🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Mật Mã Do Thái - Perry Stone Ebooks Nhóm Zalo MỤC LỤC Tựa Bảng kí hiệu các sách Kinh Thánh xuất hiện trong sách Cựu Ước Tân Ước Lời mở đầu Ghi chú cho người đọc §1. SỐNG ĐÚNG MỰC Mật mã 1: Người Do Thái sùng đạo hiểu và sống theo lề luật của Chúa trong Kinh Torah Rời đi để đến miền đất hứa Sự mặc khải điều luật của Thiên Chúa Bạn biết được bao nhiêu? Bộ luật hiến tế Bộ luật thánh lễ Bộ luật điều răn Tại sao lại là người Do Thái? Thành công bất ngờ của người Do Thái Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Điều người Kitô hữu nên biết §2. NHỮNG NGÀY LỄ TRỌNG VÀ NGÀY LỄ ĐẶC BIỆT CHO GIA ĐÌNH Mật mã 2: Thiên Chúa của người Do Thái mong muốn có lễ chúc tụng Các bữa tiệc Không làm việc xác Lễ hội ánh sáng Lễ Hanukkah ngày nay Lý do tổ chức các bữa tiệc Thứ nhất: Nhắc nhở về lời chúc lành của Thiên Chúa Thứ hai: Những ngày nghỉ Thứ ba: Đưa những người đàn ông đến gần nhau Thứ ba: Đưa những người đàn ông đến gần nhau bằng các mối quan hệ và tình bằng hữu Thứ tư: Đối mặt với sự hiện diện của Thiên Chúa trong đền thờ Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Điều người Kitô hữu nên biết §3. Ý NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CÁC GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC SỐNG Mật mã 3: Người Do Thái có những bí mật trong việc dạy dỗ con cái Tìm kiếm người nâng đỡ Cain Tám giai đoạn phát triển Năm giai đoạn của cuộc sống Giai đoạn 1: Sự ca tụng trong lễ cắt bao quy đầu Giai đoạn 2: Lễ kỉ niệm trưởng thành Giai đoạn 3: Lễ trưởng thành Giai đoạn 4: Lễ kỉ niệm phát triển tâm linh Giai đoạn 5: Lễ kỉ niệm kết hôn Lời chúc phúc cho con cháu Người cha biết được điều tốt nhất Những niềm tin cuộc sống quan trọng dành cho đứa trẻ 1. Dạy dỗ con cái của bạn 2. Dạy trẻ cầu nguyện 3. Cho con cái bạn tham gia vào cộng đoàn địa phương 4. Hãy nói lời chúc lành cho những đứa con của bạn 5. Cầu nguyện cho sự bảo vệ và phát triển tinh thần của trẻ 6. Đặt tay lên chúng và ban phước cho chúng (Mt 19,13) 7. Mọi người chúc lành cho con cái bạn Bí mật Do Thái về dạy dỗ trẻ em Ngọt như mật Phương pháp giáo dục trẻ của người Do Thái Phương pháp dạy trực quan Phương pháp dạy bằng cách lặp đi lặp lại Phương pháp dạy bằng ca hát Hoàn thiện cuộc đời bạn Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Những điều người Kitô hữu nên biết 1. 8 ngày sau khi sinh 2. 13 tuổi 3. 20 tuổi 4. 30 tuổi 5. Kết hôn §4. TÊN CỦA TRẺ SẼ HÉ LỘ ĐỊNH MỆNH CỦA CHÚNG Mật mã 4: Ý nghĩa tên của trẻ Sự tranh giành đứa bé Sức mạnh của tên gọi Tên con của bạn Tên thánh cho con trai Tên thánh cho các bé gái Lời nói của chúng ta Gìn giữ tên tuổi của bạn Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Điều người Kitô hữu nên biết §5. CHIẾC HỘP MEZUZAH Mật mã 5: Mọi ngôi nhà nên được đánh dấu bằng lời Chúa Mục đích của hộp Mezuzah Treo mezuzah Cầu nguyện Điều Chúa biết Điều người Kitô hữu nên biết §6. BÍ MẬT KỲ DIỆU VỀ SỨC KHỎE Mật mã 6: Ăn uống theo thực đơn của Thiên Chúa sẽ giúp bạn khỏe mạnh hơn Bảy loại thức ăn từ miền đất thánh 1. Lúa mì 2. Lúa mạch 3. Nho 4. Cây vả 5. Cây lựu 6. Cây ô liu 7. Mật ong Ô liu và dầu ô liu Muối ăn Không sử dụng máu trong các bữa ăn Một số phương pháp chữa trị trên núi Khuyến cáo sức khỏe của ông Moses Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Điều người Kitô hữu nên biết §7. QUY TẮC VỀ SỰ GIÀU SANG VÀ THỊNH VƯỢNG Mật mã 7: Thiên Chúa có một giao ước thịnh vượng với dân tộc của Người Tinh thần nghèo khó Những người Do Thái giàu có nhất trong lịch sử Châm ngôn và nguồn gốc của sự khôn ngoan Solomon: Sự thật hay hệ quả Những điều Solomon nói Solomon nói: Dậy đi, kẻ biếng nhác Solomon nói: Hãy học cách ăn nói Solomon nói: Hãy rửa tai con thật sạch để con có thể nghe tiếng ta nói Điều tôi học được từ những người tín hữu giàu có Hiểu biết thứ nhất của Perry: Hãy trở thành một người đặc biệt Hiểu biết thứ hai của Perry: Hãy mua và đầu tư sự khôn ngoan Hiểu biết thứ ba của Perry: Kinh doanh ngay trong nhà Hiểu biết thứ tư của Perry: Sự gặp gỡ có thể tiết kiệm tiền bạc Hiểu biết thứ năm của Perry: Món quà của bạn có thể tạo ra cái mà bạn cần Hiểu biết thứ sáu của Perry: Đừng so sánh mình với người khác Hiểu biết thứ bảy của Perry: Đừng xây gì nếu chưa tính toán chi phí Sự đầu tư của người Israel cổ đại Vàng Vật nuôi Đầu tư vào đất đai Đất đai – hàng hóa tồn tại qua các thế hệ Chìa khóa cuối cùng cho sự thịnh vượng Mùa Teshuvah – sự trở lại của Thiên Chúa Sự cần thiết của mùa hối lỗi, ăn năn Phát hiện cuối cùng của Solomon Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Điều người Kitô hữu nên biết §8. ẢNH HƯỞNG CỦA LỜI TIÊN TRI TRONG KINH THÁNH DO THÁI TỚI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI Mật mã 8: Kinh Thánh Do Thái hé lộ những sự kiện tương lai Được đặt tên 200 năm trước khi chào đời Lời tiên tri thúc đẩy người Do Thái Lời tiên tri về nạn tàn sát Điều Chúa biết Điều người Do Thái sùng đạo biết Điều người Kitô hữu nên biết §9. MÓN QUÀ TUYỆT VỜI NHẤT BẠN ĐỂ LẠI CHO GIA ĐÌNH Mật mã 9: Lời chúc lành để lại cho các thế hệ Thế hệ đầu tiên – gieo hạt giống Thế hệ thứ hai – tưới nước cho cây Thế hệ thứ ba – phát triển, nuôi dưỡng cây Thế hệ thứ tư – bảo vệ cây gia đình Tại sao tôi ở trong tình trạng nhếch nhác và không nhận được lời chúc lành? ADN Những tấm gương sai lầm Suy nghĩ sai lầm Những mối quan hệ sai lầm Hãy truyền lại trước khi qua đời Tạo dựng tài sản thừa kế Món quà tuyệt vời nhất bạn để lại cho gia đình mình là gì? Để lại tài sản của bạn như thế nào? Hãy để lại nhiều bức ảnh Hãy để lại tài sản tài chính Hãy để lại danh tiếng tốt Di sản người Do Thái Bảng kí hiệu Các sách Kinh Thánh xuất hiện trong sách Cựu Ước Tên sách Ký hiệu Tên sách gốc Sáng thế St Genesis Xuất hành Xh Exodus Thủ lãnh Tl Judges Gióp G Job Lêvi Lv Leviticus Đệ Nhị Luật Đnl Deuteronomy Isaia Is Isaiah Ê-dê-ki-en Ed Ezekiel Dân số Ds Numbers Châm ngôn Cn Proverbs Thánh Vịnh Tv Psalms Các Vua quyển 1 1V 1 Kings Các Vua quyển 2 2V 2 Kings Rút Ru Ruth Diễm ca Dc Songs Giê-rê-mi-a Gr Jeremiah Giảng viên Gv Ecclesiastes Xô-phô-ni-a Xp Zephania Ai ca Ac Lamentations Samuen quyển 1 1 Sm 1 Samuel Samuen quyển 2 2 Sm 1 Samuel Sử biên niên quyển 1 1 Sb 1 Chronicles Sử biên niên quyển 2 2 Sb 2 Chronicles Giô-en Ge Joel Dacaria Dcr Zechariah Tên sách Ký hiệu Tên sách gốc Ét-te Et Esther Nơ-khe-mi-a Nkm Nehemiah Hô-sê Hs Hosea Ma-cô-bê quyển 1 1 Mcb 1 Maccabes Ma-cô-bê quyển 2 2 Mcb 2 Maccabes Tân Ước Tên sách Ký hiệu Tên sách gốc Gio-an Ga John Mác-cô Mc Mark Luca Lc Luke Timôthê quyển 1 1 Tm 1 Timothy Timôthê quyển 2 2 Tm 2 Timothy Công vụ tông đồ Cv Acts Mát-thêu Mt Matthew Rô-ma Rm Romans Ê-phê-sô Ep Ephesians Ga-lát Gl Galatians Cô-lô-xê Cl Colossians Khải huyền Kh Revelation Do Thái Dt Hebrews Phê-rô Pr Peter Gia-cô-bê Gc James Phi-lê-môn Plm Philemon Cô-rin-tô quyển 1 1 Cr 1 Corinthians Cô-rin-tô quyển 2 2 Cr 2 Corinthians Ti-tô Tt Titus Lời mở đầu Lời mở đầu Người ta luôn tin rằng “Lời tiên tri” trong Kinh Thánh là một sức mạnh tội ác của bóng tối, và cho đến cuối những năm 1930, niềm tin này mới được tháo gỡ ở châu Âu. Một kẻ độc tài người Đức tên là Adolf Hitler đã đưa ra “giải pháp” cho các vấn đề của thế giới bằng cách lập kế hoạch mà các sử gia sau này đã xác định đó là kế hoạch tàn sát người Do Thái của Đức quốc xã. Với người Do Thái, đặc biệt là những người Do Thái ở châu Âu, từ Đức quốc xã (Nazi) mang hình ảnh buồn rầu của cái chết và đó là nơi các gia đình Do Thái đi chuyến đi cuối cùng trong cuộc đời. Đó là nơi mà trạng thái thể chất của người Do Thái tồn tại chỉ còn da bọc xương. Giống như những con cừu chuẩn bị chịu chết, nhiều người bị đưa đến phòng hơi ngạt được tạo ra giống những phòng tắm. Với Hitler, tất cả mọi vấn đề trên thế giới đều có nguồn gốc từ Do Thái và do người Do Thái gây nên. Theo tờ Miami Daily News, người Mỹ không tin vào lời nói xảo quyệt này. Tờ báo này đã đưa ra một thông điệp sắc bén đến những thành viên của Đức quốc xã: Một thành viên của Đức quốc xã mắc bệnh giang mai và họ không cho phép mình điều trị bằng cách sử dụng thuốc Salvarsan vì đó là thuốc do Ehrlich người Do Thái khám phá ra. Thậm chí họ cũng không cố gắng tìm kiếm cách chữa bệnh vì phương pháp chẩn đoán bệnh giang mai được sử dụng cũng là phát kiến của người Do Thái… Hay một thành viên của Đức quốc xã mắc bệnh tim thì họ cũng không sử dụng lá mao địa hoàng để điều trị. Vì loại lá này do Ludwig Trabo người Do Thái phát hiện và phát triển để điều trị bệnh tim. Hay người bị mắc bệnh sốt Rickettsia cũng nhất quyết không điều trị, vì họ sẽ phải dùng phương pháp điều trị mà Widall và Weill, người Do Thái phát kiến ra. Nếu có người mắc bệnh tiểu đường, họ cũng không sử dụng insulin để điều trị, vì đó cũng là kết quả nghiên cứu của Minkowsky là người Do Thái. Hay khi họ mắc chứng đau đầu, họ cũng tránh xa bột ovarmidon và antipyrin, vì đó cũng là phát kiến của Spiro và Eiloge là người Do Thái. Những người bài trừ Do Thái mắc chứng co giật thường phải cố gắng chịu đựng và không điều trị theo phương pháp sử dụng chloral hydrate vì đó cũng là phát kiến của Oscar Leibreach là người Do Thái…” Đến năm 1948, trên toàn thế giới có khoảng 6 triệu người Do Thái trong đó có 1,5 triệu trẻ em vô tội bị thiệt mạng trong “Giải pháp cuối cùng” của Đức quốc xã. Những gì còn sót lại sau cuộc tàn sát người Do Thái chỉ là những ngôi nhà cố định, nếu còn những tài sản giá trị, những bức tranh cổ xưa, vàng, bạc, châu báu, tất cả đều bị quân của Hitler chiếm hết. Lúc đó, trong lòng những người Do Thái còn sống sót lóe lên một tia hi vọng – quê hương Palestine. Và rồi, nửa đêm ngày 14 tháng 5 năm 1948, tại vùng đất ủy nhiệm của Anh tại Palestine, một dân tộc Do Thái với tên Israel đã được phục hồi từ những sụp đổ và suy tàn của lịch sử. Có một câu chuyện khá nổi tiếng khi Hoàng đế người Đức hỏi Bismarck rằng: “Ngươi có thể chứng minh là tồn tại Thiên Chúa không?” Bismarck đã trả lời: “Thưa Đức vua, đó là Do Thái”. Người Do Thái chỉ chiếm chưa đến 1% dân số thế giới, nhưng 176 người đoạt giải Nobel lại là người Do Thái. 25% các tổ chức nhận giải thưởng Nobel Hòa bình đều do người Do Thái thành lập hoặc đồng sáng lập. Trong khi ở Mỹ có khoảng 67% học sinh tốt nghiệp cấp ba vào được đại học, thì người Do Thái lại có đến 80% học sinh vào được đại học, trong đó có 23% vào được trường Ivy League – một nhóm trường đại học danh giá của Mỹ. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng người Do Thái gốc Đức và Bắc Âu rất thông minh với chỉ số IQ từ 117 đến 125, cao hơn 12 – 15 điểm so với nhóm không phải Do Thái. Nhóm người Mỹ gốc Israel được xem là nhóm “có khả năng cao hơn 7 lần các nhóm khác về nguồn thu nhập và có tỉ lệ thấp nhất về sự phụ thuộc vào sự giúp đỡ của xã hội”. Có nhiều người xác định hiện tượng phi thường này là do yếu tố thiên tài, còn một số khác thì cho rằng đó là do yếu tố thành công bí mật ẩn chứa trong văn hóa Do Thái đã thúc đẩy họ thành công đến như vậy. Theo khía cạnh tâm linh, Mục sư Moses người Do Thái cổ đại đã cho chúng ta Kinh Torah và cho chúng ta những lời tiên tri Do Thái được viết trong Kinh Thánh Cựu Ước. Phần lớn những người viết Kinh Tân Ước, cùng với người sáng lập Kitô giáo đều là những người lớn lên và được giáo dục trong các gia đình Do Thái. Theo lịch sử, người Do Thái vừa là người thành công nhất và cũng là người bị ngược đãi nhiều nhất trong tất cả các nhóm dân tộc trên trái đất. Ngày nay, sự tài năng và chuyên môn kinh doanh của họ đã đưa họ đến những vị trí cao nhất trong cộng đồng kinh doanh toàn cầu. Đó là những luật sư đứng đầu, các bác sĩ tài năng và những nhà lãnh đạo thành công. Họ chỉ đơn giản là những con người cách đây 1939 năm chưa có quốc gia, không có ngôn ngữ duy nhất hay một thành phố để cầu nguyện. Nhưng ngày nay, họ đã trở lại miền đất tổ tiên của họ (vùng đất Israel), nói ngôn ngữ bản địa của họ (tiếng Hebrew) và cầu nguyện ở thủ đô của họ (Jerusalem). Và theo tôi khả năng duy nhất cho điều này là sự thành công và sinh tồn đã có trong ADN của người Do Thái – và nó bắt đầu từ một người – tổ phụ Abraham. Sau khi được “người Hebrew báo tin” (St 14,13), ông Abraham cùng với vợ là Sarah và tùy tùng của ông đã rời thành phố Ur đến định cư tại một sa mạc Canaan – vùng đất rộng lớn và hoang vắng. Ông đã tìm tòi, xây dựng một trang trại chăn nuôi lớn, tích lũy nhiều vàng bạc, và cuối cùng đã biến miền đất cằn cỗi thành sa mạc đầy hứa hẹn. Ông đã xây dựng nền hòa bình với các bộ tộc lân cận, vì vậy họ tôn vinh ông như con người của Thiên Chúa (St 20). Và hơn 400 năm sau, con cháu của Abraham đã sinh ra hơn 600.000 người trong thời chiến diễu hành ra khỏi Ai Cập và khôi phục vùng đất Israel mà Thiên Chúa đã hứa con cháu của Abraham sẽ có được (St 15,18). Miền đất Trung Đông này đã được đặt tên là “Israel”, đó là tên mới mà Thiên Chúa đã tặng cho Jacob, cháu trai của Abraham (St 32,28). Sau khi người Israel rời khỏi Ai Cập, họ đã chuyển đến Miền Đất Hứa và phân chia nơi định cư. Chín và phân nửa bộ tộc sẽ định cư ở miền đất này, còn hai bộ tộc và phân nửa bộ tộc còn lại (Reuben, người Gad, và phân nửa chi phái Manasseh) sẽ đến bờ đông sông Jordan định cư. Người Israel được đánh dấu như dân giao ước của Thiên Chúa, những hướng dẫn cho cuộc sống hàng ngày của họ chính là Kinh Torah. Đây là ngũ kinh đầu tiên trong Kinh Thánh do Moses viết trong suốt 40 năm ở sa mạc. Sự mặc khải thiêng liêng này đã trở thành Điều luật của Thiên Chúa về lề luật đạo đức, xã hội, hiến tế và nghi lễ. Những lề luật này đã tạo nên khuôn mẫu tiêu chuẩn trong cuộc sống và đạo đức của người Do Thái. Bằng việc vâng theo sách quy tắc nước trời, dân tộc Do Thái đã được hưởng thành công, thịnh vượng và nâng cao sức ảnh hưởng của họ đến các dân tộc cùng các quốc gia lân cận. Những người đạo Do Thái chính thống được xem như những người Do Thái có nguồn gốc Kinh Torah, những người đã tuân theo Điều luật Torah của Thiên Chúa trong suốt 35 thế kỷ và họ có một cuộc sống, gia đình, sức khỏe dồi dào, đặc biệt là tài chính thịnh vượng. Trong nhiều thế kỷ, những người Kitô giáo không phải người Do Thái đã từ chối hay đơn giản là không học và nghiên cứu những ứng dụng thực tiễn quan trọng của Điều luật Torah. Trong Điều luật Torah có nhiều điều vẫn có ý nghĩa quan trọng với thời đại của chúng ta, như tầm quan trọng trong việc nghỉ ngơi một tuần một ngày, tầm quan trọng của ăn uống đúng cách các loại thực phẩm, tiêu chuẩn đạo đức của lời chúc lành, và những giai đoạn cuộc sống trong nuôi dạy con cái. Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu các điều luật này để hiểu được tại sao người Do Thái lại tạo nên một gia đình vững chắc, một cuộc sống hạnh phúc bền lâu và thịnh vượng. Đã có rất nhiều cuốn sách viết về sự thịnh vượng của người Do Thái và lý do người Do Thái thành công, nhưng lại rất ít cuốn sách viết về ý nghĩa của Kinh Torah và giao ước cội nguồn cho tất cả những lời chúc phúc của Do Thái. Mục đích của cuốn Mật mã Do Thái này là để tìm ra những bí mật nhằm khám phá và giải mã bộ Kinh Torah, Giao ước Abraham và lời mặc khải thiêng liêng trong Cựu Ước đã tạo nên cách sống và suy nghĩ của người Do Thái, làm cho dân Do Thái trở thành người không thể gục ngã và là một dân tộc được chúc phúc. Những người Do Thái chính thống đều hiểu hết lề luật của Thiên Chúa, còn người Kitô giáo thì hiểu được hồng ân của Thiên Chúa. Cả người Do Thái và Kitô giáo đều nhận thức và biết được sách cùng Kinh Thánh giao ước của Đấng Cứu Thế. Những vị giáo trưởng có một nguồn tri thức đáng ngạc nhiên về tiên tri và Kinh Torah mà người Kitô giáo gọi đó là Cựu Ước còn người Do Thái gọi đó là sách thánh Do Thái Tanakh. Với người Kitô giáo, họ hiểu và xem sách Tân Ước có 27 cuốn. Bằng cách kết hợp những nguồn kiến thức và xây dựng cầu nối của sự hiểu biết, người Kitô giáo sẽ hiểu được bí mật của Kinh Torah và người Do Thái sẽ hiểu được giao ước tha tội mà Chúa Giêsu đã thiết lập và giảng dạy trong niềm tin của người Kitô giáo. Tôi mong muốn rằng khám phá 9 bí mật Do Thái này sẽ hé lộ cái nhìn mới mẻ và sự soi sáng giúp khai sáng cho các tín hữu không phải Do Thái hiểu được những mặc khải thiêng liêng mà Chúa đã ban cho dân Do Thái. Cuốn sách sẽ bao gồm rất nhiều khía cạnh trong Luật Torah có thể cung cấp cho chúng ta những hướng dẫn quan trọng trong cuộc sống thường ngày, trong đó có chìa khóa cho sự thịnh vượng, sức khỏe, hay chúc tụng những giai đoạn của cuộc sống, và nuôi dạy con cái thành tài. Hãy cùng nhau khám phá và giải mã những điều luật này nhé! —Perry Stone Ghi chú cho người đọc Cuốn sách này có sử dụng hai thuật ngữ là Do Thái và Hebraic. Tôi sử dụng từ Do Thái ở thời hiện tại để ám chỉ hậu duệ của Abraham từ một gia đình Do Thái hay một người có mẹ là người Do Thái. Còn từ Hebrew được sử dụng để ám chỉ các giáo trưởng đầu tiên của niềm tin Do Thái và từ Hebraic liên quan đến phong tục, truyền thống và văn hóa của người Israel và người Do Thái đầu tiên. Đạo Do Thái được xác định như là văn hóa và tôn giáo của người Do Thái. Tôi sẽ không làm theo người Do Thái là viết tên Thiên Chúa là G d vì điều này thường gây nhầm lẫn cho tín hữu không phải Do Thái. Ngoài ra tôi cũng sử dụng B.C (TCN) để ám chỉ thời gian trước khi Chúa Giêsu chào đời và A.D (SCN) để ám chỉ “năm của Thiên Chúa”, đó là thời gian Chúa Giêsu đã chào đời. Đó là khung thời gian mà hầu hết mọi người đều biết và khá quen thuộc. Với người Do Thái, họ sử dụng BCE có nghĩa là “trước công nguyên” và CE với nghĩa là “công nguyên”. Chương 1 SỐNG ĐÚNG MỰC Mật mã 1: Người Do Thái sùng đạo hiểu và sống theo lề luật của Chúa trong Kinh Torah Ông Moses triệu tập toàn thể dân Israel đến và nói với họ: “Hỡi Israel, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định mà hôm nay tôi nói cho anh em nghe; anh em phải học cho biết những điều ấy và lo đem ra thực hành. ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, đã lập một giao ước với chúng ta tại núi Horeb… ĐỨC CHÚA đã phán trước mặt anh em trên núi, từ trong đám lửa. – Đnl 5, 1-2,4 Trong suốt 250 năm, các thông điệp từ trời hiếm khi được ban xuống. Kể từ khi Thiên Chúatạo ra Adam cho đến khi tiết lộ Kinh Torah (Ngũ kinh đầu tiên của Kinh Thánh) với Moses là khoảng hơn 250 năm. Sau khi Adam bị đuổi khỏi vườn Eden thì đó là lần cuối cùng Thiên Chúa trò chuyện trực tiếp với loài người. Chính vì vậy, từ đó Thiên Chúa thường tiết lộ kế hoạch của Người thông qua một giấc mộng hay giấc mơ. Và cuộc gặp đầu tiên đến từ một giấc mộng đã được ghi lại trong Kinh Thánh là trong sách Sáng Thế Ký chương 15 câu: “… lời của Thiên Chúa đến với Abram trong một giấc mơ.” Sau đó, Chúa đã nói chuyện với con cháu của Tổ phụ Abraham trong những giấc mơ và đôi khi là các thiên sứ ghé thăm (St 31,10; 37,5). Từ Adam đến Moses, loài người được mặc khải qua ngôi lời của Thiên Chúa, ngoại trừ một sự cố được sử gia Do Thái Flavius Josephus ghi lại. Sử gia cổ đại này đã ghi lại lời mặc khải tiên tri mà Adam đã nhận được, và lời mặc khải đó được truyền lại cho đến đời con của ông Seth. Khi nói về những đứa con trai của Seth, Josephus đã viết: Bức tranh tường Creation of Adam trên trần nhà nguyện Sistina, thành Vatican (Michelangelo) Họ cũng là nhà phát minh ra hiểu biết đặc biệt có liên quan đến các thiên thể và thứ tự của chúng. Quả thật những phát minh của họ đã không thể bị mất đi trước khi chúng được nhận thức đầy đủ, vào lúc dự báo của Adam cho rằng thế giới sẽ có lúc bị phá hủy bởi sức mạnh của lửa, và có lúc bởi bạo lực và nước, họ đã làm hai trụ cột, một trụ bằng gạch, và một trụ bằng đá: họ đã ghi lại những khám phá của họ lên cả hai trụ, phòng trường hợp trụ cột bằng gạch bị phá hủy do lũ lụt, thì trụ cột bằng đá có thể vẫn còn. Nó sẽ trình bày những phát hiện của họ cho nhân loại, và cũng là để thông báo rằng họ cũng đã dựng nên một trụ khác bằng gạch. Và những trụ cột này vẫn còn ở vùng đất Siriad cho đến ngày nay. Dự đoán về hai thảm họa toàn cầu này là một trong những lời tiên tri đầu tiên được biết đến bằng văn bản. Trước đó trải qua 10 thế hệ từ Adam đến Noah, các thông tin đều được truyền bằng miệng hoặc lời nói. Trước trận lụt Đại hồng thủy, loài người thường sống rất thọ – khoảng giữa 365 và 969 năm (St 5,23,27) và điều này đem lại cho họ khả năng truyền lại thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và đã có hơn mười thế hệ được truyền lại thông tin như vậy, từ Shem – con trai của Noah cho đến Abraham. Trải qua hai mươi thế hệ sau thất bại của Adam, Thiên Chúa đã chọn Abraham để xây dựng một quốc gia mới và trở thành đại diện giao ước của Thiên Chúa trên trái đất. Chính vì vậy, con cái của Abraham được xem là những người Israel đầu tiên, mang tên trẻ em của Israel và sau này trên toàn thế giới xác định là người Do Thái. Abraham được gọi là người Hebrew lần đầu tiên trong sách Sáng Thế Ký chương 14 câu 13. Khi bắt đầu được đề cập đến trong Kinh Thánh, Abraham xuất hiện như một người đã trưởng thành, đầy vinh quang với tên gọi “Avraham Ha-Ivri” có nghĩa là “Abraham – người Thiên Chúa tuyển chọn “ám chỉ rằng Thiên Chúa đã mang Abraham từ Ur (phía bên kia của sông Euphrates) đến Miền Đất Hứa. Khi Abraham 100 tuổi và lúc đó bà Sarah 90 tuổi đã sinh con trai duy nhất tên là Isaac (St 21,5). Isaac có tên tiếng Hebrew là Yitzchak có nghĩa là “tiếng cười” và ông kết hôn ở tuổi bốn mươi (St 25,20), và vợ của ông là bà Rebekah, đã hạ sinh một cặp song sinh tên là Esau và Jacob (St 25,25-26). Sau đó, Thiên Chúa đã đổi tên của Jacob thành Israel. Mười hai con trai của Jacob kết hôn và phát triển thành mười hai bộ tộc, trở thành quốc gia của Israel. Rời đi để đến miền đất hứa Để tồn tại khi nạn đói hoành hành, gia đình Jacob phải tị nạn sang Ai Cập và định cư tại một khu vực ở Ai Cập được gọi là Goshen (St 45,10). Sau vài trăm năm, Israel từ những người di dân nay phát triển thành hàng trăm ngàn người, điều này trở thành mối lo ngại cho vị vua mới của Ai Cập, người luôn lo ngại rằng những người Hebrew có thể phá hủy đế chế Ai Cập. Chính vì vậy, người Hebrew bị buộc phải làm nô lệ để xây dựng các thành làm kho lương thực cho người Ai Cập (Xh 1,11). Nhưng khi thời cơ đến, Thiên Chúa đã đưa họ ra khỏi Ai Cập và tìm đến Miền Đất Hứa. Như vậy là cùng với ơn gọi của Moses! Khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, ông đã sống sót khi đương đầu với mối đe dọa sinh tử của những đứa con trai đầu lòng người Hebrew nhờ được giấu trong một cái thúng cói. Và chính con gái của Pharaoh đã phát hiện ra chiếc thúng trong những đám lau sậy bên bờ sông Nile. Bà đã coi đứa bé như là con của mình và đặt tên là Moses. Moses lớn lên trong cung điện của Pharaoh, được dạy về nghệ thuật và quân sự Ai Cập trong suốt 40 năm. Mặc dù ông mặc trên mình bộ trang phục của Ai Cập nhưng lại mang trong mình trái tim người Hebrew, minh chứng cho điều này là ông đã giết chết một người lính Ai Cập khi họ đang đánh đập một nô lệ người Hebrew (Xh 2,11-12). Lo sợ bị người Ai Cập trả thù, Moses đã chạy trốn khỏi Ai Cập sang sa mạc Midian. Và đứa trẻ cố gắng sống sót trong một chiếc thúng bấy giờ đã 40 tuổi! Sau bốn mươi năm chăn chiên cho bố vợ, Moses đã nhận được mặc khải tại một bụi cây đang cháy (Xh 3,2). Được lớn lên ở Ai Cập nên Moses đã quen thuộc với Ra – thần mặt trời của Ai Cập; Apis – thần bò của sự sáng tạo và quyền lực; Amun, Ptah; Khnum; Aten và nhiều vị thần và nữ thần khác của Ai Cập. Khi Đấng Toàn Năng nói chuyện với Moses từ bụi gai, Moses hỏi: “Ngươi là ai?”. Trước khi hết ngày, Moses đã gặp Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Jacob. Người phán: Hãy đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập trở về Miền Đất Hứa. Trở về Ai Cập, Moses và anh trai của mình, Aaron đã chứng kiến mười tai họa, đó chính là một cuộc tấn công chống lại mười vị thần chính của Ai Cập. Vào ngày thứ mười lăm của tháng Nissan (Tháng 1), Moses huy động sáu trăm ngàn người đàn ông và ước tính khoảng 1,5 triệu người bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, vượt qua Biển Đỏ đến nơi hoang dã. Cuộc di cư này là sự khởi đầu của Thiên Chúa chuẩn bị cho một dân tộc và chuẩn bị hé lộ lần đầu tiên một thông điệp từ trời xuống sẽ được ghi lại cho tất cả mọi người đọc và xem thấy. Hầm mộ Julius II, tại Nhà thờ thánh Pietro ở Vincoli, Rome, làm bằng đá cẩm thạch, hoàn thành năm 1545 (Michelangelo) Sự mặc khải điều luật của Thiên Chúa Sau khi rời Ai Cập được 50 ngày, Moses lên đến đỉnh núi Sinai trong sa mạc Ả Rập, sau đó ông ở trên núi 40 ngày và nhận được ngôn từ trực tiếp và khải thị thiêng liêng nhất từ Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại (Xh 24,16-18). Những ngôi lời Thiên Chúa nói ra được khắc trên bia đá rất chi tiết và cụ thể. Sau đó, lời Chúa được các học giả viết lại bằng cách sử dụng những miếng da động vật lớn. Đó được gọi là Kinh Torah (có nghĩa là “giảng dạy”), đây chính là cuốn sách quy tắc nước trời, tiết lộ cho người Hebrew. Ðức Chúa phán với ông Moses: “Hãy lên núi với Ta và ở lại đó; Ta sẽ ban cho ngươi những bia đá: luật và mệnh lệnh Ta đã viết ra để dạy dỗ dân chúng.” — Xuất hành 24,12 Kinh Torah (gọi là Ngũ kinh trong tiếng Hy Lạp) bao gồm năm cuốn sách đầu tiên trong Kinh Thánh, do ông Moses viết trong suốt 40 năm hành trình của ông với dân Israel. Cuộn Kinh Torah được viết bằng tay chứa 79.847 từ và 847.304.805 chữ cái Hebrew riêng biệt. Chủ đề của Ngũ kinh đó là: Sáng thế là sách mở đầu cho Cựu Ước nói riêng cũng như Kinh Thánh nói chung. Cuốn sách là lịch sử của vũ trụ, nhân loại và đặc biệt là dân tộc Israel cho đến khi con trai thứ 12 của Jacob và gia đình sang Ai Cập. Xuất hành là tiếng gọi của Moses, giải thoát khỏi Ai Cập, và thiết lập chức linh mục và nhà tạm. Lêvi là phần nối tiếp của Xuất hành, viết tiếp cụ thể về các lề luật, quy định, nghi lễ và đạo đức phải tuân giữ để cụ thể hóa việc làm “dân riêng” của Thiên Chúa. Trọng tâm của quyển sách này cũng nói về vai trò của hàng tư tế (các thầy Lêvi) trong dân tộc Israel nên người ta đã lấy tên Lêvi để đặt cho nó. Dân số là cuộc điều tra dân số của mười hai dân tộc và những thất bại của các quốc gia khi vâng lời Chúa trong sa mạc. Đệ nhị luật là một bản Dân luật và luật Tôn giáo, bản tóm tắt về những chuyến đi của Israel, hướng đi mới và những lời tiên tri về tương lai của dân Israel. Kinh Torah chứa đựng lịch sử, chủ yếu là hướng dẫn cụ thể và hướng dẫn tinh thần, xã hội và lối sống đạo đức, sự hiến tế cùng các ứng dụng nghi lễ. Những hướng dẫn của Thiên Chúa trong Torah thường được chia thành bốn loại: pháp luật, điều răn, lề luật và phán xét. Những nhà nghiên cứu Kinh Thánh thường hợp nhất bốn phần thành một và gọi nó là Luật Moses hay còn gọi là Luật của Thiên Chúa. Đây chính là luật Thiên Chúa ban cho Moses nhưng quan trọng hơn, đó là sự mặc khải của Đấng Tạo Hóa nhằm giúp con người cách sinh sống, cách cư xử, cách ăn uống và suy nghĩ và cách để thành công trong hành trình của đời người. Đây chính là ý nghĩa của Bộ luật Thiên Chúa. Cuộn kinh Do Thái cổ xưa Levi – một trong số các bộ tộc của các con trai Jacob, đã được Chúa lựa chọn để giảng dạy bộ luật và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Levi là con trai thứ ba của ông Jacob và vợ Leah, tên của ông có nghĩa là “sự gắn bó”. (Ðức Chúa thấy rằng bà Leah không được yêu, nên Người cho bà sinh đẻ, bà Leah có thai và sinh con trai. Bà nói: “Lần này, chồng tôi sẽ gắn bó với tôi vì tôi đã sinh cho ông ba đứa con trai”, vì thế bà đặt tên cho nó là Levi. (St 29,34). Levi đã trở thành một “người kết nối” giúp đỡ người Do Thái liên kết với Thiên Chúa. Khi nhà tạm của Moses được xây dựng, người thuộc chi tộc Levi là các mục sư chuyên trách, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của linh mục cao nhất Aaron và con trai của ông, tất cả đều là người thuộc chi tộc Levi. Đây là chi tộc duy nhất mang gen của Thiên Chúa, điều này đã được chứng minh trong một xét nghiệm ADN gần đây. ADN của loài người được gọi là một cuốn sách di truyền của cuộc sống, mã hóa thông tin chi tiết liên quan đến sự phát triển thể chất của con người. Ngoại hình, tính cách, điểm mạnh hay các dị tật của bạn và nhiều hơn nữa đều được mã hóa trong ADN của bạn. Một số người Do Thái sống ở Israel đã thực hiện một thử nghiệm di truyền đặc biệt và đã chứng minh họ là từ dòng dõi của linh mục Hebrew cổ đại. Các xét nghiệm gen được một nhà di truyền học người Mỹ phát triển năm 1997. Nhà di truyền học đã bắt đầu nghiên cứu những biến đổi trong nhiễm sắc thể Y từ 306 người Do Thái, trong đó có 106 nhiễm sắc thể đã xác nhận là của người Kohanim từ Israel, Canada, và Anh. Trong tiếng Hebrew, từ dành cho các linh mục là Kohanim. Giả sử nếu một người Do Thái có họ Levi, Levee, hoặc Levin, điều đó cho thấy họ liên quan đến các chi tộc Levi. Nếu họ của người Do Thái là Cohen, Kahn, Kane, hoặc một biến thể tương tự, thì chứng tỏ họ có một mối liên hệ với các linh mục xưa, mặc dù không phải tất cả những người có tên họ như vậy đều là Kohanim. David Goldstein cho biết trong số mười bảy thử nghiệm bộ tộc Kohanim ở Israel, thì có mười ba xét nghiệm dương tính với gen linh mục này. Các nhà nghiên cứu cũng đã thử nghiệm ba ngàn người Do Thái từ một bộ lạc ở Ấn Độ và một nhóm khác ở châu Phi. Một số người trong mỗi nhóm có kết quả dương tính với gen ADN linh mục. Sự thành công đáng kinh ngạc của những người Do Thái đã trở thành điều bí ẩn và được nghiên cứu qua nhiều thế hệ. Cũng có nhiều cuốn sách và bài báo được viết, nhưng có nhiều cuốn đã bỏ qua vấn đề trọng tâm của tất cả Do Thái giáo đó là – học tập, đọc sách, và làm theo Bộ luật Torah. Kinh Torah hé lộ thông tin cụ thể giúp bạn kéo dài cuộc sống, tăng cường sức khỏe thể chất, mang lại sự ổn định tinh thần, xây dựng gia đình vững mạnh, và cung cấp sự khôn ngoan cho các cơ hội làm giàu khi chúng ta tuân giữ các điều luật trong đó. Bạn biết được bao nhiêu? Bạn sẽ không thể làm theo những gì bạn không thể nhìn thấy, hay không thể nghe những gì bạn chưa bao giờ nghe nói, và không thể tuân theo những gì bạn không biết. Những người Do Thái chính thống và trẻ em của người Do Thái giáo được dạy cách đọc, học hỏi và theo dõi Kinh Torah cùng với Kinh Talmud. Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã quen thuộc với các nghi lễ, nghi thức, và giới luật trong bộ Luật Torah. Hầu hết các cộng đồng Kitô giáo không phải Do Thái vẫn không hiểu rõ các vấn đề liên quan những khám phá và nguyên tắc tuyệt vời trong cuộc sống thực tế được viết trong Kinh Torah. Hầu hết các tín hữu đi nhà thờ đều lắng nghe Lời Chúa từ sách Phúc âm hoặc sách Tân Ước. Thỉnh thoảng, các mục sư cũng rao giảng từ trong sách Sáng thế hoặc đề cập đến sách Xuất hành, nhưng họ ít khi trình bày chi tiết về những hướng dẫn đạo đức và xã hội hàng ngày được tìm thấy trong sách Lêvi, sách Dân số và sách Đệ nhị luật. Ngay cả các tài liệu sáng lập của nước Mỹ, trong đó có Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền, đều là những tài liệu quốc gia có nguyên tắc đạo đức dựa trên Kinh Torah. Như vậy, những người sáng lập nước Mỹ và các nhà lãnh đạo thuở ban đầu cũng đã nhận thức rất rõ được hậu quả của việc không tuân theo Lời Chúa. Do đó, những điều quan trọng đều được ghi trong các điều răn của Đức Chúa Trời trong năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh. Nhưng không phải vì người Kitô giáo học từ Tân Ước, hoặc Giao Ước Mới, mà Thiên Chúa sẽ thay đổi điều răn đạo đức của Người để phù hợp với những nhà tư tưởng tự do của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu cầu tuân giữ các điều răn của Người, mặc dù chúng có nguồn gốc từ trong Cựu Ước. Đầu tiên: “Tất cả Kinh Thánh đều do Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích để dạy dỗ, để biện bác, để tu chỉnh, để giáo huấn trong sự công chính” (2 Tim 3,16.). Một số Kitô hữu không biết nhiều về số lần mà người viết Tân Ước trích dẫn trực tiếp từ sách Tanakh – Kitô giáo gọi là Cựu Ước. Khi bốn sách Phúc Âm, sách Công vụ tông đồ và Thư đề cập đến “Kinh Thánh” thì họ đang đề cập đến sách Torah, sách tiên tri, và bài viết của Cựu Ước (Xem Lc 24,27; Cv 17,2; 2 Tm 3,15). Hai mươi bảy cuốn sách của Tân Ước không được biên soạn thành sách cho đến thế kỷ thứ tư. Ngày nay có sáu mươi sáu cuốn sách là bản dịch tiếng Anh của Kinh Thánh. Tuy nhiên “tất cả Kinh Thánh” – cả kinh Tanakh (Cựu Ước) và Tân Ước đều được Chúa soi dẫn. Một số Kitô hữu tự do từ chối toàn bộ Cựu Ước, đặc biệt là Kinh Torah, bởi vì họ nghĩ đó là những tài liệu nguyên thủy đã lỗi thời. “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Moses hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. (18) Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm nhỏ trong lề luật cũng không thể qua đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” (Mt 5,17-18). Chúa Giêsu không bãi bỏ Luật Moses mà Ngài thực hiện những dự đoán, hình thức và dấu vết đã được ẩn trong lề luật của Đấng Cứu Thế. Người là “Chiên Thiên Chúa, đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29), Người bị đóng đinh ở gần thời điểm Lễ Vượt qua và hoàn thành hình ảnh của con chiên Vượt Qua đã được nêu ra trong sách Xuất hành 12. Chúa Giêsu Kitô đã bị treo trên thập giá giữa trời và đất, như con rắn của Moses đã bị giương cao trong sa mạc, Con người cũng sẽ phải bị giương cao như vậy trong sách Dân số 21 (Ga 3,14). Việc hiến tế của con bò cái tơ được sử dụng trong nghi lễ cổ xưa này trong số sách Dân số 19 đã đề cập đến cây hương nam, chùm kinh giới và màu đỏ sậm. Tất cả ba vật phẩm này chính là một phần của cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu 1500 năm sau đó (Xem Ga 19,17,29; Mt 27,28). Như vậy, làm sao để một người có thể xem việc hoàn thành Tân Ước như là một phần của Kinh Torah với các giới răn luân lý và xã hội thực tế mà chúng ta cần tiếp tục tuân giữ ngày nay? Việc hiểu được ba bộ luật của Kinh Torah giúp chúng ta hiểu được những gì được thực hiện thông qua Chúa Giêsu và những gì vẫn còn nguyên vẹn. Bộ luật Torah có thể được chia thành ba loại chính: Bộ luật hiến tế Bộ luật thánh lễ Bộ luật điều răn Bộ luật hiến tế Nghi thức dâng tiến động vật được bắt đầu sau thất bại của Adam. Ðức Chúa là Thiên Chúa đã lấy da từ hai động vật, làm cho Adam và Eva những chiếc áo bằng da và mặc cho họ để họ có trang phục. (St 3,21). Ông Noah, Abraham, và Jacob đã xây dựng những bàn thờ bằng đá để dâng lên vật hiến tế trong suốt cuộc đời của họ. Vào thời Moses, các nghi lễ hiến tế được dùng để chuộc lỗi của các linh mục và dân Israel. Hiến tế máu có ý nghĩa rất quan trọng vì “mạng sống của xác thịt thì ở trong máu” (Lv 17,11). Một nạn nhân vô tội sẽ được dâng tiến để thay cho những kẻ phạm tội. Mỗi lễ vật chính là vật hiến tế trước của hy tế cuối cùng, hy tế chu tất quy trình chuộc tội cho họ và cho loài người. Trong Lễ Vượt qua, người Hebrew đã phát hiện ra sức mạnh bảo vệ và cứu chuộc trong máu của con chiên (Xh 12). Và người Hebrew đã bôi máu lên trên cánh cửa bên ngoài của ngôi nhà để ngăn thần chết xâm nhập vào nhà. Vì nhờ máu con chiên đồng thể thức với máu Thiên Chúa và Chúa Giêsu sẽ chiến thắng thần chết và sức mạnh của sự chết (Kh 12,11). Nghi lễ dâng tiến gồm một con chiên vào buổi sáng và một con vào buổi tối, ngoài ra còn hiến tế bò, cừu, dê, chim cu gáy và chim bồ câu như lễ dâng lên Người những tội lỗi, sự xúc phạm, tạ ơn và chuộc tội của loài người. Rõ ràng những yêu cầu dâng tiến động vật trong Kinh Torah đã được thực hiện thông qua sự đau khổ của Chúa Kitô. Cái chết của Người chính là sự tha thứ cho mọi tội lỗi và xúc phạm của chúng ta. Chúa Giêsu đã thực hiện hiến tế qua việc Ngài đổ máu và chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Ngày nay, lễ tế không cần máu chiên vì Thánh lễ trên bàn thờ mà các vị có chức linh mục dâng chính là lễ tế đầy đủ trọn vẹn mà Chúa Giêsu đã dâng trên bàn thờ thập giá (Dt 9,11-12). Vì vậy, những bí mật của nghi lễ hiến tế đã được mở khóa thông qua cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô. Bộ luật thánh lễ Phần thứ hai trong điều luật Moses là phân chia các nghi thức lễ. Trong năm sẽ có bảy ngày lễ được xem là bảy ngày lễ trọng. Bảy ngày lễ trọng trong năm là: Lễ Vượt qua Lễ Bánh không men Lễ Trái đầu mùa Lễ Hiện xuống Lễ Loan báo tin mừng Lễ Chuộc tội Lễ Tạ ơn Bảy ngày lễ trọng này sẽ tổ chức vào những khoảng thời gian cụ thể trong năm theo lịch Do Thái. Ngoài những ngày lễ này còn có một số ngày lễ trọng khác như ngày Sabbath (Xh 20,10), dịp Lễ Lều (Tv 81,3) và Lễ Toàn xá (Lv 25,9-52). Theo thời gian, những sự kiện chính trong lịch sử Do Thái được ghi nhớ và bổ sung thêm các ngày lễ trong năm. Paul đã viết những ngày lễ thánh duy nhất này là tất cả những báo trước (hình bóng) của những điều sắp tới về Đấng Cứu Thế và dân tộc của Người. Vậy đừng ai xét đoán anh em về chuyện đồ ăn thức uống, hay liên quan đến các ngày lễ, ngày đầu tháng, hay ngày Sabbath. Tất cả những cái đó chỉ là hình bóng những điều sắp tới, nhưng thực tại là thân thể Đức Kitô. – Cl 2,16-17 Bảng dưới đây sẽ cho thấy Lễ Vượt qua trong Xuất hành báo trước chi tiết về những gì sẽ xảy ra 1.500 năm sau về hình ảnh Chúa bị đóng đinh trên cây thập giá. Lễ Vượt qua trong Cựu Lễ Vượt qua trong Cựu Ước Ước Hình ảnh Chúa Giêsu bị Hình ảnh Chúa Giêsu bịđóng đinh trong Lễ Vượt qua đóng đinh trong Lễ Vượt qua Chiên con được đưa vào nhà ngày thứ 10 trong tháng thứ 7 Chúa Giêsu đi vào thánhđường vào ngày thứ 10 trongtháng thứ 7 Chiên con là một con chiên đực, không có bất cứ nhược điểm nào Pilate “không tìm thấy bất cứsai sót” trong Chúa Kitô Chiên con được kiểm tra cẩn thận trong vòng 4 ngày Chúa Giêsu bị quân lính điềutra trong 4 ngày Chiên con bị giết vào ngày thứ 14 trong tháng thứ 7 Chúa Giêsu bị đóng đinh vàothập giá ngày 14 trong tháng thứ7 Chiên con bị giết lúc 3 giờ chiều (lúc trời tối) Chúa Giêsu bị giết lúc 3 giờchiều (giờ thứ 9 trong Mark15:25-38) Chiên con được buộc vào một cái cột gỗ Chúa Giêsu bị đóng đinh vàothập giá bằng gỗ Lễ Hiện xuống được xác định dựa trên khoảng thời gian khi ông Moses nhận được các điều luật trên núi Sinai và dân chúng Israel đã hợp nhất với Thiên Chúa. Lễ Hiện xuống đầu tiên phản ánh ngày Lễ Hiện xuống trong tương lai khi Chúa Thánh Thần xuống và xây dựng hội thánh ở Jerusalem. Lễ Hiện xuống trong thời Moses (Xh 19) Lễ Hiện xuống trongthời Peter (Cv 2) Thiên Chúa nói bằng 70 ngôn ngữ, nên tất cả loài người có thể nghe và hiểu được Tông đồ nói ngôn ngữmẹ đẻ của 16 quốc gia Moses đón nhận lời Chúa trên núi Sinai Các tín hữu lắng nghe lời Chúa trên núi Zion Tiếng Chúa phát ra từ đám lửa Lưỡi lửa đã đậu xuốngtừng người một Lễ Hiện xuống trong thời Moses (Xh 19) Lễ Hiện xuống trongthời Peter (Cv 2) Núi rung chuyển mạnh Âm thanh phát ra từnhững cơn gió mạnh 3.000 người bị giết vì tôn sùng một ngẫu tượng 3.000 người đã thay đổi tín ngưỡng và đến với ChúaCứu Thế Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá vào Lễ Vượt qua và Người được đặt trong ngôi mộ trong suốt Lễ Bánh không men và Người đã sống lại trong Lễ Trái đầu mùa. Và Hội Thánh đã được thiết lập vào ngày Lễ Hiện xuống (Cv 2,1-4). Nhiều học giả cho rằng ba thánh lễ trọng mùa thu là để chuẩn bị dọn đường cho Chúa đến, cho cuộc khổ nạn và sự hiển trị của Đức Kitô 1.000 năm sau (Kh 20,4). Sự xuất hiện đầu tiên của Thiên Chúa được thực hiện qua ba thánh lễ mùa xuân và giáo hội được thiết lập vào thánh lễ thứ tư, lễ Chúa hiện xuống. Sự trở lại của Người là để thực hiện lời tiên tri của 3 thánh lễ mùa thu. Như vậy, khía cạnh thánh lễ trong luật Moses đã cho thấy việc thực hiện một phần để dọn đường cho Chúa đến và sẽ được hoàn tất khi Người trở lại. Bộ luật điều răn Điều luật đạo đức trong Kinh Torah cho thấy quy tắc ứng xử đạo đức và cư xử liên quan đến gia đình, hàng xóm, chính quyền dân sự và trong buôn bán kinh doanh. Các điều răn và hướng dẫn về xã hội và đạo đức thường thảo luận về trách nhiệm phải tuân theo, ơn lành cho những ai vâng phục, và có hình phạt nếu vi phạm các điều luật này. Và trong điều luật gia đình sẽ cho phép mọi người hiểu rõ về tình dục, hôn nhân và nuôi dạy con cái. Ví dụ những điều luật sau: Ngươi không được phép nhìn khi các thành viên gia đình hay họ hàng ngươi ở trần (Lv 18,6-18). Ngươi không được quan hệ tình dục ngoài quan hệ hôn nhân (Lv 18,20). Ngươi không được lấy đứa nào trong con cái ngươi mà nhượng lại cho thần Mô-léc và không được xúc phạm đến danh của Thiên Chúa ngươi. Ta là Ðức Chúa (Lv 18,21). Đàn ông không được phép quan hệ với đàn ông hay con vật nào. Đó là điều ô uế và quái đản (Lv 18,22-23). Mỗi người trong các ngươi phải kính sợ cha mẹ. Các ngươi phải giữ những ngày Sabbath của Ta. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi (Lv 19,3). Khi các ngươi gặt lúa trong đất của các ngươi, (các) ngươi không được gặt cho tới sát bờ ruộng; lúa gặt sót, (các) ngươi không được mót. Vườn nho của (các) ngươi, (các) ngươi không được hái lại, những trái rớt, (các) ngươi không được nhặt, (các) ngươi sẽ bỏ lại cho người nghèo và ngoại kiều. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi (Lv 19,9-10). Các ngươi không được trộm cắp, không được nói dối, không được lừa gạt đồng bào mình (Lv 19,11). Ngươi không được bóc lột đồng loại, không được cướp của; tiền công người làm thuê, ngươi không được giữ lại qua đêm cho đến sáng (Lv 19,13). Ngươi không được rủa người điếc, đặt chướng ngại cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Thiên Chúa của ngươi. Ta là Ðức Chúa (Lv 19,14). Thấy người đầu bạc, ngươi phải đứng lên, ngươi phải kính trọng người già cả, như vậy là ngươi kính sợ Thiên Chúa của ngươi. Ta là Ðức Chúa. Khi có ngoại kiều cư ngụ với (các) ngươi trong xứ các ngươi, các ngươi đừng bức hiếp nó. (Các) ngươi phải đối xử với người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ, một người trong các ngươi; (các) ngươi phải yêu nó như chính mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai Cập. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi (Lv 19,32-34). Các ngươi phải nhớ những năm thánh vào ngày thứ bảy, năm thứ bảy và bảy lần bảy năm (Lv 25,1-55). Anh (em) phải đặt cho các chi tộc của anh (em) những thẩm phán và ký lục trong mọi thành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) ban cho anh (em); họ sẽ xét xử một cách công minh (Đnl 16,18). Anh (em) không được làm sai lệch công lý, không được thiên vị ai và không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ khôn ngoan hoá ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính (Đnl 16,19). Căn cứ vào lời của hai nhân chứng hay ba nhân chứng mà người đáng chết sẽ bị xử tử; người ấy sẽ không bị xử tử nếu chỉ căn cứ vào lời của một nhân chứng (Đnl 17,6). Nếu các điều luật trên có vẻ quen thuộc, thì chúng ta nên tuân theo và gìn giữ. Hệ thống pháp luật ở các tiểu bang, liên bang, và địa phương ở Mỹ đều có nguồn gốc từ Kinh Torah. Khi người Kitô giáo đưa ra rằng: “Điều luật đã được xóa bỏ trong Đức Kitô”, họ hiểu sai rằng các hướng dẫn và cấm đoán về đạo đức Thiên Chúa đưa ra trong thời Moses không bao giờ bị thay thế hoặc được thay đổi bởi Chúa Kitô. Chúng ta có thể thấy ngoại tình và thông dâm bị cấm trong cả Tân Ước và Cựu Ước (Xh 20,14; Rm 13,9). Nói dối, gian lận và làm chứng dối bị cấm trong cả Tân Ước và Cựu Ước. Tôn vinh và thờ phượng Thiên Chúa mỗi tuần và dành riêng một thời gian không làm việc khác (ngày Sabbath) có trong cả Tân Ước và Cựu Ước. Tuân theo những hướng dẫn đạo đức của Thiên Chúa sẽ tạo ra các cộng đồng không tội phạm, gia đình hòa thuận yêu thương nhau, tin tưởng và tôn thờ một Thiên Chúa. Để chứng minh các định luật đạo đức đã được tiếp tục trong thời kỳ Tân Ước, hãy so sánh mười điều răn trong Kinh Torah với các hướng dẫn liên quan đến các Kitô hữu phải giữ mình như thế nào được các tông đồ Tân Ước viết thông qua bảng dưới đây: Điều răn trong Kinh Torah Điều răn tương đương trongTân Ước Chỉ có một Thiên Chúa Mt 4,10 Không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất để thờ 1 Ga 5,21 Ngươi không được dùng danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Ðức Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng 1 Tm 6,1 Hãy nhớ ngày Sabbath, mà coi đó là ngày thánh Cv 13,42 Hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi Ep 6,1-3 Không được giết người Rm 13,9 Không được ngoại tình Gl 5,19-21 Không được trộm cắp Ep 4,28 Không làm chứng dối Rm 13,9 Không tham của người Cl 3,5-6 Vì các quốc gia khác xung quanh Israel có tập quán dâm dục, sùng bái tà thần, hiến tế trẻ em, và sống ô uế, vì vậy Thiên Chúa đã tỏ ra điều luật của nước trời trong Kinh Torah, nhằm hướng dẫn và giảng dạy cho trẻ em để Israel tách mình khỏi tập quán và thói quen của các quốc gia ngoại đạo. Họ là dân thánh hiến của Chúa, được Chúa lựa chọn giữa muôn dân làm dân của Người. Các quốc gia khác cũng có ngày lễ và hiến tế nhưng dân Do Thái đã có một bộ luật đạo đức chứng minh họ là dân tộc của Chúa. Theo giao ước mới, nếu chúng ta yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu người thân cận như chính mình thìchúng ta sẽ tiếp tục nắm giữ những hướng dẫn đạo đức của Đấng Toàn Năng (Mt 22,34-40). Tại sao lại là người Do Thái? Tại sao từ 4.000 năm trước, Chúa không xây dựng một quốc gia hay bộ tộc đã có làm dân riêng của Người? Bởi vì hầu hết các dân tộc đều khởi đầu từ việc tôn thờ một vị thần và là một hỗn hợp của các cuộc hôn nhân cùng nhóm giữa các quốc gia ngoại giáo. Thiên Chúa khao khát một dân tộc của những người tôn sùng một vị thần duy nhất và họ sẽ duy trì sự trong sạch của bộ tộc bằng cách kết hôn với những người cùng niềm tin tôn giáo trong dân tộc của họ và tuân theo các điều luật của Đấng Tạo Hóa. Nhà tạm đầu tiên được xây dựng do sự mặc khải thiêng liêng về sự thật mà Chúa đã nói với Moses và sau đó được người Hebrew xây dựng trên sa mạc. Nhà tạm này được gọi là Tabernacle, cấu trúc của nhà tạm này được tạo ra do chính con người, những người đang xây dựng trên trái đất những gì mà Thiên Chúa đã xây dựng ở nước trời. Đó chính là mô hình đền thánh nước trời và chính là nơi các linh mục cao nhất sẽ trò chuyện cùng với Chúa hàng năm trong những giờ phút thiêng liêng của ngày Lễ Chuộc tội. Tại sao lại là người Do Thái? Ông Paul viết: Vậy thì người Do Thái được gì hơn? Phép cắt bì có ích lợi gì? Nhiều lắm chứ! Về mọi mặt! Trước hết, họ đã được Thiên Chúa giao phó lời Người cho họ. – Rm 3,1-2 Thiên Chúa đã giao phó cho người Do Thái trách nhiệm ghi lại, sao chép và đọc lời Chúa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này đã cho phép họ duy trì dòng giống thanh sạch từ thời tổ phụ Abraham đến Đấng Cứu Thế (Mt 1,1-25, Lc 3,23-38). Vâng lời và tuân theo Kinh Torah đã giúp những người Do Thái sùng đạo duy trì sự thanh sạch và liêm chính dân tộc trong gia phả của họ. Thành công bất ngờ của người Do Thái Những điều luật này của Thiên Chúa có trong Kinh Torah đã được các ông bố Do Thái truyền lại cho con trai họ hơn 40 thế hệ. Việc duy trì kết nối việc đọc sách, học hỏi và hướng dẫn của mỗi thế hệ đã mang đến cho họ sự thành công trong cuộc sống tinh thần và xã hội, cá nhân và dân tộc. Tuy nhiên, phải có những chiếc chìa khóa đặc biệt mới mở được cánh cửa ra vào hoặc nền tảng thành lập mà xã hội Do Thái giáo đã xây dựng. Khi kiểm tra Kinh Torah, người ta phát hiện một trong những chìa khóa quan trọng đó là – hiểu biết thông điệp, ý nghĩa và hiện hình của việc có được một giao ước với Thiên Chúa. Giao ước của Tổ phụ Abraham là ngọn suối nuôi dưỡng dòng sông, là dầm bảo vệ cho nhà ở, hay đơn giản là bí mật để khám phá lý do tại sao người Do Thái đã phải chịu đựng sự ngược đãi đáng kinh ngạc qua nhiều thế kỷ và phát triển nơi họ di cư đến. Điều Chúa biết Sau sự sa ngã của Adam thì tội lỗi đã được di truyền qua ADN tâm hồn của nhân loại. Nhân loại đã có khuynh hướng tội lỗi, khiến họ phải chịu sự cám dỗ và ham muốn xác thịt gây ô nhiễm tâm trí họ, làm hư hỏng tinh thần của họ và cuối cùng là phá hủy thân xác. Nhưng nếu họ vâng lời và tuân theo các điều luật, điều răn, quy định và sự trừng phạt trong KinhTorah, thì gia đình họ sẽ hòa thuận và yêu thương nhau, thành công trong kinh doanh, buôn bán và giúp họ duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần. Điều người Do Thái sùng đạo biết Quốc gia Do Thái hiểu rằng sự an lành của sức khỏe, sự giàu có và thịnh vượng là phụ thuộc vào việc tuân giữ lời Chúa có trong điều luật và giao ước. Bằng cách tuân theo lề luật của Thiên Chúa, họ được Thiên Chúa hứa hẹn ban ơn phước lành và ủng hộ cho tất cả những việc họ làm. Chỉ vì một lần phá vỡ các điều luật và giao ước, họ đã phải trải qua những thảm họa thiên nhiên, mùa màng thất bại, và sự rối loạn trong cuộc sống của họ. Tất cả những lời hứa và ơn phước lành của Thiên Chúa đã trở thành động lực để họ bước đi trong sự vâng phục lời Người. Nếu các ngươi chịu nghe lời Ta, các ngươi sẽ được hưởng dùng hoa mầu trong xứ (Is 1,19). Điều người Kitô hữu nên biết Các Kitô hữu phải biết rằng các điều luật luân lý, đạo đức và tư pháp được viết trong Kinh Torah không bị loại bỏ thông qua giao ước mới. Trong khi Chúa Kitô thực hiện một số nghi lễ và hiến tế của điều luật, thì các nguyên tắc tương tự trong Kinh Torah cho cuộc sống hàng ngày đã được thực hiện và trau chuốt trong hội thánh thế kỷ thứ nhất, đó là nơi khởi nguồn của nhóm tông đồ người Do Thái có trong sách Công vụ tông đồ chương 2. Bằng cách tìm kiếm Kinh Thánh, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn và kết nối các khái niệm của Kinh Torah với sự mặc khải của giao ước mới. Nguồn gốc của Kitô giáo là minh chứng của đức tin, bắt đầu là giao ước với Abraham, Kinh Torah và các tiên tri. Paul dạy rằng dân ngoại quốc là cành của cây ôliu dại được ghép vào cây ô liu Do Thái và tất cả chúng ta đều nhận được dinh dưỡng từ gốc rễ của cây. Mà gốc đó chính là Kinh Torah, lời tiên tri, và chúng ta cần phải kiểm tra gốc để thưởng thức trái ngọt Do Thái (Rm 11). Chương 2 NHỮNG NGÀY LỄ TRỌNG VÀ NGÀY LỄ ĐẶC BIỆT CHO GIA ĐÌNH Mật mã 2: Thiên Chúa của người Do Thái mong muốn có lễ chúc tụng Hãy hát reo cho Đức Chúa Trời là sức lực chúng ta; Hãy cất tiếng la vui vẻ cho Đức Chúa Trời của Jacob. Hãy hát xướng và nổi tiếng trống cơm, đờn cầm êm dịu với đờn sắt. Hãy thổi kèn khi trăng non, lúc trăng rằm và nhằm các ngày lễ chúng ta. – Tv 81,1-3 Cô con gái nhỏ hỏi cha mình: “Cha ơi, tại sao người đàn ông kia lại ăn mặc kỳ lạ như vậy?” Đó là một người Do Thái chính thống trong trang phục truyền thống màu đen với mái tóc xoăn bồng bềnh kéo dài từ thái dương xuống tới cằm. Ông ta quấn quanh đầu một chiếc khăn trắng và một hộp màu đen như được dính vào đỉnh đầu. Nếu không để ý đến tôn giáo của ông thì nhìn từ bên ngoài trông ông ta khá lập dị. Tôi từng trải qua cảm giác bị nhìn như một người lập dị khi ở tuổi trưởng thành. Cha tôi là mục sư của một nhà thờ truyền thống. Theo tôn giáo của mình, chúng tôi không được mặc quần cộc ở các nơi công cộng và phụ nữ thì không được phép mặc quần mà chỉ được phép mặc váy, không đeo đồ trang sức, chỉ được đeo nhẫn cưới và cũng không được phép trang điểm. Hầu hết những người phụ nữ đều không bao giờ cắt tóc mà họ chỉ quấn cao trên đầu. Chúng tôi làm những việc này bởi vì tất cả đều được giải thích trong Kinh Tân Ước và đây cũng là phong tục được truyền lại từ đời cha ông. Cũng giống như các người bạn Do Thái, chúng tôi luôn bị những người không theo đạo sống cùng trong khu vực coi như người kỳ quặc. Tôi chưa bao giờ cảm thấy hối tiếc vì mình đã lớn lên trong quy định nghiêm ngặt này, vì tổ tiên của chúng tôi thực sự rất ngoan đạo, tin vào Thiên Chúa, kính sợ Thiên Chúa và cầu nguyện cho các tín hữu. Tuy nhiên, khi trưởng thành trong môi trường như vậy khiến tôi có xu hướng nhận thức rằng Thiên Chúa rất nghiêm khắc và cứng nhắc, Người thường tức giận và chỉ thực sự yêu thương chúng ta nếu chúng ta chăm chỉ đến nhà thờ… Sau khi nghiên cứu rất nhiều bữa tiệc mà Thiên Chúa đã thiết lập trong Kinh Torah, tôi vui mừng khi phát hiện ra rằng Thiên Chúa rất thích tham dự các bữa tiệc và muốn có thời gian vui vẻ với con cái Người. Thực tế, Người rất yêu thích các bữa tiệc! Tôi đã đi đến một kết luận Thiên Chúa luôn yêu cầu con cái Người phải sống một cuộc sống có ý nghĩa thần thánh nhưng Người cũng khinh những kẻ tạo ra luật pháp nghiêm ngặt hơn cả những điều răn dạy của Người. Mặc dù Thiên Chúa ghét tội lỗi nhưng Người vẫn yêu thương những kẻ phạm tội. Tôi cũng được biết rằng, một khi chúng ta bước vào lời giao ước cứu độ, chúng ta sẽ được trở thành dân thánh. Cả gia đình, công việc và mối quan hệ giữa các tín hữu của chúng ta cũng sẽ được tham dự vào lời giao ước ấy. Chúng ta sẽ được trải qua bữa tiệc và các mùa tốt đẹp trong năm bởi vì Thiên Chúa của chúng ta đã tạo nên các mùa lễ hội vui mừng cho dân tộc Do Thái. Các bữa tiệc Những bữa tiệc được ấn định trong tiếng Do Thái gọi là moedim và được tổ chức đều đặn hàng năm. Trong sách Lêvi chương 23 câu 6, có từ chỉ đại lễ trong tiếng Do Thái là chag, mà từ chag này có nguồn gốc từ từ chagag có nghĩa là “chuyển động theo vòng tròn” hay “nhảy múa”. Ngụ ý của nó chính là chỉ thời gian vui vẻ mà Thiên Chúa đã thiết lập cho dân Người. Mỗi ngày đại lễ bao gồm: một lời chỉ dẫn đặc biệt, một bữa ăn đặc biệt (trừ ngày lễ ăn chay đền tội) và không được làm việc xác. Có rất nhiều ngày đại lễ liên quan đến toàn thể gia đình. Bắt đầu từ mùa xuân (vào khoảng tháng Ba hoặc tháng Tư), tiếp tục vào mùa thu (thường là tháng Chín hoặc tháng Mười), có 7 ngày lễ như sau: Tên ngày lễ trong tiếng Việt Tên ngày lễ trong tiếng Do Thái Thời gian tổ chức Lễ Vượt qua Pesach Tháng thứ 1, ngày 14 trongtháng Lễ Bánh không men Chag Ha Matzot Tháng thứ 1, ngày 15 đếnngày thứ 20 Lễ Dâng bó lúa đầu mùa Bikkurim Tháng thứ 1, ngay sau Lễ Sabbath, sau khi giữ Lễ Bánhkhông men Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Shavout 50 ngày sau ngày lễ dâng đầu mùa Lễ Kèn thổi Yom Teruah Tháng thứ 7, ngày đầu tiên Lễ Đền tội Yom Kippur Tháng thứ 7, ngày thứ 10 Lễ Lều tạm Sukkot Tháng thứ 7, ngày thứ 15đến ngày thứ 20 Ngoài các đại lễ trên còn có một ngày lễ đặc biệt được gọi là Ngày lễ vui mừng trong Torah. Ngày lễ này được tổ chức vào ngày thứ 22 của tháng thứ 7 (hoặc ngày 8 của Lễ Lều tạm). Điều kỳ diệu trong những lễ hội này đó là nó luôn chứa đựng cả ba điều là thực tiễn, tinh thần thánh và lời tiên tri. Ứng dụng thực tiễn ở đây là họ đã chọn thời gian trong chu kỳ gieo trồng, mưa và thu hoạch của người Israel. Những cây lúa mạch đầu mùa được linh mục dâng vào đền thờ ngay sau Lễ Vượt qua (Lv 23,4-11). Lúa mì sẽ được dâng lên trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống và được tập trung lại để trong suốt Lễ Lều tạm. Thóc lúa và hoa quả ở Israel được thu hoạch nhờ vào hai mùa mưa trong năm gọi là mưa đầu mùa và mưa cuối mùa (Ga 2,23). Trong Lễ Lều tạm sẽ có một nghi thức đặc biệt được tổ chức trong đền thờ để gọi những cơn mưa mùa đông đến. Việc tổ chức những buổi lễ này cũng có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong các sự kiện liên quan đến Israel: Lễ Vượt qua: nhắc nhở người Israel nhớ về thời gian rời khỏi Ai Cập, khi cái chết vượt qua ngôi nhà họ. Lễ Bánh không men: nhắc nhở người dân Israel về lúc họ nhanh chóng rời khỏi Ai Cập (chỉ mang bánh mà không mang men). Lễ Dâng bó lúa đầu mùa: được tổ chức khi thấy những hạt lúa chín đầu tiên được thu hoạch. Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống: là lời nhắc nhở của Thiên Chúa khi Người tỏ rõ luật Thiên Chúa cho Moses trên núi Sinai. Lễ Kèn thổi: là những kỉ niệm về tiếng kèn thổi. Lễ Đền tội: đánh dấu ngày mà Đấng Tối Cao đã chuộc tội cho những người Israel tội lỗi. Lễ Lều tạm: nhắc mọi người nhớ về 40 năm lang thang trong hoang mạc của người Israel. Những lễ hội này cũng mang ý nghĩa tiên tri. Những lời tiên tri trong các lễ hội này sẽ liên quan đến các sự kiện xuất hiện trong tương lai, sự xuất hiện của Chúa Cứu Thế và vương quốc của Người: Ngày lễ Lời tiên tri được thực hiện Ngày lễ Lời tiên tri được thực hiện Lễ Vượt qua Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá trước LễVượt qua Lễ Bánh không men Chúa Giêsu ở trong mồ Lễ Dâng bó lúa đầu mùa Chúa Giêsu sống lại và mang lại sự sống chonhững người đã chết Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Sự ra đời của các nhà thờ Kitô giáo ở ThànhJerusalem khi Chúa Thánh Thần hiện xuống Lễ Kèn thổi Lễ hội này làm chúng ta liên tưởng đến ngàyChúa Giêsu trở lại và cứu chuộc con người lầnđầu Lễ Đền tội Sự kiện hàng năm này chính là hình ảnh ngày phán xét của Thiên Chúa sắp tới và được gọi lànỗi khổ cực. Lễ Lều tạm Ngày lễ này là một bức tranh về triều đại của Chúa Cứu Thế ở Thành Jerusalem. Không làm việc xác Thiên Chúa yêu cầu tất cả những người đàn ông trên 20 tuổi phải hành hương về Jerusalem trong ba ngày đại lễ là: Lễ Vượt qua, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống và Lễ Lều tạm (Xh 23,14-17). Để tưởng nhớ và tôn vinh bảy ngày đại lễ này, tất cả mọi người đều nghỉ làm và không làm việc xác. Ngày lễ Trích từ Không làm việc Ngày Lễ Vượt qua và ngày Lễ Bánh không men Sách Lêvi chương 23 câu 5 Không làm việcxác Ngày Lễ dâng đầu mùa Sách Lêvi chương 23 câu 8 Không làm việcxác trong bảy ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Sách Lêvi chương 23 câu 16-21 Không làm việcxác Lễ Kèn thổi Sách Lêvi chương 23 câu 24-25 Không làm những công việc nặng nhọc Lễ Đền tội Sách Lêvi chương 23 câu 27-28 Không làm việcxác Lễ Lều tạm Sách Lêvi chương 23 câu 34-35 Không làm những công việc nặng nhọc Khi tưởng tượng đến cảnh những người đàn ông từ 20 tuổi trở lên, mỗi năm ba lần hành hương về một vùng đất để làm mới lại tinh thần, thể hiện sự hiện diện của Thiên Chúa giữa đời sống họ, cùng nhau ăn bữa ăn đặc biệt và gắn kết tinh thần bằng hữu, tôi – người thuộc thế hệ thứ tư của dòng dõi linh mục – có thể nói với bạn rằng không có gì tốt hơn là tình bằng hữu giữa những người tín hữu với nhau. Mỗi năm chúng ta có từ ba đến sáu ngày lễ trọng kéo dài năm ngày với chín buổi phụng vụ. Những buổi lễ trọng này mang tới cho ta cảm giác về một đại gia đình được thống nhất và trở thành điểm sáng cho tình bạn thân thiết của các Kitô hữu và linh mục. Lễ hội ánh sáng Vào năm 167 TCN, người Do Thái phải đối mặt với sự áp bức của một vị vua khét tiếng tên là Antiochus Epiphanes. Người ta thường gọi vị vua này là “người đàn ông điên rồ”. Ông đã thay thế những linh mục người Do Thái bằng những linh mục người Hy Lạp, ngăn cấm việc dâng lễ trên bàn thờ, không cho phép người Do Thái được làm phép cắt bì và nghiêm cấm tổ chức các ngày đại lễ. Vào ngày thứ 25 của Tháng Kislev (tháng 12) năm 167 TCN, đền thờ đã bị vấy bẩn và phạm tội với Chúa khi Antiochus dùng heo làm lễ vật dâng lên Thần Dớt (thần của người Hy Lạp). Khi thấy như vậy, Matthias và năm người con trai của ông (dòng dõi Maccabees) đã nổi dậy chống lại người Hy Lạp. Chế độ thống trị của người Hy Lạp chính thức kết thúc vào ngày 25 Tháng Kislev (lịch Do Thái) sau ba năm chiếm giữ Do Thái. Người Do Thái đã quét dọn lại các đền thờ, chuẩn bị nhiều đồ tế mới, giăng các bức trướng mới, và đặt lên bàn thờ những chiếc bánh thơm ngon (1 Mcb 4,50-51). Tuy nhiên, có một phép màu thực sự liên quan đến bảy giá đỡ nến được gọi là cây menorah. Sau khi chiến thắng kẻ thù, lúc này trong đền thờ của người Do Thái chỉ còn lại một bình dầu và cũng chỉ đủ thắp sáng cho một ngày. Khi cây cột dầu được thắp lên thì phải cung cấp đủ dầu ô liu nguyên chất hàng ngày (Xh 27,20), nhưng người ta phải mất một tuần để tìm và chuẩn bị dầu ô liu. Tuy nhiên một điều kỳ diệu đã xảy ra, ngọn đèn đã sáng trong suốt tám ngày liền. Phép mầu nhiệm này được tưởng nhớ hàng năm bằng Lễ Hanukkah hay cũng được biết đến như Lễ hội Ánh sáng. Các cây cột ở đền thờ có bảy giá đỡ nến trong khi cây menorah của Lễ Hanukkah có tới chín giá đỡ. Trong Lễ Hanukkah, các thầy tu Do Thái mỗi ngày sẽ đốt một cây nến và tiếp tục đốt cho đến ngày thứ tám. Cùng với việc đốt nến, họ cũng kể lại những câu chuyện hấp dẫn về việc tái thiết lập đền thờ. Cây Menorah Lễ Hanukkah ngày nay Ngày nay, trong các gia đình Do Thái, Hanukkah là một lễ quan trọng, nó liên quan đến toàn thể gia đình, đặc biệt là các em nhỏ. Một người bạn người Do Thái giải thích về ngày lễ truyền thống này với các Kitô hữu: “Tất cả trang phục, thức ăn, và quà tặng đều được tặng giống như một ngày ‘lễ Giáng sinh của người Do Thái’. Trong tám ngày của Lễ Hanukkah, thức ăn sẽ được chiên bằng dầu. Các bà mẹ trong gia đình sẽ làm món bánh bột khoai tây và nước táo xanh. Ở nhiều nơi, người ta còn làm bánh trái cây và đặt trên các bàn. Những món quà được đem tặng cho nhau trong tám ngày đó. Trẻ con chơi trò con quay được gọi là dreidel. Mỗi chóp của con quay đều được đánh dấu bằng một chữ Do Thái. Các chữ đó là: Nun, Gimel, Hei và Shin. Như tôi đã nói trước đây, ngày Lễ Giáng sinh của người Kitô hữu truyền thống cũng vào ngày 25 tháng 12 và chỉ kéo dài trong một ngày. Nhưng ngày Lễ Hanukkah lại kéo dài trong suốt tám ngày. Trong Lễ Hanukkah, một số người thường mua cây menorah và đặt trong nhà của họ. Cô con gái út của tôi rất thích nghe kể chuyện, vì thế trong dịp lễ này, mỗi tối tôi thường đốt một cây nến và bắt đầu kể chuyện. Tôi thấy rất buồn cười khi con gái tôi nói: “Con thích Lễ Hanukkah, con thích những câu chuyện và con muốn được nhận quà mỗi ngày!” Rõ ràng, Thiên Chúa rất yêu thích các bữa tiệc và các linh mục Do Thái cũng biết cách làm thế nào để tổ chức một bữa tiệc. Lý do tổ chức các bữa tiệc Tôi tin rằng có nhiều lý do khác nhau khiến người Do Thái lại chọn những thời điểm mang ý nghĩa khác nhau. Thứ nhất: Nhắc nhở về lời chúc lành của Thiên Chúa Trong cuốn Trong những năm tháng đó (In Those Days, at This Time) tác giả Gideon Weitzman đã viết: Bảy ngày đại lễ hàng năm của người Do Thái không chỉ nhắc nhở họ nhớ về quá khứ, mà hơn hết nó còn chứa đựng thông điệp, nội dung từ quá khứ và có ảnh hưởng tới tương lai. Lễ Vượt qua liên tưởng đến sự tự do, Lễ Lều tạm cho thấy sự bảo vệ của Thiên Chúa với dân Người… Trong ngày lễ, người Do Thái sẽ dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện đặc biệt để tạ ơn Người đã cứu thoát, bảo vệ và chỉ dẫn cho tổ tiên họ. Họ cũng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ và con cháu họ những điều kỳ diệu như khi xưa Người đã từng làm cho cha ông họ. Thứ hai: Những ngày nghỉ Thiên Chúa đã tạo nên vạn vật trong sáu ngày và Người nghỉ ngơi vào ngày thứ Bảy (St 2,2). Thời gian bắt đầu của mỗi tuần được gọi là ngày Sabbath hay Shabbat (trong tiếng Do Thái) có nghĩa là “sự nghỉ ngơi bên cạnh việc lao động”. Ngày Sabbath là ngày mỗi người đều không làm việc và được nghỉ ngơi. Thiên Chúa đã răn dạy rằng cả những vùng đất và vật nuôi đều được nghỉ ngơi để thực hiện lời răn dạy. Cơ thể con người luôn cần được nghỉ ngơi và nhịp đập của trái tim thường chậm lại vào ngày thứ Bảy (đó là lý do tại sao con người có xu hướng có một giấc ngủ ngắn vào ngày thứ Bảy). Ngày Sabbath của người Do Thái kéo dài 24 tiếng, bắt đầu lúc 6 giờ chiều ngày thứ Sáu và kết thúc vào 6 giờ chiều ngày thứ Bảy. Đối với người Do Thái chính thống, đó là khoảng thời gian tuyệt vời để nghỉ ngơi, tận hưởng ba bữa ăn và dành thời gian cho gia đình. Quy trình ngày Sabbath của người Do Thái diễn ra như sau: Người phụ nữ sẽ thắp sáng cây nến để chào đón ngày Sabbath, sau đó cả gia đình cùng quây quần bên nhau. Cầm cây nến lên và chúc lành cho nhau. Cả gia đình cùng dùng bữa ăn và có thể hát bài “Peace to You”. Người cha đặt tay lên những đứa con hoặc ôm và chúc lành các con. Người chồng sẽ đọc Châm ngôn chương 31 về người phụ nữ đức hạnh để tôn vinh người vợ thân yêu của mình. Nâng cốc rượu hoặc nước nho lên và chúc lành, được gọi là Shabbat Kiddush (Lễ tế Sabbath). Nâng bánh mì lên và nói lời chúc lành. Khoảng thời gian lúc hoàng hôn, từ 6 giờ chiều ngày thứ Sáu đến 6 giờ chiều ngày thứ Bảy, lời chào phổ biến khi gặp mọi người đó là Shabbat Shalom hay ngày Sabbath an lành. Thứ ba: Đưa những người đàn ông đến gần nhau bằng các mối quan hệ và tình bằng hữu Theo cách nghĩ của người Do Thái, người đàn ông không chỉ là trụ cột mà họ còn là linh mục tinh thần của gia đình. Bởi vì con trai trưởng sẽ mang họ của gia đình và đảm bảo duy trì nòi giống của gia đình. Những bé trai sẽ hiểu được tầm quan trọng vị trí của mình, đó là điều rất quan trọng đối với Thiên Chúa. Trong sách Xuất hành chương 13, Moses đã nói rằng nếu đứa con đầu lòng là một bé trai thì đứa trẻ đó sẽ được tách khỏi mẹ và đưa vào đền thờ. Những bé trai thường có mối ràng buộc đặc biệt với mẹ còn bé gái thường có mối ràng buộc với cha. Khi tất cả những người đàn ông trên 20 tuổi hành hương về Thành Jerusalem ba lần mỗi năm, và lúc đó sợi dây quan trọng ràng buộc những người đàn ông sẽ xuất hiện, đưa họ đến cùng một nơi, cùng nhau đổi mới tinh thần và tăng cường tình bằng hữu. Thứ tư: Đối mặt với sự hiện diện của Thiên Chúa trong đền thờ Vào thời Israel cổ đại, giáo đường là nơi tập trung mọi người hàng tuần và đền thờ Jerusalem chính là ngôi nhà có sự hiện diện của Thiên Chúa. Vào ngày Sabbath, cộng đồng tập trung tại giáo đường. Trong các ngày lễ quan trọng, những người đàn ông sẽ hành hương về đền thánh, mang theo cừu, hoa trái đầu mùa, thuế và của lễ với mong muốn được đổi mới tinh thần và hối cải ăn năn. Khi tôi lớn lên, cha tôi đang làm linh mục ở Virginia. Chúng tôi đến nhà thờ vào mỗi buổi sáng Chủ nhật, tối Chủ nhật và tối thứ Tư, không bao giờ bỏ lỡ các buổi phụng vụ đặc biệt, trừ khi chúng tôi ốm. Mỗi tháng quận sẽ tổ chức đại hội giới trẻ, sau đó là một bữa ăn, thường là bữa ăn nhanh. Các buổi gặp mặt của giới trẻ hàng tháng đã tạo ra các mối quan hệ mà chúng tôi tôn trọng và yêu mến. Điều Chúa biết Israel là một xã hội nông nghiệp, chủ yếu người dân làm việc trong các trang trại và chăm sóc vật nuôi. Thời gian làm việc của họ kéo dài và khá khó khăn. Thiên Chúa sử dụng mưa và những chu kỳ thu hoạch để tạo nên một khoảng thời gian được ấn định, trong khoảng thời gian đó con người có thể tận hưởng những thành quả sau khi thu hoạch và tổ chức các bữa tiệc cảm tạ Thiên Chúa. Những ngày đại lễ này luôn có các bữa ăn ngon, hoạt động đặc biệt để đổi mới tinh thần cho những người lao động. Thiên Chúa đã thiết lập nên thời gian nghỉ ngơi để mọi người có thời gian tận hưởng cùng gia đình và cộng đồng. Điều người Do Thái sùng đạo biết Mặc dù những ngày lễ có ý nghĩa tinh thần, thực tiễn và mang một đặc điểm riêng biệt trong lịch sử các sự kiện của Israel nhưng người Do Thái biết rằng phải luôn nhắc nhở mọi thế hệ về sự cứu chuộc của Thiên Chúa và lời giao ước của Người với dân Người. Những ngày đại lễ hàng năm này làm cho Do Thái trở thành dân tộc khác với mọi dân tộc và quốc gia khác. Thiên Chúa yêu thích các bữa tiệc và người Do Thái luôn được mời tham dự. Điều người Kitô hữu nên biết Thiên Chúa yêu thích các bữa tiệc và chúng ta cũng nên tổ chức lời giao ước cứu độ thông qua Chúa Giêsu. Cả bảy ngày đại lễ đều mang ý nghĩa tiên tri. Chúa Giêsu đã hoàn thành ba điều đầu tiên trong lần đầu Người đến thế gian. Nhà thờ được sinh ra trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Cv 2,1-4) và lời tiên tri về các sự kiện tương lai sẽ nằm trong ba ngày đại lễ. Thiên Chúa chưa bao giờ làm điều gì với những ngày đại lễ nhưng Người cho phép các đại lễ được xem như lời tiên tri về Đấng Cứu Thế. Mỗi ngày đại lễ đều nhắc nhở về các sự kiện của người Kitô hữu đã hoặc sẽ xảy ra. Chương 3 Ý NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CÁC GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC SỐNG Mật mã 3: Người Do Thái có những bí mật trong việc dạy dỗ con cái Hãy dạy đứa trẻ đi con đường nó phải đi, để đến tuổi già, nó vẫn không lìa bỏ. – Cn 22,6 Đó là một đêm tháng Mười giá lạnh, khi nhóm của chúng tôi gồm năm người đàn ông của chương trình Gideon Shor dưới sự hướng dẫn của tôi, đã bước nhanh đến văn phòng tầng trên của Giáo trưởng Yehudah Getz. Hôm đó cũng là ngày lễ Hanukkah. Có chín cây đèn lớn được đốt lửa và gắn chặt trên đỉnh của tòa nhà chính, tạo nên một thứ ánh sáng thần bí vượt qua cả mưa gió, sự khắc nghiệt của thời tiết và cả những bức tường đá vôi của Western Wall. Chúng tôi bước vào văn phòng của Giáo trưởng và được chào đón bằng một nụ cười ấm áp và cái bắt tay nồng ấm của một người đàn ông cao chừng 1,75m. Ông có bộ râu dài màu trắng muốt như chiếc kẹo bông đặt trước chiếc áo khoác màu đen chính thống của mình. Tấm lòng nhiệt tình, hiếu khách và nụ cười sảng khoái của ông khiến tôi nhớ đến một vị Thánh Nicholas của Do Thái. Buổi gặp mặt của chúng tôi đã thành công tốt đẹp vì tất cả những câu hỏi mà chúng tôi đưa ra đều được trả lời qua người phiên dịch Do Thái. Đôi khi, giáo sĩ Do Thái thần bí sẽ quay lại và lấy ra một cuốn sách từ giá sách khổng lồ vô tận chứa các điều răn của người Do Thái, những trích dẫn của Kinh Thánh truyền miệng, Kinh Talmud hoặc các nguồn Kinh Thánh khác. Sau buổi gặp mặt thân mật, tôi đã được hỏi ý kiến về các bài giảng Torah truyền miệng. Tôi đã phát hiện ra rằng người Do Thái không chỉ có Kinh Torah mà còn có hàng loạt cuốn sách tâm linh và tôn giáo khác. Qua nhiều thế kỷ của các xã hội hiện đại, lúc đó người ta không biết rõ ràng về cách ban hành các điều luật trong Kinh Torah, vì vậy những nhà giảng luật Do Thái đã biên soạn một loạt các bài viết được gọi là Kinh Talmud. Có nhiều người gọi là Talmud Jerusalem, được tạo ra ở Israel khoảng năm 400 SCN và cũng có người gọi là Talmud Babylonian được hoàn thành vào năm 499 SCN. Cả hai cách gọi này đều được chấp nhận là bản thảo của luật Do Thái do Giáo trưởng Judah ha-Nasi (Giáo trưởng của Hội đồng tôn giáo) biên soạn vào thế kỷ thứ II và thứ III. Khi các giáo trưởng bình luận về Kinh Mishna, họ cho rằng cần bổ sung các điều luật và giai thoại của họ, những tư tưởng thần học, vì vậy mà một tác phẩm đã được biên soạn tên là Gemara. Cả hai Kinh Mishna và Gemara đều được cấu thành từ bộ Kinh Talmud. Ngoài ra, thể văn Midrash (nghiên cứu ý nghĩa) chính là một chú giải bổ sung về Kinh Thánh. Những người Do Thái chính thống thường dành thời gian cuộc sống của họ cho việc nghiên cứu Kinh Torah và bài giảng truyền miệng. Họ nghiên cứu các cuốn kinh trên bằng cách đọc, đặt ra câu hỏi, nhận xét và đọc đi đọc lại nhiều lần. Có nhiều thắc mắc cho rằng liệu trí tuệ của người Do Thái có phải tập trung vào giáo dục không? Hầu hết người Do Thái đều chăm chỉ, siêng năng học hành và nghiên cứu. Trong khi giới trẻ ở phương Tây lại dành thời gian bảy tiếng một ngày để giải trí bằng tivi, thì những bạn trẻ Do Thái cùng tuổi với họ lại đang nghiên cứu những các văn bản cổ xưa. Tìm kiếm người nâng đỡ Cain Sau khi bị đuổi ra khỏi vườn Eden, bà Eve đã sinh được hai người con trai đặt tên là Cain và Abel. Vào một dịp, cả hai người con trai của Eve đều dâng của lễ hy sinh cho Chúa. Abel dâng con vật mới sinh cho Chúa còn Cain dâng hoa trái cho Người. Thiên Chúa thương Abel và nhận thịt Abel dâng cúng, nhưng chê Cain và không nhận hoa trái của Cain. Vì thế Cain tức giận, rủ em ruột của mình ra ngoài đồng rồi giết em. Từ đó Cain trở thành một vagabond có nghĩa là “một kẻ lang thang”. Tinh thần của kẻ lang thang này miêu tả nhiều thế hệ trẻ tuổi ở Mỹ và các quốc gia châu Âu. Các thế hệ Cain chính là một nhóm những kẻ lang thang, tìm kiếm sự chấp thuận, xác nhận và quan tâm, đi tìm kiếm tình yêu ở tất cả những nơi không có thật. Những nhóm Cain này đang được nuôi dưỡng và lớn lên bởi những người còn hơn cả cha mẹ mình trong đó có những băng cướp. Ở Mỹ, các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng và chịu ảnh hưởng của mọi người chứ không phải cha mẹ của chúng. Tivi đã trở thành người giữ trẻ trong nhiều gia đình. Các trò chơi trên máy tính đã lấy mất đi những thời gian giá trị và làm xa rời các cuộc nói chuyện giữa các thành viên trong gia đình. Điện thoại và các tin nhắn văn bản không cần thiết đang chiếm hữu phần lớn thời gian. Phim điện ảnh, internet và các công nghệ khác đang tạo ra sự giải trí trong các khoảng thời gian của gia đình. Trong các gia đình không phải Do Thái, cha mẹ thường làm hai công việc đặc trưng nên đã làm giảm bớt thời gian cho gia đình. Thực tế, theo thống kê cho thấy trung bình người bố sẽ dành 2.5 tiếng một tuần cho con cái của họ bao gồm cả việc xem tivi. Thời gian đầu đời, một chu kỳ sống bắt đầu thì đứa trẻ thường chịu ảnh hưởng của người khác hơn là bố mẹ của chúng. Còn khi chu kì cuộc sống của trẻ là năm tuổi thì chúng bắt đầu làm việc với cha mẹ. Ngay từ khi còn bé, những đứa trẻ đã được đưa đến các trường mầm non trong khi mẹ chúng đang làm việc để kiếm tiền sống qua ngày. Sau những năm tháng ở trường mầm non, trẻ em sẽ trải qua 12 năm học ở tiểu học, trung học và trung học phổ thông, như vậy có khoảng 13 năm chúng bị ảnh hưởng trực tiếp từ các thầy, cô giáo. Đó là những người luôn nỗ lực và cố gắng để truyền đạt kiến thức cho những đứa trẻ với hy vọng chúng sẽ đạt điểm cao và có thể tốt nghiệp. Trong suốt 13 năm đó, những đứa trẻ sẽ dành hàng nghìn giờ đồng hồ để xem những tội ác, cảnh bạo lực, tình dục, và những lời nói tục thông qua các chương trình tivi, phim điện ảnh và DVD. Việc đăng nhập vào internet đã tạo ra thêm hàng nghìn giờ cho những thông tin và hình ảnh sinh động, trong đó có một một thế giới đen tối của sự trụy lạc và những phòng chat trực tuyến. Tám giai đoạn phát triển Có tám từ Do Thái khác nhau được tìm thấy trong Kinh Thánh, được sử dụng để mô tả một giai đoạn mới của cuộc sống. Từ Do Thái Kinh Thánh Cấp độ phát triển Yeled Xh 2,3,6,8 Sơ sinh Yanaq Is 11,8 Bú sữa Owlel Ac 4,4 Tập ăn Gamul Is 28,9 Cai sữa Taph Ed 9,6 Bám lấy mẹ Elem (almah) Is 7,14 Trở nên mạnh mẽ và quả quyết hơn Na’ar Is 40,30 Thanh niên Bachur Is 31,8 Chín chắn và trưởng thành (mộtbinh sĩ) Trong Kinh Mishna, Giáo trưởng Yehuda, con trai của Tema, đã liệt kê các giai đoạn của cuộc sống bắt đầu từ giai đoạn 5 tuổi cho đến 100 tuổi như sau: Giai đoạn cuộc sống Tầm quan trọng của mỗi giai đoạncuộc sống 5 tuổi Đọc Kinh Thánh 10 tuổi Bắt đầu học Kinh Mishna 13 tuổi Gắn bó với các điều răn 15 tuổi Bắt đầu học Kinh Talmud 18 tuổi Lập gia đình 20 tuổi Theo đuổi công việc kinh doanh 30 tuổi Tràn đầy sự mạnh mẽ và nhiệt huyết Giai đoạn cuộc sống Tầm quan trọng của mỗi giai đoạncuộc sống 40 tuổi Trưởng thành về lý trí 50 tuổi Người cố vấn 60 tuổi Dấu hiệu của tuổi tác 70 tuổi Tuổi già 80 tuổi Người cao tuổi 90 tuổi Trở nên già yếu 100 tuổi Về trời Việc hướng dẫn và dạy dỗ trẻ em phải được bắt đầu tại gia đình. Trong tiếng Hebrew, từ cha mẹ là horim còn thầy, cô là morim. Cả hai từ này đều có nghĩa dạy dỗ và giảng dạy. Với các bậc cha mẹ Do Thái, họ tin rằng họ chính là người hướng dẫn và là người giáo viên quan trọng đối với con cái họ. Trách nhiệm này cũng đã được hé lộ trong Kinh Torah: Những lời tôi nói đây, anh em phải ghi lòng tạc dạ, phải buộc vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu. Anh em phải dạy những lời ấy cho con cái, mà nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy. Anh em phải viết lên khung cửa nhà anh (em) và lên cửa thành của anh (em). Như vậy, bao lâu trời còn che đất, anh em và con cái anh em còn được sống trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã thề với cha ông anh em rằng Người sẽ ban cho các ngài. – Đnl 11,18-21 Việc hướng dẫn và giảng dạy phải được bắt đầu từ những năm trẻ còn học ở mầm non. Trong 5 năm đầu đời, cha mẹ sẽ có thể nhìn thấy được sự phát triển về tính cách của con cái họ. Đến những năm vị thành niên là quãng thời gian phát triển hệ thống giá trị của trẻ, còn đến năm 20 tuổi là thời gian chúng phát triển đạo đức nghề nghiệp. Sự phát triển và trưởng thành về thể chất có thể vượt qua cả thời gian, nhưng nền tảng cho xu hướng tâm linh của trẻ phải được dạy dỗ từ sớm. Trẻ em sẽ học các giá trị từ gia đình của mình, còn kiến thức chúng sẽ học từ trường lớp và học hỏi các thói quen từ bạn bè của chúng. Trong các gia đình Do Thái giáo, việc đào tạo và dạy dỗ cho trẻ bắt đầu từ cách dạy cho trẻ những lời cầu nguyện, đặc biệt là đức tin trong các nghi thức tôn giáo Shema và Berachot. Việc đầu tiên là học lời cầu nguyện, Shema Yisrael, có nghĩa là “Nghe đây, hỡi Israel”. Đó là một loại của Kinh Tin Kính với đoạn chính của lời cầu nguyện nằm trong sách Đệ nhị luật chương 6 câu 4 “Nghe đây, hỡi Israel! Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất”. Ở Do Thái câu này được đọc là “Shema Yisrael Adonai Eloheinu Adonai Echad”. Lời cầu nguyện cũng bao gồm các câu trong sách Đệ nhị luật chương 11 từ câu 13 đến câu 21 và Dân số chương 15 từ câu 37 đến câu 41. Lời nguyện Shema sẽ được đọc đi đọc lại hai lần mỗi ngày, một lời cầu nguyện đọc vào buổi sáng và một lời cầu nguyện vào buổi tối. Học cách cầu nguyện là một phần rất quan trọng với người Do Thái giáo. Ở Do Thái, có 18 lời cầu nguyện được dùng trong các nghi thức lễ được gọi là shmoneh esre (có nghĩ là “mười tám”). Những lời cầu nguyện này sẽ được cầu nguyện mỗi tuần, ba lần một ngày. Nhưng sau đó những lời nguyền rủa của người theo dị giáo được bổ sung vào, nên đã tạo ra 19 chủ đề cầu nguyện dưới đây: Một lời nhắc nhở của giao ước Thiên Chúa với các giáo trưởng Một lời miêu tả sức mạnh toàn năng của Thiên Chúa Suy niệm tên của Thánh Thần Cầu nguyện cho sự sáng suốt của Chúa Thánh Thần Cầu nguyện cho sự ăn năn Cầu nguyện tha thứ mọi tội lỗi Cầu nguyện chuộc tội qua Chúa Cứu Thế của Israel Cầu nguyện chữa lành mọi vết thương – cũng dành cho dân tộc của Israel Cầu nguyện cho một năm bội thu Lời cầu nguyện tha hết mọi nợ nần trong Chúa Cứu Thế – Đấng Phán Xét cuối cùng Cầu nguyện sự gian trá sẽ bị hủy diệt Cầu nguyện cho sự thành kính và cải đạo thực sự Cầu nguyện Thành Jerusalem sẽ được xây dựng lại Cầu nguyện Chúa Cứu Thế sẽ đến Khẩn cầu cho những lời cầu nguyện này sẽ được Chúa lắng nghe Cầu nguyện sự danh tiếng sẽ trở lại với Zion Tạ ơn lòng từ bi của Thiên Chúa Cầu nguyện sự hòa bình của Thiên Chúa sẽ ở lại cùng dân tộc Israel Sau khi học xong lời cầu nguyện Shema, những đứa trẻ sẽ bắt đầu học chúc phúc. Lời cầu nguyện này được gọi là Berachot (lời chúc phúc) được yêu cầu trước mặt những đứa trẻ. Khi trẻ em tập nói, chúng được khuyến khích cầu nguyện trước thức ăn và để cảm ơn Thiên Chúa vì những thứ bé nhỏ này như thức ăn, bánh kẹo hay hoa quả mà họ đang có. Trẻ em sẽ phải thực hiện hành động này trong suốt 21 ngày liên tiếp để hành động này trở thành một thói quen. Vì vậy, việc cầu nguyện không được tùy tiện mà phải đều đặn, thường xuyên. Tôi đã nhìn thấy điều đó từ con út của tôi – Amanda. Ngay từ khi con bé còn nhỏ khoảng 2, 3 tuổi, chúng tôi đã yêu cầu Amanda chúc phúc cho thức ăn và mỗi bữa ăn. Vì vậy dù là ăn ở nhà hàng, con bé vẫn nhắc nhở mọi người tạ ơn Thiên Chúa. Với người Do Thái, lời cầu nguyện cho thức ăn đó là: Phúc thay Người, Thiên Chúa chúng ta, Vua của vũ trụ đã mang đến bánh mỳ từ trái đất Lời cầu nguyện có thể bao gồm: Phúc thay Người, Thiên Chúa chúng ta, Vua của vũ trụ đã tạo ra trái nho… tạo ra các loại hoa trái… tạo ra tất cả vạn vật. Ngay từ khi đứa trẻ còn nhỏ, cha mẹ sẽ phải đọc sách truyện cho con cái của họ nghe. Công việc này thường được vợ tôi – Pam thực hành mỗi ngày cùng với những đứa con của chúng tôi. Cô ấy sẽ kết thúc một ngày bằng cách đọc một chương sách trong khi nằm cùng với những đứa trẻ và chúng tôi sẽ kết thúc một ngày khi những đứa trẻ sẽ chúc ngủ ngon và chúc lành cho gia đình, nhà cửa, thậm chí là cả con mèo. (Hãy nhớ Thiên Chúa cũng gộp các động vật khỏe mạnh vào danh mục chúc phúc của bạn đấy!) Hầu hết trẻ em đều yêu thích búp bê và đồ chơi. Trong văn hóa Mỹ nổi bật lên búp bê dành cho bé gái, còn đồ chơi thì dành cho bé trai. Tuy nhiên, đồ chơi phương Tây hiếm khi được phát triển trong nền giáo dục tôn giáo. Trong nền văn hóa Do Thái, có rất nhiều đồ chơi được tạo ra với chủ đề tôn giáo trong trí tuệ. Đồ chơi sẽ được nhét vào những cuộn Kinh Torah; bảng chữ cái Do Thái được dựng trên những chiếc hộp hình vuông, hay những chiếc hộp đồ chơi để dạy trẻ lòng khoan dung với những người nghèo khổ; dụng cụ tạo âm thanh Purim (lễ kỉ niệm Do Thái thoát khỏi âm mưu tàn sát của Haman), hay trò chơi liên quan đến Lễ Vượt qua và nhiều đồ chơi có liên quan đến Hanukah (lễ hội tám ngày của Do Thái). Khi trẻ em trưởng thành, chúng sẽ được tặng một chiếc khăn choàng có viền bốn góc và được dạy về lịch sử và ý nghĩa tâm linh của chiếc kèn sừng trâu shofar. Khi trẻ con lớn lên, chúng sẽ được dạy cách lễ phép với người lớn tuổi. Trong cộng đồng Chính thống, những người đàn ông lớn tuổi luôn được tìm đến vì họ có trải nghiệm và sự thông thái. Với các gia đình Do Thái đầu tiên, các thành viên gia đình đều gắn chặt với nhau khi có một thành viên mất đi, họ để tang trong bảy ngày, và sau đó là để tang đèn trong 30 ngày. Những đứa trẻ đều được dạy phải để tang cha mẹ mình trong 12 tháng và phải thực hiện ngày giỗ cho cha mẹ của mình. Năm giai đoạn của cuộc sống Giai đoạn cuộc sống trong các gia đình Do Thái có thể được tóm gọn trong một từ chúc tụng. Khái niệm chúc tụng cuộc sống được thể hiện qua bảy lễ trọng hàng năm và chu kỳ Sabbath, bắt đầu sinh ra và tiếp tục cho đến lúc kết hôn. Việc ca tụng cuộc sống được phát triển qua năm giai đoạn. Mỗi giai đoạn sẽ mở đầu một nghi thức hay trải nghiệm tôn giáo mới để giới thiệu và ghi nhớ mỗi giai đoạn. Giai đoạn 1: Sự ca tụng trong lễ cắt bao quy đầu Theo điều răn của Chúa, bé trai Do Thái phải được cắt bao quy đầu vào ngày thứ tám kể từ khi được sinh ra. Hành động cắt bao quy đầu này được Thiên Chúa khởi xướng là một nghi thức tâm linh hơn là một cuộc phẫu thuật vì điều đó mang ý nghĩa con trai Do Thái trở thành một phần trong giao ước với Thiên Chúa. Hành động cắt bao quy đầu được yêu cầu trong luật lệ và bất cứ bé trai Do Thái nào không cắt bao quy đầu đều bị cách xa con người. Kẻ không được cắt bì, người đàn ông con trai không được cắt bì nơi bao quy đầu, sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ: nó đã phá vỡ giao ước của Ta. – St 14,14 Một chi tiết thú vị khác đó là tên của đứa trẻ sẽ không được đưa ra hay tiết lộ vào lúc sinh. Tên của đứa trẻ sẽ được thảo luận bí mật giữa bố mẹ, họ hàng và bạn bè thân thiết. Điều này vẫn sẽ là bí mật cho đến ngày thứ tám lúc cử hành nghi lễ cắt bao quy đầu. Vào lúc quyết định, người cha của đứa trẻ sẽ ghé vào tai người đỡ đầu và nói tên con trai họ. Sau đó, tên này sẽ được thông báo công khai cho tất cả mọi người có mặt trong lễ đó, mọi người cùng vui mừng và chúc lành cho đứa trẻ. Điều tôn vinh nhất chính là đặt tên con trai sau tên người cha, người ông, hay một kí tự Kinh Thánh hay hoặc tên của một người Do Thái nổi tiếng. Tên của bé trai sẽ được nhấn mạnh trong các sự kiện và được ca tụng vì mọi tên Do Thái đều mang một ý nghĩa đặc trưng và duy nhất. Những lời chúc lành cho đứa trẻ sẽ là những lời nguyện cho đứa trẻ sẽ thành công trong cuộc sống, trong cuộc hôn nhân tương lai, và lời cầu nguyện đứa bé sẽ lớn lên và hiểu biết về Kinh Torah. Sau nghi thức đó, gia đình và bạn bè thân thiết sẽ dùng chung một bữa ăn nghi lễ. Giá của sự trao đổi và dâng hiến đứa trẻ Chỉ sau một thời gian ngắn từ lúc đứa trẻ sinh ra, hầu hết bố mẹ Kitô giáo sẽ sắp xếp một buổi tiến dâng đứa trẻ trong nhà thờ ở địa phương họ. Trong buổi dâng tiến đó ngoài bố mẹ còn có các anh chị em, ông bà nội ngoại, cha đỡ đầu, họ hàng và bạn bè thân thiết tham dự. Buổi lễ sẽ tràn đầy cảm xúc khi linh mục chủ trì ôm đứa bé mới sinh, nói những lời chúc lành lời cầu nguyện và giao phó cho bố mẹ nuôi nấng đứa trẻ theo nghi thức của Thiên Chúa. Sau đó, các nghi thức tôn thờ sẽ được tiếp tục như thường lệ. Là một người Kitô giáo, tôi tin rằng mỗi đứa trẻ đều được ca tụng trong nhà thờ mà gia đình của chúng thường xuyên tham dự. Việc tiến dâng đứa trẻ cũng là một cơ hội để mời người thân tham dự vào nghi thức tôn thờ mà họ có thể đã không tham dự trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều bậc cha mẹ cũng có thể chọn cách làm theo các gia đình Do Thái, những người luôn đặt việc dâng tiến đứa con trai đầu lòng của họ là việc quan trọng trong gia đình. Nghi lễ dành cho con trai này được gọi là Pidyon Haben (sự chuộc lỗi của con trai). Điều răn cổ đại này đã được viết trong sách Dân số chương 18 câu 15-16. Tất cả các con đầu lòng của bất cứ xác phàm nào, dù là người hay súc vật, mà người ta dâng cho Ðức Chúa, đều được dành cho ngươi; nhưng ngươi phải cho chuộc lại con đầu lòng của người ta, và con đầu lòng của súc vật không sạch, ngươi cũng cho chuộc lại. Ngươi sẽ cho chuộc khi nó được một tháng; tiền chuộc ngươi sẽ ấn định là mười lăm chỉ bạc, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. Khay bạc, châu báu và tiền xu Thông thường, mười người đàn ông sẽ được hiện diện trong nghi lễ. Linh mục sẽ hỏi người cha rằng anh ta sẽ lựa chọn đứa trẻ hay 5 shekels.[1] Khi người cha chọn đứa trẻ, nói một lời chúc lành, và cầm trên tay đồng tiền bạc đưa cho linh mục. Linh mục cầm đồng tiền xu trước đứa trẻ và sẽ tuyên bố mọi tội lỗi đã được chuộc. Linh mục sẽ chúc phúc cho đứa trẻ, sau đó đứa trẻ được trở lại với bố mẹ và đồng xu sẽ được đưa lại cho đứa trẻ như một món quà. Đứa trẻ sẽ quấn trong một cái chăn trên một chiếc khay bạc, xung quanh là vàng bạc được những người phụ nữ tham gia cho mượn. Điều này để ám chỉ việc người Do Thái đã mượn vàng bạc từ những người hàng xóm của họ khi rời khỏi Ai Cập. Sau đó là một bữa ăn của nghi lễ và một số người sẽ phân phát thỏi đường và nhánh tỏi. Nhưng những bé gái sẽ không được trải qua nghi lễ đặt tên của chúng, những người Do Thái gốc Tây Ban Nha gọi nghi lễ này là Zeved habat, còn những người Do Thái gốc Đức thì gọi là Simchat bat. Nghi lễ này thường được tiến hành vào tháng đầu tiên từ khi đứa trẻ sinh ra và có thể được ca tụng riêng trong giáo đường hoặc trong một bữa tiệc tại nhà. Một giáo trưởng và đội trưởng ca đoàn sẽ tham gia vào nghi thức này. Có rất nhiều phong tục và truyền thống khác nhau thể hiện rõ chi tiết về nghi thức này cho các bé gái. Tuy nhiên, có một vài phong tục như thắp bảy cây nến, đại diện cho bảy ngày của Đấng Tạo Hóa trong khi ôm đứa trẻ hoặc quấn đứa trẻ trong chiếc khăn choàng có viền bốn góc của người Do Thái. Một số phong tục khác như nhấc đứa trẻ lên và chạm tay của chúng vào Kinh Toral. Nghi lễ dâng tiến của người Kitô giáo Những phong tục tốt đẹp này sẽ được áp dụng cho những tín hữu không phải Do Thái như thế nào? Trong Kinh Thánh không xây dựng bất cứ cách thức nào để dâng tiến trẻ sơ sinh, ngoài ví dụ của bà Hannah (1 Sm 1,23-28) và Mary và Joseph (Lc 2,21-27). Mọi ông bố bà mẹ nên thực hiện việc dâng tiến trong nhà của Chúa, nhưng họ cũng có thể xem xét và cân nhắc để tiến hành nghi lễ đặc biệt tại nhà. Điều này cho phép bạn bè và gia đình được mời đến nhiều hơn tùy vào sự bố trí của gia đình và cũng ngăn chặn sự hạn chế thời gian trong các nghi thức dâng tiến kết hợp với lễ sáng Chủ nhật. Tiếp đó, một bữa ăn đặc biệt cũng được chuẩn bị để chúc mừng đứa trẻ đến với một cuộc sống mới. Dưới đây sẽ là một số gợi ý để kết hợp những nghi thức truyền thống Do Thái này vào nghi thức dâng tiến trẻ sơ sinh của người Kitô giáo trong gia đình: Chuẩn bị thời gian dâng tiến sau khi đứa trẻ được 30 ngày tuổi (Ds 18,15-16). Với những người Kitô giáo truyền thống, Chủ Nhật là một ngày tốt lành bởi vì vào những ngày này họ sẽ tham dự thánh lễ và nghỉ làm việc xác. Chuẩn bị 5 đồng bạc shekels (cũng có thể là đồng đô la bạc) như một biểu tượng chuộc tội (Ds 18,15-16). Trưởng ca đoàn, linh mục hoặc giáo trưởng tham dự vào nghi lễ để cầu nguyện cho đứa trẻ những lời chúc lành tốt đẹp nhất. Bởi vì lời cầu nguyện được dâng lên Chúa, nên bạn có thể chọn cách quấn đứa trẻ vào chiếc khăn choàng có viền bốn góc của người Do Thái để thể hiện lời Chúa và những lời răn của Người. Sau nghi lễ sẽ là một bữa ăn gia đình. Bạn có thể gắn chiếc hộp mezuzah nhỏ của đứa trẻ lên phía bên trái khung cửa phòng của đứa trẻ sơ sinh. Nếu bạn chọn tiến hành nghi lễ ở nhà, thì bạn cần đảm bảo việc thông báo cho tất cả những bên liên quan về tầm quan trọng và trách nhiệm của họ trong suốt buổi dâng tiến. Dù là bé trai hay bé gái, thì tất cả phải được ca tụng và được xác nhận qua nghi lễ dâng tiến riêng tại nhà hoặc trước cộng đồng. Và đó chính là giai đoạn đầu tiên của cuộc sống. Giai đoạn 2: Lễ kỉ niệm trưởng thành Lễ kỉ niệm tiếp theo này được tiến hành khi con trai (hoặc con gái) Do Thái được 13 tuổi. Những bé trai nhỏ tuổi sẽ trải qua một lễ kỉ niệm được gọi là bar mitzval và các bé gái sẽ trải qua lễ kỉ niệm được gọi là bat mitzvah. Trong tiếng Hebrew mitzvah có nghĩa là “điều răn”. Bởi vì trong tiếng Hebrew từ bar có nghĩa là con trai còn bat có nghĩa là con gái. Trong Kinh Thánh, tất cả các điều răn của Thiên Chúa đều được gọi là mitzvoth. Nghi lễ này là một lễ kỉ niệm để công nhận đến tuổi trưởng thành cho bé trai và bé gái khi chúng đến tuổi quan trọng – tuổi 13. Một vài lần ở Israel, tôi đã được xem nghi lễ bar mitzvah ở bức tường Western Wall (một vài người gọi là bức tường than khóc – Wailing Wall). Các thành viên gia đình và bạn bè là phụ nữ sẽ đứng sau bức ngăn đá lớn, tách biệt họ với khu của vực của đàn ông trong hội trường. Còn những họ hàng và người quen là đàn ông thì sẽ đứng ở phía ra vào của đường hầm phía bên trái, song song với bức tường lịch sử Western Wall. Những đứa trẻ được tiến hành nghi lễ sẽ được khoác chiếc khăn choàng có viền bốn góc của người Do Thái, đội một chiếc mũ chỏm của người Do Thái và được người bố hoặc họ hàng thân thiết nhất cõng trên lưng. Những người đàn ông bước vào hội trường bức tường đá lúc này đang vỗ tay, ca hát, và nhảy múa thì giáo trưởng dẫn đầu đám diễu hành và giữ cuốn Kinh Torah lớn trên đầu. Ngay lập tức, những người phụ nữ sẽ phát ra những âm thanh của sự chấp nhận cùng với tiếng la hét và họ bắt đầu ném những nắm kẹo vào nhóm diễu hành. Cho đến tận lúc này thì người cha vẫn phải chịu trách nhiệm về tất cả những hành động của con họ. Trong khi những người không phải Do Thái thường sợ hãi và lo lắng khi con cái của họ trở thành thanh thiếu niên, thì người Do Thái chính thống lại kỉ niệm và chúc mừng dịp này. Dịp này không chỉ làm thay đổi trách nhiệm đạo đức và tinh thần cho bé trai và bé gái mà thông qua nghi lễ gia đình này, chúng được cha mẹ, họ hàng và bạn bè thân thiết xác nhận và khẳng định. Theo văn hóa phương Tây, bé gái sẽ được công nhận khi đến tuổi 16 – tuổi đầy ngọt ngào, còn những thiếu niên nam cảm thấy họ trở thành một người đàn ông khi họ đến 18 tuổi, rời xa gia đình và thoát khỏi những bao bọc che chở và ảnh hưởng của bố mẹ, gia đình. Tuy nhiên, nếu chúng ta trì hoãn hướng dẫn đạo đức và tinh thần cho những đứa con của mình cho đến lúc chúng 16 và 18 tuổi thì đã quá muộn. Trong đạo Do Thái, nghi lễ bar mitzvah hoặc bat mitzvah là khởi đầu cho nghi thức đi vào cộng đồng trưởng thành của Do Thái. Người Kitô giáo thường tranh luận “Tuổi trách nhiệm của tinh thần và đạo đức cho trẻ là gì?” Phần lớn các gợi ý cho rằng, đó sẽ là tầm tuổi mà từ khi chúng có thể cầu nguyện và ăn năn hối lỗi đến tuổi nhận biết được đúng sai. Lúc Chúa Giêsu 12 tuổi, Người đã ở trong đền thờ cùng với các cuốn Kinh Thánh và nghiên cứu lề luật. Ông Joseph đã tìm Người và Chúa Giêsu nói: “Con còn có bổn phận ở nhà Cha của con”. Lúc đó Chúa Giêsu gần 13 tuổi. Với tôi, tôi tin rằng tuổi thực sự của trách nhiệm đạo đức và tinh thần bắt đầu từ năm 12 tuổi đến năm 13 tuổi. Lúc này cũng sẽ bắt đầu những sự thay đổi về hoóc môn và thể chất được gọi là tuổi dậy thì. Với đạo Do Thái, nghi thức bar mitzvah là tuổi điều răn và tuổi thành niên. Tôi còn nhớ khi con trai của bạn tôi là Bill Cloud 13 tuổi, chúng tôi đã tụ tập tại một nhà hàng địa phương để ăn một bữa đặc biệt, cầu nguyện và chúc phúc, chúc mừng cậu bé bước vào với cộng đồng những người trưởng thành. Thay vì chờ đợi cho đến khi tốt nghiệp, những đứa trẻ sẽ rời nhà để thể hiện trách nhiệm tinh thần và cá nhân, vậy tại sao lại không kỉ niệm, chúc mừng tuổi 13 và cho chúng bắt đầu những năm tháng thanh thiếu niên? Giai đoạn 3: Lễ trưởng thành Tuổi 18 là một thời điểm đánh dấu bước đi quan trọng trong văn hóa Bắc Mỹ. Hầu hết khoảng thời gian này, những thanh thiếu niên đã tốt nghiệp cấp III và chuẩn bị bước vào cánh cửa đại học hoặc cao đẳng hoặc chúng có thể đang được đào tạo hướng nghiệp. Và đó cũng là tuổi mà bốn cơ quan, chi nhánh quân sự của Mỹ tuyển dụng những chàng trai hay cô gái cho các công việc hoặc sự nghiệp trong hoạt động quân sự. Một điều bất ngờ là Thiên Chúa bắt đầu việc tuyển chọn của Người cho quân đội Israel vào tuổi 20 chứ không phải tuổi 18. Như vậy sự khác nhau trong hai năm là gì? Bất kỳ bậc cha mẹ nào nuôi nấng con cái (đặc biệt là con trai) đều biết rằng tuổi từ 16 đến 19 chính là thời điểm thử thách nhất cho tất cả các thanh thiếu niên. Chúng sẽ cố gắng để khám phá bản thân và tránh xa những ảnh hưởng của cha mẹ. Ngoài ra, chúng sẽ có những áp lực từ bạn bè cùng trang lứa về những trải nghiệm với rượu, tình dục và ma túy trái phép. Tôi và vợ tôi cũng từng đặt câu hỏi tại sao hầu hết các ông bố bà mẹ lại có những câu chuyện về sự nổi loạn của đứa con đang tuổi vị thanh niên của họ và tại sao phần lớn cha mẹ lại nói với chúng tôi: “Mọi thứ dường như sẽ trở nên tốt đẹp khi chúng đến tuổi 20”. Một vài người nói rằng: “Khi con tôi bước vào tuổi 20, dường như mọi thứ tốt đẹp đã đến và tôi tự hỏi: ‘Liệu đây có phải đứa con trai ngang ngạnh đã luôn chống đối những chỉ dẫn và giảng dạy của tôi không?’” Thiên Chúa biết rằng có những vấn đề sinh học sẽ xảy ra ở tuổi 20 mà các nguồn y học gần đây đã phát hiện ra. Khi đếm số dân Do Thái, Thiên Chúa đã đếm từ tuổi 20 đến 60, yêu cầu nộp một nửa shekel để chuộc tội cho mọi đàn ông trên 20 tuổi (Lv 27,3-5). Tất cả đàn ông trên 20 tuổi (chứ không phải 18) đều được chuẩn bị cho chiến tranh nếu cần thiết: Các ngươi hãy kiểm tra dân số toàn thể cộng đồng con cái Israel theo thị tộc và gia tộc, lập danh sách mọi người đàn ông, từng người