🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Mộ Bia Giữa Biển - Mảnh Đất Cuối Cùng Nơi Người Cha Nằm Lại
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Dịch từ nguyên tác “海に墓標を父の最期の地ベトナムへ” của tác giả Nakamoto Teruo 中元輝夫 do Nhà xuất bản Văn nghệ (Bungeisha 文芸者)
ấn hành năm 2011 với sự cho phép của tác giả.
https://thuviensach.vn
THƯ ỦY NHIỆM
Nghe tin quyển sách tôi viết “Mảnh đất cuối cùng nơi người cha nằm lại” được nhiều người Việt Nam đọc và cảm động, tôi rất lấy làm vui mừng. Tôi xin cảm tạ tận đáy lòng mình khi quyển sách này được tái bản và phát hành trở lại.
Về việc tái bản và phát hành, tôi ủy nhiệm toàn quyền cho ông Hoàng Long.
Ngày 20/9/2016
Nakamoto Teruo
Địa chỉ: 2-12-37 Nakatominaka, quận Minami, thành phố Okayama, tỉnh Okayama, Nhật Bản.
https://thuviensach.vn
Lời người dịch
Tôi được gặp tác giả Nakamoto Teruo lần đầu tiên là vào năm 2013 tại Nagoya khi sắp sửa về Việt Nam. Thông qua ông Shinji là người đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi còn ở Nhật Bản, tôi được biết ông Nakamoto sau một thời gian dài tìm kiếm tung tích người cha đã hy sinh trong Chiến tranh thế giới thứ hai (mà người Nhật gọi là Chiến tranh Thái Bình Dương) đã phát hiện nơi an nghỉ cuối cùng của cha mình là ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Hành trình đi tìm kiếm đó được ông viết lại trong quyển sách “Mộ bia giữa biển” và mong muốn quyển sách này được dịch và giới thiệu rộng rãi cho người Việt Nam. Chúng tôi hẹn gặp nhau tại quán Kitchen trên tầng mười ba tòa nhà Takashimaya ngay ga Nagoya vào lúc một giờ chiều. Vì ông Shinji và Nakamoto đều ở Okayama nên hai người phải đón tàu Shinkansen đi gần ba tiếng để gặp tôi, chưa kể còn thời gian ba tiếng trở về nữa. Điều đó khiến tôi lấy làm cảm động. Ấn tượng đầu tiên về ông Nakamoto là một người thấp đậm, quá đỗi hiền lành và thật thà. So với những con người nơi thành phố Nagoya, ông càng có vẻ chất phác. Tôi tặng ông bản dịch “Tà dương” của Dazai Osamu và nói sơ qua về công việc dịch thuật của mình. Ông cũng tặng tôi một bộ ấm trà vùng Bizen rất đẹp cùng với ba quyển sách “Mộ bia giữa biển”. Chúng tôi dùng bữa trong vui vẻ và tôi hứa sẽ dịch quyển sách của ông.
Nói dài dòng như vậy để độc giả thấy rằng ông Nakamoto không phải là một nhà văn và quyển sách của ông không phải là một tác phẩm văn chương đặc sắc. Quyển sách là những dòng hồi ký dựa trên cứ liệu lịch sử đi tìm lại hình bóng người cha đã hy sinh với tấm lòng rất đỗi chân thành cảm động. Quyển sách cũng soi sáng cho chúng ta vài tư liệu lịch sử mà cho đến bây giờ người Việt Nam vẫn chưa biết rõ: Việt Nam cũng là một chiến trường trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Số lượng tàu chìm và
https://thuviensach.vn
binh sĩ Nhật Bản hy sinh ngoài khơi Việt Nam cũng không ít. Nếu chúng ta đào sâu nghiên cứu vấn đề này thì không những làm khắng khít hơn mối quan hệ hữu nghị Việt Nam và Nhật Bản mà còn soi sáng vài khía cạnh của lịch sử thế giới hiện đại. Vì như tôi được biết đây là một trong những quyển sách đầu tiên nhắc đến những binh lính Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai hy sinh ở Việt Nam, một chủ đề còn khá mới không chỉ riêng ở Việt Nam mà ngay cả ở Nhật Bản nữa, và tác giả Nakamoto Teruo đã nhận được một giải thưởng khích lệ cho tác phẩm này. Ngoài ra, tác phẩm này còn là một bài ca phản chiến, vì đúng như lời tác giả Nakamoto, dù cho là người Việt Nam hay Nhật Bản thì đều chịu khổ sở đau thương vì chiến tranh cả: “Từ điểm nhìn của những người nông dân chịu đau khổ vì chiến tranh, nỗi khổ của người dân Việt Nam và gia đình tôi chắc chắn là nối liền với nhau. Tuy nhiên, sự thực là Nhật Bản đã gây ra cuộc chiến tranh đó, đã đưa nỗi khổ của chúng tôi về hai phía “người xâm hại” và “kẻ bị hại” mà thôi”.
Cuối cùng, việc dịch quyển sách này ngoài việc trân trọng tấm lòng của ông Nakamoto, tôi còn muốn gửi một chút ân tình của mình đến đất nước Nhật Bản, một đất nước mà tôi vô cùng yêu mến, có lẽ không chỉ riêng trong kiếp đời này…
Sài Gòn, năm 2014
Hoàng Long
https://thuviensach.vn
Chương 1
DI CỐT KHÔNG VỀ
Vĩ độ Bắc 15°02', kinh độ Đông 109°08'
Buổi sáng ngày 1 tháng 2 năm 2010 (năm Bình Thành thứ hai mươi hai).
Ánh mặt trời nơi đất nước phía nam rải rác chiếu rọi xuống vùng bờ biển trong một ngày đẹp như kỳ tích. Tôi ngồi một mình ở đuôi thuyền, cảm nhận những làn gió nhẹ mơn man trên má. Vùng biển Việt Nam, cách xa Nhật Bản hơn ba ngàn ki-lô-mét.
Từ khi rời cảng Quảng Ngãi đến giờ đã bao nhiêu thời gian trôi qua nhỉ? Trong khi tôi khổ sở vì say sóng thì hình dáng đất liền đã biến mất, thị giới ngập tràn bầu không khí màu xanh và ánh sáng vàng. Thị giới này được phân chia trên dưới ở nơi tận cùng xa xăm. Đường chân trời vẽ một vòng cung lớn và bình ổn.
Quả địa cầu thật sự hình tròn rồi.
Vừa nhìn ngắm quang cảnh lạ mới được thấy từ lúc sinh ra, lòng tôi lắng xuống trong như gương soi.
https://thuviensach.vn
Bất chợt tiếng động cơ thuyền ngưng bặt.
Sự yên tĩnh như đã quay trở lại, chỉ còn nghe thấy tiếng sóng vỗ rì rào mạn thuyền và tiếng thì thầm của gió.
Một người Việt Nam điều khiển chiếc thuyền nói qua phiên dịch: “Đến rồi đó, ở đây.”
Tôi cúi đầu, hít một hơi thật sâu.
Nơi đây à, nơi đây, chính nơi đây cha tôi đã…
Tôi bước ra phía mạn thuyền, lặng lẽ nhìn sâu xuống đáy biển. Biển Đông[1]lấp lánh màu xanh. Giữa làn sóng nước lay động phản chiếu sáu mươi sáu năm trôi qua kể từ ngày đó.
Cuối cùng con đã đến rồi cha ơi!
Vùng biển nơi vĩ độ Bắc 15°02', kinh độ Đông 109°08', vùng vịnh Đông Nam cách Quảng Ngãi tám mươi ki-lô-mét. Dưới đáy biển này, bây giờ cha tôi vẫn đang nằm ngủ.
Vào đêm trước rạng sáng ngày 22 tháng 12 năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín), giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, cha tôi, Nakamoto, một người lính pháo binh thủy quân lục chiến đã chìm xuống vùng biển này cùng chiếc tàu chở dầu Otowasan Maru. Bị trúng hai phát ngư lôi của tàu ngầm Mỹ. Tôi nghe nói rằng chiếc tàu Otowasan Maru chở đầy xăng máy bay ngay lập tức phát hỏa, cháy phừng phực soi sáng vùng biển khuya tối đen như ánh sáng buổi trưa. Cả binh sĩ và thuyền viên của chiếc tàu, gồm cả cha tôi là một trăm mười chín người, đã hy sinh. Nơi các vùng biển gần đó, các chiếc tàu khác trong hạm đội cũng lần lượt bị đánh chìm.
https://thuviensach.vn
Tôi lấy ra bức tượng Bồ tát Quan Âm màu đồng đỏ như thể nâng niu. Bức tượng Quan Âm bằng gốm Bizen mà một người bạn đã tự tay nung lấy tặng tôi dành cho ngày này. Trong bụng bức tượng làm từ chất đất của quê hương, tôi có gửi vào một bức thư cầu nguyện an ủi vong hồn do trụ trì chùa Đại Nguyện tự vùng Itsukushima viết cho.
Hãy đến với những người đang nằm ngủ dưới đáy biển nhé!
Vừa niệm Phật tôi vừa nhẹ nhàng buông tay. Trong khoảnh khắc sau, bức tượng rời khỏi đôi tay tôi chìm xuống nước, hướng về đáy biển như thể đã quyết tâm. Cứ chìm xuống đến đáy đến đáy, không dao động hay do dự, chỉ chìm xuống đáy sâu, sâu. Với tốc độ nhanh như vậy tôi nghĩ đến những bàn tay vô hình đang mải mê chuyền bức tượng Quan Âm xuống đáy. Những người đã hy sinh trong chiến trận mà bắt đầu từ cha tôi đó ngay cả xương cốt cũng không được phép trở về. Trong suốt sáu mươi sáu năm qua chưa từng có một lời cầu nguyện nào từ Tổ quốc hay từ quê hương đến được với họ nơi mảnh đất này. Lần đầu tiên bức tượng Quan Âm cầu nguyện sự quay về Tổ quốc cho những linh hồn mới giáng hạ trên đầu những linh hồn đang đợi chờ lặng yên vô vọng dưới đáy biển.
Cha ơi!
Vừa dõi nhìn theo xuống tận đáy biển mà bức tượng Quan Âm đang chìm xuống, trong tâm tư tôi vừa cất lên tiếng gọi, rồi tôi nhắm mắt và chắp tay nguyện cầu. Trong đôi mắt khép tôi hình dung tay cha tôi đang nhận lấy rồi ôm thật chặt bức tượng Quan Âm vào mình. Bàn tay dày và thô kệch của một người nông dân.
“Teruo!”
Vừa gọi tên tôi, bàn tay đó xòe ra rồi dùng lực siết chặt tay tôi như ôm ấp. Thông qua lòng bàn tay dày ấy, hơi ấm truyền sang tôi như thấm nhiễm vào người.
https://thuviensach.vn
Vừa gọi Teruo, cha vừa siết chặt lấy bàn tay tôi như bao bọc chở che từ phía bên ngoài.
“Các con hãy giúp mẹ, đừng cãi vã nhau, giữ gìn nhà cửa nhé!”
Được chứ, Teruo. Khi cha hỏi vậy, tôi ngái ngủ gật đầu. Khi ấy tôi chỉ mới vừa bảy tuổi.
Cha cùng tôi và ba anh trai đang đứng đợi tàu lửa nơi nhà ga trong núi. Giá như tàu đến trễ dù chỉ một phút thôi cũng tốt biết bao.
Chuyến tàu đến ga đúng giờ như làm nát tan đi nguyện ước huyễn ảnh đó.
Chỉ có hai toa hành khách. Cha tôi lên tàu, ngồi sát cửa sổ chỗ cuối cùng. Đó là buổi sáng ngày kết thúc chuyến về thăm quê lần cuối cùng và quay trở về đơn vị trực thuộc.
Cha tôi nhoài người ra cửa sổ, lần lượt nắm chặt tay anh tôi và tôi đang đứng trên sân ga. Tôi đã không thể nào còn nhớ được là khi cha hỏi tôi lúc ấy bảy tuổi đã trả lời gì hay chỉ im lặng mà cúi đầu không biết nữa. Điều còn lại trong ký ức chỉ là cái chạm vào lòng bàn tay dày sần sùi với cảm giác tê tê vì bị siết chặt và hơi ấm lan tỏa.
Trong khi tôi bị nắm tay chặt một lúc lâu thì hơi ấm đó truyền sang tôi như lan tỏa từ giữa lòng bàn tay cha vậy. Cái vật chứa đầy hơi ấm đó là cái gì vậy nhỉ?
Tôi muốn nói điều gì đó, thế mà không thể nói.
Trước khi tình cha con sắp sửa trào dâng, cha tôi đã buông tay ra và lấy lại tư thế ngồi nghiêm bất động.
Cha giơ tay chào đùa với chúng tôi và nói lớn:
https://thuviensach.vn
“Cha đi đây nhé!”
Cha tôi vốn thuận tay trái đưa tay phải lên chào.
Chiếc đầu máy ở đầu đoàn tàu kéo một hơi dài, đoàn tàu nghiến bánh lăn đi như khóc thổn thức. Trong toa tàu bắt đầu chuyển bánh, cha tôi lấy chiếc mũ quân đội đang đội trên đầu xuống nắm chặt nơi bàn tay và bắt đầu vẫy. Đoàn tàu tăng tốc đi một mạch. Như để phản kháng điều ấy, vòng tay vẫy của cha tôi lớn rộng hơn. Cha tôi vừa nhoài người ra ngoài cửa sổ vừa vẫy tay trong sự cách chia ly biệt. Rồi hình bóng ấy cứ từ từ nhỏ dần. Nhưng bàn tay vẫn tiếp tục vẫy. Vẫn còn đang vẫy. Vẫn còn nhìn thấy. Vẫn còn muốn tiếp tục nhìn mãi…
Đoàn tàu hỏa tiến đến một khúc quanh rồi cha tôi biến mất. Hình bóng người cha biến đi trước mắt các con mình như thể một lời ước hẹn bị tước mất đi.
Cha ơi, nhớ trở về đấy nhé!
Chúng tôi gào lớn lên nhưng tiếng thét gào ấy bị át đi trong tiếng hú còi tàu không đến được với cha tôi.
Tôi mở mắt ra. Bị vây quanh bởi mặt biển nắng chói chang, tôi thầm thì trong tâm tư mình.
Cha ơi, chúng ta cùng về nhé. Về làng Kawamo nơi cố hương Okayama cha nhé…
Làng Kawamo tỉnh Okayama
Nằm ven sông Bichu Takahashi, làng Kawamo thuộc tỉnh Okayama (nay là phố Kawamo thành phố Takahashi) là một sơn thôn nằm sâu trong núi. Sông Takahashi thành nguồn nước ngăn hai tỉnh Okayama và Tottori chảy qua vùng sơn địa Chugoku xuống phía nam đi qua thành phố
https://thuviensach.vn
Takahashi và Kurashiki rồi đổ vào vịnh Mizushima vùng biển Seto. Vị trí ngay trước khi con sông Takahashi đó rời khỏi vùng núi non sơn địa đổ vào thành phố Takahashi chính là làng Kawamo cũ.
Từ nhà ga Bichu Kawamo tuyến Bizen chạy dọc theo sông, đi theo con đường núi khoảng bốn mươi hay năm mươi phút sẽ đến một ngôi làng trên cao. Trong những ngôi nhà nơi ngọn đồi cao đó, có nhà Nakamoto, nhà của tôi. Tôi được sinh ra vào ngày 24 tháng 4 năm 1937 (năm Chiêu Hòa thứ mười hai) tại ngôi làng này trong một gia đình làm nông và là người con trai thứ ba. Khi sinh ra, trên tôi có chị và hai người anh. Sau này có em trai và em gái tôi được sinh ra nữa và do đó gia đình tôi có tất cả tám người.
Chan à[2].
Khi còn nhỏ, tôi gọi cha mình như thế.
Sau một ngày kết thúc công việc đồng áng, đêm đến cha tôi ngồi bên bếp lò.
Chan à.
Anh em chúng tôi chờ đợi để tranh nhau cái đầu gối ấy. Cha tôi mỉm cười, để mặc lũ con chơi trò tranh đấu. Chúng tôi giằng kéo chiếc áo thợ hanten của cha rồi thì mắc chân vào. Cuộc hợp chiến giành giật đầu gối của huynh đệ cãi vã nhau.
“Được rồi, em đã thắng!”
Loại trừ được các anh chị em khác, cái đầu gối cha đêm nay là của tôi. Với vẻ đắc ý, tôi thu gọn mình vào lòng cha.
Này, chan à.
Đứa con cất tiếng nũng nịu.
https://thuviensach.vn
“Gì đấy?”. Vừa cất tiếng trả lời cha vừa lấy bàn tay thô nhám xoa xoa cái đầu bé nhỏ húi cua của tôi. Bàn tay ấy tuy im lặng nhưng tình cảm sâu nặng của cha thì như vẫn còn nguyên đây.
Giờ chỉ còn lại một tấm hình cũ. Đó là tấm hình chụp chung với những đứa trẻ khác khi cha còn đi học trường tiểu học sơ cấp[3], tương đương với bậc tiểu học bây giờ. Hình dáng người cha bé nhỏ mặc áo kimono thô mạt và đi giày cỏ. Quả thật là kiểu đứng của trẻ con nông thôn thời Nhật Bản còn nghèo khó.
Nhà cha tôi phải từ làng Kawamo lên ngược dòng sông Takahashi đến ngôi làng ở Uyama, ngăn cách nơi ngọn núi phía đông thung lũng khu Toyonaga, Atetsu (hiện nay thuộc Uyama Toyonaga thành phố Niimishi). Vùng đất này được núi non bao bọc, có nhiều dải đất nghiêng đầy đá sỏi được gọi là “xác núi”. Nơi vùng đất cằn cỗi, thủy lợi kém cỏi này, người dân đã thay phiên nhau ra sức mở đất xẻ núi tìm kiếm lương thực. Có lẽ vì thế chăng mà người dân trẻ tuổi vùng này được tiếng là cần cù, chăm chỉ. Những người dân quanh vùng này thường bảo nhau rằng:
“Nếu nhận con rể thì phải từ vùng Toyonaga.”
Nhà Nakamoto cũng đón một người trẻ tuổi chăm chỉ vùng Toyanaga về làm con rể. Và do đó, cha tôi vốn là con út cũng được gửi ngược lại làm con nuôi như một lẽ đương nhiên.
Quả tiếng đồn không ngoa. Đúng là một người chăm chỉ.
“Cậu Mori quả thật chăm chỉ quá!”
Những ai trong họ hàng quen biết cha tôi thỉnh thoảng đều nói như thế cả.
Buổi sáng cha tôi dậy sớm hơn bất kỳ ai, đi ra con đường ven những bờ ruộng hẹp, cắt cỏ cho bò ăn. Khi dùng liềm cắt cỏ chất đầy bồ, cha tôi
https://thuviensach.vn
cõng trên lưng mang về nhà. Sau khi chia đều số cỏ cho lũ bò đói bụng, cha tôi lại đi cắt cỏ thêm một lần nữa. Lúc cha tôi cắt cỏ chất đầy bồ mang về lần thứ hai thì giáp mặt những người trong làng đi cắt cỏ lần đầu tiên trên con đường ven ruộng.
Khi cha tôi đến nhà Nakamoto thì nghề nuôi tằm trong làng Kawamo vẫn còn phát đạt lắm. Nuôi bò, nuôi tằm rồi canh tác ruộng nương. Khoảng thời gian rảnh giữa đó thì đi lên núi nhổ cỏ hay gom lá rụng. Cỏ và lá rụng được gom lại để làm phân bón ruộng. Rồi thì chẻ củi nhóm lò, hay chụm lại thành bó để dùng cho việc nấu nướng. Vì thời đó tất cả việc này đều làm bằng sức người nên có bao nhiêu người cũng không đủ. Tất cả những việc đó cha tôi cứ lẳng lặng làm mà chẳng nói một lời.
Dù cho tìm kiếm trong ký ức thuở nhỏ, tôi cũng không nhớ ra được hình dáng người cha khi nằm ngủ trưa. Hơn thế tôi chưa từng được chơi đùa với cha cho ra đúng nghĩa vui đùa.
Có lẽ chính vì thế mà anh em chúng tôi đợi chờ đến khoảnh khắc bên bếp lò buổi tối. Người cha sau khi kết thúc công việc một ngày quần quật cuối cùng cũng có thể ngồi nghỉ ngơi bên bếp lò như một cảnh phim quen thuộc.
Chan à.
Anh em chúng tôi cứ thế quây quần bên cha vào mỗi buổi tối. Cuộc xuất chinh năm ba mươi sáu tuổi
“Anh nhà phải đi ra trận rồi đấy nhỉ.”
Tôi nghe được thầy giáo phụ trách lần đầu tiên gặp mặt nói với mẹ như vậy. Mẹ tôi có trả lời gì đó mà tôi không còn nhớ nữa. Tôi chỉ nhớ lại bức tranh tôi vẽ nơi ấy. Đó là bức tranh “mặt trời tròn”. Đó hình như là chỗ gặp gỡ cá nhân khi nhập học thì phải. Câu chuyện xảy ra vào mùa xuân
https://thuviensach.vn
năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín) khoảng trước hay sau khi tôi nhập học trường Quốc dân học hiệu.
Năm 1941 (năm Chiêu Hòa thứ mười sáu), Nhật Bản lao vào cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Trường tiểu học sơ cấp lúc ấy được sáp nhập vào trường cao đẳng tiểu học và được cải tổ thành trường Quốc dân học hiệu. Mục đích thành lập ngôi trường là “giáo dục phổ thông sơ đẳng theo con đường hoàng quốc để luyện thành cơ sở quốc dân”. Đó là những lời vang vọng trong ký ức đầu tiên của tôi về ngôi trường.
“Anh nhà phải đi ra trận rồi đấy nhỉ.”
“Trường học” và “chiến tranh”, “mặt trời tròn” rồi người cha vắng mặt. Tất cả điều đó tan lẫn vào nhau trở thành một khối ký ức. Nhớ lại thì từ khi sinh ra cho đến lúc đó, tôi là một đứa trẻ được nuôi lớn trong đất nước Nhật Bản chỉ biết có chiến tranh.
Ngày 7 tháng 7 năm 1937 (năm Chiêu Hòa thứ mười hai) tức sau khi tôi sinh ra được chừng ba tháng, quân Nhật Bản đồn trú phía bắc Trung Quốc tấn công quân Trung Quốc trong sự kiện Lư Cầu Kiều[4] gần kinh thành Bắc Kinh[5]. Sau đó, quân Nhật Bản liên tục đụng độ quân Trung Quốc ở khắp nơi trên Đại Lục rồi phát triển thành Chiến tranh Trung – Nhật kéo dài không biết khi nào kết thúc. Nhật Bản năm 1931 (năm Chiêu Hòa thứ sáu) đã gây ra sự biến Mãn Châu (tức sự kiện Liễu Điều Hồ), rơi vào thế đối lập gay gắt với Trung Quốc, sau đó do việc kiến thiết “Mãn Châu quốc” mà bị quốc tế cô lập. Từ đó trở đi, Nhật Bản rơi vào thời kỳ chiến tranh trường kỳ được gọi là “cuộc chiến mười lăm năm”.
Trong thời kỳ chiến tranh như thế thì thể chế chính trị dẫn đạo thời đại phải là “quân quốc chủ nghĩa”. Qua sự kiện ngày 15 tháng 5 năm 1932[6] (năm Chiêu Hòa thứ bảy) rồi sự kiện ngày 26 tháng 2 năm 1936[7](năm Chiêu Hòa thứ mười một), chính trị Nhật Bản đã ngả sang ý hướng quân phiệt. Trên cơ sở đó, năm 1938 (năm Chiêu Hòa thứ mười ba) luật tổng
https://thuviensach.vn
động viên quốc gia được ban hành để kiểm soát vật tư và nguồn lực lao động. Năm 1939 (năm Chiêu Hòa thứ mười bốn), những lệnh trưng dụng quốc dân, kiểm soát giá cả liên tiếp được ban hành để phục vụ cho chiến tranh, việc nguồn lực lao động và vật tư được gửi ra tiền tuyến đã trở thành nghĩa vụ của quốc dân. Dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa quân phiệt đó, toàn thể nhân dân Nhật Bản đã bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh.
Chiến tranh Trung – Nhật đẩy lên cao trào khiến cho không những việc Nhật Bản phải đối mặt với sự đối kháng mãnh liệt của Trung Quốc là đương nhiên, mà còn khơi mào cho sự xấu đi về quan hệ với Anh và Mỹ vốn không ưa gì sự mở rộng thế lực của Nhật Bản.
Mỹ liên tiếp thực thi cấm vận các vật tư chiến lược với Nhật Bản như dầu lửa, thép vụn và thép tấm. Bây giờ người ta gọi việc này là “chế tài kinh tế”. Do việc này mà Nhật Bản càng ngày càng bị cô lập phải tiếp cận với đồng minh Đức, Ý và đến năm 1940 (năm Chiêu Hòa thứ mười lăm) hiệp ước liên minh Nhật, Đức, Ý được ký kết. Vào năm trước, Đức và Ý đã khởi đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, đánh nhau với các nước Liên hiệp như Pháp và Anh (được Mỹ chi viện) ở châu Âu. Như thế, Nhật Bản, Đức và Ý đã hình thành lên một cục diện được gọi là liên minh phe Trục, đẩy sâu đối lập với các khối liên hiệp khác mà chủ yếu là Mỹ, Anh.
Bị Mỹ cấm vận, Nhật Bản gặp khó khăn vì không đủ vật tư để tiếp tục Chiến tranh Trung – Nhật nên bắt đầu hướng mắt sang vùng tài nguyên thiên nhiên ở Indonesia thuộc Hà Lan và vùng Đông Dương thuộc Pháp là Việt Nam ngày nay. Tháng 6 năm 1940 (năm Chiêu Hòa thứ mười lăm), khi nước Pháp đầu hàng Đức, quân Nhật Bản bắt đầu tiến vào đồn trú ở vùng bắc bộ Đông Dương. Rồi đến năm 1941 (năm Chiêu Hòa thứ mười sáu), việc chiếm đóng đã được mở rộng xuống phía nam. Nhật Bản đã tự mình rơi vào tình thế không thể nào khôi phục lại quan hệ với các nước Liên hiệp mà đứng đầu là Mỹ quốc. Vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, bắt đầu từ cuộc
https://thuviensach.vn
tấn công Trân Châu Cảng, Nhật Bản đã lao vào cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.
Vì cuộc chiến tranh với Trung Quốc mà ngay cả đến các nước Liên hiệp đứng đầu là Mỹ, Anh cũng tham gia chiến tranh. Trong thế cuộc ngu ngốc vô mưu như vậy, Nhật Bản bắt đầu cuộc chiến tranh toàn diện.
Vào mùa xuân năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín), khi cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu được ba năm, cha tôi đã bị triệu tập vào lục quân.
Khi ấy, cha tôi đã ba mươi sáu tuổi. Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra trưng binh hồi còn trẻ cha tôi đủ tiêu chuẩn ất chủng[8]. Do vậy cha không có đủ thể lực cơ bắp cần thiết cho một binh sĩ. Mệnh lệnh triệu tập đưa ra là ưu tiên cho những người trẻ đậu giáp chủng[9], vậy mà trong những người đủ tiêu chuẩn ất chủng có cả “lão binh” ba mươi sáu tuổi. Điều này cho thấy tình thế chiến tranh Nhật Bản thời ấy khốc liệt đến độ nào.
Khoảng hơn nửa năm từ ngày khai chiến, quân đội Nhật Bản chiến thắng liên tục, nhưng sau thất bại trận hải chiến Midway và đảo Guadalcanal vào năm 1942 (năm Chiêu Hòa thứ mười bảy) thì chiến cuộc trở nên xấu đi. Đến năm 1943 (năm Chiêu Hòa thứ mười tám) thì đội quân bảo vệ đảo Attu thuộc chuỗi đảo Aleutian hoàn toàn bị tiêu diệt. Trên khắp các chiến trường từ Trung Quốc đến Thái Bình Dương, do ưu thế áp đảo về vật tư quân dụng và trang bị kỹ thuật nên quân Mỹ đã liên tiếp gây thương vong cho quân Nhật một cách nặng nề. Khi báo cáo về sự hoàn toàn thất bại, việc dùng từ “ngọc nát” đã trở thành chuyện đương nhiên.
Đối với quốc gia có chiến tranh, binh sĩ trở thành một thứ tài nguyên tiêu hao phẩm. Mỗi lần tiêu hao, quốc gia phải tìm cách điều chỉnh nguồn tài nguyên mới. Cho dù binh sĩ đó gánh vác gia đình bao nhiêu người đi nữa thì việc điều chỉnh tài nguyên cũng không nương tay. Cho dù những
https://thuviensach.vn
gia đình bị cướp đi nguồn lao động chính vào quân đội có đau khổ thế nào đi nữa, thì cũng không thể cho phép từ chối việc trưng binh.
Như thế những cột trụ trong gia đình lần lượt bị kéo đi thành binh sĩ và lũ trẻ con phải nghe người lớn nói chuyện với nhau:
“Anh nhà phải đi ra trận rồi nhỉ.”
Bây giờ nếu thử suy nghĩ lại ý nghĩa của câu chữ này, tôi lại càng cảm thấy sự tàn khốc của việc phải nói những câu này với cha mẹ học sinh tại trường học. Đối với những người mẹ đang trông nhà giữ một đàn con, hay đối với những đứa con đã từng hoan hỷ tranh nhau ngồi lên đầu gối của cha mình, thì câu nói này có thể chuyển thành:
“Anh nhà có lẽ sẽ phải chết đấy!”
Lần về quê cuối cùng
Gia đình tôi là nhà nông may mắn được trời phú cho những cánh đồng diện tích khá lớn. Những ruộng lúa nước chất luống cao ấy đón nắng gió bát ngát và mùa màng bội thu hơn hẳn. Nhưng để có thể tiếp tục việc canh tác nơi những mảnh ruộng được trời ban ấy thì phải có sức người lao động là cha tôi.
Vào mùa xuân khi cắt cỏ xong thì xới đất và cày bừa. Rồi bị cuốn vào sự bận rộn của việc gieo hạt, cho đến ngày xong thì sau đó phải nhổ cỏ, canh nước… Từ mùa xuân cho đến mùa thu, công việc của những nhà nông là không thể ngơi tay.
Hồi giấy triệu tập gửi tới lúc đó thì người con trai thứ ba là tôi cũng mới có sáu tuổi, em trai và em gái thì hãy còn hôi sữa. Mẹ vốn dĩ là người chân tay yếu mềm nên việc vừa chăm lo cho các con nhỏ vừa một mình gánh vác việc đồng áng là việc quá sức của mẹ. Cha bị triệu tập vắng nhà là vào một ngày mùa thu năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín).
https://thuviensach.vn
Những nhà nông xung quanh hầu như đã kết thúc việc thu hoạch mùa màng của mình. Nhìn cánh đồng lúa nước nơi vùng thung lũng dưới con dốc trước nhà thì thấy nhà nào cũng đang tấp nập chuẩn bị phơi lúa.
Trong ruộng thì cứ cách khoảng hơn một gian lại neo một chiếc thuyền gỗ dài có đến bảy mét, trên đó vắt ngang những thanh trúc được cột chặt lại bằng dây leo. Những thanh trúc đó cứ khoảng sáu mươi đến bảy mươi xen-ti-mét lại được kết lại với nhau từ một đến tám tầng. Khi đặt dựng đứng lên, tám tầng này có chiều dài hơn mười lăm mét. Người ta cố gắng hết sức để xoay nó về phía đón nhiều ánh mặt trời và nhiều gió. Người ta làm thêm một cái cột trụ để chịu được gió mạnh. Trên những thanh trúc mới được làm xong như thế người ta treo từng bó lúa mới được gặt xong, nên công việc này được gọi là “phơi lúa”. Nếu những ngọn lúa không được hong khô thì việc đập lúa về sau sẽ rất khó khăn. Việc nhà nông thời kỳ này từ khi phơi lúa, đập lúa, phơi thóc, tuốt vỏ… đúng thật là bận rộn đến tối tăm mặt mũi.
Tuy nhiên cũng có ruộng lúa thu hoạch trễ và những cây lúa trĩu nặng bị gió thổi ngả rạp xuống nằm yên đó. Đó là đồng lúa của gia đình tôi. Trong nhà không đủ nhân lực nên ngay cả việc cắt lúa còn không thể thực hiện nói chi đến việc mang lúa đem phơi.
Đó là ngày xuân khi mùa thu hoạch đồng áng đang rộn ràng, cha đã xin nghỉ phép trở về quê sau khi lên đường đi vào quân ngũ hồi mùa xuân năm trước. Bà nội tôi ở Uyama qua đời. Không hiểu làm sao mà tôi không còn nhớ hình ảnh dân làng tiễn cha lên đường nhập ngũ vào mùa xuân năm trước. Nhưng sau khi nhập ngũ, trong năm đó có hai lần cha xin nghỉ phép về thăm nhà thì tôi vẫn nhớ. Lần nào cũng vậy, cha tôi hồi hương là vì tang lễ của người họ hàng, lần thứ hai là vì bà tôi mất. Đối với tôi, lần hồi hương thứ hai này là ký ức cuối cùng của tôi về cha.
Ngày hôm đó, mẹ chỉ cánh đồng còn bỏ dở việc thu hoạch nhờ cha phụ một tay. Nhưng lúc đó, từ chính miệng cha lại thốt ra những lời không
https://thuviensach.vn
thể ngờ được:
“Hôm nay ta mệt, mấy mẹ con hãy làm đi.”
Cha tôi, một người làm việc chăm chỉ, chưa từng từ chối công việc nào mẹ nhờ vả từ khi về làm rể nhà này. Việc cha lắc đầu từ chối đó trước đây và sau này chưa từng có, chỉ một lần duy nhất này mà thôi.
Sau đó cha đi ra trước nhà. Ra trước cửa nhà, nằm trên đồi đất cao thì trước mắt là con dốc. Nhìn những đám cỏ mọc um tùm ven đường, cha quay trở vào nhà, dường như nhớ đến chuyện gì. Rồi cha lấy liềm và bắt đầu lẳng lặng cắt cỏ.
Hôm nay ta mệt…
Người cha nói vậy rồi khom lưng cắt cỏ khi ấy đang nghĩ gì nhỉ? Trong tâm trí tôi cứ hay hiện lên quang cảnh ấy nhưng chỉ toàn là tưởng tượng mà thôi.
Hương đất nồng nàn và mùi cỏ bát ngát. Cha đang cúi người cắt cỏ trong làn hương ấy. Cái ngày mà cha đã nói “hôm nay”. “Hôm nay” chắc chắn không phải là một ngày đương nhiên để có thể tiếp tục đến ngày mai ngày mốt nữa.
Chắc cha nghĩ về người mẹ nơi quê nhà đã qua đời, còn lại là ngôi nhà này cùng người vợ và sáu đứa con nhỏ, những kỷ niệm của ba mươi sáu năm làm lụng, làm việc để sinh tồn, đôi bàn tay này đã nuôi nấng cho gia đình. Ngày hôm sau nếu quay về doanh trại có lẽ mình sẽ được điều đến vùng chiến địa xa xôi nào đó. Lần hồi hương tiếp theo mình sẽ, khi về thăm nhà lần tới mình sẽ…
Ngày mùa thu ở làng Kawamo, cha tôi lẳng lặng tiếp tục cắt cỏ trước nhà.
https://thuviensach.vn
Ngày hôm sau, tại nhà ga Bichu Kawamo, hình ảnh người cha đã mất hút trước mắt những đứa con đứng tiễn như bị ai đó giật lấy đi.
Hình bóng người cha từ trên xe lửa chồm người ra ngoài, bàn tay liên tục vẫy vẫy chiếc mũ lính đã trở thành một dư ảnh bùng cháy trong đáy mắt tôi, trong tay tôi hơi ấm và cảm giác bàn tay cha khi siết chặt vẫn còn nguyên vẹn. Tuy thế, chẳng bao lâu sau khi trầm mình vào cái dư âm ấy, tôi và anh trai phải vội vã đến trường.
Giữa đường chúng tôi vào chùa Ngự Đại Sư đường chấp tay nguyện cầu cho cha được bình yên. Chúng tôi tiếp tục đi một đoạn, đến chỗ vũng nước được tạo thành do dòng nước nhỏ phun ra từ chỗ đất nghiêng thì anh tôi dừng lại và bảo:
“Này, rửa mặt đi.”
Vì để mặt mũi tèm lem nước mắt vô lớp học thì khó coi.
Tôi ngoan ngoãn gật đầu.
“Dạ.”
Tôi lấy hai tay chụm lại múc nước xoa mặt thật mạnh. Làn nước mát lạnh làm tinh thần tôi trở nên sảng khoái.
Giờ học đã bắt đầu từ lâu. Khi tôi bước vào lớp, tất cả mọi người đồng loạt quay lại nhìn. Trên mặt tôi, những giọt nước mắt đã khô!
Làng quê thời chiến
Ngôi trường tôi đi học là cơ sở trực thuộc được gọi là “Bồi căn học xá” của trường Quốc dân học hiệu Kawamo. Là ngôi trường được làm bằng gỗ cũ vào giữa thời Minh Trị, giờ học thì lẫn lộn nhiều cấp bậc với nhau. Học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3 và lớp 4 học chung trong một lớp. Lớp 5 và lớp
https://thuviensach.vn
6 chung một lớp. Cùng nhập học chung năm với tôi có mười đứa con trai và sáu đứa con gái, tổng cộng mười sáu đứa hầu như là con nhà nông dân cả. Những đứa học trò vô tư xếp bàn ra, đọc sách giáo khoa, giơ tay trả lời một cách to khỏe. Dù trả lời sai nhưng thầy giáo nói “không đúng nhưng gần gần đúng” và gọi học sinh tiếp theo. Tôi nhớ mãi hình ảnh những giờ học yên bình trôi qua như thế.
Dù vậy, chiến tranh vẫn ập đến ngôi trường nhỏ nơi làng núi này.
Có khi để chuẩn bị đối mặt với trận không kích, chúng tôi luyện tập chạy trốn vào núi. Cũng có khi những học sinh các lớp được phân công trồng khoai tây trên những luống đất ngoài đồng. Thời kỳ này anh trai tôi là học sinh lớp cao nhất bị bắt lên núi đào rễ thông. Người ta đang gom góp nguyên liệu dầu thông được tinh chế từ rễ thông. Đây là thời kỳ thua cuộc gần như đã rõ ràng, những chiếc tàu chở nguyên vật liệu từ phương nam liên tiếp bị đánh chìm, vì thế mà dầu thô chạy tàu và xăng cho máy bay trở nên vô cùng khan hiếm. Chính phủ nhận thấy điều này mới phát hiện dầu rễ thông làm bằng cách gia nhiệt rễ thông rồi chưng lưu thành phần bốc hơi mà thành. Và nghe nói là gom lại và tinh chế thành phần đó có thể dùng thay cho nhiên liệu máy bay được. Ở khắp nơi trên cả nước, rất đông người kể cả trẻ con cũng bị động viên đi đào rễ cây thông.
Rất lâu sau đó tôi mới biết việc thuyền chở dầu của cha tôi bị đánh chìm. Không biết từ lúc nào mà những người cha bị xô đẩy ra nơi tiền tuyến, những đứa con nơi hậu phương bị thúc giục cung cấp dầu tiếp nhiên liệu cho vũ khí chiến tranh.
Sau đó, khoảng hai năm sau khi chiến tranh kết thúc, thầy giáo chủ nhiệm dẫn chúng tôi lên thành phố Okayama để đi xem triển lãm. Nơi tổ chức triển lãm là tòa nhà Tenmanya được rất nhiều người biết đến. Buổi trưa thầy giáo dẫn chúng tôi xuống tầng hầm của tòa nhà này. Thầy giáo đã cho chúng tôi ăn mì udon. Lúc đó thầy đã nói:
https://thuviensach.vn
“Có rất nhiều người chết ở đây. Các em hãy xem kỹ nhé.”
Rạng sáng ngày 29 tháng 6 năm 1945 (năm Chiêu Hòa thứ hai mươi) đội quân B9 gần 140 chiếc máy bay đã không kích thành phố Okayama. Tình báo việc máy bay địch tiếp cận không kịp đưa tin, trận oanh tạc không được cảnh báo. Hơn 70% thành phố Okayama bị thiêu rụi, số người tử vong lên đến gần hai ngàn người. Trong số hơn mười hai ngàn căn nhà bị thiêu trụi trong ngọn lửa thì ở trung tâm thành phố, một số tòa nhà như ngân hàng Chugoku, ngân hàng Nippon và tòa nhà Tenmanya này cháy còn sót lại như một kỳ tích. Tuy nhiên, sau khi trận oanh tạc dữ dội kết thúc, có rất nhiều thi thể được tìm thấy dưới tầng hầm của tòa nhà Tenmanya này. Khi trận oanh tạc xảy ra, những người ở dưới tầng hầm đã bị thiêu cháy vì sức nóng dữ dội của biển lửa bao trùm trên mặt đất.
Thành phố bị thiêu cháy như cánh đồng hoang, những thi thể cháy khét bị bao trùm bởi khói lửa trong khi hoảng loạn tìm đường trốn thoát và những người bị thiêu cháy bởi sức nóng trong các tầng hầm và chỗ trú ẩn phòng không. Đó là một thảm trạng đang lặp đi lặp lại trên những thành phố toàn quốc đương thời.
Vào tháng 7 năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín), khi tôi nhập học trường Quốc dân học hiệu thì đội quân Nhật Bản giữ đảo Saipan đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Hòn đảo này được xem là “vùng quốc phòng tuyệt đối” đã bị phá vỡ khiến cho toàn lãnh thổ Nhật Bản rơi vào vùng không kích của B29. Các trận tấn công đầu tiên tập trung vào các nhà máy và các công trình quân sự, nhưng đến năm 1945 thì chuyển sang những trận không kích “ném bom rải thảm” không phân biệt gì nữa, hầu hết các thành phố Nhật Bản trở thành những vùng đất cháy đen.
Những trận ném bom rải thảm không phân biệt đó đều nhắm đến việc tàn sát những cơ năng xã hội đang trợ lực cho chiến tranh đồng thời tiêu diệt chính người dân nữa. Ngoài trận đại không kích vào thành phố Tokyo ngày 10 tháng 3 làm một trăm ngàn người chết ra thì các thành phố
https://thuviensach.vn
Nagoya, Osaka, Kobe cũng chịu những trận không kích tương tự như thế vào thời kỳ này. Hơn thế nữa, mục tiêu không kích từ những đô thị lớn đã mở rộng ra đến các địa phương làm cho gần như tất cả thành phố trên toàn Nhật Bản bị thiêu cháy hết cả. Số lượng người chết vì bị không kích trong cuộc chiến tranh này được nhận định là hơn năm trăm ngàn người.
Dĩ nhiên đây chỉ là con số ước tính những người thương vong mà thôi, còn số những đứa trẻ mất cha mẹ, những người bị cướp mất nhà cửa thì không thể tính hết được. Nền tảng để tạo dựng một xã hội Nhật Bản hoàn toàn bị tiêu diệt, trước tiên là nhà xưởng – cơ sở sản xuất bị đánh sập, hệ thống giao thông bị phá hủy, cơ quan chính trị bị tê liệt. Cả đất nước Nhật Bản đã trở thành một chiến trường.
Thêm vào những cuộc không kích là tình trạng thiếu thốn lương thực nhu yếu phẩm ngày càng thêm trầm trọng do chiến tranh liên tục kéo dài.
Tại thời điểm công kích Trân Châu Cảng, toàn Nhật Bản phải dựa vào nguồn lương thực nhập khẩu từ Triều Tiên, Đài Loan, Trung Quốc với ước tính 31% gạo, 92% đường, 58% đậu nành, 45% muối. Nếu bắt đầu chiến tranh thì chắc chắn nguồn cung cấp từ nước ngoài sẽ bất ổn, tình trạng thiếu lương thực sẽ thành trầm trọng là điều ai cũng dễ dàng nhận thấy. Không chỉ những nguyên vật liệu chiến lược như dầu mỏ, quặng sắt mà ngay ở điểm không thể đảm bảo nguồn thực phẩm thì Nhật Bản không thể nào là đất nước cho phép chiến tranh xảy ra được.
Do dự kiến được việc thiếu thốn lương thực trầm trọng như thế này nên Chính phủ vào năm 1942 (năm Chiêu Hòa thứ mười bảy) đã ra chế định về luật quản lý lương thực, thiết lập sự quản lý trên toàn quốc về tất cả các loại lương thực mà chủ yếu là gạo. Dưới chế định này, Chính phủ mua lương thực và nông sản từ người sản xuất rồi phân phối cho người tiêu dùng. Hành trình lưu thông được thiết định nghiêm ngặt. Ngoài hành trình này, việc buôn bán nào được tiến hành thì được gọi là “chợ đen”, tức là bất hợp pháp. Gần nửa sau cuộc chiến tranh, do địch quân công kích khiến việc
https://thuviensach.vn
nhập khẩu lương thực từ nước ngoài về gián đoạn, nên Chính phủ đã giảm lượng phân phối. Vì vậy, từ nửa sau cuộc chiến tranh cho đến ngày bại trận, toàn thể đất nước Nhật Bản rơi vào nguy cơ khan hiếm lương thực trầm trọng.
Trong tình trạng như vậy, các làng thôn đảm đương nhiệm vụ sản xuất cũng trở nên kiệt quệ. Do luật quản lý lương thực nên nhà nông phải có nghĩa vụ bán gạo cho Chính phủ đương thời, gọi là “cung xuất”[10]. Số lượng gạo phải bán được quy định trước dựa trên số lượng thu hoạch của ruộng. Cho dù nguồn lao động chính phải sung vào quân ngũ thì số lượng gạo phải cung xuất không vì thế mà giảm đi. Sự giảm thiểu nguồn phân bón do nhân lực không đủ và đường thông thương bị phá hoại cùng sự khan hiếm các máy móc nông cụ trầm trọng khiến các vùng nông thôn cũng bị ép đảm đương quá khắc nghiệt. Kết quả là việc sản xuất trở nên không ổn định.
Ví dụ như vào năm 1941 (năm Chiêu Hòa thứ mười sáu), diện tích canh tác lúa nước là 3.011.000 héc-ta, thì đến năm 1944 còn 2.852.000 héc ta, đến năm 1945 rơi xuống còn 2.798.000 héc-ta. Thêm vào đó, do thời tiết không thuận lợi nên chỉ số tình hình canh tác là 67, lượng thu hoạch lúa nước là 5.823.000 tấn. Thời đó thu hoạch mỗi năm khoảng 9.000.000 tấn, đến năm cuối cùng của cuộc chiến tranh thì số lượng giảm sút rõ rệt chỉ còn hai phần ba.
Mùa hè của năm mất mùa đó, chiến tranh kết thúc.
Ngày 15 tháng 8, người Nhật biết được cuộc chiến tranh thất bại qua đài phát thanh, Thiên Hoàng chấp nhận tuyên bố Potsdam. Các thành phố trên toàn Nhật Bản bị thiêu cháy; ở Okinawa, đánh nhau trên đất liền khiến nhiều người dân hy sinh, rồi thành phố Hiroshima và Nagasaki đã chịu hai quả bom nguyên tử. Việc kết thúc chiến tranh quá chậm trễ đã khiến số người hy sinh nhiều như vậy.
https://thuviensach.vn
Tuy nhiên, ký ức về ngày kết thúc chiến tranh thì tôi không còn nhớ nữa. Khi ấy nhà tôi đang tất bật thu hoạch lá thuốc lá. Cái ngày trở thành ký ức của cuộc đời tôi chỉ đến vào hai tuần sau đó.
Di cốt không trở về
Ngày 31 tháng 8, sau khi chiến tranh kết thúc được khoảng hai tuần.
Mẹ đang ngồi nhổ cổ ngoài đồng. Người cô từ quê mẹ vội vã chạy đến và nói:
“Anh Mori chết rồi!”
Chiến tranh liên miên cuối cùng cũng kết thúc, khi mọi người thầm nhủ cuộc sống sẽ bắt đầu lại từ đây thì tin báo tử này ập đến. Nghe hung tin, mẹ tôi như người mất hồn, cứ thế mà ngã người xuống giữa ruộng. Hàng xóm chạy tới xốc mẹ vào nhà. Ai đó đã pha nước với giấm và nhét vào miệng mẹ tôi. Giống như bị sặc, mẹ ho lên một tiếng, thở mạnh ra và dần tỉnh lại. Người ta báo thi hài của cha được đưa về chùa Lại Cửu Tự ở thành phố Takahashi. Anh cả được một người họ hàng đi cùng đến đó để nhận thi hài của cha. Khi anh cả quay về, nâng trước ngực là chiếc hộp hình vuông được bọc bởi tấm vải trắng. Thi hài được cất giữ trong chiếc hộp gỗ trắng này. Khi chiếc hộp đựng thi hài được đưa vào trong nhà thì những người cao tuổi vội vã cứ thế mà đặt chiếc hộp lên bàn thờ. Sau khi sắp xếp cắt đặt xong, những người thân tộc và hàng xóm cùng chấp tay hướng về bàn thờ khấn vái.
Khi nhìn thấy cảnh ấy, tôi lúc đó còn là một đứa bé chợt nghĩ:
“Sao không phải bàn thờ Phật mà lại là bàn thờ thần? Mình nghe nói sau khi chết người ta sẽ thành Phật mà?”
Người hàng xóm nói:
https://thuviensach.vn
“Cha con ấy mà... Nếu mất trong chiến tranh vì Thiên Hoàng Bệ Hạ thì sẽ được tế lễ ở đền Thần đạo Yasukuni, vì thế không thành Phật mà thành thần đấy.”
Vì thành thần nên không phải là bàn thờ Phật mà là bàn thờ thần. Đối với trẻ con khi đó đúng là một lý luận kỳ lạ khó hiểu mặc dù cảm thấy như đã hiểu.
Trong giấy báo tử nhận được chỉ thấy viết một dòng đơn giản: “Tử thương trong khi đang chiến đấu hướng Hishima”.
Hướng Hishima tức là hướng Philippines nhưng tôi không biết rõ cụ thể là nơi nào. Cũng không có ai nói cho tôi nghe là chết trong trận chiến nào và chết ra sao. Trong thông báo chính thức lạnh lùng đó, như đã ném bỏ đi bao nhiêu nghi vấn, chỉ còn ép lại thành một từ “chết” mà thôi.
Cảm xúc và hơi ấm từ bàn tay dày thô ráp của cha nắm chặt tay tôi lần cuối cùng ngày nào trên sân ga vẫn còn đây. Và hình ảnh cuối cùng của người cha đang vẫy không ngừng chiếc mũ chiến binh luôn còn mãi trong đáy mắt tôi.
Người cha đó đã “chết”. Điều đó phải chăng là chan đã đi về nơi nào chăng? Người cha đã trở thành như thế nào nhỉ? Cái nghi ngờ đơn sơ ấy cứ giăng mắc hoài trong tim tôi.
Lúc đó, ai trong số anh em tôi đã nói:
“Di cốt của cha như thế nào nhỉ? Có tóc với móng không nhỉ?”
Khi mở nắp hộp chứa di cốt, tôi muốn nhìn thấy hình bóng của cha tôi. Tôi muốn nhìn thấy hình bóng người cha khi trở về chỉ chút thôi, dù cho hình bóng ấy đã đổi thay hoàn toàn đến mức như thế. Cái ý nghĩ đó đã xuyên suốt chung anh em chúng tôi.
https://thuviensach.vn
Có giọng ai đó do dự nói rằng không được phép làm như thế đâu. Có lẽ là một người lớn trong bà con thân thích. “Không, cứ cho lũ trẻ xem cho toại nguyện nếu chúng có yêu cầu” – một lúc sau có giọng nói khác đáp lời.
Cuối cùng, chị tôi quyết ý nói:
“Ngay cả cha cũng muốn gặp mọi người mà.”
Chị tôi lấy tay nhẹ ngàng gỡ nút thắt của tấm vải trắng. Tôi đặt tay mình trên nắp hộp gỗ bạch mộc. Khoảnh khắc khi gỡ nắp hộp ra, mọi người dường như nín thở trước thứ đập vào mắt mình. Trong chiếc hộp gỗ bạch mộc, không có cha tôi.
Trong chiếc hộp, không có đến cả những thứ như tóc hay móng chứ đừng nói gì đến di cốt. Mà trong hộp gần như trống trơn đó nơi góc chỉ có vài viên đá lẫn vào nhau và vật gì như cục than đen mà thôi.
Không ai nói lời nào cả. Chúng tôi vội vàng đậy nắp và cột tấm vải trắng lại thật chặt. Chúng tôi đã xem thứ không được phép xem. Giá như đừng xem thì hay hơn. Ai cũng nghĩ vậy. Đây đâu phải là cha. Cha đã không trở về.
Hai ngày sau, đám tang cha tôi được cử hành trong làng. Chiếc hộp có vài viên đá và mảnh than được chúng tôi chôn vào mộ như là “di cốt”.
Trong đó đâu phải là cha tôi.
Ý nghĩ đó khởi lên trong tôi và nước mắt không thể chảy ra ngoài được.
Chiến tranh chưa kết thúc
Cho dù đã chấm dứt chiến tranh nhưng tình hình lương thực của Nhật Bản không chuyển biến tốt mà càng nghiêm trọng hơn. Thêm vào việc
https://thuviensach.vn
lương thực không đủ đã trở thành chuyện thường ngày còn có việc cả mùa màng thất bát, số người suy dinh dưỡng tăng cao, thậm chí có cả người chết đói. Trạng thái phát triển của trẻ em thời kỳ này trên toàn quốc kém đi trông thấy, liên tục có nhiều em chỉ cần bệnh nhẹ một chút là qua đời. Thể chế quản lý lương thực vẫn còn tiếp diễn sau thời hậu chiến, nhưng sự tình nghiêm trọng đến mức nếu chỉ nhờ vào đồ được cấp phát thì cũng khó mà duy trì được mạng sống. Trong tình hình như vậy mà những thôn làng kiệt quệ vẫn phải tiếp tục nghĩa vụ cung cấp gạo cho Chính phủ một thời gian sau cuộc chiến.
Vì tình thế xã hội như vậy nên đâu có nhà nông nào dư dả được gì. Dù cái chết của cha tôi là chết vì chiến tranh cũng đâu thể nhờ cậy vào họ hàng và bà con lối xóm. Sau khoảng một tháng nhận được giấy báo tử, thôn làng bước vào thời kỳ gặt lúa. Mẹ và sáu anh em chúng tôi lặng lẽ làm việc để không có thời gian thư thả chìm trong nỗi buồn phiền.
Sau khi gặt lúa đến mệt nhoài xong chúng tôi chuyển sang phơi lúa. Rơm sau khi phơi không chỉ làm thức ăn cho trâu bò mà còn là vật liệu để làm thảm, bao bì hay dây thừng nữa. Để làm được như vậy thì trước đó lúa phải được phơi khô đủ độ. Trong vùng đất giữa núi này mặt trời lặn sớm. Nhà chúng tôi vì thiếu bàn tay đàn ông và tay người lớn nên phải làm đến tối mịt. Những bó lúa gặt xong được phơi dưới ánh trăng. Anh tôi leo lên thanh phơi, chúng tôi ở dưới nhận những bó lúa được ném tới, chia chúng làm đôi rồi máng vào thanh tre ngang.
Sau vài ngày phơi, chúng tôi tháo bó lúa xuống và mang về. Chúng tôi chọn những bó lúa to vừa sức của mình rồi cõng trên vai mang vào nhà. Từ sân phơi trở về nhà là con đường dốc dài năm, sáu trăm mét. Cả nhà chúng tôi tất cả mọi người phải đi đi về về mấy lượt.
Mang được về nhà rồi thì phải nhìn trời trăng tùy theo thời tiết mà trải thảm ra ngoài sân, mang mấy bó lúa đang chất trong nhà ra ngoài, sử dụng đập đạp bằng chân để lần lượt tách thóc. Vừa dùng chân đạp hết sức vào
https://thuviensach.vn
máy đập, vừa quay cái thân máy tròn có răng cưa kẽo kẹt. Hơi mở bó lúa ra rồi đẩy vào đến hết rồi lại lấy ra làm lại, vừa kiểm tra xem thóc có văng khỏi bó lúa không vừa liên tục đạp chân quay máy. Công việc này là tách thóc ra khỏi bó lúa.
Lúc đầu thì đây là công việc của anh và chị tôi, nhưng công việc nhiều nặng nhọc quá nên sau cùng tôi cũng giúp một tay. Tôi cũng dùng chân đạp máy nhưng sức đạp yếu quá, thóc không tách khỏi bó lúa được. Đây là công việc sử dụng toàn bộ thân thể nên tôi lập tức đổ mồ hôi đầm đìa.
Cả đầu, mũi, lông mày tôi đều đầy vụn rơm thật trông như con sâu cây (kết thảo trùng). Hơn thế những cọng rơm khô đâm vào cánh tay làm da đỏ ửng lên như chứng phát ban vậy. Sau một ngày làm việc để rửa sạch mình mẩy đầy mồ hôi, tôi ngâm nước nóng nhưng mỗi lần như thế nước nóng thấm vào da làm đau đớn không chịu nổi.
Thóc được bỏ vào máy thổi bay vụn rơm rồi được phơi trên chiếu trải ngoài sân hay vườn giữa nắng. Nếu phơi không đủ khô thì những hạt thóc không được tách vỏ sẽ xuất hiện nhiều, còn nếu phơi quá độ sẽ ảnh hưởng đến chất lượng gạo. Để phơi cho đúng độ thì lúc nào cũng phải chú ý đến thời tiết. Hễ trời chuyển mưa một cái là “trời sắp mưa” rồi, dù ở đâu cũng phải ba chân bốn cẳng chạy về thu dọn chiếu phơi. Khi phơi xong thì bỏ thóc vào máy chà xát để chờ tách vỏ trấu. Tuy nhiên, sáu mươi nhà mà chỉ có một cái máy xát lúa thôi nên phải luân phiên nhau. Vì vậy phải phơi thóc xong để kịp xát lúa đúng ngày được chỉ định. Đối với nhà chúng tôi chỉ có mẹ và những đứa con thì việc ráng làm để kịp ngày chỉ định quả là một hạn ngạch quá sức.
Kết thúc việc xay xát, cuối cùng chúng tôi cũng có được gạo đỏ (huyền mễ). Nhưng vì trong số gạo thu được sau quá trình làm lụng vất vả này thì loại tốt phải bị cưỡng chế nộp cho Chính phủ, nên trong nhà chúng tôi chỉ còn lại gạo vụn hay gạo loại ba loại bốn mà thôi. Rồi đến khi phần
https://thuviensach.vn
ăn trong nhà chẳng còn lại gì nữa, chúng tôi đành phải ăn lúa mì và tiểu mạch cầm hơi.
Người ta nói “chiến tranh đã kết thúc” vào mùa hè năm 1945 (năm Chiêu Hòa thứ hai mươi). Nhưng đối với chúng tôi, mùa hè năm đó là bắt đầu những tháng ngày gian khổ hơn thời chiến. Tất cả những khổ nạn của cuộc sống tiếp diễn liên tục đối với những người dân đều là chiến tranh. Đối với chúng tôi mà nói, chiến tranh vẫn chưa kết thúc.
Cơm hộp lúa mạch
Đây là chuyện vào đầu mùa hè tôi trở thành học sinh lớp ba trường Quốc dân học hiệu. Từ khi nhận giấy báo tử của cha tôi đến giờ đã một năm trôi qua. Mẹ tôi tuy không khỏe vẫn ráng hết sức quán xuyến mọi việc và lo lắng cho sáu đứa con còn lại, từ việc chăm nuôi bò cho đến chăm đứa con gái út vừa mới lên ba.
Ngày hôm đó tôi ăn cơm hộp ở trường. Mọi người vội vàng trải rộng những tờ báo hay tấm khăn furoshiki ra trên bàn và bắt đầu ăn cơm hộp của mình. Bất chợt tôi nhìn thấy cô bạn ngồi ngay chiếc bàn phía trước đang ăn cơm và dùng tay trái che lại hộp cơm của mình. Vì bạn ấy gục đầu mà ăn nên tóc như chạm cả xuống mặt bàn.
Tại sao bạn ấy lại có kiểu ăn như vậy nhỉ?
Tôi nhìn từ phía sau. Hộp cơm cô bạn ấy đang ăn chỉ có lúa mạch và quả mơ muối mà thôi.
Trong cơm hộp có lúa mạch?
Trong hộp cơm của tôi là cơm trắng và các bạn xung quanh cũng vậy. Vì thế mà trong đầu tôi cứ đinh ninh rằng cơm hộp của ai cũng có cơm trắng. Vậy mà tại sao chỉ có cơm hộp bạn này lại là lúa mạch nhỉ? Không suy nghĩ cẩn thận gì, tôi vô tư mà nói:
https://thuviensach.vn
“Này này nhìn xem, nhìn xem, ăn cơm hộp lúa mạch này.”
Có lẽ lúc đó tôi gần như đứng lên thì phải. Nghe thấy thế, không chỉ lớp ba mà cả học sinh lớp bốn cũng nhất loạt vây quanh chiếc bàn của bạn ấy.
Bạn ấy xấu hổ quá, vội vàng đẩy nắp hộp cơm đang ăn dở, gói lại trong giấy báo rồi hớt hải bỏ sách học, tập vở, hộp bút vào trong khăn furoshiki vừa khóc vừa đi ra khỏi lớp.
Một lúc sau tôi bị thầy phụ trách năm lớp một, hai gọi lên phòng giáo viên. Thầy nói với giọng nghiêm khắc:
“Tại sao em lại làm tổn thương người khác như vậy?”
Thầy nắm lấy tay tôi lặp lại lời nói như trách móc:
“Hãy đặt mình vào trường hợp của bạn ấy mà suy nghĩ xem.” Thầy gần như sắp khóc.
“Em hãy đứng trước phòng giáo viên suy nghĩ kỹ xem mình đã làm điều gì đi.”
Thầy bắt tôi suy nghĩ xem đã gây ra những chuyện gì…
Khi đứng trước lớp, con trùn hiếu thắng trong ngực tôi đã bốc lên đầu. Tôi từ nhỏ vốn là một đứa trẻ hoạt bát ưa quậy phá. Mỗi khi đi học về, thấy đi theo con đường ngoằn ngoèo phiền phức quá nên tôi cứ đi thẳng xăm xăm băng qua bụi rậm, đi theo con đường không phải là đường.
Tại sao tôi lại bị trách mắng như vậy cơ chứ?
Tôi đâu có ý khinh miệt gì cái “cơm lúa mạch” đâu. Ở nhà tôi cũng ăn cơm lúa mạch mà. Hơn thế việc thổi cơm là nhiệm vụ của tôi nữa.
https://thuviensach.vn
Đầu tiên chỉ nấu lúa mạch không thôi. Lúa mạch được ngâm trong nước sẽ nở lớn ra. Lúc đó chất dịch đắng nhớt tiết ra nên không ngon, vì vậy mà sau khi nấu chín, lúc mạch được rửa sơ qua bằng nước lạnh rồi trộn thêm rất ít gạo vào để nấu lại lần nữa. Khi nấu xong thì trên nồi cơm là lớp lúa mạch nhẹ, còn lớp gạo nặng sẽ chìm phía dưới. Mẹ chọn lớp cơm dưới đáy đó lèn chặt vào hộp cơm cho tôi. Cơm hộp của trẻ con phải là gạo trắng. Bây giờ nghĩ lại tôi mới biết đó là tấm lòng thương con của người mẹ. Tôi lúc còn bé ấy làm gì nghĩ xa được đến thế, cứ cho rằng trong cơm hộp phải có cơm trắng là điều đương nhiên thôi.
Sau khi bị phạt đứng cả nửa ngày, không dám về cùng chung với các bạn khác vì xấu hổ, tôi một mình đi về nhà. Vừa trông em gái út vừa cùng lũ bạn chơi bắn bi. Vì ý khí tiêu trầm nên tôi chơi bắn bi chẳng hào hứng gì mấy. Khi anh chị bắt tôi chuẩn bị cơm nước xong xuôi thì mẹ đi làm đồng về. Mẹ không nói gì mà đến ngồi ngay góc lò sưởi. Một sự trầm lặng đến nín thở. Mẹ im lặng với tay lấy thanh củi gần đó. Một khoảnh khắc sau, một thanh củi bay như xé gió hướng về phía tôi.
Sạt. Sau khoảnh khắc tôi né người tránh khỏi, thanh củi đã xé rách cánh cửa giấy. Nếu trúng thanh củi đó thì chắc trán tôi đã bị đâm toạc bởi cú ném không nương tay.
Tôi thẫn thờ nhìn mẹ. Gương mặt mẹ đã bị rút hết huyết khí, trắng xanh đi. Tôi run lên vì lần đầu tiên nhìn thấy bộ dạng của mẹ như vậy. Vì quá hãi sợ nên tôi chẳng kịp mang dép mà chạy bổ ra khỏi nhà.
Tôi chạy. Không biết về nơi đâu, chỉ cắm đầu chạy mải miết. Tôi còn chẳng cảm thấy đau nơi đôi chân trần chạy trên con đường tối tăm. Tôi cũng chẳng nhớ mình đã chạy đến đâu và chạy như thế nào nữa. Đến khi mệt đứt hơi, tim như nhảy bổ ra ngoài thì tôi khuỵu gối xuống.
Không được nữa rồi. Tôi ngã lăn ra như thể bổ nhào xuống vậy. Giữa cánh đồng lúa mạch. Những cây lúa mạch lớn bằng chiều cao của đứa trẻ
https://thuviensach.vn
con. Tôi cúi gằm mặt như thể chôn vùi mình giữa đám lúa mạch đó.
Tôi nghe rõ tiếng tim mình đang đập thình thịch. Vừa thở dốc tôi vừa nghĩ ngợi:
“Mình không cần phải lo lắng sẽ bị tìm thấy ở nơi đây.”
Cứ thế tôi ngồi xuống giữa cánh đồng lúa mạch.
Một lúc lâu sau, những cơn gió đêm thổi đến lạnh người. Dù cho lạnh đến tâm can và bụng bắt đầu đói nhưng tôi không có ý đứng dậy.
Mình không thể nào trở về nhà được nữa.
Như bị đông cứng lại bởi nỗi sợ hãi và hưng phấn, tôi bắt đầu bị cơn buồn ngủ bủa vây. Giữa những khu ruộng có trải rơm và lá khô. Hơi ấm nhỏ nhoi của ban ngày còn sót lại, thay cho tấm nệm êm. Tôi vùi mình trong đó và ngủ thiếp đi.
Tôi nghe nói ở nhà trải qua một phen kinh hoảng. Nghe nói mẹ bù lu bù loa tìm tôi từ chuồng bò đến tận phòng ngủ. Rồi quày quả về nhà ông bà ngoại hỏi thăm, hay đi tìm các nhà hàng xóm xung quanh. Nằm vùi nơi cánh đồng lúa mạch, trong cơn mê ngủ tôi cũng có cảm giác nghe gọi tên mình. Nhưng do quá mệt mỏi nên không thể nào trở dậy được, cứ thế mà ngủ thiếp đi.
Đến khi hơi lạnh thấm vào run người làm tôi mở mắt ra thì bầu trời phía đông là một màu sáng bạch. Chắc sau một đêm lạnh giá đã làm cảm xúc của tôi tĩnh lặng lại chăng? Tôi trở mình thức dậy và hiểu như thế. Tôi khập khễnh lê bước về nhà với đôi chân trần dơ dáy. Mẹ ngồi bên lò sưởi, vẫn còn thức. Thấy tôi đứng ngoài cửa, mẹ không nói gì mà ngoắt tôi ngồi trên đầu gối rồi xỏ vào chân tôi đôi dép tôi thường mang. Chân mẹ thật ấm. Tôi áp mặt mình vào đó rồi nằm xuống. Nước mắt tôi trào ra làm ướt đôi chân mẹ.
https://thuviensach.vn
Những đứa trẻ đã mất cha vì chiến tranh. Không muốn cho chúng bị thêm sự khinh thường nơi trường học nữa. Nên ít nhất thì phải cho chúng ăn cơm trắng ở trường. Trong khi bị thúc ép bởi việc nuôi con và việc đồng áng đến mức thân tâm không có giây phút nào được nghỉ ngơi thì việc làm đó chính là thể hiện tấm lòng người mẹ. Sự cay đắng hối tiếc vì con mình không hiểu được nỗi lòng ấy, làm tổn thương đến con cái nhà người ta đã làm cho mẹ phải ném đi thanh củi ấy. Sau sự việc lần này, mẹ bắt đầu chuẩn bị cho tôi cơm hộp có trộn lẫn lúa mạch.
Thanh củi bay vụt tới như gầm rít và dáng hình xanh xao tiều tụy của mẹ. Điều đó như một sự nhắc nhở về cuộc đời rằng tôi không được trở thành người mang tâm địa ngang ngược làm tổn thương đến người khác.
Cái chết của mẹ
Hơn một năm rưỡi trôi qua kể từ ngày giấy báo tử trận của cha được gửi về, đó là vào ngày 18 tháng 3 năm 1947 (năm Chiêu Hòa thứ hai mươi hai) người mẹ can trường của chúng tôi đã suy sụp. Mẹ nằm đó đắp hai tấm chăn rách bươm, nhiệt độ thì lên đến gần 39 độ vậy mà cứ rên “lạnh, lạnh”.
Không thể cứ nhìn mẹ nằm đó tiếp tục rên rỉ được. Trời đã về chiều, anh cả chạy hơn hai dặm đường để gọi bác sĩ đến. Khi vị bác sĩ đến nhà thì trời đã tối hẳn.
Mẹ nằm đó thở gấp, run rẩy vì lạnh. Bác sĩ tiêm cho mẹ một mũi thuốc giảm sốt và nói rằng mẹ bị viêm phổi.
“Hãy cho ăn thức ăn bồi bổ tinh thần vào. Và tôi đã kê toa, hãy đến lấy thuốc nhé!”
Hai anh trai tiễn vị bác sĩ ra về và đi lấy thuốc.
Một lát sau mẹ có khá hơn một chút, húp được ba ngụm cháo loãng và thều thào nói: “Mẹ xin lỗi”.
https://thuviensach.vn
Buổi tối sau khi mẹ uống thuốc do hai anh đem về thì đi ngủ. Sáu anh chị em chúng tôi im lặng ngồi quây quần bên lò sưởi và nuốt cho qua bữa cơm tối đã quá muộn. Gia đình một người mẹ và sáu đứa con nhỏ. Người mẹ là chỗ dựa duy nhất đã ngã quỵ, những đứa trẻ không biết nương tựa vào ai cũng sắp bị xô ngã.
“Mẹ ơi, mẹ bị làm sao vậy?”
Đứa em gái bé nhỏ khóc gọi mẹ. Được thể mấy anh em cùng nhau cất giọng gọi mẹ. Sáng hôm sau chỉ có anh cả và chị ở nhà chăm sóc mẹ, còn tôi và anh kế miễn cưỡng tới trường như thể bị túm tóc lôi đi. Thằng em trai và đứa em gái thì chưa đến tuổi đi học nên ở nhà, khi đứng khi ngồi bên giường bệnh của mẹ.
Trong thời gian tôi và anh kế đến trường thì tình trạng của mẹ chuyển biến xấu đi. Sốt cao lên gần 40 độ, miệng bị á khẩu và bắt đầu co giật. Những người xung quanh gọi dùm bác sĩ tới, theo lời bác sĩ thì hình như mẹ bị viêm màng não. Môi mẹ khô rát và chuyển sang tím tái, mắt trợn ngược, hơi thở yếu dần và môi bắt đầu run bần bật.
Cậu tôi vội vã chạy đến trường báo hung tin của mẹ. Cô giáo vào lớp ghé tai tôi nói:
“Teruo, em hãy mau về nhà chăm sóc cẩn thận cho mẹ nhé!”
Tôi ngoan ngoãn gật đầu, nhẹ nhàng cố không làm phát ra tiếng động lấy sách vở trong ngăn bàn bỏ vào trong cặp. Nhẹ nhàng đứng dậy. Tôi cúi đầu chào các bạn và bước ra khỏi lớp. Khi ra khỏi cửa lớp, tôi lấy hết tốc lực chạy nhanh đến tủ đựng giày. Ra đến cổng sau của khu ký túc xá, tôi đi như lồm cồm bò lên con dốc cao nhắm hướng bắc mà thẳng tiến về nhà. Có ai đó đang đi ra mé khu vườn. Khi vừa nhìn thấy, tôi như ngã nhào chạy xuống con dốc và cứ thế băng ngang qua cánh đồng. Dù là một giây cũng được, tôi muốn nhanh nhanh về nhà chạy đến bên mẹ.
https://thuviensach.vn
Tôi lao thẳng vào nhà. Mấy người chú bác yên lặng ngồi trên miếng futon. Mẹ nằm đó không nói được, mắt nhắm chặt, môi mấp máy yếu ớt. Trên đầu nằm của mẹ có để chung nước và cây bút lông. Tôi nhìn thấy và bắt chước chấm bút lông vào nước và thấm nhẹ lên môi mẹ.
“Mẹ không được chết!”
Không biết có phải là do tâm trạng của mình không mà tôi thấy mí mắt đang khép chặt của mẹ nhíu lại, gương mặt xanh xao dường như trở nên hồng một chút. Chẳng bao lâu sau tim mẹ ngừng đập. Mẹ ra đi chỉ sau ba ngày nằm vùi. Cái chết của mẹ là do sự lao tâm lao lực suốt ba năm kể từ ngày cha tôi phải ra chiến trường. Quan tài của mẹ được buộc dây thừng, những anh thanh niên giúp khiêng quan tài của mẹ ra khu nghĩa địa ở cánh đồng ngay dưới con dốc của nhà tôi. Một cái huyệt khoảng bốn xích vuông được đào ngay bên cạnh nơi chôn hộp di cốt của cha cách đây một năm rưỡi. Quan tài của mẹ từ từ được hạ xuống đó. Vị trụ trì nhà chùa đọc kinh cầu nguyện xung quanh huyệt, anh cả tay mang bài vị, chị ôm di ảnh của mẹ trước ngực, anh kế thì bưng khay trà, tôi thì cầm cây trúc được phủ vải trắng đứng đó.
Cậu cả dùng cái xẻng xúc đất lấp lên quan tài. Tiếp tục là những người bà con thay phiên nhau lấp đất, chẳng mấy chốc không còn nhìn thấy quan tài nữa. Chỉ mấy ngày trước, người mẹ của chúng tôi kiên cường thế mà giờ đây đã trở thành một thi hài nằm yên dưới lòng đất. Mấy anh chị em chúng tôi bấu chặt tay vào những gì mình đang cầm trong tay, nước mắt đầm đìa chỉ biết đứng nhìn tiễn biệt mẹ dần dần bị chôn vùi trong lớp đất. Một tảng đá to tròn được đặt lên trên mô đất được vun đắp cao, bánh kẹo và trà mang theo được bày ra, ai đó đã châm lửa vào nến và thắp nhang. Chị tôi lấy hai tay bám chặt vào tảng đá đặt trên mộ ở mãi nơi đó không muốn rời xa.
Gia đình chỉ còn những đứa trẻ
https://thuviensach.vn
Bộp… bộp… bộp…
Buổi tối. Tiếng đập rơm mềm mại vang lên trong ngôi nhà chỉ toàn những đứa trẻ con. Đó là công việc vào buổi tối – bện rơm thành tấm futon và giỏ rơm.
Dùng liềm chọn cắt những cọng rơm hãy còn xanh thì sẽ dễ dàng hơn trong việc sắp xếp và bện rơm . Anh cả thì bện thành những chiếc futon. Chị thì cho đứa em gái út ăn cơm xong rồi trải đệm ra cho nó ngủ, sau đó cùng anh kế bện rơm.
Đó là công việc thủ công của bọn trẻ, ngày nào như ngày nấy tiếp diễn một cách đều đặn. Vì để sinh tồn nên dù chỉ kiếm được những đồng tiền nhỏ nhoi nhưng cũng phải cố gắng. Mặc dù vất vả bận rộn nhưng đó là điều mà đứa nào cũng biết mình phải làm. Nếu cha mẹ còn sống thì hay biết bao nhiêu.
Đã ba năm trôi qua kể từ khi người cha bị lấy đi mất trong cuộc chiến tranh. Cha bị cướp đi, cuộc sống của gia đình gồm một mẹ và sáu đứa con nhỏ đã đủ rơi vào cùng cực. Vậy mà trong gia đình đó, người mẹ cũng bị cướp mất, còn lại sáu đứa trẻ thơ. Chúng phải làm gì để sinh tồn trong những ngày tháng sau này? Hiện thực quá nghiệt ngã!
Lúc đó chị là học sinh trung học năm thứ nhất trường Thanh niên học hiệu, anh cả là học sinh cấp 3 năm 1 của trường Quốc dân nhưng cả hai người vì phải phụ việc đồng áng nên thường xuyên phải nghỉ học. Anh kế là học sinh tiểu học năm 5, tôi là học sinh tiểu học năm 3, em trai là học sinh tiểu học năm 1 còn em gái út thì mới vừa ba tuổi. Tất cả chúng tôi phải làm sao đây? Chúng tôi có thể tiếp tục đến trường như từ trước đến giờ hay không? Không phải chúng tôi sẽ bị ly tán khắp nơi chứ? Người lớn thì có nỗi khổ tâm của người lớn, bọn trẻ con thì có những bất an của trẻ con. Ngay cả khi mẹ còn sống thì thức ăn cũng không được đầy đủ, còn quần áo
https://thuviensach.vn
chúng tôi mặc đi học là mặc lại của anh của chị. Giờ đây mẹ đã mất đi, chúng tôi sẽ lấy tiền ở đâu ra, có sống được không?
Nỗi đau mất mẹ cùng với sự bất an về cuộc sống ngày mai đẩy sáu đứa trẻ rơi vào tột cùng nên trước mắt, ông ngoại đã ra quyết định nuôi đứa em học tiểu học năm 1 vì nó vẫn chưa thể phụ giúp việc nương rẫy hay việc nhà. Còn lại năm đứa, bọn trẻ chúng tôi, chủ yếu là anh cả và chị, cố gắng xoay xở với việc nương rẫy và tự chống chọi với cuộc sống.
Khi nghe ông ngoại hạ quyết định, thằng em nhỏ khóc sụt sùi:
“Dù có cực khổ thế nào cũng được. Ăn cơm toàn lúa mạch cũng không sao. Con vẫn ở ngôi nhà này. Con muốn sống cùng anh chị.”
Thằng em trai cứ bám riết lấy chị khóc vật vã. Nhưng khi nghĩ đến những khó khăn mà những đứa trẻ phải đối mặt thì người lớn cũng không ai phản đối quyết định của ông. Chị tôi phải cõng thằng em cứ khóc van xin cho được tiếp tục ở lại nhà này sang nhà ông ngoại cách đó một ki-lô-mét. Từ hôm đó, chị thay thế mẹ, anh thay thế cha bắt đầu cuộc sống chỉ có năm đứa trẻ.
Chẳng bao lâu sau khi chiến tranh kết thúc, chế độ giáo dục trường Quốc dân thay đổi sang hệ ba năm sáu năm nhưng chị tôi phải nghỉ học, anh trai cũng đỡ đần chị vì các em nhỏ mà phải đi làm đồng áng. Mỗi khi trường tôi có lễ hội hay họp phụ huynh, chị phải dẫn theo đứa em gái nhỏ đến dự. Thời đó, chiều đi học về chẳng có bánh trái gì để ăn vặt cả. Tôi thường leo lên cây sung to mọc ở góc sân hái trái ăn thay quà vặt. Những trái sung chín nhũn, nở to ra như ngôi sao. Nếu bóp bóp mạnh nó sẽ nứt vỏ ra và sẽ xì nước màu trắng. Nếu nước này dính vào mặt hay quần áo sẽ trở thành màu đỏ giặt không ra nhưng tôi không quan tâm, cứ liên tiếp cho hai, ba trái vô đầy mồm mà chẳng thèm lột vỏ. Ở phía dưới đứa em kéo tạp dề ra đứng chờ.
https://thuviensach.vn
“Ném cho em đi!”
Nó gọi í ới và nhắm hứng những trái sung từ trên cây. Khi nó hứng hụt, mấy trái sung trúng vô vách tường rào bể nát bét. Khi hứng được, nó khoái chí hò hét: “Được rồi, được rồi”. Nó cũng không lột vỏ mà cứ thế cho vào miệng.
Anh kế hễ từ trường về là thoăn thoắt leo lên cây hái, nhét đầy trái sung vào trong túi quần. Rồi thì lập tức thay đồ đi ra đồng, mang theo mấy trái sung vừa hái cho anh cả và chị. Anh chị đang làm đồng vất vả.
Dù trong nhà chỉ toàn là trẻ con nhưng khối lượng công việc không thể cắt giảm dễ dàng được.
Sáng sớm chị phải đi cắt cỏ cho bò ăn, suốt cả ngày thì cày bừa xới đất. Những con bò kéo cày thường không nghe lời chị, không chịu cày đúng hướng. Chị quất cho một roi thì nó vung sừng lồng lộn lên trở chứng. Anh cả phải tóm lấy dây cột trước mũi nó ghì xuống, phải hai người hợp sức thì nó mới nghe theo. Anh kế cũng phải nghỉ học khi vào mùa vụ, tôi thì phụ trách việc cơm nước, xách nước để đun nước tắm ofuro và trông nom đứa em gái út. Bọn trẻ chúng tôi đoàn kết lại, dốc hết sức lực phân chia nhau chăm lo việc nhà, việc đồng áng, nhưng lúc nào ngoài đồng ruộng cỏ cũng mọc um tùm. Chắc chắn chúng tôi không thể thay thế được cha mẹ làm hết mọi việc được. Mới đầu, khi chúng tôi thu hoạch lúa mạch thì thật là thảm hại vì cỏ dại còn nhiều hơn cả lúa mạch. Cho dù ít ỏi, chúng tôi vẫn phải kiếm thu nhập, đó là điều mà bọn trẻ chúng tôi đều hiểu cả. Năm mẹ mất tôi đang là học sinh tiểu học lớp 4, cũng tranh thủ những lúc không đi học để làm việc vặt kiếm tiền. Ở gần làng tôi, quê này có nhà làm than xen canh với việc đồng áng. Có một xưởng làm than nho nhỏ ở trong núi. Mỗi khi giao than thì cần phải bốc vác than ra ngoài đường lớn, nơi xe hàng có thể đậu. Cứ bốc vác một bao than ra đường lớn thì được trả 10 hào. Để kiếm được những hào tiền ít ỏi này, chúng tôi đã vác than trên lưng, đi bộ lên xuống giữa xưởng than và đường lộ không biết bao nhiêu lần.
https://thuviensach.vn
Với cuộc sống như vậy thì đến tối chúng tôi cũng chẳng có thời gian nghỉ ngơi theo đúng kiểu trẻ con. Chúng tôi cắt những ngọn lúa ra, thêm cỏ đã cắt sẵn vào, rắc cám lên và trộn đều với nước. Sau khi bỏ vào hộp thức ăn cho bò ngoài chuồng, chúng tôi lại bắt đầu làm việc buổi tối.
Bộp…bộp…bộp…
Tiếng đập rơm nghe thấy yên bình lặng lẽ. Trong mỗi tiếng đập như thế, nơi ngôi nhà chỉ có những đứa trẻ, chúng dùng hết sinh mệnh mình để kiếm lương thực cho ngày mai.
Tiếng bước chân cha
Nếu không có chiến tranh, người cha vốn là trụ cột của gia đình tám người đâu có bị cướp đi mất. Nếu cha không bị cướp đi thì mẹ tôi đâu có mất đi nhanh chóng như cây to bị ngã đổ. Và nếu cả cha mẹ tôi không bị chiến tranh cướp đi thì những đứa em thơ đâu bị giằng ra khỏi tay người anh, những đứa con đâu phải làm việc đồng áng từ ngày này sang tháng khác. Tuy không thể nói là dư dả nhưng chắc chắn là được sống một cuộc đời đương nhiên của lũ trẻ nông thôn.
Khi lời tuyên ngôn “kết thúc chiến tranh” được đưa ra, không có nghĩa là nỗi khổ đau chiến tranh sẽ biến mất đi từ ngày đó. Cho dù cảnh bom rơi đạn lạc đã không còn nữa, không có nghĩa là cuộc sống của người dân trở lại như xưa. “Chiến tranh kết thúc” được hai năm rồi mà chiến tranh vẫn tiếp tục cướp mất những tháng ngày bình yên của gia đình chúng tôi. Và những gia đình giống chúng tôi có đến mấy trăm ngàn trên toàn cõi Nhật Bản, họ chắc chắn cũng đang quằn quại như vậy.
Giữa những tháng ngày khổ sở đó, đối với tôi, chỉ có một khoảng lặng an vui của tâm hồn mà thôi. Đó là những việc Phật sự ở chùa Bồ Đề. Ở làng Kawamo không chỉ có cha tôi mà còn nhiều người khác nữa chết vì
https://thuviensach.vn
chiến tranh. Những việc cúng dường Phật sự đó diễn ra khi tôi còn là học sinh lớp trên của trường tiểu học.
Một ngày, bà hàng xóm tình cờ rủ tôi đi.
“Cậu Teruo cùng đi nhé?”
Tôi trả lời ngay là sẽ đi, không có chút cảm giác kháng cự nào. Vì anh chị tôi đều bận công việc nên có lẽ tự nhiên hình thành kiểu “vậy thì mình phải đi thôi” như vậy. Từ đó về sau, cứ hễ có Phật sự gì là tôi lại trở thành đại diện cho nhà Nakamoto.
Xem lại tấm hình chụp chung với những người làm Phật sự thời đó thấy toàn là những bà già trong làng. Chỉ một người trong số đó mặc quần áo học sinh là tôi thôi. Hình như là học sinh phổ thông thì phải.
Không phải tôi có niềm tin sâu sắc hay một mối quan tâm đặc biệt dành cho tôn giáo, nhưng tôi cũng chưa bao giờ cảm thấy khổ sở khi đến chùa. Không những thế, tôi còn nhớ là mình đã cảm thấy bình an kỳ lạ mỗi lần nghe tiếng tụng kinh nữa.
Khi tôi mới học lớp một, cha tôi đã ra chiến trường và đến năm sau thì nhận được giấy báo tử. Đến cuối năm lớp ba thì mẹ tôi cũng về bên kia thế giới. Mỗi lần ly biệt như thế, đôi tai bé nhỏ của tôi lại nghe những tiếng tụng kinh. Cho dù không hiểu một chữ nào đi nữa thì đối với tôi những lời kinh ấy có lẽ đã kêu gọi mối dây liên kết với cha mẹ, gợi lên ký ức về cha mẹ như tên địa danh trong những bài thơ cổ[11]. Hình bóng cha mẹ biến mất đi trước mắt tôi. Tuy nhiên, những hình bóng đó chắc chắn vẫn còn nối kết đến tận bây giờ. Tôi vẫn nhớ khoảng thời gian trong chùa, tôi phó mặc mình cho những suy nghĩ như vậy.
Nghĩa địa gần nhà đối với tôi cũng chẳng phải là một nơi đáng sợ. Tôi hay dừng chân nơi nghĩa địa, lấy tay sờ vào tảng đá trên nấm mộ vun tròn
https://thuviensach.vn
của người xa lạ. Tôi cảm nhận được hơi ấm vi diệu trên tảng đá đó, thầm lặng cảm nhận về cha mẹ mình. Đó là một khoảnh khắc truy điệu của tôi.
Nhưng vào những lúc truy điệu như thế, luôn luôn có một ý nghĩ nằm sâu trong ngực tôi không sao dứt đi được, như một ngọn lửa cứ âm ỉ cháy.
Lẽ nào chan vẫn còn sống ở nơi nào đó chăng?
Trong cái hộp di cốt mở ra để nhìn tro xương cha chỉ là than với vài viên đá nhỏ mà thôi. Gọi là gia đình liệt sĩ rồi đối mặt với dáng hình người cha đã hoàn toàn thay đổi như thế, đối với chúng tôi đừng nói đến chảy nước mắt mà đó là chuyện không sao có thể chấp nhận được. Ngay cả cơ hội xác nhận cái chết của người cha, cơ hội chấp nhận cái chết ấy, chúng tôi cũng bị cướp đoạt.
Biết đâu cha mình còn sống ở nơi nào đó? Biết đâu một ngày kia cha sẽ trở về? Những ý nghĩ đó cứ bám riết lấy tôi, không sao dứt bỏ được.
Chẳng hạn vào một đêm khuya.
Tôi nghe tiếng bước chân mang đôi dép rơm đi trên con đường ngay sát bên nhà. Tôi nhổm người dậy nghiêng tai lắng nghe.
Chan đó à?
Tôi mở hé cánh cửa giấy nhìn ra ngoài. Tiếng bước chân dẫm trên đất từ từ tiến đến gần hơn, ngang qua nhà tôi rồi đi về phía xa khuất. Người mang bước chân ấy qua nhà tôi để hướng về phía nhà hàng xóm. Thất vọng, tôi thở dài rồi khép cánh cửa lại.
Nhắm mắt lại, tôi nhớ đến gương mặt cha đang nhoài người ra ngoài cửa sổ tàu, tay vẫy không ngừng chiếc mũ chiến đấu cho đến tận khi khuất xa hẳn. Hình ảnh ấy cứ hiện lên rồi biến mất, hiện lên rồi biến mất khiến tôi trằn trọc không sao ngủ được. Hình ảnh người cha sống trong tôi vẫn
https://thuviensach.vn
nguyên vẹn dáng hình ngày chia biệt ở nhà ga Kawamo chứ không phải trở thành “Phật” hay “thần linh” gì hết cả.
[1] Người Nhật gọi vùng biển Thái Bình Dương phía Đông Nam Trung Quốc quanh các nước và vùng lãnh thổ Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Borneo, Malaysia, Đông Dương là “biển Nam Trung Hoa” (Minami Shina kai 南シナ海). Cũng tương tự như vậy với cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp, người Nhật gọi là “Chiến tranh Đông Dương” (インドシナ戦争), Kháng chiến chống đế quốc Mỹ được gọi là “Chiến tranh Việt Nam” (ベトナム戦争), (Tất cả các chú thích là của người dịch).
[2] Nguyên văn là “Otottsuan (おとっつぁん)”, tên gọi nũng nịu, ngọng nghịu của Otosan (お父さん – cha ơi).
[3] Nguyên văn là “tầm thường tiểu học hiệu” 尋常小学校 (じんじょうしょうがっこう) – tên gọi cơ quan giáo dục sơ cấp từ thời Minh Trị Duy tân cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai.
[4] Sự kiện Lư Cầu Kiều (theo cách gọi ở Nhật Bản, tiếng Nhật: 盧溝橋事件, Rokōkyōjiken), hay Sự kiện mùng 7 tháng 7 (theo cách gọi ở Trung Quốc, tiếng Trung: 七七事变, Qīqīshìbiàn) xảy ra ngày 7 tháng 7 năm 1937, được xem là sự kiện mở đầu Chiến tranh Trung – Nhật.
[5] Chính xác là nằm ở trấn Uyển Bình, phía tây nam Bắc Kinh.
[6] Ngày 15 tháng 5 năm 1932 (Shôwa 7), Thủ tướng Nhật Inukai Tsuyoshi bị ám sát.
[7] Ngày 26 tháng 2 năm 1936 còn gọi là “sự kiện hai hai sáu”, cuộc binh biến ám sát hụt Thủ tướng Okada của một nhóm sĩ quan trẻ.
[8] Ất chủng (乙種): loại thứ hai, sau “giáp chủng”. Trong kiểm tra trưng binh của quân đội Nhật Bản cũ, có sự phân biệt loại một, loại hai.
[9] Giáp chủng (甲種): trong kiểm tra trưng binh, những người đậu được đệ nhất cấp, thích hợp nhất cho vai trò cần tuyển chọn. Theo từ điển Hán Việt của cụ Thiều Chửu thì “giáp là một can đứng đầu trong mười can. Ngày xưa lấy mười can kể lần lượt, cho nên cái gì hơn hết cả đều gọi là giáp, như “phú giáp nhất hương” (富甲一卿), giàu nhất một làng”.
https://thuviensach.vn
[10] Cung xuất 供出(きょうしゅつ): Chính phủ bắt người dân phải bán nông sản, lương thực chủ yếu theo một giá nhất định, gần như có tính bán cưỡng chế.
[11] Utamakura (歌枕–): Ca chẩm, dịch sát nghĩa là “gối thơ”, tức là những địa danh nổi tiếng, được xem như nguồn cảm hứng để làm thơ hay ngâm vịnh trong thơ ca cổ điển Nhật Bản.
https://thuviensach.vn
Chương 2
BÓNG HÌNH NGƯỜI CHA
Hai trận chiến
Tôi vẫn còn giữ một tờ tạp chí cũ. Số tháng 10 năm 1972, tiêu đề là “Những người bạn học tập”. Trên trang bìa có đăng tải đây là số chuyên đề đặc biệt về Việt Nam.
Tạp chí này vẫn còn được xuất bản cho đến tận ngày nay, khi xuất bản chuyên đề này vào năm 1972 (năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi bảy) thì đã có 19 năm lịch sử ấn hành. Tờ tạp chí bắt đầu nêu lên những vấn đề nhân quyền, lao động thời gian đó rồi đến những vấn đề quốc tế. Những vấn đề này được viết dưới dạng phóng sự hay những bài bình luận giải thích dễ hiểu.
Sở dĩ tôi lưu trữ số tạp chí này là vì có lý do riêng. Không chỉ vì tôi từng là độc giả của tờ tạp chí mà còn vì tôi là đương sự chính trong bài về vấn đề lao động chiếm đến sáu trang báo.
Tôi lật trang bìa, nhìn tấm hình in kèm vào trang đầu tạp chí.
“Chiến tranh giết chết mọi người” của Nixon. Lúc đó đang là giữa cuộc chiến ở Việt Nam, người Mỹ dưới chính quyền Nixon thả bom tàn sát các ngôi làng và đô thị Bắc Việt Nam. Khung cảnh lửa cháy ngút trời trên những thành phố cảng biển, những đứa trẻ nhìn xác mẹ bị bom đốt cháy đen, những vũ khí sát thương đa dạng của quân đội Mỹ, và tình trạng bị phá hoại. Tai họa chiến tranh của một quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé dưới mưa bom bão đạn của quân Mỹ và tư thế phản kháng của nhân dân đã được cắt ra thành những tấm hình sống động đó. Tôi lật ra mấy trang có chụp đăng hình cục diện của cuộc chiến đấu khốc liệt đó. Đột nhiên có tấm hình gây
https://thuviensach.vn
cho tôi sự chú ý. Đó là tấm hình được chụp trong khuôn viên một công ty ở đất nước Nhật Bản. Tấm hình chụp hai người trẻ tuổi mặc áo sơ mi, quần dài và đội nón rơm lớn đang ngồi xổm trên đất. Mang găng tay và cầm liềm. Họ đang nhổ cỏ ở bãi đất hoang.
Tấm hình được chú thích như sau:
“Hai thanh niên làm việc tại nhà máy chế tạo nhựa vinylon đang nạo vét mương rãnh, xử lý những vật dơ bẩn từ nhà vệ sinh nữ… Trông ánh nhìn của họ ngời sáng dù phải làm việc và chịu đựng nhục nhã. Một hiện thực đáng kinh ngạc nơi nhà máy K ở Okayama, lấy tư thế tiến bộ hướng đến vùng Chugoku đầu tiên”.
Một trong hai người đang “chịu đựng nhục nhã” trong cái “hiện thực đáng kinh ngạc” đó đang nhìn chăm chú với tư thế chuẩn bị chạy đi chính là tôi lúc bấy giờ.
Tôi là người cất tiếng nói khác với công ty – vốn chủ trương tăng cường lao động, hợp nhất với nghiệp đoàn lao động – nên bị xem là nhân vật nguy hiểm trong công ty. Tôi bị mọi người chú ý và nhiều lần bị giám thị dùng quyền hành bắt tôi lao động những việc “nhục nhã”. Một xí nghiệp lớn như vậy mà cướp đi tôn nghiêm của con người, ép tôi phải chủ động thôi việc. Tôi đã kháng cự điều đó cho đến lúc này là mười năm. Việc tôi chịu đựng sự căm ghét, tiếp tục làm mà không bỏ việc công ty đối với tôi mà nói là một trận chiến giành lấy lại sự tôn nghiêm con người.
Từ năm 1960 đến 1970, Chiến tranh ở Việt Nam giữa hai bên – một bên là miền Bắc Việt Nam muốn nhắm đến một quốc gia thống nhất với quyền tự quyết dân tộc và một bên là Mỹ muốn ngăn cản điều này – vẫn tiếp diễn. Thêm vào đó còn khía cạnh chiến tranh đại lý (chiến tranh ủy quyền) của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai khối Đông – Tây tồn tại từ sau cuộc Đại chiến thế giới thứ hai, khiến giao tranh kéo dài và tàn khốc. Cũng vào thời kỳ này, tôi sống trong những ngày tranh đấu với cuộc chiến của
https://thuviensach.vn
chính bản thân mình. Cùng với những người dân Việt Nam đang chiến tranh với đại đế quốc Mỹ, tôi cũng tranh đấu với đại xí nghiệp. Tuy đây là những trận chiến khác nhau về nơi chốn và quy mô, nhưng cả hai đều là cuộc chiến đấu của con người với những thế lực lớn mạnh và được giới thiệu cạnh nhau trong tờ tạp chí. Việc này đã cho tôi sự khích lệ và cảm động sâu sắc vào thời đó.
Thanh xuân giữa cuộc chiến
Trận chiến của tôi căng thẳng đến mức ra tòa án lao động và thu hút sự quan tâm trong toàn quốc. Về chi tiết cụ thể, xin mời đọc trong quyển sách Tạp thảo ký[12](ghi chép vụn) của tôi, còn ở đây tôi chỉ xin nói qua hết sức vắn tắt mà thôi.
Năm 1953 (năm Chiêu Hòa thứ hai mươi tám), tôi tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Vì là người ham học nên tôi quyết tâm học lên phổ thông trung học thử xem sao. Tiếc là vấn đề lương thực ở nhà tôi lại chẳng thay đổi gì nên cuối cùng phải bỏ dở con đường đi học lên cấp ba phổ thông trung học.
Công việc tôi làm đầu tiên là ở một xưởng gia công thép thuộc tỉnh Hiroshima. Vì theo chế độ hoàn toàn ở ký túc xá nên kết thúc công việc hàng ngày tôi có thể tham dự lớp học đêm. Tôi nhận việc giặt giũ quần áo cho các tiền bối để kiếm tiền lẻ phụ vào việc đóng học phí. Chịu đựng khổ sở như vậy, tôi vừa học vừa làm. Nhưng được khoảng hai năm rưỡi thì việc kinh doanh của xưởng thép bắt đầu suy sụp, không thể trả nổi học phí nên tôi đành bỏ dở việc học đã quen thuộc với mình. Lúc đó, với tâm trạng như kẻ chết đuối vớ được cọng rơm, tôi thi tuyển vào công ty K chuyên về sợi hóa học ở tỉnh Okayama và được nhận vào làm. Tôi được phân công trực thuộc nhà máy chế tạo trong thành phố Okayama và cũng đậu được kỳ thi vào lớp học ban đêm, tái khởi sự lại việc học hành của mình.
https://thuviensach.vn
Cuộc sống học tập ở trường đêm đã mở mắt cho tôi thấy được nhiều điều ở công ty. Tôi cùng với vài người bạn cùng lớp vây xung quanh giáo viên phụ trách, lắng nghe một cách nhiệt thành những câu chuyện về văn chương và triết học. Chúng tôi cùng nói chuyện với nhau về sự vận động của thế giới này hay cách sống của những người thanh niên trẻ tuổi. Trong phòng giáo viên xếp đầy sách của Marx và Engels và tôi lần đầu tiên được tiếp xúc thoáng qua với chủ nghĩa xã hội khoa học.
Thời gian này là mùa màng của chính trị. Năm 1960 (năm Chiêu Hòa thứ ba mươi lăm), Hiệp ước bảo an Nhật – Mỹ được san định lại. Trong xã hội, trường học, công ty đều giương cao ngọn cờ “phản đối bảo an”. Phía sau sự phát triển kinh tế là sự đối lập giữa người lao động và người sử dụng lao động càng ngày càng sâu sắc. Những người lao động ở mỏ than Mitsui Miike đã phản kháng lại việc cắt giảm nhân công bằng cách đình công vô thời hạn. Cuộc bất đồng nghiêm trọng được gọi là “tổng tư bản đối lập tổng lao động” đã xảy ra. Về phần mình, tôi đã hành xử như thế nào trong công ty? Một cách tự nhiên tôi đứng về phía công nhân. Tôi thấy rõ ràng việc tăng cường lao động có những yêu cầu về làm việc thời gian dài đang càng ngày càng gay gắt. Nghiệp đoàn lao động đáng ra phải phản kháng điều này lại cử người đại diện chấp nhận yêu cầu của phía công ty theo như thường lệ. Tôi đã phá vỡ lệ thường này bằng cách chính mình làm đại diện nghiệp đoàn nêu ý kiến riêng của những anh em lao động. Sau đó tôi bị xem là nhân vật bị công ty chú ý. Tôi bắt đầu bị từ công ty đến các anh em công nhân ghét bỏ. Sự ghét bỏ này dần dần leo thang dẫn đến việc tôi chịu phạt “đình chỉ làm việc một tuần”. Vụ việc này xảy ra vào tháng 2 năm 1962 (năm Chiêu Hòa thứ ba mươi bảy).
Nhân dịp nghỉ làm này tôi bắt đầu đi thu thập chữ ký phản đối bắt đầu từ địa phương nơi mình sống đến nhiều thành phố khác. Lấy cớ đó, cả công ty lẫn nghiệp đoàn ép tôi phải tự xin nghỉ việc nhưng tôi kiên quyết từ chối. Công ty tức giận mới trừng phạt tôi bằng cách cho nghỉ làm tạm thời, rồi bắt đầu thi hành chiến thuật làm tổn thương nhân cách tôi bằng cách ép
https://thuviensach.vn
chuyển chỗ này chỗ khác rồi tính lương khác nhau. Công ty còn bắt tôi làm những việc tạp nhạp chẳng liên quan gì đến công việc cũ cả. Nhổ cỏ trong nhà máy, lau dọn nhà vệ sinh kể cả nhà vệ sinh nữ, moi móc mương rãnh, quét đường, lau dọn phòng tắm trong công ty, gỡ bê tông trải trên đất ngoài nhà máy, đắp bồn hoa… Tôi phải làm những công việc khắc nghiệt trong sự chú ý của mọi người, đôi khi còn có cả người giám thị đứng nhìn uy hiếp như thể lao dịch của tù nhân. Tiền lương bị hạ xuống mức tối thiểu, chỉ cần nghỉ tay một phút là lại bị lấy đó làm lý do để áp dụng những hình phạt mới. Đến giờ phải ra trường mẫu giáo đón con rồi mà ông giám đốc cũng không cho về, và cho đến khi tôi đã chạy đi đón con còn hất tay mà chế nhạo rằng “Từ ngày mai đừng đến công ty làm nữa nhé!” như muốn tống khứ tôi đi vậy.
Tuy nhiên tôi không muốn chịu khuất phục. Nếu tôi không thể chịu đựng nhục nhã mà nghỉ việc thì chẳng khác nào thừa nhận mình là “sai trái”, thừa nhận chính sách lao động mang tính bạo lực của công ty. Tôi cứ cố gắng hoàn thành hết những công việc tạp nhạp đó. Một trong những cảnh tượng của ngày tháng đó là tấm hình phóng sự được đăng trên tạp chí “Những người bạn học tập” kia.
Hoàn cảnh của tôi và những người bạn chịu cùng cảnh ngộ như mình càng được biết đến nhiều thì vòng ủng hộ bắt đầu được mở rộng ra. Năm 1969 (năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi bốn), tôi bắt đầu khởi tố việc chấm dứt trả lương sai biệt và thuyên chuyển việc làm tại tòa án địa phương Okayama. Hoạt động ký tên và kháng nghị đến công ty của những người ủng hộ gia tăng nhanh chóng. Do có quá nhiều người lên tiếng nên cuối cùng công ty đành phải nhận mình đã sai. Sau mười bốn lần xử án, cuối cùng công ty phải tạ lỗi và viết đơn xin hòa giải vào ngày 7 tháng 5 năm 1974 (năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi chín). Tôi đã viết lại chuyện ngày hôm đó trong quyển Tạp thảo ký như sau:
https://thuviensach.vn
“Do những tín điều của tư tưởng mình mà chúng tôi bị cướp mất đi niềm tự hào của người lao động, bị chà đạp nhân quyền, bị lấy ra làm gương xấu, chịu đựng những điều nhục nhã. Khi ấy, chúng tôi phải chịu làm những công việc ngang hàng với sự tra tấn, với sự đối xử bạo lực. Cuối cùng công ty phải chấp nhận sự thật, thừa nhận sự sai trái của mình và bồi thường tổn hại cho chúng tôi. Bây giờ trước mặt tôi đang có một tờ “Thư hòa giải” viết những điều cam kết:
“Anh Nakamoto Teruo, anh được phục hồi nguyên chức.
Công ty chấm dứt việc trả lương khác biệt, trả anh tiền hòa giải.
Chúng tôi sẽ cố gắng không để xảy ra vụ việc kháng nghị tương tự trong tương lai.””
Tờ thư viết như vậy. Tôi cầm bút, ký tên “Nakamoto Teruo” rồi đóng dấu… (Lược bỏ)… Khi chữ ký cuối cùng đã kết thúc, trong phòng vang lên tiếng vỗ tay lặng lẽ.
Lúc đó những ký ức, hình ảnh về cuộc chiến đấu mười hai năm liên tục đã đạt thành quả cứ hiện ra rồi biến đi, hiện ra rồi biến mất. Cuối cùng tôi đã được trở lại làm người.
Khoảng giữa “Gia đình” và “Gia đình thân nhân”[13]
Tháng 7 năm 1974 (năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi chín), khoảng hai tháng trôi qua từ ngày tôi thắng cuộc và nhận được sự hòa giải nơi công ty, tôi đưa vợ cùng hai đứa con nhỏ về lại nhà ở Kawamo sau một thời gian dài xa cách. Tôi đưa cả gia đình ra viếng mộ cha mẹ đang ngủ yên dưới lòng đất. Năm 1965, ở khoảng giữa cuộc đấu tranh, tôi lập gia đình với Kikuko và đến năm sau thì hạ sinh người con trai đầu. Đến năm 1970, chúng tôi đón người con trai thứ hai. Trong khoảng thời gian tranh đấu, không biết từ lúc nào mà chúng tôi đã trở thành một gia đình bốn thành viên.
https://thuviensach.vn
Đó là ngày đầu tiên của lễ Obon. Chúng tôi ra trước mộ cha mẹ chất cành cây thông matsuake để rước vong linh cha mẹ về, giống như cha mẹ tôi đã từng làm như vậy khi tôi còn nhỏ. Tôi chắp tay trước mộ mẹ cha mà khấn vái:
“Cha mẹ à, cuối cùng con đã được trở về chỗ làm cũ. Cuối cùng con cũng được bằng người ta rồi ạ.”
Trong hơn mười năm chiến đấu với công ty, trong những ngày bỉ ngạn mùa xuân và thu[14]tôi mới ra viếng mộ mẹ cha ở gần nhà mình nơi làng Kawamo như thế này.
Đó là một dải đất dài và hẹp được bao phủ bởi một dải đất ruộng ven sườn đồi. Đứng trầm ngâm nơi mộ địa, tôi ngắm kỹ ngôi nhà mà mình đã lớn lên. Căn buồng của mẹ, chuồng bò, hàng rào đá, khu ruộng mến yêu trải rộng ven sườn đồi… Sau khi nhìn khắp lượt phong cảnh quê hương đã nuôi tôi khôn lớn, nơi mà anh chị em tôi đã đấu tranh gian khổ một thời ấu thơ, tôi nhìn lại mộ phần của cha mẹ nằm ngay đầu nghĩa trang.
Cha ơi! Mẹ ơi!
Nơi mộ phần cha mẹ – ngày xưa chỉ có chất đá lên khum đất tròn – bây giờ đã trở thành một ngôi mộ có xây tháp đá và cả những tượng thần, Phật bằng đá xung quanh nữa.
Sau khi tôi tốt nghiệp phổ thông cơ sở, rời quê nhà và bắt đầu đi làm, tôi có nghe chuyện xây tháp đá trên mộ cha. Tôi nhớ khi ấy tiền lương lúc mới đi làm còn ít ỏi nhưng tôi cũng gửi về phụ giúp chút ít để xây tháp đá.
Mỗi lần hướng về mộ phần mẹ cha, tôi đều thì thầm như độc thoại:
“Từ bây giờ trở đi mình sẽ sống như thế nào đây nhỉ? Mỗi ngày ở xưởng làm sẽ tiếp tục như thế nào đây? Mình có nên tiếp tục chịu đựng nữa
https://thuviensach.vn
hay không nhỉ? Mình chẳng làm sai chuyện gì cả, không có bất kỳ điều gì phải hổ thẹn.
Nhưng mà …”
Sâu tận đáy lòng tôi lời thì thầm bật ra như nỗi dằn vặt. Những ngày tháng bị công ty tẩy chay, những lúc bị đọa đày đến rơi nước mắt… Khi ấy, người tôi có thể kể lể nỗi cay đắng của mình chỉ có mẹ cha đang nằm dưới lòng đất này thôi. Vừa chắp tay tôi vừa kể cho cha mẹ nghe chuyện tranh đấu của mình và tìm mong sự giúp đỡ. Rồi tôi cảm thấy tâm tư mình an bình và phấn chấn lên. Niềm tin rằng chắc chắn cha mẹ bên kia thế giới sẽ phù hộ cho đứa con bị bỏ lại từ thời thơ ấu đã nâng đỡ tinh thần tôi.
Tuy vậy, một ý nghĩ khác bất chợt trỗi lên trong lòng tôi không sao ngăn lại được.
Không phải là cha vẫn còn đang sống sao?
Đó là suy nghĩ của một người con cho đến ngày hôm nay vẫn còn chờ đợi người cha quay về, suy nghĩ của một gia đình vẫn chưa thể nào chấp nhận được cái chết của người thân. Nguồn ánh sáng của suy nghĩ đó vẫn không ngừng soi chiếu nơi “những người con bị bỏ lại” đã trở thành một thứ ký ức của cái ngày chẳng bao lâu sau khi chiến tranh kết thúc.
Giấy báo tử được gửi về kèm theo chiếc hộp bên trong chỉ đựng than và vài viên đá chẳng phải đã truyền đạt sự thật rồi ư? Mình thật sự là đứa trẻ bị bỏ rơi à? Cha thật sự đã bỏ các con lại và ra đi sao? Hay là chan của con đang sống ở một nơi nào khác?
Cảm giác này trỗi dậy mãnh liệt trong tôi vào giữa năm 1970, khi tôi biết một vài binh sĩ đã vượt qua khoảng thời gian ba mươi năm quay trở về Nhật Bản sau giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ.
https://thuviensach.vn
Tháng 2 năm 1972 (năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi bảy), ông Yokoi Shoichi[15] – một cựu chiến binh Nhật Bản đã lẩn trốn trên đảo Guam từ thời chiến tranh – được một bác sĩ thú y phát hiện và đưa trở về Nhật Bản. Tháng 3 năm 1974 (năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi chín), ông Onoda Hiroo[16]thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở đảo Lubang thuộc Philippines đã hồi hương. Hai người chiến binh này đã sống tự cung tự cấp trong rừng sâu gần ba mươi năm mà không hề hay biết Nhật Bản đã đầu hàng và giải trừ quân bị. Nhìn vào hình dáng tiều tụy già nua đến mức không thể nào ngờ được so với tấm hình hồi còn trẻ tuổi làm người ta nghĩ đến một quãng thời gian dài ba mươi năm. Nhưng có lẽ chính nước Nhật thời hậu chiến đã bỏ rơi những người cựu chiến binh đến biến dạng hình hài như thế này. Hình hài những binh sĩ quay về cố quốc đó là vết thương chiến tranh còn đỏ máu mà người Nhật đã cố quên đi nhưng vẫn không ngừng gây đau đớn ở những nơi sâu kín ẩn khuất.
Và tôi đã nghĩ đến điều này.
Không chừng cha mình cũng như những người cựu chiến binh bị Nhật Bản vứt bỏ sau thời hậu chiến, bây giờ vẫn còn sống đâu đó nơi Philippines chăng?
Tôi tưởng niệm “người cha đã mất”, nói chuyện với linh hồn cha như một thân nhân còn lại. Nhưng tôi cũng vẫn mộng tưởng là “cha còn sống” và sẽ quay về gia đình sau ba mươi năm. Sau thời chiến tranh, không biết bao lần tôi đã đi qua đi lại khoảng giữa của “gia đình” và “gia đình thân nhân”.
“Anh Nakamoto, thay vì cứ ở đó tự vấn về chuyện của cha, sao anh không đi đến Phillipines xem thử ra sao?”
Người khuyến khích tôi đi Philippines là tiên sinh A. Và ông đề nghị tôi “tế lễ vong linh ngay hiện địa”.
https://thuviensach.vn
Manh mối duy nhất cuối cùng về cha chỉ là một tờ giấy báo tử. “Tử thương trong khi đang chiến đấu hướng Hishima”. Nếu là như vậy thì chẳng phải điều duy nhất mà gia đình có thể làm là tìm hình bóng người cha trong rừng và những hòn đảo mà ngày xưa vốn là chiến trường ư? Việc nghe ra tiếng nói của những linh hồn không thể quay trở về cố quốc dù chỉ trong hình hài xương trắng tại hiện địa phải chăng là sự cúng dường cho những người đã khuất?
Lời động viên của ông A – “Hãy đến cúng tế nơi tử trận” – đã làm tôi dao động mạnh. Điều kỳ lạ là chính người cha mà ngay cả di cốt cũng không trở về lại tạo dịp cho tiên sinh A khuyên tôi như thế.
Gia đình tôi không có nhiều ảnh của cha mẹ. Đó là thời không phải ai cũng có thể dễ dàng chụp ảnh nên không có những tấm ảnh chụp tự động, hơn nữa ở vùng quê hẻo lánh nên cũng không có dịp để chụp ảnh lưu niệm. Chỉ có một tấm chụp cha trong ngày lễ Thành nhân hai mươi tuổi mà nay được dùng làm di ảnh mà thôi. Trong bức ảnh này cha đội mũ sĩ quan, lịch lãm trong trang phục quân đội có gắn huân chương nơi ngực áo.
Nhưng thực ra đây là hình được ghép rất lâu sau khi hay tin cha mất. Tôi phóng lớn khuôn mặt cha trong bức ảnh tập thể chụp chung nhân dịp gì đó, rồi gắn lên bộ quân phục kiêu hùng tấm huân chương nơi ngực áo. Như thế, tôi đã tạo ra di ảnh của cha, trông cha tôi giống như sĩ quan chỉ huy vậy. Tôi muốn nhìn thấy cha trong tư thế của một người lính bình thường chứ không phải theo kiểu cách khoác vào người bộ quân phục mà thực tế chưa từng mặc. Nhưng nếu như không có hình thì chắc vẽ tranh cũng được nhỉ? Người giúp tôi tựu thành ý tưởng này chính là tiên sinh A – người đã trải qua kinh nghiệm bị lưu đày ở Siberia.
Vợ ông ấy và bà nhà tôi cùng tham gia Hội phụ nữ nên quen biết nhau và do đó tôi biết ông A có thể vẽ tranh được. Ngoài việc được bày tranh trong triển lãm mỹ thuật hòa bình ra thì ông A còn dạy vẽ nữa. Trong khi hỏi chuyện về hội họa và những trải nghiệm lưu đày ở Siberia, tôi có ý định
https://thuviensach.vn
nhờ ông vẽ một bức tranh của cha mình. Và tiên sinh đã lắng nghe nguyện vọng của tôi.
“Bức hình nhỏ cũng được, chỉ cần tấm ảnh chụp khuôn mặt của cha anh thôi…”. Nghe tiên sinh A nói vậy, tôi liền đưa tấm hình “di ảnh” của cha. Tiên sinh dựa vào bức hình chụp khuôn mặt, nhớ lại bộ quân phục màu nâu mà mình còn mặc khi là một binh sĩ, rồi vẽ lại hình dáng cha tôi mặc quân phục. Một bức tranh cha trong bộ đồ khinh trang, huân chương nơi ngực được tháo hết ra. Dáng hình người cha trông thân thiện và ấm áp hơi người hơn là trong bức ảnh.
Rồi trong dịp gặp gỡ sau đó, tiên sinh A lại khuyên tôi đi Philippines. Con trai tiên sinh đang là nhân viên công ty thường trú tại Philippines, nên tiên sinh A nói là sẽ nhờ cậu ấy chuẩn bị nơi ăn chốn nghỉ giúp tôi.
“Vậy nên anh Nakamoto này, sao anh không làm một cuộc tế lễ vong linh đi?”
Tế vong linh ngay tại hiện địa. Khi được khuyến nghị như vậy, tôi chợt nhớ đến một quyển tiểu thuyết tôi đọc ngày còn trẻ đã làm xúc động tâm tư mình.
Nhân vật chính là một vị sư trẻ, vốn là một trung sĩ lục quân được cử ra chiến trường Burma[17]. Vì có tài năng âm nhạc, anh ta diễn tấu đàn thụ cầm cho cả đại đội nghe, làm cho tâm hồn những người lính khoan hòa trở lại. Trong một lần thực hiện nhiệm vụ, anh đã bị thương. Tuy giữ được mạng sống nhưng anh lại mất hết đồng đội. Trên đường trở về anh thấy những xác lính Nhật chất đống lên nhau. Đó là những xác chết thối rữa, những di cốt bị gió mưa dập vùi của những người lính Nhật không thể trở về được quê hương. Và anh quyết định mình không thể nào về nước được. Anh phải ở lại để tiếp tục ai điếu cho những đồng bào của mình đã vùi xác nơi đây. Tự nhận lãnh nhiệm vụ đó, anh đoạn tuyệt với đồng đội của mình, quyết định trở thành một vị sư ở Burma. Sau khi quân Nhật đầu hàng, trước
https://thuviensach.vn
đoàn lính Nhật Bản đang trên đường trở về nước có một vị sư với một con vẹt màu xanh. Vị tăng lữ đó chính là người trung sĩ dạo nào. Quyết định không trở về nước mà ở lại Burma để ai điếu cho những đồng bào mình, vị sư trẻ ấy đã tấu một khúc nhạc thụ cầm chứa đầy nỗi niềm tiễn biệt những người chiến hữu về quê hương…
Đó là tác phẩm Cây đàn Miến Điện[18] của tác giả Takeyama Michio. Tôi đã đọc vào thời kỳ vừa đi làm vừa đi học lớp ban đêm, và sau này, tôi cũng xem bộ phim chuyển thể từ tác phẩm ấy. Tuy là một tác phẩm sáng tác hư cấu nhưng cuộc đời của nhân vật chính từ chối trở về nước đã chuyển tải một ý nghĩa sâu sắc đến những linh hồn không thể trở về quê hương, dù chỉ trở về trong bộ xương trắng.
Ký ức về quyển tiểu thuyết ấy trở lại trong tâm tư tôi, khiến cho từ “lễ tế vong linh” mang một âm hưởng vô cùng thiết thực.
Nếu đã không có di cốt trở về, ít nhất mình cũng phải đến tận nơi xem sao. Tuy không biết là thuộc đảo nào nhưng cái chết của cha là ở Hishima, cứ đến Philippines đã…
Vào lúc ý nghĩ này trỗi dậy mạnh mẽ, tôi không mảy may nghi ngờ một chút nào về việc cha mình đã hy sinh ở Philippines cả.
“Gặp lại” người cha
Những giọt nước chảy xuống từ chiếc mũ chiến đấu của cha. Người cha trước mắt tôi có dáng hình y như lúc chia biệt lần cuối cùng ở nhà ga Bichu Kawamo. Người cha đội mũ chiến đấu, mặc quân phục, cứ đứng trước mặt tôi không nói một lời nào. Không, có đứng hay không tôi cũng chẳng biết nữa. Chỉ là bóng hình người cha trước mắt tôi.
Chiếc mũ chiến đấu ướt đẫm, ngả màu đen, nhỏ xuống những giọt nước tí tách.
https://thuviensach.vn
Hình dáng cha tôi trước mắt không âm thanh, không cử động. Tại sao lại đứng nơi đây nhỉ? Không, nơi này là đâu mới được chứ?
Tôi quá sức kinh ngạc vì nghi vấn nên mới cất tiếng:
“Chan à?”
Khoảnh khắc lời nói tôi thốt ra thì hình bóng cha tôi biến mất. Thay vào đó, trước mắt tôi ngập tràn ánh sáng. Bị vây trong ánh sáng ngập tràn, tôi nhận ra mình đang đứng trong bóng tối.
Tôi mở mắt ra. Nhìn lên cái giếng trời trong phòng. Tôi xoay ngang người lại, cử động cổ và biết mình đang nằm ngủ trên giường.
Khoảnh khắc tiếp sau tôi nói như buột miệng:
“Nơi này sáng quá nhỉ? Mình đang ở đâu đây?”
Tôi đang nằm trong phòng bệnh, trong cảnh thập tử nhất sinh. Bác sĩ đang gắng sức trị liệu báo cho vợ tôi là hãy gọi cho những người tôi muốn gặp đi. Người bệnh gần chết ấy đã thở lại và cất tiếng hỏi nơi này là đâu.
Cô y tá kinh hoảng lên mà nói:
“Anh nói chi dzậy?” (Phương ngữ vùng Okayama có nghĩa là “Anh nói gì thế?”)
Tôi đã trở về từ vực sâu nỗi chết. Người đã đưa tôi trở lại thế giới này là cha tôi.
Đó là buổi sáng sớm ngày 15 tháng 4 năm 1982 (năm Chiêu Hòa thứ năm mươi bảy). Tôi chạy xe máy giao báo của một cơ quan đảng chính trị. Khi ấy, tôi là một nhân viên của đảng phái đó, bận rộn bôn tẩu tối ngày tìm kiếm những người mua và đọc báo đảng, rồi chạy vòng vòng lo việc tuyển cử. Sau khi giành chiến thắng với công ty, tôi muốn dùng những kinh
https://thuviensach.vn
nghiệm đạt được trong quá trình tranh đấu ấy áp dụng vào xã hội rộng lớn. Vì thế tôi đã chọn công việc này sau quá trình cân nhắc, suy nghĩ kỹ lưỡng.
Đó là một ngày mưa rơi lất phất. Tôi lái chiếc xe máy, rời khỏi cơ sở đảng và băng ngang qua đường. Lúc đó, một chiếc xe khách chạy tốc độ cao từ phía sau đâm thẳng vào tôi.
Chiếc xe máy bị văng mười mấy mét về phía trước. Lúc ngã xuống tôi nhìn thấy những tờ báo đảng văng ra tứ tung. Sau đó tôi mất ý thức như thể một bóng đèn mất điện.
Mặc dù đầu tôi được mũ bảo hiểm bảo vệ nhưng lại bị ghi-đông xe máy đâm sâu vào bụng. Nội tạng bị xé rách, gãy xương chậu, bị thương nghiêm trọng nơi phần xương cổ chân trái. Lượng máu chảy ra trong bụng đến bốn ngàn cc. Tôi phải chịu phẫu thuật khẩn cấp cắt bỏ hai mét ruột non. Tuy phẫu thuật xong xuôi nhưng vì xuất huyết quá nhiều nên tôi rơi vào tình trạng hết sức nguy kịch. Vị bác sĩ phẫu thuật đã lưu ý với vợ tôi là “nếu có người nào mà muốn cho anh ấy gặp thì…”. Trong tình cảnh sinh tử, chập chờn giữa thế giới này và thế giới khác đó, tôi đã được gặp lại cha mình.
Tôi đã suy nghĩ rất nhiều lần về ý nghĩa của việc cha mình xuất hiện với hình dáng như thế. Hình dáng ướt đầm đìa như thế. Tại sao người cha lại đẫm ướt nhỉ?
Và bất chợt tôi nghĩ điều đó ám chỉ đến hình dáng cuối cùng của cha. Không lẽ là ở “biển”?
Cho đến lúc đó, tôi tưởng tượng rất mơ hồ về hình dáng người cha đánh nhau trong rừng rậm Philippines. Nhưng phải chăng điều đó là hoàn toàn sai lầm? Lẽ nào chan của mình chết ngoài biển chăng?
https://thuviensach.vn
Nhớ lại hình dáng im lặng không nói một lời nào của cha tôi, nghi ngờ càng lúc càng lớn dần. Sau trải nghiệm mãnh liệt thời niên thiếu khi mở chiếc hộp bạch mộc đựng di cốt cha tôi, đây là nghi ngờ căn bản hợp lý cứ âm ỉ cháy trong tôi .
Cái gọi là di cốt chẳng qua chỉ là ít tro than với vài hòn đá nhỏ. Khi kéo cánh cửa giấy nghe tiếng bước chân đi cứ ngỡ là cha về nhà. Có khi tìm sự cầu cứu nơi mộ địa, khi mộng tưởng về những binh sĩ sống trong rừng, những ý nghĩ làm tôi bất an sau cuộc chiến. Đi qua một chặng đường dài như vậy, tôi bắt đầu nguyện rằng mình phải làm một “lễ tế vong ngay hiện địa”.
Tuy vậy, “hiện địa” là ở nơi nào đây?
Trong giấy báo tử gửi về cho gia đình chỉ nói là hướng Hishima. Nếu nghĩ đến cái hộp di cốt toàn tro và đá, liệu rằng nó có nói lên điều gì về phút cuối cùng của cha hay không?
Nếu không biết gì về dấu tích người cha thì không thể làm lễ tế vong linh được. Nếu không tìm ra được vùng đất cuối cùng nơi cha ngã xuống thì không thể nào chấp nhận cái chết đó từ trong thâm tâm. Nếu không tìm ra được nơi đó, sao linh hồn của cha có thể thành Phật được đây?
Sau buổi chia biệt vào mùa thu năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín), cha tôi đã chiến đấu ở đâu và mất ở nơi nào? Để giải đáp những nghi vấn này, tôi bắt đầu quá trình tìm kiếm dài lâu.
“Đã khởi hành đi từ Ujina”
Vì bị trọng thương xé rách nội tạng nên việc dưỡng thương kéo dài đến ba năm. Cuối cùng, đến khi được tự do đi lại, tôi về thăm cố hương vùng Kawamo.
https://thuviensach.vn
Có một người đã từng tham gia quân đội một thời gian và đóng quân gần chỗ cha tôi đang ở làng bên cạnh. Thử hỏi ông ta xem có biết được điều gì chăng? Thế là tôi hỏi anh tôi về chuyện đó.
Có đến mấy làng ven Kawamo bị triệu tập binh sĩ, chỉ riêng làng tôi đã có ba người chết trong cuộc chiến kể cả cha tôi. Nếu tính cả những người hy sinh từ Chiến tranh Trung – Nhật thì số lượng còn nhiều hơn nữa. Trong số những cựu chiến binh sống qua thời chiến tranh, có người đã từng quen biết cha tôi trong quân đội thời điểm đó. Tôi muốn gặp để hỏi rõ ngọn ngành.
Từ nhà tôi đến nhà ông không xa lắm nên tôi vội vàng đến đó hỏi thăm nhưng ông đã lớn tuổi, bệnh nằm liệt giường, không thể trao đổi nhiều được. Cho đến quá nửa thập niên 1980 thì những người lính hai mươi tuổi khi tham gia chiến tranh giờ cũng đã trên sáu mươi cả rồi. Việc điều tra về dấu tích của cha tôi là cuộc chạy đua với thời gian.
Tuy thế, nếu như chỉ hỏi về những đoạn ký ức thôi thì sao nhỉ? Tôi nói lý do mình đến đây và hỏi thăm xem cha tôi đã xuất trận ra nước ngoài từ nơi đâu. Trong giấy báo tử ghi là “hướng Hishima”, vậy nếu đến Hishima thì sẽ xuất phát từ cảng nào.
Cứ nằm nghiêng trên giường, vị ấy nghe câu hỏi của tôi rồi trả lời:
“Từ Ujina đấy. Cậu Mori xuất phát từ Ujina đi về hướng nam. Tôi cũng chỉ biết như thế.”
Từ Ujina cha tôi đã đi đâu nhỉ?
Tôi hỏi thêm vài câu nữa. Biết đâu ông ta nhớ được tên binh đoàn và tên con tàu thì sao? Nhưng ông ta lắc đầu mà thều thào:
“Lên con tàu buôn từ Ujina đấy.”
https://thuviensach.vn
Vậy là hình như cha tôi đã lên một chiếc thuyền chở hàng. Từ Ujina xuất phát về hướng nam vào thời điểm cuối của cuộc chiến. Đó là manh mối đầu tiên của cha mà tôi biết được.
Cảng Ujina, chiếm cứ một góc nhìn ra biển nơi thành phố Hiroshima, là một quân cảng đóng vai trò trọng yếu trong các cuộc chiến tranh Nhật Bản từ thời cận đại. Năm 1894 (năm Minh Trị thứ hai mươi bảy), khi chiến tranh Nhật – Thanh bùng nổ, đại bản doanh và cơ quan “đế quốc nghị hội”[19]từ Tokyo đã dời xuống Hiroshima một thời gian, có nghĩa là nơi đây từng đảm nhiệm vai trò thủ đô lâm thời. Hiroshima gần với tiền tuyến đại lục, là vùng đất và cảng biển quan trọng trong việc thu gom, tích trữ và sản xuất vật tư. Cảng biển quan trọng đó là Ujina. Dòng sông Otagawa chảy qua thành phố Hiroshima đổ vào vùng biển Seto. Nơi cửa biển đó là cảng Ujina, được Bộ Lục quân lắp đặt tuyến đường sắt quân dụng và xây dựng cứ điểm quân sự lớn nhất. Vùng Ujina và cảng Ujina liên tục mộ binh, mỗi lần có chiến tranh lại đảm nhiệm vai trò là vùng đồn trú binh lớn nhất.
Từ cảng Ujina này, cha tôi đã khởi hành đi trên một con thuyền buôn.
Cùng với việc biết được cha tôi đã xuất phát từ cảng Ujina, tôi lại biết được một từ là lạ là “lính pháo binh trên thuyền”. Ai là người đầu tiên nói cho tôi nghe từ này thì tôi không còn nhớ nữa. Tuy nhiên, theo như ký ức thì câu nói đó là “cha tôi vì có tài xạ kích nên được làm lính pháo binh trên thuyền”.
Cha tôi là binh sĩ được lục quân triệu tập. Và xuất hành trên “thuyền” của lục quân?
Để lần tìm dấu tích, tôi điều tra ý nghĩa của những từ quân sự chuyên môn, học nhiều kiến thức về chiến tranh trước nay tôi chưa từng biết.
https://thuviensach.vn
Đối với Nhật Bản trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, việc những vật tư và binh sĩ được vận chuyển đến chiến trường phía Nam và Trung Quốc như thế nào, việc bổ sung cung cấp lương thực và vật tư chiến tranh cho đất nước từ những vùng đất ấy ra sao là vấn đề sinh tử. Nhật Bản vốn là quốc đảo nghèo tài nguyên nên việc vận chuyển tài nguyên trên biển cho đến giờ chính là sợi dây sinh mệnh để duy trì cuộc chiến lẫn cuộc sống người dân theo đúng nghĩa đen.
Đảm đương việc vận chuyển vật tư trong nhiều trường hợp là những tàu vận chuyển và cả thuyền viên được trưng dụng từ dân chúng. Mặc dù lục quân và hải quân cũng có những tàu chiến dùng cho việc chuyên chở, nhưng do số lượng vật tư quá lớn và thiếu thốn binh sĩ vận chuyển nên hải quân và lục quân đã trưng dụng nhiều tàu hàng, tàu chở dầu và thậm chí cả tàu đánh cá vào cuối cuộc chiến tranh để thực thi nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Tuy nhiên, vì thực hiện nhiệm vụ vận chuyển trong thời chiến nên không biết lúc nào sẽ bị máy bay hay tàu ngầm địch tấn công. Thực tế, như sau này thuật lại, số lượng tàu vận chuyển của dân bị đánh chìm trong thời chiến lớn đến mức kinh ngạc. Để tránh đòn tấn công của địch và giữ mạng sống, những tàu vận chuyển vốn phi vũ trang được trang bị thêm mấy khẩu hỏa pháo. Những khẩu pháo được lục quân trang bị cho tàu vận chuyển vốn là pháo dùng trên mặt đất và có “binh sĩ pháo binh” điều khiển súng pháo, đảm đương nhiệm vụ giữ an toàn cho thuyền.
Tác giả Yoshindo Konami – người từng có kinh nghiệm làm lính pháo binh trên thuyền trong cuộc chiến tranh – đã viết về lai lịch của những người lính pháo thuyền đó trong quyển Đoàn thuyền vận chuyển không được hộ vệ như sau:
“Ngày 5 tháng 8 năm Chiêu Hòa thứ mười sáu, binh đoàn pháo cao xạ được thành lập từ Lục quân số hiệu 43 với binh lính chủ yếu là từ Liên đội 1 pháo cao xạ Hamamatsu. Tiếp đó, vào ngày 10 tháng 10 cùng năm,
https://thuviensach.vn
cùng với việc đổi tên là Liên đội 1 pháo cao xạ trên thuyền (thường gọi là bộ đội Akatsuki số 2953) từ Lục quân 62, thì kết hợp với các đội quân biệt phái đến Nam Kinh, Trung Quốc và Liên đội pháo cao xạ trong nước, rồi Liên đội 8 pháo cao xạ Đài Loan để thành Liên đội pháo cao xạ trên thuyền thứ hai (thường gọi là bộ đội Akatsuki số 2954), tất cả tập kết ở Ujina để chuẩn bị khai chiến... (Lược bỏ)… Tuy nhiên, do chiến tuyến mở rộng nên những tuyến đường vận chuyển cũng kéo dài ra, những thiệt hại gây ra do tàu ngầm và máy địch gây ra bắt đầu trầm trọng, vận chuyển hàng hải của Nhật Bản bị uy hiếp đe dọa nên quân đội đã phát lệnh tăng cường lính pháo hạm trên thuyền từ Lục quân số 97 vào ngày 12 tháng 1 năm Chiêu Hòa thứ mười bảy... (Lược bỏ)… Vào ngày 31 tháng 7 cùng năm, đội thứ hai được thành lập từ Lục quân số 52 và Liên đội pháo cao xạ trên thuyền được đổi tên thành Liên đội pháo thuyền. Rồi sau khi bãi bỏ việc biên thành đại đội và tiểu đội độc lập cho đến giờ thì trụ sở chính được lập thành gồm Trung đội pháo cao xạ 13, Trung đội cơ quan cao xạ 3, Trung đội pháo cơ động 3.”
Đây là đơn vị bộ đội được gấp rút thành lập bằng cách lôi kéo nhiều binh lính vốn làm nhiều nhiệm vụ khác nhau để thích ứng với việc mở màn cuộc chiến. Sau đó, do chiến tuyến được mở rộng và chiến cuộc trở nên nghiêm trọng hơn, đơn vị này không ngừng được biên chế lại và tăng cường.
Chuyến về quê cuối cùng của cha tôi là vào mùa thu năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ mười chín). Trước và sau thời gian đó, hình như cha tôi trực thuộc binh đoàn pháo thuyền được biên chế vào tháng 11 cùng năm. Bộ Tư lệnh được đặt tại Ujina, Hiroshima. Theo như giấy báo tử thì cha hy sinh vào ngày 22 tháng 12. Từ đó có thể suy đoán rằng cha tôi đã lên thuyền từ Ujina đi về phía nam trên thuyền buôn, tức là thuyền vận chuyển, với tư cách là một người lính pháo binh từ tháng 11 đến tháng 12.
https://thuviensach.vn
Vậy cha tôi đã lên chiếc thuyền tên gì và đã đi đâu? Rồi bị cuốn vào trận chiến ở khu vực nào nhỉ?
Núi Hijiyama
Nếu hy sinh với tư cách là lính pháo binh trên thuyền thì hãy đến thử nghĩa trang lục quân ở núi Hijiyama xem sao. Một góc nghĩa trang có bia tưởng niệm lính pháo binh trên thuyền đấy. Có người đã chỉ cho tôi như vậy.
Hijiyama là một ngọn núi nhỏ nhìn xuống thành phố Hiroshima. Bây giờ một dải núi này đã trở thành công viên nhưng ngày trước được quản lý như là nghĩa trang của lục quân.
Bắt đầu từ Chiến tranh Tây Nam thời Minh Trị, Chiến tranh Nhật – Thanh, Chiến tranh Nhật – Nga, xuất binh lên Xiberia, sự kiện Nomonhan[20], Chiến tranh Nhật – Trung, Chiến tranh Thái Bình Dương, rất nhiều chiến sĩ lục quân đã bị thương tích hay ngã bệnh. Những binh sĩ đó được đưa về Hiroshima, được bệnh viện lục quân và bệnh viện Eiju Hiroshima chữa trị. Tuy vậy, có rất nhiều binh sĩ không thể chữa được và chết tại Hiroshima. Những di thể đó thường không được đưa về cố hương mà được chôn cất ngay tại Hiroshima. Chỗ đất mai táng đó chính là nghĩa trang lục quân ở núi Hijiyama này.
Tuy nhiên, khi Chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu, Hiroshima bị không kích. Vì là cứ điểm quân sự nên cần phải xây dựng một trận địa pháo ngay tại núi Hijiyama. Vì vậy mà có kế hoạch phá nghĩa trang dành xây trận địa. Những di cốt đào lên được thu gom lại vào “Nạp cốt đường” (phòng chứa xương tạm thời). Nhưng đang trong quá trình san ủi thì Hiroshima bị thả bom nguyên tử, rồi sau đó vì thua trận nên các công trình bị bỏ dở dang. Người ta nói sau đó những di cốt và bia đá nơi cả một dải nghĩa trang cứ bị để mặc ngổn ngang như vậy, trong cảnh bị bom nguyên tử tàn phá và hỗn loạn trong thời kỳ chiếm đóng.
https://thuviensach.vn
Do dân chúng không nỡ nào nhìn thảm cảnh như vậy nên nghĩa trang đã được sửa sang lại vào năm 1955 (năm Chiêu Hòa thứ ba mươi), sau mười năm kể từ ngày bại trận. Những binh sĩ ngủ yên nơi vùng Hiroshima này là những người đã gánh chịu phần lịch sử chiến tranh của Nhật Bản cận đại. Tuy ngủ yên dưới mộ sâu rồi nhưng họ vẫn phải chứng kiến thảm họa nguyên tử kinh hoàng và cả cuộc hỗn loạn sau khi Nhật Bản thua trận nữa.
Tôi đã đến thăm bia tưởng niệm các chiến sĩ pháo binh trên thuyền ở núi Hijiyama này. Khi tôi đến núi Hijiyama, tầm nhìn chợt mở rộng không giới hạn. Tôi có thể thấy trọn vẹn thành phố Hiroshima trải dài và cảng Ujina thấp thoáng phía xa, có những đoàn thuyền vận chuyển chất đầy những đội binh sĩ pháo binh đang lần lượt rời bến. Những binh sĩ không hẹn ngày về chắc đã nhìn lại thành phố lần cuối cùng, bến cảng của quê hương. Trên đỉnh đồi nhìn xuống cảng, vừa thoáng nhìn là biết ngay có một bia tưởng niệm. Tấm bia đá có chiều ngang và chiều dài tầm hai tấm chiếu tatami; trên bia đá đó, bên phải có để tượng Quan Âm, bên trái là mỏ neo lớn. Trên đỉnh núi thưa thớt người qua lại, tôi đứng đó tắm mình trong làn gió biển đang lặng lẽ thổi đến. Trên tấm bia có viết hàng chữ lớn “Bia tưởng niệm”, bên dưới có ghi “Bia tưởng niệm lính pháo binh trên thuyền”. Khi tôi tiến lại gần thì thấy bia đá có khắc thêm dòng chữ “Linh hồn các thuyền viên chiến hữu hãy ngủ yên”. Tôi vòng ra mặt sau thấy có bia văn được khắc, nói lên lý do dựng bia tưởng niệm này.
Bia văn
“Khi trước, trong lục quân Nhật Bản có đơn vị bộ đội pháo binh trên thuyền, đã đồng tâm hiệp lực cùng với các thuyền viên trên tàu chuyển hàng trong Chiến tranh Thái Bình Dương, đã xung phong ra tuyến đầu chiến đấu mãnh liệt nơi vùng biển lớn nhưng bị tàu ngầm và phi cơ địch tấn công mà chìm xuống biển cùng con thuyền có đến mấy vạn người. Ngoài ra, để chuẩn bị cho việc chiến đấu mà một bộ phận lính pháo binh tại Hijima (Philippines) sau này trong trận chiến Luzon đã phải vùi thây
https://thuviensach.vn
cùng cây cỏ. Nay, để tưởng niệm lại thời đó, lập bia để bày tỏ sự kính cẩn trước lòng trung thành của các chiến hữu thuyền viên đã mất, và cầu nguyện cho những linh hồn đang yên nghỉ nơi những vùng đất chưa biết tên, nơi vùng biển xa sâu thẳm không có một tấm mộ bia, đồng thời ghi nhận công lao bất diệt đó.”
Việc xây dựng bia tưởng niệm dành cho bộ đội pháo binh trên thuyền là vào năm 1977 (năm Chiêu Hòa thứ năm mươi hai), tôi đi vòng quanh thấy có ghi tên “Hội bảo vệ bia tưởng niệm bộ đội pháo binh trên thuyền” ở mặt bên. Đó là tên của tổ chức bảo vệ bia tưởng niệm này, trên đó còn ghi địa chỉ liên lạc nữa.
“Mình thử đi đến đây xem sao”, ngay lập tức tôi quyết ý như vậy! Trong số nhiều đơn vị quân đội như thế mà cũng có những người xây bia tưởng niệm cho đơn vị pháo binh trên thuyền và ra sức giữ gìn nữa. Có lẽ nơi đó sẽ có những người lính pháo binh còn sống và mình có thể hỏi thăm được nhiều thông tin chăng? Tôi nghĩ rằng nếu hỏi thăm, biết đâu mình sẽ biết được cha mình sau khi xuất phát từ Ujina đã đi về đâu.
Tôi đến thăm anh K làm trưởng văn phòng của Hiệp hội bảo vệ tại thành phố Hiroshima. Tôi trình bày lý do mình đến thăm, sau khi nói tên cha tôi nhờ anh tìm tung tích, rồi kể lại tường tận sự việc đã xảy ra.
Dĩ nhiên thông tin tôi trình bày là hết sức giới hạn. Chỉ có tên cha tôi, thời gian triệu tập, thời gian quay về đơn vị sau lần về quê cuối cùng, ngày giờ nhận giấy báo tử, và nội dung giấy báo tử là hy sinh ở vùng Hishima cùng với ngày giờ hy sinh. Tôi nói thêm câu dẫn chứng của người bạn chiến đấu với cha tôi nơi quê nhà rằng “đã xuất phát đi từ Ujina” và dường như cha tôi phục vụ với vai trò là một lính pháo binh trên thuyền.
Chỉ với chừng đó thông tin liệu có thể đi đến đâu trong việc lần tìm dấu tích của một người lính pháo binh nhỉ? Tự bản thân tôi cũng cảm thấy mơ hồ bất an, nhưng ít nhất cũng có khả năng biết được tên của mấy con
https://thuviensach.vn
thuyền mà cha tôi đã lên chăng? Tôi đang muốn biết thêm dù chỉ chút ít manh mối mà thôi và cảm thấy mình như đang cầu nguyện vậy.
Anh K lần giở bó tư liệu trong tay và nói với tôi:
“Cha anh dường như mất ở vùng Đông Dương thuộc Pháp.” “Đông Dương ư?”
Vùng Đông Dương thuộc lãnh địa của Pháp. Tức là Việt Nam bây giờ. Trong quá trình tìm kiếm dấu tích của cha tôi, đây là lần đầu tiên tìm ra được một địa danh. Sau thời gian nhận giấy báo tử, hôm nay tôi mới nghe được tên của một địa danh hoàn toàn khác với Philippines mà tôi đã tin chắc từ hồi sau chiến tranh đến giờ. Và tôi rơi vào tình cảnh bán tín bán nghi.
“Dường như cha anh thuộc vào Liên đội 2 của lính pháo binh trên thuyền. Theo như ghi chép ở đây thì cha anh hy sinh ngoài vịnh Đông Dương vào ngày 22 tháng 12 năm Chiêu Hòa thứ mười chín.”
Số tư liệu mà anh K có được trong tay để có thể nói ra được đại khái như thế thì chúng được viết như thế nào nhỉ?
Khi tôi hỏi là liệu mình có thể có được một bản sao không thì anh K nói với vẻ xin lỗi:
“Thực sự cũng muốn đưa cho anh nhưng vì đây là thông tin cá nhân nên chúng tôi muốn anh hỏi qua văn phòng một cách chính thức. Ủy ban nhân dân thành phố Okayama chỗ anh Nakamoto chắc chắn sẽ giúp đỡ. Anh hãy đến đó nhờ hỏi xem sao. Sau khi có sự xác nhận, chúng tôi sẽ gửi bản sao lưu về đó.”
Trở về Okayama, tôi không quản thời gian lên bộ phận giúp đỡ phúc lợi xã hội của thành phố Okayama. Tôi nêu thỉnh cầu của mình với người
https://thuviensach.vn
phụ trách, nhờ họ làm trung gian với Hiệp hội bảo vệ kia.
Từ văn phòng phúc lợi xã hội xác nhận với Hiệp hội bảo vệ, rồi tư liệu từ Hiệp hội bảo vệ gửi về văn phòng phúc lợi xã hội. Tiếp đó, Ủy ban nhân dân lại gửi về cho tôi. Thế là lần đầu tiên tôi được cầm trong tay tư liệu liên quan đến sự hy sinh của cha tôi mà Hiệp hội bảo vệ đang bảo quản.
Trên một tờ tư liệu viết đọc có một tờ ghi chép viết tay: “Lúc 5 giờ 50 phút sáng ngày 22 tháng 12 năm Chiêu Hòa thứ mười chín, tàu Otowasan Maru trúng ngư lôi, bị chìm ở vịnh Batangan Đông Dương, phía đông nam tám mươi ki-lô-mét”.
Tiếp đó là “Danh sách lính pháo binh Liên đội 2 hy sinh” gồm có 33 người cùng với tên nơi xuất thân. Tôi lần tìm theo tên và ngưng lại ở cái tên người thứ tám.
“Nakamoto Mori (Okayama)”
Đó là tên cha tôi.
Giấy chứng nhận chiến tử
Trong số những tư liệu mà anh K ở Hiệp hội bảo vệ đã gửi cho tôi qua văn phòng có thêm một phong thư. Trong đó có một bản văn thư đã cũ, tiêu đề là “Giấy chứng nhận chiến tử”, và một bản báo cáo tình hình thời đó do thuyền trưởng của Liên đội 2 bộ đội pháo binh trên thuyền viết lại.
Đây là một bản báo cáo bằng ngôn ngữ tiền chiến, được viết pha lẫn Hán tự và chữ Hiragana. Tôi lật qua lật lại đọc như nuốt từng con chữ.
Trong giấy xác nhận có viết cha tôi làm nhiệm vụ canh chừng tàu ngầm địch. Bị trúng ngư lôi trên biển lúc trời gần sáng. Chắc hẳn lúc cuối cùng cha tôi đã thấy đường vết tích màu trắng của ngư lôi chăng? Rồi cùng lúc khi ngư lôi chạm vào thì con thuyền bốc cháy. Không phải là không có
https://thuviensach.vn
người nổi trên biển nhờ phao hay các dụng cụ cứu sinh, nhưng riêng cha tôi thì sau khi bị chìm, việc sinh tử không rõ.
Ngày 22 tháng 12 năm Chiêu Hòa thứ mười chín. Đó là ngày sinh nhật 37 tuổi của cha tôi. Trong cái ngày đáng lẽ phải được chúc mừng này, cha tôi lại vừa bị bốc cháy, vừa phải chìm xuống biển Nam Hải. Nghĩ đến sự thiệt thòi đó của cha tôi, hơi thở của tôi trở nên loạn nhịp.
Một lúc lâu sau khi đưa tờ báo cáo ra trước mặt, trong tôi cứ trào lên những ý nghĩ phức tạp. Có thể nói, thông qua bản báo cáo này, lần đầu tiên tôi biết được về quang cảnh cuối cùng của cha tôi. Tôi thầm nghĩ, “Cuối cùng mình đã hiểu”. Nhưng cùng với ý nghĩ đó tôi lại nghĩ đến hơn bốn mươi năm đã uổng phí cho đến tận lúc này.
“Giấy xác nhận chiến tử” được một vị thượng cấp lúc bấy giờ viết vào tháng 6 năm 1945 (năm Chiêu Hòa thứ hai mươi), khoảng hai tháng trước khi giấy báo tử giao đến nhà tôi. Thời điểm đó là lúc quân đội đã “xác nhận” tình trạng hy sinh của cha tôi.
Không chỉ có như thế, trong giấy báo tử giao cho nhà chúng tôi còn ghi một địa danh khác với sự thật là “hướng Hishima”, rồi đến sau chiến tranh cũng không có một thông báo gửi thêm để cải chính gì cả. Việc thông tin quân sự được bảo mật nghiêm ngặt trong thời chiến, những cái chết khi chiến tranh leo thang, giấy báo tử trong cảnh hỗn loạn thời hậu chiến… đã làm cho sự thật bị chôn vùi trong suốt bốn mươi năm, không truyền đạt chính xác được đến những gia đình có người thân chết vì chiến tranh. Cuối cùng là sao đây chứ?
Một quốc gia đẩy người dân ra chiến trường, bắt họ chết ở một nơi xa lạ. Thái độ của quốc gia đó – để mặc sự việc trong suốt bốn mươi năm trời – chẳng phải là quá vô trách nhiệm hay sao?
https://thuviensach.vn
Một người cha vốn là trụ cột của gia đình tám người, bị đẩy ra chiến trường theo mệnh lệnh quốc gia, đón khoảnh khắc cuối cùng nơi đất khách quê người. Sau đó, tại căn nhà quê hương nơi đã mất người cha lại đến lượt người mẹ ngã xuống vì kiệt sức, đám cô nhi phải chịu đựng biết bao lao khổ nhọc nhằn và lao động đến kiệt sức. Khởi đầu của tất cả chuyện đó bắt đầu từ cuộc chiến tranh nơi quê hương, nơi quốc gia phát lệnh tổng động viên dân thường thành chiến sĩ. Quốc gia đó lại không đưa thông tin đúng về cho gia đình người thân, chỉ gửi về một ít than và vài viên đá rồi cứ để mặc vậy trong suốt bốn mươi năm ròng rã.
Nếu không vì cảm động trước hình ảnh người cha xuất hiện trong giấc mơ để bắt đầu cuộc điều tra, thì tôi sẽ tin chắc cha tôi đã hy sinh ở Philippines và chắc chắn sẽ sang nơi đó để làm lễ tế vong linh rồi. Và nếu như không có lời nói của người lính già nơi thôn làng kế bên, cùng với hoạt động của những người giữ gìn bia tưởng niệm, thì chắc chắn tôi không thể nào tìm ra được nơi chốn xác thực trong khoảnh khắc cuối cùng của cha tôi. Khi nghĩ đến điều đó, tôi nhận ra rằng chắc cũng có nhiều gia đình có người thân hy sinh trong chiến tranh không biết được chỗ hy sinh thật sự của người thân, và tiếp tục tin rằng nơi đó là một vùng nào hoàn toàn khác.
Tuy tôi còn nhờ vào lời chứng nhận, còn được đối chiếu tư liệu để tìm ra đúng vị trí cha mình hy sinh, nhưng tôi cũng đã phải mất nhiều năm trời. Nếu như muốn tìm hiểu kỹ lưỡng thêm thì chắc cũng đã có nhiều người về bên kia thế giới rồi. Nếu không có sự lặp đi lặp lại của vài sự việc ngẫu nhiên, thì khả năng tôi không tìm thấy được nơi hy sinh thực sự của cha mình rất cao.
Nếu đứa cô nhi vốn đã chịu nhiều khổ sở vì chiến tranh của đất nước mà không làm tới mức này, thì ngay cả việc cha mình hy sinh nơi nào cũng không thể biết. Rồi mười mấy năm sau cũng chẳng thể nào đến tận đó mà thắp nhang, dâng hoa an ủi vong linh người đã khuất. Và còn hơn thế nữa, chẳng có cơ hội nào để thừa nhận rõ ràng về cái chết của cha mình.
https://thuviensach.vn
Đó là một thực tế về cách xử lý sau chiến tranh của Nhật Bản, đó là thực tế về việc gánh vác trách nhiệm của quốc gia đối với những người dân bị cưỡng bách phải hy sinh.
Chuyến hàng hải cuối cùng
Theo ghi chép mà anh K đã tóm tắt lại, tôi đã viết tên và địa chỉ liên lạc của người đã sống sót kỳ diệu trong cùng binh đoàn đó. Ông cùng lên thuyền với cha tôi, là một trong tám người lính pháo binh được cứu sống. Nếu liên lạc với ông, chắc chắn tôi sẽ hiểu tường tận về những giây phút cuối cùng cũng như những chuyện lúc sinh thời của cha mình. Nghĩ như vậy nên ngay lập tức tôi gọi điện đến nhà vị ấy.
Khi đầu dây bên kia bắt máy, tôi tự giới thiệu về mình, rồi nói việc cần nhờ vả. Ngay lập tức, gia đình bên kia nói với vẻ như xin lỗi:
“Thật đáng tiếc quá, cha tôi năm ngoái đã vãng sinh cực lạc rồi ạ. Xin thứ lỗi vì không đáp lại được sự kỳ vọng của ông.”
Tôi cảm tạ, gác máy rồi thêm một lần nữa nghĩ về bao nhiêu thời gian đã trôi qua từ cái chết của cha mình.
Những người có thể biết được chút ít về giây phút cuối cùng của cha tôi bây giờ đang sống ở nơi nào nhỉ? Liệu còn ai biết rõ về chuyến đi cuối cùng của Liên đội 2 pháo binh trên thuyền của cha tôi không? Trăn trở trong lòng những suy nghĩ như vậy khiến tôi nhớ lại lời anh K khuyến khích tôi tham gia lễ tế vong linh của liên đội pháo binh trên thuyền.
Theo như lời anh K thì cứ mỗi năm vào mùa thu, lễ tế vong linh những người đã mất của bộ đội pháo binh trên thuyền sẽ được cử hành tại Hiroshima. Lần đầu tiên lễ này được tổ chức là vào tháng 11 năm 1977 (năm Chiêu Hòa thứ năm mươi hai). Lúc đó, nghi lễ khánh thành bia kỷ niệm nơi nghĩa trang lục quân núi Hijiyama cũng được tiến hành. “Ông Nakamoto nhất định đến nhé”, anh K nói với tôi như vậy.
https://thuviensach.vn
Bây giờ khi đã biết được cha mình là một người lính pháo binh trên thuyền thì việc tham dự lễ tế với tư cách gia đình người thân là chuyện phải làm. Tôi nghĩ rằng nếu nói chuyện với các vị còn sống, cũng như các gia đình thân thích khác tham gia lễ tế, thì biết đâu chừng mình sẽ biết được thông tin về chuyến đi biển cuối cùng của cha. Cho nên, vào mùa thu sau một năm từ khi gặp anh K, tôi đã đến tham dự lễ tế.
Phần lớn những người tham gia thường ngủ lại một đêm ở nơi gần cảng Ujina trong thành phố Hiroshima. Lần nào trao đổi với các vị ấy tôi cũng đều nói mới vừa biết được cha mình thuộc Liên đội 2 của đội pháo binh trên thuyền. Sau khi lắng nghe chuyện của tôi, mỗi vị lại chỉ cho tôi những điều mình biết.
Có vị nghe đến tên “Liên đội 2” và “tàu Otowasan Maru” liền nhớ ra rằng có bút tích của gia đình người thân cùng lên tàu Otowasan Maru đăng trên tạp chí của hội hay gì đó.
Hôm sau ông đưa cho tôi đọc bản sao chép bức thư tay. Đây là bức thư của một người vợ có chồng làm lính pháo binh trên thuyền đã hy sinh. Người chồng nhận lệnh nhập ngũ không bao lâu sau khi có con gái đầu lòng. Và cũng giống y như trường hợp của tôi, người vợ này không biết chút gì về giây phút cuối cùng của chồng mình trong suốt một thời gian dài sau chiến tranh và cũng đang tìm cách để biết được điều đó.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, trong khi chúng tôi vẫn chờ đợi cha mình trở về thì lại nhận được giấy báo tử. Nhưng thời điểm cha tôi hy sinh còn hơn nửa năm nữa thì chiến tranh mới kết thúc. Vậy mà quân sử của lính pháo binh hoàn toàn không nhắc gì đến những phút giây cuối cùng ấy…
Trường hợp của người phụ nữ này giống y hệt như tôi vậy. Bà tham dự lễ tế vong linh, đọc những tờ tạp chí của Hội cựu chiến binh pháo thuyền Liên đội 2 do cựu chiến binh thành lập và tạp chí của Hội bảo vệ bia kỷ
https://thuviensach.vn
niệm, hỏi chuyện với những hội viên để tìm hiểu sáng tỏ về cái chết của chồng mình. Chiến tranh đã kéo những người lính rời xa gia đình, rồi đến khi kết thúc lại ngăn cản sự gặp gỡ của những linh hồn với gia đình trong suốt một thời gian dài. Việc chịu đựng đau khổ với những ý nghĩ không thể thỏa mãn đó đâu phải chỉ riêng mình tôi.
Vị cho tôi đọc bức thư tay đó nói với tôi:
“Nếu anh muốn biết về đội tàu chuyển hàng trong thời chiến thì có hẳn cả một quyển sách tường thuật chi tiết đấy. Anh đọc quyển đó sẽ rất hay.”
Người viết quyển sách này là ông Shinshichiro Komamiya, người đóng vai trò then chốt trong việc lập bia tưởng niệm, đồng thời là đại biểu Hội cựu chiến binh. Tham chiếu nhiều nguồn tư liệu lịch sử chiến tranh khác nhau, dựa trên lời kể của nhân chứng, ông Komamiya đã tóm tắt những ghi chép rõ ràng của mình về đoàn tàu vận chuyển trong chiến tranh và liên đội pháo binh trên thuyền thành một quyển sách là Lịch sử đoàn tàu vận chuyển trong thời chiến. Tôi vội vàng tìm mua ngay.
Trong Chiến tranh Thái Bình Dương – cuộc chiến mà khắp nơi đều trở thành chiến trường, việc bổ sung binh lính và vật tư ra vùng chiến địa và việc vận chuyển tài nguyên về đất nước là vấn đề then chốt sống còn với Nhật Bản. Điều này cũng có ý nghĩa là đối với địch quân đồng minh, việc công kích đánh phá đoàn tàu vận chuyển của Nhật Bản là vấn đề quan trọng về mặt chiến lược.
Dầu hỏa được sản xuất ở đảo Borneo và đảo Sumatra ngay sau khi mở màn cuộc chiến đã liên tục được chuyển về Nhật Bản. Bauxite làm nguyên liệu sản xuất ra nhôm cũng được chuyển từ bán đảo Mã Lai và vùng xung quanh đảo Java về Nhật Bản không ngừng. Khi những thiết bị tinh chế được hoàn thiện thì xăng, dầu thô và các thanh nhôm có thể xuất đi được. Con đường vận chuyển từ Đông Nam Á đến Nhật Bản đã trở thành một con
https://thuviensach.vn
đường lớn mang tính chiến lược. Trên con đường huyết mạch này, quân Mỹ với số lượng tàu ngầm áp đảo mỗi khi phát hiện thấy đoàn tàu vận chuyển lại ập vào tấn công như bầy sói. Những tàu vận chuyển của dân thường so với tàu chiến thì chậm chạp hơn, cho nên hải quân Nhật Bản mới phái thêm một số tàu chiến trang bị ít ỏi đi theo hộ vệ nhưng cũng không đủ. Do bị chiếm mất quyền áp chế trên biển và trên không nên đoàn tàu vận chuyển đã trở thành miếng mồi ngon cho đám tàu ngầm.
Từ khi cuộc chiến mở màn, quân đồng minh đã bắt đầu tấn công đoàn tàu vận chuyển. Nhưng từ sau khi thất bại trong trận Hải chiến Midway vào năm 1942 (năm Chiêu Hòa thứ mười bảy), do mất quyền kiểm soát trên biển và trên không ở các vùng Thái Bình Dương nên thiệt hại của những con tàu vận chuyển được trưng dụng tăng vọt hẳn lên. Theo như quyển sách Lịch sử đoàn tàu vận chuyển trong thời chiến thì hơn 2.400 con tàu với tổng trọng lượng 8 triệu tấn đã bị mất mát, còn theo như Bảo tàng Tư liệu thuyền viên và các thuyền bị đánh chìm trong thời chiến thì tổng thể các tàu của quân và của dân – từ tàu hơi nước, thuyền buồm đến tàu đánh cá – thì có đến 7240 chiếc bị đánh chìm và trên 60 ngàn thuyền viên hy sinh.
“Như vậy, tàu vận chuyển đã trở thành sản phẩm tiêu hao, việc vận chuyển đã trở thành nhiệm vụ sinh tử, một khi mệnh lệnh được ban ra là vừa trông mong vào tỷ lệ thành công ít ỏi, vừa hướng ra biển không mong ngày về.” (Komamiya, sách đã dẫn)
Qua nhiều bộ phim và ghi chép chiến tranh, tình hình của các trận hải chiến lớn trong thời gian chiến tranh được khắc họa rõ ràng. Ngay khoảnh khắc cuối cùng của chiến hạm lừng danh Yamato (Đại Hòa) cũng được tái hiện lại đầy vẻ bi tráng. Tuy nhiên, thông tin việc trưng dụng những thương thuyền của dân mà chỉ một đòn công kích nhỏ cũng có thể bị đánh chìm cùng những sinh mạng thuyền viên trên đó khó có thể nói là rõ ràng.
Tàu Otowasan Maru là tàu chở dầu được xưởng đóng tàu Mitsui đóng vào năm 1936, chiều dài 156 mét, chiều rộng 20 mét, tốc độ tối đa là 18,8
https://thuviensach.vn
hải lý một giờ, tổng số lượng hàng hóa là 9204 tấn.
Chiếc tàu này trước chiến tranh chuyên dùng để nhập khẩu dầu từ Nam Mỹ. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1941, khi cập cảng Los Angeles người ta đã không cho chất dầu lên tàu. Do lệnh cấm xuất dầu cho Nhật Bản được thực thi nên tàu Otowasan Maru trống không quay về cảng, và đến cuối năm thì bị lục quân trưng dụng. Sau đó, trong chiến tranh, tàu nhận nhiệm vụ vận chuyển dầu từ Singapore về Nhật Bản. Chuyến hàng hải cuối cùng, tàu chất đầy xăng dùng cho máy bay.
Vào lúc 16 giờ ngày 12 tháng 12 năm 1944, năm chiếc tàu chở dầu Otowasan Maru, Omurosan Maru, Arita Maru, Parenban Maru, Hashidate Maru cùng với bốn chiếc tàu quân dụng nhỏ hộ vệ xuất bến Singapore. Đoàn tàu cắt ngang Đài Loan, hướng về phía bắc hai mươi lăm ki-lô-mét trong vùng biển Đông Dương. Đoàn tàu cố gắng đi men theo sát bán đảo Đông Dương. Chắc là do suy nghĩ đi như vậy để tránh khả năng bị tàu ngầm tập kích từ phía bờ, còn lại chỉ tập trung cảnh giới phía biển thôi chăng?
Ngày 17, đoàn tàu tiến vào vịnh Cam Ranh và đến ngày 19 lại tiếp tục khởi hành. Nghe nói sau đó cùng với việc gặp oanh tạc cơ của phía địch thì đoàn tàu cũng phát hiện ra kính tiềm vọng của tàu ngầm nữa. Dù gì đi nữa thì vừa ra khỏi vịnh Cam Ranh là đoàn tàu đã bị địch quân theo dõi rồi.
“Ngày 22, khoảng 15°02' độ vĩ Bắc, 109°08' kinh độ Đông (cách vịnh Batangan về phía đông nam tám mươi ki-lô-mét), đoàn tàu chịu sự công kích dữ dội. Tàu số một – Otowasan Maru – chịu quả ngư lôi đầu tiên. Quả ngư lôi phát nổ phía bên trái tàu, trúng vào bộ phận phía đuôi tàu và chính giữa thân tàu, khiến tàu bốc cháy, cùng lúc xăng máy bay cũng bắt lửa theo. Con tàu trở thành một khối lửa, nghiêng dần về phía bên trái rồi chìm xuống từ phía đuôi tàu.” (Komamiya, sách đã dẫn)
https://thuviensach.vn
Khoảng một phút sau đó là tàu Arita Maru rồi một tiếng sau là tàu Omurosan Maru đều bị trúng ngư lôi và chìm xuống biển. Hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển chỉ có hai chiếc tàu Hashidate Maru đến được cảng Cao Hùng, Đài Loan và tàu Parenban Maru đến được Mutsurejima ở thành phố Shimonoseki mà thôi.
Người cha đã không quay trở về gia đình. Người cha đã biến mất chỉ để lại hơi ấm từ bàn tay thô ráp nắm chặt lấy bàn tay đứa con và bóng hình khi vẫy không ngừng chiếc mũ chiến binh.
Tôi thề với lòng mình như một chuyện đương nhiên.
“Mình phải đi Việt Nam!”
Mình phải đi Việt Nam, mảnh đất nơi người cha ngã xuống, phải làm lễ tế vong linh. Sau khi quyết ý như vậy, người tôi ngập tràn một niềm cảm khái kỳ lạ.
Tấm hình trên tạp chí chụp tôi trong những tháng ngày tranh đấu với công ty được đặt song hành với tấm hình Việt Nam đang giữa cuộc Kháng chiến chống Mỹ. Tôi nhớ khi ấy mình đã có một cảm giác gần gũi với quốc gia Đông Nam Á này. Sau quá trình tìm kiếm, chính đất nước này lại là nơi an nghỉ cuối cùng của cha tôi.
Sau cuộc chiến tranh, Việt Nam giờ như thế nào nhỉ? Trong Chiến tranh Việt Nam, Nhật Bản đã chi viện cho Mỹ. Từ một đất nước Nhật Bản như vậy, giờ làm sao mà sang thăm Việt Nam đây, làm sao có thể ra được đến nơi cha hy sinh nhỉ? Để có thể làm được lễ tế vong linh tại hiện địa nơi cha tử trận, tôi một lần nữa phải dò dẫm lại từ đầu.
[12] Zassou no ki (雑草の記), một quyển sách khác của chính tác giả Nakamoto Teruo, được Nhà xuất bản Quang Dương (光陽出版社) ấn hành.
https://thuviensach.vn
[13] Nguyên văn là “Khoảng giữa “gia tộc” và “di tộc” (家族と遺族の間で)”. “Di tộc (遺 族)” là những người thân hay gia đình còn lại sau khi một người đã chết đi (死者の後にのこった家 族. 親族) (Theo định nghĩa của từ điển Quảng Từ Uyển (広辞苑)).
[14] Ngày bỉ ngạn: ngày ra viếng mộ người thân vào ngày xuân phân (tháng 3) và thu phân (tháng 9).
[15] Yokoi Shoichi 横井庄一 (1915 – 1997), lẩn trốn trên đảo Guam suốt hai mươi tám năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trở thành lính Nhật thứ hai sau cùng đầu hàng sau cuộc chiến, trước Onoda Hiro.
[16] Onoda Hiroo 小野田寛郎 (1922 – 2014), ẩn náu ba mươi năm tại Philippines, là người lính Nhật Bản cuối cùng đầu hàng năm 1974.
[17] Tên gọi cũ của nước Myanmar ngày nay.
[18] Tác phẩm Cây đàn Miến Điện (Biruma no tategoto ビルマの竪琴) của tác giả Takeyama Michio đã được dịch giả Đỗ Khánh Hoan dịch ra Việt ngữ năm 1972, Nhà xuất bản Sáng tạo Sài Gòn. Tác phẩm này được đạo diễn Kon Ichikawa chuyển thể thành phim đen trắng vào năm 1956 và được rất nhiều người yêu thích.
[19] Đế quốc nghị hội 帝国議会 (ていこくぎかい): Cơ quan tham tán về các hạng mục lập pháp, tài chính… tham gia vào hoạt động lập pháp của Thiên Hoàng theo Hiến pháp Minh Trị. Cơ quan này được hình thành từ Thượng viện và Hạ viện được thành lập vào năm 1890 (năm Minh Trị thứ hai mươi ba).
[20] Sự kiện Nomonhan (ノモンハン事件 Nomonhan jiken): Chiến dịch Khalkhyn Gol, trận giao tranh nhưng không tuyên bố trong Chiến tranh biên giới Xô – Nhật năm 1939. Tên trận đánh được đặt theo tên dòng sông Khalkhyn Gol chảy qua chiến trường. Nomonhan là tên một ngôi làng gần biên giới giữa Mông Cổ và Mãn Châu quốc.
https://thuviensach.vn
Chương 3
HÀNH TRÌNH LÀM LỄ TẾ VONG LINH Ở VIỆT NAM
Vùng biển Đông
Ngày 18 tháng 2 năm 2001 (năm Bình Thành thứ mười ba).
Chúng tôi cho ô-tô chạy khá lâu từ trung tâm tỉnh Quảng Ngãi đến gần vùng bờ biển Batangan, chúng tôi tìm thấy một ngôi nhà nhỏ, có một cụ già đang đi lại trong hiên nhà. Cho xe dừng lại, tôi đi theo người thông dịch viên tiến đến bên ông lão.
Ngôi nhà nhỏ nằm nhìn ra bãi cát, có treo một chiếc võng. Cụ già đứng kế bên chiếc võng có lẽ đã tám mươi tuổi. Cụ đang ru đứa cháu nhỏ. Người thông dịch bắt chuyện với cụ già, giải thích về chuyến đi của người lữ hành từ Nhật Bản xa xôi đã đặt chân đến nơi này. Trong cuộc chiến cách đây hơn năm mươi năm về trước, cha của người Nhật này đã hy sinh ở vùng vịnh do chìm tàu, nay ông ấy mong muốn được cúng bái cha mình nên đã đến vùng đất này.
Sau khi nghe người thông dịch nói chuyện, cụ già bắt đầu nói về chuyện gì đó. Cụ chỉ tay về phía biển. Ngón tay đen đủi gầy gò. Người thông dịch nhiều lần gật đầu và rồi quay về nhìn tôi:
“Ông nói ngày xưa dầu chảy loang trên vùng biển này đấy.”
Cụ kể lại ký ức nhạt nhòa về thời chiến tranh. Dường như cũng có nói về việc tàu bị đắm chìm ở vùng biển. Thông qua người thông dịch, từng câu một, đã nói: Vào thời chiến tranh, dầu đã chảy tràn đến vùng biển này,
https://thuviensach.vn