🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Đợt Tuyệt Chủng Thứ Sáu Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn https://thuviensach.vn Table of Contents 1. Thông tin ebook 2. Giới thiệu về tác phẩm 3. Nhận xét về tác phẩm 4. Một số trích dẫn trong tác phẩm 5. Ghi chú của tác giả 6. Lời nói đầu 7. Mục lục 8. CHƯƠNG I – ĐỢT TUYỆT CHỦNG THỨ 6 9. CHƯƠNG II – RĂNG HÀM CỦA VOI RĂNG MẤU 10. CHƯƠNG III – CHIM CÁNH CỤT NGUYÊN BẢN 11. CHƯƠNG IV – VẬN MAY CỦA LOÀI CÚC ĐÁ 12. CHƯƠNG V – CHÀO MỪNG ĐẾN THẾ NHÂN SINH 13. CHƯƠNG VI – BIỂN Ở QUANH TA 14. CHƯƠNG VII – AXÍT TỪ TRÊN TRỜI RƠI XUỐNG 15. CHƯƠNG VIII – RỪNG VÀ CÂY 16. CHƯƠNG IX – NHỮNG HÒN ĐẢO TRÊN CẠN 17. CHƯƠNG X – MỘT TOÀN LỤC ĐỊA MỚI 18. CHƯƠNG XI – SIÊU ÂM CHO TÊ GIÁC 19. CHƯƠNG XII – GEN ĐIÊN RỒ 20. CHƯƠNG XIII – THỨ CÓ LÔNG VŨ 21. Lời cảm ơn https://thuviensach.vn THÔNG TIN EBOOK Tên sách Đợt tuyệt chủng thứ sáu Nguyên tác The Sixth Extinction - An Unnatural History Tác giả Elizabeth Kolbert Dịch giả Trần Trọng - Hải Minh Nhà xuất bản NXB Tri Thức Đơn vị phát hành Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam Số trang 464 Kích thước 14 x 20,5 cm Giá bìa 129.000 VNĐ Năm xuất bản Tháng 5/2018 Nguồn sách Thư viện tỉnh Lâm Đồng Tạo ebook PlanetVN https://thuviensach.vn Ngày hoàn thành 20/3/2020 https://thuviensach.vn GIỚI THIỆU VỀ TÁC PHẨM Kể từ hơn nửa tỷ năm trước, năm đợt tuyệt chủng đã diễn ra, khi sự đa dạng sống trên trái đất bất ngờ thu hẹp lại. Và phải chăng chúng ta đang bước vào đợt tuyệt chủng kế tiếp - đợt tuyệt chủng thứ sáu - diễn ra trong thế Nhân sinh, một thế địa chất mà con người thống trị trên nhiều khía cạnh. Để trả lời nghi vấn này, ELIZABETH KOLBERT đã theo chân các nhà khoa học khảo sát sự tồn tại và xác nhận sự biến mất một số loài ở khắp các vùng trên trái đất. Từ loài ếch vàng ở Panama đến loài voi răng mấu châu Mỹ, từ lũ chim ăng-ca khờ khạo đến loài cúc đá nhỏ bé. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa chúng ta đến các thử nghiệm và nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của đợt tuyệt chủng thứ sáu. Trong đó, nổi bật nhất chính là những hành động do con người gây ra với các hệ sinh học và địa hóa học của trái đất như: thải quá nhiều carbon dioxide, làm axít hóa các đại dương, chặt rừng nhiệt đới... Và câu hỏi lớn ở đây: Con người phải chăng đang vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một đợt tuyệt chủng kế tiếp? https://thuviensach.vn NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM “Thật là một cuốn sách tuyệt vời, và nó làm sáng tỏ rằng những thay đổi lớn đột ngột có thể xảy ra; chúng không hề nằm ngoài phạm vi khả năng. Chúng từng xảy ra trước đây, và chúng có thể lại xảy ra lần nữa.” - Cựu tổng thống BARACK OBAMA. https://thuviensach.vn MỘT SỐ TRÍCH DẪN TRONG TÁC PHẨM “Bằng cách đẩy những loài khác tới tuyệt chủng, con người đang hối hả cưa đi cành cây mà họ cũng ngồi trên đó.” – Nhà sinh thái học PAUL EHRLICH, đại học Stanford. “Nếu bạn muốn nghĩ về việc tại sao con người lại quá nguy hiểm cho những loài khác, bạn có thể hình dung ra cảnh tượng một tay thợ săn ở châu Phi mang một khẩu AK-47 hay một tay lâm tặc đang chặt rừng ở Amazon với một cây rìu, hay còn hơn nữa, bạn có thể mường tượng ra chính mình, cầm một quyển sách trên tay.” – ELIZABETH KOLBERT. “Homo sapiens có thể không phải là tác nhân duy nhất của đợt tuyệt chủng thứ sáu, nhưng đang đối mặt với rủi ro là một trong những nạn nhân của đợt tuyệt chủng đó.” – Nhà nhân chủng học RICHARD LEAKEY, đại học Stony Brook. ... “Nếu có nguy cơ nào trong hành trình của loài người, thì đó không hẳn là sự tồn tại của bản thân giống loài chúng ta vốn là sự đáp ứng điều trớ trêu cơ bản của tiến hóa ở các tổ chức hữu cơ: rằng ngay khoảnh khắc đạt được sự thấu hiểu bản thân thông qua tư duy của con người, cuộc sống đã gieo rắc bất hạnh lên những tạo vật đẹp đẽ nhất.” – E. O. WILSON. “Hàng thế kỷ và hàng thế kỷ đã trôi qua, mọi chuyện chỉ xảy ra ở thời hiện tại.” – JORGE LUIS BORGES. https://thuviensach.vn GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ Mặc dù hệ đơn vị trong khoa học là hệ mét, nhưng hầu hết người Mỹ tư duy theo đơn vị dặm, mẫu Anh và độ Fahrenheit. Tất cả những con số trong sách này sử dụng đơn vị kiểu Anh, trừ những chỗ có ghi chú riêng. Trong cuốn sách chúng tôi cũng giữ nguyên những đơn vị này. Một số phần chúng tôi quy đổi tại chú thích để độc giả tiện theo dõi, còn lại xin độc giả quy đổi giúp. https://thuviensach.vn LỜI NÓI ĐẦU Người ta vẫn nói rằng những sự khởi đầu có khuynh hướng mờ ảo. Câu chuyện này cũng như thế, vốn bắt đầu với sự đột sinh của một giống loài mới có lẽ là vào 200 nghìn năm trước. Giống loài này chưa có tên riêng, mà chưa giống loài nào hồi đó có tên cả, nhưng giống loài mới này có năng lực đặt tên cho mọi thứ. Cũng như bất cứ giống loài non trẻ nào khác, vị thế của giống loài này đầy bất trắc. Số lượng ít, và nơi sinh sống giới hạn ở một rẻo đất phía Đông châu Phi. Từ từ dân số giống loài đó tăng lên, nhưng khả năng lớn là nó đã lại giảm đi, một số người cho rằng tới mức gần như tuyệt diệt, đến chỉ còn lại vài nghìn cặp đôi. Những sinh vật của giống loài này không đặc biệt nhanh nhẹn, mạnh mẽ, hay dễ sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, chúng lại cực kỳ tháo vát. Dần dần chúng tràn tới những vùng có khí hậu khác, những con thú săn mồi khác và những con mồi khác. Không một hạn chế thông thường về môi trường sống hay về địa lý nào cản được bước chúng. Chúng băng qua những con sông, bình nguyên, rặng núi. Ở những vùng ven biển, chúng mò sò ốc; sâu trong đất liền, chúng săn các loài có vú. Ở khắp những nơi chúng định cư, chúng thích nghi và sáng tạo. Khi tới châu Âu, chúng đối mặt với những sinh vật rất giống chúng, nhưng vạm vỡ hơn và có lẽ là khỏe mạnh hơn, những kẻ đó đã sống ở lục địa này lâu hơn chúng nhiều. Chúng giao phối với những sinh vật này và rồi, bằng cách này cách khác, diệt sạch các sinh vật đó. Kết thúc của mối tình đó hóa ra thật mẫu mực. Khi giống loài đó mở rộng phạm vi sinh sống, chúng chạm trán với những động vật to lớn gấp đôi, gấp mười, và thậm chí gấp hai mươi lần chúng: những con mèo lớn, những con gấu khổng lồ, những con rùa to như voi, những con lười cao mười lăm foot. Những loài đó mạnh mẽ hơn và thường dữ https://thuviensach.vn tợn hơn chúng. Nhưng những loài đó sinh nở chậm hơn và dần bị quét sạch. Dù là một động vật trên cạn, giống loài này của chúng ta, nhờ liên tục phát kiến, đã vượt biển. Chúng ta đã tới những hòn đảo nơi những kẻ ngoại lệ của tiến hóa sinh sống: những con chim đẻ ra trứng dài hàng foot, những con hà mã kích thước bằng một con lợn, những con thằn lằn khổng lồ. Đã quen với đời sống cô lập, những sinh vật này được trang bị nghèo nàn trong cuộc đối phó với những kẻ mới tới hay những hành khách đi theo chúng (chủ yếu là chuột). Rất nhiều trong số những loài này cũng không chống chịu nổi. Quá trình đó tiếp diễn, lúc dừng lúc chạy, trong hàng nghìn năm, cho tới khi giống loài này, không còn là một loài quá mới, trên thực tế đã trải khắp mọi ngóc ngách của địa cầu. Ở thời điểm đó, một vài điều ít nhiều cùng lúc xảy ra đã cho phép Homo sapiens [*], như sau này giống loài này tự gọi nó, sinh sản ở một tốc độ chưa có tiền lệ. Trong vòng một thế kỷ, dân số tăng gấp đôi; rồi gấp đôi lần nữa, rồi lần nữa. Những cánh rừng mênh mông bị phá trụi. Loài người làm điều đó một cách có chủ ý, để kiếm cái ăn cho mình. Ít chủ ý hơn, họ chuyển những tổ chức hữu cơ từ lục địa này sang lục địa khác, sắp xếp lại toàn bộ hệ sinh thái. Trong khi đó, một sự thay đổi kỳ lạ hơn và còn căn bản hơn nữa đang diễn ra. Nhờ việc phát hiện ra những mỏ năng lượng ngầm dưới đất, loài người bắt đầu thay đổi thành phần của bầu khí quyển. Điều này, tới lượt nó, làm thay đổi khí hậu và đặc tính hóa học của các đại dương. Một số loại thực vật và động vật thích nghi bằng cách chuyển đi nơi khác. Chúng trèo lên những dãy núi và di cư về các địa cực. Nhưng rất nhiều loài, đầu tiên là vài trăm rồi vài nghìn và cuối cùng có lẽ tới vài triệu, bị bỏ lại. Tốc độ tuyệt chủng tăng mạnh, và kết cấu của sự sống thay đổi. Trước đây chưa từng có sinh vật nào làm thay đổi sự sống trên hành tinh này theo cách đó, cũng chưa từng xảy ra những sự kiện tương tự. https://thuviensach.vn Rất, rất hiếm khi trong quá khứ xa xôi, hành tinh này trải qua thay đổi đảo lộn tới mức sự đa dạng của sự sống giảm mạnh như thế. Năm trong các sự cố đó thảm họa tới mức chúng được xếp thành loại riêng: Ngũ đại Biến cố (The Big Five). Trong những thứ có vẻ là một sự trùng hợp kỳ lạ, nhưng có thể chẳng trùng hợp chút nào, lịch sử các biến cố này chỉ được phát hiện khi con người nhận ra rằng họ đang gây ra một biến cố nữa. Khi vẫn còn quá sớm để nói rằng liệu biến cố mới có đạt tới tầm mức như Ngũ đại Biến cố hay không, thì người ta đã kịp gọi nó là Đợt tuyệt chủng thứ sáu. Câu chuyện về Đợt tuyệt chủng thứ sáu, ít ra qua những gì tôi lựa chọn để kể, sẽ tới trong mười ba chương sách. Mỗi chương dõi theo một giống loài mà theo cách này cách khác có tính điển hình: voi răng mấu châu Mỹ, chim ăng-ca lớn, một loài ốc đã biến mất vào cuối kỷ Phấn trắng (hay kỷ Creta) cùng loài khủng long. Những sinh vật ở các chương đầu đã biến mất rồi, và phần này của cuốn sách chủ yếu quan tâm tới những vụ tuyệt chủng lớn của quá khứ và lịch sử đầy gay cấn của việc phát hiện ra những đợt tuyệt chủng đó, bắt đầu với công trình của nhà tự nhiên học người Pháp Georges Cuvier. Phần thứ hai của cuốn sách diễn ra ngay trong thời hiện tại, ở vùng rừng nhiệt đới Amazon đang ngày càng bị phân mảnh, trên những triền núi đang ấm lên nhanh chóng của dãy Andes, và bên ngoài rạn san hô Great Barrier. Tôi chọn đi đến những nơi cụ thể này vì các lý do mang tính báo chí thông thường, vì ở đó có một trạm nghiên cứu hay vì có người mời tôi bám theo một đoàn thám hiểm. Quy mô của thay đổi đang diễn ra lớn tới mức giờ đây tôi có thể gần như tới bất cứ nơi nào và với sự hướng dẫn phù hợp, sẽ tìm thấy những dấu hiệu thay đổi. Một chương lưu tâm tới sự tuyệt diệt xảy ra ít nhiều ngay trong sân sau nhà tôi (và rất có thể, cả nhà bạn nữa). Nếu tuyệt chủng là một đề tài chết chóc, thì tuyệt chủng trên diện rộng hoàn toàn là một đề tài, quả nhiên là chết chóc khắp nơi. Đó cũng là một đề tài kỳ lạ. Trong những trang tiếp đây, tôi cố gắng truyền tải cả https://thuviensach.vn hai phía: sự phấn khích của những gì đang được học hỏi lẫn nỗi kinh hoàng do nó gây ra. Hy vọng của tôi là những người đọc cuốn sách này sẽ gập cuốn sách lại với sự trân trọng những khoảnh khắc thực sự phi thường mà chúng ta đang được sống. https://thuviensach.vn MỤC LỤC Ghi chú của tác giả Lời nói đầu Chương I: Đợt tuyệt chủng thứ 6 Chương II: Răng hàm của voi răng mấu Chương III: Chim cánh cụt nguyên bản Chương IV: Vận may của loài cúc đá Chương V: Chào mừng đến thế nhân sinh Chương VI: Biển ở quanh ta Chương VII: Axít từ trên trời rơi xuống Chương VIII: Rừng và cây Chương IX: Những hòn đảo trên cạn Chương X: Một toàn lục địa mới Chương XI: Siêu âm cho tê giác Chương XII: Gien điên rồ Chương XIII: Thứ có lông vũ Lời cảm ơn https://thuviensach.vn CHƯƠNG I ĐỢT TUYỆT CHỦNG THỨ 6 Atelopus zeteki Thị trấn El Valle de Antón, ở miền Trung Panama, nằm giữa một miệng núi lửa được hình thành khoảng một triệu năm trước. Miệng núi lửa này rộng gần bốn dặm, nhưng khi thời tiết quang đãng bạn có thể nhìn thấy những triền đồi nhấp nhô xung quanh thị trấn như những bức tường của một tòa tháp đổ nát. El Valle có một đại lộ chính, một đồn cảnh sát và một khu chợ trời. Ngoài những mặt hàng đặc sản truyền thống như nón rộng vành Panama và đồ dệt may sặc sỡ, khu chợ này có lẽ còn là nơi lớn nhất bày bán tượng nhỏ các chú ếch vàng. Những chú ếch vàng ngồi trên lá, những chú ếch vàng ngồi xổm và - khó hiểu hơn đôi chút - những chú ếch vàng có móc gài vào điện thoại di động. Những chú ếch vàng mặc váy diềm xếp, những chú ếch vàng múa cột và những chú ếch vàng hút tẩu, theo thời trang của FDR [*]. Ếch vàng, màu vàng giống xe taxi với những chấm nâu đậm, là sinh vật đặc hữu ở vùng El Valle này. Nó được coi là biểu tượng may mắn ở Panama; hình ảnh về nó được in (hay ít ra từng được in) trên những tấm vé số. Mới một thập niên trước, có thể bắt gặp những chú ếch vàng dễ dàng trên những triền đồi xung quanh E1 Valle. Những chú ếch này có độc, người ta tính toán rằng lượng chất độc trong da của chỉ một con ếch có thể giết chết một nghìn con chuột cỡ trung bình, vì thế chúng mới có màu sắc sặc sỡ khiến chúng nổi bật trên mặt đất rừng già. Một nhánh sông nhỏ cách không xa El Valle được gọi là Suối Ngàn Ếch. Ai đi dọc theo con suối đó sẽ thấy nhiều ếch vàng đang ngồi tắm nắng bên bờ suối tới mức, như một nhà nghiên cứu bò sát đã nhiều lần đi đến đây, nói với tôi, “thật điên rồ - hoàn toàn điên rồ.” Rồi những chú ếch ở vùng El Valle bắt đầu biến mất. Sự bất thường này, lúc đó còn chưa được nhìn nhận là một cuộc khủng hoảng, lần đầu được chú ý tới ở miền Tây, gần biên giới Panama với Costa Rica. Một sinh viên sau https://thuviensach.vn đại học người Mỹ tình cờ nghiên cứu những chú ếch trong rừng nhiệt đới ở đó. Cô về Mỹ một thời gian để viết luận văn, và khi quay lại, cô không tìm thấy chú ếch nào nữa, hay cũng quan trọng không kém, không thể tìm thấy bất cứ sinh vật lưỡng cư nào. Cô không hiểu điều gì đã xảy ra, nhưng vì cần ếch cho nghiên cứu của mình, cô đã lập nên một khu nghiên cứu mới, xa hơn về phía Đông. Ban đầu những con ếch ở khu mới có vẻ khỏe mạnh; rồi điều tương tự lại xảy ra: những sinh vật lưỡng cư biến mất. Sự hủy diệt lan khắp khu rừng nhiệt đới cho tới khi, vào năm 2002, những con ếch trên các triền đồi và dòng suối xung quanh thị trấn Santa Fe, cách El Valle khoảng năm mươi dặm về phía Tây, trên thực tế đã bị xóa sổ hoàn toàn. Vào năm 2004, những xác ếch nhỏ bắt đầu xuất hiện thậm chí là còn gần hơn với El Valle, xung quanh thị trấn El Copé. Tới lúc này, một nhóm các nhà sinh vật học, một số là người Panama, số còn lại là người Mỹ, đã kết luận rằng loài ếch vàng đang đối mặt với mối đe dọa sống còn. Họ quyết định tìm cách bảo tồn những con ếch còn lại bằng cách chuyển vài chục con đực và cái mỗi loại ra khỏi rừng và nuôi chúng trong nhà. Nhưng thứ đã giết chết những con ếch ra tay còn nhanh hơn sự lo ngại của những nhà sinh vật học. Trước khi họ kịp hành động theo kế hoạch, một làn sóng hủy diệt tràn đến. *** Lần đầu tiên tôi đọc về những con ếch ở El Valle là trong một tạp chí tự nhiên cho trẻ em mà tôi cầm của các con mình. Bài viết được minh họa bằng những tấm ảnh màu về ếch vàng Panama và các loài sặc sỡ khác, kể lại câu chuyện về tai họa đang lan rộng với loài ếch và những nỗ lực của các nhà sinh học để đi trước một bước. Các nhà sinh học đã hy vọng sẽ xây kịp một cơ sở thí nghiệm mới ở El Valle, nhưng rồi phòng thí nghiệm không sẵn sàng đúng lúc. Họ chạy đua để cứu được càng nhiều con ếch càng tốt, dù họ không có nơi nào để giữ chúng. Vậy rốt cuộc họ đã làm gì? Họ đưa chúng “vào một khách sạn ếch, tất nhiên rồi!”. “Khách sạn ếch diệu kỳ” - thật sự là một nơi nghỉ qua đêm có đồ ăn sáng ở địa phương - đã đồng ý cho các chú ếch ở lại (trong những chiếc thùng) ở một dãy phòng trọ. https://thuviensach.vn “Nhờ các nhà sinh vật học lúc nào cũng sẵn sàng tuân lệnh, những con ếch được tận hưởng tiện nghi nơi ở hạng nhất bao gồm người phục vụ và dịch vụ phòng,” bài báo viết. “Những con ếch cũng được phục vụ các bữa ăn ngon lành, đồ ăn tươi sống, thực tế là tươi sống tới mức còn nhảy ra khỏi đĩa.” Chỉ vài tuần sau khi đọc bài “khách sạn ếch diệu kỳ” đó, tôi đọc được một bài báo khác liên quan tới ếch được viết theo lối khác. Bài báo này, đăng trên Proceedings of the National Academy of Sciences (tạm dịch: Kỷ yếu của Viện Khoa học Quốc gia) do hai nhà nghiên cứu bò sát viết. Tựa đề là “Phải chăng chúng ta đang ở giữa Đợt tuyệt chủng thứ sáu? Một cái nhìn từ thế giới các loài lưỡng cư”. Các tác giả, David Wake, của Đại học California Berkeley, và Vance Vredenburg, của Đại học San Francisco State, cho rằng đã có “năm đợt tuyệt chủng trên diện rộng trong suốt lịch sử sự sống trên hành tinh này”. Những đợt tuyệt chủng đó được họ mô tả là những biến cố dẫn tới “một sự mất mát sâu sắc đối với đa dạng sinh học”. Đợt tuyệt chủng thứ nhất diễn ra vào cuối kỷ Ordovic, khoảng 450 triệu năm trước, khi những sinh vật sống chủ yếu còn ở dưới nước. Đợt tuyệt chủng có sức tàn phá lớn nhất xảy ra vào cuối kỷ Permi, khoảng 250 triệu năm trước, và nó suýt chút nữa thì đã quét sạch trái đất chúng ta (Biến cố này đôi khi được gọi là “mẹ của những đợt tuyệt chủng diện rộng” hay “đại chết chóc”). Đợt gần đây nhất và nổi tiếng nhất là đợt tuyệt chủng diện rộng diễn ra vào cuối kỷ Phấn trắng; nó đã quét sạch không chỉ loài khủng long mà cả loài bò sát hải long [*], loài thương long [*], loài cúc đá [*] và loài dục long [*]. Wake và Vredenburg lập luận rằng, dựa trên tốc độ tuyệt chủng của những loài lưỡng cư, một biến cố trong tự nhiên với mức độ thảm họa tương đương đang diễn ra hiện nay. Bài báo của họ chỉ có một bức ảnh minh họa, khoảng một chục con ếch núi chân vàng, tất cả đều đã chết - phơi bụng trương phềnh trên những hòn đá. https://thuviensach.vn Tôi hiểu tại sao một tạp chí trẻ em lại lựa chọn đăng ảnh ếch sống thay vì ếch chết. Tôi cũng hiểu động cơ của việc nói quá lên theo phong cách hấp dẫn kiểu Beatrix Potter [*] như dịch vụ đặt phòng cho loài lưỡng cư. Dẫu vậy, với tư cách một nhà báo, tôi thấy rằng tờ tạp chí có vẻ đã bỏ qua những điểm trọng yếu mà chỉ nhấn vào điều không quan trọng. Bất cứ sự kiện nào chỉ xảy ra năm lần kể từ khi những động vật có xương sống đầu tiên xuất hiện, khoảng 500 triệu năm trước, phải được xếp vào loại vô cùng hiếm. Quan niệm cho rằng ngay lúc này có một sự kiện thứ sáu như thế đang xảy ra, ít nhiều là ngay trước mắt chúng ta, khiến tôi cảm thấy, dùng thuật ngữ chuyên môn, là cực kỳ ngạc nhiên và phấn khích. Chắc chắn là câu chuyện này - câu chuyện lớn hơn, đen tối hơn và để lại nhiều hậu quả hơn hẳn - xứng đáng để kể lại. Nếu Wake và Vredenburg đúng, thì chính những con người chúng ta đang sống hôm nay không chỉ đang chứng kiến một trong những biến cố hiếm thấy nhất trong lịch sử sự sống, chúng ta còn đang gây ra biến cố đó. “Một giống loài yếu ớt,” bộ đôi tác giả này nhận xét, “đã đạt được, mà không hề có chủ ý, một năng lực gây ảnh hưởng trực tiếp lên số phận của mình và số phận của hầu hết các giống loài khác trên hành tinh này.” Vài ngày sau khi đọc bài báo của Wake và Vredenburg, tôi đã đặt vé máy bay đi Panama. https://thuviensach.vn *** Trung tâm Bảo tồn loài Lưỡng cư El Valle (El Valle Amphibian Conservation Center), hay EVACC (đọc là “ee-vac”), nằm dọc theo một con đường bụi bặm không xa khu chợ trời bán những bức tượng ếch vàng nho nhỏ. Nó có quy mô gần giống một trang trại vùng ngoại ô, chiếm một góc phía sau của một vườn thú nhỏ, im lìm, ngay bên cạnh một chiếc lồng nhốt những con lười lúc nào cũng ngái ngủ. Cả tòa nhà chất đầy các bồn chứa. Những bồn chứa này xếp thành hàng dựa vào tường và nhiều bồn thì chất chồng lên nhau thành đống ở giữa phòng, giống như những cuốn sách trên giá trong một thư viện. Những bồn cao hơn là nơi ở của những loài như ếch cây lemur, vốn sống dưới vòm lá của rừng nhiệt đới; những bồn thấp hơn là của những loài như ếch tướng cướp đầu to, vốn sống trên mặt đất trong rừng. Những bồn của loài ếch sừng có túi mang trứng trong một chiếc túi, xếp cạnh những bồn của loài ếch mũ sắt lại mang trứng ở trên lưng. Vài chục bồn khác dành cho những con ếch vàng Panama, Atelopus zeteki. Ếch vàng có điệu bộ riêng, dáng đi khoan thai khiến chúng giống như những người say rượu đang cố bước theo một đường thẳng. Chúng có các chi dài, mảnh mai, chiếc mũi nhọn màu vàng, và đôi mắt đen nháy mà có vẻ qua đó chúng nhìn thế giới đầy lo lắng. Bất chấp rủi ro đưa ra các phát biểu nghe có vẻ hoang tưởng, tôi muốn nói rằng nhìn chúng rất thông minh. Trong tự nhiên, ếch cái đẻ trứng ở những nơi nước chảy nông; trong khi đó, ếch đực bảo vệ lãnh địa của chúng từ trên các tảng đá rong rêu. Ở EVACC, mỗi bồn ếch vàng có dòng nước chảy riêng, nhờ vòi nước nhỏ cho riêng nó, để các con vật này có thể sinh đẻ gần một khung cảnh suối giả giống nơi từng là nhà của chúng. Ở một trong những dòng suối thay thế đó, tôi để ý thấy một dây trứng ếch nhỏ như những hạt ngọc. Trên tấm bảng trắng gần đó có người đã ghi chú đầy háo hức rằng một chú ếch đã “depositó huevos!!” [*]. EVACC nằm đâu đó ngay giữa khu vực sinh sống của loài ếch vàng, nhưng bởi thiết kế, trung tâm hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Không có thứ gì vào tòa nhà đó mà không được khử trùng hoàn toàn, bao https://thuviensach.vn gồm cả những chú ếch, để được vào đó, chúng phải được xử lý bằng một loại chất tẩy rửa riêng. Khách tới trung tâm được yêu cầu đi giày chuyên dụng và để lại mọi loại túi hay thiết bị mà họ từng sử dụng bên ngoài. Tất cả nước chảy vào bồn đều đã được lọc và xử lý đặc biệt. Tính chất cách ly khỏi tự nhiên của nơi này tạo cảm giác nó giống như một chiếc tàu ngầm, hay có lẽ một so sánh sát hơn, một chiếc tàu chạy nạn đại hồng thủy cỡ vừa. Một chú ếch vàng Panama (Atelopus zeteki) Giám đốc của EVACC là một người Panama tên là Edgardo Griffith. Griffith cao ráo với đôi vai rộng, khuôn mặt tròn và nụ cười rộng mở. Anh đeo khuyên tai bạc ở cả hai tai và có một hình xăm lớn bộ xương ếch ở bắp chân bên trái. Hiện vào giữa tuổi ba mươi, Griffith đã dành gần như cả đời cho những loài lưỡng cư ở El Valle, anh còn biến cả vợ mình, một phụ nữ Mỹ tới Panama trong vai trò tình nguyện viên của Đội Hòa bình [*], thành một người mê ếch. Griffith là người đầu tiên để ý khi những xác ếch bắt đầu xuất hiện trong vùng, và cá nhân anh đã thu lượm rất nhiều trong số vài trăm động vật lưỡng cư được đưa vào khách sạn (Các con vật được chuyển sang EVACC sau khi tòa nhà hoàn tất). Nếu EVACC là một kiểu tàu chạy nạn đại hồng thủy, thì Griffith trở thành Noah của con tàu đó, dù nhiệm vụ của anh còn lớn hơn, bởi anh đã làm công việc này lâu hơn nhiều so với bốn mươi ngày của Noah. Griffith nói với tôi rằng một phần then chốt trong công việc https://thuviensach.vn của anh là tìm hiểu rõ từng con ếch một. “Mỗi con ếch có giá trị với tôi như một con voi,” anh nói. Lần đầu tiên tôi tới thăm EVACC, Griffith chỉ cho tôi đại diện của những loài hiện đang tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Những loài này ngoài ếch vàng Panama gồm có ếch cây chân màng Rabbs, loài mới được nhận dạng lần đầu tiên vào năm 2005. Khi tôi tới thăm, EVACC chỉ còn một con ếch Rabbs, nên khả năng cứu được dù chỉ một cặp đôi kiểu Noah thôi rõ ràng đã qua. Con ếch này, màu nâu hơi xanh với những đốm vàng, dài khoảng bốn inch, với những cái chân lớn khiến chúng nhìn như một cậu thiếu niên ngổ ngáo. Ếch cây chân màng Rabbs sống trong cánh rừng phía trên El Valle, và chúng đẻ trứng trong các hốc cây. Trong một sự xếp đặt khác thường, thậm chí là có một không hai, những con ếch đực chăm sóc cho bầy nòng nọc bằng cách để các con còn non, theo đúng nghĩa đen, ăn phần da trên lưng chúng. Griffith nói anh nghĩ có thể còn nhiều loài lưỡng cư khác đã bị bỏ qua trong cuộc tìm kiếm thu thập ban đầu vội vàng cho EVACC và từ đó tới nay đã biến mất; khó mà nói được bao nhiêu loài, do hầu hết chúng có lẽ còn chưa được khoa học biết tới. “Thật không may,” anh nói với tôi, “chúng ta đang mất tất cả những loài lưỡng cư thậm chí trước cả khi chúng ta biết chúng tồn tại.” “Ngay cả những người dân bình thường ở El Valle cũng nhận thấy điều đó,” anh nói. “Họ nói với tôi, ‘Điều gì đã xảy ra với những con ếch? Chúng tôi không còn nghe thấy tiếng ếch kêu nữa’.” *** Một vài thập niên trước, khi những báo cáo đầu tiên về việc số lượng ếch đang giảm mạnh bắt đầu được loan đi, một số nhân vật có kiến thức uyên bác nhất trong lĩnh vực này cũng là những người hoài nghi nhất. Rốt cuộc, các loài lưỡng cư thuộc nhóm những kẻ sinh tồn vĩ đại nhất của hành tinh. Tổ tiên của những con ếch ngày nay rời khỏi mặt nước khoảng 400 triệu năm trước, và tới khoảng 250 triệu năm trước, những đại diện sớm nhất của các loài sau này sẽ đại diện cho các bộ [*] lưỡng cư - bộ một bao gồm các loài ếch và cóc, bộ hai là các loài sa giông và kỳ giông có đuôi, và bộ ba là https://thuviensach.vn những sinh vật kỳ lạ không có chi được gọi là bộ không chân - là bộ đã tiến hóa. Điều này đồng nghĩa loài lưỡng cư đã tồn tại không chỉ lâu hơn loài động vật có vú, hay loài chim; chúng đã tồn tại từ thời khoảng trước khi có loài khủng long. Hầu hết loài lưỡng cư - từ này (amphibian) có gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “đời kép” - vẫn gắn chặt với những vùng nước mà từ đó chúng đã xuất hiện (Người Ai Cập cổ đại cho rằng ếch được tạo ra bởi việc kết hợp đất và nước trong những trận lụt hằng năm của sông Nile). Trứng của chúng, vốn không có vỏ, phải được giữ trong môi trường độ ẩm cao thì mới phát triển được. Rất nhiều loài ếch, như ếch vàng Panama, đẻ trứng trong những dòng suối. Cũng có những loài ếch đẻ trứng trong các vũng nước tù, những loài ếch đẻ trứng trên mặt đất, và những loài ếch đẻ trứng trong tổ mà chúng xây bằng bọt nước. Ngoài những loài ếch mang trứng trên lưng và trong túi, có những loài ếch mang trứng buộc thành một kiểu gạc quanh chân. Cho tới tận gần đây, khi cả hai đã tuyệt chủng, có hai loài ếch, được biết đến là loài ếch ấp trứng trong dạ dày, mang trứng trong bao tử và sinh ếch con qua đường miệng. Các loài lưỡng cư nổi lên ở một thời điểm mà đất liền trên trái đất còn là một khối duy nhất tên gọi Toàn Lục địa [*]. Kể từ khi Toàn Lục địa chia tách, chúng đã thích nghi với những điều kiện ở tất cả các châu lục ngoại trừ Nam Cực. Trên toàn thế giới, mới có hơn bảy nghìn loài được xác định, trong khi phần lớn nhất được tìm thấy ở các rừng mưa nhiệt đới, thỉnh thoảng có những loài lưỡng cư, như loài ếch đụn cát ở Úc sống trong sa mạc, và cũng có những loài lưỡng cư, như loài ếch gỗ có thể sống ở khu vực địa lý nằm phía trên Vòng Bắc cực [*]. Một số loài ếch phổ biến ở Bắc Mỹ, bao gồm loài nhái huýt gió, có thể sống được trong những cấu trúc băng giá rắn của mùa đông, như những que kem. Lịch sử tiến hóa lâu dài của chúng hàm ý ngay cả những nhóm lưỡng cư mà nhìn từ quan điểm của con người có vẻ tương đối giống nhau, cũng có thể, nói về mặt di truyền, khác nhau như thể loài dơi với loài ngựa. https://thuviensach.vn David Wake, một trong các tác giả của bài báo đã khiến tôi lên đường tới Panama, là một trong những người ban đầu không tin rằng các loài lưỡng cư đang biến mất. Hồi đó là thời giữa những năm 1980. Các sinh viên của Wake tay trắng trở lại từ những chuyến đi thu thập ếch ở Sierra Nevada. Wake nhớ lại hồi ông còn là sinh viên, vào những năm 1960, rằng ếch ở Sierra rất đông đúc và khó tránh. “Bạn đi bộ qua những đồng cỏ, và bạn vô tình giẫm lên chúng,” ông kể với tôi. “Chúng ở khắp mọi nơi.” Wake cho rằng các sinh viên của ông đã tới nhầm chỗ, hay họ đơn giản là không biết cách tìm. Rồi một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ đã có vài năm kinh nghiệm đi thu thập mẫu nói với ông rằng anh ta cũng không thể tìm thấy con vật lưỡng cư nào. “Tôi nói, ‘Được rồi, tôi sẽ đi với các anh, và chúng ta sẽ tới vài chỗ đã được khẳng định là có,’” Wake nhớ lại. “Và tôi dẫn anh ta tới nơi đó, và chúng tôi chỉ tìm được hai con cóc.” Một phần lý do khiến tình hình trở nên bí ẩn là địa lý; lũ ếch dường như đang biến mất không chỉ ở các khu vực đông dân cư và các khu vực chúng bị làm phiền, mà cả ở những nơi khá hẻo lánh, như vùng Sierra và các dãy núi ở Trung Mỹ. Vào cuối những năm 1980, một nhà bò sát và lưỡng cư học người Mỹ đã tới Khu bảo tồn Rừng Sương mù Monteverde ở Bắc Costa Rica để nghiên cứu thói quen sinh sản của loài cóc vàng. Bà đã dành hai mùa thực nghiệm hiện trường để quan sát; nơi những con cóc từng bắt đôi hàng đàn hàng lũ, giờ chỉ có độc một con cóc đực (Loài cóc vàng này, giờ được xếp vào loại đã tuyệt chủng, thực ra có màu cam sáng. Nó chỉ có họ hàng xa với loài ếch vàng Panama vì có hai tuyến lệ ở dưới mắt, về mặt kỹ thuật cũng phải được xếp loại là cóc). Cùng lúc đó, ở miền trung Costa Rica, các nhà sinh vật học để ý thấy số lượng một số loài ếch đặc hữu đang giảm mạnh. Những loài hiếm và được xếp loại đặc biệt cao đang biến mất, tương tự là những loài quen thuộc hơn nhiều. Ở Ecuador, cóc Jambato, một khách quen của các khu vườn sau nhà, đã biến mất chỉ trong một năm. Và ở Đông Bắc Úc, loài ếch ngày phương Nam, một thời từng phổ biến nhất ở trong vùng, không còn xuất hiện. https://thuviensach.vn Dấu vết đầu tiên về kẻ giết ếch bí ẩn từ Queensland tới California đến từ - có thể là trớ trêu, có thể là không - một vườn thú. Vườn thú Quốc gia, ở Washington, D.C., đã cho sinh nở thành công trong điều kiện nuôi nhốt loài ếch xanh mũi tên độc, vốn sống ở Suriname, qua nhiều thế hệ. Rồi bỗng một lúc hết ngày này qua ngày khác, những con ếch nuôi trong bồn ở vườn thú bắt đầu giảm về số lượng. Một nhà bệnh học thú y của vườn thú lấy một số mẫu từ các con ếch chết và đưa chúng chạy qua kính hiển vi quét bằng tia electron. Ông tìm thấy một cấu trúc hữu cơ vi mô lạ trên da các con vật, mà ông rốt cuộc xác định được là một loại nấm thuộc nhóm hồ khuẩn [*]. Nấm hồ khuẩn có mặt gần như khắp nơi; có thể tìm thấy chúng trên các ngọn cây cũng như sâu dưới lòng đất. Tuy nhiên, loài đặc biệt này chưa bao giờ được tìm thấy; thật ra, nó khác thường tới mức cả một chi mới phải được tạo ra để đưa nó vào. Nó được đặt tên là Batrachochytrium dendrobatidis, batrachos là từ tiếng Hy Lạp để chỉ “ếch” hay viết tắt là Bd. Nhà bệnh học thú y đã gửi mẫu từ những con ếch bị nhiễm nấm ở Vườn thú Quốc gia cho một chuyên gia nghiên cứu nấm ở Đại học Maine. Chuyên gia nghiên cứu nấm đã nuôi cấy loại nấm này và gửi một số trở lại Washington. Khi những con ếch xanh mũi tên độc khỏe mạnh bị nhiễm nấm Bd nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, chúng bị ốm. Trong ba tuần, chúng chết. Nghiên cứu tiếp theo cho thấy nấm Bd can thiệp vào khả nâng hấp thụ một số chất điện giải qua da của lũ ếch. Điều này khiến chúng mắc một chứng giống như trụy tim. *** Cách tốt nhất để mô tả EVACC có lẽ gọi nó là một công trình còn đang tiến triển dở dang. Trong tuần lễ tôi ở trung tâm này, một nhóm các tình nguyện viên người Mỹ cùng ở đó, giúp tổ chức một buổi triển lãm. Buổi triển lãm dự kiến sẽ mở cửa cho công chúng, nên vì mục đích an ninh sinh học, không gian triển lãm phải được cách ly và thiết kế lối vào riêng cho nó. Trên tường có những hốc nhỏ, nơi các hộp thủy tinh sẽ được đặt vào đó, và xung quanh các hốc tường, người ta vẽ một tranh phong cảnh núi non nhìn rất giống những gì bạn sẽ thấy nếu bạn bước ra ngoài và nhìn lên những https://thuviensach.vn ngọn đồi. Điểm nhấn của cuộc triển lãm là chiếc hộp lớn đầy những chú ếch vàng Panama, và các tình nguyện viên cố gắng xây một thác nước bê tông cao ba foot cho chúng. Nhưng có trục trặc với hệ thống bơm và việc tìm kiếm phụ tùng thay thế ở một thung lũng không cửa hàng điện máy nào là rất khó khăn. Những tình nguyện viên có vẻ đã mất một thời gian dài chỉ quanh quẩn chờ đợi. Tôi đã dành nhiều thời gian quanh quẩn với họ. Giống như Griffith, tất cả những tình nguyện viên là người yêu ếch. Sau này tôi mới biết một vài người trong số họ là nhân viên vườn thú làm việc với loài lưỡng cư khi còn ở Mỹ (Một người kể với tôi rằng những con ếch đã hủy hoại cuộc hôn nhân của anh). Tôi cảm động vì sự nhiệt tình của nhóm, sự nhiệt tình giống như quyết tâm đã giúp đưa những chú ếch vào “khách sạn ếch” và đã giúp EVACC được xây dựng và được vận hành, nếu không muốn nói là toàn bộ nhờ vào sự nhiệt tình đó. Nhưng tôi cũng không khỏi cảm thấy rằng có điều gì đó buồn kinh khủng về những ngọn đồi màu xanh vẽ trên tường và thác nước giả. Với việc gần như không còn con ếch nào trong những khu rừng xung quanh El Valle, lý lẽ ủng hộ việc đưa những con vật này vào EVACC giờ đã được minh chứng rõ ràng. Thế nhưng những con ếch càng ở lâu trong trung tâm, lại càng khó giải thích chúng đang làm gì ở đó. Nấm hồ khuẩn hóa ra lại không cần các loài lưỡng cư để sinh tồn. Điều đó đồng nghĩa với việc sau khi nó đã giết chết tất cả các sinh vật trong vùng, nó vẫn cứ sống tiếp, làm bất cứ điều gì mà nấm hồ khuẩn vẫn làm. Như thế, nếu những chú ếch vàng ở EVACC được phép nhảy lóc cóc trở lại những ngọn đồi thật quanh El Valle, chúng sẽ đau yếu và suy sụp (Dù nấm này có thể bị tiêu diệt bằng nước tẩy, rõ ràng là không thể tẩy sạch cả rừng nhiệt đới). Mọi người mà tôi đã trao đổi ở EVACC nói với tôi rằng mục tiêu của trung tâm là duy trì sự sống cho những con vật này tới khi chúng có thể được thả trở lại để sinh sôi nảy nở trong rừng, và mọi người cũng công nhận rằng họ không thể tưởng tượng nổi có thể làm điều đó trong thực tế bằng cách nào. https://thuviensach.vn “Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách nào đó mọi việc sẽ suôn sẻ,” Paul Crump, một nhà bò sát và lưỡng cư học ở Vườn thú Houston Zoo đang chỉ đạo dự án làm thác nước giả, nói với tôi. “Chúng tôi hy vọng một điều gì đó sẽ xảy ra, và chúng tôi có thể gắn các mảnh ghép lại với nhau, và mọi chuyện sẽ trở lại như xưa, điều mà lúc này tôi nói ra thì nghe thật ngớ ngẩn.” “Mục tiêu là có thể đưa lũ ếch trở về tự nhiên, điều mà càng ngày tôi lại càng thấy như một ý nghĩ kỳ quặc,” Griffith nói. Một khi nấm hồ khuẩn đã quét qua El Valle, nó không dừng lại; nó tiếp tục di chuyển về phía đông. Nó cũng đã đến Panama từ hướng ngược lại, từ Colombia. Nấm Bd đã lan qua những cao nguyên Nam Mỹ và xuống vùng bờ biển phía đông Úc, và đã băng qua biển để tới New Zealand và Tasmania. Nó đã tăng tốc qua Caribe và đã được phát hiện tại Ý, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ và Pháp. Ở Mỹ, nó đã xuất hiện và tỏa ra từ một vài điểm, không hẳn là tỏa ra theo kiểu làn sóng, mà như những gợn sóng nối tiếp nhau. Ở thời điểm đó, với tất cả nỗ lực và toan tính của con người, dường như không thể ngăn cản sự xuất hiện của nó. *** Các nhà sinh học nói về “sự tuyệt chủng nền” cùng giống như các kỹ sư âm thanh nói về “tiếng ồn nền” [*]. Trong cách hiểu về các khoảng thời gian thông thường (các thời kỳ) - các thời kỳ ở đây hàm ý cả một thế (epoch) địa chất [*] - sự tuyệt chủng xảy ra rất hiếm hoi, thậm chí còn hiếm hơn so với sự hình thành loài, và sự tuyệt chủng diễn ra ở mức độ tuyệt chủng nền. Mức độ này thay đổi tùy theo các nhóm hữu cơ khác nhau; thường nó xảy ra ở mức độ cứ mỗi một triệu năm sẽ có vài vụ tuyệt chủng trên một triệu loài. Tính toán mức độ tuyệt chủng nền là một công việc đòi hỏi nhiều công sức, bắt buộc phải lần mò qua toàn bộ cơ sở dữ liệu của các hóa thạch. Với nhóm có lẽ là được nghiên cứu tốt nhất, các loài có vú, tỷ lệ này được ước tính là khoảng 0,25 vụ tuyệt chủng trên một triệu loài trong một triệu năm. Điều đó có nghĩa là, do có khoảng 5.500 loài có vú còn tồn tại ngày nay, với mức độ tuyệt chủng nền như thế, bạn có thể ước tính - một lần nữa, rất áng chừng - cứ 700 năm lại có một loài biến mất. https://thuviensach.vn Tuyệt chủng hàng loạt là chuyện khác. Thay vì sự thong thả của tốc độ tuyệt chủng nền là một vụ sụp đổ mạnh, và tỷ lệ biến mất tăng vọt. Anthony Hallam và Paul Wignail, các nhà cổ sinh vật học người Anh chuyên viết về đề tài này, đã định nghĩa sự tuyệt chủng hàng loạt là những biến cố loại bỏ “một tỷ lệ lớn những vùng sinh vật của thế giới trong một thời gian không đáng kể về mặt phân kỳ địa chất”. Một chuyên gia khác, David Jablonski, nêu các đặc điểm của tuyệt chủng hàng loạt là “sự mất mát lớn đa dạng sinh học” xảy ra nhanh chóng và “ở quy mô toàn cầu”. Michael Benton, một nhà cổ sinh vật học đã nghiên cứu sự tuyệt chủng vào cuối kỷ Permi, sử dụng ẩn dụ về cây đời: “Trong một đợt tuyệt chủng hàng loạt, những mảng rộng của cây cối bị cắt trụi, như thể bị tấn công bởi những kẻ điên mang rìu”. Một nhà cổ sinh vật học thứ năm, David Raup, đã thử nhìn nhận vấn đề từ góc nhìn của các nạn nhân: “Trong phần lớn thời gian, nguy cơ các loài bị tuyệt chủng là rất thấp”. Nhưng “tình trạng của sự an toàn tương đối này bị đảo lộn trong những quãng thời gian ngắn hiếm thấy bởi một mối đe dọa cực kỳ lớn”. Vì thế, lịch sử sự sống bao gồm “những thời kỳ dài nhàm chán kéo dài bị ngắt quãng bất thường bởi sự hoảng loạn”. Ngũ đại biến cố, như thấy được qua tư liệu về hóa thạch sinh vật biển, dẫn tới sự suy giảm mạnh đa dạng sinh học ở mức độ họ (family). Nếu chỉ cần https://thuviensach.vn một loài trong họ đó vượt qua được, họ đó được tính là sống sót, nên ở mức độ loài (species), những mất mát lớn hơn nhiều. Trong những thời kỳ hoảng loạn, toàn bộ các nhóm sinh vật hữu cơ từng một thời thống trị có thể biến mất hay bị giáng xuống các vai trò thứ yếu, gần như thể địa cầu đã trải qua một sự đổi vai. Những mất mát quy mô lớn như thế đã khiến các nhà cổ sinh vật học phỏng đoán rằng trong các biến cố tuyệt chủng hàng loạt - ngoài Ngũ đại Biến cố còn có những biến cố ở quy mô nhỏ hơn - các quy luật sinh tồn thông thường không còn đúng. Những hoàn cảnh thay đổi quá sâu sắc hoặc quá đột ngột (hay quá sâu sắc và quá đột ngột) đến mức lịch sử tiến hóa không còn nhiều ý nghĩa. Thật vậy, chính những tính chất từng hữu ích nhất trong việc đối phó với các mối đe dọa thông thường hóa ra có thể, dưới những tình huống khác thường như vậy, trở thành chết chóc. Tính toán chặt chẽ mức độ tuyệt chủng nền cho loài lưỡng cư chưa được thực hiện, một phần vì các hóa thạch lưỡng cư quá hiếm hoi. Tuy nhiên, gần như chắc chắn là mức độ này thấp hơn so với loài có vú. Có thể cứ mỗi một ngàn năm hoặc tương đương như thế lại có một loài lưỡng cư tuyệt chủng. Loài đó có thể là ở châu Phi, châu Á hay châu Úc. Nói cách khác, xác suất một cá nhân chứng kiến một biến cố như thế về cơ bản là bằng không. Vậy mà Griffith đã chứng kiến vài vụ tuyệt chủng của loài lưỡng cư rồi. Gần như mọi nhà bò sát và lưỡng cư học làm việc trong lĩnh vực này đều đã chứng kiến vài vụ như thế (Ngay cả tôi, lúc bỏ thời gian nghiên cứu cho cuốn sách này, đã gặp phải một loài mà giờ đã tuyệt chủng và ba hay bốn loài khác, như ếch vàng Panama, đang tuyệt chủng ngoài tự nhiên). “Tôi đã theo đuổi sự nghiệp trong ngành bò sát và lưỡng cư vì tôi thích làm việc với động vật,” Joseph Mendelson, một nhà bò sát và lưỡng cư học ở Vườn thú Atlanta, từng viết: “Tôi không ngờ rằng ngành này hóa ra giống với ngành cổ sinh vật học.” Ngày nay, các loài lưỡng cư được nhận danh hiệu mơ hồ là lớp động vật bị đe dọa nhất trên thế giới; người ta đã tính toán rằng tốc độ tuyệt chủng ở nhóm này có thể cao hơn tới 45 nghìn lần so với mức độ tuyệt chủng nền. https://thuviensach.vn Nhưng mức độ tuyệt chủng ở nhiều nhóm khác đang tiến gần tới mức độ tuyệt chủng của loài lưỡng cư. Người ta ước tính một phần ba san hô hình thành nên các rặng san hô, và một phần ba động vật thân mềm nước ngọt, một phần ba loài cá mập và cá đuối, một phần tư tất cả các loài có vú, một phần năm tất cả các loài bò sát, và một phần sáu tất cả các loài chim đang trên đường đi tới diệt vong. Những tổn thất diễn ra khắp nơi: ở Nam Thái Bình Dương và Bắc Đại Tây Dương, ở Bắc Cực và vùng thảo nguyên Sahel, ở các hồ nước và các hòn đảo, trên đỉnh núi và trong các thung lũng. Nếu biết cách nhìn, bạn có thể đã thấy những dấu hiệu của sự tuyệt chủng hiện giờ, thậm chí là ngay sân sau nhà bạn. Có đủ loại lý do có vẻ lộn xộn khiến các loài đang biến mất. Nhưng dò theo tiến trình này đủ xa và sẽ không thể tránh khỏi việc bạn sẽ đi tới cùng một hung thủ: “một giống loài yếu ớt”. Nấm Bd có khả năng tự di chuyển. Nấm này tạo ra các bào tử siêu nhỏ với cái đuôi dài, mảnh; những bào tử này tự đẩy chúng vào trong nước và có thể được mang đi xa hơn nhờ dòng nước, hay trong những đợt lũ sau mưa rừng (Có vẻ như chính cách phân tán này đã tạo ra những gì xuất hiện ở Panama như một tai họa di chuyển từ phương Đông). Nhưng di chuyển kiểu đó không thể giải thích cho sự xuất hiện của loài nấm này, ít nhiều xuất hiện đồng loạt, ở quá nhiều vùng xa xôi của thế giới: Trung Mỹ, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Úc. Một giả thuyết là nấm Bd đã được di chuyển khắp toàn cầu do việc vận chuyển những con ếch có vuốt châu Phi, vốn được dùng vào những năm 1950 và 1960 trong các xét nghiệm mang thai (Con cái của loài ếch có vuốt châu Phi, khi được tiêm nước tiểu của một phụ nữ đang mang thai, sẽ đẻ trứng vài giờ sau đó). Thật đáng suy nghĩ khi ếch có vuốt châu Phi có vẻ không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi nấm Bd, dù chúng bị nhiễm nấm rất nhiều. Giả thuyết thứ hai là loại nấm này được truyền đi bởi loài ếch bò Bắc Mỹ, vốn đã được mang tới - khi vô tình, khi cố ý - châu Âu, châu Á và Nam Mỹ, và thường được xuất khẩu làm thực phẩm cho con người. Cả loài ếch bò Bắc Mỹ cũng bị nhiễm nấm Bd nhiều, nhưng không có vẻ gì là đã bị làm hại. Giả https://thuviensach.vn thuyết thứ nhất được gọi là giả thuyết “Xa mãi châu Phi” và thứ hai được gọi là giả thuyết “Món cháo đùi ếch”. Dù thế nào, thì căn bệnh học vẫn giống nhau. Nếu không được một con người đưa lên tàu hay máy bay, một con ếch mang nấm Bd không thể nào từ châu Phi tới được Úc hay từ Bắc Mỹ tới được châu Âu. Sự đảo lộn liên lục địa này, mà ngày nay chúng ta thấy hoàn toàn chẳng có gì lạ, có lẽ chưa có tiền lệ trong 3,5 tỷ năm lịch sử sự sống. *** Ngay cả dù lúc này nấm Bd đã quét qua phần lớn Panama, Griffith thỉnh thoáng vẫn đi thu thập cho EVACC, tìm kiếm những con ếch còn sống sót. Tôi đã lên kế hoạch chuyến thăm của mình trùng với một trong những chuyến thu thập đó, và một tối tôi xuất phát cùng anh và hai tình nguyện viên người Mỹ khác đang xây thác nước. Chúng tôi đi về phía đông, băng qua kênh đào Panama, và qua đêm ở một vùng tên gọi Cerro Azul, ở nhà trọ bao quanh là một hàng rào sắt cao tám foot. Lúc rạng đông, chúng tôi lái xe tới một đồn kiểm lâm ở lối vào công viên Quốc gia Chagres. Griffith đang hy vọng tìm được ếch cái cho hai loài mà EVACC đang có ít. Anh rút ra giấy phép do chính quyền cấp và trình nó với mấy viên sĩ quan đang ngái ngủ trong đồn. Vài chú chó gầy gò ra hít ngửi quanh chiếc xe tải. Băng qua đồn kiểm lâm, con đường bắt đầu đầy các vết lõm của hàng loạt ổ gà và vết lún. Griffith cho một đĩa nhạc Jimi Hendrix vào máy CD trên xe, và chúng tôi xóc nẩy theo điệu nhạc xập xình. Thu thập ếch cần rất nhiều đồ đạc, nên Griffith đã thuê hai người đàn ông mang hành lý. Ở xóm có nhà cuối cùng, trong ngôi làng nhỏ xíu Los Ángeles, những người đàn ông này hiện ra trong sương sớm. Chúng tôi lại tiếp tục xóc nẩy tới khi chiếc xe tải không thể đi xa hơn được nữa; thế là chúng tôi ra khỏi xe và bắt đầu lội bộ. Con đường mòn quanh co qua khu rừng nhiệt đới ngập trong bùn đỏ. Cứ vài trăm yard, con đường chính lại bị cắt ngang bởi một đường nhánh; những con đường này do loài kiến cắt lá tạo nên, khi chúng thực hiện hàng triệu mà có lẽ là hàng tỷ hành trình để đưa từng mảnh lá xanh về tổ (Những https://thuviensach.vn tổ kiến này, nhìn giống như những ụ mạt cưa, có thể che phủ một khu vực với diện tích bằng công viên của một thành phố). Một trong những người Mỹ, Chris Bednarski, người của Vườn thú Houston, cảnh báo tôi tránh đám kiến lính, những con kiến sẽ để lại bộ răng hàm của chúng trong bắp chân bạn kể cả sau khi chúng đã chết. “Những con quái đó rất khó chịu,” ông nhận xét. Người Mỹ kia, John Chastain, người của Vườn thú Toledo, mang theo một chiếc móc sắt dài, dùng để đối phó với rắn độc. “May là những con thật sự đáng sợ khá hiếm,” Bednarski trấn an tôi. Những con khỉ rú hú dài xa xa. Griffith chỉ những dấu chân báo trên đất mềm. Sau khoảng một giờ đồng hồ, chúng tôi tới một nông trại đã có người khai hoang bằng cách đốn cây. Những bắp ngô xơ xác đang được trồng ở đó, nhưng không có ai xung quanh, và khó mà nói được liệu tay nông dân đã từ bỏ mảnh đất rừng mưa cằn cỗi này hay đơn giản là đang nghỉ giải lao. Một bầy vẹt xanh ngọc lao lên trời cao. Thêm vài giờ nữa, chúng tôi tới một bãi đất trồng nho. Một con bướm thiểm điệp [*] xanh bay lượn quanh, cánh nó như màu trời. Có một căn lán nhỏ trên bãi đất, nhưng nó xập xệ tới mức mọi người biểu quyết là sẽ ngủ ngoài trời. Griffith giúp tôi treo giường mình lên - một chỗ ngủ nửa lều nửa võng phải mắc giữa hai cái cây. Khóa kéo ở dưới đáy tạo lối ra vào, và phần nóc giúp bảo vệ tôi trước trận mưa không thể tránh khỏi. Khi tôi trèo vào trong thứ đó, tôi có cảm giác như đang nằm trong một cỗ quan tài. Tối hôm đó, Griffith nấu chút cơm bằng một chiếc bếp ga du lịch. Rồi chúng tôi đeo đèn pha lên đầu và trèo xuống một dòng suối gần đó. Nhiều loài lưỡng cư sống về đêm, và cách duy nhất để thấy chúng là đi tìm trong bóng tối, một công việc đầy rủi ro. Tôi cứ trượt ngã liên tục, và vi phạm quy tắc số 1 về an toàn trong rừng nhiệt đới: không bao giờ nắm một thứ nếu bạn không biết nó là cái gì. Sau một lần tôi té ngã, Bednarski chỉ cho tôi xem một con nhện đen kích cỡ bằng nắm đấm của tôi trên một cái cây bên cạnh. Những tay thợ săn sành sỏi có thể tìm thấy những con ếch vào buổi tối bằng cách chiếu ánh sáng trong rừng và tìm kiếm ánh phản quang từ mắt chúng. Sinh vật lưỡng cư đầu tiên mà Griffith nhìn thấy nhờ cách này là một https://thuviensach.vn con ếch San Jose Cochran, đang chễm chệ trên một lá cây. Ếch San Jose Cochran thuộc về một họ lớn hơn tên là “ếch thủy tinh”, chúng được đặt tên như thế bởi làn da trong suốt làm lộ rõ các cơ quan nội tạng của chúng. Con ếch thủy tinh này có màu xanh, với những chấm nhỏ màu vãng. Griffith lôi một cặp găng tay phẫu thuật ra khỏi ba lô. Anh đứng im phăng phắc và với cử chỉ như một con diệc, lao tới vồ lấy con ếch. Với bàn tay còn lại, anh lấy ra một vật nhìn giống một cái bông tăm và thấm bụng con ếch. Anh đặt chiếc bông tăm vào trong một cái lọ nhỏ bằng nhựa - sau này nó sẽ được gửi tới một phòng thí nghiệm và phân tích để tìm nấm Bd - và do con ếch này không phải là loài đang tìm, anh đặt con ếch trở lại chiếc lá, rồi rút máy ảnh ra. Con ếch nhìn lại vào tròng máy ảnh bất động. Chúng tôi tiếp tục mò mẫm qua bóng đêm. Có người nhìn thấy một con ếch tướng cướp La Loma, màu đỏ cam, giống như lá cây trên nền rừng; có người nhìn thấy một con ếch Warzewitsch, màu xanh sáng và hình dáng như một chiếc lá. Với mỗi con, Griffith lại tiến hành cùng một việc: vồ lấy, thấm bụng, chụp ảnh. Cuối cùng, chúng tôi gặp một cặp ếch tướng cướp Panama đang bắt cặp - kiểu tình dục của loài lưỡng cư. Griffith đã để yên cho chúng. Một loài lưỡng cư mà Griffith đang hy vọng bắt được, ếch sừng có túi, có tiếng kêu đặc biệt được so sánh với âm thanh bật nắp một chai sâm banh. Vào lúc chúng tôi đang bì bõm - lúc này chúng tôi đang bước đi giữa dòng suối - chúng tôi nghe thấy tiếng kêu đó, có vẻ phát ra từ vài hướng khác nhau cùng lúc. Lúc đầu, nghe như ngay gần đó, nhưng khi chúng tôi tới gần, nó lại có vẻ xa hơn. Griffith bắt đầu bắt chước tiếng kêu, tạo ra âm thanh mở nắp chai với cặp môi của mình. Cuối cùng, anh quyết định rằng những người còn lại đang làm mấy con ếch hoảng sợ bởi chúng tôi cứ lội bì bõm. Anh lội lên trước, và chúng tôi quỳ gối một lúc lâu dưới nước, cố không di chuyển. Khi Griffith cuối cùng ra hiệu cho chúng tôi bước lại, chúng tôi thấy anh đang đứng trước một con ếch lớn màu vàng với ngón chân dài và khuôn mặt nhìn như cú. Nó đang ngồi trên một nhành cây, ngay trên tầm mắt. Griffith đang muốn tìm một con ếch sừng có túi cái để bổ sung vào bộ sưu tập của EVACC. Anh lao tay ra, vồ con ếch và lật nó lại. Trong khi một con https://thuviensach.vn ếch sừng có túi sẽ có một chiếc túi nhỏ, con này lại không có. Griffith thấm bông, chụp ảnh và đặt nó trở lại cái cây. “Đẹp trai đấy nhóc,” anh thầm thì với chú ếch. Vào khoảng nửa đêm, chúng tôi trở lại khu trại. Những con vật mà Griffith quyết định mang về cùng là hai con ếch độc bụng xanh và một con kỳ giông màu hơi trắng, một loài mà cả anh lẫn hai người Mỹ đều không nhận ra. Những con ếch và con kỳ giông được đặt trong các túi nhựa với vài chiếc lá để giữ ẩm cho chúng. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ là những con ếch đó và con cái của chúng, nếu chúng có, và con của những con con đó, nếu chúng có, sẽ không bao giờ được đặt chân lại nền đất của rừng mưa nhiệt đới nữa, mà sẽ sống hết phần đời còn lại của chúng trong những chiếc bồn kính khử trùng. Tối hôm đó trời mưa tầm tã, và trong chiếc võng như cỗ quan tài, tôi đã mơ những giấc mơ sống động, đầy bất trắc, cảnh tượng duy nhất mà sau đó tôi còn nhớ được là một con ếch màu vàng sáng đang hút tẩu. https://thuviensach.vn CHƯƠNG II RĂNG HÀM CỦA VOI RĂNG MẤU [*] Mammut americanum Sự tuyệt chủng có thể là ý tưởng khoa học đầu tiên mà trẻ em ngày nay nắm bắt được. Những đứa một tuổi đã được chơi đồ chơi khủng long, và hai tuổi hiểu rằng, ít ra là theo một cách mơ hồ, những sinh vật bằng nhựa nhỏ bé đó đại diện cho những con thú khổng lồ. Nếu chúng là những đứa học nhanh - hay theo một nghĩa khác, học đi vệ sinh chậm - trẻ con vẫn còn đóng bỉm có thể giải thích rằng từng có thời có rất nhiều loại khủng long và chúng đều đã chết từ rất lâu về trước (Con trai tôi, khi còn chập chững, đã chơi hàng giờ với bộ đồ chơi khủng long có thể xếp trên một tấm thảm nhựa tả lại một khu rừng ở kỷ Jura hay kỷ Phấn trắng. Hình ảnh bao gồm một núi lửa phun nham thạch mà nếu bạn ấn vào, sẽ kêu lên ầm ĩ vui tai). Tất cả những điều đó là để nói rằng sự tuyệt chủng khắc vào đầu chúng ta như một khái niệm đương nhiên. Nhưng thực ra thì không phải thế. Aristotle đã viết một bộ mười cuốn History of Animals (tạm dịch: Lịch sử các loài động vật) mà không khi nào xem xét khả năng các loài động vật đó thực ra có một lịch sử. Cuốn Natural History (tạm dịch: Lịch sử tự nhiên) của Pliny bao gồm những mô tả các động vật có thật và mô tả các động vật được tưởng tượng ra, nhưng không có mô tả nào về các động vật tuyệt chủng. Khái niệm tuyệt chủng chưa hình thành cho tới thời Trung cổ hay thời Phục hưng, khi từ “hóa thạch” được sử dụng để chỉ mọi thứ được đào lên từ dưới mặt đất (do thế mà có cụm “nhiên liệu hóa thạch” [*]). Trong thời Khai sáng, quan điểm áp đảo cho rằng mọi loài đều là mắt xích trong một “chuỗi của sinh vật” lớn lao, không thể bẻ gẫy. Như Alexander Pope viết trong Essay on Man (tạm dịch: Tiểu luận về con người) của ông: Tất cả thuộc về một tổng thể kỳ diệu, Mà cơ thể là tự nhiên, và linh hồn là Chúa trời. Khi Carl Linnaeus công bố hệ thống danh pháp hai phần [*] của ông, ông không phân biệt giữa những loài còn sống và đã chết vì theo quan điểm của https://thuviensach.vn ông điều đó không cần thiết. Tập mười trong bộ Systema Naturae (tạm dịch: Hệ thống và tự nhiên) của ông, xuất bản năm 1758, liệt kê 63 loài bọ hung, 44 loài ốc có vỏ và 16 loài cá thân bẹt. Thế mà trong Systema Naturae, chỉ phân ra có một kiểu động vật - những loài còn sống. Quan điểm này tồn tại dai dẳng bất chấp bằng chứng đáng kể cho thấy điều ngược lại. Những chiếc tủ trưng bày chứa các vật lạ ở London, Paris và Berlin chất đầy dấu vết của các sinh vật kỳ lạ chưa ai từng thấy: những gì còn lại của các con vật giờ được xác định là loài bọ ba thùy [*], loài tên đá [*] và loài cúc đá [*]. Một số con thuộc loài cúc đá lớn tới mức vỏ hóa thạch của chúng có kích cỡ gần bằng chiếc bánh xe bò. Vào thế kỷ 18, xương voi ma mút được đưa từ Siberia về châu Âu ngày càng nhiều. Những bộ xương này cũng được “đẽo chân cho vừa giày” để phù hợp với hệ thống. Các bộ xương nhìn rất giống xương loài voi ngày nay. Do rõ ràng không có voi ở nước Nga hiện đại, người ta xác định rằng chúng hẳn phải thuộc về những con thú khổng lồ mà xác đã bị sóng đánh trôi về phương bắc trong trận đại hồng thủy theo sách Sáng thế. Sự tuyệt chủng rốt cuộc đã trỗi dậy như một khái niệm, có lẽ không hề trùng hợp, ở nước Pháp thời cách mạng. Sự trỗi dậy này nhờ chủ yếu vào một loài vật, sinh vật giờ được gọi tên là loài voi răng mấu châu Mỹ, hay Mammut americanum, và nhờ một người, nhà tự nhiên học Jean-Léopold Nicolas-Frédéric Cuvier, được gọi đơn giản là Georges, theo tên một người anh đã qua đời. Cuvier là một nhân vật hai mặt trong lịch sử khoa học. Ông đi trước rất xa những người cùng thời nhưng đồng thời cũng là người níu chân họ; ông có thể vừa cuốn hút vừa độc ác; ông là một người có viễn kiến, và đồng thời, một kẻ phản động. Tới giữa thế kỷ 19, nhiều ý tưởng của ông đã bị bác bỏ. Nhưng hầu hết các phát hiện gần đây có khuynh hướng ủng hộ chính những học thuyết của ông vốn từng bị phỉ báng hết lời, kết quả là nhãn quan đầy tính bi kịch của Cuvier về lịch sử trái đất có thể trở thành những lời tiên tri. *** https://thuviensach.vn Chính xác khi nào dân châu Âu lần đầu vớ được một bộ xương của loài voi răng mấu châu Mỹ là điều còn chưa rõ. Một chiếc răng đơn lẻ được khai quật tại một cánh đồng vùng thượng New York và gửi tới London vào năm 1705; nó được dán nhãn “răng của một con vật khổng lồ”. Những chiếc xương voi răng mấu đầu tiên được phát hiện nhờ hoạt động lỗi thời, có thể tạm gọi là nghiên cứu khoa học vào năm 1739. Năm đó, Charles le Moyne, Nam tước Longueuil đệ nhị, đang đi du lịch dọc theo sông Ohio với bốn trăm binh sĩ, một số người cũng là người Pháp giống ông, còn lại hầu hết là người da đỏ Algonquin và Iroquois. Hành trình thật gian nan và nhu yếu phẩm thiếu thốn. Trên một đoạn đường, một binh sĩ Pháp sau này nhớ lại, đoàn quân phải sống sót nhờ vào những hạt sồi. Đôi khi có thể trong mùa thu, Longueuil và các binh lính của ông dựng trại bên bờ đông sông Ohio, cách không xa vùng này là thành phố Cincinnati. Vài người da đỏ bản địa đi săn. Vài dặm sau đó, họ tới một con đường lầy lội tỏa ra mùi lưu huỳnh. Những dấu vết của bò rừng dẫn tới khu đầm lầy từ khắp mọi hướng, và hàng trăm - có thể là hàng nghìn - những chiếc xương lớn nhô ra từ đám bùn đất, như những chiếc cột của một con tàu đắm. Những người đàn ông trở lại khu trại mang theo một chiếc xương đùi dài ba foot rưỡi, một chiếc ngà khổng lồ, và vài chiếc răng lớn. Phần chân răng có chiều dài bằng bàn tay của người lớn, và mỗi chiếc nặng gần mười pound. Longueuil quá tò mò về những chiếc xương tới mức ông đã ra lệnh cho các binh sĩ mang chúng theo khi họ nhổ trại. Khệ nệ những chiếc ngà, xương đùi và răng hàm khổng lồ, những người đàn ông dấn bước vào hoang dã. Rốt cuộc, họ tới được sông Mississippi, nơi họ gặp một binh đội Pháp thứ hai. Trong vài tháng tiếp theo, nhiều người của Longueuil chết vì bệnh tật, và chiến dịch mà họ định tổ chức, nhắm vào những người da đỏ Chickasaw, kết thúc trong nhục nhã và thất bại. Dẫu vậy, Longueuil đã giữ an toàn được cho những chiếc xương lạ. Ông trở về New Orleans và từ đó chuyển chiếc ngà, những chiếc răng và chiếc xương đùi khổng lồ bằng đường thủy về Pháp. Chúng được trình cho vua Louis XV, người đã đưa chúng vào nhà bảo tàng của ông, Cabinet du Roi. Nhiều thập niên sau, những bản đồ của thung lũng sông Ohio vẫn còn gần như trống không, ngoại trừ điểm mốc Endroit https://thuviensach.vn où on a trouvé des os d’Éléphant [*] - “nơi tìm ra những chiếc xương voi” (Ngày nay “nơi tìm ra những chiếc xương voi” là một công viên tiểu bang ở Kentucky có tên gọi là Big Bone Lick). Những chiếc xương mà Longueuil đem về gây kinh ngạc cho bất kỳ ai nghiên cứu chúng. Xương đùi và ngà nhìn như thể thuộc về một con voi, hay rất giống với thứ mà theo phân loại thời bấy giờ, một con voi ma mút [*]. Nhưng răng của con vật này là một bài toán nan giải. Chúng không thuộc về sự phân loại nào cả. Răng voi (và cả răng voi ma mút) phẳng ở phần trên, với phần chóp mỏng chạy từ bên này sang bên kia, nên phần mặt nhai giống như đế giày chạy bộ. Ngược lại, răng của loài voi răng mấu lại nhọn. Thật ra, nhìn chúng như thể thuộc về một con người với kích thước khổng lồ. Nhà tự nhiên học đầu tiên nghiên cứu một bộ răng voi răng mấu, Jean-Étienne Guettard, đã đi tới chỗ thậm chí phỏng đoán về nguồn gốc của nó. “Thứ này là của loài động vật nào?” ông hỏi đầy ai oán trong một tài liệu chuyển cho Hội Khoa học Hoàng gia Pháp vào năm 1752. Năm 1762, người quản thủ bảo khố của nhà vua Pháp, Louis-Jean-Marie Daubenton, đã cố gắng giải quyết bài toán về những chiếc răng gây tò mò bằng tuyên bố rằng “loài động vật còn chưa được biết ở Ohio” không phải là một loài động vật. Thật ra, đó là hai loại. Ngà và chân thuộc về voi; răng mấu thuộc về một sinh vật hoàn toàn khác. Có lẽ, ông xác định, loài sinh vật này là một con hà mã. Cũng ngay khoảng thời gian đó, kiện hàng thứ hai chứa xương voi răng mấu được gửi tới châu Âu, lần này là tới London. Những mảnh xương này, cũng từ Big Bone Lick, được trưng ra với cùng một kiểu gây rối trí như thế: xương và ngà giống của voi, trong khi răng lại nhọn. William Hunter, bác sĩ riêng của nữ hoàng Anh, thấy lời giải thích của Daubenton cho sự không nhất quán này là không đầy đủ. Ông đưa ra một lời giải thích khác - lời giải thích đầu tiên đúng được một nửa. “Con vật có thể là voi châu Mỹ này,” ông lập luận, là một loài động vật hoàn toàn mới mà “giới giải phẫu học chưa biết”, ông xác định nó là một https://thuviensach.vn loài ăn thịt, bởi bộ răng nhìn đáng sợ của nó. Ông gán cho con quái vật này là incognitum [*] châu Mỹ. Nhà tự nhiên học hàng đầu của Pháp, Georges-Louis Leclerc, Bá tước Buffon, bổ sung một ý kiến kịch tính vào cuộc tranh luận. Ông lập luận rằng những khúc xương đang được tìm hiểu đại diện cho không phải một hay hai, mà ba loài động vật khác nhau: một con voi, một con hà mã, và một loài thứ ba chưa được biết. Vô cùng bối rối, Buffon đã cho rằng loài cuối cùng này - “loài lớn nhất trong ba loài” - có vẻ không còn tồn tại. Ông đề xuất rằng đó là loài động vật trên cạn duy nhất đã biến mất. Vào năm 1781, Thomas Jefferson bị cuốn vào cuộc tranh cãi. Trong tác phẩm Notes on the State of Virginia (tạm dịch: Những ghi chú về bang Virginia), được viết ngay sau khi ông rời ghế thống đốc bang này, Jefferson đã đưa ra phiên bản về loài incognitum của riêng ông. Con vật này, ông nhất trí với Buffon, là con vật lớn nhất trong các loài vật - “với thể tích cơ thể lớn hơn năm hoặc sáu lần một con voi” (Điều này sẽ bác bỏ lý thuyết phổ biến ở châu Âu lúc bấy giờ cho rằng các loài vật ở Tân Thế giới nhỏ hơn và “thoái hóa” hơn so với ở Cựu Thế giới). Sinh vật này, Jefferson đồng ý với Hunter, có lẽ là một loài ăn thịt. Nhưng nó vẫn còn sống ở đâu đó. Nếu có thể tìm thấy nó ở Virginia, thì nó có thể vẫn đang lang thang ở những vùng thuộc châu Mỹ “còn thuộc về các bộ lạc bản địa, chưa được khai phá và chưa bị phá rối”. Khi lên làm tổng thống, Jefferson đã cử Meriwether Lewis và William Clark tới miền Tây Bắc nước Mỹ, hy vọng họ sẽ tìm thấy loài incognitum này còn sống lang thang trong những khu rừng. “Mẹ tự nhiên kinh tế tới mức,” ông viết, “không thể có khi nào bà lại để cho một loài mà mình đã tạo ra tuyệt chủng; để một mắt xích mà bà đã hình thành nên lại yếu ớt tới mức bị đứt đoạn.” *** Cuvier tới Paris vào đầu năm 1795, nửa thế kỷ sau khi những bộ xương từ thung lũng Ohio tới thành phố này. Khi đó ông 25 tuổi, với đôi mắt xám hoang dại, cái mũi cao, và tính khí mà một người bạn ông so sánh với vỏ trái https://thuviensach.vn đất - nhìn chung là lạnh lùng nhưng có thể bùng nổ và rung chuyển dữ dội. Cuvier đã lớn lên trong một thị trấn nhỏ ở biên giới Thụy Sĩ và không có mấy người quen biết ở thủ đô. Dẫu vậy, ông đã xoay xở có được một vị trí uy tín ở đó, nhờ một mặt vào việc chế độ kiểu cổ đại [*]) đã qua và mặt khác bởi sự tự cao tự đại rất mạnh mẽ ở ông. Một đồng nghiệp lớn tuổi hơn sau này sẽ mô tả rằng ông xuất hiện đột ngột ở Paris “như một cây nấm”. Công việc của Cuvier ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris - người quản thủ của nền dân chủ thay cho viên quản thủ bảo khố của nhà vua - chính thức là giảng dạy. Nhưng khi rảnh rỗi, ông chìm đắm trong bộ sưu tập của bảo tàng. Ông bỏ ra hàng giờ nghiên cứu những chiếc xương mà Longueuil đã gửi cho Louis XV, so sánh chúng với các loài khác. Vào ngày 4 tháng Tư năm 1796 hay theo lịch cách mạng sử dụng thời bấy giờ, ngày 15 tháng Germinal năm IV, ông đã trình bày kết quả nghiên cứu của ông trong một buổi thuyết giảng dành cho công chúng. Cuvier bắt đầu bằng việc thảo luận về loài voi. Người châu Âu đã biết được một thời gian dài rằng ở châu Phi có voi, những con thú được coi là nguy hiểm, và rằng voi cũng sống ở châu Á, nơi chúng được cho là ngoan ngoãn hơn. Dẫu vậy, voi được coi là voi, cũng như chó được coi là chó, một số con hiền lành và những con khác thì dữ tợn. Trên cơ sở tìm hiểu xương voi ở bảo tàng, bao gồm một xương sọ được bảo quản đặc biệt kỹ từ Ceylon [*] và một xương khác từ Mũi Hảo Vọng, Cuvier đã nhận ra, tất nhiên là rất đúng, rằng hai giống voi này thuộc về hai loài khác nhau. “Rõ ràng là voi từ Ceylon khác nhiều hơn voi châu Phi so với ngựa khác lừa hay dê khác cừu,” ông tuyên bố. Trong nhiều đặc điểm để phân biệt các con vật này có răng của chúng. Voi Ceylon có răng hàm với phần bề mặt răng lượn sóng “như những dải ruy băng kết hoa”, trong khi voi từ Mũi Hảo Vọng có răng với bề mặt sắp xếp thành hình thoi. Xem xét các con vật sống hẳn không thể tiết lộ sự khác biệt này, bởi ai mà đủ liều lĩnh thò đầu vào trong cổ họng một con voi? “Chính nhờ giải phẫu học mà động vật học mới có được phát hiện lý thú này,” Cuvier tuyên bố. https://thuviensach.vn Từ thành công trong việc chia voi ra làm hai loại, Cuvier tiếp tục cuộc mổ xẻ của ông. Lý thuyết đã được chấp nhận về những bộ xương khổng lồ từ Nga là sai, Cuvier kết luận sau khi “điều nghiên kỹ lưỡng” các bằng chứng. Răng và hàm từ Siberia “không khớp một cách chính xác với răng và hàm của một con voi”. Chúng thuộc về một loài hoàn toàn khác. Còn về răng của con vật ở Ohio thì chỉ cần liếc qua cũng thấy “chúng còn khác biệt lớn hơn nữa”. “Điều gì đã xảy ra với hai loài vật khổng lồ này mà con người không còn tìm thấy dấu vết nào cho thấy chúng còn sống?” ông đặt câu hỏi. Câu hỏi này, theo cách thức nghiên cứu của Cuvier, cũng chính là câu trả lời. Chúng là espèces perdues [*], hay những loài đã biến mất. Ngay lúc đó, Cuvier đã tăng gấp đôi số lượng loài thú có xương sống bị tuyệt chủng, từ (có thể) là một lên hai loài. Ông đơn giản là người bắt đầu. Vài tháng sau, Cuvier nhận được bản vẽ phác thảo một bộ xương đã được phát hiện bên bờ sông Río Luján, phía tây Buenos Aires. Bộ xương này dài mười hai foot và cao sáu foot, đã được chuyển tới Madrid, nơi nó được ghép lại một cách tỉ mỉ. Làm việc với các bản phác thảo, Cuvier đã xác định được chủ nhân của bộ xương - một lần nữa, lại chính xác - là một giống lười to quá cỡ kỳ dị. Ông đặt tên nó là Megatherium, có nghĩa là “quái vật khổng lồ”. Dù ông chưa bao giờ tới Argentina, hay bất cứ nơi nào khác xa hơn nước Đức, Cuvier đã tin rằng không còn tìm thấy loài Megatherium này lững thững dọc theo các dòng sông ở Nam Mỹ nữa. Cả loài này nữa cũng đã biến mất. Điều tương tự cũng giống với loài thú tên gọi Maastricht, mà những gì còn lại của nó - một bộ răng hàm to khủng khiếp, nhọn hoắt đầy những chiếc răng như răng cá mập - được tìm thấy ở một mỏ đá tại Hà Lan (Hóa thạch Maastricht lúc đó vừa bị Pháp lấy mất, Pháp chiếm đóng Hà Lan vào năm 1795). Và nếu đã có tới bốn loài tuyệt chủng, Cuvier tuyên bố, thì hẳn phải có những loài khác nữa. Đề xuất của ông là một tuyên bố can đảm dựa trên những bằng chứng hiện có. Trên cơ sở chỉ vài bộ xương vụn vặt, Cuvier đã https://thuviensach.vn đưa ra một cách nhìn hoàn toàn mới với sự sống. Có những giống loài đã bị diệt vong. Và đó không phải là một hiện tượng đơn lẻ, mà rộng khắp. “Tất cả những dữ kiện này, nhất quán với nhau, và không trái ngược với bất cứ thông tin nào khác, với tôi có vẻ đã chứng tỏ sự tồn tại của một thế giới trước thế giới của chúng ta,” Cuvier nói. “Nhưng thế giới sơ khai đó là gì? Và cuộc cách mạng nào có thể quét sạch thế giới đó?” *** Kể từ thời của Cuvier, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên đã phát triển thành một định chế rộng lớn với những tiền đồn khắp nước Pháp. Tuy nhiên, khu tòa nhà chính của nó vẫn nằm ở vườn thượng uyển cũ tại Quận Năm. Cuvier không chỉ làm việc ở bảo tàng trong phần lớn thời trưởng thành của mình, ông cũng sống ở đó, trong một ngôi nhà trát vữa lớn mà giờ đã chuyển thành khu văn phòng. Cạnh ngôi nhà, giờ đây là một nhà hàng và cạnh nhà hàng là một bầy thú, nơi mà hôm tôi đến thăm, mấy con chuột túi wallaby đang nằm phơi nắng trên bãi cỏ. Bên kia khu vườn là một đại sảnh nơi để bộ sưu tập cổ sinh học của nhà bảo tàng. Pascal Tassy là giám đốc của bảo tàng chuyên về động vật có vòi, nhóm động vật bao gồm voi và các họ hàng đã mất của nó, voi ma mút, voi răng mấu và voi răng khảm [*], và nhiều loài khác. Tôi tới thăm ông vì ông đã hứa sẽ đưa tôi tới xem chính những bộ xương mà Cuvier từng nghiên cứu. Tôi tìm thấy Tassy trong văn phòng u ám của ông, ở tầng hầm của khu sảnh cổ sinh vật học, ngồi giữa một nghĩa địa những đầu lâu cũ. Bức tường văn phòng được trang hoàng bằng trang bìa của các cuốn truyện tranh Tintin đã cũ. Tassy nói với tôi ông đã quyết định trở thành nhà cổ sinh vật học vào năm bảy tuổi, sau khi đọc một truyện phiêu lưu của Tintin liên quan tới khảo cổ học. Chúng tôi nói chuyện một lúc về các động vật có vòi. “Chúng là một nhóm rất lý thú,” ông nói với tôi. “Lấy ví dụ, chiếc vòi, vốn là sự thay đổi về giải phẫu học ở vùng mặt, là điều thật sự rất khác thường, nó đã tiến hóa năm lần riêng rẽ. Hai lần, đúng thế, đã là đáng kinh ngạc. Đằng này nó đã https://thuviensach.vn diễn ra năm lần độc lập với nhau! Chúng tôi buộc phải thừa nhận điều này khi nhìn vào những mẫu hóa thạch.” Tới giờ, Tassy nói, khoảng 170 loài có vòi đã được xác định, suốt từ khoảng 55 triệu năm trước, “và còn lâu mới là hoàn chỉnh, tôi chắc chắn như thế.” Chúng tôi đi lên lầu, vào một phòng phụ nằm ở phía sau sảnh cổ sinh vật học giống như một khu bếp riêng. Tassy mở cửa một phòng chật kín các tủ kim loại. Ngay đằng sau cánh cửa, được bọc một phần trong lớp nhựa, là một cái chân giống như cán một cái ô đầy lông lá. Thứ này, Tassy giải thích, là chân của một con ma mút có lông, vốn đã được tìm thấy trong tình trạng đông đá và khô quắt, trên một hòn đảo ngoài khơi bắc Siberia. Khi nhìn nó kỹ hơn, tôi có thể nhìn thấy da trên chiếc chân đã được khâu lại với nhau, như một chiếc giày da đanh của thổ dân Bắc Mỹ. Lông trên đó có màu nâu sẫm và có vẻ như, ngay cả sau hơn 10 nghìn năm, vẫn được bảo quản gần như hoàn hảo. Tassy mở một cái tủ kim loại ra và đặt đồ đạc trong đó lên một chiếc bàn gỗ. Đó là chiếc răng mà Longueuil đã lôi dọc theo dòng sông Ohio. Chúng thật to, nhọn và đen kịt. “Đây là Mona Lisa của cổ sinh vật học,” Tassy nói, chỉ vào chiếc răng lớn nhất trong nhóm. “Đây là khởi đầu cho tất cả. Thật kỳ diệu vì chính Cuvier đã vẽ chiếc răng này. Nên ông đã quan sát nó rất tỉ mỉ”. Tassy chỉ cho tôi những con số phân loại ban đầu, đã được sơn lên chiếc răng vào thế kỷ 18 và hiện giờ mờ tới mức chỉ có thể lờ mờ nhận ra chúng. Tôi cầm chiếc răng lớn nhất lên bằng cả hai tay. Nó là một vật thật sự rất ấn tượng. Chiều dài của nó khoảng tám inch và chiều ngang khoảng bốn inch - kích cỡ bằng khoảng một hòn gạch và cũng nặng như thế. Phần đầu răng có bốn cái mấu, rất nhọn, và phần men răng hầu như vẫn nguyên vẹn. Phần chân răng, dày như một cuộn dây chão, tạo thành một khối vật chất rắn màu gỗ gụ. https://thuviensach.vn Bản phác thảo những chiếc răng của voi răng mấu được đăng cùng với mô tả của Cuvier vào năm 1812 Từ góc nhìn tiến hóa, những chiếc răng của voi răng mấu thực ra không có gì lạ. Răng của voi răng mấu, giống như răng của những loài có vú khác, được tạo thành bởi một lõi ngà răng phủ xung quanh là một lớp men cứng hơn nhưng giòn hơn. Khoảng 30 triệu năm trước, dòng thú có vòi sẽ tiến hóa dẫn tới voi răng mấu chia tách khỏi dòng để trở thành voi ma mút và voi. Dòng sau rốt cuộc sẽ tiến hóa để có bộ răng phức tạp hơn, được cấu tạo từ những đĩa phủ men đã được chuyển thành hình dạng giống như một ổ bánh mì. Sự sắp xếp này giúp răng cứng hơn nhiều, và cho phép voi ma mút, và giờ vẫn cho phép loài voi tiêu thụ một thực đơn ăn kiêng nhiều chất xơ đến khác thường. Trong khi đó, voi răng mấu vẫn giữ bộ răng còn tương đối sơ khai của nó (như với con người) và tiếp tục nhai xé thức ăn. Tất nhiên, như Tassy đã chỉ ra cho tôi, góc nhìn tiến hóa chính xác là những gì Cuvier còn thiếu, điều mà theo nghĩa nào đó càng khiến những thành tựu của ông ấn tượng hơn. “Chắc rồi, ông ấy đã phạm những sai lầm,” Tassy nói. “Nhưng những công trình kỹ thuật của ông ấy, hầu hết thật ngoạn mục. Ông ấy là một nhà giải phẫu học thực sự xuất chúng.” https://thuviensach.vn Sau khi chúng tôi đã tìm hiểu những chiếc răng một lúc lâu nữa, Tassy dẫn tôi lên sảnh cổ sinh vật học. Ngay sau lối vào là chiếc xương đùi khổng lồ được Longueuil gửi tới Paris, trưng bày trên một cái bệ. Nó có chiều rộng tương đương với một cây trụ hàng rào. Đám học trò Pháp đang đi thành đoàn qua chúng tôi, la hét phấn khích. Tassy có một xâu lớn chìa khóa mà ông dùng để mở đủ thứ ngăn kéo phía dưới các lồng kính trưng bày. Ông cho tôi xem một chiếc xương voi ma mút từng được Cuvier nghiên cứu và mỗi thứ một chút nhiều loài khác nhau mà Cuvier là người đầu tiên nhận dạng được. Rồi ông đưa tôi tới xem con Maastricht, ngày nay vẫn là một trong những hóa thạch nổi tiếng nhất thế giới (Dù Hà Lan đã nhiều lần đòi lại hóa thạch này, người Pháp đã quyết giữ nó trong hơn 200 năm qua). Vào thế kỷ 18, hóa thạch Maastricht được một số người cho là thuộc về một loài cá sấu lạ, còn những người khác nghĩ đó là từ một con cá voi có răng. Cuvier rốt cuộc sẽ xác định, một lần nữa ông lại đúng, rằng nó thuộc về một loài bò sát biển (Sinh vật này sau này được gọi là mosasaur [*]). Vào khoảng giờ ăn trưa, tôi đi bộ cùng Tassy trở lại văn phòng của ông. Rồi tôi lang thang qua khu vườn tới nhà hàng cạnh ngôi nhà cũ của Cuvier. Vì có vẻ đây là một việc nên làm, tôi đã gọi cả thực đơn Menu Cuvier - ta chỉ được chọn khai vị và tráng miệng. Vào lúc tôi đang chiến đấu với món thứ hai - một cái bánh tart phủ kem rất ngon lành - tôi bắt đầu cảm thấy no một cách khó chịu. Tôi nhớ lại bản mô tả mà tôi đã đọc về bộ xương của nhà giải phẫu học. Trong thời cách mạng, Cuvier gầy gò. Trong những năm ông sống ở khu nhà bảo tàng, ông ngày càng trở nên mập mạp, cho tới lúc cuối đời thì ông béo kinh khủng. *** Với bài giảng về “những loài voi, cả còn sống và hóa thạch”, Cuvier đã thành công trong việc xác lập việc tuyệt chủng là một sự thật. Nhưng khẳng định ngông cuồng nhất của ông - rằng từng tồn tại cả một thế giới đã mất, với rất nhiều loài đã mất - thì vẫn chỉ là một tuyên bố ngông cuồng. Nếu quả từng có một thế giới như thế, những dấu vết về các loài đã tuyệt chủng khác lẽ ra cũng có thể được tìm thấy. Nên Cuvier đã lên đường tìm chúng. https://thuviensach.vn Hóa ra, Paris thế kỷ 17 là một nơi lý thú để là một nhà cổ sinh vật học. Những triền đồi ở phía bắc thành phố đầy những mỏ đá lúc đó đang tích cực sản xuất thạch cao, nguyên liệu chính dùng cho vữa trát ở Paris thời bấy giờ (Thủ đô nước Pháp phát triển tràn lan trùm lên nhiều khu mỏ đá này tới mức tới thời của Cuvier, tình trạng đất sụp là một mối rủi ro lớn). Không phải là không thường xuyên, những thợ mỏ bắt gặp những mẩu xương lạ, được những nhà sưu tập rất quý giá, mặc dù họ không thật sự biết rõ họ đang sưu tập thứ gì. Với sự hỗ trợ của một người đam mê như thế, Cuvier đã sớm thu thập được những mẫu vật về một động vật tuyệt chủng khác, mà ông gọi là l'animal moyen de Montmartre - thú tầm trung vùng Montmartre. Suốt khoảng thời gian đó, Cuvier đã nài nỉ xin các mẫu vật từ những nhà tự nhiên học ở các vùng khác của châu Âu. Bởi tiếng tăm không tốt của người Pháp vì đã thu giữ những mẫu vật có giá trị, ít nhà sưu tập chịu gửi các mẫu hóa thạch thật. Nhưng các bản vẽ chi tiết bắt đầu được gửi đến từ nhiều nơi, bao gồm Hamburg, Stuttgart, Leiden và Bologna. “Tôi phải nói rằng tôi đã được hỗ trợ bởi sự nhiệt tình sôi nổi nhất... bởi tất cả những người Pháp và người nước ngoài chuyên tâm hay yêu mến khoa học,” Cuvier viết đầy cảm kích. Tới năm 1800, tức là bốn năm sau bài nghiên cứu về voi, vườn thú hóa thạch của Cuvier đã mở rộng ra gồm hai mươi ba loài mà ông cho rằng đã tuyệt chủng. Các loài này bao gồm: một loài hà mã lùn, mà những gì còn lại của nó được ông phát hiện ở một nhà kho tại bảo tàng Paris; một loài nai sừng tấm với bộ sừng khổng lồ mà xương được tìm thấy ở Ireland; và một loài gấu lớn từ Đức mà ngày nay được biết là gấu hang châu Âu. Tới thời điểm đó, con thú vùng Montmartre đã được chia ra, hay nhân lên, thành sáu loài riêng biệt (Thậm chí đến tận ngày nay, chúng ta vẫn biết rất ít về những loài đó, ngoài việc chúng là thú có vuốt và sống vào khoảng 30 triệu năm trước). “Nếu quá nhiều loài đã mất được khôi phục trong một khoảng thời gian ngắn như thế, còn bao nhiêu loài nữa có thể được cho là từng tồn tại hiện vẫn đang ở trong lớp vỏ sâu của trái đất?” Cuvier đặt câu hỏi. https://thuviensach.vn Cuvier có tài năng thiên bẩm của một người trình diễn và, rất lâu trước khi viện bảo tàng thuê các chuyên viên về quan hệ công chúng, ông đã biết cách thu hút sự chú ý (“Ông ấy đã có thể trở thành một ngôi sao truyền hình ngày nay” là lời Tassy nói với tôi). Có lúc, những mỏ thạch cao của Paris mang tới hóa thạch một sinh vật giống thỏ với phần thân nhỏ và một cái đầu hơi vuông. Cuvier đã kết luận rằng, dựa trên hình dạng răng của nó, hóa thạch này thuộc về một loài có túi. Đó là một tuyên bố can đảm, do ở Cựu Thế giới chưa ai biết có loài thú có túi nào. Để tăng thêm kịch tính, Cuvier tuyên bố ông sẽ đưa ra thử nghiệm công khai nhận định của mình. Thú có túi có một cặp xương riêng biệt, ngày nay được gọi là xương mu động vật [*], mở rộng ra từ khung xương chậu. Dù trong hóa thạch được mang tới cho ông không có những xương này, Cuvier tiên đoán rằng nếu ông đào xới xung quanh đó, những xương còn thiếu sẽ hiện ra. Ông đã mời giới khoa học cấp cao ở Paris tới và chứng kiến khi ông dò tìm khu hóa thạch với một cây kim mảnh. Voilà [*], những chiếc xương hiện ra (Một khuôn đúc của hóa thạch loài thú có túi này được trưng bày ở sảnh cổ sinh vật học tại Paris, còn bản gốc được cho là quá giá trị để mang ra trưng bày nên được giữ trong một hầm đặc biệt). Cuvier đã thực hiện một màn trình diễn cổ sinh vật học tương tự trong một chuyến đi tới Hà Lan. Ở một bảo tàng tại Haarlem, ông đã nghiên cứu một loài với xương sọ lớn, hình nửa vầng trăng gắn vào một phần cột xương sống của nó. Hóa thạch dài ba foot này đã được phát hiện gần một thế kỷ trước đó và được cho là thuộc về - thật đáng tò mò bởi hình dáng đầu của nó - một con người (Nó thậm chí đã được đặt cho một cái tên khoa học: Homo diluvii testis, hay “người đã chứng kiến Đại hồng thủy”). Để bác bỏ nhận định đó, Cuvier trước tiên trưng ra một bộ xương kỳ giông bình thường. Rồi, với sự đồng ý của giám đốc viện bảo tàng Haarlem, ông bắt đầu đập vỡ dần phần đá xung quanh xương sống của “người chứng kiến Đại hồng thủy”. Khi ông làm lộ ra các chi trước của con vật, chúng quả là, đúng như ông tiên đoán, có hình thù giống như một con kỳ giông. Sinh vật này không phải là một con người trước thời kỳ hồng thủy mà là thứ kỳ lạ hơn nhiều: một con vật lưỡng cư khổng lồ. https://thuviensach.vn Cuvier càng phát hiện ra nhiều loài đã tuyệt chủng, bản chất của các loài thú càng thay đổi nhiều. Những con gấu hang, những con lười khổng lồ, thậm chí những con kỳ giông khổng lồ - tất cả đều có liên hệ với những loài còn sống. Nhưng loài vật nào đã làm nên một hóa thạch kỳ lạ được tìm thấy ở một vùng đá vôi tại Bavaria? Cuvier đã nhận được khuôn hóa thạch này từ một trong nhiều cộng tác viên của ông. Nó là một bộ xương lộn xộn, bao gồm những chiếc xương nhìn giống các cánh tay dài kỳ lạ, những ngón tay gầy gò, và một chiếc mỏ dẹt. Nhà tự nhiên học đầu tiên tìm hiểu nó cho rằng chủ nhân của bộ xương là một động vật biển và loại này đã sử dụng cánh tay kéo dài của nó như mái chèo. Cuvier, trên cơ sở khuôn hóa thạch, đã xác định – thật đáng kinh ngạc - loài vật này thực ra là một loài bò sát biết bay. Ông gọi nó là preto-dactyle, có nghĩa “cánh có ngón tay”. *** Phát hiện của Cuvier về hiện tượng tuyệt chủng – “một thế giới trước thế giới của chúng ta” - là một kiện gây xúc động mạnh, và tin tức về nó nhanh chóng truyền sang bên kia Đại Tây Dương. Khi một bộ xương khổng lồ gần như hoàn chỉnh được những nông dân đào lên ở Newburgh, New York, nó được công nhận là một phát hiện có tầm quan trọng lớn lao. Thomas Jefferson, lúc đó là phó tổng thống, đã vài lần thử tìm cách có được bộ xương đó mà thất bại. Những người bạn cương quyết hơn của ông, họa sĩ Charles Willson Peale, người lúc đó vừa mới thành lập bảo tàng lịch sử tự nhiên đầu tiên ở trong nước, tại Philadelphia, đã thành công. Peale, có lẽ là một tay trình diễn thành công còn hơn cả Cuvier, đã dành nhiều tháng trời ghép bộ xương có được từ Newburgh, dựng lại những mảnh còn thiếu bằng gỗ và giấy bồi. Ông giới thiệu bộ xương với công chúng vào tối Giáng sinh 1801. Để tăng sự chú ý cho buổi trình diễn, Peale đã để người hầu da đen của ông, Moses Williams, đóng giả làm một tay da đỏ đầu cắm lông chim và cưỡi một con ngựa trắng diễu qua những đường phố của Philadelphia. Con quái vật được phục dựng cao 11 foot tính từ vai và dài 17 foot từ ngà tới đuôi, kích thước có phần bị phóng đại. Khách thăm bị thu 50 xu - một khoản tiền khá lớn lúc bấy giờ - nếu muốn xem bộ xương. Sinh vật https://thuviensach.vn này - một con voi răng mấu châu Mỹ - vẫn còn thiếu một cái tên được mọi người nhất trí và được nhiều người gọi là incognitum, con thú Ohio, và, gây nhiều nhầm lẫn nhất, voi ma mút. Nó trở thành cuộc triển lãm ăn khách đầu tiên trên thế giới và khởi đầu cho “cơn sốt voi ma mút”. Thị trấn Cheshire, Massachusetts, đã sản xuất loại “phô-mai voi ma mút” nặng 1.230 pound; một lò nướng bánh ở Philadelphia giới thiệu “bánh mì voi ma mút”; và các tờ báo đưa tin về “củ cải vàng voi ma mút”, “cây đào voi ma mút”; và “thực khách trình độ voi ma mút” - người đã “nuốt chửng 42 QUẢ TRỨNG trong vòng 10 phút”. Peale cũng đã xoay xở lắp ghép thành công một con voi răng mấu thứ hai, từ những chiếc xương bổ sung được tìm thấy ở Newburgh và các thị trấn gần đó trong vùng thung lũng Hudson. Sau một bữa tối ăn mừng được tổ chức dưới bộ xương sườn to lớn của con thú, ông đã đưa bộ xương thứ hai sang châu Âu cùng hai cậu con trai trong đám con trai của ông. Bộ xương được triển lãm vài tháng ở London, trong thời gian đó những cậu con trai của Peale đã quyết định rằng họ phải xoay ngà của con vật hướng xuống đất, giống như loài hải mã. Kế hoạch của họ là đưa bộ xương tới Paris và bán nó cho Cuvier. Nhưng trong khi họ vẫn còn ở London, chiến tranh nổ ra giữa Anh và Pháp, khiến việc đi lại giữa hai nước trở thành bất khả. Cuvier cuối cùng cũng đã đặt cho con mastodonte (răng mấu) cái tên như thế trong một tài liệu xuất bản ở Paris năm 1806. Cái tên khác thường đó xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “răng vú”; phần nhọn phồng lên trên https://thuviensach.vn răng của con vật này có vẻ nhắc ông nhớ tới những núm vú (Tới thời điểm đó, con vật này đã nhận được một danh pháp khoa học từ một nhà tự nhiên học người Đức; không may là cái tên này - Mammut americanum - đã mãi mãi gây ra sự nhầm lẫn giữa voi răng mấu và voi ma mút). Bất chấp tình trạng đối đầu tiếp diễn giữa Anh và Pháp, Cuvier đã xoay xở có được các bản vẽ chi tiết bộ xương mà các con trai của Peale đã đưa tới London, và những bản vẽ này giúp ông có được một bức tranh rõ ràng hơn nhiều về giải phẫu học của con vật. Ông nhận ra voi răng mấu cách xa voi hiện đại hơn nhiều so với voi ma mút, và phân bổ nó vào một chi mới (Ngày nay, voi răng mấu không chỉ có chi riêng của chúng, mà còn có cả một họ riêng). Ngoài voi răng mấu châu Mỹ, Cuvier đã xác định được bốn loài voi răng mấu khác, “tất cả đều kỳ lạ như nhau với trái đất ngày nay”. Peale không biết gì về cái tên mới của Cuvier cho tới năm 1809, và khi ông biết, ông ngay lập tức chộp lấy cái tên đó. Ông viết thư cho Jefferson đề nghị tổ chức một buổi “lễ rửa tội” cho bộ xương voi răng mấu ở bảo tàng Philadelphia của ông. Jefferson tỏ ra lãnh đạm về cái tên mà Cuvier đã cập nhật được – “cũng hay như bất cứ cái tên nào khác thôi,” ông cười khẩy - và không đoái hoài gì tới ý tưởng lễ rửa tội. Vào năm 1812, Cuvier xuất bản một bản trích yếu bốn tập công trình của ông về các loài vật hóa thạch: Recherches sur les ossemens fossiles de quadrupèdes. Trước khi ông bắt đầu những “researches” [*] của mình, đã có từ không tới một loài có xương sống bị tuyệt chủng, tùy theo cách đếm. Nhờ phần lớn vào những nỗ lực của riêng ông, giờ đã có 49 loài như thế. Danh sách của Cuvier tăng lên, cùng với nó là danh tiếng của ông. Ít nhà tự nhiên học dám tuyên bố các phát hiện của họ công khai trước khi được ông xem xét chặt chẽ. “Cuvier chẳng phải là nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ này hay sao?” Honoré de Balzac sẽ đặt câu hỏi. “Nhà tự nhiên học bất tử của chúng ta đã tái dựng lại những thế giới từ một chiếc xương trắng; xây dựng lại, như Cadmus, những thành phố từ một chiếc răng.” Cuvier được Napoleon vinh danh, và khi Chiến tranh Napoleon cuối cùng cũng kết thúc, ông được mời tới Anh tiếp kiến triều đình. https://thuviensach.vn Người Anh háo hức muốn đi theo công trình của Cuvier. Vào những năm đầu thế kỷ 19, việc thu thập hóa thạch trở nên phổ biến trong tầng lớp thượng lưu tới mức một nghề nghiệp mới đã ra đời. Một “nhà hóa thạch” là người kiếm sống nhờ săn lùng những mẫu vật cho các đại gia. Cùng năm mà Cuvier xuất bản tác phẩm Recherches của ông, một nhà hóa thạch như thế, một phụ nữ trẻ tên Mary Anning, đã phát hiện ra một loài đặc biệt kỳ lạ. Xương sọ của sinh vật này, được tìm thấy trong đá vôi ở Dorest, dài gần bốn foot, với bộ hàm hình dáng như một cặp kềm gia dụng. Hốc mắt của nó, đặc biệt lớn, phủ kín những đĩa xương. Hóa thạch đầu tiên được phát hiện của thằn lằn cá được triển lãm ở Trung tâm Trưng bày Ai Cập ở London Hóa thạch rốt cuộc được đưa tới London trong Trung tâm Trưng bày Ai Cập, một bảo tàng sở hữu tư nhân không khác mấy so với của Peale. Nó được đem ra triển lãm như một loài cá và sau đó như một loài họ hàng với thú mỏ vịt, trước khi được nhận ra là một loại bò sát mới - một con ichthyosaur, hay “thằn lằn cá”. Vài năm sau, những mẫu vật khác mà Anning thu thập đã được lắp ghép lại với nhau, tạo ra một sinh vật thậm chí còn lạ lùng hơn, được gọi là con plesiosaur, hay “á long”, nghĩa là “gần như thằn lằn”. Giáo sư cổ sinh vật học đầu tiên của Đại học Oxford, Đức cha William Buckland đã mô tả loài plesiosaur là “có đầu của một con thằn lằn”, gắn với cái cổ “giống như từ cơ thể một con rắn biển”, “xương sườn của một con tắc kè, và vây mái chèo của một con cá voi”. Được báo cho biết về phát hiện này, Cuvier thấy ghi chép về plesiosaur kỳ quặc tới mức ông đặt câu hỏi phải chăng loài này đã bị làm giả mạo. Khi Anning phát hiện thêm một https://thuviensach.vn bộ xương khác, một hóa thạch plesiosaur gần như hoàn chỉnh, ông lại một lần nữa nhanh chóng được thông báo, lúc đó ông đã thừa nhận mình sai. "Không ai có thể ngờ được một thứ kỳ quặc như thế lại xuất hiện," ông viết cho một trong những cộng tác viên người Anh của mình. Trong chuyến thăm nước Anh của Cuvier, ông đã tới thăm Oxford, nơi Buckland cho ông xem một hóa thạch đáng kinh ngạc khác: một bộ xương hàm khổng lồ với một chiếc răng cong nhô ra từ đó như thể một thanh mã tấu. Cuvier xác định cả con vật này nữa cũng là một loại thằn lằn. Bộ hàm, vài thập niên sau, được xác nhận là thuộc về một loài khủng long. Con thú Maastricht hiện vẫn được trưng bày ở Paris Ngành nghiên cứu địa tầng học ở thời điểm đó mới sơ khai, nhưng người ta đã hiểu rằng những lớp đá khác nhau được hình thành trong những thời kỳ khác nhau. Các loài á long, thằn lằn cá và loài khủng long còn chưa được đặt tên đều đã được tìm thấy trong những lớp đá vôi thuộc về thời kỳ được gọi là Thời Kỳ thứ Hai, và ngày nay được gọi là Đại Trung sinh. Tương tự là loài ptero dactyle và thú Maastricht. Mẫu hình này đã đưa Cuvier tới một hiểu biết khác thường về lịch sử sự sống: nó có một khuynh hướng. Những loài đã mất mà xương có thể được tìm thấy gần mặt đất, như voi răng mấu và gấu hang, thuộc về bộ các sinh vật còn sống. Đào sâu hơn nữa và người ta tìm thấy những sinh vật khác, giống như loài thú ở Montmartre, không có con https://thuviensach.vn tương ứng rõ rệt nào ở thời hiện đại. Đào tiếp tục và các loài có vú biến mất hoàn toàn khỏi hồ sơ hóa thạch. Dần dần người ta sẽ tới một thế giới không chỉ trước chúng ta, mà còn trước đó nữa, do các loài bò sát khổng lồ thống trị. *** Những ý tưởng của Cuvier về lịch sử sự sống như thế, rằng sự sống kéo dài, hay thay đổi và đầy những sinh vật lý thú nay không còn tồn tại nữa, có vẻ sẽ khiến ông trở thành một người ủng hộ tự nhiên của thuyết tiến hóa. Nhưng Cuvier phản đối khái niệm tiến hóa, hay transformisme như khái niệm này vẫn được gọi ở Paris thời bấy giờ, và ông đã - nói chung là có vẻ - thành công trong việc hạ nhục bất cứ đồng nghiệp nào ủng hộ thuyết này. Thật đáng tò mò, cũng chính những kỹ năng đã giúp ông phát hiện ra sự tuyệt chủng lại làm cho sự tiến hóa trở nên phi lý đối với ông, một việc bất khả như biết bay. Như Cuvier vẫn thích chỉ ra, ông đặt lòng tin ở giải phẫu học; đây là điều đã cho phép ông phân biệt xương một con voi ma mút với một con voi thường và nhận ra một con kỳ giông khổng lồ từ bộ xương ban đầu tưởng là của con người. Ở trọng tâm hiểu biết của ông về giải phẫu học là quan điểm mà ông gọi là “sự tương quan của các bộ phận”. Điều đó với ông có nghĩa là những thành phần cấu tạo nên một con vật đều phải khớp với nhau và được thiết kế tối ưu cho lối sống cụ thể của con vật đó; như vậy, lấy ví dụ, một loài ăn thịt sẽ có hệ thống ruột phù hợp với việc tiêu hóa thịt. Cùng lúc, xương hàm của nó sẽ được cấu tạo để cắn xé con mồi; những móng vuốt để vồ và xé, răng để cắn và xẻ thịt; cả hệ thống những cơ quan vận động của nó để rượt đuổi và bắt; những cơ quan giác quan của nó để phát hiện con mồi từ xa. Trái lại, một con vật có móng guốc nhất thiết phải là loài ăn cỏ, do nó “không có phương tiện nào để vồ mồi”. Nó sẽ có “răng với phần mão răng bằng phẳng, để nghiền hạt và cỏ”, và một bộ hàm có thể nhai ngang. Nếu bất cứ phần nào trong đó bị thay đổi, sự tổng hòa chức năng của tổng thể sẽ bị phá hủy. Một con vật sinh ra với, chẳng hạn như răng hay các giác quan https://thuviensach.vn khác với cha mẹ nó, sẽ không thể sinh tồn, chứ đừng nói là phát triển thành một loài hoàn toàn mới. Vào thời của Cuvier, người thúc đẩy thuyết transformisme mạnh mẽ nhất là đồng nghiệp cấp trên của ông ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, Jean-Baptiste Lamarck. Theo Lamarck, một lực - “sức mạnh của sự sống” - đã thúc đẩy các tổ chức hữu cơ dần dần trở nên phức tạp. Cùng lúc, các loài vật và cả cây cối thường phải đương đầu với những thay đổi trong môi trường của chúng. Chúng làm điều đó bằng cách điều chỉnh các thói quen; những thói quen mới này, tới lượt chúng, tạo ra những điều chỉnh thể chất sau đó sẽ được truyền lại cho hậu duệ của loài. Những con chim kiếm mồi ở các hồ nước tõe ngón chân ra khi tiếp nước, và bằng cách này dần phát triển thành những cái chân có màng và trở thành vịt. Chuột chũi, đã chuyển xuống sống dưới đất, không còn sử dụng thị giác nữa, và vì thế qua nhiều thế hệ mắt chúng trở nên nhỏ và yếu. Lamarck, về phần ông, lại phản đối kịch liệt ý tưởng về sự tuyệt chủng của Cuvier; ông không thể tưởng tượng nổi một tiến trình có thể đủ sức quét sạch hoàn toàn một tổ chức hữu cơ (Thật thú vị, ngoại lệ duy nhất mà ông chấp nhận là sự can thiệp của con người, điều mà, theo Lamarck, có thể tiêu diệt một số loài vật lớn và sinh đẻ chậm nhất định). Điều Cuvier diễn giải là espèces perdues thì Lamarck cho rằng đơn giản chỉ là những loài đã tiến hóa hoàn toàn thành loài khác. Cuvier cho rằng quan niệm các con vật có thể thay đổi hình dáng cơ thể cho phù hợp thật phi lý. Ông bài bác ý tưởng rằng “vịt vì lặn mà trở thành cá chó; cá chó vì tình cờ lên đất khô mà thành vịt; gà mái tìm thức ăn ở bờ nước, và vì không muốn làm ướt chân, chân chúng đã tiến hóa thành công tới mức chúng trở thành diệc và cò”. Ông phát hiện ra thứ chính là, ít ra theo quan điểm của ông, bằng chứng chắc chắn chống lại thuyết transformisme trong một bộ sưu tập xác ướp. Khi Napoleon xâm lăng Ai Cập, người Pháp, như thường lệ, đã thu giữ những gì mà họ thấy lý thú. Trong số những thùng hộp cướp bóc được đưa trở về Paris có một con mèo đã được ướp xác. Cuvier đã phân tích xác ướp đó, tìm kiếm những dấu hiệu của sự tiến hóa. Ông không hề thấy. Mèo thời https://thuviensach.vn Ai Cập cổ đại, về mặt giải phẫu học mà nói, không khác gì một con mèo sống trong ngõ hẻm ở Paris. Điều đó chứng minh rằng các loài là không thay đổi. Lamarck đã phản bác rằng vài nghìn năm trôi qua từ khi mèo Ai Cập được ướp xác chỉ là “một khoảng thời gian vô cùng nhỏ” đặt trong tương quan với thời gian mênh mông. “Tôi biết một số nhà tự nhiên học dựa nhiều vào hàng nghìn thế kỷ mà họ chồng chất chúng lên với chỉ một nét bút,” Cuvier đáp lại một cách thô bạo. Rốt cuộc, Cuvier được yêu cầu viết một bài tán dương Lamarck, mà ông đã viết với tinh thần chôn vùi hơn là ca ngợi. Theo Cuvier, Lamarck là một người ảo tưởng. Giống như “những cung điện bị yểm bùa trong các câu chuyện tình xa xưa”, lý thuyết của ông xây dựng trên “những nền móng tưởng tượng”, vì thế mặc dù chúng có thể “làm vui thú trí tưởng tượng của một nhà thơ”, chúng không thể “dù trong phút chốc qua được sự kiểm tra của bất kỳ người nào đã từng mổ xẻ một bàn tay, một bộ phận nội tạng, hay thậm chí là một sợi lông”. Vì đã bác bỏ thuyết transformisme, Cuvier giờ đối mặt với một lỗ hổng lớn. Ông không có cách giải thích nào cho việc các tổ chức hữu cơ mới có thể xuất hiện ra sao, hay giải thích cho việc thế giới có thể trở nên đông đúc các nhóm loài vật khác nhau ở những thời điểm khác nhau như thế nào. Điều đó có vẻ không làm ông bận tâm. Mối quan tâm của ông, xét cho cùng, không phải ở nguồn gốc các loài, mà ở sự tận diệt của chúng. *** Ngay lần đầu tiên nói về chủ đề này, Cuvier đã ngụ ý rằng ông biết lực đẩy đằng sau sự tuyệt chủng, nếu không phải là cơ chế chính xác của nó. Trong bài diễn văn của ông về “các loài voi, cả còn sống và hóa thạch”, ông cho rằng voi răng mấu, voi ma mút, và loài Megatherium đều đã bị quét sạch “bởi một loại thảm họa nào đó”. Cuvier lưỡng lự đưa ra suy xét về bản chất chính xác của thảm họa này - “Việc của chúng ta không phải là tham gia vào lĩnh vực mênh mông của những phỏng đoán mà câu hỏi này mở ra,” ông nói - nhưng có vẻ ông đã tin rằng ở một thời điểm nào đó, chỉ một thảm họa thôi cũng đã đủ. https://thuviensach.vn Sau này, khi danh sách các loài tuyệt chủng của ông tăng lên, lập trường của ông thay đổi. Ông xác định rằng đã xảy ra nhiều trận đại hồng thủy. “Sự sống trên trái đất thường xuyên bị đảo lộn bởi những sự cố kinh hoàng,” ông viết. “Các tổ chức hữu cơ sống không đủ số lượng đã là nạn nhân của những thảm họa này.” Giống như quan điểm của ông về thuyết transformisme, niềm tin của Cuvier vào đại hồng thủy phù hợp với - thật ra có thể nói là một sự nối tiếp - lòng tin của ông vào giải phẫu học. Do các loài vật là những đơn vị chức năng cố định, phù hợp lý tưởng với hoàn cảnh của chúng, không có lý do gì mà, trong tiến trình thông thường của các sự cố, chúng lại bị diệt vong. Ngay cả những sự kiện có sức tàn phá lớn nhất từng được biết tới xảy ra ở thế giới hiện tại - những vụ phun trào núi lửa chẳng hạn, hay cháy rừng - cũng không đủ để giải thích cho sự tuyệt chủng; đối mặt với những thay đổi như thế, các tổ chức hữu cơ đơn giản là di chuyển đến nơi khác và tiếp tục sinh tồn. Những thay đổi đã dẫn tới sự tuyệt chủng vì thế hẳn phải ở một tầm vóc lớn hơn nhiều - lớn tới mức các loài vật đã không thể thích nghi với chúng. Việc ông và các nhà tự nhiên học khác chưa bao giờ quan sát được những sự kiện cực đoan như thế là một chỉ dấu nữa của sự dễ thay đổi của tự nhiên: trong quá khứ, nó đã vận hành khác - dữ dội hơn và tàn phá hơn - so với hiện tại. “Dòng chảy của các quá trình hoạt động đã bị phá vỡ,” Cuvier viết. “Tự nhiên đã thay đổi tiến trình, và không yếu tố nào của mẹ tự nhiên ngày nay lại đủ để tạo ra những gì bà từng làm trước kia.” Cuvier dành ra vài năm nghiên cứu sự hình thành đá xung quanh Paris - cùng với một người bạn, ông đã lập nên bản đồ địa tầng học đầu tiên của vùng lòng chảo Paris - và cả ở đây nữa, ông cũng thấy những dấu hiệu của sự thay đổi do đại hồng thủy. Những tảng đá cho thấy vùng này, ở nhiều thời điểm khác nhau, đã bị ngập dưới nước. Sự chuyển đổi từ môi trường này sang môi trường khác: từ môi trường nước mặn sang mặt đất, hay ở một số thời điểm, từ môi trường nước mặn sang môi trường nước ngọt, theo Cuvier là “không hề từ từ”; thay vì thế, điều đó đã xảy ra bởi đột ngột có “những cuộc cách mạng trên bề mặt https://thuviensach.vn trái đất”. Những sự kiện gần đây nhất về các cuộc cách mạng này có thể đã diễn ra tương đối gần, vì những dấu hiệu về nó có vẻ vẫn còn ở khắp nơi. Cuvier tin rằng sự kiện này diễn ra chỉ ngay gần ranh giới của lịch sử được ghi lại; ông quan sát thấy rằng nhiều huyền thoại và văn bản cổ xưa, bao gồm Kinh Cựu ước, đều bóng gió nói tới một cuộc khủng hoảng - thường là một trận lụt - xảy ra trước trật tự hiện giờ. Ý tưởng của Cuvier về một địa cầu bị tàn phá theo chu kỳ bởi đại hồng thủy tỏ ra có sức ảnh hưởng gần như những phát hiện ban đầu của ông. Luận văn lớn của ông về đề tài này, được xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1812, gần như được in lại ngay lập tức bằng tiếng Anh và bán ở Mỹ. Nó cũng xuất hiện bằng tiếng Đức, Thụy Điển, Ý, Nga và Séc. Nhưng rất nhiều điều trong đó đã bị mất đi, hay ít ra là bị diễn dịch sai trong quá trình dịch thuật. Luận văn của Cuvier được cố ý trình bày dưới dạng thế tục. Ông đã trích dẫn Thánh Kinh như một trong nhiều tác phẩm cổ (và không phải là hoàn toàn đáng tin cậy), cùng với kinh Vệ đà của đạo Hindu và Kinh Thư. Kiểu lập luận tin ở mọi tôn giáo như thế là không thể chấp nhận với giới tu sĩ Anh giáo rất đông đảo ở các định chế học thuật như Oxford, và khi bài luận được dịch sang tiếng Anh, nó đã bị Buckland và những người khác diễn giải để đưa ra bằng chứng về trận đại hồng thủy của Noah. Nền tảng định lượng cho lý thuyết của Cuvier, cho tới nay, phần lớn đã bị bác bỏ. Bằng chứng vật lý thuyết phục ông về một “cuộc cách mạng” ngay trước lịch sử thành văn (và khiến người Anh diễn giải là bằng chứng cho trận lụt lớn), thật ra là những mảnh vỡ còn sót lại của thời kỳ băng hà gần đây nhất. Địa tầng học về vùng lòng chảo Paris phản ánh không phải “sự xâm nhập” đột ngột của nước, mà thật ra là sự thay đổi từ từ của mực nước biển và những tác động lên các mảng kiến tạo địa chất. Về những chủ đề này, ngày nay chúng ta biết rằng Cuvier đã sai. Cùng lúc, một số tuyên bố phiêu lưu nhất của Cuvier hóa ra lại chính xác một cách đáng kinh ngạc. Sự sống trên trái đất đã từng bị đảo lộn bởi “những biến cố khủng khiếp”, và “các tổ chức hữu cơ không đủ số lượng” đã trở thành nạn nhân của các biến cố đó. Những biến cố như thế không thể https://thuviensach.vn được giải thích bằng các lực, hay “các tác nhân” vẫn còn trong các công trình hiện tại. Tự nhiên quả đã thỉnh thoảng “thay đổi tiến trình”, và ở những thời điểm như thế, quả là “dòng chảy của sự vận hành” đã bị phá vỡ. Trong khi đó, liên quan tới loài voi răng mấu châu Mỹ, Cuvier cũng đúng một cách khó tin. Ông đã xác định rằng loài thú này bị quét sạch năm hoặc sáu nghìn năm trước, trong cùng “cuộc cách mạng” đã tiêu diệt loài voi ma mút và loài Megatherium. Thật ra, voi răng mấu châu Mỹ biến mất vào khoảng 13 nghìn năm trước. Sự diệt vong của nó nằm trong một làn sóng những sự biến mất giờ được gọi là đợt tuyệt chủng của các động vật khổng lồ [*]. Làn sóng này trùng hợp với sự lan tỏa của loài người hiện đại và thật ra đang ngày càng được cho rằng là hậu quả của việc loài người lan rộng. Theo nghĩa này, cuộc khủng hoảng Cuvier nhận thấy xảy ra ngay ở ranh giới trước khi lịch sử được ghi nhớ lại chính là do chúng ta gây ra. https://thuviensach.vn CHƯƠNG III CHIM CÁNH CỤT NGUYÊN BẢN Pinguinus impennis Thuật ngữ “người theo thuyết thảm họa” [*] được đặt ra vào năm 1832 bởi William Whewell, một trong những chủ tịch đầu tiên của Hội cổ sinh vật học London, người cũng đã để lại cho đời các từ tiếng Anh “anode”, “cathode”, “ion”, và “scientist” [*]. Mặc dù thuật ngữ “người theo thuyết thảm họa” sau này sẽ dần có nghĩa xấu, bám lấy nó dai như đỉa, đó không phải là ý định của Whewell. Khi ông đề xuất từ này, Whewell đã nói rõ rằng ông tự coi mình là “người theo thuyết thảm họa”, và hầu hết các nhà khoa học khác ông biết cũng thế. Thật ra, chỉ một người mà ông biết không hợp với tên gọi đó, và đấy là nhà cổ sinh vật học trẻ đang nổi tên là Charles Lyell. Với Lyell, Whewell nghĩ ra một từ mới. Ông gọi Lyell là một “người theo thuyết đồng nhất hóa” [*]. Lyell lớn lên ở miền nam nước Anh, trong một thế giới quen thuộc với những người hâm mộ Jane Austen. Sau đó ông theo học ở Oxford và được đào tạo để trở thành một luật sư. Thị lực suy giảm đã gây khó khăn cho ông trong việc hành nghề luật, nên thay vì thế ông chuyển sang khoa học tự nhiên. Khi còn trẻ, Lyell đã có vài chuyến đi tới châu Âu lục địa và kết bạn với Cuvier, người mà ông hay tới nhà ăn tối. Ông thấy người tiền bối này “rất sẵn lòng giúp đỡ” với cá nhân ông - Cuvier đã cho phép ông lấy khuôn vài hóa thạch nổi tiếng để mang cùng ông trở lại Anh - nhưng Lyell lại coi nhãn quan về lịch sử trái đất của Cuvier là hoàn toàn thiếu thuyết phục. Khi Lyell nhìn vào (qua cặp kính cận) phần ngoài của hòn đá tại vùng nông thôn nước Anh hay địa tầng của vùng lòng chảo Paris hay các đảo núi lửa gần Naples, ông không thấy bằng chứng nào của đại hồng thủy. Thật ra, hoàn toàn ngược lại: ông nghĩ rằng thật phi khoa học (hay như ông nói “phi triết học”) nếu tưởng tượng rằng sự thay đổi trong thế giới chưa bao giờ xảy ra vì những lý do khác nhau hay ở những mức độ khác nhau so với nó đã xảy ra ngày nay. Theo Lyell, mỗi đặc tính của cảnh quan địa chất là kết quả https://thuviensach.vn của những quá trình từ từ hoạt động qua vô số các thiên niên kỷ - những quá trình như sự đóng cặn, sự xói mòn, và sự lưu hóa cao su, tất cả những điều đó hiện giờ vẫn có thể quan sát được. Với nhiều thế hệ sinh viên cổ sinh vật học, học thuyết của Lyell sẽ được tóm tắt là “Hiện tại là chìa khóa tới quá khứ”. Nói tới sự tuyệt chủng, điều này nữa, theo Lyell, cũng diễn ra ở một tốc độ rất chậm - chậm tới mức ở bất cứ thời điểm cụ thể nào, tại bất kỳ địa điểm cụ thể nào, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu nó diễn ra mà không hề được chú ý. Bằng chứng hóa thạch, vốn có vẻ cho thấy các loài ở nhiều thời điểm khác nhau đã diệt vong hàng loạt, là một dấu hiệu cho thấy dữ liệu không đáng tin cậy. Ngay cả ý tưởng rằng lịch sử sự sống có khuynh hướng - đầu tiên là bò sát, rồi đến loài có vú - cũng là sai lầm, một sự suy luận sai khác bởi thiếu dữ liệu. Tất cả các loại tổ chức hữu cơ đã tồn tại ở mọi thời đại, và những tổ chức có vẻ đã biến mất vĩnh viễn có thể, trong những tình huống thích hợp, lại xuất hiện lần nữa. Như thế, “loài thằn lằn răng giông [*] khổng lồ có thể xuất hiện trở lại trong những khu rừng, và cả loài thằn lằn cá ở biển, trong khi loài pterodactyle có thể lại bay chuyền qua những lùm bụi rậm rạp của những cây dương xỉ”. Thật rõ ràng, Lyell viết, “rằng không có cơ sở nào trong các dữ kiện cổ sinh vật học ủng hộ cho một lý thuyết phổ biến về sự phát triển liên tục của thế giới động vật và thực vật.” https://thuviensach.vn Những thay đổi “khủng” Lyell xuất bản những ý tưởng của ông trong ba tập sách dày, Principles of Geology: Being an Attempt to Explain the Former Changes of the Earth’s Surface by Reference to Causes Now in Operation (tạm dịch: Những nguyên lý địa chất học: Là một nỗ lực để giải thích những thay đổi trước kia trên bề mặt trái đất bằng cách liên hệ với những nguyên cớ đang vận hành hiện giờ). Công trình này nhắm vào khán giả đại chúng, những người đã đón nhận nó đầy nhiệt tình. Tập đầu tiên in 4.500 cuốn bán hết nhanh chóng, và tập thứ hai với 9.000 cuốn đã được đặt hàng (Trong một lá thư gửi cho hôn thê của mình, Lyell khoe rằng con số đó “gấp 10 lần” những cuốn sách mà bất kỳ nhà cổ sinh vật học nào ở Anh bán được). Lyell trở thành một ngôi sao - https://thuviensach.vn kiểu như Steven Pinker [*] ở thế hệ của ông - và khi ông nói chuyện ở Boston, hơn bốn nghìn người đã tìm cách để có vé. Để cho cuốn sách được rõ ràng (và đọc cũng hay), Lyell đã châm biếm các đối thủ của ông, khiến họ trở nên cực kỳ “phi triết học” so với thực tế. Và họ đã đáp trả. Một nhà cổ sinh vật học người Anh tên là Henry De la Beche, người có tài lẻ là hội họa, đã trêu chọc ý tưởng của Lyell về sự trở lại của các loài. Ông vẽ một bức biếm họa trong đó Lyell ở trong hình dạng của một con thằn lằn cá bị cận thị, chỉ vào một chiếc sọ người và giảng bài cho một nhóm bò sát khổng lồ. “Các bạn sẽ hiểu ngay,” giáo sư Thằn lằn Cá nói với các học trò của mình trong phần chú thích cho tranh, “rằng chiếc sọ phía trước chúng ta thuộc về một giống động vật hạ đẳng; răng thì yếu ớt, sức mạnh của hàm thì vớ vẩn, và xét tổng thể, thật kỳ diệu là sinh vật này lại có thể kiếm được thức ăn”. De la Beche gọi bức hoạ của mình là “Những thay đổi khủng”. *** Trong số các độc giả đã mua cuốn Principles có Charles Darwin. Hai mươi hai tuổi và vừa tốt nghiệp Cambridge, Darwin đã được mời tham gia nhóm các quý ông lên tàu HMS Beagle của thuyền trưởng Robert FitzRoy. Con tàu trên đường tới Nam Mỹ để khảo sát vùng bờ biển và giải quyết hàng loạt các vấn đề không nhất quán trên bản đồ làm cản trở hàng hải (Bộ Hải quân Anh đặc biệt quan tâm tới việc tìm ra cách tốt nhất để tiếp cận quần đảo Falkland, mà người Anh vừa mới giành quyền kiểm soát). Hành trình này, kéo dài tới khi Darwin hai mươi bảy tuổi, sẽ đưa ông từ Plymouth tới Montevideo, qua eo biển Magellan, lên quần đảo Galapagos, qua nam Thái Bình Dương tới Tahiti, đến tận New Zealand, Úc, và Tasmania, ngang qua Ấn Độ Dương tới Mauritius, vòng qua Mũi Hào Vọng, và rồi trở lại Nam Mỹ. Trong sự tưởng tượng của công chúng, hành trình này thường được coi là lúc Darwin đối mặt với việc phải phân loại đầy vất vả những con rùa khổng lồ, những con thằn lằn biển, và những con chim sẻ với mỏ đủ kích thước và hình thù, rồi phát hiện ra thuyết chọn lọc tự nhiên. Thật ra, Darwin https://thuviensach.vn đã phát triển học thuyết của ông sau khi ông trở lại Anh, khi các nhà tự nhiên học khác đã phân loại mớ bòng bong những loài mà ông đưa về. Sẽ chính xác hơn nếu mô tả hành trình trên tàu Beagle là giai đoạn mà Darwin khám phá Lyell. Không lâu trước khi con tàu xuất phát, FitzRoy đưa cho Darwin một cuốn Principles. Dù ông say sóng kinh khủng trong chặng đầu của hành trình (cũng như trong nhiều chặng sau đó), Darwin cho biết ông đã đọc Lyell “chăm chú” khi con tàu hướng về phương nam. Tàu Beagle có chặng dừng đầu tiên ở St. Jago - giờ là Santiago - ở quần đảo Cape Verde, và Darwin, háo hức đưa kiến thức của mình vào thực tế, đã dành vài ngày thu thập các mẫu vật từ những rặng núi đá ở đó. Một trong những tuyên bố trọng tâm của Lyell là một số khu vực trên trái đất nhìn chung đang nhô lên, giống như những vùng khác đang hạ xuống (Lyell tranh luận thêm rằng hiện tượng này luôn cân bằng, để “duy trì sự đồng nhất của mối quan hệ chung giữa đất và biển”). St. Jago có vẻ đã chứng minh luận điểm của ông. Hòn đảo này rõ ràng có nguồn gốc núi lửa, nhưng nó có vài đặc điểm đáng tò mò, bao gồm một dải đá vôi trắng ở giữa vách đá xám. Cách duy nhất để giải thích đặc điểm này, Darwin kết luận, đó là bằng chứng của sự nâng lên của mặt đất. Nơi đầu tiên mà “tôi tin tưởng về mặt cổ sinh vật học rằng quan điểm của Lyell có ưu thế vượt trội” như sau này ông viết. Darwin say mê tập một cuốn Principles tới mức ông đã yêu cầu chuyển tập hai cho ông để ông nhận nó ở Montevideo. Tập ba có vẻ đã bắt kịp ông ở quần đảo Falkland. Trong khi tàu Beagle đi dọc theo bờ phía tây Nam Mỹ, Darwin đã dành ra vài tháng khám phá Chile. Ông đang nghỉ ngơi sau một chặng đi bộ buổi chiều nọ gần thị trấn Valdivia thì mặt đất dưới chân ông bắt đầu rung chuyển, như thể nó làm bằng thạch rau câu. “Một giây khi đó thôi cũng khiến tâm trí tạo ra sự bất an kỳ lạ mà nhiều giờ hồi tưởng sau đó cũng không bao giờ tạo ra được,” ông viết. Vài ngày sau vụ động đất, đi đến Concepción, Darwin thấy cả thành phố chỉ còn là đống đổ nát. “Hoàn toàn đúng như thế, không còn căn nhà nào có người ở,” ông ghi chép. Đó là cảnh tượng “tồi tệ nhất nhưng cũng ngoạn mục nhất” mà ông từng chứng kiến. Hàng loạt các đo đạc khảo sát mà FitzRoy tiến hành quanh cảng Concepcion https://thuviensach.vn cho thấy trận động đất đã nâng bờ biển lên gần tám foot. Một lần nữa, cuốn Principles của Lyell được xác nhận một cách khá ngoạn mục. Nếu có đủ thời gian, Lyell lập luận, các trận động đất lặp đi lặp lại có thể nâng cả một chuỗi núi lên cao hàng nghìn foot. Darwin càng khám phá thế giới, thế giới càng trở nên giống như thế giới của Lyell. Bên ngoài cảng Valparaiso, ông tìm thấy những vỏ sò cách rất xa mực nước biển. Ông cho rằng những vỏ sò này là kết quả của nhiều lần nâng lên của mặt đất như lần ông vừa chứng kiến. “Tôi đã luôn nghĩ rằng giá trị tuyệt vời của cuốn Principles là thay đổi hoàn toàn giọng điệu trong tâm trí một người”, về sau này ông viết (Khi ở Chile, Darwin cũng phát hiện ra một loài ếch mới khá đặc biệt, sau này sẽ được gọi là ếch Chile của Darwin. Những con đực của loài này mang nòng nọc con trong cổ, nơi phát ra tiếng kêu của chúng. Các nghiên cứu gần đây không tìm ra được một con ếch Chile của Darwin nào, và loài này được cho là đã tuyệt chủng). Vào cuối hành trình của tàu Beagle, Darwin gặp những rạn san hô. Điều này mang tới cho ông bước đột phá đầu tiên, một ý tưởng đáng giật mình sẽ giúp ông dễ dàng bước chân vào giới khoa học ở London. Darwin thấy rằng chìa khóa để hiểu những rạn san hô này là kết hợp giữa sinh học và cổ sinh vật học. Nếu quanh một hòn đảo hay dọc theo một bờ lục địa đang chìm xuống từ từ, một rạn san hô hình thành, thì rạn san hô đó, bởi nó đang dần nhô lên, có thể duy trì vị trí tương đối của nó với mặt nước. Dần dần, mặt đất chìm xuống, rạn san hô sẽ trở thành một vỉa san hô ngầm. Nếu rốt cuộc mặt đất chìm hết, rạn san hô sẽ tạo thành một đảo san hồ vòng. Ghi chép của Darwin vượt xa, và ở một mức độ nhất định nó phản biện lại Lyell; lão tiền bối đã đưa ra giả thuyết rằng các rạn san hô trồi lên từ vành các miệng núi lửa đã bị chìm. Nhưng ý tưởng của Darwin lại “Lyell” một cách căn bản hơn, tới mức khi trở lại Anh, Darwin trình bày chúng cho Lyell, và Lyell đã cực kỳ thích thú. Như sử gia về khoa học Martin Rudwick đã nhận xét, Lyell “nhận ra rằng Darwin còn Lyell hơn cả ông”. Một người viết tiểu sử tổng kết ảnh hưởng của Lyell với Darwin như sau: “Không có Lyell sẽ không có Darwin”. Bản thân Darwin, sau khi đăng ghi https://thuviensach.vn chép của ông về hành trình trên tàu Beagle và một tập sách về các rạn san hô, viết, “Tôi luôn cảm thấy như thể cuốn sách của tôi một nửa là từ bộ não của Lyell”. *** Lyell, người đã nhìn thấy sự thay đổi xảy ra luôn luôn và khắp nơi trong thế giới xung quanh ông, đã vạch ra ranh giới cho sự sống. Việc một loài thực vật hay động vật, qua thời gian, nhường chỗ cho sự nổi lên của một loài mới, với ông là không thể tưởng tượng nổi, và ông đã dành phần lớn tập hai của cuốn Principles để tấn công ý tưởng đó, có lúc còn trích dẫn thí nghiệm về con mèo được ướp xác của Cuvier để ủng hộ sự phản đối của ông. Sự phản đối quyết liệt của Lyell với sự đột biến loài, như ở London người ta vẫn gọi, cũng khó hiểu như của Cuvier vậy. Những loài mới, Lyell nhận ra, thường xuất hiện trong các di tích hóa thạch. Nhưng nguồn gốc của chúng ra sao là vấn đề ông chưa bao giờ đề cập, ngoại trừ việc nói rằng có lẽ mỗi loài đã bắt đầu với “một cặp đơn lẻ, hay một cá thể, khi mà một cá thể là đủ” và đã nhân lên, lan rộng ra từ đó. Quy trình này, có vẻ phụ thuộc vào thần thánh hay ít nhất là sự can thiệp huyền bí, rõ ràng đi ngược với những quy tắc ông đã đặt ra cho địa chất học. Thật ra, như một người bình luận đã nhận xét, điều đó có vẻ đòi hỏi “chính sự thần kỳ” mà Lyell đã bác bỏ. Với thuyết chọn lọc tự nhiên, Darwin một lần nữa lại “Lyell” hơn cả Lyell. Darwin nhận ra rằng khi những đặc tính của thế giới vô cơ đồng bằng, các thung lũng ven sông, các dãy núi bắt đầu từ từ thay đổi, thế giới hữu cơ cũng sẽ chịu sự chi phối của dòng chảy thay đổi liên tục như thế. Thằn lằn cá và á long, chim và cá và loài gây nhiều bối rối nhất - con người, đều đã trải qua một quá trình chuyển đổi diễn ra qua vô số thế hệ. Quá trình này, dù chậm tới mức không thể cảm nhận được, theo Darwin, vẫn đang tiếp tục diễn ra; trong sinh học, cũng như trong địa chất học, hiện tại là chìa khóa tới quá khứ. Một trong những đoạn thường được trích dẫn trong On the Origin of Species (Về nguồn gốc các loài), Darwin đã viết: https://thuviensach.vn Có thể nói rằng chọn lọc tự nhiên là việc xem xét kỹ lưỡng từng ngày và từng giờ, khắp thế giới, mỗi biến thể, dù là nhỏ nhất; loại bỏ những gì xấu, bảo tồn và bổ sung những gì tốt; một công việc lặng lẽ và không thể cảm nhận được bằng giác quan, bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào có cơ hội. Chọn lọc tự nhiên loại bỏ sự cần thiết đối với bất cứ phép mầu sáng tạo nào. Chỉ cần có đủ thời gian để “mỗi biến thể, dù là nhỏ nhất” tích tụ lại, các loài mới sẽ xuất hiện từ các loài cũ. Lyell lần này không hoan nghênh công trình của cậu học trò cưng nhanh nhẹn như lần trước. Ông chỉ miễn cưỡng chấp nhận lý thuyết của Darwin về “sự kế thừa có chỉnh sửa”, miễn cưỡng tới mức lập trường của ông có vẻ rốt cuộc đã hủy hoại tình bạn giữa họ. Thuyết của Darwin về cách các loài có nguồn gốc ra sao cũng sinh đôi luôn một thuyết giải thích tại sao chúng diệt vong. Sự tuyệt chủng và tiến hóa là hai phần không thể tách rời của mảnh vải sự sống, hay nếu các bạn thích cách so sánh này hơn, thì như hai mặt của một đồng xu. “Sự xuất hiện của những dạng thức mới và sự biến mất của những dạng thức cũ,” Darwin viết, “gắn kết với nhau”. Thúc đẩy cả hai điều đó là “cuộc vật lộn để tồn tại,” chỉ tưởng thưởng những loài biết thích nghi và loại bỏ những loài kém thích nghi hơn. Thuyết chọn lọc tự nhiên đặt nền tảng trên niềm tin rằng mỗi biến thể mới, và rốt cuộc là mỗi loài mới, được sản sinh và duy trì bằng cách có vài lợi thế nhất định so với những loài mà nó cạnh tranh; và sự tuyệt chủng kéo theo sau đó của những dạng thức kém ưu thế hơn gần như là không thể tránh khỏi. Darwin đã sử dụng phép loại suy từ gia súc. Khi một biến thể năng sản và khỏe mạnh hơn ra đời, nó nhanh chóng thay thế các giống khác. Ở Yorkshire chẳng hạn, ông chỉ ra rằng, “về mặt lịch sử chúng ta biết rằng loài bò đen cổ xưa đã bị thay thế bằng loài bò sừng dài”, và rằng những con bò sừng dài sau đó lại bị “quét sạch” bởi những con bò sừng ngắn, “như thể bởi một trận đại dịch vậy.” https://thuviensach.vn Darwin nhấn mạnh tính đơn giản trong cách giải thích của ông. Chọn lọc tự nhiên là một lực mạnh mẽ tới mức không cần thêm lực nào khác. Qua đó có thể bác bỏ cả thuyết về nguồn gốc thần bí lẫn thuyết về những thảm họa biến đổi thế giới. “Toàn bộ chủ đề về sự tuyệt chủng của các loài liên quan tới sự kỳ bí hoàn toàn vu vơ,” ông viết, ngầm ý móc mỉa Cuvier. Từ tiền đề của Darwin, một tiên đoán quan trọng tiếp nối. Nếu sự tuyệt chủng được thúc đẩy bởi chọn lọc tự nhiên và chỉ bởi chọn lọc tự nhiên, hai quá trình đó phải diễn ra gần như ở cùng mức độ. Bằng không, sự tuyệt chủng phải diễn ra thường xuyên hơn. “Sự tuyệt chủng hoàn toàn của các loài trong một nhóm thường là một quá trình chậm hơn so với sự sản sinh ra các loài trong nhóm đó,” ông từng nhận xét. Không ai từng chứng kiến một loài mới ra đời, hay theo Darwin, họ cũng không nên trông chờ điều đó. Sự hình thành loài diễn ra lâu dài tới mức, với tất cả dự tính và mục đích, là không thể quan sát được. “Chúng ta chẳng thấy gì về những thay đổi chậm chạp trong tiến trình này,” ông viết. Như thế phải là hợp lý khi cho rằng sự tuyệt chủng lẽ ra còn khó chứng kiến hơn nhiều. Nhưng không phải thế. Thực ra, trong những năm Darwin giam mình ở Down House [*] phát triển ý tưởng của ông về sự tiến hóa, những cá thể cuối cùng của một trong những loài được yêu thích nhất của châu Âu, chim ăng-ca lớn, đã biến mất. Hơn nữa, sự kiện này được ghi lại thành biên niên tỉ mỉ bởi các nhà điểu cầm học người Anh. Ở đây thuyết của Darwin đã trái ngược hoàn toàn với các dữ kiện thực tế, với những hàm ý tiềm ẩn đòi hỏi suy nghĩ sâu sắc. *** Viện Lịch sử Tự nhiên Iceland là một tòa nhà mới nằm trên sườn đồi đơn độc bên ngoài Reykjavik. Tòa nhà có mái nghiêng và những bức tường kính nghiêng nhìn khá giống mũi một chiếc tàu. Nó được thiết kế làm cơ sở nghiên cứu, không cho công chúng vào, tức là cần phải có hẹn riêng để được thấy bất cứ mẫu vật nào trong bộ sưu tập của viện. Những mẫu vật này, như https://thuviensach.vn tôi biết trong ngày hẹn của tôi, bao gồm: một con hổ nhồi bông, một con kangaroo nhồi bông, và một tủ đầy những chú chim thiên đường nhồi bông. Lý do tôi thu xếp chuyến thăm viện là để xem chim ăng-ca lớn. Iceland nổi tiếng một cách vẫn còn bị hoài nghi là nơi cuối cùng từng còn lại loài chim này, và mẫu vật tôi tới xem đã bị giết đâu đó trên đất nước này - không ai biết vị trí chính xác - vào mùa hè năm 1821. Xác con chim được bá tước người Đan Mạch, Frederik Christian Raben, mua lại, ông đã tới Iceland tức tốc để có con chim ăng-ca cho bộ sưu tập của ông (và suýt thì chết đuối trên hành trình). Raben đưa mẫu vật về lâu đài của ông, và nó ở trong tay tư nhân cho tới năm 1971, khi nó xuất hiện trong một cuộc đấu giá ở London. Viện Lịch sử Tự nhiên đã quyên tiền để mua lại nó, và trong vòng ba ngày, người dân Iceland đã đóng góp khoản tiền tương đương mười nghìn bảng Anh để mua lại con ăng-ca (Một phụ nữ mà tôi từng trò chuyện nhớ là bà đã vét sạch heo đất cho nỗ lực đấy, lúc bấy giờ bà mới mười tuổi). Hãng hàng không Icelandair cung cấp hai chỗ miễn phí cho chuyến trở về nhà, một cho viên giám đốc viện, và chỗ kia cho chú chim trong hộp. Guðmundur Guðmundsson, hiện là phó giám đốc viện, đã được phân công nhiệm vụ cho tôi xem con ăng-ca. Guðmundsson là một chuyên gia về trùng lỗ [*], những sinh vật biển nhỏ xíu tập hợp với nhau tạo thành những vỏ sò hình dạng phức tạp, vốn được gọi là “vỏ gai”. Trên đường đi xem chú chim, chúng tôi dừng lại ở văn phòng ông, trong đó chất đầy những chiếc hộp với các ống thủy tinh nhỏ, mỗi ống chứa các mẫu vỏ gai kêu lên như mưa rào khi tôi nhặt nó lên. Guðmundsson nói với tôi rằng lúc rảnh rỗi ông làm công việc biên dịch. Vài năm trước ông đã hoàn tất cuốn sách diễn giải bằng tiếng Iceland đầu tiên cho tác phẩm On the Origin of Species (Về nguồn gốc các loài). Ông thấy cách hành văn của Darwin khá khó - “câu ở trong câu ở trong câu” - và cuốn sách, Uppruni Tegundanna, bán không chạy lắm, có lẽ vì có quá nhiều người Iceland thông thạo tiếng Anh. Chúng tôi đi xuống nhà kho xem bộ sưu tập của viện. Con hổ nhồi bông, được quấn bằng nhựa, nhìn như muốn nhảy vào vồ con kangaroo nhồi bông. Con ăng-ca lớn - Pinguinus impennis - đứng riêng một mình, trong chiếc https://thuviensach.vn lồng bằng thủy tinh hữu cơ chuyên biệt. Nó đứng trên một tảng đá giả, cạnh một quả trứng giả. Như cái tên cho thấy, ăng-ca lớn là một con chim lớn; những con trưởng thành có thể cao tới hơn hai foot rưỡi. Chim ăng-ca không biết bay, nó là một trong vài loài chim không biết bay ở Bắc Bán cầu, và đôi cánh tròn lẳn của nó nhìn thật buồn cười phía dưới cơ thể. Con chim ăng-ca trong lồng có lông màu nâu trên lưng; có lẽ lông có màu đen khi con chim còn sống nhưng tới giờ đã bị phai màu. “Tia cực tím,” Guðmundsson nói buồn bã. “Nó đã phá hủy bộ lông chim”. Lông ở ngực con chim ăng-ca màu trắng, và có một đốm trắng phía dưới mỗi bên mắt. Con chim đã được nhồi bông với đặc điểm khác biệt rõ rệt nhất của nó: chiếc mỏ lớn, khoằm hẳn đi một cách khó hiểu, hơi nghiêng vào không trung. Điều đó khiến nó trông giống điệu bộ của một kẻ sầu não. Guðmundsson giải thích rằng con chim ăng-ca lớn này từng được bày ở Reykjavik tới tận năm 2008, khi Viện được chính phủ Iceland tái cấu trúc. Lúc đó, một tổ chức khác đã được đề xuất làm một căn nhà mới cho con chim, nhưng nhiều sự cố khác nhau, bao gồm cuộc khủng hoảng tài chính của Iceland, đã khiến việc này không thể xảy ra, điều giải thích tại sao con chim ăng-ca của Bá tước Raben đang đứng trên tảng đá giả ở góc của nhà kho này. Trên tảng đá, một dòng chữ được viết bằng sơn, mà Guðmundsson dịch lại cho tôi: CHÚ CHIM MẪU ĐANG ĐƯỢC TRƯNG BÀY Ở ĐÂY BỊ GIẾT VÀO NĂM 1821. NÓ LÀ MỘT TRONG SỐ ÍT NHỮNG CON ĂNG-CA LỚN VẪN CÒN SỐNG. *** Vào thời hoàng kim của nó, tức là trước khi con người tìm được cách tới nơi nó làm tổ, chim ăng-ca lớn sống trải từ Na Uy tới Newfoundland và từ Ý tới Florida, với số lượng có lẽ lên tới hàng triệu. Khi những con người đầu tiên từ Scandinavia tới Iceland, chim ăng-ca lớn phổ biến tới mức họ thường dùng chúng làm bữa tối, và xương của chúng đã được tìm thấy trong những đống rác của các gia đình vào thế kỷ 10. Lúc ở Reykjavik, tôi đã tới thăm một bảo tàng được xây dựng trên đống đổ nát của nơi được cho là một trong https://thuviensach.vn những kiến trúc cổ xưa nhất của Iceland - một căn nhà dài xây dựng trên những dải đất cỏ mọc. Theo một trong những khu trưng bày của nhà bảo tàng, chim ăng-ca lớn là “con mồi dễ bắt” đối với những cư dân Iceland thời Trung cổ. Ngoài một cặp xương chim ăng-ca, khu trưng bày còn có đoạn video dựng lại một cuộc gặp gỡ giữa người và chim thời kỳ đầu. Trong đoạn video, một bóng mờ len lỏi theo bờ biển dốc đá tới chỗ một cái bóng lờ mờ của con ăng-ca. Khi tới đủ gần, bóng người rút ra một cây gậy và đập vào đầu con vật. Con chim ăng-ca kêu lên một tiếng như rên la và thảng thốt. Tôi thấy đoạn băng này lý thú một cách ảm đạm và đã xem nó đến sáu bảy lần. Lẻn tới, đập đầu, kêu lên. Lặp lại. Ở mức độ tốt nhất có thể xác định, chim ăng-ca lớn sống rất giống chim cánh cụt. Thật ra, chim ăng-ca lớn là những con “chim cánh cụt” nguyên bản. Chúng được gọi như thế - từ nguyên của “chim cánh cụt” [*] thật mơ hồ, khó hiểu và có thể hoặc không thể có gốc từ chữ Latin pinguis, có nghĩa là “béo”, bởi các thủy thủ châu Âu đã gặp chúng ở Bắc Đại Tây Dương. Sau này, khi những thế hệ nối tiếp các thủy thủ gặp những con chim không bay có màu sắc tương tự ở Nam Bán cầu, họ dùng cùng cái tên, điều dẫn tới nhiều nhầm lẫn, do ăng-ca và cánh cụt thuộc về hai họ hoàn toàn khác nhau (Chim cánh cụt có họ riêng, trong khi chim ăng-ca là thành viên của một họ bao gồm loài hải âu cổ rụt và chim uria [*]; phân tích gien cho thấy rằng chim ăng-ca hiện đại [*] là họ hàng gần nhất còn sống so với chim ăng-ca lớn). Giống như chim cánh cụt, chim ăng-ca lớn là những vận động viên bơi lội cự phách - các tài liệu của nhân chứng xác nhận loài chim này “cực kỳ năng động” trong nước, và chúng dành phần lớn cuộc đời sống ở biển. Nhưng trong mùa nuôi con, vào tháng 5 và 6, chúng lạch bạch lên bờ hàng đàn hàng lũ, và đó là nơi chúng dễ bị tấn công. Thổ dân châu Mỹ rõ ràng đã săn loài ăng-ca lớn, một ngôi mộ cổ ở Canada bên trong có hơn một trăm cái mỏ chim ăng-ca lớn. Tương tự là người châu Âu thời đồ đá cũ: xương chim ăng ca lớn đã được tìm thấy ở các khu khảo cổ học tại nhiều nơi, bao gồm Đan Mạch, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Ý và Gibraltar. Vào lúc những người định https://thuviensach.vn cư đầu tiên tới Iceland, rất nhiều khu làm tổ của loài chim này đã bị cướp bóc và phạm vi sinh sống của chúng có lẽ đã thu hẹp. Rồi sau đó là cuộc tàn sát hàng loạt. Bị thu hút bởi nguồn cá tuyết dồi dào, dân châu Âu bắt đầu thực hiện những chuyến du trình đều đặn tới Newfoundland vào đầu thế kỷ 16. Trên đường, họ gặp một phiến đá granite màu hồng nhạt rộng khoảng năm mươi mẫu Anh ở khu vực này, phiến đá chỉ xâm xấp mực nước biển. Vào mùa xuân, phiến đá phủ kín những chú chim đứng chen vai thích cánh. Rất nhiều trong đó là chim ó biển và chim uria; phần còn lại là ăng-ca lớn. Phiến đá, cách bờ biển Newfoundland khoảng bốn mươi dặm về phía đông bắc, được gọi là đảo Chim, hay trong một số tài liệu là đảo Chim Cánh cụt; ngày nay nó được gọi là đảo Funk. Vào cuối một hành trình dài xuyên Đại Tây Dương, thực phẩm dự trữ trở nên khan hiếm, thịt tươi rất quý giá, và việc dễ dàng tóm được những con chim ăng-ca từ phiến đá này nhanh chóng được tận dụng. Trong một tài liệu năm 1534, nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier đã viết rằng một số cư dân trên đảo Chim “to như những con ngỗng”. Chúng luôn ở dưới nước mà không thể bay trên trời, bởi lẽ chúng chỉ có những đôi cánh nhỏ... mà bằng đôi cánh đó... chúng di chuyển lẹ làng trong dòng nước như những con chim khác bay trên không. Và những con chim này béo tới mức kỳ lạ. Trong không đầy nửa giờ đồng hồ chúng tôi đã chất đầy chim lên hai chiếc tàu, như thể chúng là những hòn đá, vì ngoài chúng ra chúng tôi đã không hề được ăn thịt tươi, mỗi chiếc tàu đã tẩm muối và gia vị năm sáu thùng đầy loài chim này. Một đoàn thám hiểm Anh đã đặt chân lên đảo vài năm sau đó thấy đảo “đầy kín những đám chim lớn”. Họ đã lôi “một đám chim lớn” này lên tàu và tuyên bố rằng kết quả thật mỹ mãn - “thịt rất ngon và bổ dưỡng”. Tài liệu năm 1622 của một thuyền trưởng tên là Richard Whitbourne đã mô tả chim ăng-ca lớn đang được lôi lên tàu “một lúc hàng trăm con như thể Chúa trời https://thuviensach.vn đã biến sự ngây thơ của loài vật tội nghiệp này thành một công cụ đáng ngưỡng mộ để nuôi sống con người”. Trong vài thập niên tiếp theo, chim ăng-ca lớn còn có những tác dụng khác ngoài việc “nuôi sống” (Như một người chép biên niên sử đã nhận xét, “chim ăng-ca lớn của đảo Funk bị khai thác theo mọi cách mà tài khéo léo của con người có thể nghĩ ra”). Chim ăng-ca được dùng làm mồi câu cá, là nguồn lông để nhồi nệm, và nhiên liệu. Những tường rào bằng đá được dựng lên ở đảo Funk - vết tích của chúng ngày nay vẫn còn thấy - và những con chim bị lùa cả đàn vào những chiếc chuồng nhốt đó tới khi có người đủ thời gian tới làm thịt chúng. Hoặc không, theo một thủy thủ người Anh tên Aaron Thomas, người đã tới Newfoundland trên chiếc HMS Boston: Nếu bạn tới đây để lấy lông của chúng, bạn không phải bận lòng giết chúng, mà cứ vồ lấy một con và nhổ những chiếc lông tốt nhất. Sau đó bạn để con chim cánh cụt tội nghiệp lênh đênh trên biển, với phần da để lộ và đám lông đã bị nhổ mất, và nó sẽ chết dần chết mòn. Trên đảo Funk không có cây, nên không có gì làm chất đốt. Điều này dẫn tới một cách làm khác được Thomas ghi lại. Bạn lấy một cái ấm rồi bỏ một hoặc hai con chim cánh cụt vào đó, bạn đốt lửa phía dưới, và ngọn lửa này do chính những con chim cánh cụt bất hạnh đốt nên. Cơ thể chúng ngập mỡ không lâu sau đó sẽ làm ngọn lửa bùng lên. Ước tính khi những người châu Âu lần đầu tới đảo Funk, họ đã tìm thấy hàng trăm nghìn đôi chim ăng-ca lớn đang chăm sóc cho hàng trăm nghìn quả trứng (Có lẽ chim ăng-ca lớn chỉ đẻ một trứng mỗi năm; trứng dài khoảng năm inch và có chấm lốm đốm như tranh của Jackson Pollock [*], https://thuviensach.vn trứng có màu nâu và đen). Chắc chắn nơi chúng sinh nở trên hòn đảo này đã rất lớn mới có thể tồn tại được như thế trong hơn hai thế kỷ cướp phá. Tuy nhiên, tới cuối thế kỷ 17, số lượng chim đã giảm mạnh. Ngành buôn bán lông chim hời tới mức có những nhóm người dành cả mùa hè ở Funk, lột da và nhổ lông. Vào năm 1785, George Cartwright, một nhà buôn và nhà thám hiểm người Anh, đã nhận xét về những nhóm này: “Sự hủy hoại mà họ gây ra thật không thể tin nổi.” Nếu không ai buộc họ ngừng lại, ông tiên đoán, loài ăng-ca lớn sẽ sớm “giảm xuống gần như không còn con nào”. Chim ăng-ca lớn trong tranh của Audubon Liệu các nhóm này thực tế có giết chết con chim ăng-ca lớn cuối cùng trên hòn đảo hay cuộc tàn sát của họ đơn giản đã khiến số lượng cá thể giảm xuống mức chúng trở nên dễ tổn thương với các lực lượng khác hay không là điều không rõ (Sự suy giảm mật độ của một loài có thể làm giảm khả năng sinh tồn của các cá thể còn lại, một hiện tượng được gọi là hiệu ứng Allee). Dù thế nào, năm thường được xác định là tận thế của loài ăng-ca lớn ở Bắc Mỹ là năm 1800. Khoảng ba mươi năm sau đó, khi đang viết cuốn The Birds of America (tạm dịch: Những loài chim ở Mỹ), John James Audubon đã tới Newfoundland tìm kiếm chim ăng-ca lớn để vẽ chúng ngoài đời thực. Ông không tìm thấy con nào, và để minh họa, ông phải thực hiện với con chim nhồi bông ở Iceland đã được một tay thương lái ở London mua https://thuviensach.vn lại. Trong mô tả của ông về loài ăng-ca lớn, Audubon đã viết rằng loài chim này “hiếm thấy và chỉ tình cờ bắt gặp trên các bờ bãi của Newfoundland” và nó “được cho là sinh nở trên một phiến đá ở hòn đào này”, một sự mâu thuẫn đáng tò mò bởi không loài chim sinh nở nào lại có thể nói là “tình cờ”. *** Một khi những con chim trên đảo Funk đã được ướp muối, nhổ lông và chiên ngập trong quên lãng, chỉ còn lại một quần thể đáng kể chim ăng-ca lớn trên thế giới, trên một hòn đảo tên gọi Geirfuglasker, hay đảo ngầm chim ăng-ca lớn, nằm cách bán đảo Reykjanes của Iceland khoảng 30 dặm về phía tây nam. Thật là nhiều đen đủi cho loài ăng-ca, một vụ phun trào núi lửa đã hủy diệt Geirfuglasker vào năm 1830. Điều này khiến những con chim chỉ còn lại một nơi trú ẩn, một vạt đảo tên là Eldey. Đến lúc này, loài ăng-ca lớn đối mặt với một mối đe dọa mới: chính sự hiếm hoi của chúng. Da và trứng của chúng bị giới quý tộc săn đuổi miệt mài, giống như Bá tước Raben, họ muốn lấp đầy bộ sưu tập của mình. Chính là để phục vụ cho những kẻ hăng hái đó mà cặp chim ăng-ca cuối cùng được biết đến bị sát hại ở Eldey vào năm 1844. Trước khi lên đường tới Iceland, tôi đã quyết định rằng tôi phải thấy nơi trú ngụ cuối cùng của chim ăng-ca. Eldey chỉ cách bán đảo Reykjanes khoảng mười dặm, bán đảo này nằm ngay phía nam Reykjavik. Nhưng việc đi ra đảo hóa ra khó thu xếp hơn nhiều so với tôi tưởng tượng. Những ai tôi đã liên hệ ở Iceland đều nói với tôi rằng chưa ai từng tới đó. Rốt cuộc, một người bạn của tôi ở Iceland liên lạc với cha anh ấy, vốn là một bộ trưởng ở Reykjavik, người đã liên lạc với một người bạn của ông đang điều hành một trung tâm tự nhiên ở một thị trấn nhỏ trên bán đảo mang tên Sandgerði. Người đứng đầu trung tâm tự nhiên này, Reynir Sveinsson, sau đó tìm được một người đánh cá, Halldór Ármannsson, người này nói sẵn sàng đưa tôi đi, nhưng chỉ nếu thời tiết đẹp; nếu trời mưa hay gió, hành trình sẽ quá nguy hiểm và say sóng kinh khủng, và ông ấy không muốn mạo hiểm. Thật may mắn, thời tiết vào ngày chúng tôi đã định thật tuyệt vời. Tôi gặp Sveinsson ở trung tâm tự nhiên, lúc đó đang tổ chức một triển lãm về nhà https://thuviensach.vn thám hiểm người Pháp, Jean-Baptiste Charcot, đã thiệt mạng khi chiếc tàu của ông, được đặt cho cái tên không may Pourquoi-Pas [*], bị đắm ngoài khơi Sandgerði vào năm 1936. Chúng tôi đi về phía bến cảng và thấy Ármannsson đang chất một cái hòm lên con tàu mang tên Stella của ông. Ông giải thích rằng bên trong hòm là một chiếc bè cứu hộ nữa. “Quy định mà,” ông nhún vai. Ármannsson cũng mang theo bạn đánh cá của ông và một thùng lạnh đầy soda và bánh quy. Ông có vẻ hứng thú với một chuyến đi không liên quan đến cá tuyết. Chúng tôi nổ máy ra khỏi cảng và tiến thẳng về phương nam, vòng quanh bán đảo Reykjanes. Trời quang đủ để chúng tôi có thể thấy đỉnh núi Snæfellsjökull phủ tuyết, cách đó hơn 60 dặm (Với những người nói tiếng Anh, Snæfellsjökull có lẽ nổi tiếng nhất vì là địa điểm mà nhân vật trong tác phẩm Hành trình vào tâm Trái đất của Jules Verne đã tìm ra đường hầm xuyên qua địa cầu). Vẫn chưa thấy được Eldey, vốn thấp hơn nhiều so với Snæfellsjökull. Sveinsson giải thích rằng cái tên Eldey có nghĩa là “đảo lửa”. Ông nói rằng dù ông đã sống cả đời ở vùng này, ông chưa bao giờ ra đảo đó. Ông mang theo một cái máy ảnh xinh xinh và chụp ảnh liên tục. Vào lúc Sveinsson bấm máy tanh tách, tôi nói chuyện với Ármannsson bên trong cabin nhỏ xíu của chiếc Stella. Tôi thấy thật tò mò vì ông có cặp mắt với hai màu khác hẳn nhau, một mắt màu xanh da trời và mắt kia màu nâu lục nhạt. Ông nói với tôi rằng thường thì ông đi câu cá tuyết bằng một cuộn lưới dài sáu dặm và kéo theo mười hai nghìn lưỡi câu. Việc đặt mồi vào lưỡi câu là của cha ông, và mất đến gần hai ngày. Một mẻ lưới ngon lành có thể nặng tới hơn bảy tấn. Thường thì Ármannsson ngủ luôn trên chiếc Stella, được trang bị lò vi sóng và hai giường ngủ nhỏ. Sau một lúc, Eldey hiện ra phía chân trời. Hòn đảo nhìn như một bệ đỡ cho một cây cột khổng lồ, hay giống một giá đỡ kếch xù đang đợi một bức tượng còn hoành tráng hơn nữa. Khi chúng tôi tới gần khoảng một dặm, tôi có thể nhìn thấy đỉnh hòn đảo, mà từ xa có vẻ bằng phẳng, thật ra nghiêng một góc khoảng mười độ. Chúng tôi tới gần ở phần đảo ngắn hơn, nên chúng tôi có thể nhìn qua cả bề mặt đảo. Nó có màu trắng và có vẻ gợn https://thuviensach.vn sóng. Khi chúng tôi tới gần hơn, tôi nhận ra rằng những gợn sóng là lũ chim, chúng nhiều tới mức có vẻ phủ kín cả hòn đảo, và khi chúng tôi tới gần hơn nữa, tôi có thể thấy đó là những con ó biển - những sinh vật tao nhã với cái cổ dài, đầu màu kem và mỏ thon nhọn. Sveinsson giải thích rằng Eldey là nơi trú ngụ của quần thể ó biển lớn nhất thế giới - khoảng ba mươi nghìn cặp. Ông chỉ vào cấu trúc như kim tự tháp trên đỉnh hòn đảo. Đó là phần bệ cho một webcam của cơ quan môi trường Iceland. Nó được chờ đợi sẽ truyền trực tiếp về loài ó biển cho những người canh gác loài chim này, nhưng đã không vận hành như kế hoạch. “Những con chim không thích chiếc máy quay”, Sveinsson nói. “Nên chúng bay lên cao và bậy lên trên đó.” Phân của ba mươi nghìn cặp ó biển đã khiến hòn đảo nhìn như phủ kín bởi vanilla. Bởi những con ó biển, và có lẽ cũng bởi lịch sử của hòn đảo, du khách không được phép đặt chân lên Eldey trừ phi có giấy phép đặc biệt (và rất khó kiếm). Khi lần đầu biết điều này, tôi đã thất vọng, nhưng khi chúng tôi tới chỗ hòn đảo và tôi thấy nơi sóng biển ăn vào vách đá, tôi cảm thấy nhẹ lòng. *** Những người cuối cùng nhìn thấy chim ăng-ca lớn còn sống là khoảng hơn một chục người Iceland đã có chuyến đi ra Eldey bằng thuyền mái chèo. https://thuviensach.vn Họ khởi hành vào một tối tháng 6 năm 1844, chèo thuyền xuyên đêm, và tới hòn đảo vào sáng hôm sau. Với chút khó khăn, ba người đàn ông đã xoay xở trèo được lên bờ ở điểm cập được thuyền duy nhất: một bờ đá cạn mở ra từ hòn đảo ở hướng đông bắc (Một người đàn ông thứ tư lẽ ra đi cùng họ đã từ chối lên bờ vì quá nguy hiểm). Tới thời điểm đó, toàn bộ số lượng chim ăng ca của đảo, có lẽ chưa bao giờ quá đông, xem ra chỉ còn lại duy nhất một cặp và một quả trứng. Khi nhìn thấy bóng người, những con chim cố chạy, nhưng chúng quá chậm chạp. Trong vài phút, những người Iceland đã bắt được mấy con chim ăng-ca và siết cổ chúng đến chết. Trứng của chúng bị nứt, có thể trong khi rượt đuổi, nên họ bỏ lại phía sau. Hai người đàn ông có thể nhảy trở lại thuyền; người thứ ba được kéo lên khỏi làn nước bằng một sợi thừng. Những chi tiết về thời khắc cuối cùng của chim ăng-ca lớn, bao gồm tên những người đã giết các con chim - Sigurður Iselfsson, Ketil Ketilsson và Jón Brandsson - được ghi lại vì 14 năm sau đó, vào mùa hè năm 1858, hai nhà tự nhiên học người Anh đã tới Iceland để tìm chim ăng-ca. Người lớn tuổi hơn, John Wolley, là một bác sĩ và một nhà sưu tập trứng tham lam; người trẻ hơn, Alfred Newton, là nhà nghiên cứu ở Đại học Cambridge và sẽ sớm trở thành giáo sư động vật học đầu tiên của trường. Họ trải qua vài tuần trên bán đảo Reykjanes, cách không xa khu vực nay là sân bay quốc tế của Iceland, và trong khoảng thời gian đó, có vẻ như họ đã trao đổi với bất cứ ai từng nhìn thấy một con chim ăng-ca, hay thậm chí là chỉ nghe nói tới loài chim này, bao gồm một số người đàn ông đã thực hiện chuyến thám hiểm năm 1844. Cặp chim đã bị giết trong lần đó, họ phát hiện ra, đã được bán cho một nhà buôn với giá tương đương khoảng chín bảng Anh. Bộ lòng chim được gửi tới Bảo tàng Hoàng gia ở Copenhagen; không ai biết chuyện gì xảy ra với những bộ da (Các tìm hiểu sau đó đã lần ra dấu vết bộ da của con cái giờ là một con chim ăng-ca trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Los Angeles). Wolley và Newton hy vọng tự họ sẽ ra được Eldey. Thời tiết xấu ngăn cản họ. “Tàu thuyền và người đã được gọi tới, mọi hành trang đã sẵn sàng, https://thuviensach.vn nhưng không có một cơ hội nào để việc cập đảo là khả thi,” Newton sau này viết. “Với những trái tim nặng trĩu, chúng tôi chứng kiến mùa ra khơi cứ trôi đi.” Wolley qua đời không lâu sau khi họ trở lại Anh. Với Newton, trải nghiệm về chuyến đi tỏ ra có ý nghĩa thay đổi cuộc đời. Ông kết luận rằng những con chim ăng-ca đã biến mất - “vì tất cả những lý do thực tế, chúng ta có thể nói đến chim ăng-ca như nói về một điều thuộc về quá khứ” - và ông đã phát triển thứ mà sau này một người viết tiểu sử của ông nhắc đến như một “sức hút kỳ lạ” với “các hệ động vật tuyệt chủng và đang biến mất”. Newton nhận ra rằng những con chim làm tổ dọc theo bờ biển dài của nước Anh cũng đang bị đe dọa; ông thấy rằng chúng đang bị bắn chết với số lượng lớn vì mục đích thể thao. Chim ăng-ca lớn chỉ đẻ một trứng mỗi năm “Con chim bị bắn là một con chim bố mẹ,” ông nhận xét trong một bài phát biểu tại Hiệp hội Tiến bộ Khoa học Anh quốc. “Chúng ta lợi dụng bản năng thiêng liêng nhất của nó để mai phục nó, và khi cướp đi sinh mạng của con bố mẹ, chúng ta đã giáng lên đầu những con con vô vọng cái chết khủng khiếp nhất, chết vì đói. Nếu điều này không phải là sự tàn ác, thì còn là cái gì nữa?” Newton kêu gọi lệnh cấm săn trong mùa chim sinh sản, và sự vận https://thuviensach.vn động của ông dẫn tới một trong những đạo luật đầu tiên về điều mà ngày nay gọi là bảo vệ thiên nhiên hoang dã: Luật bảo tồn các loài chim biển. *** Hóa ra, nghiên cứu đầu tiên của Darwin về chọn lọc tự nhiên được in đúng lúc Newton trở về từ Iceland. Nghiên cứu này, đăng trên Journal of the Proceedings of the Linnean Society (tạm dịch: Tạp chí Kỷ yếu Hội Linnean) - với sự giúp đỡ của Lyell - đã được đăng vội vã không lâu sau khi Darwin biết rằng một nhà tự nhiên học trẻ tên là Alfred Russel Wallace cũng đang có ý tưởng tương tự (Một nghiên cứu của Wallace xuất hiện trên cùng số tạp chí đó). Newton đã đọc tiểu luận của Darwin rất sớm sau khi nó được in, thức tới khuya để đọc cho xong, và ông nhanh chóng trở thành một kẻ thành tín của nghiên cứu này. “Với tôi nó như sự mặc khải từ một quyền năng cao hơn,” sau này ông nhớ lại, “và tôi thức tới sáng hôm sau với ý thức rằng mọi điều bí ẩn đã kết thúc bằng một cụm từ đơn giản, 'Chọn lọc Tự nhiên'.” Ông viết cho một người bạn, kể rằng ông đã trở thành “một người theo chủ nghĩa Darwin thuần khiết và tuyệt đối”. Vài năm sau, Newton và Darwin trở thành bạn viết thư của nhau, có lần Newton đã gửi cho Darwin chân của một con gà gô bị bệnh mà ông nghĩ Darwin có thể thấy hứng thú, và cuối cùng hai người có những cuộc gặp xã giao. Không rõ đề tài chim ăng-ca lớn có xuất hiện trong những cuộc đối thoại của họ không. Nó không được đề cập trong thư tín còn lại của Newton và Darwin, và Darwin cũng không nhắc gì tới loài chim này hay sự diệt chủng mới xảy ra của nó trong bất cứ tài liệu nào khác của ông. Nhưng Darwin hẳn phải biết về sự tuyệt chủng do con người gây ra. Ở Galápagos, ông đã đích thân chứng kiến, nếu không phải chính xác là một trường hợp tuyệt chủng diễn ra trước mắt, thì cũng là điều gì đó rất gần. Chuyến thăm của Darwin tới quần đảo này diễn ra vào mùa thu năm 1835, gần bốn năm sau khi bắt đầu hành trình của chiếc Beagle. Ở đảo Charles - giờ tên là Floreana - ông đã gặp một người Anh tên là Nicholas Lawson, vốn giữ quyền thống đốc Galápagos đồng thời là người bảo hộ của một thuộc địa khổ sai nhỏ xíu, có phần thảm hại. Lawson đầy những thông https://thuviensach.vn tin hữu ích. Trong những dữ kiện mà ông cung cấp cho Darwin có thông tin rằng ở mỗi đảo của Galápagos, những con rùa có hình dáng mai khác nhau. Trên cơ sở này, Lawson tuyên bố ông có thể “khẳng định bất cứ con rùa nào có xuất xứ ở đảo nào”. Lawson cũng nói với Darwin rằng ngày tàn của những con rùa đang đến gần. Các đảo thường xuyên đón tàu săn cá voi ghé thăm, và các tàu này thường mang đi những con rùa khổng lồ như một chiến lợi phẩm phụ. Chỉ vài năm trước, một tàu chiến ghé thăm đảo Charles đã rời đi với hai trăm con rùa trong khoang. Kết quả là, Darwin ghi chú trong nhật ký của ông, “số lượng đã giảm mạnh”. Vào lúc tàu Beagle ghé thăm, loài rùa đã trở nên hiếm hoi trên đảo Charles tới mức dường như Darwin không còn thấy một con nào nữa. Lawson tiên đoán rằng rùa của đảo Charles, ngày nay được đặt cho cái tên khoa học Chelonoidis elephantopus, sẽ biến mất hoàn toàn trong 20 năm. Thực tế, có lẽ nó đã biến mất trong không tới 10 năm (Liệu loài Chelonoidis elephantopus có phải là một loài riêng rẽ không hay là một phân loài vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi). Việc quen thuộc của Darwin với sự tuyệt chủng do con người gây ra cũng rõ ràng trong cuốn On the Origin of Species. Ở một trong nhiều đoạn mà ông bài bác những người theo thuyết thảm họa, ông nhận xét rằng các loài vật không thể tránh khỏi việc trở nên hiếm hoi trước khi chúng tuyệt chủng: “chúng ta biết rằng đây là quá trình các sự kiện mà những loài vật đó đã bị tiêu diệt, cả ở mức độ cục bộ lẫn toàn diện, qua tác động của con người”. Đó là một lời ám chỉ ngắn gọn, và trong sự khúc chiết của nó, đầy tính gợi mở. Darwin cho rằng độc giả của ông đã biết rõ và quen thuộc với những “biến cố” như thế. Bản thân ông có vẻ thấy không có gì đáng nói hay bận tâm về chuyện đó. Nhưng sự tuyệt chủng do con người gây ra tất nhiên là rắc rối vì nhiều lý do, một trong số đó liên quan tới chính thuyết của Darwin, và thật khó hiểu khi một tác giả thông thái và tự phê bình mạnh mẽ như Darwin lại không lưu ý chuyện này. Trong cuốn Origin, Darwin không phân biệt giữa người với các tổ chức hữu cơ khác. Như ông và nhiều người cùng thời đã nhận ra, sự tương đồng này là khía cạnh cấp tiến nhất trong tác phẩm của ông. Con người, giống https://thuviensach.vn như bất cứ loài nào, bắt nguồn với những điều chỉnh từ các tổ tiên lâu đời hơn. Ngay cả những phẩm chất có vẻ khiến con người khác biệt - ngôn ngữ, trí khôn, cảm nhận đúng sai - đã tiến hóa theo cùng một cách giống với những đặc điểm thích nghi khác, như mỏ dài hơn và răng cửa sắc hơn. Trọng tâm của thuyết Darwin, như một trong những người viết tiểu sử của ông đã đưa ra, là “sự chối bỏ địa vị đặc biệt của loài người”. Và điều gì đúng với sự tiến hóa cũng phải đúng với sự tuyệt chủng, vì theo Darwin, sự tuyệt chủng đơn giản là một tác dụng phụ của sự tiến hóa. Những loài bị diệt vong, như khi chúng được sinh ra, bởi “những nguyên nhân chậm chạp và vẫn đang tồn tại”, tức là thông qua cạnh tranh và chọn lọc tự nhiên; việc viện dẫn bất cứ cơ chế nào khác chỉ là sự huyền thoại hóa. Nhưng vậy thì làm sao giải thích những trường hợp như chim ăng-ca lớn và rùa đảo Charles, và để nối dài thêm danh sách, loài chim dodo hay bò biển của Steller? Những con vật này rõ ràng không bị tuyệt diệt vì một loài cạnh tranh tiến hóa dần dần một vài lợi thế cạnh tranh. Chúng đều bị giết chết bởi cùng một loài, và tất cả đều diễn ra khá đột ngột, trong trường hợp của chim ăng-ca lớn và rùa đảo Charles, diễn tiến ngay trong thời Darwin đang sống. Hoặc phải có một hạng mục riêng biệt cho sự tuyệt chủng do con người gây ra, trong trường hợp đó con người thực sự xứng đáng với “địa vị đặc biệt” trong vai trò một sinh vật bên ngoài thế giới tự nhiên, hoặc nếu được đặt trong một trật tự tự nhiên thì phải xếp hạng cùng với một trận đại hồng thủy, tức là Cuvier, thật đáng buồn đã đúng trong trường hợp này. https://thuviensach.vn