🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Sinh Vào Ngày Xanh Ebooks Nhóm Zalo 1 Sinh vào ngày xanh BORN ON A BLUE DAY. Copyright © 2006 by Daniel Tammet. Copyright arranged with: Daniel Tammet, c/o Andrew Lownie Literary Agency Ltd, 36 Great Smith St, London, SW1P 3BU through Tuttle-Mori Agency Co., Ltd. Bản tiếng Việt © Nhà xuất bản Trẻ, 2010 BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM Tammet, Daniel, 1979- Sinh vào ngày xanh / Daniel Tammet ; ng.d. : Phạm Ngọc Điệp, Nguyễn Dung. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2010. 222tr. ; 20,5cm. - (Khoa học và khám phá). Nguyên bản : Born a blue day. 1. Tammet, Daniel, 1979- — Sức khỏe tâm thần. 2. Tự kỷ — Bệnh nhân — Anh — Tiểu sử. 3. Nhà bác học (Hội chứng bác học) — Anh — Tiểu sử. I. Phạm Ngọc Điệp d. II. Nguyễn Dung d. III. Ts: Born on a blue day. 362.196858820092 — dc 22 T158 Kính tặng cha mẹ tôi những người giúp tôi được như ngày hôm nay Thân tặng Neil vì luôn ở bên tôi 4 Sinh vào ngày xanh 1 Những con số chín màu xanh và những từ màu đỏ TÔI SINH VÀO NGÀY 31 THÁNG GIÊNG NĂM 1979 – THỨ TƯ. Tôi biết đó là thứ Tư vì trong tâm trí tôi, thứ Tư luôn xanh giống như số chín hay những tiếng ồn ào lớn của các cuộc cãi vã. Tôi thích ngày sinh của mình vì tôi thấy đó là các con số có hình dạng nhẵn nhụi, tròn trịa như những hòn sỏi trên bãi biển. Và bởi vì các số này là các số nguyên tố (số chỉ chia hết cho 1 và chính nó): 31, 19, 197, 79 và 1979. Tôi có thể nhận ra tất cả các số nguyên tố từ 1 đến 9973 qua đặc tính “hòn sỏi” của chúng. Đó đơn giản là cách mà não tôi hoạt động. Tôi mắc phải một hội chứng hiếm gặp gọi là hội chứng bác học. Hội chứng này ít được biết đến cho đến khi bộ phim đoạt giải Oscar năm 1988 Người đàn ông trong mưa (Rain Man) được trình chiếu, trong đó nhân vật chính, Raymond Babbitt, do diễn viên Dustin Hoffman đóng, cũng mắc phải hội chứng này. Giống như vai diễn của Hoffman, tôi bị ám ảnh về thứ tự và thói quen, điều này ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của tôi. Ví dụ, mỗi sáng tôi chỉ ăn đúng 45 gam cháo; tôi cân bát cháo bằng cân điện tử để đảm bảo độ chính xác. Sau đó 5 Sinh vào ngày xanh tôi đếm quần áo sẽ mặc trước khi rời khỏi nhà. Tôi cảm thấy day dứt nếu không uống được tách trà vào cùng một thời điểm trong ngày. Mỗi khi quá căng thẳng tôi cảm thấy ngộp thở, khi đó tôi nhắm mắt lại và đếm. Suy nghĩ về các con số giúp tôi bình tĩnh trở lại. Những con số là bạn của tôi, chúng luôn ở bên tôi. Đối với tôi, mỗi một số là duy nhất, có “nhân cách” của nó. Số mười một thì thân thiện, số năm thì ầm ĩ, trong khi đó số bốn thì nhút nhát và trầm lặng – số yêu thích của tôi, có lẽ bởi nó thể hiện tính cách của tôi. Có những số thì to lớn – 23, 667, 1179 – trong khi các số khác lại nhỏ bé như: 6, 13, 581. Có số thì đẹp, như 333, có số lại xấu xí, như 289. Đối với tôi, mọi số đều đặc biệt. Bất kể khi đi đâu hay làm gì các con số luôn thường trực trong suy nghĩ của tôi. Trong một cuộc phỏng vấn với David Letterman ở New York, tôi đã nói với David là anh ấy giống như số 117 – gầy và cao lêu nghêu. Một lần tại quảng trường Times, tôi ngước nhìn lên một tòa nhà chọc trời và cảm thấy bị bao vây bởi những con số chín – con số tôi liên tưởng tới mỗi khi nghĩ tới những vật to lớn. Các nhà khoa học gọi khả năng nhìn các con số có hình, có cảm xúc là đồng giác (một dạng trộn lẫn các giác quan thần kinh), hội chứng này thường tạo ra khả năng nhìn các chữ cái và/hoặc các số dưới dạng màu sắc. Trường hợp của tôi hiếm gặp và phức tạp hơn, tôi nhìn thấy các con số dưới dạng các hình, có màu sắc, có cấu trúc và có chuyển động. Ví dụ, số một thì lấp lánh và sáng trắng giống như có ai đó chiếu ánh sáng ngọn đuốc vào mắt tôi. Số năm như tiếng rền vang của sấm hoặc tiếng sóng biển vỗ vào bờ đá. Số ba mươi bảy thì lổn nhổn như cháo, trong khi số tám mươi chín thì gợi cho tôi về hình ảnh những bông tuyết rơi. 6 Sinh vào ngày xanh Có lẽ trường hợp nổi tiếng nhất mắc hội chứng đồng giác là nhà báo Shereshevsky, một người có trí nhớ phi thường. Nhà tâm lý học người Nga A.R.Luria đã theo dõi trường hợp này trên ba mươi năm từ những năm 1920. “S”, như Luria gọi trong ghi chép của ông cho cuốn sách Trí tuệ của người có trí nhớ phi thường, có trí nhớ hình ảnh tuyệt vời, cho phép anh “nhìn” thấy các từ và các số dưới dạng các hình và màu sắc khác nhau. “S” có thể nhớ một ma trận 50 phần tử ngay lập tức và nhiều năm sau đó sau khi xem xét nó trong vòng ba phút. Luria cho rằng đồng giác là cơ sở cho trí nhớ tức thời và dài hạn đặc biệt của Shereshevsky. Nhờ những trải nghiệm kết hợp các giác quan, từ khi còn là một cậu bé giống như nhân vật Raymond Babbitt tôi đã có khả năng xử lý và tính toán các con số lớn trong đầu một cách dễ dàng. Thực tế nhiều người khác cũng có khả năng như thế (đôi khi họ được gọi là các “máy tính siêu tốc”). Tiến sĩ Darold Treffert, một nhà vật lý trị liệu bang Wisconsin, Hoa Kỳ, một chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu hội chứng bác học, đưa ra một ví dụ, về một người đàn ông mù với “khả năng tính toán phi thường” trong cuốn sách Người phi thường: Khi được hỏi có bao nhiêu hạt ngô trong 64 hộp, trong đó có 1 hạt trong hộp thứ nhất, 2 hạt trong hộp thứ hai, 4 hạt trong hộp thứ ba, 8 hạt trong hộp thứ tư và cứ tiếp tục với quy luật như thế, ông đã ngay lập tức đưa ra đáp án cho hộp thứ mười bốn (8.192), cho hộp thứ mười tám (131.072) và cho hộp thứ hai mươi tư (8.388.608) và cho 7 Sinh vào ngày xanh hộp thứ năm mươi tám (140.737.488.355.328) trong 6 giây. Ông cũng đưa ra tổng số hạt trong tất cả 64 hộp (18.446.744.073.709.551.616) một cách chính xác trong sáu mươi lăm giây. Phép tính yêu thích của tôi là lũy thừa. Đó là phép nhân một số với chính nó sau một số lần xác định. Nhân một số với chính nó được gọi là bình phương; ví dụ bình phương của 72 là 72⋅72 = 5.184. Trong đầu tôi, bình phương luôn là hình đối xứng do đó chúng đặc biệt đẹp đối với tôi. Nhân một số với chính nó ba lần được gọi là lập phương hoặc gọi là tam thừa. Lập phương hoặc tam thừa của 51 tương đương với 51⋅51⋅51 = 132.651. Tôi nhìn thấy mỗi kết quả của một phép lũy thừa là một hình riêng biệt trong đầu. Khi các phép toán và kết quả lớn lên, các hình và màu tôi cảm nhận được cũng trở nên phức tạp hơn. Tôi nhìn thấy số ba mươi bảy lũy thừa năm – 37⋅37⋅37⋅37⋅37 = 69.343.957 – là một hình tròn lớn tạo bởi các hình tròn nhỏ chạy theo chiều kim đồng hồ. Khi chia một số cho một số khác, trong đầu tôi nhìn thấy một hình xoắn ốc chạy xuống theo các đường vòng ngày càng rộng hơn, hình xoắn ốc dường như bị cong và oằn đi trong phép chia. Những phép chia khác nhau tạo nên những hình xoắn ốc với kích cỡ và những đường cong khác nhau. Trong tưởng tượng, tôi có thể tính một phép chia như 13⎟97 (0,1340206...) đến một trăm số sau dấu phẩy. Tôi không bao giờ sử dụng giấy bút khi tính toán vì tôi có thể tính nhẩm và nhìn thấy kết quả nhờ hình ảnh đồng giác. Với tôi, điều đó dễ dàng hơn so với việc sử dụng các phương pháp tính toán thông thường được dạy trong các sách giáo khoa ở trường. Khi làm phép tính nhân, tôi nhìn thấy số nhân và số bị nhân dưới dạng các hình phân biệt. Các hình thay đổi hợp lại thành hình thứ ba – tạo nên kết quả 8 Sinh vào ngày xanh đúng. Quá trình tính diễn ra trong giây lát và xảy ra đồng thời. Giống như làm toán mà không cần phải nghĩ. 53 6943 131 Theo minh họa trên, số 53 được nhân với 131. Tôi nhìn thấy số nhân và số bị nhân có hình dạng riêng biệt nằm đối diện nhau. Khoảng không giữa hai hình tạo ra hình thứ ba mà tôi thấy là một số mới: 6.943, là kết quả của phép nhân. Với mỗi phép nhân khác nhau, tôi nhìn thấy các hình khác nhau và có cảm giác hoặc tình cảm khác nhau với mỗi số. Khi tôi nhân một số với số mười một, tôi luôn có cảm giác các con số nhảy xuống đầu mình. Tôi thấy khó nhớ nhất trong các số là số sáu vì tôi thấy nó là những chấm đen nhỏ, không có hình dạng riêng biệt và không có cấu trúc. Tôi thấy nó giống như những kẽ hở hoặc lỗ nhỏ. Tôi có cái nhìn và đôi khi có tình cảm đối với mọi số cho đến 10.000, chúng giống những từ vựng số của riêng tôi. Và giống như các nhà thơ khi lựa chọn từ, tôi thấy sự kết hợp một số số này đẹp hơn sự kết hợp của một số số khác: số một kết hợp tốt với các số tối hơn như số tám và chín, nhưng không tốt lắm với số sáu. Với tôi, một số điện thoại chứa dãy số 189 đẹp hơn nhiều so với số chứa dãy số 116. Cảm giác đồng giác của tôi cũng bị ảnh hưởng. Nếu nhìn thấy một số mà tôi cảm thấy đặc biệt đẹp ở một cửa hàng hoặc trên một biển 9 Sinh vào ngày xanh số xe, tôi cảm thấy rất hào hứng và thoải mái. Ngược lại, nếu các số trông không giống cách tôi nhìn thấy chúng, ví dụ khi nhìn thấy một bảng giá ghi “99£” màu đỏ hoặc xanh lá cây (thay vì màu xanh da trời) tôi cảm thấy không thoải mái và bực bội. Người ta không biết có bao nhiêu người mắc hội chứng đồng giác để có thể giúp họ phát triển lĩnh vực mà họ nổi trội. Một trong những lý do là nhiều người trong số họ, giống như Raymond Babbitt, bị tổn thương nặng nề về trí tuệ và/hoặc thể chất, làm cho họ không thể giải thích được cho người khác làm sao họ có thể làm được điều khác thường như vậy. Tôi may mắn không bị tổn thương nghiêm trọng thường có ở những người có khả năng như mình. Giống như những người mắc phải hội chứng bác học khác, tôi cũng bị tự kỷ. Tôi bị hội chứng Asperger, một dạng tự kỷ nhẹ, cứ 300 người Anh thì có 1 người mắc hội chứng này. Theo một nghiên cứu năm 2001 do Hiệp hội Tự kỷ Anh thực hiện, gần như một nửa người trưởng thành mắc hội chứng Asperger không được phát hiện cho đến mười sáu tuổi. Cuối cùng, sau các bài kiểm tra và phỏng vấn tại Trung tâm Nghiên cứu Tự kỷ Cambridge, tôi được phát hiện mắc hội chứng này ở tuổi hai mươi lăm. Tự kỷ, trong đó có hội chứng Asperger, được xác định bởi những thiếu hụt ảnh hưởng đến tương tác xã hội, liên lạc và trí tưởng tượng (ví dụ, có vấn đề với sự vật trừu tượng, linh động trong suy nghĩ và sự thông cảm). Chẩn đoán tự kỷ không dễ. Không thể phát hiện chứng tự kỷ bằng cách thử máu hoặc chụp não; các bác sĩ phải quan sát hành động và nghiên cứu quá trình phát triển của bệnh nhân từ khi còn nhỏ. Một người mắc chứng Asperger thường có khả năng ngôn ngữ tốt và có khả năng sống tương đối bình thường. Nhiều người thậm chí có chỉ số IQ cao hơn mức trung bình và xuất sắc trong một vài lĩnh vực liên quan đến 10 Sinh vào ngày xanh lôgic hoặc tư duy bằng hình ảnh. Cũng giống như các dạng tự kỷ khác, Asperger là một bệnh tác động đến nam nhiều hơn nữ (khoảng 80% người mắc chứng tự kỷ và 90% người bị chứng Asperger là đàn ông). Khả năng tập trung cao độ của người tự kỷ giúp họ có thể phân tích chi tiết, xác định được các quy luật và mẫu trong các hệ thống. Những người tự kỷ thường có khả năng đặc biệt liên quan đến trí nhớ, con số và toán học. Người ta không biết chắc chắn nguyên nhân nào gây ra tự kỷ, dù biết đó là căn bệnh bẩm sinh. Từ khi có thể nhớ được, tôi thấy các con số dưới dạng hình ảnh. Chúng là ngôn ngữ đầu tiên của tôi. Thứ ngôn ngữ mà tôi thường nghĩ đến. Tôi không hiểu lắm thế nào là cảm xúc và phải phản ứng với nó làm sao. Do đó, tôi thường sử dụng các con số để giúp mình. Nếu một người bạn than rằng anh ấy cảm thấy buồn chán, tôi hình dung mình đang ngồi trong một khoảng tối của số sáu. Cách tư duy như vậy giúp tôi hiểu và trải nghiệm được những loại cảm xúc như thế. Nếu đọc một bài báo về một người cảm thấy bực bội một điều gì đó, tôi tưởng tượng mình đứng cạnh số chín. Khi ai đó nói rằng họ đến thăm một nơi tươi đẹp, tôi tưởng tượng về những cảnh đẹp tạo nên bởi những con số và hồi tưởng về cảm giác hạnh phúc khi thấy cảnh đó. Bằng cách đó, thực tế các con số đã giúp tôi tiến gần hơn đến việc hiểu người khác. Đôi khi, lần đầu tiên gặp một ai đó, ngay lập tức họ gợi cho tôi nghĩ đến một số xác định. Điều đó giúp tôi cảm thấy thoải mái khi bên họ. Người đó có thể rất cao làm tôi nhớ đến số chín hoặc béo làm tôi liên tưởng đến số ba. Tôi sẽ đếm nhẩm nếu cảm thấy không vui, lo âu hoặc đối mặt với trường hợp mà tôi chưa từng trải qua (khi cảm thấy căng thẳng và không thoải mái). Khi đếm, các số trong tâm trí tôi hình thành nên các hình ảnh và hoa văn một cách hài hòa tạo nên 11 Sinh vào ngày xanh cảm giác an toàn. Do đó, tôi có thể thư giãn và phản ứng lại với bất kỳ tình huống nào gặp phải. Nghĩ về lịch luôn làm cho tôi cảm thấy thoải mái vì ở đó ta có thể tìm thấy cả các con số và hoa văn cùng một chỗ. Mỗi ngày trong tuần gợi cho tôi về một màu và tình cảm khác nhau: thứ Ba có màu ấm, trong khi thứ Năm lại mờ nhạt. Tính toán lịch – khả năng chỉ ra ngày nào đó đã hoặc sẽ rơi vào thứ mấy trong tuần – là khả năng có ở rất nhiều người mắc hội chứng bác học. Tôi nghĩ điều này có thể do thực tế là ngày tháng tuân theo quy luật có thể dự đoán được và chúng tạo nên các họa tiết khác nhau. Ví dụ, ngày thứ mười ba trong tháng luôn luôn rơi vào ngày trước ngày đầu tháng hai ngày bất kể nó rơi vào thứ nào, hơn nữa nhiều tháng có đặc điểm giống nhau như tháng Giêng và tháng Mười, tháng Chín và tháng Mười hai và tháng Hai và tháng Ba (ngày đầu tiên của tháng Giêng trùng với ngày đầu tiên của tháng Mười). Do đó, nếu ngày đầu tiên của tháng Giêng trong một năm nào đó rơi vào thứ Năm có cấu trúc mờ nhạt trong đầu tôi thì ngày mười ba tháng Mười sẽ rơi vào thứ Ba và là một ngày có màu ấm áp. Trong cuốn sách Người đàn ông nhầm vợ mình với một cái mũ, nhà văn, nhà thần kinh học Oliver Sacks lấy ví dụ về những người mắc hội chứng bác học có khả năng tính lịch, ông đã đề cập đến một trường hợp hai anh em sinh đôi bị tự kỷ nặng là John và Michael. Mặc dù không thể chăm sóc được chính bản thân họ (họ đã được đưa đến nhiều viện nghiên cứu từ khi lên bảy) nhưng cặp song sinh này có thể chỉ ra thứ trong tuần cho bất kỳ ngày nào trong giới hạn 40.000 năm. Sacks mô tả, John và Michael có thể thích thú với trò chơi mỗi người lần lượt nói ra một số nguyên tố trong hàng giờ liền. Cũng giống như cặp song sinh này, tôi luôn bị lôi cuốn bởi các số nguyên tố. Tôi thấy mỗi số nguyên tố là một hình nhẵn nhụi và có cấu trúc, khác với các hợp số (không phải là số nguyên tố) thường gai góc và khó phân biệt. 12 Sinh vào ngày xanh Mỗi khi xác định một số là số nguyên tố, một cảm giác khác lạ dâng trào trong đầu tôi (ở phần trung tâm phía trước) khó diễn tả thành lời. Đó là một cảm giác đặc biệt, giống như khi bị chích bởi một cái kim hay đinh. Thỉnh thoảng, tôi nhắm mắt lại và tưởng tượng về tập hợp ba mươi, năm mươi hay một trăm số đầu tiên như tôi thấy chúng trong không gian một cách đồng giác. Sau đó, tôi thấy các số nguyên tố nổi lên, đẹp và đặc biệt nhờ vào hình dạng khác biệt của chúng so với các số khác. Vì lý do này mà tôi luôn ngắm nhìn, ngắm nhìn và lại ngắm nhìn chúng; giữa số nguyên tố cũng có sự khác biệt rõ rệt. Sự khác biệt của các số nguyên tố so với các số khác làm tôi có thể phân biệt chúng một cách dễ dàng và chúng trở nên rất thú vị với tôi. Có những khoảnh khắc, khi chìm vào giấc ngủ, tâm trí tôi đột nhiên bị choán đầy bởi ánh sáng và thứ duy nhất tôi có thể nhìn thấy được là các con số – có hàng trăm, hàng nghìn số – trôi nhanh qua mắt tôi. Điều đó thật đẹp và ấn tượng. Nhiều đêm khó ngủ, tôi tưởng tượng mình đang đi bộ trước một quang cảnh được tạo nên từ các con số. Bằng cách đó tôi cảm thấy an toàn và vui vẻ. Tôi không bao giờ cảm thấy bị lạc trong các cảnh tượng đó vì có các số nguyên tố ở đó giống như những cột mốc. Các nhà toán học cũng vậy, họ dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về các số nguyên tố, một phần vì không có phương pháp nào nhanh hoặc đơn giản để có thể kiểm tra một số xem có phải là số nguyên tố hay không. Phương pháp hiệu quả nhất gọi là Cái sàng của Eratosthenes đặt theo tên một học giả người Hy Lạp, Eratosthenes – công dân của thành phố Cyrene. Phương pháp sàng được thực hiện như sau: viết những số bạn muốn thử, ví dụ từ 1 đến 100. Bắt đầu với số 2 (vì 1 không phải là số nguyên tố cũng không phải hợp số), gạch hết các số chia hết cho 2 như: 4, 6, 8... cho đến 100. Sau đó chuyển 13 Sinh vào ngày xanh sang số 3, gạch các số chia hết cho 3 như: 6, 9, 12... sau đó chuyển đến số 5, gạch hết các số chia hết cho 5 như: 10, 15, 20... và cứ như thế cho đến khi chỉ còn lại một vài số không bao giờ bị gạch: 2, 3, 5, 7, 11, 13, 17, 19, 23, 29, 31... Các số này là các số nguyên tố; thành phần xây dựng nên thế giới số của tôi. Đồng giác cũng ảnh hưởng đến việc lĩnh hội từ và ngôn ngữ của tôi. Ví dụ, từ “cái thang” có đặc tính xanh và tỏa sáng, còn “cái vòng” lại mềm và trắng. Điều đó cũng xảy ra khi tôi đọc các từ trong ngôn ngữ khác như: jardin, từ tiếng Pháp có nghĩa là vườn, có màu vàng nhạt trong khi từ hnugginn – tiếng Iceland có nghĩa là “buồn” – thì trắng và có nhiều đốm nhỏ xanh. Các nhà nghiên cứu đồng giác cho rằng màu của từ có xu hướng lấy màu của chữ cái đầu tạo nên từ đó. Nhìn chung, điều này đúng đối với tôi: sữa chua (yoghurt) là một từ màu vàng (yellow), video màu tía (có lẽ liên hệ với từ màu tía trong tiếng Anh là violet) và gate (cổng) màu xanh lá cây (green). Tôi có thể biến đổi màu sắc của từ bằng cách thêm vào trước từ đó một chữ cái khác để có một từ mới: at (tại đâu đó) là một từ màu đỏ, nhưng thêm chữ h thành chữ hat (cái mũ) sẽ trở thành một từ màu trắng. Nếu sau đó thêm chữ t thành từ that (đại từ chỉ định: kia), màu của từ này lại là màu da cam. Không phải tất cả các từ bắt đầu bởi cùng một chữ cái đều có màu giống nhau, ví dụ như mọi chữ bắt đầu bằng chữ a 14 Sinh vào ngày xanh không phải luôn luôn là màu đỏ, hay mọi chữ bắt đầu bằng w đều là màu xanh đậm. Một số từ phù hợp hoàn toàn với những thứ chúng mô tả. Ví dụ, quả mâm xôi (raspberry) là một từ màu đỏ (red) và đó cũng là một loại hoa quả màu đỏ, cỏ (grass) và kính (glass) là các từ màu xanh mô tả những thứ màu xanh. Từ bắt đầu bằng chữ t thì luôn là màu da cam giống như hoa tulip hoặc con hổ (tiger) hoặc cây (tree) vào mùa thu, khi lá chuyển sang màu vàng. Ngược lại, có nhiều từ không phù hợp với những thứ mà chúng mô tả: con ngỗng trắng (geese) là từ màu xanh, nhưng ngỗng lại có màu trắng (đối với tôi có lẽ thay từ này bằng từ heese sẽ phù hợp hơn), từ white (trắng) lại có màu xanh, trong khi orange (màu cam) lại trong và sáng như pha lê. Four (số bốn) là một từ màu xanh nhưng đối với tôi nó lại là một số được cấu tạo bởi các điểm. Màu rượu vang (một từ màu xanh) được mô tả tốt hơn trong tiếng Pháp vin, có màu tía. Nhìn các từ với màu sắc và cấu trúc khác nhau giúp tôi nhớ tốt hơn về các tên và sự kiện. Ví dụ, tôi nhớ tay đua chiến thắng mỗi chặng trong giải Tour de France thì đoạt áo vàng (yellow jersey) chứ không phải xanh lá cây, đỏ hay xanh da trời, vì từ jersey (áo) với tôi có màu vàng tối. Cũng giống như vậy, tôi có thể nhớ cờ của Phần Lan (Finland) có chữ thập xanh (trên nền trắng) vì từ Finland có màu xanh (giống như tất cả các từ bắt đầu bằng chữ f). Khi lần đầu tiên gặp ai đó, tôi thường nhớ tên họ nhờ màu sắc tên của họ: Richards màu đỏ, Johns màu vàng và Henrys màu trắng. Đồng giác cũng giúp tôi học ngoại ngữ một cách nhanh chóng và dễ dàng. Hiện tại tôi biết mười ngoại ngữ: tiếng Anh (tiếng mẹ đẻ), Phần Lan, Pháp, Đức, Lithuan, Quốc tế ngữ (Esperanto), Tây Ban Nha, Rumani, Iceland và xứ Wales. Liên hệ màu sắc và cảm xúc khác nhau của mỗi từ với ý nghĩa của nó giúp tôi có thể sử dụng chúng tốt hơn. Ví dụ, một từ trong 15 Sinh vào ngày xanh tiếng Phần Lan tuli có màu đỏ tối và nó có nghĩa là lửa. Khi đọc hoặc nghĩ về từ này tôi nhìn thấy màu đỏ trong đầu và do đó ngay lập tức gợi ra nghĩa của từ. Một ví dụ khác là từ gweilgi trong tiếng của xứ Wales có màu xanh lá cây và xanh đậm và có nghĩa là biển. Tôi nghĩ đây là một từ rất hợp để mô tả màu nước biển. Tiếp nữa, một từ trong tiếng Iceland rôkkur có nghĩa là lấp lánh hoặc mờ mờ. Đó là một từ đỏ thẫm và khi nhìn từ này tôi nghĩ về một buổi hoàng hôn đỏ. Tôi nhớ, khi còn là một đứa trẻ, một lần đến thư viện, tôi đã dành hàng tiếng đồng hồ xem hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, cố gắng một cách vô vọng để tìm ra cuốn nào đó có tên mình. Vì có quá nhiều sách trong thư viện, với rất nhiều tên khác nhau, cuối cùng, tôi tự cho là một trong các cuốn sách – có thể ở đâu đó – có tên tôi. Hồi đó, tôi không biết rằng tên một người xuất hiện trên một cuốn sách vì họ đã viết ra nó. Bây giờ, khi hai mươi sáu tuổi tôi đã hiểu rõ hơn việc này. Nếu muốn tìm cuốn sách của mình thì mình phải viết ra nó trước đã. Viết về cuộc đời của mình là cơ hội nhìn lại quãng đời tôi đã đi qua, và lần lại những ngã rẽ cuộc đời đến nay của mình. Nếu mười năm trước, ai đó nói với cha mẹ tôi rằng: tôi có thể sống hoàn toàn độc lập, có tình yêu và sự nghiệp, tôi nghĩ cha mẹ sẽ không tin điều đó và ngay chính bản thân mình tôi cũng không tin. Cuốn sách này kể cho bạn biết, tôi đã đạt được những thứ đó như thế nào. Steven, em trai tôi, gần đây cũng được chẩn đoán bị tự kỷ dạng hoạt động cao như tôi. Ở tuổi mười chín, nó đang phải trải qua rất nhiều thử thách mà tôi đã từng trải qua, từ những nỗi hoang mang, cảm giác cô đơn và sự lo lắng bất định. Khi tôi còn là một đứa trẻ, các bác sĩ chưa biết về hội chứng Asperger cho đến tận năm 1994, do đó trong nhiều năm tôi lớn lên mà không hiểu tại sao mình lại khác biệt 16 Sinh vào ngày xanh so với bạn bè cùng trang lứa và thế giới quanh mình. Viết về những trải nghiệm của mình là một người tự kỷ, tôi hy vọng có thể giúp các bạn trẻ khác bị tự kỷ dạng hoạt động cao, giống như Steven, cảm thấy đỡ bị cô lập hơn và tự tin vào những kiến thức, cuối cùng có thể giúp họ có được một cuộc sống hạnh phúc và hiệu quả. Tôi sống để khẳng định điều đó. 17 Sinh vào ngày xanh 2 Thời thơ ấu ĐÓ LÀ MỘT BUỔI SÁNG THÁNG GIÊNG, rét cắt da cắt thịt tại phía Đông London. Mẹ tôi, Jennifer đang mang bầu tôi nặng nề, ngồi yên lặng nhìn ra ngoài khung cửa sổ lớn duy nhất trong căn phòng, dưới kia, con đường phủ đầy tuyết, trắng trời. Cha tôi, một người luôn dậy sớm, bước vào nhà với một tờ nhật báo mới mua ngoài sạp, rất ngạc nhiên khi thấy mẹ tôi đã thức dậy. Lo lắng có chuyện gì đó xảy ra, cha lặng lẽ lại gần nắm tay mẹ. Mẹ dường như vẫn mệt mỏi, giống vài tuần qua, lặng lẽ với cái nhìn thờ ơ. Từ từ mẹ quay về phía cha, khuôn mặt đầy xúc động trong khi tay vẫn ôm nhẹ quanh bụng, mẹ nói: “Cho dù có điều gì xảy ra đi nữa, chúng ta sẽ vẫn yêu nó, chỉ yêu nó thôi anh nhé”. Mẹ bắt đầu khóc, cha siết chặt tay mẹ, gật nhẹ. Khi còn là một đứa trẻ, mẹ đã luôn coi mình là một người ngoài gia đình; mẹ vẫn nhớ hồi còn nhỏ, các anh trai của mẹ đã quá lớn nên không thể cùng chơi với mẹ (họ đã rời nhà từ khi mẹ vẫn còn đang bé xíu) còn cha mẹ thì nghiêm khắc và không gần gũi. Không nghi ngờ gì, mọi người yêu mẹ nhưng mẹ không cảm nhận được điều đó. Những hồi ức tuổi thơ đầy cảm xúc lẫn lộn vẫn còn ám ảnh thường trực sau ba mươi năm. 18 Sinh vào ngày xanh Ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên, cha đã dành hết tình cảm cho mẹ, đầu tiên là quen nhau qua những người bạn chung sau đó là những buổi hẹn hò lãng mạn, cuối cùng họ quyết định sống chung với nhau. Cha không có nhiều thứ dành cho mẹ, ngoài sự tận tâm, ông nghĩ thế. Khi còn trẻ, cha đã một mình nuôi dạy các em khôn lớn, bà nội đã ly dị ông nội và luôn làm việc xa nhà dài hạn. Mười tuổi, cha phải đảm nhiệm việc chăm sóc các em khi cả gia đình phải chuyển đến khu nhà dành cho người vô gia cư. Cha không có nhiều thời gian cho việc học hành ở trường lớp cũng như những mong muốn, ước mơ tuổi thơ. Sau này nhớ lại, những ngày gặp mẹ tôi là những ngày hạnh phúc nhất cuộc đời ông. Mặc dù ở những hoàn cảnh rất khác nhau nhưng cha mẹ đã dành cho nhau tình cảm đặc biệt nhất và vượt lên mọi khó khăn, cha mẹ không mong gì hơn dành những điều tốt đẹp nhất cho tôi. Một vài ngày sau cuộc nói chuyện đầy xúc động, mẹ tôi lại tiếp tục đi làm. Tối hôm đó khi cha trở về nhà, cha thấy mẹ đang vật lộn với cơn đau. Mẹ đã đợi cha, sợ hãi khi nghĩ phải đến bệnh viện một mình mà không có cha bên cạnh. Cha gọi xe cấp cứu, quần áo vẫn nồng mùi dầu mỡ từ xưởng thép, nơi cha làm việc, ông đến bệnh viện cùng mẹ. Ca đẻ diễn ra nhanh chóng và tôi chào đời với cân nặng dưới 2,7 kg. Người ta nói rằng sự ra đời của một đứa trẻ làm thay đổi mọi thứ, và chắc chắn sự ra đời của tôi đã làm thay đổi cuộc đời cha mẹ tôi mãi mãi. Tôi là đứa con đầu lòng, vì thế, một cách tự nhiên cha mẹ hy vọng rất nhiều vào tương lai của tôi, thậm chí trước khi sinh tôi. Mẹ đã dành cả tháng say sưa chuẩn bị cho ngày sinh nhật đầu tiên của tôi, số tạp chí về chăm sóc trẻ mà bà tìm hiểu đã chồng lên thành hàng đống và cha mẹ đã dành dụm tiền để mua cho tôi một cái nôi. Tuy thế những ngày đầu cùng với tôi ở bệnh viện không giống như trong tưởng tượng của mẹ. Tôi đã khóc liên tục hàng giờ liền. Dù mẹ 19 Sinh vào ngày xanh có làm gì đi nữa như ôm tôi vào lòng vỗ về, vuốt ve tôi nhẹ nhàng; tôi vẫn khóc, khóc và khóc. Nhà tôi chật hẹp vì thế tôi được đặt ngủ trong một cái nôi ở góc phòng ngủ đơn sơ, giản dị. Sau khi trở về từ bệnh viện cha mẹ mới ngỡ ra, không thể để tôi trong phòng ngủ được; tôi không ngủ và khóc không ngừng. Tôi bú mẹ cho đến mười tám tháng; không thể ít hơn vì đó là một trong rất ít cách có thể làm tôi im lặng. Bú mẹ được biết từ lâu là tốt cho trẻ nhỏ, giúp tăng cường phát triển nhận thức, các khả năng cảm nhận cũng như hệ miễn dịch của trẻ. Cho trẻ bú có lợi cho sự phát triển cảm xúc của trẻ mắc bệnh tự kỷ, đặc biệt tạo nên cơ hội tiếp xúc về thể chất và tình cảm giữa người mẹ và đứa trẻ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ tự kỷ được bú mẹ có phản ứng, thích nghi xã hội tốt hơn và dễ gần hơn trẻ không được bú mẹ. Một phương pháp khác cha mẹ nghĩ ra để dỗ tôi nín là đem lại cho tôi cảm giác chuyển động. Cha thường xuyên đung đưa tôi trong tay, có lúc kéo dài hàng tiếng đồng hồ. Cha thường ăn bằng một tay, tay kia ôm tôi và lắc nhẹ. Sau khi nghỉ làm cha thường cho tôi vào một cái xe đẩy và đẩy tôi trên một quãng đường dài, thường vào buổi sáng. Cứ mỗi khi xe đẩy dừng lại là tôi lại bắt đầu kêu gào. Nhanh chóng sau đó, bất kể ngày hay đêm cha mẹ đã có thể giải quyết các trận khóc của tôi. Chắc tôi đã làm họ điên đầu. Trong tuyệt vọng cha mẹ thường đặt tôi vào một cái chăn, cha nắm một đầu, mẹ nắm đầu còn lại, đung đưa qua lại làm tôi yên lặng. Mùa hè đó, cha mẹ làm lễ rửa tội cho tôi. Mặc dù cha mẹ không phải người theo đạo, tôi là con đầu và vì thế cha mẹ làm lễ. Tất cả họ hàng, bạn bè và hàng xóm đều đến dự. Ngày hôm đó thời tiết ấm áp, bầu trời trong xanh. Nhưng khi buổi lễ bắt đầu tôi đã khóc và khóc, làm hỏng cả buổi lễ. Hôm đó cha mẹ tôi cảm thấy thực sự khó xử. Ông bà ngoại đến thăm chúng tôi và họ rất băn khoăn tại sao tôi 20 Sinh vào ngày xanh lại có thể là một đứa bé khó tính đến thế. Ông bà khuyên không nên bế tôi lên khi bắt đầu khóc. Họ nói: “Nó sẽ nhanh chóng nín thôi”. Nhưng khi mẹ làm theo lời khuyên của ông bà thì tôi lại khóc ngày càng to hơn. Cha mẹ phải gọi bác sĩ nhiều lần, nhưng lần nào ông ấy cũng nói tôi bị đau bụng và tôi sẽ đỡ hơn sớm thôi. Đau bụng thường được gán cho các triệu chứng “khóc không rõ nguyên nhân” khi trẻ khóc dài hơn và to hơn so với mức bình thường và khó dỗ nín. Cứ năm đứa trẻ thì có một rơi vào tình trạng như vậy. Các bác sĩ và các nhà khoa học đã cố gắng nhiều thập kỷ tìm nguyên nhân gây ra hiện tượng khóc liên tục của trẻ. Quan điểm gần đây cho rằng hầu hết các dạng đau bụng liên quan đến sự trưởng thành và thần kinh, sinh ra từ não, hơn là – như nhiều bậc cha mẹ vẫn tưởng – do hệ tiêu hóa. Ví dụ, những trẻ bị chứng đau bụng có xu hướng nhạy cảm một cách bất thường với những kích thích bên ngoài và dường như dễ bị tổn thương hơn với những tác động mạnh vào các giác quan. Khoảng thời gian khóc liên tục của tôi – kéo dài trong vòng một năm – là bất thường, thậm chí so với những đứa trẻ mắc chứng đau bụng không rõ nguyên nhân. Gần đây, các nhà nghiên cứu sự phát triển của trẻ với tiền sử khóc kéo dài ở thời thơ ấu cho rằng đó là tín hiệu về những vấn đề hành xử trong tương lai. So sánh những đứa trẻ khóc bình thường, ở tuổi thứ năm, với những đứa khóc liên tục có sự phối hợp tay và mắt kém hơn và thường có thiên hướng hiếu động thái quá hoặc ngỗ nghịch. Thật may mắn, sự phát triển của tôi bình thường ở các khía cạnh khác: tôi bắt đầu đi và nói không lâu sau sinh nhật thứ nhất. Một trong những tiêu chuẩn để chẩn đoán Asperger là chậm phát triển ngôn ngữ (những dạng tự kỷ nặng hơn, ngôn ngữ có thể chậm phát triển một cách đáng kể thậm chí không tồn tại). 21 Sinh vào ngày xanh Sau đó tôi bị viêm tai và phải tiêm kháng sinh. Sự khó chịu do viêm tai kéo dài khiến tôi vẫn là một đứa bé cáu kỉnh, ốm yếu và hay khóc cho đến hai tuổi. Suốt khoảng thời gian đó mặc dù thường xuyên kiệt sức nhưng hàng ngày cha mẹ vẫn tiếp tục đung đưa tôi trong chăn hoặc lắc lư tôi trong vòng tay. Và tiếp nữa, cùng với bệnh tật và những trận khóc lóc liên tục của tôi, mẹ phát hiện có bầu đứa em thứ hai. Cha mẹ xin chính quyền địa phương chuyển đến một căn hộ rộng hơn và sau đó chúng tôi chuyển đến một căn hộ ngay gần đó. Em trai tôi tên Lee, sinh vào ngày Chủ nhật, tháng Năm và em hoàn toàn đối lập với tôi: vui vẻ, điềm tĩnh và không ồn ào. Sự ra đời của em chắc hẳn là một sự khuây khỏa lớn đối với cha mẹ tôi. Tuy nhiên, lối hành xử của tôi vẫn không cải thiện. Đến hai tuổi, tôi thường đập đầu vào một vị trí nhất định trên tường trong phòng khách. Tôi cúi đầu về trước và đập trán vào tường liên tục nhịp nhàng, đều đều. Thỉnh thoảng đập mạnh quá đến mức đầu bầm tím. Cha thường xuyên kéo tôi ra khỏi tường mỗi lần ông nghe thấy tiếng đập quen thuộc, nhưng sau đó tôi lại chạy trở lại và đập tiếp. Một lần khác, trong một cơn giận dữ tôi lấy tay đập vào đầu liên tục và gào tướng lên hết sức có thể. Cha mẹ mời bác sĩ đến khám cho tôi. Bà ấy đảm bảo với cha mẹ rằng đập đầu là cách mà trẻ làm dịu đau đớn. Bà cho rằng tôi đang nản lòng và bị khuấy động, bà cũng hứa sẽ giúp gia đình tìm một suất cho tôi vào nhà trẻ của khu. Lúc đó tôi hai tuổi rưỡi. Sau vài tuần, cha mẹ rất vui khi nhận một cuộc điện thoại thông báo đã nhận tôi vào nhà trẻ. Với đứa con thứ hai, cha mẹ phải điều chỉnh công việc hàng ngày mà họ đã làm cùng nhau hơn hai năm qua. Nhà trẻ trở thành một phần quan trọng của sự thay đổi đó. Bây giờ cha mẹ không phải cả 22 Sinh vào ngày xanh ngày quanh quẩn bên tôi. Tôi luôn ngủ chập chờn, thức dậy vài lần trong đêm và luôn luôn thức dậy rất sớm vào buổi sáng. Bữa sáng, cha cho tôi ăn, giặt giũ rồi thay quần áo cho tôi, trong khi mẹ lo cho Lee. Đường đến nhà trẻ dài khoảng một dặm và khá quanh co, đi qua nghĩa trang Quaker, nơi an nghỉ của nhà cải cách, tù nhân thế kỷ mười chín Elizabeth Fry, qua những dãy nhà to, rộng, rồi đến một cái cổng tò vò dẫn đến con đường nhỏ và nhiều góc phố. Nhà trẻ là trải nghiệm đầu tiên về thế giới bên ngoài của tôi. Hồi ức về thời gian đó rất ít nhưng mạnh mẽ như các mảnh vỡ sắc nhọn của ánh sáng đâm xuyên màn sương thời gian. Trong nhà trẻ có một bãi cát cho chúng tôi chơi, tôi thường nghịch cát ở đó rất lâu, những hạt cát lấp lánh hấp dẫn tôi. Sau đó là nỗi ám ảnh về đồng hồ cát (nhà trẻ có một vài cái với kích cỡ khác nhau), tôi nhớ đã nhìn dòng cát chảy lặp đi lặp lại mà quên đi sự có mặt của những đứa trẻ khác chạy nhảy xung quanh mình. Cha mẹ nói tôi là người cô đơn, không hòa nhập với những đứa trẻ khác và các cô bảo mẫu nói tôi bị cuốn vào thế giới riêng của mình. Sự khác biệt của tôi giữa những năm đầu tiên và thời gian này khá sâu sắc, thay đổi từ một đứa trẻ hay la hét, khóc lóc, đập đầu vào tường thành một đứa trẻ yên lặng, mải mê với những suy tư của riêng mình, tách biệt với mọi người xung quanh. Sau này cha mẹ mới nhận ra, sự thay đổi đó không thực sự là tín hiệu của sự tiến bộ. Tôi trở nên quá tốt – quá yên lặng và dễ thỏa mãn. Tự kỷ, một sự rối loạn phát triển phức tạp, ít được biết đến trong xã hội tại thời điểm đó và cách hành xử của tôi không phải hành xử tiêu biểu của một đứa trẻ tự kỷ – tôi không lắc người liên tục, tôi có thể nói và chỉ ra ít nhất một vài khả năng tương tác với môi trường xung quanh. Phải một thập kỷ sau đó giới y học và dần dần công chúng mới biết về tự kỷ hoạt động cao, bao gồm Asperger. 23 Sinh vào ngày xanh Còn một điều nữa, cha mẹ không muốn nhìn thẳng vào sự thật về tôi để luôn đem lại cảm giác cố gắng kéo tôi trở về với cuộc sống bình thường bằng mọi giá. Hơn tất cả mọi thứ trên đời, cha mẹ luôn mong tôi được hạnh phúc, mạnh khỏe và có thể sống một cuộc sống “bình thường”. Khi những người bạn, họ hàng và hàng xóm hỏi về tôi, cha mẹ chỉ nói rằng tôi rất “nhút nhát” và “nhạy cảm”. Nhưng tôi nghĩ, cha mẹ cũng lo sợ hành xử của tôi có thể là biểu hiện không bình thường của sự phát triển. Một ký ức khác về những tháng đầu tiên đi nhà trẻ đó là các họa tiết khác nhau trên sàn nhà trẻ – một số trên chiếu, còn lại trên thảm. Tôi nhớ mình bước đi chậm rãi, đầu cúi gằm, mắt nhìn xuống chân khi bước đi quanh các khu khác nhau của sàn, lắng nghe những cảm xúc trong tâm hồn. Đầu luôn cúi khi bước, thỉnh thoảng húc vào những đứa trẻ khác hoặc các cô bảo mẫu, nhưng vì tôi di chuyển rất chậm nên va chạm xảy ra nhẹ, tôi tránh ra một chút rồi tiếp tục bước đi mà không chú ý đến điều gì vừa diễn ra. Khi thời tiết ấm và khô, các cô bảo mẫu cho chúng tôi chơi ở một sân nhỏ bên cạnh nhà trẻ. Ở đó có một cầu trượt, một vài cái đu quay và lác đác một số đồ chơi trên cỏ: những quả bóng màu sặc sỡ và một số đồ chơi khi gõ phát ra tiếng kêu. Bao giờ cũng thế, luôn có những tấm nệm đặt dưới cầu trượt và đu quay để phòng trường hợp trẻ bị ngã. Tôi thích thú đi chân đất trên những tấm nệm này. Những ngày trời nóng chân tôi ướt mồ hôi và bị dính vào nệm, tôi cứ nâng chân lên rồi đặt chân xuống để có cảm giác dính ở lòng bàn chân. Những đứa trẻ khác không để lại ấn tượng gì trong tôi. Tôi không nhớ một tí gì về chúng. Đối với tôi, chúng chỉ là nền cho những trải nghiệm hình ảnh và cảm giác của mình. Tôi không có một chút cảm giác nào về những hoạt động vui chơi hồi đó. Hình như những nhân viên của nhà trẻ đã không cố gắng cải thiện hành xử bất thường của 24 Sinh vào ngày xanh tôi, bởi vì họ không bao giờ thử ép tôi chơi với những đứa trẻ khác. Có lẽ họ hy vọng rằng tôi sẽ có thể tự thích nghi với những đứa trẻ xung quanh và chơi với chúng, nhưng tôi không bao giờ thực hiện điều đó. Cha luôn đưa tôi đến nhà trẻ và thỉnh thoảng đón về. Từ nhà máy đến nhà trẻ, cha thường vẫn mặc quần áo làm việc. Cha không hề ngại ngùng vì điều đó. Cha hẳn phải là một người đàn ông có nhiều tài. Sau khi trở về nhà, cha thay quần áo và bắt tay vào việc nấu ăn. Việc nấu nướng trong nhà chủ yếu là do cha làm; tôi nghĩ điều đó giúp cha thư giãn. Tôi là một người rất kén ăn, hầu như tôi chỉ ăn ngũ cốc, bánh mỳ và sữa. Cha mẹ tôi rất vất vả để bắt tôi ăn phần rau của mình. Giờ đi ngủ cũng luôn là một cuộc chiến – tôi thường chạy quanh hoặc nhảy lên nhảy xuống và phải mất rất nhiều thời gian tôi mới yên lặng và ngủ. Tôi chỉ khăng khăng đòi một loại đồ chơi – một con thỏ đỏ nhỏ – ngủ cùng trên giường. Thỉnh thoảng tôi không ngủ một tí nào và khóc cho đến khi cha mẹ mủi lòng và để cho tôi ngủ cùng với họ. Khi ngủ tôi thường gặp ác mộng. Một ví dụ cho đến bây giờ tôi vẫn gặp phải. Tôi thức dậy sau khi mơ thấy một con rồng khổng lồ đứng cạnh mình. Tôi nhỏ bé so với nó. Giấc mơ đó xảy ra đêm này qua đêm khác. Tôi sợ hãi việc ngủ và sợ bị rồng ăn thịt. Nhưng rồi những giấc mơ đó cũng biến mất đột ngột như khi nó đến. Mặc dù sau đó tôi vẫn gặp những cơn ác mộng nhưng ít hơn và đỡ hãi hùng hơn. Ở một mức độ nào đó, tôi đã chiến thắng rồng. Một buổi sáng trên đường hàng ngày đến nhà trẻ, cha tôi quyết định đi đường khác. Ông rất ngạc nhiên khi tôi bắt đầu gào lên trong xe đẩy. Lúc đó tôi chưa đầy ba tuổi nhưng tôi đã nhớ hết mọi chi tiết của con đường từ nhà đến nhà trẻ. Một phụ nữ đứng tuổi đi qua, dừng lại nhìn vào tôi và nhận xét: “Đứa bé này chắc chắn có cặp phổi rất tốt.” Khó xử, cha tôi quay lại và đi con đường vẫn thường đi. Ngay lập tức tôi nín khóc. 25 Sinh vào ngày xanh Trong thời gian đi nhà trẻ tôi cũng nhớ rất rõ khi quan sát cô bảo mẫu thổi bóng bay. Những đứa trẻ khác dang tay bắt bóng khi bóng bay qua đầu, còn tôi không đưa tay ra để chạm vào chúng mà lại rất ngạc nhiên về hình dạng, chuyển động và ánh sáng phản xạ trên bề mặt ướt và bóng của chúng. Tôi đặc biệt thích thú khi bóng được thổi mạnh tạo nên các quả bóng nhỏ, quả này nối tiếp quả khác thành một chuỗi liên tục một cách nhanh chóng. Ở nhà trẻ và ở nhà, tôi không chơi với nhiều loại đồ chơi khác nhau. Khi cầm đồ chơi, như con thỏ chẳng hạn, tôi thường nắm chặt vào cạnh của chúng và di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Tôi không ôm ấp, vuốt ve hay chơi trò thỏ nhảy múa. Tôi yêu thích trò lấy đồng xu, quay trên sàn và nhìn ngắm nó quay vòng vòng. Tôi chơi đi chơi lại trò này mà không biết chán. Cha mẹ vẫn nhớ tôi ném đi ném lại giày của mẹ xuống sàn vì tôi thích nghe tiếng động do chúng tạo ra. Thậm chí tôi đi giày vào chân và rón rén bước đi quanh phòng để tạo ra âm thanh. Cha mẹ gọi chúng một cách trìu mến đôi giày “lộc cộc” của tôi. Một lần ngồi xe đẩy đi dạo phố với cha, tôi kêu to khi hai cha con đi qua cửa sổ một cửa hàng. Bình thường khi đưa tôi ra ngoài cha mẹ không bao giờ cho tôi vào trong một cửa hàng nào vì trước đây sau một vài lần làm thế tôi đã bật khóc và giận dỗi. Mỗi lần như vậy cha mẹ phải xin lỗi và giải thích với mọi người rằng “nó rất nhạy cảm,” sau đó nhanh chóng rời khỏi cửa hàng. Lần này tiếng khóc của tôi dường như rất khác và kiên quyết. Cha tôi đẩy xe vào trong cửa hàng, cha có thể nhận ra sự nổi bật của bộ sách Mr. Men, màu vàng sặc sỡ của cuốn Mr. Happy và hình tam giác màu tía của cuốn Mr. Rush. Cha lấy một cuốn đưa cho tôi. Tôi không chịu đi vì thế cha mua cuốn sách cho tôi. Ngày hôm sau khi chúng tôi đi qua cửa hàng ấy tôi lại kêu lên. Cha đi vào và mua một cuốn sách khác trong bộ Mr. Men. 26 Sinh vào ngày xanh Điều này nhanh chóng trở thành một thói quen cho đến khi cha tôi mua cho tôi trọn bộ sách đó. Tôi nhanh chóng trở nên không thể tách rời với bộ sách Mr. Men. Mỗi lần đi đâu, tôi nhất định không rời khỏi nhà nếu không được mang theo một trong số chúng. Buổi tối, tôi dành hàng tiếng đồng hồ nằm trên sàn với các cuốn sách trong tay, nhìn các hình vẽ và màu sắc trên các hình minh họa. Cha mẹ vui vẻ để tôi một mình với niềm đam mê các nhân vật của Mr. Men. Dường như đó là lần đầu tiên tôi vui vẻ và yên ắng. Lợi dụng đam mê đó cha mẹ khuyến khích tôi hành xử tốt hơn. Nếu cả ngày tôi không giận dỗi cha mẹ sẽ hứa mua cho tôi một cuốn Mr. Men mới. Cả gia đình chuyển đến ngôi nhà riêng đầu tiên khi tôi bốn tuổi. Căn nhà có hình dáng lạ ở cuối phố Blithbury. Nhà có cầu thang chỉ có thể đi lên được qua một hành lang hẹp kề bên phòng khách. Phòng tắm ở tầng dưới, cách cửa vào một đoạn ngắn. Đôi khi có khách hoặc người nhà của gia đình đến chơi, họ rất ngạc nhiên thấy hơi nóng thoát ra từ phòng tắm vào nhà. Những ký ức của cha mẹ về đường Blithbury không được tích cực lắm. Bếp luôn ẩm ướt và nhà rất lạnh vào mùa đông. Mặc dù điều kiện nhà ở tệ như thế, nhưng chúng tôi lại có những hàng xóm rất tốt bụng, trong đó có một cặp vợ chồng già rất thích Lee và tôi. Họ thường cho chúng tôi kẹo và nước chanh khi chúng tôi chơi trong vườn. Trước nhà có một mảnh vườn. Mỗi cuối tuần cha đều bận rộn với việc chăm sóc nó, không lâu sau khi chuyển đến mảnh vườn đã được phủ đầy khoai tây, cà rốt, đậu, hành, su hào, cà chua, dâu và đại hoàng. Vào các buổi chiều Chủ nhật chúng tôi luôn ăn tráng miệng bằng đại hoàng với sữa trứng. Tôi ở cùng phòng với em trai. Đó là một căn phòng nhỏ vì thế để tiết kiệm không gian chúng tôi ngủ giường tầng. Mặc dù Lee nhỏ hơn 27 Sinh vào ngày xanh tôi hai tuổi nhưng nó lại được bố trí ngủ ở giường trên. Cha mẹ lo tôi có thể thức giấc về đêm và rơi khỏi giường. Tôi không có ấn tượng mạnh về em trai mình và chúng tôi sống mà không ảnh hưởng đến nhau. Lee thường chơi ngoài vườn trong khi tôi chơi trong phòng, chúng tôi rất ít chơi với nhau. Đôi lúc chơi cùng nhau thì cũng không thật sự là chơi – Tôi không bao giờ cảm thấy muốn chia sẻ đồ chơi hay kinh nghiệm với nó. Nghĩ lại, những cảm giác đó giờ đây phần nào đã xa lạ với tôi. Bây giờ tôi đã hiểu thế nào là đồng cảm và chia sẻ. Mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn cảm thấy khó mở lòng và thể hiện bản thân nhưng chắc rằng những cảm xúc đó tồn tại trong tôi. Có lẽ chúng đã luôn ở đó nhưng tôi cần thời gian để có thể tìm thấy và hiểu chúng. Tôi ngày càng trở thành một đứa trẻ trầm lặng, dành hầu hết thời gian ở trong phòng, ngồi một mình trên sàn nhà tại một vị trí xác định, chìm đắm trong yên lặng. Thỉnh thoảng, tôi nhấn ngón tay vào tai để gần hơn với sự tĩnh lặng mà tôi không bao giờ có được trong đầu. Tôi luôn cảm giác có cái gì đó mềm mại chuyển động quanh đầu giống như bị ngưng tụ lại. Khi nhắm mắt lại, tôi hình dung thấy nó mềm và óng ánh như dát bạc. Tôi không phải suy nghĩ để nó hiện lên mà nó xuất hiện một cách tự nhiên. Nếu bất thình lình có tiếng động, như tiếng gõ cửa chẳng hạn, sẽ làm tôi rất khó chịu như bị gây rối. Phòng khách ở tầng dưới luôn có nhiều sách. Cha mẹ đều rất mê đọc sách và tôi vẫn nhớ hình ảnh ngồi nhìn họ với những cuốn sách, báo hoặc tạp chí trong tay. Thỉnh thoảng, khi ngoan, tôi được phép ngồi vào lòng cha mẹ khi đọc. Tôi thích tiếng sột soạt phát ra khi họ giở sách. Sách trở nên rất đặc biệt đối với tôi vì khi cha mẹ đọc sách, căn phòng trở nên yên tĩnh. Điều đó làm cho tôi cảm thấy thanh thản và thoải mái. 28 Sinh vào ngày xanh Tôi bắt đầu tích trữ sách của cha mẹ. Tôi bê từng quyển một trong tay lên phòng mình. Hồi đó lên cầu thang vẫn còn khá khó đối với tôi do đó tôi phải lê từng bậc một. Phải mất vài phút tôi mới có thể trèo lên được vài bậc cầu thang nếu cuốn sách khá nặng hoặc quá lớn. Một vài trong những cuốn sách đó khá cũ và có mùi nước nho ép trước khi lên men. Trong phòng mình, tôi sắp xếp sách thành từng chồng trên sàn cho đến khi chúng bao quanh tôi từ mọi phía. Cha mẹ rất hạn chế vào phòng vì sợ có thể làm đống sách đổ lên tôi. Nếu họ lấy đi bất kỳ cuốn sách nào ngay lập tức tôi bật khóc và giận dỗi. Trên những trang giấy trong những cuốn sách đều có các con số và tôi cảm thấy vui sướng khoanh tròn các số này, như thể mình được bao quanh bởi một cái “chăn số” thoải mái. Tôi có thể đếm rất lâu trước khi có thể đọc. Khi đếm, các con số xuất hiện như những chuyển động hoặc các hình màu trong trí óc của tôi. Một lần đi lên cầu thang hai tay ôm một cuốn sách nặng tôi trượt chân và ngã. Chuyển động ngã dường như lấp đầy trí óc tôi với những chớp sáng đầy màu sắc, giống như tán sắc ánh sáng. Tôi chỉ biết ngồi dưới chân cầu thang, đau và hoa mắt. Tôi không nghĩ đến việc gọi sự giúp đỡ, chỉ ngồi đợi cha chạy lại xem cái gì đã gây ra tiếng động. Tôi rất ít khi nói trừ khi được hỏi. Sau lần đó, cha mẹ bắt đầu giấu những cuốn sách to và nặng, họ sợ tôi có thể ngã và bị thương. Có một công viên ở gần nhà, nên cuối tuần nào chúng tôi cũng đi bộ đến đó. Cha mẹ xé bánh mì để tôi ném cho những con vịt trong công viên. Cha mẹ thường đưa tôi đến công viên vào buổi sáng sớm khi có ít người. Họ biết rằng tôi sợ sự có mặt của nhiều người. Trong khi em trai tôi chạy quanh còn tôi ngồi một mình nhổ những cọng cỏ và bứt những cánh hoa cúc. 29 Sinh vào ngày xanh Tôi thích thú ngồi đánh đu trong công viên. Cha bế, đặt tôi lên đu và đẩy nhẹ. Khi ông mệt và dừng đẩy tôi liền hò “nữa... nữa” cho đến khi ông tiếp tục đẩy lại. Ở công viên cũng có một cái vòng ngựa gỗ, tôi ngồi ở giữa, cha mẹ mỗi người ngồi một bên và nó từ từ chuyển động tròn. Khi vòng ngựa quay tôi nhắm mắt và cười. Nó làm cho tôi cảm thấy thoải mái. Con đường từ công viên trở về nhà thỉnh thoảng rất ồn ào. Nếu có ô tô chạy qua gây ra tiếng động lớn và bất ngờ – như tiếng còi chẳng hạn – tôi liền dừng lại giơ tay và ấn mạnh vào tai. Thường thì tiếng động ảnh hưởng đến tôi vì sự bất ngờ của nó hơn là độ lớn mà nó gây ra. Nó dường như ảnh hưởng đến tôi khá mạnh. Vì điều đó nên tôi rất ghét bóng bay và có thể co rúm lại nếu nhìn thấy ai đó ôm bóng. Tôi sợ rằng nó có thể nổ và tạo ra tiếng động lớn và mãnh liệt. Sau khi chuyển đến đường Blithbury, cho đến tận năm tuổi tôi vẫn tiếp tục học ở nhà trẻ của khu vực có tên là Dorothy Barley, được đặt theo tên của một bà trưởng tu viện thế kỷ mười sáu, người đã sống ở khu vực này dưới triều vua Henry VIII. Các cô bảo mẫu thường cung cấp giấy, chì màu và khuyến khích chúng tôi vẽ và tô màu. Tôi rất thích hoạt động này, mặc dù tôi cảm thấy khó có thể giữ bút giữa những ngón tay do đó nhiều khi tôi giữ bút bằng cả bàn tay. Tôi thích vẽ hình tròn với các kích cỡ khác nhau. Hình tròn là hình yêu thích của tôi, tôi vẽ đi vẽ lại mà không biết chán. Nhà trẻ có một cái hộp ở góc nhà chứa đầy đồ chơi. Tôi yêu thích những hạt màu tìm thấy; tôi giữ chúng trong lòng bàn tay và lắc để xem chúng chuyển động. Nếu được đưa các cuộn bìa cứng để chơi (ví dụ để làm ống nhòm hay kính viễn vọng) tôi liền thả những hạt màu chạy qua các cuộn bìa, tôi bị lôi cuốn bởi chuyển động của các hạt chạy từ đầu này sang đầu kia các cuộn bìa. Nếu có một cái chậu hoặc bình, tôi sẽ cho các hạt màu vào trong, đổ ra và làm đi làm lại nhiều lần. 30 Sinh vào ngày xanh Trên một bức tường của nhà trẻ có một giá sách. Tôi rất thích cuốn Chú sâu bướm đói. Tôi thích những lỗ trên các trang sách và những hình minh họa sáng, tròn trĩnh trong đó. Có một góc đọc gần giá sách ở đó, bọn trẻ chúng tôi ngồi quanh lắng nghe cô bảo mẫu đọc. Trong một lần như vậy, tôi ngồi nghe ở phía sau hai chân bắt chéo, đầu cúi xuống chìm đắm vào thế giới của mình. Tôi không nghe một từ nào cô đọc. Thay vào đó tôi bắt đầu ậm ự mà không nhận ra mình đang làm thế. Khi ngẩng lên đã thấy cô dừng đọc từ khi nào và hết thảy mọi người đều nhìn chăm chú vào tôi. Tôi dừng ậm ừ, cúi đầu trở lại và buổi đọc được tiếp tục. Tôi không nhớ có cảm giác cô đơn ở nhà trẻ, có lẽ vì tôi chìm đắm vào sách, các hạt màu và các hình tròn. Dần dần, cảm giác khác biệt so với những đứa trẻ khác cũng đến với tôi, nhưng vì một lý do nào đó tôi không thấy buồn vì điều đó. Tôi không cảm thấy cần có bạn bè; tôi vui vẻ khi chơi một mình. Khi phải chơi các trò chơi mang tính xã hội như làm nhạc trưởng, tôi từ chối tham gia bất kể sự thuyết phục thế nào đi nữa của các cô bảo mẫu. Tôi sợ những đứa trẻ khác sẽ chạm vào mình khi xô đẩy nhau tranh chỗ ngồi. Thay vào đó, tôi được phép đứng bên một bức tường và quan sát mọi người chơi. Tôi hài lòng miễn là được ở một mình. Mỗi khi trở về từ nhà trẻ, tôi luôn đi ngay lên phòng mình. Khi cảm thấy mệt mỏi hoặc buồn chán tôi chui vào bóng tối gầm giường và nằm đó. Mỗi khi vào phòng xem tôi thế nào cha mẹ gõ cửa nhẹ nhàng. Mẹ luôn gợi cho tôi nói về ngày đi học của mình ở nhà trẻ. Bà muốn khuyến khích tôi nói vì tôi thường rất trầm lặng. Phòng tôi cũng chính là nơi trú ẩn của mình, một không gian riêng nơi mà tôi cảm thấy thoải mái và hạnh phúc nhất. Tôi dành phần lớn thời gian trong ngày trong phòng đến nỗi cha mẹ phải lên ngồi để 31 Sinh vào ngày xanh dành thời gian cho tôi. Họ không bao giờ cảm thấy mất kiên nhẫn với tôi. Bây giờ khi ngồi đây viết về những năm tháng tuổi thơ, tôi ngạc nhiên khi nghĩ cha mẹ đã làm cho tôi không biết bao nhiêu mà kể, thậm chí tại thời điểm đó kết quả nhận được rất ít. Nghe kể về những hồi ức tuổi thơ của mình từ cha mẹ quả thật là những kỷ niệm tuyệt vời; đây cũng là cơ hội để bản thân tôi nhận thức được vai trò của cha mẹ trong việc tạo nên tôi được như ngày hôm nay. Vượt qua tất cả các vấn đề của tôi, tất cả nước mắt, giận dỗi và các khó khăn khác, họ yêu tôi không điều kiện và dành mọi thứ để giúp tôi – từng ít một, ngày này qua ngày khác. Họ là những anh hùng của tôi. 32 Sinh vào ngày xanh 3 Những cơn động kinh CƠN ĐỘNG KINH ĐẦU TIÊN xảy ra khi tôi đang ngồi trên sàn nhà trong phòng khách cùng em trai Lee, còn cha đang nấu bữa tối trong bếp. Lúc đó, tôi mới bốn tuổi. Ở tuổi đó, với tôi cảm giác mất liên lạc hoàn toàn với thế giới xung quanh không có gì là lạ. Nhiều khi tôi hoàn toàn chìm đắm trong thế giới của mình – xem xét cặn kẽ, tỉ mỉ các đường chỉ tay hoặc quan sát sự dịch chuyển bóng của mình khi nghiêng người qua lại, chậm rãi theo nhịp. Nhưng chuyện xảy ra lần này lại hoàn toàn khác, một trải nghiệm không giống với bất kỳ trải nghiệm nào tôi từng có trước đây. Nó diễn ra như thể căn phòng nơi tôi ngồi kéo thân thể tôi ra từ mọi phía, ánh sáng trong phòng rò rỉ ra ngoài, thời gian như ngừng lại và trải ra trong một khoảnh khắc mong manh. Sau đó tôi không biết gì và không thể biết gì ngoài việc biết mình bị hành hạ bởi một cơn động kinh dữ dội. Động kinh là một trong những căn bệnh phổ biến nhất ảnh hưởng đến não – ở Anh có khoảng 300.000 người mắc căn bệnh này. Những cơn động kinh gây ra do nhiễu loạn điện trong não. Người ta chưa hiểu rõ tại sao động kinh xảy ra, chúng bắt đầu và kết thúc như thế nào. Các bác sĩ chưa tìm ra nguyên nhân chính xác gây ra căn bệnh 33 Sinh vào ngày xanh này, nhưng họ cho rằng động kinh có thể gây ra do liên lạc giữa các tế bào thần kinh hoặc cân bằng hóa học trong não có vấn đề. Vài ngày trước khi cơn động kinh đó xảy ra, khi đang nằm trên ghế trường kỷ xem tivi, cha phát hiện thấy mắt tôi nháy nhiều hơn và hai cánh tay căng ra. Ông cảm thấy lo lắng nên gọi bác sĩ đến khám cho tôi. Thời tiết hôm đó nóng, ẩm và bác sĩ cho rằng có lẽ tôi chỉ bị “ốm nhẹ”. Tuy nhiên, ông cũng khuyên cha tôi nên thận trọng và lập tức thông báo cho ông những triệu chứng mới xuất hiện nếu có. Tôi thực may mắn vì có em trai ở bên khi lên cơn động kinh thứ hai. Tôi bị co giật và bất tỉnh. Nghe thấy tiếng Lee khóc, cha liền chạy vào xem chuyện gì xảy ra. Và ngay lập tức, theo bản năng, ông bế tôi lên, chạy ra khỏi nhà đến chỗ những chiếc taxi đậu gần đó. Chui vào chiếc taxi đầu tiên, ông cầu xin người tài xế đưa tôi đến bệnh viện gần nhất – Bệnh viện St George’s – nhanh nhất có thể. Khi chiếc taxi lao trên đường, cha không thể làm gì khác được ngoài việc ôm chặt tôi và cầu nguyện. Mồ hôi đầm đìa, cha chạy thẳng đến khu dành cho trẻ em. Tôi vẫn bất tỉnh và cơn động kinh vẫn tiếp diễn, đây là loại động kinh đe dọa đến tính mạng, xảy ra liên tục và thường kéo dài trên ba mươi phút. Một y tá tại phòng tiếp tân nhận tôi từ tay cha và gọi bác sĩ, ngay lập tức họ tiêm cho tôi một liều valium để ổn định tình trạng. Lúc đó, tôi đã ngừng thở và cơ thể bắt đầu tím dần, các bác sĩ phải tiến hành hô hấp nhân tạo giúp tôi tỉnh lại. Sau khoảng một giờ từ khi cơn động kinh bắt đầu, cuối cùng tôi cũng trở lại bình thường. Kiệt sức vì lo lắng, cha đã òa khóc trong sung sướng khi nghe tôi tỉnh lại. Ông đã phản ứng rất kịp thời để có thể cứu sống tôi. Tôi được chẩn đoán bị động kinh thùy thái dương – thùy nằm trên hai tai. Chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến cảm giác, trí nhớ, thính giác và nhận thức. Những cơn động kinh xảy ra do vùng não bộ này có thể làm suy yếu khả năng nhớ và ảnh hưởng tới tính cách của người bệnh. 34 Sinh vào ngày xanh Tần suất mắc động kinh ở người tự kỷ cao hơn so với người bình thường. Khoảng một phần ba trẻ tự kỷ ở Anh đột phát động kinh thùy thái dương cho đến hết tuổi vị thành niên. Vì lý do này nên người ta cho rằng hai bệnh này có thể có chung nguồn gốc trong não hoặc gen. Trong khi khám, tôi được đưa đi kiểm tra điện não đồ. Các điện cực được đặt quanh đầu để đo hoạt động điện của não và kiểm tra sự bất thường của sóng não. Tôi nhớ, anh kỹ thuật viên đứng cạnh mình dán các điện cực – đó là những chiếc mũ kim loại tròn, nhỏ – vào các vị trí khác nhau trên đầu tôi cùng với keo để giữ chặt chúng. Vì không thích cảm giác có ai đó chạm vào đầu mình, tôi nhăn nhó mỗi khi các điện cực được dán lên. Tôi cũng phải làm kiểm tra cộng hưởng từ. Phương pháp cộng hưởng từ sử dụng các nam châm lớn, sóng vi ba và máy tính để tạo nên hình ảnh chi tiết các bộ phận trong cơ thể. Người kỹ thuật viên trấn an tôi trước khi chụp. Có lẽ, anh lo rằng tôi có thể không chịu được tiếng ồn của máy và sợ bị giam giữ khi nằm trong máy quét. Tôi nhớ anh đặt tôi nằm lên một cái giường trắng, mềm sau đó được đẩy vào một đường hầm nhỏ để quét, quá trình quét kéo dài khoảng ba mươi phút. Có lẽ tôi đã ngủ trong đó vì tôi nhớ được cha đánh thức dậy sau khi ra khỏi đường hầm. Tôi nằm viện vài ngày để thực hiện một số kiểm tra. Cha mẹ thay nhau chăm sóc tôi ở bệnh viện. Họ sợ rằng tôi có thể thức giấc và sợ hãi nếu không nhìn thấy người thân. Sàn phòng bệnh tôi nằm bóng loáng với nhiều vết xước nhỏ và bề mặt tấm ra trải giường không giống với bề mặt ra ở nhà – sần sùi và cứng hơn. Cha mẹ cho tôi uống nước cam và đưa tôi những cuốn sách đầy màu sắc và bút chì màu để tôi tiêu khiển, nhưng phần lớn thời gian tôi ngủ vì cảm thấy rất mệt. Các bác sĩ nói với cha mẹ rằng sức khỏe của tôi tiến triển tốt – khoảng một nửa số trẻ bị động kinh thùy thái dương sau đó khỏi bệnh. Tôi được kê đơn thuốc chống động kinh và được phép về nhà. 35 Sinh vào ngày xanh Cha mẹ bị tác động rất lớn khi tôi được chẩn đoán bị động kinh, đặc biệt là cha. Ông nội tôi cũng đã phải chịu đựng căn bệnh này trong nhiều năm và mất sớm trước khi tôi sinh vài năm. Tên ông nội là William John Edward. Ông sinh ra ở phía Đông London đầu những năm 1900. Ông từng là thợ giày và đã tham gia Thế chiến thứ hai. Ông rút quân khỏi Dunkirk rồi đóng quân tại một căn cứ quân sự ở bắc Scotland. Thời kỳ tham gia quân đội, ông được giao phụ trách một khẩu súng chống máy bay. Ông lập gia đình và có bốn người con; cha tôi là con út của ông. Sau chiến tranh, ông bắt đầu bị hành hạ bởi những cơn động kinh dữ dội – nhanh chóng sau đó bà nội tôi trở nên quen thuộc với những tiếng bát vỡ và tiếng ném đĩa từ bàn ăn xuống sàn nhà. Tại thời điểm đó, thuốc hỗ trợ cho người bị động kinh còn rất hạn chế. Các bác sĩ cho rằng bệnh của ông là do những chấn động vỏ não trong chiến tranh. Họ khuyên bà tôi ly dị ông và đi bước nữa. Bà đã nghe theo lời khuyên của các bác sĩ, ly hôn và sau đó tái hôn. Bà có một gia đình mới và một cuộc sống phía trước. Quyết định ly dị ông chắc hẳn là quyết định khó khăn nhất mà bà phải thực hiện. Sau đó, ông được đưa đến một viện dành cho các cựu chiến binh bị ảnh hưởng tâm thần. Cuộc chia tay của ông và bà gây ra hậu quả nghiêm trọng cho gia đình. Bà tôi bắt đầu cuộc sống với gia đình mới nhưng người chồng thứ hai của bà gặp khó khăn trong kiếm việc làm và lại dùng số tiền ít ỏi kiếm được để chơi bài bạc. Do đó, họ không có thu nhập ổn định, tiền nợ thuê nhà tăng lên nhanh chóng. Một hôm, khi các thành viên gia đình trở về nhà thì thấy đồ đạc đã bị chất đống ngoài bãi cỏ còn cửa thì khóa chặt. Họ đã bị đuổi vì không trả tiền nhà – họ trở thành những người vô gia cư. 36 Sinh vào ngày xanh Ban đầu, một người bạn của gia đình nhận nuôi mấy đứa trẻ, trong đó có cha tôi, với vai trò là anh cả của các em con cha dượng, trước khi cùng với bà chuyển đến khu trại dành cho người vô gia cư. Cha tôi được tặng một bộ đồ chơi lắp ghép như một món quà tiễn biệt của gia đình người bạn đã giúp đỡ trông nom ông. Khu trại được tạo nên từ các phòng nhỏ, những người sinh sống ở đó phải dùng chung nhà vệ sinh, phòng tắm và nhà bếp. Hành lang nối giữa các phòng hẹp và sàn được phủ một lớp bê tông đỏ. Cha có thể nghe tiếng bước chân của các nhân viên quản lý khi họ bước dọc hành lang. Ông ấy gọi thân mật một người trong số họ là “Giày cao cổ”. Phòng ở của gia đình chật hẹp và không có đồ đạc. Trong trại mọi người không được phép xem tivi hoặc nghe đài. Trong phòng – của trẻ con – chỉ đủ chỗ cho ba cái giường nhỏ. Phòng của bà nội có một cái giường, một cái bàn và một cái ghế. Đàn ông không được phép vào trại, do đó chồng bà buộc phải thuê phòng trên gác một cửa hàng. Họ phải tạm xa nhau trong thời gian gia đình ở khu trại tập trung cho người vô gia cư. Cuộc sống trong khu nhà ấy thật khắc nghiệt – ngoài chỗ ở tối thiểu ra không có bất cứ sự riêng tư nào; cửa luôn mở, các nhân viên quản lý rất nghiêm khắc và họ điều hành khu nhà theo phép nhà binh. Cả gia đình đều chán ghét khoảng thời gian ở đó, khoảng một năm rưỡi. Tuy nhiên, cuộc sống ở trại cũng nhen nhói một chút niềm vui do tình bạn đem lại, bà tôi làm quen được với người phụ trách trại, bà Jones. Thật may mắn, cuối cùng gia đình cũng được chuyển đến một ngôi nhà mới. Cha gặp ông nội lần đầu tiên khi cha mười một tuổi. Tại thời điểm đó những cơn động kinh của nội cũng đã giảm do đó ban ngày ông được phép ra viện để làm việc ở hiệu sửa giày. Buổi tối ông trở lại viện. Cha tôi còn rất nhỏ khi bệnh của nội tái phát, vì thế ông không nhớ một chút nào về nó và thậm chí không nhớ hình dáng ông nội 37 Sinh vào ngày xanh thế nào. Họ gặp nhau tại gia đình người bạn đã giúp đỡ chăm sóc cha tôi và các em cùng mẹ khác cha của ông vài năm trước. Cha nhớ đã bắt tay với một người đàn ông tóc xám, mặc quần áo bệnh nhân rồi sau đó mọi người giới thiệu đó là cha ông. Thời gian trôi qua, họ trở nên gần gũi hơn. Khi ông tôi già hơn, sức khỏe của ông giảm sút một cách nghiêm trọng. Cha thường đến viện thăm ông mỗi khi có thể. Khi ông mất cha mới hai mươi mốt tuổi, ông mất sau một cơn động kinh và đột quỵ. Tất cả những người biết ông đều cho ông là một người tốt bụng và lịch thiệp. Tôi ước gì mình được gặp ông dù chỉ một lần. Tôi thực sự may mắn sống trong thời đại có nhiều tiến bộ vượt bậc trong y học, do đó những cơn động kinh của tôi nhẹ nhàng hơn nhiều so với ông tôi. Sau những cơn động kinh và chẩn đoán của bác sĩ, tôi nghĩ cha mẹ lo sợ tôi khó có thể sống một cuộc sống “bình thường” mà họ thực sự mong tôi có được. Giống như nhiều bậc phụ huynh khác, họ cho rằng một cuộc sống bình thường đồng nghĩa với hạnh phúc và hiệu quả. Những cơn động kinh không tái diễn với tôi – cũng như khoảng 80% người mắc chứng động kinh khác, thuốc đã có hiệu quả và điều đó đồng nghĩa với việc tôi đã hoàn toàn khỏi bệnh. Tôi nghĩ điều đó ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng chống lại bệnh tật cho tôi của mẹ. Bà rất nhạy cảm với sự thật rằng nhìn từ mọi góc độ tôi luôn là một đứa khác biệt, dễ tổn thương, cần sự quan tâm, ủng hộ và tình yêu đặc biệt. Đôi lúc bà cảm thấy lo lắng khi nghĩ tôi có thể lên cơn động kinh lại vào bất cứ lúc nào. Mỗi lúc như vậy bà đi vào phòng và khóc thầm. Tôi nhớ cha nói tôi không được vào phòng mỗi lúc như vậy. Tôi cảm thấy rất khó làm cho mẹ đỡ buồn lòng. Tôi chìm trong thế giới của mình, mê mải với những thứ nhỏ nhất nhưng không thể hiểu được những cung bậc cảm xúc hoặc căng thẳng khác nhau trong gia 38 Sinh vào ngày xanh đình. Đôi khi cha mẹ cũng tranh cãi, tôi nghĩ điều đó hầu hết xảy ra ở các gia đình khác, về chuyện con cái và cách tốt nhất để giải quyết các vấn đề khác nhau. Khi cãi cọ, giọng họ trở thành một màu xanh đậm trong đầu tôi, khi đó tôi nằm rạp xuống sàn, cúi đầu xuống thảm, hai tay ấn vào tai cho đến khi tiếng ồn dịu đi. Hàng ngày cha giúp tôi uống thuốc với một cốc sữa hoặc nước vào các bữa ăn. Hàng tháng cha đưa tôi đến bệnh viện để thử máu vì thuốc tôi uống có thể ảnh hưởng đến chức năng gan. Cha là người ủng hộ mạnh mẽ sự đúng giờ do đó chúng tôi luôn đến khu vực đợi rất sớm, ít nhất một tiếng trước khi đến lượt. Ông thường mua cho tôi một cốc nước cam và một vài cái bánh trong khi chờ đợi. Những cái ghế chúng tôi ngồi làm bằng nhựa, ngồi không thoải mái; tuy nhiên, tôi nhớ, vẫn không muốn đứng dậy mỗi khi đến lượt, vì thế tôi luôn đợi cha đứng lên trước khi tôi đứng. Có rất nhiều ghế trong phòng đợi và tôi tiêu khiển bằng cách đếm đi đếm lại số ghế trong phòng. Khi y tá gọi đến tên, cha đi cùng tôi đến khu vực nhỏ chăng mành, tôi ngồi xuống, cô y tá xắn một bên tay áo tôi lên, vỗ nhẹ vào cánh tay. Tôi đã thử máu nhiều lần đến nỗi tôi biết rất rõ điều gì sẽ xảy đến. Cô y tá khuyên bệnh nhân nhìn đi chỗ khác khi lấy máu nhưng tôi vẫn giữ đầu không quay đi, quan sát bơm tiêm điền đầy dần máu đỏ xẫm. Xong việc, cô y tá lại vỗ nhẹ vào cánh tay, làm sạch và dán vào chỗ lấy máu một miếng băng nhỏ có biểu tượng một khuôn mặt tươi cười trên đó. Một trong những tác dụng phụ phổ biến nhất của thuốc là gây ra hiện tượng mẫn cảm với ánh sáng mặt trời, do đó cả mấy tháng mùa hè tôi ở trong nhà trong khi em trai tôi Lee chơi ngoài vườn hoặc công viên. Tôi không cảm thấy buồn vì cho đến tận bây giờ, ánh sáng mặt trời vẫn thường làm tôi ngứa ngáy, khó chịu và hiếm khi tôi liều mình đi ra ngoài lâu trong thời tiết nắng nóng. Cha mẹ muốn theo 39 Sinh vào ngày xanh dõi sát hơn những cơn động kinh do đó tôi phải dành phần lớn thời gian trong phòng khách, nơi mẹ tôi có thể để ý, xem tivi hoặc chơi với những đồng xu hoặc các hạt nhỏ cha mẹ đưa cho tôi để đếm. Một trong những tác dụng phụ phổ biến mà tôi bị nữa là chóng mặt và say. Mỗi khi bắt đầu cảm thấy chóng mặt, ngay lập tức tôi ngồi xuống, bắt chéo chân và đợi cho cảm giác đó qua đi. Đôi khi điều này làm cha mẹ khó xử, nhất là khi đang đi cùng tôi trên đường thì đột nhiên tôi dừng lại, ngồi xuống ngay giữa vỉa hè. Thật may tình trạng đó chỉ diễn ra rất ngắn, kéo dài trong vài giây. Sự mất điều khiển và không thể đoán trước được của các cơn chóng mặt làm tôi sợ, sau mỗi đợt như vậy tôi thường trở nên cáu kỉnh và hay khóc. Có một mối quan hệ phức tạp giữa giấc ngủ và bệnh động kinh, những người bị động kinh thường bị rơi vào tình trạng rối loạn giấc ngủ cao hơn so với người thường. Một số nhà khoa học tin rằng những sự kiện liên quan đến giấc ngủ như sợ ngủ và mộng du thực tế có thể là biểu hiện của các hoạt động co giật trong não bộ. Thỉnh thoảng, tôi mộng du – trong một số giai đoạn nó xảy ra khá thường xuyên, các giai đoạn khác ít hơn – từ khoảng sáu tuổi cho đến thời kỳ đầu tuổi thanh niên. Mộng du xảy ra trong khoảng ba tiếng đầu của giấc ngủ, khi sóng não của người ngủ tăng cường độ lớn, giấc ngủ sâu và không mơ màng. Thông thường, người mộng du không phản ứng lại nếu ai đó nói chuyện với họ và họ không nhớ chuyện gì xảy ra khi mộng du. Trong trường hợp của mình, tôi trèo ra khỏi giường, đi đi lại lại trên cùng một đường quanh phòng. Đôi khi bị va đầu vào tường hoặc cửa làm cha mẹ thức giấc, sau đó họ nhẹ nhàng dắt tôi lại giường. Mặc dù đánh thức người mộng du không có hại, tuy nhiên không nên làm thế vì có thể gây cho họ bối rối và lo lắng. Cha mẹ đã làm một số việc để đảm bảo an toàn cho tôi vào đêm. Mỗi tối, họ dọn sạch đồ chơi trên sàn nhà trước khi tôi ngủ và bật một 40 Sinh vào ngày xanh bóng đèn ngoài hành lang. Họ cũng lắp một cái cửa ở đầu trên cầu thang sau một lần tôi mộng du xuống cầu thang, đi ra sau nhà và mọi người tìm thấy tôi đang kéo cửa bếp dẫn ra vườn. Có lẽ, không quá ngạc nhiên, vào ban ngày tôi thường cảm thấy mệt lả như hết sạch năng lượng và điều duy nhất muốn làm là ngủ. Do đó, khi đến trường tôi thường gục đầu lên bàn và ngủ gật. Cha mẹ cung cấp đầy đủ thông tin về tôi cho các giáo viên nên họ luôn thông cảm và khoan dung với tôi. Tôi thường mất phương hướng khi thức giấc sau mười, hai mươi hoặc ba mươi phút ngủ, nhìn thấy lớp trống không, bạn bè chạy hết ra sân chơi, nhưng cô giáo luôn ở đó động viên tôi. Ảnh hưởng tích lũy do phản ứng phụ của thuốc gây ra vào năm học đầu tiên của tôi đáng kể. Trong lớp, tôi cảm thấy khó tập trung và không học được với cường độ thích hợp. Tôi là học sinh cuối cùng trong lớp học thuộc được bảng chữ cái ABC. Giáo viên của tôi, cô Lemon, luôn khích lệ tôi hơn bằng cách thưởng cho tôi những thẻ màu nếu tôi mắc ít lỗi hơn khi viết. Tuy nhiên, tôi không bao giờ cảm thấy ngượng hay bối rối vì “lết” sau những đứa trẻ khác; chúng đơn giản không thuộc về thế giới của tôi. Mỗi năm hai lần tôi đến Bệnh viện nhi Westminster ở London cùng với cha để nội soi cắt lớp não nhằm theo dõi bệnh. Chúng tôi đến viện bằng taxi, sớm như mọi khi và đợi đến lượt. Những năm đó tôi đã dành nhiều, rất nhiều giờ đồng hồ ngồi trong khu vực chờ của bệnh viện. Sau ba năm, tôi được quyết định giảm dần sử dụng thuốc chống động kinh. Mẹ tôi lo sợ khi nghĩ rằng động kinh có thể trở lại, mặc dù thật may mắn cho tôi, cho đến bây giờ chưa lần nào bị lại. Những phản ứng phụ do dùng thuốc trước đây đều đã hết và việc học ở trường của tôi cũng được cải thiện nhiều. 41 Sinh vào ngày xanh Bệnh động kinh tác động như thế nào và di chứng – nếu có – của nó lên não tôi không rõ. Những cơn động kinh thời thơ ấu của tôi xuất phát từ thùy thái dương trái. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân của khả năng bác học (savant ability) của tôi do chấn thương não trái dẫn đến hoạt động bổ sung, tăng cường của não phải. Điều này là do những kỹ năng phổ biến nhất ở người có khả năng đặc biệt như làm việc với con số và tính toán có liên hệ mật thiết với bán cầu não phải. Tuy nhiên, không dễ xác định liệu động kinh có phải là nguyên nhân hay triệu chứng của tổn thương não trái và có thể những cơn động kinh thời thơ ấu của tôi xảy đến như là một hậu quả của tổn thương đã tồn tại sẵn trong não, có thể từ khi sinh. Vì lý do này, các nhà khoa học rất quan tâm nghiên cứu những khả năng nhận thức của tôi để tìm hiểu nguyên nhân làm chúng khác biệt với người khác. Trung tâm Nghiên cứu Tự kỷ Cambridge đã tiến hành thực hiện một nghiên cứu vào mùa thu năm 2004. Giám đốc trung tâm là Simon Baron-Cohen, giáo sư về bệnh học tâm lý phát triển và là một nhà nghiên cứu hàng đầu về rối loạn tự kỷ. Nghiên cứu tiến hành kiểm chứng lý thuyết “kết hợp trung tâm yếu”, lý thuyết này cho rằng những người tự kỷ dường như xử lý thông tin chi tiết mà bỏ qua thông tin chung (“bức tranh lớn hơn”), ngược lại hầu hết mọi người kết hợp thông tin vào văn cảnh và thực chất của vấn đề – thường bỏ qua những chi tiết nhỏ. Ví dụ, các nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ tự kỷ nhận dạng khuôn mặt quen trong ảnh tốt hơn so với trẻ bình thường, khi chỉ đưa cho chúng một phần của khuôn mặt. Trong nghiên cứu Navon, những người tham gia được yêu cầu xác định một mục tiêu lựa chọn xảy ra ở mức độ địa phương hoặc toàn diện. Trong bài kiểm tra của tôi tại trung tâm, các nhà khoa học yêu cầu tôi ấn nút bằng tay trái nếu nhìn thấy chữ “A” và bằng tay phải nếu không nhìn thấy. Hình ảnh được chiếu lên một màn hình trước 42 Sinh vào ngày xanh mặt tôi. Trong nhiều trường hợp tôi ấn “không”, sau đó vài giây tôi mới nhận ra cấu trúc của các chữ cái tạo nên hình chữ “A”. Các nhà khoa học gọi hiện tượng này là “giao thoa” và nó thường được dùng trong ảo giác quang học. Đối với hầu hết mọi người, giao thoa gây ra bởi hình ảnh chung – ví dụ, khi hình chữ “H” được tạo nên bởi các chữ cái nhỏ “A”, hầu hết mọi người sẽ không nhìn chữ “A” ngay lập tức vì hiệu ứng giao thoa họ nhìn ra chữ “H” trước. Đối với tôi, giống như những người tự kỷ khác, trái lại với hiện tượng giao thoa phải khó khăn lắm tôi mới nhìn ra hình chữ chung vì não tôi tập trung một cách tự động vào các chi tiết riêng biệt. Trong hình minh họa trên, hình bên trái cho thấy chữ “A” được tạo nên bởi các chữ “H” nhỏ. Hình bên phải cho thấy chữ “H” được tạo nên từ các chữ “A” nhỏ. Ở Australia, Giáo sư Allan Snyder – giám đốc Trung tâm về Trí tuệ của Đại học Sydney – thu hút sự chú ý với phát biểu rằng ông có thể tạo ra được khả năng giống như khả năng bác học nhờ sử dụng kỹ thuật kích thích từ xuyên sọ (TMS). TMS đã được sử dụng như một công cụ y học trong phẫu thuật não, kích thích hoặc làm ức chế một phần đặc biệt của não cho phép bác sĩ giám sát ảnh hưởng của phẫu thuật. Đó là phương pháp phẫu 43 Sinh vào ngày xanh thuật không dùng dao kéo và có vẻ tránh được các ảnh hưởng phụ nghiêm trọng. Giáo sư Snyder tin rằng tư duy của người tự kỷ không hoàn toàn khác người bình thường mà là một dạng thái quá của tư duy thông thường. Bằng cách ức chế tạm thời một vài hoạt động của não – ví dụ, khả năng nghĩ về khái niệm, văn cảnh – Giáo sư Snyder cho rằng có thể sử dụng TMS để gây ra tác động tăng cường tới các phần của bộ não chịu trách nhiệm thu thập thông tin thô, chưa lọc. Ông hy vọng làm như vậy có thể tăng cường hoạt động của não bằng cách làm mất chức năng một số phần xác định của nó hoặc thay đổi cách não nhận biết các thông tin khác nhau. Giáo sư đã sử dụng một cái nắp gắn với các điện cực đến máy TMS. Máy truyền các xung biến đổi năng lượng từ đến các thùy thái dương. Một vài người trải qua thí nghiệm cho rằng họ được nâng cao khả năng vẽ và đọc; vẽ động vật giống như thật và rất chi tiết, và đọc chính xác hơn. Hầu hết mọi người đọc bằng cách nhận ra những kết hợp từ quen thuộc. Vì điều này, nhiều người bỏ qua lỗi nhỏ về chính tả hay lặp từ. Lấy ví dụ sau Một con chim trong tay đáng giá hơn hai con con trong bụi Đọc nhanh, nhiều người không phát hiện chữ “con” thứ hai, thừa trong câu trên. Một lợi ích của việc xử lý thông tin từng phần so với cách truyền thống là có thông tin chi tiết hơn, tôi đọc soát lỗi rất giỏi. Vào các buổi sáng Chủ nhật, ngồi đọc những trang viết của tờ báo ngày, tôi có thể quấy rầy cha mẹ không ngừng với việc chỉ ra những lỗi chính tả và 44 Sinh vào ngày xanh ngữ pháp mà tôi tìm thấy. “Tại sao con không thể đọc báo giống như những người khác?” mẹ tôi bực bội hỏi, sau khi nghe tôi chỉ ra lỗi thứ mười hai trong tờ báo. Giáo sư Snyder cho rằng các khả năng bác học có thể có ở mọi người, chỉ có điều không thể giải phóng được hầu hết các khả năng này. Ông tin rằng những cơn động kinh của tôi có thể đã đóng vai trò giống như những xung năng lượng từ trong máy TMS, tác động lên những vùng xác định của não, tạo nên những khả năng với các con số và hành xử ý thức khác. Có nhiều ví dụ về những người có khả năng bác học sau khi bị bệnh hoặc tổn thương não. Một người trong số đó là Orlando Serrell, người bị một quả bóng rổ đập vào đầu hồi mười tuổi. Vài tháng sau đó anh ta bắt đầu nhớ lại một lượng thông tin khổng lồ, bao gồm số đăng ký xe, lời bài hát và dự báo thời tiết. Sự biến đổi tương tự cũng được báo cáo trong trường hợp của các bệnh nhân bị chứng tâm thần phân liệt (FTD), bệnh thoái hóa não tác động đến các thùy thái dương và thùy trán. Khi bệnh tiến triển nó ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và trí nhớ. FTD hầu hết xảy ra với người trưởng thành ở độ tuổi bốn mươi, năm mươi và sáu mươi. Bruce Miller, một nhà thần kinh học của Đại học California, San Francisco, nói rằng một vài bệnh nhân bị tâm thần phân liệt của ông phát triển sự quan tâm và khả năng về nghệ thuật và âm nhạc một cách tự phát. Nghiên cứu sử dụng hình ảnh não cho thấy đối với những bệnh nhân phát triển kỹ năng, lưu lượng máu hoặc hoạt động chuyển hóa giảm hơn nhiều ở thùy thái dương trái. Đồng thời, bán cầu phải của não, nơi quyết định khả năng xử lý không gian và thị giác, được giữ tốt hơn nhiều. Có lẽ những cơn động kinh hồi nhỏ đã đóng vai trò quan trọng tạo nên con người tôi hiện nay. Nhiều người khác cũng cảm thấy như vậy 45 Sinh vào ngày xanh về trải nghiệm động kinh của họ, trong số đó có Fyodor Dostoevsky, nhà văn Nga thế kỷ mười chín – tác giả của một số tác phẩm cổ điển như Tội ác và Trừng phạt, Anh em nhà Karamazov, cũng bị một dạng động kinh thùy thái dương hiếm gặp gọi là “Động kinh mê” (Ecstatic Epilepsy). Những cơn động kinh của Dostoevsky hầu hết xảy ra vào ban đêm và thường ảnh hưởng tới toàn cơ thể. Trải nghiệm của ông về căn bệnh động kinh truyền cảm hứng cho ông viết nên các nhân vật bị bệnh động kinh trong bốn tiểu thuyết của ông: Kirilov trong Lũ người quỷ ám (The Possessed), Smerdyakov trong Anh em nhà Karamazov, Nellie trong Những kẻ lăng mạ và tật nguyền (The Insulted and Humiliated) và Hoàng tử Myshkin trong Thằng ngốc (The Idiot). Dostoevsky mô tả trải nghiệm của ông về động kinh như sau: Nhiều lần tôi tận hưởng một cảm giác hạnh phúc không thể có được ở trạng thái bình thường mà nhiều người khác không hề có khái niệm về nó. Tôi cảm thấy như hòa mình hoàn toàn với bản thân và thế giới, cảm giác đó mạnh mẽ và ngọt ngào đến nỗi trong vài giây hạnh phúc như vậy người ta có thể đánh đổi mười năm hoặc có lẽ cả cuộc đời. Tôi cảm thấy thiên đàng hạ xuống địa cầu nuốt chửng tôi. Tôi thực sự gặp Chúa và ngài bao phủ tôi. Tất cả các bạn, những người khỏe mạnh thậm chí không hoài nghi hạnh phúc là gì, hạnh phúc là cái mà những người động kinh trải qua một giây trước khi bị nó tấn công. Nhà văn - nhà toán học Lewis Carroll cũng được cho là bị động kinh thùy thái dương và đó là cơ sở truyền cảm hứng cho tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Cuộc phiêu lưu của Alice trong xứ xở diệu kỳ. Đoạn sau miêu tả trải nghiệm cảm giác rơi rất giống với cảm giác của một cơn động kinh: Alice không có một khoảnh khắc để nghĩ đến việc dừng lại trước khi 46 Sinh vào ngày xanh phát hiện mình đang rơi xuống một cái giếng rất sâu... “Ồ!” Alice nghĩ thầm, “sau cú rơi như vầy, thì ngã cầu thang sẽ chẳng là gì!”... rơi, rơi, rơi. Cú ngã dường như không bao giờ dừng? Một vài nhà nghiên cứu thậm chí tin rằng có thể có mối liên hệ giữa bệnh động kinh và sự sáng tạo. Nhà văn Eve LaPlante nói lên điều này trong cuốn sách của bà mang tên Động kinh thùy thái dương như một hiện tượng lịch sử, y học và nghệ thuật. Trong tác phẩm này, bà viện dẫn một trường hợp nổi tiếng về họa sĩ Vincent van Gogh, người đã phải chịu đựng những cơn động kinh nặng nề làm cho ông chán nản, nhầm lẫn và bị kích động. Tuy nhiên, bất chấp căn bệnh của mình, van Gogh đã tạo ra hàng trăm bức vẽ, tranh sơn dầu và nước màu. Khoảng tám tuổi tôi đã viết một cách say mê trong vài tháng trên những ram giấy in, mỗi lúc như vậy tôi thường viết hàng tiếng đồng hồ liền, phủ đầy hết tờ này sang tờ khác với những chữ đan xen nhau chằng chịt. Cha mẹ phải mua cho tôi những cuộn giấy lớn vì tôi liên tục sử dụng hết. Tôi viết chữ rất nhỏ – một cô giáo của tôi phàn nàn rằng cô phải thay đổi kính để có thể đọc được bài của tôi – vì tôi sợ rằng nếu viết to sẽ nhanh hết giấy. Những câu chuyện tôi viết, từ những cái mà tôi có thể nhớ được, rất sinh động – cả trang giấy có thể được sử dụng để mô tả các chi tiết khác nhau của một nơi hoặc địa điểm, màu sắc, hình dáng và cấu trúc của nó. Không có bất cứ đoạn hội thoại hay tình cảm nào. Thay vào đó tôi viết về các đường hầm dài dưới đại dương mênh mông, lung linh, về các hang có vách đá cheo leo và về những tòa tháp vươn lên bầu trời. Tôi không phải nghĩ về những cái tôi viết, từ ngữ dường như chảy ra khỏi đầu. Thậm chí không có bất kỳ dự định ý thức nào, tuy thế các câu chuyện của tôi luôn có thể hiểu được. Khi tôi đưa một trong 47 Sinh vào ngày xanh những truyện của mình cho cô giáo, cô thích nên đọc to một số đoạn cho cả lớp nghe. Sự phấn khích viết của tôi nhanh chóng biến mất cũng bất ngờ như lúc nó xuất hiện. Tuy nhiên, nó để lại cho tôi một niềm đam mê không ngừng về từ ngữ và ngôn ngữ – một thứ mang lại lợi ích rất lớn cho tôi. Ngày nay ngày càng có nhiều người bị động kinh mà vẫn có thể sống một cuộc sống bình thường nhờ vào những tiến bộ liên tục của y học và công nghệ. Dấu hiệu bệnh đi kèm với những người được chẩn đoán mắc bệnh như động kinh (và tự kỷ) đang biến mất một cách nhanh chóng. Mặc dù vậy, những rối loạn ảnh hưởng của chúng đến não vẫn chưa hiểu được. Tôi muốn khuyên các bậc cha mẹ có con cái bị động kinh phải giáo dục chúng càng nhiều càng tốt về căn bệnh này. Và trên mọi thứ, hãy đem lại tự tin cho những đứa trẻ này để chúng có thể tiếp tục theo đuổi những ước mơ và vì đó là những thứ sẽ hình thành nên mỗi người trong tương lai. 48 Sinh vào ngày xanh 4 Đi học TÔI BẮT ĐẦU ĐI HỌC còn Lee đi mẫu giáo vào tháng Chín năm 1984. Mỗi sáng, cha thường dắt tôi đến trường – thỉnh thoảng ông tỏ ra sốt ruột vì tôi đi quá chậm và liên tục dừng lại nhặt những hòn đá trên đường rồi giữ trong lòng bàn tay. Cô giáo tôi tên là Lemon(*). Dáng cô cao gầy với mái tóc ngắn đen nhánh. Tôi thích tên cô bởi mỗi khi nghe, ngay tức khắc tôi hình dung ra hình dáng và màu sắc của quả chanh. Vì lẽ đó “lemon” là một trong những từ đầu tiên tôi học viết. Ở trường, sau cổng chính có một phòng cho học sinh cất áo khoác trước khi vào lớp. Tôi không thích căn phòng đó một chút nào vì nó chỉ có một cửa sổ duy nhất trên cao và luôn luôn bao trùm bởi một bầu không khí tối tăm, u ám. Tôi cảm thấy sợ khi để áo lẫn trong đống đồ hay lấy nhầm cái khác giống cái của mình mang về. Tôi sợ đến nỗi phải đếm thứ tự móc áo để lấy đúng cái của mình. Mỗi khi đi vào phòng, nhìn thấy mắc áo của mình không còn trống tôi rất lo lắng và hoang mang. Tôi nhớ một lần đã đi thẳng vào lớp cùng với chiếc áo khoác trên mình vì mắc áo của tôi đã bị ai đó dùng mất trong khi vẫn còn rất nhiều mắc áo trống. * Tiếng Anh có nghĩa là quả chanh. 49 Sinh vào ngày xanh Phòng học của tôi hình chữ nhật, cửa vào ở phía bên phải. Trong phòng có nhiều ngăn kéo cho chúng tôi để bút chì và giấy viết. Mỗi ngăn kéo được dán tên họ đầy đủ của học sinh. Ngoài ra, mỗi người cũng được phát thêm cho một chiếc hộp nhựa và tên của học sinh được dán lên góc trái hộp. Hộp có khóa đóng, mở ở mặt trên. Chúng tôi dùng hộp để đựng những quyển sách đang đọc và các dụng cụ học tập khác. Tôi sử dụng hộp với sự quan tâm đặc biệt – thường xuyên nhớ cất sách vào đó mỗi khi đọc xong. Bàn học của tôi nằm gần cuối lớp học, cạnh cửa sổ được trang trí bởi giấy màu sặc sỡ với nhiều hình vẽ của các bạn trong lớp trên đó. Từ chỗ ngồi, tôi có thể quan sát các bạn khác trong lớp mà không phải nhìn thẳng vào mắt họ. Cho đến hết năm học đầu tiên tôi vẫn không nhớ tên hay mặt của bất cứ đứa trẻ nào trong lớp – Tôi luôn cảm thấy bọn chúng là một cái gì đó mà tôi phải đối mặt, chiến đấu và tránh xa hơn là những người bạn cùng chơi. Tôi thường khoanh tay trước ngực khi đứng hay đi lại trong lớp. Thỉnh thoảng tôi chỉ đứng một chỗ, nắm tay lại, sau đó duỗi lần lượt từng ngón hay vài ngón ra và chỉ lên trần. Một lần, tôi chỉ ngón tay giữa lên trần và vô cùng ngạc nhiên khi một thằng bé chạy đến bên và nói rằng tôi đang chửi thề. Tôi hỏi “Làm sao một ngón tay có thể chửi thề được?” thay vì trả lời câu hỏi của tôi nó gọi to mách cô giáo và ngay lập tức tôi bị cô giáo mắng vì có hành động thô lỗ. Tôi rất thích nghe tiếng kèn buổi sáng vì tôi có thể đoán được khi nào tiếng kèn được cất lên. Nó luôn được thổi vào một thời điểm nhất định mỗi sáng. Cô giáo yêu cầu chúng tôi xếp hàng theo thứ tự ABC trước lớp rồi đi theo hàng vào sân trường. Khi chúng tôi bước vào sân trường, học sinh các lớp khác đã ngồi yên lặng theo các hàng thẳng tắp. Ấn tượng mạnh về những nghi thức và mệnh lệnh của các giáo viên làm cho tôi cảm thấy yên lòng. Mỗi khi như vậy tôi thường ngồi 50 Sinh vào ngày xanh trên sân trường, nhắm mắt lại, đung đưa người, ngậm miệng ngân nga – đó là điều tôi thường làm khi cảm thấy thoải mái và hài lòng. Phần hay nhất của mỗi buổi tập trung toàn trường là những tiết mục hát thánh ca: “Ông ấy có cả thế giới trong tay” và “Yến mạch, Đậu Hà Lan và Lúa mạch lớn lên” là những tiết mục yêu thích nhất của tôi. Tôi nhắm mắt lại, chăm chú lắng nghe bọn trẻ hát, từng lời bài hát như chảy ra, hòa quyện vào nhau tạo nên những giai điệu tuyệt vời, đem lại cho tôi cảm giác thư thái, ấm áp. Nhạc luôn làm tôi cảm thấy bình yên và hạnh phúc. Thời gian tập trung toàn trường để lại dấu ấn khó quên nhất trong quãng thời gian đi học. Cùng đến với Giáng sinh đầu tiên của tôi ở trường là vở kịch truyền thống Chúa giáng thế. Tôi được giao vai diễn người chăn cừu. Tôi sợ điếng người khi nghĩ phải đứng trước toàn trường, trước tất cả học sinh, các thầy cô và các bậc phụ huynh – tôi lo lắng đến mức đã từ chối không thử trang phục người chăn cừu hay tập lời thoại của vở kịch. Cuối cùng, mẹ phải động viên, dỗ dành tôi bằng những viên kẹo để tôi vào vai diễn. Trong khi vở kịch được trình diễn, tôi luôn cúi mặt xuống sàn suốt thời gian trên sân khấu nhưng cha mẹ vẫn vỗ về tôi rằng cha mẹ tự hào về tôi biết bao khi tôi có thể đảm nhiệm được vai diễn. Sau vở diễn tôi không muốn cởi bộ trang phục người chăn cừu ra vì thế cha mẹ đã phải thuyết phục cô giáo cho tôi mượn đến hết kỳ nghỉ Giáng sinh. Đêm hôm đó và những đêm tiếp theo cho đến tận năm mới, tôi luôn ngủ trong áo choàng và mũ của người chăn cừu. Việc học ở lớp đối với tôi không dễ dàng chút nào. Tôi không thể tập trung, nếu có tiếng nói chuyện hay khi có người đi lại, chạy dọc hành lang bên ngoài. Tôi cảm thấy rất khó lọc những tiếng ồn và thường xuyên lấy ngón tay bịt tai để có thể tập trung. Em trai tôi, Steven cũng gặp vấn đề tương tự và thường xuyên phải dùng tai nghe để bịt tai mỗi khi muốn đọc hay suy nghĩ. 51 Sinh vào ngày xanh Bất cứ khi nào viết, tôi cũng nhìn chăm chú vào từng chữ cái, từng từ và từng dấu chấm. Nếu tôi phát hiện thấy một vết bẩn hay một lỗi nào đó tôi liền tẩy hết và bắt đầu viết lại từ đầu. Tính cách theo chủ nghĩa hoàn hảo đó đôi lúc khiến tôi làm việc với tốc độ rùa bò. Tôi gần như kiệt sức khi hoàn thành bài học mà không tiếp thu được bao nhiêu. Tuy nhiên, tôi chẳng bao giờ lo lắng rằng cô giáo đánh giá tôi là lười nhác hay thiếu năng lực và tôi cũng chẳng bao giờ quan tâm bọn trẻ nghĩ về mình như thế nào. Do đó, tôi không hiểu thế nào là rút kinh nghiệm từ những sai lầm của người khác. Đối với tôi, viết là cả một vấn đề. Một số chữ đối với tôi rất khó viết, ví dụ như chữ g và k, tôi không thể nhớ được cách viết chúng thế nào. Tôi luyện viết chữ g và k trên hết tờ giấy này đến tờ khác để có thể nhớ, nhưng những nét vòng của chữ g và nét “cánh tay” của chữ k dường như không tác động lên trực giác của tôi. Và điều này diễn ra trong một thời gian dài, trước khi tôi có thể viết được chúng một cách tự tin. Tôi luôn bị tụt lại phía sau trong những bài viết chính tả vì thậm chí tôi không thể viết được một từ liền nét. Các chữ cái riêng lẻ đã thực sự khó với tôi, sự kết hợp chúng với nhau lại càng khó khăn gấp bội, tôi không thể viết những chữ như gh và th liền một nét. Thậm chí cho đến bây giờ, khi viết một từ, tôi phải viết từng chữ cái một cách riêng lẻ. Một trong những đồ vật chúng tôi thường mang về nhà là những hộp cũ chứa đầy những dải giấy nhỏ. Trên mỗi dải có những từ khác nhau để học sinh tập đọc và mỗi tuần cô giáo đều kiểm tra xem chúng tôi học thế nào. Tôi thường đạt điểm cao trong những bài kiểm tra đó vì tôi có khả năng nhìn thấy mỗi từ đó trong đầu, dựa theo hình dáng của các chữ cái đã được định hình sẵn. Ví dụ từ dog (con chó), được tạo bởi ba vòng tròn cùng một đường thẳng hướng lên trên ở chữ cái đầu tiên và một nét móc hướng xuống ở chữ cái cuối cùng. Từ này thực sự khá giống hình con chó nếu bạn tưởng tượng đường 52 Sinh vào ngày xanh thẳng hướng lên là tai con chó và nét móc là đuôi của nó. Tương tự như vậy, hai chữ o trong từ look (nhìn) gợi cho tôi về đôi mắt. Những từ đối xứng – đọc từ trước ra sau hay ngược lại đều như nhau – như mum (mẹ) và noon (buổi trưa) đặc biệt đẹp đối với tôi và là những từ tôi yêu thích. Từ khi bắt đầu đi học, tôi yêu thích và bị hấp dẫn hơn bởi những câu chuyện cổ tích – bản thân câu chuyện và các hình minh họa rắc rối choán hết suy nghĩ tôi với những bức tranh đầy màu sắc về những thành phố tràn đầy cháo đặc và nàng công chúa ngủ trên giường có hàng trăm chiếc nệm (có một hạt đậu phía dưới). Một trong những câu chuyện cổ tôi yêu thích là câu chuyện Rumpelstiltskin nổi tiếng của anh em nhà Grimm. Lúc lên giường đi ngủ, tôi thích nghe cha mẹ đọc những cái tên nghe rất lạ được Nữ hoàng đoán như tên của người đàn ông se chỉ tí hon: Kasper, Melchior, Belshazzar, Sheepshanks, Cruickshanks, Spindleshanks... Một câu chuyện khác cũng thực sự tác động đến tôi là Cháo đá. Trong câu chuyện đó, một người lính lang thang đi đến một ngôi làng xin thức ăn và chỗ ngủ. Người dân trong làng vô cùng tham lam và ích kỷ, không cho người lính một chút thức ăn nào, vì thế người lính tuyên bố sẽ nấu món cháo đá chiêu đãi cả làng mà không cần xin bất cứ thứ gì ngoài một chiếc nồi lớn, nước và đá. Người dân trong làng nháo nhào ra xem khi người lính bắt đầu nấu món ăn và thè lưỡi nếm món ăn một cách thận trọng. Dĩ nhiên “Món cháo đá mà nấu với cải bắp thì khó mà có thể địch nổi!”, người lính tự nhủ bằng một giọng ồm ồm. Một người dân trong làng tiến lại gần, bỏ một cái bắp cải vào nồi. Sau đó, người lính lại nói “Tôi đã có món cháo đá với bắp cải và nếu có một ít thịt bò muối, đó sẽ là món ăn dành cho những vị vua!”. Đủ thuyết phục, người bán thịt trong làng mang đến một ít thịt bò muối. Dần dần, lần lượt những người khác trong làng mang 53 Sinh vào ngày xanh khoai tây, hành, cà rốt, nấm, v.v... cho vào nồi cho đến khi tạo thành một món ăn tuyệt vời đủ cho cả làng. Tại thời điểm đó, tôi rất bối rối, không hiểu câu chuyện bởi tôi không có khái niệm về mưu mẹo và không hiểu rằng người lính đã giả vờ làm món cháo đá để bịp người làng góp phần làm nên nó. Phải cho đến mấy năm sau tôi mới thực sự hiểu được câu chuyện. Chỉ một vài hình ảnh kinh dị cũng làm tôi khiếp sợ thực sự. Mỗi tuần một lần, người ta đẩy vào lớp một cái tivi để chiếu các chương trình mang tính giáo dục. Nhìn và đọc là một sê-ri chương trình nổi tiếng cho trẻ em của hãng BBC và một trong số những chương trình được xem nhiều nhất là Tòa tháp tối kể về một cô gái trẻ, cùng với con chó của mình, chạy đua để truy tìm kho báu bí mật cất giấu trong ngôi nhà tối, cũ nát, xa lạ gọi là Tòa tháp tối. Sê-ri này được chiếu trên tivi hơn mười tuần. Trong tập đầu tiên, cô gái trẻ – Tracy – phát hiện ra Tòa tháp tối và đồng thời cũng biết rằng nó bị ma ám. Đến cuối tập phim có cảnh một bức chân dung gia đình trong tòa tháp tự nhiên rung lên và căn phòng trở nên vô cùng lạnh lẽo. Tracy nghe thấy một tiếng nói cất lên, nói với cô rằng ngôi nhà đang bị nguy hiểm và cô phải cứu giúp nó. Tôi nhớ xem chương trình này với các bạn khác trong lớp, các bạn thì im thin thít, còn hai chân của tôi run lên dưới ghế. Tôi không cảm thấy thích bộ phim này một tí nào từ đầu cho đến khi nó kết thúc. Sau đó, đột nhiên như một chiếc công tắc bật lên trong đầu tôi nhận ra mình đang rất sợ hãi. Trong tình trạng bị kích động tôi chạy nhanh ra khỏi lớp, không quay lại cho đến khi chương trình tivi kết thúc. Nghĩ lại, tôi hiểu tại sao bọn trẻ lại trêu ghẹo tôi và gọi tôi là “thằng khóc nhè”. Khi đó tôi gần bảy tuổi và không có bạn nào khác trong lớp sợ những chương trình tivi như vậy dù chỉ là chút ít. Do đó, mỗi tuần một lần tôi được đưa đến phòng của thầy hiệu trưởng ngồi đợi trong lúc các 54 Sinh vào ngày xanh bạn cùng lớp xem tiếp các tập phim tiếp theo. Trong phòng thầy hiệu trưởng có một chiếc tivi nhỏ, tôi nhớ là đã xem đua mô tô – những chiếc xe chạy rất nhanh vòng quanh, vòng quanh một đường tròn; ít nhất đó cũng là một chương trình tivi tôi có thể xem được. Một sê-ri khác của chương trình Nhìn và đọc ảnh hưởng đến tôi rất nhiều là Qua mắt rồng. Trong đó, có ba đứa trẻ đi xuyên vào bức tường mà chúng đã vẽ và lạc vào vùng đất lạ có tên là Pelamar. Vùng đất đang trong cơn hấp hối và lũ trẻ tìm cách cứu sự sống của mảnh đất bằng cách truy tìm những mảnh vỡ có dạng hình lục giác, màu sắc sặc sỡ bị mất sau một vụ nổ. Nhờ sự giúp đỡ của một con rồng tốt bụng tên là Gorwen, lũ trẻ thực hiện cuộc tìm kiếm những phần bị mất. Khoảng thời gian đó, tôi không còn cáu kỉnh và giận dỗi như trước. Bởi tôi đã mười tuổi, lớn hơn trước, nhưng bản thân những chương trình tivi đó cũng thực sự hấp dẫn. Bộ phim có nhiều hình ảnh rất đẹp: bao quanh lũ trẻ là vô số những cảnh đẹp đẽ, đầy sắc màu khi chúng đi trên những con đường trên mảnh đất thần kỳ. Nhiều nhân vật trong sê-ri – những người nắm giữ sức mạnh của sự sống – được vẽ từ đầu đến chân bởi các màu rực rỡ như màu tía, màu da cam và màu xanh. Sau đó xuất hiện một con chuột to biết nói và một con sâu bướm khổng lồ. Trong một cảnh phim có những bông tuyết rơi bay bay, lũ trẻ vui vẻ chộp lấy giữ trong lòng bàn tay, nhờ một sự biến đổi kỳ diệu chúng biến đổi thành những chữ cái rồi sau đó hình thành nên các cụm từ (đầu mối giúp lũ trẻ tìm thấy một phần sức mạnh đã mất). Trong một cảnh khác, những ngôi sao trên bầu trời đêm tỏa sáng xuống con đường để con rồng Gorwen bay qua. Những cảnh tượng như thế thực sự hấp dẫn tôi bởi câu chuyện đó được kể chủ yếu thông qua hình ảnh, cách đó đối với tôi là dễ hiểu nhất, hơn nhiều so với các đoạn hội thoại. Xem tivi ở nhà trở thành một thói quen của tôi sau khi đi học về. Mẹ nhớ 55 Sinh vào ngày xanh rằng tôi thường ngồi rất sát tivi và rất khó chịu nếu mẹ nhắc nhở tôi ngồi xa tivi hơn để bảo vệ mắt. Ngay cả khi thời tiết nóng nực tôi vẫn thường xuyên mặc áo khoác ở trường trong suốt thời gian xem các chương trình khác nhau, thậm chí đôi khi tôi vẫn mặc sau khi xem xong tivi. Tôi coi áo khoác của mình như một lớp bảo vệ chống lại thế giới bên ngoài giống như bộ áo giáp của các hiệp sĩ. Trong khi đó, gia đình tôi có thêm thành viên mới. Cha mẹ không ai theo đạo, họ chỉ đơn giản dành tất cả tình yêu cho những đứa con và luôn muốn có một gia đình lớn. Em gái, Claire sinh vào tháng tôi bắt đầu đến trường, rồi hai năm sau đó em trai tôi Steven cũng chào đời. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, mẹ tôi phát hiện bà lại tiếp tục mang bầu đứa con thứ năm, em trai Paul, do đó chúng tôi cần phải chuyển đến một ngôi nhà rộng rãi hơn. Lúc đầu, tôi không phản ứng nhiều với việc có thêm nhiều em mà chỉ lặng lẽ tự chơi một mình trong khi các em trai và em gái tôi hò hét, chạy nhảy, chơi ở tầng dưới và trong vườn nhà. Tuy nhiên sự hiện diện của những đứa em lại có ảnh hưởng rất tích cực đến tôi: nó giúp tôi phát triển các kỹ năng xã hội một cách từ từ. Luôn có người bên cạnh đã giúp tôi chịu đựng tốt hơn với sự ồn ào và thay đổi. Tôi cũng bắt đầu học được cách tương tác với những đứa trẻ khác qua việc quan sát các em chơi với nhau và chơi với bạn của chúng từ cửa sổ phòng ngủ của mình. Chúng tôi chuyển đến số 43 đường Hedingham giữa năm 1987. Một điều rất thú vị là tất cả địa chỉ nhà thời thơ ấu của tôi đều là số nguyên tố: 5, 43, 181. Thú vị hơn nữa, địa chỉ những nhà hàng xóm bên cạnh nhà tôi cũng là các số nguyên tố: 3 (và 7), 41, 179. Những cặp số nhà tôi và nhà hàng xóm này được gọi là các cặp số “nguyên tố sinh đôi”, những cặp số nguyên tố chỉ cách nhau hai đơn vị. Các số nguyên tố sinh đôi ít hơn khi bạn đếm số lớn hơn, do đó, ví dụ để tìm hàng xóm 56 Sinh vào ngày xanh có địa chỉ là số nguyên tố bắt đầu bằng số “9” đòi hỏi một con đường rất dài; thực tế cặp số đầu tiên như vậy là 9.011 và 9.013. Năm chúng tôi chuyển nhà là năm thời tiết vô cùng khắc nghiệt, kiểu thời tiết rất ít xảy ra. Đó là tháng Giêng lạnh nhất ở miền Nam nước Anh trong hơn một trăm năm, nhiệt độ xuống tới âm chín độ ở một vài nơi. Thời tiết giá lạnh làm băng tuyết dày và trường học phải đóng cửa. Bên ngoài, lũ trẻ con chơi ném bóng và đi xe trượt tuyết, còn tôi lại thích thú ngồi bên cửa sổ ngắm nhìn những bông tuyết rơi, bay nhẹ nhàng trên bầu trời. Sau đó, khi mọi người về nhà, tôi đi ra ngoài một mình, chất tuyết thành đống to ở trước vườn tạo nên những cái cột giống nhau cao vài chục centimet. Nhìn xuống từ phòng ngủ chúng tựa như những vòng tròn – hình yêu thích của tôi. Một người hàng xóm đến nhà tôi và nói với cha mẹ tôi rằng “Con trai ông bà đã tạo nên Stonehenge(*) từ tuyết”. Năm 1987 cũng là năm có cơn bão tháng Mười một lớn tồi tệ nhất ảnh hưởng đến miền Đông-Nam nước Anh kể từ năm 1703. Những cơn gió to, tốc độ lên tới 100 dặm/giờ ở nhiều nơi và đã cướp đi mạng sống của mười tám người. Tối hôm đó, tôi đi ngủ nhưng không tài nào chợp mắt được. Cha mẹ mới mua cho tôi một bộ quần áo ngủ mới, nhưng vải mới làm tôi ngứa ngáy, tôi lăn qua lăn lại trên giường. Một tiếng động mạnh làm tôi thức giấc – cơn gió mạnh lật tung những viên ngói, hất văng xuống đường. Tôi trèo lên ngưỡng cửa sổ, nhìn ra ngoài: mọi nơi như bị quét hắc ín đen ngòm. Thời tiết lúc đó không rét mà lại ấm: thời tiết ấm vào khoảng thời gian đó trong năm là bất thường, bàn tay tôi luôn chảy mồ hôi và tôi bị kẹt khi nhảy xuống khỏi ngưỡng cửa sổ. Sau đó, có tiếng kẽo kẹt từ trong phòng, cánh cửa mở ra và một ngọn nến trắng, dài với ngọn lửa leo lét xuất hiện. Tôi * Stonehenge là di sản thiên nhiên của Anh được tạo nên từ những tảng đá xếp chồng lên nhau rất kỳ lạ. 57 Sinh vào ngày xanh nhìn chằm chằm vào ngọn nến cho tới khi mẹ tôi cất tiếng hỏi xem tôi có ổn không. Tôi không nói gì vì mẹ đang cầm cây nến trước mặt ở ngoài phòng, khi đó tôi tự hỏi, liệu mẹ có đưa cây nến cho mình không, giống như sinh nhật vừa qua bà đã mua cho tôi một cây nến đỏ để cắm trên chiếc bánh sinh nhật, nhưng tôi không muốn nhận cây nến này vì chưa đến ngày sinh nhật tôi. “Con có muốn uống một cốc sữa nóng không?” Tôi gật đầu đồng ý và chậm rãi đi theo mẹ xuống bếp. Căn phòng tối om vì điện tắt và chẳng có công tắc đèn nào hoạt động cả. Tôi ngồi xuống bàn cùng mẹ, uống cốc sữa sủi bọt mà bà đã chuẩn bị, và bao giờ cũng thế bà luôn rót sữa vào chiếc cốc yêu thích của tôi – một cái cốc đẹp được trang trí bằng nhiều dấu chấm đầy màu sắc sặc sỡ, tôi thường xuyên dùng nó để uống sữa. Sau đó mẹ dẫn tôi lên phòng, tôi leo lên giường, kéo chăn trùm kín đầu và ngủ. Vào buổi sáng, cha đánh thức tôi dậy và nói hôm đó tôi không phải đi học. Nhìn ra ngoài từ cửa sổ phòng ngủ, tôi có thể thấy rõ những mái nhà tốc mái, đổ vỡ và rải rác nắp thùng rác trên đường, mọi người túm tụm vào bàn luận, rồi lắc đầu. Dưới nhà, cả gia đình tôi ở trong bếp nhìn ra khu vườn sau nhà. Một cây cổ thụ ở cuối khu vườn bị bật rễ do gió bão, cành cây, gốc cây xiên ngang qua bãi cỏ. Phải mấy tuần sau cây mới được cưa và mang đi, trong khi đó tôi vui vẻ một mình leo trèo trên thân cây và trốn dưới những tán lá hàng giờ liền, lúc nào cũng vậy, tôi vào nhà với thân hình lấm lem, bọ rệp đầy người và đầy những nốt phồng rộp. Ngôi nhà tôi sống nằm ở đường Hedingham và chỉ cần qua đường là đến trường. Tôi có thể nhìn thấy nơi đỗ xe của giáo viên từ cửa sổ phòng mình, nơi tôi luôn cảm thấy bình an nhất. Hàng ngày, sau giờ học, tôi chạy nhanh lên phòng nhìn những chiếc xe rời khỏi bãi đỗ. 58 Sinh vào ngày xanh Tôi đếm từng chiếc một rời bãi và nhớ từng biển số xe. Chỉ đến khi chiếc xe cuối cùng rời bãi tôi mới xuống nhà ăn cơm. Điều tôi nhớ nhất về ngôi nhà đó là hình ảnh hong tã lót trên lò sưởi và lũ em nheo nhóc đòi sữa. Một năm sau khi chuyển đến nhà mới, mẹ tôi sinh lần thứ sáu, sinh đôi. Cả nhà đều mong chờ sự ra đời của Maria và Natasha, đặc biệt là mẹ, vì mẹ đã sinh bốn con trai và chỉ có duy nhất một cô con gái, nên mẹ hy vọng sẽ sinh thêm nhiều con gái để cân bằng tỉ lệ giới trong gia đình. Khi mẹ từ bệnh viện trở về, mẹ gọi tôi xuống tầng để xem các em. Lúc đó là tháng Bảy, thời điểm nóng nhất của mùa hè – tôi đã hỏi mẹ rằng mẹ nóng à khi tôi nhìn thấy những sợi tóc dính đầy mồ hôi trước trán mẹ. Cha nhắc tôi ngồi xuống ghế sô-pha. Sau một hồi, cha từ từ bế hai em mới sinh trao cho tôi rất cẩn thận, tôi bế mỗi em một bên tay. Tôi nhìn hai em âu yếm, cả hai đều có má phúng phính rất dễ thương, những ngón tay nhỏ xíu và mặc quần áo màu hồng với hàng cúc áo nhựa bé tí. Một chiếc cúc áo bị tuột ra và tôi đã cài lại cho em. Thêm nhiều thành viên mới cũng làm cho gia đình gặp những khó khăn mới. Thời gian tắm luôn phải nhanh chóng và lúc nào cũng đông người. Mỗi tối thứ Bảy vào lúc 6 giờ, cha lại xắn tay áo và gọi tất cả con trai bao gồm tôi, các em Lee, Steven, và Paul vào tắm chung. Tôi chẳng thích thời gian tắm một chút nào, phải dùng chung bồn tắm với các em, lại phải dội nước xà phòng nóng lên tóc và mặt, lũ em thì té nước vào nhau làm hơi nóng nghi ngút phòng. Tôi thường xuyên khóc nhưng cha mẹ luôn dỗ dành tôi tắm chung với các em. Quá nhiều người trong một ngôi nhà, nước nóng cũng trở nên khan hiếm. Ngoài những vấn đề trong sinh hoạt, gia đình cũng gặp vấn đề về tiền nong. Với năm đứa trẻ dưới bốn tuổi, cha mẹ phải thường xuyên ở nhà chăm lo cho gia đình. Thiếu đi một khoản lương tạo nên rất nhiều áp lực hơn với mẹ và cha, việc tranh luận nên tiêu tiền vào việc gì, khi 59 Sinh vào ngày xanh nào và ở đâu ngày càng trở nên thường xuyên. Mặc dù thế, cha mẹ làm mọi thứ có thể để đảm bảo con cái không bị thiếu thức ăn, quần áo, sách vở hay đồ chơi. Mẹ tôi tìm kiếm hàng hóa dưới mức trung bình ở tổ chức từ thiện địa phương và các cửa hàng second-hand(*) hay ở chợ rồi tạo nên những sản phẩm thẩm mỹ, trong khi đó, cha tôi khéo léo làm những công việc quanh nhà. Cha và mẹ cùng nhau tạo nên một đội hùng mạnh. Tôi cố tránh xa sự huyên náo hàng ngày ở gia đình; tôi và em Lee chung phòng ngủ, mọi người trong gia đình đều biết có thể tìm tôi ở đó bất kể thời gian nào trong ngày. Thậm chí vào mùa hè, khi các em trai và gái cùng nhau chạy lòng vòng dưới cái nắng gay gắt bên ngoài còn tôi lại ngồi dưới sàn trong phòng, chân vắt chữ ngũ và tay đặt lên đùi. Thảm của căn phòng dày, gợn sóng và màu thâm; tôi thường xuyên tò mò nhìn mu và lòng bàn tay bởi vì tôi thích cảm giác được nhìn những đường chỉ tay trên đó. Suốt khoảng thời gian ấm áp, ánh sáng mặt trời rót đầy vào căn phòng chiếu sáng các hạt bụi trong không khí quanh tôi như thể chúng hòa quyện với nhau thành một mảng sáng lốm đốm. Những lúc như vậy, tôi ngồi im lặng hàng giờ liền, chăm chú nhìn sự nhòa dần của màu sắc khi ngày trôi qua; bằng cách đó tôi có thể cảm nhận được sự chuyển động của thời gian. Biết rõ nỗi ám ảnh của tôi về những con số, mẹ đưa cho tôi một cuốn sách câu đố toán học dành cho trẻ em mà mẹ đã mua ở hiệu sách cũ. Đó là khoảng thời gian tôi bắt đầu học tiểu học vì tôi nhớ thầy Thraves – thầy giáo tôi – đã dọa sẽ đuổi tôi ra khỏi lớp nếu tôi mang cuốn sách đó vào lớp. Thầy nghĩ tôi dành quá nhiều thời gian để nghĩ về những con số và không dành đủ thời gian để hòa nhập với các bạn trong lớp, và dĩ nhiên là thầy đúng. * Hàng đã qua sử dụng. 60 Sinh vào ngày xanh Một trong những bài tập trong cuốn sách có dạng: Có 27 người trong phòng, mỗi người bắt tay với những người còn lại. Hỏi tổng cộng có bao nhiêu cái bắt tay? Khi đọc bài tập này, tôi nhắm mắt lại và tưởng tượng hai người đàn ông trong một quả bóng lớn, sau đó tôi tưởng tượng một nửa quả bóng bị kẹt trong một phần quả bóng lớn hơn với người thứ ba ở bên trong. Hai người trong bóng lớn bắt tay nhau và sau đó bắt tay với người thứ ba ở phần còn lại quả bóng. Điều đó có nghĩa có ba lần bắt tay giữa ba người. Tiếp theo tôi tưởng tượng nửa thứ hai còn lại của quả bóng bị kẹt trong quả bóng lớn hơn và có người thứ tư trong đó. Sau đó, hai người trong quả bóng lớn lần lượt bắt tay với người thứ tư và sau đó người đàn ông trong nửa quả bóng còn lại bắt tay với những người còn lại. Cuối cùng có sáu lần bắt tay giữa bốn người. Bằng cách này, tôi tiếp tục tính được thêm hai người nữa trong hai nửa quả bóng cho đến khi có sáu người và có mười lăm lần bắt tay. Chuỗi số lần bắt tay có dạng sau: 1, 3, 6, 10, 15... Tôi nhận ra rằng những số này là những số tam giác, những số có thể sắp xếp thành hình tam giác khi biểu diễn chúng như một chuỗi các dấu chấm, như hình sau: Những số hình tam giác được hình thành như sau: 1+2+3+4+5... ở đó 1+2 = 3 và 1+2+3 = 6 và 1+2+3+4 = 10, v.v... Bạn có thể nhận ra rằng hai số tam giác liên tiếp tạo nên một số 61 Sinh vào ngày xanh bình phương ví dụ 6+10 = 16 (4⋅4) và 10+15 = 25 (5⋅5). Để nhìn thấy điều này, quay số sáu đến khi nó khớp với góc phải bên trên số mười. Nhận ra điều đó câu trả lời cho số lần bắt tay sẽ phải là một số tam giác. Tôi phát hiện mẫu hình giúp tìm ra lời giải. Tôi biết số tam giác đầu tiên – số 1 – bắt đầu từ hai người, số người ít nhất cần cho một lần bắt tay. Nếu dãy số tam giác bắt đầu với hai người, thì số thứ hai mươi sáu trong dãy sẽ trùng với số bắt tay của hai mươi bảy người với nhau. Tiếp đó tôi nhìn thấy số mười, số thứ tư trong dãy, có liên hệ với số bốn với dạng: 4+1 ⋅ 4/2, và điều này cũng đúng cho tất cả các số khác trong dãy; ví dụ mười lăm, số tam giác thứ năm, = 5 + 1 ⋅ 5/2. Do đó câu trả lời cho câu hỏi tương ứng với 26 + 1 ⋅ 26/2 = 27 ⋅ 13 = 351 lần bắt tay. Tôi thích thú giải những bài toán có dạng này; chúng giúp tôi có được cách tiếp cận với toán học theo một cách khác không theo cách dạy ở trường. Tôi dành hàng tiếng đồng hồ đọc và làm bài tập bất kể ở lớp, sân chơi hay trong phòng mình. Đọc những trang sách đó giúp tôi cảm thấy thoải mái và thanh thản. Sách và tôi trở nên gắn bó với nhau như hình với bóng. Một trong những sự thất vọng lớn nhất của cha mẹ chính là niềm đam mê sưu tập nhiều thứ lặt vặt của tôi như sưu tập hạt dẻ ngựa màu nâu bóng thường rơi vào mùa thu từ những cây cổ thụ phủ kín con đường gần nhà. Cây cối là nguồn cảm hứng của tôi. Tôi thích cọ 62 Sinh vào ngày xanh lòng bàn tay vào vỏ cây sần sùi, thô ráp, rê ngón tay dọc theo những rãnh nứt trên vỏ cây. Lá rơi tạo thành hình xoắn ốc trên không trung giống như hình xoắn ốc khi tôi làm phép chia. Cha mẹ không thích tôi ra ngoài một mình do đó tôi thường nhặt hạt dẻ ngựa cùng em trai Lee. Có em tôi không cảm thấy phiền – có Lee như thêm một đôi tay. Tôi bốc từng vốc dẻ ngựa nhẵn và tròn trịa dưới đường vào lòng bàn tay (một thói quen tôi phải làm hàng ngày – hành động đó mang lại cho tôi cảm giác thoải mái mặc dù bây giờ tôi sử dụng đồng xu hoặc viên bi thay cho những hạt dẻ ngựa). Tôi nhét đầy túi dẻ ngựa. Nó giống như một sự cưỡng chế, bắt buộc với tôi, tôi nhặt hết những hạt dẻ ngựa mà tôi nhìn thấy, gom chúng vào một chỗ. Tôi cởi giày, tất rồi bỏ đầy dẻ ngựa vào đó, đi chân đất về nhà với đầy dẻ ngựa trên tay và trong túi quần. Về nhà, tôi đổ hết dẻ ngựa lên sàn phòng ngủ và đếm đi đếm lại. Cha lên phòng đưa cho tôi một túi nhựa và nói tôi đếm rồi bỏ chúng vào đó. Tôi dành hàng giờ liền mỗi ngày cho việc lượm nhặt những hạt dẻ ngựa và mang chúng về phòng rồi nhanh chóng cho vào bao chứa ở góc phòng. Cuối cùng, cha mẹ sợ quá nhiều dẻ ngựa sẽ ảnh hưởng đến trần nhà của phòng tầng dưới nên đem bao tải đó ra vườn. Cha mẹ cho phép tôi tiếp tục chơi với chúng trong vườn nhưng không được mang vào nhà, đề phòng trường hợp các em gái tôi nghịch và nuốt phải. Nhiều tháng trôi qua, cuối cùng niềm yêu thích các hạt dẻ ngựa của tôi cũng suy giảm dần rồi những hạt dẻ ngựa trở nên mốc meo, cha mẹ phải mang vứt chúng vào bãi rác địa phương. Một thời gian ngắn sau đó, tôi lại có niềm đam mê khác là sưu tập các loại tờ rơi với đủ kích cỡ khác nhau. Những tờ rơi thường xuyên được nhét vào thùng thư của nhà cùng với tờ báo địa phương hoặc bưu phẩm vào buổi sáng, tôi thực sự thích thú được sờ vào những mẩu giấy màu sáng và có hình đối xứng (tôi không quan tâm họ quảng 63 Sinh vào ngày xanh cáo cái gì – nội dung quảng cáo không thu hút tôi). Cha mẹ nhanh chóng phàn nàn về đống giấy chất chồng lên nhau mà tôi tích lũy ở mọi nơi trong nhà từ ngăn kéo đến chạn bát, mỗi khi mở cửa chạn chúng đổ ập uống sàn nhà. Cũng như hạt dẻ ngựa, nghiện sưu tập tờ rơi cũng dần dần phai nhạt theo thời gian làm cho cha mẹ khuây khỏa rất nhiều. Khi ngoan ngoãn, tôi nhận được một khoản tiền bỏ túi. Ví dụ, nếu có nhiều tờ rơi trên sàn nhà, cha mẹ đề nghị tôi nhặt chúng lên và bỏ vào ngăn kéo, đổi lại, cha mẹ thưởng tiền xu cho tôi, vì cha mẹ biết rằng tôi thích các hình tròn. Tôi dành nhiều thời gian cẩn thận sắp xếp những đồng xu chồng lên nhau cho đến khi tạo nên những tháp tiền xu cao vài chục centimet lấp lánh, chênh vênh. Mẹ thường đổi nhiều tiền lẻ ở cửa hàng vì thế tôi thường xuyên được cung cấp tiền xu cho những tháp tiền của mình. Thỉnh thoảng tôi xếp chồng nhiều cột bằng nhau quanh mình thành hình tròn và ngồi vào giữa, những lúc như thế thường mang lại cho tôi cảm giác yên bình và an toàn. Khi Thế vận hội diễn ra tại thủ đô Seoul Hàn Quốc vào tháng Chín năm 1988, có nhiều màn biểu diễn và âm thanh trên tivi cuốn hút tôi, sự kiện này không giống như những thứ tôi đã từng xem trước đó. Với 8.465 vận động viên tham gia từ 159 quốc gia, đây là Thế vận hội lớn nhất trong lịch sử. Có nhiều cảnh tượng khác lạ, những vận động viên bơi lội lướt trên làn nước sủi bọt, lấp lánh, đầu trồi lên rồi hạ xuống một cách nhịp nhàng sau mỗi sải bơi; những vận động viên chạy nước rút có đôi chân và tay rắn chắc, xạm đen với tốc độ thần tốc đến mức tưởng như không thể nhìn thấy từng bước chạy; những vận động viên thể dục dụng cụ uốn mình, nhào lộn và xoay người trên không. Tôi mải mê xem các bản tin Olympic nhiều nhất có thể từ phòng khách, cả các trận đấu lẫn các sự kiện. Thật may mắn cho tôi khi cô giáo đề 64 Sinh vào ngày xanh nghị cả lớp làm một tiểu luận về Thế vận hội Seoul. Tôi dành một tuần sau đó để cắt dán hàng trăm bức ảnh các vận động viên và các sự kiện từ báo và tạp chí lên một tấm giấy cạc-tông đầy màu sắc, cha đã giúp tôi cắt hình. Việc lựa chọn cách trình bày bằng hình ảnh sao cho lôgic tạo nên cái nhìn toàn cảnh về Thế vận hội: những vận động viên mặc đồ đỏ được dán trên một góc của tấm giấy, còn những vận động viên mặc màu vàng được đặt ở một góc khác, vận động viên màu trắng ở góc thứ ba và cứ tiếp tục như vậy. Trên những tờ giấy có dòng kẻ nhỏ hơn tôi viết nắn nót danh sách tên tất cả các quốc gia mà tôi tìm thấy trên báo có vận động viên tham dự Thế vận hội. Tôi cũng viết một danh sách dài tất cả các sự kiện khác nhau, bao gồm Taekwondo – môn thể thao quốc gia của Hàn Quốc – và bóng bàn, môn thi đấu đầu tiên ở Seoul. Có cả một bảng thống kê, kết quả gồm các mốc sự kiện, thời gian thi đấu, những kỷ lục mới và huy chương. Cuối cùng, có nhiều mẩu giấy nhỏ được cắt và viết đến nỗi cha phải đục lỗ mỗi tờ và xâu chúng lại vào một sợi dây. Trên bìa trước tôi vẽ một bức tranh những vòng tròn Olympic với các màu xanh, vàng, đen, lá cây và đỏ. Cô giáo cho bài tiểu luận của tôi điểm cao nhất vì thời gian và công sức tôi đã dành cho nó. Đọc về các quốc gia khác nhau tham dự Thế vận hội thôi thúc ham muốn hiểu nhiều hơn về những quốc gia này của tôi. Tôi nhớ đã mượn một cuốn sách ở thư viện về các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Trong đó mô tả và minh họa những chữ cái ABC Phoenician cổ. Ngôn ngữ này xuất hiện vào khoảng 1000 năm trước Công nguyên và được cho là nguồn gốc của nhiều hệ thống ABC của ngôn ngữ thế giới hiện đại, bao gồm: Hebrew và Ả Rập, Hy Lạp và Cyrillic. Cũng giống như ngôn ngữ Hebrew, Ả Rập, Phoenician cổ là một hệ thống chữ chỉ có phụ âm, không có ký hiệu nguyên âm, chúng được suy diễn từ những văn cảnh cụ thể. Toàn bộ từ thường được viết từ phải sang trái. 65 Sinh vào ngày xanh Tôi rất hứng thú với cách phân biệt những dòng và đường vòng của mỗi chữ cái khác nhau và thậm chí bắt đầu viết trên hết tập giấy này đến tập giấy khác cùng với nhiều câu chuyện và câu dài bằng ngôn ngữ cổ ấy. Sử dụng những cục phấn màu, tôi phủ lên thành tường trong khu vườn nhà với những từ yêu thích hoàn toàn tạo bởi chữ Phoenician cổ. Dưới đây là tên tôi, “Daniel”, trong tiếng Phoenician cổ: Năm tiếp theo, khi lên mười, một bác hàng xóm mất và một gia đình trẻ chuyển tới. Một ngày nọ, một cô bé tóc vàng đến nhà tôi và mẹ ra mở cửa, cô bé nói rằng, đã nhìn thấy một bạn gái nhỏ tuổi chơi ở ngoài từ nhà tôi (cô bé đó chắc là em gái tôi, Claire) và hỏi rằng bé có thể đến và chơi cùng em tôi được không. Mẹ tôi giới thiệu cô bé đó với em gái tôi và tôi – mẹ nghĩ rằng đó là một cơ hội tốt cho tôi để hòa nhập với những đứa trẻ hàng xóm – và chúng tôi thường qua nhà cô bé đó chơi, ngồi dưới mái vòm trước vườn. Em gái tôi và cô bé hàng xóm nhanh chóng trở thành bạn tốt và thường xuyên chơi cùng nhau suốt cả ngày trong vườn nhà cô bé. Tên cô bé là Heidi cỡ khoảng 6 hoặc 7 tuổi. Mẹ của bé là người Phần Lan nhưng cha lại là người Scotland vì vậy lớn lên Heidi nói tiếng Anh và chỉ đến bây giờ mới bắt đầu học những từ trong tiếng Phần Lan đầu tiên. Heidi có một vài cuốn sách dành cho trẻ em với nhiều hình vẽ sáng, sặc sỡ và từ ngữ diễn tả chủ đề ở dưới là tiếng Phần Lan. Dưới các hình vẽ của quả táo đỏ, sáng màu là từ omena và dưới hình đôi giày là chữ kenkä. Đôi khi hình dáng và âm thanh của một số từ Phần Lan rất đẹp đối với tôi khi đọc và nghe. Trong khi em gái tôi và Heidi chơi cùng nhau tôi ngồi và học những cuốn sách đó, tôi đã học được rất 66 Sinh vào ngày xanh nhiều từ. Mặc dù chúng rất khác biệt so với những từ trong tiếng Anh nhưng tôi có khả năng học chúng rất nhanh và nhớ tất cả một cách dễ dàng. Bất kể lúc nào rời khỏi khu vườn nhà Heidi tôi đều quay lại và nói với cô bé, Hei Hei! – “tạm biệt” trong tiếng Phần Lan. Mùa hè năm đó, lần đầu tiên tôi được phép đi bộ một đoạn ngắn đến trường và trở về nhà. Con đường có những hàng rào thẳng và một buổi chiều khi rảo bước từ trường về nhà tôi nhìn thấy một con côn trùng màu đỏ nhỏ xíu có những chấm đen trên thân đậu trên hàng rào. Tôi bị hấp dẫn bởi con côn trùng đó vì thế tôi ngồi xuống vỉa hè và nhìn thật gần cho đến khi nó bò qua rồi xuống dưới các lá nhỏ và cành cây, rồi cứ thế, dừng lại, tiếp tục bò, sau đó dừng lại và cứ tiếp tục như thế trong hành trình của nó. Cái lưng của con côn trùng tròn và bóng, tôi đếm đi đếm lại những chấm trên lưng của nó. Những người qua đường phải đi vòng qua tôi, một số người cằn nhằn không thành tiếng. Tôi chắn đường họ nhưng lúc đó tôi chẳng nghĩ gì cả, rồi một con bọ rùa hạ cánh ngay trước mặt tôi. Một cách cẩn thận tôi đưa ngón tay cho nó bò lên, sau đó chạy về nhà. Trước đó, tôi chỉ mới nhìn thấy bọ rùa qua những bức tranh trong sách, nhưng tôi đã đọc và biết tất cả về chúng, ví dụ, chúng được coi là biểu tượng của nhiều nền văn hóa bởi vì chúng tiêu diệt những loại bọ có hại (chúng có thể ăn từ năm mươi đến sáu mươi con rệp vừng mỗi ngày) và bảo vệ mùa màng. Thời Trung cổ, những người nông dân cho rằng sự giúp đỡ của bọ rùa rất thiêng liêng nên chúng được đặt tên sau tên Đức mẹ đồng trinh. Những chấm đen của bọ rùa hấp thụ năng lượng mặt trời, chính màu sắc đó làm kẻ thù tránh xa chúng vì hầu hết những loài có màu sặc sỡ có liên hệ với chất độc. Chúng cũng sản sinh ra một chất hóa học mà khi nếm hay ngửi rất kinh khủng, do đó kẻ thù không thể ăn thịt chúng. Tôi cảm thấy rất hào hứng về khám phá của mình và muốn sưu tầm 67 Sinh vào ngày xanh bọ rùa. Khi mẹ nhìn thấy tôi đi qua cửa trước với một con côn trùng trong tay bà nói với tôi rằng nó rất bẩn và tôi nên nói “bọ rùa, bọ rùa, bay khỏi nhà tao”, nhưng tôi không nói như thế vì tôi không muốn nó bay đi. Ở tầng trên trong phòng tôi có một ống nhựa để cất bộ sưu tập tiền xu. Tôi đổ các đồng xu thành một đống trên sàn, lấy ống nhựa và cho con bọ rùa vào. Sau đó tôi lại chạy ra ngoài đường tìm kiếm trên các bờ giậu mấy tiếng liền cho đến khi trời tối sầm xem có thấy con bọ rùa nào nữa không. Mỗi khi tìm được một con, tôi nhẹ nhàng lấy tay bắt và bỏ vào trong ống nhựa cùng những con bọ rùa khác. Tôi đã đọc được rằng bọ rùa thích ăn lá và rệp vừng, vì thế tôi bứt nhiều lá và một vài nhánh tầm ma có rệp vừng ở các bờ giậu cho vào ống. Trở về nhà tôi mang ống nhựa lên phòng mình và đặt nó trên bàn cạnh giường. Tôi dùng kim đục vài lỗ nhỏ trên thành ống để bọ rùa có nhiều không khí và ánh sáng trong ngôi nhà mới của chúng, sau đó tôi đặt một cuốn sách nặng lên miệng ống để chúng không thể bay ra. Tuần kế tiếp mỗi ngày sau khi đi học về tôi đều đi bứt lá và rệp vừng cho bọ rùa. Tôi phun nước vào một số lá để chúng không bị khát. Ở lớp, tôi liên tục nói về những con bọ rùa đến nỗi thầy tôi, thầy Thraves, thấy bực mình và yêu cầu tôi mang những con bọ rùa đến lớp. Ngày hôm sau tôi mang những con bọ rùa theo cho thầy và các bạn trong lớp chiêm ngưỡng bộ sưu tập bọ rùa của tôi. Đến thời điểm đó tôi đã bắt được hơn trăm con bọ rùa. Thầy giáo xem qua và bảo tôi bỏ ống xuống bàn thầy. Thầy đưa tôi một mảnh giấy và bảo tôi đưa mẩu giấy đó cho một giáo viên lớp bên. Tôi đi vài phút và quay lại. Thầy Thraves lo ngại lũ bọ rùa thoát ra và bay đầy lớp nên đã nói một học sinh đem ống ra ngoài và giải phóng tất cả số bọ rùa. Khi biết chuyện xảy ra, tôi cảm thấy như đầu sắp nổ tung. Tôi bật khóc và chạy ra khỏi lớp, thẳng về nhà. Tôi giận thầy Thraves cùng cực và không nói 68 Sinh vào ngày xanh với thầy một lời nào nhiều tuần sau đó và thậm chí trở nên kích động khi thầy gọi tên tôi. Những lúc khác thầy Thraves là một người tốt, tốt một cách khác thường với tôi. Mỗi khi cảm thấy lo lắng hoặc mệt mỏi thầy đưa tôi đến phòng nhạc của trường để giúp tôi bình tĩnh trở lại. Thầy là một nhạc sĩ và thường chơi ghi-ta cho học sinh trong lớp nghe trong tiết học của thầy. Phòng nhạc chứa đầy nhạc cụ bao gồm chũm chọe, trống và một cái piano. Chúng được sử dụng trong các dịp lễ trong năm. Ông chỉ cho tôi những phím piano tạo ra các nốt khác nhau như thế nào và dạy tôi chơi những giai điệu đơn giản. Tôi thích thăm phòng nhạc và thích được ở một mình bên chiếc piano và thực hành trên các phím đàn. Tôi luôn luôn thích nhạc vì nó giúp tôi giải tỏa lo lắng và làm cho tôi cảm thấy bình tĩnh và yên bình. Suốt thời gian đi học tôi thường cảm thấy lo lắng rất nhiều. Tôi cảm thấy bối rối khi có sự kiện gì đó ở trường yêu cầu tất cả học sinh phải tham gia hoặc những thay đổi khác với sinh hoạt bình thường ở lớp. Khả năng có thể dự đoán được rất quan trọng đối với tôi, điều đó đem lại cảm giác làm chủ tình huống, một cách tránh lo lắng, ít nhất là tạm thời. Ở trường tôi không bao giờ cảm thấy thoải mái và hiếm khi cảm thấy vui vẻ, trừ khi được để một mình làm thứ mình thích. Đau đầu và đau dạ dày là những tín hiệu cho thấy tôi đã căng thẳng như thế nào trong quãng thời gian này. Đôi khi, tệ đến mức tôi không muốn nhìn thấy lớp học một tí nào, ví dụ nếu tôi đến lớp muộn vài phút và nhận thấy cả lớp đã đi tập trung. Tôi khiếp sợ khi nghĩ một mình bước vào sảnh và cũng không muốn chờ đợi cả đám đông lũ trẻ ồn ào trở về, vì thế tôi đi bộ một mạch về nhà và lên phòng mình. Ngày hội thể thao hàng năm của trường cũng thật khốn khổ đối với tôi. Tôi không có một chút hứng thú nào tham gia và chơi thể thao. Trong ngày hội, nhiều đám đông reo hò, cổ vũ cho các môn thi đấu 69 Sinh vào ngày xanh như nhảy bao bố và chạy thi giữ trứng trong thìa, đám đông và sự ồn ào (và thường đi kèm với cái nóng của mùa hè) quá sức chịu đựng của tôi. Cha mẹ thường cho phép tôi ở nhà hơn là mạo hiểm để tôi tham gia sự kiện này. Nếu tôi cảm thấy bị lấn át trong tình cảnh ấy thì mặt tôi trở nên đỏ bừng và tôi có thể đập vào bên đầu rất mạnh cho đến khi đau nhừ. Tôi cũng có cảm giác vô cùng căng thẳng đến nỗi tôi phải làm vài thứ gì hay bất cứ gì để thoát khỏi tình cảnh đó. Điều đó xảy ra một lần trong một giờ học về khoa học. Thầy Thraves giúp một trong những học sinh chuẩn bị thí nghiệm buộc một quả bóng trên đầu một sợi dây. Bị hấp dẫn bởi cảnh tượng lạ đó – không nhận ra đó là một phần của bài thí nghiệm đang được tiến hành – tôi đi đến chỗ con lắc và bắt đầu chạm vào và kéo nó bằng các ngón tay của mình. Lúc đó thầy giáo trở nên khó chịu và chặn tôi lại mà không có lý do gì (ít nhất chỉ có ông ấy hiểu) và nói tôi đi ra, nhưng tôi không hiểu tại sao ông ấy lại giận dữ với tôi và trở nên không rõ ràng và khó chịu như vậy. Tôi chạy ra khỏi lớp, đóng sầm cửa lại với lực mạnh đến nỗi làm cho cửa kính vỡ thành nhiều mảnh nhỏ. Tôi vẫn còn nhớ nghe rõ tiếng ồ lên kinh ngạc của lũ trẻ sau mình khi tôi chạy ra khỏi lớp. Khi về nhà cha mẹ giải thích rằng tôi phải cố gắng rất nhiều để không phản ứng như thế lần nữa. Họ đã phải đến gặp thầy hiệu trưởng, viết một lá thư xin lỗi và đồng ý trả tiền thay cửa bị vỡ. Một ý tưởng của cha mẹ giúp tôi kiềm chế cảm xúc tốt hơn là dạy tôi nhảy dây. Họ hy vọng tôi sẽ cải thiện khả năng kết hợp các kỹ năng và khuyến khích tôi chơi ngoài trời, ngoài phòng của mình, nhiều hơn. Mặc dù cũng phải mất thời gian để làm quen nhưng nhanh chóng sau đó tôi có thể nhảy được trong khoảng thời gian dài, khi đó tôi cảm thấy dễ chịu hơn và bình tĩnh hơn. Khi nhảy tôi đếm từng vòng một và nhìn thấy các hình dáng, kết cấu các con số khi tôi tưởng tượng về nó. Tôi thường cảm thấy lẫn lộn khi được đưa các bài tập số học trong 70 Sinh vào ngày xanh lớp cùng với nhiều con số được in bằng mực đen. Đối với tôi, nó dường như là những tờ giấy đầy lỗi. Tôi không thể luận ra, ví dụ như, tại sao số tám không to hơn sáu, hoặc tại sao số chín lại không phải màu xanh mà lại là màu đen. Tôi cho rằng, trường học đã in quá nhiều số chín trong những tờ bài tập trước cho nên bây giờ không còn mực để in màu đúng. Khi viết câu trả lời trên bài kiểm tra, giáo viên phàn nàn rằng chữ viết của tôi không đều và quá lộn xộn. Tôi được dạy phải viết các số bằng nhau. Tôi không thích phải viết các con số mà không đúng. Ngoài tôi ra chẳng đứa trẻ nào phiền lòng vì điều đó cả. Ở tuổi thiếu niên tôi đã nhận ra rằng nhận thức của tôi về những con số rất khác với chúng bạn. Tôi luôn thực hiện các phép toán rất nhanh so với những đứa trẻ khác trong lớp. Theo thời gian, tôi tiến bộ, theo đúng nghĩa đen của nó, sách đối tôi quan trọng hơn mọi thứ khác. Sau khi hoàn thành, cô giáo yêu cầu tôi ngồi vào bàn và yên lặng để không làm ảnh hưởng đến các bạn khác trong khi chúng làm bài. Lúc đó tôi úp mặt lên tay và nghĩ về các con số. Đôi lúc trong khi chìm vào suy nghĩ tôi rên nhẹ mà không nhận ra là mình đang làm thế cho đến khi cô giáo đến gần, khi nhận ra cô đến tôi mới dừng rên. Để giết thời gian tôi tạo ra những mã riêng của mình, thay những chữ bằng con số, ví dụ: “24 1 79 5 3 62” là mật mã của “Daniel”. Ở đây, tôi ghép cặp các chữ trong bảng chữ cái: (ab), (cd), (ef), (gh), (ij), v.v... và gán cho mỗi cặp một số từ 1-13: (ab)=1, (cd)=2, (ef)=3, (gh)=4, (ij)=5, v.v... Sau đó chỉ cần phân biệt giữa mỗi chữ cái trong cặp chữ. Tôi làm điều này bằng cách thêm một số ngẫu nhiên nếu tôi cần chữ thứ hai trong mỗi cặp, mặt khác tôi chỉ đơn giản viết con số tương ứng với cặp chứa chữ đó. Như vậy “24” có nghĩa là chữ thứ hai trong cặp thứ hai, “d”, trong khi đó “1” là mật mã của chữ đầu tiên trong cặp chữ đầu tiên, “a”. 71 Sinh vào ngày xanh Sau khi xin phép cô giáo, tôi thường mượn các cuốn sách giáo khoa toán về nhà. Tôi nằm sấp trên sàn nhà trong phòng của mình, đầy sách bao quanh và làm các phép toán hàng giờ liền. Một lần, em trai tôi Lee vào phòng và quan sát tôi. Biết rằng tôi thích nhân một số với chính nó, nó liền đưa ra vài phép toán cho tôi tính và kiểm tra kết quả với một máy tính cá nhân: “23? 529” “48? 2304” “95? 9025”. Sau đó Lee đưa ra một phép toán lớn hơn nhiều: “82⋅82⋅82⋅82?” Tôi nghĩ khoảng mười giây, tay tôi siết chặt và đầu chứa đầy các hình, màu sắc và cấu trúc. Tôi trả lời “45.212.176”. Em trai tôi không nói gì, vì thế tôi nhìn nó. Mặt nó trông khác lạ; nó đang cười. Chưa bao giờ chúng tôi gần gũi như thế. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nó cười với tôi. Mùa hè cuối cùng của tôi ở Dorothy Barley, các giáo viên trong trường tổ chức một chuyến đi kéo dài một tuần cho nhiều lớp trong đó có cả lớp tôi đến Trewern, một trung tâm vui chơi ngoài trời nằm ở nông thôn trên biên giới Vương quốc Anh và xứ Wales. Cha mẹ cho rằng đó sẽ là cơ hội tốt cho tôi để sống trong một môi trường khác trong vài ngày. Đến đón chúng tôi và các thầy cô giáo là một người tài xế sặc mùi thuốc lá với một xe chở khách bóng bẩy. Cha đã giúp tôi gói ghém quần áo và sách vở cho chuyến đi và đi tiễn tôi. Tại trung tâm, các học sinh được chia ra thành các nhóm nhỏ và mỗi nhóm được phân cho một cái lều để ở trong một tuần. Trong mỗi lều chỉ đủ không gian cho những chiếc giường tầng, một cái bồn rửa, một cái bàn và một cái ghế. Tôi ghét đi xa nhà vì mọi thứ bị đảo lộn và tôi thấy khó đối phó với nhiều sự thay đổi. Chúng tôi phải dậy rất sớm – khoảng năm giờ sáng – mặc quần soọc, áo thun và chạy quanh một cái sân. Trong thời gian ở trung tâm tôi luôn bị đói vì ở đó không có bất kỳ một loại thực phẩm nào mà tôi hay ăn ở nhà, ví dụ như bánh xăng-uých bơ đậu hoặc bích quy Weetabix. Tôi cũng có rất ít thời gian cho bản thân vì mọi ngày chúng tôi phải tham gia vào các hoạt động tập thể. 72 Sinh vào ngày xanh Một trong nhiều hoạt động đó là cưỡi ngựa, được thực hiện bởi cơ sở huấn luyện ngựa địa phương. Trong một ngày chúng tôi phải học làm thế nào để điều khiển được ngựa, sau đó cưỡi ngựa đi một vòng trên những con đường trong khu vực cùng với người hướng dẫn. Tôi cảm thấy rất khó giữ thăng bằng trên lưng ngựa và luôn bị trượt khỏi yên ngựa, do đó tôi giữ cương rất chặt để khỏi ngã. Một trong những chủ ngựa nhìn thấy tôi và rất giận dữ quát tôi. Bà ta rất yêu quý ngựa, nhưng tôi thì không hiểu đã làm sai điều gì làm bà ta hết sức khó chịu. Sau đó, tôi rút dần ra khỏi các hoạt động tập thể và dành hết thời gian có thể trong lều một mình. Còn có những hoạt động tập thể khác, trong đó có khám phá một cái hang ngầm. Trong hang rất tối vì vậy mọi người phải đội mũ gắn đèn. Hang lạnh, ẩm ướt, nhầy nhụa và tôi rất vui mừng khi đi ra khỏi hang trên một cây cầu gỗ bắc qua một dòng suối. Tôi đi chậm rãi qua cầu, một trong những cậu bé trong nhóm chạy lên, phá lên cười và đẩy mạnh làm tôi rơi xuống nước. Bị sốc, tôi im lặng một lúc lâu và ngồi trong dòng nước cạn, quần áo ướt đẫm, dính vào người. Sau đó tôi trèo lên và đi về lều, mặt đỏ bừng, cố gắng hết mức để không khóc sau khi mất điều khiển bất ngờ. Bị bắt nạt là vấn đề đối với tôi bởi vì tôi khác biệt và sống khép mình. Thỉnh thoảng, cũng có một vài đứa trẻ trong lớp trêu trọc hoặc đặt cho tôi biệt danh vì tôi không có bạn bè. Thật may mắn chúng luôn chán nản và bỏ đi vì tôi không đáp trả. Những việc như vậy càng làm mạnh hơn ý thức trong tôi rằng tôi là một người ngoài cuộc và không thuộc về lớp. Có một điểm sáng trong tuần tại Trewern – trong buổi tổng kết của chuyến đi, những nhân viên tại trung tâm trao giải cho các nhóm khác nhau; nhóm của tôi được giải lều sạch nhất. Đối với tôi, ở nhà luôn là tuyệt vời nhất, đó là nơi tôi cảm thấy an toàn và tĩnh tại. Chỉ có một nơi khác cũng đem lại cảm giác như vậy 73 Sinh vào ngày xanh cho tôi đó là ở thư viện. Từ khi có thể đọc hàng ngày tôi bắt cha mẹ đưa tôi đến tòa nhà nhỏ làm bằng gạch với những bức tường đầy các hình vẽ graffiti, trong tòa nhà có một phòng với từng hàng giá sách nối tiếp nhau chứa đầy những cuốn sách bìa cứng được gắn mã cho trẻ em và túi đậu màu sáng ở góc nhà. Hàng ngày, tôi đều đến thư viện sau khi tan học và vào những ngày nghỉ học, bất kể thời tiết thế nào, tôi ở đó hàng giờ liền, thường ở cho đến khi thư viện đóng cửa. Thư viện luôn tràn ngập sự yên lặng và trật tự, do đó đem lại cho tôi cảm giác hài lòng. Tôi thích đọc những cuốn bách khoa toàn thư, mặc dù ôm chúng rất nặng, do đó tôi phải ngồi vào bàn và đặt sách trước mặt. Tôi yêu thích đọc về những nhân vật và sự kiện khác nhau, như tên thủ đô các nước, lập danh sách tên cùng ngày tháng liên quan đến các vị vua và hoàng hậu của nước Anh, các tổng thống Mỹ cũng như những thứ tầm thường khác. Sự có mặt hàng ngày của tôi trở nên quen thuộc với các cô thủ thư và họ thường nói chuyện với cha mẹ khi tôi đọc. Người quản lý thư viện rất ấn tượng với sự có mặt của tôi và đề nghị thư viện trao cho tôi một phần thưởng, ghi nhận những nỗ lực và thành quả đọc của tôi. Thị trưởng thành phố đã trao giải tại một buổi lễ ngắn tại tòa thị chính. Khi tôi đến nhận giải ông thị trưởng đi đến và hỏi tên tôi, nhưng tôi không nghe thấy ông nói và chẳng trả lời gì vì tôi đang mải đếm những cái mắt xích ở chuỗi xích trên áo của ông, và tôi không giỏi làm nhiều hơn một việc một lúc. 74 Sinh vào ngày xanh 5 Người thừa ĐẾN BÂY GIỜ, TRONG TÂM TRÍ TÔI vẫn còn nguyên vẹn hình ảnh mình đứng thui thủi dưới bóng cây quanh sân trường nhìn các bạn chạy nhảy, reo hò. Khi đó, tôi mười tuổi, cũng là lúc tôi nhận ra mình khác biệt so với bọn trẻ, tôi không thể lý giải hay hiểu vì sao như vậy. Trên sân trường, lũ trẻ ồn ào, chạy nhảy tung tăng, xô đẩy nhau, đá bóng, ném bóng. Trong khi đó tôi luôn sợ bị bóng từ không trung rơi thẳng hay bị đá mạnh vào người. Chính vì vậy, tôi thích đứng ở rìa sân trường, giữ khoảng cách với các bạn. Tôi giữ thói quen đó trong các giờ ra chơi. Do đó, nó nhanh chóng lan truyền thành một trò đùa và mọi người đều biết Daniel là đứa nói chuyện với cây cối và là một đứa lập dị. Giải thích thế nào được nhỉ? Thực ra, tôi chưa bao giờ nói chuyện với cây cối. Chẳng có nghĩa lý gì khi nói chuyện với những thứ không thể đáp lại bạn. Nhưng tôi có thể nói chuyện với những con mèo vì ít nhất chúng cũng có thể đáp lại bằng tiếng kêu meo meo. Tôi thích thú khi được chơi dưới bóng cây râm mát trong sân trường vì ở đó tôi có thể đi qua đi lại, chìm đắm trong suy nghĩ mà không sợ bị va chạm. Có những khoảnh khắc tôi thấy mình như biến mất khi nấp sau thân 75 Sinh vào ngày xanh cây. Và nhiều khi, tôi thực sự muốn mình tan biến. Đơn giản, tôi nhận ra mình không thuộc về bất cứ nơi nào trong thế giới rộng lớn này, như thể tôi bị sinh ra nhầm thế giới. Cảm giác cô đơn trong tâm hồn, cảm giác không yên ổn, thiếu an toàn và tách biệt đè nặng lên tôi. Theo thời gian, khi lớn hơn, tôi ngày càng nhận rõ sự trống trải và bắt đầu mong đợi một tình bạn thật sự. Nhìn các bạn trong lớp, ai cũng có ít nhất một người bạn và nhiều hơn, chỉ riêng tôi... một mình. Đã nhiều đêm, tôi thức trắng, nằm trên giường, nhìn lên trần nhà và mường tượng làm bạn với một người sẽ thế nào. Tôi nghĩ đó là cách để mọi người thấy tôi không khác biệt nhiều so với họ. Có thể, bạn bè sẽ thay đổi suy nghĩ tôi là một người không bình thường. Thỉnh thoảng, bạn của em gái và em trai tôi đến nhà chơi sau buổi học ở trường nhưng cũng không giúp tôi cải thiện tình hình. Mỗi lúc như vậy, tôi ngồi lặng bên cửa sổ nhìn ra vườn và lắng nghe lũ trẻ chơi đùa. Tôi băn khoăn tại sao chúng không nói về những thứ thú vị như đồng xu, hạt dẻ ngựa hay những con bọ rùa. Đôi khi, một số bạn trong lớp cũng thử nói chuyện với tôi. Tôi cũng nói “thử”. Nhưng tôi rất khó nói chuyện vì tự tôi không biết phải nói thế nào hay phải làm gì. Khi giao tiếp, tôi luôn luôn nhìn xuống đất và không nhìn vào mắt người đối diện. Nếu nhìn lên, tôi lại nhìn vào miệng họ chuyển động. Thỉnh thoảng, thầy giáo nói chuyện với tôi và yêu cầu tôi nhìn vào mắt thầy. Tôi cố gắng làm theo yêu cầu của thầy, nhưng để làm được việc đó đòi hỏi tôi phải tập trung sức mạnh, ý chí. Hành động đó tạo cho tôi cảm giác khó chịu. Nói chuyện với ai, tôi thường nói dài, liên tục. Khái niệm về dừng hay đối đáp trong cuộc hội thoại đơn giản không tồn tại trong tôi. Tôi không bao giờ chủ định bất lịch sự với ai đó; bản thân tôi không hiểu mục đích của cuộc hội thoại có thể là bất cứ cái gì chứ không nhất thiết phải là những thứ thú vị đối với bản thân mình. Tôi có thể 76 Sinh vào ngày xanh nói một cách chi tiết, tỉ mỉ đến hết những điều muốn nói và có thể nổi cáu nếu ai đó ngắt giữa chừng. Chủ đề mà tôi nói đến chưa bao giờ là mối quan tâm của người tham gia nói chuyện. Quả thực, tôi chưa bao giờ để ý người đối thoại với tôi tỏ ý chán ngán hay nhìn đi đâu đấy. Tôi cứ nói, và chỉ kết thúc khi tôi nói câu đại loại như: “Tôi phải đi rồi.” Với tôi, lắng nghe người khác nói thật không dễ dàng. Khi ai đó nói chuyện, tôi luôn có cảm giác như bắt sóng một đài phát thanh. Những điều tôi nghe thấy tựa như dòng chảy, đi vào tai này và đi ra ở tai kia. Dần dần, tôi học được cách lắng nghe một vài đoạn hội thoại đủ để hiểu người đối diện nói gì. Nhưng tôi vẫn gặp phải vấn đề, khi người đối thoại hỏi, tôi lại không nghe câu hỏi. Vì thế, có đôi lúc họ bực mình, mất kiên nhẫn và điều đó khiến tôi cảm thấy buồn khổ. Sự bất lực của tôi trong việc tập trung vào các chủ đề nói chuyện khiến những cuộc trò chuyện trong lớp hay ngoài sân trường thường xuyên bị cản trở. Tôi thường suy nghĩ mông lung, một phần vì tôi nhớ quá nhiều. Bất kể một từ hoặc một cái tên xuất hiện ngẫu nhiên giữa cuộc nói chuyện cũng có thể tạo ra luồng suy nghĩ, liên tưởng đến một chuỗi mối quan hệ của đối tượng mà tôi nhớ, giống như hiệu ứng đô mi nô. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nghe đến cái tên “Ian” lập tức trong đầu tôi hiện hình ảnh về một người tôi biết với cái tên đó một cách tự phát mà không cần phải lục lại trí nhớ. Dần dần những hình ảnh quen thuộc gắn với Ian hiện ra. Ian đi chiếc xe Mini, hình ảnh đó gợi tôi nhớ đến cảnh trong bộ phim kinh điển The Italian Job. Dòng suy nghĩ của tôi không phải lúc nào cũng lôgic, nhưng chúng là một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau. Ở trường, đôi khi dòng suy nghĩ đó làm tôi không chú ý đến bài giảng hoặc mất tập trung và thầy cô giáo thường nhắc nhở. Cũng có lúc, tôi nghe được mọi từ và hiểu các chi tiết cuộc nói chuyện, tuy nhiên tôi lại không trả lời một cách hợp lý. Ai đó nói với 77 Sinh vào ngày xanh tôi rằng: “Tôi viết bài luận trên máy tính và chẳng may ấn nhầm nút xóa sạch mọi thứ” tôi lại nghe là anh ấy ấn nhầm phải nút không muốn và anh ấy đang viết một bài luận khi anh ấy bấm nút, tôi không kết nối các sự kiện với nhau thành một chuỗi sự kiện – rằng bài luận bị xóa. Việc này cũng giống như nối các điểm trong cuốn sách màu của trẻ con. Tôi chỉ có thể nhìn thấy mọi điểm mà không nhìn ra hình ảnh được tạo thành. Trong đối thoại, tôi gần như không thể hiểu được ẩn ý trong các câu nói. Tôi gặp khó khăn khi trả lời những câu không được thể hiện dưới dạng câu hỏi một cách rõ ràng. Tôi có xu hướng chấp nhận những câu nói dưới dạng câu tường thuật. Tôi thấy khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ mang tính xã hội như những người bình thường. Nếu một người nào đó nói với bạn “Hôm nay tôi có một ngày không tốt đẹp”, tôi học được rằng người nói mong đợi câu trả lời đại khái: “Ồ, thế à”, và sau đó hỏi điều gì đã làm cho ngày đó trở nên tồi tệ. Tôi có thể gặp rắc rối trong lớp nếu giáo viên nghĩ tôi cố tình không trả lời họ trong khi thực tế là tôi không nhận ra rằng họ đang mong đợi một câu trả lời từ tôi. Ví dụ, thầy giáo nói: “”bảy nhân chín”” và nhìn vào tôi, dĩ nhiên tôi biết câu trả lời là sáu mươi ba, nhưng tôi không nhận ra rằng mình đang được mong đợi câu trả lời to, rõ cho cả lớp nghe. Chỉ khi giáo viên lặp lại câu hỏi một cách rõ ràng như: “Bảy nhân chín bằng bao nhiêu?” tôi sẽ trả lời. Biết được ai đó mong đợi câu trả lời từ bạn không thuộc về trực giác của tôi, và khả năng làm những việc như trò chuyện một cách bình thường là kết quả của sự tập luyện hết sức công phu, bền bỉ. Tập luyện những kỹ năng này rất quan trọng đối với tôi, trên tất cả, tôi muốn trở thành người bình thường, có bạn bè như những đứa trẻ khác. Mỗi khi làm chủ được một kỹ năng như nhìn vào mắt người khác, tôi cảm thấy rất lạc quan vì đó là kết quả của quá trình rèn luyện 78 Sinh vào ngày xanh