🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Kinh Tế Học Hài Hước - Steven D. Levitt
Ebooks
Nhóm Zalo
STEVEN D. LEVITT & STEPHEN J. DUBNER KINH TẾ HỌC HÀI HƯỚC
MỤC LỤC
§ KINH TẾ HỌC HÀI HƯỚC
§ LỜI GIỚI THIỆU
§ MỞ ĐẦU: MẶT KHUẤT CỦA MỌI ĐIỀU
Giáo viên phổ thông và đô vật Sumo có những điểm chung nào?
Đảng 3k − Ku Klux Klan giống người môi giới Bất Động Sản như thế nào?
Tại sao những tên buôn ma túy vẫn sống cùng mẹ?
Tội phạm biến đi đâu?
Điều gì làm nên bậc cha mẹ tuyệt vời?
Điều gì làm nên bậc cha mẹ tuyệt vời: Phần II: Tên của đứa con có quan trọng không?
§ PHỤ LỤC
Nhà kinh doanh Bất Động Sản có thể đang lừa bạn (và những bí ẩn khác của cuộc sống hiện đại) Theo tư duy của nhà Kinh tế học trẻ tuổi Steven Levitt
Những bài viết về Kinh Tế Học Hài Hước được chọn lọc từ tạp chí New York Times
Những lời khen tặng dành cho Kinh Tế Học Hài Hước
TLỜI GIỚI THIỆU
hời thơ ấu, chúng ta thường đặt ra vô số câu hỏi về thế giới xung quanh mình. Tại sao sấm chớp lại xuất hiện lúc mưa giông? Tại sao trái đất quay? Tại sao đôi lúc chiến tranh lại xảy ra?
Tại sao có người giàu người nghèo? Tại sao và tại sao… Các câu hỏi “tại sao” và “như thế nào” sẽ biến mất dần khi trưởng thành. Lúc này, những thắc mắc của chúng ta bớt tính tò mò và trở nên thực dụng hơn. Chúng ta bắt đầu tìm hiểu về công việc, tiền lương, lãi suất, bất động sản, chứng khoán và những câu chuyện trà dư tửu hậu khác.
Tuy nhiên, vẫn có những người tiếp tục theo đuổi các câu hỏi “tại sao” và “như thế nào” về thế giới xung quanh mình. Họ trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chuyên viên công nghệ hoặc nghệ sĩ.
Steven D. Levitt tốt nghiệp Đại học Harvard năm 1989 và trở thành một nhà kinh tế học nổi tiếng từ khi còn rất trẻ. Anh nhận giải thưởng John Bates Clark vào năm 2003, khi mới 36 tuổi. Cũng giống như nhiều nhà kinh tế học khác, Levitt luôn đặt câu hỏi “tại sao” và “như thế nào” về thế giới xung quanh. Nhưng khác với số đông, anh chỉ tò mò về những thứ thú vị mà phần nhiều trong đó đều rất “quái” và ngộ nghĩnh. Là một nhà kinh tế học sắc sảo và uyên bác, Levitt luôn tìm cách thỏa mãn trí tò mò về thế giới xung quanh. Anh đã sử dụng các công cụ kinh tế và phương pháp luận của một nhà khoa học để trả lời các câu hỏi kỳ quặc về sự vận hành của cuộc sống hay các hiện tượng xã hội nổi bật. Levitt tò mò về sự sụt giảm bất ngờ của tỷ lệ tội phạm ở New York (theo dự báo lẽ ra nó phải tăng lên), về thế giới của những tay buôn ma túy đường phố, về mối liên hệ giữa cái tên và số phận khi trưởng thành của đứa trẻ. Bằng con mắt và trí tuệ của một kinh tế gia xuất sắc, Levitt hé mở cho chúng ta thấy những khía cạnh bất ngờ, hài hước đằng sau tất cả mọi thứ, giống như tên của cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay.
Kinh tế học sinh sau đẻ muộn so với các ngành khoa học cơ bản khác. Nhưng như để bù lại khiếm khuyết về tuổi đời, kinh tế học đã
trỗi dậy mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX và trong suốt thế kỷ XX, trở thành một ngành khoa học có nền tảng vững mạnh có thể giải quyết các câu hỏi lớn không chỉ về động cơ và quá trình vận hành của nền kinh tế mà còn về hành vi của từng cá nhân trong cuộc sống thường ngày. Những nền tảng mà Levitt dựa vào để giải đáp các thắc mắc của mình là dữ liệu thực tế, luật “nhân quả” trong kinh tế lượng và chứng cứ thực tế.
Kinh tế học hài hước (Freakonomics) ra đời từ những câu hỏi kỳ quặc và những câu trả lời bất ngờ, nhưng đầy thú vị và cực kỳ thuyết phục của Steven Levitt. Độc giả có thể rất ghét, hoặc rất thích cuốn sách này cũng chính vì cách đặt vấn đề và cách giải quyết vấn đề táo bạo nhưng vẫn tuân theo đúng chuẩn mực khoa học của Levitt. Kinh tế học hài hước chứng tỏ rằng bộ môn kinh tế học không hề khô khan chút nào, mà ngược lại rất đáng lưu ý. Thậm chí, sau khi đọc xong cuốn sách, bạn có thể sẽ quyết tâm nghiên cứu kinh tế học để có thể trả lời những thắc mắc của chính mình về thế giới xung quanh: Tại sao những tay chơi ở vũ trường New Century chỉ vì lời qua tiếng lại mà bắn nhau, để rồi kẻ chết kẻ đi tù? Tại sao các thị xã trung tâm (tỉnh lị) của các thành phố ven biển nước ta lại luôn cách nhau 150-200 km? Tại sao thị trường bất động sản ở Hà Nội lại phức tạp hơn ở thành phố Hồ Chí Minh? Cơ chế vận hành của hệ thống ghi số đề hay cá độ bóng đá phi pháp như thế nào?
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là ấn phẩm tái bản mà Alpha Books đã tiến hành sửa chữa, cập nhật từ những bài báo, lời nhận xét về Kinh tế học hài hước của các tạp chí uy tín như Harvard Business Review, Washington Post, The New York Times; và các học giả như Malcom Gladwell, Kurt Andersen. Ngoài ra, nó còn bổ sung thêm phần hỏi đáp và trao đổi với các tác giả rất hài hước.
Tôi trân trọng giới thiệu đến các bạn Kinh tế học hài hước và hy vọng cuốn sách này sẽ không chỉ truyền cảm hứng cho bạn tìm hiểu về kinh tế học và các phương pháp luận của nó, mà còn giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về phương thức vận hành của cuộc sống và xã hội muôn màu muôn vẻ.
Hà Nội, tháng 02/ 2010
PHƯƠNG CẨM SA
CHÚ THÍCH
“Levitt là nhà kinh tế học trẻ tuổi xuất chúng nhất ở Mỹ”, ít nhất đó là nhận xét của hội đồng thẩm định. Vào một ngày đầy nắng giữa tháng Sáu, anh lái chiếc Chevy Cavalier đời cũ màu xanh lá cây có cái khung chắn bùn cáu bẩn và cửa xe không thể đóng chặt, luôn gây tiếng ồn mỗi khi chạy với tốc độ cao, phanh ngay trước vạch đèn giao thông ở phía nam thành phố Chicago.
Lúc này chiếc xe đã thôi ồn ã, chỉ còn lại khung cảnh đường phố vào ban trưa với các điểm bơm xăng, những khối bê tông dài như vô tận và khu nhà gạch với cửa sổ làm bằng gỗ dán.
Một người đàn ông đứng tuổi vô gia cư tiến lại gần. Cái biển đeo trước ngực cho biết ông ta không nhà cửa và muốn xin tiền bố thí. Ông ta mặc một cái áo khoác rách rưới, quá u ám trong một ngày nắng ấm, đội chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ cáu bẩn.
Levitt không khóa cửa xe hay lái lên phía trước. Người đàn ông vô gia cư cũng không hỏi xin tiền lẻ. Nhà kinh tế học chỉ liếc qua chiếc gương chiếu hậu. Sau giây lát, người ăn xin cư rời đi.
“Ông ta có bộ tai nghe hay ghê,” Levitt nhận xét, vẫn nhìn qua gương chiếu hậu. “Chà, còn hay hơn cả bộ tai nghe của mình. Mặc dù trông ông ta không có vẻ giàu có gì.”
Steven Levitt có xu hướng nhìn nhận sự việc khác với người bình thường. Và càng khác biệt so với nhà kinh tế học bình thường. Đây có thể là điểm mạnh, mà cũng có thể là điểm rắc rối, tuỳ thuộc vào tình cảm bạn dành cho các nhà kinh tế học.
- Tạp chí New York Times, 03/08/2003
Mùa hè năm 2003, Tạp chí New York Times đã cử Stephen J. Dubner, tác giả và đồng thời là nhà báo, viết tiểu sử của Steven D. Levitt, một nhà kinh tế học trẻ tuổi của trường Đại học Chicago.
Dubner, người đang nghiên cứu một cuốn sách về tâm lý đối với tiền bạc, gần đây đã phỏng vấn nhiều nhà kinh tế học và nhận thấy họ thường nói tiếng Anh rất tệ. Levitt, người vừa giành được Giải thưởng “ kinh tế gia trẻ tuổi nhiều triển vọng nhất” (John Bates Clark Medal) (giải thưởng trao hai năm một lần cho kinh tế gia Mỹ xuất sắc
nhất dưới bốn mươi tuổi), gần đây đã được nhiều nhà báo phỏng vấn và nhận thấy rằng cách suy nghĩ của họ không thật… thẳng thắn, theo cách nói của một chuyên gia kinh tế học.
Nhưng Levitt đã đi đến kết luận rằng Dubner không hoàn toàn là một tên ngốc. Còn Dub¬ner thì thấy rõ Levitt không phải là một anh chàng khô khan cứng nhắc. Tác giả kinh ngạc vì tính sáng tạo trong tác phẩm của vị chuyên gia kinh tế và tài nghệ diễn giải tác phẩm đó. Sở hữu bảng thành tích đáng nể (tốt nghiệp Đại học Harvard, nhận học vị Tiến sỹ từ Đại học MIT, và một loạt giải thưởng) nhưng Levitt đến với kinh tế học theo con đường hoàn toàn không chính thống. Dường như anh không xem xét sự vật dưới con mắt hàn lâm mà như một nhà thám hiểm thông thái và rất tò mò − như một người làm phim tài liệu, có lẽ vậy, hoặc một nhân viên pháp y hay một người đánh cá ngựa thuê chuyên nghiệp mà lĩnh vực hoạt động đi từ thể thao cho đến tội phạm hay văn hóa nhạc pop. Anh tự nhận mình có quan tâm đôi chút tới các vấn đề tiền bạc trong khi hầu hết mọi người đều nghĩ đó là kinh tế học; anh gần như cáu giận với sự khiêm tốn. “Tôi thực không biết nhiều về kinh tế học”, anh đã nói với Dubner về chuyện này. “Tôi chẳng giỏi toán, tôi không biết nhiều về kinh tế học và cũng không biết xây dựng lý thuyết. Nếu anh hỏi tôi rằng thị trường chứng khoán đang lên hay xuống, nếu anh hỏi tôi kinh tế đang phát triển hay thụt lùi, nếu anh hỏi tôi giảm phát tốt hay xấu, nếu anh hỏi tôi về thuế má − ý tôi là, sẽ là hoàn toàn giả dối nếu tôi nói tôi biết mọi thứ về tất cả những vấn đề đó.”
Những gì Levitt quan tâm chính là những câu chuyện muôn hình muôn vẻ và phức tạp của cuộc sống hàng ngày. Những gì anh tìm hiểu được đã thành một bữa tiệc thịnh soạn cho bất cứ ai muốn tìm hiểu cách mà thế giới thật sự vận hành. Quan điểm khác thường của anh đã được thể hiện trong bài viết của Dubner:
Theo cách Levitt nhìn nhận, kinh tế học là một ngành khoa học với những công cụ tuyệt vời mang lại những câu trả lời chứ không phải đang thiếu trầm trọng những câu hỏi thú vị. Món quà đặc biệt của anh là khả năng trả lời được những câu hỏi như vậy. Ví dụ: nếu những kẻ buôn bán ma túy kiếm được rất nhiều tiền, vậy tại sao chúng vẫn phải sống cùng mẹ? Thứ gì nguy hiểm hơn, khẩu súng hay cái bể bơi? Nguyên nhân nào đã làm cho tỷ lệ tội phạm giảm đột
ngột trong suốt thập kỷ trước? Có phải những nhà môi giới bất động sản hết lòng tận tuỵ vì lợi ích của khách hàng? Tại sao nhiều ông bố bà mẹ da đen đặt cho con họ những cái tên gây tổn hại tới tương lai và triển vọng sự nghiệp của chúng? Nhiều giáo viên phổ thông đã gian lận để đạt tiêu chuẩn với điểm số của học sinh thật cao trong kỳ thi như thế nào? Đô vật Sumo đang gian lận?
Và bằng cách nào một người vô gia cư trong bộ quần áo rách rưới lại đủ tiền mua cặp tai nghe giá 50 đô-la?
Nhiều người, cả bạn bè của anh, có thể không hề nhận thấy tác phẩm của Levitt chính là viết về kinh tế học. Nhưng anh chỉ đơn thuần chắt lọc cái gọi là ngành khoa học khô khan này cho mục tiêu tối quan trọng của nó: giải thích cách mà mọi người có được cái họ muốn. Không giống như các nhà hàn lâm, anh không ngại tận dụng khả năng quan sát và thói tò mò của bản thân; anh cũng không sợ đàm tiếu và đưa chuyện (nhưng anh lại sợ tính toán). Anh là người theo thuyết trực giác. Anh sàng lọc từ hàng chồng dữ liệu để tìm bằng được vấn đề mà người khác không thể tìm hiểu được. Anh định ra cách để đánh giá sự tác động trong khi những nhà kinh tế học khác đã tuyên bố không thể đánh giá được. Mối quan tâm sâu sắc của anh − mặc dù anh nói rằng anh không bao giờ tự mình liên quan những thứ đó − là gian lận, hối lộ và tội phạm.
Tính tò mò, thẳng thắn của Levitt quả thật đã hấp dẫn hàng ngàn độc giả của tạp chí New York Times. Anh bị vây bọc bởi hàng loạt câu hỏi, thắc mắc và yêu cầu, không chỉ từ hãng xe General Motors và đội bóng rổ nhà nghề nổi tiếng New York Yankees, các vị thượng nghị sỹ Hoa Kỳ mà còn từ đám tù nhân, các vị phụ huynh, và có cả một người đàn ông suốt hai mươi năm đã lưu giữ số liệu rất xác thực về doanh thu bán bánh vòng. Một nhà cựu quán quân giải đua xe đạp còn đề nghị Levitt giúp chứng minh giải đua có dính dáng tới doping; thậm chí cả Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cũng muốn biết Levitt đã sử dụng dữ liệu như thế nào để tóm bọn rửa tiền và bọn khủng bố.
Những thắc mắc của họ chính là sức mạnh ẩn bên trong niềm tin của Levitt: cho dù thế giới hiện đại đã quá thừa thãi những điều đen tối và rắc rối, song nó không phải là không thể lĩnh hội, và thấu hiểu nếu những câu hỏi đúng đắn được đặt ra, thì thậm chí chúng còn
gợi cảm hứng nhiều hơn là chúng ta vẫn nghĩ. Tất cả những gì chúng ta cần là một cách nhìn mới.
Ở thành phố New York, các nhà xuất bản đều đề nghị Levitt viết sách.
“Viết sách ư?”, anh nói: “Tôi không muốn viết sách.” Anh đã có đủ hàng tỷ chuyện phức tạp cần giải quyết hơn là bỏ thời gian để giải quyết chúng. Anh cũng không nghĩ mình sẽ là một người viết sách. Vì vậy anh đã từ chối và nói rằng không quan tâm − “trừ khi viết cùng với Dubner”, anh gợi ý.
Việc hợp tác không phải ai cũng làm được. Nhưng hai người bọn họ, từ lúc này được nói tới là hai chúng tôi, đã quyết định bàn bạc kĩ các vấn đề để cân nhắc xem có thể viết cuốn sách đó hay không. Chúng tôi kết luận là có thể. Hy vọng các bạn sẽ đồng ý với chúng tôi.
KINH TẾ HỌC HÀI HƯỚC
Levitt có cuộc phỏng vấn với Society of Fellows, một câu lạc bộ của các trí thức đáng kính tại Harvard, chuyên hỗ trợ tài chính cho những học giả trẻ thực hiện nghiên cứu trong vòng ba năm mà không cần một lời cam kết nào. Anh ta cảm thấy mình không thể trì hoãn cơ hội này mặc dù ban đầu, Levitt không coi bản thân là một nhà tri thức. Trong một bữa trưa nọ, anh ta được những đồng môn lớp trên – một nhóm các nhà triết học, nhà khoa học, lịch sử học nổi tiếng khắp thế giới – phỏng vấn. Levitt lo lắng sẽ không có một cuộc trò chuyện trọn vẹn.
Tuy nhiên, Levitt đã thể hiện rất xuất sắc khi bàn luận về bất kỳ đề tài nào xuất hiện – bộ não, loài kiến, triết học – mặc dù chỉ tình cờ nhớ được nội dung tóm tắt đã đọc. Tài dí dỏm của Levitt bộc lộ rõ khi anh ta kể cho những đồng môn nghe về hai mùa hè cá cược đua ngựa ở Minnesota. Thắng áp dảo!
Cuối cùng, một trong số họ hỏi: “Tôi thấy khó có thể nhận biết chủ đề thống nhất trong công trình nghiên cứu của anh. Anh có thể giải thích nó được không?”
Levitt cảm thấy lúng túng. Anh ta không biết chủ đề thống nhất của mình là gì kể cả khi có nó.
Amartya Sen, nhà kinh tế học sẽ đoạt giải Nobel trong tương lai, đã xen vào và tóm tắt ngắn gọn những gì mà ông ta thấy trong đề tài của Levitt.
“Vâng đó là đề tài của tôi”, Levitt hào hứng nói.
Một thành viên khác của câu lạc bộ sau đó cũng đưa ra một đề tài khác.
Levitt khẳng định, “Anh nói đúng, đó là đề tài của tôi.” Và cuộc tranh luận đó vẫn cứ diễn ra giống như những chú chó đang giành giật một khúc xương cho tới khi nhà tâm lý học Robert Nozick can thiệp. Nếu Levitt được phép chọn vị anh hùng trí tuệ, đó sẽ là Nozick.
Nozick hỏi: Anh bao nhiêu tuổi rồi Steve?
“Dạ, 26.”
Nozick quay sang những người khác và nói: “Anh ta mới chỉ 26 tuổi. Tại sao anh ta cần một đề tài thống nhất? Có thể Levitt sẽ trở thành một tài năng xuất chúng nên anh ta không cần. Anh ta đặt ra một câu hỏi rồi tự trả lời. Đó là điều rất tốt.”
− Tạp chí New York Times, 03/08/2003
BMỞ ĐẦU: MẶT KHUẤT CỦA MỌI ĐIỀU
ất kỳ ai sống tại Hoa Kỳ vào những năm đầu thập niên 1990 có quan tâm đôi chút tới các bản tin tối hay nhật báo đều có thể được thông cảm nếu họ cảm thấy quá hoảng sợ. Thủ phạm chính là tình trạng tội phạm. Tội phạm không ngừng gia tăng − biểu đồ về tội phạm tại bất kỳ thành phố nào của Mỹ trong những thập kỷ gần đây đều biểu thị độ dốc đi lên − và đồ thị đó như báo trước ngày tàn của thế giới vậy. Tử vong do súng đạn, có chủ đích hay vì nhiều lý do khác, đã trở nên ngày càng phổ biến. Cũng nhức nhối như nạn cướp bóc, phá hoại ô tô, trộm cắp và hiếp dâm, tội phạm đã trở thành một nỗi khiếp sợ thường trực. Mọi thứ dường như sẽ ngày càng tồi tệ. Tệ đi rất nhiều. Tất cả các chuyên gia đều nói vậy.
Nguyên nhân là do một kẻ được coi là tội phạm siêu hạng. Cùng một lúc, hắn có mặt tại khắp mọi nơi. Xuất hiện trên bìa các tờ tuần báo với cái nhìn trừng trừng. Nghênh ngang xuất hiện trên các báo cáo của chính phủ. Hắn có dáng khẳng khiu, một thanh niên sống trong thành phố lớn với một khẩu súng rẻ tiền trong tay và trái tim trống rỗng, chỉ chất chứa bạo lực. Chúng ta cũng biết rằng có hàng ngàn kẻ như vậy ngoài xã hội, một thế hệ những kẻ giết người luôn muốn đẩy nước Mỹ vào tình trạng hỗn loạn cực điểm.
Năm 1995, một chuyên gia tội phạm học là James Alan Fox đã viết một bản báo cáo gửi tới vị Tổng chưởng lý của Mỹ liệt kê rất chi tiết xu hướng gia tăng các vụ án mạng do vị thành niên gây ra. Fox đã đưa ra cả viễn cảnh lạc quan và bi quan. Với viễn cảnh lạc quan nhất, ông tin rằng tỷ lệ án mạng do trẻ vị thành niên gây ra sẽ tăng 15% trong thập niên tới; còn với viễn cảnh bi quan, tỷ lệ này sẽ tăng gấp đôi. Theo như ông phát biểu, “Làn sóng tội phạm sắp tới sẽ cực kỳ nhức nhối” và “đến mức nó sẽ khiến chúng ta nhìn lại năm 1995 giống như những ngày tươi đẹp xa xưa”.
Các nhà nghiên cứu tội phạm học, các nhà khoa học chính trị và cả các nhà dự báo trong những lĩnh vực khác đã dự đoán một tương lai cũng khủng khiếp như vậy, đó cũng là ý kiến của Tổng
thống Clinton. Ông phát biểu: “Chúng ta đều biết nước Mỹ cần khoảng sáu năm để thay đổi hoàn toàn tình trạng tội phạm vị thành niên, hoặc nước Mỹ sẽ phải chung sống với sự hỗn loạn. Và con cháu chúng ta sẽ không thể chứng kiến những cơ hội tuyệt vời của nền kinh tế toàn cầu; chúng sẽ chỉ cố gắng để bảo vệ tính mạng của mọi người ở những thành phố này”. Những đồng tiền quý giá sẽ chỉ được dành cho việc chống tội phạm.
Nhưng sau đó, thay vì gia tăng liên tục, liên tục và liên tục, tội phạm bắt đầu suy giảm. Giảm, giảm và ngày càng giảm nhiều hơn. Tội phạm giảm một cách đáng kinh ngạc trên một số khía cạnh. Tội phạm giảm sút tại khắp mọi nơi và mọi loại tội phạm đều giảm trên khắp mọi miền nước Mỹ. Tội phạm giảm liên lục và ngày càng giảm sau từng năm. Mà điều này hoàn toàn không được dự báo trước − nhất là không phải do những chuyên gia, từng dự báo về những diễn biến ngược lại.
Sự thể hoàn toàn đảo lộn đến mức đáng kinh ngạc. Tỷ lệ sát nhân vị thành niên, thay vì tăng 100% hay thậm chí chỉ 15% như James Alan Fox đã cảnh báo, đã giảm hơn 50% trong vòng 5 năm. Năm 2000, tỷ lệ án mạng trên toàn nước Mỹ đã giảm xuống tới mức thấp nhất trong vòng 35 năm qua. Tỷ lệ các loại phạm tội khác, từ hành hung tới cướp ô tô, cũng giảm tương tự như vậy.
Mặc dù các chuyên gia đã không thể dự báo về tình trạng tội phạm giảm sút − mà thực tế đó diễn ra ngay cả khi họ đang đưa ra những dự báo nghiêm trọng về tình trạng tội phạm − thì nay họ lại vội vàng giải thích hiện tượng này. Hầu hết những giả thuyết của họ đều có vẻ hoàn toàn hợp lý. Các chuyên gia cho rằng đó chính là do nền kinh tế đang phát triển của những năm 1990 đã góp phần giảm bớt tội phạm. Họ cho rằng đó chính là do sự tăng cường của luật kiểm soát súng; đó là do các chiến lược cải tổ ngành cảnh sát được triển khai tại thành phố New York, nơi các vụ án mạng đã giảm từ 2.245 vụ trong năm 1990 xuống còn 596 vụ trong năm 2003.
Các giả thuyết này không chỉ hợp lý; chúng còn mang tính khích lệ khi đã gắn sự suy giảm tội phạm với những sáng kiến cụ thể và mới đây của xã hội. Nếu nguyên nhân chính là do việc kiểm soát súng chặt chẽ hơn và số lượng cảnh sát tăng lên đã đẩy lui nạn tội phạm, thì sức mạnh để chế ngự nạn tội phạm thật sự nằm trong tầm
tay của chúng ta. Và nếu vậy trong thời gian tới, lạy Chúa, bọn tội phạm sẽ khốn đốn.
Các giả thuyết đều có lý lẽ riêng của chúng, có vẻ như chẳng có sai sót gì từ lời giải thích của các chuyên gia, tới diễn giải của báo chí và nhận thức của người dân. Tóm lại, chúng đã trở thành nhận thức thông thường.
Duy chỉ có một vấn đề: các giả thuyết đó không đúng. Có một yếu tố khác đóng vai trò chính trong việc đẩy lui nạn tội phạm trong thập niên 1990. Yếu tố đó đã hình thành từ hơn 20 năm trước và liên quan tới một phụ nữ trẻ tuổi ở Dallas có tên là Norma McCorvey.
Cũng giống như một con bướm độc xuất hiện tại một lục địa và cuối cùng lại gây ra thảm họa tại một lục địa khác, Norma McCorvey đã thay đổi đột ngột tiến trình của các sự kiện mà không hề có chủ ý. Tất cả những điều cô ta muốn chỉ là việc phá thai. Đó là một phụ nữ 21 tuổi, nghèo, thất học, không nghề nghiệp, nghiện rượu và ma túy; đã cho hai đứa con làm con nuôi người khác và lúc đó, cái năm 1970 ấy, người phụ nữ này phát hiện mình lại có thai. Nhưng tại Texas, cũng như các bang khác (ngoại trừ một vài bang) ở Mỹ thì việc phá thai bị coi là bất hợp pháp. Vấn đề của McCorvey đã được nhiều nhân vật có quyền lực hơn hẳn người phụ nữ này ủng hộ. Những nhân vật đó đã đưa người phụ nữ này trở thành nguyên đơn trong một vụ đòi hợp pháp hóa việc phá thai. Bị đơn là Henry Wade, luật sư tại Hạt Dallas. Cuối cùng vụ án đã được tống đạt lên Toà án Tối cao Mỹ, tất nhiên lúc đó McCorvey đã được đặt tên giả là cô Jane Roe. Ngày 22 tháng Một năm 1973, toà án đã tuyên bố cô Roe thắng kiện, cho phép hợp pháp hóa việc phá thai trên toàn quốc. Vào thời gian đó, tất nhiên là đã quá muộn để McCorvey (dưới cái tên là Roe) phá thai. Và người phụ nữ này đã sinh con và nuôi con tới khi lại cho con làm con nuôi. (Những năm sau đó người phụ nữ này đã phủ nhận trách nhiệm của mình đối với việc phá thai được hợp pháp hóa và trở thành một người hoạt động xã hội).
Vậy vụ việc của Roe có vai trò gì trong đợt giảm làn sóng tội phạm mạnh mẽ nhất trong lịch sử?
Nói tới tội phạm, hóa ra không phải mọi đứa trẻ sinh ra đều bình đẳng. Hay thậm chí là gần bình đẳng. Hàng thập kỷ nghiên cứu đã
cho thấy một đứa trẻ được sinh ra trong môi trường gia đình có hoàn cảnh bất ổn sẽ có nguy cơ trở thành tội phạm cao hơn những đứa trẻ khác. Và hàng triệu phụ nữ phá thai theo trào lưu của Roe − những phụ nữ nghèo, sống đơn thân, những bà mẹ tuổi vị thành niên (mà với họ, việc phá thai bất hợp pháp là quá tốn kém và khó khăn) − sẽ là những hình mẫu của sự bất ổn. Con cái họ, nếu như được sinh ra, sẽ có nguy cơ rất cao trở thành tội phạm hơn mức trung bình. Nhưng sau vụ kiện của Roe, những đứa trẻ đó đã không được sinh ra. Nguyên nhân này gây ra một tác động sâu sắc và lâu dài dẫn tới kết quả: nhiều năm sau đó, do những đứa trẻ không được sinh ra đã không còn cơ hội bước vào thời kỳ phạm tội của chúng, nên tỷ lệ tội phạm đã giảm mạnh.
Không phải do việc kiểm soát súng, hay do nền kinh tế thịnh vượng, hay các chiến lược kiểm soát mới đã cản bước làn sóng tội phạm tại Mỹ. Ngoài những yếu tố khác, thì còn một nguyên nhân quan trọng là do số lượng người có nguy cơ trở thành tội phạm đã giảm sút đột ngột.
Giờ đây, khi là các chuyên gia nghiên cứu hiện tượng suy giảm tội phạm (trước đó là các chuyên gia nghiên cứu tội phạm) thêu dệt các giả thuyết của họ trước báo chí, đã bao nhiêu lần họ viện dẫn việc phá thai được hợp pháp hóa là một nguyên nhân của hiện tượng suy giảm làn sóng tội phạm?
Chưa bao giờ.
* * *
Có một sự pha trộn tinh tế giữa thương mại và tình thân hữu: bạn thuê người môi giới bất động sản để rao bán ngôi nhà của mình.
Người môi giới bất động sản sẽ nâng mức độ hấp dẫn của ngôi nhà lên, chụp vài kiểu ảnh, định mức giá, soạn một mẩu quảng cáo thật cuốn hút, xăng xái giới thiệu về ngôi nhà, thương lượng giá cả, và theo dõi đàm phán tới khi kết thúc vụ mua bán. Chắc chắn là có rất nhiều việc cần làm, nhưng người môi giới sẽ thu được một khoản hoa hồng hấp dẫn. Khi bán được căn nhà với giá 300.000 đô la, người môi giới sẽ thu được một khoản phí 6% là 18.000 đô-la. Mười tám ngàn đô-la Mỹ. Hẳn là bạn sẽ tự nói với mình: đó là một
khoản tiền lớn. Nhưng bạn cũng cần tự nói với mình rằng bản thân bạn chưa bao giờ có thể bán được một căn nhà với giá 300.000 đô la. Người môi giới lại biết cách bán được với giá đó − vậy đây có phải là cụm từ được người môi giới sử dụng? − “Tối đa hóa giá trị căn nhà”. Người môi giới đã bán căn nhà của bạn với giá cao nhất, đúng vậy không?
Thật vậy sao?
Người môi giới bất động sản là một kiểu chuyên gia khác với một nhà tội phạm học, nhưng vẫn thực sự là một chuyên gia. Đó là vì người môi giới am hiểu lĩnh vực của họ hơn một người bình thường và họ đang thay mặt bạn để tiến hành việc mua bán. Người môi giới nắm được thông tin chính xác hơn về giá trị của căn nhà, hiện trạng thị trường nhà đất, và thậm chí là kiểu tư duy của người mua nhà. Bạn phụ thuộc vào người môi giới đó vì họ nắm những thông tin này. Đây chính là lý do tại sao bạn cần thuê chuyên gia.
Vì thế giới ngày càng phát triển chuyên môn hóa hơn, vô số chuyên gia như trên đã tự làm cho mình trở nên vô cùng cần thiết. Bác sỹ, luật sư, nhà thầu, người mua bán cổ phiếu chứng khoán, công nhân sửa chữa ô tô, người buôn bán cầm đồ, chuyên viên kế hoạch tài chính: tất cả những nhân vật đó đều có lợi thế to lớn về thông tin. Họ dùng lợi thế của họ để giúp đỡ bạn − người sẽ thuê họ − để mang lại cái bạn cần với mức giá tốt nhất.
Thật vậy sao?
Thật thú vị biết bao nếu có thể nghĩ như vậy. Nhưng các chuyên gia cũng là con người, và con người đều bị thúc đẩy bởi các động cơ. Do đó, nếu giả dụ có chuyên gia nào lừa bịp bạn thì mức độ giả dối còn phụ thuộc vào động cơ nào thúc đẩy chuyên gia đó. Đôi khi động cơ của chuyên gia cũng vì quyền lợi của bạn. Ví dụ: một nghiên cứu đối với các công nhân sửa chữa ô tô ở California cho thấy họ thường bỏ qua những phiếu thanh toán sửa chữa nhỏ bằng cách cho kiểm tra các ô tô bị hỏng bộ phận tỏa nhiệt − lý do là các công nhân sửa chữa sẽ được làm công việc đó nhiều lần. Nhưng trong một trường hợp khác, động cơ của chuyên gia có thể đi ngược với quyền lợi của bạn. Một nghiên cứu y học đã cho thấy nhiều bác sỹ sản khoa tại những khu vực có tỷ lệ sinh đẻ đang giảm thường thực hiện nhiều ca mổ đẻ hơn là tại các khu vực đang có tỷ lệ sinh
sản tăng − điều này cho thấy, khi công việc ngày càng khó khăn, các bác sỹ sẽ cố gắng tìm cách có thêm những thủ tục tốn kém hơn cho bệnh nhân.
Đó là một ví dụ đáng suy ngẫm về vấn nạn các chuyên gia lạm dụng vị trí của mình và lợi dụng người khác để chứng tỏ vị trí đó. Cách tốt nhất để biết được là đánh giá mức độ mà một chuyên gia nào đó đối xử với bạn và mức độ mà chuyên gia đó thực hiện với cùng một dịch vụ tương tự nhưng là cho bản thân anh ta. Thật không may là bác sỹ phẫu thuật không tự phẫu thuật cho mình; hồ sơ bệnh án của anh ta cũng không được công khai; cũng như anh công nhân sửa chữa ô tô không tự sửa xe ô tô của mình.
Tuy nhiên, kinh doanh bất động sản là công việc được công khai và những người môi giới bất động sản thường tự bán cả nhà của họ. Một bản tập hợp số liệu gần đây cho thấy trong số gần 100.000 căn nhà tại khu ngoại ô Chicago có tới 3.000 căn thuộc sở hữu của những người môi giới bất động sản.
Trước khi đi sâu vào các số liệu, có một câu hỏi được nêu ra: đâu là động cơ của người môi giới bất động sản khi họ bán căn nhà của chính họ? Thật đơn giản: để có được một giá bán tốt nhất. Có lẽ đây cũng là động cơ của bạn khi rao bán căn nhà của mình. Và do vậy, động cơ của bạn và động cơ của người môi giới bất động sản dường như có thể song hành. Sau cùng thì tiền hoa hồng của người môi giới sẽ dựa trên giá bán của căn nhà.
Nhưng khi tính tới động cơ thì việc chia tiền hoa hồng cũng khá phức tạp. Thứ nhất, 6% hoa hồng sẽ được chia giữa người môi giới của bên mua với người môi giới của bên bán. Mỗi người môi giới sẽ chuyển lại phần của họ cho hãng của mình. Nghĩa là chỉ có 1,5% của giá mua là vào thẳng túi của người môi giới.
Vì vậy, trong vụ mua bán căn nhà trị giá 300.000 đô-la của bạn phần tiền hoa hồng 18.000 đô-la, số tiền thuộc về người môi giới sẽ là 4.500 đô-la. Khoản tiền đó không hề nhỏ, bạn sẽ nói vậy. Nhưng sẽ thế nào nếu thực ra giá trị của căn nhà đó còn cao hơn 300.000 đô-la? Sẽ thế nào nếu như chỉ thêm chút công sức, kiên nhẫn, và vài mẩu quảng cáo, người môi giới đó đã có thể bán căn nhà với giá 310.000 đô-la? Sau khi trả tiền hoa hồng, bạn có thể bỏ túi được thêm 9.400 đô-la. Nhưng phần tiền hoa hồng thêm cho người môi
giới chỉ là 1,5% của số tiền 10.000 đô-la tính thêm, nghĩa là chỉ có 150 đô-la. Nếu bạn có được 9.400 đô-la trong khi người môi giới chỉ kiếm được thêm 150 đô-la, vậy rốt cuộc có lẽ động cơ của anh ta không còn song hành với bạn nữa. (Nhất là khi người môi giới đó phải chi trả tiền quảng cáo và làm mọi công việc). Vậy liệu người môi giới có sẵn lòng bỏ thêm thời gian, tiền bạc và công sức chỉ để kiếm thêm 150 đô-la?
Một cách để tìm ra là so sánh sự khác nhau giữa các số liệu mua bán nhà đất thuộc về những người môi giới bất động sản và các căn nhà họ nhận bán cho khách hàng của họ. Xem xét các số liệu mua bán hơn 100.000 căn nhà tại Chicago và kiểm soát tất cả các số liệu biến đổi như địa điểm, tuổi đời, chất lượng của căn nhà, thẩm mỹ và các yếu tố khác − rõ ràng là người môi giới bất động sản thường giữ căn nhà của mình trên thị trường trung bình dài hơn mười ngày và bán căn nhà đó cao hơn 3%, hay là 10.000 đô-la cho mỗi căn nhà trị giá 300.000 đô-la. Khi người môi giới bán căn nhà của mình, người đó sẽ giữ nó cho tới khi bán được giá tốt nhất; Khi người môi giới bán căn nhà của bạn, người đó sẽ bán ngay nó khi được mức giá kha khá. Giống như người buôn cổ phiếu, người môi giới bất động sản luôn muốn bán được nhà và bán thật nhanh chóng. Tại sao lại không? Phần được chia thêm của người môi giới − 150 đô-la − là quá ít ỏi để tạo động cơ cho người môi giới đó.
Một sự thật trong số những sự thật chính trị được coi là chân thực hơn cả: Tiền bạc mua lá phiếu cử tri. Arnold Schwarzenegger , Michael Bloomberg , Jon Corzine − những nhân vật này chính là những ví dụ điển hình và ấn tượng trong thời gian gần đây. (Tạm gác lại các trường hợp ngoại lệ như Howard Dean, Steve Forbes, Michael Huffington, và đặc biệt là Thomas Golisano, người đã tham gia ba cuộc bầu cử thống đốc bang tại New York, đã chi 93 triệu đô
la của cá nhân và lần lượt chỉ giành được có 4%, 8% và 14% phiếu bầu). Hầu hết mọi người sẽ đồng ý rằng tiền bạc có ảnh hưởng thái quá tới các cuộc bầu cử và số tiền chi cho các cuộc vận động chính trị là quá lớn.
Quả thực các số liệu bầu cử chứng tỏ đúng là ứng cử viên nào chi nhiều tiền hơn cho các cuộc vận động bầu cử thường sẽ giành
thắng lợi. Nhưng tiền bạc có phải là nguyên nhân dẫn đến chiến thắng?
Có vẻ như khá hợp lý khi nghĩ theo cách như vậy, cũng giống như sự hợp lý khi nghĩ rằng nền kinh tế phát triển mạnh trong những năm 1990 đã giúp giảm bớt tội phạm. Nhưng hai sự việc tương quan với nhau không có nghĩa là sự việc này dẫn tới sự việc kia. Sự tương quan đơn giản chỉ có nghĩa là có một mối quan hệ tồn tại giữa hai nhân tố − có thể gọi chúng là X và Y − nhưng mối quan hệ đó không nói lên điều gì về chiều hướng của quan hệ đó. Có thể là X dẫn tới Y; cũng có thể là Y dẫn tới X; và cũng có thể cả X và Y đều do một nhân tố khác dẫn tới − nhân tố Z.
Hãy suy nghĩ về mối tương quan này: Ở những thành phố xảy ra nhiều án mạng thường cũng có rất nhiều cảnh sát. Bây giờ cần xét mối tương quan cảnh sát − án mạng tại hai thành phố lớn. Denver và Washington D.C., cả hai thành phố có dân số bằng nhau, nhưng Washington có số cảnh sát nhiều hơn gấp gần ba lần so với Denver, và thành phố này cũng có số vụ án mạng nhiều hơn gấp tám lần thành phố Denver. Tuy nhiên, chỉ trừ khi anh có nhiều thông tin hơn, nếu không rất khó nói cái gì dẫn đến cái gì. Người nào đó thiếu biết có thể xem xét những con số này và kết luận rằng do số cảnh sát dôi dư tại Washington đã dẫn đến số vụ án mạng nhiều hơn đó. Cách suy nghĩ thiển cận đã tồn tại từ rất lâu đó thường gây ra cách hành xử cũng thiển cận. Hãy nhớ lại câu chuyện dân gian xưa về một Nga Hoàng khi biết rằng địa phương bị bệnh tật hoành hành nhiều nhất trong vương quốc của mình cũng chính là địa phương có nhiều bác sỹ nhất. Giải pháp của ông ta là gì? Ông ta đã ngay lập tức ra lệnh giết hết các bác sỹ.
Bây giờ quay trở lại với vấn đề chi phí cho các cuộc vận động bầu cử: để tìm ra mối quan hệ giữa tiền bạc và bầu cử, cần tìm hiểu về động cơ đóng góp tài chính cho cuộc vận động. Hãy coi bạn là người có thể sẽ đóng góp 1.000 đô-la cho một ứng cử viên. Khả năng ở đây là bạn sẽ góp tiền vào một trong hai trường hợp: một là cho cuộc chạy đua nước rút và bạn nghĩ tiền bạc sẽ tác động tới kết quả; hoặc là cho một cuộc vận động trong đó ứng cử viên đó chắc chắn là người thắng cuộc và bạn muốn được hưởng lợi từ vinh quang đó hoặc sẽ được nhận đôi chút ân huệ trong tương lai. Ứng
cử viên khác, người mà bạn không ủng hộ tiền bạc sẽ bị coi chắc chắn là thất bại. (Chỉ cần hỏi các ứng cử viên tổng thống triển vọng, những người đã gây chấn động Iowa và New Hampshire) . Và như vậy, các ứng cử viên dẫn đầu và ứng cử viên đương nhiệm có thể kêu gọi tiền đóng góp nhiều hơn những ứng cử viên khác. Vậy còn việc chi tiêu những khoản tiền này? Những ứng cử viên đương nhiệm và ứng cử viên dẫn đầu có nhiều tiền hơn, nhưng họ chỉ tiêu nhiều tiền khi mà lâm vào thế có nguy cơ thất bại; hoặc khi cuộc vận động sau đó có thể thành cuộc đấu cam go, hay khi một đối thủ đáng gờm hơn xuất hiện?
Bây giờ hãy hình dung hai ứng cử viên, một người có tố chất thu hút mọi người còn người kia thì không. Ứng cử viên có năng lực thu hút vận động được nhiều tiền hơn và giành thắng lợi dễ dàng. Nhưng có phải tiền bạc đã đem lại chiến thắng, hay là do khả năng lôi cuốn đã đem lại nhiều phiếu bầu và cả tiền bạc cho ứng cử viên đó?
Đây là câu hỏi quan trọng nhưng rất khó trả lời. Cuối cùng thì chẳng dễ gì định lượng được sự lôi cuốn đối với cử tri. Vậy có thể định lượng bằng cách nào?
Thực sự là không thể, ngoại trừ một trường hợp đặc biệt. Mấu chốt là đánh giá một ứng cử viên chống lại… chính anh ta. Nghĩa là, ứng cử viên A ngày hôm nay cũng giống như ứng cử viên A của hai hay bốn năm tới. Tương tự với ứng cử viên B. Nếu như chỉ ứng cử viên A chạy đua với ứng cử viên B trong hai cuộc bầu cử liên tiếp nhưng trong mỗi cuộc bầu cử lại chi các khoản tiền khác nhau. Thế thì khi khả năng lôi cuốn của các ứng cử viên không mấy thay đổi, chúng ta có thể đo lường được tác động của tiền bạc.
Quả thực như đã được biết, hai ứng cử viên luôn cùng chạy đua trong các cuộc bầu cử liên tiếp trong gần một ngàn cuộc chạy đua giành các ghế trong Quốc hội Mỹ kể từ năm 1972. Những con số đã nói gì về các trường hợp đó?
Đây là một bất ngờ: số tiền mà các ứng cử viên đã chi cho vận động bầu cử hầu như không có ý nghĩa gì. Một ứng cử viên thắng cuộc có thể cắt giảm một nửa số tiền chi tiêu và chỉ mất đi 1% số phiếu bầu. Trong khi đó, một ứng cử viên thua kém nếu tăng gấp đôi số tiền đó cũng chỉ có thể hy vọng có thêm 1% số phiếu bầu mà thôi.
Vấn đề thật sự đối với một chính trị gia không phải là tiêu bao nhiêu tiền; vấn đề nằm ở chỗ ông ta là ai. (Điều tương tự có thể được đề cập và sẽ tiếp tục được đề cập trong Chương 5 − về các bậc cha mẹ). Một số chính trị gia có tố chất thu hút các cử tri trong khi một số khác lại không có tố chất đó, và không có khoản tiền nào có thể thay đổi được nhiều khả năng này. (Các ông Dean , Forbes, Huffington và Golisano tất nhiên đều đã hiểu được điều này).
Ngoài ra, còn một mặt khác của vấn đề tranh cử − có thật sự là số tiền chi cho các cuộc vận động bầu cử vô cùng lớn? Trong mỗi cuộc tranh cử điển hình hàng năm bao gồm cả vận động bầu cử tổng thống, nghị sỹ Thượng viện và Hạ viện Mỹ, đã có khoảng một tỷ đô-la được chi. Số tiền này có vẻ như là một khoản rất lớn, trừ khi bạn để tâm so sánh chúng với những thứ dường như ít quan trọng hơn những cuộc bầu cử dân chủ.
Số tiền mà người Mỹ chi cho kẹo cao su cũng tương đương như vậy.
Cuốn sách này không đề cập tới giá cả của kẹo cao su, chi phí cho chiến dịch tranh cử, nhà môi giới bất động sản thiếu trung thực, hoặc ảnh hưởng của việc phá thai hợp pháp đến tỷ lệ tội phạm giảm. Đúng là nó có nhắc đến các chủ đề đó và còn nhiều chủ đề nữa, từ nghệ thuật làm cha mẹ cho đến cơ cấu gian lận, từ cấu trúc nội bộ của Đảng 3K đến tình trạng phân biệt chủng tộc trong trò chơi truyền hình The Weakest Link. Mục đích của cuốn sách này là lột bỏ một vài lớp vỏ bên ngoài của cuộc sống hiện đại để xem điều gì ẩn giấu bên trong. Con người thường đặt ra hàng loạt câu hỏi, một số vô thưởng vô phạt, nhưng số khác lại đề cập tới những vấn đề sống còn. Những câu trả lời nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng thực chất rất rõ ràng và chính xác. Chúng ta sẽ tìm kiếm những đáp án này từ dữ kiện − dưới dạng điểm thi của học sinh tiểu học, danh sách thống kê tội phạm ở New York, hay số liệu doanh thu của một tay buôn bán ma túy. (Thường thì chúng ta tận dụng được những dữ kiện vô tình bị bỏ quên, ví dụ như vệt trắng mà máy bay để lại trên trời cao). Nếu việc phát biểu hoặc lý thuyết hóa một chủ đề theo quan điểm truyền thống mang lại hiệu quả, thì khi thay đổi chúng bằng các dữ kiện chân thực, chúng ta sẽ hình thành một nhận thức mới, đáng ngạc nhiên.
Người ta có thể lý luận rằng đạo đức học thể hiện cách mà người ta muốn thế giới vận hành − trong khi kinh tế học lại cho thấy cách mà thế giới thật sự vận hành. Kinh tế học, trên hết, là một khoa học đo lường. Nó bao gồm một tập hợp các công cụ cực kỳ hiệu quả và mềm dẻo có thể đánh giá một cách đáng tin cậy một mớ bùng nhùng thông tin, để xác định tác động của bất kỳ nhân tố nào, hay ngay cả tác động tổng thể. Rút cục, “kinh tế học” chính là: một mớ bùng nhùng thông tin về chỗ làm, bất động sản, ngân hàng và đầu tư. Nhưng các công cụ của kinh tế học cũng có thể được áp dụng một cách đơn giản vào các chủ đề thú vị hơn.
Do vậy, cuốn sách này được viết từ thế giới quan rất đặc thù, dựa trên một vài ý tưởng cơ bản sau:
Động cơ là hòn đá tảng của cuộc sống hiện đại. Biện pháp thấu hiểu hoặc khám phá chúng là chìa khóa đúng đắn để giải quyết mọi câu đố, từ tội ác bạo lực cho đến gian lận thể thao và hẹn hò qua mạng.
Nhận thức thông thường thường sai. Tội ác không bùng phát vào những năm 1990, chỉ có tiền thì không đủ để thắng cử, và − ngạc nhiên chưa − uống tám ly nước một ngày chưa bao giờ cho thấy có lợi ích gì đối với sức khỏe của bạn. Nhận thức thông thường thường được con người tạo nên và rất khó chứng minh chúng là đúng, thế nhưng chúng vẫn cứ được tạo nên như vậy.
Những ảnh hưởng lớn lao thường có nguồn gốc sâu xa, đôi khi khá tinh tế, xa xôi. Đáp án của câu đố không phải lúc nào cũng ở ngay trước mặt bạn. Cô Norma McCorvey còn có ảnh hưởng đến tội phạm ở mức độ lớn hơn nhiều so với sức mạnh tổng hợp của việc kiểm soát súng, kết hợp với nền kinh tế phát triển và những chiến lược chính trị cách tân. Chúng ta sẽ thấy sự thể cũng tương tự đối với một người có tên gọi Oscar Danilo Brandon, biệt danh Johnny Appleseed of Crack.
“Chuyên gia” − dù là chuyên gia tội phạm học hay chuyên gia bất động sản − sử dụng lợi thế thông tin của họ để phục vụ lợi ích của chính họ. Tuy nhiên, họ có thể thua trong chính trò chơi của mình. Và đối mặt với Internet, lợi thế thông tin của họ đang thu hẹp lại từng ngày − bằng chứng là giá của quan tài và bảo hiểm nhân thọ, cùng với những thứ khác, ngày càng giảm.
Biết rõ phải đo lường cái gì và đo lường như thế nào sẽ giúp biến một thế giới phức tạp trở nên đơn giản hơn. Nếu bạn biết cách xem xét dữ kiện, bạn sẽ giải được những câu đố tưởng chừng như không có lời giải. Lý do là bởi không có quyền lực tuyệt đối nào của những con số có thể phủi đi tầng tầng lớp lớp nhầm lẫn và mâu thuẫn.
Như thế, mục tiêu của cuốn sách này là khám phá khía cạnh ẩn giấu của... tất cả mọi thứ. Thỉnh thoảng việc này cũng khá nhàm chán. Đôi khi nó giống như chúng ta đang nghiên cứu thế giới bằng cách nhìn xuyên qua lòng một cọng rơm, hoặc đang soi vào tấm gương nhà cười; nhưng ý tưởng ở đây là nghiên cứu các tình huống khác nhau và phân tích chúng theo một cách hiếm gặp. Xét theo một vài khía cạnh, đây là một khái niệm kỳ lạ đối với một cuốn sách. Phần lớn sách vở đưa ra một chủ đề, quả quyết mô tả chủ đề bằng một hai câu và sau đó, kể nguyên một câu chuyện về nó: lịch sử của muối; tính dễ tan vỡ của nền dân chủ; sử dụng đúng dấu câu. Cuốn sách này không mang một chủ đề thống nhất nào cả. Chúng tôi đã thử cân nhắc trong khoảng sáu phút, xem có viết một cuốn sách xoay quanh một chủ đề không − lý thuyết và thực hành kinh tế vi mô, hoặc bất kỳ thứ gì tương tự? − nhưng sau đó chọn cách tiếp cận theo kiểu “săn tìm kho báu”. Đúng vậy, cách tiếp cận này sử dụng các công cụ phân tích tốt nhất mà kinh tế học cung cấp, nhưng cũng cho phép chúng ta chạy theo bất kỳ sự tò mò kỳ quặc nào nảy ra trong chúng ta. Vì thế, lĩnh vực nghiên cứu của chúng tôi là: Freakonomics − Kinh tế học hài hước. Những câu chuyện được đề cập trong cuốn sách này không phải lúc nào cũng được nhắc đến trong Econ. 101 (Kinh tế học cơ bản), nhưng có thể mọi chuyện sẽ thay đổi. Bởi vì khoa học kinh tế trước hết là một bộ công cụ, để giải quyết vấn đề, nên không có vấn đề nào, dù là kỳ lạ, lại không thể nằm trong phạm vi nghiên cứu của nó.
Nên nhớ rằng Adam Smith, cha đẻ của kinh tế học cổ điển, trước tiên và trên hết là một triết gia. Ông cố gắng trở thành nhà lý luận học, và khi cố gắng để làm như vậy, ông trở thành một nhà kinh tế học. Khi ông xuất bản cuốn Học thuyết về quan điểm đạo đức vào năm 1759, chủ nghĩa tư bản hiện đại vừa mới manh nha. Smith bị mê hoặc bởi sức mạnh của lực lượng mới này; nhưng ông không
chỉ quan tâm đến những con số. Ông còn quan tâm đến khía cạnh con người, khi mà một lực lượng kinh tế, trên một quy mô rộng lớn, khiến cho cá nhân thay đổi tư duy và hành vi trong những tình huống cụ thể. Động cơ nào khiến một người đi lừa đảo hoặc ăn cắp, trong khi những người khác lại không? Làm sao mà lựa chọn có vẻ vô hại của một cá nhân, dù là tốt hay xấu, lại ảnh hưởng đến rất nhiều những người khác? Vào thời Smith, nguyên nhân và hậu quả bắt đầu được lý giải rõ ràng hơn; động cơ được khuếch đại hàng chục lần. Sức hấp dẫn và kích động của những thay đổi đó tràn ngập trong công chúng thời đó cũng hệt như sức hấp dẫn và kích động của cuộc sống hiện đại đối với chúng ta ngày nay.
Thực chất chủ đề của Smith là mâu thuẫn giữa tham vọng cá nhân và quy tắc xã hội. Nhà lịch sử kinh tế Robert Heilbroner, tác giả cuốn Các Triết gia Thế giới, đã tự hỏi làm thế nào mà Smith có thể phân tách hành vi của con người, một tạo vật vị kỷ, với mặt phẳng luân lý mà người đó hiện diện. “Smith cho rằng câu trả lời nằm trong khả năng mà chúng ta có thể đặt mình vào vị trí một người thứ ba, một người quan sát vô tư,” Heilbroner viết, “và bằng cách đó tạo ra ý niệm của đối tượng... giá trị của tình thế.”
Hãy hình dung có ba hoặc hai người háo hức đi khám phá giá trị chung của những đối tượng trong một tình huống thú vị. Sự khám phá đó thường khởi đầu bằng cách đặt những câu hỏi đơn giản chưa từng được đặt ra, chẳng hạn: Giáo viên tiểu học và võ sĩ Sumo có điểm gì chung?
“Tôi muốn tập hợp đầy đủ các công cụ để chúng ta tóm được bọn khủng bố,” Levitt nói, “tôi không nhất thiết phải biết ngay làm thế nào để tóm được chúng. Nhưng khi được trao dữ liệu chính xác, tôi không mấy nghi ngờ rằng mình có thể tìm ra câu trả lời.”
Chuyện một nhà kinh tế học muốn tóm bọn khủng bố nghe có vẻ thật lố bịch. Cũng tương tự như câu chuyện: nếu bạn là một giáo viên trung học ở Chicago, bị gọi vào phòng họp, và được thông báo rằng những thuật toán do một kẻ còm nhom với cặp kính dày cộp kia thiết kế, đã khẳng định rằng bạn là kẻ gian lận, rồi sa thải bạn. Steven Levitt có thể không hoàn toàn tin vào bản thân, nhưng anh ta tin rằng giáo viên, tội phạm, và đại lý bất động sản, thậm chí ngay cả
chính trị gia, nhà phân tích của cục tình báo Mỹ cũng có thể đang gian lận. Nhưng số liệu thì không thể nói dối.
- Tạp chí New York Times, 03/08/2003
1. GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG VÀ ĐÔ VẬT SUMO CÓ
H
NHỮNG ĐIỂM CHUNG NÀO?
ãy tưởng tượng trong giây lát bạn là người quản lý một trường mẫu giáo. Bạn đã thông báo rõ chính sách của trường về việc các em nhỏ phải được phụ huynh đón về trước 4 giờ chiều. Nhưng các phụ huynh thường chậm giờ đón con. Kết quả là vào cuối ngày, vẫn còn vài em nhỏ khắc khoải chờ bố mẹ và ít nhất
một giáo viên phải ở lại đợi các phụ huynh tới. Cần phải làm gì đây? Một vài chuyên gia kinh tế học khi nghe nói về tình trạng nan giải này − một tình trạng khá phổ biến − đã đưa ra giải pháp là phạt tiền những phụ huynh chậm trễ. Rốt cuộc thì có lý do gì trường mẫu giáo phải trông coi các em nhỏ này miễn phí?
Các chuyên gia kinh tế đã quyết định kiểm nghiệm giải pháp của họ bằng cách tiến hành nghiên cứu mười trường mẫu giáo tại Haifa, Israel. Chương trình nghiên cứu kéo dài hai mươi tuần, nhưng không áp dụng ngay hình thức phạt. Trong bốn tuần đầu tiên, các chuyên gia kinh tế chỉ đơn giản theo dõi số phụ huynh tới đón con muộn; trung bình mỗi tuần tại mỗi trường có tám phụ huynh tới muộn. Từ tuần thứ năm, hình thức phạt được áp dụng. Kết quả cho thấy bất cứ phụ huynh nào tới muộn hơn mười phút sẽ phải trả 3 đô-la cho mỗi lần tới đón con muộn. Mức phạt sẽ được cộng vào hóa đơn thanh toán hàng tháng (mức thanh toán cố định là 380 đô la).
Sau khi hình thức phạt được áp dụng, thật ngạc nhiên là số lượng các phụ huynh đến đón con chậm thậm chí còn… tăng lên. Số phụ huynh đến muộn tăng trên hai mươi lượt mỗi tuần, gấp đôi mức trung bình ban đầu. Động cơ này rõ ràng đã mang lại kết quả trái ngược với mong đợi.
Gốc rễ của kinh tế học chính là nghiên cứu các động cơ khuyến khích: nghiên cứu cách thức mọi người giành lấy những gì họ muốn có, hoặc cần có, đặc biệt là khi người khác cũng muốn hoặc cần những thứ như vậy. Các chuyên gia kinh tế rất tâm đắc với những động cơ. Họ luôn muốn tưởng tượng ra những động cơ, muốn thực
hiện, nghiên cứu và chắp nối những động cơ đó. Một chuyên gia kinh tế điển hình luôn tin rằng thế giới vẫn chưa tìm ra một vấn đề nào mà ông ta không thể giải quyết được nếu như được tự thiết kế một kế hoạch triển khai những động cơ của mình. Giải pháp của chuyên gia kinh tế đó không phải lúc nào cũng dễ chịu − giải pháp đó có thể liên quan tới sự ép buộc hoặc các hình thức phạt tiền, hoặc vi phạm các quyền công dân − nhưng vấn đề căn nguyên sẽ được giải quyết. Động cơ là một viên đạn, một đòn bẩy, một chìa khoá: một thứ bé nhỏ nhưng với sức mạnh lạ thường có thể làm thay đổi tình thế.
Tất cả chúng ta đều học cách đáp lại những động cơ theo cả cách tích cực và tiêu cực ngay từ khi bước vào cuộc sống. Nếu bạn chạm phải lò sưởi, bạn có thể bị bỏng tay. Nếu bạn từ trường mang về nhà một điểm A, bạn sẽ có được một chiếc xe đạp mới. Nếu mặt mũi bạn bị lấm bẩn trong lớp học, bạn sẽ bị cười nhạo. Nếu bạn lập một đội bóng rổ, bạn sẽ thăng tiến trên các nấc thang xã hội. Nếu bạn vi phạm luật giới nghiêm, bạn sẽ gặp rắc rối. Nếu bạn đạt những điểm SAT xuất sắc, bạn sẽ được nhận vào một trường đại học danh giá. Nếu bạn thi trượt trường luật, bạn sẽ phải làm việc tại công ty bảo hiểm của cha bạn. Nhưng nếu bạn làm việc thật tốt tới mức công ty đối thủ phải mời bạn làm việc cho họ, bạn sẽ trở thành phó chủ tịch và không còn phải làm việc cho cha bạn nữa. Nhưng nếu bạn quá hứng thú với công việc mới trong vai trò phó chủ tịch công ty, tới mức phóng về nhà với tốc độ tám mươi dặm một giờ, bạn sẽ bị cảnh sát tóm và phạt 100 đô- la. Nhưng nếu bạn đạt doanh thu theo kế hoạch và nhận được khoản tiền thưởng cuối năm, bạn sẽ không những chẳng lo lắng gì về khoản tiền phạt 100 đô-la nữa mà còn có thể đủ tiền để mua đồ Viking mà bạn luôn mong muốn có được − và với thứ đó con gái bạn lại có thể bị bỏng ngón tay của bé.
Động cơ đơn giản là một phương tiện khuyến khích mọi người làm nhiều điều tốt hơn và giảm bớt những việc không tốt. Nhưng hầu hết các động cơ về cơ bản đều không xoay chuyển được tình thế. Nhân vật nào đó − một chuyên gia kinh tế, một chính trị gia hay một bậc phụ huynh − đều cần phải nghĩ ra những động cơ. Sẽ thế nào khi em bé ba tuổi của bạn ăn hết khẩu phần rau của bé trong
một tuần? Bé sẽ được một chuyến đi chơi tới cửa hàng đồ chơi. Khi một hãng sản xuất thép xả quá nhiều khói vào không khí? Hãng đó sẽ bị phạt một khoản tiền tương ứng với mỗi mức độ ô nhiễm vượt mức mà luật cho phép. Có quá nhiều người Mỹ không đóng thuế thu nhập? Chính là chuyên gia kinh tế, ông Milton Friedman , là người đã đưa ra một giải pháp cho vấn đề này: tự động thu thuế từ tiền lương trả cho nhân viên.
Có ba mặt cơ bản của một động cơ: mặt kinh tế, xã hội và chuẩn mực đạo đức. Một động cơ đơn thông thường cũng sẽ gồm ba mặt này. Hãy nghĩ về chiến dịch chống hút thuốc lá trong những năm gần đây. Việc tính thêm ba đô-la tiền “thuế tội lỗi” cho mỗi gói thuốc là một động cơ kinh tế mạnh mẽ nhằm ngăn cản việc mua thuốc lá. Việc cấm thuốc lá trong các nhà hàng và quầy rượu là một động cơ xã hội có tác động mạnh. Và khi chính phủ Mỹ xác nhận rằng các tay khủng bố đã kiếm tiền bằng cách bán thuốc lá chợ đen, đây được coi là một động cơ đã vi phạm chuẩn mực đạo đức.
Một vài động cơ thuyết phục nhất vẫn chưa được thực hiện nhằm ngăn chặn tội phạm. Khi xem xét thực tế này, chắc hẳn sẽ có ích khi đưa ra một câu hỏi quen thuộc − tại sao có quá nhiều tội phạm trong xã hội hiện đại? − và thử nghĩ tiếp: tại sao phạm lỗi ở mức nhẹ còn xảy ra thường xuyên hơn thế?
Rốt cuộc tất cả chúng ta thường chối bỏ những cơ hội có thể cắt xén, ăn cắp hay lừa gạt thứ gì đó. Khả năng bị tống vào tù − hệ quả là mất việc, mất nhà và đánh mất cả tự do, tất cả những khả năng đó đều là những hình thức phạt kinh tế hiệu quả − đó đương nhiên là một động cơ mạnh. Nhưng khi áp dụng với tội phạm, mọi người cũng đáp lại những động cơ liên quan tới chuẩn mực đạo đức (người ta không muốn làm việc gì đó mà họ cho là sai trái) và động cơ xã hội (họ không muốn thấy người khác làm những việc sai trái). Đối với một số hành vi sai phạm, các động cơ xã hội thường có tác động vô cùng mạnh mẽ. Từ tiếng vang từ Chữ A màu đỏ mà Hester Prynne phải mang, nhiều thành phố của Mỹ đã đấu tranh chống lại nạn mại dâm với việc công kích “sự ô danh”, những bức hình niêm yết các gái mại dâm bị kết tội trên các trang web hoặc trên các kênh truyền hình địa phương. Đâu là một hình thức ngăn chặn đáng sợ hơn cả: một khoản tiền phạt cho tội gạ gẫm gái mại dâm, hoặc sự
nghi ngờ của bạn bè hay gia đình khi bắt quả tang bạn đang truy cập trang web www.hookersandjohns.com.
Vì vậy, khi thông qua một mạng lưới phức tạp, lộn xộn và thường xuyên thay đổi của những động cơ kinh tế, xã hội và chuẩn mực đạo đức, xã hội hiện đại đã cố gắng hết mức để ngăn chặn tội phạm. Một vài người sẽ cho rằng chúng ta chưa làm thật tốt mọi việc. Nhưng nếu xem xét kỹ lưỡng hơn, điều đó rõ ràng là không đúng. Hãy xem xét xu hướng mang tính lịch sử về các vụ án mạng (không tính tới chiến tranh), được coi là thước đo tội phạm đáng tin cậy nhất và là phong vũ biểu tốt nhất về tỷ lệ tội phạm chung của toàn xã hội. Những số liệu thống kê này do chuyên gia tội phạm học là ông Manuel Eisner tổng hợp, trong quá trình tìm hiểu tỷ lệ các vụ án mạng trong lịch sử tại năm khu vực của châu Âu.
CÁC VỤ ÁN MẠNG
(Tỷ lệ trên 100.000 người)
Sự suy giảm đột ngột của những con số này qua các thế kỷ đã cho thấy đối với một trong những hành vi nghiêm trọng nhất của con người − hành vi giết người, những động cơ mà chúng ta tập trung nghĩ ra đang ngày càng trở nên hiệu quả hơn.
Vậy đâu là điểm sai lầm trong động cơ áp dụng đối với các trường mẫu giáo ở Haifa, Israel?
Chắc hẳn bạn đã suy đoán rằng mức phạt 3 đô-la là quá thấp. Với mức phạt đó, một phụ huynh có một con nhỏ hoàn toàn đủ điều kiện đón con muộn hàng ngày và chỉ phải trả thêm 60 đô-la mỗi tháng − chỉ bằng 1/6 mức phí bình thường phải đóng. Với việc trông
giữ trẻ, đó quả là mức tiền công rẻ bèo. Sẽ thế nào nếu như mức tiền phạt được ấn định là 100 đô-la thay vì 3 đô-la? Hẳn là điều đó sẽ chấm dứt việc đón con chậm, mặc dù sẽ làm nảy sinh nhiều ý kiến tiêu cực. (Bất kỳ động cơ nào cũng có bản chất là sự thỏa hiệp; điểm cơ bản là cân bằng các thái cực thế nào).
Nhưng còn một vấn đề khác đối với hình thức phạt của các trường mẫu giáo. Hình thức phạt này đã thay thế một động cơ đạo đức (là cảm giác mắc lỗi của các phụ huynh khi đến đón con muộn) bằng một động cơ kinh tế (mức phạt 3 đô-la). Chỉ bằng một vài đô-la mỗi ngày, các bậc phụ huynh “mua đứt” cảm giác tội lỗi đó. Hơn nữa, mức tiền phạt nhỏ nhoi sẽ khiến các phụ huynh nghĩ rằng việc đón con muộn không phải là một vấn đề lớn. Nếu phiền toái họ gây cho các trường mẫu giáo khi đón con muộn chỉ đáng có 3 đô-la một ngày thì sao phải áy náy rút ngắn chút thời gian chơi tennis? Quả thật từ tuần thứ 17 của đợt nghiên cứu, khi các chuyên gia kinh tế bỏ mức phạt 3 đô la, con số phụ huynh đón con chậm đã không hề giảm. Giờ đây họ có thể đến muộn, không phải trả tiền phạt và cũng chẳng cảm thấy mắc lỗi gì.
Đó quả là bản chất kỳ lạ và đầy sức mạnh của động cơ. Một sự thay đổi nhỏ có thể mang tới những kết quả to lớn và thường không đoán trước được. Thomas Jefferson đã lưu ý điều này khi phản ánh về một động cơ nhỏ bé đã dẫn tới tập quán Boston Tea Party và tiếp đó là cuộc cách mạng Mỹ: “Điều bí hiểm chính là sự sắp xếp nhân quả của thế giới này khi chỉ một món thuế hai xu, bị áp đặt không chính đáng đã làm thay đổi tập quán của dân chúng”.
Vào những năm 1970, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc nghiên cứu, tương tự như nghiên cứu trường mẫu giáo Israel, đã lấy động cơ đạo đức đối chọi với động cơ kinh tế. Trong nghiên cứu này, họ muốn tìm hiểu về động cơ đằng sau việc hiến máu. Khám phá của các chuyên gia: khi người hiến máu nhận được một khoản bồi dưỡng khi hiến máu thay vì chỉ đơn thuần được ca ngợi về đức độ, mọi người có xu hướng ít hiến máu hơn. Khoản tiền bồi dưỡng đã biến một hành động từ thiện cao cả thành một cách khổ sở để kiếm vài đồng và việc đó chẳng đáng.
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như những người hiến máu nhận được một khoản 50 đô-la, hay 500 đô-la, hay 5.000 đô-la? Chắc chắn là
số người hiến máu sẽ thay đổi đột biến.
Nhưng những thứ khác cũng sẽ thay đổi đột ngột vì mỗi một động cơ đều có mặt trái của nó. Nếu một panh máu đột nhiên có giá tới 5.000 đô-la thì bạn có thể chắc chắn rằng có rất nhiều người sẽ chú ý tới điều này. Họ có thể dùng ngay mũi dao để ăn cắp máu. Họ có thể lấy máu của lợn giả làm máu mình. Họ có thể gian dối với giới hạn lượng máu được hiến bằng cách sử dụng tên giả. Với bất kỳ động cơ nào, với bất kỳ tình huống nào, những người không trung thực sẽ cố để giành được lợi lộc bằng bất kỳ cách nào khi cần.
Hay như W. C. Fields từng nói: một thứ đáng để có thì cũng là thứ đáng gian lận để có.
Vậy ai gian lận?
Có thể là bất kỳ ai, nếu như các nguyên tắc đều đúng. Bạn có thể nói với mình rằng. Tôi không bất chấp các nguyên tắc để gian lận. Và sau đó, bạn có thể nhớ lại lúc đã gian lận trong một ván bài. Vào tuần trước. Hoặc bóng gôn mà bạn đã đánh ra khỏi đường bóng tồi tệ. Hay là khi bạn thật sự rất muốn mua một chiếc bánh vòng nhưng đã không mua vì số tiền đó đã dung để chi cho ly cà phê. Tuy nhiên, bạn vẫn lấy chiếc bánh và tự nhủ rằng lần sau bạn sẽ trả gấp đôi tiền. Và chẳng bao giờ thực hiện điều đó.
Trong khi những người khôn ngoan nỗ lực tạo ra một loạt động cơ thì có vô số người cũng khôn ngoan hoặc không, chắc chắn sẽ dành nhiều thời gian hơn để cố lợi dụng kẽ hở của nó. Gian lận có thể là hoặc không phải là bản chất của con người, nhưng chắc chắn nó là một nét nổi bật trong mọi nỗ lực của con người. Gian lận là hành vi kinh tế căn bản: Có nhiều hơn mà chỉ phải trả ít hơn. Vì vậy, không chỉ những người có tiếng tăm − vị giám đốc điều hành, cầu thủ bong chày và chính trị gia quá tự cao − gian lận. Đó còn có thể là cô phục vụ bàn đã bỏ túi riêng tiền boa thay vì nộp vào quỹ chung. Đó có thể là người quản lý tiền lương của Wal-Mart đã gian lận số giờ làm của các nhân viên khi cập nhật dữ liệu trong máy tính để làm cho bảng thành tích của chính anh ta đẹp đẽ hơn. Đó là cậu học sinh lớp ba đang lo không đủ điểm lên lớp, đã chép câu trả lời trong bài kiểm tra của cậu bạn bên cạnh.
Một vài vụ gian lận chỉ để lại chút dấu vết. Trong những trường hợp khác, bằng chứng lại rất rõ ràng. Hãy xem chuyện gì đã xảy ra
sau một đêm vào mùa xuân năm 1987: bảy triệu trẻ em Mỹ đột nhiên biến mất. Một vụ bắt cóc kinh hoàng nhất trong lịch sử? Khó có thể xảy ra một chuyện như vậy. Lý do là vào ngày 15/04, Sở Thuế vụ Hoa Kỳ vừa mới thay đổi một quy định. Thay vì chỉ lập danh sách những đứa trẻ sống phụ thuộc vào bố mẹ, những người lập hồ sơ thuế đã được yêu cầu cấp số An sinh Xã hội cho tất cả trẻ em. Bỗng nhiên, bảy triệu trẻ em từng tồn tại trên 1.040 biểu mẫu khai miễn giảm thuế của năm trước đã biến mất, tương ứng với một trong số mười đứa trẻ sống phụ thuộc vào bố mẹ tại Mỹ.
Động cơ của những kẻ lừa đảo người nộp thuế đó đã khá rõ ràng. Điều này cũng xảy ra tương tự đối với nhân viên phục vụ bàn, người quản lý tiền lương và cậu học sinh lớp ba. Nhưng còn cô giáo của cậu học trò lớp ba đó thì sao? Có thể là cô cũng có một động cơ gian lận? Và nếu như vậy thì cô đã làm thế nào?
Bây giờ hãy tưởng tượng rằng thay vì quản lý một trường mẫu giáo tại Haifa thì bạn đang quản lý hệ thống trường học tại Chicago (CPS) − một hệ thống giáo dục với hơn 400.000 học sinh mỗi năm.
Cuộc tranh luận gay gắt nhất hiện nay giữa những nhà quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh trong các trường đại học của Mỹ là về hình thức kiểm tra trắc nghiệm với mức hiệu quả được coi là cao nhưng thay vì chỉ đơn giản kiểm tra học sinh để đánh giá sự tiến bộ của các em, các trường sẽ ngày càng phải chịu trách nhiệm lớn hơn về kết quả thi của học sinh.
Chính quyền liên bang đã quy định việc kiểm tra trắc nghiệm là một phần trong luật Không để đứa trẻ nào bị tụt hậu (No child left behind) do Tổng thống Bush phê chuẩn vào năm 2002. Nhưng thậm chí ngay trước khi luật đó được ban hành, hầu hết các bang đưa ra các bài kiểm tra hằng năm đã được tiêu chuẩn hóa cho các học sinh bậc tiểu học và trung học cơ sở. 20 bang đã khen thưởng cho cá nhân các trường có những điểm số kiểm tra tốt hay tiến bộ vượt bậc; 32 bang đã phạt các trường chưa thực hiện tốt.
Hệ thống các CPS đã thực hiện việc kiểm tra trắc nghiệm từ năm 1996. Theo chính sách mới đó, một trường với điểm số môn đọc thấp sẽ bị đặt vào diện thử thách và phải đối mặt với nguy cơ phải đóng cửa, giáo viên bị mất việc, bị thuyên chuyển. CPS cũng đã thực thi cái gọi là thăng cấp xã hội. Trong quá khứ, chỉ có học sinh
quá kém hoặc cá biệt mới bị đúp. Còn ngày nay, để được lên cấp, tất cả học sinh các lớp ba, sáu và tám phải xoay xở để đạt điểm số tối thiểu trong kỳ thi trắc nghiệm đã được chuẩn hóa, được gọi là “Bài kiểm tra kỹ năng cơ bản IOWA”.
Những người ủng hộ hình thức kiểm tra trắc nghiệm đã lập luận rằng hình thức kiểm tra này sẽ giúp nâng cao tiêu chuẩn trong việc học tập của học sinh và cho chúng nhiều động cơ hơn để học tập. Hơn nữa, nếu bài kiểm tra kiểu này giúp ngăn ngừa các học sinh yếu kém nâng điểm không đúng đắn, những học sinh đó sẽ không gây cản trở các học sinh khá lên lớp hoặc làm học sinh khá bị thụt lùi. Trong khi đó, những người không ủng hộ lo lắng rằng có những học sinh sẽ bị phạt một cách không công bằng nếu lúc đó các em làm bài kiểm tra không tốt và giáo viên có thể sẽ tập trung vào nội dung kiểm tra mà bỏ qua những bài học quan trọng hơn.
Dĩ nhiên chừng nào còn có hình thức kiểm tra trong học tập các học sinh còn có động cơ để gian lận. Nhưng các bài kiểm tra trắc nghiệm cũng đã làm thay đổi hoàn toàn những động cơ đối với giáo viên khi giờ đây họ cũng đã có những lý do để gian lận. Với việc kiểm tra trắc nghiệm, một giáo viên có học sinh làm bài kiểm tra kém có thể bị khiển trách hoặc không được tăng lương hay khen thưởng. Nếu cả trường đều yếu kém, quỹ liên bang có thể bị cắt giảm; nếu trường bị đưa vào diện thử thách, giáo viên sẽ đối mặt với vô vàn khó khăn. Hình thức kiểm tra trắc nghiệm cũng mang tới cho các giáo viên những động cơ tích cực. Nếu học sinh của một giáo viên làm bài tốt, giáo viên đó có thể sẽ được tuyên dương, khen thưởng, thậm chí được tăng lương: chính quyền bang California đã có lúc quyết định tặng các phần thưởng trị giá 25.000 đô-la cho các giáo viên có học sinh đạt kết quả thi cao.
Và nếu một giáo viên được có tên trong chương trình này và cân nhắc những cách nâng điểm số cho học sinh của mình, giáo viên đó chỉ có thể bị thuyết phục bởi một động cơ cuối cùng: đó là gian lận của giáo viên hiếm khi bị điều tra, rất khó bị phát hiện và chưa bao giờ bị xử phạt.
Giáo viên có thể gian lận bằng cách nào? Có rất nhiều cách, từ những cách thô sơ tới tinh vi. Một học sinh lớp 5 ở Oakland gần đây khi về nhà đã rất hoan hỉ kể với mẹ em rằng cô giáo vô cùng dễ
thương của em đã viết sẵn các câu trả lời trong kỳ thi của bang lên bảng. Những trường hợp như vậy dĩ nhiên là còn hiếm hoi, bởi chẳng giáo viên nào dù tồi tệ đến mấy muốn đặt số phận mình vào 30 nhân chứng còn non nớt. (Người giáo viên ở Oakland đó đã bị xử phạt). Có nhiều cách thức tinh vi hơn để nâng điểm số của học sinh. Giáo viên có thể cho thêm thời gian làm bài kiểm tra. Nếu giáo viên đó biết trước nội dung bài kiểm tra − nghĩa là theo cách không chính đáng − giáo viên đó có thể chuẩn bị trước cho học sinh những câu hỏi cụ thể của bài kiểm tra. Ngoài ra, giáo viên có thể “giảng trước bài kiểm tra”, dựa trên giáo án các câu hỏi của các kỳ thi những năm trước, một việc không bị coi là gian lận nhưng đã vi phạm tinh thần của việc thi cử. Do các bài thi đều có những câu hỏi trắc nghiệm, không bị trừ điểm nếu làm sai, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh của mình điền ngẫu nhiên vào các chỗ trống khi gần hết giờ, có thể điền thêm vào các lựa chọn B hoặc thay đổi các lựa chọn B với các lựa chọn C. Giáo viên đó cũng có thể điền thêm vào những chỗ trống sau khi học sinh đã ra về.
Nhưng nếu giáo viên thật sự muốn gian lận − và nếu thấy đáng để làm thế − giáo viên đó có thể thu thập các bài kiểm tra của học sinh trước khi chuyển chúng lên máy chấm điểm điện tử để quét, xoá đi những câu trả lời sai và điền vào những câu trả lời đúng. (Bạn có thể luôn nghĩ rằng cái bút chì số 2 là dành để cho đám trẻ con thay đổi câu trả lời của chúng). Nếu trò gian lận kiểu này của giáo viên thật sự đang tồn tại thì làm cách nào để có thể phát hiện?
Để có thể tìm ra người gian lận, cần phải dựa vào cách suy nghĩ của người đó. Nếu bạn sẵn lòng tẩy xoá các câu trả lời sai của học trò mình và điền vào các câu trả lời đúng, bạn có thể không muốn thay đổi quá nhiều. Rõ ràng đó là một dấu hiệu. Trong mọi khả năng có thể xảy ra, bạn thường không có đủ thời gian bởi vì các bài kiểm tra sẽ được chuyển đi ngay sau khi kết thúc giờ kiểm tra. Vì vậy những gì bạn có thể làm là lựa chọn một chuỗi từ 8-10 câu hỏi khó và điền vào các câu trả lời đúng cho một nửa hoặc hai phần ba số học trò. Bạn có thể dễ dàng nhớ đáp án đúng, và sẽ nhanh hơn rất nhiều so với việc tẩy xoá và sửa từng bài kiểm tra của học sinh. Bạn có thể nghĩ cách tập trung công việc của mình vào phần cuối bài kiểm tra, phần thường có các câu hỏi khó hơn những câu hỏi phía
trên. Bằng cách này, bạn hầu như có thể bù đắp điểm số của những câu trả lời đúng cho những câu trả lời sai.
Nếu kinh tế học là một ngành khoa học chủ yếu quan tâm tới các động cơ thì thật may mắn khi cũng sử dụng các công cụ thống kê để đo lường cách thức mà người ta phản ứng lại với những động cơ đó. Tất cả những gì bạn cần là sử dụng dữ liệu.
Trong trường hợp này, hệ thống CPS là bắt buộc. Một cơ sở dữ liệu các câu trả lời cho bài kiểm tra được tạo sẵn cho mỗi một học sinh của hệ thống, các bậc học từ lớp ba tới lớp bảy và từ năm 1993 đến năm 2000. Cơ sở dữ liệu này đã lên đến khoảng 30.000 học sinh mỗi bậc học mỗi năm, hơn 700.000 bộ câu trả lời cho bài thi và gần 100 triệu câu trả lời. Số liệu được sắp xếp theo lớp học, đã bao gồm bài kiểm tra của mỗi học sinh dành cho các môn toán và bài đọc. (Những bài kiểm tra giấy thực tế không còn nữa; chúng thường được huỷ ngay sau khi kiểm tra xong). Dữ liệu cũng thường bao gồm một số thông tin về từng giáo viên và thông tin về các học sinh, cũng như điểm số thi trước đây và sau này của học sinh đó − những thông tin đó sẽ chứng minh một nhân tố chính để phát hiện gian lận của giáo viên.
Bây giờ là lúc để xây dựng một thuật toán mà có thể nó sẽ làm rối những kết luận từ kho dữ liệu này. Lớp học của một giáo viên gian lận sẽ như thế nào?
Điều đầu tiên cần tìm hiểu là kiểu trả lời bất bình thường trong một lớp học được chọn trước: một loạt những câu trả lời giống nhau, đặc biệt là những câu hỏi khó. Nếu mười học sinh rất xuất sắc (được xác định qua những điểm số trong quá khứ và tương lai) đưa ra những câu trả lời đúng cho năm câu hỏi đầu tiên của bài kiểm tra (thường là những câu hỏi dễ), khi đó một loạt những câu trả lời giống nhau đó không bị nghi ngờ. Nhưng nếu mười học sinh yếu kém đưa ra những câu trả lời đúng cho năm câu hỏi cuối cùng của bài kiểm tra (là những câu khó nhất), khi đó cần phải xem xét lại. Một dấu hiệu nữa là những bài thi có dấu hiệu lạ − như là trả lời đúng những câu hỏi khó trong khi không làm được những câu hỏi dễ − đặc biệt là khi đánh giá trên hàng ngàn học sinh của các lớp học khác nhau với những điểm số tương tự nhau trong cùng một kỳ thi. Hơn nữa, thuật toán sẽ tìm ra một lớp học với toàn học sinh đã làm
bài kiểm tra tốt hơn hẳn so với những bài kiểm tra trước đó của chúng, đặc biệt khi những học sinh đã có điểm số đặc biệt thấp hơn trong những năm tiếp theo. Một giáo viên có thể được công nhận là tốt dựa trên kết quả nổi trội của những điểm số kiểm tra trong một năm ban đầu của học sinh; nhưng với sự sụt giảm điểm số đột ngột trong những kỳ tiếp theo, sẽ có nhiều khả năng là kết quả nổi trội đó là giả tạo.
Bây giờ hãy xem xét chuỗi câu trả lời của các học sinh tại hai lớp sáu của Chicago là những học sinh có bài kiểm tra giống nhau. Mỗi dòng thể hiện các câu trả lời của mỗi học sinh này. Chữ cái a, b, c hay d cho biết một câu trả lời đúng; một số chỉ một câu trả lời sai, với 1 tương ứng với a, 2 tương ứng với b và cứ như thế. Phần để trống sẽ thể hiện một câu trả lời bị bỏ trống. Một trong những lớp học này chắc chắn đã có một giáo viên gian lận còn giáo viên kia thì không. Hãy cố gắng tìm ra sự khác biệt − mặc dù chắc chắn rằng việc này là không dễ dàng thực hiện bằng mắt thường.
Lớp A
Lớp B
Nếu bạn đoán rằng lớp A là lớp gian lận thì xin chúc mừng. Dưới đây lại là chuỗi câu trả lời của lớp A, hiện nay đã được một máy tính lưu lại và máy tính này đã được yêu cầu áp dụng thuật toán phát hiện sự gian lận và tìm ra những kiểu bài bị nghi ngờ.
Lớp A
(Ứng dụng thuật toán tìm kiếm gian lận)
Hãy xem các câu trả lời in đậm. Có phải là 15 trong số 22 học sinh đã tìm cách tự làm được trơn tru với sáu câu trả lời đúng liên tiếp (chuỗi d-a-d-b-c-b)?
Có ít nhất bốn lý do không hợp lý. Một: những câu trả lời đó, những câu nằm cuối bài kiểm tra là những câu khó hơn những câu đầu. Hai: đây chủ yếu là những học sinh mới bắt đầu, một vài học sinh trong số này đã có sáu câu trả lời khác đúng liên tiếp trong bài kiểm tra, làm cho khả năng họ có câu trả lời đúng cho sáu câu hỏi khó như nhau là rất khó xảy ra. Ba: 15 câu trả lời của các học sinh vô hình chung là không tương quan với nhau. Bốn: ba trong số các học sinh (số 1, 9 và 12) đã bỏ lại ít nhất một câu trả lời trống trước chuỗi câu trả lời đúng đầy nghi ngờ và sau đó kết thúc bài kiểm tra với một chuỗi những chỗ trống khác. Điều này cho thấy chuỗi dài các câu trả lời bỏ trống bị ngắt không phải do học sinh mà là do giáo viên.
Còn có một dấu hiệu bất thường của chuỗi câu trả lời bị nghi ngờ. Trong số chín trên mười lăm bài kiểm tra, sáu câu trả lời đúng lại ở trước một chuỗi tương tự khác, 3-a-1-2, là chuỗi bao gồm ba trong số bốn câu trả lời sai. Và trong tất cả mười lăm bài kiểm tra, sáu câu trả lời đúng được nối tiếp bởi cùng một câu trả lời sai, câu a
4. Tại sao một giáo viên gian lận lại cố gắng tẩy xoá bài bài kiểm tra của học sinh và sau đó điền vào câu trả lời sai?
Có thể đó chính là chiến thuật của giáo viên đó. Trong trường hợp giáo viên đó bị bắt quả tang và bị triệu tập tới văn phòng của hiệu trưởng, giáo viên đó có thể chỉ ra câu trả lời sai làm bằng chứng là họ không gian lận. Hoặc có lẽ − bản thân giáo viên đó không biết câu trả lời đúng. (Với các bài kiểm tra đã được chuẩn hóa, giáo viên nói chung không được biết trước câu trả lời). Nếu đây chính là một trường hợp thì khi đó chúng ta hoàn toàn có bằng chứng xác đáng về việc tại sao các học trò của giáo viên đó lại cần phải được nâng điểm: bởi chúng có một giáo viên tồi.
Một dấu hiệu khác cho thấy việc gian lận của giáo viên ở lớp học A chính là kết quả chung của lớp đó. Khi các học sinh lớp sáu đã làm bài kiểm tra trong tháng thứ tám của niên học, những học sinh này đã cần phải đạt điểm số trung bình là 6,8 để được đánh giá là đạt tiêu chuẩn của quốc gia. (Học sinh lớp năm làm bài kiểm tra vào tháng thứ tám của niên học cần đạt điểm số 5,8; học sinh lớp bảy là 7,8; và các bậc khác cũng tương tự như vậy). Các học sinh trong lớp A đã đạt điểm số trung bình 5,8 trong bài kiểm tra trình độ lớp sáu, là mức thấp hơn mức cần đạt tại bậc học này. Vì vậy, rõ ràng đây là các học sinh kém. Tuy nhiên, một năm trước đó, các học sinh này thậm chí còn có điểm số kém hơn, trung bình chỉ đạt 4,1 trong bài kiểm tra bậc học lớp năm. Thay vì chỉ cải thiện được bằng một điểm giữa lớp năm và lớp sáu, những học sinh này chỉ đạt được 1,7 điểm, ngang với gần hai bậc học. Nhưng sự tiến bộ kỳ diệu này lại rất ngắn ngủi. Khi những học sinh lớp sáu lên lớp bảy, chúng chỉ đạt điểm trung bình 5,5 − kém hai bậc so với mức chuẩn và thậm chí còn kém hơn nhiều so với khi chúng đang ở lớp sáu. Hãy xem xét những điểm số rất bất thường qua từng năm của ba học sinh cụ thể trong lớp A:
Trong khi đó, các điểm số của ba niên học của lớp B cũng kém nhưng ít nhất cũng cho thấy một nỗ lực trung thực: 4,2; 5,1 và 6,0. Vậy toàn bộ em nhỏ trong lớp A đột nhiên trở nên rất thông minh trong một năm và rất kém thông minh trong năm tiếp theo, hoặc đúng hơn là giáo viên lớp sáu của bọn trẻ đã làm một vài điều bí ẩn với cây bút chì số 2.
Có hai điểm đáng lưu ý về học sinh trong lớp A, hãy còn xa lạ với trò gian lận. Thứ nhất là bọn trẻ rõ ràng đang phải theo đuổi một chương trình học tập tồi tệ mà đối với chúng hình thức kiểm tra trắc nghiệm đang được quảng bá là hỗ trợ tốt nhất cho học sinh chẳng đem lại hiệu quả. Thứ hai là những học sinh này sẽ bị sốc khi chúng lên lớp bảy. Tất cả những gì chúng được biết là chúng được lên lớp do điểm số bài kiểm tra của chúng. (Quả thật là không có học sinh nào bị rớt lại). Bọn trẻ không phải là người đã nâng điểm số của chúng lên một cách giả tạo; chúng có thể mong muốn đạt kết quả học tập xuất sắc trong năm lớp bảy − và thật đáng thương là sau đó chúng đã không thể thực hiện được. Đây có thể là sự thay đổi phũ phàng nhất từng có của hình thức kiểm tra trắc nghiệm. Một giáo viên gian lận có thể nói rằng họ đang giúp đỡ học trò của mình, nhưng thực tế cho thấy là giáo viên chỉ giúp cho bản thân họ mà thôi.
Một nghiên cứu về toàn bộ dữ liệu của Chicago đã phát hiện ra bằng chứng giáo viên gian lận trong hơn 200 lớp học mỗi năm, chiếm tới 5%. Đây là con số ước tính khá dè dặt, vì thuật toán chỉ có thể xác định những kiểu gian lận tinh vi nhất − trong đó các giáo viên đã thay đổi câu trả lời của học sinh một cách hệ thống − và không tính đến nhiều cách thức tinh vi khác mà một giáo viên có thể gian lận. Trong một nghiên cứu gần đây giữa các giáo viên phổ thông của Bắc Carolina, đã có tới 35% số người được hỏi cho biết họ đã chứng kiến đồng nghiệp của họ gian lận bằng một vài cách thức, như cho học sinh thêm thời gian làm bài, hướng dẫn trả lời, hoặc tự mình thay đổi câu trả lời của học sinh.
Đặc điểm của một giáo viên gian lận là gì? Dữ liệu của Chicago đã cho thấy các giáo viên nam và nữ đều có mức độ gian lận ngang nhau. Giáo viên gian lận thường có xu hướng trẻ hơn và trình độ kém hơn mức trung bình. Giáo viên đó cũng có khả năng gian lận
sau khi động cơ của họ thay đổi. Do các dữ liệu nên dùng của Chicago từ năm 1993 đến năm 2000 đã nhằm vào sự kiện đưa ra hình thức kiểm tra trắc nghiệm vào năm 1996. Chắc chắn là đã có sự nổi lên rất rõ rệt trong vấn đề gian lận vào năm 1996. Đó không phải là sự gian lận ngẫu nhiên. Chính các giáo viên trong những lớp học có điểm số thấp nhất có khả năng gian lận cao nhất. Cuối cùng, 25.000 đô-la tiền thưởng cho các giáo viên California đã bị thu lại, một phần do nghi ngờ rằng đa phần số tiền này có thể sẽ thưởng cho các giáo viên đã gian lận.
Không phải mọi kết quả trong phân tích vấn đề gian lận của Chicago là khó lay chuyển. Ngoài việc phát hiện các giáo viên gian lận, thuật toán cũng có thể xác định những giáo viên giỏi nhất trong hệ thống học đường. Ảnh hưởng của giáo viên giỏi cũng đặc biệt gần như ảnh hưởng của giáo viên gian lận. Thay vì có những câu trả lời đúng ngẫu nhiên, các học trò của giáo viên giỏi sẽ thể hiện được sự tiến bộ thực chất trong những loại câu hỏi dễ hơn mà chúng đã không thể làm đúng được trước đây và cho thấy việc học là thực chất. Và học sinh của người giáo viên giỏi sẽ tiếp tục đạt kết quả tốt trong những bậc học tiếp theo.
Hầu hết những nghiên cứu học đường về đề tài này dần bị quên lãng, nằm phủ bụi trên giá sách tại thư viện. Nhưng vào đầu năm 2002, vị Giám đốc điều hành mới của CPS Arne Duncan, đã liên lạc với các tác giả của chương trình nghiên cứu. Ông không muốn phản đối hay ỉm đi kết quả nghiên cứu. Ông muốn chắc chắn rằng các giáo viên bị nghi ngờ thật sự là những giáo viên gian lận − và sẽ có những biện pháp để giải quyết vấn đề này.
Duncan không giống như một ứng cử viên nắm giữ một công việc có quyền lực như vậy. Khi được bổ nhiệm, ông mới chỉ 36 tuổi, từng học tại Đại học Harvard và cũng là người sau này đã chơi bóng rổ chuyên nghiệp tại Australia. Ông chỉ mới có ba năm làm việc với hệ thống CPS − và chưa từng làm một việc nào quan trọng tới mức cần có một thư ký − trước khi trở thành Giám đốc điều hành của hệ thống này. Điều này cũng không ảnh hưởng gì khi Duncan đã lớn lên ở Chicago. Cha của ông giảng dạy môn Tâm lý học tại trường Đại học Chicago. Mẹ của ông đã quản lý một chương trình ngoại khóa trong 40 năm, không hề nhận lương, trong một khu nghèo của
thành phố. Khi Duncan còn là một đứa trẻ, bạn bè của ông là những đứa trẻ thiệt thòi đã được mẹ ông chăm sóc. Vì vậy, khi được giao quản lý các trường công lập, ông dành nhiều sự quan tâm cho các học trò và gia đình chúng hơn là với giáo viên và công đoàn.
Duncan quyết định cách tốt nhất để loại bỏ các giáo viên gian lận là cải tổ lại kỳ thi tiêu chuẩn hóa. Ông chỉ có đủ nguồn lực để tổ chức kiểm tra lại cho 120 lớp, tuy nhiên ông đã nhờ tham vấn từ người đã nghĩ ra thuật toán tìm kiếm gian lận để giúp lựa chọn những lớp cần kiểm tra lại.
Làm cách nào để kiểm tra lại 120 lớp đó hiệu quả nhất? Có thể là vấn đề nhạy cảm khi chỉ kiểm tra lại những lớp có khả năng có giáo viên gian lận. Nhưng thậm chí nếu điểm kiểm tra lại của các lớp đó thấp hơn, giáo viên có thể lập luận rằng các học sinh đã làm bài không tốt do chúng đã được thông báo rằng điểm số đó sẽ không được tính vào bảng điểm chính thức − điều người ta sẽ thông báo cho các học sinh phải kiểm tra lại. Để làm cho kết quả kiểm tra lại thật sự thuyết phục, một số giáo viên không gian lận cần phải được tập hợp lại thành một nhóm. Liệu đó sẽ là nhóm kiểm soát tốt nhất? Các lớp được áp dụng thuật toán cho thấy có các giáo viên tốt nhất, mà trong các lớp đó người ta cho rằng những kết quả cao đạt được bằng cách chính đáng. Nếu những lớp đó đạt kết quả tốt trong khi những lớp khác có giáo viên bị nghi ngờ gian lận không đạt được kết quả như vậy thì khi đó các giáo viên gian lận khó có thể lập luận rằng các học sinh của họ đã làm bài không tốt chỉ bởi điểm số không được tính.
Vì vậy, một giải pháp kết hợp đã được thực hiện. Hơn một nửa trong số 120 lớp phải kiểm tra lại là những lớp bị nghi ngờ là có giáo viên gian lận. Số còn lại được chia thành các lớp có giáo viên được đánh giá là xuất sắc (những lớp có điểm số cao nhưng không có bài kiểm tra bị nghi ngờ), và những lớp có điểm số bình thường và không có những câu trả lời bị nghi ngờ gian lận.
Công việc kiểm tra lại được thực hiện sau kỳ thi ban đầu một vài tuần. Bọn trẻ không được cho biết về lý do kiểm tra lại. Kể cả các giáo viên cũng không được cho biết. Họ chỉ biết đến việc này khi đã được thông báo rằng các chuyên viên của CPS chứ không phải là các giáo viên sẽ chủ trì tổ chức kiểm tra lại. Các giáo viên được yêu
cầu ở lại trong lớp cùng các học sinh, nhưng họ sẽ không được phép làm gì ngay cả chạm vào tờ bài kiểm tra.
Kết quả rất thuyết phục đúng như thuật toán tìm kiếm gian lận đã dự đoán. Trong các lớp được chọn là nhóm để kiểm soát, không có nghi ngờ nào về gian lận, điểm số đạt mức ngang bằng hoặc thậm chí còn cao hơn. Ngược lại, các học sinh có giáo viên bị xác định là gian lận đã có điểm số thấp hơn nhiều, so với điểm trung bình của cả bậc học.
Kết quả là hệ thống CPS đã bắt đầu nhắm vào các giáo viên gian lận. Bằng chứng chỉ đủ mạnh để loại bỏ một số giáo viên gian lận, nhưng nhiều giáo viên gian lận khác cũng đã được cảnh báo. Kết quả cuối cùng của chương trình nghiên cứu Chicago là chứng cứ thuyết phục hơn về sức mạnh của động cơ: trong năm tiếp theo, những gian lận của các giáo viên đã giảm tới hơn 30%.
Bạn có thể nghĩ rằng sự tinh vi của các giáo viên, số người gian lận sẽ tăng lên cùng với các bậc học. Nhưng một kỳ thi được tổ chức tại trường Đại học Georgia vào mùa thu 2001 đã cho thấy điều ngược lại với ý kiến này. Khóa học mang tên “Tập huấn về các nguyên tắc và chiến lược trong môn bóng rổ” và bậc học cuối cùng được dựa trên một kỳ kiểm tra riêng có 20 câu hỏi. Các câu hỏi đó như sau:
Có bao nhiêu hiệp trong một trận đấu bóng rổ?
Có bao nhiêu điểm mà một bàn ghi 3 điểm của các đấu thủ được tính trong một trận đấu bóng rổ?
Tên một kỳ thi mà mọi học sinh trung học cuối cấp tại bang Georgia, Mỹ cần phải vượt qua:
a. Kiểm tra mắt
b. Kỳ thi kiểm tra món Grits ăn như thế nào?
c. Kỳ thi kiểm tra Lỗi
d. Kỳ thi ra trường Georgia
Theo ý kiến của bạn, ai là huấn luyện viên tốt nhất trong Phân khu I của nước Mỹ?
a. Ron Jirsa
b. John Pelphrey
c. Jim Harrick Jr.
d. Steve Wojciechowski
Nếu bạn lúng túng với câu hỏi cuối cùng thì có thể có ích khi biết rằng khóa Tập huấn về các nguyên tắc đã do Jim Harrick Jr. giảng dạy, ông là một huấn luyện viên của đội bóng rổ của trường. Cũng sẽ có ích khi biết được cha ông, ông Jim Harrick Sr, từng là huấn luyện viên trưởng của đội bóng. Không có gì đáng ngạc nhiên khi khóa tập huấn về các nguyên tắc là một khóa học được ưa chuộng của các cầu thủ đội bóng Harrick. Mỗi học sinh của lớp này đều đã nhận được một điểm A. Không bao lâu sau đó, cả hai cha con nhà Harrick đã rút khỏi nhiệm vụ huấn luyện viên.
Nếu bạn bị sốc khi biết rằng các giáo viên phát triển của Chicago và các giáo sư của trường Đại học Georgia đã gian lận − một giáo viên rốt cuộc là người truyền lại các giá trị đạo đức đi cùng với thực tiễn − thì ý nghĩ về việc gian lận của các đấu vật Sumo cũng thật đáng lo âu. Tại Nhật Bản, Sumo không chỉ là môn thể thao dân tộc mà còn chứa đựng tinh thần của tín ngưỡng, quân đội, và lịch sử của đất nước này. Với những nghi lễ thanh khiết và nguồn gốc hoàng gia, Sumo đã trở nên không thể thiếu được trong khi các môn thể thao khác của Mỹ không thể có được một tinh thần như vậy. Quả thực, Sumo được coi là môn thể thao nặng tính danh giá hơn là tính cạnh tranh.
Quả là đúng khi cho rằng thể thao và gian lận luôn đi cùng nhau. Đó là bởi gian lận với một động cơ chính đáng dường như là phổ biến hơn một động cơ đen tối. Các vận động viên môn chạy nước rút và cử tạ trong Olympic, các vận động viên đua xe đạp trong Giải đua xe đạp vòng quanh nước Pháp, các cầu thủ bóng chày và các đấu sỹ bóng chày: tất cả họ đều đã dùng bất cứ loại thuốc hay bột nào có thể cho phép họ thi đấu vượt trội. Không chỉ những người tham gia là gian lận. Những người quản lý đội bóng chày kín đáo luôn cố gắng rình trộm những dấu hiệu của đối thủ. Trong trận thi đấu môn trượt băng nghệ thuật tại Thế vận hội Olympic Mùa đông,
một trọng tài người Pháp và một trọng tài người Nga đã bị bắt quả tang khi cố gắng tráo phiếu bình chọn để đảm bảo vận động viên của họ được huy chương. (Người bị buộc tội dàn xếp phiếu bầu, một tỷ phú nhiều tai tiếng người Nga là Alimzhan Tokhtakhounov , cũng từng bị nghi ngờ gian lận trong nhiều cuộc thi sắc đẹp ở Moscow).
Một vận động viên bị bắt vì tội gian lận nói chung sẽ bị xử phạt, nhưng ít nhất hầu hết những người hâm mộ cũng sẽ đánh giá cao động cơ của anh ta: anh ta quá mong muốn được chiến thắng đến mức đã vi phạm các quy định. (Như vận động viên bóng chày Mark Grace từng nói, “Nếu anh không gian lận, nghĩa là anh không cố gắng”). Trong khi đó, một vận động viên điền kinh gian lận để thua, lại bị chỉ trích đến tận cùng của sự tệ hại trong thể thao. Chicago White Sox 1919 đã âm mưu với các nhóm cá độ để phá hỏng Giải World Series (và do vậy mà được biết đến với tên là Black Sox ), vẫn còn lưu lại tai tiếng về những hành động tội lỗi trong giới hâm mộ bóng chày. Đội bóng chày vô địch của trường đại học University City of New York, từng được mến mộ vì lối chơi thông minh và cá tính, đã có lúc bị nguyền rủa khi vào năm 1951 vì một số cầu thủ đội bóng bị phát hiện đã dùng tiền để dàn xếp điểm − cố tình bỏ bóng để giúp hội cá độ chiến thắng. Hãy nhớ lại Terry Malloy, võ sỹ đấm bốc đáng thương trước đây đã bị một vố của Marlon Brando trong phim On the Waterfront? Malloy đã nhận ra rằng tất cả những rắc rối của anh ta đều bắt nguồn từ một trận đấu thất bại. Nếu không, anh ta đã có thể có đẳng cấp; và có thể là một đối thủ đáng gờm.
Nếu gian lận để thua là tội lỗi nhất và nếu vật Sumo là môn thể thao hàng đầu của một đất nước hùng mạnh thì gian lận để thua không thể tồn tại trong môn Sumo. Phải không?
Một lần nữa, các dữ liệu có thể tiết lộ sự thật. Cùng với các bài kiểm tra trong trường ở Chicago, các dữ liệu được xem xét ở đây là cực kỳ lớn: hầu hết kết quả trong mọi trận đấu Sumo chính thức giữa các đô vật Sumo Nhật Bản hàng đầu từ giữa tháng Một năm 1989 đến tháng Một năm 2000, tổng cộng 32.000 lượt đấu với 281 đô vật khác nhau.
Động cơ trong Sumo thật phức tạp và cực kỳ quyền năng. Mỗi đô vật giữ một vị trí có ảnh hưởng tới mọi mặt của cuộc sống người
đó: số tiền mà anh ta kiếm được, phạm vi ảnh hưởng, anh ta cần ăn bao nhiêu thức ăn, ngủ bao nhiêu lâu và nhiều thứ khác nữa sẽ có tác động tới thành công của anh ta. 66 đô vật hạng cao nhất tại Nhật Bản, bao gồm cả makuuchi và juryo, tạo nên danh giá của Sumo. Một đô vật trong tốp đầu của giới Sumo có thể kiếm được hàng triệu đô-la và được đối đãi như một thành viên hoàng gia. Bất kỳ đô vật nào trong tốp 40 người hàng đầu kiếm được ít nhất 170.000 đô la/năm. Nhưng cuộc sống không hề ngọt ngào đối với những người không nằm trong vòng quay danh giá đó. Các đô vật hạng dưới đều phải tuân lệnh những đô vật hạng trên, chuẩn bị bữa ăn, lau dọn chỗ ở, và thậm chí phải giúp họ kỳ cọ cơ thể. Do vậy, cấp bậc là tất cả.
Cấp bậc của một đô vật dựa trên kết quả thi đấu của họ tại các trận đấu đỉnh cao được tổ chức 6 lần/năm. Mỗi đô vật có 15 lượt đấu, 1 ngày/lượt, kéo dài trong vòng 15 ngày liên tiếp. Nếu đô vật đó kết thúc vòng đấu với điểm số thắng (trên tám trận thắng), thì sẽ được thăng cấp. Nếu đô vật đó có điểm số thua sẽ bị giáng cấp. Nếu bị giáng cấp quá mức, đô vật đó sẽ hoàn toàn bị bứt ra khỏi vị trí cao cấp. Do đó, thắng lợi thứ tám trong bất kỳ vòng đấu nào cũng vô cùng quan trọng, đó là sự khác biệt giữa thăng cấp và giáng cấp.
Vì vậy, một đô vật bước vào ngày cuối cùng của vòng đấu sẽ tìm cách gian lận, võ sỹ có điểm số 7 − 7, sẽ phải nỗ lực giành chiến thắng hơn là một đối thủ có điểm số 8 − 6. Do đó, liệu một đô vật có điểm số 8 − 6 có thể cho phép một đô vật có điểm số 7 − 7 đánh bại anh ta? Một hiệp đấu Sumo là thời điểm tập trung cao độ sức mạnh, tốc độ và đòn bẩy, thường chỉ trong vòng một vài giây. Sẽ không quá khó khăn để anh tự làm ngã mình. Hãy tưởng tượng trong giây lát về gian lận trong thi đấu Sumo. Chúng ta có thể đánh giá các dữ liệu bằng cách nào để chứng minh điều đó?
Bước đầu tiên sẽ là tách các lượt thi đấu: những đô vật thi đấu trong ngày cuối cùng của vòng đấu giữa đang tìm cách gian lận và những đô vật đã chắc chắn thắng tám trận. (Bởi vì hơn một nửa các đô vật sẽ kết thúc vòng đấu với bảy, tám, hoặc chín lượt thắng, hàng trăm lượt đấu phù hợp với các tiêu chí này). Một trận đấu cuối cùng giữa hai đô vật có điểm số 7 − 7 thường không có khả năng được xếp cùng thi đấu, vì cả hai đều cần phải chiến thắng. Một đô vật với hơn mười trận thắng có thể không muốn một trận đấu tồi. Anh ta có
động cơ rất lớn để chiến thắng: giải thưởng trị giá 100.000 đô-la cho người vô địch cả vòng đấu và một loạt các giải trị giá 20.000 đô-la cho giải “kỹ thuật siêu đẳng”, giải “tinh thần chiến đấu” và nhiều giải khác nữa.
Giờ chúng ta sẽ xem xét các số liệu thống kê thể hiện hàng trăm trận đấu trong đó một đô vật có điểm số 7 − 7 gặp một đô vật có điểm số 8 − 6 vào ngày thi đấu cuối cùng.
Vì vậy, đô vật có điểm số 7 − 7, dựa trên kết quả từ trước chỉ được kỳ vọng sẽ giành thắng lợi, chưa tới 50%. Điều này hẳn có lý. Hồ sơ của các đô vật trong vòng đấu đã cho thấy đô vật có điểm số 8 − 6 chơi tốt hơn. Nhưng trên thực tế, đô vật gian lận đã thắng hầu hết trong các trận lượt đi đấu với đối thủ có điểm số 8 − 6. Các đô vật gian lận cũng có kết quả xuất sắc trước các đối thủ có điểm số 9 − 5:
Có thể thấy điều nghi ngờ khi nhìn vào những số liệu này, chỉ một tỷ lệ phần trăm chiến thắng cao không đủ để chứng minh rằng trận thi đấu có sự gian lận. Có quá nhiều yếu tố phụ thuộc vào chiến thắng thứ tám của đô vật nên đô vật đó được kỳ vọng sẽ thi đấu tốt hơn trong một lượt đấu quan trọng. Đồng thời cũng có nhiều bằng cớ trong dữ liệu cho thấy có sự thông đồng, thỏa thuận ngầm.
Hãy nghĩ về động cơ mà một đô vật có thể tính toán trong một trận đấu. Có thể anh ta chấp nhận hối lộ (một việc rõ ràng không được lưu vào trong dữ liệu). Hoặc có thể có sự dàn xếp giữa hai đô vật. Cần ghi nhớ rằng đội ngũ các đô vật Sumo đỉnh cao có sự liên kết vô cùng chặt chẽ. Cứ hai tháng một lần mỗi một người trong số 66 đô vật đỉnh cao phải đấu với 15 đô vật trong một vòng đấu. Hơn nữa, mỗi đô vật lại thuộc một nhóm đô vật do một đô vật vô địch trước đó quản lý, vì vậy ngay cả các nhóm đô vật đối thủ cũng có
mối liên kết chặt chẽ. (Các đô vật trong cùng nhóm sẽ không thi đấu với nhau).
Bây giờ chúng ta hãy xem xét tỷ lệ phần trăm thắng − thua giữa các đô vật có điểm số 7 − 7 và các đô vật có điểm số 8 − 6 vào lần gặp nhau tới khi không ai trong số họ tìm cách gian lận. Trong trường hợp này, không có áp lực lớn đối với các trận đấu riêng lẻ. Vì vậy, bạn có thể vẫn hy vọng tỷ lệ chiến thắng của các đô vật có điểm số 7 − 7 xấp xỉ 50%. Tất nhiên, bạn không thể hy vọng tỷ lệ này lên tới 80%.
Như đã biết trước đó, các số liệu cho thấy những đô vật có điểm số 7 − 7 chỉ thắng 40% trong các trận đấu lượt về. Tỷ lệ thắng là 80% trong trận đấu lượt đi và chỉ còn 40% trong trận lượt về? Bạn sẽ tìm thấy điều gì ở đây?
Cách giải thích hợp lý nhất là các đô vật thỏa thuận ngầm với nhau: anh để tôi thắng trận này vì tôi thật sự cần phải chiến thắng và tôi sẽ để anh thắng trận tiếp theo. (Những thỏa thuận như vậy có lẽ không kèm theo một khoản tiền hối lộ). Đặc biệt thú vị khi biết rằng với trận đấu thứ hai tiếp theo của các đô vật, tỷ lệ thắng trở lại mức 50% như đã kỳ vọng, cho thấy rằng sự thông đồng chỉ có trong hai trận đấu.
Và không phải chỉ cá nhân các đô vật có hồ sơ bị nghi ngờ. Nhiều báo cáo tổng hợp của các nhóm đô vật Sumo cũng trong tình trạng tương tự. Khi các đô vật trong nhóm bị nghi ngờ thi đấu với một nhóm đô vật thứ hai, lúc đó họ có xu hướng thi đấu rất tệ nếu nhóm thứ hai đó cũng tìm cách gian lận. Điều này cho thấy rằng một số trận đấu có gian lận có thể được dàn dựng ngay cả ở cấp độ cao nhất của thể thao − cũng giống như việc đổi phiếu bầu của trọng tài trong môn trượt băng nghệ thuật tại Olympic.
Các đô vật Sumo Nhật Bản không bị kỷ luật vì gian lận. Các nhà chức trách của Hiệp hội Sumo Nhật Bản sẽ bác bỏ mọi cáo buộc và coi đó là sự bịa đặt của các cựu đô vật hay gây phiền toái. Trong thực tế, việc phát ngôn các từ “Sumo” và “gian lận” trong cùng một câu có thể gây một làn sóng bất bình của cả nước Nhật. Người dân sẽ phản ứng khi môn thể thao dân tộc của họ bị chỉ trích.
Tuy nhiên, những lời buộc tội gian lận trong thi đấu đôi lúc cũng đến được với giới truyền thông của Nhật Bản. Những cơn bão
truyền thông hiếm hoi đó đã khiến người ta có nhiều cơ hội để đánh giá vấn đề gian lận trong Sumo. Những hành động dò xét kỹ lưỡng của giới truyền thông rốt cuộc đã tạo nên một động cơ mạnh mẽ: nếu hai đô vật hoặc nhóm của họ đã gian lận trong các trận đấu gặp nhau, họ có thể tiếp tục bị các nhà báo và giới truyền thông tấn công, theo dõi sát sao.
Vậy chuyện gì sẽ xảy ra trong những trường hợp như vậy? Các số liệu chỉ ra rằng trong các vòng đấu Sumo được tổ chức ngay sau khi có các cáo buộc về gian lận, các đô vật có điểm số 7 − 7 khi đấu với các đô vật có điểm số 8 − 6 sẽ chỉ thắng 50% các trận cuối thay vì là 80%. Dù các dữ liệu được mổ xẻ thế nào, chắc chắn chúng sẽ cho thấy một điều: khó có thể phủ nhận rằng Sumo không có gian lận.
Một vài năm trước đây, hai cựu đô vật Sumo đã xuất hiện và lên tiếng về những cáo buộc gian lận này. Ngoài các trận đấu bị biến tướng, hai đô vật này còn cung cấp thông tin rằng giới Sumo còn tràn ngập các tệ nạn như sử dụng ma túy, tình dục bừa bãi, hối lộ và trốn thuế, cùng những mối quan hệ chặt chẽ với yakuza, là mafia Nhật Bản. Hai cựu đô vật đó bắt đầu nhận được các cuộc điện thoại đe doạ; và một trong hai người đã kể với bạn anh ta rằng rất sợ bị bọn yakuza giết hại. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục với kế hoạch tổ chức một cuộc họp báo tại Câu lạc bộ Thông tin Đối ngoại tại Tokyo. Nhưng chỉ ngay trước đó, hai cựu đô vật đó đã chết − cách nhau vài giờ trong cùng một bệnh viện và đều do suy hô hấp. Cảnh sát đã tuyên bố không có gì đáng nghi và không tiến hành điều tra. “Thật kỳ lạ khi hai người này lại chết cùng ngày tại cùng một bệnh viện”, ông Mitsuru Miyake, biên tập viên của một tờ tạp chí về Sumo đã phát biểu. “Nhưng không có ai trông thấy họ bị đầu độc, vì vậy anh không thể chứng minh được gì”.
Dù cho sự thật là họ có bị giết hay không thì hai người đó đã làm điều mà những người khác trong giới Sumo không làm trước đó: đưa ra những cái tên. Trong số 281 đô vật có tên trong dữ liệu được nói đến trong phần trên, họ đã chỉ ra 29 đô vật gian lận và 11 người được coi là trong sạch.
Điều gì sẽ xảy ra khi bằng chứng chứng thực của những trọng tài được đưa vào trong bản phân tích dữ liệu các trận đấu? Trong các
trận đấu giữa hai đô vật được giả định là gian lận, tỷ lệ chiến thắng của đô vật gian lận là 80%. Trong khi đó tại các trận đấu của đô vật gian lận với đối thủ được giả định là trong sạch thì đô vật gian lận không có khả năng giành chiến thắng như dự đoán. Điều này cho thấy rằng hầu hết các đô vật không bị coi là gian lận thì cũng đều gian lận.
Vì vậy, nếu đô vật Sumo, giáo viên phổ thông và phụ huynh gửi con tại các trường mẫu giáo đều gian lận, khi đó chúng ta sẽ cho rằng con người gian lận là bẩm sinh và ở đâu cũng vậy? Và nếu như vậy thì gian lận cách nào?
Câu trả lời có lẽ nằm ở... chiếc bánh vòng. Hãy xem xét một câu chuyện có thật về một người đàn ông có tên Paul Feldman. Khi còn trẻ Feldman có một ước mơ lớn. Được đào tạo để trở thành một nhà kinh tế nông nghiệp, ông mong muốn xoá bỏ vấn nạn đói nghèo của thế giới. Nhưng ông đã nhận công việc tại Washington là phân tích các khoản mua vũ khí cho Hải quân Mỹ. Đó là vào năm 1962. Trong 20 năm tiếp theo, ông vẫn làm công việc này. Giờ đây ông đảm nhận các công việc ở vị trí cao cấp và có mức thu nhập khá, nhưng ông không thật sự tham gia hoàn toàn vào công việc. Sau một bữa tiệc Giáng sinh ở văn phòng, các đồng nghiệp giới thiệu ông với vợ của họ không phải với chức danh “trưởng nhóm nghiên cứu công chúng” (là chức danh của ông) mà giới thiệu là “người đã mang tới những chiếc bánh vòng”. Những chiếc bánh vòng bắt nguồn từ một cử chỉ thân mật: một ông chủ chiêu đãi toàn bộ nhân viên mỗi khi họ giành được một hợp đồng nghiên cứu. Sau đó, ông ta đã biến nó thành một cái lệ. Mỗi ngày thứ Sáu, ông mang tới một ít bánh vòng, một con dao răng cưa và pho mát kem. Khi nhân viên từ các tầng xung quanh nghe thấy có bánh vòng, họ cũng muốn một ít. Cuối cùng, ông ta đã mang tới 15 chiếc mỗi tuần. Để có thể bù đắp được chi phí, ông ta đã để một chiếc giỏ đựng tiền và một tấm biển ghi mức giá tiền. Tỷ lệ thu lại của ông ta được 95%; ông cho rằng số tiền không trả còn lại là do quên chứ không phải là ăn gian.
Vào năm 1984, khi viện nghiên cứu của ông có quản lý mới, Feldman đã nhìn lại công việc của mình và tỏ ra chán chường. Ông quyết định bỏ việc và đi bán bánh vòng. Đồng nghiệp của ông là các
chuyên gia kinh tế đã nghĩ ông mất trí, nhưng vợ ông lại ủng hộ ông. Đứa con thứ ba của họ sắp tốt nghiệp đại học và họ đã phải thế chấp tài sản.
Lái xe khắp các khu văn phòng xung quanh Washington, ông ta đã thu hút khách hàng với phương thức bán hàng đơn giản: vào mỗi sáng sớm, ông sẽ mang một ít bánh vòng và một chiếc giỏ đựng tiền tới phòng nghỉ của một công ty; ông ta sẽ trở lại vào trước giờ nghỉ trưa để lấy tiền và số bánh còn lại. Đó là một phương thức thương mại mang tính chất tôn trọng và nó đã có hiệu quả. Chỉ trong một vài năm, Feldman đã đạt mức bán 8.400 chiếc bánh vòng một tuần cho 140 công ty và kiếm được số tiền nhiều đúng như dự tính. Ông đã thoát khỏi sự tù túng của cuộc sống trước đây và tự mang lại hạnh phúc cho mình.
Ông ta cũng đã tạo ra một cuộc thử nghiệm kinh tế tuyệt vời. Ngay từ đầu, Feldman đã lưu giữ những dữ liệu chính xác trong công việc của mình. Bằng cách tính toán số tiền thu được so với số bánh được tiêu thụ, ông đã thấy mức độ trung thực của khách hàng. Họ có ăn gian của ông không? Nếu vậy, đâu là đặc điểm của một công ty có nhân viên gian dối và một công ty không như vậy? Trong trường hợp nào người ta có xu hướng ăn gian nhiều hơn, hay ít đi?
Như cách thức câu chuyện đã tiến triển, nghiên cứu ngẫu nhiên của Feldman đã cung cấp cách thức nghiên cứu tội phạm trong giới “cổ cồn trắng” (nhân viên văn phòng). Có vẻ như hơi buồn cười khi xác định một vấn đề lớn và khó thay đổi như vấn đề tội phạm giới văn phòng thông qua công việc kinh doanh của một người bán bánh vòng. Nhưng thường một vấn đề nhỏ và đơn giản lại có thể giúp giải quyết những vấn đề lớn nhất.
Do mọi sự chú ý đều tập trung bới móc những công ty như Enron , giới học thuật biết rất ít về thực tế tội phạm văn phòng. Lý do ư? Không có dữ liệu đủ tin cậy. Thực tế chính là tội phạm văn phòng rất ít khi bị bắt quả tang. Hầu hết những kẻ biển thủ đều có cuộc sống yên ả và hạnh phúc (có thể chỉ là lý thuyết); các nhân viên trộm cắp tài sản của công ty hiếm khi bị phát hiện. Trong khi đó với tội phạm đường phố thì ngược lại. Một vụ buôn lậu, ăn trộm hay án mạng thường được lưu số liệu cho dù có bắt được thủ phạm hay không. Một vụ tội phạm đường phố có nạn nhân, người sẽ thông báo vụ
việc phạm pháp cho cảnh sát, người cung cấp dữ liệu mà từ đó cung cấp hàng nghìn trang viết của các nhà tội phạm học, nhà xã hội học và nhà kinh tế học. Nhưng chẳng thấy nạn nhân cụ thể nào của tội phạm cổ cồn trắng cả. Trong vụ Enron ai đã bị trộm cắp? Và làm cách nào để bạn có thể đánh giá được sự việc nào đó nếu bạn không biết nó xảy ra với ai, với tần suất và cường độ như thế nào?
Công việc kinh doanh bánh vòng của Paul Feldman lại khác. Nó đã cho thấy một nạn nhân. Nạn nhân đó là
Paul Feldman.
Khi bắt đầu công việc kinh doanh của mình, ông đã hy vọng một tỷ lệ thanh toán là 95% dựa trên kinh nghiệm mà ông có được tại văn phòng của mình. Nhưng khi tội phạm có xu hướng giảm trên đường phố, ở nơi có cảnh sát túc trực thì tỷ lệ 95% được coi là cao: Sự hiện diện của Feldman đã ngăn chặn sự ăn gian. Không chỉ có vậy, những người ăn bánh vòng đó còn biết ai là người cung cấp và có cảm tình (giả sử là những người tốt) với ông ấy. Một cuộc nghiên cứu rộng về tâm lý và kinh tế đã cho thấy rằng người ta sẽ chi trả những khoản tiền khác nhau cho cùng một loại hàng tuỳ theo ai là người cung cấp hàng đó. Nhà kinh tế học Richard Thaler, trong bản nghiên cứu “Bia trên Bãi biển” năm 1985 của ông đã chỉ ra rằng một vị khách tắm biển sẽ trả 2,65 đô-la cho một cốc bia do khu nghỉ mát cung cấp nhưng chỉ trả 1,50 đô-la cho cùng loại bia đó nếu nó được bán ở một cửa hàng bình thường.
Trong thực tế, Feldman đã phải định ra một mức thấp hơn 95%. Ông đã cân nhắc về “mức độ trung thực” của một công ty nếu tỷ lệ thanh toán vượt trên 90%. Ông cũng cân nhắc một tỷ lệ giữa 80% và 90% là “mức chấp nhận được”. Nếu một công ty thường chỉ trả dưới 80%, Feldman có thể dán một mẩu ghi chú khuyến cáo như thế này:
Các chi phí cho bánh vòng đã tăng đột biến kể từ đầu năm. Thật không may, số bánh vòng bị lấy đi mà không được trả tiền cũng đã tăng lên. Xin đừng để việc đó tiếp tục xảy ra. Tôi không nghĩ rằng bạn sẽ dạy con cái mình gian lận, vậy tại sao bạn lại làm vậy?
Ban đầu, Feldman để một chiếc giỏ mở để đựng tiền, nhưng tiền thường xuyên biến mất. Sau đó, ông đã dùng một lon cà phê với khe nhét tiền trên nắp bằng nhựa, nhưng cũng thấy không ổn. Cuối
cùng, ông đã phải làm những chiếc hộp gỗ dán nhỏ với một khe trên đầu. Chiếc hộp gỗ đã phát huy tác dụng. Mỗi năm ông đã sử dụng tới 7.000 chiếc hộp và trung bình chỉ mất đi một hộp. Đây là một số liệu hấp dẫn: những người thường xuyên ăn gian hơn 10% số bánh vòng của ông hầu như không bao giờ tệ đến mức ăn cắp hộp tiền. Theo quan điểm của Feldman, một nhân viên văn phòng ăn một chiếc bánh mà không trả tiền sẽ bị coi là phạm tội; nhưng có lẽ nhân viên văn phòng đó không nghĩ vậy. Sự khác biệt này có thể không có ý nghĩa mấy với khoản tiền đúng là rất nhỏ so với việc gọi là “tội phạm”. (Bánh vòng của Feldman chỉ có giá một đô-la mỗi chiếc có cả pho mát kem). Cũng nhân viên văn phòng gian lận đó cũng có thể tự cho mình một cốc soda trong cửa hàng tự phục vụ, nhưng sẽ không có chuyện anh ta rời cửa hàng mà không trả tiền.
Vì vậy, các dữ liệu về bánh vòng nói lên điều gì? Trong những năm gần đây, đã có hai xu hướng đáng chú ý trong tổng tỷ lệ thanh toán. Xu hướng thứ nhất là sự giảm sút dần dần bắt đầu từ năm 1992. Vào mùa hè năm 2001, tổng tỷ lệ thanh toán đã trượt xuống còn khoảng 87%. Nhưng thật bất ngờ sau vụ 11 tháng Chín của năm đó, tỷ lệ này đã tăng lên đúng 2% và không giảm nhiều nữa kể từ sau đó. (Nếu bạn thấy tăng được 2% trong thanh toán nghe có vẻ như không nhiều thì hãy suy nghĩ theo cách này: tỷ lệ không thanh toán giảm từ 13 xuống còn 11% có nghĩa là đã giảm 15% tỷ lệ ăn cắp). Nhiều khách hàng của Feldman cũng quan tâm đến an ninh quốc gia, do vậy có thể đã có yếu tố ái quốc đối với hiệu ứng ngày 11 tháng Chín, hoặc sự kiện này có thể đã thể hiện sự đồng cảm lên cao trong cộng đồng.
Dữ liệu cũng cho thấy rằng các công ty nhỏ trung thực hơn các công ty lớn. Một văn phòng với vài chục nhân viên thường có xu hướng trả tiền bánh vòng nhiều hơn từ 3-5% so với một văn phòng với vài trăm nhân viên. Điều này có vẻ khác thường. Trong một văn phòng lớn, số người đông sẽ thường tụ tập xung quanh bàn bày bánh, vì vậy sẽ có nhiều người chứng kiến anh bỏ tiền vào trong hộp hơn. Nhưng đối với sự so sánh giữa văn phòng lớn/văn phòng nhỏ, những người ăn bánh vòng không trả tiền thường giống như tội phạm đường phố. Tỷ lệ tội phạm đường phố tại các vùng nông thôn ít hơn so với các thành phố, phần lớn là do tội phạm tại vùng nông
thôn có nhiều khả năng bị phát hiện hơn (và do vậy sẽ dễ bị bắt hơn). Hơn nữa, một cộng đồng nhỏ có nhiều động cơ xã hội mạnh hơn để chống nạn tội phạm.
Các dữ liệu nghiên cứu về bánh vòng cũng phản ánh rằng tâm trạng cá nhân cũng ảnh hưởng nhiều tới sự trung thực. Ví dụ, thời tiết là một nhân tố quan trọng. Thời tiết tự nhiên dễ chịu cũng làm cho con người dễ trả giá cao hơn. Trong khi đó, thời tiết tự nhiên lạnh làm cho người ta hay ăn gian nhiều hơn; cũng tương tự như vậy khi trời trở gió và mưa. Tệ nhất là các ngày lễ. Tuần lễ Giáng sinh làm giảm 2% tỷ lệ thanh toán − và lại làm tăng 15% tỷ lệ ăn gian, một mức tác động tương tự như sự kiện 11 tháng Chín. Ngày Lễ Tạ ơn cũng tệ gần như vậy; suốt tuần của lễ Tình nhân cũng tệ hại như ngày nghỉ lễ ẩm ương 15 tháng Tư. Tuy nhiên, có một số ngày lễ tuyệt vời: những tuần lễ có Ngày Quốc khánh Mỹ , Ngày Quốc tế Lao động và Ngày Columbus . Sự khác nhau giữa hai loại ngày lễ là thế nào? Những ngày lễ có tỷ lệ ăn gian thấp là những ngày như ngày nghỉ làm việc mà thôi. Những ngày lễ có tỷ lệ ăn gian cao là những ngày có nhiều mối lo toan và sự chờ mong của những người thân yêu.
Feldman cũng đã có một số kết luận của riêng ông về đức tính trung thực, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân ông hơn là dựa trên những dữ liệu. Ông đã tin tưởng rằng tinh thần là nhân tố quan trọng − một văn phòng sẽ trung thực hơn khi các nhân viên quý mến ông chủ và công việc của họ. Ông cũng tin rằng các nhân viên thăng tiến lên cao trong tổ chức sẽ gian lận nhiều hơn các đồng nghiệp cấp dưới. Ông có ý kiến này sau nhiều năm cung cấp bánh vòng cho một công ty tổ chức hoạt động tại cả ba tầng lầu − một tầng điều hành trên cùng và hai tầng dưới dành cho nhân viên kinh doanh, dịch vụ và hành chính. (Feldman đã băn khoăn về việc có lẽ các lãnh đạo điều hành gian lận do cảm tính thái quá về quyền của họ. Ông không xem xét việc gian lận là cách họ trở thành lãnh đạo điều hành).
Nếu chuẩn mực thể hiện mong muốn của chúng ta về mọi sự việc thì kinh tế học thể hiện thực tế diễn ra của các sự việc, do vậy câu chuyện về công việc kinh doanh bánh vòng của Feldman nằm ở điểm giao giữa chuẩn mực và kinh tế học. Vâng, đã có rất nhiều
người ăn gian của ông, nhưng phần lớn thì không, thậm chí ngay cả khi không có ai giám sát họ. Kết quả này có thể gây ngạc nhiên cho một vài người − cả các bạn học kinh tế của Feldman, là những người đã tư vấn cho ông từ 20 năm trước rằng hệ thống bán hàng vì danh dự của ông sẽ không thực hiện được. Nhưng điều này lại không hề làm Adam Smith ngạc nhiên.
Có một câu chuyện cổ, Chiếc nhẫn của Gyges, mà Feldman đôi khi kể cho các bạn học của ông. Câu chuyện bắt nguồn từ cuốn Cộng hòa của Plato. Một học trò tên là Glaucon đã kể câu chuyện đó để đáp lại một bài học của Socrates, cho rằng con người nói chung là lương thiện thậm chí ngay khi không có quy định nào ràng buộc. Glaucon, giống như các bạn học của Feldman, đã không tán đồng ý kiến đó. Chuyện của anh ta kể về một người chăn cừu tên là Gyges vô tình bị rơi vào một cái hang bí mật, bên trong có một thi hài đeo một chiếc nhẫn. Khi Gyges đeo chiếc nhẫn đó vào tay mình, anh ta nhận ra chiếc nhẫn đã làm anh ta trở nên vô hình. Do không ai biết được hành vi của anh ta, Gyges đã tiếp tục thực hiện những điều tồi tệ − quyến rũ Hoàng hậu, giết Vua, và nhiều tội ác khác nữa. Câu chuyện của Glaucon đã đặt ra một vấn đề đạo đức: con người có thể chống lại sự cám dỗ tội lỗi không nếu biết hành động của anh ta không bị ai chứng kiến? Glaucon có vẻ như đã nghĩ rằng câu trả lời là không. Nhưng Paul Feldman cùng quan điểm với Socrates và Adam Smith − bởi vì ông đã biết câu trả lời, ít nhất 87% là có.
Levitt là người đầu tiên phát biểu rằng một số chủ đề của anh ta gần giống với những điều nhỏ nhặt. Nhưng anh ta lại chứng minh rằng mình là nhà nghiên cứu đầy sáng tạo và nhà tư tưởng sáng suốt thay vì bị phó thác một phần phụ trong phần lĩnh vực có liên quan. Trái lại, Levitt đã chỉ ra cho các nhà kinh tế học khác thấy những công cụ của họ có ý nghĩa như thế nào đối với thế giới thực.
Colin Camerer, nhà kinh tế học tại viện công nghệ California nhận xét rằng: “Levitt được coi là á thánh, một trong những người sáng tạo nhất trong kinh tế học và có thể trong tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội”. “Anh ta đại diện cho điều mà mọi người mong muốn làm được khi còn học tiểu học, nhưng thông thường những ý tưởng sáng tạo đó của họ bị vùi lấp bởi các công thức toán học vô
tận – loại công cụ tri thức luôn nỗ lực tìm ra đáp án thông qua những con số.”
- Tạp chí New York Times, 03/08/2003
2. ĐẢNG 3K − KU KLUX KLAN GIỐNG NGƯỜI MÔI
C
GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀO?
ũng như các tổ chức khác, Đảng 3K có một lịch sử thăng trầm đáng nhớ. Tổ chức được thành lập do hệ quả tức thời của cuộc Nội chiến bởi sáu cựu binh ly khai tại Pulaski, Tennessee. Sáu gã trai trẻ, bốn trong số bọn họ từng là những luật sư tài năng mới bắt đầu nảy nở, tự nhìn nhận mình là một nhóm bạn đồng chí hướng − do vậy họ đã chọn cái tên, “kuklux”, một từ biến thể của từ kuklos, là từ gốc Hy Lạp có nghĩa “nhóm”. Họ ghép thêm chữ “klan” do tất cả đều có nguồn gốc Scotland & Izelan. Lúc đầu, các hành động của nhóm này được coi là những trò đùa ban đêm vô hại − họ cưỡi ngựa khắp đồng quê với mũ áo xếp nếp trắng tinh. Nhưng chẳng bao lâu sau đó Đảng 3K đã tham gia vào một tổ chức khủng bố liên bang được lập ra để đe dọa và chém giết những người nô lệ bỏ trốn. Trong số những kẻ cầm đầu có năm cựu thủ lĩnh ly khai; những kẻ ủng hộ trung thành nhất của tổ chức này là các chủ đồn điền. Chính những thành phần này khiến cho thời kỳ tái thiết nước Mỹ hậu chiến đã phải trải qua cơn ác mộng chính trị và kinh tế. Vào năm 1872, Tổng thống Ulysses S. Grant đã vạch rõ trước Hạ nghị viện thực chất những mục đích của Đảng 3K là: “Dùng biện pháp áp đặt và khủng bố để ngăn chặn mọi hành động chính trị không đồng nhất với quan điểm của các thành viên, để tước quyền tự chủ và quyền được tự do bỏ phiếu của công dân da màu, để cấm các trường học có trẻ em da màu hoạt động và để bắt những người da màu sống cuộc sống gần như nô lệ”.
Đảng 3K ban đầu đã thực hiện công việc của chúng bằng việc viết sách chính trị, thi án hành hình, xử bắn, hoả thiêu, tùng xẻo, đánh đập bằng súng và hàng ngàn kiểu đe dọa. Chúng nhằm vào những người từng là nô lệ và bất cứ người da trắng nào ủng hộ dân da đen đòi quyền bầu cử, quyền sở hữu đất đai và quyền được học hành. Tuy nhiên, chỉ trong vòng một thập kỷ, Đảng 3K đã bị tiêu diệt, chủ yếu là do sự can thiệp của luật pháp và quân đội bên ngoài Washington D.C.
Mặc dù Đảng 3K đã bị đánh bại, nhưng mục đích của tổ chức này gần như đã đạt được thông qua việc áp dụng luật Jim Crow. Trong thời kỳ tái thiết, Quốc hội đã nhanh chóng ban bố quyền tự do về kinh tế, xã hội và luật pháp đối với người dân da đen, sau đó lại nhanh chóng thu hồi các quyền đó. Chính quyền liên bang đã chấp thuận rút các đơn vị quân chiếm đóng tại miền Nam, cho phép khôi phục sự thống trị của người da trắng. Trên tờ Plessy & Ferguson, Toà án tối cao Mỹ đã bật đèn xanh cho nạn phân biệt chủng tộc.
Đảng 3K hầu như đã không hoạt động cho tới năm 1915, khi bộ phim của D.W.Griffith là Sự ra đời của một quốc gia (The Birth of a Nation) − tên lúc đầu là Thành viên Đảng 3K (The Clansman), đã khơi dậy sự hồi sinh của tổ chức đó. Griffith đã miêu tả Đảng 3K như một đội quân thập tự chinh vì lý tưởng văn minh của người da trắng, và như một lực lượng cao quý nhất trong lịch sử nước Mỹ. Bộ phim đã trích dẫn một dòng trong cuốn sách Lịch sử dân tộc Mỹ (A History of the American People), do một sử gia danh tiếng viết: “Cuối cùng đã xuất hiện một Đảng 3K hùng mạnh, một đế chế thật sự của miền Nam để bảo vệ miền Nam đất nước”. Tác giả của cuốn sách là Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, một thời là học giả và Chủ tịch trường Đại học Princeton.
Vào những năm 1920, nhóm Klan hồi sinh tuyên bố có tám triệu thành viên, bao gồm cả Tổng thống Warren G. Harding, theo như tin đã đưa, đã đặt lời tuyên thệ của Đảng 3K trong Phòng Xanh của Nhà Trắng. Cũng trong thời gian này, hoạt động của Đảng 3K vượt khỏi phạm vi miền Nam, trải rộng trên cả nước Mỹ; thời gian này, tổ chức đó có tập trung phân biệt chủng tộc không chỉ với người da đen mà còn cả những tín đồ Công giáo, Do Thái, công đoàn viên, người nhập cư, quân phiến loạn và nhiều thành phần gây rối khác. Năm 1933, cùng với uy lực của Hitler tại Đức, Will Rogers là tên đầu tiên đã vạch ra mối liên hệ biên giữa Đảng 3K mới và mối đe dọa mới tại châu Âu: “Báo chí đều cho rằng Hitler đang cố bắt chước Mussolini”, ông ta viết. “Còn với tôi, Hitler chính là một bản sao của Đảng 3K”.
Sự bùng nổ mạnh mẽ của Chiến tranh thế giới thứ hai và một loạt các vụ bê bối nội bộ một lần nữa lại dìm Đảng 3K xuống. Dư
luận − với tư cách một khối đoàn kết dân tộc trong chiến tranh tuyên bố thái độ về chính sách chia rẽ − đã chống đối Đảng 3K. Nhưng chỉ sau vài năm, có những dấu hiệu của sự trở lại ồ ạt. Khi mối lo ngại trong thời gian chiến tranh đã mở đường cho những bất ổn thời kỳ hậu chiến, số lượng thành viên của Đảng 3K đã phát triển mạnh mẽ. Chỉ hai tháng sau Ngày V-J , Đảng 3K tại Atlanta đã đốt cây thập tự dài 300 feet trước núi Stone, nơi có tượng đài đá của Robert E.Lee . Một thành viên của Đảng 3K sau đó đã nói, hành động đốt cây thập tự ngông cuồng đó là cố ý “để cho bọn da đen biết rằng chiến tranh đã qua và Đảng 3K đã trở lại”.
Giờ đây Atlanta đã trở thành trụ sở chính của Đảng 3K. Đảng 3K có ảnh hướng lớn tới các chính trị gia chủ chốt ở Georgia, và nhiều thành viên của tổ chức tại Georgia bao gồm nhiều cảnh sát và đại diện của quận trưởng. Đúng vậy, Đảng 3K là một xã hội ngầm, ham mê mật mã và trò chơi hiệp sỹ, nhưng sức mạnh thật sự của tổ chức này nằm ở nỗi lo sợ của dân chúng mà tổ chức này đã gây ra − được minh họa bằng bí mật công khai, đó là Đảng 3K và giới luật pháp có quan hệ mật thiết.
Atlanta − thành phố quê hương của đế chế vô hình 3K, trong biệt ngữ của Đảng 3K − cũng là nơi cư trú của Stetson Kennedy, một người đàn ông 30 tuổi có cùng dòng máu với thành viên Đảng 3K nhưng có khí chất đối lập. Ông xuất thân từ một gia đình xuất chúng ở phía Nam, có tổ tiên là hai thành viên cao cấp đã ký vào Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, một thành viên trong đội quân ly khai, và John B.Stetson, người sáng lập công ty mũ nổi tiếng và có tên được đặt cho trường Đại học Stetson.
Stetson Kennedy trưởng thành trong một ngôi nhà 14 phòng ở Jacksonville, Florida, là con út trong số năm người con. Ông chú Brady của ông là một thành viên của Đảng 3K. Nhưng Kennedy đã bắt đầu thật sự chống đối lại Đảng 3K khi một người giúp việc của gia đình, cô Flo, là người chăm nom chính cho Stetson, đã bị trói lên cây, bị đánh đập và bị một bọn người của Đảng 3K cưỡng bức. Tội của cô là: cãi lại một gã điều khiển xe đẩy hàng da trắng − kẻ đã lừa gạt cô.
Vì không thể tham gia chiến đấu trong Chiến tranh thế giới II − do bị bệnh đau lưng từ nhỏ − Stetson Kennedy luôn cảm thấy một sự
hối thúc trong lòng rằng cần phải bảo vệ đất nước kể cả khi không ra mặt trận. Ông tin rằng kẻ thù lớn nhất của chiến tranh chính là lòng tin mù quáng. Kennedy đã trở thành một “người chống đối quyết liệt” − theo cách ông tự khắc họa, ông đã viết nhiều bài báo và sách chống lại những niềm tin mù quáng. Ông trở nên thân thiết với Woody Guthrie , Richard Wright và nhiều nhà cấp tiến khác; Nhà xuất bản Jean Paul Sartre đã xuất bản tác phẩm của ông tại Pháp.
Công việc viết lách không đến dễ dàng với Kennedy, hoặc không phải là niềm thích thú của ông. Bản chất của ông là một cậu bé quê mùa mà lẽ ra ở độ tuổi vui thích với việc câu cá ở đầm lầy, nhưng ông đã bị day dứt bởi lòng nhiệt tâm cống hiến hết mình cho mục đích của dân tộc. Kennedy đã tiếp tục con đường để trở thành một thành viên phi tôn giáo của Tổ chức Chống phỉ báng (ADL) với nỗ lực sau chiến tranh nhằm chống lại những niềm tin mù quáng. (Ông là người sáng tạo ra cụm từ “Frown Power”, là tâm điểm của phong trào gây áp lực của ADL, phong trào khuyến khích mọi người không tán thành khi nghe những bài diễn văn của niềm tin mù quáng). Kennedy đã trở thành phóng viên người da trắng duy nhất của tạp chí Pittsburgh Courier, tờ tạp chí lớn nhất của người da đen tại Mỹ. (Ông phụ trách chuyên mục về cuộc đấu tranh phân biệt chủng tộc ở miền Nam với bút danh là Daddy Mention − một nhân vật anh hùng da đen huyền thoại, như trong truyền thuyết đã lưu danh, người có khả năng chạy nhanh như bay).
Động lực của Kennedy chính là lòng căm thù đối với sự hẹp hòi, ngu dốt, chủ trương phá rối và đe dọa dân chúng − mà theo quan điểm của ông, là những đặc điểm tập trung ở tổ chức ngạo mạn hơn hết thảy − chính là Đảng 3K. Kennedy coi nhóm này như một đội quân khủng bố do người da trắng thành lập. Điều này đã tạo ấn tượng với ông như một vấn đề nan giải, bởi một loạt những lý do. Đảng 3K đã móc ngoặc với các vị lãnh đạo trong giới chính trị, kinh doanh và hành pháp. Công chúng hoang mang và cảm thấy bất lực khi phải chống lại Đảng 3K. Và vài nhóm chống đối tồn tại trong thời gian đó có rất ít đòn bẩy hay ngay cả thông tin về Đảng 3K. Như sau này Kennedy đã viết: “Hầu hết các tác phẩm viết về đề tài này đều chỉ là các bài xã luận, không phải những bài viết để vạch trần. Các
tác giả đã chống đối Đảng 3K, tốt thôi, nhưng họ chỉ có rất ít thông tin nội bộ về tổ chức này.
Và Kennedy đã quyết định − như bất kỳ một người chống đối lại niềm tin mù quáng nhuốm màu gàn dở và liều lĩnh nào cũng sẽ làm như vậy − bí mật cải trang tham gia vào Đảng 3K.
Tại Atlanta, ông bắt đầu qua lại nơi “tụ tập giải trí” mà như ông đã viết sau này, “khách hàng quen thuộc của nó có cái nhìn nghiệt ngã và chán nản của Đảng 3K về chúng”. Một buổi chiều, một gã đàn ông tên là Slim, hành nghề lái xe taxi, đã ngồi cạnh ông trong quán rượu. “Những gì mà đất nước này cần chính là một Đảng 3K kiệt xuất”, Slim nói, “đó là cách duy nhất để giữ chân bọn da đen, Do Thái, da màu Công giáo và bọn dân da đỏ ở đúng chỗ của chúng!”.
Kennedy đã tự giới thiệu ông là John S.Parkins, bí danh mà ông dùng để thực hiện nhiệm vụ của mình. Ông nói với Slim vẻ thành thật, rằng ông chú Brady Perkins đã quay trở lại Florida và từng là Người khổng lồ vĩ đại của Đảng 3K. “Nhưng giờ thì họ đã chết cả rồi, phải vậy không?”, ông hỏi Slim như vậy.
Câu nói này đã làm cho Slim phải thốt ngay khẩu hiệu của Đảng 3K: “Tại đây Hôm qua, Hôm nay, Mãi mãi! Ku Klux Klan đang hành động! Chúa che chở cho chúng ta!” Slim đã nói với “Perkins” rằng ông thật may mắn, vì đã có cách để đăng ký gia nhập thành viên Đảng 3K. Mức phí gia nhập 10 đô-la − với lời rao của Đảng 3K là “Anh căm ghét bọn da đen? Anh căm ghét bọn Do Thái? Anh có 10 đô-la không?” hiện đã giảm xuống còn 8 đô-la. Sau đó, cần nộp thêm 10 đô-la phí hàng năm và 15 đô-la cho bộ áo choàng.
Kennedy đã lần lữa không nộp các khoản phí, giả bộ rất khó xoay sở tiền nhưng đồng ý gia nhập. Không lâu sau đó, ông đã tuyên thệ trong một đêm kết nạp hàng loạt thành viên trên núi Stone. Kennedy bắt đầu tham dự các buổi họp mặt hàng tuần của Đảng 3K, sau đó ông phóng vội về nhà để viết các mẩu ghi nhớ theo kiểu tốc ký khó hiểu mà ông nghĩ ra. Ông tìm hiểu danh tính của những tên cầm đầu ở địa phương và khu vực và giải mã hệ thống cấp bậc và các nghi thức cùng ngôn ngữ. Một thói quen của Đảng 3K là thêm hai chữ Kl vào nhiều từ ngữ; vì vậy có câu “two Klansmen hold a Klonversation in the local Klavern” (hai thành viên Đảng 3K nói chuyện trong hang ổ). Nhiều quy tắc đã làm Kennedy thấy thật buồn
cười. Ví như cách bắt tay bí mật của Đảng 3K là nắm tay trái, lắc lư một cách ẻo lả. Khi một thành viên Đảng 3K từ nơi khác tới muốn gặp chiến hữu ở một nơi xa lạ, anh ta sẽ hỏi về một “Mr.Ayak” − “Ayak” là mật mã của câu “Anh có phải là một thành viên Đảng 3K?” (“Are you a Klansman?”) và anh ta hy vọng sẽ nhận được câu trả lời “vâng, và tôi cũng biết một Mr. Akai” − ký hiệu của câu “Tôi là một thành viên 3K” (“A Klansman am I”).
Trước đó, Kennedy được mời tham gia đội kỵ binh Klavalier, là đội cảnh sát bí mật của Đảng 3K. Vì đặc ân này, ông đã bị rạch một vết trên cổ tay bằng con dao găm để lấy máu tuyên thệ:
“Hỡi người anh em, anh hãy thề trước Chúa và Thánh Thần rằng không bao giờ phản bội những bí mật được giao phó cho anh với tư cách một kỵ binh của Đảng 3K?”
Kennedy sẽ phải trả lời: “Xin thề”.
“Anh hãy thề sẽ tự trang bị cho mình một khẩu súng tốt và nhiều đạn, để có thể sẵn sàng khi bọn da đen bắt đầu gây rắc rối và đòi hỏi nhiều?”
“Tôi xin thề”.
“Anh hãy thề sẽ làm mọi cách trong khả năng của mình để làm tăng tỷ lệ sinh của người da trắng?”
“Tôi xin thề”.
Kennedy nhanh chóng được hướng dẫn để trả khoản tiền 10 đô la đăng ký gia nhập đội kỵ binh, cùng với 1 đô-la mỗi tháng để trang trải các chi phí của đội. Ông cũng phải mua một bộ áo choàng thứ hai được nhuộm đen.
Là một thành viên Đảng 3K, Kennedy lo ngại một ngày nào đó ông sẽ phải tham gia vào các trò bạo lực. Nhưng ngay sau đó ông nhận ra rằng thực tế cuộc sống của Đảng 3K và bọn khủng bố nói chung đó là: hầu hết các vụ bạo lực được cảnh báo không bao giờ vượt quá mức độ hăm dọa.
Hãy xem xét kiểu hành hình lynsơ , một hành vi bạo lực rất điển hình của Đảng 3K. Ở đây, có các số liệu thống kê của Học viện Tuskegee qua các thập kỷ về số người da đen bị hành hình tại Mỹ.
Cần nhớ rằng những con số trên không chỉ là những vụ hành hình do Đảng 3K thực hiện mà là con số tổng hợp của các vụ hành hình được báo cáo. Các số liệu thống kê đã tiết lộ ít nhất là ba sự thực đáng chú ý. Đầu tiên là sự suy giảm rõ rệt các vụ hành hình qua các thời kỳ. Thứ hai là sự không tương quan giữa số vụ hành hình với số thành viên của Đảng 3K: thực tế số người da đen bị hành hình vào giữa các năm 1900 và 1909 – khoảng thời gian mà Đảng 3K ngưng hoạt động – nhiều hơn những năm 1920 khi Đảng 3K đã có tới hàng triệu thành viên. Điều này cho thấy Đảng 3K đã tiến hành ít vụ hành hình hơn rất nhiều so với mọi người thường nghĩ. Thứ ba, so với quy mô dân số da đen thì số vụ hành hình lynsơ là rất nhỏ. Điều chắc chắn là một vụ hành hình cũng đã là quá nhiều. Tuy nhiên vào đầu thế kỷ, các vụ hành hình đã hiếm khi xảy ra (như trước đây từng được coi như vậy). So sánh 281 nạn nhân của các vụ hành hình trong những năm 1920 với số trẻ sơ sinh da đen tử vong do suy dinh dưỡng, viêm phổi, tiêu chảy và những dịch bệnh khác. Trong những năm 1920, cứ 13 trên 100 trẻ sơ sinh da đen tử vong, hay là con số 20.000 trẻ sơ sinh mỗi năm − so với 28 người bị hành hình trong một năm. Vào cuối những năm 1940, có khoảng 10.000 trẻ sơ sinh da đen tử vong mỗi năm.
Còn những sự thật nào khác mà các số liệu này muốn nói tới? Có phải những con số đó muốn nói rằng các vụ hành hình là khá ít và đã giảm đột ngột qua các thời kỳ, thậm chí ngay cả khi bề ngoài số thành viên của Đảng 3K đã phát triển mạnh mẽ?
Sự lý giải thuyết phục nhất là những cuộc hành hình ban đầu đó đã có tác dụng. Những kẻ phân biệt chủng tộc da trắng, dù chúng thuộc Đảng 3K hay không − thông qua những hành động và lối nói hoa mỹ đã làm nảy sinh động cơ cực kỳ rõ ràng và gây khiếp sợ tột độ. Nếu một người da đen vi phạm những luật lệ ứng xử đã được mặc định, dù chỉ là cãi lại tay lái xe người da trắng hay dám cố gắng để giành được quyền bầu cử, anh ta sẽ biết ngay rằng mình có thể bị trừng phạt, thậm chí là bằng cái chết.
Vì vậy, vào giữa những năm 1940 khi Stetson Kennedy gia nhập Đảng 3K thật sự đã không cần phải dùng tới quá nhiều bạo lực. Nhiều người da đen từ lâu đã bị điều khiển phải ứng xử như những công dân hạng hai − hay hạng dưới nữa − đã hoàn toàn đi vào khuôn khổ. Một hoặc hai cuộc hành hình được tiến hành đã làm cho cả loạt người trở nên dễ sai khiến, do con người phản ứng mạnh với những động cơ mạnh. Và một số ít động cơ có tác động mạnh hơn cả nỗi sợ hãi những vụ bạo lực ngẫu nhiên xảy ra − điều đó giải thích tại sao khủng bố lại vô cùng hiệu quả.
Nhưng nếu Đảng 3K của những năm 1940 về hình thức không phải nhóm quá khích, vậy đó là gì? Đảng 3K mà Stetson phát hiện ra thực chất là một nhóm anh em kết nghĩa đáng thương hại, hầu hết bọn họ không được học hành và không có tương lai, họ cần có một chốn để tạm giải thoát − và điều đó lý giải việc bọn họ thường xuyên ở ngoài đường cả đêm. Nhóm người đó đã cùng với nhau cầu nguyện như những tín đồ tôn giáo, cùng tuyên thệ và tụng kinh, coi đó là tất cả những bí mật tối thượng của nhóm và điều đó đã làm cho nhóm trở nên hấp dẫn hơn.
Kennedy cũng phát hiện thấy rằng Đảng 3K là một tổ chức kiếm tiền rất tài tình, ít nhất là đối với những vị trí đứng đầu của tổ chức. Những tên lãnh đạo Đảng 3K có vô số nguồn thu: những khoản nộp từ hàng ngàn hội viên; nhiều chủ doanh nghiệp thuê mướn nhóm người đó để hăm dọa công đoàn hoặc trả tiền bảo kê; Đảng 3K còn tập hợp được nhiều khoản tài trợ lớn; thậm chí kể cả những phi vụ buôn lậu súng và buôn rượu lậu thường xuyên. Và đã có những thủ đoạn làm tiền như Hội Từ thiện bảo hộ cho nạn nhân tử vong của Đảng 3K, hội này đã bán nhiều loại bảo hiểm cho các hội viên Đảng
3K và chỉ chấp nhận tiền mặt hoặc séc cá nhân trả trực tiếp cho tên thủ lĩnh.
Chỉ sau vài tuần thâm nhập vào hàng ngũ Đảng 3K, Kennedy đã hăm hở tìm cách phá hoại chúng bằng bất cứ phương cách nào có thể. Khi ông nghe nói về những kế hoạch của nhóm về một phi vụ hăm dọa công đoàn, ông đã cung cấp thông tin cho một người bạn ở công đoàn đó. Ông cũng chuyển thông tin đó tới vị Phó Trưởng lý của bang Georgia. Sau khi nghiên cứu thể chế tổ chức của Đảng 3K, Kennedy đã gửi khuyến nghị tới chính quyền bang Georgia về những cơ sở để từ đó huỷ bỏ thể chế này: Đảng 3K đã được quy định là tổ chức phi lợi nhuận, phi chính trị, nhưng Kennedy đã có bằng chứng rằng tổ chức đó rõ ràng có mục tiêu lợi nhuận và có động cơ chính trị.
Không có nỗ lực nào của Kennedy mang lại hiệu quả mong muốn. Đảng 3K vững chắc và có nhiều chỗ dựa tới mức Kennedy cảm tưởng như ông đang ném đá vào người khổng lồ. Và kể cả nếu như ông đã có thể loại bỏ được tổ chức này tại Atlanta − khi mà Đảng 3K hiện đang phát triển ở đỉnh cao − vẫn còn có hàng ngàn chân rết của tổ chức trên khắp đất nước không thể động chạm tới được.
Kennedy đã vô cùng chán nản, sự nản chí đã làm nảy sinh trong ông một khoảnh khắc lóe sáng. Một hôm, ông chú ý đến một nhóm trẻ con chơi trò chơi gián điệp và chúng trao đổi với nhau mật khẩu ngộ nghĩnh. Nó làm ông nhớ tới Đảng 3K. Ông đã nghĩ, chẳng tuyệt sao, nếu trao các mật khẩu 3K và các bí mật khác của đảng cho bọn trẻ trên khắp đất nước? Có cách nào tốt hơn để vô hiệu hóa một xã hội ngầm bằng cách biến nó thành trò trẻ con và công khai hóa những thông tin bí mật nhất của nó? (Thật trùng hợp, trong phim Sự ra đời của một quốc gia, một lính li khai đã có cảm hứng lập Đảng 3K khi anh thấy mấy đứa bé da trắng nấp dưới một tấm bạt để hù dọa một đám trẻ da đen).
Kennedy đã nghĩ tới một lối thoát lý tưởng cho nhiệm vụ này: Chương trình The Adventure of Superman − Cuộc Phiêu lưu của Siêu nhân − của đài phát thanh, được phát sóng hàng ngày vào giờ ăn tối tới hàng triệu người nghe khắp cả nước. Ông đã liên lạc với các nhà sản xuất và tìm hiểu xem họ có muốn viết một vài đoạn về
Đảng 3K không. Các nhà sản xuất đã rất nhiệt tình với đề nghị đó. Siêu nhân đã trải qua nhiều năm chiến đấu với Hitler và Mussolini và Hirchito, nhưng chiến tranh đã chấm dứt, họ cần có những nhân vật phản diện thật mới mẻ.
Kennedy bắt đầu cung cấp những thông tin giá trị nhất về Đảng 3K cho các nhà sản xuất phim Siêu nhân. Ông kể cho họ về Mr. Ayak và Mr. Akai, và chuyển tới họ những đoạn văn mang tính chất kích động trong Kinh Thánh của Đảng 3K, được gọi là Kloran. (Kennedy chưa bao giờ hiểu tại sao nhóm vị dân da trắng theo đạo Thiên Chúa lại đặt cho Kinh Thánh của họ một cái tên tương tự như cuốn Kinh của đạo Hồi). Ông đã giải thích vai trò của các thành viên trong Đảng 3K tại hang ổ của chúng ở bất kỳ địa phương nào: Klaliff (phó chủ tịch), Klokard (giảng viên), Kludd (giáo sỹ), Kligrapp (thư ký), Klabee (thủ quỹ), Kladd (chỉ huy), Klarogo (vệ sỹ vòng trong), Klexter (vệ sỹ vòng ngoài), Klokann (một tổ điều tra gồm năm thành viên), Klavaliers (nhóm vũ trang mạnh mà Kennedy là thành viên thuộc hàng ngũ của nhóm này, tên chỉ huy được gọi là Chief Ass Tearer ). Ông cũng cho biết thang bậc của Đảng 3K từ cấp địa phương tới cấp quốc gia: Khổng lồ một mắt cao quý và mười hai tên khủng bố dưới quyền; Người khổng lồ vĩ đại và mười hai Nữ thần hận thù; Quỷ Sa tăng và chín Rắn nhiều đầu; Phù thuỷ ma thuật và mười lăm vị thần linh. Kennedy đã cho các nhà sản xuất biết về các mật khẩu hiện tại, lịch biểu và các câu chuyện trao đổi trong nội bộ chi hội của ông, Nathan Bedford Forrest Klavern số 1, Atlanta, địa hạt Georgia.
Các nhà sản xuất chương trình của đài phát thanh bắt đầu viết các chương trình dài bốn tuần, khi đó chương trình “Siêu nhân” sẽ được thay thế bằng “Đảng 3K”.
Kennedy đã không thể đợi tới buổi họp đầu tiên của Đảng 3K sau khi chương trình được phát sóng. Chắc chắn là băng Đảng 3K đã nổi cơn cuồng nộ. Tên Quỷ Sa tăng đã cố gắng chủ trì cuộc họp như thường lệ nhưng các tướng lĩnh đã hét lên ngăn ông ta nói. “Một ngày khi tôi trở về nhà sau khi xong việc,” một tên trong số bọn chúng đã kể lại, “đứa con tôi và cả những đứa trẻ khác nữa đã quàng khăn quanh cổ chúng như những chiếc áo choàng và những đứa khác quấn áo gối quanh đầu. Những đứa quàng áo choàng
đang đuổi theo những đứa quấn áo gối chạy quanh lô đất. Khi tôi hỏi chúng là chúng đang chơi trò gì, chúng nói chúng đang chơi một trò mới cảnh sát bắt cướp, hay còn gọi là Siêu nhân đánh trả Đảng 3K. Săn bắt cướp, chúng đã gọi như vậy! Chúng đã biết tất cả mật khẩu và mọi thứ của chúng ta. Trong đời này tôi chưa từng bao giờ cảm thấy nực cười đến vậy! Giả sử một ngày con tôi tìm thấy áo choàng của Đảng 3K thì sẽ thế nào?”
Tên Quỷ Sa tăng đã hứa vạch trần kẻ phản bội trong băng đảng của chúng.
“Đã có mầm mống tạo phản”, một tên thành viên của Đảng 3K nói.
“Nghi thức linh thiêng của chúng ta đã bị đám trẻ con trên đài phát thanh làm vấy bẩn!”, tên chỉ huy nói.
“Chúng đã không đưa hết mọi thứ lên sóng”, tên Quỷ Sa tăng an ủi các chiến hữu như vậy.
“Những gì chúng không đưa lên là do chẳng đáng để đưa lên”, tên chỉ huy phản bác lại.
Tên cầm đầu Quỷ Sa tăng đã gợi ý là chúng hãy ngay lập tức thay đổi mật khẩu, từ “nhuốm máu đỏ” thành “cái chết dành cho những kẻ phản bội”.
Sau cuộc họp đêm đó, Kennedy đã gọi điện thông báo mật khẩu mới cho các nhà sản xuất chương trình Siêu nhân và họ đã hứa đưa mật khẩu vào chương trình tiếp theo. Một tuần sau cuộc họp, điểm đăng ký thành viên 3K đã gần như trống vắng; số thành viên đăng ký mới đã tụt xuống con số 0.
Trong số tất cả những ý tưởng mà Kennedy đã nghĩ ra − và tiếp tục nghĩ tới trong tương lai − để chiến đấu chống lại niềm tin mù quáng thì chiến dịch Siêu nhân là khôn ngoan nhất và có thể là có hiệu quả nhất. Nó đã có tác động đúng như ông hy vọng: làm cho tính bí mật của Đảng 3K phản lại chính nó, biến những kiến thức quý báu trở thành vũ khí để chế nhạo. Thay vì dụ dỗ hàng triệu thành viên như chúng đã gây dựng trong một thế hệ ngay trước đó, giờ đây Đảng 3K đã đánh mất vị thế và bắt đầu suy vong. Mặc dù Đảng 3K sẽ không bao giờ bị diệt vong, đặc biệt là ở miền Nam – nơi David Duke, một thủ lĩnh dẻo mỏ đến từ bang Louisiana, từng lên tranh cử vào Thượng viện Mỹ và các chức vụ khác. Trong bộ
phim The Fiery Cross: The Ku Klux Klan in America − Cây Thập tự rực lửa: Đảng 3K tại Mỹ, chuyên gia lịch sử Wyn Craig Wade đã gọi Stetson Kennedy là “một nhân tố đơn lẻ quan trọng nhất trong việc ngăn chặn sự hồi sinh thời hậu chiến của Đảng 3K tại miền Bắc”.
Điều này sẽ không bao giờ xảy ra nếu chỉ bởi vì Kennedy là người dũng cảm, kiên định và không nao núng, dù rằng ông có tất cả những yếu tố đó. Nhưng nó đã xảy ra bởi vì Kennedy hiểu được sức mạnh của thông tin. Đảng 3K là một nhóm những kẻ có sức mạnh − rất giống với các chính trị gia hay người môi giới bất động sản hay những người buôn chứng khoán − xuất phát điểm của họ là thu thập thông tin. Một khi thông tin rơi không đúng người (hay còn tuỳ thuộc vào quan điểm của bạn, là đúng người), lợi thế của tổ chức đã không còn nữa.
Vào cuối những năm 1990, giá bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn đã giảm đột biến. Điều này đặt ra một vấn đề bí ẩn, bởi vì sự suy giảm đó không có nguyên nhân rõ ràng. Các loại bảo hiểm khác, gồm bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm ô tô hay bảo hiểm sở hữu nhà ở, dĩ nhiên đã không bị giảm giá. Cũng không có bất kỳ sự thay đổi cơ bản nào giữa các công ty bảo hiểm, giữa những người buôn bán bảo hiểm, hay những người mua bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn. Vậy điều gì đã xảy ra?
Internet đã xuất hiện. Vào mùa xuân năm 1996, Quotesmith.com đã trở thành một trong số những trang web đầu tiên cho phép khách hàng chỉ trong vài giây có thể so sánh giá bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn do hàng chục các công ty bảo hiểm rao bán. Đối với những trang web đó, bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn là một sản phẩm hoàn hảo. Không giống như những loại hình bảo hiểm khác − gồm có bảo hiểm nhân thọ trọn đời, được coi là công cụ tài chính phức tạp hơn rất nhiều − các loại bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn lại khá đồng đều: loại bảo hiểm được bảo đảm 30 năm có trị giá 1 triệu đô-la về cơ bản giống như bảo hiểm cho thời gian kế tiếp. Do vậy, vấn đề là giá cả. Đi tìm mua bảo hiểm có giá rẻ nhất, một việc lòng vòng và mất thời gian, bỗng trở nên đơn giản. Với khách hàng, có thể ngay lập tức họ tìm thấy bảo hiểm giá rẻ nhất, khi đó các công ty có giá đắt hơn không có lựa chọn nào khác là phải giảm giá. Bỗng nhiên các
khách hàng giảm được hơn 1 tỷ đô-la cho bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn.
Cần lưu ý rằng những trang web này chỉ niêm yết giá; trên đó không rao bán bảo hiểm. Vì vậy, thật sự không hẳn là các trang web đang rao bán bảo hiểm. Giống như Stetson Kennedy, các trang web đang mua bán thông tin. (Nếu Internet xuất hiện từ khi Kennedy thu thập thông tin của Đảng 3K, ông ta hẳn là đã phóng vội về nhà sau mỗi cuộc họp và đăng tải lên mạng thông tin ông ấy vừa được biết ngay lập tức). Chắc chắn là có nhiều sự khác biệt giữa việc vạch trần băng Đảng 3K và phơi trần các công ty bảo hiểm bán giá cao. Đảng 3K nắm giữ thông tin mật mà tính bí mật của nó đã gây sự sợ hãi, trong khi đó các loại giá bảo hiểm ít mang tính bí mật hơn mà chỉ như những thông tin được phân phối theo cách thức khiến khó có thể có sự so sánh. Nhưng trong cả hai trường hợp, cách thức phổ biến thông tin đã làm giảm sức mạnh của thông tin. Như vị Chánh án Toà án tối cao Louis D.Brabdeis từng viết, “ánh sáng mặt trời được coi là chất tẩy uế hữu hiệu nhất”.
Thông tin có giá trị như thế nào còn tuỳ thuộc vào đối tượng và cách thức nắm giữ thông tin. Thông tin mạnh tới mức thông tin giả định, ngay cả nếu như thông tin đó thật sự là không tồn tại, cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Hãy xem xét trường hợp của chiếc ô tô sau một ngày xuất bán.
Ngày chiếc ô tô được xuất bán là ngày tồi tệ nhất của nó, bởi vì ngay lập tức nó đã mất đi một phần tư giá trị. Điều này có vẻ như vô lý, nhưng chúng ta đều biết đó là sự thật. Một chiếc ô tô được mua với giá 20.000 đô-la không thể bán lại ngay với giá cao hơn 15.000 đô-la. Tại sao? Bởi vì chỉ người nào muốn bán lại một chiếc ô tô mới toanh mới là người biết chiếc ô tô đó là thứ không đáng xài. Vì vậy nếu ngay cả khi chiếc ô tô đó chẳng đến nỗi nào thì khách hàng tiềm năng nào đó cũng sẽ giả định như vậy. Anh ta sẽ cho rằng người bán có những thông tin về chiếc ô tô mà anh ta, là khách hàng, không có những thông tin đó − và người bán đã phải chịu thiệt vì những thông tin giả định đó.
Và nếu như chiếc ô tô đó là thứ vô dụng? Tốt hơn hết, người bán nên đợi hết một năm sau rồi hãy bán. Và khi đó, sự nghi ngờ về tính vô dụng sẽ phai nhạt dần; khi đó, một số người sẽ bán những chiếc
ô tô mới sử dụng một năm vẫn còn tốt gần như trăm phần trăm, những đặc điểm vô dụng sẽ ẩn trong chúng và hoàn toàn có thể bán chúng với giá cao hơn là giá trị thực sự.
Bao giờ trong một giao dịch cũng có một bên nắm thông tin chính xác hơn bên kia. Theo cách nói của các nhà kinh tế học, những trường hợp như vậy được coi là trường hợp thông tin bất đối xứng. Chúng ta chấp nhận (như một chân lý của chủ nghĩa tư bản) rằng một ai đó (thông thường là một chuyên gia) biết nhiều hơn một ai đó khác (thường là một khách hàng). Nhưng trên thực tế, tình trạng thông tin thiếu đồng nhất ở khắp mọi nơi đã bị Internet phá vỡ.
Thông tin chính là tài sản của Internet. Được coi như trung gian, Internet thật sự hiệu quả khi truyền thông tin từ những người nắm giữ nó tới những người không có nó. Thông thường, như trường hợp của các loại giá bảo hiểm nhân thọ có thời hạn, thông tin tồn tại nhưng lại bị phân tán. Cũng như Stetson Kennedy đã đạt được thứ mà không một nhà báo, một nhà cải cách, hay một công tố viên có thể làm được, Internet đã có được thứ mà không một nhà bảo vệ quyền lợi khách hàng nào có thể làm được: nó đã rút ngắn khoảng cách giữa các chuyên gia và công chúng rất nhiều.
Internet đã được chứng minh là có hiệu quả đặc biệt đối với những tình huống mà việc đối mặt với chuyên gia thực chất đã làm trầm trọng thêm vấn đề thông tin bất tương xứng – đó là những tình huống mà các chuyên gia sử dụng lợi thế về thông tin của mình để làm cho chúng ta cảm thấy mình hoặc là ngốc nghếch, hoặc là vô dụng, hoặc là rẻ rúng hay hèn mọn. Hãy tưởng tượng cảnh một người thân của bạn vừa qua đời và lúc này người phụ trách tang lễ biết được rằng bạn không biết gì về việc làm ăn của ông ta và bạn đang trong tình thế cần tới ông ta, khi đó ông ta sẽ mời chào bạn mua chiếc quan tài gỗ gụ với giá 7.000 đô-la. Hay xem xét trường hợp mua bán ô tô: người bán đã cố hết sức để làm lu mờ giá thực của chiếc xe với hàng núi những giá trị cộng thêm và ưu đãi. Tuy nhiên, sau khi trở về nhà bình tĩnh suy xét lại, bạn có thể sử dụng Internet để tìm được chính xác giá tiền mà hãng buôn phải trả cho nhà sản xuất chiếc xe đó. Hoặc bạn có thể truy cập vào trang web www.TributeDirect.com và tự mua chiếc quan tài đó chỉ với giá 3.200 đô-la, có thể giao ngay sau một đêm. Trừ khi bạn đã quyết định chi
2.995 đô-la cho chiếc quan tài được đặt tên “Chốn an nghỉ cuối cùng” (chiếc quan tài dát vàng) hay chiếc “Ký ức cuộc đi săn”, hay một trong những loại rẻ hơn nhiều mà người phụ trách tang lễ đã không thể giới thiệu được.
Internet với sức mạnh của nó cũng khó có thể đánh bại kẻ thù là thông tin bất đối xứng. Hãy xem xét những vụ bê bối của các công ty vào đầu những năm 1920. Những vụ vi phạm của Enron gồm giấu giếm đối tác, che đậy các khoản nợ , và thao túng các thị trường năng lượng. Henry Blodget của Hãng Merrill Lynch và Jack Grubman của Hãng Salomon Smith Barney đã viết những bản báo cáo nghiên cứu sinh động của các công ty mà họ biết là đã vô giá trị. Fank Quatttone của Hãng Credit Suisse First Boston đã tiến hành một cuộc điều tra về cách thức mà công ty của anh này đã giành hết các cổ phiếu phổ thông đầu tiên khi rất đắt hàng. Sam Waksal đã bán hạ giá cổ phần ImClone của mình khi anh ta có được những thông tin đầu tiên về bản báo cáo hủy bỏ từ cấp quản lý Thực phẩm và Dược phẩm; cô bạn của anh ta Martha Steward cũng đã bán hạ giá cổ phiếu của cô, sau đó đã bịa ra lý do Hãng WorldCom và Global Crossing đã khai khống hàng tỷ đô-la doanh thu để nâng giá cổ phiếu của họ. Một nhóm các công ty có quỹ chung đã dành cho khách hàng ưu đãi mua với giá ưu đãi và những khách hàng đã phải gánh chịu những khoản phí quản lý ngầm ẩn.
Dù có muôn hình vạn trạng nhưng những loại tội phạm này đều có chung một đặc điểm: họ đều lạm dụng thông tin để trục lợi cá nhân một cách phạm pháp. Hầu hết các vụ việc đều liên quan tới một chuyên gia, hay một nhóm chuyên gia, tuyên truyền thông tin giả hoặc che giấu thông tin đúng; trong mỗi trường hợp, các chuyên gia đều cố giữ thông tin để càng có lợi càng tốt.
Những người thực hiện hành vi như vậy, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính cấp cao, đã không ngại ngần đưa ra lời biện hộ: “Những người khác cũng làm như vậy”. Điều này hầu như đúng hoàn toàn. Một đặc điểm của những tội phạm thông tin là rất ít người bị phát hiện. Không giống như tội phạm đường phố, họ không để lại phía sau một thi hài hay cánh cửa bị vỡ. Không giống như tội ăn gian bánh vòng − nghĩa là ai đó ăn một chiếc bánh của Paul Fedman nhưng không trả tiền − tội phạm thông tin không có ai đó như
Feldman đánh dấu từng hộp một. Tội phạm thông tin chỉ lộ diện khi một sự việc nghiêm trọng nào đó sẽ phải xảy ra. Khi nó xảy ra, kết quả thường được bộc lộ. Những người vi phạm thực ra đều không nghĩ tới hành động của họ có thể bị đưa ra trước công luận. Hãy xem xét những băng ghi âm của Hãng Enron, bí mật ghi lại cuộc trao đổi của các nhân viên của hãng đã bị công bố sau khi công ty phát giác. Trong suốt cuộc điện thoại ngày 5 tháng Tám năm 2000, hai nhân viên kinh doanh nói chuyện với nhau về một loại chất cháy ở California có thể làm kích giá điện tăng lên. “Từ yêu thuật của ngày hôm nay”, một người nói, “đó là Burn, Baby, Burn”. Một vài tháng sau, Kevin và Tom đã bàn luận về vụ các nhà chức trách California muốn buộc Hãng Enron hoàn trả lại phần lợi nhuận từ phi vụ gian lận giá của hãng.
KEVIN: Bọn họ muốn lấy lại tất cả tiền từ các anh hả? Tất cả số tiền mà các anh đã lấy đi của những bà cụ nghèo khổ ở California? TOM: Đúng thế, là bà cụ Millie.
Nếu bạn cho rằng có nhiều chuyên gia sử dụng thông tin của họ để gây thiệt hại cho bạn thì bạn đã đúng. Nhiều chuyên gia đã dựa trên thực tế là bạn không có thông tin như họ có, hoặc bạn quá mù mờ về những nghiệp vụ phức tạp của họ đến nỗi không biết làm gì với thông tin (giả dụ nếu như bạn có thông tin), hoặc bạn quá lo sợ trước chuyên môn của họ và không dám thử thách họ. Nếu bác sỹ của bạn khuyên bạn cần phải được thông mạch vòng tim − ngay cả khi một vài cuộc nghiên cứu gần đây đã cho thấy phương pháp này không giúp ngăn ngừa những cơn đau tim một cách hiệu quả − thì bạn sẽ khó có thể nghĩ rằng vị bác sỹ đó đang sử dụng thông tin của mình để kiếm chác vài ngàn đô-la cho ông ta hay cho người tình. Nhưng cũng như David Hillis, một bác sỹ chuyên khoa tim mạch Trung tâm Y khoa thuộc trường Đại học Texas Southwestern ở Dallas, đã giải thích trên tờ New York Times, một vị bác sỹ có thể có những động cơ kinh tế giống như một nhân viên kinh doanh ô tô, hay người phụ trách tang lễ, hay nhà quản lý quỹ chung: “Nếu bạn là ông bác sỹ tim mạch khám tư và Joe Smith là bác sỹ nội khoa địa phương chuyển tới cho bạn các bệnh nhân, và nếu bạn không bảo họ cần áp dụng liệu pháp trên thì sớm hay muộn Joe Smith sẽ không giới thiệu bệnh nhân cho bạn nữa”.
Nắm trong tay thông tin, các chuyên gia có thể tạo ra một lực đòn bẩy phi thường: nỗi sợ hãi. Nỗi lo sợ rằng những đứa con của bạn có thể sẽ thấy bạn chết lịm trên sàn nhà giữa phòng tắm do cơn đau tim nếu bạn không áp dụng liệu pháp phẫu thuật thông mạch vòng tim. Nỗi lo sợ rằng một chiếc quan tài rẻ tiền sẽ làm cho mẹ của bạn phải hứng chịu số phận nghiệt ngã dưới lòng đất. Nỗi lo sợ rằng chiếc ô tô đáng giá 25.000 đô-la sẽ tan tành như một thứ đồ chơi khi bị tai nạn, trong khi một chiếc xe ô tô đáng giá 50.000 đô-la sẽ bao bọc những người thân yêu của bạn bằng một lớp thép bền chắc. Nỗi lo sợ do các chuyên gia con buôn tạo ra có thể không như nỗi sợ hãi do bọn khủng bố như Đảng 3K gây ra, nhưng cơ bản là giống nhau.
Hãy xem xét một giao dịch mà dường như bề ngoài không có lý gì tạo nên sự sợ hãi: đó là việc bán căn nhà của bạn. Sao phải lo sợ về việc này? Việc bán một ngôi nhà quả là một giao dịch tài chính lớn nhất trong cuộc đời, bạn có thể ít kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản, và thực sự gắn bó nhiều tình cảm sâu sắc với ngôi nhà. Bên cạnh đó, còn có ít nhất hai nỗi lo sợ đầy sức ép: một là bạn sẽ bán ngôi nhà đó với giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực và hai là bạn không bán được ngôi nhà đó.
Trong trường hợp đầu tiên, bạn sợ rằng sẽ ấn định mức giá quá thấp; trong trường hợp thứ hai, bạn sợ ấn định mức giá quá cao. Dĩ nhiên công việc của người môi giới bất động sản chính là cần tìm ra cách thức hợp lý nhất. Người môi giới đó là người có tất cả mọi thông tin: tình trạng tồn đọng của các ngôi nhà tương tự, những xu hướng mua bán gần đây, sự biến động của thị trường tài sản thế chấp, có lẽ thậm chí cả về khách hàng quan tâm. Bạn cảm thấy may mắn khi có được một chuyên gia hiểu biết như vậy, như một đồng minh của bạn trong sự vụ đầy khó khăn này.
Thật tệ khi những người môi giới bất động sản lại nhìn nhận sự việc hoàn toàn khác. Người môi giới có lẽ coi bạn không như một đồng minh mà như một mục tiêu. Hãy xem lại bản nghiên cứu được đề cập từ đầu cuốn sách, nghiên cứu này đánh giá sự khác nhau giữa các mức giá bán những ngôi nhà thuộc sở hữu của chính những người môi giới và các ngôi nhà họ nhận bán cho khách hàng. Nghiên cứu cho thấy người môi giới giữ ngôi nhà của họ trên thị thường trung bình thêm mười ngày, chờ đợi một mức giá trả cao
hơn và bán nó cao hơn 3% so với ngôi nhà của bạn − hay là 10.000 đô-la cho căn nhà trị giá 300.000 đô-la. Đó là 10.000 đô-la sẽ rơi vào túi người môi giới chứ không phải túi bạn và khoản lợi nhuận “sộp” đó có được là nhờ việc lạm dụng thông tin và sự am hiểu về động cơ. Vấn đề chính là người môi giới thực tế chỉ nhận thêm được một khoản 150 đô-la khi bán ngôi nhà của bạn với giá trị tăng thêm 10.000 đô-la, đó không phải là khoản tiền hấp dẫn khi phải làm thêm rất nhiều việc. Vì vậy, công việc của người môi giới là thuyết phục bạn rằng mức giá được trả 300.000 đô-la thực ra đã là một mức giá hấp dẫn, thập chí là rất rộng rãi và chỉ có kẻ ngốc mới từ chối mức giá đó.
Đây có thể là một thủ thuật. Người môi giới đó không muốn nói thẳng ra và gọi bạn là đồ ngốc. Vì vậy, họ chỉ ngụ ý mà thôi − có lẽ bằng cách kể cho bạn về một ngôi nhà mới hơn, đẹp hơn và to hơn nhiều ở đằng xuôi xuống khu nhà nhưng đã không bán được từ sáu tháng nay. Đây là vũ khí trọng yếu của người môi giới: đối thoại nhằm gây nỗi lo sợ. Xem xét câu chuyện có thực này, có liên quan tới John Donohue, một giáo sư luật giảng dạy tại Đại học Stanford vào năm 2001: “Tôi đã định mua một ngôi nhà trong khu Stanford”, ông nhớ lại, “và người môi giới bên bán cứ liên tục nói với tôi rằng đó là giá hời vì thị trường tiêu chuẩn sẽ bị tăng đột ngột. Sau khi tôi ký bản hợp đồng mua nhà, anh ta hỏi tôi có muốn người môi giới bán ngôi nhà Stanford trước không. Tôi nói với anh ta rằng có thể tôi sẽ thử bán mà không cần qua người môi giới và anh ta đã đáp lại “Ông John ạ, việc này có thể thực hiện theo điều kiện thông thường, nhưng với thị trường đang nóng lên như hiện nay, ông thật sự cần đến sự giúp đỡ của một bên môi giới”.
Chỉ trong vòng năm phút, thị trường đã nóng lên. Đó chính là phép lạ mà chỉ có thể do người môi giới thực hiện nhằm tìm kiếm những phi vụ tiếp theo.
Bây giờ hãy xem một câu chuyện có thực khác về việc lạm dụng thông tin của chuyên gia môi giới bất động sản. Câu chuyện có liên quan tới K, một người bạn thân của tác giả cuốn sách này. K muốn mua một ngôi nhà được niêm yết với giá 469.000 đô-la và đã chuẩn bị tinh thần để trả mức giá là 450.000 đô-la. Nhưng trước tiên, anh ta gọi cho bên người môi giới và bảo họ đưa ra mức giá thấp nhất
mà họ nghĩ người chủ nhà có thể chấp nhận. Người môi giới ngay lập tức trách K: “Anh phải thấy hổ thẹn chứ,” người môi giới nói, “điều đó rõ ràng đã xúc phạm đạo đức nghề nghiệp của giới bất động sản.”
K đã xin lỗi. Và cuộc trao đổi đã ngả theo hướng khác, đi vào những vấn đề thực tế hơn. Sau mười phút, cuộc trao đổi đã kết thúc và người môi giới đã nói với K, “Để tôi nói với anh điều cuối cùng. Khách hàng của tôi sẵn lòng bán ngôi nhà này với giá thấp hơn nhiều so với mức giá anh nghĩ”.
Dựa trên cuộc trao đổi đó, sau này K. đã trả mức giá 425.000 đô la cho ngôi nhà thay vì là 450.000 đô-la là mức giá anh đã định trả. Cuối cùng, người bán nhà đã chấp nhận giá 430.000 đô-la. Nhờ có sự can thiệp của người môi giới, người bán đã mất ít nhất là 20.000 đô-la. Trong khi đó, bên mua chỉ mất 300 đô-la − một khoản tiền nhỏ phải trả để đảm bảo rằng người môi giới đó nhanh chóng và dễ dàng khóa lại vụ mua bán để thu về một khoản hoa hồng 6.450 đô la.
Do vậy, phần chủ yếu trong công việc môi giới bất động sản chính là thuyết phục chủ nhà bán với giá thấp hơn mức họ mong muốn trong khi cùng lúc cho những người có khả năng mua nhà đó biết rằng họ có thể được mua với giá thấp hơn mức niêm yết. Chắc chắn là có nhiều cách tinh vi để thực hiện hơn là nói thẳng với bên mua để trả giá thấp hơn. Nghiên cứu về những người môi giới bất động sản, như đề cập ở trên, cũng gồm các dữ liệu cho biết cách mà họ truyền tải thông tin thông qua những mẩu quảng cáo mà họ đã soạn. Một cụm từ, ví dụ như “được bảo trì tốt” cũng có ý nghĩa đầy đủ đối với một người môi giới như cụm từ “Mr. Ayak” có ý nghĩa đối với thành viên Đảng 3K; nó có nghĩa là một ngôi nhà cũ kỹ nhưng chưa quá xập xệ. Một người mua hiểu biết sẽ biết điều này (hoặc tự hiểu ra khi trông thấy ngôi nhà) nhưng với một người già hưu trí 65 tuổi là người bán ngôi nhà, cụm từ “được bảo trì tốt” nghe có vẻ như là một lời khen ngợi, đó chính là những gì mà người môi giới mong muốn.
Một phân tích về ngôn ngữ được dùng trong các mẩu quảng cáo nhà đất đã cho thấy có những từ nhất định có ảnh hưởng mật thiết tới giá bán cuối cùng của một ngôi nhà. Điều này không nhất thiết có
nghĩa là khi gán cho một ngôi nhà “được bảo trì tốt” thì sẽ làm cho giá bán nhà đó thấp hơn so với các ngôi nhà tương tự. Tuy nhiên, quả thật có thể thấy khi một người môi giới bất động sản gán cho ngôi nhà là “được bảo trì tốt”, nghĩa là người đó đã khôn khéo ngầm ý với bên mua hãy trả giá thấp hơn.
Phần dưới đây liệt kê mười thuật ngữ thường được sử dụng trong các quảng cáo nhà đất. Năm từ trong số đó có mối tương quan tích cực và mạnh mẽ tới giá mua bán cuối cùng. Hãy đoán đâu là những từ đó.
Mười thuật ngữ quảng cáo bất động sản phổ biến nhất Tuyệt vời
Đá Granite
Rộng rãi
Hợp thời
!
Kiểu Corian
Xinh xắn
Gỗ thích
Hàng xóm tốt bụng
Sành điệu
Một ngôi nhà “tuyệt vời” có chắc là đủ tuyệt vời để có thể đảm bảo một mức giá cao không? Thế còn một ngôi nhà “xinh xắn” và “rộng rãi” với “hàng xóm tốt bụng”? Sẽ là không, không và không. Đây là phần phân chia:
Năm thuật ngữ tương quan với giá mua bán cao
Đá Granite
Hợp thời
Corian
Gỗ thích
Sành điệu
Năm thuật ngữ tương quan với giá mua bán thấp hơn Tuyệt vời
Rộng rãi
!
Xinh xắn
Hàng xóm tốt bụng
Ba trong số năm thuật ngữ tương quan với giá mua bán cao là những từ ngữ mô tả ngôi nhà theo nghĩa vật lý: đá Granite, kiểu Corian và gỗ thích. Giống như thông tin truyền tải , những thuật ngữ này thật cụ thể và rõ ràng − và do vậy, rất hữu dụng. Nếu thích đá Granite, bạn cũng có thể sẽ thích ngôi nhà; nhưng thậm chí nếu không thích, “Granite” chắc chắn không có nghĩa là không thể thay đổi được. Cũng như vậy đối với từ “sành điệu” và “hợp thời”, cả hai từ đó dường như đã cho khách mua hiểu rằng ngôi nhà này ở mức độ nào đó là thật sự tuyệt vời.
Trong khi đó từ “tuyệt vời” lại là một tính từ không rõ nghĩa, vô cùng nguy hiểm, cũng như từ “xinh xắn”. Cả hai từ này dường như là mật mã của người môi giới bất động sản đối với một ngôi nhà mà không có nhiều thứ đáng để mô tả. Trong khi đó những ngôi nhà “rộng rãi” thường là nhà hư nát và không thiết thực. Từ ngữ “hàng xóm tốt bụng” sẽ làm cho khách mua nghĩ là: Ôi trời, ngôi nhà này không được lắm nhưng những nhà gần đó lại có thể còn được hơn. Và những ta thán về một quảng cáo bất động sản chắc chắn là một thông tin xấu.
Trong khi đó, nếu nghiên cứu những từ ngữ trong mẩu quảng cáo một ngôi nhà của chính nhà môi giới, bạn sẽ thấy rằng người đó thật sự đã nhấn mạnh vào các từ ngữ biểu cảm (đặc biệt như “mới”, “Granite”, “gỗ thích” và “dọn đến ở ngay”) và tránh những tính từ không rõ nghĩa (gồm từ “tuyệt vời”, “không khiếm khuyết” và dấu chấm than (!). Sau đó, họ kiên nhẫn chờ tới khi có khách mua trả giá tốt nhất tìm đến. Người môi giới có thể nói với khách mua về một ngôi nhà gần đó mà hiện nay đang trong tình trạng giá cả tranh cãi. Người môi giới rất cẩn thận dùng thường xuyên những lợi thế về thông tin bất đối xứng mà họ ưa thích.
Nhưng giống như người phụ trách tang lễ và nhân viên kinh doanh ô tô, công ty bảo hiểm, nhà môi giới bất động sản cũng nhận thấy thế mạnh của mình bị Internet xâm hại. Rốt cuộc là bất kỳ ai muốn bán nhà giờ đây có thể lên mạng trực tuyến và thu thập thông tin về xu hướng mua bán và nhà cửa rao bán cũng như tỷ lệ thế chấp. Thông tin được đưa lên rộng rãi. Và các dữ liệu mua bán gần đây cho biết kết quả: Những người môi giới bất động sản vẫn áp giá cao hơn đối với ngôi nhà của họ so với nhà của khách hàng, nhưng
do sự phát triển của các website bất động sản, khoảng cách giữa hai mức giá đã rút lại tới một phần ba.
Có vẻ như hơi khờ khạo khi cho rằng chỉ có các chuyên gia hay đại lý mới lạm dụng thông tin để trục lợi. Các đại lý hay chuyên gia thì cũng đều là con người cả − điều này cho thấy rằng mọi người đều có khả năng lạm dụng thông tin trong cuộc sống, bằng cách giấu giếm thông tin thực hay sửa đổi thông tin đã lựa chọn để truyền đi. Một người môi giới bất động sản có thể ra dấu và gật đầu khi mô tả về một ngôi nhà “được bảo trì tốt”, nhưng mỗi chúng ta đều có thể nhận biết được điều đó nếu quan sát cẩn thận.
Hãy nghĩ về cách bạn tự miêu tả về mình trong một buổi phỏng vấn và cách bạn có thể miêu tả bản thân trong cuộc hẹn hò đầu tiên. (Thậm chí còn ngộ nghĩnh hơn khi so sánh cuộc trò chuyện trong lần hẹn đầu tiên với một cuộc trò chuyện vẫn với người đó sau mười năm kết hôn). Hoặc hình dung về cách bạn tự thể hiện mình trong lần đầu tiên xuất hiện trên đài truyền hình trung ương. Kiểu hình ảnh nào mà bạn muốn hướng đến? Có lẽ bạn muốn mình có vẻ thông minh, tử tế, hay dễ coi; đương nhiên bạn không muốn bị coi là dữ dằn hay mù quáng. Trong suốt thời kỳ hoàng kim của Đảng 3K, các thành viên của đảng này đã rất tự hào khi công khai miệt thị bất kỳ ai không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo da trắng bảo thủ. Nhưng niềm tin mù quáng của công chúng đã giảm đi nhiều. (Stetson Kennedy, nay đã 88 tuổi, cho rằng sự tiến triển này một phần là do chiến dịch “Frown Power” đã lâu của ông). Ngày nay, những cách phô trương niềm tin mù quáng nếu đưa ra công khai sẽ cực kỳ tốn kém. Trent Lott, cựu chủ tịch thượng viện Mỹ, đã hiểu được điều này vào năm 2002, sau khi cụng ly chúc mừng tại bữa tiệc sinh nhật một trăm tuổi của Strom Thurmond, cùng là Thượng nghị sỹ và dân miền Nam với ông ta. Lott đã mô tả chiến dịch bầu cử tổng thống năm 1948 của Thurmond là cuộc bầu cử được hình thành từ sự chia tách( Mississippi − bang quê nhà của Lott − là một trong số chỉ bốn bang mà Thurmond giành được sự ủng hộ). “Chúng tôi tự hào về điều đó”, Lott đã phát biểu trước những nhân vật dự tiệc. “Và nếu như phần còn lại của đất nước hướng theo sự lãnh đạo của chúng tôi, chúng tôi sẽ không để tồn tại tất cả những bất cập này”. Điều đó
muốn ngụ ý rằng Lott là người ủng hộ sự chia tách được hình thành từ nỗi tức giận khi bị buộc rút khỏi vị trí Thượng nghị sỹ. Thậm chí nếu là một công dân bình thường, bạn chắc chắn sẽ không muốn có vẻ như mù quáng khi xuất hiện trước công chúng. Liệu có cách nào để kiểm tra sự phân biệt chủng tộc khi đứng trước công chúng?
Chương trình trò chơi truyền hình The Weakest Link đã tạo ra một sân chơi độc đáo để kiểm nghiệm về nạn phân biệt chủng tộc. Là chương trình du nhập từ Vương quốc Anh, trong một thời gian ngắn The Weakest Link đã trở nên phổ biến rộng khắp nước Mỹ. Trò chơi gồm có tám người dự thi (phiên bản sau này là sáu người), mỗi người sẽ trả lời những câu hỏi tầm phào và thi đấu với nhau để giành một khoản tiền thưởng. Nhưng người chơi nào trả lời đúng được nhiều câu hỏi nhất không nhất thiết là người dẫn trước vì sau mỗi vòng thi, mỗi người dự thi sẽ bỏ phiếu để loại bỏ một đối thủ. Tuy nhiên, khả năng trả lời câu hỏi của người chơi có lẽ là nhân tố quan trọng nhất để xem xét; chủng tộc, giới tính và tuổi tác dường như không phải là vấn đề. Nhưng có thực họ đã làm vậy? Bằng cách đánh giá số phiếu bầu thực tế của một người chơi đối với một đối thủ mà thật sự có lợi cho anh ta nhất, thì có thể nói rằng sự phân biệt chủng tộc không có trong trò chơi.
Chiến thuật bỏ phiếu bầu chọn thay đổi khi trò chơi tiếp diễn. Trong một vài vòng đầu tiên, việc loại bỏ những người chơi không tốt mang nhiều ý nghĩa vì khoản tiền chỉ tăng lên khi trả lời đúng được những câu hỏi. Trong các vòng sau, những động cơ chiến thuật đã thế chỗ. Giá trị của khoản tiền thưởng giờ đây đã có tác dụng nhiều hơn tới mong muốn giành được khoản tiền thưởng của người chơi. Cuộc chơi sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu bạn loại bỏ những đối thủ xuất sắc khác. Tóm lại là người chơi điển hình sẽ bầu chọn để loại bỏ người chơi kém hơn trong những vòng đầu và loại bỏ người chơi tốt hơn ở những vòng sau.
Điều then chốt khi đánh giá dữ liệu bầu chọn của Weakest Link là phân tách khả năng chơi của người dự thi với chủng tộc, giới tính và tuổi tác của họ. Nếu một thanh niên da đen trả lời được đúng nhiều câu hỏi nhưng bị bầu loại sớm, khi đó dường như sự phân biệt là một nhân tố. Nếu một người phụ nữ da trắng không trả lời
đúng câu hỏi nào nhưng vẫn tiếp tục được chơi, thì khi đó có thể đã tồn tại sự thiên vị mang tính phân biệt chủng tộc trong cuộc chơi. Một lần nữa cần nhớ rằng tất cả những gì diễn ra đều được thu vào máy quay. Người dự thi biết rằng bạn bè, gia đình và cả đồng nghiệp của anh ta đang theo dõi chương trình. Vậy ai đã bị phân biệt trong The Weakest Link?
Thực ra không phải là người da đen. Một bản phân tích hơn 160 lượt chơi đã phát hiện rằng những người dự thi da đen, ở cả những vòng đầu và vòng sau, đều bị loại bỏ với tỷ lệ tương ứng với khả năng trả lời câu hỏi của họ. Điều tương tự cũng đúng với những thí sinh nữ. Theo cách nào đó thì cả hai phát hiện trên đều không có gì quá bất ngờ. Hai trong số những phong trào xã hội có sức thuyết phục nhất của nửa sau thế kỷ là phong trào đòi quyền công dân và thủ tiêu sự phân biệt đối với người da đen và phụ nữ.
Do vậy, có lẽ bạn sẽ trở nên không hợp thời nếu phân biệt một nhóm người nào đó trước đám đông. Chỉ những kẻ vô cảm nhất mới có thể bầu loại những người có trí thông minh trên trung bình trong một chương trình truyền hình. Điều này không có nghĩa là sự phân biệt đã chấm dứt − chỉ là do nó bị ngăn bởi một động cơ khác.
Làm thế nào để xác định nếu không nhận thấy sự phân biệt đối với phụ nữ và người da đen? Liệu có phải điều đó thể hiện nạn phân biệt không còn tồn tại trong trò chơi The Weakest Link? Câu trả lời có thể được tìm ra khi nhìn vào các nhóm người khác cũng không được xã hội bảo vệ. Quả thật, dữ liệu bầu chọn của chương trình The Weakest Link đã chỉ ra rằng hiện có hai loại đối tượng dự thi luôn bị phân biệt: đó là người cao tuổi và người lai gốc Tây Ban Nha.
Giới kinh tế học cho rằng có hai giả thuyết về sự phân biệt đang chiếm ưu thế. Điều thú vị là những người cao tuổi dự thi The Weakest Link dường như đang phải chịu đựng một trong hai giả thuyết đó, và nhóm người lai gốc Tây Ban Nha phải chịu đựng cái còn lại. Giả thuyết đầu tiên được gọi là phân biệt dựa trên cảm tính, có nghĩa là một người có sự phân biệt đơn giản là do anh ta không thích giao tiếp với những người khác độ tuổi. Còn loại thứ hai, được biết tới là phân biệt dựa trên thông tin, nghĩa là một người tin rằng
nhóm người kia có kỹ năng kém hơn và do vậy thường hành động ngu xuẩn.
Trong chương trình The Weakest Link, nhóm người lai gốc Tây Ban Nha phải chịu sự phân biệt dựa trên thông tin. Những người dự thi khác dường như coi nhóm người lai gốc Tây Ban Nha là những người chơi kém cỏi, kể cả khi họ không phải như vậy. Quan niệm này đã làm cho nhóm người lai gốc Tây Ban Nha sớm bị loại ngay từ những vòng đầu kể cả khi họ đã thi rất tốt và không bị loại trong những vòng sau vì những người dự thi khác muốn giữ nhóm người lai gốc Tây Ban Nha lại để làm giảm tốc độ thi đấu.
Trong khi đó, những người chơi cao tuổi là nạn nhân của sự phân biệt dựa trên cảm tính: trong những vòng đầu và những vòng sau, kết quả của họ khi bị loại khỏi cuộc chơi không tương xứng với kỹ năng của họ. Có vẻ như những người dự thi khác đơn giản là không muốn thi đấu với người cao tuổi − đây là sân chơi trong đó độ tuổi trung bình của người chơi là 34 tuổi.
Có thể những người tham gia chương trình The Weakest Link không nhận thức được sự phân biệt của mình đối với nhóm người lai gốc Tây Ban Nha và những người cao tuổi. Rốt cuộc là họ bị căng thẳng khi buộc phải vui vẻ chơi một trò chơi dịch chuyển nhanh dưới ánh đèn truyền hình chói lòa. Hoàn toàn tự nhiên khi điều này sẽ gợi lên một câu hỏi khác: Làm cách nào mà một người vừa có thể bộc lộ sở thích vừa có thể che giấu thông tin bản thân? Trong một năm, hơn 40 triệu người Mỹ đã trao đổi thông tin thực về mình với những người hoàn toàn xa lạ. Tất cả đều có trên các trang web hẹn hò trên Internet. Một số trang web như Match.com, eHarmony.com và Yahoo Singles, đã thu hút lượng thành viên rộng khắp. Một số trang web khác cung cấp nhiều sở thích cụ thể hơn: Christian Singles.com, Jdate.com, LatinMatcher.com BlackSingles Connection.com, Country Western Singles.com, USMilitary Singles.com, Plus Size Singles.com và Gay.com. Các trang web hò hẹn là ngành kinh doanh dựa trên hội phí thành công nhất trên Internet.
Mỗi trang web có phương thức hoạt động khác nhau, nhưng vấn đề chính là đây: Bạn soạn một mẩu quảng cáo giới thiệu về cá nhân và thông thường có kèm ảnh, những con số thống kê trọng yếu,