🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Lương Văn Can - Xây Dựng Đạo Kinh Doanh Cho Người Việt Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn Lương Văn Can - Xây Dựng Đạo Kinh Doanh Cho Người Việt (Bộ Sách Đạo Kinh Doanh Việt Nam Và Thế Giới) https://thuviensach.vn Tác giả: Nguyễn Hồng Dung Nhà xuất bản: Nxb Trẻ https://thuviensach.vn Nhà phát hành: Nxb Trẻ Khối lượng: 280 gam Kích thước: 12x20 cm Ngày phát hành: 05/2007 Số trang: 194 Giá bìa 40.000 đ Nguồn: http://tve-4u.org Type+Làm ebook: thanhbt Cuốn sách này được giới thiệu ở đây nhằm chia sẻ cho những bạn không có điều kiện mua sách. Còn nếu bạn có khả năng hãy mua ủng hộ nha! https://thuviensach.vn Giới thiệu sách Bộ Sách Đạo Kinh Doanh Việt Nam Và Thế Giới - Lương Văn Can - Xây Dựng Đạo Kinh Doanh Cho Người Việt thuộc bộ Đạo kinh doanh, viết về cuộc đời một nhân vật lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam - chí sĩ Lương văn Can. Ông là người thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi xướng cho phong trào yêu nước ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, ông cũng là người cổ vũ cho nền thương nghiệp nước nhà, thể hiện niềm tin và nghị lực mạnh mẽ để góp phần làm thay đổi xã hội theo chiều hướng tích cực. Tám mươi năm trước, một nhân sĩ người Việt đã nói câu chuyện “Thế giới đi lại như một nhà” với đông đảo người dân, đề cao việc mở rộng buôn bán trong và ngoài nước, cổ vũ việc học tập và rèn luyện các kỹ năng kinh doanh để bằng với thiên hạ trên thế giới... Đó là Lương Văn Can, một nhà yêu nước, một trí thức lớn, một nhà doanh nghiệp và là tác giả bộ sách dạy kinh doanh đầu tiên của Việt Nam “Thương học phương châm”. Sau gần 100 năm, hậu thế lần giở những trang ghi chép tâm huyết trong cuộc đời và sự nghiệp của ông, mới thấy, cách đây rất lâu, người Việt đã tìm đường kinh thương và viết nên những trang đầu tiên của “đạo kinh doanh” - mà cho tới bây giờ, có thể những doanh nhân của thời hiện đại còn phải cố lắm mới ngộ ra và theo kịp bước khởi đầu... https://thuviensach.vn Mục lục Cùng bạn đọc: Kiếm tiền hay phụng sự xã hội? Lời nói đầu Chương I: CÙNG XẮN TAY ĐỔI THAY VẬN NƯỚC I. Sụp đổ hình ảnh đấng quân vương hay sự vỡ mộng của chủ nghĩa yêu nước cũ II. Giòng trống Duy Tân III. Chân dung người góp lửa IV. Công cuộc “khai dân trí, chấn dân khí” V. “Lò phiến loạn Bắc Kỳ” Chương II: KINH DOANH ĐỂ PHỤNG SỰ TỔ QUỐC I. Những năm biệt xứ và chuyện kinh doanh ở xứ người II. Tổ quốc đã khắc ghi... III. “Ta nay nào đã khác xưa ta” Chương III: ĐẠO KINH DOANH CỦA NGƯỜI VIỆT I. Doanh nhân Việt thời Pháp thuộc II. Khai trí cho thương giới Việt III. Đạo kinh doanh của người Việt Chương IV: TIẾP TỤC SỰ NGHIỆP “KHAI DÂN TRÍ, CHẤN DÂN KHÍ” Thay lời kết Phụ lục 1 Phụ lục 2 Tài liệu tham khảo https://thuviensach.vn Cùng bạn đọc: Kiếm tiền hay phụng sự xã hội? Bộ sách mà bạn đọc đang cầm trên tay là kết quả của dự án nghiên cứu mang tên “Đi tìm Đạo Kinh doanh của Việt Nam và Thế giới” do Tổ Hợp Giáo Dục PACE thực hiện trong suốt 14 tháng vừa qua. Chúng tôi đặt tên cho bộ sách này là “Đạo Kinh doanh Việt Nam và Thế giới” với mong muốn được chia sẻ cùng bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc doanh nhân và bạn đọc quan tâm đến kinh doanh, những kiến giải về hàng loạt các câu hỏi như: “Kinh doanh là gì?”, “Doanh nhân là ai?”, “Đâu là “đạo” của nghề kinh doanh?” và “Tại sao kinh doanh là một nghề cao quý và xứng đáng được xã hội tôn vinh?”... Từ câu chuyện của những huyền thoại doanh nhân thế giới Đội ngũ chuyên gia của PACE cùng các cộng sự đã nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của 25 doanh nhân huyền thoại, đến từ 25 tập đoàn kinh doanh dẫn đầu trong những bảng xếp hạng doanh nghiệp trên toàn thế giới, nhằm tìm kiếm “cái đạo”, cái triết lý cốt lõi trong kinh doanh của họ. Mục đích là để lý giải xem vì sao họ là những người kiếm tiền nhanh nhất, kiếm tiền nhiều nhất và kiếm tiền bền vững nhất thế giới, đồng thời họ lại được xã hội đặc biệt kính trọng? Phân tích từng chặng đường, từng mốc sự nghiệp, từng bước thăng trầm... của những huyền thoại doanh nhân này, chúng tôi đã đúc kết được những https://thuviensach.vn nét chung nhất, nói chính xác hơn, là những yếu tố khiến họ trở nên vĩ đại, trở thành những doanh nhân huyền thoại. Đó là sự khao khát, là niềm đam mê một cách mãnh liệt để sáng tạo, để đem đến thật nhiều giá trị mới cho cuộc sống và cho xã hội. Họ đã thực hiện được điều đó bằng việc cống hiến cả cuộc đời mình lẫn việc truyền đạt, dẫn đường cho hậu thế. Vì vậy mà ngày nay chúng ta đã có hàng loạt những câu chuyện về họ: Đó là câu chuyện ông chủ hãng ô tô Ford đã “đặt cả thế giới lên bốn bánh xe”, làm cho trái đất “quay” nhanh hơn khi trao cho đông đảo mọi người trong xã hội cơ hội sở hữu chiếc xe ô tô - vốn trước đó chỉ dành riêng cho giới thượng lưu và những người giàu có. Chỉ một quyết định giải quyết “nhu cầu lưu chuyển” cho xã hội, Henry Ford đã làm thay đổi cuộc sống của tất cả chúng ta. Đó là câu chuyện chàng trai Larry Page tin tưởng tuyệt đối vào sứ mệnh “tổ chức lại hệ thống thông tin thế giới” của mình, kiên trì cùng Google theo đuổi giấc mơ một ngày nào đó, Google sẽ là người dẫn đường cho mọi người tham gia vào thế giới mênh mông của tri thức, thông tin trực tuyến. Đó là câu chuyện chàng thanh niên Akio Morita bằng mọi giá phải đáp ứng nguyện vọng được nghe đài phát thanh để cập nhật thông tin cuộc sống của một nước Nhật hoang tàn sau chiến tranh, đến khát vọng “kiến tạo một nền giải trí tương lai” cho cả thế giới mà Sony đang sống và sáng tạo mỗi ngày. Đó là câu chuyện Jorma Ollila, bằng chiếc điện thoại Nokia cùng những giá trị được tạo ra trong nó, ông không những góp phần định dạng lại đất nước Phần Lan trên bản đồ toàn cầu mà còn kết nối cả thế giới này và làm cho mỗi chúng ta trở nên “gần nhau” hơn. Đó là câu chuyện khi nhắc đến máy tính IBM, có lẽ chúng ta sẽ không thể https://thuviensach.vn không nghĩ đến hình ảnh chữ “Think” và người khai sinh ra nó, Thomas Watson Sr. IBM trở thành “gã khổng lồ của thế giới” trong suốt gần 100 năm qua cũng chính là nhờ chữ “Think” đó, mà theo Thomas Watson Sr. thì nó nghĩa là: “Mọi rắc rối đều có thể giải quyết nếu người ta chịu khó suy nghĩ”. Suy nghĩ để phục vụ con người chính là bí quyết thành công của các thế hệ IBM... Đến những câu chuyện mà chúng tôi vẫn thường kể Lời đầu của bộ sách, chúng tôi muốn kể lại với quý vị một vài câu chuyện mà PACE luôn tự hào khi tìm thấy nó trong hành trình “Khát Vọng Doanh Trí” của mình trong suốt những năm vừa qua: Bà chủ một tiệm tạp hóa suốt ngày không vui vì buôn bán ế ẩm. Nhưng sau những ngày tháng nhìn vào “mắt” khách hàng, bà chợt nghĩ: “sao tôi không là người giải quyết vấn đề nhu yếu phẩm cho cả xóm?”. Và mọi chuyện thay đổi. Từ đó, nhiều gia đình chưa khá giả trong khu phố có thể mua một, hai gói mì tôm (mà không cần phải mua cả thùng mì), một tép bột ngọt (mà không cần phải mua cả gói bột ngọt). Bà có thể mở cửa lúc mờ sáng hay nửa đêm, khi chẳng còn nơi nào bán hàng nữa để đáp ứng nhu cầu “hết chanh đột xuất” hoặc “nhà không còn nước mắm”. Hay hơn nữa, mọi người chỉ “xẹt” một hai bước chân là có ngay những vật phẩm cần thiết nhất cho gia đình. Lại thêm chuyện giá cả của bà so với chợ và siêu thị cũng chẳng chênh lệch là bao. Ai cũng đoán ra kết quả: cửa tiệm suốt ngày người ra kẻ vào, bà thì bán hàng luôn tay và cười nói luôn miệng. Không chỉ tiền lãi thu được tăng cao, mà bà còn có “lợi nhuận” lớn nhất là sự quý mến của mọi người dành cho một người biết kinh doanh như bà. Câu chuyện thứ hai về một cơ sở sản xuất tủ sắt. Người ta thường mua tủ của cơ sở này về để đựng hồ sơ. Một cơ sở bé xíu rất đỗi bình thường thì liệu có mang trong người “sứ mệnh xã hội”? Trong một thời gian dài, cơ sở hoạt động cầm chừng, cho đến một ngày ông chủ của nó thay đổi cách https://thuviensach.vn nghĩ: tôi không “bán tủ sắt” nữa, mà sẽ “bán giải pháp lưu trữ hồ sơ văn phòng”. Từ đó, ông và đồng sự tiến hành nghiên cứu để tạo ra những cái tủ sao cho có thể chống được mối, mọt, chống thấm, ngăn tủ này thì có khóa kiên cố để đựng hồ sơ quan trọng, ngăn tủ khác thì không cần khóa để dễ kéo ra kéo vào... Ông cũng chịu khó đi đến các văn phòng để nghiên cứu màu sơn, thay đổi kích cỡ, kiểu dáng... Thế là sản phẩm của ông còn thêm tính năng làm đẹp cho cả văn phòng của các công ty. Chỉ sau một thời gian ngắn, cơ sở của ông đã lột xác và phát triển rất nhanh. Như vậy, doanh nghiệp lớn hay nhỏ tùy thuộc vào vấn đề xã hội mà họ giải quyết được. Bà chủ tạp hóa của khu phố nọ cùng Sam Walton (ông chủ tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới Wal-Mart) đều giải quyết vấn đề mua sắm của xã hội thông qua việc mở cửa hàng bán lẻ. Họ chỉ khác nhau về phạm vi: xã hội của bà chủ tiệm tạp hóa là một khu phố, còn xã hội của Sam mang tầm cỡ thế giới. Điều xã hội quan tâm không phải là doanh nghiệp đó kiếm được bao nhiêu mà là họ đã mang lại gì cho cộng đồng. Chẳng hạn, trong khi tỉ phú Nhật, Toyoda (“cha đẻ” của Toyota), với tinh thần ái quốc được người Nhật xem như anh hùng dân tộc thì tỉ phú Nga, Khodorkovsky (ông chủ của Yukos), ông ta là ai trong mắt dân Nga thì chỉ người Nga mới thấu rõ. Sự khác nhau này có lẽ do cách thức kiếm tiền của họ. Nghề kinh doanh, xưa nay vẫn thường bị hiểu chỉ như là nghề “kiếm tiền”. Nhưng thực chất, không hề có nghề kiếm tiền, bởi nghề nào thì cũng kiếm tiền cả. Chẳng hạn, luật sư kiếm tiền bằng việc hành nghề luật, bác sĩ kiếm tiền bằng cách chữa bệnh cứu người... Và doanh nhân, người hành nghề kinh doanh, cũng kiếm tiền bằng cách lãnh đạo một doanh nghiệp và thông qua doanh nghiệp đó để giải quyết vấn đề hay đáp ứng nhu cầu nào đó của xã hội. Nhưng điều khác biệt của nghề kinh doanh là trong quá trình hành nghề của mình doanh nhân không hành động một cách đơn lẻ mà biết kiến tạo ra các chuỗi giá trị. Cụ thể hơn, họ nắm lấy một doanh nghiệp và tập https://thuviensach.vn hợp bên mình nhiều thành viên để cùng cộng hưởng lại nhằm hình thành một sức mạnh tổng lực, từ đó tạo ra nhiều giá trị hơn cho xã hội. Đó cũng chính là lý do mà nghề kinh doanh thường kiếm được nhiều tiền hơn so với những nghề khác và vẫn được cộng đồng xã hội ủng hộ. Nghiên cứu 25 huyền thoại doanh nhân thế giới cho thấy, dù có quá nhiều sự khác biệt nhưng họ đều có chung một tư tưởng chủ đạo: “Kinh doanh là phụng sự xã hội”. Hay nói một cách đầy đủ hơn, “Kinh doanh là kiếm tiền bằng cách phụng sự xã hội, bằng cách dùng sản phẩm hay dịch vụ như là phương tiện để giải quyết những vấn đề của xã hội và làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn”. Cái “đạo” kinh doanh này đã được họ quán triệt ngay từ buổi đầu khởi nghiệp đầy gian khó cho tới lúc thành công. Và sự thật này cũng chính là lý do giúp họ kiếm tiền nhanh nhất, nhiều nhất, bền nhất, còn bản thân họ thì được xã hội tôn vinh, nể trọng, và rồi họ đi vào lịch sử kinh doanh thế giới như những huyền thoại, doanh nghiệp của họ cũng vĩ đại và trường tồn. Như vậy, với một tâm thế luôn hướng về cộng đồng, luôn khát khao làm cho xã hội quanh mình (có thể nhỏ gọn trong một ngôi làng hoặc rộng lớn bằng cả một hệ mặt trời) tốt đẹp hơn, chính họ, những doanh nhân (dù lớn hay nhỏ, dù “Tây” hay “Ta”, dù “cổ” hay “kim”) luôn được xã hội tôn vinh không phải vì số của cải khổng lồ họ kiếm được, mà vì những đóng góp vô giá của họ vào sự đổi thay của thế giới này. Rồi quá trình định hình của “văn hóa doanh nhân Việt Nam” Song song với những doanh nhân lẫy lừng của thế giới, điều khác biệt ở bộ sách này là chúng tôi đã khởi sự hành trình tìm kiếm những “huyền thoại doanh nhân Việt Nam” để, như một cố gắng, “định vị” xem ông cha ta ngày xưa đã khởi sự kinh doanh như thế nào. Và thật bất ngờ, trong lịch sử Việt Nam đã từng có những Lương Văn Can, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, https://thuviensach.vn Trịnh Văn Bô... với những tư tưởng kinh doanh có thể gây ngạc nhiên cho đến tận bây giờ. Gần 100 năm trước, một nhà yêu nước, một trí thức lớn và cũng là nhà kinh doanh Lương Văn Can đã khẳng định trên tờThực nghiệp Dân báo: “Đương buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài thi sức ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ buôn bán càng thịnh đạt, buôn bán thịnh thời trong nước giàu mạnh không biết đến đâu là cùng, buôn bán suy thời trong nước nghèo yếu không biết đâu mà kể, cứ xem cái trình độ buôn bán một nước nào cao hay thấp, rộng hay hẹp thời xét được dân nước ấy giàu hay nghèo, văn hay dã. Việc buôn bán thịnh suy có quan-hệ đến quốc-dân thịnh suy như thế, ta há nên coi thường, xem khinh được sao”. Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của Thương học phương châm, cuốn sách giáo khoa đầu tiên của thương giới Việt Nam, cụ Lương Văn Can đã chia sẻ: “Bây giờ phong khí mở rộng, hoàn cầu đi lại như một nhà, đường bộ thì có hỏa xa, đường thủy thì có hỏa thuyền, không trung thì có tàu bay, lại thêm điện báo để thông thư tín, điện thoại để thông âm ngữ, tin tức đã mau, vận tải rất tiện, người mà thông buôn bán thì làm giàu rất tiện...”. Cụ Lương Văn Can còn chỉ ra những điểm hạn chế chính của những người làm kinh doanh Việt Nam thời bấy giờ: Không có thương phẩm, không có thương đạo, không có thương học, không biết giao thiệp, không biết trọng nghề, không có kiên tâm, không có tín thực... Gần 100 năm sau, Người Việt gia nhập kỷ nguyên toàn cầu hóa, ngẫm lại, thấy thắt lòng vì những điều người xưa nói vẫn còn nguyên giá trị. Và dẫu hiện nay chúng ta đang cùng chung sống, làm ăn trong bối cảnh toàn cầu https://thuviensach.vn hóa thì doanh trí Việt Nam vẫn đang có một khoảng cách quá xa so với doanh trí thế giới, cả về tư duy và tầm nhìn, cả về cái tâm và cái đạo. Tuy nhiên, cũng trong việc lần giở những trang sử mà ông cha để lại, chúng ta bỗng vui mừng nhận ra những cột mốc quan trọng trên hành trình xây dựng đạo kinh doanh, định hình một nét văn hóa kinh doanh rất riêng của người Việt. Đầu tiên phải kể đến dấu ấn của thời điểm Hồ Chủ Tịch gửi thư cho các giới công thương Việt Nam, vào ngày 13 tháng 10 năm 1945. Bức thư có đoạn viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới Công Thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập “Công Thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”. Đó không chỉ là một bức thư động viên để “chấn doanh khí” mà còn là sự khẳng định bản chất cơ bản, đạo lý cốt lõi trong nghề doanh thương của nước nhà, đó là: Giới doanh thương hãy hoạt động sao cho “ích quốc lợi dân”, ích nước lợi mình. Rồi một lần khác, tại hội chợ triển lãm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 1958, báo Nhân Dân trích đăng lời Hồ Chủ Tịch: “Những người sản xuất phải cố gắng sản xuất nhanh, nhiều, tốt và rẻ. Hàng làm ra nhanh và nhiều nhưng không tốt và rẻ thì không ai mua. Đồng bào ta nồng nàn yêu nước nên rất muốn dùng hàng của ta sản xuất, nhưng trước nhất người sản xuất phải làm hàng tốt và rẻ. Người sản xuất phải thực thà sản xuất hàng tốt cho đồng bào dùng, không nên làm hàng trưng bày thì tốt mà hàng bán thì xấu. Giá cả phải chăng, không lừa dối người mua. Sản xuất phải thiết thực và đúng hướng, đảm bảo làm nhiều loại hàng tốt và rẻ cần dùng cho đông đảo nhân dân”. https://thuviensach.vn Và chắc có lẽ bạn đọc cũng chưa quên cái khoảnh khắc mà Luật công ty năm 1990 ra đời với quan điểm người dân chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Đến đúng 10 năm sau, Luật doanh nghiệp năm 2000 quy định lại: Người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Nghề doanh nhân đã bước sang một giai đoạn mới trong lịch sử kinh thương của nước nhà. Và thật sự, chúng ta cũng không thể quên thời khắc Thủ tướng chính phủ ra quyết định chọn ngày 13 tháng 10 hằng năm là “Ngày doanh nhân Việt Nam”; và không thể quên những hàng tin chạy dài trên trang nhất tất cả các báo: “Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ X: Đảng viên được làm kinh tế tư nhân”. Chúng ta tìm thấy gì trong những mốc son ấy? Đó chính là những bước ngoặt góp phần vào sự định hình mỗi ngày một rõ nét hơn của văn hóa doanh nhân Việt Nam. Song cũng qua chính những mốc son ấy, chúng ta biết được rằng, “văn hóa doanh nhân Việt Nam” (còn gọi là “văn hóa kinh doanh Việt Nam” hay “Văn hóa của giới doanh nhân Việt Nam”) đang trong quá trình được định hình. Tuy nhiên, để có được một “văn hóa” như mong muốn thì trước hết cần phải có “tư tưởng”, đồng thời phải xác định được những “yếu tố hình thành” văn hóa cho giới doanh nhân của ta. Và bằng những nghiên cứu của mình trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy rằng, để giải quyết vấn đề “tư tưởng” thì ta phải xác định rõ “doanh nhân là ai?” và “kinh doanh là gì?”. Và lời đáp sâu xa của hai câu hỏi này nằm ở cái “đạo” của nghề kinh doanh, hay còn gọi là “đạo kinh doanh”. Đọc lại cuộc đời và sự nghiệp của cụ Lương Văn Can, không ít người tự hỏi: Cái “thương đạo” (hay gọi là “đạo kinh doanh”) mà cụ vẫn hay nhắc đến thực ra là gì? https://thuviensach.vn Phải chăng đó là chữ “tín” trong kinh doanh, là truyền thống buôn bán ngay thẳng, thật thà không gian dối mà bản thân cụ là một điển hình? Phải chăng đó là cách thức liên kết trong làm ăn mà cụ thường gọi là “thương hội” để cùng nhau tạo nên sức mạnh tổng lực đẩy nền kinh tế quốc gia tiến về phía trước? Phải chăng đó là cách đối đãi với khách hàng, đồng sự hay nhân công của mình một cách thấu tình đạt lý, tôn trọng, sẻ chia theo cách đôi bên cùng có lợi? Hay phải chăng, đó là việc cố gắng kiếm được thật nhiều tiền, rồi mang phần lớn số tiền kiếm được đó để cống hiến cho xã hội bằng việc xây trường cho trẻ nghèo, gửi tiền cho kháng chiến, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai hay lập quỹ khuyến học, khuyến tài...? Tất nhiên, tất cả những yếu tố đó là một phần của đạo kinh doanh, của truyền thống kinh doanh cao đẹp mà Cụ đã chỉ ra, đã đề cao và kêu gọi mọi người học theo. Nhưng cái “lõi” của “thương đạo”, cái “lõi” của “văn hóa doanh nhân” của giới doanh nhân Việt Nam lại hoàn toàn khác, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn và phản ánh đúng bản chất của nghề kinh doanh hơn: “Kinh doanh, nghĩa là dùng sản phẩm hay dịch vụ của mình như là phương tiện để giải quyết những vấn đề của xã hội và làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn”. Còn về các “yếu tố hình thành” văn hóa doanh nhân Việt Nam, hiện nay, theo quan điểm của chúng tôi, bao gồm 08 yếu tố trực tiếp sau: (1) Sự ảnh hưởng của văn hóa doanh nhân thế giới (vì đội ngũ doanh nhân Việt Nam đã là một bộ phận của doanh nhân thế giới và cùng “sống https://thuviensach.vn chung” với doanh nhân thế giới trong môi trường kinh doanh toàn cầu nhiều thay đổi); (2) Chiều dài lịch sử của nghề kinh doanh, buôn bán của Việt Nam (vì “văn hóa” vốn dĩ ít nhiều có tính “di truyền” và kế thừa, kể cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực cho bối cảnh hiện nay. Do vậy, ngoài các dự án nghiên cứu, trong tương lai, cũng có thể sẽ có sự xuất hiện của phòng truyền thống, nhà truyền thống hay bảo tàng doanh nhân Việt Nam, nhằm góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị, những truyền thống kinh doanh cao đẹp mà cha ông chúng ta đã để lại); (3) Quan điểm của Đảng và Nhà Nước Việt Nam về doanh nhân và kinh doanh (vì quan điểm của lãnh đạo quốc gia đối với một giới nào đó trong xã hội đều có ảnh hưởng lớn đến văn hóa của giới này trong xã hội hay trong quốc gia đó); (4) Sự chi phối của văn hóa dân tộc Việt Nam (vì doanh nhân Việt Nam cũng là một nhóm công dân Việt Nam và cũng là một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam); (5) Hoạt động thực chất của các hiệp hội, các hội, các câu lạc bộ doanh nhân, doanh nghiệp (vì trong các nhiệm vụ của mỗi tổ chức doanh nhân sẽ có một nhiệm vụ đối ngoại quan trọng đó là góp phần xây dựng uy tín và hình ảnh của giới doanh nhân trong cộng đồng xã hội); (6) Vai trò của các tổ chức giáo dục và đào tạo kinh doanh trên cả nước (vì bất kỳ nghề nào cũng phải học “đạo” trước khi học nghề); (7) Vai trò của các cơ quan chính quyền, các tổ chức phi chính phủ có liên quan tới hoạt động của doanh nhân và doanh nghiệp (như VCCI, ITPC, cơ quan cấp phép, cơ quan thuế...); https://thuviensach.vn (8) Cách nhìn của giới văn sĩ, điện ảnh, truyền thông đại chúng... đối với giới doanh nhân. Ở Việt Nam, liệu có thể khẳng định kinh doanh là nghề cao quý? Lần giở lại những trang sử của nước nhà để tìm kiếm những tư liệu, thông tin về nghề kinh doanh Việt Nam là một hành trình đầy thử thách. Một thời gian quá dài, tư tưởng “dĩ nông vi bản” bao trùm cả xã hội đã đẩy nghề buôn bán trở thành một thứ “mạt nghệ”, những người kinh doanh ngày xưa bị định danh chỉ là một “phường con buôn”. Một thời gian quá lâu, tập sách “Thương học phương châm” của cụ Lương Văn Can - tài liệu được xem là sách giáo khoa về kinh doanh đầu tiên của Việt Nam đã bị cố tình quên lãng, vô tình bị se thành bấc đốt đèn trong những khúc quanh buồn thảm của nghề kinh doanh. Một thời gian quá rộng, cái nhìn thiên lệch vẫn ám ảnh xã hội về doanh nhân là “một gã bụng to, mặt mày gian xảo, ngồi chễm chệ trên bàn nhậu, tay ve vuốt cọc tiền và ánh mắt giảo hoạt đầy những toan tính bất chính”. Một thời gian quá xa, những con người làm giàu chân chính bằng việc buôn bán bị dán cho cái nhãn “giai cấp bóc lột”, “tư bản” cùng hàng loạt danh từ tiêu cực khác. Cho đến một ngày, những bậc trí thức mà cả xã hội kính trọng từ Trường Đông Kinh Nghĩa Thục (trong những năm đầu của thế kỷ trước) bước ra phố và mở cửa hàng bán gạo, bước xuống mỏ để khai thác quặng hay bước xuống thuyền để đi buôn vải... Khoảng cách địa lý của “bước đi” này có thể rất gần, nhưng khoảng cách xã https://thuviensach.vn hội của nó quả thật là một hành trình vạn lý. Họ sinh ra là nhà nho, nên chẳng biết chuyện tiền nong, hàng hóa. Họ sinh ra để đọc sách thánh hiền, nên chẳng biết chuyện cơm gạo. Họ sinh ra để được xã hội kính trọng, nên thật khó để phơi mặt ra giữa chợ mà kỳ kèo bớt một thêm hai với thế gian. Nhưng họ đã tìm thấy một con đường và tự tin đi về phía chân lý. Cuộc cách mạng trong bản thân mỗi nhà nho khi dám đứng ra làm kinh tế quả thật không nhỏ. Và cuộc cách mạng này đã mang lại một hiệu ứng xã hội tức thì: phải nhìn lại về bản chất của nghề buôn, nghề kinh doanh khi những con người cao quý nhất trong xã hội lúc bấy giờ đã quyết định đi buôn, đi kinh doanh. Một không khí thật sự sôi động dâng lên trong xã hội. Nhà nhà phấn khởi, người người hồ hởi khi biết rằng, mỗi nhà buôn chính là một nhân tố để “Hiệp bãi cát gây nên non Thái / Hiệp ngàn dòng nên cái biển Đông” (Bài ca khuyên hợp thương - Trần Quý Cáp). Những doanh nhân Việt thời sơ khai đã có thể ngẩng cao đầu, cảm thấy tự hào về sứ mệnh mà mình đang tham gia thực hiện, hãnh diện về sự nghiệp bán buôn của mình đang từng chút một xây dựng sự phồn vinh của đất nước. Họ đã định nghĩa lại nghề kinh doanh! Nhưng rồi, mọi thứ thay đổi rất nhanh theo chiều hướng xấu đi, khi mà người Pháp tìm mọi cách để kìm hãm nghề buôn bán: “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”; “...cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý...” (Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh). Những nhà cai trị đã hành động khẩn cấp như vậy, chỉ vì đã nhìn thấy một tất yếu: dân giàu thì nước mạnh, nghề buôn phát đạt thì quốc gia sẽ tốt đẹp hơn từng ngày. Chính vì những lẽ đó, nên chỉ một thời gian rất ngắn sau khi khai sinh đất https://thuviensach.vn nước, Hồ Chủ Tịch đã gửi một bức thư đặc biệt dành cho giới công thương. Bức thư ngắn lắm, nhưng nó chứa đựng toàn bộ ý nghĩa cao quý mà nghề này đang cống hiến cho xã hội. Hồ Chủ Tịch, chứ không ai khác, đã bày tỏ sự tôn trọng hết mức của mình dành cho doanh nhân trong lời đầu tiên của bức thư: “Cùng các ngài trong giới Công Thương”. Chính vì sự xác lập vị thế đặc biệt cao quý của nghề kinh doanh - một nghề đáng tôn vinh trong xã hội, nên sau một thời gian dài chìm trong “bóng đêm” của thời kỳ bao cấp, những doanh nhân Việt đã được trả lại vị thế xứng đáng của mình trong hàng loạt quyết sách sau này: Luật công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp năm 2000, Ngày doanh nhân Việt Nam, Đảng viên được làm kinh tế tư nhân... Chúng tôi và bạn là những người đồng hành Kể từ ngày ra đời, một trong những sứ mệnh quan trọng mà PACE đã tự đặt lên vai mình là cùng bạn góp phần thu hẹp khoảng cách doanh trí giữa Việt Nam và thế giới. Chúng tôi đã thực hiện điều này bằng việc không ngừng nghiên cứu để đưa ra những chương trình đào tạo đỉnh cao của thế giới và phù hợp với người Việt, đồng thời chọn lựa và giới thiệu với bạn đọc những cuốn sách “gối đầu giường” của doanh nhân thế giới cùng những tác phẩm kinh điển nhất mà họ đưa vào danh sách “phải đọc”. Và với sứ mệnh của mình, PACE cũng sẽ đồng hành cùng bạn đọc trong hành trình khôi phục lại những giá trị cao quý, những giá trị vượt không gian lẫn thời gian của cha ông và tổ tiên chúng ta. Để từ đó, chúng ta có thể kết hợp với những giá trị đỉnh cao của nền văn minh nhân loại, một cách tốt nhất, nhằm góp phần hình thành và tôn tạo các “giá trị Việt”. Những “giá trị Việt” này sẽ góp phần làm nền tảng cho việc xây dựng hình ảnh một nước Việt Nam mới rạng ngời hơn, một nước Việt Nam có thể vững vàng đua tranh thành công cùng thế giới. https://thuviensach.vn Nhìn “Tây” sẽ thấy “Đông”, soi “cổ” mà ngẫm tới “kim”, đó là điều mà chúng tôi, những người thực hiện bộ sách, mong muốn được chia sẻ. Bộ sách này cũng là một câu chuyện, một phác thảo cho bức tranh toàn cảnh sinh động và đầy màu sắc về doanh nhân thế giới - những doanh nhân làm thay đổi thế giới, và về một thế hệ doanh nhân tiền bối của Việt Nam cách đây gần 100 năm lịch sử - một thế hệ doanh nhân mà đến ngày nay chúng ta vẫn có thể tự hào. Từ đó, những nỗ lực này sẽ góp phần hình thành văn hóa doanh nhân Việt, một bộ phận quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Chúng tôi xin được gửi lời tri ân trân trọng nhất đến những đồng nghiệp đã hỗ trợ tinh thần cho chúng tôi, đến các cá nhân và đơn vị đã sẵn lòng hỗ trợ thông tin, tư liệu trong quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, chúng tôi muốn gửi lời cám ơn chân thành đến các tập đoàn hàng đầu thế giới do các doanh nhân huyền thoại sáng lập, cám ơn gia tộc họ Lương, gia tộc họ Bạch,... - hậu duệ của cụ Lương Văn Can, cụ Bạch Thái Bưởi... đã nhiệt tâm giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình “Đi tìm Đạo Kinh doanh của Việt Nam và Thế giới”. Việc triển khai dự án này từ khâu nghiên cứu đến thể hiện thành sách trong một thời gian không dài, cùng những khó khăn trong quá trình đi tìm tư liệu lịch sử về các nhân vật, chắc hẳn bộ sách sẽ khó tránh khỏi những sai sót nhất định. Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự thông cảm cũng như những góp ý chia sẻ của bạn đọc gần xa về bộ sách để lần tái bản tiếp theo được hoàn thiện hơn. Chúng tôi, PACE và Nhà Xuất Bản Trẻ, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bộ sách đầy tâm huyết này. Và chúng tôi cũng tin rằng, qua bộ sách này, bạn đọc sẽ có thêm kiến giải về “đạo kinh doanh”, để từ đó, tự mình định nghĩa lại nghề kinh doanh và tự mình khẳng định rằng, kinh doanh là kiếm tiền hay phụng sự xã hội! https://thuviensach.vn Thay mặt Nhóm Tác Giả của bộ sách Giản Tư Trung - Người Sáng Lập PACE Sài Gòn, Xuân Đinh Hợi, 2007 https://thuviensach.vn Lời nói đầu Những năm 1920, khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của Thương học phương châm, cuốn sách giáo khoa đầu tiên của thương giới Việt, cụ Lương Văn Can đã chia sẻ: “Bây giờ phong khí mở rộng, hoàn cầu đi lại như một nhà, đường bộ thì có hỏa xa, đường thủy thì có hỏa thuyền, không trung thì có tàu bay, lại thêm điện báo để thông thư tín, điện thoại để thông âm ngữ, tin tức đã mau, vận tải rất tiện, người mà thông buôn bán thì làm giàu rất tiện...”. Cách chúng ta ngót thế kỷ, nhưng cụ cử Can đã nhìn thấy một không khí hội nhập hừng hực của Việt Nam với thế giới. Trong buổi đầu khai sinh, người Việt chập chững trên con đường kinh thương, có biết bao nhiêu khó khăn: lớp doanh nhân mới hình thành chưa từng trải qua một trường lớp kinh tế nào, vừa kinh doanh vừa phải chống đỡ với tư bản nước ngoài. Thế nhưng, chúng ta đã từng có một thế hệ các doanh nhân đầu tiên rất thành công trên thương trường, lại có tinh thần dân tộc kiên cường - dùng buôn bán như một công cụ để thể hiện lòng yêu nước. Đó là một Bạch Thái Bưởi “không đội trời chung” với tư bản Pháp, một Nguyễn Sơn Hà từ người làm thuê đã tự đứng ra gây dựng một hãng sơn riêng trở thành đối thủ đáng gờm của tư bản Pháp... Điều đó có được là nhờ họ vừa kinh doanh vừa tự học hỏi để đổi mới mình, lại vừa có trong lòng một niềm tự tôn dân tộc - kinh doanh để góp phần phụng sự tổ quốc. Để góp phần vào việc hình thành nên một thế hệ nhà buôn đầu tiên của Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới một cuộc đổi mới sâu rộng trong xã hội vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Rất nhiều nhà nho đã vứt bút lông đổi sang bút sắt, cùng hiệp lực gióng lên hồi trống Duy tân, đem những văn minh từ nước ngoài vào với mong muốn thay đổi tận gốc rễ xã hội. Nghề https://thuviensach.vn buôn vốn bị triều đình phong kiến xem thường thì nay các nhà nho đã cổ súy, hô hào mọi người tham gia vào việc buôn bán. Bản thân họ cũng không ít người từ bỏ quan trường để làm những nhà buôn, như một tấm gương sáng cho thương giới. *** Một trong những tên tuổi đã góp công sức không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của nghề kinh doanh trong buổi đầu trứng nước đó là Lương Văn Can. Hậu thế nhắc tới cụ như nhắc tới một chí sĩ yêu nước, một nhà giáo dục lớn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, với những đóng góp rất quý báu cho phong trào Duy tân qua việc mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngoài ra, cụ còn là một nhà nho tham gia vào việc kinh doanh buôn bán và dùng số tiền kiếm được để đóng góp cho phong trào giải phóng dân tộc. Xuất thân là một nho học, từng đỗ đạt dưới triều Nguyễn, song cụ đã tự học hỏi, tự đổi mới mình để thoát khỏi thế hệ nhà nho đương thời - môt thế hệ nhà nho phi thực tế - trở thành những người có tư tưởng tiến bộ và sau đó đã đem những kiến thức mới đó phổ cập cho công chúng. Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển thương giới Việt, Lương Văn Can được coi như một người thầy khi cụ đã dồn tâm sức nghiên cứu và viết sách dạy buôn bán. Bên cạnh đó, với những kiến thức và kinh nghiệm có được từ thương trường, cụ đã đúc kết những chân lí môt cái Đạo cho giới - kinh doanh. Cả cuộc đời cụ là sự minh chứng cho Đạo kinh doanh mà cụ đã gây dựng cho thương giới: kinh doanh là phụng sự tổ quốc, hay nói xa hơn, kinh doanh là phụng sự xã hội. Ngày nay, khi bước vào một thế giới toàn cầu hóa sâu rộng, nhìn lại thế hệ doanh nhân đi trước, hậu sinh có thể tự hào rằng doanh nhân Việt đã từng có một thời đầy oanh liệt. Họ không chỉ là những tấm gương, mà còn là cái Gốc. https://thuviensach.vn Các doanh nhân trong thời đại mới khi nhìn lại con đường đi của danh sĩ họ Lương vẫn nhìn thấy được trong đó những bài học lớn: bài học về việc không ngừng học tập để lĩnh hội kiến thức, bài học về sự nhanh nhạy trong kinh thương và một điều không kém phần quan trọng là hãy cùng ngẫm nghĩ về cái Đạo kinh doanh mà cụ Lương đã để lại cho thương giới cách đây gần một thế kỷ. https://thuviensach.vn Chương I: CÙNG XẮN TAY ĐỔI THAY VẬN NƯỚC Những năm đầu thế kỷ 20. Đất nước đắm chìm trong cảnh nô lệ. Nhà Nguyễn cầm quyền đã trở thành bù nhìn dưới sự bảo hộ của Pháp. Khi đó, chính những người trí thức yêu nước đã tự lãnh lấy trách nhiệm xắn tay vào cùng nhau góp sức để đổi thay vận nước. https://thuviensach.vn I. Sụp đổ hình ảnh đấng quân vương hay sự vỡ mộng của chủ nghĩa yêu nước cũ Phát súng đại bác đầu tiên của Pháp nổ ra ở đảo Sơn Trà - Đà Nẵng vào ngày 1.9.1858 đã mở màn cho một cuộc chiến chống ngoại xâm mới. Một cuộc chiến không cân sức: một bên là đất nước Việt Nam dưới triều Nguyễn lạc hậu, trì trệ, một bên là Pháp, kẻ thù từ phương Tây đến, với tàu chiến và súng ống, mạnh hơn cả trăm lần. Sức mạnh của khí giới đã làm cho chính quyền nhà Nguyễn núng thế. Đất nước dần dần rơi vào tay giặc trong sự chống cự quyết liệt của phái chủ chiến và sự bất lực cúi đầu của phe chủ hòa trong triều đình nhà Nguyễn. Quân Pháp với hạm đội hùng mạnh, vũ khí tối tân dù chỉ vấp phải một vài lần chạm trán với quân của triều đình, song họ lại phải hao tổn nhiều khi đối mặt với sự kháng cự của những người dân yêu nước. Kẻ thù xâm lược Pháp đã từng kinh ngạc trước sức mạnh mà chúng không hề ngờ tới của nhân dân Việt Nam, đó là sức mạnh của lòng yêu nước. Trong một báo cáo gửi về bản quốc, có đoạn đã viết rằng: “Việt Nam là một quốc gia kiên cường gắn bó với lịch sử riêng, thể chế riêng của mình;... trong các thế kỷ trước, Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước quân xâm lược, họ biết đợi thời cơ... Tình trạng của chúng ta (Pháp) rất đỗi khủng khiếp vì chúng ta phải đương đầu với một dân tộc thống nhất và tình cảm dân tộc của họ không phải đã bị suy yếu”. Quân Pháp sẽ không thể dễ dàng đặt chân xuống mảnh đất Việt Nam như vậy, nếu thời đó nước Việt may mắn có một chính quyền mạnh hơn về kinh https://thuviensach.vn tế, quân sự và không quá bạc nhược về tư tưởng. Chỉ sau vài lần quân lính triều đình chính thức chạm trán với quân Pháp, thì vua quan nhà Nguyễn đa số đã quyết định nghiêng về lý kiến chủ hòa. Sử sách hậu thế đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để lên án sự bạc nhược của triều đình Huế, một chính quyền vốn từ lâu đã rất lạc hậu, trì trệ. Thậm chí, trong hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị mà Tự Đức ký với Pháp ngày 5.6.1862, ngoài việc nhường 3 tỉnh Nam Kỳ và bồi thường chiến phí cho Pháp trong 10 năm, mỗi năm 288 nghìn lượng bạc thì nhà Nguyễn phải truy lùng, bắt giữ vào giao nộp cho quân Pháp tất cả những “phiến quân” chống lại lực lượng của Pháp trên đất Việt. Thực hiện hòa ước này, triều Nguyễn đã cấm việc chiêu mộ binh sĩ, triệu hồi các tướng lĩnh đang nắm binh quyền trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Điều đó đã gây một cú sốc cho toàn dân chúng, như giội một gáo nước lạnh vào ngọn lửa căm hờn hừng hực cháy trong tim mỗi người dân Việt. Và, một lần nữa, người Pháp thấy được sức mạnh tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam: dù triều đình ráo riết đàn áp những cuộc khởi nghĩa thì khắp nơi nhân dân nổi dậy, đi theo các nghĩa đảng chống Pháp. Nhiều tướng lĩnh đã bất phục tùng chiếu chỉ, quyết bám sơn địa, cùng sống chết với nhân dân. Họ chiến đấu tới hơi thở cuối cùng chứ không chịu quy hàng. Trong khi đó, tình hình đất nước ngập chìm trong những bi kịch đến từ giặc ngoại xâm và cả những chính sách bóc lột của chính quyền cũ. Vừa đàn áp các phong trào yêu nước và vừa để có tiền trả nợ cho kẻ thù, triều Nguyễn chỉ còn cách xiết chặt gọng kìm bóc lột đối với nhân dân. Những chính sách thuế khóa mới ban ra vô cùng bất công, hà khắc, cốt để “tận thu” tiền của trong dân. - Đầu tiên là tăng thuế ruộng đất: liên tục điều chỉnh tăng thuế ruộng để tận thu, có thời điểm thuế ruộng đất tăng gấp 3 lần. - Cho phép người dân bỏ tiền ra mua phẩm hàm và để giảm tội. https://thuviensach.vn - Thu gom vàng bạc trong thiên hạ. Những đồ dùng bằng bạc, bằng vàng bị đem trưng thu để lấy tiền bồi thường cho Pháp. Thời gian đó, dân chúng ở nhiều nơi đau xót và hoang mang khi chứng kiến cảnh không ít pho tượng phật qúy giá đã bị quân lính triều đình tịch thu từ trong các ngôi chùa đem nấu chảy để lấy vàng trả nợ chiến phí. - Bãi bỏ lệnh cấm hút thuốc phiện để chuyển sang đánh thuế thuốc phiện vào 2.1865. Sử sách ghi lại một con số như vết nhơ đầy cay đắng của bộ máy chính quyền nhà Nguyễn: nhờ “khuyến khích” dân chúng hút thuốc phiện mà triều đình Huế đã thu được 382.200 quan tiền thuế thuốc phiện trong vòng 10 tháng. Đó là chưa kể thực dân Pháp cũng vơ vét được từ sắc lệnh này 450.000 quan nhờ tiền thuế. Những con số đó phần nào cho chúng ta hình dung cảnh một đất nước tan hoang dưới những tác động tiêu cực của tệ nạn nghiện hút. - Bán đất công tràn lan. Triều đình Nguyễn bán ruộng đất công để thu tiền chi phí cho quân nhu, hàng vạn mẫu đất công đã bị bán đi, làm cho tình trạng tư hữu ruộng đất có sự chênh lệch quá lớn giữa địa chủ và các dân thường. Các chính sách “giật gấu vá vai” của triều đình Nguyễn càng làm cho tình cảnh đất nước ngày một khốn đốn. Lĩnh vực phát triển kinh tế không được quan tâm, thiên tai liên tục giáng xuống đầu dân chúng và cảnh vỡ đê, lụt lội, mất mùa, cảnh người chết vì thiên tai diễn ra khắp nơi. Sự bất công trong xã hội là một trong những nguyên nhân đẩy cho khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng lớn. Có một số những vị quan có cái nhìn sáng suốt, đã đề xuất nhiều ý tưởng cải cách với mong muốn vực đất nước đi lên từ đống đổ nát. Song những ý tưởng đó đã bị bỏ sang một bên bởi chính những đầu óc lạc hậu, trì trệ của triều đình Huế. Trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp được nhân dân hưởng ứng tại https://thuviensach.vn nhiều nơi trên cả nước - tuy rất manh mún và lẻ tẻ vì không có một đấng minh quân đủ tiếng nói đứng lên tập hợp dân chúng dưới một ngọn cờ chung - thì triều đình Huế từng bước một ký các hiệp ước trao dần đất đai cho Pháp. Ngày 6.6.1884, một bản hiệp ước giữa Pháp và nhà Nguyễn, đã công nhận sự “bảo hộ” hoàn toàn của Pháp đối với nước An Nam. Người Pháp xoa tay thở phào vì đã “bình định” xong mảnh đất hình chữ S - một cuộc chinh phục thuộc địa đầy chông gai mà đã có lúc họ tưởng như đã lâm vào tình thế không lối thoát. Một cảnh tượng đã làm sụp đổ hoàn toàn hình ảnh về đấng vương quân trong trái tim của hàng triệu người yêu nước mà từ trước tới nay họ vẫn bấu víu niềm tin vào chế độ vương quyền: “Sau khi ký xong hiệu ước 6.6.1884, cũng trong ngày đó, triều đình Huế đã phải đem cái ấn bạc của vua Thanh cho vua nhà Nguyễn trước kia đến sứ quán Pháp ở Huế để phá đúc thành khối bạc, trước măt đại diện của Pháp.”[1] [1]Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 - NXB Khoa Học Xã Hội Hình ảnh trên đây đã làm tiêu vong nốt niềm tin ít ỏi còn sót lại của những chí sĩ yêu nước vào đấng quân vương của họ. Vua quan nhà Nguyễn đã trở thành một thứ công cụ trong tay người Pháp. Từ nay, sẽ không còn có thể dựa vào một hình tượng minh quân để phất lên lá cờ đấu tranh giành độc lập như các vị lãnh tụ nghĩa quân vẫn từng làm trong lịch sử. Quả thực, sau sự kiện đó, triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là một cái bóng lay lắt bên cạnh “nhà bảo hộ” Pháp. Với chiêu bài “bảo hộ, khai hóa”, người Pháp thản nhiên áp đặt những chính sách về chính trị, kinh tế lên toàn cõi Đông Dương, cốt sao vơ vét được tối đa của cải, tài nguyên từ các xứ thuộc địa này chất lên tàu mang về “chính quốc”. Tất cả những sự đầu tư của Pháp vào Việt Nam cũng đều không ngoài mục đích ấy. Vài con số sau có thể thấy điều đó: Người Pháp chỉ ở Việt Nam 1% dân số mà nắm giữ trong tay 20% diện tích ruộng đất. Nước Việt thời kỳ đó mỗi năm xuất khẩu hơn 1 triệu tấn gạo song chính người nông dân làm ra thóc gạo xuất khẩu lại bị https://thuviensach.vn đói. Thuế má ngày càng nặng nề, các chính sách thuế luôn luôn thay đổi, sức nặng của nó đã đẩy một bộ phận dân chúng vào tình cảnh bần cùng hóa. Và để dễ trị, thì cần phải làm cho xứ thuộc địa kiệt quệ về văn hóa. Đó là lý do vì sao bên cạnh việc mở mang giao thông, phát triển khai mỏ... thì Pháp vẫn phớt lờ chuyện đầu tư cho giáo dục, chỉ mở một số trường kiểu Pháp để đào tạo nhân lực dùng vào việc phục vụ cho bộ máy cai trị. Do đó, đại đa số dân chúng rơi vào tình trạng thất học... Các chí sĩ yêu nước vẫn đặt niềm tin vào sức mạnh và sự thiêng liêng của ngai vàng, thì nay họ nhận ra kẻ được gọi là vua kia đã từ lâu không còn giá trị. Trong giai đoạn Pháp chiếm đóng dần từng bước cho tới khi “bình định” được hoàn toàn Việt Nam, những đề xướng phát triển kinh tế văn hóa theo xu hướng cải cách của một số nhà cải cách đầy tâm huyết với đất nước được đặt lên bàn của vua Tự Đức, song hầu như những sáng kiến đó không có cơ hội để thực thi. Những trí thức yêu nước đã tỉnh ra rằng: họ không còn có thể tiếp tục đấu tranh dưới một ngọn cờ cũ để mong giành lại độc lập cho dân tộc. Phải có một con đường mới. Một lối đi mới cho toàn dân tộc. Vậy con đường ấy là gì? Ai sẽ đưa dân tộc Việt thoát khỏi cảnh lầm than? Không ai khác đó là tầng lớp sĩ phu, những người có học thức nhất và được nể trọng nhất trong xã hội đã giơ vai ra gánh vác lấy trọng trách ấy. Những phong trào đấu tranh giành độc lập từ 1903-1908 chuyển sang một bước ngoặt mới. Trong thời kỳ này đã khắc ghi tên tuổi của nhà yêu nước như Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Xuất thân là những nhà nho nhưng trước những biến động dữ dội của tình hình trong nước và trên thế giới, đã nhanh chóng đón nhận những tư tưởng mới từ phương Tây, tự thay đổi nhãn quan và nỗ lực tìm một con đường đi mới cho cả dân tộc. Tầng lớp trí thức mới này đã nhìn thấy nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự mất nước: chúng ta đã thua phương Tây cả một thời đại, không chỉ về kinh tế, khoa học kỹ thuật mà còn cả trong lĩnh vực văn hóa. Nếu như những cuộc đối đầu với ngoại https://thuviensach.vn xâm trước kia, dẫu có khó khăn và chênh lệch lực lượng đến đâu thì chúng ta cũng chiến thắng, bởi kẻ thù lớn thường trực của Việt Nam trước kia là Trung Quốc, thì vẫn là cuộc chiến giữa hai nước hệ tư tưởng phong kiến phương đông. Nay, để đánh được kẻ thù quá mạnh, vượt qua dân tộc ta cả hàng thế kỷ về sự phát triển, chúng ta không thể chiến đấu bằng cách cũ. Trước hết, tự bản thân cả dân tộc phải thay đổi, bắt kịp sự phát triển chung của nhân loại. Sự thay đổi trong tư duy, trong nhận thức sẽ cho chúng ta sự thay đổi trong hành động. Để một xã hội thay đổi, tiến kịp nền văn minh chung của thế giới, công cụ số một là giáo dục quốc dân - đó là điều mà các nhà tiền bối đã kịp nhận ra trong một bối cảnh đất nước đầy chông gai. Công cuộc khai trí canh tân do Phan Châu Trinh phát động đã tạo một làn sóng mới tại quê hương ông - một con đường đấu tranh công khai, hợp pháp với những khẩu hiệu “Ỷ Pháp cầu tiến bộ”, “Duy tân tự cường”, với khát vọng nhanh chóng đưa dân tộc vươn lên ngang tầm thời đại. Từ đây, phong trào duy tân đã lan khắp đất nước, hòa với phong trào Đông du của Phan Bội Châu - với chủ trương chống Pháp bằng vũ lực, có dựa vào sức mạnh của nước láng giềng là Nhật Bản. Những phong trào hồi đó đã lan rộng khắp cả nước, để lại một dấu son trong lịch sử, giúp nhân dân thức tỉnh, ý thức được thân phận nô lệ lầm than, nung nấu tinh thần chống giặc ngoại xâm - một tiền đề quan trọng cho cuộc khởi nghĩa vĩ đại tháng 8.1945. https://thuviensach.vn II. Giòng trống Duy Tân Tri thức mới chính là điều mà nhân dân luôn “khát”, đặc biệt trong thời kỳ đất nước bị nô lệ. Những nhà nho yêu nước tiến bộ đã quyết tâm mang tri thức mới đến từng thôn cùng ngõ hẻm. Hồi trống Duy tân làm rung chuyển tận gốc rễ tư duy của một đất nước hơn ngàn năm dưới chế độ quân quyền. Ngôi trường làm việc nghĩa đầu tiên trong lịch sử Trong những ngày tháng 3.1907, không khí Hà Thành như rộn rã náo nức hẳn lên. Dân chúng sôi nổi bàn tán về ngôi trường mới tọa lạc tại số 4 Hàng Đào, mang tên Đông Kinh Nghĩa Thục. Một ngôi trường mà ngay khi vừa mới rục rịch khai trương đã có những thông tin loan đi khắp nơi: đây sẽ là nơi thực thi cách dạy và cách học hoàn toàn mới, do một đội ngũ hùng hậu những anh tài của đất Hà Thành đứng lên đảm trách! Tên “Đông Kinh Nghĩa Thục” đã gợi cho dân chúng Hà thành nhiều suy đoán. “Đông Kinh”, ấy là tên cũ của kinh thành Thăng Long xưa do Lê Thái Tổ đặt năm 1430, gợi lên một cảm giác hoài cổ. Còn “Nghĩa Thục” là làm việc nghĩa. Chủ trương của trường là sẽ giảng dạy, phổ biến các kiến thức mới dành cho tất cả những người dân có nhu cầu học tập, bất kể tuổi tác và giới tính, học hoàn toàn miễn phí. Cái tên của trường đã làm cho nhà cầm quyền Pháp thời đó phải e dè: liệu Nghĩa Thục có liên quan gì tới nghĩa quân hay không? Đó là lý do khiến họ dùng dằng chưa chịu cấp giấy phép mở trường ngay lập tức. Dẫu vậy, sự im lặng của nhà cầm quyền được các nhà nho hiểu là sự... không phản đối. Vài vị đồ nho khăn đóng áo the, trung thành với lối dạy học trò theo con https://thuviensach.vn đường khoa bảng khi nghe tin này thì phẩy tay, cho rằng đó là một trò ngông của những kẻ học Tây, học Nhật, muốn làm cái việc “gánh đá vá trời”. Song phần đông dân chúng thì muốn được tận mắt chứng kiến về những gì đang diễn ra trong ngôi trường đó. Người kẻ chợ thường dừng lại trước ngôi nhà cụ cử Can, với một thái độ tò mò háo hức. Căn nhà số 4 Hàng Đào vốn là một cửa hàng vải của bà cử Can, một cửa hiệu đã nổi tiếng từ nhiều năm nay. Tiệm vải có bề ngang chừng 5 thước, các tủ kệ hàng kê dọc theo hai bên tường, chừa lại lối đi chính. Những súc vải đủ loại, mềm mại, lóng lánh sáng trong nắng mới. Nào là lụa Hà Đông, the La Cả, đũi Vân Xa, lãnh Bưởi, gấm Thượng Hải. Hàng ngày, bà Cử cùng hai cô con gái thay phiên nhau bán hàng. Bà cử Can là một phụ nữ có nét mặt hiền hậu, nghiêm cẩn, đã theo nghiệp buôn bán từ thuở nhỏ. Các cửa hàng của bà và con cái buôn bán rất phát đạt, tạo được niềm tin cho dân chúng Hà thành vì chủ nhân biết giữ chữ tín trong kinh doanh đồng thời phu nhân là một nhà buôn khéo léo, khách hàng luôn cảm thấy hài lòng khi tìm đến tiệm. Tiệm vải số 4 Hàng Đào vốn đông khách, nay lại càng trở nên nhộn nhịp hơn bởi những người đến nghe ngóng thông tin, muốn tận mắt chứng kiến cách dạy và cách học của thầy trò của trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Mọi hoạt động dạy và học của trường nằm lại phía sau của căn nhà và tầng gác phía trên. Nhiều người vẫn bán tín bán nghi, dò hỏi xem có thật là trường học dành cho tất cả mọi đối tượng (già - trẻ, gái - trai) mà người học không mất tiền hay không? Thời buổi đất nước loạn lạc với chồng chất khó khăn về kinh tế, chính trị, một trường tư không lấy tiền quả là điều kỳ lạ! Người ta đoán già đoán non, hẳn sau lưng nó phải có cả một hội những mạnh thường quân giàu có tài trợ. Cũng có nhiều người mừng thầm, rỉ tai nhau: hẳn là mấy ông đang tính làm việc lớn đây! Nghe đâu là tập hợp toàn những anh tài đất Bắc cả! Hãy chờ xem sao... Quả là sự học của Đông Kinh Nghĩa Thục ngay những ngày đầu đã có một không khí thật sôi nổi, khác thường. Trước đây, ngôi nhà số 4 Hàng Đào ngoài là tiệm vải thì còn là một trường tư thục do Lương Văn Can mở ra để https://thuviensach.vn dạy học trò về Hán văn. Nay, nơi đây đã có những thay đổi đáng kể: số học trò đông hơn và không khí nhộn nhịp hơn. Trong buổi đầu thành lập trường, số học sinh đã lên tới hơn 60 người. Khách mua hàng thỉnh thoảng ngưng lại, giỏng tai lắng tai nghe tiếng giảng bài sang sảng của thầy, hay tiếng đọc ê a của các môn sinh. Không ít người đã xin phép lên tận lớp học để được tham quan. Họ sửng sốt khi chứng kiến quang cảnh hai lớp học, một dành cho nam, một dành cho nữ diễn ra rất sôi nổi. “Những cái đầu để chỏm ở giữa hoặc hai trái đào hai bên, chen với những mớ tóc đen nhánh quấn trong vành khăn nhiễu tam giang, phất phơ chiếc đuôi gà. Hết thảy đều cặm cụi, bặm môi tô những chữ a, chữ o, chữ e trên giấy”[1] Lớp nữ thì có hẳn một cô giáo phụ trách. Lớp nam do thầy giáo ăn vận theo mốt mới, áo cánh, tóc cắt ngắn gọn gàng. Không khí học hành hào hứng và thoải mái, chứ không quá nghiêm trang như các lớp Hán học dạytheo lối từ chương. [1] Đông Kinh Nghĩa Thục - Nguyễn Hiến Lê Chà, con gái cũng được đến trường! Người ta trầm trồ là đúng thôi. Bởi thời đó, việc mở trường dạy cho cả nữ giới quả là một cuộc cách mạng về tư tưởng! “Nhất nam viết có, thập nữ viết vô” - với quan niệm như vậy, dưới chế độ khoa bảng của triều đình, phụ nữ bị cấm không được học hành và thi cử. Các nhà nho tiến bộ đề cao chế độ bình quyền nên đã có sáng kiến mở lớp riêng dành cho nữ giới. việc làm này đã được đa số dân chúng đón nhận với một thái độ đồng tình và thán phục. Lớp nữ được phụ trách bởi cô con gái của cụ Lương Văn Can tên là Lương Thị Tín, mà mọi người quen gọi là cô Năm. Một phụ nữ đứng lớp giảng dạy cũng lại là cái lạ nữa của trường Đông Kinh Nghĩa Thục! Sau những buổi học, các môn sinh ùa ra khỏi lớp, vẻ phấn chấn hiện rõ trên từng gương mặt. Ai cũng hăng hái và say sưa kể cho bạn bè, người thân về những cái mới mà họ vừa tiếp thu được ở trường. Người ta xúc động và thán phục khi lần đầu tiên nhìn thấy hình dáng giang https://thuviensach.vn sơn gấm vóc của tổ quốc được thể hiện trên tấm vải trắng lớn với những tên núi, tên sông, qua bàn tay tài hoa của thấy giáo dạy môn địa lý Trần Đình Đức. Họ sôi nổi thuật lại những buổi giảng có lồng vào tinh thần yêu nước quật cường của dân tộc, “trông xưa mà ngẫm tới nay”, thầy giáo đã khiến cho tất cả mấy chục con người cũng sụt sùi rơi lệ. Ngọn lửa yêu nước bỗng chốc được thổi bùng lên trong trái tim của mỗi thầy trò. Lại cũng có buổi học thầy và trò ôm bụng cười sau khi thầy giáo đả kích kịch liệt về tật nhuộm răng đen và búi tóc... Chuyện về thầy Dương Bá Trạc thường đem cái bằng cử nhân của mình do triều đình Nguyễn cấp ra để “rao bán” với giá một xu!... Những hủ tục lạc hậu như để tóc dài, móng tay dài, tắm cũng phải chọn ngày... bị đem ra bài bác. Đây cũng là lần đầu tiên người học được tiếp xúc với môn toán pháp, và các thầy giáo của Đông Kinh Nghĩa Thục còn đề cao thực nghiệp, dạy cách buôn bán... Toàn là những điều mới và điều lạ mà trước đây người theo Hán học chưa từng được biết đến. Đó là những buổi học chưa từng có trong lịch sử, thầy dạy rất tùy hứng, phóng khoáng và trò thì tiếp thu với tinh thần thoải mái nhất. Bởi cả thầy và trò đều đã loại bỏ hoàn toàn tâm lý học để thi. Dẫu rằng giáo án, tài liệu có sẵn nhưng nhiều khi cao hứng thầy có thể giảng xoáy sâu vào bất cứ một vấn đề nào đó cũng đủ làm hết tiết học. Cũng có khi thầy lại giảng cả những điều không có trong giáo trình. Nhưng rõ ràng đó đều là những kiến thức mới, giúp người học mở mang nhãn quan, thay đổi tận gốc rễ về tư duy và nhận thức. Tại Đông Kinh Nghĩa Thục có hẳn một thư viện sách, nơi mà các học trò, thậm chí cả người ở ngoài đều có thể tới để tìm tài liệu để tham khảo. Và cứ thế, tiếng lành đồn xa, cho tới tháng 5 năm đó khi trường chính thức xin được giấy phép thành lập, cái tên Đông Kinh Nghĩa Thục đã được cả Hà thành và nhiều tỉnh vùng ven biết đến. Số người xin theo học ngày một tăng. Trường bắt đầu mở rộng quy mô. Ngoài địa điểm số 4 Hàng Đào, và sau này thuê thêm số 10 Hàng Đào, trường còn mở thêm các lớp học ở đình, chùa, nhà thuê mướn mới đáp ứng được nhu cầu học của dân chúng. https://thuviensach.vn Đông Kinh Nghĩa Thục còn có các phân hiệu ở hai tỉnh lân cận là Hà Đông và Sơn Tây: phân hiệu ở Thôn Canh và phân hiệu ở Tây Mỗ thuộc ở phủ Hoài Đức; phân hiệu ở làng Chèm, Từ Liêm, phân hiệu ở Tân Hội thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Mỗi phân hiệu sẽ có một số nhà nho phụ trách và trực tiếp giảng dạy. *** Những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, khoảng hơn 40 người, trong đó hầu có tên tuổi của những danh sĩ lẫy lừng trong Nam ngoài Bắc: thục trưởng Lương Văn Can, Giám học Nguyễn Quyền, Phan Châu Trinh, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học... Có thể nói, họ là một tập hợp rất hùng hậu của những nhà nho tiến bộ, những chí sĩ mà tên tuổi của họ được người trong nước rất trọng nể về nhân cách và học vấn lúc bấy giờ. Khi đề cập tới sự thành công của Đông Kinh Nghĩa Thục, nhà sử học Nguyễn Văn Xuân nhận xét: “...nhờ sĩ phu Hà Nội vốn rất thông minh, tháo vát, có óc tìm tòi, học hỏi nên họ tạo cho trường một bộ mặt sáng sủa, hấp dẫn, rất thích hợp cho dân đô thị...(...) Trên ban điều khiển, Lương Văn Can là một vị cử nhân không chịu nhận chức vụ gì của triều đình, nên được kính trọng, ở cương vị thục trưởng thật xứng đáng. Học giám do Nguyễn Quyền, một nhân sĩ có danh vọng đảm đương. Ban giáo huấn gồm nhiều tay lỗi lạc.” Đông Kinh Nghĩa Thục không dạy theo lối khoa cử đương thời - nghĩa là không dạy theo cách “nhồi sọ” để người ta học rồi đi thi ra làm quan như thông lệ cả ngàn đời nay. Trường chủ trương học để lấy kiến thức, lấy sự hiểu biết và học để thực nghiệp, lấy tri thức áp dụng vào đời sống, vào nghề nghiệp. Chủ trương ấy quả là quá mới mẻ, rất đúng đắn, thậm chí nền giáo dục của chúng ta cách các cụ ngót một thế kỷ mà vẫn đang vật vã với chuyện làm sao để chuyển từ cách dạy để đi thi sang cách dạy thực nghiệp. Những nhà sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục đã làm một cuộc cách mạng trong giảng dạy! https://thuviensach.vn Trường chia làm 4 ban: Ban Giáo dục, Ban Tu thư chuyên biên soạn sách, tài liệu giảng dạy cho nhà trường; Ban Cổ động và Ban Tài chính. Không những góp công sức dạy học không lấy tiền mà chính những người sáng lập này tự quyên góp tiền bạc để lập trường dạy miễn phí. Chữ quốc ngữ được coi là chữ chính để giảng dạy cho các môn sinh trong trường Đông Kinh Nghịa Thục, ngoài ra còn có thêm tiếng Hán và Pháp văn. Sau hơn 1.000 năm mượn văn tự Hán làm ngôn ngữ chính, thì nay, các nhà giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục hô hào bỏ Hán văn lẫn chữ Nôm - chữ vay mượn từ tiếng Hán với cách viết rất phức tạp - để chuyển sang dùng chữ Quốc ngữ như là ngôn ngữ chính của dân tộc trong thời kỳ mới. Một sự chuyển hướng đầy sáng suốt. Các cụ chỉ ra cái hay, cái đẹp trong chữ quốc ngữ: vừa dễ hiểu, dễ viết và gần gũi với người Việt. Với khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, các giáo trình của trường Đông Kinh Nghĩa Thục được soạn ra cùng một mục đích: kêu gọi đồng bào đổi mới về tư duy, hướng dân chúng theo cách học thực nghiệp. Trường chia làm 8 lớp từ tiểu học cho tới trung học. Không những không phải đóng phí (trừ lớp học tiếng Pháp có thu phí) mà người học còn được phát không giấy bút, và sách vở. Những người bận làm ban ngày thì có thể dự lớp học buổi tối. Điều đáng nói là cách dạy và các tư tưởng rất mới mẻ mà các nhà nho yêu nước truyền thụ cho học trò. Đây là một ngôi trường theo mô hình của trường Khánh Ứng Nghĩa Thục của Nhật -nơi đã đào tạo các nhà duy tân góp phần làm thay đổi đất nước Phù Tang theo xu hướng tích cực. Nhà trường muốn truyền thụ cho học sinh những tư tưởng mới, với mong mỏi khai sáng dân trí. Trường lên án lối học khoa cử, chuyển sang cách dạy thực nghiệp, chống các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, cờ bạc... Chương trình dựa theo lối tân học Trung Hoa, Nhật Bản, dạy thể thao, dạy cách trí, toán pháp, địa sư, lịch sử, văn chương, công dân giáo dục. Với các môn sinh đã https://thuviensach.vn thông chữ Hán, nhà trường dùng sách tân thư Trung Quốc làm tài liệu giáo khoa. Ngoài ra, các sách vở cũng lồng vào các bài giảng kêu gọi lòng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc. Về cách học, trong cuốn Văn Minh tân học sách do chính các nhà tư tưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục soạn ra, có đoạn viết: “Cho phép học trò bàn bạc tha hồ đối đáp tự do, không phải nề hà. Không cần thể cách gì hết. Rồi thêm vào đó, mấy bài về toán pháp, về chữ quốc ngữ, để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế mà họ phải làm...” Một cách dạy và học rất tiến bộ, đến nay vẫn còn thấy được tính đúng đắn của nó. Nguyễn Hiến Lê sau này đã đánh giá: “Tư tưởng thực là cách mạng.” Với những tư tưởng mới, giúp người dân nâng cao đời sống văn minh, có kiến thức thực tiễn để áp dụng vào đời sống, phát triển văn hóa và kinh tế. Song, điều sâu sa hơn nữa là qua đó đã làm thức tỉnh lòng tự cường dân tộc. Thùy Dương trong bài báo Bảo quốc túy, tuyết quốc sỉ[2] đã nhấn mạnh chương trình giảng dạy của Đông Kinh Nghĩa Thục là “đưa vào các môn toán, khoa học thường thức, tùy nghi tiếp thu những cái mới của văn minh Âu Tây để khai trí, canh tân - một tư tưởng, phương pháp rất mới ở thời bấy giờ. Nhưng chủ yếu bên trong là làm cho người dân ý thức được thân phận nô lệ mất nước, khơi dậy lòng ái quốc và ý chí phục thù để rửa nhục cho nòi giống.” Nhà sử học Chương Thâu cũng đánh giá tính chất của Đông Kinh Nghĩa Thục không bó hẹp trong phạm vi văn hóa - giáo dục mà có ý nghĩa như một cuộc vận động cải cách tư tưởng - văn hóa để đạt được mục đích duy tân đất nước, tạo nền tảng để xây dựng một quốc gia Việt Nam độc lập và giàu mạnh, sánh ngang các nước phương Tây, Mỹ và Nhật Bản và tiến tới giành độc lập tự cường cho dân tộc. [2] Đăng trên Người lao động ngày 16.6.2002 https://thuviensach.vn III. Chân dung người góp lửa Trong những ngày đầu tiên lập trường, trong số những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục thì tên cụ cử Can một lần nữa được người dân Hà thành nhắc tới với thái độ kính trọng, nể vì. Người được bầu làm thục trưởng, cũng là người đã hiến ngôi nhà số 4 Hàng Đào cho hoạt động của trường và có nhiều đóng góp về vật chất khác để ngôi trường làm việc nghĩa này có thể hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích đã đặt ra. Chốn tụ họp của danh sĩ đất Bắc Cụ Cử Can khi đó đã bước sang tuổi 53. Mấy chục năm trời gắn bó với nghề dạy học, cộng với những trăn trở với đất nước, đã khiến mái tóc sớm bạc trắng nên trông cụ già hơn tuổi thực rất nhiều. Dẫu vậy, ở cụ vẫn toát lên sự nhanh nhẹn, quắc thước. Nét mặt nghiêm trang, cương nghị, nhưng đồng thời cũng thật điềm đạm. Sự đôn hậu, trong ánh nhìn và trong tác phong, cử chỉ khiến người đối diện thêm phần kính phục. Người đương thời coi Lương Văn Can là “một danh vọng to tát trong giới cách mệnh ở Thăng Long, phàm văn thân chí sĩ trong nước đã hoạt động chống thực dân không ai không biết tiếng.”[1] Trong những ngày đầu các sĩ phu dốc sức mở Đông Kinh Nghĩa Thục, nhiều người trong ban sáng lập trường nói: trong trường Đông kinh Nghĩa Thục, nhà cụ Cử không chức gì là không có! Đó là một câu nói đùa đầy thú vị, nó còn hơn cả mọi lời khen trong hoàn cảnh lúc bấy giờ đối với cụ cử Can. Gia đình Lương Văn Can hầu như đã cống hiến hết thảy cho sự nghiệp giáo dục: nhà riêng thì được hiến cho trường học, con trai con gái đều có người tham gia dạy học, cụ thì làm chức thục trưởng của trường. Không những thế, kinh phí để duy trì các https://thuviensach.vn hoạt động của trường cũng có công không nhỏ của bà Cử và các cô con gái. Nhiều học trò cũ của cụ, cảm khái cái nghĩa khí, tấm lòng của thầy đối với sự nghiệp giáo dục dân trí của đất nước, cũng đã quyên góp những món tiền lớn để giúp đỡ cho Đông Kinh Nghĩa Thục... [1] Đào Trinh Nhất - Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 Không phải chỉ khi Đông Kinh Nghĩa Thục mở ra, người dân mới biết đến cụ cử Can. Thực ra, tiếng tăm của cụ đã từng vang khắp chốn Hà Thành từ lâu. Đó là người mà giới nho học nể vì, như một tấm gương mẫu mực về học vấn và tiết nghĩa. Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước suy vi, từng bước mất dần vào tay giặc Pháp, những cuộc khởi nghĩa vũ trang đều bị dẹp tan trong khi vua quan triều Nguyễn đã cam chịu kiếp nô dịch, Lương Văn Can cũng như rất nhiều danh sĩ Hà thành cảm thấy bất lực trước thời cuộc. Lương Văn Can, hiệu là Ôn Như, sinh năm 1854, trong một gia đình nghèo làm nghề nông và tiện gỗ ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội. Dù là một gia đình nghèo nhưng lại trọng chữ nghĩa, các bậc thân sinh đã phải cầm cố đất đai để cho Lương Văn Can và người em là Lương Ngọc Lâm theo nghiệp đèn sách. Sự hiếu học của một gia đình nghèo đã giúp đất nước có thêm một tên tuổi lớn. Thuở thiếu thời, rất may mắn chàng thanh niên Lương Văn Can đã sớm được theo học bởi một người thày có tinh thần yêu nước. Đó là cụ Tú Liêm, người mà sau đó đã có những hoạt động chống Pháp và bị quân Pháp bắt. Ngay từ khi chưa đỗ đạt, Lương Văn Can đã được biết đến qua một hành động rất dũng cảm: một mình dám đứng lên xin xác thầy dạy, cụ Tú Liêm - một nhà nho yêu nước có các hoạt động chống Pháp và bị Pháp bắn chết, bêu đầu ở phủ Hoài Đức - về để mai táng. Hành động này của Lương Văn Can thời đó đã được triều Nguyễn khen là người có nghĩa. Những năm tiếp https://thuviensach.vn theo, Lương Văn Can lại may mắn được học bởi một người thày tài đức, tâm huyết với nghề dạy học và không màng danh lợi, đó là cụ cử Nguyễn Huy Đức (thôn Vũ Thạch, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội). Năm 20 tuổi, Lương Văn Can đi thi và đỗ cử nhân tại trường thi Hương Hà Nội. Năm sau đó, năm 1875, Lương Văn Can thi Hội và vào tới nhị trường. Được triều đình bổ nhiệm làm quan nhưng ông đã không nhận chức mà về nhà mở trường dạy học.Hành động từ chối chốn quan trường trong lúc chính quyền đã rơi vào tay kẻ thù, khiến người đời nể phục, coi Lương Văn Can là nhà nho tiết nghĩa và khí phách. Sau này, cụ cử Can có ghi lại trong Hành trạng: “Ta vốn điềm đạm, pháp trực, không ưa chỗ náo nhiệt, thấy vận nước gian nan, tài mình thô sơ, vẫn chỉ thủ tuyết ở nhà dạy học.” Trong tình hình đất nước rối ren, cách hành xử của cụ khi đó là cách hành xử thông thường của những nhà nho yêu nước và bất lực trước thời thế. Song, việc “thủ tuyết” ấy không chỉ đơn giản là hành động “mũ ni che tai”, trốn mình trong vỏ ốc để quên thế sự. Căn nhà số 4 Hàng Đào từ lâu đã trở thành chốn vào ra của các danh nhân Hà Thành và anh em bốn phương. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cũng từng lui tới đây để bàn việc lớn. Theo lời kể của Đào Trinh Nhất, “mấy năm trước khi xuất dương, Sào Nam tiên sinh thường ra Bắc hà, cốt tìm những bạn thanh khí đồng tâm, có thể cùng nhau bàn bạc đại sự. Không một chuyến nào ông Giải Phan xứ Nghệ khét tiếng hay chữ, lại quên ghé thăm cụ cử Lương ở phố Hàng Đào.” Mọi người tin tưởng cụ Lương, vì sự thâm trầm, từng trải và là người có tấm lòng lớn với sự nghiệp của đất nước. Và trường Đông Kinh Nghĩa Thục chính là thành công từ các cuộc hội đàm giữa những con người tâm huyết vì vận mệnh đất nước. Những chí sĩ yêu nước nhận định, muốn đấu tranh trước hết phải nâng cao trình độ của người dân, khai hóa văn minh, xây dựng kinh tế đất nước, dần dần giáo dục tinh thần tự cường, lòng yêu nước. Và làm được việc khai dân trí thì chỉ có thể lựa chọn một công cụ giáo dục là đắc sách nhất. https://thuviensach.vn Ngôi nhà của Lương Văn Can đã trở thành tâm điểm hội tụ hai luồng tư tưởng Đông Du và Duy tân trong những năm đầu thế kỷ 20. Trước tiên, phải tự khai trí cho mình Là người nhiều tuổi nhất trong số các chí sĩ yêu nước sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, hậu thế khi nhìn lại cuộc đời Lương Văn Can đã không khỏi ngạc nhiên khi ở tuổi ngũ tuần mà cụ vẫn rũ bỏ được tư tưởng nho gia để đón luồng gió mới của phương Tây. Bình thường, để trở thành nhà trí thức cấp tiến đã là một điều không đơn giản với một nhà nho trẻ tuổi đã từng tôi rèn từ nhỏ trong môi trường khoa cử, thấm nhuần đạo Khổng, lại càng khó hơn với một nhà Nho tuổi đã sang bên kia nửa cuộc đời. Hành động “đổi bút lông sang bút sắt”, nhanh chóng đón luồng triết học phương Tây của cụ Lương Văn Can khiến người đời khâm phục, đồng thời cho thấy cái Tâm và cái Tầm của một chí sĩ yêu nước. Trong suốt một thời gian dài chứng kiến cảnh triều đình Nguyễn bất lực, nhượng bộ từng phần dâng đất đai cho người Pháp, Lương Văn Can cũng như biết bao nhà nho yêu nước thời đó, cảm thấy bất lực trước thời cuộc, dù đã cố gắng xoay trở tìm cách góp sức cho tổ quốc. Đã có thời gian cụ tự ghi tên ra ứng cử vào hội đồng thị chính thành phố Hà Nội, với mong muốn dùng tiếng nói của mình đấu tranh giúp cho dân bớt được cảnh lầm than chừng nào hay chừng đó. Song cụ cũng sớm nhận ra đó là một việc làm vô nghĩa, bởi cái chức vụ tưởng như rất to tát này hóa ra chỉ là chiếc ghế mà người ngồi trên đó không có chút quyền hành nào: trong số 18 ghế ủy viên thì người Pháp chiếm tới 16 ghế và mọi quyết định của hội đồng này đều phải được thông qua Thống xứ Bắc kỳ hoặc Toàn quyền Đông Dương phê duyệt. Người Việt ngồi đó hóa ra chẳng thể ho he được gì nếu muốn đưa ra những ý kiến có lợi cho người dân mình... Nhiều bạn bè thời đó thắc mắc về hành động này, cụ Can cho hay: “Dẫu từng ứng cử làm nghị viện tỉnh, nghị viện thành phố, nhưng nghĩ mình làm nghị viện mà không có quyền phát https://thuviensach.vn nghị đương lúc hội đồng, bất quá chỉ vâng vâng dạ dạ, chỉ như con trùn ứng thanh, không làm gì cho tổ quốc xã hội được, bèn từ về.” Từ đó, cụ mở một trường tư mang tên Ôn Như tại số 4 Hàng Đào, chuyên tâm vào việc đào tạo những lớp trí thức trẻ có tâm, có tài cho đất nước. Rất nhiều những học trò của cụ sau này tham gia vào các tổ chức cách mạng, nhiều người đóng góp tiền bạc cho các tổ chức yêu nước. Âu đó cũng là một đóng góp âm thầm nhưng thật đáng quý của cụ cho tổ quốc. Trong những ngày tháng Lương Văn Can từ chối chốn quan trường về mở trường tư dạy học, căn nhà số 4 Hàng Đào trở thành nơi lui tới của nhiều nhà nho yêu nước. Các cụ trao đổi với nhau về tình hình thế sự. Một cơ hội cho cụ đón nhận những luồng gió tư tưởng mới mẻ đã tràn vào Việt Nam bằng rất nhiều con đường khác nhau. Đồng thời, cụ Can cũng đã nghiên cứu học tập một số bậc tiền bối có tư tưởng duy tân như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch... Đó là những người ít nhiều được hấp thu nền văn minh phương Tây, đã từng đề nghị triều đình Nguyễn thực thi những chính sách mới, mang tính cách mạng cho đất nước: khai trí cho dân, học tập công nghệ của phương Tây, chấn hưng nền kinh tế... Những nhà yêu nước như Nguyễn Lộ Trạch đã chỉ ra nguyên nhân suy vong của một quốc gia và đề ra những kế sách cần kíp cho đất nước thoát khỏi con đường bế tắc... Song các đề nghị này chỉ được triều đình nhà Nguyễn thực thi một cách nhỏ giọt, những kết quả của nó chẳng thể làm thay đổi được tình hình đất nước. Những hạt giống tư tưởng mới không có đất để nảy mầm tại kinh đô Huế, một nơi vốn đầy rẫy sự bảo thủ và trì trệ.Dẫu vậy, những tư tưởng mới mẻ của các bậc tiền bối này đã gây một tiếng vang trong giới trí thức tiến bộ trên toàn quốc. Thời đó, những tác phẩm Thiên hạ đại thế luận, Quỳ ưu lục, Thời vụ sách của Nguyễn Lộ Trạch như những ngọn đuốc chân lý giúp nhiều nhà nho bừng tỉnh. Trong những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, tình hình thế giới đã thay đổi một cách nhanh chóng. Ngay tại Trung Quốc, cái nôi của nền văn minh mang đậm dấu ấn của Khổng giáo, thì làn sóng duy tân đã ào ạt tràn sang, https://thuviensach.vn khiến cho xã hội biến động nhanh chóng như trải qua những cơn địa chấn lớn. Nhiều trường học mở ra với phong trào đổi mới trong cách dạy, cách học và các nhà trí thức tiến bộ hô hào bài trừ những hủ tục lạc hậu có cội rễ cả ngàn năm ở đất nước ta. Đặc biệt, cuộc Duy tân năm 1868 thành công đã giúp Nhật trỗi dậy thành một cường quốc, sau đó liên tiếp đánh thắng Trung Hoa (1894 - 1895) và Nga (1904 - 1905), tiếng tăm vang lừng khắp Á - Âu. Các chí sĩ Việt Nam thời đó vô cùng xúc động và hồ hởi khi một nước đồng chủng da vàng đã làm được một kỳ tích như vậy. Đặc biệt, dư âm của cuộc cách mạng tư sản Pháp cũng đã vang tới tận Việt Nam. Hàng loạt các cuốn sách đã được các nhà Duy tân Trung Hoa dịch sang tiếng Hán và rất nhanh chóng, các tài liệu này lặng lẽ vào Việt Nam bằng nhiều con đường. Những chí sĩ yêu nước thời đó đã được làm quen với Montesquieu, Vontaire, Jean-Jacques Rousseau của Pháp hay các cuốn sách, những bài báo của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu - những nhà duy tân của Trung Quốc.Các nhà nho tiến bộ của chúng ta đã nhận ra sự lỗi thời của Khổng giáo trong hoàn cảnh lịch sử hiện tại, nhìn thấy được những lạc hậu của chế độ phong kiến đồng thời rất ngưỡng mộ sự phát triển vượt bậc của văn minh phương Tây. Những tưởng một nhà nho như cụ Lương Văn Can, từng đỗ đạt cao, tuổi cũng đã lớn, một thời gian dài mở trường vẫn dạy học theo lối cũ, sẽ không thể bắt kịp làn sóng duy tân. Song rất may cụ Cử có một tinh thần học hỏi và cầu tiến, đã nhanh chóng tiếpthu những tư tưởng mới của thời đại, đổi mới tư duy, mở rộng nhãn quan. Trong sâu kín tâm can của cụ chính là nỗi trăn trở con đường đi cho đất nước. Cũng như bao trí thức thời đó, câu hỏi canh cánh trong lòng cụ Cử là: phải làm gì đây để đổi thay vận nước? Thực dân Pháp với chiêu bài khai hóa càng lúc càng siết chặt gọng kìm đô hộ. Các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ nổ ra trên cả nước bị triều đình Huế và thực dân Pháp đàn áp, đã gần như tiêu tan hết. Rõ ràng, không thể đấu tranh bằng phương pháp cũ để giành độc lập dân tộc trước một kẻ thù mạnh như Pháp. https://thuviensach.vn Những chí sĩ duy tân như Phan Châu Trinh đã kêu gọi: phải khai dân trí cho nhân dân để từng bước một đấu tranh giành lấy dân quyền và nhân quyền. Nhưng muốn khai trí cho dân, trước tiên phải khai trí cho chính mình. Đó là con đường duy nhất lúc đó để một người không còn trẻ trung sung sức có thể cống hiến mình cho tổ quốc. Vậy là cụ Cử mái tóc phơ bạc đêm đêm chong đèn ngốn ngấu đọc những tài liệu duy tân. Những tư tưởng nhân đạo, dân quyền, tự do, bình đẳng của cách mạng Pháp như mở ra trong cụ một con đường mới. Trong niềm xúc động, cụ đã làm một bài thơ để ngợi ca cuộc cách mạng Pháp 14.7.1789. Từ khi tiếp thu được những tư tưởng mới, Lương Văn Can đã thay đổi. Nhà văn Hoài Anh kể rằng, những tư tưởng mới này đã giúp cụ thay đổi cả tâm tính. Từ một thầy giáo nghiêm khắc, nóng tính đối với học trò và con cái trong gia đình, cụ đã trở nên mát tính, không bao giờ đánh mắng học trò và con cái nữa. Trước kia, Lương Ngọc Quyến, người con trai có xu hướng thích nghiệp võ, chê nghiệp văn thường xuyên bị cha dùng thước gõ đầu, thì sau đó Quyến cũng được cha cho tùy thích với nghiệp võ. Cụ hiểu ra rằng cần để mỗi cá nhân phát huy tối đa những thiên hướng của họ, không thể gò ép được... Có thể nói, nhờ những tư tưởng mới, cách nhìn về cuộc sống của Lương Văn Can đã thay đổi một cách cơ bản từ gốc rễ. Tự học hỏi những kiến thức tiến bộ của nhân loại để đổi mới mình đã giúp Lương Văn Can trở thành một nhà nho có tư tưởng cấp tiến và hết lòng ủng hộ những xu hướng đấu tranh tiến bộ. *** Hậu thế đã nhận định, Lương Văn Can và Phan Châu Trinh là hai người có công đầu trong việc sáng lập ra mô hình trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Thời đó, khi phong trào duy tân khá rầm rộ trên khắp rẻo đất miền Trung - https://thuviensach.vn quê hương của hai vị chí sĩ họ Phan - cụ cử Can chính là một trong những mắt xích kết nối các anh em yêu nước Hà thành với các miền trong cả nước. Người đời sau khi ôn lại sự khai sinh của trường Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn không quên nhắc về cuộc họp mặt lịch sử vào năm 1906 của những chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Phan Châu Trinh Nguyễn Quyền, Đỗ Chân Thiết, Lương Trúc Đàm... dưới mái nhà số 4 Hàng Đào để đưa ra quyết định sáng lập ra một ngôi trường mới với một hoài bão vĩ đại là nâng cao dân trí cho dân tộc. Sự có mặt của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu trong cuộc họp này chính là hai gương mặt đại diện cho hai đường lối đấu tranh ôn hòa và bạo động theo xu hướng mới của đất nước thời kỳ ấy. Khi đó, tại miền Trung, phong trào Duy Tân được khởi phát bởi Phan Châu Trinh, đã đạt được những thắng lợi ban đầu, còn công cuộc Đông Du của cụ Sào Nam cũng có những thành tựu nhất định - chuyến ghé về Hà Nội năm 1906 của cụ cũng là vì mục đích vận động thanh niên xuất dương. Hai danh sĩ yêu nước lẫy lừng thời dù rất gắn bó với nhau song họ lại đi trên hai con đường riêng: Phan Bội Châu thì chủ trương dựa vào lực lượng của Nhật để đấu tranh bằng con đường bạo động; còn Phan Châu Trinh lại chủ trương đấu tranh bằng con đường công khai, ôn hòa, từng bước giành những quyền tự chủ, bình đẳng cho dân tộc. Dù có những bất đồng về đường lối, song hai phái bạo động và duy tân đã thống nhất để đi đến việc thành lập một ngôi trường duy tân, mở những lớp học không thu tiền, nhằm khai dân trí - càng nhiều người đến học thì càng tốt cho việc nâng cao trình độ của người dân trong xã hội. Các nhà chí sĩ yêu nước đã đồng tình với nhận định: Người Việt thua Pháp vì sự lạc hậu, yếu kém về kinh tế, văn hóa, chính trị. Muốn đấu tranh giành được quyền tự chủ thì trước hết phải mở mang dân trí, nâng tầm hiểu biết của người dân lên. Khi dân trí cao, kinh tế, văn hóa cũng sẽ phát triển và https://thuviensach.vn đồng thời người dân sẽ nhận ra trách nhiệm của mình trước tổ quốc. Việc chấn hưng giáo dục nên làm trước nhất, để nhanh chóng khắc phục sự yếu kém của người Việt, bồi dưỡng những nhân tài, nhanh chóng hội nhập với nền văn minh thế giới, tìm được một chỗ đứng cho quốc gia trong cộng đồng thế giới. Đó là một tư tưởng rất tiến bộ vào thời bấy giờ. Điều gì khiến cho hai phái bạo động và ôn hòa đã đi đến chỗ cùng nhất trí trong quan điểm đấu tranh bằng công cụ mới - khai dân trí - như vậy? Nguyễn Hiến Lê đã thuật lại trong Đông Kinh Nghĩa Thục về cuộc gặp gỡ giữa hai phái bạo động và ôn hòa trên căn gác tẩu mã tại nhà Lương Văn Can: “Cụ Sào Nam kể lai lịch cùng chí hướng của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, những lời hứa hẹn của các chính khách Nhật rồi bàn lẽ phải nhờ sức viện trợ của Nhật. Cụ Nguyễn Quyền đứng dậy nói: Theo ngu ý, như vậy e sa vào cái lỗi “tiền môn cự hổ, hậu hổ tiến lang”[2] mất. [2] Đuổi hùm cửa trước, rước sói vào cửa sau Cụ Sào Nam bênh vực quan niệm của mình, đại ý nói, không nhờ ngoại viện thì gắng sức cũng chỉ gây được thanh thế như cụ Phan Đình Phùng là cùng, không sao thắng nổi Pháp. Cụ Lương đứng ra hòa giải: Tôi nghĩ, ngoại viện và tự cường phải đồng thời tiến hành mới nên.” https://thuviensach.vn Từ đó, đường lối cách mạnh của các cụ, kể cả cụ Sào Nam, là một mặt tiến hành giải phóng dân tộc bằng biện pháp võ trang, mặt khác đấu tranh công khai hợp pháp nhằm tuyên truyền giáo dục quốc dân, cải cách kinh tế xã hội để phục vụ cho cuộc đấu tranh võ trang”. Câu nói của Lương Văn Can trong tình hình mâu thuẫn giữa hai phái duy tân ôn hòa và duy tân bạo động thời đó được đánh giá như một sự giảng hòa sự bất đồng trong đường lối đấu tranh của các chí sĩ yêu nước. Lương Văn Can dường như đã vượt lên trên những tư tưởng đương thời - cụ nhìn ra được con đường mà cuộc cách mạng giải phóng dân tộc tất phải đi qua. Vì nghiệp lớn, di sản tổ tiên không nên tiếc Đấu tranh công khai ôn hòa kết hợp bạo động là sự lựa chọn của Can Lương Văn Can. Cụ đã ủng hộ hết mình sự hoạt động của cả hai phái Đông Du và Duy Tân. Và sự đóng góp trên mặt trận đấu tranh nào cụ cũng dồn toàn bộ tâm lực. Ngay trong thời kỳ đầu của phong trào Đông Du, khi các chí sĩ theo tư tưởng bạo động như Phan Bội Châu, vận động những người yêu nước xuất dương sang Nhật du học để từ đó tìm đường cứu nước, sự đóng góp của Lương Văn Can âm thầm nhưng rất to lớn. Tháng 1.1806, Phan Bội Châu về nước để vận động các anh tài trong nước đi du học, mở đầu cho quá trình đông du. Cụ đã tìm được 3 người để đưa sang Nhật. Tháng 10.1905, khi cụ Phan đặt chân tới Yokohama (Nhật Bản) đã hết sức bất ngờ khi đã thấy Lương Ngọc Quyến đợi sẵn cụ ở đó. Tiếp theo là con thứ của cụ Can, Lương Ngọc Nhiễm và 4 người học trò của Lương Văn Can lên đường sang Nhật. Như vậy, mở đầu phong trào Đông du, trong số 9 thanh niên du học, cụ cử Can đã có công đóng góp thảy 6 người (trong đó có 2 con trai). Để “hợp thức hóa” cho việc 2 con đi Nhật du học, cụ đăng báo về việc con bỏ https://thuviensach.vn nhà đi sang nước ngoài. Việc làm này cho thấy cụ Ôn Như là người rất kín kẽ, biết lường trước tính sau, chắc chắn và sáng suốt. Đối với Lương Văn Can, mọi con đường đều để đi đến mục tiêu cuối cùng: giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Đó là mục đích cao cả nhất và thiêng liêng nhất mà cụ theo đuổi suốt cuộc đời. *** Mô hình trường Đông Kinh Nghĩa Thục lập ra với mong muốn là nơi để các nhà nho tiến bộ thực truyền bá những tư tưởng mới để nhanh chóng làm thay đổi cơ bản về trình độ dân trí và nền kinh tế đất nước. Là một trong những thành viên sáng lập ra Đông Kinh Nghĩa Thục, cụ Cử Can khi đó vừa đảm nhiệm việc biên tập sách giảng dạy đồng thời vừa là một người nắm giữ “tay hòm chìa khóa” cho nhà trường. Theo dõi việc thu chi quả là không dễ dàng đối với những nhà nho từ nhỏ đã cặm cụi với bút lông để đi theo con đường khoa bảng, dẫu vậy, cụ vẫn tình nguyện đảm nhận công việc này. Căn nhà của cụ còn là ký túc xá cho một số học sinh quá nghèo tá túc. Quả là không hề phóng đại khi nhận định rằng gia đình của Lương Văn Can hồi đó đã cống hiến hầu như toàn bộ tâm sức, trí lực và tài sản cho ngôi trường với giấc mơ khai trí dân quốc. Những ngày đầu tiên mở trường, số kinh phí để duy trì trường đều do các thành viên sáng lập đóng góp và một số nhà hảo tâm yêu nước. Nhưng chỉ ít lâu sau, số người theo học đã lên tới vài trăm. Lúc này, để duy trì cho trường hoạt động phải cần đến nguồn kinh phí rất lớn. Các đóng góp của các sĩ phu tiến bộ và những nhà hảo tâm cũng bắt đầu thưa dần, lòng tốt của con người đến mấy thì cũng có giới hạn, bởi ai cũng phải lo kinh tế cho gia đình riêng của họ. Gia đình cụ Can do đã đóng góp nhiều lần cho trường và các tổ chức cách mạng đưa người ra nước ngoài học tập, nên dù việc buôn bán vẫn rất phát đạt thì ngân quỹ gia đình cũng không thể cáng đáng nổi https://thuviensach.vn những chi tiêu của trường. Tình hình tài chính của Đông Kinh Nghĩa Thục rơi vào tình thế “nước sôi lửa bỏng”, phải cần ngay một số tiền để duy trì cho bộ máy của trường ngày một phình to ra: nào tiền in sách, tiền ăn cho mấy chục người, tiền trả một khoản phí nhỏ mang tính chất “tượng trưng” cho các thầy giáo... Và các khoản tiền này ngày một tăng. Sau những đắn đo, cụ đề nghị với cụ bà bán tiệm buôn Quảng Bình An ở phố Hàng Ngang để dồn tiền cho trường học. Không ngần ngại, phu nhân đồng ý trước đề nghị hết sức bất ngờ của chồng. Hiệu buôn bán đi được 7.000 đồng, số tiền này được xung vào quỹ chi tiêu của trường. Cụ Cử vô cùng cảm kích trước tấm lòng của người vợ hiền, người đã giúp chồng theo trọn con đường phụng sự tổ quốc. Hiệu buôn ấy ngoài là một sản nghiệp lớn thì nó còn có ý nghĩa thiêng liêng là một món hồi môn. Sau này, bà cử kể lại cái quyết định chóng vánh thời đó: “Tôi cầm bút ký tờ đoạn mãi mà tay run lên. Từ nhỏ, có bao giờ dám động tới di sản của tổ tiên đâu. Bán cửa hiệu đó xong, độ một tháng sau trường bị đóng cửa, nếu không, tôi không biết sẽ phải dùng cách nào để kiếm tiền.” Sau này, Phan Bội Châu càng kính phục và trân trọng tấm lòng Lương Văn Can vì từ cha đến con đều thiết tha yêu nước và hết sức hăng hái tham gia vào phong trào đấu tranh giành độc lập. Cụ Cử đã “xuất tiền hàng nghìn hàng vạn” để tiếp tế cho phong trào Đông Du trong những giai đoạn khó khăn nhất, khi mà mật thám Pháp giăng lưới khắp nơi, cả trong nước và ở nước ngoài. Phan Bội Châu đánh giá lòng yêu nước của cha con cụ Lương là “không sợ tốn tiền, không ngại đổ máu”. https://thuviensach.vn IV. Công cuộc “khai dân trí, chấn dân khí” Mới mẻ thay luồng gió canh tân Ngoài giảng dạy, thì mỗi tháng trường có 2 buổi diễn thuyết trước công chúng vào ngày rằm và mồng một. Những hoạt động diễn thuyết diễn ra rất sôi nổi, mỗi buổi diễn thuyết đã thu hút một lượng thính giả vô cùng đông đảo. Đây là một trong những hoạt động tuyên truyền rất hiệu quả của Đông Kinh Nghĩa Thục. Những đề tài diễn thuyết đều được xoáy quanh mục đích chính: làm sao truyền được các kiến thức mới cho người dân, xóa bỏ dần những hủ tục lạc hậu tồn tại trong xã hội hàng ngàn đời; đồng thời cũng là tiếng chuông đánh thức lòng yêu nước, tính tự cường vốn lâu nay hầu như đã bị vùi sâu bởi những nhọc nhằn của cuộc mưu sinh và nỗi sợ hãi của thân phận người dân trong một đất nước nô lệ. Cụ Lương Văn Can, người cao tuổi nhất với vẻ điềm đạm, chững trạc rất đáng kính, thường giữ vai trò chủ tọa. Các diễn giả thường xuyên như Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền, Nguyễn Văn Vĩnh... thì trái lại, rất sôi nổi và phóng khoáng. Họ đều là những người tiên phong trong cách ăn mặc mới: quần tây, áo cánh, cắt tóc và để răng trắng. Con trai thứ của cụ Lương Văn Can là Lương Trúc Đàm, trở thành một trong những nhà giáo, nhà diễn thuyết đầy nhiệt huyết. Dân chúng Hà Thành cũng đặc biệt tán thưởng một diễn giả rất hăng hái và có cách diễn thuyết đầy cuốn hút đó là Phan Châu Trinh.Mỗi lần có dịp ra Bắc là cụ lại tham gia vào việc diễn thuyết trước hàng ngàn người dân. Các cuộc đăng đàn diễn thuyết đôi khi trở thành những cuộc tranh luận rất sôi nổi và bình đẳng của các diễn giả. Để hô hào bỏ tục để tóc dài, cụ Phan đã nói một cách hùng hồn: “Mấy ngàn năm trước dân tộc “ta đoạn phát văn thân”[1]. Từ khi bị Triệu Đà cướp nước, mới nhiễm tục Trung Hoa, nhưng chỉ môt số người ở thành https://thuviensach.vn thị theo họ thôi. Tới khi nhà Minh chia nước ta thành quận huyện, cưỡng bách toàn dân ăn mặc như họ, thì trai bới tóc, gái mới mặc quần hai ống, và người mình thành người Tàu. Ngày nay, may mà trời mở lòng người, một sớm thức tỉnh, cả nước duy tân, anh em cắt phăng cái búi tóc đi khiến cho cái lũ xuẩn xuẩn vi trùng không còn đất thực dân trên đầu ta mà hút máu ta thì há chẳng phải là đại khoái ư? Sao, anh em mình sao?” Tiếng cười, tiếng hoan hô vang cả phòng.”[2] [1] Cắt tóc, xăm mình [2] Đông Kinh Nghĩa Thục - Nguyễn Hiến Lê Cách diễn thuyết của các nhà nho ta quả là đầy thâm ý! Qua việc vận động dân chúng bỏ búi tóc củ hành, các cụ cũng khéo léo “gài” vào đó tinh thần yêu nước và chống thực dân. “Lũ xuẩn xuẩn vi trùng” - chấy rận - là hình ảnh bóng gió của thực dân Pháp đang lợi dụng sự u mê của người dân để hút máu, để bóc lột, nếu người dân đổi mới thì sẽ không còn cảnh lầm than như vậy nữa.Quả là một các tuyên truyền đầy hào hứng, ý vị và sâu sắc. Từ đó dấy lên một phong trào cúp tóc khắp Bắc, Trung, Nam - một hình ảnh của những công dân duy tân, ái quốc. Hình thức diễn thuyết đã lôi kéo và thức tỉnh đồng bào ở nhiều địa phương trên cả nước. Thậm chí, người ta đã có bài vè khuyết danh miêu tả không khí hồ hởi và nhộn nhịp của các buổi diễn thuyết, bình văn: Buổi diễn thuyết, người đông như hội Kỳ bình văn khách, đến như mưa Bài vè này nhanh chóng lan xa, uy tín của trường càng như sóng cồn. Lương Văn Can cũng ghi lại Trong Hành Trạng: “Chỉ mới 5-6 tháng mà học trò gần 600 người, khi diễn thuyết thì người đến nghe đông như hội”. https://thuviensach.vn Trong số các thính giả, ngoài tầng lớp dân thường là các nhà nho, nông dân, thậm chí có cả những gương mặt của các viên chức, binh lính và quan lại. Điều đó cho thấy tầm ảnh hưởng và sự cuốn hút của các tư tưởng mới từ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đến đời sống của nhân dân thật là mạnh mẽ. Một món ăn tinh thần vô cùng phong phú, hấp dẫn, mới mẻ vào thời kỳ đó. Từ những buổi diễn thuyết này, các thơ văn cổ vũ lòng yêu nước và tinh thần đổi mới đã đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, thổi bùng lên những phong trào đổi mới như cắt tóc, ăn mặc Âu hóa, phản đối việc dùng tiền sắt do Pháp đúc... Các hoạt động giảng dạy, diễn thuyết này đã lan ra các vùng phụ cận. Trường ban đầu ở số 4 Hàng Đào, sau mướn thêm căn số 10 và ngoài ra còn được mở 4 phân hiệu tại Hà Đông và Sơn Tây. Nhiều trường lớp mô phỏng Đông Kinh Nghĩa Thục được mở ra ở các tỉnh lân cận khác như Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương... Các phong trào này hòa với các phong trào Duy tân ở miền Trung rồi ở Sài Gòn... đã tạo nên một làn sóng Duy tân trên khắp đất nước. Những tư tưởng duy dân của các nhà nho lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục còn được lan xa, lan rộng nhờ sự ủng hộ của những tờ báo tiến bộ thời đó. Hai cơ quan ngôn luận chính cho Đông Kinh Nghĩa Thục là Đăng Cổ Tùng Báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút phần quốc văn và Đại Việt Tân Báo do Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Hai nhân vật này rất nổi tiếng thời đó. Nguyễn Văn Vĩnh, một trong những sáng lập viên của Đông Kinh Nghĩa Thục và phụ trách dạy Việt Văn và Pháp Văn cho Đông Kinh Nghĩa Thục. Đào Nguyên Phổ thì dạy Hán Văn. Những bài viết giàu tâm huyết trên hai tờ báo này đã góp phần không nhỏ làm thay đổi, đánh bật tận gốc rễ rất nhiều hủ tục và tư duy lạc hậu của người dân nước Việt. *** Dù tài liệu giảng dạy của Đông Kinh Nghĩa Thục đã mất mát đi gần hết, https://thuviensach.vn song những gì còn lại đến ngày nay, khi giở lại cũng đủ làm hậu sinh xúc động. Xúc động vì lòng nhiệt thành của một lớp người dũng cảm, đã dùng trí tuệ, sự khôn khéo để truyền bá những tư tưởng tiến bộ đến các tầng lớp nhân dân trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Xúc động bởi rất nhiều điều các cụ nói ra cách đây gần 1 thế kỷ mà đến nay vẫn còn rất tươi mới, nguyên giá trị. Đó là những tư tưởng vượt thời gian. Quốc Dân Độc Bản là một tài liệu giảng dạy rất quan trọng của Đông Kinh Nghĩa Thục, là tập hợp tư tưởng tiến bộ mà các nhà nho, trong đó có Lương Văn Can, dày công biên soạn ra. Một cuốn sách đã đề cập đến hầu hết các vấn đề trong xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, giáo dục... Ngay lời mở đầu của Quốc Dân Độc Bản, các tác giả đã chỉ ra các triều vua chúa trước kia không chú trọng vào giáo dục quốc dân. Trong khi đó “phàm một nước mà không có giáo dục quốc dân, thì trăm họ u mê, không biết quốc gia là gì, chính trị là gì. Trên có vua hiền, chính phủ có tướng giỏi, nhưng trăm họ thì như bù nhìn, chỉ nghe theo lệnh của chính phủ, bước từng bước một. Cho nên dân chỉ có thể tĩnh mà không có thể động. nước yếu mà không đại trị thì gặp một biến cố nhỏ sẽ như gặp nước sôi lửa bỏng, không tài nào thu xếp được...” Cuốn sách có đề cao truyền thống lịch sử và chỉ ra sự tụt hậu của đất nước. Một nước khai hóa rất sớm, có văn tự, lịch toán,... từ mấy ngàn năm trước, với những truyền thống dựng nước và giữ nước oai hùng. Trong khi các nước mới khai hóa như Âu Mỹ, dù muộn màng nhưng họ lại có những bước nhảy vọt cực kỳ nhanh chóng, thì đất nước ta suốt một thời kỳ dài không hề có sự đổi thay nào đáng kể: “Dụng cụ của ta đều cũ kỹ, lạc hậu, đồng ruộng hoang vu, dân đói rách, chưa bỏ thói ngang ngạnh, tính nô lệ vẫn còn.” Và cuốn sách đã cảnh tỉnh dân chúng về sự lạc hậu trì trệ của cả một dân tộc: “Than ôi! Khai phá sớm như thế kia, mà tiến bộ chậm như thế này! Thật là đáng tiếc! Dân ta chớ nên cho khai phá sớm là vinh, mà nên cho tiến bộ chậm là nhục. Trong thế giới ngày nay cạnh tranh rất là ác liệt, cùng nhau tiến bộ thì sinh tồn, không tiến bộ bằng người thì không có ngày tự lập. https://thuviensach.vn Không thể như trăm năm trước, cứ đóng cửa mà trị dân, dù không tiến bộ cũng có thể ngồi mà giữ nước.” Các nhà chí sĩ thời đó đã luận bàn rất sâu sắc về vấn đề văn minh: “Các nước trên địa cầu tất phải từ dã man mà khai hóa thành văn minh. Văn minh rồi, nhưng tiến bộ nhanh hay chậm, trình độ cao hay thấp, còn tùy. Văn minh không có giới hạn, càng tiến thì càng cao. Có thể nói nước kia văn minh hơn nước này, nhưng lại không thể nói văn minh nước kia đã đạt đến cực điểm. (...) Bàn về văn minh nước ta, khuyết điểm còn nhiều nhưng không có gì phải lo, chỉ phải tiến nhanh lên mà thôi.” Phải tiến nhanh lên - đó là một khẩu hiệu, một lời kêu gọi đồng bào cùng gắng sức lao động để bắt kịp khoa học công nghệ mới, thoát khỏi sự lạc hậu về kinh tế và văn hóa. Phương châm đó vẫn đúng đắn và mới mẻ trong thời đại mới. Khi bàn về khẩu hiệu “phải tiến nhanh lên mà thôi”, Nguyễn Khắc Mai (Hội Khuyến học Việt Nam) từng nhận xét: “Lời nói đã 100 năm cũ mà vẫn như rất mới, như là nói với chính chúng ta hôm nay vậy. Có thể coi Quốc Dân Độc Bản là một tuyên bố đổi mới. Còn hơn là một tuyên bố, đây chính là một cương lĩnh chấn hưng dân tộc mở đầu thời hiện đại của nước ta. Những thanh niên nào quan tâm đến vận nước, giờ đây nên giở lại trang sách xưa và tìm ở đấy những tâm huyết, những tình cảm, những dự báo của tiền nhân.”[3] [3] “Phải tiến nhanh lên mà thôi” - báo Tuổi trẻ ngày 8.1.2005 Trong mối quan hệ giữa nước và dân, đó là một mối quan hệ của cây và rừng - không có cây hợp lại thì không có rừng. Và một nước thật sự mạnh, đó là dân phải mạnh. “Nước mạnh hay yếu là do dân. Nước có dân như thân thể có tứ chi và các bộ phận khác. Chưa hề có tứ chi và các bộ phận khác yếu mà thân thể lại mạnh. Cũng chưa hề có dân yếu mà nước lại mạnh(...). Dân mạnh thì nước yếu thì có thể chuyển thành mạnh, và mạnh lâu dài. Dân nước ta có ưu điểm là an phận, thành thực, nhẫn nại. Không biết lợi dụng những ưu điểm ấy thì sẽ sinh ra ba cái tệ. Một là, bảo thủ mà không biết tiến https://thuviensach.vn thủ. Hai là, dựa vào người mà không biết tự lập.Ba là, yên thân mình, nhà mình mà không biết ái quần, ái quốc.” Quốc Dân Độc Bản còn đề cập tới lòng yêu nước - một tình cảm rất tự nhiên của mỗi con người. Song, yêu nước, theo các nhà nho cấp tiến, không phải là lời nói suông. Mỗi người phải thể hiện lòng yêu nước bằng chính hành động của mình, “phải có dũng khí làm cho thế lực của chúng ta mở rộng ra thành nước lớn”, phải “rèn luyện tinh thần công thủ và chiến thắng”; với những tài nguyên thiên nhiên mà đất trời ban tặng thì chúng ta phải “dốc tâm tư, tài lực ra, phát huy những của cải tiềm tàng ấy”. Và với truyền thống lịch sử hơn bốn nghìn năm, thì người yêu nước là người phải biết “mài sắc ý chí tiến thủ mà tự cường không nghỉ, khiến cho nền văn minh của nước ta cao tột bực. Lòng yêu nước còn thể hiện ở việc không miệt thị văn tự của tổ tông truyền lại khi tiếp thu nền văn hóa nước ngoài... Những nhà chí sĩ yêu nước ấy chứa chan hi vọng vào một ngày mai tươi sáng: “Biết đâu thế kỷ XX này, thế giới da vàng chúng ta chẳng phải là do thiếu niên chúng ta xây dựng? Chỉ sợ chúng ta không có lòng yêu nước thật sự mà thôi.” Khi nói về ý chí tiến thủ, Quốc Dân Độc Bản khẳng định: “Nước nào có nhiều người có ý chí tiến thủ thì nước đó mạnh.” Và đó là lý do vì sao mà người châu Âu đã vươn thế lực ra khắp toàn cầu. Trong khi đó “dân ta đại để bảo thủ mà không biết tiến thủ. Sở dĩ bảo thủ, một là do “tri túc”, hai là do “hiếu cổ”.(...) Người ngày nay mà không muốn hơn người ngày xưa thì vă minh không tiến. Nước yếu thì sẽ bị nước văn minh hơn thôn tính. (...) sống thời buổi cạnh tranh ngày nay, đạo lý của tự cường là: họ tiến một bước, mình cũng phải tiến một bước. Và nỗi bi thảm của một quốc gia không được độc lập đó là: “Người Âu xâm chiếm nước ta, tham vọng của họ rất lớn, mà lòng khinh ghét của họ đối với người giống khác cũng rất ghê. Cho nên, nước ta phụ thuộc họ thì họ ngấm ngầm thay đổi ngôn ngữ, văn tự của ta, tiêu diệt tận gốc lòng yêu nước của https://thuviensach.vn nhân dân ta, đánh tô thuế rất nặng làm cho nhân dân ta khốn đốn tuyệt đường mưu sinh. Họ lấy uy binh mà trấn áp, lấy trọng pháp mà ngăn ngừa để đoạt quyền tự do của dân ta. Họ là chủ nước thì họ hưởng quan cao, lộc hậu; còn dân nước nô lệ thì gánh chịu việc nặng, việc hèn.” Ngoài ra, Quốc Dân Độc Bản là một trong những tài liệu đầu tiên của Việt Nam đề cập đến các vấn đề tư bản, thông thương, các khái niệm về ngân hàng như trái phiếu, hối phiếu, séc; khái niệm về công ty, về mậu dịch... Như vậy, bên cạnh việc giảng dạy về đạo đức, cung cấp các kiến thức về mô hình nhà nước mới của Nhật Bản, Trung Quốc, các kiến thức thực tiễn giúp người dân thực nghiệp,... thì điều hết sức quan trọng là các chí sĩ muốn truyền vào các tầng lớp trong xã hội sự thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, ý thức được thân phận yếu kém, nhục nhã của một dân tộc bị nô lệ. Và con đường để giành được thắng lợi là mỗi người thân phải tự ý thức được mình, phải tiến lên phía trước để tiến kịp văn minh nhân loại, đua tranh với các nước văn minh trên toàn thế giới. Quốc Dân Độc Bản là những tư tưởng tiến bộ của các nhà nho yêu nước của Đông Kinh Nghĩa Thục, trong đó, chúng ta không thể không nhắc tới công lao của nhà giáo, nhà trí thức Lương Văn Can - người vừa tham gia giảng dạy, lại đứng đầu trong ban Tu thư, chỉ đạo việc biên soạn các tài liệu giảng dạy cho Đông Kinh Nghĩa Thục. Những nhà nho xung phong làm kinh tế Một trong những phong trào rất tích cực hồi đó để cải cách đất nước phải kể đến việc chấn hưng công thương. Các nhà nho Đông Kinh Nghĩa Thục nhận định, phải khai dân trí, hướng người dân vào thực nghiệp: mở các hiệu buôn, khuyến khích dân dùng hàng nội hóa, đầu tư vào khai mỏ, lập đồn điền... https://thuviensach.vn Hàng loạt bài thơ phú, bài vè đã cổ vũ cho việc buôn bán, lập thương hội, mở đồn điền... Chẳng hạn, người thời đó rất hăng hái ủng hộ phong trào buôn bán, hơp thương. Trong Bài ca khuyên hợp thương của cụ Trần Quý Cáp cho thấy một không khí hợp buôn bán rất sôi nổi: ... Bỏ bạc tiền ra để buôn chung Người có của kẻ có công Xem nhau lại đem lòng thân ái Hiệp bãi cát gây nên non Thái Hiệp ngàn dòng nên cái biển Đông Mới gọi rằng hào kiệt, anh hùng... Trong Quốc Dân Độc Bản có hẳn một chương cổ vũ “Nước ta nên chấn hưng thực nghiệp”, trong đó có đoạn: “Nói về văn minh thì nước ta đã có nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp từ lâu rồi, và dân ta cần kiệm, chỉ có, tinh xảo. Về tài nguyên thiên nhiên thì khắp nước đều có sông ngòi đủ tưới tiêu, bờ bãi ven sông lắm phù sa, thích hợp cho trồng trọt. Rồi mỏ than, mỏ sắt đâu cũng có, không kể hết. Nước như vậy mà dân vẫn nghèo, vì nguyên nhân nào thì chúng ta cũng biết. Phẩm vật là do nông nghiệp, công nghiệp mà có phẩm vật càng nhiều càng hay. Chức nghiệp cũng không hạn chế. Thương nghiệp tuy không làm ra phẩm vật nhưng lại làm cho phẩm vật do công nghiệp, nông nghiệp làm ra lưu thông, không ứ đọng. Do đó, nông, công, thương đều là thực nghiệp, làm giàu cho đất nước. Thực nghiệp càng phát triển, nước càng giàu.” “Thực nghiệp càng phát triển, nước càng giàu” - đó là một con đường mới https://thuviensach.vn để đưa đất nước đi lên. Nhiều thành viên của Đông Kinh Nghĩa Thục bắt tay vào làm kinh tế để thực thi chính các học thuyết của họ đề xướng, vừa để có tiền đóng góp cho tổ chức. Dù không được thành công lắm về mặt tài chính đối với nhà trường song phong trào chấn hưng thực nghiệp của các chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục đã là một ngọn đuốc tiên phong trong việc phát triển kinh tế trên nhiều miền đất nước. Chuyện nhà nho tiên phong trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh là một trong những đề tài được bàn luận rất sôi nổi. Quả thực, đây là một trong những bước tiến bộ vượt bậc trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, như một tấm gương chói sáng về thực nghiệp. Trước kia, trong xã hội phong kiến theo thứ tự nghề nghiệp - sĩ, nông, công, thương - thì buôn bán bị xếp vào cuối bảng. Triều đình chỉ chú trọng vào đối tượng kẻ sĩ, coi đó là một nghề cao quý nhất. Trong tác phẩm Quốc Dân Độc Bản - một trong những tài liệu được coi như tuyên ngôn của Đông Kinh Nghĩa Thục, các soạn giả cũng đã lên án “thói thường” những kẻ hủ nho: “Phàm những kẻ biết đôi chút từ chương là đã vênh vang tự cho mình là sĩ, không thèm đứng chung hàng với nông, công, thương, họ cho là hèn hạ, gọi là dân buôn, dân thợ, dân cúng, ngu dốt, thậm chí có kẻ không thèm nói đến vải vóc, thóc gạo nữa!” Và nay, để thay đổi quan niệm này, các nhà nho cần phải tự đứng ra làm một cuộc cách mạng để đổi mới nếp nghĩ, cách làm, nâng cao tầm quan trọng của công thương, đưa nghề này lên vị trí dẫn dắt trong nền kinh tế. Chính các cụ phải là người làm gương, là những người xung phong vứt bỏ mọi danh vị, bằng cấp để bước vào con đường làm giàu vì cộng đồng. Và, theo các nhà duy tân thời đó, làm giàu cũng là một cách để cứu nước, bởi dân có giàu thì nước mới mạnh được. Nhiều hội buôn ra đời, có sự tương hỗ lẫn nhau về kinh nghiệm và bí quyết làm ăn. Một phong trào rầm rộ đã kéo theonhiều thành công về kinh doanh trong cả nước. Tuy nhiên, các nhà nho hầu hết là chỉ giỏi về văn chương, thơ phú, việc buôn bán quả là còn nhiều bỡ ngỡ, khó khăn nên nhiều trường hợp không tránh khỏi thất bại. Đầu tiên là hội buôn gạo của Đỗ Chân Thiết https://thuviensach.vn và Phương Sơn: Mua gạo ở Hải Dương, Thái Bình, về Hà Nội bán. Do không có kinh nghiệm nên các cụ đã bị thua lỗ. Sau đó, Đỗ Chân Thiết cùng một số người lập hội buôn Đồng Tế Lợi ở phố Mã Mây, chuyên buôn bán hàng nội hóa, rồi mở thêm hiệu Tụy Phương chuyên buôn bán thuốc Bắc. Hai thành viên quan trọng của Đông Kinh Nghĩa Thục là Hoàng Tăng Bí và giám học Nguyễn Quyền cũng cùng nhau mở công ty Đông Thành Xương ở Hàng Gai, vừa buôn bán hàng tạp hóa vừa làm công nghệ như dệt xuyến hoa đại đóa, ướp trà sen. Hồi đó, các sản phẩm của hai cụ làm ra được khách hàng đánh giá chất lượng không kém gì hàng nước ngoài. Ngoài ra có các công ty Nghiêm Xuân Quảng buôn bán the lụa Thái Bình; công ty Đông Ích dệt và xuất khẩu lụa .v.v. Tiếp đó, phong trào lập hội kinh doanh còn được lan dần ra các tỉnh. Khẩu hiệu Chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa không chỉ có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn là một trong những hành động cổ vũ tinh thần tự cường, lòng yêu nước. Các cụ đã dũng cảm đứng lên cạnh tranh với kinh tế tư bản Pháp và Hoa kiều. Trong không khí đầy phấn chấn, khẩu hiệu Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, và Dùng hàng nội là yêu nước lan truyền trong người tiêu dùng, như kích thích thêm phong trào thực nghiệp và tinh thần tự cường dân tộc. Những cái tên như Liên Thành thương quán ở Bình Thuận, Triều dương thương quán ở Nghi Lộc- Nghệ An, các cơ sở Minh Tân ở Nam kỳ... chịu ảnh hưởng từ phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, đã hòa chung với phong trào thực nghiệp của Đông Kinh Nghĩa Thục, tạo thành một làn sóng trên toàn quốc. Đặc biệt, cơ sở sản xuất nước mắm Liên Thành làm ăn phát đạt, đóng góp nhiều cho các phong trào yêu nước và sau này đã từng dự đấu xảo thuộc địa Pháp tại Marseille vào năm 1922, xuất khẩu sang các nước trong khu vực - cũng ảnh hưởng từ phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động. Nguyễn Hiến Lê kể lại trong cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục: “Phong trào kích thích đồng bào tới nỗi vài quan lớn đương thời cũng khảng khái xin nghỉ việc để về nhà đi buôn. Như cụ Nghiêm Xuân Quảng đương làm án sát https://thuviensach.vn Lạng Sơn, cáo quan về mở hiệu buôn tơ ở Hàng Gai (hay Hàng Quạt?) và chính cụ ngồi cân tơ.” Quả là một hình ảnh rất sinh động và lạ lùng thời đó. Khó ai hình dung ra cảnh một vị quan lớn có thể bỏ quan trường để trở thành một nhà buôn, không phẩm hàm, không chức tước, từ sáng tới tối bận bịu với chuyện buôn buôn bán bán. Cụ Nghiêm là một minh chứng tuyệt vời nhất cho sự lên ngôi của nghề kinh doanh trong thời kỳ đó và cũng là bằng chứng về sự tiên phong cho các nhà nho: vứt bỏ công danh, chức tước để đi tiên phong trên con đường củng cố nền kinh tế. Trong lĩnh vực nông nghiệp, có hai tên tuổi được lưu danh đó là Độc tướng quân và Bùi Đình Tá. Độc tướng quân không rõ tên tuổi, cũng là một nhà nho học giỏi nhưng không thích con đường khoa cử. Ông hưởng ứng phong trào duy tân đã lên Yên Bái mở đồn điền Yên Lập, rộng tới 50 mẫu, song do không có người làm (cái tên Độc tướng quân được đặt cho con người này bởi vì ông một mình lao động nơi rừng thiêng nước độc) nên cuối cùng cũng thất bại. Bùi Đình Tá, vốn con nhà quan, được học trường Tây, một người Tây học nhưng có tinh thần yêu nước. Cụ đã mở một đồn điền ở Mỹ Đức (Hà Tây) làm nơi nuôi dạy trẻ mồ côi, như một cô nhi viện đầu tiên ở Việt Nam. Song do thiếu vốn nên sau vài vụ mất mùa cụ đã không còn cầm cự được, phải giải thể. Thời đó, các nhà nho dù không có kiến thức gì về địa chất, nhưng cũng hăng hái đi vào lĩnh vực khai mỏ và đã tìm ra một số mỏ than, mỏ chì, mỏ kẽm. Công cuộc khai mỏ dở dang thì bị dẹp vì trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị thu hồi giấy phép hoạt động. Nhìn lại lịch sử giai đoạn này, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thú vị khi đã có một thời kỳ các nhà nho hăng hái quăng bút nghiên xông ra thị trường làm kinh tế. Thành tựu mà lớp trí thức thời đó đạt được từ phong trào thực nghiệp không phải chỉ đánh giá dựa trên yếu tố lợi ích kinh tế cho cơ sở trường, vì tổ chức của các hội buôn này vẫn còn manh mún và mang tính chất cá nhân nhiều hơn; song cái lớn hơn là các nhà nho đã phá bỏ được https://thuviensach.vn quan niệm khinh công thương vốn đã ăn sâu bám rễ vào đầu óc người Việt, kêu gọi nhân dân khắp nơi tham gia phong trào làm kinh tế, mang tầm vóc thương nghiệp đại quy mô. Đúng như Nguyễn Văn Xuân đã nhận xét trong Phong trào duy tân: “Nếu nó thành công, nghĩa là phong trào duy tân không bị quét sạch, thì thương nghiệp dẫntheo sự phát đạt lớn lao của công kỹ nghệ sẽ đủ sức đưa kinh tế mậu dịch Việt Nam lên một độ cao. Nó sở dĩ lên cao, lên mạnh, cải tiến, hoàn thiện được là vì đã trút được phần nào lối giấu nghề, lối vị kỷ, theo phương thức đã thâm căn cố đế trong xã hội ta, khiến công nghệ không ra khỏi xóm làng. Dưới sự hướng dẫn của các nhà nho yêu nước, chỉ biết ngày đêm kêu gọi hợp tác, hợp quần, trao đổi kinh nghiệm, đẩy mọi ngành, mọi nghề tiến lên không phải vì mục đích tư lợi thôi, mà còn vì mục đích cứu nước, chắc chắn kinh tế mậu dịch sẽ có những bước tiến mới.” Các nhà nho yêu nước đã đưa ra một quan niệm mới cho tinh thần yêu nước: yêu nước là phải hành động như thế nào để đưa đất nước sánh ngang với các nước tiên tiến trên thế giới. https://thuviensach.vn V. “Lò phiến loạn Bắc Kỳ” Hoạt động trong trường Đông Kinh Nghĩa Thục là các danh sĩ mà trong đó tự hình thành theo hai phái: phái bạo động và phái ôn hòa. Đường lối hoạt động của những chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục theo chủ trương ôn hòa của Phan Châu Trinh, đấu tranh công khai với Pháp một cách khéo léo, từng bước giành lại dân quyền và nhân quyền. Theo như đánh giá của Nguyễn Hiến Lê thì hai phái ôn hòa và bạo động “chung sống hòa bình” với nhau, hầu như không xảy ra mâu thuẫn đối kháng. Tất nhiên, vì nằm ngay giữa Hà Thành, Pháp luôn giăng mật thám dò la khắp nơi, thì không dễ dàng cho phái bạo động thực hiện các hành động mang tính bạo động. Họ chỉ thể hiện ngầm trong các bài giảng và một số hành động bí mật. Tuy vậy “nhiều cụ lại quá hăng hái” và đây là gót chân Asin để thực dân Pháp tóm được. Trong Lương Văn Can và phong trào Duy Tân - Đông Du, Lý Tùng Hiếu có đề cập đến vấn đề này: “Song song với việc phát động phong trào mở trường, lập hội kinh doanh, một số thành viên Đông Kinh Nghĩa Thục còn có những hoạt động ám trợ cho phái Đông Du - bạo động. Các cụ Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí tích cực vận động và tuyển chọn người để gởi đi du học. Các cụ Vũ Hoành, Lê Đại, Nguyễn Quyền, Nguyễn Hữu Cương thì hăng hái vận động những người ghét Pháp và cùng với các binh lính người Việt đóng trong thành Hà Nội cũ bàn kế hoạch nổi dậy hưởng ứng lời kêu gọi bạo động cứu nước của Phan Bội Châu.v.v.” Cũng không ít lần tại các buổi diễn thuyết, những người đăng đàn đã bàn về lòng yêu nước một cách sôi nổi. Do vậy, không khó gì để thực dân Pháp đánh hơi được sự nguy hiểm của Đông Kinh Nghĩa Thục. Cụ Lương Văn https://thuviensach.vn Can, một con người luôn chọn cách ứng xử rất khôn khéo, kín kẽ trước kẻ thù, đã tiên liệu trước được nguy cơ này. Theo Nguyễn Hiến Lê, một số chí sĩ đã hành động vượt hẳn ra ngoài đường lối của Đông Kinh Nghĩa Thục như mua và chở khí giới về Hà thành, đưa thanh niên lên Yên Thế gia nhập nhóm nghĩa quân của Đề Thám... Không thể kiểm soát được các hành động của phe bạo động, cụ cử Can e sợ trường sẽ bị Pháp đóng cửa. Ai cũng hiểu rằng, việc duy trì một Đông Kinh Nghĩa Thục ngay giữa lòng địch, đấu tranh bằng con đường công khai là một hoạt động quan trọng không kém gì con đường đấu tranh bằng vũ trang. Chính Lương Văn Can đã đề chủ trương tách hội viên ra làm hai phe ôn hòa và bạo động. Người theo chủ trương ôn hòa sẽ ở lại điều hành Đông Kinh Nghĩa Thục, phái bạo động sẽ phải ra đi, lập một tổ chức riêng để hoạt động. Như vậy mới giữ được sự an toàn cho nhà trường. Mọi người đồng tình với ý kiến trên, song chưa kịp thực thi phương án tách nhóm thì trường đã bị đóng cửa. *** Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa có nhiều nguyên nhân. Từ lâu, mật thám Pháp đã dò la thu thập thông tin về các hoạt động của trường. Những cuộc diễn thuyết ngay từ đầu đã gây cho Pháp cảm giác khó chịu và bất an. Dù không đi vào các đề tài chống nhà cầm quyền một cách vỗ mặt, song những cách tuyên truyền luôn khéo léo “gài” vào đó những lời kêu gọi sự thức tỉnh nhân tâm, hướng người dân ý thức được thân phận nô lệ. Ý thức tự cường dân tộc như những hạt giống vùi sâu trong đất, nay được gặp cơn mưa rào, đã bung lên thành những mầm cây tươi tốt. Mật thám đã thu thập được nhiều bằng chứng bất lợi cho nhà trường. Những bài vè, bài thơ cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân, rồi việc người dân không chịu dùng tiền sắt cũng xuất phát từ một bài thơ tuyên truyền ngấm ngầm, được người Pháp cho là có nguồn gốc từ Đông Kinh Nghĩa Thục. https://thuviensach.vn Người Pháp không ngờ rằng một ngôi trường vừa mở ra được vài tháng mà thanh thế đã ngùn ngụt. Đi tới đâu người ta cũng nói về Đông Kinh Nghĩa Thục. Ý thức phản kháng của nhân dân dân trước những chính sách của Pháp dần dần mạnh lên. Người ta bắt đầu nói nhiều đến nhân quyền, dân quyền... Và rõ ràng đó là một dấu hiệu không lấy gì làm tốt đẹp cho “nhà bảo hộ Pháp” lúc bấy giờ. Qua việc khai dân trí, tinh thần đấu tranh của người dân được khơi dậy và không ngừng được nâng cao. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những ngôi trường đi theo phong trào Duy Tân trong cả nước thời đó, nhưng nó lại nổi bật, sáng chói như một hiện tượng rất lạ kỳ, thu hút sự chú ý và sự hưởng ứng của nhân dân trong cả nước. Thậm chí, rất nhiều các danh sĩ ở các tỉnh thành khác đã khăn gói tìm đến Thục trưởng Lương Văn Can và các nhà sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục để xin tài liệu giảng dạy, học tập mô hình của trường đem về áp dụng cho địa phương mình. Trong một bản báo cáo, toàn quyền Klobukowsky đã đề cập tới những ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục như sau: “Hàng loạt thơ ca truyền miệng đã đưa vào tới những vùng thôn quê hẻo lánh. Có những áng văn, những bài thơ đả kích từ ngoài nước bí mật chuyển về, đem rải khắp trong đô thị... Các cuộc thẩm vấn ở tòa đại hình cho chúng ta biết phương pháp hành động của bọn phát ngôn cho phong trào chống chọi ấy. Họ đọc thuộc lòng những đoạn thơ ca đượm một tinh thần yêu nước rất kích động. Họ đi khắp Đông Dương, tổ chức những buổi họp mặt bí mật và đọc những điều răn mà khẩu khí hùng hồn làm cho thêm phần linh hoạt, và một mặt nữa, vẻ bí mật bao phủ xung quanh họ cũng làm cho câu chuyện họ nói có một sức quyến rũ hơn nữa.” Và như vậy, Đông Kinh Nghĩa Thục trở thành nỗi lo lắng của người Pháp. https://thuviensach.vn Nó như cái gai trong mắt - một cái “lò phiến loạn” ở Bắc Kỳ đang ngày một mạnh lên và đã đến lúc phải nhổ bỏ. Vào một ngày tháng 1.1908, thực dân Pháp bất ngờ ập vào trường Đông Kinh Nghĩa Thục, thu hồi giấy phép của trường, khám xét, tịch thu tài liệu, đồ dùng giảng dạy. Pháp lấy lý do trường có xu hướng chính trị chống “mẫu quốc” và có nhiều dấu hiệu cho thấy có liên quan tới các hoạt động chống Pháp của tổ chức mà Phan Bội Châu đang điều hành ở nước ngoài. Trước đó, vào 11.11.1907, Pháp ra lệnh đóng cửa tờ Đăng cổ tùng báo - một cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục. Những người sáng lập ra trường đã có có dự cảm rằng một ngày không xa trường sẽ bị khám xét, nên đã giấu đi hầu hết những tài liệu bí mật. Do vậy, Pháp không có được bằng chứng gì để kết tội những người trong tổ chức của Đông Kinh Nghĩa Thục. *** Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, các hoạt động diễn thuyết cũng bị cấm. Đây là một tổn thất lớn của phong trào yêu nước Duy Tân. Song, nhờ những hoạt động giáo dục, tuyên truyền của phong trào Duy Tân trên phạm vi rộng, nhất là ảnh hưởng to lớn của ngôi trường Đông Kinh Nghĩa Thục - dù trường này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn - mà tinh thần đấu tranh của nhân dân trên cả nước đã rất sôi nổi và nóng bỏng. Sức ép của chính sách thuế khóa quá hà khắc đã dồn người dân vào cảnh điêu đứng. Trong dân gian lúc đó truyền nhau bài vè chống thuế: Các hạng thuế Pháp càng tăng mãi Thuế đinh, điền rồi lại thuế bò https://thuviensach.vn Thuế chó cũi, thuế lợn lò Thuế muối, thuế rượu, thuế đò, thuế xe Thuế tất cả, trầu cao, chè thuốc... Bên cạnh đó, chế độ công sưu đầy bất công với người nghèo đã làm cho cuộc sống dân nghèo vốn đã khổ cực nay lại càng khổ cực chất chồng. Nhờ sự tuyên truyền dưới hình thức công khai, ý thức phản kháng của quần chúng lan truyền đi rất nhanh. Cuối năm 1907, đã có nhiều cuộc diễn thuyết lan đến tận những xóm làng hẻo lánh, kêu gọi việc đấu tranh kháng sưu, kháng thuế. Và nơi châm ngòi đầu tiên là ở huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam: vào tháng 3.1908, hơn 300 người làm việc ở mỏ than Nông Sơn đã kéo nhau về Hội An, đòi gặp bằng được viên công sứ Pháp, yêu cầu nhà cầm quyền phải nhận đơn khiếu nại... Phong trào kháng sưu, kháng thuế nhanh chóng lan ra nhiều huyện khác của Quảng Nam. Dân chúng vùng lên tham gia vào cuộc biểu tình, ồ ạt kéo nhau về Hội An - trung tâm đầu não của tỉnh. Những người biểu tình mang theo kéo, chặn đường cắt tóc của bất cứ ai họ gặp, nếu người đó còn để tóc dài. Những người biểu tình gọi nhau là đồng bào, do vậy mà phong trào này có tên là “Giặc đồng bào” hay cuộc dân biến “hớt tóc, xin xâu”. Người biểu tình trải chiếu ở ngoài cổng dinh quan công sứ, nấu ăn tại chỗ, thay phiên nhau chờ nộp đơn khiếu nại, cho dù bị đàn áp nhưng tinh thần của dân chúng không hề suy giảm. Từ Quảng Nam, phong trào này đã lan ra Bình Định, Phú Yên, Nha Trang, Thanh Hóa... Đoàn biểu tình đi đến đâu là quan phủ đều trốn mất vì sợ bị người dân túm cổ cúp tóc! Thấy tinh thần đấu tranh của dân chúng lên cao, thực dân Pháp không còn có thể ngồi yên với chiêu bài dân quyền nữa. Tháng 4.1908, chúng đã ra https://thuviensach.vn lệnh cho quân lính xả súng vào đám đông, bắt bớ dân chúng, thẳng tay đàn áp phong trào. Phong trào kháng sưu kháng thuế này đến tháng 5.1908 thì tan rã do sự đàn áp đẫm máu của chính quyền thực dân. Nhiều nhà cách mạng của Đông Kinh Nghĩa Thục đã bị bắt, xử tử hoặc lưu đày, cho dù chúng không nắm được trong tay các bằng chứng rõ ràng. Một sự kiện tiếp theo đó là vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội xảy ra vào 27.6.1908. Đây là một kế hoạch khá quy mô của của anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp, sau khi đầu độc lính pháp sẽ kết hợp với quân của Hoàng Hoa Thám để chiếm Hà Nội. Song do nguồn tin bị rò rỉ ra ngoài nên kế hoạch đánh úp Hà Nội không thành. 200 lính Pháp bị đầu độc bằng cà độc dược, tuy không gây ra tử vong song đã làm náo loạn hàng ngũ kẻ địch. Toàn Hà Thành rơi vào tình trạng báo động đỏ. Những cuộc truy quét bắt bớ người của quân đội Pháp tiến hành khắp nơi. Quân lính tuần tiễu khắp mọi ngả đường, cho không khí của thành phố vô cùng căng thẳng. Trong cuộc truy quét này, một lần nữa nhiều anh em trong tổ chức Đông Kinh Nghĩa Thục lại bị đưa về đồn tra hỏi, trong đó không ít người bị bắt giam chờ ngày xét xử. *** Hậu quả của sự đàn áp đối với phong trào cách mạng Duy tân thời đó rất nặng nề. Có thể gọi đó là một cuộc khủng bố đẫm máu đối với lực lượng hoạt động phong trào Đông Du cũng như nhân dân cả nước. Những bản án dành cho các nhà cách mạng được thực thi bởi chính công cụ của Pháp đó là triều Nguyễn dưới thời vua Duy Tân, khi đó mới ở tuổi lên https://thuviensach.vn 9. Trong phong trào này, có 435 người phải chịu án, trong đó có những cái tên rất quen thuộc của phong trào Duy tân nói chung và Đông Kinh Nghĩa Thục nói riêng: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu La Nguyễn Thành, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Ngô đức Kế... Cụ Trần Quý Cáp bị xử chém ngang lưng ngay tại Nha Trang. Phan Châu Trinh ban đầu bị kết án tử hình, sau hạ án xuống còn mức đi đầy ra Côn Đảo. Phan Bội Châu bị tử hình vắng mặt. Sau sự kiện này, tờ Đại Việt Tân báo cũng bị đóng cửa. Sau vụ Hà Thành đầu độc, nhiều thành viên của Đông Kinh Nghĩa Thục đã bị đưa ra xét xử và bị kết án. Nguyễn Quyền, Lê Đại, Vũ Hoành bị án chung thân khổ sai, Dương Bá Trạc 15 năm tù, Hoàng Tăng bí ban đầu bị kết án đi đày ra Côn Đảo 5 năm sau đó nhờ sự can thiệp của nhạc phụ là Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục nên án giảm xuống, chỉ bị đưa an trí ở Huế. Lương Văn Can cũng bị triệu vào đồn để thẩm tra. Theo Nguyễn Hiến Lê, cụ Cử Can được mời vào dinh tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu. Vốn cũng xuất thân từ giới nho sĩ, Hoàng Trọng Phu cũng phải nể vì một người dám từ chối lộc quan như cụ Cử Can, nên cách đón tiếp có phần trịnh trọng. Viên tổng đốc khuyên cụ khai ra mọi chuyện. Lương Văn Can với vẻ khoan thai của một thục trưởng, ôn tồn đáp: “Chúng tôi mở Nghĩa Thục để giúp chính phủ khai hóa dân trí, và chính phủ đã cho phép. Từ khi chính phủ rút phép thì chúng tôi thôi, không hoạt động gì cả.” Việc hai con xuất dương được lôi ra làm bằng chứng buộc tội, cụ cử Can bình tĩnh giải thích, rằng việc hai con trốn ra nước ngoài, cụ đã thông báo rộng rãi ở nhật trình Tây. Nhờ những lý lẽ rất sắc sảo, hợp lý và vẻ ung dung của một nhà nho đáng kính, viên tổng đốc này buộc phải để cụ về. Sự tổn thất về lực lượng còn kéo theo sự tổn thất về kinh tế. Một loạt các hội buôn danh tiếng được thành lập trong phong trào Duy Tân và do các thành viên Đông Kinh Nghĩa Thục khởi dựng ở Hà Thành như Đồng Lợi Tế, Tụy Phương, Đông Thành Xương, Hồng Tân Hưng bị đóng cửa. https://thuviensach.vn Cuộc khủng bố trắng năm 1908 đã khiến Đông Kinh Nghĩa Thục thực sự bị tan vỡ. Sự đổ vỡ ấy kéo theo biết bao bi kịch: đó là cảnh bắt bớ, tù đày, đầu rơi máu chảy. Những người không bị bắt thì cũng bị mật thám theo dõi. Một không khí lo sợ, hoang mang bao trùm khắp Hà thành. Trong khi đó tháng 10.1908, Pháp đã bắt tay với Nhật và chính phủ Nhật đã giải tán tất cả các du học sinh Việt Nam đang du học tại Nhật, trục xuất khỏi nước Nhật. Như vậy, phong trào Đông Du đến thời điểm này cũng đã bị đàn áp. Những chí sĩ trong phái Đông Du - bạo động của Phan Bội Châu sau khi bị trục xuất khỏi nước Nhật, đã phải trôi dạt sang Quảng Đông, Trung Quốc, tiếp tục con đường học tập, đấu tranh trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Lương Văn Can đã âm thầm kết nối với tổ chức này. Năm 1910 cụ gửi hai thanh niên là Dư Tất Đạt (sau đổi tên thành Dương Quốc Uy) và Lâm Đức Mậu. Đây là những hạt nhân quan trọng thành lập tổ chức Tâm Tâm xã tại Quảng Châu năm 1923. Tổ chức này đã cử người về nước liên lạc với Lương Văn Can để xây dựng cơ sở trong nước. Tâm Tâm xã ở nước ngoài cũng đã làm được một số việc rất có ý nghĩa, như tổ chức ám sát toàn quyền Đông Dương tại Sa Diện - dù việc bất thành nhưng Tiếng Bom Sa Diện đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước của người dân Việt; đào tạo ra một thế hệ chiến sĩ cộng sản đầu tiên như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu... Trong những ngày tháng Hà Thành bị mật thám giăng lưới khắp nơi, các hoạt động yêu nước chỉ được thực hiện một cách bí mật và cực kỳ khôn khéo. Những đồng tiền tích cóp từ hoạt động kinh doanh của gia đình được cụ gom góp lại thành từng món để gửi ủng hộ cho các tổ chức yêu nước. Đó là hành động yêu nước rất thiết thực của cụ cử Can lúc bấy giờ. Những món tiền lớn đã bằng nhiều con đường để đi sang Quảng Châu, tới tay các anh em đang học tập và làm cách mạng, trong thời điểm đó vô cùng túng quẫn. Những khoản chi viện của cụ như những cơn mưa trong mùa hạn. Sau khi đưa hai thanh niên sang Quảng Đông, Lương Văn Can đã tìm cách gửi cho https://thuviensach.vn Phan Bội Châu số tiền 250 đồng. Với số tiền quyên góp được được 500 đồng, tháng 10.1910 Phan Bội Châu cùng với các chiến sĩ sang nước Xiêm mở trại ấp cày cấy, lập cơ sở để chờ thời cơ mới. Ngoài ra, cụ cử Can còn gửi tiền cho các chiến sĩ cách mạng Đông Du để có vốn mở một hiệu buôn ở Long Châu (Quảng Tây). Lý Tùng Hiếu đã nhận xét về hành động này của Lương Văn Can: “Những hoạt động chi viện của Lương Văn Can vào thời điểm chông gai ấy thật là dũng cảm, nếu chúng ta biết rằng vào ngày 7.2.1910, Phan Bội Châu và 4 đồng chí của cụ ở hải ngoại một lần nữa bị Tòa án Nam Triều tỉnh Nghệ An kết án tử hình vắng mặt!” *** Ngày 26.4.1913, cả thành phố Hà Nội như rung chuyển bởi tiếng bom phát ra từ khách sạn Hà Nội. Một cuộc tấn công bất ngờ của một nhóm người yêu nước đã khiến quân Pháp một phen hốt hoảng, náo loạn. Cuộc tấn công đã giết chết 2 thiếu tá Pháp và làm bị thương 6 tên khác. Vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, Pháp đã bị 2 đòn tấn công bất ngờ. Cách đó ít hôm, vào ngày 12.4, vụ đánh bom tại Thái Bình đã giết chết tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn khét tiếng độc ác - một tay sai trung thành của Pháp. Đây là những hoạt động của một số đồng chí trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội mới về nước. Các cuộc tấn công này nhằm phô trương thanh thế của một tổ chức vừa được thành lập, gây được tiếng vang trong công luận. Những cuộc tấn công này một mặt đã làm cho Pháp lo lắng, nhưng đồng thời cũng gây ra một thiệt lớn về lực lượng mà có lẽ thời đó các chiến sĩ cách mạng của ta chưa thể lường hết được. Quân Pháp điên cuồng đàn áp, lục soát để truy tìm ra lực lượng cách mạng. Hành động trả đũa lần này làm cho cả Hà thành rơi vào không khí tang tóc. Cuộc truy quét đã bắt giữ 254 người, trong đó Lương Văn Can cũng là một trong những nhân vật bị Pháp nghi ngờ có dính líu tới bạo động. Trong thời gian trước đó, Lương Văn Can đã móc nối liên lạc với các chí sĩ https://thuviensach.vn yêu nước của Việt Nam Quang Phục Hội, có những cuộc mật đàm với tổ chức này. Bước vào tuổi 59, cụ cử Can nung nấu quyết tâm làm một chuyến xuất dương để được sát cánh cùng cùng các anh em chiến sĩ làm cách mạng. Các kế hoạch trên đã bị đổ bể sau sự kiện đánh bom Hà Thành. Đó là những ngày mà không chỉ gia đình cụ lo lắng mà cả những học trò và những người dân Hà thành thấp thỏm cho số phận của cụ cùng với các đồng chí yêu nước khác. Giặc Pháp khi đó đã siết chặt gọng kìm đô hộ, triều đình Nguyễn ở Huế bị vô hiệu hóa thành một thứ bù nhìn. Những “mầm mống phản loạn” nổi lên lập tức chúng tìm mọi cách để nhổ sạch tận gốc. Sau rất nhiều cuộc tra hỏi, thẩm vấn và bắt bớ, phải 4 tháng sau, Pháp mới đưa những người bị bắt ra xét xử. Ngày 5.9.1913, hàng loạt bản án đã được đưa ra: 7 chiến sĩ bị tử hình là Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần, Phạm Đệ Quý, Vũ Ngọc Thụy, Phạm Hoàng Quế, Phạm Hoàng Triết, Phạm Văn Tiến. Sáu người bị xử tử vắng mặt là Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Văn Túy, Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Bá Trác. Ngoài ra là hàng loạt những bản án chung thân, khổ sai... Cụ Lương Văn Can vì tuổi già sức yếu nên được Hội đồng đề hình của thực dân “châm chước” cho mức án 10 năm lưu đày sang Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia). Con trai cụ Lương Ngọc Bân cũng bị phạt 10 tháng tù giam. Một loạt các chiến sĩ yêu nước hoạt động ở nước ngoài bị Pháp truy đuổi và bắt giữ, trong đó có Phan Bội Châu bị bắt ở Quảng Đông, Cường Để phải lưu vong sang châu Âu, Phan Châu Trinh ở Paris cũng bị bắt giam vào tháng 9.1914 và phải đến tháng 7.1915 mới được thả. Những tổ chức cách mạng trong và ngoài nước hầu như bị tan rã gần hết vào thời điểm đó. *** Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ tồn tại trong 9 tháng. Nhưng 9 tháng đó các chí sĩ yêu nước đã làm cho dân tộc đạt được những bước tiến dài, có thể so https://thuviensach.vn sánh bằng bước tiến của nhiều thế kỷ trước. Đông Kinh Nghĩa Thục như ngọn đuốc sáng soi vào sự tăm tối của nhân dân, gióng một tiếng chuông mạnh mẽ làm thức tỉnh lương tri, ý thức tự cường, nỗi đau mất nước. Đông Kinh Nghĩa Thục cũng giúp người dân hiểu được tầm quan trọng của thực nghiệp. Lần đầu tiên trong lịch sử nghề kinh doanh buôn bán được đề cao, như một công cụ để vươn lên, tranh đua cùng các cường quốc trên thế giới. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử các nhà nho vứt bỏ phẩm hàm để chuyển sang làm kinh doanh, buôn bán. Chỉ trong 9 tháng tồn tại, Đông Kinh Nghĩa Thục đã làm được phép màu: hâm nóng được bầu nhiệt huyết yêu nước trong nhân dân. Sự vùng lên trong phong trào chống thuế, vụ Hà Thành đầu độc hay cuộc tấn công bằng bom vào sĩ quan Pháp ở khách sạn ở Hà Nội là hệ quả tất yếu khi người dân ý thức được sự bóc lột dã man của Pháp và thân phận mất nước. Nói đến tầm ảnh hưởng to lớn của Đông Kinh Nghĩa Thục, chúng ta không thể không nhắc tới ngọn đuốc tinh thần của phong trào này đó là thục trưởng Lương Văn Can, người khởi xướng Phan Châu Trinh, giám học Nguyễn Quyền và hàng chục nhân vật tiếng tăm khác. Họ là những người đã khai sinh ra ngôi trường đặc biệt này, khôn khéo tổ chức các hoạt động công khai ngay trước mũi nhà cầm quyền Pháp. Ngôi trường làm việc nghĩa ấy đã có sự đóng góp công sức to lớn của cá nhân Lương Văn Can, với vai trò của người gắn kết các chí sĩ dưới một mái nhà chung để thành lập nên Đông Kinh Nghĩa Thục. Cũng chính cụ và toàn bộ gia đình đã tận tụy hết lòng, góp công và góp của cho ngôi trường: hiến nhà làm cơ sở cho trường, bán gia sản của ông cha để đóng góp, duy trì hoạt động của trường; 3 người con làm giáo viên tình nguyện cho Đông Kinh Nghĩa Thục. Bản thân Lương Văn Can vừa là giáo viên, vừa là thục trưởng, vừa là người giữ tiền, vừa soạn sách, tham gia diễn thuyết... Toàn bộ tâm sức của gia đình cụ Cử Can đã dồn hết cho mái trường, cho sự nghiệp khai dân trí, trấn dân khí. Dưới ngọn cờ Đông Kinh Nghĩa Thục, https://thuviensach.vn Lương Văn Can hiện lên với tư cách của một nhà giáo đầy tâm huyết, một nhà Cách mạng yêu nước tiến bộ. https://thuviensach.vn Chương II: KINH DOANH ĐỂ PHỤNG SỰ TỔ QUỐC Phụng sự tổ quốc - đó là mục tiêu cao nhất mà danh sĩ họ Lương đặt ra. Trong khi bị đi đày sang Campuchia, Lương Văn Can đã biến cái rủi thành một cơ hội: cụ là người Việt tiên phong khai phá một thị trường bỏ ngỏ, mở đường cho một phong trào buôn bán sang Campuchia. Những đồng tiền kiếm được từ việc kinh doanh lại được đóng góp cho phong trào cách mạng. https://thuviensach.vn I. Những năm biệt xứ và chuyện kinh doanh ở xứ người Nghĩ thương cụ Cử già tuổi tác Vì non sông phải bước tân toan... (Hà Thành lâm nạn - Nguyễn Quang Diêu) Những tháng ngày bị lưu đày trên đất khách của nhà chí sĩ yêu nước Lương Văn Can là những tháng ngày đầy rẫy những gian truân. Ở tuổi 59, sau một thời gian nằm trong nhà lao Hỏa Lò, rồi phải chịu những thiếu thốn vất vả của thân phận tù đày... là những thử thách rất lớn. Thời đó, khi bị đi đày biệt xứ, do lạ thổ nhưỡng, rồi phải chịu cảnh đói khát, nóng lạnh bất thường... rất ít người sống sót trở về, hoặc khi trở về thì sức đã cùng lực đã kiệt. Nhưng dường như những khổ ải kể trên đã không hề làm cụ nản lòng. Lường trước được những khó khăn của chồng, bà cử Can đã cho người con trai thứ 8 là Lương Ngọc Môn, khi đó 15 tuổi, đi theo sang Cao Miên, để hai cha con sớm tối có nhau. Trong chuyến đi đày năm đó, ngoài hai cha con cụ cử Can còn có 3 chí sĩ khác. Mười năm xa cách dài dằng dặc, không biết sống chết ra sao, nhất là Nam Vang thời đó trong trí tưởng tượng của mọi người là chốn ma thiêng nước độc. Lương Văn Can rất cảm phục sự can đảm vững vàng của người vợ. Những ngày tháng nằm trong Hỏa Lò khiến sức khỏe của cụ Can giảm sút đi rất nhiều, mái tóc bạc trắng và dáng người gầy lại càng thêm tiều tụy. Khi giáp mặt người chồng gầy yếu giữa https://thuviensach.vn đoàn người khăn gói lên đường đi đày, một cảnh thật thê lương, nhưng phu nhân không khóc - một biểu hiện rất thường thấy của những phụ nữ khi chứng kiến cảnh chồng lâm nạn. Trái lại bà tỏ ra bình thản, như không hề có chuyện gì xảy ra. Ấn tượng về giây phút vợ chồng chia tay trong cảnh ngậm ngùi ở ga xe lửa trước giờ lên đường đi đày đã ghi tạc trong lòng Lương Văn Can. Sau này cụ viết lại trong Hành trạng, như để tri ân tình nghĩa vợ chồng với cụ bà: “...đến lúc ta xuống tàu đi Nam Vang, nhụ nhân[1] cùng theo ra tiễn, sắc mặt tịnh không có một tị nào là oán hận lo sợ, chỉ trông ta mà nói rằng: “Ông chờ tôi với với nhớ”, không chúc thọ mà ra chúc thọ, chí tình giai lão hiện ra nhời nói, lúc tạm phân ly, nói dẫn ngắn mà tình thì dài, có ý thay có vị thay, ta thường nhớ mà chẳng quên.” [1] Vợ - từ cổ Đoàn tàu chuyển bánh, bỏ lại phía sau là người vợ tảo tần đứng lặng giữa sân ga. Ai cũng hiểu rằng từ nay, một chặng đường mới đầy khó khăn chờ cụ phía trước. Song điều dày vò cụ không phải nỗi thống khổ của bước đường đi đày mà có lẽ là chuyện phải xa tổ quốc, bỏ lại một sự nghiệp cách mạng dang dở, không được sát cánh với các đồng chí, đồng bào của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc còn vô vàn những khó khăn trước mắt. Mười năm biệt xứ, ở tuổi cũng đã gần đất xa trời, có lẽ sự nghiệp đóng góp cho tổ quốc đã khép lại sau lưng cụ. *** Song, mỗi bước ngoặt trong cuộc đời dường như đều là một thử thách đối với mỗi người. Với những cá nhân có chí khí, họ có thể xoay chuyển tình huống, họ biết biến những yếu tố bất lợi thành một thời cơ mới. Và dù ở nơi đâu, trong hoàn cảnh nào thì với tấm lòng luôn hướng về tổ quốc thì mỗi người đều có thể biến tình yêu thành hành động yêu nước. Lương Văn Can, https://thuviensach.vn như chúng ta đã thấy, một con người với ý chí và tinh thần yêu nước ngùn ngụt trong huyết quản, cụ có thể tìm mọi cách để được góp sức mình, cho đến hơi thở cuối cùng. Quả đúng là chuyến ra đi biệt xứ của cụ Cử hoàn toàn không như mọi người hình dung. Không phải chỉ là chuyện làm sao để có thể sống sót lay lắt chờ đợi ngày trở về cố quốc, mà cụ Can đã tạo dựng một cuộc sống ổn định, đàng hoàng. Và hơn thế nữa, cụ còn làm được điều mà ngay cả những người sống trong hoàn cảnh bình thường cũng khó có thể thực hiện nổi! Nam Vang khi đó là thủ phủ Campuchia, một vùng đất cũng nằm trong trong tầm kiểm soát của thực dân Pháp thời đó.Những người đi đày bị ném vào một thành phố xa lạ, khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa - một thách thức lớn với bất kỳ ai trên con đường đi đày, phải làm sao để xoay xở lo lấy miếng ăn, nơi ở. Và tại đây, những người tù như Lương Văn Can vẫn bị chính quyền thực dân quản thúc. Dẫu gì thì Nam Vang cũng là quê hương thứ hai, mà cha con cụ Cử. Trong thời gian kiếm kế sinh nhai tại Nam Vang, Lương Văn Can đã phát hiện ra nơi đây chính là một thị trường đầy tiềm năng còn đang bị bỏ ngỏ. Hàng hóa sơ sài và việc buôn bán cũng không mấy được chú trọng phát triển. Lập tức, cụ đã tìm cách xoay xở làm kinh tế, trước hết để hai cha con đủ sống và lo cho Lương Ngọc Môn có điều kiện ăn học. Ngoài ra, hẳn cụ Cử còn nuôi một ý đồ lớn: muốn gây dựng ngay tại nơi lưu đày một căn cứ của Cách mạng. Điều này cho ta thấy ở Lương Văn Can một sự nhạy bén khác thường trong lĩnh vực kinh doanh. Khác với những nhà kinh doanh trong thời bình, Lương Văn Can lấy việc làm kinh doanh để đạt được một mục đích thiêng liêng đó là phụng sự tổ quốc. Điều này không phải chỉ trong thời gian cụ sinh sống https://thuviensach.vn ở Nam Vang, mà ngay từ buổi đầu của phong trào Đông Du - Duy Tân, những đồng tiền nhà gom góp gửi ra nước ngoài và để đóng góp cho sự phát triển Đông Kinh Nghĩa Thục cũng chính là từ việc buôn bán của gia đình cụ Cử mà ra. Làm cách mạng, “sức người” rất quan trọng, mà “sức của” cũng là một yếu tố quyết định cho sức mạnh của bất kỳ cuộc cách mạng nào. Trong thời điểm khó khăn ấy, các tổ chức yêu nước được bí mật thành lập đều rất cần đến sự tương trợ của nhân dân. Chắc chắn chúng ta sẽ không thể chiến thắng một kẻ thù xâm lược mạnh gấp nhiều lần mà chỉ dựa vào duy nhất lòng yêu nước.Cuộc cách mạng nào cũng cần có tài chính để nuôi dưỡng nhân lực, sắm sửa khí giới,... Những tổ chức cách mạng thời đó sở dĩ đã tồn tại và vượt qua những sóng gió là nhờ những khoản đóng góp không nhỏ của đồng bào yêu nước. Và như vậy, làm kinh tế như công cụ để phụng sự tổ quốc cũng chính là một hành động yêu nước đầy thiết thực. Sau những suy tính, tự vạch ra đường đi nước bước cụ thể, Lương Văn Can bí mật liên lạc với gia đình, quyết tâm thành lập một đường dây buôn bán xuyên biên giới Việt Nam - Campuchia. Để mở được đường dây buôn bán này là cả một quá trình tìm hiểu thị trường rất cặn kẽ, giá cả các mặt hàng hiếm ở Nam Vang và so sánh với giá cả hàng hóa ở Việt Nam. Cụ thuê một căn nhà trên đường An Dương, lập hiệu buôn mang tên Đại Thanh, chuyên buôn bán các loại hàng hóa mang từ Việt Nam sang. Khi đó, cô con gái thứ 7 của cụ là Lương Thị Trí cũng sang để phụng dưỡng cha và tham gia vào việc kinh doanh. Cụ Cử Can còn thu xếp được cho Lương Ngọc Môn đi học trường Tây tại Nam Vang, sau này người con trai út của cụ tốt nghiệp trung học, đi dạy học, rồi về Hà Nội học tiếp ở trường Cao Đẳng Đông Dương. Không chỉ dừng lại ở thành công của tiệm buôn Đại Thanh, Lương Văn Can còn mở thêm hiệu buôn mang tên Hưng Thạnh và giao cho con dâu Nguyễn Thị Hồng Đính trông nom. https://thuviensach.vn Cách buôn bán thời đó của gia đình của cụ Cử Can cũng hết sức... đặc biệt. Bởi vì đang sống trong sự kiểm soát của chính quyền thực dân Pháp, đang thực hiện nghĩa vụ của một bản án - hay nói đúng ra Lương Văn Can đang là một tù nhân giam lỏng, nên chuyện buôn bán không được công khai, đường đường chính chính. Hàng hóa được chuyển từ trong nước sang Nam Vang bằng một con đường bí mật do bà cử Can thiết lập. Lý Tùng Hiếu có viết lại sự kiện này: “Theo kế hoạch của cụ, mọi người chia nhau đi nghiên cứu thị trường rồi kín đáo liên hệ với bà Cử Can ở Hà Nội và các thương gia trong nước, thiết lập một đường dây thương mại bí mật xuyên biên giới, dùng tiếng lóng đánh điện tín về Hà Nội và Sài Gòn để đặt hàng đưa sang Nam Vang. Việc buôn bán từ đó phát triển rất nhanh. Riêng Hưng Thạnh đã phát triển thành một hiệu buôn lớn, tầng trệt bán hàng tấm và tạp hóa, tầng trên đóng giày và làm mũ. Thường xuyên có từ 13 đến 14 công nhân là con cháu của Nguyễn Mậu Kiến và Án sát Nguyễn Ngọc Tương, chí sĩ Cần Vương, do Nguyễn Thị Hồng Đính đưa sang. Nhờ đó, Lương Văn Can và con gái, con dâu đã có một nguồn tài chính dồi dào để trợ giúp các chiến sĩ cách mạng Việt Nam.” (Lương Văn Can và phong trào Duy Tân - Đông Du). Có lẽ đây là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của cụ Lương Văn Can, một giai đoạn cụ tham gia vào việc làm kinh doanh và thành công ở ngay trên đất khách, trong hoàn cảnh của một tù giam lỏng. Điều đó cho thấy tài năng của cụ trong việc kinh doanh.Trước đây, cụ cùng những người sang lập Đông Kinh Nghĩa Thục hô hào chấn hưng thực nghiệp, cổ vũ nghề kinh doanh buôn bán, thì nay, cụ có điều kiện để thực hành những lý thuyết mà các cụ đề xướng. Từ sự thành công của cụ cử Can, một phong trào buôn bán ở thị trường Campuchia dần dần được hình thành và phát triển rầm rộ. Sau này, khi cụ mất, một thương nhân ở Sài Gòn đã viết bài báo nhan đề Thương giới Việt Nam đối với lễ truy điệu Lương chí sĩ, đăng trên Đông https://thuviensach.vn