🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Phiêu Bước Cùng Einstein Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn https://thuviensach.vn Thông tin sách Tên sách: Phiêu bước cùng Einstein Nguyên tác: Moonwalking with Einstein Tác giả: Joshua Foer Người dịch: Phủ Quỳ Nhà phát hành: NXB Trẻ Nhà xuất bản: NXB Trẻ Khối lượng: 400g Kích thước: 13x20 cm Ngày phát hành: 31/03/2013 Số trang: 360 Giá bìa: 95.000đ Thể loại: Khoa học Trí nhớ - Thuật trí nhớ Thông tin ebook Nguồn: http://tve-4u.org Thực hiện ebook: thanhbt Ngày hoàn thành: 07/08/2017 https://thuviensach.vn Dự án ebook #300 thuộc Tủ sách BOOKBT Giới thiệu Bước vào bất kỳ nhà sách nào hiện nay, bạn đều có thể thấy hàng trăm cuốn sách dạng “làm thế nào” để hoàn thiện kỹ năng nào đó. Tại sao trong hàng trăm ngàn người mua sách, không mấy ai thực sự đạt được mục tiêu ban đầu? Tại sao giữa chúng ta tồn tại những “kỳ nhân” làm được những chuyện phi thường như thuộc lòng hàng chục ngàn con số pi? Một trong những nhân vật phi thường ấy khẳng định “bất kỳ người bình thường nào rèn luyện đúng cách cũng làm được như vậy”. Anh nhà báo Josh Foer với mức IQ bình thường, từ những thắc mắc tương tự, đã dành hẳn một năm rèn luyện để tham gia cuộc thi trí nhớ toàn nước Mỹ, và đoạt luôn giải nhất. Cuốn sách ghi lại trải nghiệm đó của anh, các bí quyết rèn luyện trí nhớ và các thông tin khoa học cũng như các cuộc tiếp xúc với cá nhân có trí nhớ phi thường lẫn bất thường. https://thuviensach.vn Chẳng còn ai khác sống sót. Thảm họa xảy ra tại một phòng tiệc vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, gia quyến đến hiện trường đào bới đống đổ nát tìm dấu vết những người thân yêu - dù là chiếc nhẫn, đôi dép, hay bất cứ thứ gì giúp họ nhận dạng đúng người thân mà đưa về chôn cất. Chỉ vài phút trước đấy, nhà thơ Hy Lạp Simonides of Ceos còn đứng đọc bài thơ ca ngợi Scopas, một nhà quý tộc xứ Thessaly. Khi Simonides vừa an tọa, một sứ giả vỗ vai ông. Hai thanh niên đang ngồi trên lưng ngựa ngoài kia nóng lòng báo cho ông điều gì đó. Ông lại đứng dậy bước ra cửa. Ngay lúc ông bước qua ngưỡng cửa, mái phòng tiệc đổ sập đánh ầm xuống thành một tấn ghê rợn những đá vỡ và bụi đất. Lúc này ông đứng trước quang cảnh đổ nát với những cái xác bị chôn vùi. Bầu không khí trước đó vẫn đầy tiếng cười đùa ồn ã, giờ bụi mờ và tĩnh lặng. Các nhóm cứu hộ điên cuồng đào tìm nơi tòa nhà sụp đổ. Những cái xác lôi ra khỏi đống đổ nát đã biến dạng đến mức chẳng thể nhận ra. Không người nào dám chắc những ai đã ở trong tòa nhà. Thảm kịch này chồng chất lên thảm kịch khác. Rồi một chuyện phi thường xảy ra đã vĩnh viễn thay đổi cách người ta suy nghĩ về trí nhớ. Simonides nén chặt những cảm xúc trước cảnh hỗn loạn chung quanh và đảo ngược thời gian trong đầu ông. Những đống đá vụn hóa trở lại thành cột đá, và những mẩu họa tiết vương vãi kết liền lại với nhau phía trên đầu. Những mảnh gốm tung tóe khắp nơi tái tạo thành những chiếc bát. Những mảnh gỗ vụn trên đống tan hoang lại ráp thành bàn. Simonides thoáng nhìn thấy hình ảnh từng thực khách dự tiệc ngồi trên ghế, họ không hề hay biết mối tai ương sắp ập tới. Ông nhìn thấy Scopas đang cười đùa ở đầu bàn, một bạn thơ ngồi đối diện ông đang dùng mẩu bánh mì vét nốt phần thức ăn còn lại, một nhà quý tộc đang mỉm cười khoan khoái. Ông quay về phía cửa sổ và trông thấy những sứ giả đang tiến lại gần, như thể đang mang theo tin tức quan trọng. Simonides mở mắt ra. Ông nắm tay từng người thân đang trong cơn kích động, thận trọng bước về đống đổ nát, ông hướng dẫn họ, từng người một, đến những chỗ trên đống gạch đá vụn nơi người thân họ đã ngồi. Theo truyền thuyết, từ khoảnh khắc đó thuật ghi nhớ ra đời. https://thuviensach.vn Chương một Thật khó tìm được người thông minh nhất T rong đầu tôi hiện lên hình ảnh Dom DeLuise, một nhân vật béo tròn nổi tiếng (năm nhép) với những hành động bất nhã sau: Ông ta rỏ một giọt nước bọt nhầy nhụa (chín nhép) lên bờm tóc trắng dày của Albert Einstein (ba rô) và tung một cú đá kinh hồn (năm pích) vào hạ bộ Giáo Hoàng Benedict XVI (sáu rô). Michael Jackson (K cơ) đã có ứng xử kỳ quặc thậm chí nếu so với tiêu chuẩn hành xử ngày thường của chính ông ta. Ông ta đã són (hai nhép) lên miếng bánh kẹp cá hồi (K nhép) và ợ hơi (đầm nhép) vào một quả bóng (sáu pích). Rhea Perlman, một cô nhân viên quầy bar bé tí (đầm pích) ở quán Cbeers, bị bắt gặp gian díu với ngôi sao bóng rổ người Sudan cao hai mét ba tên Manute Bol (bảy nhép) trong tư thế “kẻ ngược người xuôi” rất lộ liễu (và trường hợp này, xét về mặt hình thể là bất khả). Hoạt cảnh rẻ tiền này, mà tôi chẳng lấy gì làm tự hào tả lại trên trang sách, hẳn đủ để giải thích cho tình huống bất ngờ mà tôi đang mắc vào lúc đó. Ngồi bên trái tôi là Ram Kolli, một cố vấn kinh doanh hai lăm tuổi lún phún râu người Richmond, Virginia, anh cũng đang thi đấu bảo vệ chức vô địch trí nhớ Hoa Kỳ. Bên phải tôi là tiếng rì rầm phát ra từ máy quay của một kênh truyền hình cáp phủ sóng quốc gia (dù ít người xem). Phía sau tôi, nơi tôi không thể nhìn thấy và họ cũng chẳng làm phiền tôi, là gần một trăm khán giả cùng hai bình luận viên truyền hình đang bình luận trực tiếp. Một người là cựu bình luận viên môn đấm bốc tên Kenny Rice, với mái tóc sấy, giọng nói thô ráp kiểu đọc truyện đêm khuya không giấu được chút bối rối trước đám người kỳ dị chúng tôi. Người kia là Scott Hagwood, ông vua trong môn tranh tài trí nhớ của Hoa Kỳ, một kỹ sư ngành hóa bốn mươi ba tuổi, để râu quai nón, bốn lần vô địch quốc gia, người vùng Faytteville, Bắc Carolina. Ngay góc phòng là đối tượng của lòng tôi: chiếc cúp hào nhoáng hai tầng, gồm một bàn tay bạc với móng tay vàng bóng bẩy xòe cây thùng phá sảnh[1], phần bên dưới đậm màu sắc ái quốc hơn với tượng ba con ó trọc đầu. Nó cao hơn đứa cháu gái hai tuổi của tôi (và nhẹ hơn mấy con thú nhồi bông của nó). Khán giả không được bật flash khi chụp ảnh và phải giữ yên lặng tuyệt đối. Nhưng quy định thế không phải vì Ram và tôi có thể nghe tiếng họ. Hai chúng tôi đều mang nút lỗ tai. Tôi còn chụp thêm một đôi bao bịt tai đặc dụng trông như của lao công trên tàu sân bay (vì trong cuộc thi trí nhớ căng thẳng, cách âm tốt đến mấy cũng là chưa đủ). Mắt tôi nhắm lại. Hai cỗ bài nằm sấp đã xáo đặt trên bàn giữa hai tay tôi. Lát nữa thôi, trọng tài chính sẽ bấm đồng hồ đếm giờ và tôi sẽ có năm phút để ghi nhớ trật tự của hai cỗ bài. Lý do khó ngờ dẫn dắt tôi tới cái cảnh ngồi bất động, vã mồ hôi ròng ròng như thế này trong vòng chung kết cuộc thi Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ, xuất hiện một năm trước trên một xa lộ tuyết phủ ở trung tâm Pennsylvania. Để thực hiện cuộc phỏng vấn cho tạp chí Discover; tôi lái xe từ Washington D.C đến thung lũng Lehigh ở Pennsylvania gặp một nhà vật lý lý thuyết tại Đại học Kutztown, người đã phát minh ra một thiết bị tạo môi trường chân không được cho là sẽ làm bung loại ngô rang lớn nhất thế giới. Tuyến đường dẫn tôi đi qua vùng York, Pennsylvania, quê hương của Bảo tàng và Phòng trưng bày môn cử tạ. Nghe có vẻ là địa điểm “phải đến trước khi chết”. Mà tôi hãy còn một tiếng rảnh rỗi. Hóa ra, Phòng trưng bày chả hơn gì mấy bộ sưu tập nghèo nàn những tấm ảnh cũ mèm và các vật lưu niệm được bày trên tầng trệt các văn phòng công ty của nhà sản xuất thanh tạ lớn nhất nước, về mặt bảo tàng học mà nói, đó chỉ là một mớ rác rưởi. Nhưng đó lại là nơi https://thuviensach.vn lần đầu tiên tôi thấy tấm hình đen trắng chụp Joe Greenstein-Atom Cường tráng, một lực sĩ người Mỹ gốc Do Thái cao chừng một mét sáu, người vâm váp, ông đã có biệt danh như vậy vào những năm 1920 khi thực hiện những màn trình diễn đầy phấn khích như cắn gãy đôi đồng 25 cent, và nằm trên giường đinh trong khi cả ban nhạc miền Nam gồm mười bốn người ngồi chơi trên ngực ông. Có lần ông thay cả bốn cái lốp ô tô mà chẳng cần dùng đến dụng cụ nào. Một dòng chữ bên tấm ảnh vinh danh Greenstein là “người khỏe nhất thế giới.” Nhìn vào tấm ảnh đó, tôi nghĩ hẳn là thú vị nếu người khỏe nhất thế giới gặp người thông minh nhất thế giới. Atom Cường tráng và Einstein vòng tay ôm lấy nhau: cuộc gặp gỡ đầy chất sử thi giữa cơ bắp và trí tuệ. Ít nhất đó sẽ là tấm ảnh khá hay để treo trên bàn làm việc của tôi. Tôi băn khoăn liệu đã bao giờ có tấm ảnh kiểu thế được chụp hay chưa. Khi về tới nhà, tôi thử tìm kiếm trên Google. Dễ tìm được ngay người khỏe nhất thế giới: Mariusz Pudzianowski, sống ở Biala Rawska, Ba Lan, có thành tích nâng tạ nặng gần 420kg (gấp 30 lần đứa cháu gái tôi). Ngược lại, tìm người thông minh nhất thế giới không dễ như vậy. Tôi gõ “IQ cao nhất”, “vô địch thông minh”, “thông minh nhất thế giới”. Tôi biết được ở thành phố New York có người có IQ là 228, rồi một kỳ thủ ở Hungary từng chơi năm mươi hai ván cờ tưởng[2] một lúc. Một phụ nữ người Ấn Độ có thể tính nhẩm căn bậc hai mươi ba của một số hai trăm chữ số trong vòng năm mươi giây, và có người có thể xoay xong khối Rubik bốn mặt bất kể ban đầu nó được vặn vẹo kiểu gì. Và tất nhiên có hàng tá ứng cử viên khác đầu óc thuộc hàng Stephen Hawking. Việc đo đếm bộ não hiển nhiên phức tạp hơn nhiều so với cơ bắp. Tuy vậy, trong lúc Google, tôi phát hiện ra một ứng cử viên đáng chú ý, người này nếu không phải thông minh nhất thế giới thì cũng là một dạng thiên tài quái dị. Anh tên Ben Pridmore, có thể nhớ chính xác trật tự của 1.528 chữ số ngẫu nhiên trong vòng một tiếng đồng hồ và - để gây ấn tượng với những người thích “văn vẻ” hơn - anh thuộc được bất cứ bài thơ nào người ta đưa cho. Anh đang thống trị giải vô địch thế giới về trí nhớ. Thế là trong mấy ngày kế tiếp, đầu óc tôi cứ quanh quẩn với trường hợp Ben Pridmore. Trí nhớ của tôi giỏi lắm cũng ở mức trung bình. Tôi thường xuyên quên chỗ để chìa khóa xe hơi (và nhân thể nói luôn, cả chỗ đậu xe nữa); thức ăn đang bỏ lò vi sóng; rằng phải viết “its” không phải “it’s”; sinh nhật bạn gái, ngày kỷ niệm yêu nhau, Lễ Valentine; việc dọn dẹp hầm rượu nhà bố mẹ (ối trời); số điện thoại bạn bè; lý do mở tủ lạnh; sạc điện thoại; tên Chánh văn phòng của Tổng thống Bush; thứ tự các trạm dừng chân ở New Jersey Turnpike; năm gần nhất đội Redskins giành Cúp Vô địch; đậy nắp toilet. Ngược lại, Ben Pridmore có thể ghi nhớ thứ tự các quân bài của một cỗ bài đã xáo trong ba mươi hai giây. Nếu có năm phút, anh ta có thể ghi nhớ vĩnh viễn 96 sự kiện lịch sử. Người đàn ông này thuộc năm mươi ngàn chữ số của số pi. Thế chẳng đáng ghen tị sao? Có lần tôi đọc được rằng một người bình thường hoang phí bốn mươi ngày mỗi năm để làm bù những việc nhỡ quên. Nếu không tính tới chuyện anh ta đang tạm thời thất nghiệp, câu hỏi đặt ra là hiệu suất của Ben Pridmore có thể còn lên tới đâu nữa? Có vẻ những thứ phải nhớ càng ngày càng nhiều thêm: nhiều cái tên hơn; nhiều mật khẩu hơn, nhiều cuộc hẹn hơn. Tôi hình dung với một trí nhớ như của Ben Pridmore thì đời đã khá hơn nhiều. Nền văn hóa hiện nay liên tục rót ngập đầu chúng ta những thông tin mới, vậy mà bộ não chỉ nắm bắt được rất ít. Hầu hết thông tin vào tai này ra tai kia. Nếu cốt lõi của việc đọc là để giữ lại tri thức, thì có lẽ đó là hoạt động ít hiệu quả nhất mà tôi tham gia. Tôi có thể dành hàng dăm bảy tiếng đồng hồ đọc một cuốn sách, nhưng rồi chỉ có ý niệm https://thuviensach.vn mơ hồ về nội dung của nó. Những sự kiện và giai thoại này kia, thậm chí là những chuyện thú vị đáng nhớ, thường chỉ gây ấn tượng thoảng qua trong đầu tôi rồi mất tăm mất tích đi đâu không biết. Trên giá nhà tôi có những cuốn sách mà tôi còn không nhớ mình đã đọc hay chưa. Nếu giữ được hết những kiến thức đã mất đi đó thì sẽ thế nào nhỉ? Tôi không khỏi nghĩ rằng điều đó sẽ khiến tôi nói năng thuyết phục hơn, tự tin hơn, và xét theo một nghĩa cơ bản nào đó, thông minh hơn. Chắc chắn tôi sẽ là một phóng viên giỏi hơn, một người bạn tốt hơn, và là bạn trai hoàn hảo hơn. Chẳng những vậy, tôi tưởng tượng rằng sỏ hữu một trí nhớ như Ben Pridmore sẽ biến tôi thành một người chu đáo hơn, và thậm chí thông thái hơn. Nếu coi ký ức là tập hợp các trải nghiệm, thì có trí nhớ tốt hơn giúp ta không chỉ biết nhiều hơn về thế giới, mà còn về bản thân. Chắc hẳn quên được một số chuyện làm ta khó chịu là điều lành mạnh và cần thiết. Nếu không quên nhiều điều ngớ ngẩn mình đã làm, hẳn tôi bị thần kinh mất. Nhưng trí nhớ kém cỏi của tôi liệu đã bỏ qua bao nhiêu ý tưởng đáng giá mà không đào sâu thấu đáo và làm bao nhiêu mối liên hệ không thành? Tôi cứ nghĩ mãi đến một câu Ben Pridmore nói khi trả lời phỏng vấn, nó khiến tôi suy nghĩ xem sự khác biệt giữa trí nhớ của anh ta và của tôi thực ra là gì. “Đó hoàn toàn là kỹ thuật và sự thấu hiểu cách bộ nhớ hoạt động,” anh nói với phóng viên. “Bất cứ ai cũng có thể làm được, thực vậy.” Vài tuần sau chuyến đi đến Phòng trưng bày cử tạ, tôi đứng cuối khán phòng trên tầng mười chín trụ sở Con Edison gần quảng trường Union ở Manhattan, làm khán giả cuộc thi Vô địch trí nhớ Hoa Kỳ năm 2003. Bị niềm phấn khích về Ben Pridmore thúc đẩy, tôi đến đó để viết cho tạp chí Slate một bài ngắn điều tôi hình dung về giải vô địch những nhà thông thái. Vậy mà, cảnh tượng tôi bắt gặp lại chẳng khác nào cuộc đụng độ của những kẻ phi thường: một lũ đàn ông (và vài quý cô) ở nhiều độ tuổi vẻ ngoài khác nhau, đang mải mê với những trang giấy đầy rẫy các chữ số ngẫu nhiên và cả dọc dài các con chữ. Họ tự nhận là “những vận động viên trí óc,” (mental athletes) viết tắt là MA. Có năm vòng thi. Vòng đầu tiên, các thí sinh phải học thuộc năm mươi câu thơ chưa xuất bản, tựa đề “Tấm thảm dệt hình tôi” (The Tapestry of Me.) Rồi người ta đưa cho họ chín mươi chín bức ảnh chụp chân dung kèm theo họ tên, họ có mười lăm phút để ghi nhớ càng nhiều càng tốt. Rồi mười lăm phút nữa để ghi nhớ một danh sách ba trăm từ ngẫu nhiên, năm phút để ghi nhớ một trang có đến một ngàn con chữ số ngẫu nhiên (hai mươi lăm dòng, mỗi dòng 40 chữ số), và năm phút nữa để học thuộc thứ tự một cỗ bài đã xáo. Trong số các đấu thủ, có hai người nằm trong nhóm ba mươi sáu đại kiện tướng về trí nhớ, để được danh hiệu này, khi trước họ phải thuộc được chuỗi một ngàn chữ số ngẫu nhiên trong vòng chưa đầy một tiếng, thứ tự chính xác của mười cỗ bài đã xáo cũng trong chừng ấy thời gian, lại thêm thứ tự một cỗ bài đã xáo trong chưa đầy hai phút. Dù bề ngoài những thành tích này trông chỉ như trò lạ mua vui - về cơ bản là vô bổ, và có lẽ còn hơi vớ vẩn nữa - nhưng khi trò chuyện với các đấu thủ, tôi nhận ra một điều thật sự nghiêm túc khiến tôi phải nhìn nhận lại những giới hạn của trí óc mình và bản chất vốn học thức của tôi. Tôi hỏi Ed Cooke từ khi nào anh biết mình là thiên tài. Anh là một đại kiện tướng trẻ tuổi người Anh, tham gia cuộc thi ở Hoa Kỳ như kiểu tập huấn mùa xuân để chuẩn bị cho Cuộc thi Vô địch thế giới diễn ra vào mùa hè (vì anh không phải người Mỹ, nên điểm số của anh https://thuviensach.vn không được tính vào kỳ thi ở Mỹ). “Ồ, tôi chẳng phải thiên tài gì đâu,” anh cười nhẹ nhàng. “Bộ nhớ như máy ảnh à?” tôi hỏi. Anh lại cười thành tiếng. “Khái niệm bộ nhớ chụp ảnh chỉ là thứ hoang đường vớ vẩn thôi” anh nói. “Không có thứ đó trên đời đâu. Thật ra, trí nhớ của tôi cũng bình thường. Tất cả chúng ta đều có trí nhớ trung bình.” Điều đó quả là khó tin vì tôi vừa xem anh ta lặp lại 252 chữ số ngẫu nhiên mà chẳng phải cố gắng gì, như thể chúng là số điện thoại của anh vậy. “Anh nên hiểu rằng thậm chí những bộ nhớ trung bình cũng có sức mạnh đáng kể nếu được sử dụng hợp lý,” anh nói. Ed có khuôn mặt thô và mái tóc nâu loăn xoăn để dài tận vai, có thể xem anh là trong số các thí sinh ít quan tâm trau chuốt vẻ bề ngoài nhất. Anh mặc một bộ vét, cà vạt thắt lỏng đi kèm đôi dép xỏ ngón in hình cờ nước Anh chẳng ăn nhập vào đâu. Anh mới hai bốn tuổi nhưng anh lê cái thân mình như một người gấp ba lần độ tuổi đó. Anh đi tập tễnh, lúc nào cũng kè kè cây gậy mà anh gọi là “chân chống chiến thắng,” - do gần đây bệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên tái phát. Cũng như Ben Pridmore, anh và các vận động viên trí óc khác cứ khăng khăng rằng bất cứ ai cũng có thể làm điều họ làm. Đó chỉ là vấn đề học cách “suy nghĩ theo những cách dễ nhớ hơn” sử dụng kỹ thuật ghi nhớ “cực kỳ đơn giản” đã có cách đây 2.500 năm, gọi là “cung trí nhớ” được cho là do Simonides of Ceos phát kiến trước cảnh đổ nát của vụ sập phòng yến tiệc. Kỹ thuật cung trí nhớ - còn gọi là phương pháp hành trình hay phương pháp quỹ tích, và phổ biến hơn cả là ars memorativa, hay “thuật ghi nhớ” - được những người La Mã như Cicero và Quintilian tinh lọc và biên soạn thành bộ quy tắc và tài liệu chỉ dẫn chi tiết; thuật này nở rộ vào thời Trung cổ để giúp các tín đồ ghi nhớ mọi thứ, từ những bài giảng đạo và lời cầu nguyện, cho tới những hình phạt đang chờ đợi bọn phù thủy dưới địa ngục. Đây cũng là bí quyết các Nguyên lão nghị viên ở La Mã vận dụng để ghi nhớ các bài phát biểu, giúp các học giả Trung cổ thuộc lòng sách vở và Themistocles, một thủ lĩnh người Athen cũng được cho là đã vận dụng kỹ thuật này để ghi nhớ tên của hai mươi ngàn dân Athen. Ed giải thích cho tôi rằng các đấu thủ tự nhận mình là “những người tham gia vào chương trình nghiên cứu nghiệp dư” mà mục tiêu là cứu vãn một truyền thống rèn luyện trí nhớ đã biến mất từ nhiều thế kỷ trước. Ed nhấn mạnh, ngày xưa ghi nhớ là tất cả. Một trí nhớ được rèn giũa không chỉ là một công cụ tiện lợi mà còn là nền tảng của bất cứ trí óc trần tục nào. Hơn nữa, việc rèn luyện trí nhớ được xem là một hình thức xây dựng tính cách, một phương pháp để phát triển đức tính cốt yếu là cẩn thận, hay nói rộng hơn, là đạo đức. Chỉ thông qua ghi nhớ việc tư duy mới diễn ra, và con người mới thực sự nhập tâm và tiếp thu giá trị các ý tưởng mới. Kỹ thuật này không chỉ để ghi nhớ những thông tin vô bổ như các cỗ bài, mà còn để khắc vào não những dòng chữ và ý tưởng nền tảng. Nhưng rồi, vào thế kỷ mười lăm, nhờ phát kiến trong ngành in của Gutenberg, sách trở thành hàng hóa sản xuất hàng loạt, và đến một lúc việc ghi nhớ những gì được in trên trang giấy chẳng còn quan trọng nữa. Kỹ thuật ghi nhớ từng đóng vai trò chính yếu trong nền văn hóa cổ điển và Trung cổ, bị phong kín cùng với những bí truyền huyền bí vào thời Phục hưng, và đến thời kỳ Khai sáng, chúng bị bỏ rơi sau những cuộc biểu diễn hội hè và cả đống sách tự học hời hợt - và chỉ mới được khôi phục lại trong vài thập kỷ cuối cùng của https://thuviensach.vn thế kỷ hai mươi để dụng vào cuộc thi kỳ quặc và độc nhất này. Người đứng đầu công cuộc chấn hưng kỹ thuật rèn luyện trí nhớ này là Tony Buzan, nhà giáo dục khôn khéo sáu mươi bảy tuổi người Anh, người tự phong là “bậc thầy”. Ông nhận mình (rõ ràng không hề có ý mỉa mai) là người có “chỉ số sáng tạo” cao nhất thế giới. Khi tôi gặp ông tại một quán ăn ở tòa nhà Con Edison, ông mặc bộ vét màu xanh hải quân có năm chiếc cúc lớn viền vàng đi kèm áo sơ mi không cổ, một chiếc cúc lớn khác siết họng tạo cho ông cái vẻ một vị linh mục Chính thống giáo. Một cái ghim hình bộ não điểm trang ve áo. Mặt đồng hồ của ông là phiên bản bức tranh Sự dai dẳng của trí nhớ của Dali (bức tranh có hình mặt đồng hồ chảy sũng). Ông gọi các thí sinh là “những chiến binh trí óc.” Khuôn mặt Buzan với mái tóc hoa râm, nhiều nếp nhăn và vết bong da đây đó - trông già hơn cả chục tuổi so với lứa tuổi sáu mươi bảy, nhưng phần còn lại trên người ông thì sung sức như một người ba mươi. Ông kể mỗi sáng đều chèo thuyền chừng sáu đến mười kilômét dọc sông Thames, và ông lý giải việc ăn nhiều rau và cá “giúp bổ não”. “Ăn đồ tạp nham: bộ não tạp nham. Thức ăn lành mạnh: bộ não lành mạnh,” ông nói. Khi đi bộ, Buzan lướt nhẹ nhàng nhu bóng hockey trượt trên băng (sau này ông bảo, đó là kết quả bốn mươi năm rèn luyện theo Kỹ thuật Alexander). Khi nói, ông khua bàn tay với sự chừng mực chính xác và tao nhã chỉ có được do đứng trước gương luyện tập. Thường thì, ông nhấn mạnh điểm quan trọng bằng cách bung mạnh các ngón tay đang nắm chặt. Buzan sáng lập Giải Vô địch Thế giới về Trí nhớ năm 1991, và từ đó thành lập thêm giải vô địch quốc gia ở hơn chục nước, từ Trung Quốc đến Nam Phi đến Mexico. Ông bảo kể từ những năm 1970 ông làm việc với sự sốt sắng của một nhà truyền đạo để những kỹ thuật ghi nhớ này được đưa vào các trường học trên khắp thế giới. Ông gọi đó là “cuộc cách mạng giáo dục toàn cầu tập trung vào cách học.” Và ông tự cho mình là một khối tài sản quan trọng vẫn đang sinh sôi nảy nở. (Theo báo chí, trước khi chết, Michael Jackson đã chi đến 343.000 đô la cho dịch vụ tăng cường trí nhớ của Buzan.) Buzan tin rằng cách giảng dạy ở trường học là hoàn toàn sai lầm. Họ tống hàng loạt thông tin vào đầu học sinh, nhưng không dạy các em cách lưu giữ chúng. Việc ghi nhớ bị mang tiếng xấu là chỉ dùng để đối phó kỳ thi trước mắt Nhưng chính truyền thống học vẹt buồn tẻ đã làm hỏng nền giáo dục phương Tây chứ không phải việc ghi nhớ. “Suốt hơn một thế kỷ qua, chúng ta đã định nghĩa sai về trí nhớ, hiểu nó chưa toàn diện, vận dụng nó sai cách, và rồi lại chê trách nó vì không thấy hiệu quả lẫn hứng thú gì,” Buzan lập luận. Nếu ghi nhớ theo kiểu học vẹt là nguệch ngoạc những ấn tượng lên bộ não thông qua sự lặp đi lặp lại thô bạo - kiểu phương pháp “lặp nhiều nhớ sâu” cũ mòn - thì thuật ghi nhớ là một cách nhớ thông tin tinh tế hơn bằng cách dùng các kỹ thuật. Nó nhanh hơn, đỡ mệt hơn, và tạo ký ức lâu dài hơn, Buzan bảo tôi. “Bộ não giống như một khối cơ”, ông bảo, và rèn luyện trí nhớ là một hình thức luyện tập trí óc. Theo thời gian, cũng như bất kỳ hình thức rèn luyện nào, nó sẽ làm bộ não khỏe mạnh hơn, nhanh nhẹn hơn, và linh lợi hơn. Ý tưởng này đã có từ thời khởi nguyên của rèn luyện trí nhớ. Các nhà hùng biện La Mã lập luận rằng thuật ghi nhớ - tức thuật giữ lại tri thức và sắp xếp chúng một cách thích hợp - là một công cụ sống còn cho việc sáng tạo những ý tưởng mới. Ngày nay, “phương pháp rèn luyện trí não” đã rất thịnh hành trong công chúng. Những phòng luyện tập bộ óc, các trại thúc đẩy trí nhớ là thứ mốt đang phát triển, và phần mềm luyện tập trí nhớ là một ngành kinh doanh mang lại 265 triệu đô la năm 2008, chắc chắn một phần là do nghiên cứu chỉ ra rằng những người già vẫn duy trì hoạt động trí óc tích cực thông qua việc chơi trò ô chữ, và cờ vua có thể ngăn ngừa được https://thuviensach.vn bệnh Alzheimer và chứng mất trí nhớ tiến triển, nhưng chủ yếu là do thế hệ Baby Boom[3] quá sợ chứng quên. Tuy có những bằng chứng khoa học vững chắc cho thấy bộ não hoạt động tích cực sẽ có lợi trong việc ngăn ngừa chứng quên, nhưng những nhận định hoàng tráng nhất của Buzan về hiệu ứng phụ của “rèn luyện trí nhớ” lại (ít nhất) khiến người ta có phần hoài nghi. Dẫu vậy, kết quả thực tế cũng khó mà bác bỏ. Tôi vừa xem một thí sinh bốn mươi bảy tuổi nhắc lại đúng thứ tự một trăm từ ngẫu nhiên anh ta mới học thuộc vài phút trước. Buzan hăm hở muốn thuyết phục tôi tin rằng trí nhớ của ông được cải thiện theo năm tháng, ngay cả khi ông già đi. “Người ta cứ cho rằng chuyện suy giảm trí nhớ là tự nhiên vì nó thuộc về chức năng cơ thể con người” ông bảo. “Nhưng đó là một lỗi lập luận, điều thường xảy ra không không nhất thiết là điều tự nhiên. Lý do khiến trí nhớ con người kém dần bởi chúng ta thực sự đang luyện tập kiểu phản-Olympic. Điều chúng ta làm với bộ não cũng tương tự như bắt một vận động viên luyện tập cho cuộc thi Olympic phải ngồi xuống nốc mười lon bia mỗi ngày, hút năm mươi điếu thuốc, lái xe đi làm, có khi tập vài bài tập cật lực đến có hại mỗi tháng một lần, và thời gian còn lại là xem tivi. Rồi chúng ta băn khoăn, tại sao người đó không thi đấu tốt ở Olympic. Đó là điều chúng ta đang làm với trí nhớ.” Tôi hỏi quấy Buzan về chuyện học những kỹ thuật này khó khăn ra sao. Các thí sinh rèn luyện thế nào? Trí nhớ của họ cải thiện nhanh chậm ra sao? Họ có dùng những kỹ thuật này trong đời sống hàng ngày không? Nếu chúng thực sự đơn giản và hiệu quả như ông nói, thì tại sao trước đây tôi chưa hề nghe đến? Tại sao tất cả chúng ta không sử dụng chúng? “Anh biết đấy,” ông đáp, “thay vì hỏi tôi những câu đó, anh nên tự đi thử thì hơn.” “Theo lý thuyết, một người như tôi phải rèn luyện mất bao lâu để tham dự Giải vô địch Hoa Kỳ về trí nhớ?” tôi hỏi ông. “Nếu anh muốn lọt vào tốp ba của Giải vô địch Hoa Kỳ, thì anh nên luyện tập một tiếng mỗi ngày, sáu ngày một tuần. Nếu anh dành chừng ấy thì giờ, anh sẽ thi thố ngon lành. Nếu anh muốn vào giải vô địch thế giới, anh cần dành ba đến bốn tiếng mỗi ngày trong sáu tháng cuối trước khi giải diễn ra. Nặng lắm đấy.” Cuối buổi sáng hôm đó, khi các thí sinh đang cố ghi nhớ bài thơ “Tấm thảm dệt hình tôi,” Buzan kéo tôi sang một góc và đặt tay lên vai tôi. “Còn nhớ cuộc trò chuyện của chúng ta không? Hãy nghĩ về nó. Anh có thể là người ở trên sân khấu kia ở giải vô địch Hoa Kỳ năm sau.” Trong giờ nghỉ giải lao giữa vòng thi nhớ thơ và vòng thi nhớ tên người-khuôn mặt, tôi tìm ra vỉa hè bên ngoài tòa nhà Con Ed để thoát khỏi không khí ẩm ướt như trong phòng thay đồ. Ở đó tôi bắt gặp chuyên gia trí nhớ người Anh Ed Cooke, tóc như mớ giẻ, chống gậy tập tễnh cạnh anh bạn hẩu cao lều nghều của anh ta, đại kiện tướng người Áo, Lukas Amsuss, họ đang cuốn thuốc lá. Ed đã tốt nghiệp trường Oxford mùa xuân năm trước, bằng ưu về tâm lý và triết học, anh ta kể đang tính chuyện viết một cuốn sách nhan đề Nghệ thuật Nội quan đồng thời theo đuổi bằng Tiến sĩ ngành khoa học nhận thức ở Đại học Paris, nơi anh đang tiến hành một nghiên cứu khác nhằm “làm con người cảm thấy cơ thể họ đã co lại kích thước một phần https://thuviensach.vn mười bình thường.” Anh ta cũng đang trong quá trình sáng tạo một màu mới - “không chỉ là một màu mới, mà một cách hoàn toàn mới để quan sát màu sắc.” Lukas, sinh viên luật Đại học Vienna, tự quảng cáo mình là tác giả của một cuốn sách nhỏ nhan đề “làm thế nào tăng gấp ba lần IQ của bạn,” vừa đứng dựa vào tòa nhà, cô gắng thanh minh với Ed về màn trình diễn nghèo nàn của anh ta ở vòng thi nhớ chữ ngẫu nhiên: “Tôi chưa bao giờ nghe đến những từ tiếng Anh này, ‘yawn,’ ‘ulcer,’ và ‘aisle’[4]” anh ta khăng khăng giữ cách phát âm cứng đơ của người Áo, “Sao mà nhớ cho nổi?” Thời điểm đó, Ed đứng thứ mười một và Lukas ở thứ chín trong nhóm những người có trí nhớ tốt nhất thế thế giới, hai đại kiện tướng duy nhất tại cuộc thi đó, và là những thí sinh duy nhất xuất hiện trong bộ đồ vét và đeo cà vạt. Họ mong muốn chia sẻ với tôi (hay bất kỳ ai) kế hoạch của họ để kiếm tiền trên danh tiếng trí nhớ của họ bằng cách xây dựng một “phòng tập trí nhớ” lấy tên Học viện Trí tuệ Oxford. Ý tưởng của họ là những người theo học - hầu hết là các giám đốc, họ hy vọng vậy - sẽ trả tiền để có người huấn luyện trí nhớ riêng. Một khi thế giới hiểu ra lợi ích của rèn luyện trí nhớ, họ tưởng tượng rằng tiền sẽ từ trên trời đổ xuống. “Cuối cùng,” Ed bảo tôi, “chúng tôi đang tìm cách khôi phục lại nền giáo dục phương Tây.” “Chúng tôi thấy nó đang thoái hóa,” Lukas thêm. Ed giải thích cho tôi rằng anh việc anh tham gia vào các cuộc thi trí nhớ là một phần trong nỗ lực làm sáng tỏ những bí mật trí nhớ loài người. “Tôi nhận ra rằng có hai cách để biết phương thức hoạt động của bộ não,” anh nói. “Trước tiên là cách ngành tâm lý học thực chứng đang làm, nghĩa là bạn quan sát bên ngoài và sử dụng nhiều biện pháp đo đạc đối với nhiều người khác nhau. Cách kia đi theo một logic rằng hoạt động tối ưu của một hệ thống có thể mách bảo bạn điều gì đó về thiết kế của nó. Có lẽ cách tốt nhất để hiểu được trí nhớ con người là cố gắng tối ưu hóa nó - lý tưởng nhất là nghiên cứu những người sáng dạ trong điều kiện họ nhận được lời nhận xét chính xác và khách quan. Nghĩa là lập sơ đồ trí nhớ.” Cuộc thi này diễn ra với độ kịch tính cũng cỡ như kỳ thi SAT. Người dự thi ngồi yên lặng trước bàn và nhìn chằm chằm vào những tờ giấy, rồi viết vội câu trả lời và đưa cho giám khảo. Sau mỗi vòng thi, điểm số nhanh chóng được tính toán và thể hiện trên một màn hình trước phòng thi. Thứ khiến một tay nhà báo đang cố viết bài về cuộc thi vô địch trí nhớ quốc gia nản nhất là môn “thể thao” này không làm công chúng hồi hộp căng thẳng như trò chơi bóng rổ, hay thậm chí như cuộc thi đánh vần. Đôi khi, thật khó mà biết liệu các đấu thủ đang chìm sâu vào suy nghĩ hay đang ngủ. Hẳn có thể thấy nhiều hành vi kiểu day mạnh vào thái dương, nhịp chân lo lắng và thi thoảng vài cái nhìn trống rỗng vì thua cuộc, nhưng khán giả chẳng thể tiếp cận nổi hầu hết những gì diễn ra trong đầu các đấu thủ. Một ý nghĩ muộn phiền chạy qua đầu tôi, khi tôi đứng sau khán phòng Con Edison quan sát những con người được cho là bình thường này thực hiện màn biểu diễn trí óc gần như không dò thấu nổi: tôi không có lấy một manh mối nào về việc trí nhớ của tôi hoạt động ra sao. Liệu có một nơi gọi là thùy trước não không? Một làn sóng chậm rãi những câu hỏi quét ngang tôi - những điều tôi chưa bao giờ để tâm đột nhiên cùng ào tới ráo riết đòi giải đáp. Chính xác thì trí nhớ là gì? Nó được tạo ra thế nào? Nó được lưu trữ thế nào? Hai thập kỷ rưỡi đòi tôi đã trải qua với một trí nhớ hoạt động suôn sẻ liền lạc đến nỗi tôi chưa bao giờ có lý do để dừng lại và thắc mắc về cơ chế của nó. Vậy mà, giờ đây khi dừng lại để suy nghĩ về nó, tôi nhận ra nó thực sự không hề hoạt động liền mạch như vậy. Nó hoàn toàn kẹt lại ở một số lĩnh vực, nhưng lại hoạt động quá tốt ở một số lĩnh vực khác. Và có quá https://thuviensach.vn nhiều điều bất thường khó giải thích. Đúng sáng hôm đó, trong đầu tôi không hiểu sao cứ trở đi trở lại một bài hát khó chịu của Britney Spears, khiến lúc đi tàu điện ngậm tôi cứ phải vừa lắc lư vừa lẩm bẩm mấy điệu hát lẻ Hanukkah để đẩy nó ra khỏi óc. Thế là làm sao? Vài ngày trước, tôi cố kể cho một người bạn về một tác giả tôi ngưỡng mộ, thế mà giờ tôi chỉ nhớ được chữ cái đầu tiên tên ông ấy, chẳng gì khác. Sao chuyện đó xảy ra? Và sao tôi không nhớ gì hết về những chuyện trước độ tuổi lên ba? Và sao tôi không thể nhớ ngày hôm trước tôi ăn sáng món gì, dù tôi nhớ được chính xác bốn năm trước tôi ăn sáng món gì - Bắp rang, cà phê, và một quả chuối - khi tôi hay tin một máy bay đã đâm vào tòa tháp đôi? Và tại sao tôi luôn quên lý do mình mở của tủ lạnh? Tôi rời cuộc thi Vô địch trí nhớ Hoa Kỳ, háo hức muốn tìm xem bằng cách nào Ed và Lukas làm được như vậy. Họ chỉ là những cá nhân phi thường chăng, những kẻ xuất chúng trên cung đường tiến hóa hình chuông của loài người, hay chúng ta có thể học được điều gì đó từ tài năng của họ? Tôi hoài nghi về họ với chính lý do mà tôi hoài nghi về Tony Buzan. Bất cứ bậc thầy tự phong nào đã kiếm được cả một gia tài từ ngăn sách “tự phát triển kỹ năng” đều kích hoạt con người thám tử ba xu trong mỗi nhà báo, và Buzan đúng là đã bật mọi cái chuông báo động trong tôi. Tôi chưa đủ thông tin để biết chắc liệu ông đang rao bán sự cường điệu hay là khoa học, nhưng cái bao bì “cách mạng giáo dục toàn cầu” - ông sử dụng chắc chắn có mùi vị cường điệu. Có thật là bất cứ ai cũng có thể học được cách ghi nhớ nhanh chóng một lượng lớn thông tin không? Bất cứ ai? Tôi sẵn tin Buzan khi ông bảo có những kỹ thuật mà người ta có thể học để cải thiện đôi chút trí nhớ của con người trong tầm giới hạn, nhưng tôi không tin hoàn toàn ở ông (hay Ed) khi ông bảo rằng bất cứ tên ngốc nào ngoài đường cũng có thể học ghi nhớ những cỗ bài hay hàng ngàn chữ số nhị phân. Sẽ hợp lý hơn nhiều nếu nói rằng: ràng Ed và đồng nghiệp của anh ta có tài năng bẩm sinh kỳ dị về trí não tương tự như chiều cao của gã khổng lồ Andre hay đôi chân của Usain Bolt. Quả thật, nhiều kỹ thuật giúp cải thiện trí nhớ do các bậc thầy về các phương pháp tự phát triển kỹ năng viết ra bị hoen ố bởi những mánh vặt ba xu. Khi tôi xem gian hàng sách tự học ở hiệu sách Barnes&Noble, tôi thấy một lô lốc sách đưa ra những khẳng định sốt sắng rằng chúng có thể dạy tôi làm thế nào để “không bao giờ quên số điện thoại hay một ngày hẹn” hay “phát triển trí nhớ ngay tức thì.” Một cuốn sách còn tuyên bố nó có thể chỉ cho tôi cách sử dụng “90 phần trăm còn lại” của bộ não, đó là một trong những lời sáo rỗng giả danh khoa học, chẳng khác gì việc tôi nói mình có thể được dạy dỗ để dùng 90 phần trăm còn lại của bàn tay. Nhưng lĩnh vực cải thiện trí nhớ cũng đã được nghiên cứu bởi những người mà mối quan hệ của họ với chủ đề này rõ ràng ít mang tính vụ lợi hơn Buzan, và những nhận định của họ đã được người trong ngành xem xét phản biện. Các nhà tâm lý học lý thuyết quan tâm đến việc mỏ rộng khả năng trí nhớ bẩm sinh của chúng ta kể từ khi Hermann Ebbinghaus lần đầu tiên đưa vấn đề nghiên cứu trí nhớ vào phòng thí nghiệm từ những năm 1870. Cuốn sách này viết về một năm mà tôi dành thời gian thử cố gắng rèn luyện trí nhớ của mình và gắng thấu hiểu nó - hoạt động nội tại của nó, khiếm khuyết tự nhiên của nó, tiềm năng còn tàng ẩn của nó. Cuốn sách cũng trình bày làm thế nào tôi biết rằng trí nhớ của chúng ta thực sự có thể cải thiện được, trong những giới hạn nhất định, và rằng mọi người trong chúng ta có thể thực sự nắm bắt những kỹ năng của Ed và Lukas. Nó cũng nhắc đến các nghiên cứu khoa học của giới chuyên môn; quá trình các nhà khoa học chuyên nghiên cứu các nhà vô địch về trí nhớ khám phá ra những nguyên tắc chung để đạt được kỹ năng như thế nào thông qua nghiên cứu quá trình rèn luyện bộ não của các vận động viên trí óc; https://thuviensach.vn bí quyết họ tìm ra cũng là bí quyết để cải thiện gần như tất cả mọi điều. Dù quyển sách này không có ý viết theo dạng sách tự học, tôi hy vọng bạn thông qua nó hiểu được cách một người rèn luyện trí nhớ và những kỹ thuật ghi nhớ đó áp dụng trong đời sống hàng ngày như thế nào. Những kỹ thuật đó có một di sản quan trọng và phong phú đáng ngạc nhiên. Vai trò của chúng trong sự phát triển văn hóa phương Tây là một trong những chủ đề trong lịch sử tri thức, lĩnh vực không mấy ai biết ngoài những phạm vi học thuật hạn hẹp được nghiên cứu. Hệ thống trí nhớ như cung trí nhớ của Simonides đã định hình mạnh mẽ cách thức con người tiếp cận với thế giới từ thời xa xưa trong thời kỳ Trung cổ và Phục hưng. Nhưng sau đó, chúng biến mất. Ngày xưa, trí nhớ là gốc rễ của mọi khía cạnh văn hóa. Ngày nay, chúng ta có những cuốn sách, hình ảnh, và vô số tập tài liệu chất cao như núi lưu trữ những di sản văn hóa, đó là chưa kể đến Internet có thể đưa ra câu trả lời cho hầu hết những câu hỏi chỉ trong một cú nhấp chuột, lại thêm những chiếc điện thoại thông minh luôn-luôn-có-mặt bên cạnh để quản lý cuộc sống chúng ta. Trong ba mươi nghìn năm qua, kể từ khi loài người bắt đầu vẽ những ký ức của họ lên tường hang động, chúng ta dần thay thế trí nhớ tự nhiên của mình bằng sự trợ giúp của bộ nhớ ngoài với siêu cấu trúc rộng lớn - một quá trình tăng tốc theo cấp số mũ những năm gần đây. Về sinh lý học, chúng ta hoàn toàn giống với tổ tiên, những người đã vẽ các hình ảnh bò rừng lên tường động Lascaux ở Pháp - một trong số những sáng tạo văn hóa sớm nhất còn tồn tại đến ngày nay. Bộ não của chúng ta không lớn hơn hay phức tạp hơn bộ não của tổ tiên. Nếu một đứa bé cổ đại được thả vào vòng tay của một cặp vợ chồng sống tại New York thế kỷ hai mốt, thì đứa bé hẳn sẽ lớn lên chẳng có gì khác biệt với bạn bè cùng trang lứa. Điều duy nhất phân biệt chúng ta với họ, ấy là trí nhớ. Không phải trí nhớ khu trú trong bộ não chúng ta, đứa trẻ sinh ra ngày nay bước vào thế giới như một tấm bảng đá trắng tinh, giống như đứa trẻ được sinh ra cách đây ba mươi ngàn năm, cái khác biệt là những ký ức được lưu giữ bên ngoài chúng ta - trong những cuốn sách, bức hình, bảo tàng, và ngày nay là truyền thông kỹ thuật số. Hãy tưởng tượng một mai bạn thức dậy và phát hiện ra rằng mọi dấu vết của thế giới trở nên vô hình. Thế giới của chúng ta sẽ ngay lập tức sụp đổ. Văn chương, âm nhạc, pháp luật, chính trị, khoa học, toán: Nền văn hóa của chúng ta là một đại công trình được xây dựng từ những bộ nhớ ngoài. Nếu trí nhớ là phương tiện để chúng ta gìn giữ những thứ được xem là giá trị nhất, thì khổ thay nó cũng gắn chặt với sự tồn tại tạm thời của chúng ta. Một khi chúng ta chết đi, ký ức của chúng ta chết theo. Có thể nói, hệ thống bộ nhớ ngoài chi tiết mà chúng ta tạo ra là một cách để tránh khỏi cái chết. Nó giúp những ý tưởng vượt qua thời gian và không gian một cách hữu hiệu, và cho phép xây dựng ý tưởng mới trên ý tưởng khác có sẵn, mà nếu con người chỉ bảo lưu tư tưởng ở mức độ truyền ý nghĩ từ bộ não này sang bộ não khác thì không thể nào làm được. Việc ngoại hóa bộ nhớ không chỉ thay đổi cách người ta suy nghĩ; nó cũng dẫn đến một chuyển biến sâu sắc hơn trong ý niệm về sự thông minh. Bộ nhớ trong trở nên giảm sút giá trị. Sự uyên bác thay đổi từ việc xử lý thông tin bên trong đến khả năng biết cách và biết nơi để tìm được thông tin trong thế giới mê lộ trí nhớ ngoài. Nơi duy nhất bạn còn thấy người ta vẫn sử dụng thuật ghi nhớ là ở Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới và độ hơn chục cuộc thi vô địch trí nhớ cấp quốc gia được tổ chức khắp thế giới. Điều này đáng phải suy https://thuviensach.vn nghĩ. Điều từng là nền tảng giáo dục phương Tây giờ may mắn lắm thì được xem là chuyện lạ. Nhưng khi văn hóa của chúng ta chuyển biến từ một nền văn hóa về cơ bản dựa trên bộ nhớ trong sang một nền văn hóa về cơ bản dựa trên bộ nhớ lưu trữ ngoài bộ não, thì điều đó có nghĩa gì đối với chúng ta và xã hội chúng ta? Những thành tựu con người đạt được là không thể tranh cãi. Nhưng chúng ta đã phải đánh đổi những gì? Sẽ ra sao nếu chúng ta mất đi trí nhớ? https://thuviensach.vn Chương hai Kẻ nhớ quá nhiều T háng Năm 1928, nhà báo trẻ S bước vào văn phòng của nhà tâm lý học thần kinh người Nga A.R. Luria và nhã nhặn đề nghị được kiểm tra trí nhớ. Anh được sếp cử đến, ông ta là biên tập của tờ báo nơi anh làm việc. Mỗi sáng, tại cuộc họp giao ban hàng ngày, ông sếp phân phát nhiệm vụ trong ngày cho đám phóng viên bằng hàng tràng liên thanh đầy những sự kiện, đầu mối liên lạc, và các địa chỉ mà họ cần để viết bài. Tất cả đều cắm cúi ghi chép tràng giang đại hải, trừ một người. S chỉ quan sát và lắng nghe. Một buổi sáng, vì phát ngấy với sự thờ ơ rành rành của anh phóng viên nọ, ông biên tập mới kêu S đến để giảng cho anh một bài về sự cần thiết phải nghiêm túc trong công việc. Anh nghĩ mọi thông tin biên tập nói ra buổi sáng chỉ bởi người nói thích tự nghe giọng mình sao? Anh nghĩ mình có thể viết bài mà không cần đầu mối cấp tin sao? Rồi thì anh có thể liên hệ với mọi người bằng phép ngoại cảm, không cần đến địa chỉ của họ đấy hẳn? Nếu muốn có tương lai trong giới báo chí thì tốt hơn là phải bắt đầu tập trung và ghi chép đi, ông biên tập bảo anh thế. S cứ ngây người nhìn ông biên tập suốt cuộc quát tháo và chờ ông ta tuôn cho hết. Rồi anh bình tĩnh nhắc lại chi tiết của cuộc họp buổi sáng hôm đó, từng từ một. Ông biên tập ngã ngửa người ra. Ông không biết phải nói gì. Nhưng sau này S kể, chính anh còn cảm thấy sốc hơn. Cho đến giây phút đó anh luôn cho rằng việc con người ta nhớ tất tật mọi thứ là chuyện hết sức bình thường. Khi đến văn phòng của Luria, S vẫn hoài nghi về sự độc đáo của mình. “Anh ta không nhận thấy điều gì khác biệt ở bản thân, và không thể hình dung được ràng trí nhớ của anh khác với những người khác,” nhà tâm lý học nhớ lại, ông đã cho anh ta làm nhiều bài kiểm tra để đánh giá sức nhớ của anh. Đầu tiên, Luria đề nghị S ghi nhớ danh sách những chữ số, và ngạc nhiên lắng nghe đối tượng nhút nhát của mình nhắc lại đúng bảy mươi con số, hết xuôi chiều rồi đến ngược chiều. “Dù tôi có đưa cho anh ta các chuỗi ký tự là những từ có nghĩa hay không có nghĩa, là chữ số hay âm tiết, được thể hiện qua lời nói hay viết,” Luria nói. “Điều duy nhất anh ta cần là ba-đến-bốn giây ngắt quãng giữa các chuỗi ký tự, và anh ta không gặp chút khó khăn nào để nhắc lại đúng những gì tôi đã đưa ra.” Luria cho S thử hết thí nghiệm này đến thí nghiệm khác, vẫn chỉ duy nhất một kết quả: thật khó mà bắt bí được anh ta. “Là người trực tiếp làm thí nghiệm cho anh ta, chẳng bao lâu tôi bắt đầu thấy bối rối cực độ,” Luria nhớ lại. “Đơn giản là tôi phải thừa nhận rằng... tôi không thể thực hiện điều người ta nghĩ là nhiệm vụ đơn giản nhất một nhà tâm lý học có thể làm: đo năng lực trí nhớ của một cá nhân.” Luria tiếp tục nghiên cứu S trong ba mươi năm tiếp theo, và cuối cùng viết hẳn một cuốn sách về anh, Trí óc của một chuyên gia trí nhớ: Cuốn sách nhỏ về một bộ nhớ mênh mông (The mind of a Mnemonist: A little book about a vast memory), đây là một trong những tác phẩm kinh điển nhất về các hiện tượng tâm lý dị thường. S có thể ghi nhớ những công thức toán phức tạp mà không cần phải biết gì về toán, nhớ bài thơ tiếng Ý mà không cần nói được tiếng Ý, kể cả những câu rất phức tạp. Anh không chỉ nhớ được những tài liệu rất dài, mà đặc biệt hơn, dường như trí nhớ của anh không bao giờ suy giảm. Với người bình thường, trí nhớ dần sa sút theo thời gian, hiện tượng này gọi là “đường cong lãng quên.” Từ thời điểm bạn nắm được một thông tin mới, “độ bám giữ” thông tin https://thuviensach.vn đó trong trí nhớ của bạn bắt đầu “lơi” dần ra, cho đến khi cuối cùng để nó “tuột đi” hẳn. Trong những thập niên cuối của thế kỷ mười chín, nhà tâm lý học người Đức Hermann Ebbinghaus bắt đầu định lượng quá trình quên lãng không thể chặn đứng được này. Để hiểu trí nhớ suy giảm theo thời gian như thế nào, ông mất nhiều năm để nhớ 2.300 âm tiết vô nghĩa cấu tạo bằng ba ký tự như GUF, LER, và NOK. Vào những khoảng thời gian nhất định, ông tự kiểm tra xem có bao nhiêu âm tiết ông đã quên, và trí nhớ giữ lại được bao nhiêu. Khi vẽ kết quả lên đồ thị, ông có một đường cong trông như thế này: Dù thực hiện thí nghiệm này với bản thân bao nhiêu lần, kết quả về đại thể vẫn luôn như nhau: Sau một tiếng kể từ khi học một loạt những âm tiết vô nghĩa, hơn phân nửa số đó sẽ bị quên. Sau ngày đầu tiên, mười phần trăm nữa biến mất. Sau một tháng, mười bốn phần trăm nữa. Sau đó, những gì còn đọng lại trong trí nhớ ít nhiều ổn định - chúng được củng cố trong trí nhớ dài hạn - và tốc độ lãng quên giảm xuống rất chậm. Trí nhớ của S dường như không tuân theo đường cong lãng quên này. Dù người ta có yêu cầu anh nhớ nhiều bao nhiêu, hay đã qua bao lâu - có khi đến tận mười sáu năm sau - thì anh vẫn luôn có thể đọc lại những tài liệu đó với sự chính xác như thể vừa mới đọc xong. “Anh ta sẽ ngồi xuống, mắt nhắm lại, yên lặng một lúc rồi bắt đầu: “Vâng, vâng... đây là chuỗi ký tự ông đã cho tôi xem khi chúng ta ở nhà ông... lúc đó ông đang ngồi ở bàn... ông mặc bộ vét màu xám... rồi cứ thế anh ta thuật lại chính xác như thể tôi vừa cho anh ta đọc ở buổi trước,” Luria viết. Theo lời kể truyền cảm trong của Luria, đôi khi S hiện ra như một du khách đến từ hành tinh khác, còn trong biên niên ký ngành tâm lý học bất thường, trường hợp của anh ta https://thuviensach.vn được xem là hoàn toàn độc đáo. Nhưng khi bắt tay vào luyện trí nhớ, tôi nhận ra một cách giải thích khác thú vị hơn về câu chuyện của S: rằng trường hợp như S cực kỳ hiếm hoi, nhưng những người bình thường với bộ não yếu đuối, dễ quên như chúng ta vẫn có nhiều khả năng học theo anh ta. Quả thật, những kỹ năng lạ thường của anh ta có thể đang ngủ yên đâu đó trong tất cả chúng ta. Sau khi hoàn tất bài tường thuật về cuộc thi đã đưa tôi đến New York, theo trình tự làm báo thông thường tôi sẽ quay về nhà, viết một bài ngắn, và chuyển sang đề tài khác. Nhưng lần này thì không thế. Thay vì bắt tàu về Washington, tôi lại thấy mình đứng ở cuối một khán đài khác - lần này là một trường trung học công ở khu Upper East Side thuộc Manhattan, nơi Ed Cooke sẽ dạy một lớp gồm các học sinh mười sáu tuổi phương pháp sử dụng kỹ thuật ghi nhớ để vượt qua các kỳ thi. Tôi đã hủy kế hoạch của mình ngày hôm đó và bám theo bởi anh ta đã hứa nếu tôi đi cùng anh ta đủ lâu, thì anh ta sẽ giải thích chi tiết cho tôi làm thế nào anh ta và Lukas đã tự học ghi nhớ được như S. Trước khi tìm hiểu những bí quyết sâu kín như vậy cũng nên có một vài nền tảng căn bản đã. Ed muốn cho tôi và các học sinh thấy rằng trí nhớ của chúng ta vốn dĩ đã phi thường rồi - ít nhất là khi học những loại thông tin nhất định. Để chứng minh, anh ta mang theo bài kiểm tra trí nhớ có tên “nhận diện hình đúng giữa hai hình”. Sau khi tự giới thiệu với các học sinh bằng vài câu tự giễu kiểu, “Tôi đến từ nước Anh, nơi người ta thích dành thời gian để ghi nhớ thay vì phát triển đời sống xã hội toàn vẹn,” anh ta chứng minh khả năng ghi nhớ của mình bằng cách học thuộc một số có bảy mươi chữ số trong hơn một phút (nhanh hơn gấp ba lần so với thời gian S cần để thực hiện việc tương đương), rồi ngay sau đó cho tôi và các học sinh làm luôn bài kiểm tra trí nhớ. “Tôi sẽ cho các bạn xem một chùm các bức tranh, và tôi sẽ chiếu rất, rất nhanh,” anh ta tuyên bố, cố nhấn giọng trước đám thiếu niên ồn ào. “Tôi muốn các bạn gắng nhớ càng nhiều càng tốt.” Anh ta nhấn một nút trên điều khiển, đèn trần mờ đi. Một chuỗi hình ảnh bắt đầu chạy vụt qua màn hình máy chiếu trước phòng, mỗi hình chỉ lưu lại chưa đầy nửa giây. Có một hình Muhammad Ali đang đứng trong hân hoan chiến thắng trước Sonny Liston. Rồi một hình những thanh tạ. Rồi dấu chân Neil Armstrong trên mặt trăng. Rồi bìa cuốn sách Phả hệ của đạo đức (On the Genealogy of Morals) của Friedrich Nietzsche. Và một bông hồng đỏ. Có ba mươi tấm hình như vậy, mỗi hình hiện ra và biến mất nhanh đến nỗi chúng tôi không dám chắc có thể nhớ được hình nào không, đừng nói gì đến tất cả. Nhưng tôi ráng hết mức để bắt vài chi tiết từ mỗi hình và ghi chú lại trong đầu. Sau tấm cuối cùng, hình một con dê, bức tường trắng trơn và đèn sáng trở lại. “Giờ, các bạn nghĩ mình có thể nhớ được tất cả tấm hình đó không?” Ed hỏi chúng tôi. Một cô bé ngồi ngay trước tôi kêu lên đầy mỉa mai, “Không đời nào!” gây tiếng cười khúc khích cho đám bạn. “Nói hay lắm!” Ed reo lên đáp trả, rồi nhìn xuống đồng hồ xem giờ. Tất nhiên, điểm chính yếu của bài tập này - còn có thể là gì khác nữa đây - là chúng tôi sẽ có thể nhớ tất cả những hình đó. Cũng như cô bé ngồi đằng trước, tôi thấy thật khó mà tin nổi. Sau khi chờ ba mươi phút để đường cong lãng quên làm cái việc không thể tránh khỏi là xóa sổ những hình ảnh chúng tôi được nhìn chớp nhoáng kia, Ed đưa ra một loạt hình mới. Lần này, có hai tấm hình trên màn ảnh. Một là tấm hình chúng tôi đã nhìn lúc trước https://thuviensach.vn và tấm kia chúng tôi chưa nhìn thấy: Muhammad Ali bên trái và viên thuốc Alka-Seltzer đang sủi bọt xì xèo bên phải. Anh ta đề nghị chúng tôi chỉ tấm hình đã được xem. Quá dễ. Chúng tôi đều biết mình đã thấy Muhammad Ali chứ không phải những viên thuốc Alka-Seltzer. “Các bạn không bất ngờ là mình lại nhớ dễ dàng vậy sao?” Ed hỏi, trước khi chuyển sang hình khác: một con nai bên trái, và cuốn sách Nietzsche bên phải. Tất cả chúng tôi cũng đều biết hình đúng. Anh ta đi hết ba mươi tấm hình, và mọi người trong phòng đều nhận ra hình nào nằm trong số những bức ảnh mà chúng tôi đã xem trước đó. “Và đây mới là thứ làm say lòng người,” Ed nói, đi qua đi lại trông rất ra dáng trước khán phòng lót vải sơn. “Chúng ta có thể làm thế này với cả chục ngàn tấm hình, và các bạn có thể thực hiện gần như chẳng kém gì. Trí nhớ của các bạn đối với hình ảnh là tốt như vậy đấy.” Anh ta nhắc đến những thí nghiệm thường được trích dẫn, thực hiện vào những năm 1970, khi đó người ta cũng sử dụng chính bài kiểm tra nhận dạng hình ảnh mà chúng tôi đã làm nhưng thay vì ba mươi hình, các nhà nghiên cứu yêu cầu đối tượng nhớ mười ngàn hình. (Phải mất đúng một tuần mới làm xong kiểm tra.) Như vậy trí óc buộc phải ghi dấu rất nhiều hình ảnh, mà, nhất là chỉ được nhìn mỗi hình một lần. Vậy mà, các nhà khoa học phát hiện ra rằng mọi người có thể nhớ đến hơn 80 phần trăm những gì họ đã nhìn. Trong một nghiên cứu gần đây hơn, bài kiểm tra như vậy cũng được thực hiện với 2.300 hình ảnh, nhưng thay vì đề nghị mọi người chọn hình một trong hai hình là Muhammad Ali hay viên thuốc sủi bọt Alka-Seltzer (một lựa chọn dễ dàng, dù Cassius Clay (tên khai sinh của Muhammad Ali) có sôi sục đến thế nào, họ phải chọn giữa những hình ảnh gần như giống hệt nhau: một xấp những tờ năm đô la và một xấp những tờ một đô la; xe điện màu xanh và xe điện màu đỏ, tạ tay cầm nhỏ và tạ tay cầm to. Thậm chí khi hai hình ảnh chỉ có một chi tiết khác biệt nho nhỏ, mọi người vẫn nhớ được hình đúng chính xác đến 90 phần trăm. Những con số đó quả thật đáng kinh ngạc, nhưng tôi nhận ra rốt cục chúng chỉ lượng hóa một điều tôi đã biết nhờ bản năng: trí nhớ của chúng ta làm việc hiệu quả kinh hồn. Trong tất cả những kêu ca về khiếm khuyết trí nhớ - nào là để chìa khóa không đúng chỗ, quên tên người này người khác, nhiều việc nói sắp ra miệng rồi tự nhiên lại quên - thì khiếm khuyết lớn nhất có lẽ là: ta quên mất rằng thật ra mình chẳng mấy khi quên. “Đây là điều kỳ diệu nhất về bài kiểm tra tôi vừa làm với các bạn,” Ed tuyên bố. “Sau mấy năm nữa, nếu ta thực hiện lại bài kiểm tra này và hỏi các bạn bức hình nào bạn đã thấy từ trước, thường bạn sẽ vẫn chỉ ra được bức hình đúng. Đâu đó trong đầu bạn vẫn còn lưu dấu về mọi thứ bạn từng nhìn thấy.” Nhận định khá táo bạo và có vẻ đáng ngờ, tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm nữa. Chính xác là trí nhớ của chúng ta tốt đến mức nào? Tôi tự hỏi. Lẽ nào chúng ta có khả năng nhớ tất cả chăng? Ý niệm rằng bộ não không thực sự quên điều gì chắc chắn đã hàm ẩn trong cách chúng ta nói về trí nhớ. Những ẩn dụ chúng ta thường dùng để mô tả trí nhớ - tấm hình, máy ghi âm, gương, máy tính - tất cả đều gợi sự chính xác của máy móc, như thể trí óc là một kẻ sao chép tỉ mỉ những trải nghiệm. Thực ra, mãi đến gần đây tôi mới biết hầu hết các nhà tâm lý học đều ngờ rằng bộ não chúng ta thực sự có chức năng là một cái máy ghi hoàn hảo - rằng những ký ức cả một đời người được lưu đâu đó trong bộ não, và nếu chúng không thể được tìm thấy thì không phải vì chúng đã biến mất, mà bởi chúng ta đặt chúng nhầm chỗ. Trong một bài báo thường được trích dẫn, xuất bản năm 1980, nhà tâm lý học https://thuviensach.vn Elizabeth Loftus thăm dò các đồng nghiệp và phát hiện ra rằng 84 phần trăm trong số họ đồng ý với nhận định này: “Mọi thứ chúng ta học được được lưu trữ vĩnh viễn trong bộ não, mặc dù đôi khi ta không tiếp cận được một số chi tiết cụ thể. Nhờ thuật thôi miên, hay những kỹ thuật đặc biệt khác, những chi tiết không thể tiếp cận được đó cuối cùng có thể khôi phục lại. Loftus còn viết rằng niềm tin này xuất phát từ một loạt thí nghiệm được một nhà giải phẫu thần kinh tên Wilder Penfield thực hiện từ những năm 1934 đến 1934. Penfield dùng các cực dò điện kích thích bộ não những bệnh nhân động kinh trong khi họ nằm tỉnh táo trên bàn mổ, bộ não lộ ra. Ông đang cố xác định nguồn của cơn động kinh để tìm cách chữa trị, rồi ông phát hiện ra rằng khi những đầu cực điện chạm vào những phần nhất định của thùy thái dương, điều bất ngờ xảy ra. Các bệnh nhân bắt đầu mô tả lại rõ ràng những ký ức lãng quên từ lâu. Khi ông chạm lại cùng điểm đó, ông thường nghe được cùng một ký ức. Dựa trên những thí nghiệm này, Penfield tin rằng bộ não ghi lại mọi thứ nó tiếp nhận ở mọi mức độ tập trung ý thức khác nhau, và việc ghi lại này là vĩnh viễn. Nhà tâm lý học người Hà Lan, Willem Wagenaar cũng tin như vậy. Từ năm 1978 đến 1984, mỗi ngày ông ghi vào nhật ký một hoặc hai sự kiện đáng nhớ nhất xảy ra hôm ấy. Với mỗi sự kiện, ông ghi lại điều đã xảy ra, ai liên quan, nơi xảy ra, và thời điểm - mỗi sự kiện ở trên một tấm thẻ khác nhau. Trong năm 1984, ông bắt đầu tự kiểm tra để xem liệu mình có thể nhớ được bao nhiêu trong sáu năm đó. Ông sẽ rút ra ngẫu nhiên một tấm thẻ xem mình có nhớ gì về sự kiện trong ngày đó không. Ông thấy rằng mình có thể nhớ gần như mọi thứ xảy ra - đặc biệt là những sự kiện gần đây - với chỉ một vài đầu mối gợi ý. Nhưng khoảng 20 phần trăm những ký ức cũ nhất dường như hoàn toàn biến mất. Những sự kiện này dù được mô tả trong nhật ký của ông bỗng trở nên hoàn toàn xa lạ, như thể chúng xảy ra với một ai đó khác. Nhưng những ký ức đó có thực sự mất đi không? Wagenaar không tin như vậy. Ông quyết định nhìn lại mười sự kiện mà ông tin mình đã hoàn toàn quên, trong đó có đề cập đến sự hiện diện của người khác. Ông tìm gặp những người đó và hỏi họ về những chi tiết có thể giúp ông nhớ lại những ký ức đã mất. Trong mỗi trường hợp, khi được khơi gợi đúng mức, có người sẽ cung cấp được một chi tiết giúp Wagenaar khôi phục lại phần ký ức bị lấp. Không một ký ức nào của ông thực sự biến mất. Ông kết luận rằng “từ chuyện này người ta không thể nói có sự kiện nào bị lãng quên hoàn toàn.” Dầu vậy, trong ba thập niên qua, hầu hết các nhà tâm lý đã trở nên bớt lạc quan về chuyện chúng ta lưu giữ được ký ức đầy đủ về mọi chuyện trong quá khứ, chỉ còn chờ được đánh thức. Từ nghiên cứu của các nhà khoa học thần kinh, một vài bí ẩn về bản chất thực sự của trí nhớ đã bắt đầu hé lộ, và rõ ràng là việc các ký ức phai mờ dần và cuối cùng biến mất theo thời gian là một hiện tượng sinh lý có thực xảy ra trong bộ não ở cấp độ tế bào. Và hầu hết các nhà khoa học giờ đây đồng ý rằng những thí nghiệm của Penfield đã gọi ra những ảo giác - kiểu như cảm giác gặp cùng một trải nghiệm từng có trước đây (dejà vu) hoặc một giấc mơ hơn là ký ức thực sự. Tuy nhiên, sự tái xuất hiện đột ngột của những đoạn ký ức về chuyện trong quá khứ vốn đã bị lãng quên từ lâu cũng là một trải nghiệm khá thường gặp, và vẫn tồn tại quan điểm cho rằng chỉ cần một đầu mối hợp lý, chúng ta có thể bằng cách nào đó hồi tưởng lại từng mẩu nhỏ thông tin đã đi vào bộ não. Thực sự, có lẽ nhận thức sai lầm phổ biến nhất về trí nhớ con người - điều mà Ed thường cười nhạo - ấy là một số người có trí nhớ hình ảnh. Khi tôi căn vặn điều đó, anh ta giãi bày rằng có khi đang ngủ giật mình choàng dậy, toát mồ hôi lạnh, chỉ sợ ngày nào đó một người có trí nhớ hình ảnh đọc được trên báo chí tin về https://thuviensach.vn Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới liền xuất hiện và hạ anh ta lẫn tất thảy đồng nghiệp. Anh ta yên tâm khi biết hầu hết các nhà khoa học đều nhất trí chuyện này không thể xảy ra. Cho dù nhiều người tự nhận có trí-nhớ-hình-ảnh, thì không có bằng chứng nào cho thấy có người thực sự lưu giữ được những pô-ảnh-chụp-bằng-tâm-trí và nhớ lại với sự chính xác hoàn hảo. Thực ra, chỉ duy nhất một trường hợp trí nhớ hình ảnh từng được mô tả trong các tài liệu khoa học. Năm 1970, một nhà khoa học thị giác ở Harvard tên Charles Stromeyer III đã đăng trên Nature, một trong những tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới, trường hợp về một phụ nữ trẻ tên Elizabeth, sinh viên Harvard, người có thể thực hiện một kỳ tích đáng kinh ngạc. Stromeyer cho mắt phải Elizabeth xem tấm hình có hàng chục ngàn dấu chấm ngẫu nhiên, và ngày hôm sau, cho mắt trái cô ấy xem một hình khác cũng gồm những dấu chấm. Kinh ngạc thay, Elizabeth có thể ghép hai hình ảnh này trong tâm trí, như thể chúng là một trong những “ảnh ảo” nhìn ra từ tấm hình toàn những chấm ngẫu nhiên, một trò chơi nổi lên thành mốt vào những năm 1990. Khi ghép chúng lại, cô sinh viên cho biết mình thấy một hình duy nhất - hình ảnh mới do hai hình cũ chồng lên nhau. Dường như Elizabeth là bằng chứng thuyết phục cho thấy trí nhớ hình ảnh có khả năng tồn tại. Nhưng rồi, bất ngờ và kịch tính như phim, Stromeyer kết hôn với cô, và cô không bao giờ là đối tượng của thí nghiệm nào nữa. Năm 1979, một nhà nghiên cứu khác là John Merritt đã quyết định xác thực những nhận định của Stromeyer. Ông đăng một bài trắc nghiệm trí nhớ hình ảnh trên các báo và tạp chí toàn quốc. Nó gồm hai tấm hình với những điểm chấm ngẫu nhiên. Merritt hy vọng sẽ xuất hiện người có khả năng tương tự như Elizabeth và chứng minh rằng trường hợp của cô không phải là độc nhất. Ông ước tính có gần một triệu người cố thử làm trắc nghiệm này. Trong số đó, ba mươi người có câu trả lời đúng, và mười lăm người đồng ý để Merritt nghiên cứu. Nhưng khi làm trắc nghiệm dưới con mắt quan sát trực tiếp của các nhà khoa học, không ai đạt thành công như Elizabeth đã làm. Có quá nhiều tình tiết bất ổn xung quanh trường hợp Elizabeth - cuộc hôn nhân giữa đối tượng và nhà khoa học, thiếu các thí nghiệm kiểm chứng thêm, không thể tìm ra ai khác có khả năng như cô - từ đó các nhà khoa học kết luận rằng những phát hiện của Stromeyer có gì đó mờ ám. Ông ta phản bác. “Chúng tôi toàn toàn chắc chắn về các dữ liệu của mình,” ông ta nói với tôi qua điện thoại. Song ông thừa nhận, nghiên cứu của ông với chỉ một đối tượng nữ “không phải là bằng chứng vững chắc chứng tỏ còn những người khác cũng có trí nhớ hình ảnh.” Từ thuở nhỏ, tôi đã say mê những câu chuyện về những người Do Thái chính thống cực đoan thuộc toàn bộ 5.422 trang kinh sách Talmud Babylon, và khi bạn lật giở bất kỳ trang nào trong sáu mươi ba cuốn kinh sách, họ có thể kể ra những từ nào có trên trang nào. Tôi luôn cho rằng những câu chuyện như vậy chỉ là một dạng truyền thuyết. Nhưng hóa ra, cũng như Atom Cường tráng, những chuyên gia kinh Talmud được xem là các vị thánh nhân Do Thái. Năm 1917, nhà tâm lý học George Stratton viết một nghiên cứu trên Tạp chí Tâm lý học về một nhóm học giả kinh Talmud người Ba Lan, gọi là Shass Pollak (theo nghĩa đen, “Gậy Talmud”), họ nổi tiếng vì trí nhớ chính xác. Nhưng như ông viết trong phần nhận định, dù nhóm Shass Pollak có trí nhớ ấn tượng như vậy nhưng “không ai nổi trội trong thê giới học giả.” Không phải trí nhớ hình ảnh giúp nhóm Shass Pollak, mà chính là sự chuyên tâm học tập của họ. Nếu một người bình thường quyết tâm dành cả đời mình để ghi nhớ 5.422 trang chữ, thì cuối cùng anh ta cũng sẽ đạt thành quả khá tốt. Nên nếu trí nhớ hình ảnh chỉ là một truyền thuyết, vậy nhà báo S người Nga thì sao? Nếu https://thuviensach.vn anh ta không chụp các hình ảnh lại trong đầu, thì chính xác anh ta đã làm gì? Trí nhớ kỳ lạ của S không chỉ là một đặc điểm dị thường duy nhất về bộ não của anh. Anh cũng bị một dạng rối loạn giác quan hiếm gặp, gọi là chứng giác quan liên đới (synesthesia), nó khiến các giác quan của anh liên kết lại với nhau một cách kỳ quặc. Mỗi âm thanh S nghe đều mang một màu sắc riêng, hình thù riêng, và đôi khi mùi vị riêng, và nó kích thích “một hỗn họp cảm giác phức tạp.” Có những từ “trắng và mượt” những từ khác thì “có màu cam và sắc như mũi tên.” Giọng của đồng nghiệp Luria, nhà tâm lý học nổi tiếng Lev Vygotsky, là “màu vàng dễ vỡ.” Giọng của nhà nhiếp ảnh Sergei Eisenstein giống như “một ngọn lửa với những xơ sợi thời ra.” Những từ ngữ làm vụt lên trong S sự tưởng tượng tâm trí. Khi bạn hay tôi nghe ai đó nhắc đến từ “con voi” hay đọc từ này trên một trang sách, chúng ta hiểu ngay rằng đó là sự ám chỉ đến một loài vật to lớn, màu xám có chân lớn và cái vòi quá cỡ. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, chúng ta không thực sự dựng lên hình ảnh của một con voi trong đầu. Nếu muốn thì chúng ta vẫn có thể gọi lên được, nhưng cần phải gắng một chút, và trong quá trình trò chuyện hay đọc bình thường, việc này không cần thiết. Đó chính là điều S làm với mỗi từ anh nghe được, một cách tự động và ngay tức thì. Anh không thể cưỡng lại. “Khi tôi nghe từ xanh lục, thì một chậu hoa màu xanh xuất hiện; với từ đỏ, thì tôi thấy một người đàn ông mặc sơ mi đỏ đang tiến lại gần tôi; với màu xanh dương, có nghĩa là một hình ảnh ai đó đang vẫy lá cờ màu xanh từ một ô cửa sổ,” anh bảo Luria. Bởi mỗi từ đều gợi đến hình ảnh tổng hợp và đôi khi kèm theo cả mùi và vị nữa - S như sống trong cơn ác mộng, tỉnh thức đó mà vẫn bị tách khỏi thực tại. Khi thế giới mở ra trước mắt anh, một thế giới khác của hình ảnh cũng nở rộ trong đầu anh. Những hình ảnh này đã “chiếm cứ” tâm trí S mạnh đến nỗi nhiều lúc không thể phân biệt chúng với thực tại. “Quả thật, khó mà nói đối với anh ta cái gì là thực hơn: thế giới tưởng tượng anh ta sống, hay thế giới thực tại mà anh ta chỉ là người khách vãng lai,” Luria viết, S chỉ cần tưởng tượng mình đang chạy theo một con tàu đã đủ khiến nhịp tim nhanh hơn, hay hình dung đưa bàn tay mình vào lò vi sóng nóng bỏng là nhiệt độ cơ thể tăng lên. Anh bảo thậm chí có thể giảm cơn đau bằng những hình ảnh: “Ví dụ, tôi đi khám nha sĩ... tôi ngồi đó và khi cơn đau bắt đầu, tôi cảm thấy nó... một sợi dây nhỏ, màu đỏ cam. Tôi bực mình vì biết nếu tiếp tục sợi dây sẽ to dần ra cho đến khi chuyển thành một khối đặc... Nên tôi cắt sợi dây, làm nó nhỏ dần nhỏ dần, cho đến khi chỉ là một điểm bé xíu. Rồi cơn đau biến mất.” Và với S, thậm chí những con số cũng có cá tính riêng: “Cứ lấy số 1 làm ví dụ. Đó là một người đàn ông kiêu hãnh, vạm vỡ; số 2 là một người phụ nữ can đảm; số 3 là một người u sầu (tại sao, tôi chẳng biết); số 6, một người đàn ông có bàn chân sưng tấy; số 7, một người đàn ông có râu quai nón; số 8, một phụ nữ đậm người. Với số 87, điều tôi nhìn thấy là một phụ nữ đẫy đà và một người đàn ông đang vân vê râu.” Chứng giác quan liên đới làm các con số trở nên sống động đối với S, nhưng mặt khác anh ta lại gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm trừu tượng và ẩn dụ. “Tôi chỉ có thể hiểu được những gì tôi hình dung ra,” anh giải thích. Những từ như “bất tận” và “không gì cả” nằm ngoài tầm hiểu biết của anh. “Lấy ví dụ từ điều gì đó. Với tôi, nó giống như một đám mây dày có màu khói. Khi tôi nghe từ không gì cả, tôi cũng nhìn thấy một đám mây, nhưng mỏng hơn, hoàn toàn trong suốt. Và khi tôi cố nắm lấy một phần nhỏ của không gì cả này, thì tôi bắt được phần nhỏ bé nhất của không gì cả.” S không thể tư duy ẩn dụ hay trừu tượng. Một cụm từ như “cân nhắc từ ngữ” sẽ gợi hình ảnh những cái cân, chứ không phải sự thận trọng. Thơ ca thì anh hầu như không đọc nổi, trừ phi nó hoàn toàn nghĩa đen. Cả những câu chuyện giản đơn cũng thành khó hiểu, bởi anh sa lầy khi không cưỡng được mà cố hình ảnh hóa từng từ https://thuviensach.vn hoặc bắt bộ não liên tưởng đến những hình ảnh, ký ức khác có liên quan. Tất cả những ký ức của chúng ta, giống như của S, bị ràng buộc vào nhau theo một mạng lưới những liên kết. Đây không đơn thuần một ẩn dụ, mà là một phản ánh về cấu trúc vật chất của bộ não. Cái khối chừng l,36kg này nằm cân đối trên cột sống, được hình thành từ đâu khoảng 100 tỉ tế bào thần kinh, mỗi tế bào có thể tạo từ năm đến mười ngàn kết nối với các tế bào khác. Một ký ức, ở cấp độ sinh lý học cơ bản nhất, là một tổng hòa những kết nối giữa các tế bào thần kinh. Mỗi cảm giác mà chúng ta nhớ, mỗi suy nghĩ mà chúng ta nghĩ, đều làm biến chuyển bộ não bằng cách thay đổi những kết nối trong hệ thống mênh mông kia. Lúc bạn đọc đến cuối câu này, bộ não của bạn đang thay đổi về mặt vật chất. Nếu nghĩ về từ “cà phê” khiến bạn nghĩ đến màu đen, bữa ăn sáng và vị đắng, đó là một chức năng của một tầng các xung động điện tử nhảy nhót quanh tuyến đường mòn có thực trong bộ não, là thứ liên kết một nhóm tế bào thần kinh mã hóa khái niệm cà phê với các tế bào chứa những khái niệm màu đen, ăn sáng, và vị đắng. Các nhà khoa học chỉ biết được đến đó. Nhưng chính xác làm thế nào một nhóm các tế bào có thể “chứa” một ký ức thì vẫn là một câu hỏi hóc búa nhất của ngành khoa học thần kinh. Dù có những tiến bộ trong những thập niên gần đây, vẫn không ai thực sự nhìn thấy một ký ức trong não người. Những tiến bộ về công nghệ hình ảnh cho phép các nhà khoa học thần kinh hiểu được hình thế cơ bản của bộ não, và nghiên cứu tế bào thần kinh đã cho chúng ta hình dung rõ ràng về điều xảy ra trong và giữa các tế bào thần kinh, nhưng đến nay khoa học vẫn gần như không có lấy một manh mối gì về hệ thống mạch điện trong vỏ não, lớp vỏ nhăn ngoài bộ não cho phép chúng ta hoạch định tương lai, làm phép chia trên giấy, làm thơ và giữ hầu hết những ký ức của chúng ta. Khi nói đến hiểu biết về bộ não, chúng ta giống như kẻ ngồi trên máy bay nhìn xuống thành phố. Chúng ta có thể nói đâu là khu công nghiệp, đâu là khu dân cư, đâu là sân bay, đâu là các mạch giao thông chính, nơi bắt đầu ngoại ô. Chúng ta cũng biết, rất chi tiết, những đơn vị riêng lẻ của thành phố là gì (các công dân, và trong ẩn dụ này là tế bào thần kinh) và trông như thế nào. Nhưng về đại thể, chúng ta không thể biết mọi người đi đâu khi họ đói, người ta làm gì để sống, hay hành trình hoạt động của một người cụ thể là như thế nào. Có thể hiểu được bộ não ở góc cận cảnh và từ xa. Còn điều nằm ở giữa đó - vấn đề ý nghĩ và trí nhớ, ngôn ngữ của bộ não - vẫn là một bí ẩn sâu kín. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng: bản chất liên kết phi tuyến tính của bộ não khiến chúng ta không thể tìm kiếm các ký ức một cách có trật tự. Một ký ức chỉ nhảy trực tiếp vào nhận thức nếu nó được gọi ra bằng ý nghĩ và nhận thức khác - một nốt ngẫu nhiên trong mạng lưới liên kết gần như vô tận. Nên khi một ký ức mất đi hay khi một cái tên “đã tới lưỡi mà không gọi ra nổi”, thì việc săn tìm nó sẽ gây nản lòng và thường là vô ích. Chúng ta phải mò mẫm trong bóng tối, với đèn pin trong tay, để tìm ra đầu mối có thể dẫn chúng ta quay lại mẩu thông tin đang tìm kiếm - Tên cô ấy bất đầu bằng chữ L... Cô ấy là họa sĩ... Tôi gặp cô ấy tại bữa tiệc đó cách đây vài năm - cho đến khi một trong những ký ức kia gợi ra trong đầu ký ức ta đang tìm. À, đúng rồi, tên cô ấy là Lisa! Vì ký ức của chúng ta không theo một logic tuyến tính nào, chúng ta không thể tìm kiếm chúng theo thứ tự liên tục. Nhưng S lại có thể. Ký ức của S là một cơ chế có trật tự, như một cuốn sổ danh thiếp. Mỗi phần thông tin anh nhớ được gán cho một địa chỉ trong bộ não. Giả sử tôi đề nghị bạn ghi nhớ danh sách những từ sau đây: bia, xe tải, trường học, giày, kịch, rác, dưa hấu. Bạn hẳn sẽ có thể nhớ tất cả bảy từ đó, nhưng chưa chắc bạn nhớ được chúng theo trật tự. S lại không như vậy. Với S, mẩu thông tin đầu tiên trong danh sách https://thuviensach.vn luôn, và không bao giờ sai, được gắn chặt với mẩu thông tin thứ hai, và nhất định theo sau đó là mẩu thông tin thứ ba. Dù anh ta có học thuộc Thần Khúc của Dante hay những công thức toán học thì ký ức của anh ta luôn được lưu theo những chuỗi tuyến tính. Đó là lý do anh ta có thể đọc lại những bài thơ một cách dễ dàng theo chiều xuôi hay ngược. S tổ chức các ký ức của mình rất chặt chẽ, bằng cách lập sơ đồ chúng theo các cấu trúc và vị trí mà anh ta đã biết rất rõ. “Khi S đọc một chuỗi dài các từ, mỗi từ sẽ gợi ra một hình ảnh. Và do chuỗi này khá dài, anh ta phải tìm cách phân bổ những hình ảnh thành một chuỗi hoặc hàng trong đầu,” Luria viết. “Thường thì... anh ta sẽ “phân bổ” chúng dọc theo một con lộ hay tuyến đường anh ta đã hình dung ra trong tâm trí.” Khi anh ta muốn đưa điều gì vào bộ nhớ, S chỉ cần làm một chuyến đi tưởng tượng dọc phố Gorky ở Moscow, hoặc nhà anh ta ở Torzhok, hay một nơi khác anh ta từng đến, và đặt mỗi hình ảnh lại một điểm khác nhau trên đường đi. Một hình ảnh có thể được đặt ở của một ngôi nhà, bức ảnh khác sẽ gần cột đèn, một bức khác ở trên cọc rào, bức khác ở trong một khu vườn, bức nữa ở trên khung của sổ. Tất cả những điều này xảy ra trong đầu anh ta một cách dễ dàng như thể anh ta đang đặt những vật có thực dọc theo một con đường có thực. Nếu được đề nghị ghi nhớ những chữ đó - bia, xe tải, trường học, giày, kịch, rác, và dưa hấu - anh ta sẽ gợi ra hình ảnh liên quan đến mỗi từ, và rải chúng dọc theo một trong các con đường trong tâm trí. Khi S muốn nhớ lại thông tin vào một ngày, tháng, năm, hoặc một thập niên sau, anh ta chỉ cần đi ngược lại con đường nơi anh ta đã lưu giữ những ký ức đó, và anh ta sẽ thấy mỗi hình ảnh ngay tại vị trí anh ta đặt chúng lúc ban đầu. Khi S quên điều gì đó, mà điều này rất hiếm hoi, “sự bỏ qua này... không tổn hại trí nhớ mà thực ra là tổn hại nhận thức,” Luria viết. Ví dụ như, S quên từ “bút chì” trong danh sách dài những từ anh ta lẽ ra đã nhớ. Anh ta mô tả làm sao lại quên như thế này: “Tôi đặt tấm hình bút chì gần một hàng rào... hàng rào ở dưới phố, ông biết đấy. Chuyện là tấm hình đó lại bị lồng vào hình ảnh hàng rào, và tôi bước qua mà không nhận ra điều đó.” Một trường hợp khác, anh ta quên từ “trứng.” “Tôi đã đặt nó trên một bức tường trắng và nó bị lẫn vào nền tường,” anh ta giải thích. Trí nhớ của S như một con quái vật nuốt tất cả mọi thứ được nhồi vào không hề phân biệt, và không biết nhả ra những mẩu thông tin tầm thường chẳng đáng giữ lại. Thách thức lớn nhất S phải đối mặt là học được điều Luria gọi là “thuật lãng quên.” Những hình ảnh phong phú mà mỗi cảm xúc tạo ra bám dai dẳng lại trong đầu một cách khó chịu. Anh ta đã thử các kỹ thuật khác nhau để xóa chúng khỏi đầu mình. Anh ta thử viết lên giấy, với hy vọng sẽ không còn cảm thấy cần nhớ chúng nữa. Khi điều đó không tác dụng, anh ta thử đốt những mẩu giấy đi, nhưng anh ta vẫn có thể thấy những con số lởn vởn trong đám tro tàn. Cuối cùng, anh ta chợt đốn ngộ. Vào một đêm, khi cảm thấy khó chịu vì một biểu chữ số trước đó đã nhớ, anh ta tìm ra bí quyết lãng quên. Anh ta chỉ cần thuyết phục mình rằng thông tin anh ta muốn quên là vô nghĩa. “Nếu tôi không muốn biểu đồ đó xuất hiện, nó sẽ không xuất hiện,” anh ta kêu lên. “Tôi chỉ cần nhận ra điều này là được!” Có người hẳn sẽ cho rằng với bộ nhớ hấp thụ như vậy S sẽ trở thành một nhà báo xuất sắc. Tôi tưởng tượng nếu tôi có thể nhớ mà không cần ghi chép lại, và cần là có sẵn trên tay mọi sự việc tôi đã tiêu hóa, thì tôi làm công việc của mình tốt hơn rất nhiều. Tôi sẽ giỏi hơn trong tất cả mọi việc. Nhưng về mặt nghề nghiệp S lại là một thất bại. Nghiệp báo của anh ta chẳng kéo dài được https://thuviensach.vn lâu và anh không bao giờ có thể giữ một công việc ổn định. Theo nhận định của Luria, anh “như một người không bến neo đậu, sống với kỳ vọng rằng bất kỳ lúc nào cũng sẽ một điều đặc biệt tốt đẹp xảy đến với mình.” Cuối cùng, tình trạng của anh khiến anh chẳng làm được việc gì ngoài một diễn viên sân khấu, một thứ của hiếm trên sàn kịch như như hình tượng chuyên gia trí nhớ trong phim The 39 Steps của Alfred Hitchcock. Người có trí nhớ tốt nhất thế giới đã ghi nhớ quá nhiều. Trong cuốn truyện ngắn của mình Funes, kẻ ghi nhớ; Jorge Luis Borges mô tả một phiên bản tưởng tượng của S, một người có trí nhớ bất hoại và đồng thời là người mắc khuyết tật không có khả năng quên. Anh ta không thể phân biệt giữa điều tầm thường và điều quan trọng. Nhân vật Funes của Borges không biết sắp xếp ưu tiên, không thể khái quát hóa. Anh ta “gần như không thể có ý nghĩ tổng quát, trừu tượng.” Cũng giống S, trí nhớ của anh ta quá tốt. Có lẽ, như Borges kết luận trong truyện của mình, rằng lãng quên, chứ không phải ghi nhớ, mới là bản chất làm nên con người. Để hiểu thế giới, chúng ta phải gạn lọc nó.” Borges viết, “Suy nghĩ chính là lãng quên.” Dù trí nhớ khổng lồ của S đối với những sự kiện có vẻ thật phi phàm, thì thực ra anh ta đang chỉ đang tận dụng trí nhớ không gian rất phát triển mà tất cả chúng ta đều sở hữu. Nếu bạn đến thăm London, bạn thỉnh thoảng sẽ bắt gặp trên đường những cậu thanh niên (và ít thường xuyên hơn là phụ nữ) trên những chiếc xe máy tay ga, thoắt ẩn thoắt hiện trên luồng giao thông trong khi vẫn nhìn bản đồ gắn vào tay lái. Những tay lái sốt sắng học hành này đang rèn luyện để trở thành tài xế taxi London. Trước khi được nhận chứng chỉ của sở Giao thông Công chính, các tài-xế-đang-rèn-luyện này phải mất từ hai đến bốn năm ghi nhớ các địa điểm và cấu trúc giao thông của 25.000 tuyến phố trong thành phố rộng lớn và dễ lạc này cũng như vị trí của 1.400 điểm tham quan. Cuộc tập huấn của họ kết thúc với một cuộc thi kinh hoàng có tên “Hiểu biết,” trong đó họ không những phải chỉ ra con đường ngắn nhất giữa hai điểm trong khu vực đô thị, mà còn nêu tên những địa điểm đáng chú ý dọc tuyến đường đó. Cứ mười người thì chừng ba người nhận được chúng chỉ “Hiểu biết.” Năm 2000, Eleanor Maguire, nhà khoa học thần kinh ở Đại học London, muốn tìm hiểu hệ quả, nếu có, của việc lái xe quanh mê cung thành phố London đối với bộ não các tài xế taxi. Khi bà đưa mười sáu tài xế vào phòng thí nghiệm và kiểm tra bộ não của họ bằng máy chụp MRI (Cộng hưởng từ), bà phát hiện ra một khác biệt quan trọng và ngạc nhiên. Hồi hải mã dưới bên phải, phần não bộ liên quan đến định vị không gian, lớn hơn 7 phần trăm so với người bình thường - một khác biệt nhỏ nhưng rất có ý nghĩa. Maguire kết luận rằng quá trình tìm đường quanh London đã thay đổi cấu trúc vật lý của bộ não. Tài xế lái xe càng làm việc lâu năm trên đường, ảnh hưởng lại càng rõ ràng hơn. Não là một cơ quan có thể biến đổi, trong những giới hạn nhất định nó có thể tự tổ chức lại và thích nghi với những dạng mới của cảm xúc đầu vào, một hiện tượng được gọi là tính dẻo của bộ não (neuroplasticity). Từ lâu người ta đã nghĩ rằng, não người lớn không thể sản xuất tế bào mới - rằng quá trình học có làm các khớp thần kinh tự tổ chức lại và những mối liên kết mới giữa các tế bào thần kinh hình thành, nhưng cấu trúc giải phẫu cơ bản của bộ não vẫn ít nhiều có tính ổn định. Nghiên cứu của Maguire cho thấy quan điểm từ xưa đó không chính xác. Sau nghiên cứu mang tính đột phá về tài xế taxi London, Maguire chuyển hướng nghiên cứu sang các vận động viên trí óc. Bà lập nhóm cùng Elizabeth Valentine và John Wilding, các tác giả của chuyên khảo học thuật Trí nhớ siêu phàm (SuperiorMemory), để nghiên cứu mười cá nhân đạt thành tích cao nhất ở Giải Vô địch Thế giới Trí nhớ. Họ muốn tìm https://thuviensach.vn xem bộ não của những chuyên gia trí nhớ - giống như tài xế London - có khác biệt về cấu trúc so với người thường chúng ta không hay chẳng qua họ biết cách sử dụng tốt hơn khả năng ghi nhớ mà tất cả chúng ta sở hữu. Các nhà nghiên cứu cho nhóm các vận động viên trí óc và nhóm đối chứng vào máy chụp MRI và đề nghị họ ghi nhớ những con số có ba chữ số, những chân dung đen trắng và hình ảnh bông tuyết phóng to, trong suốt quá trình đó, bộ não của họ được chụp lại. Maguire và nhóm của bà tưởng rằng có thể phát hiện ra sự khác biệt về mặt giải phẫu học trong bộ não của những nhà vô địch trí nhớ, bằng chứng cho thấy bộ não của họ tự tổ chức lại trong quá trình ghi nhớ nhiều thông tin như vậy. Song khi các nhà nghiên cứu xem lại những dữ liệu hình ảnh: hai nhóm không hề có một khác biệt đáng kể nào về cấu trúc. Bộ não của các vận động viên trí óc dường như không khác gì não của nhóm đối chứng. Hơn nữa, trong từng thí nghiệm về khả năng nhận thức tổng quát, điểm số của các vận động viên trí óc nằm trong ngưỡng thông thường. Các nhà vô địch trí nhớ không hề thông minh hơn, và họ không có bộ não đặc biệt. Khi Ed và Lukas bảo tôi họ là người bình thường, với khả năng trí nhớ bình thường, ấy không hoàn toàn vì họ khiêm tốn. Nhưng có một sự khác biệt rõ rệt giữa bộ não của các vận động viên trí óc và nhóm đối chứng: khi các nhà nghiên cứu xem xét phần nào của bộ não sáng lên khi các vận động viên trí óc ghi nhớ, họ thấy rằng chúng kích hoạt “kết cấu bảng mạch” hoàn toàn khác nhau. Theo hình ảnh MRI chức năng, các vùng của bộ não kém hoạt động ở nhóm đối chứng dường như lại hoạt động quá mức ở nhóm vận động viên trí óc. Ngạc nhiên thay, khi vận động viên trí óc học thông tin mới, họ sử dụng nhiều vùng ở bộ não có liên quan đến hai nhiệm vụ cơ bản: trí nhớ hình ảnh và định vị không gian, gồm cả vùng hồi hải mã phía sau bên phải vốn bị phình to trong bộ não của các tài xế London do tìm đường hàng ngày. Ban đầu, điều này dường như chẳng có ý nghĩa gì. Tại sao các vận động viên trí óc lại dựng lên những hình ảnh trong đầu, khi họ cố ghi nhớ những con số có ba chữ số? Tại sao họ lại định vị không gian như tài xế London khi lẽ ra họ phải nhớ những hình bông tuyết? Maguire và nhóm của bà đề nghị các vận động viên trí óc mô tả chính xác điều diễn ra trong đầu khi họ ghi nhớ. Các vận động viên trí óc thuật lại một chuỗi sự việc nghe gần như y hệt điều S kể đã xảy ra trong đầu anh ta. Dù không phải là người có chứng giác quan liên đói bẩm sinh như S, nhưng các vận động viên trí óc cho biết họ chuyển đổi một cách có ý thức những thông tin cần ghi nhớ thành các hình ảnh rồi phân bổ những hình ảnh đó dọc theo một hành trình không gian quen thuộc. Không như S, họ không làm điều này một cách tự động hay nhờ tài năng bẩm sinh từ bé. Cách thức hoạt động khác thường của bộ não họ, như hình cộng hưởng từ chức năng chỉ ra, là kết quả rèn luyện và thực hành. Những vận động viên trí óc tự học để có thể ghi nhớ được như S. Ed và anh bạn ít lời Lukas, và cái dự án nghe thật “khủng” đẩy trí nhớ của họ đến mức cực hạn làm tôi thích thú. Và họ dường như cũng quan tâm đến tôi, một nhà báo cùng độ tuổi, người có thể sẽ chia sẻ câu chuyện của họ trên một vài tạp chí họ chưa bao giờ nghe đến, vả lại biết đâu đây là bước khỏi đầu con đường làm nhân vật nổi tiếng của họ. Sau bài giảng của Ed ở trường trung học, anh ta mời tôi cùng anh ta và Lukas đến một quán bar gần đó, nơi chúng tôi gặp một nhà làm phim nhiều khát vọng và là bạn cùng phòng với Ed ở trường nội trú, người này đã vác máy quay video 8-mm đi cùng họ khắp New York, ghi lại mỗi cuộc phiêu lưu kỳ khôi của cặp đôi này, cả nỗ lực của Lukas nhằm ghi nhớ một cỗ bài trong năm mươi ba giây đi thang máy lên đài quan sát trên Tòa nhà Empire State. (“Chúng tôi muốn xem liệu thang máy nhanh nhất thế giới có nhanh hơn nhà vô địch nhớ https://thuviensach.vn bài người Áo không,” Ed làm bộ nghiêm trọng. “Kết quả là không.”) Sau vài ly, Ed say sưa kéo tôi vào sâu hơn cái thế giới mờ mịt những bí mật của các vận động viên trí óc. Anh ta đề nghị cho tôi xem những nghi lễ của KL7, một “hội kín của những người ghi nhớ” mà anh ta cùng Lukas sáng lập ở giải vô địch Kuala Lumpur năm 2003, thế thì hội này hiển nhiên là không bí mật đến như vậy. “KL, là Kuala Lumpur hả?” tôi hỏi. “Không, KL là Knights of Learning (Những hiệp sĩ hiểu biết), và bảy là bởi các thành viên ban đầu của hội gồm bảy người,” Lukas giải thích, trong khi nhấp bia miễn phí (anh ta thắng cược cô phục vụ ba cốc bia nhờ trò ghi nhớ cỗ bài). “Đây là một hội quốc tế nhằm phát triển giáo dục.” “Làm thành viên của hội là một danh dự hết sức đặc biệt,” Ed thêm vào. Dù tài sản của hội chỉ hơn hơn một ngàn đô la nằm trong tài khoản ngân hàng của Lukas và ngày càng còm cõi đi, Ed thừa nhận KL7 chưa bao giờ thực sự làm được gì nhiều, ngoại trừ đi uống với nhau một chầu vào bữa tối khi kết thúc các giải đấu. Khi tôi gặng hỏi thêm thông tin, Ed biểu diễn nghi lễ được coi trọng duy nhất trong hội. “Cứ gọi nó là nghi lễ ma quỷ cũng được,” anh ta nói, rồi đề nghị Jonny, nhà làm phim, đếm thời gian. “Chúng ta có đúng năm phút để uống hai ly bia, hôn ba phụ nữ, và ghi nhớ bốn mươi chín chữ số ngẫu nhiên. Tại sao lại bốn chín chữ số? Vì nó là bảy bình phương.” “Tôi khá là bất ngờ, hóa ra vụ này cũng khó phết,” Lukas nói. Anh ta đang mặc một bộ vét màu xám bóng, đeo cái cà vạt còn óng ánh hơn, và không mấy khó khăn thuyết phục cô phục vụ, người mà anh ta vừa thắng cược, cho anh ta ba nụ hôn hờ lên má. “Chặt chẽ ra thì thế là chưa đạt chuẩn, nhưng thôi vẫn tính,” Ed tuyên bố, bia chảy thành dòng xuống cằm anh ta. Anh ta lôi trong túi ra một trang giấy in sẵn những chữ số và xé nó ra thành nhiều mảnh. Ngón tay anh ta vội vã khua nhặt các mẩu vụn cho đến khi gom được bốn mươi chín chữ số, lúc này anh ta đứng lên và lắp bắp, “Coi như xong!” rồi khập khễnh bước đến dãy bàn gần đó; anh ta cố giải thích hoàn cảnh của mình cho ba phụ nữ tóc ánh bạc, họ dường như đã quá độ tuổi để vào vui chơi ở quán bar ầm ĩ này. Thấy thì giờ sắp hết, họ chưa kịp đáp ứng lời khẩn cầu của Ed thì anh chàng đã nghiêng mình qua bàn và đặt môi lên những gò má hóp đỏ ửng kia. Ed quay lại vẻ đắc thắng, vung nắm tay lên và đập tay ăn mừng với tất cả chúng tôi. Anh gọi một chầu bia nữa cho cả bàn. Tôi không rõ ấn tượng của mình về Ed là thế nào. Anh ta, như tôi dần phát hiện ra, là một nhà mỹ học, theo đúng cái nghĩa của Oscar Wilde. Hơn ai hết mà tôi từng gặp, hình như anh ta dự vào cuộc đời như thể đó là một nghệ thuật, và để thực hành một sự thảnh thơi một cách cẩn trọng, có chủ ý. Cảm thức của anh ta về điều được coi là xứng đáng dường như có rất ít điểm chung với cảm thức truyền thống về điều hữu ích, và nếu có một câu châm ngôn chi phối cuộc đời anh ta, thì ấy chính là lời kêu gọi tối cao nhằm làm phong phú thêm những cuộc phiêu lưu ở mọi điểm rẽ cuộc đời. Anh ta là một người biết hưởng thụ thực sự, nhưng mặt khác anh rất khắt khe và nghiêm túc khi làm luận án tiến sĩ về đề tài mối quan hệ giữa trí nhớ và nhận thức, chứng tỏ anh ta có chủ định hoàn thành những điều to tát. Anh ta không đẹp trai theo nghĩa truyền thống, nhưng vào đêm muộn hôm đó tôi quan sát anh ta tiếp cận một phụ nữ trên phố, hỏi xin một điếu thuốc, và vài phút sau https://thuviensach.vn anh ta quay lại với số điện thoại cô gái. Anh kể với tôi “mẹo vặt quán bar thông thường” ấy là cứ lượn lờ quanh “đối tượng”, mời cô nàng đưa ra một “dãy số dài tùy ý,” rồi hứa sẽ mua cho nàng một chai sâm panh nếu anh ta nhớ được chúng. Suốt buổi tối, Ed thết tôi hết chuyện này đến chuyện khác về những cuộc phiêu lưu của anh ta và những rủi ro nhớ đời. Có lần anh ta chân trần lao người qua của sổ một quán bar ở New Zealand để ngăn một kẻ phá rối. Rồi lần anh ta chui vào bữa tiệc của một siêu mẫu ở London (“Lần đó thì dễ hơn, tôi ngồi trên xe đẩy, và tôi có thể diễn trò đi xe một bánh siêu đẳng”). Lần khác anh ta xông vào một bữa tiệc tại Đại sứ quán Anh ở Paris (“Tôi để ý thấy ngài đại sứ theo dấu đôi giày bẩn thỉu của tôi khắp phòng.”) Và làm sao anh ta có thể quên mười hai tiếng đồng hồ đi xin tiền mua vé xe bus ở trung tâm Los Angeles? Lúc ấy, tôi tỏ vẻ hoài nghi về những câu chuyện huyền thoại tự thêu dệt này, nhưng đó là bởi tôi còn chưa biết Ed đủ nhiều để nhận ra ràng anh ta đã nói giảm khá nhiều. Tối hôm đó, sau vài ly nữa, tôi mới nhận ra mình đã dành phần lớn thời gian trong ngày cùng Ed và Lukas và không ai gọi tên tôi lấy một lần, dù tôi chắc tôi đã nói khi tự giới thiệu lúc đầu. Ed nhắc đến tôi trước mặt cô phục vụ như là “anh bạn nhà báo của chúng ta,” và Lukas thì chưa hề nhắc đến tôi. Những cách thoái thác tôi quá rõ. Nhưng trước đó Ed đã dám chắc với tôi rằng anh ta có thể ghi nhớ tên và số điện thoại của mọi cô gái mà anh ta đã gặp. Tôi nghĩ điều đó nghe như một kỹ năng gây ấn tượng giúp người ta tiến xa trong cuộc đời. Người ta bảo Bill Clinton chưa bao giờ quên tên ai, và hãy thử nhìn xem ông ấy tiến xa tới đâu. Nhưng bấy giờ tôi chợt nghĩ rằng từ “có thể” của Ed có phần hơi mập mờ; cũng giống như nói “Anh ta có thể đếm ngược từ một triệu trở xuống” - à vâng, nếu anh ta thật sự muốn. Tôi đã hỏi anh ta có nhớ tên tôi không. “Tất nhiên. Là Josh.” “Họ của tôi?” “Khỉ thật. Anh đã bảo tôi rồi à?” “Đúng vậy, Foer. Josh Foer. Rốt cuộc thì anh cũng là người thường.” “À, vâng -” “Tôi cứ nghĩ anh có cái kỹ thuật thú vị lắm để nhớ tên mọi người.” “Lý thuyết là vậy. Nhưng tác dụng của nó tỉ lệ nghịch với số lượng cồn tôi nốc vào.” Rồi Ed giải thích cho tôi cách thức để một cái tên dễ nhớ hơn, và anh ta đã sử dụng trong cuộc thi để ghi nhớ họ và tên của những người trong chín mươi chín bức ảnh chân dung trong vòng thi tên-và-khuôn-mặt. Đó là một kỹ thuật mà anh ta hứa hẹn tôi có thể dùng để nhớ tên của mọi người ở các bữa tiệc hay cuộc họp. “Mẹo ở đây đơn giản đến mức giả dối,” anh ta nói tỉnh khô. “Đó là luôn liên hệ âm tên của một người với cái gì đó anh có thể tưởng tượng ra một cách rõ ràng. Đó là việc tạo ra một hình ảnh sinh động trong đầu giúp cột chặt hình ảnh về khuôn mặt một người với hình ảnh liên hệ đến tên người đó. Khi anh cần tìm lại và nhớ tên người đó vào lúc nào đó sau này, thì hình ảnh anh tạo ra sẽ nhảy ngay vào đầu... Nên, ừm, anh bảo tên anh là Josh Foer phải không nào?” Anh ta nhếch lông mày và vuốt cằm đầy kịch tính. “Vậy thì, tôi sẽ tưởng tượng anh đang bỡn cợt tôi khi chúng ta gặp nhau lần đầu, bên ngoài phòng thi đấu, và đáp lại tôi sẽ tưởng tượng mình bị chia thành bốn mảnh. Four/Foer, anh hiểu chứ?[5]ít nhất đối với tôi, cái hình ảnh đó thú https://thuviensach.vn vị hơn nhiều so với một cái tên trong đầu và nó sẽ bám chặt trong đầu.” Tôi chợt nghĩ, đây là một dạng giác quan liên đới tự tạo. Để hiểu tại sao mẹo ghi nhớ này lại có tác dụng, bạn cần biết một chút về một dạng lãng quên kỳ lạ mà các nhà tâm lý học gọi là “Nan đề Baker/baker.” Nan đề như thế này: Một nhà nghiên cứu cho hai người xem cùng một bức ảnh khuôn mặt, và bảo với một trong hai người rằng người trong ảnh là thợ làm bánh, còn nói với người kia rằng người trong ảnh tên Baker[6]. Vài ngày sau, nhà nghiên cứu cho hai người đó xem cùng bức ảnh và hỏi từ kèm theo. Người được nghe về công việc của người trong ảnh có nhiều khả năng nhớ đúng hơn người được nghe tên người trong ảnh. Tại sao lại như vậy? Cùng một bức ảnh. Cùng một từ. Việc ghi nhớ lại khác nhau. Khi bạn nghe người trong ảnh là thợ làm bánh, sự kiện đó được đưa vào mạng lưới các ý tưởng về công việc của người làm bánh: anh ta nướng bánh, anh ta đội mũ trắng, khi xong việc về nhà người anh ta có mùi thơm. Ngược lại, cái tên Baker chỉ bị buộc vào ký ức khuôn mặt một người. Mối liên hệ đó thật mỏng manh, và nếu nó phai mờ, thì cái tên sẽ lửng lơ giữa mạng lưới ký ức bị mất không thể vãn hồi. (Khi một từ tưởng như mắc trên đầu lưỡi, thì có thể là bởi chúng ta đang tiếp cận phần duy nhất của mạng lưới thần kinh “chứa” ý tưởng đó, nhưng không phải toàn bộ.) Nhưng khi nói về nghề nghiệp người trong ảnh, có nhiều sợi dây liên kết để tìm lại ký ức. Thậm chí nếu bạn không nhớ rằng người đó là thợ làm bánh, có lẽ bạn vẫn có cảm nhận mơ hồ liên quan đến bánh mì, hoặc thấy mối liên hệ giữa khuôn mặt anh ta với cái mũ trắng, hay có lẽ bạn sẽ gợi lên trong đầu một ký ức về cửa hàng bánh nơi bạn sống. Bất kỳ nốt nào trong mớ lộn xộn những liên hệ đó cũng có thể giúp lần ra nghề nghiệp của người kia. Bí quyết thành công trong phần thi khuôn-mặt tên-người - và cả nhớ tên người trong thế giới thực - chỉ đơn giản là chuyển Baker thành thợ làm bánh - hay Foer thành số bốn (four). Hay Reagan thành súng bắn laze. Một mẹo đơn giản, nhưng hiệu quả cao. Tôi đã cố dùng kỹ thuật này để nhớ tên của nhà làm phim tài liệu đã đi cùng Ed và Lukas quanh thành phố suốt cuối tuần. Anh ta tự giới thiệu là Jonny Lowndes. “Chúng tôi gọi cậu ta là Pounds Lowndes,” Ed xen vào. “Hồi trung học, cậu ta đậm người.” vi biệt hiệu hồi nhỏ của anh trai tôi là Jonny, tôi nhắm mắt và hình dung hai người họ cùng nhau, tay vòng tay, đang ngấu nghiến một pound (khoảng nửa kg) bánh. “Anh biết chúng tôi có thể dạy anh nhiều mẹo như vậy,” Ed nói. Anh ta quay sang Lukas, sôi nổi. “Tôi đang cố hình dung xem hết tối nay mình có thể giúp anh ta thắng giải vô địch nước Mỹ không?” “Tôi cảm giác anh hơi coi nhẹ người Mỹ đấy nhé,” tôi nói. “Ngược lại, chỉ là họ không tìm đúng huấn luyện viên, thôi,” anh ta nói, quay về phía tôi. “Tôi cho là anh chỉ cần tập mỗi ngày một tiếng là có thể thắng giải năm tới.” Anh ta nhìn Lukas. “Cậu có nghĩ thế không?” Lukas gật đầu. “Anh nói y như Buzan,” tôi nói. “À, đúng rồi Tony Buzan khả kính,” Ed đùa cọt. “Ông ta có thuyết phục anh cái thứ vớ vẩn rằng bộ não là một khối cơ bắp không?” https://thuviensach.vn “Ờ, có, ông ta có nói.” “Bất kỳ ai hiểu biết sơ đẳng về đặc tính của bộ não và của cơ bắp đều mỉm cười trước sự so sánh đó.” Đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy mối quan hệ không tốt đẹp của Ed với Buzan. “Này, điều anh thực sự cần là nhận tôi làm huấn luyện viên cho anh, là người đào tạo và quản lý - và, một người thầy trí óc.” “Anh sẽ được gì từ mối quan hệ này?” tôi hỏi. “Tôi sẽ được niềm vui,” anh ta đáp, với một nụ cười. “Vả lại, anh là nhà báo, tôi sẽ không phiền nếu, trong quá trình viết về trải nghiệm này, anh tạo ấn tượng rằng tôi sẽ là một con người tuyệt vời để vào vai gia sư cho tiểu thư ở Hampton với giá, ờ, cỡ một tỉ bảng một giờ.” Tôi cười toáng lên và bảo Ed rằng tôi sẽ suy nghĩ về điều đó. Tôi thực sự không hứng thú lắm chuyện dành mỗi ngày một tiếng vầy vò mấy quân bài, hay ghi nhớ những trang giấy đầy những chữ số, hay làm bất cứ trò thể dục trí óc nào dường như liên quan đến việc trở thành một “vận động viên trí óc.” Tôi luôn chiều theo những thói lập dị của mình - tôi là đội trưởng đội thi đố (quiz bowl) hồi trung học, và lâu nay vẫn đeo một chiếc đồng có chức năng máy tính - nhưng vụ này có phần thái quá, thậm chí là với tôi. Nhưng tôi cũng tò mò muốn tìm hiểu xem đâu là giới hạn trí nhớ của mình, và khá bị Ed kích thích, nên cũng muốn cân nhắc vụ tập luyện này. Tất cả vận động viên trí óc tôi đã gặp đều khăng khăng rằng bất kỳ ai cũng có thể cải thiện trí nhớ của mình - rằng sức mạnh chưa dùng tới của S có trong tất cả chúng ta. Tôi quyết định sẽ thử tìm xem điều đó có thực không. Đêm hôm đó, khi về đến nhà, trong hòm thư của tôi có một e-mail của Ed đang chờ: “Thế nào rồi, tôi có thể làm huấn luyện viên cho anh không?” https://thuviensach.vn Chương ba Người hay quên nhất thế giới S au khi đã gặp một vài nhân vật có bộ nhớ tốt nhất thế giới, tôi quyết định bước tiếp theo sẽ là tìm bộ nhớ tồi nhất. Để hiểu bản chất và ý nghĩa trí nhớ con người, còn cách nào tốt hơn là xem xét sự thiếu vắng nó? Tôi lại vào Google tìm kiếm người đối trọng với Ben Pridmore trong những cuốn sách kỷ lục về chứng quên, và lục ra được một bài trên Tạp chí khoa học thần kinh viết về một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, tám mươi tư tuổi, đã nghỉ hưu, tên là EP, trí nhớ của ông chỉ kéo dài bằng với suy nghĩ gần nhất của ông. Ông là một trong những người mắc chứng quên trầm trọng nhất từng được ghi nhận. Vài tuần sau giải vô địch Trí nhớ Mỹ, tôi gọi điện cho một nhà khoa học thần kinh và là chuyên gia nghiên cứu trí nhớ, tên Larry Squire tại Đại học California, San Diego, và Trung tâm Y khoa San Diego VA. Hơn một thập niên qua, Squire đã nghiên cứu EP, và ông đồng ý cho tôi theo trong chuyến thăm bệnh ở khu ngoại ô San Dieo, nơi EP sống với vợ tại một căn nhà gỗ sáng sủa. Chúng tôi đi cùng Jen Frascino, điều phối viên trong phòng nghiên cứu của Squire, cô thường xuyên thăm EP để làm các kiểm tra nhận thức. Dù Frascino đã đến nhà EP đâu khoảng hai trăm lượt, mỗi lần ông ta đều chào cô như chào một người hoàn toàn xa lạ. EP cao l,88m, có mái tóc trắng rẽ ngôi rất chỉn chu, và đôi tai dài khác thường. Ông trông đẹp lão, thân thiện và nhân từ. Ông cười thật nhiều. Thoạt nhìn, ông như thể người ông tốt điển hình của bạn. Frascino, tóc vàng, người cao như một vận động viên, ngồi cạnh tôi và Squire, đối diện EP, trong phòng ăn nhà ông, và hỏi một loạt câu hỏi nhằm đánh giá hiểu biết cơ bản và nhận thức chung, cô hỏi ông Brazil thuộc lục địa nào, số tuần trong năm, nhiệt độ sôi của nước. Cô muốn chứng tỏ điều loạt bài kiểm tra nhận thức đã cho thấy từ trước: EP có hiểu biết cơ bản về thế giới. IQ của ông là 103 và trí nhớ ngắn hạn của ông hoàn toàn không bị tổn hại. Ông kiên nhẫn trả lời những câu hỏi - tất cả đều đúng - với vẻ bối rối mà tôi tưởng tượng mình cũng sẽ như vậy khi một người lạ bước vào nhà tôi và sốt sắng hỏi tôi có biết nhiệt độ sôi của nước là bao nhiêu không. “Ông sẽ làm gì nếu tìm thấy ngoài đường một phong bì dán kín, có ghi địa chỉ, và đã dán tem?” Frascino hỏi. “À, sẽ bỏ vào hòm thư chứ còn gì nữa?” Ông cười và liếc nhìn tôi ranh mãnh, như muốn nói, “Mấy người này nghĩ tôi ngu chắc?” Nhưng cảm thấy tình huống đòi hỏi phép lịch sự, ông quay lại Frascino và nói thêm, “Nhưng câu hỏi của cô thực sự thú vị. Thực sự thú vị đấy.” Ông không biết mình đã nghe nó bao nhiêu lần rồi. “Tại sao chúng ta nấu thức ăn?” “Vì chúng còn sống à?” Từ sống rõ ràng từ máy ghi âm cho thấy sự bối rối của ông nhường chỗ cho nỗi hoài nghi. Tôi hỏi EP, ông có biết tên vị tổng thống gần đây nhất không. “Tôi e mình quên mất. Lạ thật.” “Cái tên Bill Clinton nghe có quen không?” https://thuviensach.vn “Tất nhiên tôi biết Clinton! Anh ta là bạn cũ của tôi, là một nhà khoa học, một người tốt. Tôi đã làm việc cùng anh ta, anh biết đấy.” Ông ta thấy mắt tôi trợn tròn ngạc nhiên, và ông ngừng lại. “Nghĩa là trừ phi anh đang nói đến một người khác cũng tên là Clinton -” “À, ông biết đấy, vị tổng thống gần đây nhất cũng tên là Bill Clinton.” “Thật vậy ư? Tôi sẽ-!” Ông vỗ lên đùi và lại cười, nhưng không ra vẻ ngượng nghịu. “Vị tổng thống gần đây nhất mà ông nhớ là ai?” Ông mất một lúc để lục tìm trong bộ não. “Xem nào. Đó là Franklin Roosevelt...” “Ông đã bao giờ nghe tên John F. Kennedy chưa?” “Kennedy à? Hừm, tôi e mình không biết.” Frascino xen vào bằng câu hỏi khác. “Sao chúng ta nghiên cứu lịch sử?” “À, chúng ta nghiên cứu lịch sử để biết chuyện xảy ra trong quá khứ.” “Nhưng tại sao chúng ta muốn biết chuyện xảy ra trong quá khứ?” “Nói thẳng là, vì nó thú vị.” Năm 1992, EP ngã bệnh, khi đó có vẻ như ông chỉ bị cảm cúm nhẹ. Suốt năm ngày sốt li bì trên giường bệnh mà không biết chắc mình bị gì, lúc ấy trong đầu ông một loại virus nguy hại là herpes simplex đang gặm nhấm não ông, ăn vào lõi nó như một quả táo. Lúc virus hoàn tất công cuộc phá hoại, hai phần não to bằng quả óc chó trong thùy thái dương giữa của bộ não EP đã biến mất, cùng biến với phần lớn trí nhớ của ông. Con virus tấn công với sự chính xác kinh hoàng. Hai thùy thái dương giữa ở hai bên bộ não - gồm cả hồi hải mã và các vùng lân cận cùng tạo nên một phép diệu kỳ là chuyển nhận thức của chúng ta thành trí nhớ dài hạn. Trí nhớ không thể thực sự lưu giữ trong hồi hải mã - chúng nằm ở đâu khác, trong những lớp nhăn ngoài bộ não, tức phần vỏ não - nhưng vùng hồi hải mã giữ chúng lại. Hồi hải mã của EP bị hủy, và không có nó, ông như một cái máy quay phim không có đầu ghi băng. Ông nhìn thấy, nhưng không ghi lại được. EP bị hai dạng mất trí nhớ - chứng quên về sau (anterograde) nghĩa là ông không thể hình thành trí nhớ mới, và quên ký ức (retrograde) nghĩa là ông không thể nhớ lại ký ức cũ, ít nhất kể từ năm 1950. Tuổi thơ của ông, thời gian làm việc trên tàu buôn, Chiến tranh Thế giới II - vẫn còn sống động hoàn hảo. Song đến giờ ông chỉ biết, giá ga là 25 xu một gallon (3,78 lít) và loài người chưa đặt bước chân nhỏ bé của mình lên mặt trăng. Dù EP đã mất trí nhớ hơn mười lăm năm qua và tình trạng của ông không xấu đi cũng chẳng tốt lên, nhưng vẫn còn nhiều điều Squire và nhóm của ông hy vọng sẽ tìm hiểu được ở ông. Nghe có vẻ không ra sao, nhưng trường hợp của ông - kết quả cuộc thí nghiệm tàn nhẫn song hoàn hảo của tự nhiên - là một ân huệ lớn đối với khoa học. Trong một lĩnh vực có quá nhiều vấn đề căn bản chưa được giải đáp, thì với một trí óc như của EP còn vô https://thuviensach.vn số những thí nghiệm có thể tiến hành. Thực ra, trên thế giới chỉ có một nhúm ít ỏi những cá nhân khác mà hồi hải mã và các cấu trúc quan trọng lân cận bị khoét một cách chính xác mà không ảnh hưởng gì tới các phần khác của bộ não. Một ca khác bị mất trí nhớ nghiêm trọng khác là Clive Wearing, nguyên là nhà sản xuất âm nhạc cho BBC, ông bị viêm não do virus herpes năm 1985. Cũng như EP, trí óc của ông giống như cái rây. Mỗi lần ông chào vợ đều như thể hai mươi năm rồi ông chưa được gặp bà. Ông gửi cho bà những tin nhắn thống thiết vào điện thoại cầu xin bà đến đón ông ở nhà điều dưỡng nơi ông sống. Ông viết một cuốn nhật ký chi tiết, và nó đã trở thành một minh chứng hữu hình về nỗi đau đớn hàng ngày của ông. Nhưng thậm chí đến cuốn nhật ký ông cũng thấy khó mà tin được - như mọi chuyện khác trong đời sống của ông vậy - vì nó hoàn toàn xa lạ. Mỗi lần mở nó ra ông lại có cảm giác như đang đối mặt với một cuộc đời trong quá khứ. Nó đầy những đoạn viết như thế này: 8:31 AM: Giờ mình thực sự, hoàn toàn tỉnh rồi. 9:06 AM: Giờ mình tuyệt đối tràn trề tỉnh táo rồi. 9:34 AM: Giờ mình tỉnh táo cùng cực rồi. Những dòng bị gạch ngang cho thấy ông biết tình trạng của mình, và điều này EP lại thiếu, có khi thế lại là may mắn cho ông. Ngồi đối diện nơi bàn, Squire hỏi EP trí nhớ của ông gần đây ra sao. “Cũng bình thường. Thật khó nói là tốt hay xấu.” Cổ tay trái của EP đeo một cái vòng kim loại để nhắc nhở. Dù biết rõ nó dùng để làm gì, tôi vẫn hỏi ông. Ông quay xuống nhìn cổ tay và đọc hững hờ. “Hừm. Nó nói trí nhớ bị mất.” EP dường như còn không nhớ ông bị trục trặc trí nhớ. Đấy là điều mới mẻ mà ông phát hiện ra vào bất kỳ giây phút nào. Và vì ông quên rằng mình luôn quên, mỗi ý nghĩ mất đi dường như chỉ là một sai lầm vặt vãnh - một sự khó chịu và không hơn - cũng như cách nó gây ra cho bạn hay cho tôi. “Đầu óc của ông ấy không có sai lạc gì hết. Thật phúc đức,” như vợ ông, bà Beverly, bảo tôi sau đó, trong khi EP ngồi trên ghế, ngoài tầm nghe thấy. “Tôi đồ rằng ông ấy hẳn biết có chuyện gì đó không đúng, nhưng không thể hiện trong những lúc trò chuyện hay trong cách sống của ông ấy. Nhưng sâu thẳm, ông ấy hẳn phải biết. Chắc chắn thế.” Khi nghe những lời ấy, tôi day dứt nhận ra không phải chỉ trí nhớ bị mất không thôi mà còn nhiều hơn thế. Ngay cả vợ EP cũng không thể tiếp cận những cảm xúc cơ bản hay suy nghĩ của ông ấy nữa. Thế không có nghĩa ông ấy không còn cảm xúc hay suy nghĩ. Từng giây phút một ông đều có. Khi hay tin về những đứa cháu chào đời, đôi mắt EP lại rớm ướt - và ông lại quên ngay rằng chúng tồn tại. Song vì không có khả năng so sánh cảm xúc ngày hôm nay với cảm xúc hôm qua, ông không thể kể một câu chuyện liên tục về bản thân, hay về những gì xung quanh và do đó cũng không thể bồi đắp chút chất liệu cảm xúc nào dù là cơ bản nhất cho gia đình và bạn bè. Sau hết, EP chỉ có thể quan tâm thực sự đến ai hay điều gì chừng nào ông còn có thể duy trì được sự chú ý. Bất kỳ ý nghĩ nào chơi xỏ làm ông phân tán sẽ khiến cuộc đối thoại quay lại từ đầu. Một mối quan hệ có ý nghĩa giữa hai người không thể tự nó duy trì chỉ trong thời khắc hiện tại. https://thuviensach.vn Kể từ sau trận ốm, không gian tồn tại của EP chỉ ở trong phạm vi mắt ông nhìn thấy. Đời sống xã hội của ông chỉ gói gọn trong những người trong phòng. Ông sống dưới một khoảnh sáng hẹp, còn lại là bóng tối bao quanh. Vào một buổi sáng bình thường, EP thức dậy, ăn sáng, và quay về giường nghe đài. Nhưng khi quay lại giường, thì ông không rõ mình vừa ăn sáng hay là vừa tỉnh giấc. Thường thì ông sẽ ăn sáng lại, và quay về giường để nghe đài tiếp. Có những hôm, ông ăn sáng đến lần thứ ba. Ông xem tivi, phấn khích từng giây, dù có chút phiền toái khi xem những chương trình có mở đầu, đoạn giữa và kết thúc rõ ràng. Ông thích kênh Lịch sử, hoặc bất kỳ chương trình nào về Chiến tranh thế giới II. Ông đi bộ xung quanh nơi ở, thường là vài lần trước lúc ăn trưa, và đôi khi đi tận bốn lăm phút. Ông ngồi trong sân. Ông đọc báo, hẳn sẽ giống như bước ra từ cỗ máy thời gian. Iraq ư? Internet ư? Lúc EP đọc xong đầu đề, ông thường quên ngay đoạn đầu là gì. Thường sau khi đọc tin thời tiết, ông nguệch ngoạc lên tờ giấy, vẽ râu lên những bức ảnh hoặc mò tìm cái thìa. Khi xem giá nhà trên trang bất động sản, lúc nào ông cũng tỏ ra rất sốc. Không có trí nhớ, EP hoàn toàn thoát ra khỏi thời gian. Nhận thức của ông không thành dòng mà gồm những giọt nhỏ bốc hơi tức thì. Nếu bạn lấy chiếc đồng hồ khỏi tay ông - hay, tàn nhẫn hơn, thay đổi giờ - ông sẽ hoàn toàn mất hướng. Bị mắc kẹt trong ngục tù của thời hiện tại vĩnh cửu, giữa cái quá khứ ông không thể nhớ và cái tương lai ông không thể suy tính trước, ông sống một cuộc đời bất động, hoàn toàn thoát khỏi muộn phiền. “Lúc nào ông cũng vui vẻ. Rất hạnh phúc. Tôi đoán là bởi ông không có mối lo lắng nào trong cuộc sống,” con gái Carol của ông nói, cô sống gần đó. Trong bệnh quên mãn tính, EP đã đạt được một dạng khai sáng bệnh lý, một miền cực lạc của lý tưởng phật giáo về sự sống hoàn toàn trong hiện tại. “Ông bao tuổi rồi?” Squire hỏi ông. “Xem nào, năm chín hay sáu mươi gì đấy. Anh hiểu ý tôi mà,” ông nói, lông mày nhếch lên vẻ đăm chiêu, như thể ông đang tính toán, chứ không phán đoán. “Trí nhớ của tôi không hoàn hảo. Nó khá tốt, nhưng đôi khi người ta hỏi tôi những câu tôi không hiểu. Tôi chắc đôi khi anh cũng vậy.” “Chắc chắn rồi,” Squire nói nhã nhặn, dù tuổi thực của EP đã gần thế kỷ. Không có thời gian, sẽ không cần trí nhớ. Nhưng không có trí nhớ, liệu có tồn tại cái gọi là thời gian không? Tôi không muốn nói thời gian theo nghĩa như các nhà vật lý nói về nó: chiều thứ tư, biến số độc lập, là khối lượng bị nén lại khi tiệm cận vận tốc ánh sáng. Ý tôi là thời gian theo tâm lý học, là nhịp độ mà chúng ta trải nghiệm những sự diễn ra trong đời. Thời gian là một ý niệm của tâm trí. Nhìn EP vất vả tính tuổi của mình, tôi lại nhớ đến một câu chuyện Ed Cooke kể về nghiên cứu của anh ta ở Đại học Paris, khi chúng tôi gặp nhau tại Giải Vô địch Trí nhớ Hoa Kỳ. “Tôi đang nghiên cứu việc kéo dài thời gian chủ quan, để tôi cảm thấy mình sống lâu hơn,” Ed lấm nhẩm nói với tôi ngay trên lề đường phía ngoài trụ sở Con Ed, điếu thuốc lá nhảy nhót trên miệng anh ta. “Ý tưởng là để tránh cảm giác ta có mỗi khi cuối năm, và cảm thấy kiểu năm vừa rồi trôi đi chỗ quái nào nhỉ?” “Rồi anh định làm thế nào?” tôi hỏi. “Bằng cách nhớ nhiều hơn. Bằng cách tạo cho đời tôi nhiều điểm nhớ theo thời gian. Bằng cách làm cho tôi nhận thức rõ hơn về thời gian trôi qua.” https://thuviensach.vn “Nghe hoàn toàn hợp lý,” tôi nói, và bảo anh ta rằng kế hoạch của anh ta làm tôi nhớ đến Dunbar, viên phi công trong tiểu thuyết Catch-22 của Joseph Heller, nhân vật này lý lẽ rằng thời gian trôi như bay lúc ta vui, và cách chắc chắn nhất để cuộc đời trôi chậm lại là làm cho nó càng tẻ nhạt càng tốt. Ed nhún vai. “Hoàn toàn ngược lại đấy. Chúng ta gói ghém cuộc đời với càng nhiều ký ức, thì thời gian dường như càng trôi chậm hơn.” Những trải nghiệm chủ quan của chúng ta về thời gian biến đổi rất mạnh. Chúng ta đều biết rằng ngày có thể trôi đi dài như các tuần và các tháng có thể giống như năm, và điều ngược lại cũng có thể đúng: một tháng hoặc năm có thể co lại thành như không hề có. Cuộc đời của chúng ta được tạo dựng từ ký ức về các sự kiện. Sự kiện X xảy ra ngay trước kỳ nghỉ lớn Paris. Tôi đang làm việc Y vào mùa hè đầu tiên sau khi tôi học lái xe. Z xảy ra vào ngày cuối tuần sau khi tôi kiếm được việc đầu tiên. Chúng ta nhớ các sự kiện bằng cách đặt chúng trong mối tương quan về thời gian với các sự kiện khác. Cũng như chúng ta tổng hợp những ký ức về các sự kiện bằng cách kết nối chúng vào một mạng lưới, chúng ta tổng hợp những trải nghiệm trong đời bằng cách nhập chúng vào một mạng lưới những ký ức theo trình tự thời gian. Mạng lưới càng dày đặc thì trải nghiệm về thời gian càng dày đặc. Luận điểm này được minh chứng rất rõ bởi Michel Siffre, một chuyên gia thời sinh học (chronobiologist) người Pháp (ông nghiên cứu mối quan hệ giữa thời gian và các cơ thể sống), ông đã thực hiện một trong những hành vi tự thí nghiệm đặc biệt nhất trong lịch sử khoa học. Năm 1962, Siffre dành hai tháng sống hoàn toàn cô độc trong một cái hầm dưới đất, không có đồng hồ, lịch, và không thấy mặt trời. Ngủ và ăn chỉ diễn ra khi cơ thể bảo ông làm như vậy, ông muốn tìm xem nhịp tự nhiên của đời sống con người sẽ bị ảnh hương thế nào khi sống “ngoài thời gian.” Rất nhanh chóng, trí nhớ của Siffre bị suy giảm. Trong bóng tối thê lương, hết ngày này nối sang ngày khác, thời gian trở thành một chuỗi liên tục không thể phân biệt. Không có ai để chuyện trò, và không có nhiều việc phải làm, không có gì mới để gây ấn tượng lên trí nhớ của ông. Không có mốc đánh dấu để ông có thể xác định thời gian trôi qua. Có lúc ông không còn nhớ điều gì xảy ra thậm chí vào ngày hôm trước. Trải nghiệm trong sự cô độc đã biến ông thành EP. Khi thời gian bắt đầu nhòa đi, ông trở nên mất trí thực sự. Không lâu sau, cơ cấu giấc ngủ của ông bị phá vỡ. Có những ngày, ông thức đến ba mươi sáu tiếng liền, những ngày khác là tám tiếng - ông không thể nhận ra sự khác biệt. Khi nhóm hỗ trợ trên mặt đất xuống tìm ông vào ngày 14 tháng Chín, theo dự tính là ngày kết thúc thí nghiệm, thì trong nhật ký của ông lúc đó chỉ mới ngày 20 tháng Tám. Ông nghĩ rằng chỉ mới một tháng trôi qua. Trải nghiệm của ông về tốc độ trôi của thời gian đã nén xuống hai lần. Sự đơn điệu làm thời gian co lại; sự mới mẻ bung mở ra nó ra. Bạn có thể rèn luyện hàng ngày, ăn uống lành mạnh và sống lâu nhưng lại trải nghiệm một cuộc đời ngắn ngủi. Nếu bạn dành cả đời ngồi trong một căn phòng nhỏ và duyệt qua giấy tờ, ngày này sẽ lẫn lộn nhạt nhòa với ngày tiếp theo - và biến mất. Vậy nên mới thấy tầm quan trọng của sự thay đổi thói quen hàng ngày, và đi nghỉ ở nơi xa lạ, và có càng nhiều trải nghiệm mới càng tốt để níu giữ những ký ức. Tạo ra những ký ức mới sẽ kéo căng thời gian tâm lý học, và kéo dài nhận thức của chúng ta về cuộc đời. William James lần đầu tiên viết về sự co rút kỳ lạ của thời gian tâm lý học trong cuốn sách https://thuviensach.vn Nguyên tắc Tâm lý học năm 1890: “Thời tuổi trẻ, chúng ta có thể có một trải nghiệm tuyệt đối mới, chủ quan hay khách quan, từng giờ trong ngày. Sự băn khoăn rất rõ rệt, sự níu giữ thì mạnh mẽ, và những hồi tưởng về thời gian đó, như hồi tưởng về một thời kỳ trải qua trong chuyến du hành thú vị và chớp nhoáng, là những thứ phức tạp, phong phú và dài lâu,” ông viết. “Nhưng mỗi năm trôi qua lại chuyển một số những trải nghiệm này thành thói quen vô thức mà chúng ta gần như không hề chú ý đến, trong hồi tưởng của chúng ta những ngày và những tuần nhẹ nhàng rơi vào những đơn vị trống rỗng, và những năm giãn dần rồi tan biến.” Khi già đi, chúng ta thấy cuộc sống dường như chạy nhanh hơn bởi lúc ấy cuộc đời ít đáng nhớ đi. “Nếu ghi nhớ là để trở thành con người, thì ghi nhớ nhiều hơn làm ta càng “người” hơn,” Ed nói. Hẳn có chút gì đó rất “Peter Pan”[7] trong cuộc truy tầm của Ed hòng làm cuộc đời của mình đáng nhớ tối đa, nhưng trong tất cả những gì mà người ta luôn ám ảnh phải có, thì ký ức cuộc đời cũng đâu phải mục tiêu phi lý nhất. Song có điều gì đó hợp lý một cách lạ kỳ. Có một câu đố triết học cũ rích thường được bàn tới trong các khóa học triết học dẫn nhập: trong thế kỷ mười chín, các bác sỹ bắt đầu tự hỏi liệu những thuốc gây tê toàn thân họ tiêm cho các bệnh nhân có thực sự không khiến bệnh nhân rơi vào giấc ngủ sâu đến mức làm tê cứng các cơ và xóa bỏ ký ức về cuộc phẫu thuật hay không. Nếu có thì phải chăng các bác sỹ đã làm gì đó sai trái? Như câu cách ngôn về cái cây ngã xuống không ai nghe thấy, nói một trải nghiệm đã xảy ra trong khi nó không hề được nhớ tới liệu có ý nghĩa gì hay không? Socrates nghĩ rằng cuộc đời chưa qua thử thách là cuộc đời không đáng sống. Vậy cuộc đời không được nhớ đến thì đáng giá hơn bao nhiêu? Phần lớn những gì khoa học biết về trí nhớ là do tìm hiểu từ một bộ não bị hủy hoại đáng kể như trường hợp EP. Một trường hợp mất trí nhớ khác là Henry Molaison, gọi tắt là HM, ông đã sống phần lớn đời mình trong nhà điều dưỡng ở Connecticut trước khi qua đời năm 2008. (Những cá nhân trong tài liệu y khoa luôn được viết tắt để bảo vệ danh tính. Tên của HM được tiết lộ sau khi ông chết.) Lúc còn bé, HM bị mắc chứng động kinh sau một tai nạn xe đạp năm lên chín tuổi. Năm ông hai mươi bảy tuổi, mỗi tuần ông bị ngất đến mấy lần và không thể làm được gì nhiều. Một nhà phẫu thuật thần kinh tên William Scoville nghĩ ông ta có thể giảm nhẹ các triệu chứng của HM bằng một cuộc phẫu thuật thí nghiệm cắt bỏ phần của bộ não ông ta nghi là gây ra vấn đề. Năm 1953, trong khi HM đang nằm tỉnh táo trên bàn mổ, da đầu của ông bị gây tê, Scoville khoan hai lỗ ngay phía trên mắt bệnh nhân. Nhà phẫu thuật dùng một dụng cụ nhỏ bằng kim loại nhấc thùy trước bộ não HM, rồi dùng ống kim loại hút ra gần hết hồi hải mã, cùng với phần lớn vùng não xung quanh thuộc thùy thái dương giữa. Ca phẫu thuật đã giảm số lần lên cơn động kinh của HM nhưng có một tác dụng phụ thê thảm: Người ta nhanh chóng thấy rõ là ông đã bị cướp mất trí nhớ. Trong năm thập kỷ tiếp theo, HM là đối tượng của vô số thí nghiệm và trở thành bệnh nhân được nghiên cứu nhiều nhất trong lịch sử khoa học thần kinh. Xét tới hệ quả kinh hoàng từ cuộc phẫu thuật của Scoville, mọi người cho rằng HM là trường hợp duy nhất. EP đã phá tan giả định đó. Điều Scoville làm với HM bằng một cái ống kim loại được tự nhiên làm với EP bằng loài virus HSV. Đặt cạnh nhau, hình ảnh MRI đen trắng nổi hột chụp hai bộ não của họ giống nhau đến kỳ lạ, dù tổn hại bộ não của EP có phần lớn hơn một chút. Thậm chí nếu bạn không biết bộ não thường trông như thế nào, thì hai lỗ trống đối xứng vẫn cứ đập vào mắt bạn như hai hốc mắt sâu. Cũng như EP, HM có thể giữ lại những ký ức đủ lâu để hình thành được suy nghĩ về chúng, https://thuviensach.vn nhưng một khi bộ não ông chuyển sang điều gì khác thì ông không bao giờ nhớ lại ký ức trước. Trong một thí nghiệm nổi tiếng do nhà khoa học thần kinh người Canada Brenda Milner thực hiện, bà đề nghị HM ghi nhớ số 584 càng lâu càng tốt. HM nói to khi ông ghi nhớ: “Dễ lắm. Chỉ cần nhớ 8. Thế đấy, 5, 8, và 4 cộng thành 17. Ta nhớ 8, rồi lấy 17 trừ 8 còn 9. Tách 9 thành hai số, ta có 4 và 5 và ta có: 584. Dễ thôi.” Ông tập trung vào câu thần chú tỉ mỉ này trong nhiều phút. Nhưng ngay khi ông bị phân tâm, con số biến mất. Ông không thể nhớ rằng mình được yêu cầu nhớ cái gì. Dù từ cuối thế kỷ mười chín các nhà khoa học đã biết rằng có một sự khác biệt nhỏ giữa trí nhớ ngắn hạn và dài hạn, giờ họ mới có bằng chứng nơi HM rằng hai dạng trí nhớ này nằm ở các phần khác nhau của bộ não, và do mất gần hết hồi hải mã, HM không thể chuyển trí nhớ ngắn hạn thành dài hạn được. Từ trường hợp của HM, các nhà nghiên cứu cũng biết thêm về một dạng ghi nhớ khác. Dù ông không thể nói bữa sáng ông đã ăn gì hay nêu tên tổng thống đương nhiệm, thì vẫn có một số điều ông có thể nhớ. Milner phát hiện ra rằng ông có thể học được các nhiệm vụ phức tạp mà thậm chí không nhận ra điều đó. Trong một nghiên cứu có tính bước ngoặt vào năm 1962, bà cho thấy rằng HM có thể học cách lần theo nét vẽ ngôi sao năm cánh trên mảnh giấy khi nhìn ảnh nó trong gương. Mỗi lần Milner giao nhiệm vụ này cho HM, ông đều bảo trước đây chưa bao giờ thử. Vậy mà, mỗi ngày bộ não lại giúp ông điều khiển bàn tay vẽ ngược hình trong gương thành thạo hơn. Dù mắc chứng quên, ông vẫn đang ghi nhớ. Những nghiên cứu sau này trên người mắc chứng quên, gồm cả thí nghiệm tiến hành với EP, đã cho thấy rằng những người này vẫn có khả năng học không cần ghi nhớ. Trong một thí nghiệm, Squire đưa cho EP một danh sách hai mươi bốn từ để ghi nhớ. Như dự tính, trong vòng vài phút, EP không nhớ gì về những từ đó, thậm chí không nhớ là có bài tập hay không. Khi được hỏi ông đã thấy những từ này chưa, ông trả lời đúng nửa số câu hỏi. Nhưng rồi Squire đặt EP ngồi trước một màn hình máy tính và cho ông thực hiện bài kiểm tra khác. Lần này, bốn tám từ thoắt hiện trên màn hình, mỗi hình chừng 25 mili giây, đủ lâu để mắt có thể ghi nhận một số chữ, nhưng không phải toàn bộ, (để so sánh, một cái chớp mắt xảy ra trong 100 đến 150 mili giây). Phân nửa số từ trên có trong danh sách mà EP đã đọc qua và quên và phân nửa là từ mới. Squire đã đề nghị EP đọc mỗi từ sau khi nó hiện ra trên màn hình. Ngạc nhiên thay, EP đọc những từ ông đã thấy lúc trước đúng hơn nhiều so với những từ mới. Dù ông không hồi tưởng lại chúng một cách có ý thức, đâu đó trong những rãnh nếp của bộ não, chúng đã để lại dấu ấn. Hiện tượng ghi nhớ vô thức này, gọi là ghi nhớ sơ khai (priming), là bằng chứng về cả một thế giới ngầm thâm u của những ký ức ẩn náu dưới bề mặt những suy tư có ý thức của chúng ta. Dù vẫn còn bất đồng về việc có bao nhiêu hệ thống trí nhớ, các nhà khoa học nhìn chung chia trí nhớ thành hai dạng: trí nhớ hữu thức - (declarative) - và trí nhớ vô thức - (nondeclarative) Trí nhớ hữu thức là những gì bạn biết bạn nhớ, như màu chiếc xe, hay chuyện xảy ra chiều hôm qua. EP và HM mất khả năng tạo trí nhớ hữu thức mới. Trí nhớ vô thức là những gì bạn biết do tiềm thức, như cách lái xe hay cách vẽ hình trong khi nhìn vào gương (hoặc nhận ra nghĩa một từ thoáng hiện trên màn hình máy tính). Những trí nhớ vô thức dường như không đi qua bước đệm trí nhớ ngắn hạn như trí nhớ hữu thức, cũng không lệ thuộc vào hồi hải mã để được củng cố và lưu giữ. Chúng chủ yếu dựa vào những phần khác trong bộ não. Việc học cách lái xe máy chủ yếu diễn ra trong tiểu não; học hỏi qua tri giác ở phần vỏ não; việc học thói quen diễn ra ở hạch nền. Như trường hợp https://thuviensach.vn EP và HM đã chứng minh rõ rệt, một phần bộ não có thể bị hủy hoại nhưng các phần còn lại vẫn hoạt động. Thực ra, phần lớn những gì quyết định chúng ta là ai và chúng ta suy nghĩ thế nào - phần cốt lõi tạo nên tính cách của chúng ta - được hình thành ở trí nhớ vô thức, không liên quan gì tới phần não ý thức. Đối với trí nhớ hữu thức, các nhà tâm lý học lại chia thành trí nhớ ngữ nghĩa (semantic), hay trí nhớ về sự việc và khái niệm, và trí nhớ thời đoạn (episodic), hay trí nhớ về trải nghiệm trong cuộc sống. Việc nhớ rằng tôi đã ăn trứng vào bữa sáng là trí nhớ thời đoạn. Biết rằng bữa ăn sáng là bữa ăn đầu tiên trong ngày, ấy là trí nhớ ngữ nghĩa. Trí nhớ thời đoạn được xác định theo không gian và thời gian: chúng có ở địa điểm và thời gian gắn với chúng. Trí nhớ ngữ nghĩa nằm ngoài không gian và thời gian, như những mẩu tri thức trôi tự do. Hai dạng trí nhớ này dường như sử dụng bộ não theo cách khác nhau, và dựa vào các vùng khác nhau của bộ não, dù cả hai đều phụ thuộc hoàn toàn vào hồi hải mã và các cấu trúc khác trong thùy thái dương giữa. EP đã mất cả hai dạng trí nhớ ở mức độ ngang bằng nhau, nhưng kỳ lạ thay ông chỉ quên những gì xảy ra trong khoảng sáu mươi năm trở lại đây. Trí nhớ của ông phai mờ dần theo đường dốc. Một trong nhiều bí ẩn của trí nhớ ấy là tại sao người mắc bệnh quên như EP có thể nhớ được thời điểm quả bom hạt nhân rơi xuống Hiroshima, mà không nhớ sự kiện gần đây hơn là Bức tường Berlin. Vì lý do nào đó còn chưa biết, những ký ức gần đây nhất lại phai nhòa trước nhất ở hầu hết những người mắc chứng quên, trong khi những ký ức xa xưa hơn lại vẫn hiện rõ. Hiện tượng này được gọi là Luật Ribot, đặt theo tên của nhà tâm lý học người Pháp ở thế kỷ mười chín, người đầu tiên phát hiện ra nó, và đây là hiện tượng cũng gặp ở các bệnh nhân Alzheimer. Nó gọi một điều sâu xa hơn: rằng ký ức của chúng ta không phải là tĩnh. Khi ký ức già đi thì hình thái của nó thay đổi. Mỗi lần chúng ta nghĩ về một ký ức nào đó, chúng ta lại gắn nó chặt hơn vào mạng lưới những ký ức khác, và vì vậy làm nó ổn định hơn và ít có khả năng bị xóa hơn. Nhưng trong quá trình đó, chúng ta cũng chuyển đổi trí nhớ, và định hình lại nó - đôi khi đến một mức độ mà ký ức về những sự kiện chỉ hao hao giống với điều thực tế xảy ra. Các nhà khoa học thần kinh mãi gần đây mới bắt đầu nhận thấy quá trình này xảy ra trong bộ não, còn các nhà tâm lý học đã hiểu từ rất lâu rằng có sự khác biệt về chất giữa ký ức cũ và ký ức mới. Sigmund Freud lần đầu tiên nhận thấy một sự việc kỳ lạ là những ký ức cũ hơn thường được nhớ lại như thể do một người thứ ba đang cầm chiếc máy ảnh chụp lấy, trong khi những sự kiện gần đây hơn được nhớ lại qua con mắt người thứ nhất. Tưởng như những sự xảy ra với chúng ta chỉ đơn thuần là những sự việc nào đó đã xảy ra. Hay dường như theo thời gian, bộ não chuyển trí nhớ thời đoạn thành sự kiện một cách tự nhiên. Ở mức độ tế bào thần kinh, quá trình này diễn ra thế nào vẫn còn là bí ẩn. Một giả thiết nhận được nhiều ủng hộ cho rằng trí nhớ của chúng ta có tính “xê dịch”. Trong khi hồi hải mã liên quan đến những thông tin ban đầu, thì nội dung của chúng rốt cuộc được lưu giữ trong trí nhớ dài hạn trên vỏ não. Theo thời gian, khi càng được ghé thăm và củng cố lại, những ký ức trở nên vững bền đến mức khó mà xóa bỏ. Chúng được bọc chặt trong một mạng lưới những kết nối trên vỏ não cho phép chúng tồn tại độc lập với hồi hải mã. Tới đây lại nảy ra một câu hỏi nan giải: Những ký ức của EP từ năm 1950 trở lại đây bị xóa sạch khi sau virus ăn thùy thái dương hay chúng vẫn còn đó nhưng ông ấy không thể tiếp cận được? Loài virus đó đốt nửa ngôi nhà, hay nó chỉ quẳng đi chiếc chìa khóa? Không ai biết. Người ta cho rằng giấc ngủ đóng một vai trò thiết yếu trong quá trình củng cố trí nhớ và tạo ra ý nghĩa từ chúng. Những con chuột mất một tiếng chạy quanh một tuyến đường thì https://thuviensach.vn khi ngủ chúng cũng chạy lại tuyến đường đó, và trong khi ngủ chúng cũng thể hiện một kiểu phản ứng thần kinh như khi chúng khám phá mê cung lần đầu tiên. Có ý kiến cho rằng lý do giấc mơ của chúng ta thường như một tái kết hợp siêu thực những yếu tố rút ra từ đời sống là bởi chúng là sản phẩm phụ của những trải nghiệm đang dần được củng cố trong trí nhớ dài hạn. Ngồi cùng EP trên ghế trong phòng ông, tôi tự hỏi ông còn mơ khi ngủ không. Tất nhiên, ông không biết được, nhưng tôi vẫn hỏi, xem ông nói gì. “Liên tục,” ông bình thản nói, dù câu trả lời của ông chắc hẳn là bốc phét. “Nhưng những giấc mơ rất khó nhớ.” Khi bước vào thế giới này, tất cả chúng ta đều như những người mắc chứng quên, và khi rời khỏi thế giới, rất ít người ra đi trong đúng trạng thái đó. Một ngày nọ, tôi hỏi đứa cháu ba tuổi của tôi về ngày sinh nhật thứ hai của nó. Dù sự kiện diễn ra gần một năm rồi, những hồi tưởng của nó lại chính xác đến ngạc nhiên. Nó nhớ tên của người thanh niên chơi đàn ghita mua vui cho nó và bạn bè, và có thể nhắc lại tên những bài chúng đã hát. Nó cũng nhớ bộ trống nhỏ tôi tặng nó làm quà. Nó nhớ đã ăn kem với bánh. Tuy nhiên, khoảng mười năm nữa, gần như chắc chắn nó sẽ không nhớ gì những chuyện này. Trước tuổi lên ba lên bốn, gần như không có gì xảy ra với chúng ta để lại được dấu ấn lâu dài để có thể nhớ lại một cách có ý thức lúc ta trưởng thành. Tuổi trung bình mà người ta có ký ức sớm nhất là ba tuổi rưỡi, và đó thường là những mảnh hình ảnh lờ mờ, sai lạc. Thật lạ là trong giai đoạn đó con người học nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong đời - khi người ta học đi và học nói và tìm hiểu thế giới - nhưng có rất ít những điều đã học được nhớ một cách rõ ràng. Freud nghĩ rằng chứng quên ở trẻ con liên quan đến việc người lớn kìm nén những tưởng tượng tình dục thái quá vào đầu thời thơ ấu, hành động đó chỉ trở nên đáng xấu hổ khi đứa bé lớn hơn. Tôi không chắc bạn có thể tìm được nhiều nhà tâm lý học vẫn còn bám víu vào diễn giải đó. Lời giải thích khả dĩ hơn cho chứng quên thời trẻ con kỳ lạ này nằm ở chỗ bộ não của chúng ta trưởng thành nhanh chóng trong vài năm đầu đời, những liên kết thần kinh không sử dụng sẽ bị gọt tỉa và những kết nối mới liên tục hình thành, vỏ não chỉ phát triển toàn vẹn vào quãng năm ba đến bốn tuổi, vào thời gian đó, trẻ em bắt đầu lưu giữ trí nhớ vĩnh viễn. Tuy nhiên, ngành giải phẫu học chỉ có thể lý giải một phần câu chuyện. Khi là trẻ con, chúng ta thiếu những hiểu biết để giải thích thế giới và liên hệ hiện tại với quá khứ. Không có trải nghiệm - và có lẽ quan trọng nhất, không có công cụ thiết yếu là ngôn ngữ - trẻ con thiếu khả năng ghi dấu trí nhớ vào mạng lưới ý nghĩa để có thể tiếp cận về sau này trong đời. Những cấu trúc đó chỉ phát triển theo thời gian, qua việc tiếp xúc với thế giới. Tri thức thiết yếu trong những năm đầu đời gần như hoàn toàn là trí nhớ ám thị, hay còn gọi trí nhớ vô thức. Nói cách khác, mọi người trên đời này đều từng có lúc trải nghiệm tình trạng của EP. Và giống như EP, chúng ta đều quên hết những trải nghiệm đó là như thế nào. Tôi tò mò xem trí nhớ tiềm ẩn, vô thức của EP tác động thế nào nên tôi hỏi ông có muốn dẫn tôi đi bộ vòng quanh khu dân cư không. Ông bảo, “Không muốn lắm,” nên tôi chờ và hỏi ông lại vài phút sau. Lần này ông đồng ý. Chúng tôi bước ra của trước dưới ánh nắng chiều và rẽ phải - quyết định của ông, không phải tôi. Tôi hỏi EP tại sao không rẽ trái. “Chỉ là tôi không thích lối kia. Tôi cứ đi như thế thôi. Tôi không biết tại sao,” ông nói. Nếu tôi đề nghị ông vẽ sơ đồ lộ trình mà ông đi ít nhất ba lần một ngày hẳn ông sẽ không bao giờ làm được. Ông còn không biết địa chỉ nhà mình, hay đường nào ra biển (dù hầu https://thuviensach.vn như bất kỳ ai ở San Diego cũng rõ). Nhưng sau nhiều năm đi bộ cùng trên một tuyến đường, hành trình này đã khắc sâu vào vào tiềm thức của ông. Bây giờ vợ ông, bà Beverly đã để ông ra ngoài một mình, dù một lần rẽ sai cũng khiến ông hoàn toàn lạc đường. Đôi khi ông quay về nhà với những vật ông tìm được dọc đường: một nắm đá cuội, một chú chó con, ví của ai đó. Ông không bao giờ có thể giải thích làm thế nào ông có nó. “Hàng xóm chúng tôi yêu mến ông bởi ông cứ thế đến chỗ họ và trò chuyện rất tự nhiên” Beverly bảo tôi. Dù ông coi mỗi lần đều là lần đầu gặp họ, qua thói quen ông biết được rằng có thể yên tâm và thoải mái với những người này, và ông diễn giải những cảm xúc vô thức về sự dễ chịu thành lý do thuyết phục đủ khiến ông dừng chân và nói lời chào. Việc EP biết phải quý mến những người hàng xóm dù không bao giờ nhận ra họ là ai đã chỉ ra nhiều hoạt động cơ bản hàng ngày được định hướng bởi những giá trị và xét đoán tiềm ẩn, không liên quan đến trí nhớ hữu thức. Tôi tự hỏi còn điều gì khác EP học được từ thói quen. Đâu là những trí nhớ vô thức khác đã tiếp tục hình thành trong ông hơn mười lăm năm qua, kể từ khi ông mất trí nhớ hữu thức? Chắc chắn, ông vẫn có ham muốn và sợ hãi, có cảm xúc và khát khao - dù sự hồi tưởng có ý thức về những cảm xúc đó thoảng qua nhanh đến nỗi ông không thể nhận ra đủ lâu để nói thành lời. Tôi nghĩ đến mình mười lăm năm trước, và bao nhiêu thay đổi trong thời gian đó. Con người tôi ngày nay và con người tôi đã tồn tại lúc trước, nếu đặt cạnh nhau trông khá giống nhau. Nhưng chúng tôi là một tập hợp những phân tử hoàn toàn khác nhau, với đường viền chân tóc và vòng bụng khác nhau, và có khi hầu như chẳng có điểm chung nào ngoài cái tên. Điều ràng buộc con người kia với con người này của tôi, điều cho tôi giữ ảo tưởng rằng có sự liên tục từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từ năm này sang năm khác, ấy là sự ổn định tương đối nhưng không ngừng dần dần biến đổi ngay trung tâm sự tồn tại của tôi. Gọi đó là linh hồn, là ngã, hay một sản phẩm phụ xuất hiện giữa mạng lưới thần kinh, nhưng dù bạn có gọi nó là gì, thì yếu tố liên tục hoàn toàn phụ thuộc vào trí nhớ. Dù chúng ta hoàn toàn phó mặc cho trí nhớ trong việc hình thành căn tính, thì rõ ràng EP vẫn không hề là một sinh linh vô hồn. Bất chấp mọi thứ ông đánh mất, ông vẫn là một con người có tính cách riêng - mà còn thực sự là một cá tính hấp dẫn - với một thế giới quan độc đáo. Dẫu một loại virus đã xóa sạch trí nhớ của ông, thì nó không xóa sạch cái phần người của ông. Nó chỉ bỏ lại cái ngã tĩnh tại, trống rỗng, không bao giờ có thể phát triển hay thay đổi được nữa. Chúng tôi băng qua đường, rời xa bà Beverly và cô Carol, giờ chỉ còn tôi ở riêng với EP lần đầu tiên. Ông không biết tôi là ai, hay tôi ở bên cạnh ông làm gì, dù dường như ông cảm thấy tôi ở đây vì thiện ý. Ông nhìn tôi, mím môi, và tôi có thể thấy ông đang tìm điều gì muốn nói. Thay vì cố lấp sự yên lặng trống trải, tôi nấn ná một lúc xem sự khó chịu này dẫn đến đâu. Tôi đồ rằng mình đang hy vọng ông thoáng nhận ra tình huống kỳ cục này như câu chuyện không có một lời mở đầu. Nhưng ông không hề nhận ra như vậy, hay nếu có thì EP không bao giờ để lộ ra cả. Tôi nhận ra ông bị mắc kẹt trong con ác mộng hiện sinh tột cùng, hoàn toàn mù mờ trước thực tế ông đang sống. Rồi cơn bốc đồng thúc đẩy tôi giúp ông thoát ra, dù chỉ trong một giây. Tôi muốn nắm cánh tay mà lay ông. “Ông bị rối loạn suy giảm trí nhớ hiếm gặp,” tôi muốn bảo ông thế. “Ông đã mất ký ức năm mươi năm qua. Chưa đầy một phút nữa, ông sẽ quên rằng cuộc trò chuyện này từng xảy ra.” Tôi tưởng tượng nỗi kinh hoàng đổ xuống đầu ông, sự minh mẫn thoáng chốc, sự trống trải rộng hoác vụt mở ra trước mặt ông rồi đóng lại cũng nhanh như thế. Rồi một chiếc xe chạy qua hay một tiếng chim kêu có thể kéo ông lại quả bóng lãng quên bao bọc lấy ông. Nhưng https://thuviensach.vn tất nhiên tôi không làm như vậy. “Chúng ta đi khá xa rồi,” tôi bảo ông, và chỉ về hướng chúng tôi đã ra đi. Chúng tôi quay lại và bước dọc xuống con phố ông đã quên tên, đi qua người hàng xóm đang vẫy tay mà ông không nhận ra, về ngôi nhà mà ông không biết. Trước căn nhà đỗ chiếc xe ô tô cửa kính màu. Chúng tôi quay sang nhìn bóng mình trong gương. Tôi hỏi EP ông thấy gì. “Một ông già,” ông bảo. “Thế thôi.” https://thuviensach.vn Chương bốn Chuyên gia của chuyên gia D ù sinh ra chịu kiếp làm gà chẳng phải sung sướng gì, song làm chú gà trống choai mới đúng là thậm vô phúc. Từ góc độ người nuôi gà, gà trống là đồ vô dụng. Chúng không thể đẻ trứng, thịt thì dai, chúng quấy rầy những chị gà mái đang vất vả tự vỗ béo để dâng thịt lên bàn ăn chúng ta. Các xưởng ấp trứng thương mại có xu hướng coi gà trống như mớ vải thừa hay đống sắt vụn: sản phẩm phụ lãng phí nhưng không tránh khỏi của quá trình sản xuất công nghiệp. Chúng càng lộ giới tính sớm càng tốt, và thường chúng sẽ bị đem đi làm thức ăn cho gia súc. Nhưng có một vấn đề tốn kém làm người chăn nuôi đau đầu hàng nghìn năm nay: Gần như không thể phân biệt gà trống với gà mái cho tới khi chúng được bốn đến sáu tuần tuổi, lúc chúng bắt đầu phát triển lông đặc trưng và những đặc điểm giới tính phụ như mào gà. Còn trước đó, chúng vẫn chỉ là những con vật nhỏ xinh chẳng phân biệt được con nào ra con nào nên cứ phải giữ nuôi - với một chi phí đáng kể. Mãi đến những năm 1920 mới có người tìm ra giải pháp cho nan đề tốn kém này. Khám phá quan trọng đó là của một nhóm nhà khoa học thú y Nhật Bản, họ đã nhận ra rằng đằng sau đít gà là một tập hợp những nếp, những dấu và vết, và những u mà mắt thường xem là ngẫu nhiên, nhưng nếu nhìn đúng cách thì có thể phân định được giới tính của gà mới một ngày tuổi. Khi phát hiện này được công bố năm 1927 tại Hội nghị Gia cầm Thế giới ở Ottawa, nó đã làm một cuộc cách mạng đối với ngành chăn nuôi gà toàn cầu và cuối cùng cũng giúp giảm giá trứng gà thế giới. Chuyên gia xác định giới tính gà, được trang bị kỹ năng phải rèn luyện nhiều năm mới thành thạo, trở thành những công nhân cao giá nhất ngành nông nghiệp. Những người giỏi nhất là các cử nhân đã qua hai năm học Trường Giới tính Gà Zen-Nippon, mà tiêu chuẩn ở đây khắt khe đến nỗi chỉ 5 đến 10 phần trăm sinh viên nhận được chứng chỉ. Nhưng những người tốt nghiệp có thể kiếm đến năm trăm đô la mỗi ngày, và họ như những nhà tư vấn kinh doanh hạng nhất, đi vòng quanh thế giới, từ xưởng ấp trứng này đến xưởng ấp trứng khác. Cộng đồng những chuyên gia giới tính gà người Nhật Bản đã lan tràn khắp địa cầu. Xác định giới tính gà là một nghệ thuật tinh tế, đòi hỏi sự tập trung như thiền định, và sự khéo léo của một nhà phẫu thuật não. Con gà được cầm trong tay trái và bị bóp nhẹ cho nó bài tiết (nếu mạnh quá, ruột sẽ lòi ra, làm gà chết và lúc ấy xác định giới tính chẳng còn ý nghĩa gì cả). Bằng ngón cái và ngón trỏ, chuyên gia giới tính lật ngược con gà, vạch cái hõm nhỏ nơi thân sau và làm lộ ra một huyệt, là lỗ thông nhỏ vừa là bộ phận sinh dục vừa là hậu môn, rồi nhìn vào trong. Để làm cho khéo, móng tay anh ta phải cắt tỉa gọn gàng. Trong những trường hợp đơn giản - những trường hợp mà chuyên gia giới tính có thể giải thích được - anh ta đang tìm một cái u rất khó nhận ra, gọi là “hạt,” chỉ to bằng đầu ghim. Nếu hạt này lồi, thì là gà trống, rồi con gà bị vứt sang bên trái; nếu lõm hoặc phẳng thì là gà mái, và đưa xuống máng bên phải. Những trường hợp đó khá dễ. Thực tế, một nghiên cứu chỉ ra rằng những người không chuyên có thể học được cách xác định hạt này chỉ trong vài phút đào tạo. Nhưng trong gần 80 phần trăm gà con, hạt này không nhìn rõ, và chuyên gia giới tính cũng không thể chỉ ra được dấu vết rõ rệt độc lập nào khác để nhận diện. Thay vào đó anh ta sẽ tìm một tổ hợp các vết, nếp và rãnh nếu xét riêng ra thì vô nghĩa, nhưng kết hợp lại sẽ cho biết giới tính của gà. Ước tính có đến hàng nghìn hình dạng hậu môn gà mà chuyên gia giới tính phải học để trở https://thuviensach.vn nên thành thạo. Chuyên gia giới tính chỉ được nhìn thoáng qua là phải chẩn đoán ngay giới tính con gà nên công việc càng khó khăn bội phần. Không có thì giờ để lý lẽ bằng ý thức. Nếu anh ta do dự chỉ vài giây, con gà bị nắm chặt có thể bị sưng phồng lỗ hậu môn và trông nó giống hệt một con gà trống. Nhầm lẫn phải trả giá đắt. Những năm 1960, một trại gà trả cho chuyên gia giới tính một penny cho mỗi con gà được xác định đúng giới tính, và trừ đi 35 cent cho mỗi lần xác định sai. Công suất cao nhất trong ngành này là xác định giới tính cho 1.200 con gà trong một giờ, với độ chính xác 98 đến 99 phần trăm. Ở Nhật, vài “siêu anh hùng” trong ngành này học được cách nắm hai con cùng lúc để xác định giới tính của chúng, nâng hiệu suất lên 1.700 con mỗi giờ. Điều gì làm cho việc xác định giới tính gà trở thành một chủ đề say mê như vậy - lý do mà các nhà triết học kinh viện và nhà triết học nhận thức đã viết nhiều luận văn về nó, và lý do mà nghiên cứu của tôi về trí nhớ đã đưa tôi đến đây - ấy là dù những chuyên gia giới tính giỏi nhất không thể diễn tả làm thế nào họ xác định giới tính trong những tình huống khó khăn nhất, mơ hồ nhất. Tài nghệ của họ không thể giải thích nổi. Họ nói rằng, trong ba giây họ biết ngay con gà là trống hay mái, nhưng họ không thể giải thích tại sao. Cả khi được các nhà nghiên cứu phỏng vấn cẩn thận, họ cũng không thể lý giải vì sao con này là trống, con kia là mái. Theo họ, cái họ có là linh cảm. Theo một nghĩa cơ bản, chuyên gia xác định giới tính gà nhìn nhận thế giới - ít nhất là thế giới bộ phận sinh dục của gà - theo cách hoàn toàn khác với tôi và bạn. Khi họ nhìn vào phao câu gà, họ thấy những điều mà người thường không thể. Vậy xác định giới tính gà thì có liên quan gì đến trí nhớ? Toàn bộ. Tôi quyết định tốt hơn nên lặn (thực ra là vục mặt) vào các tư liệu khoa học. Tôi đang tìm bằng chứng vững chắc cho thấy rằng chúng ta thực sự có thể cải thiện đáng kể trí nhớ như Buzan và các vận động viên trí óc đã hứa hẹn. Tôi chẳng phải nhọc công tìm kiếm lâu lắm. Lúc tôi đang sục sạo tài liệu về việc cải thiện trí nhớ, một cái tên cứ nảy ra: K. Anders Ericsson. Ông là giáo sư tâm lý học tại Đại học bang Florida (FSU) và là tác giả của bài báo tựa đề “Những người có trí nhớ đặc biệt: do luyện tập, không phải bẩm sinh.” Trước khi Tony Buzan tiếp thị rộng rãi ý tưởng “sử dụng bộ nhớ hoàn hảo của bạn,” Ericsson đã đặt nền tảng khoa học cho điều được gọi là “Lý thuyết Trí nhớ do Luyện tập,” nó giải thích làm thế nào và tại sao trí nhớ có thể cải thiện được. Năm 1981, trong một thí nghiệm nay đã trở thành kinh điển, ông và đồng nghiệp, nhà tâm lý Bill Chase nghiên cứu một sinh viên Carnegie Mellon, người đã hóa thành bất tử trong thư tịch qua cái tên viết tắt, SF. Chase và Ericsson trả tiền để SF đến phòng thí nghiệm của họ, một tuần vài tiếng, để làm một một thí nghiệm đơn giản, cứ lặp đi lặp lại suốt như vậy. Nó cũng tương tự như thí nghiệm Luria làm với S khi anh lần đầu tiên bước vào văn phòng ông. SF ngồi trên ghế nghe đọc các con số với tốc độ mỗi số một giây, và phải ráng nhớ được càng nhiều số càng tốt. Ban đầu, anh ta chỉ có thể nhớ bảy chữ số một lúc. Và theo thời gian, thí nghiệm cứ lặp lại như vậy - hai năm và 250 tiếng đồng hồ chán ngắt - SF đã tăng khả năng nhớ chữ số gấp mười lần. Thí nghiệm đã đập tan quan niệm cũ rằng năng lực trí nhớ của chúng ta không thay đổi. Ericsson tin rằng cách SF làm được như vậy sẽ là chìa khóa để hiểu quá trình nhận thức căn bản nằm sau mọi dạng thức chuyên môn - từ vận động viên trí óc đến đại kiện tướng cờ vua đến chuyên gia giới tính gà. Tất cả mọi người đều có trí nhớ tuyệt vời về một mặt nào đó. Chúng ta đã thấy tài ghi nhớ của các tài xế London, và các tư liệu khoa học đầy rẫy những bài báo về “trí nhớ siêu đắng” của những bồi bàn, khả năng dồi dào của các diễn viên trong ghi nhớ dòng thoại, và kỹ năng ghi nhớ của những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác. Các nhà khoa học đã nghiên cứu trí nhớ đặc biệt của các bác sỹ, người hâm mộ bóng chày, nghệ sĩ violon, cầu thủ bóng đá, cơ thủ bi-a, vũ công ballet, những người làm tính, người giải ô chữ, và cầu thủ https://thuviensach.vn phòng ngự môn bóng chuyền. Thử chọn bất kỳ lĩnh vực nào trong hoạt động của con người, tôi cá với bạn rằng ở đâu đó đã có nhà tâm lý học viết một nghiên cứu về trí nhớ đặc biệt của những chuyên gia trong lĩnh vực ấy. Tại sao bồi bàn kỳ cựu không cần ghi chép việc khách hàng gọi món? Tại sao những nghệ sĩ violon giỏi nhất thế giới nhớ các bản tổng phổ tốt đến vậy? Làm thế nào, như một nghiên cứu đã chứng minh, một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp chỉ nhìn thoáng một trận đấu bóng trên tivi là có thể thuật lại chính xác điều đang xảy ra trong trận đấu? Một lời giải thích khả dĩ có lẽ là những người có trí nhớ tốt về việc khách gọi món sẽ được hướng vào làm trong ngành dịch vụ ăn uống, hay cầu thủ bóng đá với trí nhớ tốt nhất về đội hình trên sân sẽ rộng đường leo lên chơi ở giải ngoại hạng, hay người có con mắt tuyệt vời xem giới tính gà hiển nhiên sẽ đổ về Trường Giới tính Gà Zen-Nippon. Song có lẽ không phải vậy. Sẽ hợp lý hơn nếu tin rằng mối quan hệ nhân quả đó diễn biến theo chiều ngược lại. Có một điều gì đó khiến ai thành thạo được một lĩnh vực cụ thể sẽ phát triển trí nhớ tốt hơn về những chi tiết thuộc lĩnh vực đó. Nhưng điều gì đó là cái gì? Và có thể tổng quát hóa “điều gì đó” không, để bất kỳ ai cũng có thể làm được? “Phòng nghiên cứu khả năng con người,” do Ericsson điều hành, cùng một nhóm các nhà nghiên cứu khác ở FSU, là nơi các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đến để kiểm tra trí nhớ và nhiều mặt khác. Có thể coi Ericsson là chuyên gia hàng đầu thế giới về những chuyên gia. Quả thật, những năm gần đây, ông trở nên nối tiếng nhờ vào nghiên cứu cho thấy rằng các chuyên gia cần ít nhất mười ngàn giờ luyện tập để đạt đến đẳng cấp quốc tế. Khi tôi gọi điện cho ông và bảo rằng tôi đang định cố gắng rèn luyện trí nhớ, ông muốn biết là tôi đã bắt đầu chưa. Tôi bảo tôi chưa thực sự bắt đầu. Nghe vậy ông cực kỳ phấn khích; ông bảo chưa bao giờ có cơ hội nghiên cứu một người mới bước vào quá trình trở thành chuyên gia. Ông bảo nếu tôi có ý định nghiêm túc, thì ông muốn tôi làm đối tượng nghiên cứu của ông. Ông mời tôi xuống Florida vài ngày để làm một số thí nghiệm. Ông muốn có vài thông số ban đầu về trí nhớ của tôi trước khi tôi bắt đầu cố cải thiện nó. Trụ sở của Phòng Nghiên cứu Khả năng Con người là một tòa văn phòng sang trọng ở ngoại ô Tallahassee. Các giá sách dọc tường với một danh mục đầy những tựa sách liên quan đến nghiên cứu của Ericsson: Bản năng âm nhạc, Phẫu thuật Bàn chân, Trở thành ngôi sao trong công việc, Bí quyết chơi cờ vua hiện đại, Bách khoa thư về chạy bộ, Chuyên gia Giới tính Gà. David Rodrick, một trợ lý trẻ tuổi ở phòng nghiên cứu, hồ hởi mô tả nơi này là “cung điện đồ chơi.” Tôi đến đây sau vài tuần kể từ cuộc gọi điện đầu tiên cho Ericsson; khi đến nơi tôi thấy ngay có một màn hình cao từ sàn lên trần, cỡ 2,7m x 4,2m đặt giữa một căn phòng, đang chiếu một cảnh phim với kích thước hệt như ngoài đời thực về một chốt giao thông. Nó được quay từ góc nhìn của một cảnh sát giao thông đang tiến đến một chiếc xe bị chặn lại. Vài tuần trước đó, Ericsson và đồng nghiệp của ông đã mời những cảnh sát đặc nhiệm của Tallahassee (SWAT) và những sinh viên mới tốt nghiệp học viện cảnh sát đến phòng thí nghiệm của ông rồi đặt họ trước màn hình lớn cùng một khẩu súng ngắn Beretta đã nạp đạn giả cài nơi hông. Họ oanh tạc những cảnh sát bằng hết kịch bản dựng tóc gáy này đến kịch bản khác rồi quan sát cách họ phản ứng. Trong một kịch bản, viên cảnh sát thấy một kẻ đang bước đến cổng trường học với dáng cồm cộm khả nghi như đang giấu quả bom trên ngực. Nhà nghiên cứu muốn biết các cảnh sát với những kinh nghiệm khác nhau sẽ phản ứng ra sao. Kết quả thật kinh ngạc. Những cảnh sát đặc nhiệm giàu kinh nghiệm ngay lập tức rút https://thuviensach.vn súng ra và không ngớt hô hoán kẻ tình nghi đứng lại. Khi hắn ta không dừng, hầu hết họ sẽ nổ súng trước khi hắn vào được trong trường. Nhưng những người mới tốt nghiệp thường để kẻ mang bom bước qua được bậc thềm vào trong tòa nhà. Đơn giản là họ thiếu kinh nghiệm phỏng đoán tính huống và phản ứng phù họp. Ít nhất xét bề ngoài là vậy. Nhưng kinh nghiệm chính xác là gì? Đâu là điều mà những cảnh sát lâu năm nhìn ra, còn những lính mới lại không thấy? Mắt họ đã nhìn thấy gì, điều gì diễn ra trong đầu họ, sao họ xử lý tình huống theo cách khác? Điều gì họ rút ra được từ trí nhớ? Cũng như chuyên gia giới tính gà, những cảnh sát đặc nhiệm lâu năm có một kỹ năng không dễ diễn tả thành lời. Chương trình nghiên cứu của Ericsson có thể mô tả tóm tắt là một nỗ lực để khu biệt cái chúng ta gọi là sự tinh thông chuyên môn, để ông có thể mổ xẻ và xác định cơ sở nhận thức của nó. Để làm như vậy, Ericsson và đồng nghiệp đề nghị nhóm cảnh sát kể lại trong đầu họ nghĩ gì khi kịch bản mở ra. Điều Ericsson dự kiến thu được từ những lời thuật này cũng y như điều ông phát hiện ở những lĩnh vực chuyên môn khác mà ông đã nghiên cứu: Các chuyên gia quan sát thế giới theo một cách khác. Họ nhận ra điều mà những người thường không nhận ra. Họ nhắm vào những thông tin quan trọng nhất, và có cảm nhận gần như vô thức rằng phải làm gì. Và quan trọng nhất, các chuyên gia xử lý một lượng thông tin khổng lồ chảy qua dòng cảm nhận của họ theo những cách phức tạp hơn. Họ có thể vượt qua một trong những giới hạn cơ bản nhất của bộ não: số bảy ma thuật. Năm 1956, một nhà tâm lý học ở Harvard, tên George Miller đã đăng một tài liệu sau này trở thành kinh điển trong lịch sử nghiên cứu trí nhớ. Nó bắt đầu bằng lời dẫn ấn tượng: Vấn đề của tôi ấy là tôi bị một số nguyên tố quấy rầy. Trong bảy năm qua, chữ số này cứ bám nhẵng lấy tôi, xâm nhập vào những dữ liệu riêng tư nhất của tôi, và đã công kích tôi từ những trang viết trên các tạp chí phổ thông nhất của nước ta. Chữ số này có nhiều hình thức ngụy trang lắm, đôi khi lớn hơn một chút và đôi khi nhỏ hơn một chút so với bình thường, nhưng không bao giờ thay đổi quả nhiều đến mức chẳng thể nhận ra. Sự phiền toái dai dẳng mà chữ số ấy gây ra cho tôi không chỉ là một tai nạn ngẫu nhiên. Nói như một thượng nghị sĩ nổi tiếng, thì hẳn có một sự xếp đặt đằng sau đó, một cách thức điều chỉnh vẻ ngoài của nó. Hoặc là thực sự có điều gì đó bất thường về chữ số này, hoặc là tôi bị một ảo giác hành hạ. Thực ra, tất cả chúng ta đều bị hành hạ bởi chữ số nguyên tố Miller đang nhắc đến. Nghiên cứu của ông có tựa đề “Chữ số bảy ma thuật, Cộng hoặc trừ hai: Một số giới hạn của chúng ta về khả năng xử lý thông tin.” Miller đã phát hiện ra rằng, khả năng xử lý thông tin và việc ra quyết định của chúng ta đều chịu hai giới hạn cơ bản: Ta chỉ có thể nghĩ về chừng bảy thứ cùng một lúc. Khi một ý nghĩ mới hoặc một nhận thức mới đi vào đầu chúng ta, nó không được cất ngay vào trí nhớ dài hạn. Thay vào đó, nó tồn tại trong một cái kho tạm bợ, gọi là bộ nhớ tạm (working memory), một tập hợp các hệ thống trong não bộ có chức năng giữ bất kể điều gì đang lướt qua nhận thức của chúng ta ở thời điểm hiện tại. Hãy cô lập lại trước hết những từ trong câu này mà không nhìn hay đọc lại nó. Không nhìn lại nhé. Khá dễ. Giờ, không nhìn lại, cố nhắc lại ba từ đầu tiên của câu trước đó. Nếu bạn thấy khó hơn, ấy là bởi câu đó đã bị trí nhớ tạm thời bỏ đi. https://thuviensach.vn Trí nhớ tạm thời đóng một vai trò thiết yếu, là bộ lọc giữa nhận thức về thế giới và trí nhớ dài hạn. Nếu mọi cảm nhận và suy nghĩ bị truyền ngay vào kho dữ liệu khống lồ là trí nhớ dài hạn, như trường hợp của S và Funes, chúng ta sẽ bị chết ngập trong những thông tin vô bổ. Hầu hết những gì đi qua não không cần phải được nhớ quá lâu so với thời gian chúng ta cần để nhận thức được chúng, và nếu cần thiết thì có phản ứng lại với chúng. Quả thật, chia trí nhớ thành ngắn hạn và dài hạn là một cách khôn khéo để quản lý thông tin, hầu hết máy tính đều dựa trên mô hình này. Chúng có bộ nhớ dài hạn là các ổ cứng, và bộ nhớ ngắn hạn chính là bộ nhớ đệm (cache) trong CPU (đơn vị xử lý trung tâm), giúp lưu trữ bất kể thứ gì mà bộ vi xử lý đang tính toán ở thời điểm hiện tại. Như một chiếc máy tính, năng lực hoạt động của chúng ta bị giới hạn bởi số lượng thông tin chúng ta có thể “tung hứng” vào một thời điểm. Trừ phi những sự việc được chúng ta lặp đi lặp lại nhiều lần, còn không thì chúng có xu hướng tuột khỏi khỏi trí nhớ. Ai cũng biết trí nhớ tạm thời của chúng ta khá kém cỏi. Nghiên cứu của Miller giải thích rằng chúng kém cỏi trong những giới hạn rất cụ thể. Một số người có thể chỉ nhớ được năm sự việc trong đầu ở một thời điểm cụ thể, vài người có thể nghĩ trong đầu đến chín sự việc, nhưng “số bảy ma thuật” dường như đại diện cho khả năng phổ quát về trí nhớ ngắn hạn của chúng ta. Và tệ hơn, bảy sự việc đó chỉ lưu lại vài giây, và thường là chẳng lưu gì hết nếu chúng ta bị phân tâm. Chính vì giới hạn cơ bản này - cũng là hạn chế chung của tất cả chúng ta - khiến chúng ta thấy kỳ tích của các chuyên gia trí nhớ thật đáng kinh ngạc. Cuộc kiểm tra trí nhớ của tôi không diễn ra trước màn hình máy chiếu cao bằng cả bức tường ở Phòng nghiên cứu khả năng con người. Không có súng ngắn đeo nơi đai lưng, không có thiết bị theo dõi ánh mắt gắn vào đầu. Đóng góp khiêm nhường của tôi cho tri thức nhân loại được chiết ra ở phòng 218 của khoa tâm lý FSU, một căn phòng nhỏ không cửa sổ, thảm lốm đốm vết bẩn và những tờ giấy kiểm tra IQ cũ vương vãi trên sàn. Nói không ngoa, nó chẳng khác gì cái nhà kho. Người trông coi việc kiểm tra của tôi là một nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ ba ở phòng nghiên cứu của Ericsson, tên Tres Roring. Tres đi đôi dép xỏ ngón và có mái tóc vàng như vận động viên lướt sóng, nhìn ngoài chẳng thể biết anh chàng lớn lên ở một thị trấn nhỏ miền nam Oklahoma. Ở tuổi mười sáu, anh là Vô địch Cờ vua thiếu niên bang Oklahoma. Tên đầy đủ của anh là Roy Roring III - nên gọi tắt là “Tres.” Tres và tôi mất ba ngày tròn trong phòng 218 để làm các bài kiểm tra trí nhớ - tôi đeo một cái tai nghe gắn micro nối với một máy ghi âm cũ, Tres ngồi đằng sau, chân bắt tréo, đồng hồ bấm giờ đặt trong lòng, và ghi chép. Có những bài kiểm tra trí nhớ chữ số (theo chiều xuôi, chiều ngược), kiểm tra khả năng nhớ từ, kiểm tra khả năng nhớ mặt người, kiểm tra đủ mọi thứ dường như chẳng liên quan gì đến trí nhớ - như tôi có thể hình dung trong đầu việc xoay một khối lập phương không, hay tôi có biết định nghĩa từ “jocose,” “lissome,” và “querulous”[8] không. Một bài thi trắc nghiệm gọi là Kiểm tra Thông tin Năng lực Đa chiều để kiểm tra kiến thức tổng hợp của tôi với những câu hỏi như: Khổng Tử sống vào thời nào? A. Năm 1650 sau Công nguyên https://thuviensach.vn B. Năm 1200 sau Công nguyên C. Năm 500 sau Công nguyên D. Năm 500 trước Công nguyên E. Năm 40 trước Công nguyên Và Trong động cơ đốt xăng, công dụng chính của bộ chế hòa khí là để A. Hòa xăng với khí B. Duy trì việc nạp ắc quy C. Kích hoạt lửa D. Chứa các pít-tông E. Bơm nhiên liệu vào động cơ Nhiều bài kiểm trắc nghiệm do Tres đưa ra lấy trực tiếp từ các vòng thi của Giải vô địch trí nhớ Hoa Kỳ, như mười lăm phút học thơ, tên người và khuôn mặt, những từ ngẫu nhiên, nhớ số nhanh, nhớ bài nhanh. Anh ấy muốn biết tôi làm được đến mức nào trước khi thử cải thiện trí nhớ. Anh ta cũng muốn kiểm tra một vài phần thi chỉ sử dụng trong các giải vô địch trí nhớ quốc tế, như những số nhị phân, ngày tháng lịch sử, đọc số. Sau ba ngày ở Tallahasse, Tres thu thập bảy tiếng dữ liệu ghi âm đưa cho Ericsson và các sinh viên của ông để dành phân tích sau này. Họ rõ là may mắn. Rồi sau đó là những cuộc phỏng vấn chi tiết do một sinh viên khác thực hiện, là Katy Nandagopal. Anh nghĩ anh có trí nhớ tự nhiên tốt không? (Khá tốt, nhưng không có gì đặc biệt.) Hồi nhỏ anh có chơi những trò trí nhớ không? (Tôi không thể nghĩ ra trò nào.) Chơi cờ chẳng hạn? (Chỉ chơi với bà tôi.) Anh có thích những câu đố không? (Ai không thích chứ?) Anh có thể xoay khối Rubik không? (Không.) Anh có hát không? (Chỉ trong nhà tắm thôi). Nhảy thì sao? (Như trên.) Anh có tập thể dục không? (Hỏi tới mà phát sầu). Anh có dùng miếng dán tiêu mỡ không? (Anh cần biết điều đó à?) Anh làm công việc tình nguyện không? (Có vài lần tôi làm ở điểm phát thức ăn miễn phí.) Anh có thành thạo việc đi dây điện không? (Hỏi nghiêm túc đấy à?) Với những ai muốn biết người ta đang làm gì với mình để một ngày kia sẽ kể cho người khác nghe, việc trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học quả là một nỗi khó chịu cùng cực. “Chính xác thì tại sao chúng ta làm việc này?” tôi hỏi Tres. “Giờ tôi không thể nói hết cho anh được.” (Giả như sau này tôi lại bị kiểm tra về điều gì đó - mà hóa ra là đúng vậy - anh ta không muốn tôi biết.) “Tôi đã làm bài kiểm tra vừa rồi thế nào?” “Chúng tôi sẽ cho anh biết khi xong mọi việc.” https://thuviensach.vn “Ít nhất thì anh cũng nói giả thiết của anh chứ?” “Không phải bây giờ.” “IQ của tôi bao nhiêu?” “Tôi không biết.” “Vậy thì chắc là cao nhỉ?” Cuộc kiểm tra trí nhớ chán ngắt mà SF, sinh viên trường Carnegie Mellon, đã làm đi làm lại trong 250 giờ trong hai năm, được gọi là kiểm tra chữ số. Đó là một biện pháp cơ bản để đo khả năng trí nhớ tạm thời về chữ số. Lúc mới bắt đầu, hầu hết mọi người khi làm bài kiểm tra như SF chỉ có thể nhớ bảy ± hai chữ số (tức từ 5 đến 9 số). Hầu hết mọi người nhớ được những số ấy bằng cách lặp đi lặp lại chúng trong “vòng âm vị” (phonological loop), một thuật ngữ lạ lùng để chỉ giọng nói nhỏ chúng ta có thể nghe trong đầu khi tự nói một mình. Vòng âm vị như là tiếng vọng, tạo thành bộ đệm trí nhớ ngắn hạn và chỉ lưu giữ âm thanh được trong vài giây, nếu chúng ta không nhắc lại những âm thanh đó. Khi bắt đầu tham gia vào thí nghiệm của Chase và Ericsson, FS cũng dùng vòng âm vị để lưu giữ thông tin. Và trong một thời gian dài, điểm số của anh ta ở phần kiểm tra này không hề cải thiện. Nhưng rồi điều gì đó đã xảy ra. Sau nhiều giờ kiểm tra, điểm số của SF bắt đầu nhích lên. Rồi một ngày anh ta nhớ được mười chữ số. Ngày tiếp theo là mười một. Số lượng các chữ số anh ta có thể nhớ được cứ tăng đều đặn. Anh ta có một khám phá: Dù trí nhớ ngắn hạn của anh ta có giới hạn, anh đã tìm ra cách lưu giữ thông tin trực tiếp vào trí nhớ dài hạn. Nó liên quan đến một kỹ thuật gọi là chia nhóm (chunking). Chia nhóm là một cách giảm số lượng những sự việc phải nhớ bằng cách tăng quy mô của mỗi sự việc. Chia nhóm là lý do khiến các số điện thoại được chia thành hai phần kèm với mã vùng và mã số thẻ tín dụng được chia thành những nhóm bốn chữ số. Kỹ thuật chia nhóm liên quan chặt chẽ đến câu hỏi tại sao các chuyên gia thường có trí nhớ đặc biệt như vậy. Lời giải thích thỏa đáng nhất là liên quan đến ngôn ngữ. Nếu bạn được đề nghị ghi nhớ hai mươi hai chữ cái HEADSHOULDERSKNEETOES, và bạn không nhận ra nên đánh vần chúng thê nào, chắc chắn bạn sẽ gặp khó khăn. Nhưng giờ hãy chia hai mươi hai chữ này thành bốn nhóm - HEAD, SHOULDERS, KNEES, và TOES (đầu, vai, gối, ngón chân) - rõ ràng nhiệm vụ trở nên dễ dàng hơn nhiều lần. Và giả như bạn biết được trọn bài đồng dao có câu này, thì dòng chữ “Head, Shoulders, knees, và toes” (Đầu, vai, đầu gối, ngón chân) có thể coi như là một nhóm. Những con số cũng vậy. Một dãy mười hai chữ số 120741 091101 thật khó mà nhớ được. Chia nó ra thành bốn nhóm - 120, 741, 091, 101 - dễ nhớ hơn chút rồi đấy. Rồi chuyển thành hai nhóm, 12/07/41 và 09/11/01, bạn sẽ rất khó mà quên được. Bạn có thể chuyến những ngày đó thành một nhóm thông tin duy nhất bằng cách ghi nhớ đó là “hai sự kiện lớn liên quan tới lịch sử Mỹ. Chú ý rằng quá trình phân nhóm diễn đạt lại những thông tin tưởng như vô nghĩa bằng những thông tin đã được lưu trong trí nhớ dài hạn. Nếu bạn không biết hai sự kiện lịch sử trên, bạn sẽ không bao giờ có thể phân nhóm dãy mười hai chữ số theo cách đó. Nếu bạn nói tiếng Swahili, không nói tiếng Anh, thì bài đồng dao vẫn chỉ là mớ lộn xộn những chữ cái. Nói cách khác, khi bàn đến chuyện phân nhóm - và rộng hơn là về trí nhớ - thì điều chúng ta đã biết trước sẽ quyết định điều chúng ta có thể học. https://thuviensach.vn Dù chưa bao giờ được học bài bản về kỹ thuật phân nhóm, SF tự tìm ra cách này. Là người thích chạy bộ, anh ta bắt đầu nghĩ về một dãy số ngẫu nhiên như là thời gian chạy. Ví dụ 3492 được chuyển thành “3 phút 49 phẩy 2 giây, suýt soát kỷ lục điền kinh thế giới cự li một dặm.” Và 4131 trở thành “4 phút, 13,1 giây, thời gian chạy một dặm.” SF không biết gì về những chữ số ngẫu nhiên anh ta phải nhớ, nhưng anh ta biết về chạy bộ. Anh ta phát hiện ra rằng anh ta có thể đưa những mẩu thông tin vô nghĩa qua một bộ lọc nhằm gán nghĩa cho chúng, và làm thông tin đó lưu lại dễ hơn. Anh ta đã sử dụng trải nghiệm trong quá khứ để định hình cách anh ta nhận thức hiện tại. Anh ta đang sử dụng những mối liên hệ trong trí nhớ dài hạn để nhìn những con số theo một cách khác. Hiển nhiên, mọi chuyên gia đều làm như vậy: Họ sử dụng trí nhớ của mình để nhìn thế giới theo một cách khác. Trải qua nhiều năm, họ xây dựng được một kho kinh nghiệm và nó sẽ định hình cách họ tiếp nhận thông tin mới. Người cảnh sát đặc nhiệm giàu kinh nghiệm không chỉ nhìn thấy một người đang bước đến trước cổng trường; anh ta thấy cái vẻ giần giật căng thẳng nơi cánh tay kẻ kia và liên hệ đến hàng chục dáng vẻ căng thẳng tương tự mà anh ta đã thấy trong nhiều năm làm cảnh sát. Anh ta đặt kẻ tình nghi trong bối cảnh từng gặp những kẻ khả nghi khác. Anh ta nhìn nhận cuộc đụng độ hiện tại dưới ánh sáng của những cuộc đụng độ tương tự trong quá khứ. Khi một người tốt nghiệp trường Trường Giới tính Gà Zen-Nippon nhìn vào phao câu gà, kỹ năng cảm nhận được mài giũa sắc bén giúp chuyên gia giới tính này nhanh chóng tổng hợp một lô thông tin nằm trong cơ thể gà, và trước khi suy nghĩ có ý thức xuất hiện, chuyên gia giới tính đã biết đó là gà trống hay mái rồi. Nhưng với trường hợp cảnh sát đặc nhiệm kỳ cựu, hiểu biết xuất hiện gần như tức thời đó không phải dễ mà có được. Nghe nói một sinh viên học nghề xác định giới tính phải xem ít nhất 250.000 con gà mới đạt được trình độ thuần thục. Như vậy dù chuyên gia giới tính gọi khả năng của họ là “trực giác” đi nữa, thì thật ra nó được rèn giũa trong suốt nhiều năm kinh nghiệm, cả một “ngân hàng ký ức” khổng lồ về đít gà cho phép người chuyên gia dù chỉ nhìn thoáng qua, cũng nhận ra những kiểu hậu môn gà khác nhau. Thường kỹ năng này không phải là kết quả của lý lẽ hữu thức, mà là một thứ nhận thức theo khuôn mẫu tổng hợp (pattern recognition). Nó là kết hợp của nhận thức và trí nhớ, không phải là kết quả phân tích. Ví dụ điển hình về cách thức các ký ức định hình nhận thức của các chuyên gia lại xuất hiện ở một lĩnh vực tưởng như ít cảm tính nhất: cờ vua. Trên thực tế, kể từ khi trò chơi hiện đại này ra đời vào thế kỷ mười lăm, cờ vua đã được xem là bài thử thách lớn nhất về khả năng nhận thức. Những năm 1920, một nhóm các nhà khoa học Nga bắt đầu đo đếm tiến bộ trí tuệ của tám kỳ thủ cờ vua giỏi nhất thế giới bằng cách cho họ làm những bài kiểm tra nhận thức cơ bản. Ngạc nhiên thay, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ở những bài kiểm tra, những đại kiện tướng không làm tốt hơn là mấy so với một người bình thường. Các kỳ thủ vĩ đại nhất thế giới dường như không có tiến bộ lớn nào về nhận thức. Nhưng nếu kiện tướng cờ vua nhìn chung không thông minh hơn những người chơi cờ kém hơn, vậy họ là gì? Những năm 1940, một nhà tâm lý học người Hà Lan, có am hiểu cờ vua, tên là Adriaan de Groot đã đặt ra một câu hỏi chừng như đơn giản: Đâu là điểm phân biệt giữa kỳ thủ giỏi thuần túy với kỳ thủ đẳng cấp thế giới? Có phải những kỳ thủ đẳng cấp nhất nhìn thấy trước những nước đi trong đầu? Họ có tính toán những nước đi khả dĩ không? Họ có những công cụ tốt hơn để phân tích nước đi không? Hay chỉ vì họ có trực giác tốt hơn trong trò chơi này? Một lý do làm cờ vua là bộ môn đáng chơi và đáng học tập, ấy là với hiểu biết trung bình về https://thuviensach.vn cờ vua bạn cũng có thể bị một nước đi của đại kiện tướng làm cho mụ mị hoàn toàn. Thường thì nước đi hay nhất dường như hoàn toàn phản-trực-giác. Nhận ra điều đó, de Groot đã nghiền ngẫm các ván cờ giữa những kiện tướng và chọn một số thế cờ chỉ có duy nhất một nước đi đúng, nhưng không dễ nhận ra. Rồi ông đưa các thế cờ cho một nhóm kiện tướng quốc tế và những kỳ thủ hàng đầu. Ông đề nghị họ nói to suy nghĩ khi họ nghiền ngẫm tìm nước đi đúng. Điều de Groot khám phá ra thậm chí còn gây ngạc nhiên hơn điều những tiền nhiệm người Nga phát hiện được. Trong đa số trường hợp, các chuyên gia cờ vua không thấy trước những nước đi trước, ít nhất ban đầu là vậy. Họ thậm chí còn không tính những nước đi khả dĩ. Thay vì vậy, họ xử sự giống những chuyên gia giới tính gà một cách đáng ngạc nhiên: Họ có xu hướng nhìn ra nước đi đúng, hơn nữa còn nhìn ra ngay lập tức. Cứ như thế chuyên gia cò vua không nghĩ ngợi quá nhiều khi đặt quân cờ. Khi de Groot lắng nghe những gì họ nói, ông nhận ra rằng họ mô tả lại những ý nghĩ bằng một ngôn ngữ khác những kỳ thủ ít kinh nghiệm hơn. Họ nói về những thê cờ như “thế phối hợp các quân tốt” và nhận ra điều không ổn, ví như quân xe bị hở. Họ không xem bàn cờ có ba mươi hai quân riêng lẻ. Họ xem nó như một nhóm những quân cờ, một hệ thống ràng buộc chặt chẽ với nhau. Theo nghĩa đen, các đại kiện tướng nhìn thấy một bàn cờ khác. Những nghiên cứu về cử động mắt phát hiện ra rằng họ nhìn mép những ô cờ nhiều hơn kỳ thủ thiếu kinh nghiệm, cho thấy họ tiếp thu thông tin từ nhiều ô cùng một lúc. Mắt họ cũng phóng xa hơn, và ít thời gian neo lại ở bất cứ điểm nào. Họ tập trung vào ít điểm khác nhau trên bàn cờ hơn, nhưng những điểm đó nhiều khả năng liên quan đến việc tìm ra nước đi đúng. Nhưng phát hiện gây kinh ngạc nhất trong số những nghiên cứu ban đầu này ấy là trí nhớ kinh khủng của họ. Các chuyên gia này có thể nhớ toàn bộ bàn cờ chỉ sau một cái nhìn thoáng qua. Họ có thể dựng lại bằng trí nhớ một ván cờ đã chơi từ rất lâu. Quả thật, những nghiên cứu sau này xác nhận rằng khả năng ghi nhớ vị trí trên bàn cờ là một trong những chỉ số tổng quan để đánh giá kỳ thủ giỏi. Và những vị trí quân cờ này không đơn thuần mã hóa trong trí nhớ ngắn hạn tạm thời. Các chuyên gia cờ vua có thể nhớ vị trí của một ván cờ trong hàng giờ, hàng tuần, thậm chí hàng năm sau đó. Thực tế, đến một thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của mỗi kiện tướng, việc nhớ vị trí quân cờ trên bàn trở thành một kỹ năng thông thường họ có thể đấu cờ với nhiều đối thủ cùng một lúc, hoàn toàn chỉ dùng đến trí nhớ. Trí nhớ của các kiện tướng đối với các ván cờ ấn tượng bao nhiêu, thì trí nhớ của họ đối với mọi thứ khác cũng bình thường bấy nhiêu. Khi các chuyên gia cờ vua được xem cách bài trí các quân cờ ngẫu nhiên - nghĩa là vị trí các quân cờ không phải từ một trận cờ có thực - thì trí nhớ của họ đối với bàn cờ đó chỉ cao hơn một chút so với người mới chơi. Họ hiếm khi nhớ quá bảy vị trí quân cờ. Cũng những quân cờ đó, cũng với bàn cờ đó. Vậy tại sao họ bỗng dưng chịu sự giới hạn của con số bảy ma thuật? Những thí nghiệm về cờ vua hé lộ một sự thật hùng hồn về trí nhớ, và về sự thành thạo chuyên môn (expertise) nói chung: Chúng ta không ghi nhớ những sự kiện đơn lẻ; chúng ta nhớ các sự vật theo bối cảnh. Một bàn cờ được sắp xếp ngẫu nhiên không có bối cảnh gì cả - không có một thế cờ nào tương tự để so sánh, không có những ván cờ trong quá khứ để liên hệ, không có cách nào để phân nhóm nó một cách có ý nghĩa. Thậm chí đối với kỳ thủ giỏi nhất thế giới, đám quân cờ đó nói chung vẫn là một mớ hỗn độn. https://thuviensach.vn Cũng theo cách chúng ta sử dụng trí nhớ để nhớ những ngày trong lịch sử (phân nhóm chuỗi mười hai chữ số), các kiện tướng cờ vua dùng một thư viện khổng lồ những thế phối hợp quân cờ họ đã lưu trong trí nhớ dài hạn để phân nhóm thế cờ. về bản chất, kỹ năng của kiện tướng nằm ở chỗ anh ta sở hữu một “kho” thế cờ phong phú hơn. Đó là lý do ít ai đạt được đẳng cấp thế giới trong môn cờ vua - hay trong bất cứ lĩnh vực nào - mà không có nhiều năm kinh nghiệm. Thậm chí cả Bobby Fischer, người có lẽ là thần đồng cờ vua vĩ đại nhất mọi thời đại, cũng phải chơi miệt mài những chín năm mới được công nhận là đại kiện tướng ở tuổi mười lăm. Trái ngược với những quan niệm xưa rằng cờ vua là hoạt động trí tuệ dựa trên phân tích, đa số nước đi quan trọng của kiện tướng được quyết định tức thì khi họ nhận ra thế cờ. Như chuyên gia giới tính nhìn con gà và thấy giới tính của nó, bác sĩ nhìn bệnh nhân và chẩn đoán bệnh, hay cảnh sát đặc nhiệm ngay lập tức nhận ra quả bom, kiện tướng cờ vua nhìn lên bàn cờ và thấy ngay nước đi hứa hẹn nhất. Quá trình này thường xảy ra trong vòng năm giây; và bạn có thể thực sự quan sát quá trình đó xảy ra trong bộ não. Sử dụng từ não đồ, một kỹ thuật đo từ trường yếu phát ra từ một bộ não đang suy nghĩ, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng khi nhìn vào bàn cờ, những kỳ thủ được xếp hạng cao thường sử dụng phần vỏ não trên trán và đỉnh, điều này cho thấy họ đang lục lại thông tin trong trí nhớ dài hạn. Những kỳ thủ xếp hạng thấp thường sử dụng thùy thái dương giữa, như vậy họ đang mã hóa thông tin mới. Các chuyên gia diễn giải bàn cờ hiện tại dựa trên hiểu biết rộng về những ván cờ trong quá khứ. Những người xếp hạng thấp xử lý thế cờ như xử lý một điều gì mới mẻ. Dù cờ vua chỉ là một bộ môn bình thường để các nhà tâm lý nghiên cứu - rốt cục nó cũng chỉ là một trò chơi - nhưng de Groot tin rằng những thí nghiệm của ông với các kiện tướng cờ vua có hàm ý lớn hơn nhiều. Ông lập luận rằng sự thành thạo chuyên môn “trong lĩnh vực đóng giày, vẽ tranh, xây nhà, (hay) làm bánh kẹo” là kết quả của sự tích lũy những “mối liên kết kinh nghiệm.” Theo Ericsson, cái chúng ta gọi là thành thạo chuyên môn thực ra chỉ là “khối lượng khổng lồ tri thức, sự hồi tường các đặc điểm kết hợp, và cơ chế lập kế hoạch đạt được qua nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan.” Nói cách khác, trí nhớ vĩ đại không chỉ là sản phẩm phụ của sự thành thạo chuyên môn; mà về cơ bản nó là sự thành thạo chuyên môn. Dù chúng ta có nhận ra hay không, tất cả chúng ta cũng như những kiện tướng cờ vua và chuyên gia giới tính gà, giải thích hiện tại dựa trên điều chúng ta đã học được trong quá khứ, và để cho những kinh nghiệm định hình không chỉ cách chúng ta nhận thức thế giới mà cả hành động nữa. Chúng ta thường hay nói về trí nhớ như thể chúng là những ngân hàng nơi chúng ta gửi vào những thông tin mới và rút ra những thông tin cũ khi cần đến. Nhưng ẩn dụ đó không phản ánh đúng cách thức trí nhớ vận hành. Mọi ký ức luôn song hành cùng chúng ta, định hình và được định hình bởi thông tin chảy qua các giác quan, trong một dòng phản hồi liên tục. Mọi thứ chúng ta thấy, nghe, và ngửi đều bị biến đổi bởi tất cả những gì chúng ta đã thấy, đã nghe và đã ngửi trong quá khứ. Theo các cách từ mơ hồ như xác định giới tính gà đến sâu sắc như chẩn đoán bệnh, về cơ bản chúng ta là ai và chúng ta làm gì, về cơ bản là một chức năng của những gì ta nhớ. Nhưng nếu việc diễn giải và ứng xử trong thế giới chỉ xoay quanh hành vi ghi nhớ, vậy còn Ed và Lukas và những vận động viên trí óc tôi gặp thì sao? Làm sao cái kỹ thuật được cho là “đơn giản” có tên sơ đồ trí nhớ giúp họ có được trí nhớ bậc thầy nhưng lại chẳng phải là chuyên gia của bất cứ lĩnh vực gì? https://thuviensach.vn Dù Ericsson và những nghiên cứu sinh của ông không cho tôi biết kết quả của những bài kiểm tra đã làm tôi mất ba ngày vất vả, thì tôi cũng đã ghi chú đủ để đến lúc ra về, tôi biết khả năng trí nhớ của mình đến đâu. Con số giới hạn của tôi là chín (trên trung bình, nhưng không có gì đặc biệt), khả năng ghi nhớ thơ là rất kém, và tôi cũng chẳng biết Khổng Tử sống vào thời nào (dù tôi vẫn biết bộ chế hòa khí dùng để làm gì). Khi tôi từ Tallahassee trở về, có một e-mail của Ed đang chờ tôi trong hòm thư: Chào anh học trò ngôi sao, tôi biết anh chẳng luyện tập gì hết trước khi mấy người Florida kia ép anh cố hết sức. Rất là hay đấy - thật ngưỡng mộ, ít nhất là nó có đóng góp vào tiến bộ khoa học. Nhưng giải vô địch không phải xa xôi vạn dặm gì đâu, nên anh phải bắt tay chuẩn bị ngay tức thì đi. Tốt hơn là nhận lấy mấy lời động viên của tôi: Cứ tập luyện hết mình đi và tận hưởng chuyện đó nhé. https://thuviensach.vn Chương năm Cung trí nhớ T ôi thu xếp gặp lại Ed lần cuối trước khi anh ta quay về châu Âu. Anh ta muốn gặp tôi ở Central Park vì anh chưa được tới đây và cứ một mực bảo đây là điểm đến có tầm quan trọng sống còn trong chuyến đi Mỹ của anh ta. Sau khi ngắm nghía những hàng cây trụi lá cuối đông và xem những người chạy bộ vòng quanh hồ, chúng tôi đi về phía nam công viên, đối diện Khách sạn Ritz-Carlton. Đó là một buổi chiều đông buốt giá với những cơn gió lạnh tê người - không phải là điều kiện lý tưởng cho hoạt động suy tư nào, chứ nói gì ghi nhớ. Song, Ed vẫn một mực muốn ở ngoài trời. Anh ta đưa tôi cây gậy rồi liều lĩnh trèo lên một tảng đá lớn gần ở rìa công viên, hẳn vụ này gây chút đau đớn cho những khớp xương bị viêm kinh niên của anh ta. Sau khi quan sát chân trời và nhận xét về “sự hùng vĩ tuyệt đỉnh” của nơi này, anh ta rủ tôi cùng lên mỏm đá. Anh ta hứa trong chưa đầy một tiếng đồng hồ sẽ dạy tôi được hẳn vài kỹ thuật ghi nhớ cơ bản. Thật khó tưởng tượng chúng tôi sẽ đương đầu được lâu hơn dưới thời tiết như vậy. “Tôi phải cảnh báo trước,” Ed nói, khi đang khéo léo ngồi xếp bằng, “anh sẽ mau chóng chuyển từ niềm kính sợ những người có trí nhớ tốt sang bình phẩm rằng “Ồ, chỉ là một trò mèo vớ vẩn.” Đoạn, anh ta dừng lại và hếch mặt lên như để xem phản ứng của tôi có đúng thế chăng. “Và anh sẽ nhầm thôi. Đây là một giai đoạn đáng tiếc nhưng anh vẫn phải trải qua thôi.” Anh ta bắt đầu bài giảng bằng nguyên tắc căn bản nhất của các chuyên gia trí nhớ: “mã hóa chi tiết.” Trí nhớ loài người sinh ra không phải để đáp ứng nhu cầu của thế giới hiện đại, anh ta giải thích. Cũng như thị giác, khả năng ngôn ngữ, khả năng đi thẳng, và mọi khả năng sinh học khác, trí nhớ của chúng ta tiến hóa qua quá trình chọn lọc tự nhiên trong một môi trường khác với môi trường sống ngày nay. Cuộc tiến hóa biến bộ não nguyên thủy của người tiền sử thành bộ não với chức năng thần kinh, ngôn ngữ, biểu tượng để phục vụ chúng ta ngày nay (mà đôi khi phục vụ thật kém cỏi) phần lớn diễn ra ở kỷ Pleistocene, một giai đoạn bắt đầu 1,8 triệu năm trước và kết thúc cách đây mười nghìn năm. Trong giai đoạn đó - và ở vài nơi biệt lập trong thế giới ngày nay - loài người chúng ta kiếm sống bằng săn bắn-hái lượm, và nhu cầu của lối sống ấy đã gọt giũa nên trí óc chúng ta ngày nay. Nếu tính háo đường và háo chất béo đã phục vụ chúng ta đắc lực trong một môi trường sống khan hiếm dinh dưỡng giờ đây không thích nghi tốt với một thế giới đầy rẫy những cửa hàng đồ ăn nhanh thì với trí nhớ cũng vậy, chúng không hoàn toàn thích nghi với kỷ nguyên thông tin hiện thời. Đơn giản là những việc mà chúng ta thường phải dụng đến trí nhớ ngày nay lại không ăn nhập gì với môi trường mà bộ não con người tiến hóa. Tổ tiên chúng ta không cần nhớ số điện thoại, hay những chỉ dẫn cặn kẽ từ ông chủ, hay như khóa học Lịch sử Mỹ ở trường trung học, hay (bởi họ sống theo từng nhóm nhỏ, cố định) tên của hàng tá người lạ tại một bữa tiệc cocktail. Điều những người tiền sử và các tổ tiên họ người thực sự cần nhớ ấy là nơi tìm đồ ăn và tài nguyên, đường về nhà, và cây cỏ nào ăn được, cây cỏ nào độc. Hàng ngày họ lệ thuộc vào những kỹ năng ghi nhớ sống còn đó, và chí ít trí nhớ con người tiến hóa đến như ngày nay một phần cũng vì đáp ứng những nhu cầu đó. https://thuviensach.vn Nguyên tắc nền tảng cho mọi kỹ thuật ghi nhớ là: bộ não có sự phân biệt mức độ ghi nhớ từng loại thông tin. Chúng ta có sức ghi nhớ tuyệt vời đối với hình ảnh (cứ nghĩ về bài kiểm tra nhận thức qua hai tấm hình mà xem), nhưng lại ghi nhớ rất kém đối với những dạng thông tin khác, như danh sách từ ngữ hay con số. Điểm cốt yếu của kỹ thuật ghi nhớ là làm điều mà S đã làm theo bản năng do chứng giác quan liên đới: Chuyển những ký ức mà bộ não chúng ta kém khả năng lưu giữ thành dạng ký ức phù hợp với hướng tiến hóa của bộ não con người. “Điểm chung của hầu hết kỹ thuật ghi nhớ là biến bất kỳ thông tin tẻ nhạt nào được đưa vào bộ nhớ thành một thứ đầy màu sắc và thật hào hứng, khác hẳn với bất cứ gì anh thấy trước đây, khiến anh không thể nào quên được,” Ed vừa giải thích cho tôi, vừa hà hơi thổi vào hai nắm tay. “Đó gọi là mã hóa chi tiết. Một lát nữa, chúng ta sẽ thử với một danh sách các từ, đây chỉ là một trong số những bài tập thông thường để làm quen kỹ thuật này. Sau đó anh có thể chuyển sang luyện với những con số, lá bài, rồi đến những khái niệm phức tạp. Về cơ bản, khi học xong kỹ thuật này, anh có thể học thuộc bất cứ điều gì anh muốn, thực đấy.” Ed kể trong một chuyến đi tới Vienna gần đây, hai ngày trước kỳ thi quan trọng nhất trong năm của Lukas, anh ta và Lukas đã đi tiệc tùng thâu đêm và chệnh choạng về nhà lúc bình minh lên. “Lukas ngủ đến trưa mới dậy, học thuộc mọi thứ cần cho kỳ thi trong chớp nhoáng thế thôi mà qua được đấy,” Ed nói. “Khi anh học hiệu quả đến mức đó, thì chuyện tới phút cuối mới phải sờ tới bài vở mà không cần áy náy cũng cám dỗ đấy. Với Lukas thì lần gắng sức đó chẳng qua như bài luyện tập tầm thường mà thôi.” Ed vén mớ tóc xoăn ra sau tai rồi hỏi tôi muốn ghi nhớ cái gì trước. “Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách học gì đó hữu ích, như tên các vị pharaoh Ai Cập hoặc tên tổng thống Mỹ qua các nhiệm kỳ,” anh ta đề nghị. “Hoặc có lẽ một bài thơ thời kỳ Lãng mạn? Chúng ta có thể ghi nhớ các kỷ địa chất, nếu anh muốn.” Tôi bật cười. “Mấy thứ đó nghe rất có ích đấy nhỉ.” “Chúng ta có thể nhanh chóng thuộc làu các đội vô địch bóng bầu dục Mỹ trong thế kỷ qua, hoặc điểm số bình quân mỗi trận của các ngôi sao bóng rổ hàng đầu, nếu anh muốn.” Cho đến lúc này, cảm giác tôi đối với Ed có thể cho là nằm chênh vênh giữa “kinh ngạc” và “hoài nghi”. Còn bây giờ, trước khi chúng tôi bắt đầu bài học trong tiết trời lạnh cắt da thế này, tôi cảm thấy cái phần “hoài nghi” ngày càng lấn lướt. “Anh biết - thực sự biết - tất cả những đội giành Cúp vô địch sao?” “Không, tôi không biết. Tôi thích cricket hơn. Nhưng tôi rất vui chỉ cho anh cách ghi nhớ những đội đó. Vấn đề là: Bằng các kỹ thuật này, chúng ta có thể nhanh chóng ghi nhớ bất cứ điều gì. Xem nào, anh có hào hứng không?” “Tôi cũng muốn lắm,” tôi thận trọng đáp, “Được, tôi cho rằng tác dụng thực tiễn nhất, rõ ràng nhất của kỹ thuật này là giúp ta thuộc lòng danh sách việc cần làm. Anh có lên danh sách công việc nào đấy không?” “Tôi có, ở nhà. Danh sách kiểu thế. Nhưng thi thoảng mới làm thôi.” “Tôi hiểu. Tôi tôi thì luôn lập danh sách trong trí nhớ. Chúng ta sẽ sử dụng danh sách của tôi.” https://thuviensach.vn Ed hỏi xin một tờ giấy, rồi viết lên mấy chữ. Anh ta đưa lại cho tôi, kèm theo nụ cười tinh quái. Đó là một danh mục mười lăm việc. “Chỉ là những việc tôi phải làm trước khi lên mạn Bắc thành phố dự tiệc do một người bạn tổ chức,” anh ta nói. Tôi đọc to lên: Tỏi ngâm dấm. Pho mát sữa kem Cá hồi (xông khói, nếu có thể) Sáu chai rượu trắng Tất (3 đôi) Ba cái vòng lắc hông (nhiều không nhỉ?) Ống lặn Máy tạo khói Gửi e-mail cho Sophia Bộ đồ sát người màu da. Tìm phim của Paul Newman - Trên ấy có người quý tôi Xúc xích nai sừng tấm?? Loa và ghế xếp Đai bảo hộ và dây thừng Phong vũ biểu. “Danh sách trong trí nhớ của anh đây à?” tôi hỏi đầy ngờ vực. “Từ trí nhớ tôi đấy. Và sẽ vào trí nhớ của anh,” Ed nói. “Danh sách này là thật chứ?” “Tôi không chắc có thể tìm tất cả những thứ đó không. Ở New York có pho mát sữa kem không nhỉ?” “Tôi thì nghĩ xúc xích nai sừng tấm và bộ đồ sát người màu da đáng bận tâm hơn đấy,” tôi bảo anh ta. “Mà không phải ngày mai anh về Anh rồi sao?” “Đúng thế. Tôi đã chuẩn bị tâm lý chấp nhận rằng những thứ này không tuyệt đối cần thiết.” Anh ta nheo mắt. “Tuy nhiên, mục đích tập luyện là anh sẽ đưa danh sách này vào bộ nhớ.” Ed bảo tôi rằng với việc học những kỹ thuật này anh ta sắp dạy, tôi sẽ dấn thân vào một “truyền thống tự hào của những chuyên gia trí nhớ.” Truyền thống tự hào đó bắt đầu, vào https://thuviensach.vn thế kỷ thứ năm trước Công nguyên (ít ra theo truyền thuyết là như vậy), khi nhà thơ Simonides of Ceos đứng trước đống vụn nát của phòng tiệc bị sập ở Thessaly. Khi nhà thơ nhắm mắt và dựng lại trong trí tưởng tượng ông tòa nhà vụn nát ấy, ông nhận ra một điều phi thường: Ông nhớ vị trí ngồi của từng vị khách trong bữa tiệc tai ương kia. Dù ông không chủ ý ghi nhớ sự bày bố trong phòng, nó vẫn để một ấn tượng lâu dài trong trí nhớ ông. Từ quan sát đó, người ta cho rằng Simonides sáng tạo ra một kỹ thuật làm nền tảng của thuật ghi nhớ. Ông nhận ra rằng nếu không phải những vị khách ngồi quanh bàn tiệc, mà là đối tượng khác - ví như các nhà viết kịch Hy Lạp vĩ đại ngồi theo thứ tự ngày sinh - thì ông sẽ nhớ được đối tượng mới này. Hay nếu, thay vì những khách dự tiệc, ông thấy những lời trong một bài thơ của ông được sắp xếp quanh bàn thì sao? Hay những việc ông cần để hoàn thành ngày hôm đó thì sao? Chỉ cần sử dụng trí nhớ không gian trong quá trình ghi nhớ, thì bất cứ điều gì có thể hình dung ra, cũng đều có thể ghi dấu lên trí nhớ, và giữ theo đúng trật tự. Để sử dụng kỹ thuật của Simonides, người ta chỉ cần chuyển điều khó nhớ, như một dãy số hay một cỗ bài hay một danh mục mua sắm hay bài thơ Thiên đường đã mất (John Milton, nhà thơ Anh thế kỷ 17), thành một chuỗi những hình ảnh lôi cuốn rồi sắp xếp chúng theo một không gian tưởng tượng, thế là bỗng nhiên những việc dễ quên trở thành dễ nhớ. Hầu hết mọi chi tiết về phương pháp rèn luyện trí nhớ truyền thống - thực ra là gần như toàn bộ các mẹo ghi nhớ trong vốn liếng của các vận động viên trí óc - được mô tả lần đầu tiên trong một cuốn sách nhỏ dạy hùng biện, tác giả khuyết danh, có tựa Rhetorica ad Herennium, viết bằng tiếng Latin vào khoảng năm 86 và 82 trước Công nguyên. Đây là cuốn sách duy nhất bàn đến một cách thực sự toàn diện về những kỹ thuật ghi nhớ do Simonides sáng tạo ra và còn truyền lại được đến thời Trung cổ. Dù trong hai ngàn năm qua thuật ghi nhớ đã có nhiều đổi mới, nhưng những kỹ thuật căn bản vẫn hầu như không thay đổi so với các kỹ thuật được tả trong Ad Herennium. “Cuốn sách này là Kinh thánh của chúng ta,” Ed bảo tôi. Ed đọc được tiếng Latin và tiếng Hy Lạp cổ (cũng như nói thạo tiếng Pháp và tiếng Đức) và tự coi mình là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ cổ điển không chuyên. Ad Herennium là một trong các thư tịch cổ đầu tiên anh ta nhồi cho tôi. Trước khi tôi sờ đến số sản phẩm đồ sộ của Tony Buzan (ông ta là tác giả hay đồng tác giả của hơn 120 cuốn sách về việc sử dụng trí óc) hay bất cứ sách tự học nào do của những vận động viên trí óc hàng đầu viết ra, anh ta muốn tôi bắt đầu công cuộc tìm hiểu với những cuốn sách kinh điển. Ngoài Ad Herennium, tôi còn phải đọc các những phần trích đoạn đã chuyển ngữ của các cuốn Institutio Oratoria của Quintilian và De Oratore của Cicero, sau đó là một tập hợp các tác phẩm viết về trí nhớ của các tác giả Thomas Aquinas, Albertus Magnus, Hugh of St. Victor, và Peter of Ravenna. Những kỹ thuật trong cuốn Ad Herennium được thực hành rộng rãi vào thời cổ đại. Quả thật, trong những bài về thuật ghi nhớ, Cicero bảo những kỹ thuật đó nổi tiếng đến mức ông cảm thấy không cần tốn thêm giấy mực tả lại chi tiết (cũng vì vậy mà chúng ta tin vào Ad Herennium). Ngày xưa, tất cả những ai biết biết đọc đều thuần thục những kỹ thuật mà Ed sắp dạy cho tôi. Rèn luyện trí nhớ được coi là trung tâm của giáo dục ngôn ngữ, bên cạnh ngữ pháp, lý luận, và hùng biện. Học sinh không chỉ được dạy phải ghi nhớ điều gì, mà còn cả cách ghi nhớ như thế nào. Trong một thế giới sách vở ít ỏi, trí nhớ là một điều thiêng liêng. Hãy xem cuốn Lịch sử tự nhiên của Pliny Elder, bách khoa toàn thư thế kỷ thứ nhất, ghi chép mọi điều kỳ thú và hữu ích để thắng cho các trò đố vui trong các quán rượu thời cổ đại, có nhắc đến những trí nhớ nổi tiếng lịch sử thời ấy. “Vua Cyrus có thể nhớ tên mọi binh lính trong quân đội,” https://thuviensach.vn Pliny viết. “Lucious Scipio biết hết tên của toàn bộ thần dân La Mã. Sứ giả Cineas của vua Pyrrhus biết các thành viên Viện nguyên lão và các hiệp sĩ La Mã chỉ sau một ngày ông ta đến đây... Ở Hy Lạp một người tên Charmadas, khi được đề nghị, có thể thuật lại nội dung của bất kỳ cuốn sách nào trong thư viện, như thể anh ta đang đọc chúng.” Vì nhiều lý do nên không phải mọi thứ Pliny viết ra đều tin được (ông ta còn bảo ở Ấn Độ tồn tại một loài sinh vật mình người đầu chó[9]) nhưng cái phần nhỏ những giai thoại về trí nhớ phi thường ở thế giới cổ đại lại có tính thuyết phục. Seneca the Elder có thể nhắc lại hai ngàn cái tên theo thứ tự mà người ta đưa cho ông. St. Augustine kể về người bạn Simplicius, người có thể đọc thuộc bài trường ca của Virgil - theo chiều ngược. (Rằng việc ông ta có thể đọc xuôi chiều chẳng có gì là đặc biệt). Một trí nhớ tốt được xem là một phẩm chất vĩ đại, bởi nó đại diện cho sự nội hóa thế giới tri thức bên ngoài. “Người cổ đại và trung cổ đặc biệt trân trọng trí nhớ. Những thiên tài vĩ đại nhất là những người có trí nhớ siêu phàm,” lời của Mary Carruthers, tác giả hai cuốn sách về lịch sử những kỹ thuật ghi nhớ. Quả thật, điểm chung duy nhất thường thấy trong đời sống của các vị thánh - bên cạnh tài năng phi thường của họ - là họ thường có trí nhớ siêu việt. Phần bàn về trí nhớ trong Ad Herennium - “kho báu của những sáng tạo và là nơi trông giữ toàn bộ thuật hùng biện” - thực ra khá ngắn, chừng mười trang, thuộc một luận thuyết khá dài về thuật hùng biện và diễn thuyết. Nó mở đầu bằng việc phân biệt giữa trí nhớ tự nhiên và trí nhớ nhân tạo: “Trí nhớ tự nhiên là trí nhớ gắn liền với tâm trí, hình thành đồng thời với suy nghĩ. Trí nhớ nhân tạo là trí nhớ được củng cố qua rèn luyện và hệ thống nguyên tắc.” Nói cách khác, trí nhớ tự nhiên là phần cứng khi sinh ra bạn đã có. Trí nhớ nhân tạo là phần mềm bạn chạy trên phần cứng đó. Trí nhớ nhân tạo có hai phần cơ bản: hình ảnh và nơi chốn. Hình ảnh thể hiện nội dung chúng ta muốn nhớ. Nơi chốn - loci, như người ta gọi trong tiếng Latin - là nơi những hình ảnh đó được lưu giữ. Ý tưởng tạo ra một không gian trong tâm trí, một nơi bạn biết rõ và có thể hình dung dễ dàng, rồi gắn nơi chốn tưởng tượng đó với những hình ảnh đại diện cho điều bạn muốn ghi nhớ được người La Mã gọi là “phương pháp loci”, sau này người ta gọi nó là “cung trí nhớ.” Cung trí nhớ không nhất thiết phải là lâu đài cung điện - hay nhà cửa. Chúng có thể là những con đường xuyên qua thành phố - như trường hợp với S - hay những sân ga dọc theo một tuyến đường tàu, hay những cung hoàng đạo, hay thậm chí những nhân vật thần thoại. Chúng có thể lớn hay nhỏ, trong nhà hay ngoài trời, có thực hay tưởng tượng, miễn là có sự tương đồng về thứ tự để liên hệ một vị trí với vị trí tiếp theo, và miễn là chúng thân thuộc. Scott Hagwood, người bốn lần vô địch trí nhớ Mỹ, đã sử dụng những dinh thự hào nhoáng trong tạp chí Kiến trúc (Architectural Digest) để lưu giữ trí nhớ. Tiến sĩ Yip Swee Chooi, một con người cuồng nhiệt, nhà vô địch trí nhớ Malaysia, dùng cơ thể của ông làm cung trí nhớ để ghi nhớ toàn bộ 56.000 từ, 1.774 trang của cuốn từ điển Oxford Trung-Anh. Một người có thể có hàng tá, hàng trăm, hay thậm chí hàng nghìn cung trí nhớ, mỗi cung được tạo ra để lưu giữ từng bộ ký ức khác nhau. Người bản địa châu Úc và người da đỏ Apache ở tây nam nước Mỹ, đã độc lập sáng tạo ra các hình thức của phương pháp loci. Nhưng thay vì sử dụng những ngôi nhà, họ dựa trên địa thế nơi mình ở để kể những câu chuyện, và họ ca những câu chuyện kể đó trên khắp vùng đất quê hương. Mỗi mảnh đồi, mỗi tảng đá hay dòng nước đều nằm trong một phần https://thuviensach.vn câu chuyện. “Truyền thuyết và bản đồ trở nên đồng nhất,” theo lời John Foley, một nhà nhân loại học ngôn ngữ ở Đại học Missouri, ông nghiên cứu ký ức và những truyền thống được truyền miệng. Một trong những hệ lụy bi thảm của việc gắn những câu chuyện kể vào khung cảnh tự nhiên, đó là khi chính quyền Mỹ chiếm đất của người Mỹ bản địa, người bản địa không chỉ mất đi quê nhà mà còn mất luôn những thần thoại. “Josh ạ, cái cần hiểu ở đây là con người làm quen với không gian rất giỏi,” Ed nhận xét khi đang ở trên tảng đá. “Ví dụ nhé, nếu anh bị bỏ lại một mình, trong năm phút, tại nhà một người mà anh chưa bao giờ đến, anh cảm thấy táy máy và muốn sục sạo, cứ nghĩ xem trong một thời gian ngắn ngủi như vậy, bao nhiêu thứ của căn nhà sẽ gắn vào trí nhớ của anh. Anh không những biết các phòng ở đâu, nối với nhau thế nào, mà còn rõ kích thước và trang trí của chúng, sắp xếp đồ đạc trong phòng, và nơi đặt cửa sổ. Anh không nhận ra rằng, anh sẽ nhớ được hàng trăm đồ vật với đủ mọi kích cỡ mà anh thậm chí không nhận ra là mình nhận ra. Nếu anh tổng hợp tất cả những thông tin đó, nó tương đương với một tiểu thuyết ngắn. Nhưng chúng ta còn không xem đó thành quả trí nhớ. Con người nuốt ngấu nghiến mọi thông tin về không gian.” “Nguyên tắc của cung trí nhớ,” anh ta nói tiếp, ấy là sử dụng trí nhớ không gian nhạy bén để cấu trúc và lưu giữ thông tin với trật tự kém tự nhiên hơn - trong trường hợp này, là danh sách những việc cần làm của Ed. “Anh sẽ nhận ra rằng theo cách này ta không thể nào nhầm lẫn trật tự các phòng trong căn nhà đó, nó sẽ rõ ràng như thể ngay sau khi tôi tìm được vị trí của ba cái vòng, cái ống thở, và máy tạo khói, thì việc tiếp theo sẽ là gửi email cho Sophia.” Điều cốt yếu là chọn một cung trí nhớ mà tôi thấy quen thuộc. “Với cung trí nhớ đầu tiên, tôi muốn anh dùng ngôi nhà anh lớn lên, vì đó là một không gian anh biết rõ,” Ed nói. “Chúng ta sẽ rải những việc trên danh sách này theo một con đường vòng vèo quanh ngôi nhà tuổi thơ của anh. Khi muốn nhớ lại danh sách, anh chỉ cần lần theo những bước mà chúng ta sắp đưa vào trí tưởng tượng của anh. Hy vọng là mọi vật anh sắp nhớ sẽ nhảy vào trí óc. Bây giờ nhé, có phải ngôi nhà thời thơ ấu của anh là nhà gỗ một tầng không?” “Là nhà gạch hai tầng,” tôi nói. “Nó có hộp thư xinh xắn ở cuối lối vào không?” “Không. Tại sao?” “Chán thật. Đó sẽ là vị trí tuyệt vời ban đầu để đặt hình ảnh đồ vật trước tiên trên danh sách. Nhưng không sao. Chúng ta có thể khởi đầu ở lối vào. Tôi muốn anh nhắm mắt và cố hình dung càng nhiều chi tiết càng tốt, một lọ lớn tỏi ngâm dấm đặt ngay nơi chiếc xe đỗ.” Tôi hoàn toàn không dám chắc điều mình phải hình dung. “Tỏi ngâm là cái gì thế? Một món đặc sản của người Anh à?” tôi hỏi. “Ồ, không, nó chỉ là một loại đồ ăn người ta thường mang theo khi đi chơi miền núi vào dịp cuối tuần thôi.” Anh ta lại nhếch miệng cười tinh quái. “Bây giờ, điều rất quan trọng là phải nhớ hình ảnh này bằng nhiều giác quan.” Một mẩu thông tin mới có càng nhiều mối liên kết níu giữ, thì nó càng bám chặt vào mạng lưới những sự vật anh đã biết, và nó càng dễ lưu lại trong trí nhớ. Giống như hành động tự phát và vô thức của S chuyển những âm thanh đi qua tai anh ta thành một hợp tuyển màu sắc và mùi vị, tác giả của Ad Herennium đã kêu gọi độc giả làm điều tương tự với từng hình ảnh họ muốn ghi nhớ. https://thuviensach.vn “Quan trọng là anh xử lý rốt ráo hình ảnh đó, và anh chú ý đến nó nhiều nhất có thể được,” Ed tiếp tục. “Những sự vật khiến ta chú ý thì dễ nhớ hơn, và sự chú ý không phải là điều anh dùng ý chỉ mà có ngay được. Nó thu hút bởi các chi tiết. Khi đặt vào trong tâm trí một hình ảnh sống động, nhiều chi tiết và hấp dẫn, thì chắc hẳn, dù ít dù nhiều, bộ não anh sẽ lưu giữ một ký ức bền vững và đáng tin. Nên cứ cố mà nhớ cái mùi dễ chịu của tỏi ngâm dấm, và cường điệu hóa nó lên. Tưởng tượng như đang nếm nó. Thực sự để cho hương vị nó vương vấn trên lưỡi anh. Và phải chắc là anh thấy mình đang làm như vậy ở cuối lối vào.” Tôi không biết tỏi ngâm là gì, càng không chắc vị nó thế nào. Dù vậy, tôi cứ tưởng tượng một cái lọ rất to đựng tỏi đang đứng hiên ngang ở cuối lối đi vào nhà cha mẹ tôi. (Tôi khuyến khích các độc giả hãy làm như vậy cùng tôi. Cố tưởng tượng một lọ tỏi ngâm đặt ở cuối lối vào nhà bạn, hay nếu nhà bạn không có lối đi vào, thì chọn một nơi nào đó ở bên ngoài nhà bạn. Hãy cố hình dung nó.) “Anh đã đặt xong tấm hình đa giác quan về tỏi ngâm dấm, giờ chúng ta sẽ bước vào nhà anh và hình dung vật tiếp theo trên danh sách rồi đặt nơi cửa trước. Nó là pho mát sữa kem. Tôi muốn anh nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nhìn thấy một hộp pho mát sữa kem khổng lồ, to bằng cái hồ bơi. Hình dung ra chưa nào?” “Tôi nghĩ là rồi.” (Bạn thì sao?) “Giờ tôi muốn anh tưởng tượng Claudia Schiffer đang bơi trong cái hồ pho mát này. Tôi muốn anh tưởng tượng cô ta đang bơi trần truồng, người dính đầy kem sữa. Anh có hình dung được không? Tôi không muốn anh bỏ qua bất kỳ chi tiết nào ở đây.” Từ xưa, cuốn Ad Herennium khuyên bạn đọc hãy tạo ra những hình ảnh đưa vào cung trí nhớ: càng buồn cười, dâm dục, và càng kỳ lạ càng tốt. “Trong đời thường, khi chúng ta thấy những thứ đèm đẹp, tầm thường và vô vị, chúng ta thường không nhớ ra chúng, vì không có bất kỳ điều gì mới mẻ hay phi thường khuấy động tâm trí cả. Nhưng nếu chúng ta thấy hay nghe gì đó khác thường, đáng hổ thẹn, phi thường, vĩ đại, không thể tin nổi, hay buồn cười quá đỗi, thì chúng ta có thể nhớ lâu hơn.” Hình ảnh càng sinh động, thì nó càng dễ đọng lại. Tôi nhận ra, điểm khác biệt của một chuyên gia trí nhớ vĩ đại ấy là khả năng tạo ra những hình ảnh sinh động, gây ấn tượng, vẽ lên tâm trí cảnh tượng khác lạ đến nỗi không thể nào quên được. Và hãy làm thật nhanh. Đó là lý do những ai trò chuyện với Tony Buzan đều nghe ông ta bảo rằng Giải Vô địch thế giới trí nhớ giống một cuộc thi sáng tạo hơn là cuộc thi trí nhớ. Đầu óc tục tĩu lại là một lợi thế khi tạo những hình ảnh. Sự tiến hóa đã lập trình bộ não chúng ta phải tìm ra hai điều đặc biệt thú vị, và vì vậy dễ nhớ: truyện cười và tình dục - đặc biệt là truyện cười về tình dục. (Bạn có nhớ Rhea Perlman và Manute Bol làm gì ở trang đầu cuốn sách này không?) Ngay cả những cuốn sách về trí nhớ được viết vào những thời kỳ tương đối khắt khe (về tình dục) cũng nhận định như vậy. Peter of Ravenna, tác giả của cuốn sách nổi tiếng nhất về trí nhớ vào thế kỷ mười lăm, ngay từ đầu đã mong được những bậc tao nhã và các tín đồ lượng thứ trước khi ông tiết lộ “một bí quyết mà từ lâu tôi vẫn giữ trong lòng (qua sự e dè): nếu bạn muốn nhớ cho nhanh, thì hãy đưa vào cung trí nhớ hình ảnh những cô gái đồng trinh đẹp nhất; trí nhớ bị những hình ảnh về phụ nữ gây kích thích một cách lạ kỳ.” https://thuviensach.vn Tuy nhiên, tôi lại thấy khó mà phấn khích với hình ảnh Claudia Schiffer trong hộp pho mát sữa kem. Mũi và tai tôi nhức nhối vì cơn gió buốt. “Ed này, chúng ta tìm chỗ đâu đó trong nhà để học tiếp được không?” tôi đề nghị. “Hẳn quanh đây có nhiều quán Starbucks đấy.” “Không không. Trời lạnh lại tốt cho bộ não,” anh ta nói. “Giờ chú ý nhé. Chúng ta vừa đi qua cửa nhà anh. Tôi muốn anh hình dung trong đầu là đang rẽ trái. Căn phòng anh sắp đi vào là phòng nào?” anh ta hỏi. “Phòng khách. Có cái đàn piano ở đó.” “Tuyệt lắm. Đồ vật thứ ba, cá hồi xông khói. Cứ tưởng tượng dưới những dây đàn, có một đống than bùn đang tỏa khói. Và đặt trên những dây đàn kia là một con cá hồi Hebridean. Ôi... anh có ngửi thấy không?” Anh ta phì hơi giữa trời lạnh. Lần này, tôi không dám chắc cá hồi xông khói là cái gì, nhưng nghe có vẻ như món lox[10], nên tôi hình dung ra như vậy. “Mùi tuyệt lắm,” tôi nói, mắt vẫn nhắm. (Nếu nhà bạn không có đàn piano, cứ đặt món cá hồi xông khói nơi nào đó bên trái cửa chính.) Món đồ tiếp theo trên danh sách là sáu chai rượu trắng, tôi quyết định đặt trên cái trường kỷ trắng lốm đốm vết bẩn, gần đàn piano. “Giờ, sẽ rất hay nếu nhân cách hóa những chai rượu này,” Ed đề nghị. “Những hình ảnh linh động thường dễ nhớ hơn những hình ảnh bất động.” Lời khuyên đó cũng từ cuốn sách Ad Herennium mà ra. Tác giả chỉ dẫn người đọc nên tạo những hình ảnh “đẹp lạ thường và xấu dị thường,” để chúng chuyển động, và tô điểm chúng sao cho nổi bật hơn. Người ta có thể “biến đổi nó, bằng cách vấy máu, trát bùn hay phết sơn đỏ,” hay bằng cách khác là “tạo các hiệu ứng khôi hài lên những hình ảnh đó.” “Có lẽ anh nên tưởng tượng những chai rượu đang bàn cãi chất lượng của chúng,” Ed đề nghị. “Giống như ông Merlot đang nói -” “Merlot không phải là rượu trắng, Josh,” anh ta ngắt lời, cười bối rối. “Mà là, hãy tưởng tượng rượu chardonnay đang ca thán về chất lượng đất của vùng làm rượu sauvignon blanc, còn kế đó rượu gewurztraminer đang khúc khích cười nhạo rượu rieslings... Đại khái như vậy.”[11] Tôi nghĩ rằng đó là một hình ảnh buồn cười, và chắc nó sẽ dính vào trí óc tôi. Nhưng tại sao vậy? Điều gì khiến sáu chai rượu được nhân hóa, với vẻ kênh kiệu lại trở nên dễ nhớ hơn những từ “sáu chai rượu”? Vâng, chỉ vì một lý do thôi, hình dung ra hình ảnh kỳ dị như vậy gây ra nhiều thích thú cho đầu óc hơn là chỉ đọc những chữ kia. Trong quá trình thực hiện nỗ lực trí óc đó, tôi đang hình thành những mối liên hệ bền vững giữa những tế bào thần kinh sẽ mã hóa ký ức kia. Nhưng quan trọng hơn, tôi nhớ những chai rượu nói năng kia vì nó mới lạ. Trong đời mình, tôi đã thấy rất nhiều chai rượu, nhưng chưa bao giờ tôi thấy chai rượu nào biết nói cả. Nếu tôi định cố nhớ những từ “sáu chai rượu”, ký ức đó sẽ nhanh chóng trộn lẫn với mọi ký ức khác về những chai rượu. https://thuviensach.vn Hãy xem xét: Bạn có thể nhớ tuần vừa rồi ăn bữa trưa mấy lần không? Bạn có nhớ mình ăn gì hôm nay không? Tôi hy vọng có. Ngày hôm qua? Tôi cá là mất một lúc đấy. Còn ngày hôm kia thì sao? Còn tuần trước thì sao? Không hẳn là trí nhớ về bữa ăn trưa tuần trước đã biết mất; nếu được cung cấp gợi ý phù hợp, như bạn ăn ở đâu, hay ăn với ai, bạn có thể nhớ có món ăn gì trên đĩa. Lý do bạn khó có thể nhớ bữa ăn tuần trước, là bởi bộ não của bạn đã lưu giữ lẫn bữa ăn trưa đó với mọi bữa ăn trưa khác, coi đó chỉ là một bữa ăn trưa. Các ký ức về “ăn trưa” hay “rượu” có quá nhiều, và khi cố hồi tưởng lại một trong những ký ức đó, chúng sẽ cạnh tranh nhau để thu hút sự chú ý của chúng ta. Ký ức về bữa ăn trưa thứ tư tuần trước không hẳn đã mất; chỉ là bạn thiếu đầu mối để lôi nói ra khỏi một biển ký ức những bữa ăn trưa. Nhưng một chai rượu biết nói: Thật đặc biệt. Đó là thứ ký ức không đối thủ cạnh tranh. “Tiếp theo trên danh sách là ba đôi tất,” Ed tiếp tục. “Có lẽ nên treo trên một cây đèn gần đó?” “Vâng, có một cái đèn gần ghế,” tôi nói. (Nếu bạn vẫn cùng tưởng tượng, bạn nên đặt những chai rượu và ba đôi tất đâu đó trong phòng đầu tiên ở nhà bạn.) “Tuyệt lắm. Bây giờ, tôi biết chính xác hai cách để làm những chiếc tất gây được chú ý. Thứ nhất là chúng bốc mùi kinh khủng. Cách kia là biến chúng thành những đôi tất lạ thường, với chất liệu cotton, màu sắc tinh tế mà anh chưa bao giờ thấy. Thử theo cách sau đi. Tôi muốn anh treo chúng lủng lẳng trên đèn. Và vì những chuyện kỳ quái vớ vẩn lại rất có hiệu quả, nên anh hãy tưởng tượng rằng trong những chiếc tất kia có những hồn ma thanh lịch đang ngồi co kéo chúng. Thực sự hãy cố nhìn nó. Tưởng tượng cái cảm giác những chiếc tất cotton mềm mát rượi đang cọ vào trán anh.” Theo gợi ý của Ed tôi đã đi vòng quanh ngôi nhà tuổi thơ của mình, và trong chuyến rong chơi tưởng tượng từ hết phòng này sang phòng nọ ấy, tôi thả những tấm hình dọc theo đường đi. Trong phòng ăn, tôi hình dung ba phụ nữ đang đứng trên bàn và lắc vòng. Bước xuống bếp, tôi thấy một người đàn ông mang ống thở lặn xuống chậu rửa, và một chiếc máy tạo khói đang phun khói trên bàn. (Các bạn có theo kịp không?) Từ đây, tôi đi vào phòng làm việc. Việc làm tiếp theo trên danh sách là “gửi e-mail cho Sophia.” Tôi mở mắt ra kêu Ed giúp đỡ, và trông thấy anh ta đang liếm mép giấy để cuốn thuốc. “Gửi e-mail cho Sophia sẽ trông như thế nào nhỉ?” tôi hỏi. “Ồ, cái này khó đấy,” anh ta nói, bỏ điếu thuốc xuống. “Anh biết đấy, bản thân e-mail không phải là từ dễ nhớ. Từ càng trừu tượng, càng khó nhớ. Chúng ta cần làm cho e-mail cụ thể hơn.” Ed dừng lại và suy nghĩ một lát. “Tôi đề nghị anh hãy tưởng tượng một người lưỡng tính[12] đang gửi e-mail. Anh có thể tưởng tượng ra không? Và anh sẽ liên hệ người lưỡng tính đó với Sophia. Hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu anh khi tôi nói từ ‘Sophia’ là gì nào?” “Là thủ đô Bulgary,” tôi nói. “Anh đúng là kẻ có học, Josh. Hoan hô, nhưng vậy không dễ nhớ. Hãy nghĩ đến Sophia Loren. Và để bà ấy ngồi vào lòng người lưỡng tính kia, khi cô/anh ta đang gõ bàn phím. Anh hình dung ra chưa? Anh thấy hình ảnh này đã đủ gắn kết chưa? Tuyệt cú mèo.” https://thuviensach.vn Tốc độ tạo hình ảnh bây giờ tăng lên. Tôi rời phòng làm việc và hình dung một phụ nữ trong bộ độ liền thân màu da nơi hành lang. Tôi đặt Paul Newman trong hốc tường gần đó, và một con nai sừng tấm trên đầu cầu thang xuống tầng hầm. Tôi bước xuống cầu thang và vào nhà để xe, ở đây tôi bỏ một tấm hình Ed đang ngồi trên ghế xếp đang quát tháo ầm ỹ qua một cái loa khổng lồ. Rồi tôi tưởng tượng mình đang nhấn nút điều khiển nâng cửa nhà để xe lên, và bước ra sân sau, ở đây một người leo cây trong bộ đai bảo hộ đang dùng thừng leo xuống một cây sồi lớn. Và hình ảnh cuối cùng, một máy đo khí áp, được đặt cạnh hàng rào sân sau. “Nên nhớ rằng vì đó là một máy đo khí áp, anh nên tưởng tượng một cái cột giống như máy đo nhiệt kế đang đặt trên giường đầy những đồ ăn vặt như da heo rán giòn và các loại đồ nhắm rượu khác,” Ed gợi ý rất hữu ích. Sau khi hoàn thành một vòng quanh nhà, tôi mở mắt ra. “Làm tốt lắm,” Ed nói, với một tràng pháo tay chậm rãi và có chủ ý. “Bây giờ, tôi nghĩ anh sẽ nhận ra rằng quá trình hồi tưởng lại những ký ức này tự nhiên đến kinh ngạc. Thông thường, những ký ức được lưu giữ ít nhiều ngẫu nhiên trong mạng lưới trí nhớ ngữ nghĩa, hay mạng lưới liên kết. Nhưng giờ đây anh lưu giữ một lượng lớn ký ức trong những bối cảnh anh biết rõ. Do cách hoạt động của nhận thức không gian, anh chỉ cần lần bước qua cung trí nhớ, và hy vọng rằng những hình ảnh anh đã đặt xuống tại mỗi điểm sẽ nhảy ra trong đầu khi anh đi qua chúng. Rồi anh chỉ cần diễn giải chúng thành những thứ anh đang cố học thuộc lúc ban đầu.” Tôi lại nhắm mắt và thấy mình ở cuối lối vào nhà cha mẹ tôi. Cái lọ to đùng đựng tỏi ngâm dấm nằm ngay nơi tôi đã bỏ nó lại. Tôi đến cửa chính. Đây rồi, cảnh hấp dẫn Claudia Schiffer ngồi trong hộp pho mát bơ kem, đang dùng miếng bọt lau người. Tôi mở cửa rồi rẽ trái, và sặc vào mũi mùi con cá vẫn nằm trên những sợi dây đàn dương cầm, đang xông khói. Tôi còn cảm thấy mùi vị trên lưỡi mình. Tôi có thể nghe tiếng chuyện trò the thé của những chai rượu kênh kiệu trên trường kỷ, và cảm thấy ba đôi tất chất liệu cotton xa xỉ treo trên đèn đang cọ nhẹ lên trán tôi. Tôi không thể tin nó thực sự hiệu quả. Tôi gọi tên năm việc trên danh sách để Ed xác nhận. “Tỏi ngâm dấm! Pho mát bơ kem! Cá hồi xông khói! Sáu chai rượu! Ba đôi tất!” “Tuyệt vời! Ed hét lên trong gió lạnh. “Tuyệt vời! Có tố chất vào KL7 đấy!” Vâng, tôi biết thành tích của mình không tuyệt vời đến như vậy, nếu so với những màn trình diễn ấn tượng hơn rất nhiều mà tôi chứng kiến ngày hôm trước. Dẫu vậy, tôi cảm thấy khá hài lòng với những gì mình làm được. Tôi tiếp tục đi quanh nhà, nhặt lên từng mảnh vụn những hình ảnh lạ kỳ tôi đã bỏ lại lúc trước. “Ba cái vòng trên bàn phòng ăn! Ống thở trong chậu rửa! Máy tạo khói trên bàn!” Tôi ngạc nhiên vui sướng, mười lăm hình ảnh vẫn nằm ngay tại nơi tôi bỏ chúng lại. Nhưng những ký ức đó thực sự bám vững không, tôi tự hỏi? Một tuần sau, liệu tôi còn nhớ danh sách này của Ed không? “Trừ phi có một cuộc chè chén say sưa hoặc một cú giáng mạnh vào đầu, còn không thì anh sẽ thấy rằng những hình ảnh đó sẽ lưu lại lâu hơn anh tưởng đấy,” Ed hứa với tôi. “Và nếu anh thăm lại hành trình qua cung trí nhớ này vào tối nay, vào chiều hôm sau, và có lẽ một tuần nữa, danh sách này vẫn để lại ấn tượng thực sự lâu dài. Và giờ anh đã ghi nhớ mười lăm từ này, chúng ta có thể dễ dàng làm với một ngàn năm trăm từ, với điều kiện anh có một cung ký ức rộng lớn hơn để lưu giữ chúng. Và sau khi đã làm chủ phương pháp nhớ những từ ngẫu nhiên, chúng ta có thể chuyển sang thứ thú vị hơn, như những quân bài và tác phẩm Hiện hữu và thời gian (Being and Time) của Heidegger.” https://thuviensach.vn Chương sáu Làm thế nào nhớ một bài thơ N hiệm vụ trước mắt của tôi là sưu tầm những công trình kiến trúc. Trước khi bắt tay vào công cuộc rèn luyện trí nhớ một cách nghiêm túc, tôi cần thủ sẵn một kho những cung trí nhớ để khi cần là dùng đến. Tôi dạo bộ quanh nơi mình sống. Tôi thăm nhà bạn bè, đến sân chơi, sân bóng chày Oriole Park tại Camden Yards vùng Baltimore, Tòa East Wing của Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia. Và tôi quay ngược về quá khứ: đến trường trung học, trường cơ sở, ngôi nhà trên phố Reno nơi gia đình tôi sống tới năm tôi lên bốn. Tôi chú ý đến giấy dán tường và sự bài trí đồ đạc. Tôi cố cảm nhận sàn nhà dưới chân. Tôi ôn lại những biến cố gợi nhiều cảm xúc xảy ra trong mỗi căn phòng. Rồi tôi cố nhớ thật kỹ chúng để làm không gian chứa ký ức sau này. Như Ed giải thích, mục đích việc này là để thật rành rẽ các tòa nhà này, từ đó hình thành được những mối liên tưởng phong phú đa dạng tới từng ngóc ngách mỗi căn phòng, như vậy khi tiếp nhận những thông tin mới, tôi có thể lướt qua những cung trí nhớ, rải các hình ảnh ngay khi đi dọc con đường trong cung tưởng tượng đó. Càng biết nhiều những tòa nhà, càng cảm thấy chúng thân thuộc bao nhiêu, thì những hình ảnh sẽ bám dính bấy nhiêu, và sau này muốn lấy lại những hình ảnh đó cũng sẽ dễ dàng hơn. Để bắt đầu cuộc rèn luyện, Ed dự tính tôi cần một tá cung trí nhớ. Bản thân anh ta có đến vài trăm, cả một đô thị trong tưởng tượng. Đến lúc này, để khai báo cho đầy đủ, tôi nên nói đôi lời về cuộc sống của mình vào thời điểm tôi bắt đầu dây dưa với trò rèn luyện trí nhớ này. Tôi mới tốt nghiệp đại học, đang cố trở thành một nhà báo, và vẫn phải đang sống bám bố mẹ ở Washington, D.C., nơi tôi đã lớn lên. Tôi vẫn ngủ trong phòng đã ngủ hồi còn nhỏ, trên cửa sổ treo đôi cờ hiệu của đội Baltimore Orioles, và một tập thơ Shel Silverstein trên giá sách, và làm việc trong văn phòng tạm bợ dưới tầng hầm, với cái bàn đặt giữa chiếc xe Nordic Track của cha tôi và một chồng hộp đựng những bức ảnh cũ gia đình. Văn phòng của tôi ngổn ngang giấy nhắc việc Post-it, một danh sách dài những việc cần theo dõi: trả lời những cuộc điện thoại, những ý tưởng viết bài cần nghiên cứu, những việc lặt vặt cần hoàn thành. Thành công ở Central Park đã cho tôi niềm tự tin, tôi giật xuống tờ giấy ghi những việc khẩn thiết nhất, chuyển chúng thành hình ảnh, và cặm cụi đưa vào một cung trí nhớ tôi đã xây dựng từ căn nhà ngoại ô của bà tôi. “Đi kiểm tra xe” trở thành hình Thanh tra Gadget đang quay đầu chiếc Buick trên lối vào nhà bà. “Tìm một cuốn sách về những ông vua châu Phi” là cơ hội để tưởng tượng lãnh tụ Shaka Zulu đang khua giáo nơi cửa chính nhà bà tôi. “Đặt vé trận Phoenix” khiến tôi biến phòng khách của bà thành quang cảnh sa mạc và những vực sâu, và hình dung một con chim phượng hoàng bay lên từ tàn tích chiếc kệ cổ của bà. Cách này thật hay, thậm chí khá buồn cười, mà cũng mất sức. Khi ghi nhớ được chừng mười việc trên giấy nhắc, tôi cảm thấy cơ thể mệt mỏi, hai mắt như đang đỏ ngầu lên. Công việc này khó nhọc chứ chẳng bở, và kém hiệu quả hơn nhiều so với tôi tưởng. Trên tường còn ghi vài đầu việc mà tôi không biết nên liên hệ với hình ảnh gì. Làm sao tôi có thể chuyển những số điện thoại thành hình ảnh? Tôi phải làm thế nào với những địa chỉ e-mail đây? Tôi ngồi phệt xuống ghế trong phòng, mấy tờ giấy nhắc còn dính vào lòng bàn tay, rồi tôi lại nhìn lên tường, màu sơn trắng lờ nhờ hiện ra lốm đốm ở những chỗ giấy bị bóc đi, tất cả những chuyện này thật ra là gì nhỉ. Thực sự, từ trước đến nay những giấy nhắc dính trên tường ấy vẫn hữu dụng. Chắc chắn thuật ghi nhớ phải có những ứng dụng giá trị hơn. Tôi đứng dậy, với trên giá sách cuốn Norton Hợp tuyển Thơ Hiện đại. Cuốn sách như cục https://thuviensach.vn gạch, dày 1.800 trang, tôi mua ở một hiệu sách cũ đã lâu lắm rồi, và mới giở duy nhất một lần. Tôi mường tượng, nếu thuật ghi nhớ hữu ích cho công việc nào, thì hẳn ấy là việc học thuộc thơ ca. Tôi biết Simonides không trở thành người hùng trong thế giới cổ đại chỉ vì đã khám phá một phương pháp tài tình để ghi nhớ những việc ông cần làm. Khám phá của ông nhằm phục vụ cho những hoạt động mang tính nhân văn. Và còn gì có thể nhân văn hơn là đưa thơ ca vào bộ nhớ? Tôi đã phát hiện ra rằng Ed luôn ghi nhớ điều gì đó. Anh ta từ lâu đã học thuộc Thiên đường đánh mất (với tốc độ hai trăm dòng mỗi giờ, anh ta bảo tôi), và đang miệt mài cày cuốc Shakespeare. “Triết lý đời tôi là một kẻ anh hùng phải có thể chống chịu được mười năm giam nhốt trong cô độc mà không khó chịu quá,” anh ta nói. “Giả sử một tiếng đồng hồ ta có thể ghi nhớ một lượng thơ mà đọc ra mất mười phút, và mười phút đó ẩn chứa đủ nội dung khiến ta bận rộn cả một ngày, và nếu bỗng dưng anh thấy mình bị giam hãm trong cô đơn thì tôi nghĩ anh có thể tìm được niềm vui trong một ngày nhờ một giờ ghi nhớ.” Cái thế giới quan này có được là nhờ tuyển tập các tài liệu cổ đại và trung cổ viết về trí nhớ mà Ed đã cố nhồi nhét vào tôi không ngớt. Với những tác giả xa xưa đó, một trí nhớ qua đào luyện không chỉ để tiếp cận thông tin dễ dàng mà còn giúp trau dồi đạo đức cá nhân và có óc xét đoán hợp lẽ. Một trí nhớ được rèn luyện có vai trò then chốt để phát triển “óc phán xét, tư cách công dân, và lòng mộ đạo.” Những gì người ta ghi nhớ sẽ định hình nên tính cách của họ. Cũng như bí quyết trở thành đại kiện tướng cờ vua là học những ván cờ cũ, bí quyết trở nên đại kiện tướng cuộc đời là đọc các thư tịch cổ. Vào lúc khó khăn, người ta có thể tìm sự hướng dẫn cách ứng xử ở đâu, nếu không phải trong những tầng sâu trí nhớ? Việc đọc thuần túy không thôi thì chưa hẳn được xem là học tập - đấy là thực tế mà bản thân tôi gặp phải mỗi lần cố nhớ nội dung cuốn sách tôi vừa đọc xong. Để thực sự học hỏi được từ một cuốn sách, người ta phải ghi nhớ nó. Như nhà thơ Hà Lan đầu thế kỷ mười tám Jan Luyken đã nói, “Một cuốn sách được khắc sâu vào lòng /Đáng giá hàng ngàn cuốn xếp chồng.” Cách đọc ở thời cổ đại và Trung cổ hoàn toàn khác với cách đọc của chúng ta ngày nay. Người ta không chỉ nhớ những cuốn sách; họ nhai đi nhai lại chúng - họ nghiền nát chúng rồi nhổ ra nhai lại - và trong quá trình ấy, chúng trở nên thân thuộc như là của bản thân họ vậy. Trong một bức thư gửi bạn, Petrarch đã nói, “Buổi sáng tôi ăn thứ tôi sẽ tiêu hóa vào ban đêm; khi còn bé tôi nuốt vào những gì, thì lúc trưởng thành tôi sẽ nghiền ngẫm chúng. Tôi đã hấp thụ hoàn toàn những trang viết này, tôi không những in sâu chúng vào trong trí nhớ, mà trong tận xương tủy.” Người ta bảo rằng Augustine chìm đắm trong những bài Thánh ca, và cả tiếng Latin, đến mức chúng trở thành thứ ngôn ngữ chủ đạo trong những gì ông viết ra. Quả là một cảnh tượng hấp dẫn: Tôi hình dung nếu tôi có khả năng học như Simonides, tôi sẽ có thể ghi sâu vào lòng hàng chồng thơ ca. Tôi có thể tìm ra áng thơ hay nhất và thực sự hấp thụ nó. Tôi tưởng tượng mình sẽ trở thành một trong những cá nhân khả kính (dù đôi lúc khó chịu) bao giờ cũng tìm ra câu trích dẫn thích đáng đặng đưa vào cuộc trò chuyện. Tôi tưởng tượng mình trở thành một cái kho di dộng chứa những vần thơ. Tôi quyết định biến việc ghi nhớ thành một phần thói quen hàng ngày. Giống như việc dùng chỉ nha khoa làm sạch răng. Chỉ khác là tôi thực sự sẽ làm thế. Mỗi sáng, sau khi thức dậy và làm ly cà phê, trước cả khi đọc báo hay tắm táp, thậm chí chưa cả mặc quần áo chỉnh tề, tôi ngồi xuống bàn và cố dành mười đến mười lăm phút để ghi nhớ một bài thơ. https://thuviensach.vn Vấn đề là tôi không giỏi ghi nhớ lắm. Khi ngồi xuống cố lấp đầy một cung trí nhớ bằng bài thơ “Jabberwocky,” của Lewis Carroll, một bài thơ hai mươi tám câu mà gần như toàn những từ vô nghĩa, tôi không biết làm thế nào chuyển những từ “brillig” và “slithy toves[13]” thành các hình ảnh, và rốt cuộc chỉ nhớ được bài thơ bằng cách học vẹt, mà đó lại là điều tôi không định làm. Tiếp theo, tôi thử bài “Tình ca của J. Alfred Prufrock,” của T.S. Eliot, một bài thơ tôi hằng ngưỡng mộ, và tôi đã biết rõ từng tí một. “Trong căn phòng, những người phụ nữ đến rồi đi / Họ nói về Michelangelo.” Sao tôi có thể quên được? Hay tôi sẽ ghi nhớ nó thế nào đây? Tôi sẽ chuyển hình ảnh những người phụ nữ, họ đến rồi đi, họ nói về Michelangelo trong phòng tắm ông chú nhà tôi? Và điều đó trông thế nào nhỉ? Hay tôi sẽ tưởng ra hình ảnh những phụ nữ, hình ảnh đang đến, một hình ảnh đang đi, và một hình ảnh về Michelangelo? Tôi bối rối quá. Mãi chẳng nghĩ được. Những kỹ thuật ghi nhớ này, dường như rất hứa hẹn khi tôi túm tụm cùng Ed trên một tảng đá ở Central Park trong tiết trời tê tái, thì giờ đây lại chẳng hiệu quả mấy khi tôi ở một mình dưới tầng hầm tại nhà. Tôi cảm giác như mình đang thử một đôi giày bóng lộn tại cửa hàng, và giờ khi đi đôi giày đó về đến nhà, tôi bị phồng rộp. Rõ là tôi bỏ quên điều rồi. Tôi quay sang cuốn Rhetorica ad Herennium mới mua và giở đến phần bàn về ghi nhớ từ. Tôi hy vọng nó sẽ đưa ra vài gợi ý giải thích tại sao tôi lại kém như vậy, song cuốn sách hai ngàn năm kia chỉ đưa ra lời động viên. Ghi nhớ thơ văn thực sự rất khó, tác giả thừa nhận. Nhưng vấn đề chính là ở đấy. Ông giải thích rằng học thuộc thơ văn là việc đáng làm không phải vì nó dễ, mà vì nó khó. “Tôi tin là hễ ai muốn làm điều dễ dàng mà không gặp khó khăn gì, thì trước đó họ đã phải được rèn luyện làm những điều khó khăn hơn,” ông viết. Dù đã đổ bao nhiêu thì giờ cho những kỹ thuật ghi nhớ, tôi chẳng hiểu chút gì về tầm vóc thật sự của cuộc phiêu lưu mình đã đặt chân lên. Tôi vẫn coi dự định này chỉ là một thử nghiệm ngẫu nhiên vô hại. Tôi chỉ muốn biết mình có thực sự cải thiện trí nhớ không, và nếu có, thì được bao nhiêu. Chắc chắn tôi chẳng hề nghiêm chỉnh cân nhắc nếp rèn luyện đầy thách thức mà Tony Buzan nêu ra nếu muốn tranh tài ở Giải vô địch Trí nhớ Mỹ. Dù sao thì hàng năm cứ vào tháng Ba ở thành phố New York, ở Mỹ có gần bốn chục vận động viên trí nhớ luyện tập để tham gia sự kiện này. Chẳng có lý nào tin rằng một gã nhà báo thỉnh thoảng vẫn quên số An sinh Xã hội của mình tranh đua được với các chuyên gia trí nhớ hàng đầu của Mỹ. Nhưng rồi tôi sớm vỡ ra rằng, tại những giải trí nhớ quốc tế thì người Mỹ cũng chỉ như người Jamaica ở giải trượt tuyết quốc tế mà thôi - đội Mỹ hẳn sẽ là những gã ung dung nhất ở bất kỳ cuộc thi nào, và có lẽ là đội sành điệu nhất, nhưng trên trường quốc tế, họ được xem như những kẻ xách dép cả về phương diện kỹ thuật lẫn sự rèn luyện. Dẫu chuyên gia trí nhớ giỏi nhất Hoa Kỳ có thể nhớ hàng trăm chữ số ngẫu nhiên trong vòng một tiếng, thì thành tích của họ hãy còn nhạt nhoà so với các đấu thủ từ châu Âu. Nhìn chung, chẳng ai ở Bắc Mỹ coi trọng môn thể thao trí nhớ này đến mức chịu bỏ nhậu nhẹt cả ba tháng trời trước giải vô địch thế giới, như người tám lần đoạt giải vô địch trí nhớ Dominic O’Brien từng làm, và từ góc nhìn ấy, ít thí sinh nào thực hành một chế độ rèn luyện thể chất khắt khe như Buzan khuyến nghị. (Một trong những lời khuyên đầu tiên của ông ta cho tôi, dù tôi chẳng hề xin ấy là phải giữ gìn vóc dáng.) Chẳng ai ngày nào cũng uống mấy ly dầu gan cá tuyết hay những viên omega-3. Chỉ có một người Mỹ, bốn lần vô địch quốc gia là Scott Hagwood, là được kết nạp vào KL7. Dù nước Mỹ cũng tổ chức giải vô địch từ lâu như nhiều nước khác, nhưng chuyên gia trí nhớ xuất sắc nhất của Mỹ chỉ một lần lọt được vào tốp 5 giải vô địch thế giới năm 1999. Có lẽ việc người Mỹ không sản sinh ra được vận động viên trí nhớ giỏi nhất thế giới nói lên https://thuviensach.vn điều gì đó về dân tộc tính của người Mỹ - chúng ta không ám ảnh với chi tiết như người Đức, hay tỉ mỉ như người Anh, hay nghị lực như người Malaysia. Có lẽ, như một người Âu nghiêm nghị lý giải cho tôi, rằng người Mỹ nghèo nàn về trí nhớ là bởi chúng ta quan tâm đến tương lai, trong khi những người bạn ở bên kia bờ Đại Tây Dương bận tâm nhiều về quá khứ. Dù lý do là gì, nếu tôi muốn học hỏi thêm về thuật ghi nhớ - nếu tôi muốn theo học những người giỏi nhất thế giới - thì rõ ràng tôi sẽ phải sang châu Âu. Sau khi mất vài tuần đánh vật với việc trang hoàng cho các cung trí nhớ của tôi bằng những bài thơ với đôi chút thành công,tôi nghĩ đã đến lúc lên danh sách những nguồn trợ giúp để đưa những nỗ lực của mình lên cấp độ tiếp theo. Ở tầm quốc tế, sự kiện trọng đại nhất trong năm của lĩnh vực trí nhớ, Giải vô địch Trí nhớ Thế giới, sẽ được tổ chức ở Oxford, Anh, vào cuối mùa hè. Tôi quyết định cần phải đến đó, và thuyết phục tạp chí Discover phái tôi đến viết bài về cuộc thi này. Tôi gọi cho Ed hỏi xem đến ở nhờ nhà anh ta được không. Oxford là quê nhà anh ta - anh ta lớn lên ở đó, đã vào đại học ở đó, và giờ sống cùng cha mẹ ở đó, tại một căn nhà xây bằng đá từ thế kỷ mười bảy có tên Mill Farm nằm ở ngoại ô thành phố. Khi tôi đến Mill Farm (hay đơn giản là Milf, như Ed thỉnh thoảng vẫn gọi) vào một chiều hè đầy nắng vài ngày trước khi Giải vô địch Thế giới diễn ra, Ed chào đón tôi và mang hành lý của tôi lên phòng anh ta, đúng cái phòng anh ta đã lớn lên, quần áo vứt bừa trên sàn, và trên giá sách là những cuốn niên giám môn cricket từ chín thập kỷ nay. Rồi anh ta dẫn tôi đến phần chái cổ nhất của ngôi nhà, một cái kho bốn trăm năm tuổi, xây bằng đá, đã được cải tạo thành phòng và nối với nhà bếp. Có một cây đàn trong góc phòng, và những tấm vải sặc sỡ treo trên trần nhà, vết tích của một bữa tiệc tổ chức mấy năm trước không bao giờ được gỡ xuống. Cuối căn phòng là một chiếc bàn dài bằng gỗ, có tám cỗ bài xếp ngay đầu bàn. “Đây là nơi tôi thực hành,” Ed bảo, và chỉ tay về phía ban công nhô ra ở phần trên gian nhà kho. “Thử tưởng tượng những số nhị phân đổ xuống những bậc thềm kia, ngay bên kia phòng. Đúng như anh hình dung về nơi tập luyện của một nhà vô địch trí nhớ, đúng không nào?” Trước bữa ăn tối, một người bạn thời bé của Ed là Timmy ghé qua chào. Ed và tôi xuống nhà, thấy anh ta ngồi ở bàn trò chuyện với bố mẹ Ed, là bà Teen và ông Rod, trong khi cô em gái út Phoebe đang xắt rau vườn nhà bên bàn bếp. Timmy giờ quản lý một công ty phát triển phần mềm trực tuyến. Cậu ta đến đây trên chiếc BMW, mặc áo phông polo lịch lãm và có làn da rám nắng. Bà Teen giới thiệu tôi và gượng cười giải thích rằng Ed là huấn luyện viên trí nhớ của tôi. Timmy dường như không tin nổi Ed vẫn còn nghịch ngợm mấy trò trí nhớ này. Chẳng phải chuyến đi điên rồ tới Kuala Lumpur xảy ra lâu lắm rồi sao? “Edward này, con không lo cậu học trò mới sẽ vượt mặt con sao?” bà Teen hỏi, dường như là để trêu cậu con trai. “Cháu nghĩ hoàn toàn chẳng phải lo về chuyện đó đâu ạ,” tôi nói. “Con thì nghĩ chuyện đó sẽ giáng một đòn khủng khiếp vào nền giáo dục,” giọng Ed tự hào. “Cháu nghĩ có thể tìm cho Ed một công việc đàng hoàng theo giờ hành chính không?” Rod https://thuviensach.vn hỏi Timmy. Ed bật cười. “Đúng rồi, có thể tớ sẽ mở khóa rèn luyện trí nhớ cho mấy nhân viên của cậu.” “Con có thể làm lập trình,” Teen đề nghị. “Con không biết lập trình.” “Bố con sẽ dạy cho.” Vào những năm 1990, Rod kiếm được một gia sản nhỏ nhờ thiết kế phần mềm máy tính rồi về hưu sớm, sống cuộc đời nhàn nhã và theo đuổi những thú vui kỳ cục. Ông đang nuôi ong và làm vườn, và tính chuyện tách nông trại Mill ra khỏi mạng lưới điện, bằng cách tận dụng những quyền có từ xửa xưa đối với nguồn nước để đặt một máy phát điện tại một dòng nước chảy qua ngôi nhà. Bà Teen dạy trẻ khuyết tật ở một trường địa phương, bà rất ham đọc sách và cũng là một tay chơi quần vợt. Bà có vẻ đã chấp nhận hoàn toàn những chuyện lập dị của Ed, nhưng cũng hy vọng rằng một ngày kia Ed sẽ dụng tài năng của anh ta vào một hướng đi có trọng tâm hơn, và có lẽ giúp ích cho xã hội nữa. “Còn luật thì sao, Edward?” bà hỏi. “Con coi luật như trò chơi mà được của người này là thua của kẻ khác, và chẳng ích gì cho đời cả,” Ed nói. “Nói chung, làm một luật sư giỏi chỉ đơn thuần là tối đa hóa sự bất công.” Ed hướng sang tôi. “Lúc mười tám tuổi, tôi là một gã khá triển vọng đấy.” Câu này khiến Phoebe quay sang tham gia. “Năm 13 tuổi thì đúng hơn.” Khi Ed đi tắm, tôi hỏi Rod nếu rốt cuộc con trai ông sẽ trở thành một Tony Buzan khác, một chuyên gia bậc thầy về kỹ năng phát triển bản thân giàu sụ thì ông có thất vọng không. Rod cân nhắc trong giây lát rồi vuốt cằm. “Chú thích nó làm luật sư hơn.” Sáng hôm sau, tại phòng khảo thí ở Đại học Oxford, nơi tiếp đón những chuyên gia trí nhớ hàng đầu thế giới, Ed nằm ườn trên ghế tràng kỷ bọc da, đội mũ phớt màu vàng nhạt và mặc áo phông với dòng chữ “Ed Kicks Ass -220” in đậm trước ngực, dưới dòng chữ là tấm hình anh ta được in nhiệt lên áo, vẻ hăm doạ với hình biếm họa một cú đá karate, và một bức ảnh chụp thân dưới phụ nữ. (Ngoài việc truyền đi thông điệp vớ vẩn dọa dẫm các đối thủ, anh ta giải thích, những từ “Ed Kicks Ass,” là dòng chữ giúp anh ta ghi nhớ con số 220.) Anh ta đang hút thuốc (mảng rèn luyện thể lực ở môn thể thao trí nhớ này không được anh ta thực hiện nghiêm túc lắm), và nồng nhiệt đón chào từng thí sinh khi họ bước qua cửa. Anh ta cho tôi biết, từ lúc chúng tôi gặp nhau lần trước, anh ta đã dừng vô thời hạn chương trình tiến sĩ ở Paris để theo đuổi “những dự án khác.” Anh ta cũng bảo tôi, rằng kế hoạch lớn của anh ta và Lukas về Học viện Trí tuệ Oxford tạm thời bị đình lại, bởi không lâu sau giải vô địch Mỹ, Lukas bị tổn thương phổi nghiêm trọng vì gặp sự cố khi tập trò phun lửa. Giải vô địch trí nhớ có thể là cuộc thi giàu tính cạnh tranh đến kỳ dị, Ed mô tả chiếc áo phông hợm hĩnh là một phần của “chiến dịch ngăn chặn mối đe doạ” nhằm “tăng cường sự thân thiện giữa các thí sinh - đặc biệt là với người Đức.” Theo hướng đó, khi xuất hiện ở giải vô địch này, anh ta mang theo những tờ giấy, ghi những thông tin táo tợn vừa đầy một trang để phát cho báo chí và các bạn chơi. Nó mô tả tính cách của anh ta (dùng ngôi nhân xưng thứ ba) - “bất kính, phô trương, sẵn sàng làm bất cứ gì (đặc biệt là hôm qua)” - và chế độ luyện tập “dậy sớm, Yoga, nhảy dây, dùng siêu thực phẩm (gồm quả việt quất và https://thuviensach.vn dầu gan cá tuyết), bốn giờ luyện tập, mỗi ngày hai ly rượu (sản xuất ở vùng đất giàu kali Languedoc-Roussillon, miền nam nước Pháp), 30 phút suy tư mỗi buổi hoàng hôn, ghi nhật ký trực tuyến.” Nó cũng ghi nhận “khả năng độc đáo” là mơ trong tỉnh táo (lucid dreaming) và tình dục theo phái yoga Mật tông. Nó cũng mô tả Tony Buzan là “nhà vô địch khiêu vũ và là người thầy dẫn dắt tôi suốt quãng dậy thì,” và anh ta suy nghĩ về tương lai của cuộc thi trí nhớ: “Hy vọng nó sẽ được đưa vào tranh tài ở Olympic trước năm 2020,” khi anh ta “tính chuyện lui về sống cuộc đời với chứng giác quan liên đới và sự lão suy.” Kế hoạch của anh ta sau giải này là: “Làm cách mạng nền giáo dục phương Tây.” Ngồi trên ghế cạnh anh ta là huyền thoại vô địch trí nhớ thế giới Ben Pridmore, người mà cho đến lúc này tôi chỉ biết qua Google và những giai thoại. (Tôi nghe nói anh ta có thể vừa lật quân bài vừa ghi nhớ ngay tức thì.) Ben mặc một chiếc áo cũ mèm với dòng chữ Một con cá, Hai con cá, Cá đỏ, cá xanh,” với cổ áo doãng rộng và một cỗ bài. Anh ta đội chiếc mũ rộng vành màu đen làm từ da bò của Úc mà những người khiêng quan tài thường đội, và anh thú nhận kể từ sáu năm qua ngày nào anh ta cũng mang nó. “Đây là nét riêng của tôi,” anh ta nói khẽ. “Nó là một phần linh hồn tôi.” Dưới chân anh ta là một cái ba lô màu đen và hồng có dòng chữ “Pump It Up” họa ở mặt sau. Anh ta cho chúng tôi biết rằng trong ba lô có 20 cỗ bài, anh định ghi nhớ hết chúng vào ngày hôm sau trong một giờ. Cái đầu hói, râu đen, cặp kính nuốt cả khuôn mặt và đôi mắt lớn luôn sục sạo, Ben như hiện thân ngoài đời của nhân vật hoạt hình R. Crumb. Anh ta thậm chí có cả đôi vai lum khum và cái dáng đi khệnh khạng bất cần ấy. Đế của đôi giày da rách bươm lẹp bẹp dưới chân trông như đôi dép xỏ ngón. Anh ta nói giọng âm mũi nhẹ vùng Yorkshire, khiến chữ mình nghe như mìn” “Tôi ghét cái giọng của mìn” anh ta nói để giải thích lý do không gọi điện lại cho tôi mấy tuần trước. Anh ta tránh các cuộc điện thoại trừ phi thậm bất đắc dĩ. Một trong những mẩu thông tin bản thân anh chia sẻ với tôi là anh tin mình là người Anh trẻ nhất bỏ đại học. “Tôi được nhận vào trường Kingston thuộc Đại học Thames lúc còn mười bảy tuổi, nhưng sau sáu tháng thì tôi bỏ học. Giờ tôi hai tám, thế cũng hơi buồn đấy. Tôi bắt đầu cảm thấy như một lão làng trong môn thể thao trí nhớ. Anh biết đấy, lúc mới bước vào lĩnh vực này tôi là một trong những tay trẻ trung được chú ý nhất đấy.” Vận rủi dường như cứ bám lấy Ben. Anh ta không có ý định xuất hiện ở Giải vô địch Trí nhớ Thế giới. Thực ra, sáu tháng qua anh ta giành hết thời gian để ghi nhớ năm mươi ngàn chữ số đầu tiên của số pi, mà anh ta dự định sẽ đọc tại Olympiad Thể thao Trí tuệ - lễ hội các môn cờ kéo dài cả tuần lễ, được tổ chức một tuần sau Giải vô địch Trí nhớ Thế giới. Đó sẽ là kỷ lục thế giới mới. Nhưng tháng trước, một chuyên gia trí nhớ không tiếng tăm nào đó người Nhật, tên là Akira Haraguchi chẳng biết từ đâu xuất hiện và đọc được một mạch 83.431 chữ số pi. Ông ta mất mười sáu giờ, hai tám phút để đọc chúng. Ben đọc được thành tích này trên mạng Internet, và buộc phải đánh giá lại kế hoạch của mình. Thay vì cố học thuộc thêm 33.432 chữ số nữa, anh ta từ bỏ và dồn sức bảo vệ danh hiệu vô địch trí nhớ thế giới. Trong sáu tuần qua anh ta dành hết những giây phút rảnh rỗi để dọn sạch cung trí nhớ đã dành cho số pi, rũ bỏ hàng tháng trời những lao động cực nhọc, để anh ta sử dụng lại những cung đó cho các giải vô địch trí nhớ. Hầu hết các vận động viên trí óc đến với môn thể thao này cũng giống như tôi: Cứ họ thấy ai đó diễn một trò trí nhớ rất hoành tráng và thấy hay là họ hỏi ngay các mẹo của trò này để về nhà tự học. Nhưng Ben bỏ lỡ một bước quan trọng. Anh đã xem ai đó ghi nhớ những quân bài, nghĩ trò này thật hay, rồi về nhà tự học lấy. Nhưng không ai bảo cho anh biết làm như thế nào. Không hề sử dụng kỹ thuật nào, anh ta cứ chằm chằm nhìn đi nhìn lại https://thuviensach.vn cho tới khi chúng in dấu vào não bộ. Và điều ngạc nhiên là, cứ lúc rảnh rỗi thì anh ta lại làm như vậy trong nhiều tháng trời, với giả định rằng cuối cùng sẽ đạt thành tựu. Rồi thì anh ta cũng rút thời gian xuống mười lăm phút mà chỉ cần ghi nhớ theo kiểu học vẹt, và xét trên nhiều khía cạnh thành tích này còn ấn tượng hơn kỷ lục thế giới ba mươi hai giây anh ta đạt được nhờ dùng các kỹ thuật. Mãi cho đến lúc tham gia Giải vô địch Trí nhớ Thế giới anh ta mới biết về cung trí nhớ. Sau những phần thi ở ngày đầu tiên (anh ta hoàn thành ở vị trí áp chót), anh đến hiệu sách, mua một cuốn của Tony Buzan, quyết rằng mình có tài năng trong môn này, và quên hết mọi sở thích ngoại khóa khác, bao gồm cả mục tiêu suốt đời là phải xem hết 1.001 phim hoạt hình của hãng Warner Bros phát hành rầm rộ trong quãng 1930 và 1968. Ben đang viết một cuốn sách “Làm thế nào để thông minh hơn,” chỉ cho người đọc biết tính toán bất cứ ngày nào trong lịch sử, biết cách ghi nhớ một cỗ bài, và dùng mẹo để làm bài kiểm tra IQ. “Cuốn sách này sẽ khiến mọi người nghĩ rằng anh thông minh mà thực ra chẳng làm trí tuệ của anh tăng lên gì cả,” anh ta bảo tôi. “Vấn đề là tôi chưa viết được nhiều nhặn gì, vì tôi luôn có những việc quan trọng hơn phải làm, như xem hoạt hình. Hễ tôi cố viết một cuốn sách nghiêm túc về cải thiện cuộc sống, thì tôi lại viết toàn những thứ nhảm nhí, vì tôi còn chẳng biết làm thế nào cải thiện cuộc sống của mình nữa là.” Người muốn chiếm danh hiệu của Ben ở giải vô địch thế giới là Tiến sĩ Gunther Karsten, với khuôn mặt xương xương và cái trán hói, một “bố già” bốn mươi ba tuổi trong môn thể thao trí nhớ Đức, người đã thắng hết các cuộc thi quốc gia ở nước này kể từ năm 1998. Gunther xuất hiện trong điệu bộ mà tôi biết là phong cách điển hình của ông ta: một đôi bịt tai màu đen hoành tráng, cặp kính chống nắng gọng kim loại mà phần tròng kính đã bịt hết chỉ chừa ra hai lỗ nhỏ. “Tác nhân kích thích bên ngoài,” như cách nói của Gunther, là điều chuyên gia trí nhớ này ghét tay ghét đắng. (Một chuyên gia trí nhớ người Đan Mạch đã về vườn từng thi đấu với miếng che mắt ngựa.) Ông ta còn mang cái khóa dây lưng màu vàng có khắc tên viết tắt của mình, đeo sợi dây chuyền vàng ngoài chiếc áo phông trắng ôm sát người, và mặc chiếc quần thủy thủ màu đen. Gunther cho tôi biết hồi còn đại học ông ta là người mẫu ảnh cho hãng xe Nissan, và tùy xem góc nhìn của bạn thế nào, bạn sẽ thấy ông ta giống một tay côn đồ trong phim James Bond hoặc là một vận động viên trượt băng nghệ thuật đang về già. Vóc dáng của ông ta thật là oách, và tôi chóng nhận ra ông cũng là một đấu thủ rất cừ nữa. Dù chân hơi khập khễnh (do bị bệnh về xương lúc còn nhỏ), ông vẫn đều đặn tham gia các cuộc chạy đua cho lứa tuổi trung niên và chiến thắng hẳn hoi. Ông ta mang bên mình một chiếc cặp kim loại sáng bóng được khóa kín, trong chứa cỡ hai mươi đến ba mươi cỗ bài định ghi nhớ. Ông sẽ chẳng cho tôi biết chính xác có bao nhiêu vì sợ rằng thông tin đó sẽ lọt đến tai Ben Pridmore. Cuộc thi diễn ra ở một căn phòng lớn lát ván gỗ sồi, trong một tòa nhà cổ của Oxford, với những ô cửa sổ cao kiểu Gothic và những bức chân dung quá cỡ của Bá tước Litchfield đệ Tam và Bá tước Derby đệ Thập tứ. Căn phòng được bày biện không có gì khác so với ngày thường trong năm học, khi nó được dùng để làm phòng thi cho những sinh viên đại học Oxford. Có bốn mươi tám chiếc bàn, mỗi bàn gắn một chiếc đồng hồ đếm giờ kỹ thuật số cao chừng 15cm, dùng cho phần thi cuối cùng và cũng là phần hấp dẫn nhất: nhớ bài nhanh, khi các thí sinh đua nhau đưa từng cỗ bài vào bộ nhớ một cách nhanh nhất có thể. Không như giải vô địch Mỹ chỉ có năm phần thi và mỗi phần không quá mười lăm phút, giải vô địch thế giới trí nhớ thường được gọi là “cuộc thi trí nhớ mười môn phối hợp.” Nó gồm mười môn thi, kéo dài ba ngày tơi bời, mỗi ngày kiểm tra trí nhớ thí sinh theo những cách khác nhau đôi chút. Các đấu thủ phải ghi nhớ một bài thơ dài nhiều trang trước đấy chưa được công bố, nhớ những trang chữ ngẫu nhiên (kỷ lục: 280 chữ trong mười lăm https://thuviensach.vn phút), danh sách những số nhị phân (kỷ lục: 4.140 số trong ba mươi phút), cỗ bài đã xáo, danh sách những ngày lịch sử, và những cái tên những khuôn mặt. Một số môn thi, gọi là “phần thi tốc độ,” kiểm tra đấu thủ có thể nhớ được bao nhiêu trong vòng năm phút (kỷ lục: 405 chữ số). Hai môn marathon thử xem thí sinh nhớ được bao nhiêu cỗ bài và bao nhiêu số ngẫu nhiên trong một giờ (kỷ lục: 2.080 chữ số và hai mươi bảy cỗ bài). Giải vô địch thế giới trí nhớ lần đầu tiên được tổ chức tại Athenaeum Club sang trọng ở London năm 1991. “Hồi đó tôi thấy thật là vô lý,” Tony Buzan nhớ lại. “Chúng ta có giải vô địch ô chữ. Chúng ta có giải vô địch môn Scrabble[14]. Chúng ta có giải cờ vua, bài bridge, bài xì, môn cờ đam, bài canasta, và cờ vây. Chúng ta có cuộc thi cho các môn khoa học. Vậy mà quá trình nhận thức quan trọng nhất, cơ bản nhất của loài người là ghi nhớ thì lại không có giải vô địch nào cả.” Ông ta cũng biết rằng ý tưởng “nhà vô địch trí nhớ thế giới” sẽ chắc chắn sẽ thu hút truyền thông và là cách khôn ngoan để quảng bá sách ông ta viết về rèn luyện trí não. Với sự giúp đỡ của người bạn Raymond Keene, một đại kiện tướng cờ vua người Anh, ông này giữ chuyên mục cờ vua hàng ngày cho tờ The Times (London), Buzan gửi thư cho một số người ông ta biết là có liên quan đến lĩnh vực rèn luyện trí nhớ và đăng một quảng cáo về cuộc thi trên The Times. Bảy người xuất hiện, gồm một y tá chuyên chăm sóc bệnh nhân tâm thần, tên Creighton Carvello, người này ghi nhớ số điện thoại của tất cả những người tên Smith trong danh bạ điện thoại vùng Middlesbrough, và một người khác tên Bruce Balmer đã lập kỷ lục vì ghi nhớ hai nghìn từ ngoại ngữ trong một ngày. Vài thí sinh mặc vét đuôi tôm. Các đấu thủ giờ không còn theo quy định trang phục khắt khe như vậy nữa, song những quy định khác ở giải này đã chặt chẽ hơn nhiều kể từ năm 1991. Cuộc thi ngày trước chỉ có một ngày, giờ đã kéo dài hết một kỳ nghỉ cuối tuần. Trong những môn thi của mười môn phối hợp kéo dài ba ngày đó, môn thi đầu tiên trong ngày đầu tiên, nhớ thơ, nhìn chung là phần đáng sợ nhất. Vì tôi nhớ thơ khá kém cỏi nên đây là phần thi tôi muốn theo dõi sát sao nhất. Mỗi năm Gunther lại vận động bỏ phần thi này ra khỏi giải đấu, hay ít nhất thay đổi luật thi đấu sao cho - theo như ông ta nói - “khách quan”. Nhưng thơ ca là nơi khởi đầu của thuật ghi nhớ, và xóa bỏ phần thi này khỏi giải đấu chỉ vì vài thí sinh thấy khó, thì chẳng khác nào đi ngược lại với tiền đề nền tảng của cuộc thi này rằng ghi nhớ là một nỗ lực sáng tạo và nhân văn. Nên hàng năm, người ta đặt hàng một bài thơ mới mà trước đó chưa được công bố để dùng cho giải vô địch thế giới. Những năm đầu tiên của cuộc thi, vào đầu những năm chín mươi, những bài thơ do một thi sĩ Anh từng đoạt giải thơ ca viết ra, ông tên là Ted Hughes, mà Tony Buzan bảo là “một người bạn cũ.” Kể từ khi Hughes chết năm 1998, những bài thơ do Buzan tự viết ra. Bài thơ năm nay có 108 câu, đề “Miserare,”[15] trích từ tuyển tập “Requiem for Ted” (Lễ cầu hồn cho Ted). Nó bắt đầu: With most things in Universe I am happy: Supernovas The Horse Head Nebula The Crab The light-years-big clouds https://thuviensach.vn That are the Womb of Stars (Dịch nghĩa: Tôi hạnh phúc với hầu hết mọi điều trong vũ trụ này: Những ngôi sao băng. Tinh vân đầu ngựa. Chòm sao Cự Giải. Những đám mây lớn ngàn năm ánh sáng. Là nơi chứa những vì sao) Tôi đọc danh mục những điều làm Tony Buzan hạnh phúc, có “God’s freezing balls,” (những khối cầu lạnh băng của Chúa) và kết thúc: I am not happy That Ted Is Dead. (Tôi không hạnh phúc khi Ted chết đi) Các thí sinh có mười lăm phút ghi nhớ càng nhiều dòng càng tốt, rồi có nửa tiếng viết ra trên tờ giấy trắng. Để nhận được điểm tuyệt đối cho một câu, nó phải được viết hoàn chỉnh, từng chữ viết hoa và dấu câu. Các thí sinh không gạch chân “not happy” như tác giả đã viết hay nghĩ sai rằng nghĩ rằng Ted đã “chết” (dead) mà không có chữ D viết hoa sẽ chỉ được nửa điểm cho câu đó. Đâu là cách tốt nhất để ghi nhớ một đoạn văn bản dài hay một bài phát biểu, câu hỏi này đã làm các chuyên gia trí nhớ trăn trở hàng ngàn năm qua. Tài liệu đầu tiên về trí nhớ đã mô tả hai dạng hồi tưởng: memoria rerum và memoria verborum, trí nhớ đối với các sự vật và trí nhớ với lời nói. Khi tiếp cận một văn bản hay lời nói, người ta có thể nhớ ý chính, hay có thể nhớ nguyên văn. Quitilian một người thầy, và nhà hùng biện thời La Mã xem nhẹ memoria verborum vì cho rằng tạo ra nhiều hình ảnh như vậy không những kém hiệu quả, vì nó đòi hỏi cung trí nhớ khổng lồ, mà nó còn không ổn định. Nếu trí nhớ đối với lời nói cứ tập trung vào việc nhớ từng từ một, thì không những bạn phải nhớ nhiều hơn, mà nếu bạn quên đi một từ bạn sẽ bị mắc kẹt trong cung trí nhớ, như đứng trong căn phòng nhìn bức tường trắng, lạc lối và không thể đi tiếp. Cicero cũng đồng ý rằng cách tốt nhất để ghi nhớ lời nói là nhớ theo ý bằng cách sử dụng memoria rerum chứ không nên ghi nhớ từng lời. Trong tác phẩm De Oratore, ông gợi ý rằng một người khi thuyết trình nên tạo một hình ảnh cho mỗi chủ đề mình muốn đề cập và đặt mỗi hình ảnh đó vào một chỗ trong cung trí nhớ. Thực ra, từ “topic” (chủ đề) bắt nguồn từ chữ Hy Lạp topos, hay địa điểm. (Cụm từ “in the first place” (ở vị trí đầu tiên, trước hết) trong các bài văn - là dấu tích của thuật ghi nhớ.) Bộ não không giỏi ghi nhớ chính xác từng lời, điều này được minh họa bằng một ví dụ nổi tiếng: vụ Watergate năm 1973. Trong phiên điều trần trước Ủy ban điều tra vụ Watergate của Thượng viện, cố vấn của Tổng thống Richard Nixon là John Dean đã trình bày trước các nghị sĩ về nội dung hàng tá cuộc họp liên quan đến việc che giấu những vụ đột nhập. Trước sự chán nản của tổng thống và niềm hoan hỉ của ủy ban, Dean có thể nhắc lại nguyên văn nhiều cuộc đối thoại diễn ra trong Phòng Bầu dục. Trí nhớ của ông ta chi tiết và dường như chính xác đến mức các phóng viên gọi ông ta là “máy ghi âm.” Vào thời điểm Dean làm chứng, không một ai biết rằng những cuộc đàm thoại đã được ông ta thuật lại theo trí nhớ kia trước đó cũng đã được một máy ghi âm trong Phòng Bầu dục ghi lại. Trong khi cả nước Mỹ chú ý đến ảnh hưởng chính trị của những bản ghi âm đó, thì nhà https://thuviensach.vn tâm lý Ulric Neisser lại xem đó là một nguồn dữ liệu đáng giá. Neisser so sánh bản chép lại từ băng ghi âm với lời khai của Dean, và phân tích xem trí nhớ của Dean đúng và sai ở đâu. Chẳng những Dean không nhớ chính xác những lời trích dẫn - nghĩa là nhớ theo verborum - mà ông ta còn thường không nhớ đúng ý nội dung trao đổi - tức nhớ theo rerum. Song, dù trí nhớ của ông ta có sai lệch trong từng phần riêng rẽ, thì Neisser nhận thấy rằng “về tổng quan thì có thể xem là ông ta nhớ đúng.” Những điểm chính trong lời khai đều chính xác: “Nixon muốn che giấu trót lọt vụ việc này; ông ta hài lòng vì nó diễn ra tốt đẹp; ông ta bối rối khi nó bị lộ ra; ông ta sẵn sàng tính đến những hoạt động phi pháp, nếu những hoạt động đó tăng quyền lực cho tổng thống hoặc đánh bại được đối thủ của ông ta.” John Dean không xuyên tạc, Neisser lập luận; ông ta sai về chi tiết, nhưng đúng ở những điểm quan trọng. Chúng ta ai cũng đều như vậy khi cố thuật lại những cuộc đàm thoại, vì không được rèn luyện đặc biệt, nên trí nhớ của chúng ta chỉ tập trung đến bối cảnh chung. Nếu bộ não đúng là hoạt động như vậy thì cũng là điều hợp lẽ. Nó vốn là một bộ phận rất tốn kém. Dù chiếm 2 phần trăm khối lượng cơ thể nhưng nó dùng đến một phần năm lượng ôxy chúng ta hít vào và đốt hết một phần tư lượng glucose. Bộ não cũng là cơ quan tiêu tốn năng lượng nhất trong cơ thể và được chọn lọc tự nhiên gọt giũa cực kỳ nghiêm khắc để đáp ứng hiệu quả những nhiệm vụ vốn là mục đích tiến hóa của nó. Có thể nói mục đích chung của hệ thần kinh, từ cơ quan cảm biến cung cấp thông tin đến các nhóm tế bào thần kinh giải mã thông tin đó, là nhằm hiểu chuyện gì đang diễn ra ở hiện tại và điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, để chúng ta có thể phản ứng lại theo cách khả dĩ nhất. Lược bỏ đi những cảm xúc, triết lý, những rối loạn thần kinh chức năng và giấc mơ, thì bộ não chúng ta, theo nghĩa hẹp nhất, về cơ bản là cỗ máy dự đoán và lập kế hoạch. Để hoạt động hiệu quả, chúng phải tìm ra trật tự trong đống hỗn loạn những ký ức khả dĩ. Từ lượng dữ liệu khổng lồ đổ vào thông qua các giác quan, bộ não phải nhanh chóng lọc thông tin nào sẽ ảnh hưởng đến tương lai và chú tâm vào nó, bỏ qua những thông tin gây nhiễu. Phần lớn các thông tin hỗn loạn mà bộ não lọc bỏ là lời nói, bởi hầu hết trường hợp, ngôn ngữ dùng để truyền đạt ý tưởng thực ra chỉ là món đồ trang trí. Cái quan trọng ấy chính là res, ý nghĩa của những lời đó. Và bộ não chúng ta lại nhớ rất tốt cái ý nghĩa đó. Trong đời thực, ngoài việc làm chứng ở nghị viện hay tại vòng thi nhớ thơ ở cuộc thi trí nhớ quốc tế, thì chẳng mấy ai bị yêu cầu phải ghi nhớ từng chữ - ad verbum. Cho đến cái tích tắc cuối cùng của đồng hồ lịch sử, sự truyền thụ văn hóa vẫn được hiểu theo nghĩa truyền khẩu từ miệng nói vào tai nghe, và thơ ca là phương tiện trung gian chủ yếu để truyền thông tin qua không gian và từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đọc thơ không chỉ là cách đơn giản để kể lại những câu chuyện vui thú và quan trọng, hay để diễn tả trí tưởng tượng. Theo lập luận của nhà kinh điển Eric Havelock, nó là “một kho lưu giữ khổng lồ những trí thức hữu ích, một dạng bách khoa thư về đạo đức, chính trị, và công nghệ mà những công dân hữu ích buộc phải học để trang bị kiến thức cơ bản.” Những tác phẩm truyền khẩu vĩ đại được truyền lại như một di sản văn hóa chung, thường không phải trên giá sách, mà trong các bộ não. Sự tồn tại của những người ghi nhớ chuyên nghiệp tồn tại trong văn hóa truyền khẩu trên khắp thế giới là để truyền lại di sản đó qua các thế hệ. Ở Ấn Độ, toàn bộ tầng lớp tăng lữ có nhiệm vụ ghi nhớ chính xác tuyệt đối kinh Vệ Đà. Ở Ảrập thời kỳ trước Hồi giáo, những người Rawi[16] thường đi cùng những nhà thơ, được coi là chuyên gia ghi nhớ chính thức. Những bài giảng của Phật được truyền khẩu liên tục suốt bốn thế kỷ mãi cho đến khi chúng được chuyển thành chữ viết ở Sri Lanka vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Và trong nhiều thế kỷ, một nhóm người gọi là tannaim (nghĩa đen, “những người đọc lại”) được thuê để ghi nhớ các luật lệ truyền khẩu cho cộng đồng Do Thái. https://thuviensach.vn Tác phẩm truyền khẩu nổi tiếng nhất của phương Tây và là tác phẩm đầu tiên được nghiên cứu có hệ thống, là Odyssey và Iliad của Homer. Hai bài thơ này - có lẽ là những bài thơ đầu tiên được viết ra bằng chữ Hy Lạp - từ lâu được giữ nguyên bản về văn chương. Tuy nhiên, dù được ca tụng là hình mẫu tạo nguồn cảm hứng cho mọi tác phẩm văn chương, từ lâu hai kiệt tác này của Homer đầu thời là mối đau đầu cho giới học giả. Những nhà phê bình hiện đại ngay từ đầu cảm nhận rằng chúng khác biệt về chất lượng so với những tác phẩm ra đời sau này - thậm chí có chút kỳ lạ. Ví dụ, cả hai bài thơ đều có sự lặp lại một cách kỳ cục khi đề cập đến các nhân vật. Odysseus luôn là “Odysseus thông minh.” Bình minh bao giờ cũng là “những ngón tay hồng” Tại sao lại viết như vậy? Một vài biệt danh dường như hoàn toàn chẳng phù hợp. Tại sao lại gọi kẻ giết người Agamemnon là “Aegisthos vô tội”? Tại sao lại nói “Achilles đôi chân nhanh nhẹn” ngay cả khi chàng đang ngồi? Hay “Aphrodite cười” dù là khi nàng đang rơi lệ? Xét cả mặt cấu trúc lẫn chủ đề, Odyssey và Iliad đều cực kỳ công thức đến nỗi dễ đoán biết. Những đoạn tường thuật - tập hợp quân đội, những cái khiên vĩ đại, thách đấu giữa các đối thủ - xuất hiện hết lần này đến lượt nọ, chỉ khác nhau về nhân vật và tình huống. Xét trong những kiệt tác được cân nhắc kỹ lưỡng và tinh tế như vậy, những điều kỳ quặc này xem ra khó mà giải thích. Trọng tâm của mối băn khoăn về những tác phẩm văn chương sớm nhất này là hai câu hỏi: Thứ nhất, làm sao văn học Hy Lạp bỗng đâu lại sản sinh ra hai tác kiệt tác này? Chắc chắn vài câu chuyện kém hoàn thiện hơn đã được sáng tác trước đó, và hai tác phẩm này chỉ là tác phẩm đầu tiên được lưu lại mà thôi. Thứ hai, chính xác tác giả là ai? Hay các tác giả là ai? Không hề có bằng chứng lịch sử về Homer, và không có một tiểu sử đáng tin nào về sự tồn tại của con người này, ngoại trừ những đoạn tự ám chỉ ngay trong chính những văn bản đó. Jean-Jacques Rousseau là một trong những nhà phê bình hiện đại đầu tiên đưa ý kiến rằng Homer không phải là một tác giả theo nghĩa hiện đại, nghĩa là một cá nhân ngồi viết một câu chuyện rồi xuất bản cho những người khác đọc. Trong Tiểu luận về Nguồn gốc Ngôn ngữ năm 1781, triết gia Thụy Sĩ cho rằng Odyssey và Iliad có lẽ “được viết dựa theo ký ức của nhiều người. Sau này chúng được tập hợp cẩn thận dưới dạng chữ viết”, nhưng Rousseau cũng chỉ tìm hiểu đến đấy. Cũng viết vào thế kỷ mười tám, một nhà ngoại giao và khảo cổ người Anh tên Robert Wood đưa ra ý kiến rằng Homer là người mù chữ, và rằng các tác phẩm của ông được lưu trong trí nhớ. Đó là một giả thiết mang tính cách mạng, nhưng Wood không thể đưa ra được giả thiết nhằm lý giải làm sao Homer có được thành tựu trí nhớ tuyệt vời như vậy. Năm 1795, nhà ngữ văn người Đức Friedrich August Wolf lần đầu tiên lập luận rằng không những những tác phẩm của Homer không phải do Homer viết ra, chúng còn không phải của Homer. Chúng là một tập hợp rời rạc những bài hát được truyền qua nhiều thế hệ ca sĩ dân gian Hy Lạp, và sau này được biên soạn lại dưới hình thức văn bản như ngày nay. Năm 1920, một học giả mười tám tuổi tên Milman Parry chọn đề tài tác-giả-Homer làm luận án thạc sĩ ở Đại học California, Berkeley. Anh ta đưa ra ý kiến lý do các sử thi của Homer có vẻ không giống những tác phẩm văn chương khác là bởi chúng thực sự không giống thứ văn chương khác. Parry đã phát hiện ra điều Wood và Wolf đã bỏ qua: chứng cứ về thi ca truyền khẩu ở ngay trong chính văn bản. Tất cả những sự kỳ quặc về phong cách: gồm tính công thức và sự tái diễn các yếu tố cốt truyện và những biệt danh lặp đi lặp lại một cách kỳ cục - “Odysseus thông minh” và “Athena mắt nâu” - vốn luôn làm người đọc bối rối thực ra giống như dấu vân tay của người thợ gốm: bằng chứng cụ thể cho biết các bài thơ này được làm ra như thế nào. Chúng là những yếu tố giúp ghi nhớ, để những ca sĩ dân gian khớp với nhịp và hình thức của một câu thơ, và ghi nhớ nội dung chính của bài https://thuviensach.vn thơ. Theo Parry, các tác giả vĩ đại nhất thời cổ xưa, “một trong những truyền thống lâu đời những thi sĩ truyền khẩu đã... sáng tác toàn bộ mà không có chữ viết trợ giúp.” Parry nhận ra nếu ta định làm một bài thơ dễ nhớ, thì Odyssey và Iliad chính là thể loại thơ ta sẽ tạo ra. Người ta bảo sự sáo rỗng là tội lỗi tệ nhất mà một tác giả có thể phạm phải, nhưng với một nghệ sĩ dân gian truyền khẩu, chúng lại rất quan trọng. Chính bởi sự sáo rỗng dễ dàng đi vào lời nói và chữ viết - dễ đi vào trí nhớ - nên đó lý do tại sao chúng đóng một vai trò quan trọng trong kể chuyện truyền khẩu. Odyssey và Iliad, đã vận dụng và có đầy rẫy những lỗi sáo rỗng. Trong một nền văn hóa lệ thuộc vào trí nhớ thì điều quan trọng là người ta phải - như lời của Walter Ong, “nghĩ những điều dễ nhớ.” Bộ não rất giỏi nhớ những điều được lặp lại, có nhịp điệu, vần điệu, có cấu trúc, và trên hết là dễ hình dung. Các ca sĩ dân gian phát hiện ra những quy tắc này khi họ cắt gọt những câu chuyện qua quá trình kể đi kể lại, đây cũng chính là những quy tắc ghi nhớ cơ bản mà các nhà tâm lý học đã phát hiện lại khi họ bắt đầu tiến hành những thí nghiệm khoa học đầu tiên về trí nhớ vào lúc chuyển giao sang thế kỷ hai mươi: lời nói có vần nhịp dễ nhớ hơn lời nói không có vần nhịp; những danh từ cụ thể dễ nhớ hơn những danh từ trừu tượng; những hình ảnh linh động dễ nhớ hơn hình ảnh tĩnh; sự lặp âm đầu giúp việc ghi nhớ dễ dàng hơn. Ý nghĩ về một con chồn vằn ngụp vào nước dễ lưu lại trong trí nhớ hơn ý nghĩ về con chồn hoa đang thực hiện hoạt động thể chất. Bài hát là cách hữu hiệu nhất trong số các mẹo ghi nhớ mà các ca sĩ dân gian sử dụng. Nếu bạn có thể chuyển một tổ hợp các từ thành nhịp điệu, những từ ấy sẽ rất khó bị tống ra khỏi đầu bạn. Bộ não chắt lọc ý nghĩa của thế giới bằng cách tìm ra những mô thức và cấu trúc của thông tin, và chuyển lời nói thành âm nhạc và vần điệu là một cách bổ sung thêm mô thức và cấu trúc vào ngôn ngữ. Đó là lý do những nghệ sĩ dân gian Homer hát những bài sử thi truyền khẩu, lý do mà kinh Torah được xem là có nhạc tính, và cũng là nguyên nhân chúng ta dạy bảng chữ cái cho trẻ em bằng bài hát, chứ không phải dạy hai sáu chữ cái đơn lẻ. Bài hát là công cụ cấu trúc cơ bản cho ngôn ngữ. Sau khi chuyển đến Harvard và trở thành giáo sư trợ giảng, Parry có bước ngoặt độc đáo trong công việc. Thay vì bám vào các thư tịch cổ Hy Lạp, nhà kinh điển trẻ tuổi sang Nam Tư tìm kiếm những ca sĩ dân gian còn sót lại, những người vẫn thực hành một hình thức thi ca truyền khẩu giống như nghệ thuật Homer. Anh quay lại Cambridge với hàng ngàn bản ghi âm đã đặt nền móng cho một ngành học thuật mới nghiên cứu truyền thống truyền khẩu. Trong khi nghiên cứu điền dã, Parry phát hiện ra rằng thay vì truyền đạt nguyên văn bài thơ từ nghệ sĩ này sang nghệ sĩ khác và từ thế hệ này sang thế hệ khác, những nghệ sĩ hát vè Balkan (được cho là giống những các nghệ sĩ Homer tiền bối) sẽ truyền lại các quy tắc và giới hạn cho phép nghệ sĩ - bất cứ nghệ sĩ nào - dựng lại một bài thơ mỗi lần anh ta kể lại. Mỗi lần kể lại, câu chuyện không giống y như trước, nhưng rất sát. Khi được hỏi họ có lặp lại nguyên văn những bài hát không, các nghệ sĩ dân gian Sla-vơ đã trả lời, “từng chữ và từng dòng”. Ấy nhưng khi những bản ghi hai lần trình diễn được mang ra đối chiếu, chúng rõ ràng là khác nhau. Những ca từ thay đổi, những dòng thơ bị xáo trộn, những đoạn thơ bị mất. Các nghệ sĩ Sla-vơ không phải là quá tự tin khi nói vậy, chỉ vì họ không có khái niệm về ghi nhớ từng chữ. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Không có chữ viết thì cũng chẳng cách nào kiểm tra xem điều lặp lại có chính xác không. https://thuviensach.vn Tính biến đổi này trong thơ ca truyền khẩu cho phép nghệ sĩ truyền đạt nội dung tới khán giả, nhưng nó cũng cho phép tạo ra những phiên bản dễ nhớ hơn. Các nhà văn hóa dân gian đã so sánh những bài thơ truyền khẩu giống như viên đá cuội bị nước bào mòn. Qua nhiều lần kể lại, chúng sẽ trở nên trơn tru hơn vì những phần khó nhớ bị lược bỏ hay làm cho dễ nhớ hơn và được lặp lại. Những thứ ngoài lề không liên quan bị bỏ quên. Những chữ dài và hiếm thường bị tránh sử dụng. Khi vừa phải đáp ứng được tính hình ảnh và sự lặp âm đầu vừa phải phù hợp với nhịp của câu thơ, các nghệ sĩ dân gian thường không có nhiều từ ngữ để chọn. Cấu trúc viết nên bài thơ. Quả thật, công trình của những người kế tục Parry đã phát hiện ra gần như mọi từ trong Odyssey và Iliad đều phù hợp với một số dạng giản đồ hay mô thức làm bài thơ dễ nhớ hơn. Cũng chẳng phải chuyện trùng hợp khi cho rằng thuật ghi nhớ do Simonides phát minh ra vào đúng thời điểm xuất hiện chữ viết ở Hy Lạp cổ, khoảng thế kỷ thứ năm trước Công nguyên. Trí nhớ không còn là điều đương nhiên phải có như ở giai đoạn tiền chữ viết ở Hy Lạp. Những kỹ thuật cổ xưa của các nghệ sĩ Homer dân gian, những nhịp điệu và công thức, không đủ giúp giữ trong đầu những ý nghĩ mới mẻ và phức tạp mà con người bắt đầu suy nghĩ đến. “Trình diễn truyền khẩu thơ như ban đầu đã bị tước bỏ đi mục tiêu chức năng và được giao phó cho vai trò thứ sinh là giải trí, một chức năng nó vẫn luôn có nhưng giờ đây trở thành mục đích duy nhất,” Havelock viết. Không còn chịu những ràng buộc về quy tắc truyền khẩu, thơ ca bắt đầu trở thành nghệ thuật. Vào thời gian tác giả Ad Herennium ngồi viết cuốn sách về thuật hùng biện vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, chữ viết đã xuất hiện được một thế kỷ và là một phần quan trọng của thế giới La Mã cũng giống như máy tính đối với thời đại chúng ta. Những bài thơ do những thi sĩ cùng thời với ông như Virgil, Horace, và Ovid với những kiệt tác cùng thế kỷ với Ad Herennium đều được đưa vào trang viết. Mỗi một từ được cẩn trọng lựa chọn, đó là sản phẩm của riêng một nghệ sĩ diễn tả thế giới quan của họ. Khi được viết lên trang giấy, những từ đó được xem là không thể sửa đổi. Nếu bạn định ghi nhớ một bài thơ, thì bạn cần đến memoria verborum. Còn Rerum không có tác dụng. Tác giả khuyết danh của Ad Herennium cho rằng phương pháp tốt nhất để ghi nhớ thơ từng chữ là lặp lại một câu từ hai đến ba lần, trước khi xem nó như một chuỗi hình ảnh. Đây là phương pháp ít nhiều được Gunther Karsten sử dụng trong phần thi thơ. Ông ta gán mỗi từ vào một điểm trên tuyến đường. Nhưng phương pháp này có một nhược điểm: có rất nhiều từ không thể hình ảnh hóa được. Từ “và” sẽ trông như thế nào? Hay mạo từ “the”? Cách đây hai ngàn năm, Metrodorus xứ Scepsis, một người cùng thời với Cicero, đã đề xuất giải pháp cho vấn đề nan giải là làm thế nào để thấy cái không thể thấy. Metrodorus phát triển một hệ thống những hình ảnh mặc định thể hiện những liên từ, mạo từ, và những thành phần kết nối câu. Nó cho phép ông ghi nhớ từng lời bất cứ điều gì ông đọc hoặc nghe được. Quả thật, thư viện biểu tượng của Metrodorus dường như được dùng rộng rãi ở Hy Lạp cổ. Ad Herennium có nói rằng “hầu hết người Hy Lạp đã viết về trí nhớ dần tạo ra danh sách những hình ảnh tương ứng với một lượng lớn từ ngữ, để những ai muốn học thuộc những hình ảnh đó có thể học được ngay mà không mất công tìm kiếm chúng.” Dù Gunther không sử dụng các biểu tượng của Metrodorus, không may đã thất lạc trong lịch sử, ông ta tạo từ điển hình ảnh cho riêng mình, khoảng chừng hai trăm từ phổ biến mà không dễ hình ảnh hóa. “Và” là một vòng tròn (“và” hợp vần với rund, trong tiếng Đức nghĩa là vòng tròn). Mạo từ “the” là hình ảnh một người đang đi bằng đầu gối (die, tiếng Đức cho mạo từ “the”, hợp vần với Knie, là từ tiếng Đức có nghĩa “đầu gối”.) Khi bài thơ đến đoạn ngắt dòng, ông ta gắn một con ốc vào cung trí nhớ. Gunther có thể ghi nhớ một tài liệu hướng dẫn sửa đầu máy video cũng dễ dàng như nhớ https://thuviensach.vn một bài sonnet của Shakespeare. Thật ra, một tài liệu hướng dẫn sửa đầu video dễ nhớ hơn rất nhiều, vì nó đầy những chữ cụ thể, dễ hình dung, như “nút,” “tivi,” và “ổ cắm.” Thách thức của việc ghi nhớ thơ là tính trừu tượng của nó. Những chữ như “chóng tàn” hay “bản thể” không thể nào trông thấy được thì phải làm sao? Phương pháp của Gunther nhằm tạo hình ảnh cho cái không thể hình dung là một phương pháp rất cổ xưa: hình dung một từ đồng âm. Một nhà thần học, nhà toán học người Anh ở thế kỷ mười bốn Thomas Brawardine, người sau này đã được chỉ định làm Tổng giám mục Canterbury, đã sử dụng hình thức ghi nhớ từng từ này ở mức độ phát triển cao nhất và cũng buồn cười nhất. Ông mô tả một phương pháp gọi là memoria sillabrarum (nhớ từng âm tiết), có thể dùng để nghi nhớ những từ khó hình dung. Hệ thống của Bradwardine chia một từ thành những âm tiết cấu thành, rồi tạo hình ảnh cho mỗi âm tiết dựa trên một từ khác bắt đầu với âm tiết đó. Ví dụ, nếu ta muốn ghi nhớ âm tiết “ab-”, thì ta phải hình dung một abbot (cha trưởng tu viện.) Với “ba-” ta phải hình dung một người bắn nỏ (balistratius). Khi nối lại với nhau, một dãy những âm tiết này trở thành một dạng trò chơi đuổi hình bắt chữ (Nhóm nhạc pop Thụy điển Abba có thể được nhớ dưới hình ảnh một cái nỏ đang bắn vào cha trưởng tu viện.) Quá trình chuyển những từ thành hình ảnh liên quan đến một dạng ghi nhớ bằng cách quên: Để ghi nhớ một từ theo âm của nó, nghĩa của nó phải hoàn toàn bị lược bỏ. Bradwardine có thể diễn giải lời cầu nguyện ngoan đạo nhất thành một cảnh lố bịch. Ghi nhớ câu chủ đề của một bài thuyết giảng bắt đầu “Benedictus Dominus qui per,” ông ta thấy “cảnh tượng thánh Benedictine, bàn tay trái đang múa máy với một con bò trắng có những núm vú đỏ rực đang chèn một con gà gô, trong khi tay phải thì vuốt ve cào cấu thánh Dominic.” Ngay từ khi xuất hiện, thuật ghi nhớ đã luôn chứa đựng rủi ro. Do mải chú tâm vào những hình ảnh kỳ lạ và đôi khi quá tục tĩu, nó bị những người coi trọng sự đoan chính chỉ trích nặng nề. Dù sao cũng khá kỳ lạ, việc trong trí tưởng tượng của Bradwardine kết hợp những điều tôn kính với cái bất kính lại không làm các tăng lữ đức cao vọng trọng bày tỏ sự khó chịu trước. Lời công kích mạnh mẽ về đạo đức lại được phát động bởi một người Thanh giáo vào thế kỷ mười sáu, tên William Perkins ở Cambridge. Ông chê bai thuật ghi nhớ là mang tính chất sùng bái và “nghịch đạo, bởi nó gợi nên những ý nghĩ lố bịch, láo xược, kỳ dị và những thứ tương tự, chúng kích thích và thắp lên những tình cảm nhục dục suy đồi.” Quả thực là nhục dục. Perkin đã giận dữ đến bốc hỏa khi Peter of Ravenna thừa nhận rằng ông ta dùng những hình ảnh khêu gợi về thiếu nữ để kích thích trí nhớ. Trong số mười phần thi ở Giải vô địch Thế giới Trí nhớ, phần thi thơ là phần thí sinh đưa vào sử dụng nhiều chiến lược nhất. Nhưng nói chung, có thể chia các vận động viên trí óc thành hai nhóm, và tình cờ thay sự phân nhóm này lại gần như trùng theo giới tính. Trong khi Gunther và hầu hết các thí sinh nam dự giải dùng chiến lược phương pháp, thì các thí sinh nữ tiếp cận thách thức này theo cách cảm tính hơn. Corinna Draschl, mười lăm tuổi, người Áo, trong chiếc áo phông đỏ, đi tất đỏ, đội mũ phớt đỏ, bảo tôi rằng em không thể nhớ một đoạn chữ trừ phi em hiểu nghĩa của nó. Hơn thế nữa, em phải hiểu cảm giác đó như thế nào. Em chia bài thơ thành những đoạn nhỏ, rồi gán cho mỗi đoạn ngắn một chuỗi cảm xúc. Thay vì liên kết những từ với các hình ảnh, em liên hệ chúng với cảm xúc. “Em cảm nhận tác giả cảm nhận thế nào, ý của tác giả là gì. Em tưởng tượng tác giả buồn hay vui,” em bảo tôi khi ở hành lang ngoài phòng thi đấu. Điều này không phải xa lạ gì so với cách các diễn viên ghi nhớ kịch bản. Nhiều diễn viên sẽ bảo bạn rằng họ chia các dòng thoại thành những đơn vị họ gọi là “nhịp,” mỗi nhịp nhân vật sẽ có ý định hoặc mục tiêu cụ thể, họ sẽ tập đồng cảm với ý định/mục tiêu đó. Kỹ thuật này, được gọi là phương pháp https://thuviensach.vn diễn xuất, đã tiên phong ở Nga bởi Konstantin Stanislaviski khoảng đầu thế kỷ trước. Stankislavski quan tâm đến những kỹ thuật này không phải tiềm năng ghi nhớ của chúng, mà vì đó như là một công cụ giúp diễn viên thể hiện nhân vật của mình chân thực hơn. Nhưng phương pháp diễn xuất thực ra là một kỹ thuật tạo cho câu thoại những cái móc gắn kết với bối cảnh cả về mặt cảm xúc và thực tế. Phương pháp diễn xuất là một cách làm các từ ngữ dễ nhớ hơn. Quả thật, nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng nếu bạn đề nghị ai đó ghi nhớ một câu như “Cầm bút lên,” người đó thì sẽ dễ nhớ hơn nếu thực sự cầm bút lên khi họ học thuộc câu đó. Rốt cuộc, ở phần thi nhớ thơ Gunther đã để thua Corinna Draschl và mất chức vô địch. Giải thưởng cao nhất vào tay một trong những người được ông ta bảo trợ, một sinh viên luật vùng Bavaria, mười tám tuổi, trầm lắng và rất tập trung, tên Clemens Mayer, anh ta nói thứ tiếng Anh bập bõm và không quan tâm đến việc thực hành tiếng Anh với tôi. Sau khi sơ sểnh ở phần thi đọc số, tên-người-và-khuôn-mặt, Ben Pridmore đứng thứ tư trong bảng xếp hạng tổng, anh ta kéo sụp vành mũ đen xuống, rồi một mình bước ra khỏi cửa, và thề rằng ngay ngày hôm sau sẽ bắt đầu tập luyện để giành lại danh hiệu. Ed còn tệ hơn. Trong số ba mươi sáu thí sinh, anh ta nằm trong số mười một người không nhớ nổi trọn cỗ bài trong hai phần thi nhớ bài nhanh, chẳng khác nào một vận động viên hai lần liên tiếp bỏ lỡ cơ hội ghi điểm. Anh ta cố hoàn thành trong thời gian ngắn những mong có vị trí xếp hạng cao hơn, nhưng anh ta mất kiểm soát và quá nóng vội. Cuối cùng anh ta thất vọng với vị trí mười một trên bảng xếp hạng chung, và hờn dỗi bước ra cửa, mồ hồi nhễ nhãi. Tôi chạy theo níu anh ta hỏi xem chuyện xảy ra: “Quá nhiều tham vọng,” anh ta chỉ nói vậy, rồi lắc đầu. “Gặp lại anh ở nhà.” Anh ta bước qua cầu Magdalen, tìm đến một quán rượu để xem trận cricket và uống bia Guinness cho đến khi quên đi thất bại. Đứng trước phòng khảo thí của Oxford, nhìn các thí sinh vò đầu, xoay xoay cây bút khi cố nhớ bài thơ “Miserare,” tôi cảm nhận một cách sâu sắc điều kỳ lạ ở đây: nơi duy nhất còn sót lại mà thuật ghi nhớ cổ xưa vẫn đang được thực hành, hay ít nhất được tôn vinh, là trong cuộc thi bó hẹp này, và giữa nhóm thiểu số những người kỳ quặc này. Nơi đây, tại một trong trung tâm học thuật của thế giới, là vết tích cuối cùng của Thời hoàng kim vinh quang của Trí Nhớ. Rõ ràng đã xảy ra một sự thoái trào khủng khiếp từ Thời hoàng kim đó đến thời đại có phần xám xịt ngày nay. Con người từng lao động để vun đắp cho trí óc. Họ đầu tư thu nạp ký ức theo đúng cách mà chúng ta đầu tư mua sắm đồ vật. Nhưng ngày nay, ngoài cánh cửa gỗ sồi của phòng khảo thí Oxford, đại đa số chúng ta không tin vào trí nhớ của mình. Chúng ta tìm con đường tắt để tránh dựa vào chúng. Chúng ta không ngớt than phiền về chúng, và thậm chí coi những sai lầm nhỏ nhặt nhất của trí nhớ là chứng cứ cho thấy chúng bắt đầu không còn giúp ích gì cho ta nữa. Tại làm sao, trí nhớ vốn một thời quan trọng như vậy, giờ đây lại trở nên thứ yếu? Tại sao những kỹ thuật này lại biến mất? Tôi tự hỏi, làm thế nào nền văn hóa của chúng ta rốt cuộc lại quên mất cách ghi nhớ? https://thuviensach.vn Chương bảy Sự cáo chung của ghi nhớ N gày xưa, người ta từng có thời buộc phải ghi nhớ mọi suy nghĩ. Không có bảng chữ cái để ghi lại những suy nghĩ, không có giấy để viết lên. Bất cứ điều gì cần lưu lại thì đều được giữ trong trí nhớ. Bất cứ câu chuyện nào cần kể lại, bất cứ ý tưởng nào cần truyền lại, bất cứ mẩu thông tin nào cần chuyển tải, trước tiên chúng phải được ghi nhớ. Ngày nay, dường như chúng ta ghi nhớ rất ít. Khi thức dậy, điều đầu tiên tôi làm là kiểm tra lịch trong ngày, nó ghi lại những việc tôi sẽ làm, nên tôi không cần phải nhớ. Khi leo lên xe, tôi mở thiết bị định vị (GPS) chọn đích đến, trí nhớ không gian của thiết bị này thế chân cho trí nhớ không gian của tôi. Khi ngồi vào bàn làm việc, tôi nhấn nút play trên máy ghi âm kỹ thuật số hoặc mở cuốn sổ ghi nội dung các cuộc phỏng vấn. Tôi có các tấm hình lưu giữ những hình ảnh mình muốn ghi nhớ, những cuốn sách lưu giữ tri thức, và giờ đây, nhờ có Google, hiếm khi nào tôi phải nhớ bất cứ điều gì khác, mà chỉ cần cụm từ tìm kiếm phù hợp là có thể truy cập vào bộ nhớ tập thể của nhân loại. Ngày xưa, vào cái thời mà muốn gọi một cuộc điện thoại người ta vẫn phải nhấn bảy nút bấm, hoặc quay những vòng số nặng nề, thì tôi còn có thể nhớ được số của những bạn thân và gia đình mình. Ngày nay, tôi không biết mình có thuộc được nhiều hơn bốn số điện thoại không. Và có vẻ như vậy là giỏi lắm rồi. Theo một cuộc điều tra năm 2007 do một nhà tâm lý học ở Trường Trinity Dublin thực hiện, một phần ba người Anh ở độ tuổi dưới 13 không thể nhớ được số điện thoại của nhà mình nếu không lấy điện thoại cầm tay ra xem. Cuộc điều tra này cũng nhận thấy 30 phần trăm người lớn không thể nhớ ngày sinh của quá ba người thân trong gia đình. Các đồ dùng đã loại bỏ nhu cầu ghi nhớ những điều như vậy. Quên số điện thoại hay ngày sinh nhật thể hiện những xói mòn nhỏ nhặt của trí nhớ hàng ngày, và cũng phản ánh phần nào thực trạng lớn hơn, đó là chúng ta đã hất bỏ trí nhớ tự nhiên để thay bằng một siêu cấu trúc công nghệ khổng lồ, gồm từ từ bảng chữ cái đến điện thoại Blackberry. Công nghệ lưu giữ thông tin ngoài bộ não giúp làm cho thế giới hiện đại tồn tại được như hiện nay nhưng chúng cũng thay đổi cách chúng ta suy nghĩ và cách dùng bộ não. Trong cuốn sách Phaedrus của Platos, Socrates thuật lại chuyện thần Theuth của Ai Cập, người phát minh ra chữ viết, đã đến gặp vua Thamus của Ai Cập và đề nghị ban tặng phát minh kỳ diệu của mình cho người dân Ai Cập. “Đây là một nhánh tri thức, nó sẽ... cải thiện trí nhớ của họ,” Theuth nói với vua Ai Cập. “Phát hiện của ta phục vụ cho cả trí nhớ lẫn trí tuệ.” Nhưng vua Thamus dè dặt, không chấp nhận món quà. “Nếu con người học được chữ viết, nó sẽ cấy sự lãng quên vào tâm hồn họ,” nhà vua bảo với thần. “Họ sẽ không dùng đến trí nhớ và trở nên chóng quên; họ sẽ ỷ lại vào điều được viết ra, họ sẽ không dựa vào trí nhớ để gọi tên đồ vật nữa mà nhờ những dấu hiệu bên ngoài. Điều ngươi phát hiện ra không phải đem đến trí nhớ, mà sự nhắc nhở. Và cái ngươi ban tặng cho các môn đệ không phải trí tuệ thực sự mà chỉ là thứ trông giống trí tuệ thôi, vì khi kể họ nghe rất nhiều thứ nhưng không dạy họ điều gì cả, ngươi sẽ làm cho họ dường như biết được rất nhiều, trong khi đa phần họ chẳng biết gì hết. Và khi con người ta không được bồi đắp trí tuệ, mà chỉ có lòng tự phụ rằng mình có trí tuệ, thì họ sẽ trở thành một gánh nặng cho đồng loại.” Socrates tiếp tục chê bai ý tưởng truyền tri thức qua chữ viết, ông bảo “phải hồn nhiên lắm mới đi tin những lời nói được viết ra có thể làm được gì hơn cái việc là nhắc nhở người ta điều họ đã biết.” Đối với Socrates chữ viết chẳng gì hơn sự gợi ý cho trí nhớ - một cách nhắc nhở về thông tin ta đã có sẵn trong đầu. Socrates lo sợ chữ viết sẽ đưa nền văn hóa https://thuviensach.vn vào con đường dối trá dẫn đến suy tàn về đạo đức và tri thức, bởi dù số lượng tri thức sẵn có cho con người sẽ tăng lên nhưng chính họ sẽ trở thành những cái bình rỗng. Tôi tự hỏi liệu Socrates có nhận thức được sự mỉa mai hiển nhiên này không: Chính bởi các môn đồ của ông là Plato và Xenophon đã viết ra sự khinh thị của ông đối với chữ viết nên ngày nay chúng ta mới biết đến điều đó. Socrates sống vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, thời kỳ chữ viết trở nên phổ biến ở Hy Lạp, và quan điểm của ông đã thành lỗi thời. Tại sao ông tránh né chuyện đặt bút lên trang giấy đến vậy? Giữ ký ức lên trang giấy dường như là cách ưu việt hơn nhiều so với cố giữ nó trong bộ não. Bộ não luôn mắc sai lầm, nó quên đi, hoặc nhớ nhầm. Chữ viết là cách chúng ta vượt qua được những hạn chế cố hữu về mặt sinh học ấy. Nó cho phép trí nhớ của chúng ta thoát khỏi bộ não dễ mắc sai lầm và nằm an toàn trên trang giấy, nơi chúng có thể tồn tại vĩnh viễn và (đôi khi có người hy vọng) được phổ biến sâu rộng qua không gian và thời gian. Chữ viết cho phép truyền những ý tưởng qua các thế hệ, không sợ sự biến đổi tự nhiên vốn là một phần tất yếu của văn hóa truyền khẩu. Để rõ tại sao trong thế giới của Socrates trí nhớ lại quan trọng, chúng ta phải hiểu đôi nét sự tiến hóa của chữ viết, và những điểm khác biệt về hình thức và chức năng của những cuốn sách thời xa xưa. Chúng ta phải quay lại thời kỳ trước in ấn, trước khi có những bảng mục lục và phụ lục, trước khi những cuốn sách chép tay được chia thành trang và đóng theo gáy, trước khi có dấu câu, trước khi có chữ viết thường, và thậm chí trước khi có dấu cách giữa các từ. Ngày nay chúng ta viết lại được chính xác mọi việc nên chúng ta không giữ chúng trong trí nhớ. Nhưng ít nhất đến cuối thời Trung cổ, những cuốn sách không phải là vật thay thế cho trí nhớ, mà chỉ là phương tiện trợ giúp trí nhớ. Như Thomas Aquinas đã nói, “Mọi thứ được viết vào những cuốn sách cụ thể là để giúp ghi nhớ.” Người ta đọc để ghi nhớ, và những cuốn sách là phương tiện có sẵn tốt nhất để đưa thông tin vào trí não. Thực ra, những bản viết tay thường được sao chép lại không ngoài mục đích nào khác là giúp người sao chép ghi nhớ chúng. Vào thời Socrates, những văn tự Hy Lạp được viết trên những cuộn giấy dài liên tục - đôi khi dài tận 18 mét - giấy làm từ cây thủy trúc (papyrus), được ép mỏng thành tờ rồi dán vào nhau, loại giấy này nhập khẩu từ đồng bằng sông Nile. Đọc những cuốn sách này đã khó, viết ra chúng lại càng khó hơn. Quả là chẳng dễ phát minh cách nào kém thân thiện hơn để tiếp cận thông tin như vậy. Thực tế, mãi cho tới năm 200 trước Công nguyên, những dấu câu cơ bản nhất do Aristophanes xứ Byzantium sáng tạo ra, ông là quản lý Thư viện Alexandria, và dấu câu chỉ là dấu chấm duy nhất hoặc ở cuối, ở giữa, hoặc đầu dòng để người đọc biết quãng mà dừng giữa các câu. Còn về các từ, chúng nối tiếp nhau thành một chuỗi dài dằng dặc những chữ viết hoa được gọi là scriptio continua, không có khoảng trống hay dấu ngắt. Những từ bắt đầu trên một dòng sẽ tràn lên dòng kế tiếp thậm chí chẳng hề có dấu gạch ngang. ASYOUCANSEEITSNOTVERYEASYTOREADTE XTWRITTENWITHOUTSPACESORPUNCTUATI ONOFANYKINDOREVENHELPFULLYPOSITIO NEDLINEBREAKSANDYETTHISWASEXACTLY https://thuviensach.vn THEFORMOFINSCRIPTIONUSEDINANCIENT GREECE[17] Những con chữ trong cuốn sách này chúng tạo thành từ mang ngữ nghĩa, còn những chữ cái được viết trong scriptio continua có chức năng giống những nốt nhạc. Chúng chỉ đến những âm phát ra từ miệng người nói. Để dựng lại những âm đó thành các từ riêng rẽ có thể hiểu được thì đòi hỏi trước hết phải nghe những âm đó đã. Ngoại trừ những nhạc sĩ hàng đầu, đa số mọi người rất khó đọc các nốt nhạc mà không xướng lên thành giai điệu; và việc đọc văn bản scriptio continua cũng vậy, rất khó đọc nếu không đọc thành tiếng. Thực ra, chúng ta biết vào thời Trung cổ, đọc hầu như luôn đồng nghĩa với đọc thành tiếng, một dạng trình diễn thường được thực hiện trước thính giả. “Truyền tai” là cụm từ hay lặp lại trong những thư tịch thời trung cổ. Vào thế kỷ thứ tư sau Công nguyên, khi thánh Augustine quan sát thầy mình là thánh Ambrose đọc mà lưỡi không động đậy, miệng không mấp máy, ông nghĩ đó là một ứng xử bất thường đáng ghi lại vào trong cuốn sách Những lời bộc bạch (Confessions). Có lẽ mãi cho tới thế kỷ thứ chín, vào quãng thời gian việc chừa khoảng trống giữa các từ đã thành phổ biến và danh mục những dấu câu phong phú hơn, thì trang sách mới cung cấp đủ thông tin để việc đọc thầm trở nên phổ cập. Những khó khăn liên quan đến việc đọc những văn bản như vậy cho thấy mối quan hệ giữa việc đọc và trí nhớ thời ấy rất khác so với ngày nay. Vì việc đọc thầm scriptio continua rất khó, nên đọc lại thành tiếng một cách thuần thục đòi hỏi người đọc phải quen thuộc với văn bản ở mức độ nhất định. Người đọc - hầu hết là đàn ông - phải sẵn sàng cho việc đọc, phải làm dấu ngắt quãng trong đầu, và ghi nhớ nó phần nào, nếu không nói toàn bộ - bởi vì chuyển một chuỗi âm thanh thành nghĩa không phải là điều dễ dàng trong quá trình đọc liên tục. Văn bản cần phải được đọc thuộc trước khi có thể trình diễn. Sau hết, cách người ta ngắt chữ một văn bản trong scriptio continua có thể tạo ra sự khác biệt. Như nhà sử học Jocelyn Penny Small chỉ ra, GODISNOWHERE khi tách ra thành GOD IS NOW HERE (Chúa ở đây) có nghĩa khác với GOD IS NOWHERE (Chúa không ở đâu cả). Hơn nữa, nếu muốn trích ra điều gì từ một cuộn văn bản scriptio continua, người ta phải đọc hết nó từ trên xuống dưới. Một cuộn giấy chỉ có một điểm đầu dòng duy nhất, chính là từ đầu tiên. Vì phải gỡ cả cuộn để đọc mà không có dấu câu hay đoạn văn để chia nhỏ văn bản ra - chứ đừng nói đến đánh số trang, mục lục, chương hồi và phụ lục - nên không thể nào tìm ra một mẩu thông tin cụ thể mà không đọc hết toàn bộ văn bản. Đấy không phải loại văn bản dễ dàng tham khảo nếu bạn chưa ghi nhớ nó. Đây là điểm cốt yếu. Các văn tự cổ không thể đọc dễ dàng. Bạn không thể lấy một cuộn giấy trên giá sách xuống rồi nhanh chóng tìm ra một đoạn trích cụ thể trừ phi bạn đã quen thuộc với toàn bộ văn bản. Cuộn giấy tồn tại không phải để giữ các nội dung như một bộ nhớ ngoài, mà nó giúp người đọc định vị nội dung của nó bên trong đầu người đọc. Một trong những nơi cuối cùng truyền thống đọc thuộc này vẫn còn sót lại là việc đọc kinh Torah, một cuộn sách cổ, chữ viết tay phải mất một năm mới viết xong. Kinh Torah được viết ra mà không có nguyên âm hay dấu câu (dù có khoảng trống giữa các từ, một cải tiến mà người Do thái tạo ra trước cả người Hy Lạp), nghĩa là rất khó đọc thầm. Dù không buộc phải học thuộc kinh Torah nhưng chẳng cách nào đọc một đoạn kinh Torah nếu chưa dành nhiều thời gian để trở nên quen thuộc với nó, bất kỳ cậu bé Do Thái nào đã qua lễ trưởng thành nào cũng có thể cho bạn biết như vậy. Cá nhân tôi bảo chứng cho điều này. Ngày tôi được coi là người đàn ông trưởng thành, tôi thực sự chỉ như con vẹt đội mũ. https://thuviensach.vn