🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Hành Trình Chữ Viết Ebooks Nhóm Zalo Thông tin sách Tên sách: Hành trình chữ viết Tác giả: Lê Minh Quốc Nhà xuất bản: NXB Trẻ Khối lượng: 300g Kích thước: 14x20 cm Ngày phát hành: 8/2002 Số trang: 149 Thể loại: Thể loại khác Thông tin ebook Type+Làm ebook: thanhbt Ngày hoàn thành: 28/05/2015 Dự án ebook #131 thuộc Tủ sách BOOKBT Ebook này được thực hiện nhằm chia sẻ cho những bạn không có điều kiện mua sách! Còn nếu bạn có khả năng hãy mua sách ủng hộ nha! Giới thiệu Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com Chữ viết đến với chúng ta xuyên qua hàng ngàn năm của cuộc hành trình vĩ đại của nhân loại, để kể với chúng ta về con người trong quá khứ. Nhân loại đã trải qua một con đường dài - từ ngày muốn thông tin với nhau còn phải dùng ngôn ngữ của điệu bộ hoặc vẽ hình ảnh... Ngày nay, hàng ngàn nhật báo, hàng ngàn tạp chí, hàng vạn quyển sách ồ ạt rời khỏi nhà in. Triệu triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày và trên toàn thế giới, triệu triệu quyển sách được xuất bản mỗi năm. Chỉ riêng ở Việt Nam, báo định kỳ, tạp chí, đặc san chuyên ngành cũng đã lên đến con số trên năm trăm. Và cả nước có gần 60 Nhà xuất bản thì mỗi năm in ra cũng hàng triệu bản in. Do đó, không phải ngẫu nhiên có một học giả uyên bác nhận định: “Sự phát minh của chữ viết, chỉ riêng nó thôi, còn quan trọng hơn toàn bộ những trận đánh trên toàn thế giới”. Hành Trình Chữ Viết ra đời chính từ tầm quan trọng lớn lao của chữ viết, nhằm thỏa mãn nhu cầu phổ thông dành cho độc giả trẻ, nhất là các bạn thanh thiếu niên. Mục lục LỜI NÓI ĐẦU * Chữ viết hình thành trước hay sau ngôn ngữ? * Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt thông tin với nhau như thế nào? * Những bước quá độ để cho ra đời chữ viết đã hình thành ra sau? * Vậy chữ viết ra đời cách đây bao nhiêu năm? * Sự ra đời của bảng chữ cái như thế nào? * Bảng chữ cái của người Hy Lạp ra sao? * Bảng chữ cái của người Éturie và người La Mã ra sao? * Bảng chữ cái La Tinh như thế nào? * Bảng chữ cái Ả Rập ra sao? * Có phải thời trung cổ, người ta dùng chữ viết để... chữa bệnh? * Chữ hán của người Trung Quốc có từ bao giờ? * Chữ Hán được cấu tạo theo sáu nguyên tắc gọi là “lục thư”. Vậy “lục thư” là gì? * Cách viết chữ Hán tuân theo qui tắc nào? * Có phải trên cùng một đất nước, nhưng người Trung Quốc không hẳn đã nói và viết giống nhau? * Chữ Hán lớn nhất thế giới cuối thế kỷ XX được viết trong dịp nào? Ai viết? * Cho biết định nghĩa nổi tiếng nhất về nghệ thuật Thư Pháp của người Trung Quốc? * Bảng học vần của Hoa Kỳ do ai phát minh ra? * Chữ Hán truyền vào Việt Nam từ lúc nào? * Trên tiền đồng, tiền giấy đầu tiên của nước Việt Nam đã khắc và viết chữ gì? * Các ấn tín dưới triều Nguyễn chứa những gì? * Trước khi biết đến chữ Hán, có phải người Việt cổ đã có văn tự riêng? * Tại sao ông cha ta sáng tạo ra chữ Nôm và giá trị ảnh hưởng của nó trong văn hóa nước nhà? * Quyển tự điển xưa nhất bằng tiếng Nôm “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” nay còn lưu giữ được có phải do bà Trịnh Thị Ngọc Trúc - con gái của chúa Trịnh Tráng biên soạn? * Có phải bài thơ đuổi cá sấu do Hàn Thuyên viết dưới thời nhà Trần là có thật? * Vấn đề cấu tạo chữ nôm như thế nào? * Có phải giáo sư Phạm Huy Thông thời trẻ từng... sáng chế ra chữ nôm mới? * Có phải chữ Nôm của người Việt nam đã được công nhận vào “bộ nhớ” quốc tế? * Sự hình thành của chữ quốc ngữ như thế nào? * Vậy A.de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc ngữ như lâu nay ta thường nghĩ? * Toàn văn nội dung bia kỷ niệm Alexandre de Rhodes, phần bằng chữ Quốc ngữ đã được viết như thế nào? * Cho biết một đoạn văn mà A.de Rhodes đã viết để thấy được chữ Quốc Ngữ giữa thế kỷ XVII? * Từ quyển từ điển Việt - Bồ - La của A.de Rhodes in năm 1651, đến cuối thế kỷ XVIII chữ Quốc ngữ lại được đánh giá thêm một cột mốc lớn: Sự ra đời của từ điển viết tay của từ điển viết tay của Pigneau de Béhaine. Cho biết đôi nét về quyển từ điển này? * Sau đó, về chữ Quốc ngữ còn có công trình nghiên cứu nào đáng kể nữa không? * Cho biết đôi nét về vấn đề cải cách chữ Quốc ngữ đã diễn ra lâu nay? * Ý kiến của nhà ngôn ngữ học, GS Cao Xuân Hạo: “về cách viết tên riêng nước ngoài trên văn bản tiếng Việt” như thế nào? * Cách đọc mẫu tự chữ Quốc ngữ có thay đổi hay không? * Cách viết mẫu tự chữ quốc ngữ có thay đổi hay không? * Từ khi có chữ viết, con người đã viết trên cái gì? * Giấy da và giấy da bê đã xuất hiện vào thời gian nào? * Khi phát minh ra giấy da và giấy da bê thì chữ viết ở đó có thay đổi không? * Giấy ra đời từ bao giờ? * Nghề làm giấy ở Việt Nam có từ bao giờ? * Mực dùng để viết được con người biết đến từ lúc nào? * Đã có mực tất phải có bút. Vậy bút hình thành như thế nào? * Cây bút chì ra đời như thế nào? * Còn bút máy thì sao? * Từ bao giờ con người nghĩ ra máy đánh chữ, thay cho công việc viết tay? * Từ chỗ chép tay, con người bắt đầu cải thiện việc làm này bằng cách in mộc bản vào thời gian nào? * Ai là người đầu tiên phát minh ra phương pháp in bằng chữ rời? * Với phát minh quan trọng, đặt nền tảng cho máy in hiện đại, Gutenberg đã in tác phẩm nào đầu tiên? * Những người nào đã có công đầu trong việc cải tiến phát minh của Gutenberg? * Từ đó, máy in tự động đã ra đời như thế nào? * Với kỹ thuật in mới phát minh này thì giấy in và phương pháp in cũng khác trước? * Như ta đã biết kỹ thuật in được thay đổi liên tục, vậy khâu sắp chữ như thế nào? * Người Việt Nam đã biết đến công nghệ in vào lúc nào và đã tổ chức in như thế nào? * Nghề in chữ đúc rời (typô) theo phát minh của Gutenberg thực hiện từ thế kỷ XV du nhập vào Việt Nam thời gian nào? * Hiện nay, Nhà nước ta lấy ngày nào làm ngày truyền thống nghành in công nhân Việt Nam? * Có phải đầu tháng 5.2000 hãng Coca Cola đã có hành động bôi nhọ chữ Ả Rập? * Người ta đã dùng biểu tượng, dấu hiệu... để thay thế cho chữ viết như thế nào? * Người sáng tạo ra mật mã Mose là ai? * Sau này, các hướng đạo sinh có thể dùng ngôn ngữ Morse để truyền tín hiệu bằng đèn, bằng còi, bằng cờ, bằng khói hoặc bằng tay như thế nào? * Ngôn ngữ Morse bắt đầu bị khai tử vào thời gian nào? * Truyền tin bằng Sémaphore như thế nào? * Tốc ký ra đời lúc nào? * Tốc ký Việt Nam có từ thời gian nào và những người tiên phong là ai? * Chữ cho người mù do ai sáng tạo ra? * Ngày quốc tế tiếng mẹ đẻ là ngày nào, có từ bao giờ? * Quốc tế ngữ ra đời lúc nào và nhằm đạt đến những mục đích thiết thực nào? * Phong trào Esperanto đến Việt Nam vào thời gian nào? * Người Việt Nam đầu tiên biên soạn “Đại từ điển Việt Esperanto” là ai? * Có phải nhà thơ Tố Hữu có viết bốn câu thơ tặng cho Esperanto của Việt Nam? * Trò chơi ô chữ xuất hiện từ lúc nào? TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI NÓI ĐẦU Chữ viết đến với chúng ta xuyên qua hàng ngàn năm của cuộc hành trình vĩ đại của nhân loại, để kể với chúng ta về con người trong quá khứ. Nhân loại đã trải qua một con đường dài - từ ngày muốn thông tin với nhau còn phải dùng ngôn ngữ của điệu bộ hoặc vẽ hình ảnh... Ngày nay, hàng ngàn nhật báo, hàng ngàn tạp chí, hàng vạn tạp chí ồ ạt rời khỏi nhà in. Triệu triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày và trên toàn thế giới, triệu triệu quyển sách được xuất bản mỗi năm. Chỉ riêng ở Việt Nam, báo định kỳ tạp chí, đặc sang chuyên ngành cũng đã lên con số trên năm trăm. Và cả nước có gần 60 Nhà xuất bản, thì mỗi năm cũng in ra hàng triệu bản in. Do đó, không phải ngẫu nhiên có một học giả uyên bác nhận định: “Sự phát minh của của chữ viết, chỉ riêng nó thôi, còn quan trọng hơn toàn bộ những trận đánh trên toàn thế giới”. Chính vì tầm quang trọng mà lịch sử đã chứng minh, những kẻ xâm lược thường phá hủy những kho tang được viết bởi những dân tộc mà họ đánh bại. Chẳng hạn, thư viện thành Alexandre của Ai Cập, khởi công vào năm 280 trước C.N, đã bị đám đông phóng hỏa lúc Jules César viếng thăm Cléopâtre. Tuy được xây dựng lại nhưng sau đó, một lần nữa, nó bị phá hủy trong cuộc chiến của người hồi giáo vào cuối năm 641. Hoặc, sau khi chinh phục Mễ Tây Cơ, Cortès đã ra lệnh hủy bỏ tất cả những văn bản của người Aztèque. Hay tại nước Đức thời Quốc Xã, một trong những mệnh lệnh đầu tiên của Hitler là đốt tất cả những quyển sách được xem là ca ngợi dân chủ. Còn ở Việt Nam, điều này cũng đã từng xẩy ra. Chỉ xin nêu một ví dụ khá tiêu biểu. Đó là năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ (1400 - 1407) giặc Minh đã thực hiện chính sách tiệu diệt văn hóa nước Đại Việt. Một trong những biện pháp thâm độc đầu tiên của chúng là cướp hết sách vở nước ta đem về Trung Quốc “Dầu một chữ cũng không để sót”! Lịch sử đã ghi nhận vô số những nổ lực nhằm tiêu diệt chữ viết nhưng chữ viết vẫn trường tồn và ghi lại những tiến bộ của nhân loại từ thời dã mang đến thời văn minh. Lịch sử cũng ghi nhận những khác biệt về quan điểm, thường được giải quyết bằng chữ viết hơn là lưỡi kiếm. Cơ sở của nền văn minh chúng ta là chữ viết. Chữ viết là lời nói thuộc thị giác. Quyền năng lặng lẽ của nó là truyền đại ý tưởng. Nó cho phép trí tuệ con người du hành qua thời gian và không gian, nó cho phép con người du hành qua thời gian và không gian, nó cho phép con người tìm hiểu được nhiều điều mới lạ qua những khám về quá khứ. Vào một ngàn năm trước C.N, trên đất nước Campuchia anh em, có một tấm đá trên đó khắc một câu từ quyển sách luật cổ. Luật Manu. Câu đó như sau: “Trong tất cả những phẩm chất đạt được, phẩm chất vĩ đại nhất chính là tri thức”. Hoặc bức tường của lối vào thư viện thành phố Brooklyn. New York, người ta có thể đọc: Nơi đây lưu giữ hy vọng của những trái tim lớn Với âm vang thăm thẳm trong câu nói bay đi Sự mầu nhiệm của từ đến với chúng ta Bằng sự khôn ngoan bao đời tích lũy Ở đất nước ta, ngay sau khi giành được Độc Lập, ngày 3.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ “Chống giặc đói, chống giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Sau đó, ngày 8.9.1945, Chính phủ đã ra sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ nhằm đạt đến mục đích “Toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”. Tháng 10.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra lời kêu gọi “toàn dân chống nạn thất học”. Người đã viết những dòng tha thiết: “Muốn giữ vũng nền độc lập,muốn làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi, nghĩa vụ của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc Ngữ”. Chính từ tầm quan trọng lớn lao của chữ viết mà chúng tôi mạo muội biên tập Hành trình Chữ Viết - nhằm thỏa mãn nhu cầu phổ thông dành cho đọc giả trẻ, nhất là các bạn thanh thiếu niên. Đây là một vấn đề khó khăn đối với chúng tôi, do đó,trước khi tập sách đến tay bạn đọc, chúng tôi đã tham khảo khá nhiều tài liệu cần thiết, như trong phần tài liệu tham khảo ở cuối sách có nêu rõ. Thế nhưng, trong quá trình thực hiện tập sách này, chắc chắn không tránh khỏi sực nhằm lẫn và thiếu sót. Người biên soạn và nhà xuất bản Trẻ rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của đọc giả. Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói rõ, Hành Trình Chữ Viết là tập đầu tiên trong bộ sách nhiều tập “phổ biến kiến thức phổ thông” do nhà thơ Lê Minh Quốc biên soạn. Ở bộ sách này chúng tôi cố gắn trình bày những vấn đề liên quan đến văn hóa Việt Nam nói chung, nhằm trang bị cho bạn đọc trẻ những kiến thức phổ thông mà họ thật sự có nhu cầu cần tìm hiểu. Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc,chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ tận tình của các đọc giả uyên bác, của các nhà nghiên cứu và các bạn đọc xa gần để bộ sách ngày càng hoàn hảo hơn. Trước hết, xin đọc giả ghi nhận ở đây sực biết ơn sâu xa của chúng tôi. NHÀ XUẤT BẢN TRẺ * Chữ viết hình thành trước hay sau ngôn ngữ? Trong tác phẩm tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượng thành người, Engels khẳng định: “lao động là điều cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người,và như thế đến một mức mà,trên ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: “Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người” và “sự phát triển của lao động đã đưa đến kết quả tất yếu là thắt chặt thêm mối liên hệ giữa các thành viên trong xã hội, bằng cách tạo ra rất nhiều trường hợp để con người giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau, và làm cho con người ngày càng có ý thức rõ rệt hơn về lợi ích của sự hợp tác ấy đối với mỗi thành viên riêng lẻ.Tóm lại, những con người hình thành ấy đã phát triển đến mức họ thấy cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy... Ngôn ngữ phát triển từ trong lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”. Từ chổ “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”, trước hết con người dung cử chỉ, điệu bộ, hình vẽ... để trao đổi thông tin với nhau và cuối cùng là họ dùng chữ viết. * Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt thông tin với nhau như thế nào? Có lẽ, trước hết con người thời tiền sử phải vận dụng vào trí nhớ và vần điệu. Mọi thông tin cần thiết được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ca dao Việt Nam có câu: “Ngàn năm bia miệng vẫn cò trơ trơ” là vậy. Nhà văn M.Gorky đã nhận định chính xác. “trước kia, vào thời thượng cổ, sáng tác nghệ thuật truyền khẩu của nhân dân lao động là yếu tố duy nhất tổ chức kinh nghiệm của họ lại, thể hiện các tư tưởng của họ thành hình tượng và thúc đẩy năng lực lao động của tập thể”. Dần dấn tư duy con người phát triển, hoạt động ngôn ngữ ngày càng hoàn thiện hơn, họ đã sắp xếp các ngôn từ lại với nhau có vần điệu để người giữ thông tin dễ nhớ. Và đó cũng là cách dễ thắm sâu vào trí nhớ của người được truyền đạt thông tin. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu cho rằng: “thế là, dựa vào trí nhớ và vần điệu, với phương thức truyền miệng, những thành quả văn hóa của bao thế hệ được đúc kết lại trong lời nói đã lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên sự cảm thông, nối tiếp giữa giá trị trường tồn đã được hình thành và cũng cố. Với sự xuất hiện của chữ viết, những giá trị truyền thống này sẽ được cố định lại, sẽ được lưu giữ và chuyển động một cách chính xác hơn, góp phần tạo dựng nên những cơ sở vững chắc cho nền văn minh phát triển mạnh mẽ”. * Những bước quá độ để cho ra đời chữ viết đã hình thành ra sau? Ngôn ngữ bằng điệu bộ: Có thể gọi đó là ngôn ngữ trong không khí - đã được sử dụng từ thời sơ khai. Con người không hiểu được ngôn ngữ người khác chỉ có thể truyền đạt thông tin bằng điệu bộ. Trong cộng đồng xã hội, thông tin thường điệu bộ và vẻ mặt đi kèm với lời nói để biểu lộ thông tin nào đó. Thổ dân Bắc Mỹ phát minh ra môt phương pháp ngôn ngữ bằng điệu bộ cực kỳ chính xác. Hàng trăm dáng điệu và hàng trăm điệu bộ được tạo nên, và một số trong đó được chắp nhận trên toàn cõi Bắc Mỹ. Chẳng hạn, mặt trời thì tròn, một điệu bộ vạch ra hình tròn trong không khí có nghĩa là mặt trời. Một kích thước được biểu thị bằng cách dang đôi cánh tay v.v... Những thanh gỗ biết nói: Đó là những thanh gậy có vết khắc mà người ta gọi là những “thanh gỗ biết nói” - đã sử sụng những phương tiện truyền tin thời nguyên thủy. Người gửi trước tiên tạo một vết khắc trên mãnh gỗ và giải thích cho người đưa tin biết điều nó biểu thị. Tiếp đến, người gửi tạo thêm vết khắc thứ nhì và vết khắc thứ ba - nghĩa là mỗi vết khắc mỗi thông điệp muốn truyền đi. Bấy giờ người đó mới trao cây gậy cho người đưa tin sau đó người đưa tin lên đường đi tìm người nhận và “đọc” cho người này nghe rằng mình có bổn phận truyền đạt nội dung của từng vết khắc. Nhờ có những vết khắc này, người đưa tin đã truyền đạt tin tức được đầy đủ. Con người tiền sử của phi châu, Úc châu, Trung Quốc, Anh, Na Uy, Bắc Mỹ v.v...đều sử dụng hệ thống của vết khắc nói trên. Ngoài ra, những bộ lạc miền đông Hoa Kỳ còn chế tạo ra những thắt lưng bằng vỏ sò - gọi là Wampounms. Loại dây thắt lưng này không chỉ dung làm đồ trang trí hoặc trao đổi trong quan hệ mua bán, mà chúng còn biểu thị những truyền đạt bằng hình vẽ. Các hình vẽ đủ màu sắc, được dệt trên dây thắt lưng đó, những bộ lạc khác sống ở những khoảng cách rất xa đều có thể “giải mã” được. Văn tự dây nút: Nó dung để tính toán hoặc gửi đi một thông tin nào đó. Có câu chuyện kể rằng: Khoảng 500 năm trước Thiên chúa giáng sinh, Darius - Vua xứ Ba Tư - chuẩn bị xâm lăng Scytie, đất nước tương ứng với một số vùng của châu Âu và Châu Á sau này thuộc lãnh thổ của Liên Xô. Chiến binh Hy Lạp (đồng minh của Ba Tư) được giao trách nhiệm gìn giữ cây cầu bắc qua sông Danube, trong lúc vua Ba Tư và đạo quân của ông lên đường đi truy quyết người Scythie. Trước khi lên đường, Darius trao cho các sĩ quan Hy lạp một dải da dài và hẹp có 60 cái nút trong lúc vắng ta. Khi nào các ngươi tháo tới cái nút cuối cùng mà ta chưa trở về, các ngươi có thể rút lui “có thể xem đây là phương tiện tiện lợi để tính ngày. Cái dải da đã đóng vai trò của một cái lịch. Như vậy, phương tiện để ghi chép sự kiện, để tính toán hoặc gửi đi những thông điệp bằng những sợ dây nhiều màu, có thắt nút và dài ngắn khác nhau cũng hình thành. Nổi tiếng nhất là cái Incas - tên gọi thổ dân thuộc đế quốc Quichua của người Incas - Tên gọi thổ dân thuộc đế quốc Quichua ở Pérou vào khoảng thế kỷ thứ XVI trước C.N. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu cho biết “tất cả những sợ dây có nút ấy được buộc vào một đoạn dây thừng to, nằm ngang một Quipus có thể có tới hàng trăm dây, hàng nghìn nút. Màu sắc của dây, hình khối to nhỏ của nút, độ dài ngắn của khoảng cách giữa các nút...đóng vai trò như các “con chữ” đảm nhiệm việc “ghi” sự việc và thông báo tin tức theo qui ước “và” hiện nay người ta chỉ mới biết một vài điều sơ lược, đại khái như sau: Quipus được dung trong việc tính toán, thống kê ghi lịch, ghi sự kiện, thông báo tin tức v.v...Không những chúng biểu thị được số lượng (nhiều ít, bao nhiêu đơn vị...) mà còn biểu thị một số ý niệm dựa trên qui ước, ví dụ như nút càng to, sự việc càng quan trọng, nút càng gần đoạn thừng ngang, sự việc càng cấp bách. Nút dây màu đen tượng trưng cho sự chết chóc, đêm tối, kẻ địch bị giết. Nút dây màu đỏ tượng trưng cho chiến tranh: Dây nút màu đỏ thắm được dung để nói về thủ lĩnh tối cao. Nút dây màu trắng tượng trưng cho hòa bình, tương lai, nút dây màu vàng tượng trưng cho vàng, nút dây màu xanh tượng trưng cho lương thực, ngũ cốc...theo tài liệu lịch sử và truyền thuyết còn lưu lại, việc bện tết (tức ghi chép) và “đọc” (tức minh giải) các quipus này thuộc về một tầng lớp riêng biệt được huấn luyện chu đáo, khá công phu, do một số đặc nhiệm đảm nhiệm. Hình vẽ và dấu hiệu Vào một ngày đẹp trời năm 1879, một nghiệp chủ người Tây Ban Nha khởi công thám hiểm một số những hang đông. Theo chân ông còn có con gái là Maria. Đi sâu vào bóng tối, nhà thám hiểm, nhà khảo cổ đặt xuống đất một cây đèn dầu mà ông đem theo và bắt đầu đào. Thỉnh thoảng ông nhặt lên một hòn đá và cho vào túi xách. Và cũng thỉnh thoảng ông xem xét một cách chăm chú, dưới ánh đèn dầu, một mãnh vở từ núi đá, hoặc một mẫu xương. Trong khi đó, Maria đã tỏ ra mệt mỏi khi phải nhìn cha làm việc cật lực và cô bắt đầu dạo quanh đó, tuy nhiên vẫn không rời xa ánh sáng của ngọn đèn dầu. Khám phá một đường dốc chật hẹp dọc theo vách đá, cô bước vào và nhìn quanh. Bỗng nhiên cô nhận ra trên vách đá sần sùi những hình vẽ thể hiện các con vật dường như đang động đậy dưới ánh sáng chập chờn, cô thảng thốt kêu lên: - Ồ! Những con bò mộng! Cha ơi! Những con bò mộng... Người cha đặt những dụng cụ của mình xuống đất và cầm đèn đến chỗ cô con gái. Maria lập lại giọng sôi nổi: - Lạ quá! Cha hãy nhìn xem những màu sắc kìa! Người cha đưa cây đèn lên cao hết mức và đảo mắt nhìn quanh. Trong tranh tối tranh sáng, quả nhiên ông nhìn thấy trên vách hang hình vẽ những con vật giống như những con heo rừng khổng lồ và những con bò rừng bison - những con vật không còn tồn tại nữa tại Tây Ban Nha từ nhiều thế kỷ nay. Do đó mà Don Marcelino de Sautuola và cô con gái Maria của ông là những người đầ tiên khám phá ra những bức tranh có từ thời đồ đá. Việc khám phá những bức tranh tiền sử đó đã đem lại tiếng tăm cho những hang động vùng Altamira ở miền bắc Tây Ban Nha. Nhưng khám phá này có ý nghĩa gì? Cách đây, hơn một thế kỷ, một nhà khảo cổ học lừng danhFlinders Petrie khám phá tại Ai Cập một ngôi mộ cổ. Nó vẫn toàn vẹn trong khí hậu khô khốc của vùng này tiếp tục đào bới đoàn khảo cổ bắt gặp nhiều món đồ gốm mang những dấu hiệu kỳ lạ. Trong nhiều năm liền, Petrie nghiên cứu những cái bình đó với hy vọng xác định những con người - đã mất biệt từ thời nào xa xưa lắm - từng làm ra chúng. Nhờ hình dạng của những cái bình và những câu ghi trên đó, từng bước nhà khảo cổ Ai Cập ngược thời gian tới thời tiền sử. Ông đã khám phá nền văn hóa thời tiền sử của những nhà nông và nhựng người chăn cừu sống tại Ai Cập cả nước khi con người biết chữ viết. Trước Flinder Petrie, người ta mới chỉ biết tới những hình ảnh tiền sử qua những hình vẽ trong hang động vùng Altamira. Một số đường rạch và dấu vết tranh vẽ thỉnh thoảng còn được khám phá trên những hòn đá cuội dọc theo những con sông của Pháp, Ý, Ailen và nhiều nơi khác. Những dấu hiệu đó xuất hiện từ 20.000 năm trước C.N. Một vài nhà bác học nghĩ rằng chúng được dùng để xác định chủ nhân của những món đồ, như chúng ta ngày nay vẫn ghi tên trên những quyển sách. Nhưng thật ra không ai biết đích xác chúng biểu thị cái gì. Không phải lúc nào các nhà khảo cổ cũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa của những món đồ tiền sử. Tuy nhiên, các nhà bác học vẫn thành công trong việc xác định độ tuổi của nó và một vài điều cần thiết khác. Đây là những thông tin quí báu liên quan đến đời sống con người tiền sử. Qua những khám phá quan trọng trên, người ta thấy rằng, khi những nghệ sĩ thời nguyên thủy vẽ một loạt hình ảnh, rất có thể chính họ cũng tìm cách kể lại một câu chuyện nào đó mà họ đã chứng kiến trong cuộc đời mình. Và cũng nhờ đó mà ta mới hiểu được phần nào cuộc sống của những người xưa. Tuy nhiên, thời gian càng trôi qua, cuộc sống càng phong phú hơn, những hình ảnh không thể hiện hết ý mà người nghệ sĩ muốn nói.Vì thế mà chữ viết ra đời. Đây là mầm móng đầu tiên của toàn bộ của hệ thống chữ viết sau này. Một trong những hệ thống hình ảnh tốt nhất để truyền đạt ý tưởng đã phát sinh dọc theo sông Nil ở Ai Cập, cách đây khoảng 5.000 năm. Chữ viết thể hiện bằng hình ảnh gần như được sử dụng khắp nơi. Chữ tượng hình ấy đã được khám phá trên võ ốc, trên núi đá, trên vỏ cây và thậm chí trên cả những mảnh da thú. Muốn nói lên một ngọn núi, người nghệ sĩ có thể vẽ một hình răng cưa giản lược hoặc để biểu thị mặt trời, họ có thể một hình tròn có tia như dưới đây: Thế nhưng, dần dà con người lúc đó hiểu ra rằng loại chữ này không hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của mình. Làm sao có thể biểu thị một ý tưởng? Bằng cách nào có thể diễn tả nổi sợ, niềm vui hoặc tình yêu? Bấy giờ, người nghệ sĩ phải giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra kí hiệu ghi chú, tức là sự phối hợp của những chữ tượng hình diễn tả một ý tưởng. Khi thực hiện khả năng biểu thị một ý tưởng thì đó là một trong những tiến bộ quan trọng của lịch sử chữ viết. Nhờ những kí hiệu ghi ý, người vẽ không chỉ thấy một đồ vật mà còn cho thấy một ý tưởng có liên quan đến đồ vật đó. Chẳng hạn một chữ tượng hình đã cho thấy một ngọn núi và một chân người như bên đây có thể đem lại một ý tưởng về một chuyến đi băng qua núi. Cũng thế, một hình tròn biểu thị mặt trời có thể gợi ra ý tưởng về hơi nóng hoặc ánh sáng. Hoặc thậm chí là thời gian ban ngày. CHỮ TƯỢNG HÌNH ĐẦU THỜI KỲ SUMER MỘT VÀI KÍ HIỆU GHI Ý Của người Ai Cập Của người Trung Quốc Của người Sumer CHỮ VIẾT TƯỢNG HÌNH Tóm lại, ký hiệu hgi ý đã được tưởng tượng ra khoảng 2.000 năm trước C.N bởi các dân tộc nguyên thủy trên thế giới. Đôi khi, cùng một kí hiệu ghi ý được tưởng tượng bởi những con người cách biệt hàng ngàn cây số. Thí dụ: Một con mắt và một giọt lệ như hình vẽ bên đây: đã biểu hiện sự thống khổ hoặc nổi buốn của các dân tộc Maya hoặc Aztèque ở Trung Mỹ và thậm chí nó cũng được người Trung Quốc sử dụng cùng một ý tưởng tường tự. Như vậy, ta có thể thấy rằng, chữ tượng hình ghi ý có thể đảm đương nhiệm vụ trình bày và truyền đạt một số từ biểu thị những khái niệm trừu tượng. Thế nhưng, nó cũng gặp hạn chế là có những khái niệm không thể nào giải thích được bằng hình vẽ. Hơn thế nữa, ngôn từ rất phong phú, theo thời gian nó phát triển không ngừng thì làm sao hình vẽ có thể “sao chép” lại hết? Thật vậy, hình thức chữ viết bằng hình vẽ đã không thể nào xác định được mức độ chính xác và đầy đủ mà người “viết” muốn biểu thị. Có câu chuyện kể lại rằng: Năm 516 trước C.N Darius xâm lược nhiều nước, kể cả Scythie, họ đòi cuống nộp đất đai và nước uống để chúng minh cho sức mạnh của quân đội Ba Tư. Trước đó không lâu, một người đưa tin - người Scythie đến, mang theo “lá thư” gửi cho Darius là hình vẽ: Một con chim, một con chuột nhắt, một con ếch và năm mũi tên. Khi được hỏi ý nghĩa của những món quà, người đưa tin nín thinh. Bấy giờ, người Ba Tư mới hội ý với nhau. Theo Darius, thì đó là lễ vật của sự phục tùng. Nhưng Gobryas - viên tướng Ba Tư không đồng ý và giải thích ý nghĩa của những món quà đó như sau: Người Ba Tư hãy cút đi! Nếu các ngươi còn ở lại đây, các người sẽ vong mạng. Cho dù các ngươi có biến thành chim để bay lên trời, thành chuột nhắt để lẫn trốn trong hang dưới lòng đất hoặc thành ếch nhái để tìm kiếm sự an toàn dưới đáy nước thì những mũi tên của người Scythie cũng sẽ tiêu diệt các ngươi”. Lời giải thích này sau này đã được chứng minh là chính xác. Chính những hạn chế của chữ viết bằng hình vẽ mà chữ ghi âm ra đời. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu cho biết: “Qua trực giác và kinh nghiệm hoạt động ngôn ngữ người xưa đã nhận thức được hiện tượng đồng âm khác nghĩa của từ. Một cấu kết ngữ âm nhất định có thể hiện hàng loạt từ có ý nghĩa khác nhau. Và rất may, trong hàng loạt từ này, thường bao giờ cũng có một số từ biểu đạt những vật thực thể, hữu hình, có thể vẽ ra được, cũng có nghĩa là dễ dàng dùng từ tượng hình để biểu thị. Ta có thể thấy được “vang bóng của hiện tượng này trong trò chơi đố chữ bằng hình vẽ. Người vẽ cái tháp (tour) và cái mũi (nez) để biểu thị từ tourner có nghĩa là quay trở lại. Người Nhật vẽ cái búa (yoki), cây đàn cổ (kota) và đóa hoa cúc (kiku) để biểu thị câu chăm ngôn “yoki koyo kiku” (nghe điều thiện) v. v...” Cũng chính vì thế, người Ai Cập cổ xưa đã có thể dùng chữ tượng hình “con chim én” với âm đọc wz để biểu thị một từ khác có ý nghĩa là to lớn cũng có âm đọc là wr; dùng chữ tượng hình “cái nhà” với âm đọc là pr để biểu thị một động từ, động từ prj, có nghĩa là ra, đi ra v.v... Như vậy là, chữ hình vẽ hoặc chữ tượng hình, ghi nhớ giờ đây chỉ được sử dụng ở một mặt: Mặt biểu thị âm đọc, còn ý nghĩa của nó thì sẽ tùy ngữ cảnh mà xác định. Đây là một bước tiến có tính chất quyết định và có ý nghĩa vô cùng lớn lao trên con đường đi tìm phượng tiện lưu trữ và chuyển vận lời nói. Trên cơ sở này nảy sinh loại chữ viết xây dựng trên nguyên tắc mới, nguyên tắc ghi âm. Đó là loại ngữ ghi âm - loại chữ tiên tiến nhất, có khả năng bám sát ngôn ngữ nói, có thể ghi lại mọi từ nhằm biểu thị vật thể, khái niệm, dù có trừu tượng đến đâu chăng nữa. Từ đây chúng ta có thể nhìn lại, một cái tổng quát những bước tiến nhất định mà chữ viết đã trải qua. Như chúng ta đã biết, mọi hệ thống chữ viết đều thoát thai từ hình vẽ. Một hình vẽ, trong khuôn khổ chữ tượng hình, nó biểu thị bản thân vật thể được vẽ ra; đến giai đoạn chữ ghi ý, bên cạnh việc biểu thị bản thân vật thể đó, nó còn biểu thị những ý nghĩa tìm tàng có liên quan đến vật thể đó. Nhưng, sang đến giai đoạn chữ ghi âm, hình vẽ chỉ còn có giá trị biểu thị âm đọc mà thôi. Và, về nguyên tắc, người ta có thể lựa chọn một số chữ tượng hình nhất định làm kí hiệu ghi âm để ghi chép mọi từ trong ngôn ngữ nói, trên cơ sở cùng âm đọc thì viết giống nhau (tức là ghi lại bằng cùng một kí hiệu) mặc dầu ý nghĩa rất khác nhau. Đó là ngữ âm tiết, ghi trọn vẹn âm đọc của một từ (hoặc một bộ phận từ)”. Tất nhiên hành trình của việc sáng tạo ra chữ viết chưa dừng lại ở đó mà nó còn những động tác tích cực khác nữa để ngày càng hoàn chỉnh hơn. * Vậy chữ viết ra đời cách đây bao nhiêu năm? Cách đây 5.000 năm! Trong một đền thờ tại thành phố Uruk, phía nam Bagdad, ngày nay người ta đã phát hiện ra các tài liệu viết tay đầu tiên của nhân loại, viết bằng chữ tượng hình trên những tấm bảng bằng đất sét. Do bằng chất liệu này nên chữ viết cũng ảnh hưởng theo, mà ta gọi là chữ hình góc. Khởi thủy, tại vùng Mésoptamie (Lưỡng Hà), người Sumer đã thấy rằng, trên những món đồ gốm, lúc đất sét còn ướt ta có thể vạch ra những chữ tượng hình để ghi lại dấu hiệu cần thiết. Những dấu hiệu đó được khắc lên đất sét còn ướt bằng một đầu nhọn que sậy đã gọt hoặc bằng mũi dao. Dụng cụ này để lại những dấu hiệu kì lạ hình góc, như hình vẽ bên đây: Khi những dấu hiệu đã được khắc, người ta nung những phiến đất sét trong một cái lò của người thợ hoặc phơi chúng ngoài nắng. Nhờ cách xử lý đó, đất sét trở nên cứng như đá, điều này giải thích tại sao nhiều phiến đá nung mang chữ hình góc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Một danh từ thông dụng, chim chẳng hạn, ban dầu được biểu đạt bằng dấu hiệu: Tiếp đến, trong nhiều năm dài, chữ viết tiến hóa và dấu hiệu trở thành rồi đến và cuối cùng là dấu hiệu trong đó mọi điểm giống với con chim đều biến mất và chỉ còn lại một biểu tượng hoàn toàn trừu tượng để diễn tả ý tưởng về nó. Chữ viết hình gốc được được phần đông xã hội nguyên thủy hiện hữu trong phần đất này của thế giới chấp nhận như chữ viết chính thức. Nền văn minh Sumer kéo dài tới hơn 1.500 năm. Trong thời kỳ đó, chữ viết hình góc đã lan rộng tới tận tây Á. Hệ thống viết đó được người Babylone, người Assyrie và người BaTư cho đến thời Jésus Christ sử dụng - nghĩa là rất lâu sau khi đất nước Sumer ngưng tồn tại. Nếu tại vùng Lưỡng Hà, Người Sumer viết lên đất sét vì vùng này đất đai màu mỡ do hai dòng sông Tigre và Euphrate tạo nên; thì người Ai Cập cổ viết lên giấy vì học chế biến ra giấy từ loại cây sậy mọc dọc theo sông Nil; Hoặc người Trung Quốc viết lên các thẻ tre, trên giấy...Như vậy, mỗi nền văn minh đều chọn một chất liệu thích hợp để thể hiện chữ viết. Chữ viết đi qua một chặn đường dài, từ Sumer đế thung lũng Silicon, chứng tỏ lịch sử các nền văn minh được liên kết chặt chẽ với mọi chất liệu chứa chữ viết. Và cũng do thể hiện trên các chất liệu viết khác nhau, từ chổ viết trên đất sét đến khi viết trên da thú, trên giấy thì chữ viết đã mếm mại hơn. Ngày nay, chữ viết đã đi vào thời kỳ kỹ thuật số và được lưu vào đãi CD-ROM... * Sự ra đời của bảng chữ cái như thế nào? Vào khoảng năm 2.500 trước C.N người Ai Cập vẫn còn sử dụng chữ tượng hình cho những tài liệu quan trọng nhất. Nhưng họ cũng đã phát minh ra một hình thức chữ viết rút gọn gọi là thần tự, trong đó những hình thức tranh họa của chữa tượng hình được thu gọn thành dấu hiệu giản dị. Ban đầu thần tự được ghi thành những hình trụ, về sau chúng thành những hàng nằm ngang và đi từ phải sang trái. Thông thường chữ viết đó của người Ai Cập được sử dụng bởi những tăng lữ và giai cấp quí tộc. Dần dà công việc làm ăn buôn bán phát triển, qua công viếc giao dịch làm ăn người ta nhận ra rằng loại chữ tượng hình dù được rút gọn nhưng vẫn tốn công vẽ dài dòng và thường khi cũng khó mà đọc nổi cho chính xác. Từ đó, một hình thức viết mới, còn nhanh gọn hơn nữa, chữ viết giản lược, được phát minh vào khoảng thế kỷ VII trước C.N dành rộng rãi cho người bình dân. Đúng như nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu đã viết: “Qua tay từng người, từng thế hệ và trong quá trình lan tỏa từ nơi này sang nơi khác, chữ viết ở các quốc gia cổ xưa ấy dần dần biến đổi. Xu hướng chung là: Giảm bớt những chi tiết rườm rà, xác định rõ hơn hệ thống và nhích đến nguyên tắc ghi âm. Viết dễ hơn, nhanh hơn, ghi đầy đủ hơn mọi hoạt động lời nói của con người - đó là mục đích chân xác mà những con người sáng tạo ra chữ viết, đồng thời cũng là những con người sáng tạo ra nền văn háo huy hoàng được lưu ký một phần trong chữ viết, muốn đạt tới”. “Tuy vậy, ở Ai Cập, chữ viết đã dừng lại ở giai đoạn tượng hình - ghi ý hàng mấy chục thế kỷ. Rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến triệt để hệ thống văn tự này đã xuất hiện; thậm chí, cả một hệ thống ghi âm tố đã xuất hiện gần như hoàn chỉnh. Nhưng Ai Cập đã bỏ qua cơ hội quí báu ấy. Thay vì mạnh dạn tiến thẳng sang hệ thống văn tự ghi âm, gọn gàng và tiện lợi, tính khoa học và tính chuẩn xác đều cao, chữ viết Ai cập đã rẽ ngang con đường nửa ghi âm - nửa ghi ý, với những ký hiệu tượng hình rườm rà, phức tạp, phải vẽ từng chữ một, rất tốn thời gian và sức lực”. Cũng vì vậy, vai trò hình thành bảng chữ cái chung cho tất cả hệ thống chữ viết ngày nay - trừ thời Trung Quốc - lại thuộc về người Phénicie. Cho dù các hệ thống chữ viết có vẻ như khác biệt nhau, nhưng chúng vẫn từ một cội nguồn độc nhất: Bảng chữ cái Sémite cổ được phát minh cách đây trên 3.000 năm. Trong khi người Ai Cập bỏ qua “cơ hội quí báu” như nêu trên thì người Phénicie - “bạn buôn bán” với người Ai Cập - tỏ ra rất thực tế. Phénicie là tên gọi một dãy đất nằm ở ven bờ phía đông Địa Trung Hải bao gồm nhiều quốc gia - đô thị của những người nổi tiếng Sémite, chuyên nghề đánh cá, chăn nuôi, trồng trọt và giao thương. Họ quyết định chấp nhận và cải tiến ý tưởng của người Ai Cập trong việc xác định hình ảnh bằng những âm thanh tương ứng với G trong bảng chữ cái biểu thị từ gamal - có nghĩa là lạc đà - mặc dù hình ảnh tương ứng không phải là cái bứu của con lạc đà. Không dễ gì vẽ một con lạc đà đầy đủ trọn vẹn để biều thị từ gamal như người Ai Cập lẽ ra phải làm. Vậy thay cho hình vẽ biểu thị trọn đối tượng, người Phénicie chỉ vẽ một phần đối tượng đó. Bằng cách này, họ hiệu chính một hệ thống chữ viết chỉ đặt nền tảng trên âm thanh. Dù sao đó cũng là một hệ thống có thể học được dễ dàng bằng hình vẽ biểu thị bằng biểu tượng có gợi ra âm thanh tương ứng. Thế là họ chọn một loại đồ vật, với tên đồ vật bắt đầu bằng một phụ âm khác biệt. Tiếp đến họ tạo ra một loạt hình vẽ giản dị để biểu thị từng nguyên âm của ngôn ngữ họ. Để được sáng tỏ ta có thể tưởng tượng một vài thí dụ bằng tiếng Việt.Chẳn hạn, trẻ con Việt nói B trong từ bò, L trong từ ly, C trong từ cưa.v.v... Nếu làm theo cách của người Phénicie tức là chọn dấu hiệu bò để nói B, dấu hiệu ly để dành cho L, dấu hiệu cưa dành cho C.v.v... (Tất nhiên những từ của người phénicie tương ứng với bò, ly, cưa là khác nhau). Họ chọn những từ giản dị như nhà, lạc đà...cho những hình ảnh cơ bản của chúng. Những từ của người Phénicie tương ứng với những đồ vật đó bắt đầu bằng những âm thanh như A, B, C, D. v.v... Do đó, người Phénicie biến đổi những âm tiết tương ứng với âm thanh để thích nghi chúng với ngôn ngữ của họ. Và nguyên tắc đó, chỉ căn cứ vào việc sử dụng âm thanh trong xây dựng từ, là một tiến bộ quan trọng nhất trong lịch sử chữ viết. Bảng chữ cái của người Phénicie gồm 22 dấu hiệu chỉ tương ứng với những phụ âm, đây là một thành công vĩ đại nhất của lịch sử chữ viết. Theo nhà ngôn ngữ học W.F. Albright, chữ đầu tiên của phấn lớn các chữ cái cổ, alpeph (a) biểu thị một cái đầu con bò đực; chữ thứ hai beth (b) - một ngôi nhà; chữ heth (h) - một người đàn ông đang đọc kinh; chữ mem (m) - nước; chữ nun (n) - con rắn; chữ tau (t) - một hình chữ thập v.v... (Xem từ điển biểu thị văn hóa thế giới - NXB Đà Nẵng, 1997). Chính từ đó, ảng chữ cái do người phénicie cổ xưa tạo ra là tổ tiên của tất cả hệ thống chữ cái ở phương tây. Trong tử điển bách khoa Việt Nam (TT biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 1995) cũng có ghi rõ: “chữ viết phụ âm cổ đại, được áp dụng ở Phénicie từ thế kỷ XIII trước C.N đến đầu C.N được xem là loại viết chữ cái đầu tiên. Chữ cái Hy Lạp cũng như hầu hết các chữ cái khác đều bắt nguồn từ chữ cái Phénicie” (trang 543). * Bảng chữ cái của người Hy Lạp ra sao? Người Phénicie phần đông là người đi biển và nhà buôn. Do đó, họ thường xuyên tiếp xúc với Hy Lạp và những hòn đảo trong vùng biển Mediterranée. Ngược lại, tàu bè Hy Lạp cũng ra các đảo Phénicie. Nhờ những cuộc tiếp xúc đó, vào khoảng thế kỷ thứ VIII trước C.N, người Hy Lạp biết sử dũng chữ cái của người Phénicie và bằng cách thêm vào đó một vài dấu hiệu, họ dùng nó để tạo ra bảng chữ cái Hy Lạp. Người Hy Lạp chấp nhận theo 19 trong 22 biểu tượng của người Phénicie. Họ không cần biết Aleph có nghĩa là bò.Bằng cách đọc Alpha thay vì Aleph, họ biến nó thành chữ đầu tiên trong bảng chữ cái của họ; beth có nghĩa cái nhà trở thành beta và là chữ cái thứ nhì... Tiếp đến, bằng cách phối hợp hai từ alpha và beta, người Hy Lạp có từ “alphabet”(bảng chữ cái) Đương nhiên, người Hy Lạp còn tạo nhiều biến đổi khác cho bảng chữ cái mà họ vay mượn. Một số chữ Sémite không thích hợp với ngôn ngữ Hy Lạp.Vì thế,họ quyết định làm cho những chữ đó thích hợp với những nguyên âm, điều này giúp cho ngôn ngữ của họ trở nên dễ đọc hơn. Bởi chữ của người Phénicie không đủ cho người Hy Lạp phát minh ra một số chữ mới. Chẳng hạn, những âm phi và spi biểu thị những âm thanh không có trong bảng chữ cái cổ. Cấu tạo bằng cách đó, bảng chữ cái của người Hy Lạp gồm 24 chữ. Người Hy Lạp cũng đổi hườg chữ viết của họ. Ban đầu họ viết từ phải sang trái như các dân tộc Sémite. Đôi khi họ còn thay đổi hệ thống và chấp nhận theo một hệ thống đi và về - một hàng đi về phía trái và hàng sau về phía phải. Phương pháp đó gôi là chữ đường cày - có nghĩa là “như một con bò đang xoay chiều” - Quả thật khi một con bò kéo cày tới cuối một đường cày, nó xoay chiều và lại đi theo hướng đối nghịch. Sau năm 500 trước C.N, chữ viết của người Hy Lạp đi từ trái sang phải. Cùng lúc với hướng chữ viết thay đổi. Chẳng hạn, chữ Rho của bảng chữ cái Hy Lạp (tương ứng với chữ R của người Việt) ban đầu viết là q và trở thành P, Gamma (chữ cái Hy Lạp) tương ứng với chữ G) cũng lộn ngược và từ ┐ trở thành ┌ Do đó, người Hy Lạp đã sữa đổi dễ dàng hướng chữ. Hình vẽ biểu thị một cái đầu bò tương ứng với dấu hiệu aleph của người Semite, được đặt bên cạnh để biểu thị chữ A Hy Lạp, hoặc chữ B (biểu thị một mái nhà) bị khép kín ở phần dưới v.v... Chữ Hy Lạp chia làm hai nhánh: Nhánh phía đông phát triển thành chữ Hy lạp cổ điển và chữ Bizantin, và là cơ sở của chữa Slaves, chữ gothique v.v...; nhánh tây là cơ sở của chữ La Tinh và một số chữ viết khác. * Bảng chữ cái của người Éturie và người La Mã ra sao? Ngay trước năm 403 trước C.N bảng chữ cái của người Hy Lạp đã được chuyền tới nhiều nước khác. Người Éturie - một dân tộc vùng biển, đã đến ở trong khu vực phía bắc nơi hiện nay là La Mã - thuộc trong số những người chấp nhận theo bảng chữ viết Hy Lạp. Lịch sử không cho ta biết nhiều về họ, chỉ có thể phỏng đoán rằng, họ đã làm quen với bảng chữ cái Hy Lạp trên đất nước mới của họ khi buôn bán, giao dịch với những thuộc địa Hy Lạp gần vịnh Naples. Bấy giờ, người Éturie truyền đạt hình thức bảng chữ cái Hy Lạp của họ cho những bộ lạc Latinh. Do đó, ngay từ thế kỷ VII trước C.N, người La Mã bắt đầu học viết. Khi người La mã làm ra chữ cái thích hợp với ngôn ngữ của họ, họ đã mang đến cho nó nhiều thay đổi. Đặc biệt, các nhà văn La Mã phát minh ra những nét đậm và những nét mảnh để tạo thành chữ. Họ cũng có ý tưởng vạch ra một nét mảnh trên và dưới những nét sổ. Đó là nét bạnh, không những chúng làm cho chữ đẹp hơn mà khiến cho việc đọc trở nên dễ dàng hơn. Những nét bạnh đầu tiên xuất hiện trên những hoa đẽo trong đá. Chúng trở nên thông dụng dưới triều của hoàng đế La Mã Trajan,từ năm 98 tới năm 117 kỷ nguyên chúng ta. Nền văn minh tạo được nhiều bước tiến nhanh chóngsau khi người Éturie bị đánh khỏi La Mã sau năm 509 trước C.N. Người La Mã đã xây dựng được nhiều đường sá, cầu cống, thủy lộ và tòa nhà nhiều tần. Họ tạo được nhiều tiến bộ hơn trong tổ chức chính trị, xây dựng luật lệ, trong nền văn học nghệ thuật và trong thương nghiệp. Nghị trường La Mã là nơi gặp gỡ của môi đám đông trong thành phố. Trên những tấm panô, người ta ghi mọi tin tức trong ngày. Súc mạnh quân sự của La Mã thống trị một phần lớn thế giới được biết tới. Và bất luận nơi nào họ mang gươm đến, họ cũng mang theo hệ thống chữ cái của người La Mã. Nhiều tượng đài kỷ nệm được dựng lên trong khắp các ngõ ngách Châu Âu để “Tôn vinh” những con người La Mã đi chinh phục. Khi nhiềun nền văn minh khác học bảng chữ cái chủa người La Mã - thì cũng là lúc bảng chữ cái này có những chuyển biến mới. Hiện nay, một phần quang trọng của thế giới vẫn sử dụng bảng chữ cái Hi - La. * Bảng chữ cái La Tinh như thế nào? Trong từ điển bách khoa Việt Nam có viết về bảng chữ cái La Tinh như sau:”là bảng chữ cái bắt nguồn từ bảng chữ cái Hy Lạp,xuất hiện ở La Mã cổ đại vào thế kỷ VII trước C.N và ổn định vào thế kỷ thứ II trước C.N. Dùng để viết tiếng Latinh và bắt đấu vào thế kỷ IX là cơ sở cho đa số hệ thống chữ viết cho các dân tộc Tây Âu.lúc đầu gồm 21 chữ cái,về sau dung thêm Y và Z (thế kỷ I trước C.N), W (thế kỷ XI), J và U (thế kỷ XVI),hiện nay có tất cả là 26 chữ cái.Chữ viết của nhiều ngô ngữ chữ cái Latinh có bổ sung thêm các dấu phụ (chữ Pháp,chữ Ba Lan v.v...).Chữ quốc ngữ cũng giống như các chữ viết dùng ngày nay của các dân tộc Việt Nam như Êdê, Giarai, H’mông, Tày - Nùng v.v... dều chủ yếu dựa trên cơ sở chữ cái Latinh”. * Bảng chữ cái Ả Rập ra sao? Bảng chữ cái Ả rập gồm 28 chữ. Sau bảng chữ cái La Tinh, chắc chắn nó là bảng chữ cái được sử dụng nhiều nhất thời hiện đại. Nó cũng bắt nguồn từ bảng chữ cái 22 chữ của người Phénicie cổ, nhưng chứa đựng 6 phụ âm phụ, không có nguyên âm. Tiếng Ả Rập cũng đọc từ phải sang trái. * Có phải thời trung cổ, người ta dùng chữ viết để... chữa bệnh? Trong từ điển biểu hiện văn hóa thế giới (NXB Đà Nẵng 1997) có ghi nhận như sau: “Định thức ABRACADABRA khá thông dụng trong suốt thời trung cổ. Người ta quan niệm, chỉ cần đeo ở cổ một lá bùa chữ sắp xếp theo hình tam giác như dưới đây, là có thể giải trừ nhiều bệnh tật - kể cả bệnh sốt rét: ABRACADABRA ABRACADABR ABRACADAB ABRACADA ABRACAD ABRACA ABRAC ABRA ABR AB A Từ này phát sinh từ một thành ngữ tiếng Do Thái cổ: “Abreg ad brôbara” có nghĩa là: “Hãy đánh sét đến chết”. Cần phải xem sét cái hình này theo ba chiều: Khi ấy nó sẽ biểu thị cho một cái phễu, mà ở đó những chữ cái mầu nhiệm chạy chéo từ miệng phễu xuống dưới cổ thắt lại, tạo thành những tuyến lực của một nơi nước xoáy mãnh liệt; thật bất hạnh cho những sức mạnh nào bị cuốn vào đấy: Chúng sẽ biến mất vĩnh viễn khỏi thế gian này và chìm xuống vực thẳm, mà từ nơi ấy không một cái gì có thể trở lại dương thế. Định thức ABRACADABRA, theo tinh thần ấy, ứng với những mối âu lo khiến con ngưới phải sáng chế ra các thứ bùa yểm, bùa chú, bùa hộ mệnh. * Các mẫu tự có... màu sắc hay không? Tất nhiên là có, nhưng chỉ có ở... trong thơ của thi sĩ lùng danh người Pháp Arthur Rimbaud (1854 - 1891). Thi pháp tượng trưng của ông để lại dấu ấn lớn trong nền thơ ca của nhân loại. Bài thơ Voyelles (những nguyên âm) là một trong những bài thơ nổi tiếng và độc đáo nhất của ông, được đánh giá là một sự toàn thắng của trí tưởng tượng: “A đen, E trằng, I đỏ, O xanh dương: Những nguyên âm Ít lâu sau ta sẽ nói tới sự ra đời ngấm ngầm của bọn ngươi: A, yếm đen rậm lông của lũ ruồi rực rỡ Đang bay ào ào quanh những đống đen hôi thối hung dữ Những vịnh bóng tối; E màu trắng tinh khiết của những đám hơi nước và những lều vải Những đỉnh núi nhọn đầy tuyết vươn ngạo nghễ, những ông vua trắng, những cái rùng mình của đám hoa ombelles I, màu tía, máu khạc, tiếng cười thoát ra từ cặp môi đẹp Đang trong cơn giận dữ hoặc trong những cơn say đầy vẻ sám hối U, những chu trình, những nét rung chuyển huyền diệu của những biển xanh lá cây Sự bình yên của những cánh đồng có đầy mục súc đứng gặm cỏ rải rác, sự bình yên của những nếp nhăn Mà thuật luyện đan in vào những vầng trán hiếu học O, tiếng kèn thần thánh đầy nốt cao gắt kỳ lạ Những niềm lặng trải suốt các Thế Giới và các thiên thần O chữ Oméga, tia tím của đôi mắt nàng. (Lê Huy Oanh dịch) * Chữ hán của người Trung Quốc có từ bao giờ? Theo GS Lý Lạc Ngư - chủ nhiệm bộ môn nghiên cứu của viện nghiên cứu ứng dụng ngôn ngữ văn tự của Viện Khoa học Xã Hội Trung Quốc thì: Chữ Hán là một trong những văn tự cổ nhất thế giới. Nó trải qua một quá trình phát triển năm sáu ngàn năm và hiện nay được ước tính có khỏng một phần tư dân số trên thế giới sử dụng chữ Hán. Trong lịch sử văn háo lâu đời của Trung Quốc, chữ Hán có những đóng góp rất lớn. Nghệ thuật viết chữ Hán đẹp là một bộ phận trong kho tàng văn hóa nghệ thuật quí báu của dân tộc Trung Hoa và một số dân tộc khác ở Châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Mấy ngàn năm nay hình thể chữ hán đã trải qua nhiều biến đổi, chữ viết chủ yếu gồm những loại dưới đây: 1. Giáp cốt văn: Đây là dạng chữ viết của đời nhà Thương Khắc trên mai rùa hoặc xương thú. Vì nó được dung vào việc ghi chép những điều bói toán là chính nên còn gọi là “Bốc từ” (lời bói) hoặc “khế văn” (chữ khắc bằng “khế đao”, một loại tiền cổ). Còn do trước đây đã phát hiện ở vùng Ân Khư (cố đô thời hậu Thương, nay thuộc huyện An Dương, tỉnh Hà Nam) nên còn được gọi là “Ân khư văn tự” (chữ viết Ân khư). Trong số bốn ngàn chữ Giáp cốt đã thu thập được, chỉ có một ngàn chữ là có thể đọc và giải thích được nghĩa. Đây là dạng chữ viết đã tương đối hoàn chỉnh, nhưng nó vẫn còn nhiều nét viết và “thiêng bang” (bộ thủ) chưa hoàn toàn ổn định. Một số chữ Giáp cốt thuộc thời kỳ đầu nhà Chu cũng đã được phát hiện. 2. Kim văn: Đây là dạng chữ được khắc hoặc đúc trân dụng cụ bằng đồng thau vào thời Thương - Chu, còn gọi là “Chung đỉnh Văn” (chữ trên chuông và đỉnh). Loại chữ này về hình thể lúc đầu gần giống như Giáp Cốt Văn, có chữ vẫn còn mang dấu vết của văn tự đồ họa buổi ban đầu; đến giai đoạn sau, loại chữ này gần giống như Tiểu triện... Về mặt kết cấu hình thể, loại chữ này đã tương đối hoàn chỉnh. Thời nhà Chu đã có văn bản chữ Kim dài tới 500 chữ. 3. Tiểu triện: Đây là dạng chữ thông dụng vào thời nhà Tần, nên còn gọi là Tần triện. Trong thời kỳ Chiến Quốc, chữ viết của các địa phương Trung Quốc hình dạng khác nhau. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, đã chỉnh lý và giải hóa chữ viết. Trên cơ sở cửa “Đại triện” (còn gôi là “Trụ Văn” một loại chữ thông dụng ở nước Tầnvào thời Xuân Thu, Chiến Quốc), nhà Tần đã qui định một dạng chữ viết chuẩn gọi là “Tiểu triện”. Sự thống nhất toàn Trung Quốc thời nhà Tần đã có tác dụng lớn đối với việc qui phạm hóa chư Hán. 4. Lệ thư: Đây là dạng chữ thông dụng vào thời nhà Hán, bắt đầu từ cuối Tần đến thời Tam Quốc. Còn gọi là “Hán Lệ”, “Tả thư” hoặc “Bát phân” v.v... Ở giai đoạn đầu, Lệ thư còn bảo lưu một số dạng nét của tiểu triện; sau đó những nét mác lượn song tăng dần lên,trở thành đặt điểm nổi bật của loại chữ này. Lệ thư xuất hiện làm cơ sở cho Khải thư sau này, đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong lịch sử phát triển của chữ Hán. Đó là giai đoạn của cổ Văn tự chuyển sang giai đoạn Kim văn tự. 5. Khải thư: Đây là dạng chữ bắt đầu xuất hiện vào cuối thời nhà Hán và lưu hành cho mãi đến ngày nay. Vì dạng chữ ngay ngắn, nét bút thẳng thắn, đáng được gọi là chuẩn mức, nên được gọi là “Khải thư”, “Chính thư” hoặc “Chân thư”. Nhiều nhà thư pháp của các thế hệ đã trở nên nổi tiếng nhờ loại chữ viết này. 6. Thảo thư: Thảo thư xuất hiện sớm hơn khải thư, tức vào khoảng đầu nhà Hán. Thời kỳ đầu, Thảo thư là biến thể của chữ Lệ viết nhanh, nên có tên “Thảo lệ”, sau gọi là “Chương Thảo”. Từ cuối thời Hán trở đi, chữ Thảo đã thoát ly hẳn dấu vết của chữ Lệ thư trong Chương thảo, để trở thành loại chữ có nét bút liền nhau, bộ thủ vay mượn lẫn nhau, gọi là “Kim thảo”. Vào thời nhà Đường còn xuất hiện loại chữ nữa với lối viết phóng túng khó đọc, gọi là “Cuồng thảo”. Ngày nay chữ gọi là Thảo thư chính là chữ Kim Thảo. 7. Hành thư: Đây là một dạng chữ nằm giữa khải thư và Thảo thư, được sử dụng phổ biến trong thời kỳ Tam Quốc và thời nhà Tần. Hành thư viết nhanh hơn Khải thư và dễ nhận hơn Thảo thư, cho nên rất được quần chúng yêu thích. Trong Hánh thư, nếu lối viết chân nhiều hơn lối viết thảo thì gọi là “hành khải”. Nếu lối viết thảo nhiều hơn lối viết chân thì gọi là “Hành thảo”, nhưng khó có một ranh giới rõ ràng về những dạng chữ này. 8. Chữ giản thể: Hiện nay dạng chữ này chủ yếu thông dụng ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra vào năm 1506. Thực ra số chữ được giản hóa chỉ là 2.274 và trong đó không ít trường hợp là chữ Giản thể đã có từ thời xưa nhưng sau lại trải qua một quá trình phức tạp hóa, trở thành khải thư. Cũng có nhiều trường hợp là lấy chữ giản thể bằng cách “Thảo thư Khải hóa”. Những chữ nào có cách viết giản hóa kèm theo, sẽ được gọi là chữ Phồn thể để phân biệt với chữ giản thể. Vì chữ có nhiều nét nên gọi là phồn thể (phồn là nhiều). Chữ phồn thể hiện thông dụng ở Hồng Kông, Đài Loan và các nước khác trên thế giới có người Hoa sinh sống. Ngoài ra, từ khi có chữ Hán đến nay, xuất hiện rất nhiều chữ Giản thể khác, gọi là “Tục tự”, “Thủ đầu tự”. Các loại chữ nảy sinh ra do nhu cầu viết sao cho tiện lợi. Trong quá trình phát triển của chữ Hán, có cả hiện tượng phức tạp hóa, lẫn hiện tượng đơn giản hóa, nhưng xu hướng chung vẫn là đơn giả hóa. Chữ Giản thể trong chữ Hán từ xưa đã có rồi, Chỉ đến năm 50 của thế kỷ này, loại chữ Giản thể từng bước được nhân dân lao động lưu hành qua các thế hệ mới được Trung Quốc đưa ra nghiên cứu, chỉnh lý và công bố. Đó là chữ “Giản hóa” (hoặc giản thể) hiện dung (theo tìm hiểu cội nguồn chữ Hán - NXB thế giới 1997) * Chữ Hán được cấu tạo theo sáu nguyên tắc gọi là “lục thư”. Vậy “lục thư” là gì? Ta có thể hiểu một cách đơn giản và khái quát rằng, đó là: tượng hình: dựa theo hình các sự vật mà viết chữ, như hình núi có các ngọn núi nên chữ sơn được biểu thị bằng ba nét nhọn (⼭). Chữ mộc nghĩa là cây nên có ngọn, có gốc (⽊) còn chữ điền là ruộng nên phải có từng thửa (⽥), cách chuyển những sự vật thành chữ được biểu thị như hình bên: Chỉ sự: Dựa theo sự vật mà đặt ra chữ, tỷ như trời mưa thì có mây đen che phủ rồi nước rơi xuống vì vậy chữ vũ có những chấm thủy (⾬) như hình dưới đây: Vì vậy khi nhìn thấy mặt chữ, ta có thể hiểu ngay đại thể, quan sát kỹ thì có thể hiểu ngay nghĩa của nó. Hội ý: Lấy hai chữ hợp lại mà thành một chữ có ý nghĩa mới, nói cách khác là ghép vài ba kí hiệu tượng hình để biểu thị ý nghĩa mới của một từ. Chẳng hạn một cây đơn độc thì dùng chữ mộc (⽊) nhưng nhiều cây thì ta ghép hai chữ mộc lại thành chữ lâm (林) nghĩa là rừng, còn cây cối chằng chịt thì phải ghép ba chữ mộc với nhau thành chữ sâm (森) nghĩa là rừng rậm như hình bên: Hình thanh: Ghép những chữ có sẵn thuộc loại tượng hình và loại âm thanh để hình thành loại chữ mới, vì vậy đây cũng là loại chữ hợp thể. Đó là điểm khác với loại chữ tượng hìnhvà chỉ sự. Tuy ghép những chữ đã sẵn có thành chữ mới, nhưng thế nào cũng có một thể thuộc về âm thanh, điểm này là điểm khác với chữ hội ý. Chẳng hạn, chữ (芝) (chi: một thứ cỏ thơm) kết hợp bởi (艹) (thảo) là cỏ, chỉ nghĩa và (之) (chi) là thanh. Chuyển chú: Nguyên chữ Hán nhiều chữ đồng âm mà nghĩa khác, hoặc nghĩa đồng mà âm khác, nên thường lấy chữ này để làm chữ khác. Nói cách khác, chuyển chú là lối đặt chữ có cùng một bộ thủ thanh âm gần nhau, ý nghĩa giống nhau và có thể chú thích cho nhau. Chẳng hạn, chữ khảo (考) và chữ lão (⽼) vốn hai chữ cùng một nghĩa và viết giống nhau, về sau để phân biệt hai chữ khác nghĩa, chữ khảo được chuyển thành chữ hình thanh. Giả tá: Trong chữ Hán ngoài cách dung lối hình thanh để biểu âm, lại dùng chữ đồng âm để đại biểu cho những chữ có nghĩa mới gọi là giả tá. Chữ giả tá hoàn toàn xuất từ thanh âm giống nhau hoặc gần nhau về mặt ngữ nghĩa. Chẳng hạn, chữ vạn (萬) ngày xưa dùng để chỉ con bò cạp, nhưng sau dùng để chỉ số 10.000 hoặc chữ trưởng (⾧) vì âm thanh giống nhau nên sau mượn là chữ trường (⾧) trong trường đoản (dài ngắn, trong huyện trưởng v.v...). * Cách viết chữ Hán tuân theo qui tắc nào? Chữ Hán là một lọai chữ ghi ý, mỗi ký hiệu tượng hình (chữ) ghi một từ hay một hình vị, về mặt âm ứng với một âm tiết. Họ sử dụng các nét, lặp đi lặp lại trong những kết hợp khác nhau để tạo thành các chữ: Các nét thông dụng mà ta thường thấy như nét chấm, nét ngang, nét mác, nét phẩy, nét khung, nét móc... Khi viết, người ta tuân theo qui tắc bút thuận áp dụng cho từng nét như sau: Trên trước dưới sau; trái trước phải sau; ngang trước dọc sau; giữa trước hai bên sau; phẩy trước mác sau; ngoài trước trong sau; vào trước đóng sau... cho dù là chữ một nét như nhất (⼀) hoặc hai mươi bảy nét như ký (ngựa hay ngàn dặm) (驥) cũng đều thu gọn vào một ô vuông * Có phải trên cùng một đất nước, nhưng người Trung Quốc không hẳn đã nói và viết giống nhau? Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc, trên lãnh thổ rộng lớn này có 56 dân tộc. Người Hán có ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết riêng, đó là ngông ngữ Trung Quốc được sử dụng rộng rãi trong nước và thế giới. Nhưng 55 dân tộc khác cũng có ngôn ngữ riêng của mình. Theo hệ thống phân loại ngôn ngữ học của từ điển bách khoa Trung Hoa mới thì: “29 ngôn ngữ thuộc ngôn ngữ Hoa-Tạng, 17 thuộc họ Antai, 3 thuộc họ Nam Á và 3 thuộc họ Ấn-Âu. Ngôn ngữ của người Cao Sơn trên đảo Đài Loan thuộc họ ngôn ngữ Indonésia. Hiện có một ngôn ngữ chưa xác định được thuộc tính thuộc nhóm nào”. * Chữ Hán lớn nhất thế giới cuối thế kỷ XX được viết trong dịp nào? Ai viết? Nhân sự kiện hương cảng sắp được trả về Trung Quốc vào năm 1997, nhà thư họa nổi tiếng Tùng Dương đã viết chữ “Quy” (trở về) trên một miếng vải rộng đến.. 5.000m2. Đây là một chữ Hán lớn nhất thế giới đã được triển lãm tại Hồ Bắc. Nhiều người bình luận rằng “Tùng Dương theo trường phái khí công. Bút dùng để viết rất nặng, lại phải thao tác nhanh nhẹnh như múa, nên nếu không có nội công thâm hậu thì không thể đạt yêu cầu về nghệ thuật”. * Cho biết định nghĩa nổi tiếng nhất về nghệ thuật Thư Pháp của người Trung Quốc? Nhận thấy chữ viết có một uy lực khủng khiếp, người Trung Quốc đã nâng nó lên thành một nghệ thuật độc đáo, có thể nói nó vượt trên cả hội họa. Chúa tể thư pháp Trung Hoa là Vương Hi Chi (Wang Hsichih 321 - 379) đã định nghĩa như sau: “Mỗi nét ngang là một đám mây trong thế trận, mỗi nét móc là một cây cung vương lên, có một sức mạnh phi thường, mỗi nét chấm là một tảng đá rơi xuống từ đỉnh núi cao, mỗi nét phẩy là một cái móc bằng đồng, mỗi nét sổ dài là một thân cây cổ kính và mỗi nét phóng khoáng mảnh mai là một lực sĩ chạy thi ở tư thế sẵn sàng lao lên phía trước”. Trong giai thoại của thiền có kể lại một mẫu chuyện lý thú, qua đó, ta thấy rằng nếu tâm không ổn định thì sẽ không thể hoàn thành một tác phẩm theo nghệ thuật thư pháp. Chuyện rằng: Khi một người bước chân lên đền Obaku ở Tokyo, sẽ nhìn thấy trên cổng đến bằng gỗ có chạm mấy chữ “Đệ nhất đế”. Chữ chạm to lớn dị thường, và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm trước. Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn vào gỗ. Trong lúc Kosen phác họa trên giấy, chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy bình để viết cho đẹp mới thôi. Chú nói với Kosen sau lần cố gắng thứ nhất của ông: “Cái đó không đẹp”. Kosen hỏi “Cái này thế nào?” Chú đáp: “Tệ! xấu hơn cái trước” Kosen kiên nhẫn viết từ tấm này sang tấm khác đến bốn mươi tấm “Đệ Nhất Đế” chồng chất lên nhau thành đống, vẫn không thấy chú học trò mình đồng ý. Rồi chú bước ra ngoài. Kosen nghĩ: “Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của nó”, và Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng: Đệ Nhất Đế. Chú bé từ ngoài bước vào reo lên: “Một kiệt tác!” * Bảng học vần của Hoa Kỳ do ai phát minh ra? Những tiến bộ của thổ dân Bắc Mỹ đạt đến đỉnh điểm nhờ thành tựu của Sequoya. Ông là một con người phi thường thuộc bộ lạc Cherokees sống trong vùng đông nam Hoa Kỳ. Ông từng chiến đấu cho quân đội Hoa Kỳ trong trận Creek năm 1813 - 18140. Qua đó, ông nhận thấy một điều quan trọng là dân tộc Cherokees cần có hệ thống chữ viết để giữ cho dân tộc độc lập khỏi người Mỹ da trắng. Năm 1821, ông đã phát minh ra hệ thống chữ viết Cherokees. Hệ thống này dường như giản dị đến nỗi trong nhiều nhất là một tuần lễ, hàng ngàn thổ dân đã biết đọc biết viết. Sequoya không sử dụng bảng chữ cái. Ông chọn 82 dấu hiệu mà một số mượn trong các ngôn ngữ Châu Âu. Một bảng chữ cái không cần quá nhiều dấu hiệu, bởi bảng chữ cái lý tưởng chỉ có một dấu hiệu cho một âm thanh, như be, de, ne, re, v.v... nghĩa là trên âm tiết. Trong chữ viết theo âm tiết từ scribe viết là: Se - ce - re - i - be - e, hiển nhiên đây là một cách khá phức tạp để biểu thị từ. Những biểu tượng do Sequoya phát minh biểu thị một thứ sách học vần, không phải là bảng chữ cái đích thực. Nhờ sự thành công của mình, ông rất đỗi được kính trọng tại Hoa Kỳ, đến nỗi những thứ cây khổng lồ tại California được người ta gọi là Sequoias (với một chữ I thay vì một chữ y). Ngoài ra một pho tượng đã được dựng lên cho ông tại Washington D.C thủ đô Hoa Kỳ. * Chữ Hán truyền vào Việt Nam từ lúc nào? Ngay từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước C.N đến năm 39 sau C.N), Chữ Hán đã theo các đạo quân xâm lược tiến vào nước ta. Nước Nam Việt ta bị đổi thành Giao Chỉ bộ và chia thành 9 quận, đứng đầu mỗi quận là một thái thú và quan thứ sử trong coi việc cai trị. Sang thời Bắc thuộc lần thứ hai (năm 43 - 544) nước ta bị đổi thành Giao Châu. Với cách cai trị tàn ác, nhằm đồng hóa và tiêu diệt sức sống của một dân tộc, các quan thái thú nhà Hán lúc đó bắt dân ta từ bỏ những tập tực cũ của tổ tiến để theo tập tục nhà Hán. Phải ăn mặc theo kiểu nhà Hán. Tuy nhiện, cũng có những thái thú như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp...đã mở trường dạy cho dân ta lễ nghĩa, cày cấy, làm ruộng... và tất nhiên là có cả việc dạy chữ Hán. Những người Việt Nam đầu tiên “tốt nghiệp trường Hán học” là Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng, Tinh Thiều... bên cạnh đó còn phải kể đến chữ Hán được truyền bá sang nước ta theo con đường truyền bá đạo phật. Sau khi nước nhà giành được độc lập, tự chủ từ thế kỷ thứ X, chữ Hán có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Nó trở thành vũ khí sắc bén để dân tộc ta vận dụng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa... điều này đã khiến quân xâm lược phải khiếp sợ, do đó, chúng tìm mọi thủ đoạn để hủy diệt. Chẳng hạn, vào cuối thế kỷ XV, Minh Thành Tổ ra lệnh cho các đạo quân xâm lược: “Mỗi khi binh lính vào nước Nam, hết thấy sách vở, văn tự, cho đến các loại ca lý dân gian hay sách dạy trẻ... một mảnh giấy đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ cũng không để sót”. Trong suốt cả ngàn năm, chữ Hán đã trở thành văn tự chính thức trong con đường thi cử, công văn... Song song tồn tại với chữ Hán, ông cha ta còn sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại những chữ tiếng Việt mà chữ Hán không thể thay thế được. Nhưng đến thế kỷ XIX, lúc thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, “chữ Tây” đã dần dần thay thế vị trí của chữ Hán, Chữ Nôm. Khoa thi chữ Hán cuối cùng chấm dứt vào năm 1918, báo hiệu sự cáo chung của vai trò chữ Hán trên đất nước ta. * Trên tiền đồng, tiền giấy đầu tiên của nước Việt Nam đã khắc và viết chữ gì? Cho đến nay, giới nghiên cứu đều thừa nhận đồng tiền đầu tiên trong lịch sử nước ta được đúc dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng (968 - 980). Đồng tiền này có ba loại khác nhau, có thể đúc nhiều đợt về cơ bản thì chúng tương tự với nhau về kích thước, đường kính khoảng 22mm, đúc bằng đồng, tiền tròn, giữa có lỗ vuông, có gờ quanh mép và quanh viền lỗ. Mặt tiền ghi chữ Thái Bình Hưng Bảo, đọc chéo từ trên xuống dưới, từ trái sang phải; mặt sau có ghi chữ Đinh phía trên lỗ đồng tiền. Còn tiền giấy đầu tiên ra đời vào cuối đời Trần. Từ năm 1396, dù chưa chính thức lên ngôi nhưng Hồ Quí Ly đã thực hiện một việc đầu tiên trong lịch sử nước nhà là ban hành tiền giấy - đó là loại tiền “thông bảo hội sao”. Đại Việt sử kí toàn thư có ghi chép: “Mùa hạ, tháng 4 năm bính Tý, niên hiệu Quang Thái năm thứ 9 (1396) bắt đầu phát hành tiền giấy “thông bảo hội sao”. In xong hạ lênh cho người đem tiền đến đổi, cứ một quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1 quan 2. Thể thức tiền giấy: Giấy 10 đồng vẽ rồng; giấy 30 đồng vẽ sông; giấy 1 tiền vẽ mây; giấy 2 tiền vẽ rùa; giấy 3 tiền vẽ lân; giấy 5 tiền vẽ phượng; giấy một quan vẽ rồng. Ai làm giả phải tội chết, tịch thu điền sản vào nhà nước. Cấm hẳn tiền đồng không được chứa và tiêu riêng; đều thu vào chứa tại Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Ai phạm cấm thì cũng phải tội như trên”. * Các ấn tín dưới triều Nguyễn chứa những gì? Dưới chế độ quân chủ chuyên chế, triều Nguyễn cũng như các triều đại phong kiến trước,l ấy ấn tín để biểu thị cho quyền lực tối cao. Điển hình nhất là ấn tín và Kim ngọc bảo tỉ. Ấn được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc tỉ” và làm bằng vàng gọi là “Kim bảo tỉ” thường làm bằng hình vuông, hình tròn hoặc hình thoi. Việc đúc các ấn tín này được thực hiện theo các qui định mà Đại Nam hội điển toát yếu có ghi: “Phàm khi đúc ấn bằng vàng, thì trước đó Bộ Lễ cho Khâm thiên giám (tương đương như nha khí tượng ngày nay) chọn ngày tốt; phủ Thừa Thiên sắm lễ vật. Đến ngày đã định, hữu ti kính cáo với thần tư công, rồi bộ hội đồng với kho vũ khố, phủ nội vụ, kính cẩn giám thị, theo như qui thức chế tạo, khi đúc xong dâng lên”. Khi lên ngôi, vua Gia Long đã ra sắc lệnh dùng vàng đúc ấn Kim bảo tỉ. Có thể liệt kê như sau: “Chế cáo chi bảo” dùng đóng trên tờ huân giới, chiếu lệnh sai phái các quan văn võ; “Quốc gia tín bảo” đóng trên các văn kiện tuyên triệu tướng soái, trưng phát binh sĩ;” “Sắc chính vạn dân chi bảo” đóng trên các đạo sắc, khuyến giới dân chúng tứ phương, biểu dương các nhân vật tiết nghĩa hiếu hạnh”; “Thảo tội an dân chi bảo” đóng trên các tờ chiếu sai phái các tướng mang quân đi đánh dẹp”;“Ngự tiền chi bảo” đóng trên các tờ dụ hai tờ thuộc về thường sự; “Mệnh đức chi bảo” đóng trên các bản văn ban thưởng các quan có thành tích đặc biệt”; “Văn lý mật sát” đóng trên những bản dụ, chỉ, chương sớ ở những chổ sửa chữa, viết thêm và nơi giáp trang; thủ tín sớ ở những chổ sửa chữa, viết thêm và nơi giáp trang”; “Thủ tín thiên hạ và văn vũ quyền hành” (đời sau gọi là “Tiểu long bảo”) đóng trên đầu tờ giấy trong các đạo chiều văn”,“phong tặng chi bảo: Đóng trên các sắc cáo tặng thần nhân hay công thần. Đến đời vua Minh Mạng, từ năm 1828, nhà vua đã kiện toàn lại vấn đề dùng ấn. Trong Minh Mệnh chính yếu có cho biết một vài thay đổi: “Trẫm kính thừa mệnh lên ngội báu, nay gặp buổi thanh bình, nghĩ làm sáng tỏ quy mô ngày trước để lại đời sau. Sai lấy vàng đúc ấn Hoàng Đế, lại đúc thêm ấn hoàng đế tôn thần, ấn Sắc mệnh chi bảo, ấn Khâm văn chi tỉ, ấn Duệ vũ chi tỉ và ấn Trị lịch minh thời... Các ấn lần lượt đúc xong”. Như vậy, có thêm một số ấn để đúc vào văn thư mà thời Gia Long chưa thực hiện - như ấn “Khâm văn chi tỉ” đóng trên các văn kiện về vấn đề văn hóa, mở khoa thi, trường học, sĩ tử; và thay đổi một số ấn cũ như thay “Sắc mệnh chi bảo”. Ấn “Sắc mệnh chi bảo” nặng 395 lượng vàng, như vậy lúc đóng ấn cũng là một công việc không nhẹ nhàng chút nào! Có những trường hợp ấn vàng đã được sử dụng, nhưng đến đời vua sau vì kiêng tên húy thì phải đúc lại ấn mới. Trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi: “Ấn Đại Nam hiệp kỷ lịch đã đúc xong bá cáo trong ngoài, vì ấn cũ gặp chữ Tôn húy nên đổi đúc ấn mới”. Còn ngọc tỉ là ấn đúc bằng ngọc. Khi ấn ngọc làm xong thì việt khắc chữ triện vào đó cũng phải tiến hành theo đúng nghi lễ. Năm 1847, thời vua Thiệu Trị, có người dâng lên nhà vua viên ngọc cực lớn. Nhà vua mừng lắm, chọn ngày lành tháng tốt - ngày 15.3 đích thân làm lễ Đại tự, thỉnh mệnh trời đất rồi sai thợ khắc 9 chữ “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ” - ấn này được xem như biểu tượng của vương triều Nguyễn. Ngoài ra còn có các ngọc tỉ khác như “Thần hàn chi tỉ” đóng trên các bản châu dụ, ngự bút trong lúc nhà vua ngự giá thần dụ; “Vạn thọ vô cương ngọc tỉ” đóng trên các ân chiếu, cáo văn và khánh chức trong dịp lễ vạn thọ; “Hoàng đế chi tỉ” đóng các chiếu văn ban trong dịp cải nguyên hay đại xá và ban ân; “Đại Nam hoàng đế chi tỉ” đóng trên các bản sắc thư, văn kiện ngoại giao với nước ngoài... (theo vài nét về Kim Ngọc Bảo tỉ triều Nguyễn của nhà nghiên cứu Nguyễn Công Việt đăng trên tạp chí hán Nôm (số 1 (18) 1994). * Trước khi biết đến chữ Hán, có phải người Việt cổ đã có văn tự riêng? Với lòng tự hào dân tộc, ta quả quyết rằng có. Nhưng chứng minh được điều này thì không phải dễ dàng. Truyện Mộng ký trong Thánh Tông di thảo có kể lại rằng, đại ý: Vua Lê Thánh Tông đi chơi gặp mưa, nghỉ đêm ở cạnh hồ Trúc Bạch, mộng thấy có một người con gái thời Lý Cao Tông hiện lên dâng bài thơ bày tỏ nõi oan ức. “Ta tỉnh giấc, trông lên án, quả có một phong thư. Trong lòng nghi ngại, vội mở ra xem thì thấy một tờ giấy trắng ngang dọc đều lộ một thước, trên có bảy mươi mốt chữ, lối chữ ngoằn ngoèo như hình giun dế, không thể hiểu được”. Trong suốt ba năm trong triều đình không ai giải thích được nghĩa của nó. Một buổi trưa, nhà vua nằm mộng thấy người tiên hiện lên bảo: “Lối chữ ấy là lối chữ cổ sơ của Việt Nam. Nay Mường Mán ở các sơn động cũng có người đọc được. Nhà vua triệu họ đến, bắt đọc thì khắc biết”. Vậy đây là kiểu chữ gì? Học giả Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử khẳng định rằng, người việt cổ hẳn có chữ viết vì “nói rằng không thì luống hồ nghi một dân tộc đông và tiến hóa như dân Việt Nam lẽ nào không có một văn tự riêng trong khi ba bề bốn bên người Tàu, Láo, Chàm ai nấy cũng đều có cả. Lại nữa dân Mường, Thổ là di chủng của Việt Nam cũng đều có chữ viết dùng từ cổ xưa cho đến bây giờ”. Chính Hoàng Đạo Thành cũng nói trong Việt sử Tân Ước toàn thư là: “Nếu không, thế những việc cũ theo đâu mà ghi nhớ. Lúc Sĩ Nhiếp dạy chữ thì khi ấy mới học văn Hán, dùng chữ Hán Vậy. Vì văn Hán thông dụng đã lâu, nên quốc tự không còn truyền, không thể khảo cứu ở đâu được. Thử xem dân núi rừng miền thượng du đều có chữ, dân cùng dùng với nhau, há lại riêng nước ta không có ru? Có thể đặt giả thiết rằng thời đại tối cổ, người Việt Nam đã có một thể văn tự riêng rồi. Thứ văn tự ấy tức là thứ chữ người Mường hiện nay còn dùng, tựa như lối viết của chữ Lào hơn là chữ Chàm và Cao Mên”. Để chứng minh cho thuyết trình của mình, Học giả Nguyễn Đổng Chi có đưa ra 35 chữ cái của người Mường trong sách Thanh Háo quang phong của Vương Duy Trinh - và dẫn lời của Vương: “Tỉnh Thanh Hóa là một châu Quan có chữ là chữ Thập châu đó. Người ta thường nói rằng: “Nước ta không có chữ”. Tôi nghĩ rằng không phải, Thập châu vốn là đất nước ta, trên châu còn có chữ, lẽ nào dưới chợ lại không. Lối chữ châu là lối chữ của nước ta đó”. Lâu nay, trong quá trình nghiên cứu bình minh của lịch sử dân tộc, các nhà khảo cổ đã nghiên cứu trên những trống đồng đã được phát hiện - tiêu biểu cho nền văn minh của người Việt thời cổ đại. Trên trống đồng cũng có những đường nét khiến cho các nhà nghiên cứu suy nghĩ đến vấn đề chữ viết cổ của người Việt. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu hoàn toàn có lí khi viết: “Các hoa văn hình học trên trống, là một phần “từ vựng” của “ngôn ngữ trống đồng”, nhiều điều bí ẩn còn đang chờ được khám phá, nhiều “Ký hiệu mật mã” còn đang chờ được minh giải (Sđd trang 152). Dù vấn đề đặt ra còn phải tìm tòi, nghiên cứu thêm nhưng chúng ta cũng tin răng người Việt Cổ đã có một văn tự riêng mà nay đã mai một. Một trong những nguyên nhân chính là do chính sách cai trị tàn khốc của giặc phương Bắc trong suốt một ngàn năm nô lệ - chúng có tham vọng xóa hết mọi dấu tích văn hóa trên một đất nước mà chúng xâm lược, trong đó có chữ viết. * Tại sao ông cha ta sáng tạo ra chữ Nôm và giá trị ảnh hưởng của nó trong văn hóa nước nhà? Trong khi sử dụng tiếng Hán, với tinh thần tự chủ và sáng tạo, người Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm (chữ của người Nam) để ghi lại lời ăn tiếng nói - linh hồn của dân tộc - mà chữ Hán không đáp ứng nổi. Mặc dù, lúc mới ra đời, nó không được giới quí tộc chấp nhận, họ miệt thị “Nôm na là cha mách qué” hoặc: Lối chữ cua bò lăng nhăng thư thảo Thơ rông chó chạy xướng thù... Nhưng dần dần, không những chữ Nôm được truyền bá trong dân gian mà ngay cả triều đình cũng sử dụng để ghi tên làng, xã... vào các công văn, văn bia v.v... tiêu biểu nhất là dưới thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã chủ trương thay thế chữ Hán bằng chữ Nôm. Ngay cả khi xuống chiếu cho La Sơn phu Tử Nguyễn Thiếp, nhà vua cũng dùng chữ Nôm. Có thể khẳng định, chữ Nôm đã thể hiện tinh thần dân tộc và nâng cao địa vị của tiếng Việt. Nhiều tác giả đã dùng chữ Nôm để sáng tác như thơ quốc âm của Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huy Lượng, Phan Huy Ích, Yên Đổ, Tú Xương v.v... Các tác phẩm lớn trong nền văn học nước nhà đã được viết bằng chữ Nôm như Chinh Phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Lục vân Tiên hoặc kiệt tác truyện Kiều v.v... đã khiến cho mọi người tin tường vào tiền đồ của tiếng Việt. Nhưng chữ Nôm xuất hiện vào thời kỳ nào trong lịch sử nước nhà? Đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất. Lâu nay, có ý kiến cho rằng, chữ Nôm có từ thời thượng cổ hoặc thời Sĩ Nhiếp hoặc thời Phùng Hưng... Nhà nghiên cứu Lê văn Hoán trong tác phẩm nghiên cứu về chữ Nôm (NXB KHXH 1981) đã bác bỏ những ý kiến trên. Theo ông “Chữ Nôm của chúng ta, loại chữ được xây dựng trên chất liệu chữ hán và đọc theo âm HánViệt nhất định không thể xuất hiện vào thời thượng cổ. Vì theo giới Hán ngữ học cho biết, tiếng Hán thượng cổ không có thanh khứ” (trang 57)”. Thành thử, dựa vào những cứ liệu về thanh điệu, chúng ta cũng không thể có một kết luận nào khác: Loại chữ Nôm cấu tạo trên chất liệu chữ Hán và đọc theo âm Hán - Việt nhất định không thể xuất hiện ở thời kỳ thượng cổ. Vì vậy giả thuyết cho rằng loại chữ Nôm của chúng ta hình thành trước hay ngang thời Sĩ Nhiếp là không thể có được” (trang 59). Và theo ông, “chữ Nôm chúng ta hiện có chỉ có thể hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VIII, thứ IX. Nói một cách cụ thể tức là khi hệ thống thanh điệu tiếng Hán đã có đủ bốn thanh: Bình, thượng, khứ,nhập; Hệ thống thanh điệu tiếng Việt đã có đủ sáu thanh: ngang, huyền, sắc, ngã, nặng. Và hệ thống thanh mẫu của chữ Hán đã xuất hiện các âm: f,v;hệ thống âm đầu của tiếng Việt đã có âm V. Xong chúng ta không thể căn cứ vào mốc thời gian âm Hán - Việt hình thành ở Việt Nam mà đoán định thời gian xuất hiện của chữ Nôm.Vì có hai khả năng: Chữ Nôm có thể hình thành với âm Hán -Việt, nhưng cũng có thể âm Hán - Việt hình thành rồi sau một thời gian, ông cha ta mới dùng chữ Hán sáng tạo ra chữ Nôm. Do đó,đây mới chỉ là khả năng của mốc ban đầu. Muốn biết thời kỳ khả năng xuất hiện trên các văn bản, chúng ta phải xét các cứ liệu về lịch sử “(trang 61). Vấn đề này đến nay vẫn chưa được ngã ngũ, nhưng có một điều chắc chắn dưới thời nhà Lý thế kỷ XII, chữ Nôm đã có thịnh hành và đến đời nhà Trần thế kỷ XIII thì nó đã phát triển đến giai đoạn cực thịnh. * Quyển tự điển xưa nhất bằng tiếng Nôm “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” nay còn lưu giữ được có phải do bà Trịnh Thị Ngọc Trúc - con gái của chúa Trịnh Tráng biên soạn? Quyển sách quí này in mộc bản năm Tân Tỵ, giấy khổ 16 x28 cm, đánh số trang ở ngoài lề liên tiếp từ 1 đến 79. Mỗi tờ có 2 trang, mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Nếu tính cả chữ Hán lẫn chữ Nôm thì có khoảng 2 vạn chữ. Lâu nay, nhiều người vẫn nghĩ như thế. Chẳng hạn, cụ Trần Văn Giáp đã khẳng định là do bà Trịnh Thị Ngọc trúc có đạo hiệu là Pháp Tịnh biên soạn và in vào năm 1761. Nhưng nhà nghiên cứu Trần Xuân Ngọc Lan lại căn cứ vào hai câu thơ trong bài tựa tác giả có tự thuật: Trẻ từng vả đấng khoa danh Già lên cõi thọ tâm doành bụt tiên ... mà cho rằngthời phong kiến,người có đi thi thì chỉ là nam, do đó, tác giả không thể là nữ như nêu trên và chứng minh sách in có thể ngang hàng với thời Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Cụ Đào Duy Anh lại cho rằng đạo hiệu của nhà sư này là Hương chân Pháp Tính vì cụ dựa trên câu thơ Hồng Phúc danh Chân Hương pháp tính và đoán định là tác phẩm thuộc thời Lê sơ. Như vậy đến nay vấn đề trên đến nay vẫn chưa có kết luận chính thức của giới nghiên cứu Hán Nôm. * Có phải bài thơ đuổi cá sấu do Hàn Thuyên viết dưới thời nhà Trần là có thật? Vào thời Trần Nhân Tông (1279-1293) có ông Nguyễn Thuyên, người Hải Dương thi đậu Thái học sinh, làm quan đến Thượng thư bộ Hình, tác giả tập thơ chữ Nôm Phi sa tập (lấy theo câu: Phi sa giản kim: Đãi cát lộc vàng). Vào mùa thu năm 1282, có cá Sấu trên sông Phú Lương hoành thành. Vâng lệnh nhà vua đuổi loài cá dữ, ông có bài thơ bằng chữ Nôm đọc trên bờ sông rồi đốt ném xuống sông. Lạ thay, từ đó loài cá sấu rủ nhau đi hết. Vua cho là giống chuyện Hàn Dũ đời Đường bên Trung Quốc nên cho đổi tên họ ông thành Hàn Thuyên. Bài thơ như sau: Ngạc ngư kia hỡi! Mày có hay Biển Đông rộng rãi là nơi mày Phú Lương đây thuộc về thánh vực Lạc lối đâu mà lại đến đây? Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa Dân quen chài lưới chẳng tay vừa Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy Xuống nước giao long cũng phải chừa Thánh thần nối dõi bản triều nay Dấy từ Hải ấp ngôi trời thay Võ công lừng lẫy bốn phương tĩnh Biển lặng sông trong mới có rày Hùm thiêng ra dấu dân cày cấy Nhân vật đều yên ở đâu đấy Ta vâng đế mạng bảo cho mày Hãy về biển đông mà vùng vẫy Sự kiện Hàn Thuyên làm thơ Nôm đuổi cá sấu là có thật, sử còn ghi lại. Vua Tự Đức đã làm thơ ca ngợi: Quốc ngữ văn chương mới nhúng tay Chẳng quên tiếng mẹ khá khen thay Sông Lư đuổi sấu in Hàn Dũ Nên được nhà vua đổi họ ngay Nhưng bản thơ trên,sự thật không phải của Hàn Dũ mà là của... nhà nho Nguyễn Can Mộng! Ông có hiệu là Nông Sơn, sinh năm 1880 tại Thái Bình và mất ngày 31, 1.1954 tại Hà Nội. Sinh thời ông viết nhiều sách như Nông Sơn thi tập, Nam học Hán tự, văn chương Việt Nam, Gương liệt nữ.v.v... chính ông đã bịa ra bài thơ trên và công bố trên tờ Tứ dân văn uyển v.v...đã khiến nhiều người lầm tin là sự thật! Cụ Trần Văn Giáp sau này đã nghiêm khắc phê phán là “có tội với văn học Việt nam”. * Vấn đề cấu tạo chữ nôm như thế nào? Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiện cứu và phân tích vấn đề này, như các học giả Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi, Lê Văn Quán,Vũ Văn Kính, Trần Khuê v.v... Ở đây, chúng ta có thể hiểu đôi nét chính: Muốn viết đọc chữ Nôm thì trước hết người đó phải biết chữ Hán, bởi đây là một văn tự độc đáo của người Việt Nam được kết cấu từ chất liệu của chữ Hán. Đại thể, theo tác phẩm cơ sở ngữ văn Hán Nôm (NXB giáo dục, 1984) do GS Lê Trí Viễn chủ biên cùng với sự cộng tác của các nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Đặng Chí Huyền thì: “xét trong mối tương quan với chữ Hán,về đại thể, chữ Nôm gồm có hai loại lớn: 1. Loại một sử dụng các chữ Hán hoàn chỉnh có sẵn để biểu thị các từ trong tiếng Việt theo cách dùng cả âm đọc (âm Hán Việt) lẫn ý nghĩa của từ, như dùng chữ (⼼) để ghi chữ tâm, tim; hoặc chỉ dùng âm như chữ (没) âm Hán Việt đọc là một, có nghĩa là chìm đắm, mai một, nay dùng làm chữ Nôm để chỉ số từ một (1); hoặc chỉ dùng nghĩa, như chữ (腋) âm Hán Việt đọc là dịch, có nghĩa là nách, nay dùng chữ Nôm để ghi từ nách (một bộ phận trong cơ thể con người), hoặc dùng âm nhưng đọc lệch đi, như chữ (别) có nghĩa là biệt, đọc là biệt nhưng để ghi âm biết. 2. Loại chữ sáng tạo riêng để ghi từ trong tiếng Việt bằng cách ghép một số từ Hán (hoặc một bộ phận của chữ Hán) và dùng thêm các dấu phụ. Thí dụ: ( ) do hai chữ (巴) (ba) và ( ) (lăng) để ghi blăng tức trăng trong tiếng việt cổ (ghi âm). ( ) do hai chữ (⼈) (nhân) và (上) (thượng) ghép lại để ghi từ trùm (ông trùm, trùm họ v.v...) trong tiếng Việt (ghi ý). ( ) do hai chữ (草) (thảo: cỏ) và (古) (cổ) ghép lại để ghi từ cỏ (cỏ cây) trong tiếng Việt (vừa âm vừa ý). ( ) sử dụng một chữ Hán (北) (bấc) và một dấu phụ < để ghi từ mác (giáo mác) trong tiếng Việt (biến âm). Trong việc cấu tạo chữ Nôm, ông cha ta thuở xưa cũng dùng bộ thủ (những kí hiệu thông báo, hiệu chỉnh ý nghĩa của từ) như so với hệ thống bộ thủ của văn Hán tự thì đơn giản hơn nhiều. Điều mà chữ Nôm quan tâm trước hết là mặt kết cấu ngữ âm của ngôn từ. Nó cố gắng phản ánh một cách thật trung thực hình ảnh âm thanh của từ, trong phạm vi khả năng rất có hạn của thứ chữ ô vuông ghi âm tiết. Chữ Nôm có chú ý thích đáng đến việc đơn giản hóa chữ viết, như giảm bớt số nét trong chữ Hán được sử dụng; lược bỏ các kí hiệu ghi ý (bộ thủ) không cần thiết v.v... Do chỗ coi nhẹ nguyên tắc ghi ý (tuy cũng vận dụng ở nguyên tắc nhất định) và ưu tiên chú trọng đến việc ghi âm, chữ Nôm đã đạt tới tốc độ khá cao trên con đường phát triển từ ghi ý đến ghi âm của chữ viết” (Sđd trang 24-25). Tuy nhiên, chữ Nôm cũng có những khuyết điểm của nó. Một trong những nguyên nhân chính vì nó không được các thể chế thế chính trị, quyền lực đương thời công nhận, không sử dụng để viết biểu, chiếu, công văn của triều đình hoặc không đưa vào thi cử để khuyến khích toàn dân cùng học, cùng góp phần hoàn thiện nó. Có thể thấy một vài hạn chế như cùng một chữ (本) nhưng lại đọc khác nhau (Vốn dòng họ Hoạn danh gia) hoặc (Bản sư rồi cũng đến sau); cùng như chữ (⼥) nhưng đọc khác nhau (Nợ quân thần chưa báo trước) hoặc (Ẩn cả lọ chi thành thị nữa)... Do đó, thỉnh thoảng trên các tạp chí chuyên ngành, chúng ta thấy các học giả tranh luận nhau về cách đọc những chữ Nôm trong câu thơ câu văn nào đó - như câu thơ của thi hào Nguyễn Trãi “Con cháu chớ hiềm song nhật ngặt”, nhưng cũng có người đọc là “con cháu chớ hiềm song viết ngặt”; hoặc câu thơ của thi hào Nguyễn Du “Đòn gánh tre chín rạn hai vai” nhưng cũng có người đọc là “Đòn gánh tre chèn đắn hai vai” hoặc những câu trong truyện Kiều như “Gỡ ra cho nợ còn gì là duyên” nhưng cũng có người đọc “Gỡ ra cho nữa còn gì là duyên”...v.v... * Có phải giáo sư Phạm Huy Thông thời trẻ từng... sáng chế ra chữ nôm mới? Theo tài liệu mới nhất được công bố trên tạp chí xưa - nay (số 1.1995) thì đúng như vậy. Giáo sư đã tạo ra “chữ Nôm mới” bằng cách chọn lấy 60 kí hiệu từ các nét của chữ Hán, viết theo dạng khuôn vuông, ghi đủ tiếng Việt và tiếng Hán! Nhưng ý tưởng độc đáo này chưa từng được phổ biến rộng rãi vả lại bấy giờ ta đã có chữ Quốc Ngữ rồi! Ta thử xem qua phần kí hiệu và đây là phần thể hiện bài thơ Nam quốc sơn hà bằng chữ Nôm mới theo âm Hán: * Có phải chữ Nôm của người Việt nam đã được công nhận vào “bộ nhớ” quốc tế? Tại Hà Nội từ ngày 28.2.1994 đến 3.3.1994, trong kỳ họp thứ hai của “Nhóm báo cáo viên văn tự biểu ý” (Ideogrphic Rapporteur Group -IRG) thuộc tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã nhất trí chấp nhận đề nghị của Việt Nam đưa chữ Nôm (Mang mã số TCVN 3773) tham gia vào kho chữ mã hóa thông dụng quốc tế. Bộ mã chuẩn này do tiểu ban mã chuẩn chữ Nôm gồm một số nhà nghiên cứu Viện Hán Nôm: GS Phan Văn Các, GSTS Nguyễn Quang Hồng, NCV Ngô Thế Long, Nguyễn Tá Nhí và một số chuyên gia tin học: GS Nguyễn Lâm, PTS Nguyễn Văn Muôn, PTS Ngô Trung Việt thuộc ban kỹ thuật công nghệ thông tin, có sự cộng tác của một số nhà tin học ở nước ngoài như Ngô Thanh Nhàn, Nguyễn Hoàng, Đỗ Bá Phước biên soạn. Tổng cục tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đề nghị và được Bộ Khoa học công nghệ và môi trường ban hành, theo quyết định số 1847/QĐ ngày 31.12.1993, phần I bao gồm 2397 chữ thuần Nôm thường dùng - trong đó có 518 trường hợp trùng với hình chữ có sẵn của ISO. Như vậy, chữ Nôm do ông cha ta sáng tạo từ nay đã có mặt trong bộ nhớ quốc tế, từ hình thức viết tay và khắc bản gỗ, đã bỏ qua giai đoạn chữ rời đúc chì để đi thẳng vào máy tính điện tử.