🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Rừng. Đàn bà. Điên loạn - Jacques Dournes
Ebooks
Nhóm Zalo
RỪNG. ĐÀN BÀ. ĐIÊN LOẠN
Đi qua miền mơ tưởng Giarai
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
53 Nguyễn Du - Hà Nội
Tel: (844) 3945 4661; Fax: (844) 3945 4660
E-mail: [email protected]
Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu
Chịu trách nhiệm xuất bản:
CHU HẢO
Biên tập: Lê Thị Hà
Bìa và trình bày: Minh Thái
Sửa bản in: Ca Dao
In 3.000 bản; khổ: 14 x 20,5 cm; Tại: Công ty Cổ phần In và Thương mại Prima
Địa chỉ: 722 Phúc Diễn, Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Giấy đăng ký KHXB số: 3051-2018/CXBIPH/6-33/TrT. Quyết định xuất bản số: 40/QĐLK-NXBTrT của Giám đốc NXB Tri thức ngày 07 tháng 09 năm 2018.
ISBN: 978-604-943-865-3.
In xong và nộp lưu chiểu năm 2018.
Liên kết xuất bản:
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS)
VP HN: Tầng 3, số 11A, ngõ 282 Nguyễn Huy Tưởng, P. Thanh Xuân Trung,
Q. Thanh Xuân, Hà Nội
Tel: (024) 3233 6043
VP TP. HCM: 138C Nguyễn Đình Chiểu, phường 6, quận 3, TP. Hồ Chí Minh
Tel: (028) 38220 334 | Ext: 120
Website: www.omegaplus.vn
Tìm mua ebook của Omega Plus tại: waka.vn, mikiapp.com, Alezaa.com
Lời giới thiệu
N
hững người ít nhiều có nghiên cứu về Tây Nguyên chắc chắn đều biết đến tên tuổi của Jacques Dournes. Ông là một nhà dân tộc học người Pháp, đã sống ở Tây Nguyên
nhiều chục năm, gắn bó và hiểu biết sâu sắc về các tộc người Tây Nguyên, và đã viết nhiều công trình đặc sắc về họ.
Số người nước ngoài từng viết về Tây Nguyên trong ngót một trăm năm nay không ít, trong đó nhiều nhất là người Pháp. Trong tất cả những tác giả đó, J. Dournes chiếm một vị trí rất riêng biệt. Ông thường thích đi sâu vào thế giới bên trong của con người ở đây, cố gắng khai phá cái thế giới dường như không thực ấy, để từ đó soi rọi lại cái tồn tại nhìn thấy được của họ, hiểu nó một cách thấu đáo hơn. Cũng có thể lần tìm ra những liên hệ thầm kín bên trong, chúng cho phép ta hiểu rằng “những con người dường như chỉ hoạt động vì miếng ăn thường nhật này kỳ thực còn có những mối lo toan và những tư tưởng cao lớn hơn nhiều, khi ngọn lửa bùng lên trong bếp...”1. Trong cái câu ngắn gọn này của J. Dournes viết cách đây đã hơn nửa thế kỷ, có thể nhận ra hai đặc điểm quan trọng trong lối làm việc của ông khi nghiên cứu về Tây Nguyên: ông nói rằng những con người ấy, mà ta ngỡ chỉ biết có việc tìm miếng ăn thường nhật, kỳ thực còn bị dằn vặt vì “những mối lo toan khác”, sâu xa và “cao lớn hơn nhiều”, tức là ông muốn nói đến những mối lo toan siêu thực của họ. Ông muốn đi vào, khám phá cái thế giới siêu thực ấy. Đi vào bằng con đường nào? Ông nói: cái thế giới tiềm ẩn đó “thức dậy khi ngọn lửa trong bếp bùng cháy”. Ông tìm nó bên bếp lửa nhà sàn. Khi bếp lửa nhà sàn bùng cháy, là khi người Tây Nguyên sống một đời sống khác: đời sống sinh động vô cùng của các truyện kể, các huyền thoại, tức đời sống ở thế giới tưởng tượng, thế giới của mơ tưởng, thế giới ở “bên kia”, thế giới siêu thực, mà đối với người Giarai thì, như J. Dournes nói, thế
giới ấy “không phải ở trong tương lai, mà là ở trong hiện tại; là thế giới ở đây, đồng thời”. J. Dournes cũng chỉ ra rằng cái trải nghiệm (tức cuộc vật lộn thực của con người hằng ngày) và cái tưởng tượng thường ít nhiều tập trung vào cùng một chủ đề nhưng “lại không cùng một bản chất; chúng thường gắn với nhau, cũng có khi tách xa nhau, đến mức tạo nên một vết xé sâu. Khi đó huyền thoại không còn đi cạnh cuộc sống nữa; nó thay thế cuộc sống...”. Vậy thì, trong “du ngoạn qua miền mơ tưởng”, qua thế giới huyền thoại của những con người đó, không chỉ có thể lần ra một phương diện tiềm ẩn sâu xa trong con người họ, mà còn có thể nhận ra được “vết xé sâu” giữa cái thực tại xã hội và cái mơ tưởng của họ, khi vết xé ấy xuất hiện, tức là nhận ra những vấn đề của thực trạng xã hội này, thân phận xã hội đương tại của con người này: một khoa xã hội học thật thâm thúy!...
1 Tạp chí Pháp Á - Năm thứ 5 - Mùa Xuân 1950 - Số tạp chí này được dành trọn để đăng một công trình nghiên cứu của J. Dournes về Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương. Ở công trình này J. Dournes ký bút danh là Dam Bo (chú thích của người dịch, về sau viết tắt là ND).
Suốt cuộc đời nghiên cứu tận tụy về Tây Nguyên của mình, J. Dournes đã chủ yếu đi theo con đường ấy. Nhưng chưa bao giờ hướng chú tâm và phương pháp nghiên cứu quán xuyến đó của ông lại tập trung như trong cuốn sách viết gần cuối đời, cuốn Rừng, Đàn bà, Điên loạn. Lần này ông dắt ta vào một hành trình thật tập trung: cuộc du ngoạn vào “miền mơ tưởng Giarai”, đi qua hàng trăm huyền thoại của họ; và ông nói rõ với ta rằng ở đây “không phải là những huyền thoại tầm nguyên”, tức những huyền thoại về nguồn gốc của con người, giống loài người, hay của dân tộc, mà là những huyền thoại về cái hiện tại, là những mộng mị của những con người đang sống hôm nay, đang hằng ngày sống một cuộc sống kép, vừa “trải nghiệm” lại vừa mộng
mị “đồng thời”, đang hằng ngày “tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại”. J. Dournes viết: “Khi người ta kể một huyền thoại là người ta tự kể về chính mình theo một cách nào đó.”...
Rừng, Đàn bà, Điên loạn, nhìn qua có thể nhận thấy ngay tác giả đã chơi chữ khi đặt tên sách: cả ba từ này trong tiếng Pháp đều bắt đầu bằng chữ F, Rừng (Forêt), Đàn bà (Femme), Điên loạn (Folie). Một kiểu chơi chữ khá đắt. Tuy nhiên, không chỉ là chơi chữ. Trong một chương gần cuối sách mang tên “Lại đi qua”, J. Dournes nói rằng có thể có nhiều lối đi qua (cái miền mơ tưởng ấy) bằng những tuyến liên kết các chủ đề khác nhau, nhưng ông đã quyết định chọn tuyến liên kết ba chủ đề này: Rừng, Đàn bà, và Điên loạn, mà ông cho là “quan trọng hàng đầu”.
Hãy thử nói về từng vế của tuyến đã được chọn đó.
Đàn bà - Xã hội Giarai là xã hội mẫu hệ, ba chữ m: [matrilinéaire] theo dòng mẹ, [matronymique] (con cái) mang họ mẹ, [matrilocal] (vợ chồng) cư trú phía nhà mẹ (vợ). Người đàn bà là rường cột của xã hội ấy. Bà là nền tảng của sự ổn định xã hội, bà là “nội giới”. “Vương quốc” của bà là ở trong làng, ở đó bà là vị Nữ vương (nên nhớ rằng ở Tây Nguyên, làng là cái phần tự nhiên đã được thuần hóa, đã thành của con người, đã mang tính người, ngược lại với rừng - như ta sẽ thấy sau đây). Còn hơn thế nữa, người đàn bà không chỉ là Nữ vương của nội giới (tức là làng), bà còn là chính bản thân cái nội giới ấy, là cái phần tự nhiên đã được thuần hóa, đã mang tính người, đã ổn định, đã trở thành văn hóa. (Nên nhớ định nghĩa “Tất cả những gì không phải là tự nhiên, thì là văn hóa”, văn hóa là cái tự nhiên đã mang tính người). Cho nên, như J. Dournes nói, “khi người đàn bà ở bên ngoài, tức ở ngoài chu vi của mình, ở trong rừng, thì cả xã hội bị uy hiếp”. Cái văn hóa bị lay chuyển. Bởi gì? Bởi cái tự nhiên hoang dã... Có hàng trăm huyền thoại Giarai nói về tình huống này. Khi đó người đàn bà sẽ “trượt” vào hai khả năng vừa tương đồng vừa trái ngược nhau: hoặc là người nữ bị lạc trong rừng, bị trở thành “dại”, bị rừng “chiếm” trở lại; hoặc ta sẽ gặp lại
họ trong hình hài cô gái-rừng, người nữ-rừng (hoặc nữ-thú, nữ thảo-mộc...), tức người nữ vốn sống một cách tự nhiên trong môi trường tự nhiên của mình là rừng. Con người đó sống ngoài mọi quy ước, chuẩn mực của xã hội, họ không hay biết gì, không cần hay biết gì về những chuẩn mực ấy.
Như vậy, người đàn bà vừa là tự nhiên vừa là văn hóa. Họ vừa là cái tự nhiên đã được thuần hóa, đã trở thành nội giới, trở thành làng, thành xã hội; đồng thời trong họ lại chứa đựng cái nguồn gốc tự nhiên của con người, và của cả xã hội. Cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi trả lời câu hỏi Drit, người anh hùng của hầu hết các huyền thoại Giarai, người đàn ông Giarai điển hình ấy, đi tìm gì trong các cuộc chinh phục không bao giờ dứt và thiên hình vạn trạng của anh, J. Dournes nói rằng chàng đi tìm con người nữ trong chính mình. Đi tìm cái cội nguồn tự nhiên của mình. Tự nhiên vốn mang tính nữ. (Và lạ thay, tự nhiên được thuần hóa cũng mang tính nữ. Ở một trang viết về cây lúa trong tộc người Sre, J. Dournes cho rằng có lẽ chính người đàn bà đã thuần hóa cây lúa vốn hoang).
(Có lẽ đến đây ta có thể hiểu thêm tại sao xã hội Giarai lại là xã hội mẫu hệ, tại sao các xã hội thường đều bắt đầu bằng mẫu hệ chăng? Ấy là bởi vì trong người đàn bà có ẩn chứa cả cái cội nguồn tự nhiên nguyên thủy của con người lẫn cái quá trình và cái kết quả con người thuần hóa tự nhiên cho mình)...
Vế thứ hai: Rừng.
Đối với người Giarai (và người Tây Nguyên), rừng là một thực tại kép, nước đôi, lưỡng nghĩa. Con người ở đây sống trong rừng, cùng rừng, gắn với rừng, hòa (tan) với rừng. “Nền văn minh Giarai là một nền văn minh thảo mộc”. Rẫy và làng là một phần cắt ra từ rừng, lấy đi của rừng bằng rìu và lửa (J. Dournes nói rõ: “không hề lãng phí cũng chẳng tàn phá, đúng vừa đủ để sinh tồn, bên cạnh và cùng các giống loài khác, động vật và thực vật”). Mọi thứ trong làng, trong nhà, mọi thứ để sống, cả về vật
chất lẫn tinh thần, đều “làm bằng” rừng, lấy từ rừng: cột nhà, sàn và vách nhà, mái nhà...; cây cột trâu để tế thần, hạt lúa và cây rau để ăn, cây đàn để tình tự... Tất cả đều là rừng. Rừng vây bọc lấy con người, đi vào tận trong xương thịt máu huyết con người, thậm chí là một phần “bản nguyên” của con người... Và khi làng đã dời đi nơi khác thì mảnh đất ấy sẽ trở thành khu đất gọi là röngol, một thứ đất ở trạng thái trung gian giữa làng và rừng,... nhưng rồi rừng bao giờ cũng mạnh hơn, rừng sẽ chiếm lại, và làng lại trở thành rừng. Rẫy cũng vậy. Người Giarai (và người Tây Nguyên) luân canh1. Lấy ra hạt lúa từ rẫy, vốn là rừng, rồi họ lại trả đất về cho rừng, hoàn nguyên rừng, “không lãng phí, không tàn phá”. Đối với cái chết, người Giarai cũng có một thái độ đặc biệt liên quan đến rừng: Sau một thời gian chôn cất người chết, họ “bỏ mả”, trả con người ấy về lại cho rừng. Không chỉ làng và rẫy, mà cả con người cũng trở lại thành rừng.
1 Đúng ra là họ canh tác theo lối “luân khoảnh”, cứ vài ba năm lại bỏ hưu canh mảnh rẫy đã canh tác, chuyển sang một khoảnh rẫy mới khác…, và cứ thế quay vòng. (“Luân canh” có thể hiểu là năm nay trồng loại cây này, vài năm sau trồng loại cây khác) - ND.
Con người ấy bị vây bọc bởi rừng, từ khi chưa là con người... cho đến khi không còn là con người nữa. Như vậy, rừng không chỉ là không gian, rừng còn là thời gian. Rừng là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng, là sự không thủy không chung, nơi hun hút từ đó con người đi ra và nơi hun hút con người lại biến mất vào đó, biệt vô tăm tích. Là bản nguyên, là cội nguồn ở đầu bên này, nhưng cũng là cõi mịt mù thăm thẳm ở đầu bên kia...
Con người không bao giờ có thể thoát ra được khỏi rừng, cũng như không bao giờ có thể bứt ra khỏi vòng tuần hoàn bí ẩn muôn thuở, bứt ra khỏi cái hoang dã; luôn bị cái hoang dã ấy vây kín, cuốn hút...
Nhưng đồng thời, mặt khác, con người là người cũng chính bởi vì nó luôn có nhu cầu bứt ra khỏi cái hoang dã, bứt ra khỏi rừng, trở thành xã hội, trở thành văn hóa.
Đấy là một cuộc giằng co, sự níu kéo hai đầu vĩnh cửu, nó làm nên “nội dung” của cuộc sống con người.
Cuộc giằng co đó cũng diễn ra trên một “tuyến” khác: ở cái tính nữ hoang dã nguyên sơ - hiện hình nơi những cô gái- rừng - mà anh chàng Drit điển hình của huyền thoại Giarai luôn trằn trọc đi tìm trong chính mình, bị nó cuốn hút, như cái giếng sâu
thăm thẳm của cội nguồn; đồng thời anh lại vừa không thể tách ra được con người nữ - nội giới văn hóa cũng là ở trong chính anh, cái làm cho anh là con người xã hội...
Từ đây, J. Dournes dẫn sang vế thứ ba: Điên loạn.
Ông viết: “... tôi muốn nói với những ai còn tin rằng con người có thể trở thành điên vì thiếu rừng thật cũng như vì quá dư thừa rừng bị ám”. Vậy đó, con người (con người Giarai ở đây) đứng trên một thế cân bằng kỳ lạ, và kỳ diệu: họ đứng “mấp mé” giữa làng và rừng, giữa văn hóa và hoang dã, giữa “cô gái-làng” và “cô gái-rừng”. Một thế bền vững được xây dựng trên thế nước đôi bấp bênh, một thế bấp bênh bền vững - hay như chúng ta thường gọi ngày nay, một thế bền vững “biện chứng”. Họ sẽ trở thành điên nếu thiếu “rừng thực”, một thứ điên khô khốc, tàn rụi, vì bị cắt đứt mất cội nguồn, không còn nghe được từ trong chiều sâu thăm thẳm của chính mình tiếng gọi cuốn hút ghê gớm của cô gái-rừng, của tự nhiên hoang dã nữa. Họ không còn huyền thoại nữa, không còn nghe, không còn kể, không còn tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại. Họ cũng sẽ trở thành điên nếu để cho rừng tràn ngập và chiếm hết mình, cái hoang dã tràn lấn trở lại, không tự phân biệt được mình với rừng, thuần hóa cái phần rừng để làm người của mình,“bằng rìu và lửa”. Ngọn lửa của trí tuệ và văn minh...
Tuy nhiên, về chỗ này, lại còn một điều cần chú ý. J. Dournes rất cẩn trọng, ông nói: “Nếu tôi dùng từ ‘điên’, ấy là tôi chỉ muốn dịch từ hüt, trong cái nghĩa mà người Giarai hiểu từ đó và trong những trường hợp họ ghi nhận tình trạng đó”. Và ngôn từ Giarai thì thật phong phú về mục này, có đến hàng chục từ khác nhau để chỉ những sắc thái khác nhau của tình trạng bất bình thường, ra ngoài chuẩn mực xã hội về tâm thần: từ ram (hâm), hling (kỳ cục), töpai rwa (xỉn), hwing (ngây), mih müh (đần)... đến swin (ngốc), yang nga’ (bị ám), möhlun (dại)... cuối cùng mới là hüt (điên). Rồi hüt thì lại được chia thành hong (điên điên dại dại), hong hüt (người đã bị rối loạn tâm thần nhưng vẫn dịu dàng vô hại), và hüt hẳn hoi. Người hüt được mô tả như sau: anh ta không sống trong xã hội, mà sống ở “nơi kia”; lang thang, không định lại được ở bất cứ đâu, anh đi hết nhà này đến nhà khác, giúp người ta việc này việc nọ; anh không biết sợ, cũng không biết xấu hổ, thường trần truồng; chẳng phải chịu trách nhiệm gì về hành vi của mình. Anh đã vượt qua một cái ranh giới nào đó không còn quay trở lại được nữa (ranh giới xã hội), tuy nhiên xã hội vẫn công nhận anh ta. Và J. Dournes giải thích vì sao: “... hẳn cũng cùng một lý do như khi xã hội yêu những lâm-nhân trong huyền thoại của mình, để tìm lại ở họ một sự thật mà nó vẫn tự che giấu (mọi con người đều phức tạp, nghĩa là đều tự phức tạp hóa cuộc sống của mình)”.
Có một huyền thoại Giarai rất nổi tiếng tên là Giung hüt (chàng Giung điên). Giung là một lâm-nhân thật sự, thật sự của rừng sâu, chứ không phải của vùng bìa rừng như Drit. Là một con quái vật chỉ có khuôn mặt hơi chút ít giống người, song anh ta lại có thể lột đi cái vỏ ngoài hì hợm của mình, nó khiến anh có thể sống yên ổn trong rừng, anh lột nó đi như người ta cởi quần áo và tự phô bày trần truồng và đẹp đẽ khiến một cô gái say mê; khi người ta “khám phá” ra anh ta như vậy, anh chẳng còn “điên” nữa, nhưng anh vẫn khiến dân làng kinh ngạc. Anh là một diễn viên tài ba, luôn làm chủ các trò diễn của mình; song còn hơn thế nữa, anh là biểu hiện ước muốn của con người được là chính mình, bất chấp các chuẩn mực và cấm kỵ...
Đến đây thì đã khá rõ: rừng có thể “ám” con người, làm cho con người thành điên, thành hüt... để cho con người có thể tìm lại được chính mình, cái sự thật mình vẫn tự che giấu, lột đi mọi lớp vỏ “phức tạp” mà xã hội mặc lên con người.
Và J. Dournes nói: “Sẽ không thể có bất cứ sự mô tả nào đúng về rừng nếu không tính đến cái chiều kích đó của nó, mà mọi người từng đi qua rừng đều thấy dậy lên trong mình, kể cả các nhà bác học nghiên cứu thảo mộc.”
Cuốn sách của J. Dournes, bằng một lối đi độc đáo, đưa ta vào một chiều sâu thật thú vị và cũng thật cơ bản của con người và xã hội Giarai (và Tây Nguyên). Cuộc du hành ông dắt ta đi vào, giúp ta nhận ra cái xã hội này, mà ta thường ngỡ là thô mộc và đơn giản, kỳ thực phong phú và sâu thẳm biết bao. Hẳn còn có thể nghiệm ra bao nhiêu điều lý thú và thiết yếu khác nữa trong cuộc “đi qua” này. Song có lẽ có một điều chung nhất có thể và thật cần nhận rõ: xã hội này, cũng như mọi xã hội có một chiều sâu văn hóa tiềm ẩn, luôn được xây dựng và tồn tại trên một thế cân bằng rất tinh tế, sự cân bằng của những yếu tố vừa đồng nhất vừa ngược nhau bên trong, mà xã hội ấy biết duy trì bằng một cơ chế tinh thần tinh vi. Những sự cân bằng đó là rất cơ bản, nhưng cũng rất nhạy cảm. Cần một sự hiểu biết và thận trọng tối đa đối với những xã hội như vậy, nhất là trong những tác động phát triển mạnh mẽ ngày nay.
Trong ý nghĩa đó, cuốn sách viết về một “miền mơ tưởng” chừng như phiêu diêu này, lại có thể có ý nghĩa rất thời sự.
Nguyên Ngọc
Thay lời đề tựa
B
ác thợ săn đi săn. Bác đi vào trong một khu rừng, chẳng thấy có con thịt; bác vượt qua một ngọn đồi, cũng chẳng thấy gì. Bác đã
bắt đầu nản thì, trong một khu rừng thưa, bác gặp một cái đầu tê giác, chỉ có cái sọ, xương trắng hếu. Bác bỏ qua, tiếp tục đi; trong khu rừng tiếp đó, lại thấy chính cái sọ tê giác ấy; trong một khu rừng khác nữa, vẫn cứ cái sọ ấy. Chán rồi, bác sắp quay về nhà; bực bội, bác vác cái đầu tê giác nọ; bác vứt nó ở một đám đất hoang, không xa làng.
Về nhà, bác nằm ngủ; trong mơ, bác nghe:
- Sao lại ném tôi trên bãi đất hoang ấy?
Đêm sau, vẫn nghe thấy tiếng nói ấy. Ba đêm liền. Bác thợ săn bèn ra tại chỗ xem sao. Thì thấy bao nhiêu là tấm vải đẹp đang được dang ra phơi nắng.
- Ai phơi vải ở đây thế nhỉ?
Ngày hôm sau, bác trở lại, nấp vào một chỗ. Không phải chờ lâu; bác thấy một đám các cô gái đẹp từ trong chiếc đầu tê giác chui ra. Cô thì giã gạo, cô thì đi tìm củi, các cô khác thì dệt vải. Trong đó, đẹp hơn tất cả, là cô Nữ hoàng. Bác nhảy ra, vồ lấy Nữ hoàng. Các cô gái khác vội chui trốn vào cái sọ trắng.
Bác thợ săn đưa Nữ hoàng về nhà. Rồi mọi người đều biết chuyện ấy, kể cả tên lãnh chúa trong vùng; y cho bọn tay sai đến, và hỏi khi bọn chúng trở về:
- Vợ tên thợ săn có đẹp không, có đẹp hơn các nàng hầu của ta không?
- Đẹp hơn nhiều!
- Có đẹp hơn vợ hai của ta không?
- Đẹp hơn nhiều!
- Có đẹp hơn vợ cả của ta không?
- Đẹp hơn nhiều!
- Có đẹp hơn ta không?
- Đẹp hơn nhiều!
Tên lãnh chúa liền lên đường; y thắng con voi của mình và đi đến nhà bác thợ săn.
- Lãnh chúa đi đâu vậy?
- Ta đến thăm ngươi đây, hỡi bác thợ săn.
Bác thợ săn mời y một vò rượu cần, nấu cơm cho y ăn, giết một con gà đãi y. Ăn uống no say rồi, tên lãnh chúa tuyên bố:
- Ta đến lấy vợ ngươi đây! Hãy bước xuống đất, ta đánh nhau! - Tôi chẳng có việc gì phải đánh nhau với ông.
Tên lãnh chúa rút gươm ra, y giết chết tất cả gà của bác thợ săn, rồi đến lợn và trâu. Bác thợ săn không ngồi yên được nữa, bước xuống đánh nhau với tên lãnh chúa, nhưng gươm của bác không đâm được y vì người y bằng sắt; bác bị y giết chết. Y bắt Nữ hoàng mang đi.
Người ta chôn cất bác thợ săn. Người em gái của bác sắp đến ngày sinh nở; chị kêu đau, nhưng mãi chẳng thấy gì cả.
- Mẹ ơi, nếu mẹ muốn con ra, thì mẹ hãy đặt một cái chiêng dưới người mẹ để hứng lấy con.
Đứa bé ra đời, có cả gươm và khiên. Đó là một đứa con trai; người ta gọi tên nó là Chic-choc.
Nó lớn rất nhanh; và là một kẻ gây gổ kinh khủng.
- Con ơi, nếu con khỏe thế, thì hãy đi trả thù cho bác con! Chic-choc khóc; trong mơ, nó nghe thấy tiếng nói:
- Tại sao con khóc?
- Con muốn một cơ thể có thể chịu được mọi thử thách...
- Vậy thì con hãy lên gặp vị chúa tể trên trời. Con cứ theo cái trục cửi trên khung cửi của mẹ con mà leo lên.
Chic-choc leo lên, nó lên đến trời.
- Con muốn gì?
- Con muốn ở với Trời.
Sau một thời gian chung sống, Trời giết chết Chic-choc, đem giã nhỏ xương của cậu ta, làm lại một cậu con trai mới; cuối cùng ngài lấy quả tim của chính mình và đặt vào lồng ngực của Chic-choc bấy giờ đã sống lại.
- Con muốn Trời rèn cho con đôi cánh!
Trời làm cho cậu một đôi cánh, cho cậu các lá bùa.
- Bây giờ thì hãy đi đi, đi mà trả thù cho bác con! Chic-choc hạ cánh trước nhà tên lãnh chúa bằng sắt.
- Anh đi đâu đó, hỡi anh bạn?
- Ta đến thăm anh đây, hỡi anh bạn. Lãnh chúa đem rượu và cơm ra đãi cậu.
- Bây giờ, hỡi lãnh chúa, hãy bước xuống đất, ta sẽ đánh nhau! - Ta sẽ cho ngươi tất cả những gì ngươi muốn...
Chic-choc đánh và giết chết tất cả gà, lợn và trâu của lãnh chúa. Cuối cùng tên này bước ra. Họ đánh nhau suốt nhiều ngày. Lãnh chúa đói và khát; vợ y ném cho một nắm cơm và một bầu nước; Chic-chóc bắt lấy hết. Tên lãnh chúa kiệt sức; Chic-choc hạ sát y, lấy lại người vợ của bác cậu ta và sống với nàng.
(Hj. 49)
Ký hiệu dùng trong sách này
Hj = Huyền thoại Giarai, kèm theo là số thứ tự trong tập. Hs = Huyền thoại Sre, kèm theo là số thứ tự trong tập.
Tl = Tư liệu thu được; các con số kèm theo, số đầu là chỉ tháng; số thứ hai chỉ năm thu được tư liệu ấy và các nhân chứng.
Vì những khó khăn về ấn loát, trong sách này các chữ sau đây sẽ được tạm dùng để thay cho các phiên âm quốc tế:
BẢNG TRA HUYỀN THOẠI GIARAI, SRE VÀ TƯ LIỆU
(Chúng tôi soạn riêng cho bản tiếng Việt)
Phần đầu của nhập đề
N
goài giấc mơ rõ ràng được nói đến trong câu chuyện, truyện kể Giarai này mở đầu như một lối nhìn mộng mơ. Độc giả nào không cảm thấy xa lạ với một huyền thoại
như vậy hơn là xa lạ với chính giấc mơ của mình, thì có thể bỏ qua “phần đầu của nhập đề” này, hoặc giả đọc nó sau (như người ta vẫn thường làm vậy); vả chăng họ sẽ tìm thấy phần tiếp theo của lời nhập đề này ở cuối sách. Còn người đọc nào đọc nó chăm chú hơn là tài tử (hai mặt này không phải bao giờ cũng loại trừ nhau), muốn biết nhiều hơn về môi trường Giarai, sẽ có thể xem ở phần thư mục. Để cho phải phép với chính mình, tôi viết mấy dòng này, biện minh cho ý định của tôi.
Khoảng 200.000 người Giarai hợp thành tộc người quan trọng nhất trong các tộc người thiểu số (thuộc nhóm Đa Đảo, giống như người Mã Lai và người Indonesia) miền Trung Đông Dương; hiện nay phần lớn họ sống ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi đã dành cho họ nhiều nghiên cứu, đúng mực, về kỹ thuật, thực vật dân tộc học, nhân chủng xã hội học, lịch sử dân tộc học; tôi đã dịch và bình giải những áng văn truyền khẩu, và cả một cuốn tự điển dày về ngôn ngữ của họ.
Giờ đây, tôi ở xa họ 12.000 cây số - chẳng còn hy vọng gặp lại được họ - mà sự hiện diện của họ, vừa dữ dằn vừa êm dịu, vẫn tiếp tục tràn lấn khẩn thiết vào các giấc mơ của tôi, ở đấy tôi gặp lại tính dễ động lòng và tính ganh tị của họ (mà tôi chia sẻ), tôi không thể tự bằng lòng với những phân tích nghiêm túc và những luận đề kinh điển. Tôi không thể còn yêu mến họ mà lại ở chỗ khác, thì đành phải yêu mến họ theo cách khác vậy. Có thể, trong cõi mơ tưởng chúng tôi, tôi và họ, mới có cơ hội gặp nhau. Từ đó mà có cái công trình về cõi mơ tưởng này, trở lại, ở mức độ
này, tất cả những gì tôi đã thu nhặt được: huyền thoại, nghi lễ, truyện đời, những ứng xử ít hay nhiều “mẫu mực”.
Nếu tôi có thể viết được những trang này, ấy là nhờ có một sự thông đồng, giữa những thực thể chủ quan (đây là chỗ tôi khác với các nhà theo thuyết văn hóa), cho đến mức, vào những buổi bình minh, tôi đã có thể là kẻ tâm sự để người ta kể cho những giấc mơ (phần nhiều là đàn bà hơn là đàn ông), để các cậu con trai say tình gửi gắm các lá thư cho các cô gái, và các cô thì không muốn nhận, lại nhờ tôi trả lời thay.
Để trở lại với câu chuyện huyền thoại được kể ra làm “quy chiếu”, và thay lời đề từ, tôi phải báo trước với những độc giả chăm chú rằng trong suốt công trình này sẽ có nhắc đến nhiều tình huống và hoạt động:
Người thợ săn rình mồi, bỗng giáp mặt với một cô gái-rừng, một nàng tiên trong rừng, và anh ta mang nàng về nhà.
Ông trời nặn lại thân hình người anh hùng, đúng hệt như người tương đồng với “bà già rừng” mà ta sẽ gặp sau đó.
Và nhất là cái cô gái rừng ấy, mang đến cho anh chàng thợ săn hay hái lượm, có hơi khốn khó, vải vóc, lúa gạo, tức là văn hóa... hoặc là điên loạn.
Các tình huống và hoạt động đó đều là những ký hiệu cho những ai biết lắng nghe.
Và bây giờ, xin mời xuống thuyền, lên boong của những kẻ điên, đuổi theo một miền mơ tưởng, kỳ thực không quá xa lạ với thế giới của chúng ta, dẫu có lúc trông chừng như đối nghịch.
QUYỂN I
XỨ SỞ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG RỪNG
Đàn ông săn bắn và chiến đấu. Đàn bà đảm đang và mơ tưởng; họ sinh hạ các giấc mơ và các vị thần.
Có những ngày họ có thiên nhãn; họ mang sải cánh vô biên của ước vọng và mộng mơ.
Michelet, Mụ phù thủy.
Chương 1
Không gian Giarai hay rừng ở ngoài kia K
hác với người Khơme phần lớn định cư ở hạ lưu sông Mêkông, và người Việt chiếm cứ bờ biển phía đông của bán đảo, nơi họ thay thế người Chàm, các dân tộc bản địa
sống chen giữa các dân tộc nói trên, ở những miền đất giữa, địa hình ít nhiều hiểm trở và phủ rừng. Trên toàn bộ bán đảo Đông Dương, họ là những cư dân được biết đến sau cùng, rồi bị các công cuộc thực dân hóa liên tiếp xâm lấn. Người Việt Nam, vốn là những người nông dân - làm vườn, nuôi một mối kinh sợ truyền kiếp đối với rừng; họ không dám liều lĩnh đi vào rừng; đối với họ, đó chỉ là miền đất “mọi” và hổ - tức là miền rừng thiêng nước độc. Ở đấy không có người văn minh - nghĩa là không hề có người. Và thế là ta đã bước vào miền mơ tưởng rồi
đó... Những người Pháp đầu tiên tiến vào vùng được gọi một cách không đúng là cao nguyên đó, đã được người Việt và người Lào cảnh báo trước; dù có phần ít lo sợ các thần linh ác hại hơn, vẫn cảm thấy rất khó chịu, vì họ vốn không ưa cái kiểu rừng nhiệt đới, quá khác biệt với những khu rừng rất chi ngăn nắp của họ. Rồi lại thêm trí tưởng tượng, phóng đại các mối hiểm nguy, bịa chuyện hoang đường (tới nỗi rất lâu người ta vẫn tin là có những “người có đuôi”), đến độ lảm nhảm như có thể thấy ở những nhà văn kiểu Jean D’Esme hay André Malraux. Có họa điên mới sống ở những vùng đó. Vì sợ mà người ta tàn sát. Từ án mạng bạo tàn cho đến diệt chủng có tổ chức, qua các cuộc săn đuổi và các cuộc chiến tranh thế giới, chẳng phải là việc ám sát kẻ khác thường được giải thích như vậy đó sao?
Những cư dân của vùng rừng núi này cũng chẳng thể đứng ngoài chuyện đó. Nếu huyền thoại của họ có khác và họ có một lòng tôn trọng lớn hơn đối với người khác mình, thì rừng đối với họ vẫn là một ám ảnh dị nghĩa. “Không được đi ra ngoài ban đêm, vì có hổ” (và một thời là có mìn). Rừng không chỉ là lãnh địa của thảo mộc và muông thú đáng ngại; đấy còn là nơi cư trú đặc biệt của các yang cũng thật như cây cối và hổ vậy; nơi cư trú của các cô tiên có thể làm cho con người mê muội đến thành điên. Không thể mô tả chính xác về rừng nếu không chú trọng đến chiều kích này hiện diện ở tất cả những ai từng đi qua rừng, kể cả các nhà bác học nghiên cứu thảo mộc.
Rừng, phủ kín phần lớn khu vực sinh sống của dân cư bản địa, chiếm vị trí trung tâm của miền đất này, cũng như của cuốn sách này. Rừng có mặt ở khắp nơi, trong làng, ngoài rẫy. Rừng thưa, nơi thống trị của các loài cây họ dầu, cây cho gỗ xây dựng, cùng các loại bộ đậu, vài cây sồi nhỏ và tre dùng làm rui mè. Rừng rậm rất đa dạng về loài cây, từ những cây Bombax và Lagerstroemia, Artocarpus và Mangifera, nơi treo lủng lẳng những chùm phong lan thơm đến mê hồn, đến những bụi rậm rối bù các loại dây leo, trong đó có loài mây hết sức hữu ích, và những cây tre lớn có thể dùng cho mọi việc. Hệ thực vật mọc
hoang trên những vùng đất bỏ không và ở các rìa làng, nơi những cây vông nem nở đỏ rực và các loại cây họ trôm bốc mùi. Và ở khắp nơi, ngay cả những chỗ bị rợp, một thảm cây họ cỏ rải rác vô số các loài nấm trên nền đất chua. Mùa mưa thì dậy mùi đất bùn, mùa khô thì nồng khét. Ngổn ngang cành khô và lá rụng. Thằn lằn và kỳ đà. Những con nhện giăng tơ có thể bắt được cả chim. Các loài vật họ thỏ và họ hươu gặm cỏ trong rừng thưa, các loài dã thú lớn thống trị trong rừng sâu, bọn khỉ réo vang nơi rừng gần, lũ gà mái, công và gà lôi kiếm ăn ven các thửa ruộng, ở đó bọn vẹt xanh ồn ào át hết mọi thứ tiếng.
Nhỏ hẹp và ngoằn ngoèo, con đường mòn, do bao nhiêu thế hệ những bàn chân trần đi mãi theo một lối vạch nên, rụt rè đâm vào rừng rậm; con đường của tiều phu, của những người đi săn,
có thể nó sẽ dẫn đến một làng nào đấy. Nhô hẳn lên trên một búi cỏ cao, nổi bật phần trên một thân hình đàn bà, một bức tượng nhà mồ bằng gỗ, là dấu vết còn lại của một nghĩa trang đã bị bỏ hoang - bởi nhà mồ là nơi trú ngụ tạm thời của những người chết trước khi đi sang thế giới bên kia. Nhưng lại còn có những cô gái-rừng nữa, và khắp nơi, những yang, có thể mang hình dạng một tảng đá, một cái cây, hay một con hổ. Con người tự sáng chế ra các nỗi hoảng sợ và các thần linh, để tự hù dọa mình đặng không được đi quá xa, cũng đã phối hợp các phương thức để hóa giải thần linh và trừ tà cho rừng; họ cũng đã làm đúng như vậy đối với đàn bà. Tuy nhiên, khi họ quên và đi quá xa, thế là họ sa bẫy; họ bị điên. Về điều này, tưởng cũng là hấp dẫn khi nhớ rằng rượu cần, được lên men mạnh bằng rễ và vỏ cây (mọc hoang trong rừng và do đàn bà pha chế), được coi là uống “để mà quên”. Mà người Giarai và các tộc người bản địa khác thì uống thả giàn; và thế là... họ phiêu du tận “ngoài kia” - họ biết thế, mà đàn bà cũng biết thế.
Khu đất dùng làm nương rẫy và khu đất làng đều được cắt ra từ rừng, dùng rìu và lửa mà đoạt lấy của rừng, không lãng phí
cũng chẳng tàn phá, vừa đủ để sinh tồn, bên cạnh các giống loài khác, động vật và thực vật. Sự cân bằng, mà ngày nay chúng ta gọi là “cân bằng sinh thái”, luôn được giữ vững; nhưng con người (ở vùng Giarai, đúng hơn là người đàn bà) không thể chấp nhận quá gần gũi với cái hoang dã, tức thế giới của rừng; phải phân cắt, phải ấn định ranh giới - dù chỉ là để mà thèm muốn vượt qua.
Vậy là phần đất-làng, bbon, khác biệt hẳn với phần đất-rừng, dlei; nội giới và ngoại giới, cái ở đây và cái ngoài kia. Trong bbon có con người, gia súc, các loài cây cỏ đã được thuần hóa (ngoài những giống cây họ lúa do con người trồng và các giống tự phát như cây ổi và cây xoài); ở dlei, thì ngược lại. Nhưng sự phân biệt này không vĩnh viễn: mọi khóm rừng đều có thể là một “ổ” cư trú tiềm tàng cho con người; và làng nào cũng có thể di chuyển (điều ngày càng xảy ra ít hơn), khi ấy chỗ đất bỏ hoang đó gọi là röngol, cây cỏ sẽ lấn chiếm lại dần, cho đến lúc lấn lướt và đất nọ lại trở lại thành rừng. Rừng bao giờ cũng mạnh hơn. Hơn nữa, sự đối lập không chỉ gồm có hai vế,“làng” và “rừng” (là những khái niệm, là cái cách người Giarai quan niệm về môi trường, hơn là những thực thể địa lý), một mặt còn có dron, đất ruộng hay vườn, không hoàn toàn thuộc về con người và ở đó không an tâm bằng ở làng, vẫn có dã thú hay ma lai vãng, và mặt khác còn có pösat, tức khu nhà mồ, ở bìa rừng, không xa làng, nhưng nằm dưới tán cây, la cà tới đó có thể nguy hiểm, ngoài các dịp thăm viếng theo nghi lễ - chính rìa làng là nơi cơ trú của nhân vật huyền thoại Drit và Bà Già-Rừng, thường được kể là người đứng đầu các vị tổ tiên. Ham say phân loại, người Giarai thích xếp hạng mọi thứ để mà tự trấn an (kỳ thực mọi người đều làm như vậy; chỉ riêng việc gọi tên [một sự vật nào đó] đã khiến ta có ảo tưởng có được một uy quyền nào đó đối với nó rồi); song dẫu sao vũ trụ quan của người Giarai vẫn mang tính tổng thể, đến độ họ phải đưa chen vào giữa các hạng loại những khâu trung gian, những cầu nối bao giờ cũng mang tính nước đôi (bởi chúng gắn với hai cực) kiểu như dron và pösat. Ngoài ra cách phân loại của người Giarai lại còn năng động, nó mang tính lịch
đại: làng có thể trở thành rừng, và ngược lại, một giống loài hoang dại có thể được thuần hóa, một con người có thể sống thành người hoang dã trong rừng. “Thần ở cùng thần, ma cùng ma, người cùng người!” - Người ta nói như vậy, nhưng người ta cũng biết rằng người sống rồi sẽ trở thành người quá cố, rằng họ sẽ trở về làng như những con ma; còn các vị tổ tiên thì được coi là yang. Chẳng có gì vĩnh cửu, mọi thứ đều có thể đảo ngược, mọi chuyện đều có thể xảy ra, và chẳng có gì có thể khiến người Giarai ngạc nhiên.
Tôi xin ra ngoài đề một chút để kể lại ở đây một trải nghiệm riêng. Dù không phải là người loạn dâm tử thi, người ta vẫn có thể yêu cái chết, như yêu một người con gái mong đợi. Dẫu sao, tôi rất say mê các khu nhà mồ... vì những pho tượng gỗ của chúng. Sau khi đã đi vòng khắp các khu nhà mồ “đang hoạt động” (những nơi này hết sức nhộn nhịp vào các dịp nghi lễ định kỳ), tôi phải đi tìm trong rừng, đôi khi đến tận các vùng chiến khu, tất cả những gì còn lại của các khu nhà mồ đã bị bỏ hoang. Chỉ riêng việc đi thăm nhà mồ ngoài các thời gian lễ nghi đã là không phải phép rồi; nhưng đẩy xa sự không phải phép đến mức mạo hiểm ở những vùng nguy hiểm để khám phá ra những khúc gỗ hiếm hoi đã cháy đen mất một nửa (chúng còn có thể chỉ dẫn cho tôi về sự di chuyển của các làng) khiến tôi bị coi như là hơi điên. Việc làm của tôi không những không hề làm những người Giarai bất bình (họ chẳng hề ngạc nhiên về bất cứ điều gì, nhất là ở một người nước ngoài), mà thậm chí tôi còn có thể tìm được những người giúp đưa đường - tình trạng “điên” của tôi che chở cho họ...
Rừng, trong nghĩa chung của từ dlei, không thuần nhất - tôi không nói về mặt cấu tạo của các loài thực vật, mà là về sự hình dung của người Giarai. Rừng gần, ở ven làng, tương đối thân thuộc; đây là nơi đàn bà đến nhặt củi để đun và hái lượm (hầu như thứ gì cũng có thể ăn được). Rừng thưa phía ngoài các ruộng rẫy cho đến chân núi cũng vậy, nơi bọn trẻ con trai gái chăn trâu, vừa nhởn nhơ vui chơi vừa nhặt các thứ “của nếm”
(trái cây, cào cào, châu chấu, ấu trùng,...). Trong rừng rậm hơn, người ta không dám lang thang một mình, trừ khi là người đi săn, mögap; đi vào đây phải là nhiều người đàn ông cùng nhau, nhất là để chặt cây làm nhà, đẽo quan tài, hoặc mang về những khúc gỗ đẹp tạc tượng nhà mồ. Về mặt pháp lý, rừng gần thuộc sở hữu của cộng đồng làng (không được chặt cây, nhất là cây tre, quá gần làng láng giềng); rừng xa thì thuộc về mọi người, hay đúng hơn, không thuộc về ai cả - đấy là thế giới ở ngoài kia; người đầu tiên nhìn thấy một cái cây vừa ý có thể chiếm hữu nó, nhưng là chiếm hữu một cách vụng trộm và phải thực hiện một nghi lễ để xin “tạ lỗi”. Đàn bà di chuyển rất hạn chế; họ ra ruộng, ra vườn, đến khu nhà mồ; trên đường đi, họ nhặt củi và lấy nước cần dùng. Người đàn ông cơ động hơn, bởi anh ta chẳng có nơi nào là nhà mình, chẳng sở hữu gì cho riêng mình hết; theo truyền thống, anh ta là người đi săn và người chiến sĩ, không thật sự là người nông dân. Về điều này, cũng cần nói rằng lao động không phải là một “giá trị”; người ta chỉ làm ra cái tối cần thiết để ở, để ăn, để mặc, và chẳng việc gì phải vội vàng.
Mọi thứ đều có chỗ của nó; không được trộn lẫn dlei với bbon, cũng như không được phạm tội loạn luân. Song rừng hiện diện ngay trong nhà, vì nền văn minh Giarai là một nền văn minh thảo mộc. Các cây cột nâng ngôi nhà sàn, cũng như rui mè, đều bằng gỗ; sàn nhà và phên liếp bằng tre đan và trải ra; cung nỏ bằng gỗ; đòn tay nhà bằng tre đặc; chăn đắp bằng tranh rạ; tre và mây đảm bảo mọi công việc đan lát. Như vậy, ngay trong nhà mình, con người sống trong một khung cảnh rừng, anh ta không đi ra khỏi rừng. Rừng “ma quái” ấy (đấy là một trong những nghĩa của yang) không hề rời anh ta; vậy thì phải trừ tà cho nó. Trong nghi lễ dựng nhà, người ta đọc lời khấn sau đây:
Các vật liệu lấy trong rừng để làm nhà, đều là thảo mộc và đều có yang (như mọi thứ trên đời này), nghĩa là đều mang tính thiêng, trong trường hợp này là có hại. Vì từ nay chúng thuộc về khung cảnh người (bbon chứ không phải dlei nữa) nên phải tẩy đi tính thiêng-rừng trong chúng để mặc vào cho chúng (bởi chúng không thể hoàn toàn trần trụi) một tính thiêng-làng, yang trong nhà, yang gia đình - các yang này, chí ít dường như ta đã quen biết, còn các yang rừng... thì có “bùa mê” và có thể làm cho người ta điên. Con người không thể làm được bất cứ việc gì nếu không có rừng, nhưng không được để cho rừng hành mình, nhất là trong đời sống bình thường hằng ngày, trong nhà, vốn là lãnh địa của người đàn bà. Vậy nên người ta đuổi các yang rừng ấy ra khỏi làng bình yên của mình... để mà tìm lại chúng ở ngoài kia, trong các giấc mơ và các huyền thoại - tìm lại ai? Tìm lại rừng, và cũng là tìm lại người đàn bà, dưới một dạng khác của họ, bởi người đàn bà Giarai có mặt khắp nơi đó vừa là “tự nhiên” vừa là “văn hóa”.
Từ dlei, dùng làm thuộc ngữ, thường mang nghĩa xấu. Trong hệ thuật ngữ Giarai về cây cỏ, một dạng dlei của một giống rau cỏ bao giờ cũng là thứ không ăn được; như cây củ mài jöning dlei là đối lập với họ củ nâu “ăn được” hay củ nâu “làng” - hai thuộc ngữ này là đồng nghĩa. Trong lĩnh vực này, đáng chú ý là từ atau,“ma”, cũng có vai trò tương tự. Danh mục thế giới động vật càng có ý nghĩa hơn: asau dlei, tùy chỗ, có thể hoặc là một con chó rừng, hoặc một con chó dại, cũng có thể gọi là asau hüt, nghĩa là con chó (nhà) bị điên.
Về con người, thành ngữ ana’ dlei, dịch sát nghĩa là “con trai của rừng”, tức “hoang dã”, có thể chỉ một kẻ thù hoặc một kẻ kỳ quặc sống ngoài lề xã hội. Trong hầu hết các phương ngữ của cư dân bản địa, thuộc ngữ “rừng” (dlei ở người Nam Đảo, bri ở người Nam Á) rất gần với thuộc ngữ “hoang dã” của chúng ta. Trong tất cả các tộc người bản địa,“đi ra rừng” hay “giẫm rừng” là một uyển ngữ để chỉ việc “đi ỉa” (thường là ở ranh giới của làng, nơi bìa rừng). Cho nên trong tác phẩm Chúng tôi ăn rừng, G. Condominas viết ở ngay trang đầu rằng người Mnong Gar còn có tên gọi là Phii Brêe “Những con người của rừng”, tôi gần như tin chắc nếu quả họ gắn với tên gọi ấy (không loại trừ có sự hóm hỉnh) thì đó là do những người khác áp đặt cho họ. Những người bị gọi là dlei chỉ có thể là những người không bình thường, kẻ thù, những kẻ bị ma ám, những người ở bên ngoài, ở ngoài kia, “khác lạ” đến mức rất gần tới tha hóa.
Nhưng rừng bao giờ cũng nước đôi. Một lời nói-dlei đối nghịch với lời nói thật, đơn giản, thẳng, trực tiếp, là một lời nói ẩn dụ, một cách diễn đạt khác cách nói theo nghĩa đen; đấy là lời nói gián tiếp,“ở ngoài kia”, vẫn là lịch sự. Chẳng hạn, khi tôi nói về một người nào đó: “Cây lúa nhỏ vượt cả cây lau lớn”, cả cử tọa sẽ hiểu là tôi nhằm vào một kẻ hợm hĩnh lố bịch và sẽ cười ồ lên, trừ anh ta - mà dẫu sao tôi cũng không xúc phạm, bởi vì cách trình bày vẫn mang tính nước đôi; câu đó vẫn có thể muốn nói điều khác. Tuyệt tác của lời nói-rừng là diễn từ của huyền thoại. Nên chú ý là người Sre (thuộc nhóm Nam Á) có một lối nói tương đương chính xác với cách nói Giarai, có nghĩa hơi khác một chút; đối với họ yal bri (lời nói-rừng) là một lời nói bâng quơ (lời nói gió bay), chẳng nên lấy làm điều - tức chẳng liên lụy đến ai cả, và ở đây ta gặp lại cái sắc thái Giarai kia. Trong gió (trên trời) hay trong rừng, lời nói-ở ngoài kia là biểu hiện của mơ tưởng. Các cuộc chiến đấu sử thi của các anh hùng huyền thoại diễn ra trên trời; các cô tiên, và cả các con hổ cái hay yêu tinh cái, cũng ở trong rừng - là hai tầng biểu hiện của không gian tưởng tượng...
Nếu bây giờ ta quay lại với huyền thoại ở đầu sách, ta sẽ nhận ra những nơi chốn vừa chỉ ra trên đây, mối quan hệ của chúng và chức năng của chúng trong không gian mơ tưởng. Có một ngôi làng, ở đấy người ta ăn và uống rượu ghè, có vùng rừng rộng lớn gọi là dlei römah-röman, rừng tê-giác-voi; giữa hai cực ấy: là röngol, nơi diễn ra cái cảnh trung tâm. Chỉ một người duy nhất vượt qua cả ba nơi chốn ấy, đấy là người thợ săn mögap, như là người làm mối dây liên lạc giữa làng và rừng, mối liên lạc cũng được cụ thể hóa bởi nhân vật nữ, đến từ rừng, đạt tới làng, sau khi đã hiển lộ ra ở chốn trung gian - từ đó mà có mối quan hệ sẽ được triển khai về sau giữa người thợ săn và người con gái-rừng. Tình tiết lãnh chúa ghen tức cướp lấy người đẹp là một hình mẫu của huyền thoại, sẽ gặp lại trong chu trình Drit, và, bao giờ cũng vậy, không phải kẻ sống bên lề (người thợ săn hay Drit) bị thua, mà chính là lãnh chúa (trong trường hợp Hj. 49, người thợ săn của chúng ta được nối dài bằng người cháu của ông ta; họ chỉ là một, điều đã được nhấn mạnh bằng sự kiện cuối cùng người cháu sống với “cô” của nó). Cần ghi nhớ thêm một tính cách quan trọng của nhân vật nữ: nữ hoàng thụ động (dù nàng hăng hái giã gạo hay dệt vải) và ở trong nhà; nàng ở trong đầu tê giác hay trong nhà; nàng để cho người thợ săn bắt lấy khi ở trong rừng, để cho lãnh chúa bắt lấy khi ở nhà. Người đàn ông ở bên ngoài; người đàn bà, dù nàng ở “ngoài kia”, chỉ có thể được quan niệm là nội giới.
Chương 2
Đàn bà và nội giới
“Đ
ẹp hơn hết thảy”, nhân vật Nữ hoàng được mô tả như vậy, bởi vì tất cả các cô gái đều đẹp, nói như
Boulbet,“bình thường thôi đã đẹp rồi”. Ít áo xống càng khiến ta có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cơ thể, cặp vú rắn chắc, cả sau nhiều lần sinh nở, hai cánh tay tròn mà lao động vất vả không hề làm biến dạng, nước da bánh mật và hun nắng, rợp bóng dưới một mái tóc dài đen sẫm. Ngay cả khi đã có tuổi và tóc đã muối tiêu, họ vẫn đầy phẩm cách và đáng kính, vẫn luôn uyển chuyển duyên dáng, dù là khi họ dệt vải, đan lát hay gùi nước. Thường để trần đến thắt lưng (cũng như đàn ông, thường đóng một cái toai (khố), tức là một tấm vải dài, luồn qua hai chân và quấn quanh lưng) các bà mặc một chiếc váy sẫm, phủ đến gối hay đến mắt cá, xẻ bên hông ở đó hai mép vải khép vào nhau. Chân trần, dáng đi uyển chuyển. Các cậu con trai hết lời ca ngợi những vẻ đẹp của các cô nàng yêu quý: mái tóc, làn da, và nhất là đôi vú, mà người ta chẳng việc gì phải che giấu và đàn ông đến điên lên vì chúng, tới mức họ tạc hình chúng lên các cây gỗ trong nhà, từ cầu thang cho tới xà ngang. Vậy đó, không nhập nhằng, cũng chẳng sỗ sàng; lối ăn mặc chẳng cần đạo đức giả, còn con mắt thì chẳng hề soi mói.
Trong đời sống thường ngày và truyền thống, vợ chồng cư trú theo mẫu hệ, kế thừa theo dòng mẹ, con cái mang họ mẹ; ba chữ m1 đó là cái mà Lévy-Strauss gọi là “chế độ điều hòa” - điều đó không có nghĩa là bao giờ cũng “hài hòa”. Người con gái sống ở nhà mẹ mình và rất ít khi đi ra ngoài, trong khi người con trai thường ở khắp nơi, trừ ở nhà cha mẹ mình; khi người con gái lấy chồng, chính người con trai rời gia đình mình (có một món hồi môn - bù trừ, tức là cái giá của người chồng) sang ở nhà bố mẹ vợ; khi nhà có nhiều con gái, các cô chị có thể làm một ngôi nhà riêng, nhưng việc cư trú vẫn phải ở phía vợ, trong làng gốc của người con gái và không xa nhà cha mẹ cô gái. Người đàn ông chẳng có gì là của riêng mình; nhà và toàn bộ của cải, ruộng nương và gia súc, tất cả đều thuộc về gia đình người vợ, là người duy nhất có quyền thừa kế. Khi góa vợ hay li dị, người đàn ông trở về làng gốc của mình, mình trần thân trụi, chỉ còn giữ được cái khố, con cái của họ được các dì hay bà ngoại nuôi dưỡng. Con cái, cả trai lẫn gái, đều mang họ mẹ; tất cả chúng đều là “con
hoang”, bao giờ người ta cũng biết mẹ chúng, còn bố chúng thì không nhất thiết. Như vậy mỗi người đều có một tên họ, mỗi người đều được định vị, theo một dòng những người nữ - những người duy nhất được nhắc đến trong các phả hệ thông dụng. Trong dòng nối tiếp các thế hệ, phần đóng góp của người đàn ông không bị phủ nhận, nhưng “dòng máu”, sự sống, sự di truyền, thì chỉ truyền theo dòng nữ. Các thần linh - yang của gia dình là các yang của người đàn bà; người đàn ông có vợ buộc phải quên các yang của mình đi mà chỉ cầu khấn các yang của gia đình mẹ vợ, và thường là người vợ nhắc cho anh ta biết phải khấn vái những gì. Chàng là lời nói và ngoại giới, nàng là ký ức và nội giới, nàng mang trong mình truyền thống, nàng thiết lập nên xã hội.
1 Ba từ chỉ chế độ mẫu hệ trong tiếng Pháp đều bắt đầu bằng chữ m: matrilinéaire - truyền nối theo phía mẹ; matrimonimique = con cái lấy họ mẹ; matrilocal = chồng về ở nhà mẹ vợ - ND.
Vị nữ vương của nội giới ấy là một người lao động. Thức dậy rất sớm trước đàn ông, nàng giã và sàng gạo, sửa soạn thức ăn sáng cho cả nhà và cho gia cầm, làm cỏ ngoài rẫy, sắm sanh quần áo cho mọi người, từ khâu thu hoạch bông, chải bông, kéo sợi, nhuộm màu, cho đến dệt nên những tấm vải nổi tiếng vì trang trí tinh tế. Ngay từ khi mới ra đời, bà đỡ đã phân rõ vai trò của nàng trong lễ “thổi tai” bbhet, nhắc đôi tai ấy phải nhớ lấy con dao xếp của người dệt vải (là hoán dụ cho mọi công việc của người phụ nữ, nhất là việc cửi canh). Trong văn học Giarai (huyền thoại, bài hát, lời tỏ tình, lời ai điếu) hình ảnh người đàn bà là người dệt cửi và làm việc, brua’, từ thường có nghĩa tương đương với hmua, ruộng; đương nhiên không phải nàng chỉ có làm việc, nhưng nàng được biểu hiện thế đó, và như vậy là một cách để tôn vinh nàng.
Ngôi nhà Giarai, là một hình chữ nhật dài, trục chính theo hướng bắc nam. Phía nam là mái hiên và lối vào chính bước vào phòng khách; đấy là chỗ của đàn ông. Phía bắc, lối vào (gần như chỉ được trổ riêng cho người phụ nữ) đi vào phòng riêng, ở đây có bếp, và về phía tây là nơi trữ nước, củi, các loại rau, nồi niêu - thế giới của người đàn bà. Người phụ nữ chỉ đứng ở hiên nhà buổi sáng sớm để giã gạo và buổi chiều ngồi dệt vải, thường là khi không có đàn ông, vốn hay ở bên ngoài.
Khi người đàn bà không ở nhà, họ di chuyển, như chúng ta đã thấy, trong một chu vi rất hạn chế: ruộng nương, vườn tược, ra sông và đi qua rừng nằm trên đường của mình; rất nhiều phụ nữ không bao giờ đi sang làng bên cạnh, nếu không phải là trong các dịp lễ “bỏ mả” lớn tập họp các gia đình sinh ra từ một bà tổ chung - và việc này cũng chỉ diễn ra ở ven rừng, chứ không phải trong làng - trong khi người con trai ít khi ở nhà mình, trai trẻ thì lang thang để tán gái, người đứng tuổi thì đi thăm bạn bè ở xa, hoặc giả đi giải quyết công việc (săn bắn hay các việc khác)...
Thiết chế xã hội dường như rất ưu đãi người đàn bà: là người chủ gia đình, bà có mọi thứ... nhưng bà cũng làm mọi việc. Quả là bà cương nghị hơn đàn ông nhiều, bà có thể không cần có người đàn ông; phần đông các bà góa Giarai không tái giá, trong khi các ông góa vợ rất bối rối và tìm ngay một người đàn bà trẻ.
Nhưng như vậy thì người đàn ông làm gì trong cái thế giới đàn bà này? Ngoài việc hạ cây để làm rẫy, làm nhà hay làm nhà mồ, anh ta hút ống điếu, tán gẫu, bàn cãi tranh chấp, đi săn và đánh giặc; dù gì đi nữa, anh ta là mối liên hệ với kẻ khác, với ngoại giới. Người đàn bà là khởi điểm và hoàn tất, kết thúc.
Con trai con gái ve vãn nhau tự do. Người con trai mang cây đàn gông đến, anh đứng bên ngoài; người con gái chờ anh trên hiên
nhà, hay trong chòi rẫy. Họ có thể làm tình với nhau, nhưng không được có con - mà không dùng các chất phá thai; họ bảo chỉ cần không muốn là được. Đây là thời gian yêu đương, chưa phải là lúc cưới xin, cưới xin là một thiết chế xã hội, một mối liên hệ giữa các gia đình, nhằm nối tiếp các thế hệ; ít khi người ta cưới người mình đã yêu và đã ca hát.
mái tóc phủ trán em như mái hiên trên sàn nhà
thân em như ánh trăng ngà
hơi thở em như lửa nóng
biết làm sao đây hỡi thần linh
làm sao giữ lại được em cho anh đây?
hai ta hãy cùng nhau đi hái rau
một nhúm rau đắng
một bó rau sam
một mớ rau dền
ôi biết làm sao đây hỡi thần linh
làm sao giữ được em cho anh đây?
muốn đưa em ra nương
muốn dẫn em ra vườn
trên đường ra ruộng
anh đứng đó chờ em
ôi biết làm sao đây hỡi thần linh
làm sao giữ được em cho anh?
cơn mưa làm mối rời tổ
làm cho con cá vượt đập
cả tháng nay anh không rời hiên nhà em
một năm nay anh đứng ở cầu thang nhà em
ôi biết làm sao đây hỡi thần linh
làm sao giữ được em cho anh?
........................................................
Khi người con gái trả lời, thường là họ đùa, nhất là khi ngồi cùng bạn bè.
ơi anh bạn xinh xinh
anh rình theo vết chúng em
vết chân con gái bên bờ suối
vết chân anh bị xóa đi trên cát
và anh cũng mất cả dấu chân của chúng em
........................................................
chân chúng ta cùng gập theo một điệu
tay chúng ta cùng uốn theo một nhịp
đôi má ta chạm vào nhau và nhận ra nhau...
Nước đóng một vai trò lớn trong những lời tỏ tình này. Người con trai cố đưa cô gái đến bên bờ suối hay gặp cô gái ở đấy, vì ở đấy người ta tắm và tất là phải rũ bỏ hết áo xống. Nhưng tất cả những cái đó cũng phải được hiểu theo lối “nói- rừng”, còn mối quan hệ giữa nước và giới tính có nghĩa như sau: “Người đàn bà là một cái ao; người đàn ông là nước chảy. Cho nên, anh bạn giải thích cho tôi nói thêm, đàn bà thủy chung, còn đàn ông thì hay thay lòng đổi dạ”. Ao chỉ nhận nước mưa hay nước từ một dòng suối chảy vào, nghĩa là một thứ nước luôn chuyển động. Nước đọng lại trong ao, nó bị giới hạn, đóng kín, như người đàn bà trong nhà, dự trữ và tiếp nhận, được làm đầy bằng cái bên ngoài đưa đến. Nước chảy không ổn định, trốn chạy đến vô cùng; nó chỉ đi qua, không gắn lại với cái gì hết, như người đàn ông chẳng có một gia đình, cũng chẳng có một ngôi nhà giữ chân, anh ta đi qua. Phần lớn các vụ ly hôn đều do người chồng không chung thủy; trong trường hợp ngược lại, sự việc sẽ được coi là nghiêm trọng, bởi vì “phản tự nhiên” hơn. Người đàn bà phải ở lại nội giới.
Khi người đàn bà ở bên ngoài - tức là ở ngoài chu vi của mình, ở trong rừng - thì cả xã hội bị uy hiếp, trước hết là chính bà ta. Tình huống đó thường được gợi lên trong các huyền thoại. Mối hiểm nguy của người đàn bà ở bên ngoài có tính chất hoàn toàn lý thuyết, bởi vì trong cuộc sống thường ngày ít khi xảy ra
trường hợp đó - nếu không phải là trong các hiện tượng bị ma ám, thường gặp ở đàn ông hơn là ở đàn bà; nhưng nó được tưởng tượng như là để “thử nghiệm” một sự đảo ngược ở hai tầng: một mặt người đàn bà được nhìn thấy ở bên ngoài, đấy là cô gái-làng lạc trong rừng, mặt khác là quan niệm về một kiểu người đàn bà khác, người con gái-rừng trong môi trường tự nhiên của cô ta. Rất nhiều truyện kể, ở nhiều tộc người, minh họa hai loại tình huống “lý thuyết” đó. Sau đây là một ví dụ:
Một người đàn bà sai hai đứa con gái của mình ra rẫy. Cô em và cô chị, Cô và Cô kia, họ nấu cơm, bây giờ họ hát trong chòi rẫy. Một anh chàng đến gần, mịệng huýt sáo. Các cô gái mời anh ta lên chòi. Cô kia chải tóc cho anh ta; chiếc lược sẩy tay, lọt qua kẽ sàn, rơi xuống đất; cô bảo cô em xuống lượm. Nhưng cô em trông thấy trên sống lưng của người khách có những cái răng; vừa đi xuống cô ta vừa gọi chị: “Coi chừng răng trên lưng!” Nhưng chậm mất rồi, người đàn ông kia hóa ra là một con hổ, nó ăn thịt Cô kia; Cô chạy trốn vào rừng sâu.
Cô gặp một cặp vợ chồng người-hổ già. “Xin đừng ăn thịt tôi!”. Hai người già vuốt ve Cô. “Ôi, tôi nhột quá!”. Cô đi theo họ và ở cùng họ.
- Cô bé, ở nhà ngoan nhé!
- Các bác đi đâu?
- Chúng ta đi một vòng ngoài rừng. Sẽ vắng nhà lâu đấy. Nấu cơm đủ mà ăn, làm thịt gà nếu con muốn.
Hai người già ra đi. Vừa ra xa nhà, họ rùng mình và trở lại thành hổ. Ở nhà, Cô nấu cơm nếp. Từ xa, hai người già nghe mùi, tưởng là cô bé đã chết, họ trở lại nhà dưới dạng người, và bằng lòng thấy Cô còn sống. Cô xin mọi thứ Cô có thể ăn, mà quên nhắc đến lợn. Hai người già lại ra đi, dưới dạng hổ.
Trong khi họ đi vắng, Chàng, một người trai trẻ, đi qua đó; Chàng trông thấy ngôi nhà trong rừng.
- Ai ở đây vậy?
- Đừng có lại gần, đây không phải là nhà của con người đâu.
Chàng cứ đi vào, đùa vui với cô gái; Cô nấu cho Chàng một con lợn. Từ xa hai người già bắt mùi, tưởng có người khách đến bắt mất cô gái; họ trở về. Cô giấu người bạn của mình.
- Có mùi thịt người ở đây!
- Không đâu, đó là con có kinh đấy.
Hai người già tìm, phát hiện ra Chàng, họ ăn thịt Chàng; nhưng quả tim Chàng vọt ra được, nó trốn vào nếp váy Cô. Hai người già lại ra đi. Cô lại làm ra một Chàng mới từ trái tim nọ.
- Phöi yang! Hai lá trên cây sung, ba lá trên cây đa, hãy cho Chàng sống lại như trước!
- Ôi chắc là tôi đã ngủ...
- Chàng không ngủ đâu, hai người già đã ăn thịt Chàng đấy! Cô chuẩn bị cho hai người cùng trốn, bảo Chàng hãy đi tìm con voi. Chàng tìm đến voi, nó lấy ngà đâm Chàng chết. Cô lại làm ra một Chàng mới, cho Chàng tóc của Cô để làm bùa; vậy là voi chịu nghe theo Chàng. Chàng dẫn voi về đến nhà. Họ chất tất cả đồ đạc của hai người già lên bành voi và bỏ trốn. Một con gà của những người già gáy lên; hai người già nghe thấy, họ đuổi theo voi.
- Hãy ném cái lược đi!
Chàng ném cái lược, nó biến thành lùm tre gai dày đặc. Hai người già mất dấu. Con gà lại gáy; hai người già lại đuổi theo gần.
- Hãy ném hòn đá mài đi!
Hòn đá mài trở thành núi; hai người già không thể vượt qua. Chàng và Cô được cứu thoát (Hj. 34b).
ợ j
Câu chuyện này tôi được nghe một cô gái rất trẻ kể; căn cứ vào vẻ ngây ngô và những kiểu rút ngắn của nó, có thể nhận ra đây là một mớ trộn lẫn hổ lốn nhiều huyền thoại mà vả chăng ta cũng từng biết; chỉ nguyên như vậy, nó cũng đã cho thấy những gì ý nghĩ con người gắn lại và trộn lẫn vào nhau trên cái nền của ký ức lộn xộn về truyền thống. Dẫu còn phải phân tích nó trên một tổng hợp các văn bản, cái cốt lõi của vấn đề là “cuộc thử thách trong rừng” đã được đặt ra ở đây: sống trong rừng không chỉ là một mối hiểm nguy đối với người con gái bị lạc, mà còn là, và chủ yếu là hiểm nguy đối với người đàn ông - chính anh ta và chỉ anh ta bị chết; chính cô ta cứu anh, cứ như thế giới hoang dã của rừng đã trở thành môi trường tự nhiên mới của cô. Cô thoát khỏi bọn cọp và chế ngự cả voi, luôn luôn làm chủ tình thế. Hoàn toàn ngược lại với những gì ta có thể chờ đợi ở người đàn bà vốn chỉ là người chủ ở làng và không được ở bên ngoài. Mơ tưởng, trong trò chơi của nó, đã biến “người đàn bà nội tướng” thành người đàn bà-nội tâm của giấc mơ nó hoán đổi và tôn vinh nàng. Ta sẽ gặp lại sự nhị hóa này trong các huyền thoại về người đi săn, phải nhốt người vợ của mình trong nhà để có thể tìm được con thú săn-đàn bà ở chốn ngoài kia - cái sống thực và cái mơ tưởng, cái yên bình (nội giới) và cái bất trắc (ngoại giới).
Chương 3
Cô gái lạc, mang thai trong rừng “R
ừng của bọn người mọi rợ và của thú dữ” - các dân tộc láng giềng vẫn hình dung như vậy về vùng đất nội địa này, mà họ cũng chẳng mạo hiểm đi vào. Có
lẽ chính những người bản địa cũng góp thêm phần vào cái nhìn u tối đó để bảo vệ sự độc lập của mình; dầu sao thì trong tưởng tượng của họ, rừng cũng nguy hiểm vì nó rất bí hiểm, tuy kỳ thực rừng không quá thù nghịch như người ta nói: hàng trăm nghìn con người từ xưa vẫn sống nhờ vào nguồn tài nguyên của nó - và họ biết rõ điều đó; song nếu như cái thường ngày vẫn xen kẽ với cái huyền thoại, thì cái này chẳng vì thế mà giải thích được cái kia.
“Một xứ sở của những người đàn bà ở trong rừng”, phải hiểu nói như vậy là nói rằng rừng là khung cảnh của xứ sở này, chứ không có nghĩa là ở đây người đàn bà sống trong rừng... trừ phi là trong cõi mơ tưởng. Sau đây là một vài ví dụ, trước hết là lấy từ vùng Sre, một tộc người Nam Á sống khá xa về phía nam của người Giarai; rừng trên vùng cao ở đây rậm hơn và gần làng hơn là ở vùng Giarai. Một cộng đồng văn hóa - chứ chưa nói đến muông thú và thảo mộc, rất gần gũi với Giarai - cho phép chúng ta gắn các huyền thoại của họ lại gần nhau, soi sáng cho nhau khi ta xét chúng trong một cái nhìn chung.
Khởi đầu là việc đi hái một loại lá dại gọi là biap pu (Gnetum sp). Tất cả các cô gái trong làng đều vui vẻ kéo nhau vào rừng. Chỉ có một cô gái còn rất trẻ ở lại nhà; bà cô không cho cô đi. Lợi dụng bà cô đi ngoài, cô gái thó một ít gạo và chạy theo các bạn đi hái lá. Cô chẳng thấy họ đâu cả. Cô bị lạc. Cô ngồi trên
một tảng đá, chờ, vừa nhai trầu. Một con hổ xuất hiện, nó liếm lấy nước trầu đỏ của cô nhổ ra. - “Hổ ơi, hãy lấy ta đi, hãy lo cho ta!”. Cô ngồi lên lưng hổ, nó mang cô về chỗ nó, ở đó, cô dùng bữa; khi đã ăn no, cô giã gạo. Hổ bảo cô mang trầu đến cho nó; cô nhầm chum, cả cánh tay cô lúc rút ra phủ đầy bụi vàng; cô phủi mãi, mà cánh tay vẫn vàng rực [cảnh này đúng hệt như trong Hj. 16, nhân vật ở đây là một chàng trai trẻ, Drit, mà ta sẽ gặp lại]. “Em có thích vàng đó không? - Em thích lắm! - Vậy thì em cứ ở đó, ta sẽ đi mời các bạn đến uống rượu cùng chúng ta” [có nghĩa là làm đám cưới]. Trong khi hổ đi vắng, cô gái nghe có tiếng bên dưới nhà sàn: “Hãy trốn đi! Nó sẽ ăn thịt cô đấy! Trốn đi!”
Cô gái chạy trốn, trở lại chỗ tảng đá cô đã ngồi trước đó. Có một con lợn rừng đến uống nước. - “Ôi lợn rừng, hãy lấy ta đi!” Lợn rừng chê cô, nó bỏ đi. Lại đến một con nai. - “Nai ơi, hãy lấy ta đi! - Em muốn làm vợ ta à? - Hẳn rồi!”Nai mang cô ta về và giấu cô, thật là may, vì hổ đến tìm cô. Rồi, để che chở cho cô, Nai mang cô ra một tảng đá ngoài biển. Một người con trai của Mặt trời nhìn thấy cô, anh biến thành chim đại bàng, bay xuống tìm cô, mang cô về bên Mặt trời; họ cưới nhau (Hs. 60).
Lá cây Gnetum ở trong rừng rậm; đàn bà đi vào đó bao giờ cũng phải đi từng tốp, và không vào quá sâu. Cô gái này đã đi một mình và đi quá xa. Hẳn cô phải khiếp sợ lắm; vậy mà cô chẳng hề, cô thản nhiên ngồi nhai trầu và chờ. Cô chờ gì vậy? Một tấm chồng “rừng” - “Hãy lấy em đi!” - Cô gái đặc biệt này đã chế ngự thử thách của rừng, cô được tôn làm dâu của bà Mặt trời, sau một cuộc du hành đưa cô ra đến biển - hành trình kinh điển của các nhân vật anh hùng ca. Người đàn bà “ở” trong rừng không còn thuộc loại bình thường nữa.
Người đàn ông từ xứ Chàm trở về. Về đến nhà, anh ta nghe tin người vợ đã thất tiết với anh. Anh bảo vợ cùng anh đi vào rừng tìm dây buộc. Vào đến nơi rừng sâu nhất, anh dừng lại, anh tóm lấy vợ, dùng những sợi dây to tướng, cột vợ vào một cái
cây. Anh nhai trầu, nhổ vào váy vợ, rồi lột váy vợ ra - anh muốn làm cho người ta tưởng đấy là máu; anh đánh cùn cái câu liêm của anh vào một tảng đá. Anh về nhà, đưa cái câu liêm và cái váy đẫm máu ra: “Tôi đã đánh nhau với hổ, nhưng vợ tôi đã bị mất mạng rồi!” Bố mẹ vợ anh khóc và đốt cháy hết đồ đạc của con gái.
Bị cột trần truồng vào gốc cây, người vợ thấy một con nai; nai thương hại chị, bắt đầu cởi trói cho chị. Rồi đến một con lợn rừng, rồi một con hổ cũng thương hại chị. Cuối cùng, một con voi tháo nốt chỗ dây còn lại và đưa chị về nhà chị. Bà mẹ già của chị thấy chị trở về trên lưng voi [voi ở đây là thú hoang; khác với người Giarai, người Sre không thuần hóa voi], bà sợ; chị con gái trấn tĩnh bà: đây là voi cô thuê; người ta cho voi nào chuối nào mía, rồi voi trở về rừng núi.
Chị con gái dần dần hồi phục; người chồng, đi vắng, bây giờ trở về, say mèm. Anh ta vẫn kể chuyện anh ta đánh nhau với hổ, nhưng vợ anh đã mất mạng; chỉ có cậu em trai anh ta tin lời anh. Lúc đó, chị vợ anh mới ra mặt. Anh chồng chết khiếp và bị trừng phạt phải làm nô lệ. Mấy tháng sau, chị vợ thương hại, trở lại sống cùng chồng (Hs. 91).
Đề tài có vẻ khác đi, nhất là phần mở đầu và đoạn cuối: người vợ bị người chồng ghen bỏ lại trong rừng, chị trở về để chế ngự chồng. Nhưng phần cốt yếu của câu chuyện là đoạn người đàn bà ở trong rừng; chị gặp nai - lợn rừng - hổ (thứ tự ngược lại với huyền thoại trước; nhưng lần này, thứ tự hiểm nguy thì tăng dần lên); không chỉ là chị không hề sợ chúng, mà chị bắt chúng lần lượt giải thoát cho mình. Đỉnh cao là cái chuỗi đó kết thúc bằng con voi (thông thường mạnh hơn hổ, trong các cuộc đấu tay đôi), voi ngoan ngoãn đưa chị về nhà. Người đàn bà trẻ đã chế ngự rừng và muông thú của rừng - trong khi người chồng chị ta chỉ giả vờ làm vậy thôi, chị có thể trở về để chế ngự trong chính nhà mình. Đỉnh điểm câu chuyện ở đây không phải là tấn bi kịch vợ chồng, mà là tình cảnh của người đàn bà lạc trong
rừng, ở đó chị tỏ ra là người chủ. Nếu chị ta là “văn hóa”, trong ý nghĩa là chính chị đã mang các kỹ thuật đến cho đàn ông, thì ở chị là “tự nhiên”, theo nghĩa là muông thú và thảo mộc không hề khiến chị bối rối, mà còn phục vụ chị.
Cuộc du ngoạn này sang xứ sở của người Sre đã đưa chúng ta đi quá xa người Giarai, nhất là xa huyền thoại Hj. 34b. Đối với người Pháp, thì Sre và Giarai có thể trông gần nhau như hai ngôi sao mà cái nhìn của chúng ta kéo lại trong cùng một chùm sao, trong khi kỳ thực chúng vô cùng cách xa nhau - các nền văn minh khác cũng thường làm cái việc cắt ra và gộp lại như thế; trong thực tế, người Sre và người Giarai nói những ngôn ngữ (chứ không phải các thổ ngữ) khác nhau; cho đến mãi gần đây họ không hề biết đến sự tồn tại của nhau (công cuộc thực dân hóa và quân sự hóa gần đây đã nhào trộn các tộc người) - ta không vội đoán định về những gì diễn ra ngày xưa và nguồn gốc của họ mà chúng ta chẳng biết được gì. Bây giờ hãy trở lại với xứ sở Giarai và cô gái-làng của họ bi lạc trong rừng.
Hj. 34b (chương 2) có thể chia cắt như sau: nhân vật chính bị mất người chị cả, do hổ vồ (đấy là cách khởi đầu của Hj. 30) - để tránh con dã thú, rất nghịch lý, nàng lại chạy trốn vào rừng (xem Hj. 110) - nàng được bọn hổ tiếp đón; một chàng trai đến; chàng ta bị giết chết, nàng làm cho chàng sống lại; cuối cùng chính nàng điều khiển cuộc chạy trốn đi tìm tự do (tất cả các yếu tố này lại tìm thấy trong Hj. 95). Cái lối lặp lại kiểu này (những chỗ nhắc lại được ghi trong ngoặc đơn) là một hệ quả của lối diễn đạt truyền khẩu và ghi nhớ. Các yếu tố, hay các chủ đề huyền thoại, nằm trong những công thức, hay những nhóm công thức, được ghi nhớ và quảng diễn ra trọn gói; vừa qua giọng nói vừa qua ý nghĩa, chúng móc nối vào với những công thức khác, và câu chuyện được xây dựng nên... Điều đó không có nghĩa là tất cả các huyền thoại đều nói lên một điều giống nhau hay nói chuyện được chăng hay chớ, mà cho thấy những tập họp chung quanh những hình ảnh chủ đạo, chúng kéo theo những hòa âm, mà ta có thể coi là cần thiết, bởi vì tất cả cái tổng thể
này diễn lại một phần một hệ thống diễn đạt, gần như là đã được áp đặt về mặt văn hóa. Không nên coi đó là những lối rườm rà, đặc trưng trong thể truyền khẩu; ở đấy, hơn thế nữa, còn có một sự tích tụ thêm ý nghĩa, không chỉ bằng phối âm, mà, thử dùng một lối hình dung khác, nó giống như trong các giấc mơ của chúng ta mà chúng ta không thể phân tích riêng rẽ từng cái, trong khi có thể giải đoán chúng trên một tổng thể những pha lặp lại và những biến thể cho phép nhận ra những hằng số và những điểm mạnh, và đặc biệt những gì tư duy lý trí của chúng ta vẫn che giấu chúng ta.
Càng có nhiều bản văn (đương nhiên phải hiểu biết ngữ cảnh, và nhất là, cung cách của các bản văn đó), chúng ta càng dễ xác định ranh giới và mô tả thế giới mơ tưởng, các hình thức và các ý nghĩa của nó. Đã tích góp được một số lớn các truyện kể (các truyện kể huyền thoại và các chuyện đời, như các bạn sẽ thấy sau đây), tôi không ngần ngại trích dẫn thật nhiều, nhất là các văn bản này, vốn tuyệt vời, chẳng còn cách nào để phổ biến chúng nữa.
Nàng mồ côi. Nàng sống với Mẹ Rú. Cả hai rất nghèo. Hôm đó, Mẹ Rú đi ra rẫy; nàng ở nhà. Các cô gái trong làng rủ nàng cùng đi hái lá chàm. - “Em không muốn đi đâu, em không có gùi! - Thì mang một trong những cái gùi của chúng mình vậy. - Em không có bầu nước... - Nước à, chúng mình có đây!” Vậy là nàng đi hái lá chàm. Đến nơi nàng hỏi mượn một cái gùi để đựng các cành lá hái được; các bạn chế nàng: “Mày tưởng mày là bà hoàng đấy à! Mày cưỡi voi mà đến đây đấy chắc?” Nàng hái những lá to, rồi khâu lại với nhau để làm thành một chiếc rổ. Trong khi đó, các cô gái khác đã hái lá đầy gùi và chuẩn bị đi về. - “Cho em uống nước với! - Chúng tao phải vội về; mày về nhà mày mà uống nước!” Nàng không nói gì nữa và tiếp tục hái lá chàm. Nàng chỉ có một mình. Nàng khát. Có một ít nước đọng trong một hốc cây; nước này bẩn lắm, đầy trứng muỗi và
trứng cóc. Mặc kệ, nàng lấy một chiếc lá, cuốn lại làm chén và uống, rồi ra về. Về nhà, nàng phơi lá chàm ra nong, nấu cơm rồi ăn cùng Mẹ Rú. Nàng không rời Mẹ Rú nữa, Mẹ đi đâu nàng cũng đi theo.
Hôm đó, nàng bắt chấy cho Mẹ, Mẹ thiu thiu ngủ; đầu Mẹ đong đưa trên đôi vú nàng. Sữa ứa ra và chảy dài trên vai Mẹ; Mẹ choàng thức dậy, lấy ngón tay thấm vào, liếm thử. Ngọt lịm. - “Cháu có thai à? - Là nước mắt đấy, Mẹ ạ.” [Nàng có thai thật, sinh ra một con cóc; khi muốn,“cậu bé” ấy có thể hiện lên thành người, cậu ta làm nên những điều kỳ diệu và cuối cùng cưới con gái của lãnh chúa] (Hj. 32).
Xét về bên ngoài, đây không phải là một cô gái-làng lạc trong rừng. Cây chàm, được trồng, không ai đi hái trong rừng, mà là ở gần làng. Nữ nhân vật chính, không phải bị lạc trong rừng, rất khác với các cô gái khác trong làng; đấy là một con người ở bên lề, sống với bà “Mẹ Rú” nọ, khiến nàng trở thành đồng dạng với nhân vật Drit (mà chúng ta sẽ gặp lại), họ sống ở giữa làng và rừng. Tuy nhiên, điểm nhấn ở đây là việc hoài thai “hoang”, nếu có thể nói như vậy, của cô gái trẻ sau khi uống nước có trứng cóc. Hơn nữa, cái gốc cây nọ là gốc cây Lagerstroemia, một loại cây lớn trong rừng rậm - và chắc chắn là người ta không hái lá chàm dưới gốc nó. Dẫu khung cảnh câu chuyện có rõ ràng đến đâu đi nữa - các cô gái trẻ trong một đám cây chàm - chính cái từ bé nhỏ trol (lagerstroemia) đã để lộ khung cảnh huyền thoại hóa, là chìa khóa của giấc mơ. Nhân đây xin nói qua, khó mà giải thích các huyền thoại nếu không vận đến khoa ngữ văn. Đúng là cô gái đã mang thai trong rừng, tức là trong cái thế giới ở ngoài kia. Và đấy là một tiêu bản của văn học Giarai. Sau đây là một ví dụ khác:
Có hai chị em. Cô chị rủ em đi hái bông vải trong vườn. Hái xong, cô chị ngồi xuống, uống nước, rồi soi thủng đáy trái bầu. Cô em khát, cầm lấy bầu; chẳng còn nước. Cô thấy trong một cái bộng ở gốc cây trol có nước, cô lấy một cái lá, múc lấy nước
và uống. Hai chị em đi về nhà. Hôm sau, bà mẹ bảo cô bắt chấy cho bà. Sữa chảy xuống trên vai bà. - “Bé, con đã lỡ ăn nằm với ai thế? một cậu con trai Lào, một người khách lạ? - Ôi mẹ ơi, không có ai đâu; con chỉ đi ra ngoài với bố thôi [lối nói ở đây nước đôi; trong một dị bản, bà mẹ kết tội con đã loạn luân]. Khi đi hái bông vải, con đã uống nước đọng, chỉ có vậy thôi.”
Bị bố mẹ đuổi, cô gái lang thang trong rừng. Cô gặp Mẹ Rú và cháu của Mẹ là Drit đang đi đào củ rừng. Cô xin được ở với họ. Cô kể cho họ nghe chuyện của cô. - “Này cô bé, con có muốn lấy Drit không? Anh ấy không muốn con đâu! Con có thai mà chẳng có chồng.” Cô và Drit yêu nhau, họ cưới nhau. Họ đi vào rừng đào củ. Trời nóng quá, họ ngủ thiếp đi, trong mơ họ nghe thấy: “Đừng giết chết đứa con của cô gái! Nó sẽ làm cho các ngươi giàu có đấy”. Họ thức giấc; cô gái thấy đau đẻ, cô sinh ra một con khỉ cái [đứa con đó về sau sẽ trở thành một cô gái xinh đẹp lấy chồng giàu có] (Hj. 47).
Cũng như câu chuyện trước, rất giống với chuyện này, tôi chỉ dịch đoạn mở đầu, rất thích hợp với chủ đề của chúng ta. Rất nhiều văn bản, ở nhiều tộc người Đông Dương, nhấn mạnh đến trường hợp một người đàn bà thụ thai sau khi uống nước hay ăn một loại quả gì đó; điều đó tất phải khiến ta chú ý. Nếu trong câu chuyện đã kể, chính đứa con (trai hay gái, chẳng có gì quan trọng) khiến thính giả bị hấp dẫn vì những kỳ tích của nó, thì ở đây cái không nói ra (hay cái ít được nói đến) khiến tôi lưu tâm. Theo tôi, hình ảnh người con gái mang thai trong rừng, trong ngữ cảnh xã hội-dân tộc học ở đó người đàn bà muốn (hoặc có thể) làm mọi thứ mà không cần có người đàn ông, dường như là dấu hiệu của một sự thông đồng (nếu không nói là một sự đồng tính1) giữa người đàn bà (trong huyền thoại) và “tự nhiên”, một mối liên hệ gần như là sinh học, đến mức gợi đến hình ảnh loạn luân - như chúng ta sẽ thấy trong trường hợp một người bị ám thấy mình làm tình với em gái hay người họ hàng gái gần gũi của mình. Thậm chí ta có thể tự hỏi, nhất là từ Hj. 47, phải chăng lối biểu hiện cô gái mang thai trong rừng (hay “chửa
hoang”) là một cách để che giấu một sản phẩm loạn luân, cũng một thể như lối điều chỉnh-bằng-ngụy-trang nơi những ảo ảnh trong các giấc mơ của chúng ta, nhất là khi tội loạn luân, bị coi là kinh tởm một cách chính thức trong xã hội truyền thống, thì lại được tôn vinh trong huyền thoại. Trong phân tích chúng ta đang thực hiện đây, chính cái mẫu “che giấu” này là chỗ ta phải cố vén mở cho ra.
1 Nguyên văn: connaturalité. J. Dournes ghép tiền tố con với nature, có thể dịch là đồng tính, đồng chất, đồng bản chất - ND.
Bây giờ, khi ta đã biết một con cóc cũng có thể là một anh chàng đẹp trai, và một con khỉ cái có thể là một cô gái tuyệt trần, chúng ta có thể nghe một truyện kể kỳ lạ, sẽ chẳng có nghĩa gì cả nếu đặt ngoài cái văn mạch huyền thoại vừa nói.
Chú thích về các tên riêng: Trong văn bản sau đây, cũng như trong các văn bản trước, các tên nữ nhân vật chính, em gái cô, em trai cô, không đích xác có ý nghĩa gì cả; đấy là những cặp tên đặt vào đâu cũng được, Hlui’ với Hbia cho con gái, Dam Phu với Chöhlir cho con trai; hầu như cùng những tên nhân vật ấy cứ trở đi trở lại trong các truyện kể này. Dịch chúng ra bằng một tên riêng sẽ là một thứ “dịch-quá”. Đây là những hình mẫu người, không được xác định một cách cá thể: Nàng, Chàng, cậu em... dịch như vậy sẽ có thể cho thấy rõ hơn là từ truyện này sang truyện khác vẫn chính là một tính cách huyền thoại ấy. Ngược lại. Mẹ Rú (dịch tên ya’ pum) và Drit (“thằng Côi”) là các tên có ý nghĩa của những nhân vật được điển hình hóa một cách cá thể; cách dịch cần phải làm nổi bật điều đó lên. Còn tất cả các cô gái-làng, một phía, và phần lớn các cô gái-rừng phía khác, là phóng chiếu, trên khung cảnh của huyền thoại, của một điển
hình hư cấu (“cô gái-làng”,“cô gái-rừng”). Nhưng chỉ có một Drit, một Mẹ Rú, họ không hề được ghép đôi với ai khác thành cặp cả.
Người chồng ra đi về phía biển, sau khi đã căn dặn vợ không được ra khỏi nhà và giao cho cậu em trai mình phải coi chừng chị dâu.
Hôm đó, dân làng đi vào rừng sâu để hái hoa [nyèc, người ta bảo tôi đấy là một loại hoa ăn được, nay đã biến mất]. Được dân làng rủ, mãi sau nàng mới ra đi, nên không theo kịp họ. Trong rừng, nàng nhìn thấy những bông hoa rất đẹp trên một
thân cây cao. “Cô gái nào hái được hoa kia cho ta, ta sẽ kết làm bạn, chàng trai nào hái được hoa kia cho ta, ta lấy làm chồng!” Ngay lập tức Khỉ xuất hiện và hỏi: “Cô vừa nói gì đó? - Chẳng nói gì cả! - Có đấy, ta nghe rồi mà. - À, ta nói cô gái hái được hoa kia cho ta, ta sẽ kết làm bạn. - Còn câu khác nữa.- Chàng trai nào hái được hoa kia cho ta, ta sẽ lấy làm chồng. - Vậy thì hãy lấy ta! - Thế thì hái cái hoa kia cho ta đi! Hãy cầm hoa bên tay trái, leo bằng tay phải!” Khỉ mang hoa xuống cho Nàng.
Gần như ngày nào Nàng cũng tới dưới gốc cây nọ. Trông thấy Nàng, Khỉ hát: “Ta hái hoa cho Nàng, ta hái quả cho Nàng!”. Cậu em chồng, lén đi theo Nàng, khám phá ra cái vụ nọ; cậu thấy Nàng mang cơm và thịt gà ra cho Khỉ. Thịt gà, Nàng cho Khỉ, còn Nàng chỉ ăn xương. Cậu ta bảo Nàng dệt cho cậu ta một chiếc khố. Trong khi đó, cậu đóng một chiếc váy, hái trái bầu độn vào ngực giả làm vú, rồi mang cơm và thịt gà vào rừng cho Khỉ, Khỉ vẫn quen thói hát vang như mọi ngày. “Chúng mình làm tình đi, Khỉ rủ rê. - Anh không thấy em đã mang bầu sao? - Thế à! Thế thì chúng mình bắt chấy cho nhau đi!” Cậu lấy vừng rắc lên đầu Khỉ, nhặt lấy các hạt vừng ấy mà cắn; rồi cậu rút gươm ra, định chém nó. Khỉ thoát được. Cậu ta bèn đặt bẫy, dùng chuối làm mồi; Khi sa bẫy, bị giết chết.
Nàng đi tìm Khỉ, gọi mãi. Cậu em chồng chỉ cho Nàng thấy cái xác Khỉ, rồi đốt một đống lửa lớn, ném cái xác vào đó. Nàng nhảy vào lửa. Cậu giữ Nàng lại, Nàng trở về nhà và nằm vùi. Ở nơi xa, anh chồng thấy chiếc vòng của mình lỏng ra, cứ như nó bỗng trở nên rộng quá. “Chắc là có ai ở nhà bị ốm rồi đây...” Anh vội trở về, hỏi vợ có chuyện gì vậy. “Cậu em trai anh bị điên, nó tấn công em!” Anh ta rút gươm ra, đuổi theo người em, chỉ kịp chém đứt cái đuôi tóc của em. Nhiều ngày sau, anh chồng không còn gì ăn; cậu em rán thịt cho anh ăn. “Mùi thơm ghê! - Anh nếm thử đi, thịt chồn hương đó - Thịt chồn ngon quá! - Không phải thịt chồn hương đâu, thịt Khỉ đấy, nó đã làm tình với vợ anh, em không kìm được, em đã giết chết nó”. Điên giận, anh chồng đánh vợ; Nàng chạy vào trong rừng, anh ta đuổi theo, chạy như điên. Mỗi người chạy một ngả; cũng có lúc họ gặp nhau, nhưng họ không nhận ra nhau. Nàng biến mất tăm.
Anh ta gặp một con nai cái, xin cưới nó. “Làm sao cưới một con thú được? - Mặc kệ! Ta cứ cưới ngươi.” Anh ta dắt nai cái về nhà. Người em giết chết nai cái. Anh chồng lại chạy trốn vào rừng, gặp một con cóc, muốn cưới nó làm vợ, đưa nó về nhà; cậu em giết cóc và ăn thịt luôn. “Em không muốn làm em rể một con cóc!” Anh chồng buồn tình, lại chạy trốn vào rừng, gặp một con cua cái, xin cưới nó; họ sống chung cùng nhau. Một thời gian sau, cua kẹp bộ hạ của anh chàng; anh ta lăn ra chết (Hj. 77).
Từ tình yêu điên dại đối với một con “thú” cho đến hình ảnh cuối cùng người đàn bà hoạn chồng và bữa ăn “thịt người”, thật là một đề tài hấp dẫn cho một “nhà phân tâm học các chuyện thần tiên” (kiểu B. Bettelheim)! Dẫu các hoang tưởng của loài người có đại đồng đến bao nhiêu, tôi vẫn trụ lại trong khung cảnh rừng núi Đông Dương và trong văn cảnh huyền thoại.
Trước hết tôi muốn lưu ý rằng, trong bản ghi lại huyền thoại này do một người Giarai đánh máy, từ Kra,“khỉ”, tự nhiên và
ngay từ đầu, đã được đánh chữ hoa. Đối với thính giả, Kra không phải là một con khỉ, mà là Khỉ, nhân vật nước đôi trong rừng, cũng như Nai cái, Cóc và Cua về sau (theo thứ tự nhỏ dần) - và xin nhắc lại Khỉ trong Hj. 47. Rõ ràng đây là chuyện “tình yêu với cõi ngoài kia” chứ không phải chuyện thú dâm.
Nữ nhân vật chính vẫn là một cô gái-làng, “lạc” trong rừng - lạc theo nghĩa đạo đức - xã hội mà cậu em chồng có thể gán cho Nàng, lạ là cậu em lại đóng vai kiểm duyệt xã hội, vai trò thông thường được gán cho người anh, trong khi (trong các huyền thoại) người em thường đóng vai phản bác; ở con gái (trong đời thường), thì các vai trò ấy lại đảo ngược lại, cô em, vì là người thừa kế chính tài sản và truyền thống, nên không rời bỏ ngôi nhà bố mẹ, các cô chị thường tách ra hộ mới, nhưng vẫn theo chế độ phụ cư (ở nhà vợ). Các kiểu hành xử ấy có thể tóm tắt như sau:
Trong xã hội, người con trai không đáng kể. Trong huyền thoại, người con gái lại ở ngoài kia:
Khi cô gái-làng phản bác, cô không xa cô gái-rừng; đấy có thể là trường hợp nữ nhân vật ở Hj. 77. Trong truyện kể này, từ hüt, “điên” (xem quyển III), được dùng trong hai trường hợp: khi nữ nhân vật chính tố cáo người em chồng của mình và khi người chồng mất trí chạy trốn vào rừng; từ đó không bao giờ được dùng để nói về Nàng, và, tất nhiên, Nàng được cảm tình của người nghe. Cậu em, “người canh giữ” chị dâu không phải là
một ông Joseph đối với vợ ngài Putiphar; khi một người đàn ông nhờ một người đàn bà dệt khố cho mình ấy là họ đã cưới nhau hoặc họ là nhân tình của nhau - và đấy chính là điều không nói ra cần phải nghiên cứu. Rốt cục, cậu em ấy chẳng phải đức độ như cậu ta làm ra vẻ; vả chăng câu chuyện không quan tâm đến cậu ấy, không nhắc đến cậu ấy nữa.
Chồng Nàng đi vắng, anh ta nhốt vợ trong nhà (phương cách cổ điển của người đi săn, xem quyển II); cậu em chồng muốn được Nàng yêu, hay ít ra chiếm đoạt Nàng (công thức của huyền thoại Giarai). Nghe theo tiếng gọi của ngoài kia và của rừng, thì cũng là một cả thôi, Nàng phải lòng một hữu thể ảo, nhưng đối với Nàng lại là thực - trạng thái khiến Nàng gần với những người “bị ám” đem lòng yêu những cô gái-rừng (quyển III), ở đây giới tính bị đảo ngược. Nàng say đắm đến mức lao vào lửa hay đâm vào rừng sâu; truyện không nói Nàng chết trong rừng, trong khi ta lại chứng kiến cái chết của người chồng, anh ta không chịu nổi thử thách. Một lần nữa, người đàn bà trong rừng lại thắng. Có thể Nàng đã trở thành một trong những cô gái-rừng mà chúng ta sẽ còn gặp lại.
Chương 4
Những trò mê hoặc của cô gái-rừng T
ìm cách thiết lập một hệ thống loại hình các tính cách của văn học và của miền mơ tưởng Giarai... thì cũng chẳng khác nào có tham vọng xác định và xếp loại các
nhân vật, luôn luôn biến đổi trong các giấc mơ của chúng ta - dẫu là có thể tập họp chúng chung quanh đôi ba loại hình nổi trội. Và khi đó phải làm sao cho thử nghiệm lập hệ thống loại hình (của riêng ta) khớp với những phân loại (thực sự của người
Giarai) trong đó các hạng loại không ngừng chồng chéo lên nhau, cứ như sợ đánh mất đi một tính liên tục... Sau đây là một câu chuyện nối các cô gái-làng với các cô gái-rừng.
Cô ở lại trong rừng sau khi các bạn cô đã ra về. Cô chặt củi để đun. Lưỡi rìu của cô mắc cứng trong khúc gỗ. “Cô gái nào tới giúp ta gỡ được rìu ra, ta sẽ kết làm bạn! Chàng trai nào tới giúp ta gỡ được rìu ra, ta sẽ lấy làm chồng!” Một con voi tới, nó gỡ được chiếc rìu ra. “Bây giờ cô phải lấy ta thôi! - Tôi làm sao mà lấy anh được? Tôi đã có chồng, mà lại đang có thai nữa! - Vậy thì, nếu cô sinh con trai, ta sẽ kết với nó làm bạn; nếu cô sinh con gái, ta sẽ lấy làm vợ!”.
Cô đi về nhà; cô sinh một đứa con gái. Voi đến. “Ta gọi nó là Thảo và nó sẽ là vợ ta!”.
Đôi vú nhỏ của Thảo rắn và nhọn. Mẹ bảo cô hãy lấy chồng đi. “Con sợ chẳng ai muốn lấy con!” Voi trở lại. “Chồng của con đây này! - Làm sao con có thể lấy một con voi?”. Thảo đánh mẹ và bỏ chạy vào rừng. Gặp trận mưa rào rất lớn, cô núp dưới một gốc cây. Trên cây cao, bà Sơn mời cô hãy lên trên ấy với bà;
bà thả cuộn chỉ ra để Thảo bám theo sợi chỉ mà leo lên. Họ sống chung với nhau. Thảo hỏi bà có biết một chàng trai nào xinh đẹp cho cô không. “Có đấy, có một chàng trai ở phía mặt trời mọc, nơi bầu trời đỏ ửng lên kia”.
Thảo lại trốn đi. Cô đi đến một ngôi nhà nhỏ trong rừng; chẳng thấy ai ở đấy cả. Đấy là nhà của Mẹ Rú và của Drit. Cô in dấu các ngón tay mình lên tro trong bếp, rồi trốn vào một chỗ kín. Mẹ Rú và Drit trở về nhà, họ nhìn thấy các dấu tay, họ hôn các dấu tay ấy đến nỗi lấm lem cả mặt. “Bà ơi, sao bà để cháu đơn côi một mình thế này? - Nếu là người, thì hãy bước ra đi; nếu là ma, thì hãy ở yên!”. Thảo bước ra, đẹp quá chừng: tay chân thanh tú, ngón tay như lông con nhím, búi tóc dày, váy xòe rộng, khuôn mặt như sao hôm. Mẹ Rú ôm hôn khắp người cô. Thảo ở với Mẹ (...).
Thảo hỏi Mẹ có biết một chàng trai nào đẹp đẽ cho cô không. Mẹ Rú lại nói với cô về chàng trai ở phía mặt trời mọc kia (...).
Thảo trốn Mẹ Rú, cô đi đến ngôi làng nơi có chàng trai đẹp. Ở đấy, cô làm cho mọi người ngủ mê hết, lấy hết sinh khí của họ, nhốt trong một ống tre, trừ chàng trai đẹp mà cô tìm. Cô lên nhà anh. “Cô đến làm gì đây? - Tôi đến thăm anh.” Họ quấn chân vào nhau, cọ đùi vào nhau. “Em tên là gì? Lúa? Vừng? Kền kền? Bồ cắt? Quạ? Gốc? Hay Thân cây?... - Cô đều trả lời không”. “Em là một con chó đi lạc, một con chó rừng, lang thang; nơi nào thích thì em dừng lại ở đấy”. Hai đêm như một đêm, ba đêm như một đêm. Cô rời chàng, trả lại sinh khí cho những người trong làng, họ chẳng biết đã xảy ra chuyện gì.
Cô trở lại làng ấy nhiều lần, đánh mê mọi người, lên nhà chàng trai; chỉ có chàng không ngủ, chàng chơi đàn nhị và hát những bài trường ca. “Ai đấy? - Em đây! - Em tên là gì? - Em không có tên; em là một người con gái của các thần, một người con gái của trời; em là một con chó cái hoang,... - Mọi sinh vật đều có
một cái tên, có con vật nào lại không có ? - Nhưng em là vậy đấy”. Họ làm tình với nhau. Ba đêm như một đêm.
Sau khi Thảo ra đi, chàng tự hỏi nàng là ai nhỉ. Một thần linh, yang, một kẻ ăn thịt người, röhung, một con ma, atau chăng? Chàng mài sắc thanh gươm của mình. Cô trở lại, nằm với chàng, lưỡi gươm giấu dưới chiếu làm cô bị thương. “Ôi chàng muốn giết em! Nhưng em say mê chàng biết bao, và chàng, chàng cũng say mê em! - Anh chỉ muốn chống lại con quỷ đêm sẽ bóp chết anh”. Cô trở lại với Mẹ Rú, mẹ chữa lành vết thương cho cô bằng cách nhai một thứ củ và nhổ lên chỗ bị thương.
Chàng buồn nhớ, ngã bệnh. Người ta gọi tất cả các cô gái trong xứ đến cho chàng giải khuây. Chàng chẳng muốn ai hết. Thảo bôi nhựa khắp người, rồi phủ tro lên; cô chỉ mặc một chiếc váy
rất xấu. Cô tự làm cho mình nhìn đến tởm. Chàng vẫn tìm ra cô, và vẫn yêu cô. Chàng đưa cô đi tắm. Cô trở lại rực rỡ, một vẻ đẹp rạng ngời, khuôn mặt như ngôi sao hôm... (Hj. 110).
Lúc đầu nhân vật nữ, cô gái-làng, muốn tránh một cuộc hôn nhân áp đặt, chạy trốn vào rừng, ở đấy cô đóng vai cô gái- rừng, không rõ lai lịch, khiến người ta bối rối và thật quyến rũ, làm mê say chàng trai không thật yên tâm. Trong truyện kể này cô có một cái tên, lần này khá rõ ràng, một tên cây [töneng, Artocarpus, dịch tạm là “Thảo”, để có một cái tên đàn bà và có nghĩa]. Quả là cô đã giấu cái tên đó, do một người cô không thích đặt cho cô; nhưng đối với người kể chuyện và người nghe chuyện, thì cô vẫn là cô “Thảo” - nó gắn cô với những người đàn bà thảo mộc của huyền thoại. Đối với chàng trai, cô có nguy cơ là thần linh, là ma, hay yêu tinh.
Trong truyện kể này, tất cả các tên đàn bà đều quan trọng. Hai bà già, có vai trò song song, đã chứa nhân vật nữ, một người là Sơn và người kia là Rú, đấy là những “bà-rừng”. Còn các tên chàng trai định gán cho cô gái, cũng đều thuộc thế giới thảo mộc (Lúa, Vừng, Gốc, Thân cây) hay chim (Kền kền, Quạ), nghĩa
là thuộc một thế giới không phải người, nhưng của trần thế này; cô trả lời né đi bằng cách nói rằng mình là con gái của yang (Thần linh) hay con gái của adei (Trời, tức thần linh thượng đẳng), đẩy sang thế giới vô hình, vừa để đánh lạc hướng (và thử thách, một chủ đề kinh điển) người yêu, vừa là vì cô biết rằng cô thật kỳ lạ, thuộc về cõi ngoài kia. Cô không muốn có tên, tức là không bị đặt vào trong các chuẩn mực xã hội (“mọi sinh vật đều phải có một cái tên” anh chàng theo thời bảo vậy), cô ở giữa làng và rừng, giữa trời và đất. Thất lạc, cô đánh mất chàng, mà chàng trông vậy lại còn bị đe dọa hơn cô, bởi cô còn được hưởng các bùa ngải, thuốc-thần, của người mẹ-lớn bí ẩn; chàng thì ốm tương tư vì cái cô gái hoang dã nọ, si mê cô hơn tất cả các cánh béo bở cha mẹ chọn cho, giống như anh chàng bị ma ám chê làng, chẳng đếm xỉa đến các chuẩn mực và đi làm tình với một cô gái-rừng. Drit cũng từ chối con gái của lãnh chúa, để chạy theo các ảo ảnh của mình.
Trong khi cố làm cho mình xấu đi, cô Thảo Giarai thành ra giống với Lang, cô gái bỏ bùa mê Sre, cô gái đẹp làm say đắm lòng người có bộ tóc dài; cô Lang viện cầu đến các loại thú rừng:
“Bác rắn ơi, cho tôi mượn da của bác để may một chiếc váy. Bác rắn ráo ơi, cho tôi mượn da bụng của bác. Bác nhím ơi, cho tôi mượn lông của bác để làm tóc. Chú hoẵng con ơi, cho tôi mượn chân của chú. Cho tôi mượn mắt của bác, ơi bác thỏ!”. Lang làm cho mình xấu đi để làm cho những người đang gặt lúa phải kinh tởm, coi cô là một “cây tầm ma quỷ quái”, một “con khỉ trên cây sồi”... (Hs. 13).
Cô Lang hay đi thử thách người đó không phải chỉ khác thường, cô còn được gọi rõ ràng là “con gái của Mặt trời”; cô có thể tùy thích biến thành chim cu, cô thống trị trên thế giới động vật và thực vật:
“Các bạn gái của ta, thần bếp và nhà sấy, nữ thiên tinh ở đầu các ngọn tranh lợp nhà, con gái của những cây mạ, những cô
em kiến đi thành hàng dài, tất cả các cô em sâu bọ của ta, hãy đi ra, hãy đến đây, dệt cho ta những tấm chăn, giăng sợi ra cho ta…” (Hs. 13).
Được hai anh em yêu (hay đúng hơn là phải lòng cả hai anh em) mà cô lần lượt thử thách và cho bao nhiêu là của cải, cô tiên Lang “có con ngựa trắng biết bay” để có thể lên gặp mẹ cô trên trời, là thuộc về thế giới các cô gái-rừng của miền mơ tưởng Giarai.
Drit trồng cây cải cay trong vườn của Mẹ Rú. Từ trên cao, cô con gái của Trời nhìn thấy. Cô cho con ngựa bay của mình xuống gặm hết cây cải cay con... [Thực ra, con ngựa bay được gửi xuống là để mang Drit lên cho người đẹp trên trời]... (Hj. 1).
Người đẹp Tlaktlo đang ở bên cây cau của nàng, gần Mặt trời, ở nơi cùng trời cuối đất...
Câu mở đầu đó của huyền thoại Giarai nghe như lời giáo đầu một bản văn, không nối tiếp mà (lại) bắt đầu mô tả một tình huống khác, hay còn hơn thế nữa, như là một mô-típ nhạc, một chủ đề báo trước ở khúc mở đầu, vả chăng nó sẽ được nhắc lại như một điệp khúc trong suốt câu truyện kể. Chúng ta được báo trước: Tlaktlo là một cô gái-rừng điển hình, gắn với cây cỏ, đồng thời cô đứng giữa trời và đất. Tôi chỉ xin kể ở đây những đoạn khúc chính của huyền thoại:
Lãnh chúa sai mọi người vào rừng chặt cây cho y; trong đó có Drit, anh vẽ chân dung tưởng tượng của Tlaktlo trên một tấm ván - Lãnh chúa muốn biết ai đã làm việc đó, y gọi mọi người lại; không ai có thể vẽ lại được; không ai nghĩ đến Drit, kẻ cùng dân, khốn khổ - Drit vẽ lại bức hình trước mặt lãnh chúa; hình Tlaktlo bên cây cau, với một con voi sáu ngà và sáu vòi - Lãnh chúa ra lệnh: “Drit, hãy đi tìm cô gái kia! Nếu mày không đưa
được cô gái kia về cho ta, ta sẽ căng da mày ra làm trống, cũng như da của mụ già Rú!” - Drit đi rất lâu trong rừng; cuối cùng chàng tìm thấy Tlaktlo bên cây cau của nàng, ở chỗ cùng trời cuối đất - Nàng bảo chàng hãy trốn đi, không một con người nào có thể sống ở đây, ở đây quá nguy hiểm; quả là nàng đang sống với hổ - Drit ở lại với nàng; cả hai rất hạnh phúc - Mãi về sau, Drit đề nghị nàng cùng nhau trốn đi: “Chúng ta không thể sống mãi với hổ” (mà Tlaktlo gọi là “những người họ hàng” của nàng) - Họ chuẩn bị trốn, Drit đi tìm con voi của người yêu - “Này, anh chàng rể của ta! Anh có cái móc bằng vàng không đấy? - Ta có. - Thế cái bành bằng vàng? - Có.” - Drit có đủ mọi thứ, trừ cái roi có cái viên tròn bằng vàng mà chàng quên - Voi giày chết chàng; chỉ còn một đống cứt trâu - Tlaktlo làm cho chàng sống lại - Cuối cùng voi chịu đóng bành; cả hai ra đi - Một đôi vợ chồng hổ già đuổi theo họ; họ ném lại phía sau một quả bầu nước, nó biến thành ao, rồi ném hoa phượng vĩ, nó biến thành lửa đốt cháy cả rừng; họ không còn gì để ném nữa, họ quên mất hòn đá mài - Con hổ già ăn thịt Drit, ngốn hết mọi thứ, trừ quả tim, Tlaktlo lấy quả tim làm lại một Drit mới - Họ lại ra đi, không quên gì nữa; hòn đá mài biến thành trường thành, bọn hổ già không thể vượt qua; tuyệt vọng, chúng đành chết đói sau bức tường đó - Drit và Tlaktlo quay lại, soi thủng bức tường, chôn bọn hổ già - Drit mang Tlaktlo về nhà mình - Lãnh chúa biết được, cướp lấy Tlaktlo; Nàng chống cự và cuối cùng giết chết lãnh chúa (Hj. 95).
Câu chuyện này không phải chỉ là một dị bản đơn giản của câu chuyện đã kể ở phần trước; quả là kịch bản rất giống nhau, các chủ đề huyền thoại trở lại đúng như vậy, nhưng các nhân vật thì mang dấu ấn khác hẳn. Câu chuyện sau này tôi được nghe một ông cụ già Giarai kể, một cụ già chống đối mọi quyền bính, một chuyên gia những câu chuyện về Drit.
Làm sao có thể vẽ được cô gái chàng chưa bao giờ nhìn thấy, mà về sau chàng lại còn có thể biết cách đi tìm và nhận ra được? Dường như phải loại trừ khả năng chàng đã có gặp cô gái trước...
nếu không phải là trong giấc mơ. Huyền thoại không sao chép cuộc sống, diễn từ huyền thoại có cái lô-gíc riêng của nó; dẫu sao câu hỏi vẫn được đặt ra như là một cách tiếp cận cõi mơ tưởng của Drit. Anh chàng nghèo khổ, sống với bà ngoại ở rìa làng, mơ đến các nàng tiên và biến các nàng thành hiện thực.
Tlaktlo không phải là một cô gái-làng đã bị bắt cóc hồi trẻ. Nàng ở trong môi trường của mình, thân thuộc với bọn hổ và voi. Nàng thuận đi theo Drit về nhà chàng, vì anh con trai này không giống những người khác, chàng thân thuộc với rừng; nhưng nàng từ chối ở nhà lãnh chúa trong làng, ở đó nàng không thể sống được. Trong thế giới các cô tiên và các dã thú, người duy nhất bị đe dọa - thậm chí bị giết chết hai lần - là chàng trai. Và câu chuyện cho ta biết vì sao: vì chàng đã quên những đồ vật mà lẽ ra sự cảnh giác, nếu không phải là linh tính, phải nhắc chàng cần nhớ. Để có thể trụ được trong những hoàn cảnh ngoại-nhân như thế, phải hết sức sáng suốt, luôn nhớ ta đang ở đâu. Thêm vào đó lại còn có việc, ở đầu và ở cuối câu chuyện, Drit bị lãnh chúa, nghĩa là bị trật tự truyền thống sẵn có đe dọa; rõ ràng vẽ lại chân dung cô gái trước mặt tên bạo chúa là một việc làm khinh suất, nhưng mối quan hệ của Drit với quyền lực bao giờ cũng là quan hệ giữa một tộc người thiểu số với một dân tộc thống trị: dầu họ có làm gì đi nữa, thì bao giờ họ cũng bị kết án; họ chỉ còn các giấc mơ.
Drit kể lại giấc mơ của mình: chàng vuốt ve nàng công chúa Gió - Người ta chế nhạo chàng; chàng chạy trốn vào rừng - Chàng được một cặp vợ chồng yêu tinh già nhận về - Chàng đi đánh cá, thấy Gió, như một con chim, lượn vòng, đậu xuống bên bờ suối, cởi bỏ áo xống, nhảy xuống nước - Drit đoạt lấy áo quần, giả bộ ra về; nàng ra khỏi nước, gọi chàng: “Drit, hãy nhìn đây, em đẹp biết bao!” - Chàng quay nhìn lại, biến thành một đống cứt trâu - Yêu tinh cái hốt lấy và lại làm ra chàng - Trở lại cảnh câu cá, lần này Drit không quay đầu lại, người đẹp đi theo chàng - Trong một lần Drit đi vắng, nàng tìm thấy quần áo của mình, nhờ có chúng mà nàng bay được và Drit đã đem giấu đi,
nàng bay tít lên cao - Drit rèn cho mình đôi cánh để bay đi tìm nàng (Hj. 16).
Luôn luôn bị đe dọa, nhưng không bao giờ bị chết hẳn, Drit, anh chàng cùng khổ, kẻ thân cô thế cô, chỉ còn có thể mơ, không phải về cô gái đẹp nhất trần gian, mà là một cô gái phi-trần gian đẹp hơn tất cả những người đẹp nhất trên thế gian này “không ở đâu trên khắp xứ này từng thấy ai đẹp bằng”, và điều đó cứ được lặp đi lặp lại như một điệp khúc làm nhịp cho câu chuyện:
thấy gót chân trần của nàng
cỏ run lên vì xúc động
nàng để lộ bắp chân mềm dịu
tre trảy đều nổ bung
trước bộ ngực trần của nàng
cả rừng đều mê mẩn
Là một vẻ đẹp mê hoặc, giống như con voi trong truyện trước (Hj. 95), nàng có thể làm cho anh chàng trai trẻ dại dột chỉ chăm chăm nhìn nàng chứ không chịu nhìn con đường phải đi để thành công, biến thành một đống bùn. Drit đã quá vội vàng, như một người nằm mơ muốn chộp lấy một đồ vật hấp dẫn và do vậy mà bừng thức dậy; chàng phải tiếp tục nhắm mắt lại. Dẫu sao, nàng đã mê hoặc chàng và chàng không giữ nàng lại.
Trong một truyện kể khác, Drit vẽ cô gái trong mơ của mình, đương nhiên lãnh chúa muốn chiếm lấy nàng; Drit phải đi tìm nàng dưới đất sâu bằng cách ngồi vào một chiếc giỏ rồi người ta thả giỏ xuống một cái giếng; chàng gặp được nàng, khi người ta đưa giỏ lên thì nàng thoát mất và bay lên; Drit phải buộc mình vào một con diều để bay theo mà tìm lại nàng. Chuyện đó có ý nghĩa gì? nếu không phải là chỉ có thể tìm được - nhưng không
bao giờ chiếm được - người con gái trong mơ ở trong rừng sâu (Hj. 95), trên trời (Hj. 16), hay trong lòng đất (Hj. 15)1. Như ở truyện kể Sre sau đây:
Yah và Yan đan một chiếc lờ; họ nghỉ bên bờ sông. Yah ngồi trên một tảng đá, nhúng một chân xuống nước, anh ngủ quên và nghe thấy trong mơ: “Nếu anh đặt lờ ở chỗ này, anh sẽ được rất nhiều cá!” Họ đặt lờ và trở về nhà. Ngày hôm sau, họ được cả một gùi cá. Những ngày sau đó, lại chẳng có gì nữa hết; các thần Nước đã lấy trộm hết của họ. Bảy ngày liền, họ thấy thế, nhưng không chộp được kẻ trộm. Họ bèn leo lên một cái cây mọc phủ ra trên sông và canh chừng ở đấy.
Đến trưa, họ thấy hai cô gái đi tới chỗ nước ấy (đấy là các cô con gái của thần Nước); các cô lấy nước, rồi gỡ trộm cá đã mắc trong lờ. Yah và Yan vẫn chưa xuống. Các cô gái cởi bỏ áo xống và tắm ngay bên dưới chỗ chòm cây họ đang ngồi. Họ bèn dùng một cây sào khều quần áo của các cô gái và kéo lên cây. Tắm xong, các cô gái tìm quần áo để mặc; các cô khóc vì trần truồng. Yah nói với họ: “Váy của cô, chính ta lấy đấy!” Các cô hiểu rằng người ta đã biết các cô trộm cá. “Anh muốn gì, anh muốn chúng em đền bằng gì? Ngà voi? Sừng tê giác? Chiêng, trâu?” Họ từ chối tất “Chúng tôi muốn cưới các cô” Các cô gái bằng lòng, mời Yah và Yan cùng đi theo họ. Hai anh trèo xuống, trả áo váy lại cho các cô, họ trao nhẫn cho nhau. “Các anh hãy đứng đợi trước cửa”. Hai anh chàng chỉ thấy một tảng đá. Các cô đi qua tảng đá, rồi trở lại mang theo một lọ nước, họ rót nước ấy lên mắt các chàng trai; thế là hai chàng trai nhìn thấy ngôi nhà của các cô gái ở dưới nước, họ đi vào và sống cùng các cô (Hs. 104).
1 Những huyền thoại Giarai (Hj) không có trong bảng thống kê trang 22, được tác giả nhắc đến sẽ được in nghiêng - ND.
Các nhân vật nam đều có tên, các nhân vật nữ thì không. Yah có thể có nghĩa là “cặn bã”,“đồ thừa”, một cách gọi mang nghĩa xấu, gần với Drit mà ta đã quen; Yan thì hình như chỉ là một kiểu lấp láy của tên gọi kia. Cả hai nhân vật chỉ là một, các cô nữ thần nước kia cũng vậy.
Một lần nữa, ta lại gặp giấc mơ trong huyền thoại. Mơ thấy cá có thể có nhiều nghĩa; nếu mơ thấy ít cá, được coi là sẽ giàu sang; nếu mơ thấy nhiều cá, đấy là điềm sắp chết. yang nước, cha của các cô nữ thần nước không ra mặt, mà chỉ báo là sẽ được nhiều cá; thực ra hai chàng trai sẽ có được các cô gái, nhưng họ sẽ phải đi sang thế giới bên kia. Các cô nữ thần nước bắt lấy cá là để bắt lấy (theo nghĩa cũ) các chàng trai, những người con trai-làng - như chúng ta đã thấy con “ngựa trắng bay” gặm cỏ trong vườn của Drit để mang anh chàng này đến cho người yêu của anh; làm việc đó, nó chỉ đóng vai trung gian.
Các cô gái là ai? Dù ở trên trời, ở dưới nước, hay ở trong lòng đất, họ là chốn ngoài kia - thế giới khác được tưởng tượng ra kia, thế giới của các yang, của trời hay của những người đã chết (Hj. 110), niềm cám dỗ của cõi lạ không rõ ràng. Cô tiên Sre dụ người con trai đến chỗ mình, rồi ta không còn biết sau đó chàng ta ra sao nữa; cô tiên Giarai dường như có lúc đi theo chàng trai, nhưng ta không thấy cô ở lại với chàng. Là giọt sương dưới ánh mặt trời ban mai, giấc mơ sẽ tan biến mất khi ta thức dậy. Đêm sau, sẽ có một cuộc chinh phục khác, một huyền thoại khác sẽ được kể lại.
Cô gái-rừng không chỉ là cõi bên kia, cô còn là kẻ khác, như chúng ta sẽ thấy trong đề tài nữ-thú.
Chúng ta đã làm quen với một cô gái khỉ (Hj. 47) và một cậu con trai cóc (Hj. 32), chúng ta đã biết nên nghĩ gì về “tính cách thú” của các nhân vật. Trong hệ huyền thoại Đông Dương, các tính
cách mang dạng thú rất thường thuộc phái nữ hơn là nam - và đó là điều đáng suy nghĩ. Sau đây là một trường hợp điển hình ở người Giarai, và ta sẽ thấy có một trường hợp tương tự ở người Sre. Một ngày đã đi qua; đêm đến, lại kéo đến những giấc mơ mới, những cô gái-rừng mới, hoặc là chính cô hôm trước trở lại, trang điểm theo cách khác.
Drit và Mẹ Rú trồng rau trong khu vườn nhỏ của mình; nhưng ngày nào cũng bị một con Gà lôi mái dùng chân bươi phá trụi. Drit đến xin lãnh chúa chỉ gai để làm một cái thòng lọng; chàng đặt bẫy, bắt được Gà lôi mái - “A, ta bắt được rồi, ta ăn thịt thôi! - Drit, đừng ăn thịt em; hãy để cho em sống với anh! - Ô, một con con Gà lôi mái biết nói!” Chàng mang Gà lôi về nhà, nhốt trong một chiếc lồng đan.
Drit và Mẹ Rú ra vườn. Trong khi họ đi vắng, Gà lôi mái ra khỏi lồng và biến thành một người con gái tuyệt đẹp. Nàng đi lấy nước, nhặt củi, giã gạo, nấu cơm với rau; rồi trở lại thành Gà lôi và chui vào lồng. Mẹ Rú và Drit trở về, thấy bữa cơm đã dọn sẵn; nhưng không dám ăn, sợ có bẫy gì đây... có ai nhân dịp này muốn kiếm chuyện hại mình chăng! Ngày hôm sau, khi Drit và Mẹ Rú vắng nhà, Gà lôi mái lại ra, dệt vải, để lại bao nhiêu là quần áo cho hai người. Họ trở về, không biết ai đã trêu họ như thế này, họ hỏi mọi người trong làng, không ai thấy gì cả; họ cất các thứ quần áo đẹp ấy đi, không dám dùng.
Ngày hôm sau, Mẹ Rú ra vườn, Drit nấp ở nhà. Gà lôi mái ra khỏi lồng, biến thành cô gái đẹp, đi lấy củi, gùi nước, nấu cơm, dệt vải. Bấy giờ Drit mới nhảy ra và chộp lấy nàng. “Buông em ra, ơi anh Drit, anh đã biết em rồi, hãy để cho em trở lại trong lốt của mình!” Nàng lại trở thành Gà lôi mái. Buổi tối bà già về. Drit mời bà ăn cơm đã dọn sẵn. “Cứ ăn đi nếu cháu muốn! Rồi cháu sẽ phải làm tôi tớ cho kẻ đã bày ra cái trò này đấy - Vậy thì, cháu ăn! - Thôi kệ, ta cũng ăn với cháu - Có cái váy đẹp lắm, bà ơi! - Ta không dám mặc, sợ phải làm tôi tớ cho người ta mất! - Vậy thì, cháu quấn cái thắt lưng này. - A, ta cũng mặc
với, quần áo ta rách rưới, lạnh lắm; bà cháu ta cùng thành tôi tớ cho người ta vậy! Drit đưa Gà lôi mái ra khỏi lồng, gà biến thành cô gái và sống cùng Drit, thành vợ chàng.
Lãnh chúa nghe có cô gái đẹp sống với kẻ cùng khổ trong làng; y cướp cô gái, trói Drit vào một chiếc diều; khi diều đã bay lên cao, y chặt đứt dây. Gió thổi Drit dạt ra biển, chàng hạ xuống bờ biển. Chàng than thở cho số phận mình. Trong giấc mơ, chàng nghe một vị thần hỏi: “Con làm sao thế? - Con bị cái diều này cầm tù! - Con hãy cố vùng ra đi!” Drit vùng vẫy, các sợi dây bung ra. Chàng đi dọc bờ biển [...], chàng nhặt được một lá bùa cho phép chàng có được những đồ vật kỳ diệu: một thanh gươm có thể chiến đấu một mình, một cái khiên có thể múa một mình, một cái nồi có thể tự đầy các thức ăn và tự nấu chín, một sợi dây tự cuốn lại, một cây gậy tự nó đánh, một ống muối và tiêu có thể tự phun ra như một tên lửa.
Drit trở về nhà. Lãnh chúa triệu tập người của y để đánh nhau với chàng. Các vũ khí của Drit giết chết bọn người của lãnh chúa, chiếc nồi của chàng tưới ra toàn nước sôi, cái ống của chàng khạc ra tiêu làm mù mắt. Chỉ còn lại mỗi Drit đứng vững trên trận địa. Chàng trở về gặp Mẹ Rú đang ốm. Thanh gươm và chiếc khiên đi lấy nước và nhặt củi để đốt lửa; chiêng tự đánh lên mà không cần ai chạm vào. Lãnh chúa nghe được, y huy động cả xứ ra trận. Drit dặn các vũ khí bạn của mình: “Không được làm đau Gà lôi mái - Chúng tôi biết rõ nàng rồi!” Lãnh chúa mở tiệc trước khi ra trận, rượu cần và thịt trâu. Đoàn quân đi tấn công Drit; các vũ khí huyền diệu gây ra một cuộc tàn sát đẫm máu. Chỉ có tên lãnh chúa còn sống. Cuối cùng Drit bẫy được y rơi xuống một cái hố, chàng lấy một tảng đá lớn chặn lên trên (Hj. 48).
Vậy là chàng Drit bất tử một lần nữa đã thắng lãnh chúa (tức Quyền lực, Trật tự); không phải hiện tượng lặp lại không đổi này khiến chúng ta chú ý, mà là người đã tạo ra kết cục đó. Cô gà lôi
mái ấy [cögur, Diardigallus diardi, con gà lôi cao cấp có đôi má đỏ đẹp].
Người ghi lại câu chuyện này đã viết hoa từ Gà lôi mái, tức anh ta đã biết phần tiếp theo của câu chuyện, còn người nghe thì chưa thể biết con vật bị mắc bẫy kia là ai... nhưng cái chu trình Drit thì mọi người đã quá quen thuộc! Là cô gái-rừng kinh điển, Gà lôi mái không có nguồn gốc rõ ràng; cô nàng nhảy xổ vào cuộc đời của Drit bằng cách tấn công chàng như kiểu con ngựa trắng biết bay. Rồi, để mê hoặc chàng và, dường như để ở lại với chàng, cô nàng mang đến cho chàng các sản phẩm của văn minh, cho chàng là kẻ vẫn sống như một người hoang dã; lối hành xử đó đảo lộn hình ảnh vẫn quen được chấp nhận về nàng [thú-tự nhiên], nhưng lại đưa trở về vai trò có thực của người đàn bà trong xã hội.
Một trong những đặc điểm của câu chuyện này là vai trò của các “đồ vật” trong đó. Ngoài chiếc diều mà Drit bám vào đó như đã bám vào con ngựa bay trước đây, nó đưa chàng đến nơi chàng muốn, ta có tất cả những đồ vật mang hiệu quả kỳ diệu. Một mặt, chúng chỉ nguy hiểm cho kẻ thù của Drit, mặt khác, chúng lại phục vụ các việc nội trợ trong nhà, chúng đóng vai trò của cô tiên đến viếng thăm con người; chúng thật gắn với cô tiên ấy - “chúng tôi biết rõ cô ấy mà” - đến mức có thể xem chúng như là phần nối dài hành động và thậm chí cả con người của cô Gà lôi mái, cái cô, bằng siêu-kỹ thuật của mình, đã tỏ ra là nữ chủ nhân của một siêu-văn hóa. Và nếu ta chú ý cả lời Gà lôi mái nói với Drit; “Chàng biết em rồi” [thau1] chúng ta có thể suy ra là mối quan hệ giữa Drit với cô tiên kỳ thực sâu hơn, bản chất hơn nhiều; khi đó Drit sẽ là phương diện nữ của Gà lôi mái, là chàng trai-rừng, người với cô gái- rừng có thể chỉ là một.
1 Cần chú ý là từ thau, hiểu sâu xa, rất khác với rögöi, thành thạo, khéo tay; người Giarai sẵn sàng gán cho tôi từ thứ hai, nhưng từ chối từ thứ nhất: “Anh rögöi, nhưng anh không thau!” Thau chỉ được dành ưu tiên cho những người già hiền minh trong xứ (Những chú thích không có ghi kèm ND là của tác giả J. Dournes).
Giấc mơ của Drit sau khi hạ cánh nói lên rất nhiều điều: Drit tự do mà không biết! Nhưng cũng rất có thể chính toàn bộ huyền thoại chỉ là một giấc mơ; sau cuộc chiến đấu cuối cùng, cũng giống như sau các cảnh hung dữ người đang mơ bỗng bừng thức dậy, Drit lại thấy mình đơn côi một mình. Chẳng còn ai nói đến cô tiên Gà lôi mái... cho đến giấc mơ sau, ở đó nàng sẽ có một dáng vẻ khác. Mãi mãi là Nàng, mãi mãi là Kẻ khác, mãi mãi ở Ngoài kia.
Bên kia các dãy núi, ở vùng người Sre, đây là người đàn bà- nai cái:
Người đàn ông ấy đi thăm đồng. Chỗ nào cũng thấy dấu chân nai, các quả dưa chuột mới trổ đều bị cắn sạch. Anh ta đi tiếp, vẫn là dấu chân nai. Anh trông thấy bóng một con nai cái, anh đuổi theo. Anh bị một tảng đá lớn chắn ngang đường.
Nàng đi vào trong ngôi nhà bằng đá - bởi, bạn thấy không, con nai cái ấy là một người đàn bà trẻ. Ở đấy cô nói với cha mẹ mình: “Con có chuyện lôi thôi rồi, một con người đã nhìn thấy con ngoài đồng, anh ta đã đi theo con, anh ta đang đứng ngoài cửa kia. Con phải làm sao bây giờ?” Cha mẹ cô bảo cô phải lấy anh ta. Cô quay ra gọi anh, mời anh vào; anh không nhìn thấy lối vào; cô rót một thứ nước lên mắt anh, anh nhìn thấy, anh vào nhà cô, một ngôi nhà lớn và đẹp. Anh thấy những khuôn mặt người. Anh cưới cô gái.
Vài ngày sau, cha mẹ cô gái đi uống rượu ở nhà người ta. Khi trở về, họ trở thành nai, họ sủa. Chàng rể nghe thấy; cô vợ-nai của anh cũng sủa. Anh bảo cô ta im đi. Cha mẹ vợ rầy anh; anh bịt tai lại để khỏi nghe tiếng sủa của họ.
Sau đó, người đàn ông đi thăm cha mẹ mình; cô vợ-nai của anh đi theo, biến thành nai và đứng ở ngoài để thử xem những người ở đây phản ứng ra sao. Họ mời cô vào, cùng nhau uống rượu. Người đàn ông và người vợ-nai của mình trở về nhà họ (Hs. 118).
Cũng cần dịch ở đây lời bình của người đã kể cho tôi nghe câu chuyện này:
Người đàn bà ấy và cha mẹ cô ta, đấy là Ndu [vị thần thượng đẳng, cũng như Adei của người Giarai], họ làm cho chúng ta có thể nhìn thấy khuôn mặt của Ndu và thử thách con người. Ndu làm cho những người tiếp đón ngài trở nên giàu có.
Chúng ta đã biết Lang-cu gáy, con gái của thần Mặt trời, cô nàng thử thách con người; chúng ta cũng nhớ cảnh rót “nước” khiến người ta có thể nhìn được qua đá. Tất cả những cái đó đều thuộc truyền thống Sre. Nhưng giữa câu chuyện cô gái-nai vừa nói và chuyện cô Gà lôi mái trên kia, không chỉ có sự song đối giữa hai hệ huyền thoại của người Sre và người Giarai, cách xa nhau hàng nghìn cây số và nói những ngôn ngữ khác nhau.
Trong nền văn hóa chung này của Đông Dương, con người có khuôn mặt/dáng vẻ thú là một sinh linh thượng đẳng, thông thường là nữ. Ở cánh đồng dưa chuột của mình, người đàn ông chỉ thấy một con nai cái, cũng như Drit lúc đầu chỉ thấy một con gà lôi mái; đấy là thị giác của mọi người, theo chuẩn mực xã hội. Tính nước đôi của nhân vật thú phải chăng muốn nói rằng con người có chiều kích kép vừa là tự nhiên vừa là văn hóa, và nhất là muốn nói rằng con người thật không phải là con người “xã hội”, như nó vẫn tỏ ra trong trò chơi xã hội của nó, mà là con
người-ở ngoài kia với tất cả các khả năng của nó, mà chúng ta có thể cảm nhận ra, khi đôi mắt ta được khai mở, ở phía bên kia của tấm gương (hay của tảng đá, của bức tường), trong miền mơ tưởng của giấc mơ và của huyền thoại?
Chương 5
Chân dung một người nữ - Thảo mộc D
rit tưởng tượng ra các cô gái rừng, như vậy hẳn các cô phải tồn tại ở một nơi nào đó; chàng ta bèn đi tìm - lắm khi thậm chí cũng chẳng biết mình đi tìm, cuối cùng
chàng tìm ra họ. Tìm ra ai? Người vợ lý tưởng chăng? Có vẻ không phải vậy; đấy không phải là giọng điệu của huyền thoại, vốn không bao giờ kết luận: “Họ sống cùng nhau hạnh phúc và có rất nhiều con.” Vậy thì, đi tìm ai? Phải chăng là đi tìm chính bản chất con người của mình, cội nguồn của mình và, nhất là một nữ tính mà chàng vẫn mang trong mình? Sau một hành trình dài đầy hiểm nguy, hay những thử thách ngặt nghèo, chàng lại thấy lại mình, ý thức tỉnh lại; nhưng chàng có biết được hơn chàng là ai không? Cuộc phiêu lưu lại tái diễn; mỗi lần như vậy, dường như nhân vật không hề còn nhớ chút gì về những điều đã xảy ra với mình trước đây... có chăng chỉ là trong trí nhớ của người kể chuyện, điều phối thật dễ dàng các yếu tố của nhiều “truyện kể” (truyện kể, hoặc là các mảnh truyện, do những người khác kể), trong cảnh này lại kéo theo một cảnh nọ, cứ như là chỉ một truyện kể duy nhất về Drit và một cô gái-rừng duy nhất. Và đấy mới là điều quan trọng, bởi vì huyền thoại chỉ tồn tại khi nó được kể ra và được một dân tộc sống động ghi nhớ. Một văn bản đơn lẻ chẳng nói được gì nhiều về dân tộc này, những lần kể lại và lặp lại làm nổi bật lên những gì bất biến. Cho nên tôi cũng muốn làm như người kể chuyện, tôi lặp lại... một cách khác.
Trong giấc mơ Drit nghe: “Đừng cấy lúa và trồng vườn nữa! Nếu trông thấy một con chó đen, thì hãy mua mà đi săn.” Cái năm ấy, Drit lại được mùa lúa còn tay lãnh chúa lại phải đi
đào củ. Drit đổi tất cả lúa của chàng lấy một con chó con đen của con chó cái nhà lãnh chúa.
Drit cùng đi săn với con chó con của chàng; con chó đánh hơi bắt được nhiều con mồi đến nỗi Mẹ Rú chẳng biết làm gì cho hết. Sau bốn ngày nghỉ, Drit lại chuẩn bị ra đi; chàng giết gà và cột rượu cúng thần và cúng Trời. Vào rừng, con chó chẳng đánh hơi được con mồi nào cả, nhưng nó cứ nhằm chúi vào một bụi tre [jjörao, Lignania sp., một loại tre mảnh rất được chuộng] và chỉ ngừng sủa khi Drit quyết định chặt lấy một bó mang về nhà để đan lát. Drit đã quên bẵng bó tre ở nhà, chàng đi với Mẹ Rú. Trong khi chàng đi vắng, hai chị em Nứa từ trong bọng tre đi ra
vẻ rạng ngời làm bừng sáng cả rừng
chói chang đến làm héo tàn cả cây cỏ
rực rỡ như chưa bao giờ ai được thấy
ở vùng người Bih và người Bönong bên dòng sông Apa hãy chiêm ngưỡng vầng trán xõa tóc dài
hàng răng ngọc dịu dàng
đôi môi như nhựa nóng
đôi bàn tay thanh tú
khuôn mặt ngọc ngà
ngời ngời như ngôi sao hôm
dáng đi uyển chuyển như cánh chim bay lượn
thướt tha qua lại làm ngây ngất cả khu rừng
“Nhanh lên chị ơi, nhanh lên em ơi, chị dệt một chiếc váy cho mẹ già, em dệt một chiếc khố cho chàng Drit!” Hai chị em bắt tay làm việc, họ dệt thật khéo; hoa văn tinh tế nhất hiện lên trên mặt vải. Rồi họ nấu cơm, làm rau, kho cá. Khi mọi việc đã xong, họ lấy bàn tay có đeo nhẫn in dấu lên tro bếp. Rồi họ chui vào thân tre, biến mất.
Drit và Mẹ Rú trở về nhà. Sau một hồi đắn đo - “Ai lại muốn gây chuyện với ta thế này nhỉ?”- Họ đói quá nên ngấu nghiến ăn chỗ cơm canh đã dọn sẵn; họ mắc nghẹn, phải uống nước cho trôi; chẳng mấy chốc đã ăn sạch.
Ngày hôm sau họ lại ra đi, sau khi đã tắt lửa, dọn sạch bếp và lật ngược cầu thang để không ai có thể leo lên nhà được. Nhưng khi trở về, lại thấy mọi thứ đúng như ngày hôm qua. Mẹ Rú bảo Drit ở nhà, trốn vào một chỗ kín để xem thử đầu đuôi thế nào. Drit thấy hai cô gái
vẻ rạng ngời làm bừng sáng cả rừng
...........................................................
Chàng sững sờ đến không động đậy gì được nữa. Ngày hôm sau nữa, Drit lại thấy hai cô, chàng nhảy ra; cô em biến vào thân tre. Drit vồ được cô chị. “Ơi anh Drit, anh làm gì thế? Anh có muốn em làm người nô lệ cho anh không? - Ta bắt lấy em để được sống cùng em!” Mẹ Rú về, Mẹ hôn rối rít cô nàng Nứa xinh đẹp.
Lãnh chúa nghe tin có một người đẹp tuyệt vời sống với thằng Drit khốn khổ; y phái bọn tay sai đến. Bọn này rất thô bạo: “Coi kìa, thằng Drit với mụ già, chúng nó quấn lấy nhau, đâm vào nhau!” Drit vung gươm, đuổi chúng đi. Bọn tay sai khác lại đến, lễ phép hơn. Drit phải đi theo chúng. Chàng đến nhà tên lãnh chúa, y muốn chiếm lấy vợ Drit [...] Tên lãnh chúa cho Drit uống rượu say, cột chàng vào một chiếc diều... [... Drit tìm được những vũ khí kỳ diệu (như ta đã thấy trong huyền
ợ g ỳ ệ y g y thoại trước (Hj. 48)); chàng trở về nhà. Tên lãnh chúa lại gọi chàng đến, buộc chàng phải trải qua những thử thách trong rừng sâu. Drit vượt qua tất cả nhờ có cái gấu váy mà nàng đưa cho chàng. Cuối cùng, tên lãnh chúa bắt Drit phải đi tìm cho y hai người đẹp ở nơi tận cùng thế giới, y có được hai người đó thì Drit có thể cứ sống với nàng Nứa. Drit đi đến nơi ấy, đánh nhau với cha của hai cô gái nọ. Ông này chịu thua, cùng đi với Drit trở về, và giết chết tên lãnh chúa] (Hj. 117).
Tôi vừa tóm tắt một bản văn mà nếu kể nguyên hết ra sẽ dài hơn ba chương sách này. Dịch nguyên tất cả hẳn là sẽ thú vị hơn, nhưng ý định của tôi ở đây là muốn nghiên cứu, và đặc biệt hơn nữa, muốn vẽ một chân dung người nữ - thảo mộc - dù chân dung đã được phác ra một cách thật khó sánh bằng trong văn bản.
Tính song đối giữa huyền thoại này và huyền thoại đã kể trước đây (Hj. 48) thật rõ ràng. Con chó ở truyện này đóng vai trò của sợi chỉ gai trong truyện trước (cả hai đều được lấy từ nhà tên lãnh chúa), và đều được dùng để đi săn, săn cô gái-rừng, là cô Gà lôi mái hay cô Nứa. Hai chị em cô Nứa chỉ là một - là một bộ đôi - vọng lại kinh điển trong hệ huyền thoại này, vả chăng sau đó người ta không nói đến cô em đã biến mất nữa; cũng vậy, ta có thể nói tất cả các cô vợ của Drit chỉ là một (và có thể, cùng với chàng chỉ là một). Các thứ vũ khí kỳ diệu mà chúng ta đã thấy tung hoành trong truyện trước (Hj. 48) dường như đã bị quên (một trong những móc nối vô thức của các đề tài huyền thoại có thể xê dịch), chúng được thay thế bằng gấu váy của nàng Nứa, cứu Drit thoát mọi hiểm nguy - bao giờ đấy cũng là những hiển lộ của cô tiên. Trong một dị bản khác (Hj. 99) do con trai người đã kể huyền thoại trước (Hj. 117) kể cho tôi nghe, các đồ vật kỳ diệu có nhiệm vụ giúp Drit trong cuộc chinh phục của chàng và giúp chàng vượt qua các thử thách được thay thế bằng các con vật bị sa bẫy (từ đó chàng không còn đi săn với một con chó nữa); những cư dân của núi rừng này, mà Drit lần lượt thả từng
con, Cầy, Nhím, Beo, Hổ, Voi ma-mút, tỏ ra là những đồng minh sau khi một nàng tiên từ trong ngà Voi ma-mút đi ra như nàng Nứa đi ra từ thân tre, đã biến chúng thành gà trống, chó, trâu và voi để chiến đấu chống lại tên lãnh chúa. Các hệ biến hóa xuất hiện một cách hiển nhiên; bao giờ cũng là những quyền năng (những hiệu năng) của cô gái-rừng thống trị trong rừng đầy dã thú.
Cuối cùng tôi xin chỉ ra đây một chi tiết dân tộc học thích đáng và sắc sảo, sẽ giải thích một cảnh trong huyền thoại này (Hj. 117): trong một bữa ăn Giarai, khi người ta đòi uống nước, thì có nghĩa là bữa ăn đã kết thúc, người khách đã no; lúc đó người nữ chủ nhân sẽ mang ra một bầu nước và mời khách ngay (mặc xác cho những người phương Tây cứ nghĩ phải vừa ăn vừa uống, người Đông Dương không bao giờ làm như vậy); Drit và Mẹ Rú khốn khổ đã ăn tham quá! - Họ đói quá mà!
Tuy nhiên, người nữ-thảo mộc không giống hệt như cô gái rừng hay người nữ-thú. Người nữ-thú khoác một cái lốt bề ngoài nào đó và biến đổi tùy thích để thử thách con người. Người nữ thảo mộc có một mối quan hệ khác với “bản nguyên”. Tất cả họ đều đi lại dễ dàng tự do giữa rừng và làng, và luôn luôn cứu nguy cho con người, trong khi cô gái-làng thường trở về nhà mình. Nhưng người nữ-thảo mộc thì khác hẳn; nàng là - và cứ nguyên là - một nữ thần, điều đó khiến chúng ta đặt dấu hỏi phải chăng có một mối quan hệ ưu tiên giữa người đàn bà và thảo mộc trong nền văn hóa này và ở ngoài nữa.
Nàng Nứa ở trong thân tre cũng như các “Thần” yang dlei ở trong rừng; đấy còn hơn là môi trường của nàng, đấy là một phương diện trong “bản nguyên” của nàng. Trong một câu chuyện khác, chàng săn chim tên là Diung bắt được một con chim đẹp, và chàng đem lòng yêu nó; chàng làm cho nó một chiếc lồng bằng tre, nhưng con chim sẩy mất. Rồi Diung đi đánh nhau với những người khổng lồ, bắt được những người vợ của họ, đem nhốt trong những ống tre (Hj. 20). Chúng ta đã thấy
nàng Thảo (Hj. 110) lấy sinh khí của những người dân làng đem nhốt trong một ống tre. Trong hai trường hợp này, cây tre (là ống rỗng hay được đan thành lồng) có cùng một chức năng, gắn với chim hay với sinh khí. Tôi đặt sự so sánh ấy để ghi nhận chỗ khác biệt: Nàng Nứa không bị nhốt trong thân tre, không ai đặt nàng vào trong ấy cả; nàng là nữ-tre. Do tính chất lưỡng ước của mình, nàng nối liền cô gái-rừng với bà già-rừng, thâu tóm lại trong mình cả cái thảo mộc lẫn chất người. Nhân vật nữ trong truyện kể Sre sau đây cũng vậy:
Đây là câu chuyện về nàng Chuối-Tiêu [prit pha, Musa paradisiaca var, sapientum, rất được ưa chuộng]. Nàng gặt lúa và Bloh giúp đỡ nàng. Sau khi đã ăn và uống, họ ngủ cùng nhau. Lúc trở về nhà, Bloh vốn rất nghèo, thấy thóc lúa đầy kho, lại có cả trâu nữa. Ông bác của Bloh hay được; ông bắt Bloh phải rời bỏ người con gái không quen biết nọ, hẳn cô ta sẽ gây cho họ những điều chẳng lành. Bloh xô nàng Chuối-Tiêu xuống nước cho nàng chết đuối. Nàng Chuối- Tiêu biến mất; nàng trở vào trong cây chuối của nàng, nơi nàng vẫn sống trước khi gặp người con trai. Bloh trở về nhà: chẳng còn gì nữa hết, lúa không, trâu cũng không!
Cha của Bloh đi đào củ trong rừng cùng với đứa con trai thứ là Blan. Gặp mưa bất ngờ, họ trú dưới một cây chuối. Họ nghe một giọng nói đàn bà: “Cẩn thận với đàn trâu của ta đấy! - Dẫu người là ai, xin cho chúng tôi trú, chúng tôi đói lắm!” Nàng Chuối-Tiêu nhỏ vào mắt họ một thứ nước; họ nhìn thấy lối vào, họ đi vào trong ngôi nhà-thân cây; họ nhận ra ở đấy tất cả các của cải đã từng ở nhà mình, đã bị mất do lỗi của người con trai lớn. Blan xin cô gái cưới chàng. Người cha trở về nhà một mình.
Người cha trở vào rừng, Bloh biến thành chó đi theo. Nàng Chuối-Tiêu đón tiếp ông, cho ông ăn, cho cả con chó ăn. “Đừng có cho nó ăn, nó là Bloh đấy!” Nàng lấy cần rượu đánh vào mắt con chó, con chó lăn ra chết. Nàng cắt nó ra thành từng miếng,
gói lại bằng bảy lần lá chuối; nàng đem đun sôi lên. Bloh lại hiện ra từ đó, trở thành một chàng trai đẹp hơn trước. “Nàng đã lấy người em, bây giờ hãy lấy cả người anh!”. Họ sống cùng nhau. Họ chẳng cần làm việc gì cả mà vẫn có đủ mọi thứ (Hs. 19).
Đối với người Sre, Chuối-Tiêu là yang bri, Thần rừng. Nàng cũng là người nữ-thảo mộc; cũng như nàng Nứa, nàng mang tên cây thảo mộc mà nàng đảm nhiệm. Chàng Bloh nghèo khổ là bà con với chàng Drit Giarai. Người bác đã gây ra bất hạnh cho Bloh, có thể đặt song đôi với lãnh chúa mà ta vẫn thường gặp, nhất là khi ta chú ý đến điều này: nếu người bác (bên ngoại) của Bloh không cho chàng lấy người con gái lạ, ấy là vì ông ta định cưới Bloh cho con gái mình (đây là ẩn ý không thể nhầm trong một xã hội có những ưu tiên trong việc cưới xin); mặt khác, trong những bản văn Giarai mà tôi không dẫn ra đây, chính tên lãnh chúa đề nghị gả con gái của y cho Drit. Nhưng ta cần chú ý hơn cả đến nữ nhân vật.
Cảnh anh chàng khốn khổ bị đem nấu hoàn toàn giống với một thao tác kinh điển của Mẹ Rú, đặc biệt trong việc phục sinh những người anh hùng bị chết - cái chức năng chúng ta cũng đã thấy một cô gái-rừng thực thi (Hj. 95); và như vậy mối liên kết các tính cách nữ này trong hệ huyền thoại càng được nhấn mạnh. Một huyền thoại khác kết thúc bằng những cảnh “thiên đường” này: “Chiếc thuổng cứ tự nó đào đất... gùi và rổ thúng cứ mọc ra trên cành cây như những trái chín...”. Giàu sang mà chẳng phải lao động có thể là một mong ước phổ cập; nhưng trong huyền thoại Sre và bao nhiêu huyền thoại Giarai khác, giàu sang đến từ đâu? Từ một người đàn bà, không chỉ là người ngự trị trên thế giới rừng, mà còn là cội nguồn của mọi tài sản trồng cấy và văn hóa - trong đó quan trọng nhất, biểu hiện hoàn hảo nhất của sự giàu có - là thóc lúa.
Một cái cây chết có thể là một người đàn bà sống. Đấy là điều tôi đã được nghe từ miệng những cậu con trai kể chuyện nàng Hbia Tögok (tögok, cây chết nhưng vẫn còn đứng nguyên; töpong cũng còn có nghĩa là gốc cây, hay còn có hnua, cây đã đốn ngã, để nằm tại chỗ). Bản văn ngắn gọn, như một bản tóm tắt (nhưng liệu bạn và tôi, chúng ta sẽ làm gì khi phải kể chuyện Tấm Cám hay chuyện Con yêu râu xanh?); tuy nhiên, các cậu bé này không tự mình nghĩ ra chuyện và ta phải xem câu chuyện này là bằng chứng, quả là về một trường hợp cực đoan, của cái truyền thống người đàn bà-cây, ảo ảnh thường gặp, nếu không nói là một ý tưởng cố định.
Hôm ấy ba anh em nhà nọ cùng đi tắm. Người anh cả chỉ một khúc gỗ chết giữa dòng sông và bảo hãy nhằm vào đó mà ném đá: “Ai ném trúng thì sẽ lấy khúc gỗ đó làm vợ!”. Chỉ có cậu út ném trúng; hai người anh buộc em phải làm đúng như đã giao
ước. Nàng Gốc (Hbia Tögok) đi theo cậu con trai, chàng rất thẹn khi về đến làng. “Ha ha, thiên hạ đều lấy người làm vợ, còn mày thì lại cưới một cái cây, một cái Gốc [tôi giữ đúng chữ viết hoa như trong bản ghi lại]!”
Vậy là cậu con trai và Gốc trở thành vợ chồng. Một hôm họ đi tắm; nàng ở trên dòng, chàng ở dưới dòng. Khi lặn xuống, nàng chui ra khỏi cái lốt mà nàng cứ để trôi nổi theo dòng nước. “Em đây này!”, nàng gọi to. “Thôi đừng có ghẹo tôi! Vợ tôi là cái gốc kia!” Chàng bơi theo để chụp lấy cái gốc, bị nó đâm xuyên qua người. Nàng dìu chàng đã chết vào bờ; nàng làm cho chàng sống lại. Nàng muốn trở vào trong cái gốc; chàng không cho; nàng ném cái gốc xuống sông.
Họ trở về làng. Nàng đẹp, rỡ ràng như ánh trăng. Mọi người đều đổ ra nhìn họ đi qua. “Thế cậu đã bỏ cái gốc của cậu rồi à? - Không, tôi có bỏ đâu!” Họ kể lại mọi chuyện (Hj. 35).
Tôi dịch bản văn này để ta có đôi ý niệm về sự mở rộng của đề tài và để thấy những hình thức tưởng tượng của người Giarai có
thể phong phú đến đâu. Trong một phương hướng khác hơn đôi chút, tôi muốn nói đến, như là một hằng số trong hệ huyền thoại này, sự tương cận giữa người đàn bà và trái cây (hay cây có trái), đặc biệt là trái cam.
[...] Chàng Thân mất vợ, chàng khóc, nước mắt chan hòa. Chàng chôn cất vợ, trồng nhiều cây cam trên mộ vợ. Cây ra nhiều quả, khắp nơi người ta đến mua. Mẹ Rú cũng đến mua cam cho cháu là Drit đang bị sốt và thèm cam. Bà mang theo con dao để đổi lấy cam. Bà tìm mãi trên các cành cây, người ta đã hái sạch; chỉ còn sót lại một quả chín to lấp sau đám lá. Mẹ Rú hái lấy, bỏ vào chiếc gùi nhỏ của mình, lấy lá phủ lên. Thân hỏi bà có tìm được cam không. “Chẳng thấy gì cả!” Về nhà, bà đặt trái cam ở phía trái của ngôi nhà [tức chỗ được coi là cao quý, chứ không phải ở phía tây là nơi thường xếp các loại quả và rau]. Bà nấu cơm và cùng ăn với cháu. “Bà ơi, cho con ăn với! - Drit, con muốn ăn thì cứ ăn đi, sao lại còn xin? - Nào con có nói gì đâu!” Bà cháu cùng ăn nhóp nhép. “Cho tôi ăn với, ơ Drit! - Bà muốn ăn thì cứ ăn đi, sao lại còn xin? - Nào Drit, bà có nói gì đâu. Ôi, nếu có một con người ở đây, thì hãy hiện ra! Nếu là ma, thì hãy ở yên!”. Nàng Thảo từ trong trái cam bước ra. Mẹ Rú và Drit rất hạnh phúc giữ nàng sống cùng họ... [Drit đem trồng các hạt cam - các cây cam mọc lên - một con voi ma-mút đến ăn mất - Drit bắt con voi ma-mút - voi ma-mút phá nát ruộng nương của lãnh chúa - lãnh chúa hứa gả con gái cho người nào trị được voi ma-mút - chỉ có Drit thành công] (Hj. 8).
Một cô gái đi hái rau để nấu, ở một nơi xa làng. Cô thấy những quả cam chín tuyệt đẹp, từ cây rụng xuống; cô nhặt lấy và ăn. Về nhà, cô thấy thèm ăn các thứ như một người có thai. “Con đã ngủ với ai? - Con thề là con không hề biết một người đàn ông nào hết!” Vậy mà cô có thai thật. Mẹ cô mắng, cha cô đánh. Cô sinh ra một cậu con trai; người ta gọi tên nó là Cam. Nó khóc suốt ba lần bảy ngày; rồi nó nín bặt, đưa ngón tay chỉ ra hướng sông. Bị cha mẹ đuổi, cô gái bế con ra đi cùng với một con chó,
theo hướng đứa bé đã chỉ. Cô đi đến chỗ cô đã nhặt cam trước đây. Ở đấy có một con sông, phải qua sông, bên kia sông có một lối mòn. Lối mòn dẫn đến chòi của Srai-anh-chàng-bị-bệnh phong. Đứa bé không khóc nữa. Người đàn ông ôm siết lấy đứa bé, vuốt ve nó bằng hai bàn tay cụt của anh. Cô gái kể lại sự việc, và anh ta nói: “Cô đã ăn những quả cam của ta đấy!”
Đứa bé lớn lên... [Srai nhận thấy có ai đã ăn cắp trứng gà của anh, món của cải duy nhất anh có được, vì với hai bàn tay cụt hết ngón anh không thể trồng trọt trên đất đai của mình dù người thiếu phụ đã giúp anh. Cậu bé chộp được kẻ ăn trộm; đó là tên chúa của bọn khỉ, nó chuộc tội bằng một lá bùa (hạt dây leo lany, Entada scandens, Légumineuses), nhờ có lá bùa đó nhà trở nên giàu có và Srai lành bệnh. Cậu bé dùng một cây gậy cắm xuống sông, chặn đứng dòng sông lại; tất cả nước sông chảy hết vào cái lỗ cậu ta đã chọc; bọn người ở phía dưới chỉ còn những cái ao hôi thối. Người mẹ của cậu Cam thương hại cha mẹ mình, cô gửi con chó đeo một bầu nước mát về cho họ. Bà mẹ già uống nước ấy rồi đi theo con chó khi nó trở về chỗ cô; bà đến chỗ con gái, mãi mới nhận ra được cô: bây giờ cô đã lớn, đã búi tóc, ăn mặc đường hoàng. Họ hòa giải với nhau] (Hs. 64).
Từ một quả cam bước ra một người con gái Giarai, một quả cam làm cho một cô gái Sre có thai - ta nhận ra ở đây cái chủ đề người con gái chửa “hoang”, nó cho ta giả thiết về một mối quan hệ, nếu không phải là loạn luân, thì ít ra cũng là “có tội” đối với xã hội đức độ (cũng như bệnh phong, không phải là một căn bệnh, mà là kết quả một sự trừng phạt của các yang). Quả cam bào tử sinh sản vượt ra ngoài bán đảo Đông Dương; nó xuất hiện ở vùng người Ami tại Đài Loan (cũng là ở trong cái thế giới Đông Nam Á này): Hai anh em tìm thấy nhiều trái cam; người anh lớn giành lấy quả đẹp nhất trong đó lại có một bà già, anh phải cưới bà ta; người em chỉ được một quả cam xanh, bóc ra chàng tìm thấy một cô gái trẻ đẹp, chàng cưới cô.
Việc ăn quả mà có thai và quan hệ loạn luân gắn liền với nhau rõ ràng trong truyện Sre sau đây:
Cô con gái của Chöduön chết; cha cô chôn cô; trên mộ mọc lên một cây xoài thật đẹp.
Một đôi vợ chồng già dừng chân dưới một gốc xoài [chính cái cây ấy, đương nhiên] - bà cụ bảo chồng trèo lên cây hái xoài cho mình, bà vừa cầm quả xoài thì nó tuột luôn vào mồm - Vừa về đến nhà, bà cụ sinh ra đứa con gái; bà gọi nó là Quả-Xoài - Chöduön đi qua đó, xin ở nhờ nhà hai cụ; ông không nhận ra Quả-Xoài chính là con gái mình; ông ăn cơm với cô, nhai trầu cùng cô, rồi ngủ với cô; ông ta ở hẳn luôn đấy - Nhưng ở làng, vợ Chöduön vì chồng vắng nhà lâu, bà đi tìm - Vợ Chöduön đến nhà hai cụ già, bà gặp Quả-Xoài, thấy cô thật đẹp, đem cô về nhà mình, Chöduön rất lấy làm thích - Nhận ra Quả-Xoài là ai, bà điên lên, giết chết cô và ném xác cô xuống biển - Bà cụ già đi qua đó, thấy tóc con gái mình bập bềnh trên mặt nước; bà cầu xin nước đưa xác cô vào bờ; bà làm cho Quả-Xoài sống lại...
Chán ngán vì những rắc rối do cô gây ra và những cuộc đánh nhau tiếp sau đó, Quả-Xoài, mà bao nhiêu người theo đuổi vì sắc đẹp của cô, quyết định trở lên trời; cô bay thẳng về trên ấy - Chöduön làm một cái thang để lên gặp cô - Lên đến trên ấy, ông không nhìn thấy “vợ” mình; cô rót một thứ nước vào mắt ông, thế là ông nhìn thấy đường; ông đến được ngôi nhà của người bác cô Quả-Xoài - ở đấy ông tranh chấp với hai đứa con trai của người bác; ông giành được phần thắng - Người bác mở một ché rượu hòa giải cho Chöduön và Quả-Xoài (Hs. 16).
Qua nhiều tình huống khác nhau, các tính cách chính lại gặp nhau; Bà cụ già toàn năng (bà chỉ huy ở biển, bà làm cho người ta sống lại), người con gái đến từ ngoài kia, thậm chí từ thế giới bên kia, để trở về trên Trời (Hs. 13) nơi gia đình (bên mẹ) cô đang sống - một gia đình kỳ lạ: một người mẹ tình địch, một
người cha-là chồng, những người anh em họ coi là của ông bác trên trời. Cô gái-xoài là một cô gái nhà trời; cô có thể không biết gì các chuẩn mực thông thường của con người; cái điều mà ta gọi là loạn luân không hề khiến cô bối rối.
Theo một huyền thoại của người Santal ở Ấn Độ, cô em gái của sáu chàng trai trở thành măng tre; người ta lấy một khúc tre đó làm ống sáo; một người con gái từ ống sáo đi ra. Tôi vận đến bản văn này chỉ là để minh họa - một lần nữa và vẫn là ở Nam Á - chủ đề về người nữ-thảo mộc và nhấn mạnh tiến trình ở đây: chu trình Á Đông đàn bà/ thảo mộc/ đàn bà trái ngược với hệ huyền thoại phương Tây, từ người Hy Lạp - La Mã cho đến người Balto - Slaves, ở đó người đàn bà kết thúc trong một cây thảo mộc, khi họ không hóa thân thành thú, nhưng bao giờ cũng là không thể đảo ngược lại được.
Dù ý định của tôi không phải là làm chuyện so sánh, tôi cũng xin nhân thể đây nói về vai trò của cây trong hệ huyền thoại châu Phi Sahara (trường hợp cưới một cái cây trở thành đàn bà) và nhất là về cây baobab kỳ lạ mà tất cả các bộ phận đều ích dụng - ngay cả những khoảng trống của nó. Cây baobab, hình ảnh của phong nhiêu, mang tính mẹ, chữa trị và khai tâm; trong một chừng mực nào đó, đấy là cây tri thức. Ta cũng sẽ tìm thấy những đức tính ấy trong Bà già-rừng gắn với cây đa, là loài cây tương đồng với cây baobab châu Phi, tương đồng văn hóa chứ không phải về mặt thực vật.
Người đàn bà-thảo mộc, phải chăng là một thừa từ?
Ở Đông Nam Á, cây lúa thuộc giống cái. Đó là Mẹ Lúa, người nuôi sống toàn nhân loại. Người đàn bà-thảo mộc đặc hiệu chính là cây lúa. Oriza sativa là loại cây duy nhất khi làm đòng thì các dân tộc Đông Dương gọi là nó “có chửa” (tiếng Sre là bun, tiếng Giarai là mtian, tiếng Việt là chửa), cách nói chỉ dùng cho
động vật có vú, trong đó có người đàn bà; nó là loại cây duy nhất có “hồn” [soan hay böngat], cái hồn mà ta phải cẩn thận không được xúc phạm, phải được gìn giữ một cách kính cẩn trên ruộng nương và trong kho, để cho lương thực được dồi dào và các vụ sau được mùa - từ đó mà có bao nhiêu điều kiêng cữ để tránh làm phật lòng cây lúa và bao nhiêu lời cầu khấn để giữ lúa lại với người. Không được nấu gạo chung với những thứ khác (trong cùng một nồi, ngay cả chung với muối cũng không được), không được trộn chung (trong một cái bát) với một thứ thức ăn khác! Tự nó thôi đã đủ rồi. Lúa là đàn bà, lúa là sự sống. Chỉ đàn bà mới biết cách chăm lo cho nó, từ trên ruộng rẫy đến trong bếp núc nấu nướng. Bên cạnh người đàn bà-bản nguyên, người đàn ông-lời nói chỉ có được mỗi việc khẩn cầu:
Hỡi lúa của người ở ven biển
lúa của người trên sườn núi dốc đứng
lúa trên cao, lúa của Mặt Trời
hạt nhiều hằng hà sa số
chán kẻ khác, xin hãy đến với ta
cho bữa ăn chớ bao giờ hụt hẫng
cho ghè rượu chẳng bao giờ vơi...
Lời cầu khấn này là của người Sre, và chẳng phải ngẫu nhiên đâu: sre có nghĩa là ruộng, và người Sre là những người làm ruộng chân chính, trong khi người Giarai, giống như người anh hùng Drit của họ, thiên về săn bắn hơn... song may thay họ cũng có những người đàn bà để mà làm ruộng, nghĩa là để làm mọi việc, và cả rượu cần nữa mà rồi ta sẽ còn phải nói đến.
Các vị thần yang không có tên riêng, chỉ có đúng mỗi một tính từ, như các vị yang dlei (“thần rừng” hay “hoang thần”) mang nữ
tính nhiều hơn, nhất là khi do một người đàn ông nói. Ngoại lệ là trường hợp đối với thần của cây lúa, yang Hri hay Sri, tùy theo ngôn ngữ (Seri trong tiếng Mã Lai - Indonesia), và lại mang giống cái - được gọi là Cérès trong văn hóa Ấn - Âu; đấy là loài cốc thiêng liêng. Những loài cốc được trồng này có khiến chúng ta tách xa rừng, xa “tự nhiên” hoang dã? Không đâu, nếu ta biết rằng cây lúa là một loại thảo mộc bản địa của Đông Nam Á, ở đây vẫn còn một giống lúa tự nhiên, Oriza spontanea, và rất có thể chính người đàn bà đã thuần hóa nó - loài thảo mộc của sự sống, đấy thực là công việc của nàng.
Nhiều người đàn bà, khi thấy mình có thai, đã nói: “Tôi cảm thấy mình là cây.” Mong cho đứa trẻ tìm thấy cội rễ của mình nơi đó!
Persephone mơ thấy những chiếc lá xanh mọc ra từ hai bàn chân và từ vai nàng, nàng thì đang đứng trần truồng giữa một đám những cây phong bạc, cũng giống như nàng là những cô gái trần truồng với những chiếc lá xanh mọc ra trên đầu...
J. Cowper Powys, Một thiên anh hùng ca Glastonbury1. 1 Trong nguyên bản, câu trích dẫn này được viết bằng tiếng Anh - ND.