, duy tâm chưa được Khoa học chứng minh, làm sáng tỏ?
Trong vũ trụ bao la và vận động kỳ diệu của sự sống, với trí tuệ, hiểu biết của con người trên khắp hành tinh, những bộ óc thiên tài của các vĩ nhân mới huy động từ 20 đến 50%, đã và đang sáng tạo ra những công trình khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại làm thay đổi thế giới hàng ngày. Những phát minh vĩ đại về Vật Lý, Hoá Học, Y Học, Gen, ADN, Điện, Điện Tử, Phát Thanh, Truyền Hình, Viễn Thông, Vi Tính, Điện thoại di động, Internet, Lade, Nguyên Tử, Hạt Nhân, Tàu Vũ Trụ, Vệ Tinh, Robot, kỹ xảo 3D, Nano, Con Chíp… không liên quan gì đến “tâm linh duy tâm”, lại vô cùng hữu ích phục vụ thiết thực cho con người và cũng có thể huỷ diệt toàn nhân loại!
Khoa học và y học ngày nay đã và đang có những công trình khoa học và bước đầu thành công nghiên cứu về cấu trúc bộ não để xử lý tác nhân gây ra sự sợ hãi ở con người; ứng dụng thành tựu khoa học y học tạo ra những chiến binh có khả năng chịu đựng phi thường và
sức vận động ghê gớm trong chiến tranh; Thử nghiệm phương pháp điều trị chuyển hoá những con chuột già nua, yếu ớt trở về khoẻ mạnh như “thời trai trẻ”; Chuẩn bị hành trình tàu vũ trụ, thực hiện ý tưởng đưa con người lên sinh sống trên hành tinh xa xôi… mở ra những giải mã khoa học của kỷ nguyên văn minh, hiện đại.
Xã hội ngày càng phát triển năng động, mạnh mẽ không ngừng, tri thức con người ngày nay đã và đang vươn lên đỉnh cao của phát minh, sáng tạo khoa học, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại với tốc độ rất nhanh, những bước tiến khổng lồ của thời đại “toàn cầu hoá”. Sự bùng nổ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thông tin với biến đổi kinh ngạc, đánh dấu những bước tiến vĩ đại, thần kì của trí tuệ loài người. Công nghệ truyền thông đưa nhân loại trên khắp hành tinh gần lại với nhau và mọi thông tin chỉ qua chiếc điện thoại di động thông minh trên lòng bàn tay hoặc nhấn chuột trên màn hình vi tính, kết nối Internet. Đó là những cống hiến lớn lao, hữu ích của trí tuệ các thiên tài về khoa học mà qua hàng ngàn năm xưa không làm được.
Tiềm năng vô tận, kỳ diệu của trí tuệ con người với những thiết bị khoa học, công nghệ tinh vi, hiện đại đã và đang được phát minh, chắc chắn trong tương lai sẽ làm sáng tỏ bằng lý giải khoa học, trả lời những câu hỏi về bức màn bí mật, kỳ lạ của tự nhiên. Những hiện tượng thần bí chỉ còn là tham khảo, nghiên cứu của khoa học để chắt lọc những tinh hoa lành mạnh, tốt đẹp. Cùng với sự phát triển nhanh, mạnh của xã hội, loài người hiện nay và trong tương lai, lớp trẻ của thế hệ mới sẽ thay đổi tư duy, cách nhìn để vươn lên đời sống trí tuệ, văn minh, hiện đại.
Chúng ta cần phân biệt giữa tinh hoa văn hoá, nhân văn của phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng và mặt trái cuồng tín, duy tâm, mê tín dị đoan, để chắt lọc, hưởng thụ những giá trị tốt đẹp, loại bỏ những áp đặt siêu hình không có căn cứ khoa học.
Trên tiến trình vận động đi lên của thế giới, con người trong thời đại mới vừa phải vươn tới tầm cao hiểu biết và tri thức của nền văn minh nhân loại vừa phải tự hoàn thiện mình nhằm phát triển toàn diện về Trí - Thể - Mỹ để tiếp thu, tận hưởng những giá trị văn hoá, tinh thần, nhân văn sâu sắc, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, công nghệ cao siêu, tinh hoa văn hoá truyền thống và hiện đại làm cho cuộc sống phong phú, lạc quan, tốt đẹp hơn.
Hiểu biết lành mạnh về tinh thần và thể chất sẽ làm cho cuộc sống con người lành mạnh trong tâm linh, thăng hoa theo khoa học. Tâm linh lành mạnh có thể trở thành sức mạnh ghê gớm và Khoa học cũng làm nên biến đổi thần kỳ.
Từ những hiện tượng xung quanh cuộc sống chúng tôi chỉ dám đưa suy ngẫm của mình. Bởi nhiều hiện tượng còn đầy kỳ bí, rất cần có những chứng minh, lý giải của khoa học, không thể chỉ là suy ngẫm mà hiểu được.
Khả năng thì có hạn, thế giới lại bao la, tiềm năng con người còn nhiều bí ẩn, không thể bao quát được tất cả tri thức uyên bác, sâu xa của trí tuệ loài người, nên tác giả chỉ nêu lên những hiểu biết và suy luận hạn hẹp của mình về một phần trong kho tàng tri thức vĩ đại của nhân loại. Rất mong được người đọc vui lòng sẻ chia, thông cảm.
Trân trọng cảm ơn.
TRẦN QUỐC HƯNG
I.
NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG
TÂM LINH
Theo Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ Việt Nam, do Vũ Chất chủ biên, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa ấn hành dành cho học sinh, thì “Tâm linh là danh từ nói về sự sáng suốt trong tâm, phần để hiểu biết mọi vật”. Còn theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, do Hoàng Phê chủ biên cùng với năm cộng sự thực hiện, nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành, thì “Tâm Linh là danh từ nói về khả năng tự biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra, theo quan niệm duy tâm.”
Nếu theo “Tâm linh chỉ về sự sáng suốt trong tâm, phần để hiểu biết mọi vật”, thì có thể hiểu, đoán được và giải thích được những sự việc xảy ra? Vậy những điều huyền bí, khó hiểu sẽ được trả lời như thế nào, khi chưa giải thích được? Theo “Tâm linh nói về khả năng tự biết trước một biến cố nào đó xảy ra, theo quan niệm duy tâm”, thì có hiện tượng lại rất bất ngờ làm người ta không thể nào lý giải nổi hoặc lại là hiện tượng khoa học, không phải duy tâm?
Đây không phải là đúng hay sai, mà là chưa đủ, chưa hết nghĩa để thỏa mãn về từ “Tâm linh” của Từ điển.
“Tâm linh” còn mang nghĩa của Hán ngữ do hàng ngàn năm ảnh hưởng của văn hóa Bắc thuộc. Theo các sách chữ Hán và chữ Hán Nôm: Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Tam tự kinh... thì “Tâm” nghĩa là “lòng”, “Linh” nghĩa là “thiêng”. Ghép hai Hán tự này với nhau thì “Tâm Linh” có nghĩa trong lòng có điều linh thiêng. Suy ra là, trong tâm khảm, trong lòng cảm nhận thấy hoặc thấy có điều gì linh thiêng lắm. Tức là trong sâu kín của tâm tưởng, trong lòng đang cảm thấy hoặc mường tượng có điều gì rõ, hay cũng chưa rõ và rất linh thiêng, có thể rất linh nghiệm hoặc không linh nghiệm. “Tâm linh” vừa hư hư, vừa thực thực, vừa trừu tượng, vừa thấy sờ sợ và có phần còn mông lung, khó hiểu nữa. Do vậy, “Tâm linh” gây nên sự tò mò, muốn tìm hiểu và muốn được chứng minh để giải phóng ức chế, khó hiểu
hoặc tìm lối thoát khỏi những ám ảnh trong con người. Như vậy, “Tâm linh” rất cần có sự lý giải, còn khi chưa lý giải được thì nó còn mang sắc thái “huyền bí” của duy tâm.
Tâm còn có thể hiểu là: Tâm hồn, tâm lý, tâm khảm, tâm tưởng, là trái tim... là những diễn biến từ trong lòng, trong suy nghĩ, trong trái tim của con người.
Linh còn có thể hiểu là: Linh thiêng, linh nghiệm, linh ứng, linh hồn... cũng là những diễn biến trong tâm tưởng, trong suy nghĩ, chưa thật cụ thể của con người. Còn có thể nâng lên là biểu tượng “thần linh”, “linh hồn” siêu hình trong tâm tưởng.
“Tâm linh” là suy nghĩ trong nội tâm con người về điều gì đó còn rất linh thiêng, kỳ bí. Tâm linh còn là sự linh cảm trong con người có điều rất huyền diệu, siêu hình. Tâm linh là để trong lòng, để tâm niệm mà hành xử. Vì thế, bản chất Tâm linh không phải duy tâm, mê tín dị đoan, mà là quan niệm và ám ảnh trong con người. Đó còn là sự viên mãn tâm linh mà trong lòng thấy thật thăng hoa.
Nhưng cũng có khi tâm linh gắn vào những hiện hữu đời thường, mang theo biết bao tâm trạng vui buồn, lo âu, suy nghĩ. Về quan niệm nào đó, Tâm linh vừa mang yếu tố linh thiêng của tín ngưỡng, đôi khi cảm thấy không gắn với khoa học lắm, lại vừa mang màu sắc của duy
tâm, mê tín, dị đoan, hoang đường gây cho con người lo âu, mông lung, sợ hãi. Như vậy Tâm linh là linh thiêng hay ám ảnh, sợ hãi vô hình của con người.
Tâm linh hình thành từ giá trị tinh thần cổ xưa. Nó vừa là chủ quan từ nhận thức về thế giới siêu hình, vừa là khách quan ngoại cảnh tác động vào tâm thức con người.
Tâm linh là lành mạnh, thánh thiện, nhưng bị biến tướng thì thành mê tín dị đoan, và khi thái quá sẽ trở nên cuồng tín.
Tâm linh vừa linh thiêng, vừa là linh diệu. Nó không chỉ mang ý nghĩa linh thiêng của tín ngưỡng, tôn giáo mà còn là sự linh diệu trong thăng hoa năng lực tinh thần sáng tạo trong mỗi con người.
Những xung mãn tinh thần, trí tuệ văn minh cũng là hình thái tâm linh ở thời đại mới.
Với những đặc tính siêu hình, kỳ bí, tâm linh gây nên sự tò mò, khơi dậy sức mạnh năng lực sáng tạo vô biên, để lại biết bao công trình, kiệt tác kỳ vĩ. Và vì vậy cũng làm nên khoa học tâm linh.
KHOA HỌC
Cũng theo Từ điển dành cho học sinh thì: “Khoa học, là danh từ nói về điều hiểu biết có phương pháp và có thực nghiệm rõ ràng.” và Từ điển của Trung tâm Từ điển: “Là danh từ nói về hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực.”
Như vậy, Khoa học là những chứng minh, lý giải bằng chứng cứ, xác minh, xét nghiệm thực tế, để tìm hiểu rõ bản chất những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, sự sống, nhằm đáp ứng hiểu biết và ứng dụng vào cuộc sống của con người. Tuy nhiên, cũng còn nhiều hiện tượng mà khoa học chưa chứng minh, lý giải được. Vì vậy, mà trong tâm thức của con người vẫn thấy rất “huyền bí” còn cần lý giải, chứng minh của khoa học.
Khoa học cần có hai quan niệm được thống nhất đó là thực nghiệm và nhận thức. Thực nghiệm để lý giải, chứng minh về sự việc, hiện tượng. Nhận thức để giải phóng quan niệm xưa cũ và tiếp cận với cái hay, cái mới, cái minh chứng rõ ràng. Như vậy, có thể bằng thực nghiệm hoặc bằng thay đổi nhận thức về các sự vật, hiện tượng đều mang ý nghĩa khoa học.
Đối với khoa học, thì vũ trụ không phải Thiên Đình, Thượng Đế mà là không gian, các thiên thể, hành tinh, là Thái dương hệ, mặt trăng, mặt trời và những vì tinh tú cần được khám phá; Là cụ thể phản ứng vật chất tạo nên những điều thú vị; Là nguyên nhân của bệnh tật trong cơ thể con người. Với khoa học, Thần thánh là ước mơ tưởng tượng và ma quỷ là ám ảnh, ảo giác, duy tâm.
Giải thích, lý giải về những hiện tượng huyền bí hoặc dẫn đến huyền bí, khó hiểu nhằm giải phóng tư tưởng cho con người hiểu ra đó là gì để không còn tò mò, lo âu, sợ hãi cũng là mục đích của khoa học. Đây là vấn đề thực sự cần thiết góp phần làm cho Tâm linh và
Khoa học hài hòa, con người thoải mái, an tâm, sống nhân văn, hiểu biết, vui tươi, khỏe mạnh.
Hiểu biết và thức thời với các giá trị tinh thần, văn hoá, nghệ thuật, nhịp sống khoa học, hiện đại, loại trừ những lạc hậu, hủ tục cũng là lối sống khoa học góp phần làm lành mạnh, ổn định tâm linh.
Khi con người đến trình độ tri thức cao, hiểu biết cơ sở của khoa học, thì trước một hiện tượng, người ta biết ngay nó là gì, không cần phải giải thích, tranh luận.
Khoa học mang yếu tố tinh thần, thăng hoa, sáng tạo và là sản phẩm sản sinh theo thời đại. Như vậy Khoa học là thăng hoa và sáng tạo của con người về thực tế.
Khoa học cụ thể có khi như chống lại Tâm linh siêu hình nhưng cũng muốn chứng minh, làm sáng tỏ Tâm linh với thế giới cổ xưa và văn minh thực tại. Những đặc trưng hợp lý, chính xác, mới lạ, thăng hoa làm cho khoa học trở nên hấp dẫn, diệu kỳ.
Tâm linh ổn định, viên mãn tức là trong lòng thanh thản, minh triết thì trí tuệ sẽ thăng hoa khoa học, sáng tạo phát minh. Đó là giải pháp tinh thần, tư tưởng được giải phóng chứ không phải do áp lực của mê tín, thánh thần. Đó chính là khoa học.
SƠ KHAI VŨ TRỤ VÀ VẠN VẬT
Vũ trụ là không gian bao la, vô tận với vô vàn tinh tú, trong đó trái đất mà chúng ta đang sống là một hành tinh trong vũ trụ bao la ấy. Khoa học cũng chưa xác định được chính xác sự hình thành không gian vũ trụ như thế nào, có từ bao giờ và các hành tinh do đâu mà có, mặc dù đã có lý giải về những vụ nổ xa xưa của vũ trụ và hoạt động của các thiên thể, thiên hà…
Theo các nhà khoa học, Vũ trụ hình thành từ một vụ nổ lớn có tên là Big Bang xảy ra cách đây chừng 14 tỷ năm, ước tính Thái Dương Hệ hình thành cách đây khoảng 5 tỷ năm. Bức xạ tàn dư của vũ trụ đã được phát đi vào thời điểm sau Big Bang khoảng 380.000 năm, sau đó nguội dần.
Câu hỏi đặt ra là trước Big Bang thì như thế nào? Người ta còn nêu ra liệu có phải từ Big Bang hay do nguyên nhân nào khác (giả thuyết Bigbounce - về quá trình nén lại và dãn nở) mà hình thành vũ trụ? Vũ trụ bao la, vô cùng, vô tận đến đâu, ngoài cái đến đâu ấy là cái gì và tiếp ra còn có gì nữa? Và nếu khoảng 5 tỷ năm hình thành nên Thái Dương Hệ, thì trước đó và xa nữa là cái gì?
Tổ chức nghiên cứu hạt nhân Châu Âu đã thực hiện dự án xây dựng Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider), gọi tắt là LHC, ở giữa núi Jura và dãy Alps gần Genève, sâu từ 50 đến 175 mét trong lòng đất, giáp hai nước Thuỵ Sĩ và Pháp. Đây là máy gia tốc hạt lớn nhất và mạnh nhất thế giới, chứa trong một đường hầm vòng tròn chu vi 27 km, có đường kính hầm 3,8 mét, cấu trúc bằng bê tông, được xây dựng từ năm 1983 đến 1988. Với sự tham gia của hàng nghìn nhà vật lý cùng hàng trăm trường đại học và phòng thí nghiệm cộng tác để nghiên cứu về vật lý.
Tác giả Lâm Thắng, dẫn nguồn từ NewScientist:
“Nguyên lý hoạt động của LHC là có hai đường dẫn tia hạt song song sát nhau, giao nhau ở bốn điểm, dẫn các hạt Proton, một trong những hạt cơ bản cấu thành vật chất, đi ngược chiều nhau theo hệ thống ống dẫn vòng tròn, để các hạt này di chuyển với vận tốc bằng 99,9999991% vận tốc ánh sáng rồi va chạm nhau và tan rã tại tâm thiết bị. Khi đó, năng lượng cực lớn sẽ được giải phóng, tạo ra tình trạng tương tự thời điểm sau khi xảy ra vụ nổ Big Bang chỉ trong tích tắc. Trong đó, giới khoa học mong đợi thiết bị phân tích hạt CMS sẽ tìm ra được hạt Higgs, qua đó minh chứng cho giả thuyết truyền khối lượng giữa các hạt khi đi vào môi trường lượng tử đặc biệt của nhà vật lý người Anh, Peter Higgs, đưa ra vào năm 1960. Ngoài ra, ba bộ dò còn lại có thể dẫn ra manh mối về những vấn đề như vật chất tối (Dark Matter) và phản vật chất (Anti Matter)”.
Theo trang mạng “Tin tức - Sự kiện”:
“Nếu những tiên đoán lý thuyết được kết quả thí nghiệm xác nhận thì giới khoa học sẽ đến gần hơn với việc tìm ra được lý thuyết tổng quát mô tả vũ trụ, bao trùm hai trụ cột của Vật lý và khoa học về Thuyết tương đối và Cơ học lượng tử, mở ra rất nhiều hướng đi mới trong nghiên cứu không gian và các ứng dụng về xử lý thông tin”.
Trong bài: Thế giới chi hàng tỷ USD để săn lùng “Hạt của Chúa”, đăng tải trên báo “Cảnh sát toàn cầu” số 126, năm 2012, tác giả Minh Chuyên tổng hợp như sau:
“Nếu giới vật lý có thể chứng minh sự tồn tại của hạt Higgs (Leon Lederman, một nhà nghiên cứu từng đoạt giải Nobel Vật lý, gọi là “hạt của Chúa”) thì phát hiện này sẽ là một trong những thành tựu khoa học vĩ đại nhất trong vòng 100 năm qua. Nó sẽ xoá đi sự hoài nghi về sự tồn tại của vật chất tối - thứ có thể chiếm tới 3/4 thành phần vũ trụ. Hạt Higgs không chỉ có ý nghĩa đối với vũ trụ xa xôi, mà còn mang đến nhiều lợi ích cho cuộc sống trên địa cầu. Với hạt Higgs, loài người sẽ có thêm một nguồn năng lượng mới dồi dào và còn có thể giúp tạo nên những thành tựu công nghệ đột phá trong giao thông và viễn thông.
Giới khoa học tin vào sự tồn tại của hạt Higgs trong hơn 4 thập kỷ qua, song họ chưa bao giờ tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về nó. Để tìm bằng chứng, người ta phải đập vỡ các hạt cơ bản (như proton) rồi tìm kiếm hạt Higgs trong đống mảnh vỡ ấy. Các hạt cơ bản chỉ vỡ nếu chúng va chạm vào nhau với vận tốc cực lớn. Chỉ những cỗ máy gia tốc khổng lồ mới có khả năng tạo ra lượng năng lượng đủ lớn để gây va chạm mạnh giữa các hạt. Các nhà vật lý của Tổ chức nghiên cứu Nguyên tử châu âu (CERN) và phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia Fermi tại Mỹ đã thực hiện hàng nghìn tỷ vụ va chạm giữa các hạt để thu thập dữ liệu trong hơn 10 năm qua”.
Ánh sáng từ những vì sao xa xôi, với vận tốc rất nhanh 300.000 km/giây, qua hàng trăm, hàng ngàn năm mới tới trái đất, quả là khoảng cách không thể tưởng tượng. Ngoài trái đất, trong vũ trụ bao la kia có hành tinh nào có sự sống. Ở đó, nếu không phải có con người như trên trái đất thì là hình ảnh như thế nào hay kỳ dị như những siêu nhân, nền văn minh của họ đến đâu, đã có những con tàu vũ trụ hay những đĩa bay? Và biết bao câu hỏi đặt ra về những gì còn đầy bí ẩn từ vũ trụ.
Theo bài viết “Khám phá thời kỳ đen tối của vũ trụ” của tác giả Hạo Nhiên, trên báo “Thanh niên” tháng 11 năm 2011 cho biết:
“Trước khi nhìn về quá khứ, giới thiên văn học ước tính vũ trụ đã được 13,7 tỷ năm và từng trải qua thời kỳ đen tối, đó là kỷ nguyên mà bóng tối bao trùm trước khi những ngôi sao và thiên hà
đầu tiên xuất hiện.
Hiện nay, kiến thức về giai đoạn bí ẩn trên là quá ít ỏi, và điều này kích thích giới khoa học khám phá. Nhà vật lý thiên thể Abraham Loeb, Trưởng khoa Thiên văn của Đại học Harvard, Mỹ nói: “Đêm trường đen tối đại diện cho nguồn gốc của chúng ta, khi mà những ngôi sao đầu tiên hình thành và tạo nên các nguyên tố nặng kết tinh nên vũ trụ ngày nay”. Ông cho rằng, thuở ban đầu vũ trụ nóng đến nỗi tất cả các nguyên tử phân chia thành các điện tích dương và âm. Những ion này ngăn cản mọi ánh sáng, di chuyển một cách tự do. Khoảng 400.000 năm sau sự kiện Big Bang khai sinh vũ trụ, nhiệt độ bắt đầu giảm dần để các ion kết hợp trở lại thành nguyên tử, và khi đó ánh sáng mới xuất hiện. Tuy nhiên, sau đó, vũ trụ lại lâm vào thời kỳ đen tối, không thể có ánh sáng chiếu rọi.
Các mô hình hiện tại đưa ra lý thuyết cho rằng những thiên hà đầu tiên hình thành vào khoảng 100 triệu năm sau Big Bang, đánh dấu sự chấm hết của kỷ nguyên đen tối. Quá trình hình thành sao và các thiên hà dần dần diễn ra cho đến khi mọi nguyên tử hydrogen và helium cấu tạo nên phần lớn vũ trụ, một lần nữa lâm vào tình trạng ion hoá, lần này là do ánh sánh kích hoạt, vào thời điểm 500 triệu năm kể từ lúc khởi đầu.”
Như vậy, trước đó như thế nào thì chưa biết được. Đó là những thách thức của khoa học còn phải tiếp tục khám phá, chứng minh. Trong phạm vi hẹp, chúng ta cùng tìm hiểu những gì liên quan đến thiên nhiên và cuộc sống con người trên trái đất.
Mặt Trời, là một khối lửa tròn khổng lồ liên tục toả sáng và khí nóng trực tiếp chiếu xuống Trái Đất hàng ngày. Người ta dự tính rằng tuổi thọ của Mặt Trời khoảng từ 10 đến 15 tỷ năm. Theo giả thuyết này thì khi Mặt Trời tắt, sự sống trên Trái Đất sẽ không còn và các hành tinh khác xảy ra những hiện tượng khó lường được. Với chu kỳ quỹ đạo “cung Hoàng Đạo” hình bầu dục, khi Mặt Trời gần Trái Đất nhất ứng với mùa Hạ, ngày nắng chói chang, nóng bức thiêu đốt. Khi Mặt Trời ở xa nhất, Trái Đất là mùa Đông, ngày lạnh giá, rét buốt. Với sức nóng khủng khiếp nên chưa có nghiên cứu khoa học nào tiếp cận được với Mặt Trời. Do vậy, sự cấu tạo vật chất của Mặt Trời còn là những bí ẩn đối với khoa học.
Mặt Trăng, là một khối tròn mà con người đang để tâm nghiên cứu, khám phá bằng các vệ tinh phóng lên Mặt Trăng. Khoa học chưa xác định được Mặt Trăng được hình thành, cấu tạo vật chất như thế nào và trong lòng Mặt Trăng đặc hay có rỗng ruột không? Những nghiên cứu vũ trụ và các vật liệu, mẫu đất đá có trên bề mặt của Mặt Trăng qua những chuyến bay vệ tinh thám hiểm và ảnh chụp về Mặt Trăng, các nhà khoa học cho rằng, Mặt Trăng được hình thành do một vụ va chạm lớn của một vật thể có kích cỡ như sao Hoả, khoảng 4,5 tỉ năm về trước? Sau đó bề mặt của Mặt Trăng cũng phải chịu sự tác động do sự va chạm với các tiểu hành tinh và thiên thạch, đồng thời còn có sự phân huỷ của các nguyên tố phóng xạ đã giữ nóng cho mặt Trăng trong một thời gian dài. Khi thời gian trôi đi thì Mặt Trăng vẫn có thể nguội dần cho đến ngày nay.
Theo thông tin đăng tải trên “Thanh niên Online”, qua tổng hợp của Hạo Nhiên “Mặt trăng sinh ra từ vụ va chạm kinh hoàng”:
“Các nhà nghiên cứu của Đại học Washington (Mỹ) cho biết, kết quả phân tích đá mặt trăng thu thập được từ những hoạt động của tàu Apolo đã cung cấp chứng cứ rút ra kết luận: Giả thuyết lâu nay cho rằng mặt trăng tách rời khỏi trái đất sau khi một thiên thể có kích thước cỡ sao Hoả đâm vào địa cầu.
Theo đó, một lượng nhỏ nhưng đa dạng về khối lượng nguyên tố kẽm trong đá mặt trăng cho thấy nó đã được tích tụ từ đám mây đá bị tung ra ngoài không gian trong vụ va chạm nảy lửa trên. Các nhà hoá địa phát hiện đá mặt trăng dù có thành phần hoá học tương tự như đá trên Trái đất, nhưng chúng đặc biệt thiếu các nguyên tố dễ bay hơi. Vụ va chạm khủng khiếp giữa Trái đất và thiên thể bí ẩn có thể giải thích tình trạng thiếu hụt trên, trong khi các giả thuyết khác về nguồn gốc của “chị Hằng” không đưa ra lời giải thích hợp lý. Đá mặt trăng thiếu nguyên tố dễ bay hơi do hầu hết chúng đã bốc hơi trong vụ đụng độ, theo Space.com.
Giả thuyết vụ va chạm lớn, được đưa ra vào năm 1975, cho rằng mặt trăng được hình thành khi thiên thể gọi là Theia lao vào Trái đất lúc sơ khai. Vụ va chạm tạo ra quá nhiều năng lượng khiến Theia tan chảy và bốc hơi, cũng như lớp manti (tức lớp giữa và vỏ) của địa cầu và mặt trăng tượng hình từ đám mây đá đã bốc hơi đó”.
Khoảng cách Mặt Trăng và Trái Đất khoảng 380.000 km, ánh
sáng cần hơn 1 giây để tới trái đất. Mặc dù vệ tinh và con người đã được đưa lên Mặt Trăng để khám phá tìm xem có nước và có sự sống hay không, nhưng chưa mấy kết quả. Chỉ mới biết rằng Mặt Trăng là một hành tinh có lực hấp dẫn, có quỹ đạo với Trái Đất, lúc gần lực hấp dẫn mạnh làm thủy triều ở biển cả của Trái Đất dâng lên, lúc ở xa lực hấp dẫn yếu, thủy triều hạ xuống.
Tác động của Mặt Trời và Mặt Trăng cùng với quỹ đạo của Trái Đất tạo thành cung Hoàng Đạo, Tiết Khí thay đổi theo thời gian chu kỳ hàng năm, sinh ra mưa, gió, bão, lụt, mùa nóng, mùa lạnh ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và con người trên mặt đất.
Trái Đất, là một hành tinh tròn trong khoảng ít nhất 50 tỷ hành tinh của giải Ngân Hà thuộc Hệ Mặt Trời - Thái Dương Hệ. Trái Đất quay quanh Mặt Trời theo “vòng cung Hoàng Đạo”, mỗi chu kỳ là một năm (365 ngày và 1/4). Chu kỳ hình bầu dục của “cung Hoàng Đạo” hình thành 24 tiết khí của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, được “lịch toán” lấy điểm mốc 0 độ của đường Hoàng Đạo là tiết Xuân Phân, mốc 180 độ là Thu Phân, 90 độ ở điểm cực Bắc là Hạ Chí, 270 độ ở điểm Cực Nam là Đông Chí. Trái Đất tự quay xung quanh mình theo trục Cực Bắc - Cực Nam và mỗi vòng tự quay là chu kỳ một “ngày - đêm”. Mặt Trăng đi theo quỹ đạo hình bầu dục quanh Trái Đất và một vòng quỹ đạo Mặt Trăng quanh quả đất thành chu kỳ “Trăng tròn và không Trăng” là một tháng Âm lịch (29,5 ngày). Trái Đất gần với một số hành tinh như sao Thủy, sao Hoả, sao Thổ, sao Mộc, sao Kim… Trái Đất chịu ảnh hưởng lớn nhất từ Mặt Trời qua cung Hoàng Đạo, lực hấp dẫn từ Mặt Trăng, cùng tác động vô hình sóng từ các tinh tú hoạt động ở Vũ Trụ.
Theo tính toán của các nhà khoa học ước tính Trái Đất hình thành cách đây khoảng hơn 6 tỷ năm, trải qua 4 đại: Thái Cổ, Cổ Sinh, Trung Sinh và Tân Sinh với nhiều biến động địa chất và trải qua 4 thời kỳ băng hà. Trái Đất có lực hấp dẫn làm cho vạn vật có trọng lực không rơi ra không gian bao la, có bầu khí quyển bao bọc duy trì cho sự sống với tầng Ôzôn bảo vệ, chống tác hại bức xạ của ánh sáng Mặt Trời. Trong lòng Trái Đất là khối lỏng khổng lồ hỗn hợp chất nham thạch ngày đêm nóng chảy sẵn sàng bứt phá nứt vỏ trái đất phun lên thành núi lửa, động đất. Cấu tạo vỏ Trái Đất là bề dầy địa chất, qua hàng tỷ năm hình thành gồm đất, đá, nham thạch, khoáng chất, sinh vật, động vật sinh sôi rồi huỷ diệt tạo thành. Sự hình thành Trái Đất là do biến thiên của vũ trụ và quá trình tự vận động vật chất lúc sơ khai,
tiếp đó là hàng tỷ năm sinh sôi, tiến hoá của hoá chất, vật chất, thực vật, sinh vật cho đến sự sống con người. Biến đổi của địa chấn trong lòng đất, sự nứt vỡ, động đất, núi lửa phun nham thạch tạo nên bề mặt nhấp nhô, hình thành núi cao, vũng sâu chứa nước.
Quỹ đạo Trái Đất cách Mặt Trời ở vị trí thứ ba
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Vì sao.Jpg)
Sự sống trên Trái Đất hình thành cách đây hàng trăm triệu năm từ những Tảo lam đầu tiên trong đại dương. Đó là thời tiền sử, bao gồm đa dạng nguyên sơ của vật chất trong lòng đất, ở vỏ Trái Đất và nước biển cả. Đồng thời với tác động của Mặt Trời và Mặt Trăng tạo nên khí hậu thay đổi nóng, lạnh, mưa, gió, bão, giông… với gập ghềnh địa hình mà thành núi non, sông, suối, đầm, hồ, biển cả. Tạo hoá của đất, nước và khí trời đã sản sinh, tiến hoá thành những thực vật, sinh vật muôn màu trên Trái Đất. Cho đến các thời kỳ biến đổi địa chất, băng hà, hồng thủy nhấn chìm, thiên thạch bắn phá quét vào trái đất… gây nên biến động bạo liệt, huỷ diệt rồi lại hồi sinh, phát triển trên mặt đất cho đến ngày nay.
Theo các tài liệu khoa học, cho đến hiện nay con người mới chỉ biết Trái Đất là hành tinh duy nhất có sự sống.
Trái đất là một hành tinh trong không gian vũ trụ và cũng chịu những tác động biến thiên của vũ trụ.
Tài liệu do Hoài Dung tổng hợp mới đây, đăng tải trên báo “An ninh thế giới” cho biết:
“Giả thiết hiện nay là một thiên thạch khổng lồ được gọi là
Baptistina đã va vào thiên thạch khác làm cho vô số mảnh vỡ khổng lồ bắn tung toé vào hệ Mặt trời. Một trong số mảnh vỡ đó được tin là đã đâm vào trái đất cách nay 65 triệu năm, xoá sổ loài khủng long. Nhưng dữ liệu mới từ kính viễn vọng Wise của NASA cho thấy rằng các mảnh vỡ của Baptistina là quá nhỏ. Thiên thạch Baptistina được cho là đã va chạm thiên thạch khác trong “vành đai chính” giữa sao Hoả và sao Mộc khoảng 160 triệu năm trước. Những mảnh đá vỡ khổng lồ, tàn dư của vụ va chạm đã tản ra khắp vành đai thiên thạch, và một mảnh được cho là bị văng ra hướng về trái đất làm tuyệt chủng sự sống.
Bằng phương pháp dùng tới bức xạ hồng ngoại phát ra từ thiên thạch để tính toán lại tuổi và kích thước của hàng ngàn thiên thạch trong hệ mặt trời diện rộng (WISE), các nhà nghiên cứu của NASA đã có thông tin mới và chính xác hơn cho thấy Baptistina không bị vỡ ra cho tới 80 triệu năm về trước, như vậy nó không đủ thời gian để tới trái đất.
Sự va chạm của mảnh thiên thạch vỡ rộng 10km đã lưu lại dấu tích trên vết nứt khổng lồ Chicxulub ở Mexico, và tro trầm tích cùng nhiều nguyên tố hiếm khác trong tầng địa chất của trái đất 65 triệu năm trước. Vụ va chạm xảy ra đồng thời với sự kiện tuyệt chủng hồi kỷ Phấn trắng Cretaceous - Tertiary (K-T) làm biến mất khoảng 75% các loài sinh vật trên trái đất, gồm cả khủng long.”
Mới đây, cơ quan nghiên cứu vũ trụ NASA của Mỹ đã gây chấn động giới khoa học thế giới là phát hiện một hệ mặt trời khổng lồ cách Trái Đất khoảng 127 năm ánh sáng. Đây là hệ thống hành tinh lớn nhất được tìm thấy ngoài hệ mặt trời và lớn hơn hệ mặt trời của chúng ta rất nhiều. Đầu năm 2011, các nhà khoa học Nga cũng đưa ra dự báo khủng khiếp: Thiên thạch Apophis có nhiều khả năng sẽ tiếp cận Trái Đất ở khoảng cách từ 37.000 đến 38.000 km vào ngày 13-4- 2029 và sau 7 năm sẽ quay trở lại, có thể đâm thẳng vào Trái Đất, gây nên hậu quả rất thảm khốc đúng ngày 13-4-2036.
Đó là những biến động liên tục, không ngừng trong hàng tỷ năm của vũ trụ mà các hành tinh đều chịu ảnh hưởng và các nhà khoa học ngày nay đang phải tập trung nghiên cứu các giải pháp khắc phục để bảo vệ sự sống cho Trái Đất.
Như vậy, ngay từ sơ khai tiền sử, trên mặt đất có hai tác động xảy
ra, đó là sự vận động, sinh sôi, huỷ diệt vật chất trong lòng đất, trên mặt đất và ảnh hưởng trực tiếp thời tiết, khí hậu cùng những biến đổi hoạt động trên không gian. Đến khi tiến hoá dần có loài người thì những ảnh hưởng do con người tác động vào ngày càng có nhiều thay đổi cho đến ngày nay. Đây cũng là gốc của sự hình thành Tâm linh và Khoa học. Hoang sơ là gốc của Tâm linh, tiến hoá là gốc của Khoa học.
THIÊN NHIÊN VÀ SỰ SỐNG
Thiên nhiên bao trùm không gian, bầu khí quyển và các vận động sinh thái trên mặt đất.
Với sự hoạt động của hệ mặt trời, quỹ đạo của các hành tinh và sự tác động của thiên nhiên, Mặt Trời, Mặt Trăng, nên trên bề mặt Trái Đất luôn luôn xảy ra những quy luật và cũng tạo ra nhiều biến động bất thường của tự nhiên như: Ngày, đêm, nóng, lạnh, mưa, gió, sấm, sét, bão, giông, lũ lụt...
Tiến hoá, phát triển của con người với những sáng tạo, phát minh khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại đã và đang tác động vào thiên nhiên làm cho thiên nhiên có nhiều thay đổi. Đó là khí thải công nghiệp ô nhiễm bầu không khí, phá hoại tầng Ôzôn; Công nghệ vũ khí phục vụ chiến tranh tàn phá, huỷ diệt sinh thái mặt đất; Sóng điện tử, viễn thông, từ trường đan xen khắp không gian ảnh hưởng đến đời sống thực vật, động vật.
Sự sống hình thành từ vận động của tự nhiên, bao gồm sự sinh sôi, nảy nở, tiến hoá, phát triển và huỷ diệt của thực vật, sinh vật trên bề mặt Trái Đất.
Giao thoa, liên kết, phản ứng của vật chất từ lòng đất, trên mặt đất được kết hợp hài hoà với dương khí của không gian sinh ra vô vàn đa dạng thực vật, động vật. Thực vật rêu, tảo, nấm, cây, cỏ, hoa, lá và động vật đơn bào, đa bào, không xương sống, có xương sống, khủng long… là kết quả của vận động, tiến hoá từ khi hình thành Trái Đất qua biến thiên, thay đổi thích nghi với điều kiện sống. Sự sống hình thành trải qua hàng trăm triệu năm từ những Tảo Lam đầu tiên trong đại dương. Động vật có vú xuất hiện cách đây khoảng 700 triệu năm. Vượn Người xuất hiện cách đây khoảng 2,5 đến 5 triệu năm. 500.000
năm TCN tìm ra ngọn lửa. Nền văn minh có từ 5 đến 7 nghìn năm TCN. Theo thuyết tiến hoá của Charles Darwin (1809-1882) “Về nguồn gốc các loài”, là quá trình tiến hoá theo thời gian và sự tác động của tự nhiên mà sự sống trên trái đất ngày càng phát triển cho đến hình thành lịch sử của loài người.
Trong tác phẩm “Hành tinh thứ mười hai”, tác giả Zecharia Sitchin, lại đưa ra nghiên cứu về nguồn gốc loài người có liên hệ với người Nefi lim đến từ hành tinh xa xôi tạo ra và trận Đại hồng thủy 13.000 năm trước?
Những nghiên cứu, phát minh khoa học ngày nay tìm ra ADN, gen, nhân bản vô tính, liệu pháp tế bào gốc tạo ra da, tim, tai nhân tạo, hoặc những dị dạng thai nhi, di chứng chất độc hoá học... càng hé mở cho chúng ta suy ngẫm về những phối hợp, phản ứng tự nhiên của vật chất mà hình thành nên đa dạng, muôn màu thực vật, sinh vật trên trái đất, trong đó có con người. Thế thì loài người có thể cũng từ giao thoa, phối hợp của tế bào vật chất của tự nhiên mà thành? Như vậy, nguồn gốc loài người trên trái đất vẫn còn đặt ra cho khoa học phải tiếp tục nghiên cứu.
Quá trình tiến hoá của loài người
(nguồn Trang chủ google hình ảnh - Yume.vn)
Sự vươn tới thần kỳ về khoa học của nền văn minh ngày nay đã và đang làm thay đổi xã hội, môi trường. Trong tương lai, con người sẽ phải tiếp tục tiến hoá, thích nghi như thế nào với điều kiện sống của thời đại văn minh?
Thiên nhiên và sự sống luôn luôn tác động lẫn nhau, song hành sản sinh, tồn tại, phát triển, đồng thời cũng tạo ra những biến đổi rất đặc biệt, kỳ lạ làm nên bức màn cực kỳ phong phú và cũng chứa đầy bí ẩn. Đây là điểm cần chú ý khi lý giải về Tâm linh và Khoa học qua những hiện tượng của tự nhiên.
Với điều kiện nhiệt độ, không khí và nước, trái đất là hành tinh duy nhất có sự sống mà con người biết được. Nhiều năm qua các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều cố gắng để tìm ra sự sống trên những hành tinh xa xôi mà chưa mấy kết quả.
Ngày 6 tháng 3 năm 2011, cơ quan Hàng không Vũ trụ NaSa, Mỹ đã làm rung chuyển giới khoa học khi cho công bố thông tin là: “Đã có bằng chứng thuyết phục về sự sống ngoài hành tinh” và họ đang tập trung nghiên cứu một số hoá thạch siêu nhỏ rơi từ không gian xuống trái đất có chứa một loại vi khuẩn lạ chưa từng được biết đến nhưng có cấu trúc gen giống như vi khuẩn trên Trái Đất.”
100 chuyên gia và 5000 nhà khoa học trên khắp thế giới đã được NaSa mời đến để cùng hợp tác với các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu bước đột phá đặc biệt này. Cơ hội mở ra cho khoa học việc khẳng định có sự sống ngoài Trái đất hay không và thiên thạch kỳ lạ ấy từ nơi xa xôi nào trong vũ trụ bay tới. Đây là sự kiện vô cùng lý thú và cũng còn đầy huyền bí.
Tuy nhiên, theo thông tin trên các phương tiện truyền thông cập nhật ngày 6 tháng 12 năm 2011 cho biết, Cơ quan Hàng không Vũ trụ NASA, ngày 5 tháng 12 năm 2011 thông báo đã phát hiện hành tinh có thể có sự sống.
Đó là hành tinh có tên là Kepler-22b, là hành tinh nhỏ nhất cho đến nay tìm được nằm trong vùng 54 vật thể vũ trụ có thể có sự sống. Kepler-22b có đường kính lớn gấp 2,4 lần trái đất và cách trái đất 600 năm ánh sáng. Kepler-22b quay quanh một ngôi sao giống mặt trời theo một quỹ đạo dài 290 ngày. Ngôi sao này thuộc nhóm G, tức là tương đương với mặt trời, mặc dù nhỏ hơn một chút và có nhiệt độ thấp hơn. Các nhà khoa học chưa biết bề mặt của hành tinh này là đá, khí hay hỗn hợp lỏng.
Theo NASA, trong số 2.326 vật thể vũ trụ, có thể là hành tinh mà chương trình do tàu không gian Kepler sử dụng các kính viễn vọng
tìm ra cho đến nay, có 207 hành tinh có kích thước như Hải Vương tinh, 203 hành tinh như sao Mộc và 55 hành tinh có kích thước lớn hơn sao Mộc.
NASA đã gửi một camera rất lớn vào không gian để tiếp tục thu thập thông tin về hành tinh này.
Việc phát hiện ra Kepler-22b được coi là một bước tiến trong quá trình khám phá các hành tinh giống như trái đất.
Trang mạng Yahoo Tin tức tháng 2 năm 2012 đăng tải thông tin từ Smithsonian, AFP, bài “Phát hiện “thế giới nước” trên vũ trụ” cho biết:
“Nhờ kính thiên văn Hubbe, các nhà khoa học ở viện vật lý thiên văn Harvard phát hiện một hành tinh mới, ký hiệu GJ1214b, khác biệt hoàn toàn với các kiểu hành tinh được phát hiện: Chất liệu chính tạo nên hành tinh này không phải là đá hay khí ga mà chủ yếu là nước, và có thể mô tả nó như một “siêu Trái Đất”. Nó lớn hơn Trái Đất khoảng 2,7 lần và nặng gấp 7 lần. Nhiệt độ của hành tinh này vào khoảng 232 độ C, quá cao so với sự sống có thể sinh sôi. Lượng nước nhiều hơn trên Trái Đất, nhưng do nhiệt độ cao, áp suất lớn, rất nhiều thành tố độc hại ngăn cản sự sống được hình thành”.
Chúng ta sẽ chờ đợi những khám phá vũ trụ đầy kì bí, hấp dẫn từ nghiên cứu khoa học hiện đại của con người.
THIÊN - ĐỊA - NHÂN
Thiên, theo Hán từ nghĩa là Trời, chỉ về không gian trên và ngoài mặt đất, gồm có mặt trời, không khí, mưa, gió, sấm, sét, bão, giông, các tinh tú và cả những tín ngưỡng, siêu hình như Ngọc Hoàng, Thượng Đế, Phật, Thánh… được hình tượng hoá, tôn sùng như đấng cao siêu, tôn kính trên dương thế. Các nhà triết học phương Đông khi đặt ra thuyết Âm Dương cho rằng những yếu tố mặt trời, bên trên, nóng, mạnh mẽ, phái nam… là đại diện của Dương. Thiên là Trời cũng là đại diện của Dương.
Địa, theo Hán từ nghĩa là Đất, chỉ về những gì sinh ra, tồn tại từ
mặt đất và trong lòng đất, gồm đất, nước, mạch ngầm, bùn, lầy, mồ mả và cả những ám chỉ siêu linh như ma, quỷ, âm hồn, kể cả đặc tính yếu ớt, phái nữ… đại diện của Âm. Địa là Đất là đại diện của Âm.
Nhân, theo Hán từ nghĩa là Người, là cơ thể sống. Theo các nhà khoa học, con người là động vật tiến hoá cao cấp, khác với các loài động vật khác là có ý thức, có tổ chức, có tiếng nói, ngôn ngữ, biết tư duy và hành động.
Vạn vật sinh ra trên Trái Đất bắt nguồn và duy trì được là do sự cấu thành hài hoà, bền vững, đa dạng của hai yếu tố: Phần Đất và phần Trời, tức là mặt đất và không gian, là Dương trên trời và Âm dưới đất. Động vật, con người cũng hình thành từ hai yếu tố đó. Nên người ta cho rằng con người là một tiểu vũ trụ kết hợp Thiên là Trời - phần Dương của linh hồn và Địa là Đất - phần Âm của thể chất (thể xác), thành Nhân là Người, gọi là sự thống nhất của Thiên - Địa - Nhân mà Nhân là trung gian. Vì thế, con người sinh ra là do phối hợp của Âm và Dương, sống trên trái đất chịu sự tác động rất mạnh vận động của Trời và Đất.
Sự phát triển, tiến hoá từ con vượn thành người ngày nay, trong đó có phần “con” bản năng sinh vật, tiến đến có ý thức, tiếng nói và trí tuệ của người mà có khái niệm “con người”.
Thiên, Địa, Nhân trở thành khái niệm thiêng liêng, thống nhất Thiên - Địa - Nhân, Trời - Đất - Người, gọi là Tam Tài. Như vậy biểu tượng Tam Tài: Nói về Thiên tài (Trời), Địa tài (Đất), Nhân tài (Người), là sự vật có đầy đủ tinh hoa nhất ở trên đời. Quan niệm của phương Đông về Tam Tài là sự thống nhất, hài hoà và rất linh thiêng. Vì vậy, trong nghi lễ, tâm linh được vận dụng vào tục lễ, cầu cúng như cầm ba nén hương, vái ba cái và kiến trúc, xây dựng đình, chùa để thống nhất Tam Tài Thiên - Địa - Nhân.
Còn theo nghiên cứu khoa học về lịch sử tiến hoá của loài người thì các chứng tích hoá thạch tìm được qua khảo cổ cũng còn rất mờ mịt. Trái đất hình thành từ hơn 6 tỷ năm và được chia làm 4 đại: Thái Cổ, Cổ Sinh, Trung sinh và Tân Sinh với rất nhiều biến cố khốc liệt, đổi thay, cùng sự xuất hiện tổ tiên loài người, tiến hoá từ vượn đến người, thành con người khôn ngoan, thông minh ngày nay.
GIAO THOA KHÔNG GIAN
Không gian, theo nghĩa rộng là khoảng không bao la vô tận của của vũ trụ và hẹp là khoảng không bao quanh toàn bộ trên bề mặt Trái Đất mà khoa học ngày nay gọi là Khí Quyển.
Theo các nhà khoa học thì trong không gian vũ trụ bao la, cùng với hoạt động không ngừng sự bắn phá khối nhiệt khổng lồ của Mặt Trời, lực hấp dẫn theo quỹ đạo của Mặt Trăng, liên tục có những vận động của các tinh tú, di chuyển, bắn phá từ các hành tinh trở thành những biến động giao thoa không gian vô hình, vừa theo quy luật vừa vô cùng phức tạp nảy sinh vần vũ của vũ trụ, khí quyển. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu thiên văn, Nguyễn Đức Phường, ở Hội Thiên văn - Vũ trụ Việt Nam, khi nói đến những đe doạ huỷ diệt đối với Trái Đất, cho rằng: “Không có một nhiễu loạn nào đối với vị trí của Mặt Trời vì chính dải Ngân Hà đã làm cho quỹ đạo của Trái Đất, của Mặt Trời xung quanh dải Ngân Hà tương đối ổn định. Trong dải Ngân Hà có khoảng hơn 100 tỷ ngôi sao, khoảng cách của chúng ta rất xa. Lực hấp dẫn cũng hoàn toàn không gây ra tổn hại nào”.
Báo “Thanh niên Online”, đầu tháng 3 năm 2012 đăng tải thông tin “Trái đất vừa may mắn thoát được cơn thịnh nộ của mặt trời, nhưng tình huống xấu nhất vẫn chực chờ phía trước”:
“Sau thời gian im ắng, gần đây mặt trời đột ngột phun một luồng bức xạ tia X cực mạnh xuất phát từ hoạt động vết loá mặt trời (solarflare) và sự phun trào vật chất ở vành nhật hoa (CME).
Sự kiện trên xảy ra vào lúc 4 giờ 13 phút sáng giờ UTC ngày 5 tháng 3 (tức 11 giờ 30 phút ngày 5 tháng 3 giờ Việt Nam). Dự kiến các CME phải mất hơn một ngày rưỡi mới đến trái đất, nếu địa cầu không may mắn trên đường đi của chúng. Sau thời gian quan sát, CME đã không quất trúng trái đất, nhưng sao Kim và sao Thủy không được may mắn như vậy.
Tuy nhiên, nhóm chuyên gia thuộc dự án Quan sát Động lực học mặt trời của NASA cho hay, nhiều khả năng cực quang sẽ liên tục xuất hiện trong những ngày tới.
Các chuyên gia Trung tâm dự đoán thời tiết không gian Mỹ nói
rằng: Dù trái đất thoát được lần này, CME vẫn có thể gây nên các cơn bão từ nhỏ.
Ngoài ra, mặt trời đã bước vào chu kỳ hoạt động tích cực kéo dài 11 năm, và dự kiến trái đất sẽ có thể hứng chịu nhiều đợt CME trong thời gian tới.
Các đợt bùng nổ tia X là nỗi sợ hãi của giới chuyên gia trái đất. Chúng mạnh đến nỗi có thể đánh sập vệ tinh và gây mất điện trên diện rộng”
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, những phát minh của con người đã và đang ảnh hưởng đến không gian trên mặt đất và cả trong vũ trụ. Đó là những phát minh khoa học kỹ thuật của điện, điện từ, hoá học, nguyên tử, viễn thông, phát thanh, truyền hình, di động… tạo ra những phản ứng vật lý, hoá học, nguyên tử và các loại sóng vô hình đan xen dày đặc không gian mặt đất; Hoạt động của các vệ tinh, con tàu phóng lên vũ trụ bay tới nghiên cứu các hành tinh (có thể còn có những đĩa bay của các hành tinh từ nền văn minh xa xôi trong vũ trụ đến thăm Trái Đất?) tác động, ảnh hưởng tới nhau mà phát sinh các biến động trong không gian và vũ trụ.
Phát triển của công nghệ hiện đại do con người tạo ra ở các công trình công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp thải khói bụi vào bầu không khí; Hoá chất độc hại ngấm vào đất đai và chảy ra các dòng sông.
Giao thoa không gian và sản sinh hoá chất đã tạo ra các trận bão từ, mưa mang theo hoá chất, vật thể xuống mặt đất. Vì thế có nơi có những trận “mưa máu”, những hạt mưa đỏ như máu, làm cho người ta sợ hãi mà cho rằng có thiên thần, ma quỷ gì chăng!
Trong cuốn sách nghiên cứu về “Cảm xạ Địa sinh học” (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin năm 2009), tác giả Dư Quang Châu, chủ nhiệm Bộ môn Năng lượng Cảm xạ thuộc Liên hiệp Khoa học công nghệ và tin học ứng dụng (UIA), Giám đốc chương trình nghiên cứu và ứng dụng Cảm xạ Địa sinh học thuộc Đại học Quốc tế Hồng Bàng đã lý giải khá khoa học về những tác nhân ảnh hưởng đến con người, đặc biệt là nơi ở. Theo ông, nguyên nhân gây ra mất năng lượng của nơi ở là: Các tia vũ trụ, sóng điện từ dưới đất và các xáo trộn từ nguyên nhân sinh học. Trong đó gồm: Các bức xạ và năng lượng từ ngoài vũ trụ, mạng lưới địa từ trường, các nơi tập trung năng lượng
địa cực, các vỉa nước ngầm, các kẽ nứt khô, các hang hốc, san nấp nền, các khối đá, thiết kế làm nhà, kể cả vật liệu xây dựng… Với mức độ tác động của những nguyên nhân này có khi có lợi; Đồng thời cũng gây ra nhiều độc hại.
Như vậy, những giao thoa vô hình trên không gian và hoạt động của con người ảnh hưởng rất ghê gớm tới nhau. Tất cả những hoạt động vô hình và hữu hình liên tục, ngày càng gia tăng tác động trực tiếp đến sự sống trên trái đất, đặc biệt là sức khoẻ, tâm lý, sinh lý, bệnh tật của con người.
ĐẤT - TRỜI VÀ ÂM - DƯƠNG HỢP NHẤT
Theo cấu tạo của tự nhiên, Trái Đất là tổ hợp của vô số vật chất. Từ trong lòng đất là khối lỏng, nóng chảy của nham thạch và hỗn hợp vật chất, kim loại, ra vỏ trái đất là đất, đá, nước, địa tầng khoáng sản, hoá chất và phân rã của thực vật, sinh vật… Tổng hợp vật chất trong lòng đất cực kỳ phong phú, đa dạng cung cấp cho sự sống, có thể khai thác phục vụ cho sự sống và nghiên cứu khoa học.
Từ mặt đất, hàng triệu loài cây cỏ mọc rồi lớn lên, nở hoa kết trái. Điều kỳ diệu của tạo hoá tự nhiên là mỗi loài chỉ lấy trong lòng đất chất để làm nên đặc trưng cho riêng mình. Cùng nơi trồng cấy cây cam, cây chanh, cây chuối rút lên hợp chất cho quả có điển hình vị chua, vị ngọt, tính mát, bổ; Cây quế, cây hồi lại rút lên chất cay nóng cho thân cây, chất thơm cho cánh hoa. Cũng nơi ấy, trồng lúa, khoai thì cho hạt, cho củ nuôi sống con người; nhưng trồng phụ tử, hoàng nàn, mã tiền, thầu dầu, lá ngón sẽ rút lên chất cực độc làm chết người. Thực vật lấy trong lòng đất làm nên hoa quả, củ hạt. Động vật và con người lại ăn củ, quả, hạt từ cây thực vật để duy trì sự sống. Trong học thuyết âm dương, ngũ hành phương Đông người ta căn cứ vào tính, vị của vật chất như vậy mà nghiên cứu, ứng dụng vào làm thuốc hàn, nhiệt để cân bằng âm dương và thuốc bổ, vị độc hại khác nhau để chữa trị bệnh cho con người. Theo “Học thuyết phương Đông” thì những gì gắn với mặt đất, ban đêm, mặt Trăng là thuộc về Âm.
Cũng theo học thuyết phương Đông thì trên không gian, mặt
Trời, ánh sáng, nắng, nóng, không khí là thuộc Dương. Ánh sáng của mặt Trời chiếu xuống làm quang hợp màu xanh cho cây cối, cơ thể con người hấp thụ làm chuyển hoá can xi chống bệnh còi xương. Tia hồng ngoại, tử ngoại từ ánh sáng mặt Trời được nghiên cứu, ứng dụng vào chữa trị bệnh và tăng cường sức khoẻ cho con người. Thực vật hút không khí để chuyển hoá vật chất trong thân cây. Động vật và con người hít thở không khí để chuyển hoá Ôxy và thải Cácbonnic duy trì sự sống. Không khí, ánh sáng còn khai mở, thông kinh, hoạt lạc lưu thông dương khí trong cơ thể.
Vật chất rút từ trong lòng đất là phần Âm kết hợp với phần Dương mới làm nên sự sống cho thực vật và động vật trong đó có con người. Đó là sự hợp nhất của Âm - Dương, thiếu Âm hoặc thiếu Dương sẽ thiếu cân bằng, sinh ra khiếm khuyết, bệnh tật; không có Âm hoặc không có Dương sẽ không duy trì được sự sống.
THỂ CHẤT
Vạn vật trên trái đất đều do các nguyên tố vật chất cấu thành. Trong lòng đất là tổ hợp vật chất. Nghiên cứu về trái đất, khoa học đã, đang chứng minh sự phong phú, kỳ diệu, đa dạng của vật chất và phản ứng vật chất. Từ lòng quả đất ra vỏ Trái Đất có đủ các loại vật chất, khoáng chất, lửa và nước. Có nơi hội tụ thành các mỏ như vàng, kim cương, sắt, nhôm, dầu, khí… Các loài thực vật cây cỏ mọc lên hút vật chất và nước trong đất để thành hoa, củ, quả. Sinh vật, động vật ăn uống những vật chất là củ, quả thực vật mà hình thành và lớn lên. Đó là sự sống muôn màu thời kỳ hoang dại. Trải qua tiến hoá không ngừng để thích nghi với điều kiện sống, đến thời kỳ văn minh, con người khai thác từ trong lòng đất các loại vật chất, khoáng sản, chế tạo, biến đổi ra muôn vàn dạng vật chất khác nhau ứng dụng cho nghiên cứu khoa học và phục vụ đời sống.
Tạo hoá tự nhiên đã rất kỳ diệu sản sinh ra muôn vàn thực vật, sinh vật, trong đó có con người, rồi qua bàn tay lao động và óc sáng tạo của con người càng trở nên vô cùng kỳ diệu.
Khi con người ăn những sản vật từ cây, quả là được cung cấp vật chất vào cơ thể chuyển hoá thành thể chất tế bào, da thịt. Đây mới chỉ là vật chất của “phần âm” từ hoa, củ, quả rút chất trong lòng đất. Khi có sự tác động của ánh sáng qua da, khí Ôxy hít vào phổi lưu thông
theo máu và kinh lạc đi khắp cơ thể thanh lọc đưa thải Cácbonnic ra ngoài, tức là “phần dương” điều hoà hài hoà với phần âm mới là cơ thể sống. Sự cung cấp thường xuyên của vật chất phần âm và vận động liên tục của khí phần dương trong cơ thể ở các Ion của tế bào tạo ra những xung động điện trường theo đặc trưng thể chất mỗi người. Khi mỗi người ăn uống khác nhau thì vật chất cung cấp vào cơ thể khác nhau, tạo nên thể chất khác nhau. Vì thế mà có những xung động khác biệt, có khi rất đặc biệt trong mỗi con người. Cùng với sự điều chỉnh ăn uống, dày công rèn luyện cũng góp phần tạo nên khí chất của mỗi người. Đây là gốc về những khả năng kỳ lạ của con người như ngoại cảm, thấu thị, nhân điện, khí công, thôi miên, ám thị, Yoga...
Như vậy, con người được sinh ra từ tạo hoá của sự phối hợp hài hoà phần âm gốc từ vật chất của đất và phần dương khí của không gian vũ trụ trên trời, rồi phát triển lớn lên. Vì thế mà tôn giáo cho rằng “con người là do Thượng đế sinh ra”. Thượng đế đại diện cho trên trời mà quên mất cái gốc vật chất từ trong đất và phải có quá trình tạo hoá từ giống “đực” và giống “cái” mới thành mọi thực vật, sinh vật trên đời. Hoặc có thể là việc nhìn quá xa về sự sinh ra của vũ trụ, trong đó có sự hình thành trái đất mà gọi là “Thượng đế” ngự trị vũ trụ, con người?
Mỗi người khi hình thành từ trong bào thai đã có sự phối hợp khí chất giống đực là cha, giống cái là mẹ mà Đông Y phương Đông gọi là “Tiên Thiên”, khoa học gọi là Gen, ADN cho đến khi sinh ra, lớn lên, cùng với chất cung cấp từ trong lòng mẹ và khi ra đời, hàng ngày ăn uống khác nhau mà có thể chất khác nhau. Người bẩm sinh đã có khí chất dương nóng hoặc âm lạnh, lại ăn uống những chất cay nóng hay mát lạnh mà hình thành thể chất âm dương, nóng lạnh khác nhau. Người ăn nhiều chất chua, mát hoặc do trong cơ thể thiếu VitaminC mà thích ăn chua, mát sẽ là người mang trong người thể chất âm, mát. Người thích ăn cay, nóng hoặc cơ thể thiếu dương mà có nhu cầu thèm ăn cay, nóng và ăn nhiều sẽ là người có thể chất dương, nóng. Người ăn trong khẩu phần ăn hàng ngày vật chất có giàu chất sắt, cộng với khả năng hấp thụ đào thải thì trong cơ thể sẽ tồn tại lượng chất sắt nhiều hơn bình thường… Cùng với sự tiêu hoá, vận hành, điều tiết của cơ thể không giống nhau mà lưu lượng vật chất trong mỗi người ở từng thời điểm cũng khác nhau và có thay đổi khác nhau theo thời gian. Khí hậu nóng, lạnh và giao thoa không gian cũng tác động trực tiếp vào ảnh hưởng đến nhịp sinh học cơ thể con người.
Do vậy, trong cùng một môi trường sống mà người này lúc nào cũng thấy bứt rứt, nóng nảy khó chịu, người khác thì thấy bình thường. Người này ăn thứ này không chịu, nóng phát ban, người kia bị ỉa chảy, người khác lại bình thường. Người trong cơ thể có nhiều chất sắt qua vùng có từ trường, hoặc có mỏ nam châm sẽ rất khó chịu. Một khu vườn, ngôi nhà, đoạn đường, khúc sông, vùng biển có tiềm ẩn ở dưới một lọai khí, chất hoặc mỏ nào đó luôn luôn phát tán, bốc lên dễ gây phản ứng cho cơ thể thì chắc chắn nhiều người qua đó sẽ rất khó chịu mà sinh tai nạn và nếu ở sông, hồ thì bơi lội giỏi cũng bị rối loạn nội sinh, dễ chết đuối mà trở thành “dớp”, thành nơi “ma, quỷ ám!”, thành nơi thần thánh hoá tâm linh, chữa bệnh. Đây là những hiện tượng được các thầy cúng, thầy bói, nhà ngoại cảm dựng lên thành linh thiêng, người mệnh danh là nhà nghiên cứu khoa học cho là “tia đất”, mà thực tế có người cũng chẳng hiểu hiện tượng và “tia đất” là gì!
Thể chất con người còn có sự giao thoa, tác động với nhau rất kỳ diệu, nhất là ở những người có thể chất đặc biệt. Người có thể chất đặc biệt, với vận hành khí huyết trong cơ thể, gia tăng giao động của các ion, có thể sinh ra xung điện, điện trường rất mạnh mà theo phái nhân điện gọi là những “luân xa”. Điện trường này tác động ra xung quanh và tác động tới người khác. Năng lượng trường sinh ở những người có thể chất đặc biệt giúp cho họ có năng lực siêu phàm có thể làm được những điều kỳ diệu, đầy bí ẩn mà khoa học ngày nay gọi là năng lực cảm xạ. Đây là nguyên nhân những hiện tượng có người gặp người này thấy rất dễ chịu, cảm mến, gặp người kia lại rất khó chịu, bực bội. Sự tác động này loại trừ có thể còn do tâm lý, ý thích, đố kỵ với nhau. Người này bế đứa trẻ thì nó ngủ yên nhưng người khác vừa đến là nó khóc thét lên. Người xưa gọi hiện tượng đó là vía và phải đốt vía! Trong y học ứng dụng tác động của thể chất vào việc chữa bệnh bằng bấm huyệt, châm cứu, nhân điện. Nhưng phải là thầy thuốc có thể chất đặc biệt và biết điều chỉnh ăn uống cung cấp thể chất và biết luyện khí công để phát ra điện trường sinh học, mới có thể là thầy thuốc có khả năng chữa bệnh đặc biệt được. Tuy nhiên, còn có yếu tố của mỗi người bệnh thì mới mang lại hiệu quả cao. Năng lượng cảm xạ đặc biệt thường được biểu hiện trong những trường hợp ngoại cảm, thôi miên.
Hiểu về thể chất thực sự là vấn đề khoa học giúp cho những thầy thuốc xử lý điều chỉnh thuốc để chữa bệnh và giải thích cho nhiều hiện tượng khác. Không hiểu về thể chất cũng gây ra tâm lý thần bí,
hoang đường, ma thuật, dễ trở thành mê tín, dị đoan cho dự đoán nhuốm màu duy tâm, sợ hãi.
Ngày nay, với sự sáng tạo của trí tuệ con người, nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại phát minh, phát triển đã và đang ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ, sự sống trên trái đất. Có những phát minh khoa học vĩ đại làm thay đổi thế giới, phục vụ lợi ích cho con người sống ngày càng văn minh hơn. Tuy nhiên, nó cũng có mặt trái, ảnh hưởng xấu đến sự sống trên mặt đất. Nhà máy, xí nghiệp công nghiệp thải khói bụi, hoá chất gây ô nhiễm môi trường, sông nước, phá hỏng tầng ôzôn. Công nghiệp điện, điện tử, viễn thông, từ trường tạo ra các sóng giao thoa, đan dầy trên không gian mặt đất. Những biến đổi của địa chất, khai thác hầm mỏ làm thay đổi cơ cấu địa chất, địa hình. Đó là những yếu tố vừa tác động tốt đến trời, đất, con người, đồng thời cũng tác động xấu đến sự sống trên trái đất như sức khỏe, bệnh tật…
Thể chất trong mỗi con người khác nhau nên xung điện trong cơ thể khác nhau, thậm chí cảm giác cũng khác nhau. Kết hợp với vận động trong cơ thể và ảnh hưởng của giao thoa sóng trên không gian mà tạo ra những phản ứng trong cơ thể người. Có người có thể chất đặc biệt do bẩm sinh hoặc trong quá trình cung cấp, rèn luyện mà có khí chất đặc biệt hoặc rất đặc biệt mà người khác không có. Đó là cá biệt có người mà bàn tay phát nhiệt nóng, có người còn phát công giữ được vật liệu kim loại thìa, dĩa dính trên người không rơi, hoặc khí công Yoga nâng người ngồi lơ lửng trên không gian, thiền sư ăn chay hoá thân viên tịch. Có người chịu được đau đớn hoặc nóng, lạnh. Trong khi đó có người hơi đau là kêu la ầm cả lên, có người trong mùa hè nóng nực mà cũng phải trải chăn, đệm xuống giường mà nằm lên mới thấy dễ chịu.
Hai cha con ông Dương Đình Thắng ở xã Ngọc Sơn, Hiệp Hoà, Bắc Giang có khả năng đặc biệt: Sờ vào điện và sửa chữa điện bằng tay trần mà không bị điện giật. “Người phụ nữ nam châm” là Brenda Allison ở Bắc London - Anh có từ trường rất mạnh, cơ thể hút được các vật kim loại, đi qua làm sáng bóng đèn, kích hoạt hệ thống báo động xe hơi và khi cầm vào đồ chơi có thể nạp pin cho đồ chơi của con mình. Khả năng đặc biệt này chỉ thay đổi khi điều chỉnh ăn uống làm thay đổi thể chất và có thể môi trường sống để giảm dần xung động điện trường trong cơ thể trở lại bình thường.
Con người là thực thể vật chất và nước của phần âm hài hoà với khí của phần dương mà thành cơ thể sống. Khi cái chết đến với con người, bắt đầu lạnh dần từ nơi xa nhất của mao mạch, thần kinh là bàn chân lên dần rồi thở hắt ra, mắt mở và ngưng thở, tim ngừng đập. Lúc này sẽ xảy ra hiện tượng thoát dương, dương khí, tinh khí trong người thoát ra qua mũi, mồm và mắt. Nếu trong đêm, người có năng lực cảm xạ có thể thấy luồng sáng vụt bay từ trong mắt bay ra, đó là “phần dương” đã thoát khỏi cơ thể hay còn gọi là “tinh lạc” bay ra hoà vào dương khí mà gọi là “linh hồn”. Phần dương lại trở về không gian Dương - Trời. Sự sống không còn, chỉ còn lại thể chất ép cứng của phần âm da thịt là xác chết giá lạnh. Xác chết lại được chôn và hoá vào với đất, thể chất lại trở về với đất vốn là chất từ hoa, củ, quả trong đất lấy ra nuôi sống con người, âm lại trở về âm.
Do thể chất mỗi người khác nhau, có người có thể chất rất đặc biệt, nhưng hiếm, khi chết phần dương chưa hoặc không tan, cứ vẫn tồn tại trong không gian, người xưa gọi là “vong linh”, “vong hồn” mà mắt thường không nhìn thấy. Phần dương này có khi tồn tại trong nhà hoặc ngoài sân là bởi trong huyết thống gia đình con cháu sinh sống, thể chất của họ như những ăng ten thu, giữ mà không thoát đi đâu. Đến khi có một người nào đó trong gia đình, cũng có khi là người không phải con cháu, có thể chất đặc biệt hoặc năng lực cảm xạ gần hợp với phần dương người đã mất đang lưu giữ, cho đến khi người ấy tập trung vào cúng, khấn, công năng khí huyết vận hành, điện trường phát ra mạnh trở thành như “ăng ten” thu phần dương đang bay “nhập” vào và nói được những gì người đã chết nói. Và khi từ từ trở lại trạng thái bình thường, phần dương cũng thoát ra như Radio ngắt điện, quá trình nhập vào cũng hết. Cũng có khi lưu vô hình trên phần mộ nhất là về đêm, có khi cả ban ngày mà người có thể chất ngoại cảm có thể “nhìn thấy” mà thành “linh thiêng”; Kết hợp với tâm lý sợ hãi mà dựng thành những “bóng ma!”.
Sự vận hành khí lực trong cơ thể cũng ví như máy động cơ điện, khi có gia tốc rất lớn sẽ sinh ra điện trường sinh lớn, tạo ra những đặc biệt ở con người mà trở nên có khả năng kỳ diệu.
Thể chất đặc biệt cùng với các nguyên nhân vùng đất có hoá chất, khi ốm đau dùng nhiều kháng sinh, bọc bằng nilon kín làm cho vi khuẩn không thâm nhập được vào xác chết. Do vậy, xác chết không phân huỷ được nên khi cải mộ vẫn còn nguyên hoặc phân rữa nhưng vẫn còn nguyên hình, khi mở ra, không khí tác động vào mới bị biến
dạng mà người xưa gọi là “mả kết”. Đây là những hiện tượng lý thú, trong tâm linh không dễ hiểu và cách giải thích hiện tượng này cũng mang màu sắc huyền bí.
Từ trong lòng đất người ta đã lấy ra các vật chất, rồi qua nghiên cứu khoa học mà chế tạo ra các thiết bị tinh vi, viễn thông, bán dẫn, điện tử, máy móc, người máy, phát thanh, truyền hình, robot, con chíp... Các thiết bị khoa học này, khi cho dòng điện vào đã trở thành hữu dụng phục vụ con người. Máy Radio bán dẫn thu thanh được tiếng nói từ nơi có thiết bị phát sóng của đài phát thanh, máy điện tử thu hình (ti vi) thu được cả hình và tiếng từ nơi có thiết bị phát hình từ đài truyền hình; Đồng thời cùng một lúc có thể phát và thu tới hàng triệu, hàng tỷ máy thu thanh, thu hình ở nhiều khoảng cách khác nhau.
Sự kỳ diệu và vĩ đại từ những trí tuệ phát minh của con người đã làm thay đổi thế giới như vậy. Điều khẳng định là khoa học của nền văn minh mới đã làm đựợc điều mà từ xa xưa không làm được. Chúng ta thử hình dung, cách đây khoảng hơn một thế kỷ, khi con người chỉ tin vào thần thánh, ma quỷ mà bất ngờ mang một máy thu hình bật lên bộ phim hoặc đĩa CD, DVD, VIDEO có hình người, có tiếng nói, nhất là siêu nhân, kinh dị của công nghệ mới như ngày nay thì chắc chắn người ta sẽ rất hoảng sợ và cho là thần thánh, ma quỷ!
Chúng ta có thể hiểu về những kỳ nhân, thiên tài có khả năng đặc biệt bắt nguồn từ cấu tạo thể chất đặc biệt. Cá biệt cũng có người có thể chất như cấu tạo của chiếc ti vi, có người còn có thể chất đặc biệt hơn chiếc ti vi, hoặc như máy X-Quang, CT scan mà có khả năng nhìn được thật xa, nhìn thấu, nhìn xuyên được qua tường, xuống sâu dưới đất, cảm nhận và nhìn thấy điện trường của người ở rất xa hoặc bóng hình phần dương thoát ra của người đã chết… Đồng thời là con người có tâm lý, có ý thức, có hành động nên có thể nhận biết và suy luận mà “thấy” được những gì mà người thường không thấy. Hiện tượng này xảy ra ở một số người, có khi còn qua một vài hành vi như mất ngủ, nhịn ăn, tai nạn, ốm một trận “thập tử nhất sinh”, tự nhiên cười nói lảm nhảm ít ngày hoặc tạo ra vài điều kỳ bí, mệnh danh có trời phật, thánh thần cho hưởng lộc rồi phán đủ điều mà chúng ta gọi là “ngoại cảm”, “thần nhãn”, “thấu thị”, “thần giao cách cảm”. Hiện tượng này thực sự là khoa học về thể chất chứ không phải huyền bí mà thường gọi là thánh thần, ma quỷ.
Những dạng người này, ngoài số ít từ thể chất, thiên hướng và say mê nghiên cứu như những nhà khoa học thiên tài, nhà tiên tri lỗi lạc, phần lớn họ không học hành gì nhiều mà chủ yếu là có thể chất đặc biệt, có khi cộng thêm sự chủ quan cố tình tạo nên thần bí mà thành. Nếu chỉ là cấu tạo thể chất đặc biệt, thì chỉ một thời gian do ăn uống, cung cấp chất vào người thay đổi, khả năng ấy sẽ thay đổi và họ không còn khả năng gọi là “ngoại cảm” ấy nữa. Cũng như những đồ vật hôm nay mang về còn tươi ngon, để vài ngày hoặc một thời gian không có bảo quản gì sẽ bị phân rữa, ôxy hoá, hoen rỉ, bỏ đi, không dùng được. Người có thể chất đặc biệt cũng vậy, qua thời gian, ăn uống cung cấp chất vào người thay đổi, họ sẽ trở thành người bình thường như chúng ta, thậm chí sự hiểu biết khác rất hạn chế. Nhưng cũng có người cố tình ngộ nhận theo việc đã làm, thần thánh hoá việc đã rồi mà trở thành “cô”, “cậu” bịp bợm những người nhẹ dạ, cả tin.
Có trường hợp qua một thời dựng “hụi” lừa đảo lấy tiền tỷ, khi vỡ hụi, mọi người đến nhà bắt nợ. Trước tình thế nguy hiểm ấy “chủ hụi” đã nghĩ ra một kế sách quái quỷ là lấy tiền lừa đảo được dựng lên một “điện” thờ rất to rồi ngồi trong nhà, lừ lừ mắt nhìn ra, thấy ai đến đòi nợ là nhân danh thánh thần doạ cho mấy câu làm cho họ sợ hãi không dám đến đòi nữa. Thế là từ đấy, kẻ lừa đảo chiếm không của người lương thiện lại nghiễm nhiên trở thành “cậu”, “cô” thầy cúng, tiếp tục lừa người khác mang tiền đến xì xụp cúng bái rồi lấy xây nhà cao cửa rộng, tôn lớn bàn thờ. Trong số đó có nhiều kẻ buôn gian bán lậu, tham nhũng, trộm cắp mang đến hàng chục triệu đồng để cúng tiến, đốt hàng triệu tiền vàng mã, ngựa, xe. Điều đáng nói là trước khi xảy ra sự việc quỷ quyệt này, “cô”, “cậu” chỉ là cô gái hay chàng thôn quê, gia đình nghèo khó và rất ít học. Đây là đại diện của thế lực lừa đảo, mê tín, dị đoan, kìm hãm hiểu biết của con người, kéo lùi sự phát triển của xã hội văn minh, trở về cổ xưa, mông muội. Rồi đến ngày họ cũng sẽ bệnh tật, già nua, nếu không có thuốc men, khoa học cứu chữa thì chẳng thần thánh nào cứu họ thoát chết, lại chôn trả về với phần âm của đất. Hiện tượng như vậy chỉ là lừa đảo, chứ không dính dáng gì đến thể chất đặc biệt ở con người.
Cùng với cấu tạo thể chất còn có ba yếu tố là thiên hướng, tâm lý, bệnh tật kết hợp làm nên điều kỳ lạ, hay ngớ ngẩn ở con người.
Ngày nay, những con người mới, trẻ tuổi với trí tuệ của thể chất đặc biệt, ngày đêm say mê nghiên cứu đang tiếp tục phát minh khoa học làm nên những điều kỳ diệu trong tương lai. Đó là vũ trụ, công
nghệ nano, vật liệu mới, ADN, biến đổi gen, liệu pháp tế bào gốc, người máy, tim, da nhân tạo… nhằm nghiên cứu không gian, đời sống, phục vụ con người. Đây thực sự là những con người mà thể chất của họ vô cùng hữu ích cho thế giới văn minh.
THIÊN HƯỚNG
Thiên hướng ở đây không hiểu nghĩa theo Hán tự “Thiên - Trời” mà là xu hướng là điều hướng tới của con người. Thiên hướng từ bẩm sinh và rèn luyện của trí tuệ. Trí tuệ là đặc trưng của bộ não và phản xạ hành vi từ bộ não.
Thiên hướng trong con người hình thành có hai yếu tố, bẩm sinh và rèn luyện. Theo học thuyết phương Đông về Đông Y, đó là “Tiên Thiên” từ trong bào thai và “Hậu Thiên” khi ra đời trưởng thành.
Bẩm sinh từ bào thai do nguyên nhân nào đó đã có những bộ não cấu tạo có tư chất thông minh, rất thông minh hoặc bình thường hoặc trì độn.
Theo các nghiên cứu khoa học về bộ não và hệ thần kinh của con người thì bộ não có cấu tạo rất đặc biệt, gồm có hai bán cầu đại não và các thuỳ não với các nếp nhăn của bề mặt. Tế bào não là những Nơron thần kinh, được máu mang Ôxy đến nuôi dưỡng. Tế bào não rất nhạy cảm với phản xạ và nếu thiếu Ôxy sau năm phút sẽ để lại di chứng khó phục hồi. Bộ não là trung ương thần kinh chỉ huy, điều khiển ý thức, hành vi của con người thông qua phản xạ thần kinh. Theo cấu tạo sinh lý, não được chia thành các vùng khác nhau về chức năng nhưng liên hệ thống nhất về chỉ huy phản xạ. Đó là các vùng về trí nhớ, ngôn ngữ, thị giác, thính giác, thần kinh thực vật, thần kinh chức năng, tư duy, hành động… Khi vùng nào hoạt động hoặc có điều gì xảy ra, lập tức các vùng não được huy động và phản xạ được trung tâm phối hợp xử lý, điều chỉnh hành động. Bộ não bình thường thì những xử lý diễn ra bình thường, nhưng khi có khiếm khuyết bẩm sinh hay tổn thương vùng nào của não, lập tức những phản xạ, xử lý sẽ hạn chế hoặc sai lạc thì phản xạ và hành vi cũng sai lạc. Như vậy, có thể thấy bộ não quan trọng như thế nào đối với trí tuệ, hành vi, thông minh hay ngớ ngẩn và bệnh tật của con người.
Về bẩm sinh, ngay từ khi hình thành bào thai, có ảnh hưởng từ
Gen của bố mẹ, nhưng cũng có trường hợp đột biến mà hình thành trong bộ não thai nhi có thể có những cấu tạo đặc biệt như vùng này có khối lượng lớn hơn, vùng kia có nếp nhăn dày hơn hoặc vùng khác lại bị teo nhỏ lại hoặc có khối u… Đây là dấu hiệu của tư chất thông minh, thiên tài, giỏi về mặt nào đó hoặc lại bị dị tật, khiếm khuyết bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ khi ra đời. Khoa học ngày nay, qua xét nghiệm, siêu âm thai nhi có thể chẩn đoán được những dự đoán y học.
Rèn luyện là yếu tố vô cùng quan trọng, nó chiếm tới 80 đến 90 phần trăm cho mọi thành công của con người. Một người bẩm sinh có bộ óc thông minh nhưng không chịu học tập, nghiên cứu, rèn luyện thì cũng thành vô dụng. Người bình thường nhưng chịu khó học tập, nghiên cứu, làm cho trong não hằn thêm những nếp nhăn, hoặc đột biến tăng sinh tế bào sẽ có những thành đạt. Tất nhiên người có não bẩm sinh thông minh lại ra sức học tập, nghiên cứu chắc chắn là những tài năng và có thiên hướng phù hợp sẽ trở thành thiên tài sáng tạo. Đây cũng là nghiên cứu về những thiên tài kiệt suất, vĩ đại trên thế giới.
Bẩm sinh đã có một vùng não nào đó phát triển hơn, nhiều nếp nhăn hơn, khi ra đời lại chịu khó, say mê học tập, nghiên cứu thì sẽ trở thành tài năng. Đó là gốc bẩm sinh được bồi đắp trong quá trình rèn luyện, tức là đồng nhất thiên hướng mà nên. Nếu thuộc vùng ngôn ngữ thì sẽ giỏi về hùng biện, văn học, thơ ca; Thuộc vùng kỹ năng sáng tạo thì sẽ thành đạt về khoa học kỹ thuật, thực hành, sáng tạo… Cộng với thể chất, còn giúp cho thiên hướng định hình theo khí chất êm ái hay nóng nảy và khi thái quá không được cân bằng sẽ điều chỉnh hành vi theo thiên hướng. Vì vậy, mà có người giỏi về cái này lại không giỏi về cái kia, thích cái này không thích cái kia. Người có thiên hướng tu hành sẽ giũ bỏ đời trần tục mà đi theo tôn giáo của họ. Người chuyên say mê nghiên cứu, phát minh, chế tạo ti vi ngày càng đẹp, càng hiện đại, người khác lại say mê nghiên cứu chế tạo máy móc cơ khí, ô tô, người máy tốt, đẹp hơn và người chế tạo ti vi không biết gì về ôtô, người máy; Ngược lại người chế tạo ô tô, người máy rất giỏi lại chẳng biết gì về chế tạo ti vi. Một người dù phải làm nghề cảnh sát, nhân viên canh ngục nhưng rồi họ cũng theo đuổi nghề văn chương, báo chí, thơ ca. Người có thiên hướng dịu dàng sẽ làm nghề tâm lý, giáo dục giỏi, người có thiên hướng hung bạo thì trước sau cũng can dự vào bạo lực, binh đao…
Như vậy, thiên hướng tạo ra lòng say mê, và thường trở thành nghề nghiệp ở mỗi con người. Vì thế người ta quyết tâm, quyết chí đi theo, làm theo cái nghiệp của mình, có khi không sợ làm bất cứ cái gì khi thiên hướng định hình. Kể cả tâm linh, hay khoa học, mê tín hay không mê tín, người tu hành hay người vô thần cũng thế, đó là cái say mê, cái nghiệp của họ, không dễ gì, có khi càng không thể khuyên bảo họ khác đi. Bởi thế mà có người tham lam, có người chỉ thích làm từ thiện. Lại có người thích thu gom những con mèo hoang về nuôi, có người chăm sóc người vô gia cư, bệnh tật hiểm nghèo… mà người khác không dám làm hoặc không thể làm được.
Thiên hướng còn giúp cho lòng say mê, có khi say mê đến cuồng nhiệt mà quên hết mọi điều khác, đó là trường hợp phần lớn các trí tuệ thiên tài, các nhà khoa học vĩ đại, vì say mê nghiên cứu, phát minh mà không quan tâm đến những sinh hoạt lặt vặt thường ngày. Đó cũng là hiện tượng có những thiên tài đặc biệt, xuất chúng về lĩnh vực nào đó nhưng lại rất khờ khạo, lẩm cẩm về những sinh hoạt hoặc đối xử thường ngày mà sinh ra những kết cục bi thương.
Có những lứa đôi tuổi trẻ, ngay từ khi vừa mới lần đầu gặp nhau, do có tín hiệu giao nhau, hợp về thể chất và xung động điện trường từ thể chất cùng với những cái nhìn cảm quan tâm lý rất mạnh mà họ đã cảm mến nhau, yêu nhau say đắm. Rồi vì lý do nào đó không lấy được nhau, họ ôm nhau nhảy xuống dòng sông tự tử. Người ngoài cuộc thì cứ nói: Việc gì phải thế, không lấy người này thì lấy người khác! Nhưng thực tế mình có phải là họ đâu, có thể chất giao nhau và cảm nhau như họ đâu, có mối tình say đắm đến si mê như họ đâu? Sự say mê đã điều chỉnh thiên hướng của họ thái quá, không cân bằng lại được và dẫn đến thiên hướng chỉ huy hành động quyết chết cùng nhau. Chỉ khi nào ta gặp một người có sự giao nhau thể chất vô hình và thiên hướng cảm nhận đồng nhất, sẽ xảy ra hiện tượng cảm giác thôi miên vào trạng thái như thế.
Có đôi bạn trẻ yêu nhau, gia đình không đồng ý, họ đã cùng nhau uống thuốc sâu tự tử, nhưng may mà kịp thời cứu được. Rồi họ lấy nhau, sinh con, xây dựng được nhà cửa khang trang. Cho đến khi lâm vào cảnh hụi họ vỡ nợ, vợ chồng cãi nhau. Anh chồng liền lấy búa đánh vào đầu người vợ trượt da, chảy máu. Cô vợ ngã quay ra bất tỉnh. Mấy đứa con thấy vậy kêu khóc, gào lên: “Bố đánh mẹ chết rồi!”. Thế là anh chồng liền đùng đùng chạy lên sân thượng tầng 2 nhao đầu xuống đất. Mặt anh máu me bê bết, một tay và một chân gẫy lủng
lẳng. Người nhà vội đưa cả hai vợ chồng anh đi bệnh viện cấp cứu. Anh phải mổ não, bó bột chân tay, nhưng vết thương quá nặng nên đã tử vong, còn người vợ được cứu sống. Người thì bảo, vì anh quá ân hận và thương xót vợ mà tự tử. Người lại nói, có thể anh sợ sau khi vợ chết, người ta sẽ đến đòi nợ nên cũng chết đi cho xong! Câu
chuyện bi thương là do hậu quả của những thiên hướng và tâm lý thái quá không chế ngự và cân bằng được ở con người.
Thiên hướng cũng là nguyên nhân cho sự phù hợp hay không phù hợp mà thành chuyện trên đời mới có người ở gần nhau hàng chục năm mà chẳng yêu quý gì nhau, thậm chí lại rất ghét nhau. Trong khi đó có người mới chỉ thoáng qua hoặc vừa mới gặp nhau mà đã cảm mến, thích nhau, rồi rất yêu nhau, kể cả khác giới và cùng giới đồng tính.
Thiên hướng thái quá như hiện tượng si mê “thần tượng” của những đệ tử mới lớn hâm mộ điên cuồng các “ngôi sao” âm nhạc, bóng đá dễ trở thành bi kịch cuộc đời. Ma lực của môn bóng đá làm say mê con người trên khắp hành tinh, nhưng có khi cũng gây nên thảm hoạ chỉ vì quá si mê nó.
Thiên hướng đôi khi làm người ta bất chấp mọi lý lẽ mà cứ theo ý mình. Hoặc có khi vào vị trí người lãnh đạo dễ sinh độc đoán, chuyên quyền, loại bỏ những cái của người cũ để làm cái mới của mình mà trở nên tốt đẹp hay chuốc lấy thất bại. Thiên hướng thái quá dễ sinh ngộ nhận, hoặc hoang tưởng thiên tài, hay lại sinh tự ti làm mất bản lĩnh và ý chí con người. Thiên hướng còn có thể nảy sinh tham tàn, bạo ngược, bá quyền, gây ra bạo loạn, chiến tranh, lôi kéo con người vào binh đao, lửa đạn.
Cũng do thiên hướng mà thành thiên tài, lãnh tụ, nhà văn, nhà khoa học, người tu hành, thầy cúng, thầy bói, người thích nghề này, người yêu nghề khác... Thiên hướng giúp người ta định hình nghề nghiệp, phát triển mạnh thì thành thiên tài, nhưng khi thái quá dễ trở nên cuồng tín, si mê, khó kiểm soát được. Thiên hướng cộng với thể chất đặc biệt có thể tạo ra “thần giao cách cảm” và những hiện tượng thần kỳ ở con người.
Thiên hướng góp phần rất quan trọng làm nên cá tính và bản chất của mỗi cá nhân.
Do đó những phương pháp tâm lý, giáo dục, định hướng càng sớm càng tỏ ra vô cùng quan trọng, góp phần cho sự cân bằng thiên hướng sẽ ảnh hưởng tốt hoặc hạn chế hành vi xấu ở mỗi con người.
TÂM LÝ
Tâm lý bao gồm nhiều khía cạnh của ứng xử trong quan hệ cuộc sống, tình cảm cá nhân và cộng đồng. Tâm lý góp phần điều chỉnh hành vi ứng xử của con người đối với bản thân và xã hội. Tâm lý có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hình thành nhân cách của cá nhân và ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội.
Tâm lý phát triển trong quá trình lớn lên tiếp xúc với môi trường sống và chịu ảnh hưởng của môi trường sống. Tâm lý còn là sản phẩm của quá trình tự giáo dục và tác động to lớn từ giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội.
Theo chuyên ngành tâm lý học, người ta chia ra nhiều loại tâm lý khác nhau như: Tâm lý lứa tuổi, tâm lý giáo dục, tâm lý học sinh, tâm lý nghề nghiệp, tâm lý y học…
Con người sinh ra, lớn lên ở môi trường nào thì tâm lý và phát triển tâm lý chịu ảnh hưởng của môi trường ấy. Trong xã hội cổ xưa, những tác động của thiên nhiên và bí ẩn vô hình thì tâm lý con người mông lung, sợ hãi hoặc hung hãn làm càn để mong thoát khỏi ám ảnh tự nhiên. Ở xã hội văn minh với những hiểu biết khoa học thì tâm lý con người thoải mái, nhân văn và tự tin hơn. Những phật tử đến với chùa chiền, giáo dân đến với nhà thờ thiên chúa thì tâm lý từ tâm, cầu thiện và lệ thuộc niết bàn, thiên đàng, Phật, Thánh. Con buôn, kẻ cướp thì tâm lý chụp giật, tranh giành lợi nhuận thắng thua, cướp của, giết người. Có người có tâm lý rất hay sợ hãi, hơi tý là đã sợ. Loại người này nghị lực yếu đuối, cả tin, dễ bị lợi dụng, doạ nạt và rất duy tâm, mê tín dị đoan. Có người thì chẳng sợ cái gì, kể cả cái chết. Họ có thể bên cạnh xác chết hoặc ở nghĩa địa, tha ma cả đêm cũng chẳng sao. Đối với loại người này có bản lĩnh nhưng nhiều khi rất táo tợn, thậm chí trở thành lưu manh, kẻ cướp, giết người.
Tâm lý còn ở người từ tâm, nhường nhịn, tử tế và ngược lại là kẻ làm bậy, làm càn, dựng đặt, bịa chuyện. Người thương người, giúp đỡ; Người độc ác, hại người. Tâm lý diễn ra muôn hình vạn trạng
xung quanh cuộc sống. Trong đó tâm lý sợ hãi, bịa đặt, dựng chuyện có vai trò chủ yếu hình thành tâm linh vô hình, mê tín, dị đoan.
Cũng vì vậy mà có kẻ khi gặp những hiện tượng kỳ bí đã bịa đặt ra là thần thánh, ma quỷ để lừa bịp chứ bản thân cũng chẳng hiểu thần thánh, ma quỷ là gì! Cần hiểu rằng khái niệm thần thánh, ma quỷ là do con người xưa kia, sống trong mông muội, chưa hiểu biết về khoa học dựng đặt ra. Không có con người dựng đặt ra thì làm gì có thần thánh, ma quỷ? Đây cũng là hạn chế của hiểu biết trong xã hội cổ xưa và ảnh hưởng của phong kiến nghìn năm Bắc thuộc mà con người mang tâm lý thu mình, sợ hãi cho đến tận bây giờ vẫn chưa giải phóng được. Nếu nói về giá trị giáo dục “hiếu”, “nghĩa” của đạo Khổng, Mạnh trong nền văn hoá Trung Hoa cổ xưa có rất nhiều điểm tốt về đối nhân, xử thế đáng được tiếp thu. Tuy nhiên, mặt khác làm cho con người yếu mềm, nhu nhược, sợ hãi không thể tự vươn lên, khẳng định mình trong cuộc sống và giao lưu góp phần phát triển xã hội mới. Đây chủ yếu là luận thuyết của những triết gia, nhà nho ẩn dật. Chúng ta cứ hình dung một con người suốt ngày chỉ ngoan ngoãn khoanh tay bảo sao làm ấy và chắp tay cầu khấn thì làm gì có sự thay đổi xã hội văn minh như ngày nay? Chúng ta cảm ơn những con người trẻ tuổi của xã hội mới, họ không chịu khoanh tay, không chịu ngồi chắp tay cầu mong vô vọng, không quan tâm về tâm linh vô hình mà năng động, sáng tạo, say mê học tập, tiếp thu, nghiên cứu phát minh khoa học, sáng tạo ra những công trình cho xã hội văn minh phục vụ thiết thực đời sống con người.
Điều dễ nhận ra là tâm lý ai cũng muốn cuộc sống được hưởng những thành quả của phát minh sáng tạo, của công nghệ mới. Một bên là những lạc hậu, cổ điển, cầu, khấn, chờ mong sự rủi, may, số mệnh; Một bên là nghiên cứu, phát minh khoa học, ăn ở văn minh với đủ thiết bị thông minh ti vi, tủ lạnh, máy điều hoà, viễn thông di
động, chắc chắn người hiểu biết lựa chọn về phía văn minh. Kể cả những tín đồ bên kia cũng mong được hưởng những thành quả văn minh và thực tế hàng ngày họ đang tận hưởng những thiết bị của nền văn minh hiện có.
Tâm lý là gốc của nhân cách và điều chỉnh hành vi của con người. Chính con người làm thành lương tâm hay bạo ngược chứ sao lại bịa ra do nguyên nhân vô hình, ma quỷ, thánh thần? Người luôn luôn nghĩ phải sống tử tế, nhân nghĩa, thương người thì có đi đâu, ở đâu họ cũng không bao giờ làm điều thất đức, hại người. Kẻ có tâm lý ích
kỷ, tham lam, độc ác thì vừa đuổi theo vừa giáo dục, kể cả suốt ngày đi cầu cúng nó vẫn làm những điều xấu xa, xằng bậy, cướp của, giết người.
Tâm lý cổ xưa lệ thuộc thần quyền, siêu thực của tâm linh. Tâm lý hiện đại ngày nay thăng hoa, thực tế theo khoa học.
BỆNH TẬT
Con người là thực thể của vật chất và sự phối hợp âm dương hoà hợp mà thành cơ thể sống khoẻ mạnh. Quá trình vận động có khi không cân bằng hoặc khiếm khuyết, hoặc tác động bởi hoàn cảnh khách quan và lão hoá mà sinh bệnh tật.
Quy luật “Sinh - Lão - Bệnh - Tử” là quy luật tự nhiên đối với con người. Sinh ra khoẻ mạnh để lao động sáng tạo, đến già hạnh phúc là minh mẫn và sức khoẻ còn tốt. Nhưng không ai khoẻ mãi, sống mãi, có chăng thì kéo dài sự sống hơn người, đến mức nào đó rồi đột ngột của tim mạch, biến chứng của bệnh tật tuổi già mà về với đất và linh hồn lên với thiên đàng. Đó là quan niệm thanh thản của người xưa lúc tuổi già.
Hiện nay, với trình độ khoa học y học ngày càng phát triển, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về biến đổi gen, liệu pháp tế bào gốc để chữa những bệnh hiểm nghèo và trong tương lai không xa sẽ có thể làm trẻ hoá và kéo dài tuổi thọ cho con người.
Bệnh tật có thể đến với con người bất cứ lúc nào nếu không dự phòng và chạy chữa. Nguyên nhân sinh bệnh tật có khi do chủ quan gây ra như ăn uống, sinh hoạt, thuốc men không đúng; Có khi do khách quan chất độc hại, khí hậu thiên nhiên, tai nạn; Có khi do suy nghĩ ức chế, ám ảnh mà sinh ra.
Trước đây và cả ngày nay, ở những vùng lạc hậu, xa xôi hẻo lánh thì bệnh tật là nỗi ám ảnh của con người. Họ cho rằng thần thánh, ma quỷ hành người mà cầu cúng thánh thần, xua đuổi tà ma nên xảy ra những cái chết thương tâm.
Với khoa học y học phát triển, ngày nay người ta có thể chẩn đoán và chữa được nhiều bệnh cho con người, đặc biệt là những bệnh
mang màu sắc của huyền bí, tâm linh. Trường hợp trong gia đình có những người còn rất trẻ cứ một thời gian lại có một người đột tử, gây sợ hãi cho cả nhà và cho là động mồ mả tổ tiên, ma trùng quái ác gì chăng. Đến khi, các bác sĩ nghiên cứu thấy rằng gia đình này có bệnh di truyền về một loại gen sinh bệnh tim mạch. Các bác sĩ đã gắn cho những người còn lại máy trợ tim mạch và đã cứu họ thoát khỏi tử thần. Lại có trường hợp qua một cơn tai biến hạ đường huyết của bệnh tiểu đường, người bệnh tự nhiên bị loạn thị, cứ nhìn ai là thấy có một bóng đi theo người. Bệnh nhân tỏ ra rất sợ hãi. Sau khi tư vấn của thầy thuốc, một thời gian ăn uống và dùng thuốc hợp lý, người bệnh trở lại bình thường, không còn triệu chứng loạn thị nhìn một thành hai nữa.
Một gia đình có bố hoặc mẹ bị một trong các bệnh viêm gan virus, lao, ung thư, tiểu đường, nếu không dự phòng tốt sẽ di truyền và lây cho con cháu. Trong nhà nhiều người bị chứng bệnh giống nhau, sinh ra lo sợ mà cho rằng “quả báo”, “trùng tang” hay là có “động” trong đất cát, nhà cửa! Khi đi chữa trị, xét nghiệm thì đó là những bệnh có tính di truyền, lây lan trong huyết thống gia đình mà gây ra những cái chết do căn bệnh giống nhau.
Có những đôi vợ chồng lấy nhau mãi chẳng có con, hoặc không sinh được con trai, thuốc men chạy chữa nhiều không được, ngày đêm lo nghĩ cho rằng vô phúc, tuyệt tự. Thế rồi cầu cúng khắp nơi, mất thời gian, tốn rất nhiều tiền cũng chẳng được. Khi đến bệnh viện, qua khám, chẩn đoán, xét nghiệm và bằng các thiết bị y tế hiện đại kết quả cho thấy trong những phụ nữ ấy, người thì bẩm sinh không có buồng trứng hoặc tắc ống dẫn trứng, người thì không có tử cung hoặc tử cung quá ngắn. Trong những ông chồng, người thì không có hoặc tinh trùng quá ít và yếu; Có đôi vợ chồng lại bị xung gen… Đây là dị tật bẩm sinh, do một bên vợ hoặc chồng, có khi lại khiếm khuyết cả hai, không thể chữa được cho nên không thể có con mà phải tính đến giải pháp thụ tinh nhân tạo hoặc xin con nuôi.
Tại sao có người ốm đau mãi, chạy chữa thuốc men nhiều mà không khỏi, đến khi thầy cúng, thầy bói, thầy mo cúng rồi phán cho mấy câu, cho vài vị thuốc, có khi có cả bùa ngải rồi dặn về đốt mà uống thì lại khỏi? Với trường hợp này có hai nguyên nhân là thuốc và tư tưởng. Khi bị bệnh, người bệnh rất khó chịu, đau đớn sinh lo nghĩ mà “vái tứ phương”, ai bảo gì cũng nghe, đến đâu mua thuốc cũng đến. Uống đủ các loại thuốc chưa thấy khỏi thì đến nhà thầy xem và
cúng rồi thầy cho bùa ngải dặn về yểm hoặc đốt ra mà uống. Như vậy, các thuốc uống trước đã đến lúc ngấm vào, chuyển hoá làm cho bệnh đỡ dần đến sắp khỏi. Lại được thầy phán cho mấy câu thêm yên tâm trong tư tưởng, mà tư tưởng phấn khởi, lạc quan bệnh đã khỏi một nửa rồi. Thế là thầy cúng tự nhiên mà khỏi bệnh, ai chả tin, thật là Thánh!
Còn một dạng bệnh lý rất đáng chú ý, đó là bệnh liên quan đến tâm lý. Một cô gái trẻ bị bệnh không phải hiểm nghèo vào bệnh viện được bác sĩ chẩn đoán chữa trị. Tuy đã đỡ nhưng hàng ngày bệnh nhân này cứ kêu khó chịu, muốn được khám bệnh và tiêm. Mấy ngày đầu, bác sĩ tiêm cho thuốc bổ, tiêm xong là thấy yên. Hôm sau lại như vậy, bác sĩ nói rằng: - Hôm nay tiêm thuốc này sẽ thấy nóng từ đầu đến chân đấy nhé! Thế là một liều nhẹ Canxi truyền vào tĩnh mạch, bệnh nhân thấy nóng từ cổ họng đến chân, cảm giác thấy linh nghiệm, thế là êm. Hôm sau nữa, bác sĩ chỉ tiêm một liều nước cất, xong cũng ổn. Trong trường hợp này, bác sĩ giải thích rằng, bệnh nhân tuy bệnh không có gì phải can thiệp phức tạp nhưng là cá biệt, cứ ưa khám, nghĩ là phải tiêm mới khỏi hoặc cứ khám xét, đụng chạm vào người thì mới dễ chịu. Với bệnh lý này có khi với phương pháp tâm lý, xoa bóp cũng góp phần chữa trị hiệu quả. Vì thế phải xử lý khéo, an toàn là người bệnh sẽ yên, đó là vấn đề của tâm lý y học.
Về Đông y, nguyên nhân gây ra bệnh tật gồm có “Lục khí” 6 loại khí gồm Phong - gió, Hàn - lạnh, Thử - oi nồng, Thấp - ẩm thấp, Táo - khô, Hoả - nóng và “Thất tình” 7 trạng thái tình chí (không lầm tưởng chỉ là tình yêu nam nữ): Hỷ - mừng liên quan đến Tâm (tim), Nộ - giận liên quan đến Can (gan), Ưu - lo và Tư - nghĩ liên quan đến Phế (phổi), Bi - buồn liên quan đến Tỳ (lá lách), Kinh - sợ và Khủng - khiếp liên quan đến Thận. Khi ảnh hưởng bởi lục khí hoặc thất tình bị thái quá sẽ sinh ra bệnh tật.
Bệnh tật còn mang tính thời đại, như ngày nay khoa học phát triển làm thay đổi khí hậu không gian, vũ khí, chất độc dùng trong chiến tranh, thiết bị điện tử, viễn thông phát sóng, cây trồng, vật nuôi dùng thuốc tăng trưởng, hoá chất tiêu diệt côn trùng gây hại... đều ảnh hưởng trực tiếp vào con người mà sinh ra nhiều loại bệnh nan y, hiểm nghèo, kỳ quái: Ung thư, tiểu đường, mỡ máu, tim mạch, huyết áp, khối u, di truyền...
Cách đây hơn 50 năm, vào tháng 10-1957, ra đời loại thuốc
Thalidomide, do một công ty dược của Đức sản xuất, đã gây ra thảm hoạ đen tối nhất lịch sử y dược thế giới. Tổng cộng trên toàn thế giới đã có khoảng từ 10.000 đến 20.000 trẻ em sinh ra bị dị tật, khiếm khuyết tay, chân, không tay không chân hoặc bị co rút ngón tay, ngón chân... do sử dụng loại thuốc này.
Thời đại khoa học hiện đại, người ta còn làm biến đổi gen có thể kéo dài tuổi thọ cho con người, làm cho động vật có huỳnh quang phát sáng xanh và nghiên cứu để ứng dụng chữa bệnh ung thư. Y học ngày nay đã và đang phát hiện ra nhiều phương pháp chữa bệnh, sáng chế ra nhiều loại thuốc chữa được những căn bệnh hiểm nghèo, cứu sống con người.
Những trường hợp thực tế như thế là minh chứng sinh động về tiến bộ của y học đối với sức khoẻ và chẩn trị bệnh tật cho con người. Chúng ta thử hình dung, nếu các thầy cúng, thầy phù thủy dựa vào rồi doạ dẫm, cúng bái tà ma thì chắc chắn tiền mất, tật mang. Hoặc dựa vào chứng loạn thị trên đây mà bảo có người đi theo phù hộ đấy, về mà cúng đi thì hậu quả sẽ thế nào! Hoặc bệnh tật nan y, kỳ quái lại cho là “động” thần linh, thổ địa, mồ mả tổ tiên.
Nghiên cứu về thần kinh và tâm thần, các nhà khoa học còn chứng minh về: Giấc mơ, chiêm bao, trầm cảm, hoang tưởng, mộng du, ảo giác… với những trạng thái mà người ta dựng lên là do đất đai, mồ mả, thần thánh, ma quỷ!
Trong các loại bệnh thì bệnh về tâm thần thuộc thần kinh là phức tạp, khó chẩn đoán và chữa cũng khó khăn. Bệnh có nhiều nguyên nhân nhưng phần lớn là do suy nghĩ, ức chế, căng thẳng, lo âu mà chuyên môn y học gọi là Stress. Bệnh tâm thần rất phức tạp và dễ làm cho người ta liên tưởng với tâm linh. Giấc mơ, chiêm bao thực ra là tái tạo chắp vá những ghi nhớ, nhận biết của con người trong đời sống hàng ngày, có khi còn là những trí nhớ rất xa xưa, thậm chí hoang tưởng, bịa đặt. Vì là chắp vá nên không hoàn toàn như thật và có khi còn chắp vá thêm vào những liên tưởng không khớp nhau mà thành những giấc mơ kỳ lạ, thậm chí rất sợ hãi.
Đời người, ai chẳng có những giấc mơ. Có người mơ ít, người ốm đau, bệnh tật, suy nhược, lo âu, ăn ít, khó ngủ thì mơ nhiều. Giấc mơ có thể là những tình cảm, kỷ niệm đẹp, êm đềm, nhưng cũng có giấc mơ phi thực tế, có khi rất sợ hãi như tang gia, chết chóc, tai nạn, đâm
chém, hộc máu, bóp cổ, giết người. Cũng may là giấc mơ nên khi tỉnh lại chỉ còn lờ mờ trong trí nhớ mà thôi. Trong cuộc sống hàng ngày, nếu hợp tính hợp tình mà quý mến ông bà, cha mẹ thì khi ông bà, cha mẹ chết đi có thể có những giấc mơ đẹp về kỷ niệm hoặc lại có những giấc mơ thấy người về, quần áo rách rưới, mặt mũi bơ phờ, thậm chí khóc than… Khi tỉnh dậy, nhớ lại mà thương cảm. Có người cho rằng mơ thấy mọi chuyện là bình thường. Nhưng có người vì quá nặng lòng mà bảo: Đêm qua ông bà hoặc cha mẹ về báo mộng, thấy khổ lắm. Thế là trở thành chuyện lo âu, cả nhà tính mời thầy cầu cúng, mua vàng mã, quần áo giấy mà đốt cho “người âm” đỡ khổ!
Khi vì lý do nào đó trong cuộc đời gây ra áp lực tâm lý, sức ép tinh thần kéo dài không cân bằng lại được là tâm thần con người sẽ rối loạn. Người bị bệnh trầm cảm thì lặng lẽ, lo âu, chẳng nói chẳng rằng. Người hoang tưởng, mặc dù rất bình thường nhưng cứ bảo mình là nhất, là tuyệt vời, không chịu nghe ai, Hoặc có người rất tỉnh táo, sống và làm việc bình thường lại cứ cho rằng có người hại mình, có cảnh sát sắp đến bắt mình mà không ai khuyên bảo, giải thích được. Trạng thái này xảy ra ở mọi lứa tuổi, có khi chỉ qua một biến cố nào đó trong đời, lo nghĩ quá mà thành bệnh. Đặc biệt là những người cao tuổi, đến khi lão hoá, già nua lại cô đơn rất dễ mắc chứng bệnh này.
Do một biến cố hay quá suy nghĩ về vấn đề gì đó mà một cán bộ đang làm việc bình thường, lại sáng tác được âm nhạc, có bài hát nổi tiếng một thời, tự nhiên bị chứng tâm thần. Hàng ngày, người này vẫn làm việc bình thường, nhưng về nhà ít nói năng, nhiều khi coi vợ con như người xa lạ. Tình trạng cứ thế kéo dài nhiều năm, đến một hôm từ trong nhà vừa ra khỏi cổng, ông bị một người đi xe đạp xô vào ngã xuống đường. Cú va chạm nhẹ nên không việc gì, nhưng lạ thay từ đó không còn bệnh trạng như trước nữa. Đây có lẽ là trường hợp do quá ức chế gây co thắt nhẹ một vùng trong não mà thành bệnh. Khi cú xô xe đột ngột, giật mình, chỗ co thắt được giải phóng, tinh thần trở lại bình thường mà hết bệnh chăng?
Người bị bệnh mộng du thì tự nhiên cứ như có người lôi kéo, rủ đi, có khi đang đêm cũng ra khỏi giường ngủ cứ thế mà đi, lội cả qua ao, vượt cả qua rào, qua sông, qua suối cho đến mãi sau mới tỉnh; Có người trở thành bệnh tâm thần, sa sút trí tuệ kéo dài rất khó chữa, hoặc trở nên hung hãn đánh, chém người.
Những trường hợp như vậy để lại hậu quả rất nặng nề cho gia
đình và xã hội, có khi trở thành gánh nặng tâm linh cho rằng gia tộc có gì mà hành tội, mà ma đưa, quỷ ám! Tín ngưỡng tâm linh và mê tín dị đoan thái quá cộng với tâm lý, tinh thần ức chế nặng nề là một trong những nguyên nhân phát sinh bệnh tật. Rồi từ bệnh tật lại là một trong những nguyên nhân góp phần cho mê tín dị đoan hoành hành, phát triển.
Thể chất, Thiên hướng, Tâm lý, Bệnh tật là bốn yếu tố nguồn gốc của tâm linh đồng thời cũng là cơ sở khoa học để lý giải tâm linh; Và tất cả khi thái quá đều trở thành bệnh.
HỒNG HOANG - NGUYÊN THỦY
Trở lại cổ xưa hàng tỷ năm khi hình thành Trái Đất, đó là thời kỳ sơ khai của địa hình nhấp nhô núi non, sông suối. Quá trình vận động, biến thiên của tự nhiên manh nha cho sự tiến hoá, phát triển của thực vật, sinh vật. Tạo hoá cứ thế vận hành, phát triển từ từ, âm thầm, như bức màn bí mật, nảy nở kỳ diệu thành muôn vàn đa dạng thực vật, sinh vật trên trái đất. Rồi tiếp hàng triệu năm, ảnh hưởng của thiên nhiên đã thúc đẩy cho sự tiến hoá của thực vật, sinh vật ngày càng phát triển thích nghi với điều kiện sống. Thời kỳ vận động, phát triển dài lâu này là thời kỳ vô thức của hoa lá, cỏ cây và sinh vật đơn giản. Cho đến khi sự tiến hoá của động vật, nhất là vượn người thành con người, mới là sự phát triển ban đầu ý thức của thời kỳ hoang sơ, Nguyên thủy - Thời kỳ bình minh của sự sống loài người.
Thời kỳ Nguyên thủy là thời kỳ các động vật cho đến con người mới tiến hoá, còn sống rất đơn giản, cuộc sống bầy đàn, ăn lông, ở lỗ, ăn sống, nuốt tươi. Dần dần thông qua lao động, con người mới tìm ra lửa, tạo ra đồ đá, đồ sắt, đồ đồng đánh dấu bước ngoặt vô cùng quan trọng cho sự phát triển văn minh của sự sống. Đây là thời kỳ con người phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại. Cuộc sống đơn giản lại sống trong điều kiện chỉ dựa vào địa hình núi non, cây cối, hang động mà những tai bay, vạ gió, thú rừng, lũ lụt, bão, giông, bệnh tật đã cướp đi biết bao mạng sống. Chỉ những sinh vật, động vật ẩn mình và đề kháng kiên cường mới tồn tại duy trì cho sự phát triển sau này.
Thời kỳ cổ xưa ấy con người phải chịu sự trừng phạt của tự nhiên và đương đầu để thích nghi với tự nhiên. Chưa có ý thức, lại sống
trong điều kiện sống rất hoang sơ nên mọi tác động xảy ra với con người cũng rất đơn giản và vô thức. Các hiện tượng lạ, kỳ bí, những tai bay, vạ gió và những cái chết bất đắc kỳ tử do bệnh tật chỉ là bình thường của tự nhiên, bệnh tật. Người ta chưa có và không có khái niệm về ma quỷ, thần thánh, cũng chẳng có đền, chùa, nhà thờ, am, miếu, thuốc men để mà tin, gửi, mà sợ hãi, mà chữa trị.
Nguyên thủy - Hồng hoang, con người sống cộng đồng với thiên nhiên, núi rừng, suối thác, hang động, chim muông, không nhà cửa... Con người tự do, vô thức, không có khái niệm tâm linh, chưa biết gì về khoa học, không tàn bạo, bất công, không độc ác, tham lam, thù oán. Đó là sự sống đơn sơ, đơn giản thật đáng thương và cũng thật đáng yêu cho những con người thời tiền sử.
Hạn chế của họ về hiểu biết nhưng họ có cái hay của sự vô tư, chưa có những tác động của tự nhiên mà sau này do chính con người nghĩ ra, tạo dựng ra, làm cho cuộc sống tâm linh trở nên phong phú và cũng đầy rắc rối, phức tạp.
II.
VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
Theo các nhà nghiên cứu thì nền văn hoá, văn minh phương Đông hình thành từ trước Công nguyên hàng nghìn năm (khoảng 5 đến 7000 năm TCN) và ngày càng phát triển trở thành “Học thuyết
phương Đông”. Văn hoá phương Đông cổ xưa chủ yếu từ Châu Á, mà nguồn gốc ở nơi phát tích những nhà hiền triết, nho giáo, đạo giáo, đạo sĩ ẩn dật như Trung Quốc, Ấn Độ, điển hình là triết lý Kinh dịch, Bát quái, Can Chi, Âm Dương, Ngũ hành, Nhân sinh, Đạo hiếu của Trung Quốc và đạo Phật, năng lượng Yoga của Ấn Độ. Từ gốc những học thuyết này đã sản sinh ra rất nhiều môn nhánh khác như tử vi, tướng số, bói toán, phong thủy, vận khí, ngày giờ cát, hung và ứng dụng vào xây dựng nhà cửa, đình chùa, thờ cúng, lễ hội, tang gia, mồ mả, làm thuốc, chữa bệnh.
Về văn hoá Á Đông, từ lâu đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều sách đề cập rất kỹ, nhiều công trình khoa học đồ sộ, công phu tìm hiểu, đánh giá về giá trị nhân văn và những hạn chế của các học thuyết này. Ở đây chỉ nêu những khái niệm, nội dung chính của các học thuyết và suy ngẫm đối với nhận thức, đời sống thực tế trong xã hội đương đại hôm nay.
Song song với những giá trị hữu ích to lớn về giáo dục đạo đức, hướng thiện, ứng dụng vào thiên văn, xã hội và cuộc sống con người, “Học thuyết phương Đông” cũng có những hạn chế về sự bứt phá vươn lên khoa học hiện đại, khẳng định bản lĩnh con người trong xã hội ngày càng phát triển đổi mới, tạo ra bức màn huyền bí, mê tín, dị đoan làm phức tạp thêm cho đời sống, xã hội.
KINH DỊCH
Kinh Dịch, còn gọi là Chu Dịch (tức là vào triều đại nhà Chu ở thời Tây Chu), ra đời vào thời vua Phục Hy, còn gọi là Bào Hy hay Thái Công, hay Thái Hạo, là vị vua thời thượng cổ của Trung Hoa (khoảng 4.477-4.363 TCN, thời Tam Hoàng: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế), đến cuối nhà Thương, sang Văn Vương, đầu nhà Chu,
tiếp đến Khổng Tử, rồi các hiền triết, nhà nho của Trung Quốc hoàn thiện gồm Dịch kinh và Dịch truyện, trở thành bộ sách đồ sộ, kỳ lạ mang tính triết học của phương Đông.
Nguồn gốc Kinh Dịch bắt nguồn từ truyền thuyết hình tượng Hà Đồ thời vua Phục Hy, nhân khi trông thấy những vết điểm ở lưng con Long Mã nổi trên sông Hoàng Hà liền lập ra Hà Đồ, vạch ra “Tiên thiên bát quái”. Bát quái có 8 quẻ đơn, gồm các vạch Dương liền (—) và vạch Âm đứt (- -), mỗi quẻ có 3 vạch. Rồi 8 quẻ đơn xếp lần lượt lên nhau, một nội quái và một ngoại quái, thành 64 quẻ kép trùng quái, với những mã hoá âm dương, ngũ hành vào vũ trụ, trời đất.
Đến đời nhà Hạ (2.205-1.766 TCN), tương truyền vua Hạ Vũ đi trị thủy, khi chơi trên sông Lạc nhìn thấy con Rùa vàng (rùa thần) có những chấm và vạch bố trí như một biểu đồ gọi là Lạc Thư mà đặt ra cửu trùng hồng phạm nói về những vấn đề liên quan đến luân thường đạo lý, trong trời đất, bao quát cả vũ trụ và con người mà hình thành Lạc Thư.
Hơn 1.000 năm sau, Chu Văn Vương, trong thời gian bị giam tại ngục Dữu Lý (1.144-1.142 TCN) đã thay đổi quẻ dịch của Phục Hy và diễn giải thêm mà thành “Hậu thiên bát quái”; Đồng thời ông đặt tên và dùng văn tự giải thích nghĩa cho 64 quẻ, rồi viết thoán từ cho mỗi quẻ.
Kinh Dịch nghiên cứu về Tượng hình từ Hà Đồ và Lạc Thư để lý giải sự chuyển dịch của hình tượng ứng với vũ trụ, tự nhiên và sự vật. Phương vị tám quẻ “Tiên Thiên Bát Quái” (vũ trụ hồi đầu) của Phục Hy và phương vị tám quẻ “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương đều hình thành những vạch (gọi là Hào) liền (—) là Dương và vạch đứt (- -) là Âm của Thái Cực - Lưỡng Nghi được lần lượt xếp lên nhau thành Tượng, mỗi Tượng hai vạch mà thành Tứ Tượng: Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.
Rồi mỗi tượng lại xếp lên một hào dương hoặc âm thành mỗi quẻ có ba vạch, tạo nên tám quẻ Bát Quái: Càn, Khôn, Ly, Khảm, Chấn,
Tốn, Cấn, Đoài. Các quẻ lại lần lượt xếp lên nhau thành 64 hình thái quẻ Trùng Quái vận hành của Trời Đất, Âm Dương, Ngũ Hành.
Hình Hà Đồ và Lạc Thư
Đáng chú ý là đồ hình của Bát Quái trong Kinh Dịch. Xuất phát từ Hà Đồ và Lạc Thư với bài trí tương ứng về tượng số thành “ma phương toán học” biến hoá rất kỳ diệu. Theo PGS TS, Thầy thuốc ưu tú Vũ Nam, trong sách “Kinh dịch ứng dụng trong y học cổ truyền”: “Hệ thống chữ số của Hà đồ và Lạc Thư là quan hệ lẫn nhau. Tổng số của Hà Đồ là 55, tổng số của Lạc Thư là 45, tổng của cả hai là 100. Hà đồ và Lạc Thư đều lấy số 5 ở trung ương, lấy cơ số (số lẻ) thống lĩnh ngẫu số (số chẵn), lấy dương thống lĩnh âm, hình vuông hình tròn bao bọc lấy nhau, số cơ ngẫu kết hợp nhau, cho nên có thuyết Hà Đồ lấy trời đất hợp ngũ phương, là số đại diễn. Lạc Thư lấy âm dương hợp ngũ hành gọi là số sinh thành”.
Chỉ với Lạc Thư, được mô tả về những con số, khi tính theo các hàng ngang, dọc, chéo cho những kết quả số rất kỳ lạ, đồng nhất, khoa học, sáng tạo.
Ma trận số
Cũng từ hào dương lẻ là một vạch (—), hào âm chẵn là hai vạch (- -) mà lấy số 1 là dương, số 2 là âm. Rồi lại qui cho các số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 là dương, các số chẵn, 2, 4, 6, 8, 10 là âm và từ đó ứng dụng vào rất nhiều tính toán khác nói về chẵn lẻ, âm dương cho tín ngưỡng, đời sống, con người...
Danh y Lưu Hoàn Tố (đời Kim Nguyên) nói: “Từ xưa thánh Phục Hy vẽ ra Bát quái, đến Chu Văn Vương mới bắt đầu sáng lập tượng để tượng trưng diễn biến quẻ, Chu Công làm ra hào từ, sau hơn 500 năm, Khổng Tử viết Thập Dực...”
Kinh Dịch bao gồm các hình tượng Quẻ với những Hào Từ, Thoán Từ và nội dung Thập Dực là nội dung phần Kinh. 64 quẻ hình thành và biến đổi linh hoạt ứng cho những lý giải về vũ trụ, tự nhiên và đời sống con người mà có nghĩa là Dịch. Kết hợp nội dung của hình tượng quẻ với sự biến đổi và biến dịch này mà trở thành Kinh Dịch kỳ diệu, uyên thâm. Từ Kinh dịch nảy sinh các thuyết về bát quái, âm dương, ngũ hành, can chi. Các học giả xưa đã mã hoá các dự kiện cho Quẻ Dịch ứng dụng vào dự đoán, tính toán vũ trụ, trời đất, xã hội, cuộc sống, đời người và thuật bói toán.
Kinh Dịch ra đời cách đây hàng nghìn năm, là một công trình rất kỳ lạ, hiếm thấy, là sách gối đầu giường của các đạo sĩ, nhà nho xưa. Xem Kinh Dịch không dễ dàng mà cần tri thức rộng, sâu xa, uyên bác và phải nghiên cứu rất kỹ mới có thể hiểu được.
Trong điều kiện xã hội cách đây hàng nghìn năm, chưa phát triển tri thức, khoa học, Kinh Dịch thực sự có giá trị vượt lên về tính toán, biện chứng tâm lý uyên thâm và kiến thức phong phú về địa lý, thiên văn của các bậc hiền triết, bác học đời xưa.
BÁT QUÁI
Người ta còn định hướng (tám hướng của Bát Quái: Bắc, Nam, Đông, Đông Nam, Đông Bắc, Tây, Tây Nam, Tây Bắc), quy nạp Âm Dương đối lập, Ngũ Hành sinh, khắc (năm hành tương sinh, tương khắc: Kim, Thủy, Mộc, Hoả, Thổ), trời, đất, nước, lửa, gió, mưa, sấm, sét, núi non, đầm, hồ… cho quẻ trong Kinh Dịch. Từ đó mà suy diễn về vũ trụ, thiên nhiên, đời sống của con người mà hình thành những chiêm đoán, lý giải, bói toán, tử vi, làm thuốc, chữa bệnh…
Khi xếp các vạch Dương liền (—) và vạch Âm đứt (- -) của Lưỡng nghi thành Tứ tượng. Tứ tượng lại xếp thêm một dương (—) hoặc một âm (- -) cho mỗi quẻ có ba vạch thành “Bát Quái”. Bát quái được định theo cung của 8 hướng và quy nạp vào tám quẻ trong “Tiên Thiên Bát Quái” của Phục Hy:
Càn vi Thiên, là Trời, có tính cứng mạnh, mùa Hạ, phương Nam, hành Kim, là đàn ông, là Dương.
Ly vi Hoả, là lửa, sáng, nóng, mùa Xuân, phương Đông, hành Hoả, là Dương.
Cấn vi Sơn, là núi, an tĩnh, phương Tây Bắc, hành Thổ, là Dương.
Tốn vi Phong, là gió, hướng vào, phương Tây Nam, hành Mộc, là Âm.
Khôn vi Địa, là Đất, đức nhu nhuận, mùa Đông, phương Bắc, là đàn bà, hành Thổ, là Âm.
Khảm vi Thủy, là nước, chảy xiết, hiểm trở, mùa Thu, phương Tây, hành Thủy, là Âm.
Đoài vi Trạch, là Đầm, vui vẻ, phương Đông Nam, hành Kim, là Âm.
Chấn vi Lôi, là Sấm, mạnh động, phương Đông Bắc, hành Mộc, là Dương.
Đồ hình “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương:
Ly, phương Nam.
Khảm, phương Bắc.
Chấn, phương Đông.
Đoài, phương Tây.
Cấn, phương Đông Bắc.
Tốn, phương Đông Nam.
Khôn, phương Tây Nam.
Càn, phương Tây Bắc.
Nguyễn Hiến Lê cho rằng, sự sắp xếp lại này của Văn Vương còn là điều bí ẩn? Theo PGS TS Thầy thuốc ưu tú Vũ Nam thì: Tiên thiên bát quái là phân biệt thể tượng âm dương, Hậu thiên bát quái là nói rõ sự tinh vi của ngũ hành. Tiên thiên bát quái dựa theo vị trí 9 số của Lạc thư, còn Hậu thiên bát quái dựa theo vị trí 10 số của Hà Đồ.
Danh y Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác của Việt Nam đã dựa vào “Hậu Thiên Bát Quái” phát hiện ra mối quan hệ của hai tạng Tâm - Thận của con người. Mệnh môn hai quả thận (Thủy) ứng với hai hào Âm. Giữa ứng với hào Dương tạo nên quẻ Khảm. Sau Khảm đến Càn. Chiếu theo chiều thẳng Khảm - Ly, định Mệnh môn ở Khảm. Từ đó mà luận trị làm thuốc và chữa bệnh.
Do chứa đựng Trời Đất, Nhật Nguyệt, Bốn phương, Tám hướng, Âm Dương, Ngũ Hành, Nhân sinh mà Bát Quái được hình tượng hoá là tổng hợp linh thiêng của Vũ Trụ, Trời Đất. Từ đó các đạo sĩ xưa mới tính thêm vào Bát Quái gương phản chiếu, để từ cái vũ trụ linh thiêng này có thể phản chiếu, soi rõ và đẩy lùi xa những chướng ngại, tà ma, bất lợi, làm yên lòng cho gia chủ, con người!
Người Trung Quốc xưa làm gương bằng đồng, hình tròn, một mặt đánh bóng có thể soi được, mặt sau chạm khắc những hoạ tiết minh hoạ cho vũ trụ. Người ta cho rằng gương có sức mạnh kỳ diệu, có thể thu hút khí lành và tránh được tà khí!
Về việc dùng gương, theo cuốn “Gia Cát Khổng Minh bàn về Phong Thủy” của tác giả Thạch Sơn Thủy:
“Tương truyền thời Tần Thủy Hoàng, Hoàng đế Trung Hoa đã có loại gương được coi như “bảo bối” có tên “Tần Kính”, do một thuật sĩ vô danh chế tác. Điểm lợi hại của bảo bối này là “Nếu trong người có bệnh tật, soi vào biết đang mắc bệnh gì. Nếu người nào có hai lòng (không trung thành) thì soi vào cũng thấy ngay?”. Bảo bối được coi như là linh vật trị bệnh, trừ tà. Tần Thủy Hoàng đã dùng “Tần Kính” để soi rọi bá quan trong triều, thấy người nào có lòng phản loạn thì lập tức mang xử chém, đó là phép “Tần Kính Cao Chiếu”!
Người ta còn biến hoá ra gương lồi, gương lõm để thu vào, soi ra các phía trước cho chu toàn, cẩn thận.
Khổng Minh quân sư thời Tam Quốc thì cho rằng:
“Các thầy phong thủy lấy gương làm pháp khí để đuổi yêu, trừ tà, giảm tai, phòng bệnh, tiêu âm khí, diệt uế khí, đẩy lùi điều rủi, hoá giải điều hung, nhằm bảo vệ chính khí cũng như sự thịnh vượng may mắn trong đời sống gia đình”.
Có tài liệu cho rằng, lịch sử chưa bao giờ có việc dùng gương trong phong thủy truyền thống. Nhưng rồi vô tình hay hữu ý mà gương kính được gắn vào nhiều sự ở đời.
Chuyện gương kính nhiều khi cũng được vận dụng vào những biến cố đời thường. Người ta quan niệm, vô ý làm gương vỡ là chuyện không hay, có khi là điềm báo ứng? Thế nên khi vì lý do nào đó làm vỡ gương kính trong nhà là sinh lo nghĩ. Đến lúc có chuyện xảy ra, người ta vận ngay vào là do làm gương vỡ!
Vì những quan niệm về dịch lý và suy diễn, nên ngoài những ứng dụng vào nhiều việc và định hướng địa bàn, định vị phong thủy nhà cửa, người ta thường treo một cái Bát Quái ở trước cửa nhà với mong
điều xấu bị đẩy đi, tốt lành luôn luôn đến với nhà mình. Tuy nhiên, do không hiểu hết được thực tế và tâm linh tượng hình của Bát Quái nên có người khi treo Bát Quái không đúng chiều, không đúng vị trí hoặc treo ngược. Có khi làm Bát Quái treo hoặc in hình Bát Quái vào “Bùa Trấn Trạch” hoặc giấy, sớ cũng không đúng theo đồ hình Bát Quái.
Hình thái Bát Quái có hai loại, “Tiên Thiên Bát Quái” của Phục Hy và “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương. Việt Nam còn có thêm Bát Quái do Trần Cao Vân, chí sĩ đầu thế kỷ XX xây dựng (gọi là Trung Thiên Bát Quái), cũng có người dùng treo ở trước cửa nhà. Trong dân gian thường dùng Tiên thiên Bát quái (cân bằng hoàn hảo) để treo ở nhà, dùng Hậu thiên bát quái (vận động, biến đổi tương tác giữa các nguồn năng lượng khí tự nhiên và con người) để làm La bàn phong thủy trạch cát.
Hai loại Bát Quái Tiên thiên và Hậu thiên
Cũng như đời sống nhân sinh, người xưa quan niệm rằng, ở đâu có nơi ăn, chốn ở, không khí mát lành, ví như nhà ở có vật phẩm thờ cúng, có hương, hoa thơm, mát là nơi thần thánh, tổ tiên đi về an lạc đồng thời các chúng sinh, ma quỷ cũng muốn nương nhờ. Như thế
thì Bát Quái, Tần Kính, Gương lồi, Gương lõm cản ác, trừ tà có trở thành bình phong, lá chắn những điều lành hay không? Khi những giải pháp đưa ra không thể chỉ tiễu trừ ma quỷ mà thần linh, tổ tiên cũng đâu có loại trừ, bởi vì đã là ma quỷ thì phải tinh ranh chứ đâu có
dại khờ để dễ bị đẩy đi? Đây có thể là khiếm khuyết khi đặt ra phép trấn trạch, hay chỉ là thuật trấn an tinh thần cho những điều lo âu, bất ổn mà thôi!
Bát Quái chỉ là một vật dụng thông thường để một số người dùng vào việc gì đó, chứ chẳng có thần lực gì cả. Nhưng khi thần thánh hoá lên nó lập tức như một thứ bùa mang hiệu lực trấn an cho người nào ưa thích dùng nó mà thôi.
ÂM DƯƠNG
Khái niệm Âm - Dương bắt nguồn từ cơ sở của Học thuyết phương Đông. Từ hàng nghìn năm trước, nền văn minh phương Đông đã cho rằng vũ trụ và tự nhiên luôn luôn vận động, tồn tại và phát triển là sự giao hoà, cân bằng của hai yếu tố Dương (ký hiệu là +) và Âm (ký hiệu là -).
Qua nghiên cứu mọi hiện tượng, không gian, thiên nhiên, sự vật và con người đều thấy có mâu thuẫn, trái ngược như: Ngày - đêm, sáng - tối, trong - ngoài, trên - dưới, trước - sau, dài - ngắn, lớn - bé, đàn ông - đàn bà, nóng - lạnh, mạnh - yếu… luôn luôn song hành, gắn liền nhau, không tách rời nhau. Từ đó người ta tìm ra hai đại diện cho sự mâu thuẫn, đối lập và trái ngược này là Dương và Âm. Đây cũng từ gốc của Kinh Dịch với hình tượng Vũ Trụ - Thái Cực (mối tương quan bất tận giữa âm và dương) phân đôi Lưỡng Nghi có đại diện Dương - đỏ (nguyên là đen) và Âm - đen (nguyên là trắng), rồi thành Tứ tượng gồm Thái Dương, Thiếu Dương và Thái Âm, Thiếu Âm, trong Dương có Âm, trong Âm có Dương, được thể hiện trên vòng tròn Thái Cực (vô cực, hư vô, khởi nguồn của vạn vật và sự sáng tạo) thành biểu tượng của Dương (+) Âm (-). Dương phát triển lên phía bên Trái, Âm phát triển xuống phía dưới bên Phải.
Âm - Dương được thể hiện trong không gian, vạn vật, con người. Trong không gian Vũ Trụ thì Dương là Trời, ban ngày, mặt trời, nhiệt, nóng, trên; Âm là Đất, đêm, mặt trăng, hàn, lạnh, dưới. Con người được coi là tiểu Vũ Trụ thì Dương là đàn ông; Âm là đàn bà. Lại có trong Dương có Âm, trong Âm có Dương ở cả đàn ông và đàn bà, lưng là dương, bụng là âm, phủ là dương, tạng là âm...
Biểu tượng Âm - Dương
Âm - Dương đều tuân theo bốn quy luật, đó là: Đối lập, thống nhất, tiêu trưởng và thăng bằng. Đối lập nhưng thống nhất mới duy trì được lâu dài. Nhưng đối lập chỉ là tương đối, không hoàn toàn. Tiêu là hao mòn dần, Trưởng là lớn dần, luôn luôn thúc đẩy lẫn nhau và Tiêu - Trưởng để Thăng bằng. Thăng bằng, nhưng tương đối, không tuyệt đối mới tồn tại, lệch bên nào cũng gây bất ổn. Trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.
Từ cách bố trí các cung của “Tiên thiên bát quái” mà chiều của Dương - Âm trái ngược nhau theo Thiếu dương tới Thái dương - Thiếu âm tới Thái âm. Vị trí Dương bên Trái, Âm bên Phải cũng trở thành quan niệm vũ trụ và ứng dụng vào tín ngưỡng, xã hội và đời sống con người, ví dụ như: Trai bên Trái, Gái bên Phải...
Đối với con người, còn được quy Âm Dương vào cơ thể, phủ, tạng để ứng dụng rèn luyện sức khỏe và chữa bệnh. Năm Tạng (ngũ tạng gồm: Tâm - Tim; Can - Gan; Tỳ - Lá lách; Phế - Phổi; Thận) là Âm. Lục Phủ (sáu phủ gồm: Đởm - Mật; Vị - Dạ dày; Tiểu trường - Ruột non; Đại trường - Ruột già; Bàng quang - Bóng đái; Tam tiêu - Thượng, trung, hạ tiêu) là Dương. Âm - Dương phải luôn thăng bằng. Dương thịnh hay dương hư, Âm thịnh hay âm hư đều sinh bệnh tật.
Học thuyết Âm - Dương có giá trị rất lớn trong ứng dụng vào đời sống và nghiên cứu khoa học, điển hình như làm thuốc, chữa bệnh và
trong phát minh ra dòng điện ngày nay.
NGŨ HÀNH
Trong không gian vũ trụ và tự nhiên gồm nhiều nguyên tố, nhiều chất luôn luôn tác động, thúc đẩy lẫn nhau, sinh sôi, tồn tại, huỷ diệt, rồi lại sinh sôi… Cứ thế như vòng tuần hoàn vĩnh cửu. Mỗi chất lại có đặc tính khác nhau như: nóng, lạnh, cay, đắng, chua, mặn, ngọt; Màu sắc khác nhau: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen và độ bền vững khác nhau: rắn, mềm, lỏng, đặc… Đặc tính khác nhau được người xưa quy theo
Ngũ Hành với bốn quy luật: tương sinh, tương khắc, tương chế, tương hoá.
Ngũ Hành tức là năm yếu tố: Kim, Thủy, Mộc, Hoả, Thổ luôn luôn vận hành theo quy luật để tồn tại và phát triển. Ngũ Hành bao gồm những vật chất của tự nhiên, trong đó: Tất cả các loại kim loại, khoáng sản có đại diện là Kim, màu trắng, phương Tây, mùa Thu, vị cay, số 9, ngôn ngữ, hành Kim. Tất cả các loại nước là Thủy, màu đen, phương Bắc, mùa Đông, vị mặn, số 6, quả thận, tai nghe, hành Thủy. Tất cả các loại đất là Thổ, màu vàng, là “Trung Tâm”, số 5, hành Thổ. Tất cả sức nóng, lửa là Hoả, màu đỏ, phương Nam, vị đắng, mùa Hè, số 7, quả tim, con mắt, hành Hoả. Tất cả cây cỏ là Mộc, màu xanh, phương Đông, mùa Xuân, vị chua, số 8, hành Mộc.
Năm loại vật chất này luôn luôn vận hành, sinh ra, tồn tại, phát triển và huỷ diệt đều tuân theo quy luật của nó. Tương Sinh là tác động nhau phát triển, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim lại sinh Thủy… Cái sinh ra và cái nó sinh ra, cứ thế tuần hoàn vĩnh cửu. Tương Khắc là hạn chế bớt đi, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim lại khắc Mộc… Cứ thế cái khắc nó và cái nó khắc tuần hoàn. Tương Chế là kìm hãm, không cho thiên về phía nào, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ lại khắc Kim. Tương Hoá là chuyển hoá, thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau để phát triển, Mộc sinh Hoả khắc Thổ, Hoả lại sinh Thổ; Tức là Mộc chuyển hoá Thổ. Do đó, tương khắc tương đối, không tuyệt đối vì nó chuyển hoá cho nhau là quy luật hai sinh, một khắc.
Bốn quy luật trên đây liên tục diễn ra bình thường là ổn định. Nếu chỉ một trong bốn quy luật bị phá vỡ sẽ xảy ra biến cố thái quá (Tương thừa) hay bất cập (Tương vũ) của vật chất và Phản vũ, sinh bệnh tật cho con người.
Học thuyết Ngũ hành ra đời bổ xung cho học thuyết Âm Dương. Đây là những sáng tạo đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu tự nhiên và vật chất, trở thành nét độc đáo, làm phong phú cho “Học thuyết phương Đông”.
CAN CHI
Theo PGS, TS, thầy thuốc ưu tú Vũ Nam, trong “Học thuyết Can Chi” thì: “Can Chi là một hệ đếm thời gian cổ được sử dụng ở một số nước Á Đông. Theo truyền thuyết thì do Thiên Hoàng (khoảng hơn 3.000 năm TCN) sáng tạo ra. Đến thời Hoàng Đế (2697-2597 TCN) mới bắt đầu phối hợp Thiên can với Địa chi, tạo thành chu kỳ 60
(còn gọi là Hoa giáp), xuất phát từ thiên văn cổ đại và kinh dịch, để ghi giờ, ngày, tháng, năm. Năm đầu đời Hán Quang Vũ (25 năm sau Công nguyên) mới dùng Can Chi để ghi năm, tháng, ngày, giờ và sử dụng trong âm lịch từ đó”.
Hệ Can - Chi gồm 10 Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Thiên Can là phần trên Trời - Dương (Thiên là Trời, Trời thuộc Dương). 10 Thiên Can là Dương nhưng vừa có Dương vừa có Âm: Giáp - dương, Ất - âm, Bính - dương, Đinh - âm, Mậu - dương, Kỷ - âm, Canh - dương, Tân - âm, Nhâm - dương, Quý - âm. Như vậy trong Dương có Âm, trong Âm có Dương. Can là cây. Đây cũng là 10 giai đoạn của chu kỳ sinh trưởng, là gốc của sự sống.
Địa Chi là phần dưới Đất - Âm (Địa là Đất, Đất thuộc Âm) sinh ra vạn vật. 12 Địa Chi là Âm nhưng vừa có Âm vừa có Dương: Tý - dương, Sửu - âm, Dần - dương, Mão - âm, Thìn - dương, Tỵ - âm, Ngọ - dương, Mùi - âm, Thân - dương, Dậu - âm, Tuất - dương, Hợi - âm. Cũng là 12 giai đoạn của chu kỳ tuần hoàn sinh trưởng và huỷ diệt của vạn vật. Chi còn có nghĩa là cành, nhánh của cây cỏ ở mặt đất. 12 Địa Chi còn được ghép vào 12 con vật của cư dân nông nghiệp Á Đông: Tý là Chuột, Sửu là Trâu, Dần là Hổ, Mão là Mèo hoặc (Thỏ), Thìn là Rồng, Tỵ là Rắn, Ngọ là Ngựa, Mùi là Dê, Thân là Khỉ, Dậu là Gà, Tuất là Chó, Hợi là Lợn. Trong 12 con vật này chỉ có Rồng là vật tượng hình của ước mơ cao siêu vươn lên Hoàng Đế.
Cũng từ đó người ta suy diễn ra đủ thứ để vận vào cuộc sống con người. Sinh vào tuổi Chuột, tuổi Trâu là vất vả, phải lần mò đêm hôm kiếm ăn. Tuổi lợn thì nhàn, cứ nằm đấy mà chờ người ta mang đến cho ăn. Tuổi Hổ thì ghê gớm. Tuổi Rồng thì sung sướng, làm quan. Hoặc đi vào giờ Dần (3 đến 5 giờ sáng) dễ làm ăn, gặp may vì là con Hổ. Làm gì gặp vào giờ hoặc ngày xung khắc với bản thân thì không tốt... mà thành mê tín.
Thiên Can và Địa Chi là biểu tượng cho Trời - Đất, Âm - Dương, có ý nghĩa về Thái Cực - Lưỡng Nghi trong Kinh Dịch và sự vận hành của sự sống, vạn vật. Phát minh quan trọng này là cơ sở ứng dụng vào nhiều mặt trong đời sống, xã hội của người xưa.
Can Chi là một sáng tạo của Học Thuyết Á Đông. Theo các văn bản tìm thấy trong các tài liệu địa lý, bói toán khắc trên xương cốt và mai rùa, thì hệ Can Chi xuất hiện vào thời nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI, TCN). Can Chi được quy nạp vào cách đếm thời gian trong Âm lịch theo hệ cơ số 60. Hệ số 60 là sự phối hợp của nhiều hệ đếm có cơ số nhỏ hơn như hệ nhị phân của cơ số 2, hệ thập phân của cơ số 10 và cơ số 12… là bội số của nhiều số: 2, 3, 4, 5, 6, 10, 12, 15, 20, 30 ứng với ý nghĩa thời gian lịch tiết khí: 3 tháng trong một quý. 5 ngày trong một hậu. 6 tháng trong nửa năm. 12 tháng trong một năm. 12 năm trong một giáp. 12 giờ trong một ngày. 15 ngày trong một tiết khí. 30 ngày trong một tháng. 60 năm trong một vòng can chi. Đây cũng là thuật toán tính cho ngày, giờ, tháng, năm trong âm lịch, được quy theo ý nghĩa Thiên Can là gốc cây cối ở Trời và Địa Chi là cành ở Đất.
Can, Chi được quy nạp, mã hoá với Âm Dương, Ngũ Hành để lý giải những vận động kỳ diệu vào tự nhiên và con người trong phép xem ngày, giờ, tử vi, bói toán, phong thủy.
Theo sách Thuyết Văn thì Thiên Can có nghĩa là thân cây thuộc Trời, mọc thẳng. Thứ tự 10 Thiên Can và ý nghĩa như sau:
Giáp: Giai đoạn mọc mầm, thuộc Mộc, hướng Đông. Dương. Ất: Mầm cây đang lên, còn yếu ớt, thuộc Mộc, hướng Đông. Âm. Bính: Cây vươn lên mạnh mẽ, thuộc Hoả, hướng Nam. Dương. Đinh: Cây phát triển trưởng thành, thuộc Hoả, hướng Nam. Âm. Mậu: Cây cối tốt xum xuê, thuộc Thổ, ở Trung tâm. Dương. Kỷ: Vạn vật ẩn tàng, thuộc Thổ, ở Trung tâm. Âm.
Canh: Cây cối ra hoa, kết trái, thuộc Kim, hướng Tây. Dương. Tân: Vạn vật đầy đủ, thuộc Kim, hướng Tây. Âm.
Nhâm: Mầm cây mới phát sinh trong quả, hạt, thuộc Thủy, hướng Bắc. Dương.
Quý: Vật chất bế tàng, chuẩn bị chu kỳ sinh sôi, thuộc Thủy, hướng Bắc. Âm.
Xã hội cổ xưa ở phương Đông chủ yếu là nông nghiệp, nên những nghiên cứu văn hoá, triết học được hình thành từ văn hoá, đời sống, canh tác cây cối, gia súc nông nghiệp.
Địa Chi là cành ở Đất và được quy vào vật tượng theo 12 Chi như sau:
Tý: Giai đoan hạt giống hút nước nẩy mầm. Cầm tinh con Chuột. Hành Thủy, hướng Bắc. Dương.
Sửu: Mầm cây đội đất mọc lên. Cầm tinh con Trâu. Hành Thổ, hướng Đông Bắc. Âm.
Dần: Mầm cây lên cao. Cầm tinh con Hổ. Hành Mộc, hướng Đông. Dương.
Mão: Cây cỏ phát triển mạnh. Cầm tinh con Mèo. Hành Mộc, hướng Đông. Âm.
Thìn: Cây cỏ trưởng thành tươi tốt, xum xuê. Cầm tinh con Rồng. Hành Thổ, hướng Đông. Dương.
Tỵ: Cây cỏ cứng cáp, già nua. Cầm tinh con Rắn. Hành Hoả, hướng Đông Nam. Âm.
Ngọ: Cây cỏ ngừng phát triển. Cầm tinh con Ngựa. Hành Hoả, hướng Nam. Dương.
Mùi: Cây cối ra hoa, kết trái. Cầm tinh con Dê. Hành Thổ, hướng Tây Nam. Âm.
Thân: Hoa trái chín, già. Cầm tinh con Khỉ. Hành Kim, hướng Tây. Dương.
Dậu: Cỏ cây già cỗi, suy tàn. Cầm tinh con Gà. Hành Kim, hướng Tây. Âm.
Tuất: Cây cỏ khô héo. Cầm tinh con Chó. Hành Thổ, hướng Tây
Nam. Dương.
Hợi: Cây cối huỷ diệt, về với đất, chuẩn bị chu kỳ mới. Cầm tinh con Lợn. Hành Thủy, hướng Bắc. Âm.
Can, Chi hợp, xung
Với mã hoá Âm Dương, Ngũ Hành, phương hướng mà sự vận hành, giao thoa Can Chi trở nên đa dạng, phong phú khi ứng dụng vào lịch pháp, ngày, giờ, phong thủy, tử vi.
Trong quan hệ Can Chi xảy ra quy luật sinh, khắc, tương kỵ, tương hỗ, tương hợp âm dương, ngũ hành.
Sinh, khắc khác Hành: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim... Thủy khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Tương kỵ: Đồng Hành, đồng cực thì đẩy nhau. Thìn - Tuất, Sửu -
Mùi là Dương Thổ đẩy Dương Thổ, Âm thổ đẩy Âm Thổ.
Tương hỗ: Đồng Hành, khác cực thì hút nhau. Các cặp Thiên Can: Giáp - Ất (Dương Mộc - Âm Mộc), Bính - Đinh (Dương Hoả - Âm Hoả), Mậu - Kỷ (Dương Thổ - Âm Thổ), Canh - Tân (Dương Kim - Âm Kim), Nhâm - Quý (Dương Thủy - Âm Thủy). Các cặp Địa Chi: Tý - Hợi (Dương Thủy - Âm Thủy), Tị - Ngọ (Âm Hoả - Dương Hoả), Dần - Mão (Dương Mộc - Âm Mộc), Thân - Dậu (Dương Kim - Âm Kim).
Tương hợp: Thiên Can khác hành, Giáp hợp Kỷ (Dương Mộc với Âm Thổ hoá Thổ). Ất hợp Canh (Dương Mộc với Dương Kim hoá Kim). Bính hợp Tân (Dương Hoả với Âm Kim hoá Thủy). Đinh hợp Nhâm (Âm Hoả với Dương Thủy hoá Mộc). Mậu hợp Quý (Dương Thổ với Âm Thủy hoá Hoả).
Đồng hành: Giáp - Ất (Dương Mộc - Âm Mộc), Bính - Đinh (Dương Hoả - Âm Hoả), Mậu - Kỷ (Dương Thổ - Âm Thổ), Canh - Tân (Dương Kim - Âm Kim), Nhâm - Quý (Dương Thủy - Âm Thủy).
Thiên Can xung khắc: Đồng cực, Giáp xung Mậu (Dương Mộc khắc Dương Thổ), Ất xung Kỷ (Âm Mộc khắc Âm Thổ), Bính xung Canh (Dương Hoả khắc Dương Kim), Đinh xung Tân (Âm Hoả khắc Âm Kim), Mậu xung Nhâm (Dương Thổ khắc Dương Thủy), Kỷ xung Quý (Âm Thổ khắc Âm Thủy), Canh xung Giáp (Dương Kim khắc Dương Mộc), Tân xung Ất (Âm Kim khắc Âm Mộc), Nhâm xung Bính (Dương Thủy khắc Dương Hoả), Quý xung Đinh (Âm Thủy khắc Âm Hoả).
Địa Chi lục hợp gồm 6 cặp: Tý hợp Sửu hoá Thổ. Hợi hợp Dần hoá Mộc. Mão hợp Tuất hoá Hoả. Thìn hợp Dậu hoá Kim. Tỵ hợp Thân hoá Thủy. Ngọ hợp Mùi, Thái Dương - Thái Âm.
Tam hợp cục: Ba chi hợp thành tam giác đều, đỉnh ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu tạo thành Tam hợp cục. Thân - Tý - Thìn, đỉnh ở Tý, Thủy cục. Hợi - Mão - Mùi, đỉnh ở Mão, Mộc cục. Dần - Ngọ - Tuất, đỉnh ở Ngọ, Hoả cục. Tỵ - Dậu - Sửu, đỉnh ở Dậu, Kim cục. Thổ ở Trung tâm, không thành cục.
Nhị hợp: 12 Địa Chi thành 6 cặp Âm Dương đồng hành: Tý hợp Hợi (Dương Thủy - Âm Thủy). Dần hợp Mão (Dương Mộc - Âm
Mộc). Tỵ hợp Ngọ (Âm Hoả - Dương Hoả). Thân hợp Dậu (Dương Kim - Âm Kim). Thìn - Tuất, Sửu - Mùi (Dương Thổ - Âm Thổ).
Địa Chi đối nhau, tứ hành xung: Bắc - Nam, Đông - Tây đồng cực, khác hành. Tý - Ngọ (Thủy khắc Hoả, Nam - Bắc đồng cực Dương). Mão - Dậu (Mộc khắc Kim, Đông - Tây đồng cực Âm). Dần - Thân (Mộc khắc Kim, đồng cực Dương). Tị - Hợi (Hoả khắc Thủy, đồng cực Âm).
Nhị xung, cực đồng hành: Thìn - Tuất tương xung (Đồng cực Dương Thổ). Sửu - Mùi Tương xung (Đồng cực Âm Thổ).
Địa Chi tương hại: Có 6 cặp đối lập Bắc - Nam, lục hại. Tý - Mùi (Dương Thủy mạnh hại Âm Thổ yếu). Sửu - Ngọ (Dương Hoả không sinh được Thổ yếu). Dần - Tị (Dương Mộc mạnh làm tắt Hoả yếu). Mão - Thìn (Mộc yếu không mọc được ở Thổ cứng). Thân - Hợi (Kim mạnh hại Thủy yếu). Dậu - Tuất (Kim yếu không sinh được Thổ mạnh).
Dựa vào xung khắc âm dương, ngũ hành của Can Chi như vậy mà người xưa mới sinh ra chuyện chọn người có mệnh can chi hợp để xông nhà ngày tết và chọn người hợp với nhau để làm ăn cho được tốt lành, hoặc khi có người chết thì tránh tuổi khắc kỵ đến gần…
Người ta còn nghiên cứu ra chu trình gắn Ngũ Hành với thời gian để tính toán cho nông nghiệp.
Thời gian trong năm có 5 giai đoạn phù hợp với 5 thời kỳ ở mỗi năm. 360 ngày chia 5 thành 72 ngày. Mỗi năm có 4 mùa thì 18 ngày cuối mỗi mùa vào các tháng ba, sáu, chín, mười hai là thuộc Thổ. Mỗi giai đoạn suy, vượng của mỗi hành là hai tháng rưỡi. Riêng hành Thổ vào khoảng bốn tháng ở các thời điểm giao mùa tháng ba, sáu, chín, mười hai, gọi là “Tứ Quý”. Đó là suy, vượng của bốn mùa.
Vượng: Là giai đoạn phát triển thịnh nhất, 72 ngày.
Tướng: Đang thịnh, còn phát triển, 72 ngày.
Hưu: Tạm dừng, không còn phát triển, 72 ngày.
Tù: Suy giảm, tiêu hao dần, 72 ngày.
Tử: Bị khắc chế, tiêu huỷ, 72 ngày.
Vượng, suy của Thiên Can, Địa Chi phụ thuộc 12 tháng theo Hành của Địa Chi:
Trường sinh: Là giai đoạn lớn lên, trưởng thành của sự vật. Mộc dục: là giai đoạn làm sạch sẽ, uốn nắn, vun đắp. Quan Đới: Vươn lên, trưởng thành.
Lâm Quan: Phát huy khả năng, sức sống.
Đế Vượng: Giai đoạn phát triển, hưng thịnh.
Suy: Ngừng phát triển, bắt đầu suy giảm.
Bệnh: Già nua, bệnh tật.
Tử: Huỷ diệt, chết.
Mộ: Lưu giữ quả, hạt hoặc sự huỷ diệt.
Tuyệt: Giai đoạn trống không, chưa có gì.
Thai: thai nghén, nảy mầm trong đất.
Dưỡng: Hình thành, nuôi dưỡng sự sống mới.
Quy nạp hệ Can Chi, Ngũ hành vào vòng Hoa Giáp. Cứ hai năm dương - âm là một cặp, chung một hành, theo âm lịch và luân chuyển kết hợp 10 can với 12 chi mà thành chu kỳ 60 của hoa giáp, xưa gọi là một “hội” hoặc một “kỳ”, bắt đầu từ Giáp Tý, được diễn giải như sau:
Bảng Can Chi lục thập hoa giáp
Chu kỳ hoa giáp 60 năm liên tục từ Giáp Tý đến Quý Hợi, rồi lại lặp lại không ngừng. Ví dụ: Năm Nhâm Thìn - 2012, thì trước đó là năm Tân Mão - 2011 và tiếp tới là năm Quý Tỵ - 2013… Ngày, giờ, tháng cũng tính như vậy theo can chi hoa giáp của chu kỳ 60.
Với việc quy nạp, mã hoá Can Chi, Âm Dương, Ngũ Hành vào vòng Hoa Giáp, các nhà triết học cổ phương Đông đã ứng dụng vào tính toán, chiêm đoán, lý giải thiên nhiên và sự sống con người, trở thành một trong những nét đặc sắc của nền văn hoá Á Đông cổ xưa.
Tử vi
Tử Vi là phương pháp luận giải vận mệnh đời người qua Lá Số.
Từ những kiến thức Kinh Dịch, Âm Dương, Bát Quái, Ngũ Hành, Can Chi mã hoá thành các Sao hệ thống “Thần sát” vào thời gian giờ, ngày, tháng, năm, học giả Trần Đoàn thời cuối nhà Đường, đầu nhà Tống ở Trung Quốc đã soạn ra phép lập và thuật luận đoán Lá Số Tử Vi.
Tử vi được xác lập dựa trên bốn yếu tố cơ bản là giờ, ngày, tháng, năm mà người ta gọi là “Tứ trụ”. Căn cứ chính xác giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch (tức là thêm tuổi mụ, tính 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ), lá số tử vi được xác định trên đồ hình 12 ô vuông cung Thiên bàn ở ngoài và ô vuông Địa bàn ở giữa. Theo đồ hình, chiều kim đồng hồ là chiều thuận, ngược kim đồng hồ là chiều nghịch.
Trên Địa bàn ghi họ, tên, giờ, ngày, tháng, năm sinh, tuổi âm dương, giới tính, mệnh, cục, sao chủ thân, chủ mệnh. Ngoài ra còn ghi thông số cân công đức theo lượng, chỉ của giờ, ngày, tháng, năm sinh nhằm phụ đoán cho lá số.
12 ô cung Thiên bàn theo trục Tý - Ngọ (Bắc - Nam), Mão - Dậu (Đông - Tây), ghi thứ tự chiều thuận ứng với 12 chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi và an các sao của lá số Tử Vi. Sao trên Thiên Bàn gồm có 14 Chính Tinh và 105 Phụ Tinh (6 sao theo giờ sinh, 6 sao theo tháng sinh, 12 sao theo Can năm sinh, 17 sao theo Chi năm sinh, 4 sao Tứ Hoá, 2 sao Tuần và Triệt, 2 sao Hoả và Linh, 12 sao bộ Thái Tuế, 12 sao bộ Lộc Tồn, 12 sao hệ thống Trường Sinh, 11 sao riêng biệt, 9 sao lưu động). Tổng số 119 sao với 2 sao Chủ Thân, Chủ Mệnh ở địa bàn thì toàn bộ lá số Tử Vi có 121 sao vận hành theo quy luật và gán cho những dự kiện hợp thành hệ thống gọi là “Thần sát”. Mỗi sao lại được mã hoá, quy nạp âm dương, ngũ hành, phương hướng và tính chất nhân sinh cao, thấp, béo, gầy, đen, trắng…
Trên thiên bàn lá số còn ghi số ứng với tiểu hạn ngày, tháng, đại hạn năm và cuộc đời. Ngoài ra còn ghi năm sinh, tuổi, mệnh của cha, mẹ để tăng thêm dự kiện luận giải cho lá số.
Căn cứ vào những thông số này cùng với sự vận hành, xung, chiếu, biến hoá của các cung và sao trên cơ sở “Dịch lý” mà phối hợp luận đoán, lý giải về những diễn biến quá khứ, hiện tại và tương lai về sức khoẻ, học hành, công danh, tài lộc của đời người, kể cả những
liên quan đến phúc đức tổ tông, cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè. Đặc điểm của tử vi là lý giải về đời người từ khi sinh ra cho đến khi chết là hết số.
Lá số Tử Vi Nhâm Thìn - 2012
Lập lá số Tử Vi phải rất tỷ mỉ, chính xác. Việc lý giải, luận đoán toàn bộ các thông số, biến hoá, vận hành của các cung, các sao trên lá số Tử Vi cũng vô cùng phức tạp. Phải có kiến thức thật sâu, rộng về học thuyết phương Đông, thiên văn, địa lý, đặc biệt là lôgic tâm lý mới có thể luận giải được lá số Tử Vi. Chỉ một sai sót nhỏ về giờ, ngày, tháng, năm sinh hoặc nhầm vị trí một sao nào đó là luận đoán sẽ không chính xác nữa. Vì vậy, việc luận đoán lá số Tử Vi có đúng, có hay không, là do khả năng của người có giỏi lý giải cụ thể về lá số hay không.
Về khoa học, phải công nhận giá trị tính toán toán học, biện chứng tâm lý của Tử Vi là rất uyên thâm và công phu.
Môn Tử Vi ra đời cùng học thuyết phương Đông của Trung Quốc cách đây hàng nghìn năm. Trước Công Nguyên, cuộc sống, xã hội chưa phát triển, chưa có khoa học chứng minh. Đến khi Phật giáo, Nho giáo hình thành và phát triển, người ta cũng chỉ xoay quanh quy luật “Sinh - Lão - Bệnh - Tử” và tìm đến những vấn đề nhằm giải mã về con người, đời người. Do ảnh hưởng của tự nhiên, do ăn uống, do bệnh tật và những đe doạ của khí hậu, thời tiết, thiên tai sinh ra nhiều phức tạp mà con người khó lý giải, thậm chí bị đưa vào huyền bí, duy tâm. Cứ thế, kéo dài hàng nghìn năm. Rồi thế hệ các nhà nho cứ loay hoay nhằm vào lá số Tử Vi để phán xét số mệnh con người.
Thuật tử vi đưa con người vào những ám ảnh vô hình và suy diễn gán ghép với thực thể đời sống của mỗi cá nhân. Đây là mấu chốt chính làm cho nó trở nên huyền bí, ma mỵ. Khi các sao cư trên các cung của lá số, với những dự kiện tô vẽ ra cho nó chỉ đích danh về diễn biến cuộc đời đương sự, thì dù tốt hay xấu lập tức bị ám ảnh vào tư tưởng của họ. Thế là những ám ảnh này sẽ làm cho con người sinh ra suy diễn, cứ thế kéo dài và để tâm kiểm nghiệm xem nó có đúng không. Sự lo nghĩ, suy diễn có khi kéo dài suốt cả đời người. Thế rồi khi có gì xảy ra gần như sao trong lá số chỉ ra thì bảo quả là hiệu nghiệm. Còn nếu không thấy gì xảy ra như thế lại cho rằng đã được các yếu tố khác trong tử vi hoặc kể cả ngoài đời thực hoá giải đi rồi.
Trong điều kiện xã hội cổ xưa khoa học chưa phát triển, những loại hình văn hoá, giải trí nghèo nàn, với thuật toán hấp dẫn và biện chứng tâm lý huyền diệu về cuộc sống đời người, Tử Vi có sức thu hút đặc biệt đối với con người, trở thành sách gối đầu giường và chiêm tinh, bói toán của các nhà nho. Vì vậy, mà rất nhiều người nghiên cứu và có rất nhiều công trình, nhiều loại sách về Tử Vi, trở thành xu hướng thịnh hành, ảnh hưởng cho tới ngày nay.
Tử Vi được truyền bá vào Việt Nam theo các học giả, nhà nho xưa. Nhiều công trình nghiên cứu, soạn thảo, luận bình về Tử Vi xuất hiện kéo theo mọi giai tầng trong xã hội tham gia vào loại hình kỳ bí, hấp dẫn này. Hầu như những đứa trẻ sinh ra đều được ông bà, cha mẹ tìm thầy lập lá số Tử Vi cho đời người và trở thành những giai thoại kỳ thú của bói toán, duy tâm. Thầy lập lá số còn làm thêm phụ bản luận giải từng cung và toàn bộ lá số bằng văn xuôi, có khi dựa vào sao an trên các cung mà sáng tác thành văn vần cho thêm sinh động. Trong khi đó những loại sách “Tử vi áo bí”, “Tử vi đầu số”, “Tử vi Tướng pháp”, “Tử vi trọn đời”, “Tử vi với số phận con người”… thi nhau xuất
hiện nhằm đáp ứng sự hâm mộ, tò mò của đông đảo mọi tầng lớp người trong xã hội.
Tuy nhiên, qua tham khảo, nghiên cứu thì công trình khảo cứu về Tử Vi gồm hai tập “Tử Vi hàm số” và “Tử Vi tổng hợp” của tác giả Nguyễn Phát Lộc là công phu, nhân văn, dễ hiểu. Theo tác giả: “Để cho khoa Tử Vi có thể trở thành một bộ môn nhân văn, tiến bộ, thức thời, giải thoát khỏi những ràng buộc huyền bí hay mê tín, chúng ta không nên xem nó như một khoa học huyền bí, mà phải đặt cho khoa Tử Vi một nền tảng không huyền bí.” Tác giả đã thành công trong nghiên cứu, lý giải và thực hành về khoa Tử Vi, mang lại những nhận thức thẩm mỹ cho công chúng của xã hội mới.
Ngày nay, khoa học phát triển, công nghệ thông tin đa dạng, cuộc sống, hiểu biết của con người đã đổi khác. Lá số Tử vi cũng được vi tính hoá rất nhanh. Mọi thành quả của nền văn minh giúp giải quyết rất nhiều cho đời sống và làm thay đổi tư duy của con người. Do vậy, những giá trị cổ xưa dần dần được giải mã. Cho nên, chỉ nghiên cứu vốn cổ để biết là gì mà chắt lọc tinh hoa văn hoá, trí tuệ của người xưa. Con người phải thật sự mưu cầu tiến bộ, hoạt động hữu ích để mang lại giá trị sống cho hôm nay bằng ý chí và những ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật thông minh, hiện đại.
Ngay trong lý thuyết về Tử vi, người ta cũng không thể lý giải hết được những biến hoá vô hình của lá số với đời sống thực tế của đương sự. Mà đã là định mệnh trên lá số thì bất biến. Có nghĩa là cuộc đời của con người sinh ra phải như vậy, không thể khác. Vinh hoa phú quý theo năm tháng mà đến. Tai hoạ, bi thương cứ thế phải chịu, làm sao thoát được!
Quan niệm tiến bộ về “đức năng thắng số” và “cải hoá số mệnh” cũng là lối thoát cho sự cả tin hay lo âu về số mệnh thấy vừa đúng, vừa không đúng với cuộc đời mình qua lá số Tử vi.
Điều đặt ra là ai và lấy căn cứ khoa học nào mà định ra cho từng người có một cuộc đời theo mẫu được lập sẵn theo lá số Tử vi buộc vào mình như vậy? Vô cùng vô lý khi những sao và giờ, ngày, tháng, năm sinh trong Tử vi lại chỉ ra hình dáng, màu da, tính cách, tâm lý, sinh lý, may, rủi, tai hoạ… của mỗi người, mà trong nghiên cứu khoa học tinh vi, hiện đại cũng không thể xác định cụ thể như thế được. Cứ thế, lá số và thầy phán bảo làm cho đương sự sinh ra vui, buồn, hy
vọng, lo âu suốt cả cuộc đời, trong khi mọi sự chỉ là rất bình thường xảy ra trong cuộc sống mà thôi. Chúng ta cần có tâm lý vững vàng của người có bản lĩnh, hiểu biết để không phải lo sợ khi những ông thầy đoán mò, nói dựa cứ doạ một câu: - Đừng có đùa với số mệnh! Trong khi ngay chính hoàn cảnh của thầy cũng đầy những phức tạp, trắc trở, éo le không biết đường giải quyết. Lại có những ông hàng ngày vẫn lập lá số cho người, luận đoán thao thao bất tuyệt, nhưng hỏi về kiến thức dịch lý, âm dương, bát quái, ngũ hành thì hiểu rất ít.
Nếu cứ cho là có số mệnh, thì mọi việc đã được an bài cụ thể như thế thì cũng mặc nhiên, thanh thản mà được như thế và phải như thế, không cần phải trông chờ vào may, rủi làm gì. Như vậy, con người sẽ rất thoải mái trước mọi biến cố đời sống của mình và lá số Tử vi sẽ trở thành vô nghĩa. Trong thời đại ngày nay con người say mê học tập, nghiên cứu khoa học, tiếp cận với nền văn minh sẽ có lợi ích thiết thực hơn nhiều cho cuộc sống, chắc chắn người ta cũng không quan tâm đến lá số Tử vi. Người tin theo Tử vi thì mất tiền nhờ thầy lập cho một lá số, xem rồi cất đi, thỉnh thoảng có sự gì lại mang ra nhờ thầy luận giải. Cứ thế suốt đời con người nặng trĩu những vui, buồn về số mệnh. Người không quan tâm đến Tử vi thì chẳng bao giờ lo âu về số mệnh, không lập lá số Tử vi, không cần thầy luận đoán. Với họ, mọi sự trên đời đều là tự nhiên, là khoa học, xử lý thật thông minh mà trở nên thanh thản để dành thời gian cho những việc làm có ích trong đời sống thường ngày.
Lá số Tử vi không thể biện minh cho những biến động phức tạp của thiên nhiên, tàn bạo của chiến tranh, sự tự ty, chây lười, bệnh tật, ốm đau không biết phòng, chữa của con người. Tử vi càng không thể lý giải được những trí tuệ thông minh, thiên tài, những phát minh khoa học vĩ đại đã và đang làm thay đổi thế giới và cuộc sống hàng ngày của toàn nhân loại; Những tai nạn máy bay, tàu thủy, ôtô, tàu hoả thảm khốc. Cho dù hoàn cảnh nào ở thời đại văn minh ngày nay mà cố tình gán ghép vào lá số Tử vi đều là điều rất cần phải suy ngẫm.
Phong Thủy
Nguồn gốc: Khái niệm “Phong - Thủy”, Phong là Gió, Thủy là Nước, là hai hiện tượng của thiên nhiên. Gió và Nước tác động, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người. Không có gió, không khí không giao hoà, sẽ rất khó chịu. Không có nước, mọi sự sống sẽ
không tồn tại. Ít gió, ít nước thì ngột ngạt, khô cằn. Gió to thì không đứng vững, đổ, vỡ. Nước lớn thì ngập úng, phân rã. Sự điều tiết gió, nước vừa đủ sẽ tạo cho mọi vật cân bằng và phát triển.
Phong Thủy mà người xưa gọi là thuật Trạch cát, rất chú ý đến các dòng nước ngầm chảy trong lòng đất mà cho là “Mạch” và uốn lượn như hình con Rồng mà gọi là “Long Mạch”. Điểm hội tụ của nước, của khí và chất đất mà cho là “Huyệt” và gần đây còn có khái niệm “Tia Đất” hay Địa Khí. Người xưa cho rằng những yếu tố này ảnh hưởng đến Âm Trạch đất đai, mồ mả và Dương Trạch nhà cửa, đình, chùa, sự sống con người.
Cơ sở thực tế mang tính khoa học về tác dụng của gió, của nước đã manh nha cho “Học thuyết Phong - Thủy” hình thành, từ đó người ta ứng dụng vào quy hoạch đất đai, xây dựng nhà cửa.
Quy luật vận động của vũ trụ, thiên nhiên, địa hình trái đất đã sinh ra gió, mưa, nóng, lạnh và tạo ra các hướng gió, các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Quy luật ấy được các học giả xưa mã hoá vào đồ hình Bát Quái của Phong Thủy.
Địa hình, thế đất, núi, sông, dòng chảy, sự hội tụ hoặc phân tán gió, nước và hướng của gió, của nước hợp hay không với khí chất âm dương, ngũ hành của con người là cơ sở phát triển thuật Phong Thủy.
Từ xa xưa, người Trung Hoa đã đặc biệt quan tâm đến Âm Trạch với quan niệm “mồ yên, mả đẹp” của gia tộc để yên phần Dương Trạch cho con cháu “táng tiên ấm hậu”. Người đầu tiên đặt nền móng cho thuyết Phong Thủy ở Trung Hoa là Quách Phác (276-324 sau Công nguyên) đời nhà Tấn với tác phẩm nổi tiếng “Táng Thư”. Rồi các Hoàng đế ứng dụng Phong Thủy vào xây dựng kinh thành, lăng mộ, trị thủy và nhân dân làm nhà, táng mộ mà sinh ra lắm sách về Phong Thủy, trong đó có “Hoàng Đế Trạch Kim”, “Bát Trạch Minh Kính” và ‘Trạch Kim dân gian”. “Hoàng Đế Trạch Kim” được đánh giá cao và lưu hành rộng rãi nhất. Các trường phái, môn phái Phong Thủy cũng sản sinh những luận thuyết của mình như: Trường Phái Loan Đầu, Phái Bát Trạch Dương Cơ - Dương Kham, Huyền Không - Phi Tinh (tác động của thời gian và không gian)… rất rắc rối, phức tạp.
Ở Việt Nam, bộ sách nổi tiếng về Phong Thủy là “Địa lý Tả Ao”
của tác giả Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, vào thời Vua Lê, Chúa Trịnh. Với bộ sách “Địa lý Tả Ao” gồm hai cuốn “Địa đạo diễn ca” gồm 120 câu văn vần và “Dã đàm Tả Ao” bằng văn xuôi lý giải rất chi tiết về đất đai, sông, núi, mạch, huyệt, nhà cửa. Với công trình nghiên cứu công phu về địa lý này ông được người đời tôn là “Thánh địa lý Tả Ao” của Việt Nam.
Thuyết Phong Thủy dựa vào Bát Quái và phân loại Âm Trạch, Dương Trạch ứng dụng cho địa táng, xây dựng lăng mộ, đình, chùa, nhà ở. Cũng từ Âm Dương, Ngũ Hành của Mệnh và Trạch để xây dựng nhà cửa ứng với tám hướng theo “Bát du tinh” (8 sao lưu động), là “Đông Tứ Trạch”, gồm 4 hướng: Sinh khí (thịnh vượng, khoẻ mạnh, tài lộc, phát đạt và được tôn trọng). Phục vị (ổn định, yên bình, an vui, êm ấm). Thiên y (khoẻ mạnh, đầy đủ, hoà hợp). Diên niên (trường thọ, bền vững, hoà hợp, dài lâu, hạnh phúc) và “Tây Tứ Trạch”, gồm 4 hướng: Hoạ hại (tai hoạ, mâu thuẫn, làm ăn không may mắn). Lục sát (bị hại, làm ăn, tăng gia khó khăn, thất bại). Ngũ quỷ (kiện tụng, tai nạn, thương tật, hoả hoạn, gia cảnh không yên vui). Tuyệt mệnh (bệnh tật, sự nghiệp không tiến triển, chia ly, đau buồn).
Người ta còn tính đến “Tam khí” (Thiên khí, Địa khí, Nhân khí) với không gian ngôi nhà; Rồi địa hình “Tứ linh” gồm: Bắc - Huyền vũ (phía sau lưng chỗ ở), Nam - Chu tước (đối diện phía trước), Đông - Thanh Long (phía bên trái), Tây - Bạch Hổ (phía bên phải) để định cát hung.
Có phái lại còn sáng tạo ra Chín Trạch: 1 là Trạch Khốc. 2 là Trạch Quỷ. 3 là Trạch Tử. 4 là Trạch Bảo. 5 là Trạch Lộc. 6 là Trạch Phúc. 7 là Trạch Đức. 8 là Trạch Bại. 9 là Trạch Hư. Theo phái này thì có bốn trạch tốt là Trạch Bảo số 4, Trạch Lộc số 5, Trạch Phúc số 6 và Trạch Đức số 7.
Xét trên Bát Quái Phong Thủy theo từng mệnh tuổi can chi, tương quan âm dương, ngũ hành thì Bát trạch có bốn hướng cát thuận lợi, tốt lành và bốn hướng hung xấu, không thuận. Tám hướng này được mã hoá vào cát, hung của từng mệnh tuổi nam hoặc nữ theo “Đông Tứ Trạch” hay “Tây Tứ Trạch” với tám dự kiện: Bốn dự kiện tốt là sinh khí, phục vị, diên niên, thiên y và bốn dự kiện xấu là hoạ hại, lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh. Căn cứ vào đó mà tính hướng nhà cửa, để bàn thờ, giường ngủ, bếp... cho hợp với mệnh tuổi gia chủ.
Theo âm dương, ngũ hành của mệnh can chi với âm dương, ngũ hành của bát quái thì mỗi người nam hoặc nữ theo tuổi can chi đều có 4 hướng cát và 4 hướng hung theo Đông Tứ Trạch hoặc Tây Tứ Trạch. Người ta chọn hướng nhà theo cát trạch và được Sinh Khí là tốt nhất, hoặc Phục Vị, rồi đến Diên Niên, Thiên Y. Kể cả khơi móng, đổ sàn cũng theo hướng Sinh Khí mà làm động tác khởi đầu cho suôn sẻ, tốt lành. Bàn thờ thì chọn vào phương Phục Vị cho tâm linh yên ổn.
“Dã đàm Tả Ao” của tác giả Cao Trung nói về Quốc Sư - Thiền Sư Vạn Hạnh dung hoà Tam giáo, tính tìm một đại đắc địa làm Kinh Đô. Đó là Thăng Long - Hà Nội (thế Rồng bay). Năm 1010, Lý Công Uẩn nghe theo, hạ “Chiếu Dời Đô”, dời Kinh Đô từ Hoa Lư - Ninh Bình về Thăng Long - Hà Nội, nên nhà Lý làm vua được tám đời. Sau đó, nhà Trần và Hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại đắc địa đó làm Kinh Đô, nên bền vững lâu dài hơn?
Bát Quái Phong Thủy và tám hướng trạch
(nguồn Google hình ảnh - Png)
Địa Bàn: Trong thực hành Phong Thủy, cùng với kiến thức chuyên sâu về Kinh Dịch, Địa Lý, có một vật dụng rất quan trọng không thể thiếu để tìm hướng, định hướng là cái La Bàn.
La Bàn là cái Địa Bàn của các thầy địa lý, dùng để xác định phương hướng. Cái nhỏ gọi là Tróc Long, cái lớn là La Kinh.
Lịch sử La bàn là phát minh của người Trung Quốc từ hơn 1000 năm TCN (có tài liệu nói khoảng năm 1044). Lúc đầu chỉ gồm 1 chiếc thìa làm từ nam châm thiên nhiên đặt trên một đế vuông, mặt nhẵn, bằng đồng (đồng không ảnh hưởng từ trường). Khi để cân bằng tĩnh thì cán thìa tự xuay về hướng Nam và lấy đó là định hướng, do họ
quan niệm hướng Nam là hướng vua chúa, đất đai màu mỡ, phì nhiêu. Vì thế họ gọi luôn là “kim chỉ Nam” (chứ không chỉ Bắc). Sau này người ta mới làm kim chỉ Bắc - Nam, theo hướng trục từ trường Trái đất. Các sử sách Tây phương ghi lại thì năm 1100 các nhà Hàng hải Trung Hoa đã dùng la bàn. Vào khoảng năm 1190 người châu Âu mới làm la bàn đi biển.
La bàn lúc đầu dùng định phương hướng để đi biển, đi rừng. Sau người ta nghĩ ra cách đưa Kinh dịch vào mà gọi là La kinh. Rồi các trường phái trạch cát lại thêm các dự kiện vào mà thành thông số của nhiều vòng trên La kinh dùng cho phong thủy, có loại 36 hoặc nhiều tới 54 vòng.
Địa Bàn hình tròn, kích cỡ tuỳ nơi sáng chế, đường kính khoảng 5 đến 15 cm, có loại chia theo 360 độ, nhưng thường kết hợp với Bát quái nên chia thành 8 cung. Chính giữa có một kim nhọn về hai đầu, có cảm ứng từ trường, luôn luôn chỉ theo hướng Nam - Bắc (N-S) của trục trái đất. Xung quanh có chia làm nhiều vòng tròn đồng tâm. Mỗi vòng chia thành nhiều ô. Trong vòng có ghi chữ và mỗi vòng dùng vào công việc khác nhau. Cỡ trung có 13 vòng, cỡ nhỏ ít hơn, cỡ lớn nhiều hơn 13 vòng. Thông thường người chưa thành thạo chỉ cần dùng ba vòng: Vòng Thiên Bàn ở ngoài cùng, Địa Bàn ở trong cùng và Nhân Bàn ở giữa, mỗi vòng đều chia thành 24 cung sơn hướng, mỗi cung 15 độ, cộng một vòng tròn là 360 độ.
Vòng Thiên Bàn: Là hướng, thu thủy, phóng thủy.
Vòng Địa bàn: Là long mạch.
Vòng Nhân Bàn: Là tiêu sa, sa tốt, sa xấu.
Các chữ trong ba vòng đều giống nhau. Chỉ khác là nếu lấy vòng giữa Nhân Bàn làm cơ sở, thì vòng Thiên Bàn lệch sang bên phải nửa ô và vòng Địa Bàn lệch sang bên trái nửa ô.
Chữ ghi trong 24 cung ở mỗi vòng theo trục Tý - Ngọ, Mão - Dậu thì:
Chính Đông trùng vào chữ Mão.
Chính Tây trùng vào chữ Dậu.
Chính Nam trùng vào chữ Ngọ.
Chính Bắc trùng vào chữ Tý.
Theo chiều thuận kim đồng hồ, thứ tự từ Mão sẽ là: Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tị, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân.
Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp.
Theo tám hướng thì:
Đông có Giáp, Mão, Ất.
Đông Nam có Thìn, Tốn, Tị.
Nam có Bính, Ngọ, Đinh.
Tây Nam có Mùi, Khôn, Thân.
Tây có Canh, Dậu, Tân.
Tây Bắc có Tuất, Càn, Hợi.
Bắc có Nhâm, Tý, Quý.
Đông Bắc có Sửu, Cấn, Dần.
Theo 24 sơn cung thì có 12 hướng Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. 8 hướng Thập Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý. 4 hướng Bát Quái: Càn, Khôn, Cấn, Tốn.
Ngày nay người ta còn chế ra cái La bàn dùng tinh thể lỏng. Cấu tạo của loại la bàn này rất khoa học và chính xác. La bàn là một hộp hình tròn bằng vật liệu mới trong suốt, nhìn được rất rõ vào bên trong.
Vòng tròn ngoài hộp cố định, ghi 24 cung sơn hướng và chia đều 360 độ chu vi. Trên mặt hộp có một kim màu đỏ để định vị hướng cát của ngôi nhà hoặc vị trí cần xác định.
Trong hộp kín chứa tinh thể lỏng là một đĩa tròn nổi trên bề mặt tinh thể. Trên đĩa tròn này có 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng được chia đều biểu diễn các thông số của la bàn. Từ tâm ra:
Vòng 1 là hình tượng của 8 quẻ Hậu thiên bát quái, tên quẻ và phương vị quẻ.
Vòng 2 là 24 sơn hướng.
Vòng 3 là chu vi 360 độ.
Vòng 4 là 64 quẻ Kinh dịch.
Vòng 5 là 32 quẻ đôi.
Người ta dùng la bàn này đặt vào trung tâm ngôi nhà hoặc nơi cần kiểm tra. Đặt kim đỏ cố định về hướng cần xác định. Đĩa la bàn bên trong sẽ tự quay nổi trên tinh thể lỏng để điều chỉnh theo hướng Bắc - Nam. Dựa vào đó người ta sẽ biết được các dự kiện trạch cát của nơi định vị la bàn.
Phong Thủy nhà ở được xác định hướng Huyền Quan cửa nhà và Toạ của lưng nhà theo tuổi Can Chi của gia chủ. Trước hết, cần chú ý về Phong Thủy của thế đất, nơi hội tụ Khí, dòng Nước chảy, thoáng Gió là nơi đắc địa để làm nhà ở. Dùng La Kinh (La Bàn, Địa Bàn) để xác định hướng bát quái của ngôi nhà ứng với dự kiện cát, hung.