🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Định Tường - Xưa Và Nay Ebooks Nhóm Zalo https://thuviensach.vn Tên sách : ĐỊNH-TƯỜNG XƯA VÀ NAY Tác giả : HUỲNH-MINH Nhà xuất-bản : CÁNH BẰNG – SAIGON Năm xuất bản : 1969 ------------------------ Nguồn sách : tusachtiengviet.com Đánh máy : thuannguyen1088, pucapink, haracubicu, blacktulip161, lovelysnake289, satsukiphan, Nhan Le, vqsvietnam Kiểm tra chính tả : TrầnThị Thanh Nga, Ngô Kiều Trang, Phùng Văn Sơn, Hoàng Thị Xoan, Mihar Thảo, Nguyễn Thị Nhi, Trần Lê Hương, Nguyễn Thu Hiền, Thư Võ Biên tập ebook : Thư Võ Ngày hoàn thành : 8/12/2017 https://thuviensach.vn Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE 4U.ORG Cảm ơn tác giả HUỲNH-MINH và nhà xuất bản CÁNH BẰNG đã chia sẻ với độc giả những kiến thức quý báu. https://thuviensach.vn MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU TÀI LIỆU THAM KHẢO BẢN ĐỒ TỈNH ĐỊNH-TƯỜNG PHẦN THỨ NHỨT : SỬ-LƯỢC TRẢI QUA CÁC THỜI ĐẠI – ĐỊA LÝ TỔNG QUÁT SỬ-LƯỢC ĐỊNH-TƯỜNG HÀNH CHÁNH DƯỚI CHẾ ĐỘ TÂN TRÀO ĐỊA LÝ PHẦN THỨ NHÌ : DANH NHÂN – ANH HÙNG NHO SĨ KHÁNG PHÁP ĐỖ-THANH-NHÂN TẢ QUÂN LÊ-VĂN-DUYỆT HỒ-VĂN-LÂN LƯƠNG NĂNG BÁ NGUYỄN VĂN HIẾU CHƯỞNG CƠ ĐẶNG VĂN LƯỢNG ANH HÙNG TRƯƠNG VĂN HOẢNG CHƯỞNG CƠ LÊ-VĂN-THỤY LÊ-VĂN-QUÂN LÃNH-BINH NGUYỄN-VĂN-CẨN ÂU-DƯƠNG-LÂN PHAN HIỂN ĐẠO NGUYỄN VĂN LẠC (Học Lạc) CỬ NHÂN NGUYỄN-VĂN-THẠNH MAI-VĂN-NGỌC https://thuviensach.vn TẠM KẾT-THÚC PHẦN THỨ BA : DI-TÍCH LỊCH-SỬ – ĐỀN THỜ – LĂNG MỘ DANH-NHÂN DI-TÍCH LỊCH-SỬ ĐỀN THỜ CÁC NGÔI CỔ MỘ DANH-LAM CỔ SOÁI PHẦN THỨ TƯ : SỰ TÍCH – LỊCH SỬ – HUYỀN SỬ –GIAI THOẠI SỰ TÍCH LỊCH-SỬ HUYỀN-THOẠI GIAI THOẠI PHẦN THỨ NĂM : VĂN HÓA NGHỆ-THUẬT – THI THƠ TÂN CỰU THỔ-NGHI SẢN-VẬT ĐỊNH-TƯỜNG VÀ CÁC BỘ MÔN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VỀ BỘ MÔN SÂN KHẤU KỊCH NGHỆ THƠ TÂN CỰU ĐỊNH-TƯỜNG NHÂN-TÀI XỨ MỸ LỜI NHÀ BIÊN-KHẢO PHẦN THỨ SÁU : ĐỊNH-TƯỜNG NGÀY NAY ĐƯỜNG VÀO XỨ MỸ VĂN-HÓA GIÁO-DỤC KINH-TẾ Y-TẾ https://thuviensach.vn XÃ-HỘI TÍN-NGƯỠNG – ĐẠO-GIÁO ĐỊNH-TƯỜNG QUA VÀI THỔ-SẢN ĐẶC BIỆT NÔNG-SẢN LÀ MỘT NGUỒN LỢI DỒI DÀO CỦA NGƯỜI DÂN QUÊ BẢNG LIỆT KÊ DANH-SÁCH CÁC QUÍ VỊ TỈNH-TRƯỞNG ĐỊNH-TƯỜNG ĐỊNH TƯỜNG VỚI HUÊ VIÊN LẠC HỒNG PHẦN PHỤ LỤC : DANH-NHÂN LÃNH-BINH HUỲNH-KHẮC HƠN TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ LÃNH BINH HUỲNH-KHẮC-HƠN KẾT-LUẬN CẢM-TẠ ĐÔI LỜI TÂM HUYẾT ĐÔI LỜI TÂM-SỰ TIẾNG LÒNG https://thuviensach.vn HUỲNH-MINH Sưu-tầm – Khảo-cứu các tỉnh miền Nam nước Việt Bảo tồn di tích lịch sử nước nhà ĐỊNH-TƯỜNG Xưa và Nay Tác-giả xuất-bản https://thuviensach.vn Non nước Định-Tường Mỹ Tho cảnh vật nên thơ Dệt tình luyến ai bên bờ Long Giang. Khoa Huân tô đậm son vàng Trong Nam Quốc sử rỡ ràng Rồng Tiên Danh còn vang dội sơn xuyên Ngũ Linh Thiên Hộ oai rền muôn thu Cồn Phụng rạng tiếng nhà tu Nghìn phương mây gió phiêu du đồng về Gió chiều thổi nhẹ lê thê Ai người trĩu nặng tình quê Định-Tường Mau về giải kiếp song phương https://thuviensach.vn LỜI NÓI ĐẦU Trên đường sưu tầm xuyên qua các tỉnh miền Nam tiền giang và hậu giang đã xuất bản như Kiến-Hòa xưa và nay, Bạc-Liêu, Cần-Thơ, Vĩnh Long, Gò-Công nay trở lại tìm hiểu đất đai và nhân vật tỉnh Định-Tường qua nhiều khía cạnh, lịch sử, địa lý, danh nhân, di tích, huyền-thoại, sinh hoạt v.v... Định-Tường từ xa xưa vẫn là một tỉnh lớn trong sáu tỉnh của miền Nam. Tuy có kém quan trọng về mặt hành chánh, vì rất nhiều cơ-quan đầu não thiết lập tại Vĩnh-Long, nhưng Định-Tường lại rất trọng yếu về mặt quân sự. Những địa danh vang lừng về quân sự như Rạch Gầm, Nguyễn Huệ đại phá quân Xiêm, Đồng tháp Mười gắn liền với những tên tuổi lớn Thủ Khoa Huân, Thiên hộ Dương, Lãnh binh Cẩn, có những trang sử oai hùng làm tăng phần quan trọng của Định-Tường chẳng nhỏ. Lại nữa, bao nhiêu nhân-vật ưu-tú của miền Nam, sau khi sáu tỉnh Nam-Kỳ thuộc Pháp, lui về sống đời ẩn dật để bảo tồn tiết tháo của bậc sĩ phu, rải-rác ở các nơi Thuộc-nhiêu, Vĩnh-Kim, Cai-lậy, càng làm đẹp cho phong-khí Định-Tường. Đến ngày nay, nhắc lại những Phan-Hiển-Đạo, Phạm-Viết-Chánh, Học Lạc, Cử-Đa, Mai-văn-Ngọc, yêu mến các sĩ phu ấy bao nhiêu, ắt lòng càng trìu mến quê hương xứ Mỹ bấy nhiêu. Nhân tài Định-Tường về sau và gần đây cũng đều lỗi lạc. Về mọi ngành, đều có người xứng đáng làm tiêu biểu. Như cổ nhạc có nhạc sĩ Trần văn Triều tức bảy Triều xuất sắc, văn học thì có Nguyễn-văn-Bá, Cao-hải Để, Lương-khắc-Ninh v.v... Riêng về giới phụ nữ, thuở trước có Sương Nguyệt-Ánh, về sau có Trần-ngọc-Diện đều là những người có tài uy-tín đạo đức cao, đóng góp tâm huyết để điểm tô trang sử Định-Tường đậm nét huy-hoàng. https://thuviensach.vn Nhìn quá trình lịch sử của tỉnh Định-Tường, lắm điều vẻ vang khiến được các thế-hệ sau tin tưởng ở khí thiêng non nước đã chung đúc vào mảnh đất « địa linh nhơn kiệt » ấy. Dù không nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng những vườn dừa tươi tốt, vườn cây trái xum-xuê, nước sông Cửu-Long êm-đềm, tất cả giúp Định Tường có bộ mặt khả ái nên thơ và quyến rủ du khách. Rồi đây với những chương-trình kiến thiết quy mô, trong tương lai tỉnh Định-Tường càng nhiều hứa hẹn. Chúng tôi không dám tự phụ sưu tầm đầy đủ, không bỏ sót một khía cạnh nào. Nhưng với tất cả cố gắng của chúng tôi, cuốn sách này ít nữa cũng giúp cho quý vị có một quan niệm tổng quát về tỉnh Định-Tường trong dĩ vãng và hiện tại. HUỲNH-MINH https://thuviensach.vn TÀI LIỆU THAM KHẢO Gồm các sách báo Pháp, Việt SÁCH PHÁP : – Monographie de la province Định-Tường – Paulin Vial, Les premières années de la Cochinchine (Tomes I-II) – P-Cultru, Histoire de la Cochinchine Française des Origines à 1883 – Bulletin administratif de la Cochinchine SÁCH BÁO VIỆT : – Lục-tỉnh Nam Việt – Địa-phương chí Định-Tường – Gia-Định Thống-Chí (Trịnh-Hoài-Đức) – Đại-Nam nhứt-thống chí (Tu-trai Nguyễn-Tạo) – Đại-Nam thực lục chánh biên – Liệt truyện – Tạp-chí Tri-Tân – Việt-Nam văn-học sử (Dương-Quảng Hàm) – Nam-kỳ phong-tục diễn-ca (Nguyễn-Liên-Phong) – Lịch-trình hành-chánh Nam-phần (Đào-văn-Hội) – Anh-hùng kháng Pháp miền Nam (Đào-văn-Hội) Và xuyên qua những truyền thuyết của các bô-lão, thân-hào nhân-sĩ địa phương kể lại. https://thuviensach.vn BẢN ĐỒ TỈNH ĐỊNH-TƯỜNG https://thuviensach.vn https://thuviensach.vn PHẦN THỨ NHỨT : SỬ-LƯỢC TRẢI QUA CÁC THỜI ĐẠI – ĐỊA LÝ TỔNG QUÁT https://thuviensach.vn SỬ-LƯỢC Lịch-sử tỉnh Định-Tường dĩ nhiên khởi thủy đồng thời với Nam-phần Việt-Nam, lúc trước có tên là Nam-Kỳ Lục-tỉnh. Do công trình khảo cứu của nhiều học giả thì từ thế kỷ thứ nhứt đến thế kỷ thứ sáu Cơ Đốc kỷ nguyên, miền Nam Việt-Nam và Cao-Miên ngày nay do dân-tộc Phù-Nam chiếm trị. Sau đó nước Phù-Nam sụp đổ, trong một khoảng thời-gian suốt ngàn năm, trên dãy đất hoang vu mà ban sơ người Việt-Nam ta gọi là Thủy Chân-Lạp, người Tàu kêu là Cổ Chiêm Thành, sau này người phương Tây gọi là Basse Cochinchine, rồi Cochinchine, do các nhà hàng hải Bồ-đào Nha thấy miền duyên hải miền Nam nước Việt giống như miền duyên hải xứ Cochin nước Ấn-độ, nên gọi là « Cochin de Chine » tức Cochin gần nước Tàu (Chine) để cho khỏi lầm với Cochin bên Ấn-độ trên dãy đất rộng mênh mông nầy, sống rải rác nhiều dân-tộc, người Miên, Chàm, Mã-Lai, và người Tàu, phần đông chuyên về trồng tỉa hoặc bán buôn mà không có một chánh-quyền cai-trị nào vững chắc. NHÂN DÂN TRUNG PHẦN DI CƯ VÀO NAM Đầu thế kỷ thứ 17, nhân dân miền Nam Trung-phần vùng Quảng-Nam, Qui-Nhơn, Phú-Yên thường hay mất mùa phải đói khổ luôn, vả lại lúc ấy Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh đánh nhau cho nên số đông dân chúng gánh gồng, dìu dắt nhau tản cư, tìm nơi an toàn, phì nhiêu mà sanh sống. Đoàn di dân tiến về phía Nam nước Chiêm-Thành, có lẽ bây giờ là Cù Mi, La-gi, đổ bộ lên đất liền, lập nghiệp sanh cư, nơi đấy thuở ấy gọi là Mô xoài (hay Mô xúy) là vùng đất giữa Biên-Hòa và Phước-Tuy (Bà-Rịa) ngày nay. https://thuviensach.vn Đoàn khác lại theo dòng thủy triều mà tấp vào một nơi khác trên phần đất gò nông có nhiều điểu thú đa số là loài công, do đó truyền miệng nhau gọi là Gò-Công (Khổng-tước-nguyên). Đoàn người trôi dạt khác lại do theo cửa Cần-Giờ ngược dòng Nhà Bè trở lên một đồng bằng, có lẽ nơi đây họ gặp nhiều bầy nai thản nhiên ăn cỏ giữa cảnh thiên nhiên, cho nên đặt tên vùng đất mới là Đồng-Nai (Lộc dã) tức là Biên Hòa ngày nay. Lại có toán di dân tản lạc lên tới bình nguyên Prey-Kor mà khai khẩn ấy là Sài-Côn mà bây giờ là Saigon. BANG GIAO GIỮA VIỆT VÀ MIÊN Như trên chúng tôi đã nói, trên mảnh đất hoang dã mênh-mông có tên Thủy Chân-Lạp, di dân Việt-Nam bắt đầu khai thác, trồng tỉa, nơi đây đã có rải rác người Cao-Miên mà đa số lười biếng bỏ phế những nguồn lợi thiên nhiên. Một lẽ thông thường là người Cao-Miên đa số không chịu nhọc nhằn để sinh sống, tất nhiên tâm lý cướp giựt đã nảy nở trong quần chúng nghèo nàn và biếng nhác. Lúc bấy giờ dân Việt-Nam phải bị nhũng nhiễu và mất mạng rất nhiều, trước những bàn tay của thần dân Miên vương. Lẽ dĩ nhiên Việt quân phải ra tay để bảo vệ tài sản và sanh mạng của những đồng bào tha hương ấy. Sự bang giao chánh thức giữa các chúa Nguyễn với Miên vương khởi đầu vào năm 1623. Nguyễn Sãi vương là quốc trượng của vua Chân-Lạp Préas Chenchetta II lập thuế thương chánh và thương đầu ở xứ Prei Nokor, tức là Saigon. Năm 1658, để binh vực dân Việt-Nam làm ăn ở Thủy Chân-Lạp bị ngược đãi, chúa Hiền vương sai Hổ tướng Doanh Phú Yên là Nguyễn-phúc- https://thuviensach.vn Yến đánh bắt vua Miên là Nặc ông Chân, giam ở Quảng-Bình một độ rồi cho về nước, nhưng phải triều cống và bảo-vệ người Việt-Nam sang làm ăn trong vùng Đồng-Nai. Kế đó, từ năm 1658 đến 1759, ngót trăm năm, bao nhiêu lần trong hoàng tộc Cao-Miên, hoặc giữa anh em, hoặc giữa chú cháu xảy ra những vụ tranh chấp để dành ngôi vua thì họ cầu cứu cùng chúa Nguyễn, và sau khi đặng mãn nguyện rồi họ cắt những vùng đất trên Thủy Chân Lạp mà tạ ơn chúa Nguyễn mà thật sự họ cũng không thiệt thòi gì. Trong phạm vi nhỏ hẹp thiên khảo cứu về địa phương chí tỉnh Định Tường, chúng tôi không thể kể rành mạch từng vị một vua Miên « cầu cứu » cùng chúa Nguyễn và nay cống tỉnh này, mai dâng tỉnh nọ. Chúng tôi chỉ thuật qua cuộc di cư quan trọng của nhân-dân miền Trung tự động vào Nam đầu thế kỷ 17 như trên đã nói, rồi sau đó là cuộc di dân của bọn người Tàu vào Đông Phố và Định-Tường vào năm 1679, sau cùng là cuối thế kỷ 17, Thống soái Nguyễn-hữu-Cảnh chiêu mộ những dân nghèo từ Quảng-Bình vào Nam. CUỘC DI DÂN CỦA NGƯỜI TÀU VÀO NAM Năm Kỷ Mùi 1679, Tổng binh thành Long-Môn (Quảng tây) nhà Minh tên là Dương-ngạn-Địch, Phó tướng là Huỳnh-Tấn và Tổng binh Châu Cao, Châu Lôi và Châu Liêm (Quảng tây) là Trần-thượng-Xuyên, phó tướng là Trần-an-Bình, cử binh phản nhà Thanh để mưu khôi phục cơ nghiệp nhà Minh. Thất bại, hai vị Tổng binh đem tướng sĩ xuống thuyền chạy sang hải phận nước Nam, thần phục chúa Nguyễn Hiền Vương. Chúa Hiền vương có ý nghi lòng thành thật của đoàn người này, bởi vì, trước đây dưới đời Trần, quân nhà Nguyên đã chẳng có lần muốn mượn đường Việt Nam xuống đánh Chiêm-Thành, để gây cuộc can qua với Việt- https://thuviensach.vn Nam nhưng cũng không thể xua đuổi họ được bởi lẽ họ đã cố ý xin thần phục mình. Nhân đó, Hiền-vương nghĩ cách đưa họ vào đất Thủy Chân Lạp một là để dùng họ làm những nhân công khai thác các vùng đất hoang, hai là để tránh xa bọn người chúa không trọn tin. Thế là nhứt cử lưỡng tiện vậy. Rồi ngài liền phong quan chức cho bọn Dương Trần và viết thơ giới thiệu bọn người Trung-Hoa này với Phó vương Nặc ông Non ở Saigon (Prei Kôi) yêu cầu tiếp nạp trọng hậu mấy người ấy. Thế là bọn quân sĩ trung nghĩa của nhà Minh lại phải lên đường. Đến vũng Gành Rái, đoàn người lưu vong chia ra làm hai ngã : – Bọn Trần thương Xuyên vào cửa Cần-Giờ, ngược dòng Đồng-Nai đổ bộ lên đất Ban lây (Biên-Hòa) và Đông-phố (Gia-Định) lập ấp doanh cư ; – Bọn Dương ngạn Địch và Huỳnh-Tấn theo dòng sông Cửu-Long lên cắm trại ở một vùng mà ngày nay gọi là Mỹ-Tho. Bây giờ Ban-lây (Biên-Hòa) là trung tâm điểm của nông-nghiệp và Thương-nghiệp, vì thế có nhiều nhà buôn bán Âu-châu Trung-Hoa, Mã-Lai, Nhựt-Bổn, thường lui tới mua bán, đổi chác hàng vật. Còn vùng đất Mỹ-Tho lại là nơi tiếp nạp những khách hải hồ vô trật tự. Năm 1688, Phó tướng Long môn là Huỳnh-Tấn giết chủ tướng Dương ngạn Địch mà cướp lấy binh quyền, tự xưng là Phấn-Dũng hổ oai đại tướng quân, lập đồn đấp lũy ở phía bắc Mỹ-Tho, cướp bóc khuấy nhiễu cả vùng Tiền-giang và uy hiếp cả Nam-Vinh (Nam-vang – Phom-Penh). Trước tình thế loạn lạc trong đất Chân-Lạp do bọn người Tàu gây ra, cố nhiên vua Chân-Lạp là Nặc-Thu sinh hờn chúa Nguyễn mà bỏ lệ triều cống. Đường khác, Nặc-Thu nhờ viện binh Xiêm tiến đánh phó vương Ông Non (thân Việt) ở Sài Côn, nhưng phải bại binh lui về Long Úc (Oudong). https://thuviensach.vn Chúa Nguyễn Vương Nguyễn-Phúc-Trăn gởi một đạo viện quân đến thanh trừng bọn loạn Tàu và luôn tiện phạt Nặc-Thu. Viên tướng chỉ-huy quân Việt gạt bọn Tàu làm cho họ lầm tưởng Việt quân tiến đánh Nặc-Thu, rồi tương kế tựu kế giết chết Huỳnh-Tấn, tiêu giệt bọn đồng lõa. Tiếp theo, Việt quân gởi thông điệp gọi tướng Trần thượng Xuyên ở Mô Xoài (đem binh đến liên hiệp đánh Nặc-Thu). Khi liên quân Việt-Nam đột nhập Nam-Vinh (Pnom Penh) Nặc Thu không dám cự xin thần phục và chịu dâng lễ triều cống như cũ. CHÚA NGUYỄN ĐẶT NỀN HÀNH CHÁNH TRÊN NAM PHẦN Năm Mậu Dần (1698) chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Chu, nhân năm 1697 đã thâu được cả đất Chiêm-Thành vào bản đồ rồi, bây giờ bèn sai Nguyễn hữu Cảnh làm thống soái đem binh vào kinh lược đất Chân-Lạp. Tổ tiên ta bắt đầu chiếm trị Nam-Kỳ kể từ đấy. Nguyễn hữu Cảnh chia đất Đông phố ra làm dinh làm huyện : – Ở Đồng Nam đặt ra huyện Phước-Long (nay là Biên-Hòa), lập Trấn biên dinh. – Ở Sài-gòn, đặt ra huyện Tân bình (nay là Gia-Định, lập Phiên trấn dinh ; sai quan cai trị, mỗi dinh đặt một quan lưu thú, coi về việc hành chánh, một quan cai bộ (thủ quỹ) để giữ ngân khố và một ký lục (thẩm phán) hay về việc hình án. Người đặt đồn canh giữ, mở mang đất đai ra đến ngàn dặm, được hơn bốn vạn nóc gia, lại chiêu mộ những dân nghèo từ Quảng bình vào, đặt thành xã thôn, khẩn ruộng đất, lập ra sổ dinh điền, lại hợp bao nhiêu người https://thuviensach.vn Tàu ngụ tại Trấn-biên đặt làm một xã Thanh hà, và người Tàu ngụ tại Phiên trấn, đặt làm một xã Minh hương. Người Trung-Hoa ở hai xã này cũng như người Việt được hưởng một chế-độ cai trị như nhau. Năm 1731, người Lào tên Sa Tốt đem binh Chân-Lạp vào cướp phá Gia-Định, chúa Ninh Vương Nguyễn-phúc-Chu tức giận liền chiếm đất Định-Tường và Long-hồ, tức Vĩnh-Long (lập châu Định viễn và Trà Vinh (Vĩnh bình ngày nay). Cũng năm nầy, tỉnh lỵ Định-Tường từ Cái Bè được dời đến chỗ cũ bên kia bờ rạch Bảo định và vẫn chiếm địa điểm trên ấy mãi đến khi người Pháp đến. Năm 1753, chúa Võ Vương lập đạo Trường Đồn gồm đất Mỹ-Tho và Cao lãnh rộng đến biên giới Cao-Miên. Và sau đây là kết quả khai cương thác địa của dân tộc ta trên phần đất Thủy Chân Lạp. NĂM 1698 : Chúa Ninh-vương Nguyễn-phúc-Chu lập : Trấn biên dinh (Biên hòa) và Phiên trấn dinh (Gia-Định). NĂM 1714 : và mấy năm sau, nhận Hà-Tiên trấn do Mạc-Cửu và Mạc Thiên Tích khai thác và qui phụ vào Nam triều : Hà-Tiên (Phú-Quốc), Long-Xuyên (Cà-Mau), Kiên-Giang (Rạch-Giá), Trấn-Giang (Phong-Dinh), Trấn-di (Bạc-Liêu, Bãi-Xàu) NĂM 1732 : Chúa Ninh-Vương Nguyễn Phúc Chu chiếm : Định Tường và Long-hồ (Vĩnh-long) NĂM 1744 : Chúa Võ Vương Nguyễn-phúc-Hượt lập : Trấn biên dinh, Phiên trấn dinh, Long hồ dinh và Hà tiên trấn NĂM 1753 : lập đạo Trường-Đồn, tức là Mỹ-Tho và Cao-Lãnh https://thuviensach.vn NĂM 1755 : nhận Tầm bôn và Lôi-lạp, tức vùng Soi-rạp (Tân-an bây giờ) NĂM 1757 : nhận Trà Vang tức Trà-Vinh (Vĩnh-Bình), Ba Thắc (Bassac, Sóc-trăng), Tầm phong long (vùng phía Bắc Bassac) Sau cùng, năm 1759, chúa Võ Vương lập 5 đạo : Đông khẩu đạo (Sadec), Tân châu đạo (cù lao giêng), Châu đốc đạo, Kiên giang đạo và, Long xuyên đạo (tức An-xuyên ngày nay) ĐỊNH-TƯỜNG ĐẪM MÁU DƯỚI THỜI TÂY-SƠN VÀ NGUYỄN-ÁNH Định-Tường là một tỉnh còn lưu lại nhiều thành tích lịch sử quan-trọng, sau khi được thâu vào bản đồ Việt-Nam. Chính Định-Tường đã nhiều phen chứng kiến những trận oai hùng giữa Chúa Nguyễn Ánh và Nguyễn Tây Sơn. Bị đánh đuổi vào Nam, Nguyễn-Ánh lê gót trên đường tẩu quốc khắp lục tỉnh Nam-kỳ và luôn dùng Định-Tường làm bàn đạp để tấn công Saigon do binh Tây-Sơn chiếm giữ. Lần đầu tiên, tháng 11 năm Bính Thân 1776, Nguyễn Ánh đến Ba Giồng, tức một vùng đất rộng từ Rạch Gầm (Mỹ-tho) tới Giồng Cái én – Tân-an) để chiêu dụ quân Đông sơn mà Đỗ-thành-Nhân là chủ tướng. – Sau khi hai phen chiếm Saigon rồi lại thất thủ, tháng ba năm Nhâm dần (1782) Nguyễn-Ánh chạy xuống Ba-Giồng lần nữa vì thất một trận thủy chiến ở sông Ngã ba , gần cửa Cần-Giờ. Tháng tư, ngài đến giồng Cai Lữ (vùng Rạch Gầm) thâu thập tàn quân độ 300, đánh chém được đô-đốc Tây-Sơn là Nguyễn Học thừa thắng đến Trấn định dinh (Tân-hiệp Mỹ tho). https://thuviensach.vn Vào khoảng tháng 2 năm Quí-Mão (1783) bị Nguyễn-Huệ và Nguyễn Lữ đánh tan chiến thuyền tại sông Saigon, Nguyễn-Ánh chạy xuống Ba Giồng, tùng thần chỉ còn 5, 6 người, binh lính không đầy một trăm. – Bị bại nhiều trận liên tiếp, đến năm Giáp Thìn 1784, Nguyễn Ánh qua Xiêm lần thứ nhứt, viện được hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương dẫn 20.000 quân và 300 chiến thuyền theo giúp. Tháng 11, Nguyễn-Ánh lấy lại được đồn Ba-Rài và Trà-Tân, vùng Cai Lậy (Mỹ-Tho). Nghe Nguyễn Ánh ở Xiêm về, Nguyễn-Huệ từ Qui-Nhơn dẫn quân vào. Hai bên gặp nhau ở Rạch Gầm, Huệ đánh bại binh Xiêm chẳng còn manh giáp, đến đỗi Chiêu-Sương, Chiêu-Tăng phải bỏ cả binh thuyền đạp đường bộ chạy về Vọng Các, còn Nguyễn Ánh chạy qua Cần Thơ, rồi năm 1785 lại sang Xiêm lần thứ hai. ĐỊNH-TƯỜNG DƯỚI THỜI GIA-LONG Năm 1788, sau khi khắc phục thành Gia-Định, chúa Nguyễn Phúc-Ánh sửa sang đất Nam-Kỳ kêu là Gia-Định, chia địa phận làm 4 Dinh : Phiên trấn dinh (Gia-định), Trấn biên dinh (Biên-Hòa), Trấn Vĩnh dinh (Vĩnh Long) và Trấn Định dinh (Định-Tường). Nhờ nhiều tướng tài phò tá và binh Pháp hộ trợ. Nguyễn Ánh đánh bại Tây-Sơn, thống nhứt Nam Trung Bắc và xưng đế hiệu là Gia-Long năm 1802, định đô ở Phú Xuân (Huế) mới có danh hiệu Nam-Bắc. Phàm những tỉnh thuộc về Thừa Thiên thì gọi là Kinh Kỳ. Những tỉnh ở hướng Bắc thì gọi là Bắc Kỳ, còn những tỉnh ở về phía Nam thì gọi là Nam kỳ hay là Gia-Định trấn, thuộc hạt có : 4 trấn, 4 phủ và 15 huyện. Và phụ thêm một trấn Hà-Tiên : 2 Đạo, 2 huyện. https://thuviensach.vn Vĩnh tường trấn (Định-Tường) là 1 trong 5 trấn gồm : 1 phủ Kiến An và 3 huyện : Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa. Gia-Định trấn đặt chức Tổng Trấn và Phó Tổng Trấn để cai trị mọi việc, gồm coi cả 5 trấn. Ở các trấn thì đặt quan lưu trấn hay là quan trấn thủ, quan Cai bạ và quan ký lục để cai trị trong trấn. Trấn lại chia làm phủ, huyện như ta đã thấy trên, đặt dưới quyền Tri phủ và Tri huyện. DƯỚI TRIỀU MINH-MẠNG Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), vua bãi bỏ chức Tổng-Trấn thành Gia Định và đổi trấn làm tỉnh, chia Nam-Kỳ làm sáu tỉnh, cộng 18 phủ, 43 huyện, tức là : Gia-Định (Phan-Yên), Biên-Hòa (Đồng-Nai), Định-Tường (Mỹ-Tho), Vĩnh Long (Long-hồ), An-Giang (Châu-Đốc) và Hà Tiên. Trong mỗi Tỉnh, vua Minh-Mạng đặt những chức Tổng đốc Tuần-phủ, Bổ chánh sứ, Án sát sứ và Lãnh binh để đảm nhiệm việc chánh-trị, hành chánh và quân sự. DƯỚI TRIỀU TỰ-ĐỨC Đến năm 1851, dưới triều Tự-Đức, Nguyễn-Tri-Phương được bổ nhậm làm chánh sứ với chức Kinh lược 6 tỉnh Nam kỳ, Phan-thanh-Giản, làm Phó kinh lược. Cả hai nguyên sinh tại Nam Kỳ, đều tài năng xuất chúng, trổi hơn các kẻ đồng thời Tỉnh Định-Tường, thuở đó đặt dưới quyền cai trị của Tuần phủ Trà đình Túc, trực thuộc Tổng-Đốc ở Vĩnh-Long. Lúc binh đội Pháp vào đánh lấy Sài-gòn (1859) thì xứ Nam kỳ phân ra ba quận, mỗi quận do quan Tổng đốc cai trị. 1. Quận Định biên gồm : tỉnh Gia-Định, tỉnh Biên-Hòa. https://thuviensach.vn 2. Quận Long-Tường : tỉnh Vĩnh-Long, Định-Tường. 3. Quận An hà : tỉnh An-Giang, Hà-Tiên. Riêng tỉnh Định-Tường gồm 2 phủ, 4 huyện : Phủ Kiên An, 2 huyện : Kiến Hưng, Kiến Hòa. Phủ Kiến Tường, 2 huyện : Kiến Phong, Kiến Đăng. QUÂN PHÁP XÂM CHIẾM NAM-KỲ – ĐỊNH-TƯỜNG THẤT-THỦ (ngày 12-4-1861) Năm 1859, vịn vào sự cấm đạo Gia-tô xảy ra từ đời Minh Mạng, ngày càng trở nên khắc nghiệt đi đến chỗ giết giáo sĩ, người Pháp và Y-pha-Nho đem binh thuyền sang đánh nước ta, chiến cuộc giữa Việt-Nam và Pháp bắt đầu từ đó và chấm dứt bằng sự thảm bại của ta đưa đến cuộc thống trị của người Pháp, kéo dài suốt 86 năm trời từ 1859 đến 1945. Sau khi đánh chiếm Đà-nẵng vào tháng 7 năm Mậu Ngọ (1858) quân Pháp dưới quyền chỉ-huy của Rigault de Genouilly đánh lấy thành Gia Định (Saigon) nhằm tháng giêng năm Kỷ-Mùi (18-2-1859). Hai năm sau, từ Saigon, quân Pháp tiến đánh thành Mỹ-Tho (Định Tường) vào cuối tháng hai năm Tân dậu (1861). Trận đánh nầy được xem là một trận chiến quan hệ nhất để mở đường cho quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ sau đó. Thuở ấy, tỉnh Định-Tường do Tuần phủ Nguyễn-đình-Tân cai trị, trực thuộc Tổng-đốc Trương-văn-Uyển ở Vĩnh-Long. Quân Pháp chia làm hai đội tiến binh theo hai ngã : – Một do đường sông, do Trung-tá Hải-quân Bourdais chỉ huy, với lực lượng gồm hai pháo hạm La Mitraille và l’Alarme, 5 tiểu pháo hạm số 18, 20 và 31, 200 thủy-thủ, 20 quân Y-pha Nho và 1 súng tạc đạn. – Một theo đường biển do Phó đô đốc Page chỉ huy, cánh quân này có 3 chiến hạm Fusées, Lily và Sham Rode. https://thuviensach.vn Có hai ngọn rạch nằm theo sông Vũng Gu (Vàm cỏ Tây : Vaico Occidental) thông với sông tiền Giang. 1)– Rạch Arroyo de la Poste người Việt gọi là Bảo định hà sâu, đổ mau, trừ ra chỗ giáp nước. Lúc bấy giờ, rạch này có nhiều khúc hàn bít lại, một con đường lộ bị nhiều ngọn nước nhỏ bứt ngang, chạy dọc theo bên phía Tây rạch ấy và đang khỏi bờ khúc cách xa không đồng, còn các cầu đã bị phá sập hết. 2)– Rạch Arroyo Commercial (Rạch Thương mãi) từ sông Vàm cỏ mà qua Tiền-giang thì mấy khúc của Rạch ấy lại gọi là Rạch Chanh, Kinh Bà bèo, rạch Cua và Rạch Ba Hài. Rạch này bị cỏ cây với bùn sình lấp cạn chỉ có ghe nhỏ đi được mà thôi và chỗ đó đổ ra là phía trên Mỹ-Tho. Đường nước này xem dường như là con rạch Arroyo Chinois nối dài, đi thấu qua trong xứ. Cánh quân của Trung Tá Bourdais phải mất gần một tháng để dò theo ngã sông Vàm cỏ tây (Vaico occidental) tiến tới được vào Bảo-định-hà, nhưng trước khi theo ngã này để tiến đánh Mỹ tho thì quân Pháp đã mất nhiều ngày giờ tiến quân vô hiệu quả bằng ngã Rạch Thương mãi (Arroyo Commercial). – Ngày 1-3-1861, quân Pháp bắt đầu lần theo Bảo-định hà đánh chiếm đồn thứ nhứt của ta. Ngày 2 và 3, quân Pháp phải lo nhổ mấy cây cừ do Việt quân cắm dưới lòng rạch làm chướng ngại vật cản đường tàn quân Pháp. Thêm một đồn của quân ta thất thủ. Ngày 4-4, viện binh Pháp từ Saigon được gởi đến, gồm một chiến hạm Echo với 200 bộ binh, 2 trung đội thủy quân Lục Chiến, 100 lính thủy, 50 https://thuviensach.vn công binh, 2 đại bác, 2 súng tạc đạn, 20.000 viên đạn và một ban cứu thương. – Sau khi vượt qua 6 chướng ngại vật, ngày 5-4 quân Pháp vừa đến chướng ngại vật thứ 7 bị quân ta mai phục hai bên bờ rạch bắn xả xuống, quân Pháp thấy bất lợi, liền án binh chờ thêm tiếp viện. – Ngày 6-4 một đoàn viện binh thứ nhì được gởi tiếp đến gần một trung đội thủy thủ, một pháo thuyền có trí một khẩu súng tạc đạn nòng 15 ly, những pháo hiệu, hai khẩu súng cối 16 ly bắn được 200 phát và nhiều pháo hạm để phá chướng ngại vật. Viện binh đến chướng ngại vật thứ 8, đoàn này được trung đội thủy thủ thứ 10 tăng cường, tức là 50 quân Tây ban Nha và nhiều súng tạc đạn (được tháo ra và mướn phu Hoa kiều khiêng). Quân Pháp đổ bộ và tiến dọc theo tả ngạn Bảo định hà, dưới quyền chỉ huy của Trung-tá Công binh Allizé de Matignicourt, pháo hạm chạy sau. Quân ta chận đánh, nhưng bị quân Pháp phản công mạnh nên tan rã, quân Pháp chiếm thêm một đồn quân. – Ngày 10-4, quân Pháp tiến gần đến Mỹ tho và khi đánh chiếm đồn quân thứ năm của ta, một pháo hạm bị trúng đạn, trung tá Bourdais bị tử thương. – Ngày 11-4, quân Pháp chiếm lấy đồn thứ 6, tức là đồn chót của ta bỏ trống, gần làng Trung lương, cách Mỹ-tho ba cây số. Tối 11-4, thêm viện binh đến, gồm có ngựa, 2 khẩu đại bác 12 ly và một đoàn xe chở quân nhu. – Ngày 12-4 sau khi cầu kỳ, đường sá được sửa chữa, quân Pháp tiến đánh thẳng vào Mỹ-Tho. Lúc cánh quân này còn cách Mỹ tho 1.500 thước, thì cùng lúc đó, cánh quân do Phó đô đốc Page theo đường biển đã tới, vào https://thuviensach.vn ngày 10-4 tại vàm sông Tiền giang, vượt qua một chướng ngại vật thứ nhứt trong đêm nay, mặc dầu bị quân ta ở tiền đồn bắn ráo riết. Ngày 11-4, đoàn quân thứ hai này vượt qua một cản thứ nhì do 2 đồn binh yểm trợ. Ngày thứ 2, sau khi xạ kích mãnh-liệt đồn binh ta, họ bỏ neo đối diện với thành Mỹ tho vào hồi một giờ rưỡi trưa. Thành trì quân ta đã bỏ trống 3 giờ trước, thủy thủ dưới quyền của Trung-tá hải quân Desnauve chiếm thành Mỹ-tho và thượng cờ Pháp lên. Ngày 13-4, cánh quân thứ nhất theo Rạch Bảo định, khi tiến sát thành Mỹ-tho đã thấy phất phơ cờ tam sắc và đoàn quân viễn-chinh Pháp chánh thức vào thành Mỹ-tho ngày 12-4-1861. Thành này có trí súng đại bác lớn, kho lúa gạo và tiền kẻm bị đốt, quân Pháp gặp đặng vài chiếc thuyền lớn tốt đóng bằng cây giá tị, để dùng về quân sự. Cuộc chiếm đóng Mỹ-tho gây một hậu quả trực tiếp và tất nhiên là sự chiếm cứ toàn thể lãnh thổ Định-Tường, lúc đó do Toàn phủ Nguyễn đình Tân 1 cai trị. Quân Pháp dời tỉnh lỵ sang địa điểm hiện thời, địa điểm cũ trở thành chợ Cũ ngày nay. Quân Pháp đặt nhiều đồn binh khắp nơi, nhứt là Cái Bè, Chợ gạo. Đó là những trung tâm hành chánh gọi là Tòa Tham biện, luôn luôn có một tiểu đội yểm trợ. ANH HÙNG HÀO KIỆT ĐỊNH-TƯỜNG DỰNG CỜ KHÁNG PHÁP NHIỀU NƠI Mặc dầu lúc bấy giờ quân đội V.N. đã bại trận ở Saigon (đồn Chí Hòa thất thủ) thành Mỹ-tho bị chiếm, song cuộc chống Pháp của dân ta vẫn tiếp diễn, do những ông Phủ Cậu, Thiên hộ Dương, Trương công Định, cầm đầu https://thuviensach.vn và được triều đình Huế âm thầm khích lệ. Vì thế cuộc thương thuyết giữa Nguyễn-bá-Nghị, khâm sai đại thần, với Thiếu tướng Pháp Bonard không có kết quả. Pháp quân bắt đầu triệt thoái, những đồn binh nhỏ như Gia-thành, Cà hôn, kế đó là Gò-Công, Chợ-Gạo. Tháng 11 năm Tân-dậu (1861) quân Pháp tiến đánh Biên-Hòa rồi chiếm đồn Bà-Rịa. Tháng 3 năm Nhâm Tuất, quân Pháp sang đánh Vĩnh-Long, lúc đó do Tổng-đốc Trương-văn-Uyển cai trị. Vĩnh Long thất thủ, triều đình Huế ở vào thế chiến bại nên ngày 5-6-1862 phái đoàn Phan-thanh-Giản và Lâm duy-Hiệp ký kết với Bonard một Hòa ước, gọi là Hòa ước năm Nhâm Tuất, nhượng cho Pháp ba tỉnh miền đông : Biên-hòa, Gia-định, Định-Tường và đảo Côn-Nôn. Mất ba tỉnh miền Đông, lòng dân càng công phẫn những cuộc kháng Pháp càng gia tăng. Riêng về tỉnh Định-Tường có những cuộc kháng chiến quan trọng của hai nhà nghĩa sĩ : – Thủ khoa Huân tức Nguyễn hữu Huân (1863-1874) và – Thiên hộ Dương, tức Nguyễn duy Dương 2 (1865-1866) mà chúng tôi sẽ nói sau với nhiều chi tiết. Ngoài ra, còn có nhiều cuộc kháng chiến lẻ tẻ, chúng tôi chép sau đây : I.–PHỦ CẬU Phủ Cậu (không biết rõ chắc là tên gì) hoạt-động mạnh trong vùng Cai Lậy, lập tổng hành dinh tại vùng Thuộc nhiêu và Nhị Quí, và từ đó phái quân đánh phá các đồn binh Pháp, nhứt là đồn Cai Lậy bị công hãm thường hơn hết. https://thuviensach.vn Viên tham biện Pháp hồi bấy giờ là Đại tá hải quân phải thân hành đôn đốc quân Pháp hành quân chống lại quân của Phủ cậu. Đến ngày 6-1-1862 Phủ cậu chuẩn bị đánh đồn Cái Bè, nhưng lại bị quân Pháp dưới quyền chỉ huy của Đại úy hải quân Rieunier bao vây giữa Cái Bè và Cai Lậy và chẳng may ông Phủ Cậu bị bắt và bị xử giảo ngày hôm sau (7-1-1862). Cái chết của Phủ Cậu càng thúc đẩy sức kháng Pháp của người Việt Nam và các cuộc tấn công ngày càng gia tăng. Ngày 10-1, nhiều toán nghĩa quân từ Gò Công đến công phá các đồn binh Pháp, chận đường tiếp tế lương thực quân nhu, thiêu hủy trung tâm Rạch Cà hôn (xã Xuân đông, quận Chợ Gạo). – Ngày 22-1, công hãm đồn Rạch Gầm, đánh phá cùng một lượt 4 đồn Cái Bè, Cai Lậy, Thuộc Nhiêu, Rạch Gầm trong 28-1-1862. Trong việc tảo thanh nghĩa quân kháng chiến, lập được nhiều công trạng nhứt đối với Pháp là Trần-bá-Lộc, nguyên là đội nhứt, được thăng Tri huyện năm 1865 và về sau thăng Đốc phủ sứ và hàm phong Tổng Đốc tỉnh Thuận-Khánh. Trần bá Lộc được ủy thác quyền hành chánh trong vùng Cái Bè và Cai Lậy (gồm các quận Sùng hiếu, Giáo đức và Khiêm Ích ngày nay). Huyện đường đặt tại Cái-Bè, sau đổi qua Cần Lố (Sadec). 2.–PHAN-LIÊM, PHAN-TÔN Tháng 11, 1867, hai người con của Phan-thanh-Giản là Phan Tôn và Phan-Liêm nổi lên chống Pháp tại Bến Tre. Cuộc khởi nghĩa lan tràn qua Mỹ-tho nhờ uy tín cụ Phan, dân quân hưởng ứng đông đảo, xây đồn đắp lũy khắp nơi. Phan-Tôn và Phan-Liêm thất bại, xuống thuyền ra Bình-Thuận. https://thuviensach.vn 3.–THÂN-VĂN-NHIẾP Ngày 1-5-1868, một nhóm nghĩa quân dưới quyền Thân văn Nhiếp đột kích thành Mỹ-Tho, tấn công kho lương thực, hạ sát người giữ kho. Đêm 24-12-68, một nhóm nghĩa quân khác cùng các phó tướng là ông Rồng, ông Được, ông Long tấn công đồn Cai-lậy thiêu hủy nhiều căn nhà, nhưng bị 25 tên lính tập giữ đồn chống trả mãnh liệt, phải rút lui. Về sau, cả 4 người bị Trần-bá-Lộc bắt được và đem ra xử giảo tại chợ Cai-lậy. Tháng 5, năm 1860, một nhóm nghĩa quân có súng ống tấn công làng Đồng-Xuân huyện Bảo-An (Bến-Tre) giết viên cai tổng và người em làm xã trưởng, rồi rút về Định-Tường. 4.–TRƯƠNG-HUỆ Năm 1870, Trương-Huệ, con của Lãnh binh Trương-Định khởi nghĩa ở Cai-Lậy rồi tử trận tại đấy. 5.–THỦ-KHOA NGUYỄN-HỮU-HUÂN Trong các vị anh hùng khởi nghĩa, xin kể ông Nguyễn-Hữu-Huân vào hàng sĩ phu số 1 thời ấy. Ông sinh năm 1841, tại tỉnh Định-tường, năm chưa đầy 20 tuổi, ông thi đỗ Thủ khoa đời vua Tự-Đức. Gặp buổi nước nhà nghiêng ngửa, ông gác bỏ công danh để hưởng ứng phong trào khởi nghĩa và năm 1861, đứng ra tổ chức nghĩa quân chia đi hoạt động khắp trong tỉnh Định-Tường đến tận các miền Kiên-Giang, Hà Tiên, Châu-Đốc. Ông quyên được nhiều tiền và giao thiệp với các tàu buôn Hải-nam để mua khí giới ở Trung-Hoa. https://thuviensach.vn Sau hết lương thực, ông xuống Hậu giang chờ khí giới chở sang. Thế cùng, lực tận, ông phải giải tán bớt nghĩa binh và về ẩn náu ở Chợ Gạo, Định-Tường để mưu một cuộc khởi nghĩa khác. Năm 1863, bị quân đội Pháp bao vây, ông chạy thoát đến Châu-đốc, nhưng bị bắt giữ lại rồi giao cho Pháp. Viên Tư lịnh Pháp dụ dỗ ông đầu hàng, nhưng ông nhứt-quyết không chịu. Rốt cuộc, ông bị đày đi Côn đảo rồi đưa sang đảo Réunion ở Đông Nam Phi Châu. Khi sắp đi đày, ông có làm một bài thơ để tỏ nỗi cảm khái của mình : Muôn việc cho hay số bởi Trời. Chiếc thân hồ hải biết đâu nơi ! Mấy hồi lên đạn ra tay thử, Ngàn dặm non sông dạo gót chơi ; Chén rượu Tần đình nào luận tiệc, Vần thơ cố quốc chẳng ra lời. Cương thường bởi biết mang nên nặng, Kẻ đứng làm trai chác nợ đời. Năm 1874, sau khi Nam triều đã ký hòa ước, nhường đứt sáu tỉnh miền Nam cho Pháp, Thủ khoa Huân được chúng cho về, nhưng để quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ-hữu-Phương, tại Cholon, là chỗ quen biết của ông, lại là một người giúp việc đắc lực cho Pháp. Ông Phương tổ chức một bữa tiệc long trọng đề mừng gặp lại bạn xưa, có mời các quan người Việt đã theo chính phủ tân trào đến dự. Sau bữa tiệc, nhiều người xin ông Thủ Khoa cho một bài thơ để kỷ niệm. Ông tức cảnh và làm bài bát cú như sau : https://thuviensach.vn Nghĩ thẹn râu mày với nước non Nhìn nay tùng, cúc bạn xưa còn ;3 Miếu đường cách trở bề tôi chúa, Gia thất riêng buồn nỗi vợ con. Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ, Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon ; 4 Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi, Cuốn đất kìa ai, dám hỏi đon ! Nghe đọc xong, các vị quan có mặt trong tiệc tỏ vẻ cảm động, nhưng âm thầm hổ thẹn, nhứt là hai câu luận : Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ, Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon. Nói lên cái vô sỉ của những kẻ mãi quốc cầu vinh, và hai câu kết hỏi ai là người chí sĩ hãy tranh đấu giành độc lập cho nước nhà. Ở nhà Tổng đốc Phương ít lâu, ông được trả lại tự do, và sau đó vài tháng, ông lại ngấm ngầm tổ chức và võ trang nghĩa quân nổi lên chống Pháp. Đến tháng 4 năm 1857, ông bị quân Pháp bao vây và bắt do bọn gián điệp chỉ đường. Lần này, bộ Tư-Lệnh Pháp cũng dụ ông đầu hàng, song ông nhứt quyết lãnh cái chết cho tròn bổn phận tôi con nước Việt. Ông bị điệu về hành hình tại chợ Phú-Kiết tỉnh Định-Tường. 5 Theo một tài-liệu khác thì « Trần-bá-Lộc bắt được ông, có dụ dỗ ông đầu hàng. Ông đáp lại bằng những lời chửi mắng, nên bị chở về Mỹ-Tho. Lúc đi đường, người ta trói ông để trên mui ghe cho thiên hạ xem. Ông vẫn bình thản ngâm thơ như thường ». 6 https://thuviensach.vn Tài liệu này hơi khó tin được, nhưng chúng tôi cũng chép ra đây để độc giả suy gẫm, vì lẽ : – Thủ khoa Huân là người nho nhã, châm biếm quan Việt phụng sự người Pháp một cách kín đáo và cay đắng mà thôi, chắc không đến nỗi thô lỗ như vậy. – Và từ trước, quan Pháp đã tỏ vẻ kính nể ông, không lý dám cột ông trên mui thuyền cho mọi người xem, làm một việc rất thất sách, cho đồng bào ta càng thêm công phẫn. Trước khi lên đoạn đầu đài, ông xin cho vợ con tế sống và xin một tấm vải để viết một bài thơ tuyệt mạng như sau : Hạn mã gian quan vị quốc cừu, Chỉ nhân binh bại chí 7 thân hưu ; Anh hùng mạc bả doanh dư luận, Vũ trụ thường khang tiết nghĩa lưu. Vô bố dĩ kinh Hồ lỗ phách, Bất hàng cam đoạn Tướng quân đầu. Đương niên Tho Thủy ba lưu huyết 8 Long đảo thu phong khởi mộ sầu. Cụ Phan bội Châu dịch : Ruổi dong vó ngựa trả thù chung, Binh bại cho nên mạng phải cùng. Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ, Hơn thua sá kể với anh hùng ! Nổi xung mất vía quân Hồ-lỗ Quyết thác không hàng rạng núi sông ; Tho thủy ngày rày pha máu đỏ, Đảo Rồng hiu-hắt ngọn thu phong. https://thuviensach.vn Trong một bài nói về văn chương của Thủ khoa Huân 9, tác-giả có chép rằng, trước khi bị hành hình, Thủ khoa Huân có ứng khẩu ngâm bài thơ tuyệt mạng như vầy : Hai bên thiên hạ thấy hay không ? Một gánh cương-thường há phải gông ! Oằn oại hai vai quân tử trúc Long lay một cổ trượng phu lòng ; Sống về đất Bắc danh còn rạng, Thác ở thành Nam tiếng bỏ không. Thắng bại dinh du trời khiến chịu, « Phản thần », đéo quả đứa cười ông ! Hiện nay, tại Đô thành Saigon, tên vị anh hùng ái quốc này còn nêu trên con đường nằm trong quận II, đường Thủ-khoa-Huân, từ đường Lê thánh Tôn đến đường Nguyễn Du. THIÊN-HỘ-DƯƠNG VỚI CHIẾN KHU ĐỒNG THÁP Trước khi thuật chuyện Thiên-hộ-Dương tức Nguyễn-duy-Dương cứ hiểm Đồng Tháp Mười kháng Pháp, làm cho Pháp quân rối trí điên đầu, điêu đứng khổ sở nhiều năm, chúng tôi thiết tưởng nên hướng dẫn độc giả « làm quen » cùng Đồng Tháp Mười. Thuở xưa, Đồng Tháp Mười là cái vịnh to, lần lần đất phù sa sông Cửu Long bồi đắp lâu ngày mới thành đất liền. Tuy nhiên, mãi đến nay, trung tâm Đồng Tháp Mười vẫn còn là một lòng chảo, nước đọng quanh năm. Tại đó, có vùng hoàn toàn là một bãi cát mênh mông cho nên người ta gọi là Láng Biển. https://thuviensach.vn Nơi đây, người ta còn gặp được nhiều di tích thuyền bè bị đắm như, cột buồm, lòi tói, mỏ neo v...v... Trước đây Đồng Tháp Mười còn hoang vu, cho nên có những nơi như Bàu Sen, Láng bông súng, Lung Năng, Đồng Lác, Đồng đưng, Rừng tràm, cỏ cây mọc la liệt, không hàng ngũ chi, liên tiếp nhau chạy mút tầm còn mắt, xa tận chân trời. Đó là nơi ẩn trú của vô số thú rừng thời xưa, có chỗ voi đi thành đìa lầy, nên gọi là Láng Tượng. Rắn ở Đồng Tháp có con to hơn bắp chưn, đã vậy người nào mạo hiểm vào Đồng Tháp bị muỗi chích đập không kịp phải lấy tay mà vuốt và khi thọc chân xuống nước thì bị vắt cắn đĩa đeo. Muỗi và đĩa Cà Mau đã nổi tiếng nhưng nếu so sánh với Đồng Tháp Mười còn phải thua xa. Có câu : Muỗi kêu như sáo thổi, Đĩa lội tợ bánh canh. Vùng Đồng Tháp cũng chẳng kém chi. Về sông rạch : thì con sông Cần lố, tiếng Miên có nghĩa là « nước lộn » quanh co khúc khuỷu, hai bên mé sông mọc um-tùm đế, nga, sậy cùng lau, lên đến gần một cái tháp nằm giữa đồng. Tháp này là một thứ tháp xây cất toàn bằng những tảng đá xanh to lớn, kiến trúc theo kiểu Đế Thiên Đế Thích trên Cao-Miên. Tháp tọa lạc trên một động cát tại ấp Tháp Mười, làng Mỹ-Tho quận Cao Lãnh (nay là tỉnh Kiến Phong). Một điều lạ lùng gần như kỳ dị là chung quanh vùng này chẳng có một ngọn núi nào, mà người xưa kiến trúc được cái Tháp bằng đá xanh thật cũng lắm công phu, nếu ta nghĩ rằng xưa kia sự chuyên chở vô cùng khó https://thuviensach.vn khăn và vùng Đồng Tháp là một nơi khí hậu hết sức độc địa, thêm đủ loài thú dữ ăn thịt người. Sau này, lúc ông Phủ Trần văn Mẫn làm chủ quận Cao-Lãnh, ông có phúc trình lên thượng cấp nói về ngọn tháp ấy, nên năm 1931, ông Parmentier, nhà khảo cổ Viễn đông, đến tận tháp này để viếng. Parmentier đọc những chữ trên mấy tấm bia đá sứt mẻ vì phong sương tuế nguyệt và tan tác ngổn ngang, giải nghĩa rằng cây tháp thứ 10 trong số 10 cái tháp của vua nước Thủy chân Lạp lập ngày xưa. Vì thế mà dân chúng đã gọi cái đồng mênh mông có cái Tháp thứ 10 ấy là Đồng Tháp Mười. Một mớ cổ vật như tượng Phật, đồ thờ bằng đá, bằng đồng được đoàn khảo cổ đem về Saigon chưng bày ở Bảo-tàng-viện. Theo lời Thiếu tướng Nguyễn văn Là, nguyên chỉ huy trưởng khu chiến Đồng Tháp Mười thì Đồng này có nhiều nguồn lợi thiên nhiên, chẳng hạn như có những đìa cá nhiều vô số kể, có thể gọi là « Tiểu Biển Hồ » Cao-Miên ở Nam-phần. Và nếu Đồng Tháp được khai thác hẳn hòi thì trong một ngày gần đây, sẽ là một kho tàng lúa và cá của miền Nam nước Việt 10. Hiện nay, quân đội Việt-Nam Cộng-Hòa đã đắp xong con đường dài gần 50 cây số ngàn, chạy từ quận Cai-Lậy vô tới tỉnh lỵ Kiến-Tường tức quận Mộc-Hóa cũ, và cất một cái tháp 10 từng nhưng lại bị phá hủy, tiếc thay ! Theo kết quả khảo cứu của một nhà khảo cổ khác là P. Pelliot thì đất Nam phần xưa thuộc nước Phù-Nam, lập quốc trên miền Tây nam bán đảo Đông dương, từ thế kỷ thứ nhứt cho đến kỷ thứ sáu, kế bị vua Chân Lạp xâm chiếm. https://thuviensach.vn Và tòa Tháp gọi là Tháp Mười là công trình kiến trúc của vua Phù Nam Gunavarman là con vua Jayavarman để kỷ-niệm sự lấp hào vũng, lập một thính đường để tôn thờ dấu chơn của Vishnou Thiên thần. KHÁNG CHIẾN : THIÊN HỘ DƯƠNG LÀ NGƯỜI THẾ NÀO ? Theo tài liệu ông Nguyễn văn Hầu 11thì Thiên-Hộ Nguyễn-duy-Dương (hay Võ-duy-Dương) là người miền Nam, một nhà hào phú nhơn mộ quân đồn điền được 1.000 quân nên được cụ Nguyễn tri Phương phong làm Thiên hộ. (Vào năm 1860 cụ Nguyễn tri Phương phụng mạng triều đình Huế vào Nam tổ chức cuộc chống Pháp, mộ quân lập đồn điền, đặng thực hiện cuộc trường kỳ kháng chiến, như Gia Cát Khổng Minh xưa lập đồn điền làm kế lâu dài phạt Ngụy). Thiên hộ Dương là một người tài kiêm văn võ, sức mạnh hơn người, một tay nhổ nổi một cây tra mở to (để đập giập làm lạt buộc những bè ngăn tàu Pháp trên sông rạch). Ông còn cử nổi năm trái linh 12, hay tay hai trái, hai nách kẹp hai trái và miệng cắn một trái, nên được nhiều người kính phục mà gọi là Ngũ linh Thiên hộ. Hưởng ứng lời kêu gọi của vua Tự-Đức và các ông Nguyễn tri Phương và Phạm thế Hiển, Thiên hộ Dương kéo cờ Cần-Vương, tổ-chức những bộ đội du kích, phục kích, cướp đồn giựt súng và thẳng tay trừng trị bọn Việt gian mãi quốc cầu vinh. Tổng hành dinh của Thiên hộ Dương đặt tại trung tâm cánh Đồng xung quanh cái Tháp. https://thuviensach.vn Từ ngoài vô đến Tổng hành dinh, chỉ có ba con đường mòn, một đường từ Gò Bắc Chiêu (Mộc hóa) đi xuống, một đường từ Rạch Cần lố (Cao Lãnh) đi lên và một đường từ Cái Nứa (Cái Bè) đi tới. Trên ba con đường ấy, Thiên hộ có lập ba cái đồn rất là kiên cố : Đồn tả trên đường đi Bắc Chiêu, Đồn Hữu hướng về Cao Lãnh và Đồn Tiền day ra Cái Nứa. TIẾP TẾ Lúc ấy ba Tỉnh miền Tây vẫn còn thuộc Nam triều, chưa có sự chiếm đóng của Pháp quân, cho nên các quận Cao-Lãnh, Cai-Lậy, Mộc hóa, Hồng ngự, Sadec lãnh phận sự tiếp tế lương thực cho kháng chiến quân. Về việc vận tải khí giới đạn dược thì dân chúng các miền Hà-Tiên Rạch-Giá đảm nhiệm việc chuyên chở đến Đồng Tháp Mười. Nói tóm lại, dân chúng Việt-Nam nhiệt-liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp từ tinh thần đến vật-chất. TRONG HÀNG NGŨ KHÁNG CHIẾN Sau khi các ông Trương Định, Nguyễn trung Trực, Thủ khoa Huân đã lần lượt thất bại trong cuộc kháng chiến, nhiều đoàn thanh niên nam nữ xung-phong vào Đồng tháp Mười chiến-đấu dưới lá cờ Cần-Vương do Thiên hộ Dương lãnh đạo. Dưới sự chỉ huy của ông, có trên 1000 binh, trong đó có nhiều lính Tagals (cũng như lính lê dương (légion étrangère) của Pháp bây giờ đào ngũ sang giúp ta để chống cự lại quân Pháp, bởi những lính Tagals phần nhiều là tù binh của Pháp ở Maroc, Algérie, Tunisie... Những chiến sĩ Bắc Phi ấy, tuy ngôn ngữ bất đồng với ta, nhận thấy rằng không thể cầm súng chống lại đoàn quân kháng chiến Việt-Nam. https://thuviensach.vn Không những thế mà thôi, trong hàng ngũ kháng chiến còn có một người Pháp chánh tông tên là Linguet đã giúp ta chống lại đoàn binh xâm lược. CHIẾN CÔNG OANH LIỆT Tháng 7 năm 1865, Thủy sư đô đốc De la Grandière về Pháp giao quyền chỉ huy cho Thủy sư đô đốc Roze. Ngày 22 tháng 7 năm 1865 Nguyễn-duy-Dương từ mặt trận du-kích biến ra mặt trận đại quy mô. Từ Đồng Tháp Mười, đoàn nghĩa quân rần rộ kéo binh đánh phá quân Pháp ở Mỹ Trà, Sadec. Đô đốc Roze được tin cấp báo đem quân Pháp và Việt gian đến nghinh chiến, quân ta và quân Pháp kịch chiến suốt mấy ngày đêm liền. Quân Pháp hết sức chống cự nhưng không nổi, bị nghĩa quân hạ đồn, đốt chợ Mỹ-Trà và thiêu hủy của Pháp một chiếc tàu dùng để liên-lạc. Trận này quân Pháp chết hại rất nhiều và sau khi thâu thập được súng đạn, nghĩa quân liền rút lui. Thiên hộ Dương mở một mặt trận thứ nhì tấn công Cái-Bè, Mỹ Quý, chọc thủng phòng tuyến của Pháp, đánh tan nhiều cánh quân Pháp đóng giữ vùng này, quân ta bắt sống được trên 50 quân Pháp và gần 100 Việt gian. Bởi Thủy sư đô đốc Roze thua ta liên tiếp mấy trận lớn, nên chánh phủ Pháp triệt hồi Roze về Pháp. Về phần Nam triều, hay tin Thiên hộ Dương gây tổn thất nặng nề cho quân đội Pháp, vua Tự-Đức giáng chỉ phong chức Lãnh binh cho nhà ái quốc. QUÂN PHÁP PHẢN CÔNG https://thuviensach.vn Như trên đã nói, Tổng hành dinh của Thiên hộ bấy giờ ở giữa Đồng Tháp, chung quanh có Tiền đồn, Tả và Hữu, mỗi đồn có lũy đất bao bọc ở ngoài, cao hai thước và dày thước rưỡi, trong và ngoài lũy đều có một hàng cừ bằng cây sao, lũy có chừa lỗ để bắn ra ngoài. Mỗi đồn có lối vài ba trăm lính, 10 khẩu súng và 4, 5 thớt súng bắn đá, vài khẩu đại bác. Ở xa hành dinh, còn có nhiều hàng đồn nhỏ giữ các nẻo hiểm, cũng có binh sĩ và súng lớn phòng thủ 13. Năm 1866, De la Grandière được phái trở sang Nam-kỳ. Vừa đến Saigon, De la Grandière khởi sự nghiên cứu kế hoạch tấn công Đồng-Tháp. Sau nhiều ngày chuẩn bị, tháng tư năm ấy, quân Pháp động viên lực lượng quân đội chia ra làm ba mặt tấn công Đồng Tháp. Tư lịnh của Pháp quân gồm có mấy Tướng : Boubée, Pâris de la Bollardière, Gally Passebosc, Quản Tấn (Huỳnh-công-Tấn), Huyện Lộc (Trần bá Lộc). Như thế ta đủ hiểu rằng quân Pháp quyết đánh tan kháng chiến quân Việt-Nam với chiến thuật cá lớn nuốt cá bé. Lần lượt, quân ta bị thất bại, nhưng hết lớp này tới lớp khác nổi lên chống cự, không lùi bước trước quân xâm-lăng cướp nước. Tinh thần càng lên cao, gương hi sinh, lòng dũng cảm của người Việt làm cho Pháp quân thán phục. Kế tiếp Đốc binh Lê công Kiều, hùng cứ cả một vùng Mỹ-quí, nhưng binh lực ta kém, nên không bao lâu Đốc binh Kiều cũng thất bại và kháng chiến của nghĩa quân Việt-Nam Đồng Tháp lần lần tan rã. Thiên hộ mất, nhân dân lập đền thờ ông tại Đồng tháp và tên ông còn lưu truyền thiên thu trên miền Nam đất Việt. https://thuviensach.vn Để tưởng niệm cuộc kháng-chiến anh dũng của Ngài Thiên-hộ, Chánh Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đặt tên « Đường Tháp Mười » một con đường trong quận IV, đi từ đường Võ di Nguy đến đường Phạm đình Hổ và đường Nguyễn duy Dương cũng trong quận IV, nối liền đường Nguyễn Trãi với đại lộ Lý-Thái-Tổ. Trong một cuộc sang chơi Đồng Tháp, nhà thơ Nguyễn công Minh có làm câu đối điếu Nguyễn duy Dương như vầy : 14 Ẩm hận anh hùng, tự Bắc tự Nam, Thập Tháp 15hương yên trường diếu-diếu, Kiên can tuấn-kiệt, nhi kim nhi cổ, Ngũ Linh phong độ thượng y-y. Dịch nghĩa : Ngậm ức anh hùng, tiếng nổi Bắc Nam, Thập Tháp lửa hương còn phới phới. Chắc gan tuấn-kiệt, danh truyền kim cổ, Ngũ Linh dáng cách vẫn như như. https://thuviensach.vn ĐỊNH-TƯỜNG HÀNH CHÁNH DƯỚI CHẾ ĐỘ TÂN TRÀO Lập nền hành chánh trên ba tỉnh miền đông, năm 1864, đô đốc De La Grandière chia mấy tỉnh này làm 7 khu vực quân sự mà Mỹ-Tho là một, gồm hai huyện Kiến hưng và Kiến-Hòa. Tỉnh Mỹ-Tho rộng lớn, bề cai trị khó khăn, do Nghị định ngày 3-6- 1865, Phó Đô đốc Rosée, quyền Thống đốc, chia Mỹ-tho làm 4 khu hành chánh, mỗi khu do những quan Tham biện (Inspecteur) sĩ quan Pháp cai trị. 1)–MỸ-THO, châu thành : Mỹ-tho huyện Kiến Hưng. 2)–KIẾN-HÒA, châu thành : Chợ Gạo huyện Kiến-Hòa. 3)–KIẾN-PHONG, châu thành : Cần-Lố, huyện Kiến-Phong. 4)–KIẾN-ĐĂNG, châu thành : Cai-lậy, huyện Kiến-đăng. Trước đó, tổng Hưng long, tổng Hưng nhượng ở ven sông Vàm cỏ và Rạch Bảo định cho đến tận khởi điểm Rạch Bà Lý được tách ra khỏi Huyện Kiến-hưng sát nhập với trung tâm Tân an thành lập năm 1864 cùng một lượt với Gò Công. Một nghị định ban hành năm 1867 xác nhận sự thay đổi khu vực này bằng cách ấn định rằng tỉnh Định-Tường gồm 4 khu vực hành chánh đánh số như sau : – Chợ Gạo (Kiến Hòa), số 13 – Mỹ Tho (Kiến Hòa) số 14 – Cai lậy (Kiến đăng) số 15 – Cần lố (Kiến Phong) số 16 Đồng thời, tỉnh Định-Tường bị thu hẹp lại sau khi thành lập những tỉnh mới : Mỏ Cày (nay Bến-Tre), Cần-Thơ (Phong-Dinh), Trà-Vinh (Vĩnh Bình), có một diện tích gần như ngày nay 16. https://thuviensach.vn Kể từ năm 1899, nghị định ngày 20-12 bãi bỏ chữ « tham biện » và gọi là Tỉnh (Province), chữ Inspecteur (quan tham biện) đổi ra là Administrateur, Chef de Province (quan cai trị chủ tỉnh). Kể từ năm 1862, ba tỉnh miền đông bị nhượng cho Pháp-quốc, hai chữ Định-Tường không còn nữa mà thay thế bằng chữ Mỹ-Tho. Theo lịch sử thì chữ Mỹ-Tho xuất hiện từ năm 1744, chúa Võ Vương lập đạo Trường-Đồn gồm đất Mỹ-Tho và Cao-Lãnh. Theo truyền thuyết, chữ Mỹ-Tho do tiếng Miên (Mi-saur) có nghĩa là « Cô gái đẹp ». Do quyển « Le Cambodge » của Đ. Aymonier, thì chữ « Mỹ Tho chỉ là tiếng Mé-so (nàng tiên, cô kỹ-nữ) đọc trại (My tho, en effet, n’est autreque la corre de Méso) ». ĐỊNH-TƯỜNG TRƯỚC 1945 Trước 1945, tỉnh Mỹ-Tho gồm có 5 quận : An-Hóa, Cái-Bè, Cai-Lậy, Châu thành và Chợ Gạo. Sau này, Cù lao An-Hóa (quận An-Hóa) sáp nhập về tỉnh Bến-Tre (đổi tên là Kiến-Hòa). Dụ số 143-NV ngày 22-10-1956 của Chánh-phủ Việt Nam Cộng-Hòa xóa bỏ phần nhiều tên tỉnh do Chánh-phủ Pháp đặt ra và dùng lại những tên cũ của Nam phần. Hai tỉnh Mỹ-Tho và Gò-Công sát nhập làm một, lập thành tỉnh Định Tường gồm 8 quận, 16 tổng và 124 xã. – Bến Tranh – Chợ Gạo, Giáo Đức (do 10 xã lấy trong quận Cái Bè và 5 xã của quận Cai Lậy). – Gò-Công, Hòa-đồng (tức là tỉnh Gò-Công cũ). – Khiêm-Ích (Cai-Lậy cũ). – Long Định (Châu Thành cũ). https://thuviensach.vn – Sùng Hiếu (Cái Bè cũ). Mới đây, vì lý do chánh-trị, hai quận Hòa đồng và Gò-Công lại tách rời khỏi Định-Tường để lập lại tỉnh Gò-Công cũ. https://thuviensach.vn ĐỊA LÝ VỊ-TRÍ Những hình ảnh của quê hương Vàm chợ giữa dưới rặng dừa soi bóng Xuyên qua các sử liệu của triều-đình Huế và quyển Monographie de la province de Định-Tường, quan sát bản đồ Lục-Tỉnh Nam kỳ thời Tự-Đức, chúng ta thấy tỉnh Định-Tường xưa chiếm trọn vẹn một khoảng giữa Nam kỳ, bắc giáp với Cao-Miên, Nam giáp Vĩnh-Long và Nam-Hải ; bên hữu, có Gia-Định, Biên-Hòa, bên tả, tức là vùng Hậu-giang, hai tỉnh An Giang và Hà-Tiên. Địa phận Định-Tường gồm hai Phủ, 4 huyện, rộng minh mông, bao trùm : Đồng tháp Mười, một phần đất các tỉnh : Tân an (Long an ngày nay) Châu-Đốc, Sadec và Bến-Tre. Tỉnh Kiến-Tường và Kiến-Phong bây giờ đều nằm trong tỉnh Định Tường cũ vậy. Trong thiên khảo cứu này, chúng tôi đề cập một phần lớn đến Đồng tháp Mười khi xưa là trung tâm kháng chiến của Thiên-hộ-Dương, Đốc- https://thuviensach.vn binh Kiều suốt mấy năm trời. Oanh liệt làm cho Pháp quân điêu đứng và trung tâm ấy thời bấy giờ vào năm 1866 thuộc tỉnh Định-Tường 17. Từ ngày quân Pháp xâm chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, rồi cắt sáu tỉnh của Nam triều ra manh múng làm hai mươi tỉnh nhỏ đến ngày nay, dưới chánh thể Cộng hòa, mấy tỉnh nầy lại nhiều phen thay đổi tên và ranh giới, sáp nhập rồi phân chia mà lập thành một số trên 20 tỉnh, thì Định-Tường bây giờ nhỏ không bằng phân nửa Định-Tường xưa, giáp ranh với các tỉnh sau đây : – Tây bắc : Kiến-Tường, tức là Mộc hóa cũ. – Đông bắc : Long-an, là Tân-an sáp nhập với Cholon. – Đông : Gò-Công, có tên là Khổng-tước nguyên dưới Nam triều. – Tây : Kiến-Phong, tức là quận Cao-Lãnh cũ. – Nam : Vĩnh Long. – và Đông Nam : tỉnh Kiến Hòa. Mặc dầu ngày nay, Định-Tường không còn rộng lớn bao la như xưa, song còn giữ nhiều đặc tính về lịch sử, cũng như về địa-lý. Là một tỉnh cố cựu, được khai thác từ lâu (bọn người Tàu lưu vong đến sanh cư lập nghiệp nơi đây từ năm 1679), Định-Tường là một trong các tỉnh phong phú nhất Nam-phần, Định-Tường là một trong những mạch máu nối liền trung tâm thủ đô và các tỉnh miền Đông và miền Tây, về trục giao thông rất thuận, chở hàng hóa vô Cấp, muốn chạy Nam Vang, Lào thì phải vòng xuống biển Gò-Công đổ lên cửa Đại sông Cửu-Long Định-Tường, rồi xuyên qua các tỉnh miền Tây Vĩnh-Long Sadec Long-Xuyên, Châu đốc, Tân Châu rồi thẳng Nam-Vang. Tỉnh Định-Tường tốt về Địa lý. Nhờ có sông Tiền giang mà thông suốt ra biển, có lẽ trong một tương lai gần đây, tỉnh lỵ Định-Tường sẽ trở thành một hải cảng quan trọng của Nam phần Việt-Nam với bộ mặt huy-hoàng để nói lên một tỉnh trù phú của tiền giang, so sánh với Cần Thơ người ta tặng cho là Tây Đô, Định-Tường https://thuviensach.vn cũng hãnh diện về cảnh trí xinh đẹp, danh tiếng là trung tâm kháng chiến của các anh hùng liệt sĩ đã góp mặt làm rạng rỡ tô điểm cho phần đất mến yêu bao đời ghi nhớ. ĐỊA CHẤT Định-Tường nằm trong lưu vực sông Cửu-Long (Mékong) hoàn toàn cấu tạo bởi đất phù-sa do con sông vĩ-đại này chuyển vận qua các thời đại. Không có bằng chứng nào xác định rõ rệt thời kỳ bồi đắp dải đất này. Tuy nhiên, với sự tiến triển hiện đại của khoa địa chất học, có thể nói rằng đất ấy không xưa lắm. Trước kia, một vùng biển to bao phủ cả Định-Tường và miền tây Nam-Việt. Đất phù-sa do sông Cửu-Long mang đến đã lấp bằng một cái vịnh cũ, biến thành một vùng châu thổ phì nhiêu, từ miền Biển Hồ (Tonlésap) thuộc Cao-miên. Có lẽ một bình nguyên rộng lớn từ đáy biển Nam-hải nhô dần lên đã cấu tạo mau lẹ những miền ấy và ta có thể ức đoán rằng giãi đất Định Tường mới tượng hình lối vài ngàn năm nay 18. Về đất cát, những nhà nông học quan sát Định-Tường thấy rằng tỉnh này có ba lớp đất : a)– dài theo bờ sông Cửu-long, là lớp đất sét do phù-sa tạo thành. Đất phù sa len lỏi theo các phụ lưu và chi lưu để biến những vùng ngập lụt hoặc bùn lầy thành những vùng đất liền, có thể trồng trọt được. Cũng nhờ phù sa mà đất liền lan rộng thêm mãi, theo ven biển cũng như dọc các cửa sông Cửu-Long. b)– Trong vùng Đồng tháp (người Pháp gọi là Plaine des Jones) (đồng lác, đồng cói) đất vùng này gồm một lớp đất gần như đất sét : https://thuviensach.vn Lớp trên mặt là đất sét hòa với bã lác, bã lác với các khoáng chất trầm dưới nước, lâu ngày gây những phản ứng hóa học liên tiếp, những ngày quá nóng bức, nước đọng bốc thành hơi để lại trên mặt đất chất phèn. Cứ thế, năm này sang năm khác, lớp phèn càng dày, càng thấm sâu vào lòng đất, khiến cho đất đai Đồng tháp mười không dung túng bất cứ loại trồng trọt nào. Dưới lớp đất sét lẫn lộn bã lác ấy, có một lớp đất sét trắng hơn và chắc hơn. c)– Ngoài đất sét và đất phèn, Định-Tường còn có đất cát, tạo những cuộc đất cao ráo, thường gọi là « Giồng ». Dài theo quốc lộ Tân-an, Mỹ-Tho, qua khỏi thị trấn Tân-hương vài cây số du khách gặp hai bên đường những giồng cát cao, rộng, đồng bào ta trồng thuốc, khoai mì, bắp, rau cải v.v… Định-Tường có nhiều giồng như Giồng Cái-én, giồng Trau-Trảu, giồng Lữ, giồng Thuộc nhiêu, giồng Tân hiệp v.v… Nổi danh nhất về phương diện lịch-sử là Giồng Tháp, trung tâm kháng chiến của Thiên-hộ-Dương và Ba giồng là nơi Đạo quân Đông sơn Đỗ thành Nhân tụ nghĩa năm 1776. ĐẤT ĐAI Về phần đất đai, Định-Tường có thể chia ra làm hai vùng : a)– VÙNG ĐẤT CŨ : nằm trọn từ sông Cửu-Long đến con đường liên tỉnh Saigon-Phong-Dinh (Cần-thơ) và từ ranh tỉnh Long-an đến ranh tỉnh Kiến-Phong (Cao-Lãnh). Vùng này, thảo mộc sum suê, tươi mát, nhứt là hai bên bờ sông Cửu long có nhiều kinh rạch, đất phù sa tương đối cao ráo, tạo thành một đường viền dài theo sông cái. https://thuviensach.vn Ngoài những ruộng lúa minh mông mà ít có năm thất mùa, nông dân lập vườn trồng nhiều thứ cây ăn trái quanh nhà. Lại nhờ có lắm kinh rạch chằn chịt nối liền sông Cửu-Long với Rạch Bảo-định, nên miền này có một hệ thống thủy-vận dễ dàng và sung mãn, dân cư đông đảo, phố phường tấp nập. Du khách từ Gò Công đi Mỹ-tho đến Cái Bè tất phải lưu ý đến vẻ vui tươi mát mẻ nơi đây, những thửa ruộng đều đặn với những bờ mẫu thẳng tắp nổi bật giữa rặng cây xanh. Trông quanh làng mạc, khách sẽ để ý thấy dọc bờ sông Cửu Long đất hơi cao và trồng toàn dừa. Tiến mãi về phía tây, khách sẽ băng ngang Bảo định hà và những cánh đồng lúa dài đến tận bờ sông, nhờ sông Cửu-Long và nhiều rạch con tươi mát. Sang sông Ba-rài, đi đến Cái-bè và đậu đến ranh giới tỉnh Kiến Phong, du khách không ngớt trầm trồ những khu vườn cây trái sum suê tươi tốt, dọc bờ rạch Cái-cối, đây mới là đất vườn liệt vào bực nhứt của tỉnh Định Tường. b)– VÙNG ĐẤT MỚI : tức là vùng Đồng-tháp-Mười, chúng tôi đã đề cập qua Đồng này trong chương « Định-Tường kháng chiến » và sẽ còn dành cho Đồng-tháp một chương đặc biệt sau nầy. Một cảnh thơ mộng giữa dòng sông Cửu-Long https://thuviensach.vn Ngư-phủ thả mồi câu cá ngang cù-lao Rồng. CÙ LAO Giữa sông Cửu-Long thuộc địa hạt Định-Tường, có lắm cù lao quan trọng : – Nhứt là cù lao An-hóa gồm cả một quận, hai tổng, nằm trọn giữa hai sông Tiền-Giang với sông Ba-Lai, nhưng từ năm 1956 cù lao này đã sáp nhập với tỉnh Kiến-Hòa. – Kế đó là cù lao Rồng, xã Tân-Long, ngang châu thành Mỹ-Tho. – Cù lao Thới-sơn, xã Thới Sơn, quận Long-Định, nay đổi lại Sầm Giang. – Cù lao Năm thôn, xã Ngũ hiệp, quận Khiêm-Ích (Cai Lậy cũ). Chung quanh cù lao này có các đồn : Long-Đức, bà Huyện, Tân Châu, Cồn Tròn. – Cồn qui thuộc xã Thanh Hưng, quận Giáo-Đức. SÔNG NGÒI Hệ thống sông ngòi của tỉnh Định-Tường tập trung vào sông Cửu Long. Trước hết ta nghiên cứu giòng sông Cửu-Long trong địa-phận tỉnh Định-Tường và ảnh hưởng con sông ấy đối với thủy-triều. Kế đó, ta hãy xét về những rạch chảy chằn chịt nội địa Định-Tường và vùng cù lao. SÔNG CỬU-LONG Người Pháp gọi là Mékong, là một con sông lớn và dài trong các con sông lớn thế-giới, sông Cửu-Long dài 4.200 cây số ngàn, phát nguyên từ Tây-Tạng, trên một cao-nguyên vùng Vân-Nam, chảy qua Ai-lao, Cao-miên và Việt-Nam, làm biên giới thiên-nhiên cho Ai-Lao và Thái-Lan. https://thuviensach.vn Tới Nam-Vang (kinh đô Cao-miên) dòng Cửu Long chia làm ba nhánh : a) Một chảy ngược vào Biển Hồ (Tonlésap) trên đất Cao-Miên. b) và c) Hai nhánh kia : Tiền giang (Fleuve Antérieur) và Hậu giang (Fleuve Postérieur hay Bassac) cả hai cùng chảy song song ra biển. Chính vào lúc sông Tiền giang chia làm năm cửa để đổ ra Nam-Hải thì khúc sông ấy chảy ngang địa hạt Định-Tường. Nhánh chánh của sông Cửu Long vẫn ở phần đất Định-Tường rồi thì : – Cửa thứ nhứt là sông Cổ Chiên tách ra để tưới mát Vĩnh Long. – Ngay tầm cù lao Ngũ-hiệp, phát khởi cửa thứ nhì, là sông Hàm luông, chảy ngang tỉnh Kiến-Hòa (Bến Tre). – Cách đấy một khoảng, đối diện với miền đông cù lao Ngũ hiệp, cù lao An-hóa chia sông Tiền giang làm hai nhánh ra tận biển Nam-hải, bên hữu là sông Ba-lai, bên tả là Cửa Đại, tức là cửa chính của sông Cửu-Long. – Bên tả Cửa Đại là cửa Tiểu tức là cửa thứ năm của sông Cửu-Long, chảy ngang quận Hòa đồng và tỉnh Gò-Công. Sông Tiền-giang, khi nhập vào địa phận Định-Tường thì quanh co hai lượt, trước và sau Cái-bè, rồi sau khi uốn tròn mình trước tỉnh-lỵ Mỹ-tho, lại chảy thẳng ra biển To Cửa Đại. Khi chảy ngang Mỹ-tho chỗ phà Rạch Miễu, sông rộng ba cây số ngàn và chiếc phà phải chạy vòng theo chữ S, trước đầu cù lao Rồng phía Mỹ Tho và hai cù lao nhỏ là cù lao Lân và cù lao Phụng ngang cầu Bắc Rạch Miễu. Lúc đổ ra biển, tại vàm Kỳ-hôn, sông Tiền giang rộng non năm cây số ngàn. https://thuviensach.vn Sông Cửu-Long chảy mạnh, lực lượng dồi dào, lòng sông lắm nơi rất sâu, nhiều tàu lớn có thể ngược giòng Cửu-long đến Mỹ-tho và tỉnh lỵ này khả dĩ tạo thành một bến cho tàu biển lui tới. Nước sông luôn luôn đục ngầu vì đất phù sa và cây lá mục nát dũa mòn bờ sông ở vài nơi, những nơi nằm ngay ngọn nước bị mòn mau chóng và nhiều bưng đất lở sâu vào nội địa bị nước cuốn đi đem bồi nơi khác, như mỏm cực tây cù lao Rồng ngang tỉnh lỵ Mỹ-tho bị lở mãi còn bên kia đông cù lạo lại được bồi lần, thành thử người ta có cảm tưởng rằng cù lao ấy cứ chuyển mình xê dịch càng ngày càng gần bờ châu thành Mỹ-tho. Chính sự hùng hậu của giòng Cửu-long đã tạo nên dãy đất Định-Tường và vẫn tiếp tục biến hình vùng ấy mãi, nay thì lấp vài nhánh phụ lưu, mai lại nhô lên những cồn mới, hoặc bồi rộng những cù lao khác và lấn đất mãi ra biển nhờ những lớp phù sa phong phú. Vì chưng sông Cửu-long bắt nguồn từ các đỉnh non cao nên chịu nhiều ảnh hưởng mùa tuyết tan ở các vùng ấy và lại nhận tất cả nước ở thung lung cao do nhiều phụ lưu mang đến. Thế nên, sông ấy có những mùa nước lũ vô cùng tai hại, nhứt là khi chảy dọc theo những miền núi non chập chồng như Lào thì lại có mưa to, nước chảy ầm ầm, cơ hồ như không có một trở lực nào ngăn cản nổi. Nhờ ở gần biển, Định-tường không sợ nạn hoàn toàn ngập lụt, nhưng miền Đồng tháp là một vùng lòng chảo, luôn luôn bị đe dọa và chính năm 1929 và năm 1961, nước lũ đã làm thiệt hại rất nhiều các vùng ngoài ranh Đồng Tháp. Ngoài mùa nước lũ đặc biệt ấy, sông Cửu-Long còn một thời kỳ nước kém, lúc mùa nắng, và một thời kỳ nước nổi, vào mùa mưa. Ngoài sông Cửu-Long, hệ thống sông ngòi của Định-Tường rất đầy đủ, nhứt là trong vùng « đất cũ » nhờ có các con rạch, thuyền bè lưu thông dễ dàng, dân chúng nhiều khi đào kinh nhỏ nối liền mấy con rạch để cho nước chảy thông. https://thuviensach.vn Định-Tường có tám con rạch chánh chảy từ tây sang đông : 1–RẠCH CÁI-THIA, chảy ngang hai Tổng Phong-phú và Phong-hòa, quận Giáo-đức. Lưu vực này chia làm ba nhánh : a) rạch Cái-cối, dài 21 cây số, bắt nguồn từ Sadec ; b) rạch Cái-thia dài 12 cây số, bắt nguồn từ Đồng Tháp ; c) rạch Mỹ-thiện cũng dài cở 12 cây số. 2–RẠCH TRÀ-LỐT, chảy ngang qua tổng Phong-hòa, quận Sùng-hiếu (Cái-Bè) dài 18 cây số. 3–RẠCH CÁI-BÈ, chia làm 2 nhánh : a) nhánh tây, chảy ngang qua Tổng Phong-hòa, quận Sùng hiếu ; b) nhánh đông, chảy ngang Tổng Lợi thuận cùng một quận. Hai nhánh này gặp nhau tại chợ Cái-bè, làng Đông hòa-hiệp, tạo thành một vàm rộng lớn trước khi đổ vào sông Cửu-long. 4–RẠCH BA-RÀI, chảy ngang Tổng Lợi-trinh quận Khiêm Ích (Cai lậy) và Lợi-Thuận quận Sùng-hiếu, dài 22 cây số. 5–RẠCH TRÀ-TÂN, trong tổng Lợi-hòa, quận Khiêm-Ích. 6–RẠCH GẦM, chảy ngang tổng Thuận bình, quận Long-định, dài 11 cây số. 7–RẠCH BẢO ĐỊNH, chảy ngang tổng Thanh-quơn, quận Bến tranh và tổng Thuận-trị, quận Long định (Châu thành). Rạch này rất quan trọng vì là con đường lưu thông giữa hai sông Vàm Cỏ (vàm cỏ Đông và vàm cỏ Tây) với sông Cửu-long. Thời Pháp thuộc, rạch này gọi là « Arroyo de la Poste » (Rạch Bưu chính) vì do đó mà thơ tín, bưu-điện, từ Tân an chở qua Mỹ-tho, khứ hồi. 8– RẠCH KỲ-HÔN, chảy ngang tổng Hòa-hảo, quận Chợ Gạo. Chúng ta nhận thấy trong 8 con rạch tỉnh Định-tường, đã hết 5 rạch làm đường lưu-thông vận chuyển đất phù sa bồi đắp cho vườn ruộng Cái Bè và Cai-lậy cũ, nay là Sùng hiếu, Giáo Đức và Khiêm-Ích nhờ đó tăng thêm sự sung túc màu mỡ cho các loại hoa màu và cây ăn trái được oằn sai, https://thuviensach.vn mỗi năm hai vùng này thâu vô một số huê lợi khá to về số sản xuất cây trái rau cải chở lên thủ-đô tiêu thụ đem lại sự thịnh vượng no ấm cho đồng bào với đời sống thanh thoản dư ăn dư để. Chúng tôi đã trình bày về phần tổng quát Địa lý của Định-Tường nói chung, các quận nói riêng, nhận thấy đất phù sa trồng cây gì xuống cũng mau tốt và chóng có trái vì nước mặn lên không tới, từ Ba-rài đổ lên Sùng Hiếu, Giáo-Đức đều là nước ngọt quanh năm, một nguồn lợi thiên nhiên đáng kể dưới lòng sông Cái-Bè có rất nhiều ốc gạo mỗi năm bán hàng mấy triệu bạc, ốc này chánh-phủ có cho đấu giá thủy lợi hàng năm đem lại một số lợi tức cho tỉnh đáng kể. Cù-lao Thới-sơn, một trong những cù-lao phong-phú nhứt của tỉnh Định tường nằm trên dòng sông Cửu-Long, ngang quận Cái-Bè. https://thuviensach.vn PHẦN THỨ NHÌ : DANH NHÂN – ANH HÙNG NHO SĨ KHÁNG PHÁP https://thuviensach.vn ĐỖ-THANH-NHÂN Chúa tướng binh Đông-Sơn tiết liệt, đóng quân tại Ba-Giồng Định-Tường. Đỗ-thanh-Nhân quê ở huyện Hương-Trà, tỉnh Thừa-Thiên (Trung Việt), sau dời vào Nam, ngụ ở huyện Kiên-Hưng, thuộc tỉnh Định-Tường xưa. Ông cùng với Võ-Tánh, Châu-văn-Tiếp nổi danh « Gia-Định Tam hùng », có thuyết cho rằng « Gia-Định tam hùng » là Đỗ-thành-Nhân, Võ Tánh và Nguyễn-huỳnh-Đức chớ không phải Châu-văn-Tiếp. Nhưng theo đa số sách báo xưa nay đều ghi « Gia-Định tam hùng » như chúng tôi đã nêu trên. Tinh thông võ nghệ, nhân thời loạn Ông chiêu tập và đào luyện dân tráng quanh vùng để phòng khi có biến cố gì thì đủ sức đương đầu. Bởi thế, khi Chúa Định-vương Nguyễn-phúc-Thuần cùng với cháu là Nguyễn-Ánh bị Tây-Sơn đánh đuổi chạy vào Nam. Ông đã sẵn có lực lượng xướng nghĩa phò chúa Nguyễn. Vốn người có uy-tín, một tiếng gọi đàn của Ông, đủ có hàng ngàn người đáp ứng trong một thời gian ngắn. Đầu hôm sớm mai, Ông thành lập ngay đạo binh nghĩa dũng hơn 3.000 người, đóng ở căn cứ địa Ba Giồng một vùng hiểm trở trong tỉnh Định-Tường. Để đủ oai quyền chỉ-huy binh tướng, Ông tự xưng là Phương danh hầu, và để biểu-lộ rõ rệt ý-chí sắt đá chống đối Tây-Sơn binh của Ông gọi là binh Đông-Sơn. Tây-Sơn hùng mạnh, Đông-sơn của ông cũng chẳng kém gì. Mỗi khi Đông Tây chạm nhau, binh Ông mười trận thắng đến bảy. Oai danh ông lừng lẫy đến nỗi quân Tây-Sơn vẫn thường bảo nhau phải đề phòng khi thấy cờ hiệu của Ông xuất hiện. Đinh-Dậu 1777, chúa Định-Vương chạy xuống huyện Long-Xuyên (Cà-Mau) bị Tây-Sơn đón bắt được, giải về Sài côn (Saigon) hành quyết. https://thuviensach.vn Trước cái tang lớn ấy, ông càng căm hận quyết chẳng đội trời chung với Tây-Sơn, hăm hở dốc toàn lực ủng-hộ Nguyễn-Ánh tiếp tục chiến đấu, chiếm lại thành Gia-Định. Mậu Tuất 1778, trong trận đại chiến với Tây-Sơn ở sông Bến Nghé, Ông và Lê-văn-Quân giết Tư Khấu Oai, dũng khí đằng đằng, ba quân đều kinh khiếp. Bấy giờ, Chân Lạp có nội loạn, gây biến động đến bờ cõi ta, Ông và Hồ văn Lân vâng mạng chúa Nguyễn đi đánh dẹp. Sau khi giết hoàng thân Nặc ông Vinh là người đã gieo mầm rối rắm, Ông cho phù lập con của Nặc ông-Tôn là Nặc-Ấn lên ngôi Chân-Lạp, không đầy một tháng đâu đó bình định xong. Ông lưu Hồ văn Lân ở lại Chân-Lạp với tư-cách bảo-hộ, giám quốc ; còn Ông thì trở về Gia-định. Công lao của Ông rất to, nên năm Canh-Tý 1780, Ông được phong Quận-Công. Và cũng từ đấy Ông đâm ra ngạo mạn, tự phụ vì công cao chức trọng của mình mà hách dịch vô cùng. Đã thế, tính ông vốn cương-trực khẳng-khái, dám nói dám làm không kiêng nể chi ai. Do đó, Ông bị chúng ganh ghét. Mặc ! Ông không một chút quan tâm, vẫn thẳng thắn trong công việc mình làm. Ngày kia, Ông ra lịnh cho các quan địa-phương cung-cấp quân-lương, tu tạo chiến thuyền. Nhiều nơi trễ hạn kỳ, ông trừng phạt gắt gao ngay. Có quan huyện Đặng-hữu-Tâm vốn là người thanh-liêm mẫn cán, rất được lòng dân. Thấy lịnh của ông quá nghiêm-khắc, Đặng-hữu-Tâm thân đến dinh Ông mà trần tình lẽ thiệt hơn, xin Ông triển hạn và nới tay cho dân chúng bớt xôn xao lo lắng, Ông chẳng những không nghe, lại còn giết Đặng-hữu-Tâm đi. Dân chúng thương tiếc quan huyện, tỏ vẻ bất bình. Ông càng đàn áp mạnh. Chưởng cơ Huỳnh Thiên Lộc gièm với Nguyễn-Vương : https://thuviensach.vn – Đỗ quận Công càng ngày càng ỷ thế lộng quyền, không khéo sẽ làm mất lòng dân mà bất lợi cho đại cuộc. Hơn nữa, bấy lâu nay tôi xem ra Đỗ quận Công còn nuôi chí soán đoạt, vì cậy có binh ròng tướng mạnh. Nếu nay Chúa thượng không trừ đi, e sanh hậu hoạn. Nguyễn-Vương trầm ngâm giây lâu khẽ hỏi : Ta phải làm sao ? Huỳnh-Thiên-Lộc đáp nhỏ : Phải làm như thế… như thế… Nguyễn-Vương khen hay. Cách mấy hôm sau, Đỗ thanh Nhân bỗng tiếp được chỉ triệu bàn việc cơ mật. Ông chẳng chút nghi ngại, lên ngựa ra ngay ? Nào hay bị gạt vào Nghị sự đường, quân mai phục đổ xô ra bắt Ông trói lại. Rồi đó Ông bị ghép vào tội phản nghịch, hành quyết trong ngày 23 tháng 3 năm Tân Sửu 1781. Ngay khi được tin chẳng lành, hai tướng thuộc hạ trung kiên của Ông là Võ-Nhàn và Đỗ-Bảng lấy làm căm gan tím ruột bảo nhau : – Chủ tướng của ta tội tình gì mà bị bắt xử trảm ? Đây là tên xàm nịnh Huỳnh-Thiên-Lộc cố ý ganh tỵ hãm hại chúa tướng của ta. Để xem Vương thượng có thái độ nào, chừng ấy ta sẽ đối phó. Đến khi thấy Nguyễn Vương một mực xuống chiếu hành quyết Đỗ-thành-Nhân, hai dõng sĩ Võ-Nhàn, Đỗ-Bảng dậm chân bảo nhau : – Thế này đã rõ là Vương Thượng lòng dạ quá hẹp hòi, chưa chi đã học thói đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nôm ! Chúng ta không thể tùng phục được nữa. Một mặt, hai tướng xin xác Đỗ-thành-Nhân về chôn cất, một mặt dự trù kế hoạch phản kháng. An táng xong, cả hai rút binh Đông-Sơn về Ba Giồng, xưng hùng một cõi, chống cả Tây-Sơn lẫn Chúa Nguyễn. Và chẳng bao lâu, binh Đông-Sơn bắt được Huỳnh-thiên-Lộc, đem giết để trả thù cho chủ tướng. https://thuviensach.vn Nguyễn Vương hay tin này lấy làm hối hận cho việc làm đã lỡ, bèn phái người đi khuyến dụ : – Ngày trước chỉ vì chúa thượng tin gièm, nên mới giết oan Đỗ quận công. Kẻ xàm nịnh ấy chính là Huỳnh-Thiên-Lộc nay đã đền tội. Vậy xin tướng sĩ Đông-sơn hãy quên chuyện cũ, chung nhau lo việc lớn. Chúa Thượng quyết chẳng quên ơn, sẽ truy điệu phong tặng hương hồn Đỗ quận công trọng hậu. Nhưng hai tướng Võ-Nhàn, Đỗ-Bảng không tin nữa, cương-quyết chẳng trở về với Nguyễn-Vương, thà đành một chết và toàn thể binh Đông sơn giải tán cho trọn niềm với chủ cũ. Quả thật hai tướng ấy chống đối với chúa Nguyễn đến cùng, gây bao cảnh núi xương sông máu, về sau thất cơ binh Đông-sơn tan vỡ, không một ai ra đầu chúa Nguyễn. Cách nay hơn nửa thế kỷ, có nhà thơ Nguyễn-Liên-Phong đề vịnh, có ý trách họ Đỗ qua một bài thơ dưới đây : Cờ nghĩa Đông-sơn nổi tợ phao. Tấm kình Nam-Hải sóng đang xao Thời may gặp chúa trang trần thánh Vận rủi xui tôi thói Mãng Tào Mấy thứ công lao trôi bích thủy, Ba hùng danh tướng nhẹ hồng mao. Suối vàng như gặp Châu hùng võ Hồn luống ăn năn biết tại sao. Họ Đỗ bị giết, oan hay ưng ? còn nghi vấn, xuyên qua việc hai tướng Võ-Nhàn, Đỗ-Bảng nối chí họ Đỗ mà chỉ-huy binh Đông-Sơn, một mực không phục Chúa Nguyễn nữa, đủ tố giác ít ra Chúa Nguyễn đã có phạm lỗi lầm một phần nào trong việc giết Đỗ-Thanh-Nhân một danh-tướng lẫy lừng, Tây-Sơn nghe qua khiếp sợ. https://thuviensach.vn Hiện nay chúng tôi mới vừa tìm được ngôi mộ của vị anh hùng dân-tộc tọa lạc tại Phú-Lâm trong vuông đất của Hòa Đồng Tôn Giáo, phía sau quốc lộ số 4 vô chừng hai trăm thước. Ngôi mộ này nằm trên một gò đất cao ráo, chung quanh có xây tường bằng hồ ô vướt, rêu phong cỏ mọc, trước có dựng một mộ bia bằng đá cẩm thạch khắc mấy dòng chữ nho như sau : Uy-nghiêm tướng quân, Thần sách quân tả quân thống-chế, gia cấp thị trung cần, Đỗ phủ quân thần mộ. Hiếu tử Hồng nhân lập thạch ! Chúng tôi đến viếng mộ lòng luống bâng khuâng, hồi tưởng đến công nghiệp của Ngài, hy sinh xương máu bảo vệ non sông, nhưng vì lòng cang trực ngay thẳng của Ngài, bị sự hiểu lầm của nhà vua làm mất một trang anh hùng của dân tộc. Đây chúng tôi chỉ tóm tắt qua vài nét đại cương về cuộc đời của Ngài, muốn rõ chi tiết xin đón đọc quyển « Gia-Định Xưa và Nay » sẽ được thỏa mãn qua phần tiểu sử. https://thuviensach.vn TẢ QUÂN LÊ-VĂN-DUYỆT Xuất thân theo phò Chúa Nguyễn tại Long-Hưng (Định-Tường), vị Tổng-Trấn đầu tiên ở miền Nam, oai đức vang rền. Một trong những nhân vật lừng-lẫy ở Nam Kỳ, thời xưa lưu danh hậu thế là Ngài Tả quân Lê-văn-Duyệt, gốc người Chương Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi (Trung Phần). Thời kỳ Nguyễn Trịnh tranh phong, Ông nội Ngài là Lê-văn-Hiếu vào đất Nam Kỳ nương ngụ tại làng Hòa Khánh thuộc tỉnh Định-Tường vàm Trà Lọt, với con là Lê-văn-Toại (kêu là Phước). Sau ông Toại sinh đặng 4 trai, Lê-văn-Duyệt là con trưởng. Tướng người lùn thấp, ăn nói nhanh lẹ tỏ ra thông minh đĩnh ngộ, Ngài ưa thích chơi gà nòi, hằng bữa ngài thường đến các chỗ có gà để cho nước, vì Ngài chơi với một lý tưởng cao thượng, gà là một giống gan lì thà chịu chết tại https://thuviensach.vn trường chớ không lùi trước sự tấn công của địch thủ, nhờ chơi gà mà Ngài nuôi được cái chí cang trường, với tinh thần bất khuất. Ngài mới lên 8 tuổi, Ông nội Ngài đã vương bịnh thời khí bỏ mình. Sau khi an táng tại vàm Trà-Lọt, Ông Lê-văn-Toại thân sinh Ngài qua cư trú tại Rạch Gầm, nay là làng Long-Hưng, tại Rạch Ông Hổ cũng về tỉnh Định Tường, lúc nhỏ Ngài có học chữ nho song Ngài không thích lai vãng sân Trình lại chuyên về võ nghệ. Bởi chưng gia đình của Ngài vào sinh cơ lập nghiệp ở Nam kỳ từ đời ông nội, nên đồng bào miền Nam xem Ngài là người sanh trưởng ở Định Tường vậy. Ngài lại hoạn, nhưng sức khỏe, võ nghệ hơn người, thường than rằng : Làm trai sống trong thời loạn không giúp ích gì cho quê hương xứ sở là một điều rất tủi nhục, Ngài đã hoài bão đến nước non, nuôi ý chí chờ cơ hội thực thi nguyện vọng. Năm Canh-Tý (1780) Nguyễn-Ánh trên đường bôn tẩu vào Nam ghé qua Định-Tường, gặp Ông tại làng Long-Hưng thâu nạp, lúc bấy giờ Ông theo chân chúa Nguyễn, một lòng phò tá, vào sanh ra tử, Ông được sung Thái giám nội đình, năm 1783 khi Chúa Nguyễn chạy sang Xiêm, Lê-văn Duyệt lãnh bảo-hộ cung quyến tại Phú-Quốc, lúc ấy Ngài được thăng làm Cai-Cơ, quản suất hai đội quân thuộc nội. Mùa thu năm Đinh-Tị (1787) Nguyễn Vương chiếm được thành Gia Định, Lê-văn-Duyệt mộ thêm binh và lệ tùng Tả Quân. Từ ấy, Ngài lập nhiều chiến-công oanh-liệt, nhứt là năm Tân-Dậu (1801) ngày 16 tháng giêng đại phá chiến thuyền Tây-Sơn tại cửa biển Thị Nại. Rồi cùng chúa Nguyễn ra đánh lấy Phú-Xuân (Huế) một cách dễ dàng. Năm Nhâm Tuất (1802) Gia-Long nguyên niên, Ngài được thăng Khâm Sai Chưởng Tả quân Dinh Bình-Sơn tướng quân, Tước quận công https://thuviensach.vn cùng Lê-Chất, đem bộ binh đi tiền phong tiến đánh tới Bắc-Thành bắt được Nguyễn-Quang-Toản là con Nguyễn-Huệ. Thâu phục và sắp đặt yên bài nước Nam rồi, Vua Gia-Long còn chưa chịu bãi binh, muốn để đặng đắp thành bồi lũy, hầu kiên cố đế đô cho vững chắc. Lê-văn-Duyệt là viên võ-tướng duy nhứt can đảm, nhiều lần nhắc nhở nhà vua xin thả lính về quê, bởi vua Gia-Long có hứa ngày nào khắc phục cơ đồ thì lính Nam-kỳ được phóng hồi hưu tức. Năm 1812 Vua Gia-Long phái Ngài làm Tổng trấn Gia-Định-Thành, Trương-tấn-Bửu ở huyện Kiến-hòa làm phó Tổng trấn, Ngô-Nhân-Tịnh làm Hiệp Tổng Trấn. Năm 1813, Vua Cao Miên là Nặc-ông-Chân bị em là Nặc-ông-Nguyên viện binh Xiêm-La đánh đuổi chạy xuống Saigon. Vua phái Ngài điều đình việc Xiêm Nguyên. Ngài dẫn binh đưa Nặc Ông về Lô-Bích thành (Lovek) Xiêm lui binh không dám cự địch và từ đấy Nặc-ông-Chân chịu quyền bảo hộ của nước Việt-Nam. Trong mấy năm qua, Lê-văn-Duyệt bình định đất Nam kỳ trừ hung khử bạo, bắt tên hung đồ là « Phụng ba đuôi », dẹp bọn giặc mọi Đá Vách ở dọc theo dãy Trường-sơn, từ Quảng-Ngãi giáp Quảng-Nam, đánh tan bọn giặc Miên do một nhóm thầy chùa Thổ tên Kê cầm đầu tại Định-Tường. Xuyên qua cuộc đời công lao khổ nhọc của Lê-văn-Duyệt giúp vua Gia-Long thống nhứt sơn hà gồm thâu thiên hạ, Lê Tả quân còn bộc lộ trong việc chọn cung. Ngài cùng một nhóm quan khác, xin tôn hoàng tử Đán là con trai lớn của Đông Cung Cảnh đã từ trần, trái ý vua muốn lập hoàng-tử Đảm là con dòng thứ sanh trong Gia-Định. Vì việc này nên khi tức vị, hoàng tử Đảm lấy niên hiệu Minh-Mạng, hằng đem lòng cừu hận Ngài Tả quân. Trong khi Lê-văn-Duyệt trấn nhậm Nam-kỳ, không hề tư vị kẻ có tội, bất câu sang hèn, Ngài ra lịnh xử trảm https://thuviensach.vn Huỳnh-công-Lý là một người tánh tình, tà vạy, ỷ mình là quốc trượng nên làm nhiều điều ngang dọc. Từ khi Huỳnh-Công-Lý bị giết, Lê-văn-Duyệt luôn luôn bị dòm ngó. Trong việc trị quốc an dân, Ngài thương xót gia đình của những người vì nước bỏ mình, lập ra hội cứu cấp kêu là hội « Anh Hài » cùng hội « Giáo-Dưỡng » để cứu giúp những trẻ mồ côi cùng những người quả phụ của binh sĩ. Lúc bấy giờ nước Xiêm La hay quấy nhiễu xứ Cao-Mên là một xứ được Việt Nam bảo hộ nên Lê Tả Quân có một chương-trình chinh-phục Xiêm-La. Ngài tính chia binh đánh cả hai mặt, một mặt đường bộ thì do ngã Cao Miên kéo qua, còn mặt thủy thì Ngài ra lịnh đào kinh Vĩnh-Tế nối liền Châu-Đốc Hà-Tiên để làm trục giao-thông, thật ra chiến-lược, chiến-thuật của Ngài rất tinh-tế, kinh Vĩnh-Tế vừa đào xong thì vua Gia-Long băng hà, vua Minh-Mạng và Lê Tả quân bất đồng ý kiến nên cuộc diện Nam kỳ từ đó mới có cuộc gió mây thay đổi. Năm Nhâm Thìn 1832 đêm 30 tháng 7 Lê Tả Quân thất lộc hưởng thọ 69 tuổi, rồi cũng không bao lâu sau đó Lê Tả quân mạng phụ cũng tạ thế. Khi Ngài chết rồi vua Minh-Mạng phái người vào thành Phiên An, viên Bố Chánh Bạch-Xuân-Nguyên với mật lịnh mở cuộc điều tra về cách cai trị của Tổng-Trấn Lê-văn-Duyệt kiếm cớ buộc cho có tang tích ngõ hầu bắt tội và làm nhục Ngài cho bõ ghét. Vì cuộc điều tra thiên lệch của Bạch-Xuân-Nguyên mà nhóm võ quan tâm phúc của Tả quân là Lê-văn-Khôi, Hoành và Trấn nổi lên làm phản giết Bạch-xuân-Nguyên, chiếm cứ cả Nam Kỳ mãi đến năm 1835 Khôi thọ bệnh chết, binh Triều mới dẹp an. Vua Minh-Mạng dạy kết án phạt Lê Tả quân những tội không chánh đáng, do lòng căm hờn nhỏ nhen kết tạo, truyền quan tỉnh Gia-Định đục tên trước mộ Lê Công rồi dạy dựng một tấm bia đá để chữ to : « Quyền yêm https://thuviensach.vn Lê-văn-Duyệt phục Pháp Xứ » (nghĩa là nói tên hoạn to quyền Lê-văn Duyệt chịu pháp nước). Thật ra việc làm của Minh-Mạng đối xử một bực công thần như thế đáng cho lịch sử phê phán sau này… Năm Mậu Thân (1848) vua Tự-Đức vị giải hàm oan cho Tả quân, ngài ra lịnh thủ tiêu tấm bia trước mộ và cho xây đắp ngôi mộ của Ngài lại như chúng ta đã thấy ngày nay tại làng Bình-hòa xã trước Tòa Hành-chánh Gia Định. Theo một vài truyền thuyết của các vị bô lão Long-Hưng Định-Tường kể lại, ngôi mộ ở Gia-Định là nơi Ngài trấn nhậm xây để tượng-trưng, còn ngôi mộ tại Long-Hưng chính là nơi Ngài gởi nắm xương tàn trên mảnh đất quê hương khi Ngài xuất thân phò chúa Nguyễn. Theo truyền thuyết trên đây không biết cái nào đúng ? Đây là những nét đại cương qua cuộc đời thân thế của một đấng công thần, lưu lại những trang sử oai hùng, nêu cao thanh giá cho đất nước nói chung, tỉnh Định-tường nói riêng. Ngày nay tại Gia-Định có đền thờ và lăng Ngài, có ban quản trị lo việc trùng tu tế tự hàng năm, mỗi lệ cúng có hát bộ ba thứ, khách thập phương cũng như đồng bào quanh vùng đô thành với lòng sùng-kính vô biên. Chúng tôi có dịp đọc qua những đàn giáng cơ của Ngài về khuyên bảo lê dân tu hành, và cho biết tương lai đất nước Việt-Nam v.v… https://thuviensach.vn Linh vị thờ Đức Tả quân tại đình thần Long-hưng. https://thuviensach.vn HỒ-VĂN-LÂN Thiếu bảo Quận Công lừng danh trận đánh tại Mỹ-Tho từng nắm quyền bảo hộ Chân-Lạp. Kể về việc nắm quyền bảo vệ Chân-Lạp, hẳn không ai không nghe tiếng « Bảo-hộ Thoại » và « Bảo-hộ Lân ». Chính ông là người điều-khiển guồng máy nội an của Chân-Lạp, còn Thoại-ngọc-hầu Nguyễn-văn-Thoại thì mãi về sau mới xuất hiện trên chính trường Chân-Lạp một dạo. Đức độ và tài-năng của Ông Hồ-văn-Lân, từng được dân chúng Chân-Lạp mến phục. Ông người huyện Kiến Hưng thuộc tỉnh Định-Tường. Sát cánh với hổ tướng Dương-công-Trừng và chúa tướng binh Đông-Sơn là Đỗ-Thành Nhân chiến-đấu oanh-liệt chống Tây-Sơn, Chân-Lạp, ông nghiễm nhiên là chiến-hữu đắc lực của hai nhân vật lừng danh ấy. Cũng như bao võ tướng miền Nam đứng về phe ủng-hộ Chúa Nguyễn Ánh, ông đã dày công hạn mã, tận tâm tận lực với Chúa Nguyễn đến phút cuối cùng. Và điểm đặc biệt ở ông tuy là võ tướng mà tính nết ông rất mực khiêm cung, nhu-hòa. Bởi thế, trong trường hợp đi đôi với Đỗ-Thành-Nhân hay Lê-văn-Quân, tính nết nóng nảy kiêu căng của họ Đỗ và họ Lê nhờ có thái-độ ôn-hòa của Ông chế khắc, đem lại nhiều thắng lợi vẻ vang trong việc chinh phục lòng dân. Từ khi theo khuôn phò chúa Nguyễn-Ánh nơi Mỹ-Tho, có thể nói rằng cuộc đời chinh-chiến của ông đã từng gian khổ hơn hết các tướng, trên khắp nẻo đường khói lửa miền Nam. Xuất thân làm Cai Cơ, ông xông pha trận mạc rất oai hùng. Đinh Dậu 1777, hội binh nơi Long-Hồ, ông cùng với Dương-Công Trừng tảo thanh Tây-Sơn ở khắp mặt trận. Vừa yên, lại được lịnh cùng với https://thuviensach.vn Đỗ-thành-Nhân đi dẹp cuộc nội loạn ở Chân-Lạp. Bấy giờ, lực lượng quân đội của ta do hai tướng Đỗ thanh Nhân và ông chỉ huy, chỉ trong một thời gian ngắn bình định xong Chân Lạp, Đỗ-thanh Nhân giết chết Nặc-ông-Vinh, lập con Nặc-ông-Tôn là Nặc-Ân lên ngôi Vua Chân-Lạp, đoạn kéo binh trở về Gia-Định phục mạng. Còn ông thì ở lại đây nắm quyền giám quốc, lo việc bảo hộ. Chẳng bao lâu Tây Sơn vào đánh lấy Gia Định. Chúa Nguyễn chạy sang Xiêm. Ông lập tức trở về, thâu thập binh ròng dàn trận tại Long Hồ, ra sức ngăn chống. Chúa Nguyễn phong ông làm Chưởng Cơ, điều khiển tướng sĩ. Nhưng thời thế chưa nên, sức người có hạn, sau mấy lượt tấn công vô hiệu quả, ông đành lui quân, tạm cho phân tán để bảo toàn chủ lực chờ cơ hội. Sắp đặt xong, ông sang Xiêm bái yết Chúa Nguyễn báo cáo tình hình và hoạch định chiến lược ứng phó về sau. Đinh Tỵ 1787, liệu đã đủ sức đẩy lui Tây Sơn, Chúa Nguyễn chuẩn bị lìa nước Xiêm kéo quân về. Ông được lịnh đi trước về Kiên Giang, tập họp tướng sĩ nhóm tại Mỹ Tho. Rút kinh-nghiệm trận đánh ở Long Hồ ngày nọ, phen này ông tổ chức tình báo hoàn bị, truyền thông tin tức nhanh chóng để phòng khi kêu gọi tiếp ứng nhậm lẹ. Mặt khác, các cơ cấu phòng thủ ông cũng bố trí chặt chẽ. Có thể nói cuộc hội binh nơi Mỹ Tho đây, một phần lớn do cơ mưu trí lược của ông sắp xếp, khiến toàn thể tướng lãnh đặt dưới quyền ông chỉ huy, ai nấy đều phục tài và sẵn sàng tuân lệnh chiến-đấu dũng mãnh. Dường như ông có quyết tâm cứu vãn danh dự mình trong trận thua thiệt ở Long Hồ, nên ông dàn trận tại Mỹ Tho trăm phần châu đáo. Ông lại hiệu triệu tướng sĩ với những lời lẽ khích động sôi nổi, thúc đẩy người người phải đứng lên đánh một trận to tát để đời. Quả nhiên, với kế hoạch đã có nghiên cứu kỹ, với quyết tâm chiến thắng, phục thù rửa hận, đại binh ông toàn thắng trong những trận quyết- https://thuviensach.vn liệt, vượt mọi chướng ngại để khắc phục từng vị trí một. Từ Mỹ-Tho dần dần đại binh ông phối-hợp với các đạo binh khác, tiến như vũ bảo, thẳng lên Gia-Định. Thành công đúng như kế hoạch của ông đã trình bày cùng Chúa Nguyễn khi còn lưu vong nơi Vọng-Các. Luận công phong thưởng, Chúa Nguyễn khen ngợi và ban lễ vật cho ông trọng hậu. Tiếc thay ! Giữa cảnh vinh quang, ông đã cảm thấy thân-thể uể-oải nhuốm bịnh. Hẳn là vì đã lao tâm lao lực quá độ trong một trận mà ông đã tuyên ngôn quyết để đời. Và ông đã hoàn thành được theo như lời đã tuyên bố. Còn gì vinh hạnh bằng. Thế nên nhuốm bịnh mà ông vui sướng chẳng có điều gì phải ân hận. Những ngày ông nằm bệnh là chuỗi ngày ông tận hưởng được tất cả hương vị của tình bạn bè lui tới viếng thăm ca tụng. Điều chẳng ai ngờ, ông bịnh không bao lâu thì mất. Chúa Nguyễn và các chiến hữu của ông những tưởng ông chỉ cần nghỉ ngơi trong ít lâu thì bình phục sức khỏe như thường, dè đâu ông lại mất đi như thế. Thân làm tướng, chết giữa sa trường là sự thường, hay mang thương nặng mà lây lất tháng ngày đến bỏ mình cũng là điều thường thấy, và hai lẽ vị quốc vong thân ấy, đều khiến được người người cảm khái. Đến như tâm kiệt lực để thành toàn cho kỳ được chí nguyện, rồi phút cuối cùng nắm phần thắng lợi thì ngã bệnh mà mất, càng chứng tỏ tâm trí kiên trì tấc thành không gì lay chuyển nổi, đáng thương mến vô cùng. Cố nhiên, Chúa Nguyễn phải hoài niệm công ân của ông hơn ai hết. Sau khi nhất thống sơn hà, lên ngôi vua tức Gia-Long, nhà vua truy phong ông là Thiếu Bảo Quận-Công. Âu cũng chút đền bồi, an ủi tấm lòng tận trung của người thiên cổ đáng kính. https://thuviensach.vn LƯƠNG NĂNG BÁ NGUYỄN VĂN HIẾU Một võ tướng thanh-liêm, cương-nghị. Nói đến các Danh nhân khuôn phò chúa Nguyễn thống nhứt san-hà, chúng tôi phải nói đến ông Nguyễn văn Hiếu người Định-Tường có công rất lớn với vua Gia-Long, ông là người có tài, có đức, tánh tình cương trực và liêm khiết, quan dân đều kính nể. Ông Nguyễn văn Hiếu người thuộc tỉnh Định-Tường (Mỹ-tho) ông thân sinh húy là Đán, được tặng chức Chưởng-vệ Cẩm y, Ông Hiếu lúc còn hàn vi, cắt cỏ thuê để sinh sống. Năm Ất-tị 1785, ông theo Võ-Tánh khởi nghĩa binh ở Gò Khổng tước (tức Gò Công), cùng giặc giao chiến, giết được giặc rất nhiều tại đầm Vạn-Thắng. Mùa thu năm Đinh-mùi 1787, đức Thế-Tổ Cao-Hoàng ở Vọng-Các về, gởi trao ông Hiếu chức Tổng-nhung Cai-cơ. Đại binh tiến đóng ở Hồi-oa (nước Xoáy), ông Hiếu đến yết kiến, được trao chức Khâm sai Cai-cơ, và một cái yêu bài (thẻ bài đeo ở lưng) để theo quân đánh giặc. Năm Tân-hợi 1791, ông được bổ chức Cai-đội Hữu chi Nhập-nội-đạo ; sau đó được thăng Cai-cơ, năm Bính-thìn 1796, thăng Hữu-chi Phó trưởng-chi ; liền sau đó, được thăng Chánh Trưởng-chi. Năm Tân-dậu 1801, ông theo ông Võ-Tánh giữ thành Bình-định, đánh với quân địch ở cửa Đông thành trúng đạn ở chân, nên bị địch bắt, sai Ông đem binh của Chi mình làm kỳ binh (binh lẽ ở ngoài, thừa lúc địch vô ý mà đánh) hậu tập. Ông Hiếu bèn dẫn quân chạy về với quân ta. Tháng 9, ông đánh úp quân địch ở Trà Sơn, thắng được thưởng 7 trăm quan tiền. Năm Nhâm-tuất 1802, Ông được thăng Phó tướng Hữu-quân, đem binh đồn thú Bình-định. Năm Quí-hợi 1803, xuống chiếu sai Ông theo Tả quân Lê-văn-Duyệt đem binh đánh Ác-nam ở Quảng-Ngãi (tức mọi Đá-vách). Năm Mậu Thìn, 1808, ông quyền lãnh chức lưu thủ Bình-định, rồi lại được phái theo ông Lê-văn Duyệt trong việc binh. Sau đó, ông được triệu về kinh. Năm Canh-Ngọ https://thuviensach.vn 1810, ông được phái đem binh ở Bắc-thành, mùa đông năm ấy ông kiêm lãnh chức Đề-Thinh rồi kế gặp tang mẹ ông nghỉ việc. Sau đó, ông được làm trấn-thủ Sơn-nam-hạ (tức tỉnh Nam-định). Ông Hiếu tính người thanh-liêm, cương-nghị, không cẩu thả trong việc lấy của người khác, thường nghiêm cấm bọn môn hạ, không cho giao thiệp với người ngoài, trong những dịp lễ tiết, có ai biếu tặng vật gì Ông đều khước từ, vì vậy mà khi làm quan, chốn hoạn-xá rất tiêu-điều, lương bổng chỉ đủ dùng, cuối năm là hết, thế mà ông cũng không mong cầu cho dư đủ. Bà phu-nhân thường đem điều ấy thưa với ông, ông cười nói : « Bà không nhớ lúc cắt cỏ thuê sao ? Lúc ấy khi đi đâu thì vợ chồng phải đổi áo mà mặc, chỉ lo cái ăn đủ mỗi ngày, nay sánh với xưa, đã hơn gấp mấy lần, thế mà còn muốn lấy của bất nghĩa để làm giàu sao ? » Từ đó, bà phu-nhân không dám đem tài lợi mà thưa với ông nữa. Ông Hiếu tuy xuất thân Võ biền, nhưng hành động, cử chỉ, có phong độ một Nho thần. Các vị cử-nhân tân khoa đến yết, ông tiếp đãi rất ân cần, rồi hiểu thị rằng : « Mười năm đèn sách mới có ngày nay, tôi xin mừng cho các thày. Ngày sau, được bổ dụng làm quan, cũng nên gìn giữ như lúc tân khổ hồi đi học, chớ có xa xí thái quá để mang vết xấu cho thân danh, và phụ ý tốt chọn lựa nhân tài của Triều-đình. » Ông Hiếu khi làm quan đã thi thố nhiều huệ chính, nên được dân thương mến ; lại nghiêm trị thuộc lại, thuộc lại đều kính sợ. Trong Hạt nhiều trộm, ông Hiếu đến, bọn trộm bảo nhau rằng : « Ông Trấn-thủ là người nhân hậu, ấy là Phật xuất thế, bọn chúng ta phải tránh đi. » Vì đó, ông đến đâu thì trộm đều tránh xa. Năm Minh-Mạng thứ 2, giá Thánh-Tổ Nhân-hoàng-đế Bắc tuần, nghe ông Hiếu trị dân có chứng tích, triệu đến hành tại ở Thăng-Long, thăng thưởng một cấp, ban cho một thiên-lý kính mạ vàng, một con dao có chạm https://thuviensach.vn khắc và mạ vàng, và một khẩu súng chữ kim, rồi bổ ông làm Án-trấn Thanh-Hóa. Ở Thanh-hóa, một hôm có chức Thổ-ty đem lễ hậu đến ra mắt, ông Hiếu lấy lời ôn tồn từ khước, bảo đem ra. Có một gã đầu xanh ở nhà bếp lẻn ra theo, dọa nạt người Thổ-ty, lấy một nửa lễ vật. Ông Hiếu biết được, giận lắm, lập tức sai kéo ra chém, các quan đều can gián, nhưng ông không nghe. Chém rồi, ông xin chịu tội với Triều-đình. Vua cho là ông Hiếu thiện tiện giết, giáng 3 cấp, vẫn lưu lại chức cũ. Năm Minh-Mạng thứ 7, ông Hiếu cùng quan trấn Nghệ an hội binh bắt được tên giặc Ninh-Tạo, vua xuống chiếu hậu thưởng và triệu ông về kinh, ông vào bái kiến, vua hỏi : « Trấn khanh có yên không ? » Ông tâu : « Yên. » Lại hỏi : « Khi trước khanh trấn Nam-định, thấy dân vật, phong-tục trấn với Thanh hóa thể nào ? » Ông tâu : « Dân Nam-định đa trá, không bằng dân Thanh-hóa thuần phác hơn. » Liền đó ông được thăng Thần sách Tả dinh, Phó đô Thống-chế, lãnh chức trấn thủ Nghệ-an. Năm Minh-Mạng thứ 8, thổ phỉ đã dẹp xong, vua sai ông Hiếu xưng chức kinh lược Đại-thần, cho bạc 200 lượng, cùng Hình bộ thượng thư là Hoàng-kim-Xán làm Phó sứ, Binh-bộ Thị lang là Thân văn Duy làm Tham biện Kinh-lược sự vụ đến Nam-định, tuần hành các làng, ấp, xét quan lại, chẩn cấp cho dân bần cùng, xét các việc kiện tụng, gian dối còn ẩn giấu, phái bộ đến đâu cũng thu xếp yên ổn ; khi về, vua sai Bộ Lại xét thưởng, ông Hiếu được thăng Thần-sách Tả dinh đô-thống-chế, vẫn lãnh chức Trấn thủ Nghệ-an như cũ. Minh Mạng thứ 9, quan binh kinh lược biên giới Nghệ-an, ông Hiếu lo việc chuyển vận và điều bát binh lính, không khi nào thiếu thốn. Minh Mạng năm thứ 10, ông Hiếu vì tuổi già sức yếu, thường đau ốm, xin giải chức, vua thuận và cho được lãnh toàn bổng. https://thuviensach.vn Đến khi lành bệnh, ông vào chiêm cận, vua hỏi han và an ủi rất lâu, rồi cho lấy chức Đô-thống lãnh trấn-thủ Nghệ an. Có lần hội-đồng các quan đồng liêu để xét án các tên tù ăn trộm có đứa đã thú tội rồi, mà vẫn còn bị tra tấn, ông Hiếu thong thả nói : « chúng nó vì cùng cực mà phải làm việc gian phi, đêm khuya soi tường khoét vách, khó nhọc lắm mới lấy được tiền của người ta, nay nó đã nhận tội thì cứ theo luật mà trị, hà tất phải vẽ vời thêm làm gì ? Thử hỏi : Ở các nha-môn coi việc Hình, có những kẻ trên nhà cao, ngồi nệm, dựa gối, giữa ban ngày, vẩy ngòi bút mà làm tiền người ta không chút khó nhọc, các người ấy sánh với bọn ăn trộm kia, tội ai nặng hơn ? » Nghe ông nói, ai cũng giật mình. Năm Minh-Mạng thứ 12, đổi Trấn làm Tỉnh. Ông Hiếu bổ chức Tổng đốc Hà-ninh (Hà-Nội và Ninh-Bình). Khi Phó lỵ, đi ngang qua phủ Lý nhân, thấy viên quản thủ là Nguyễn-văn-Sáng suy yếu, mềm mại, ông liền tâu xin bãi chức. Vua dụ rằng : « Khanh mới tựu chức, đã biện biệt được nhân-phẩm, thật đáng khen ! » Năm Minh-Mạng thứ 13, ông được thăng Thự Tả-quân Đô-thống-phủ Chưởng-phủ-sự. Năm Minh-Mạng thứ 14, được phong Lương-năng-Bá. Rồi ông mất, thọ 70 tuổi. Vua nghe tin rất thương xót, thực thụ hàm Tả quân Đô-thống-phủ Chưởng phủ sự, vẫn tước Bá, và cấp 1.000 quan tiền, lập đàn tế một lễ. Năm Tự-Đức thứ 5, ông được thờ ở miếu Trung-hưng Công-thần. Năm Tự-Đức thứ 11, ông được thờ ở Hiền-lương từ. Ông Hiếu bình sinh tánh người thuần phác, làm quan thì thanh-liêm cần mẫn, đãi người hòa-nhã, dễ dãi, trải qua các chức trong Triều, ngoài Trấn, đều được tiếng tăm và có chính tích thời bấy giờ, nói đến hạng « thuần-lương »19 thì ai cũng nói là ông. Ông Hiếu có 6 con là các ông Nhâm, Tồn, Túc, Tình, Ân, Nhân, ông Nhân có tật ở chân, vô tự, Ông Tồn làm Vệ-Úy Tả-vệ Bình-Định, tập tước https://thuviensach.vn Lương-năng-Tử, sau bị can, bị cách, rồi được khởi phục chức Suất đội. Ông Túc lấy Công chúa Chương-Gia, làm Phò mã Đô-úy. Ông Tình làm Thành thủ-úy. Ông Ân làm Phó-quản-Cơ. Ông Nhân làm Lãnh-binh Khánh-Hòa. Xuyên qua cuộc đời của Ông Nguyễn-văn-Hiếu, người xuất thân ở miền Nam, đã lập được nhiều chiến công hiển-hách, trên đường hoạn lộ lắm bước thăng trầm, nhưng lúc nào ông vẫn giữ một lòng chung thủy với nước non, không lùi bước trước sự gian nguy và thử thách, ngày nay tại Khổng tước-nguyên (tức là Gò-Công) người ta cũng còn nhắc đến ông và Quận Công Võ-Tánh oai danh lừng lẫy nơi Ao Đồn binh và Đầm Vạn-thắng, nói đến danh-nhân Gò-công mà không nhắc tới Ông Nguyễn-văn-Hiếu là một điều thiếu sót lắm vậy. Theo sự tra cứu của chúng tôi về dòng họ của ông Lương-năng-Bá tục gọi Tổng đốc Nguyễn-văn-Hiếu hiện nay con cháu còn ở tại Thừa Thiên (Huế) cũng khá đông, được biết hồi ấy các vị công thần trong Nam theo giúp vua Gia-Long khi ra Huế có lập một hiệp hội lấy tên là Nam-châu-Hội, ông Hiếu là một sáng lập viên khởi xướng. Trong hội này gồm các đại thần họ Nguyễn (Nguyễn văn Hiếu) họ Phan (giòng Phan-thanh-Giản) họ Phạm (giòng Phạm-ngũ-Vân) v.v… Về sau hội Nam châu đổi thành làng Nam Trung (người Nam ra làm quan tại Trung-kỳ), hiện nay làng Nam-Trung có một ngôi đình tọa lạc tại cửa đất lớn ở gốc đầu cầu Kim-Long hướng về cánh hữu lầu Ngọ-môn Đại nội Huế. Hằng năm Xuân thu nhị kỳ tế lễ kỳ an rất trọng thể, ông Lý trưởng Chủ-tịch Xã đến tận từng gia đình con cháu Đại thần quyên góp tiền lễ cúng để tưởng niệm vị khai quốc công thần với triều nhà Nguyễn. Thật ra, đất Định-Tường từ xưa tới nay đã sản xuất lắm bậc nhân tài ra phò vua giúp nước, tô đậm những trang sử oai hùng danh lưu muôn thuở. https://thuviensach.vn CHƯỞNG CƠ ĐẶNG VĂN LƯỢNG Trận vong nơi Ba-Lai còn để tiếng. Các tướng lãnh miền Nam theo phò chúa Nguyễn Ánh, số người được phong Chưởng-Cơ kể ra cũng khá nhiều. Biết bao « ông Chưởng » lừng danh như Mai-tấn-Huệ, Nguyễn-hữu-Cảnh. Nhưng hầu hết các vị Chưởng Cơ trong thời kỳ Gia-Long tẩu quốc đều tốt số mạng chung trong tuổi già, hoặc vương bịnh. Duy ông Chưởng Đặng-văn-Lượng sớm đền nợ nước, ngoài trận tuyến bi hùng cảm khái. Ông người huyện Kiến-Hưng, tỉnh Định-Tường. Tinh thông võ nghệ, ông hằng ra tài dẹp lũ kiến chòm ong ở quanh vùng, đem lại sự an ninh cho dân chúng. Kịp khi chúa Nguyễn vào Nam, đến Định-Tường nghe danh ông, cho người dời đến, lấy lễ đối đãi trọng hậu. Cảm ý ân cần của chúa Nguyễn, ông tình nguyện theo phò. Từ ấy, trên bước đường luân lạc của nhà chúa, ông sẵn sàng chia xẻ mọi gian lao nguy-hiểm. Trong hàng trăm trận giao-phong cùng Tây-Sơn, ông lập chiến công cũng nhiều, dần dần thăng đến chức Chưởng-Cơ. Ông dõng mưu đầy đủ, lắm lúc cầm quan cự địch, quân số của địch đông gấp năm gấp mười, ông vẫn thừa mưu lược lấy ít chọi nhiều, dùng kế để nuôi quân dịch, chiếm phần thắng lợi. Vì thế, chúa Nguyễn-Ánh thường hỏi kế nơi ông, nhất nhất ông trình-bày kế-hoạch tác chiến đều được nghe theo. Ông nghiễm nhiên là nhân-vật quan trọng trong bộ tham mưu của chúa Nguyễn. Do đó, khi tình thế bắt buộc phải tạm lui, chúa Nguyễn thẳng sang Xiêm bên cạnh có ông hộ vệ. Tại Vọng-Các, Ông cùng tướng Châu văn-Tiếp rất thông thạo tiếng Xiêm, giúp đỡ chúa Nguyễn đắc lực về ngoại giao. Mỗi khi cuộc hội nghị thảo-luận tình hình nội bộ và đặt kế hoạch về tấn công Tây-Sơn, nhiều vị tướng lãnh đưa ý kiến nên cầu viện thêm quân Xiêm trợ lực, ông bác bỏ ngay : https://thuviensach.vn – Chúng ta sang đây sống với cuộc đời lưu vong, cầu được có chỗ tạm dung thân và luyện binh, rèn khí giới, tạo chiến thuyền đã là may lắm rồi, sao còn ỷ lại đến sức người mà làm chi ? một khi đưa quân nước người vào bờ cõi ta, nếu thua thì họ sẽ hoạch hỏe ta, nếu thắng thì họ sanh kiêu nằm ỳ ăn vạ, đàng nào cũng khổ cho ta cả. Lại nữa sẽ vì đó mà mất lòng dân chúng thật là điều không nên. Nguyễn Vương khen phải và hỏi : Nếu không cậy đến ngoại viện, ta phải làm thế nào thắng địch ? Ông rắn rỏi đáp : – Trước phải chinh phục lòng dân, có dân chúng làm hậu-thuẩn, ta đã có cơ thắng lợi. Đồng thời, lợi dụng lúc này mà luyện binh cho tinh, chuẩn bị quân-nhu cho đầy đủ, lo gì không thắng địch. – Chinh-phục lòng dân cách nào ? – Cho người đi khắp nơi tuyên dương chính nghĩa, vỗ về dân chúng đã khốn-khổ về nạn binh đao, hứa hẹn mưu cuộc tương lai tốt đẹp cho toàn dân, phong thưởng trọng hậu cho những ai có công lao. Dân cảm phục tự nhiên sẽ theo về ta, hết lòng ủng-hộ ta. Ông lại nhấn mạnh : – Điều cần nhất phải tránh cái nạn cõng rắn cắn gà nhà, việc ta to lớn, cậy đến người ngoài e chẳng khỏi lòng dân xôn xao kinh động có hại cho đại cuộc. Tuy Chúa Nguyễn khen hay, song trong lòng vẫn lo mình không đủ sức đương đầu với Tây-Sơn, vả lại trong đám tòng thần, vẫn có đa số đứng về phe tán thành nên cầu viện binh Xiêm tiếp tay, vì thế Chúa Nguyễn lại thuận theo phần đông mà cầu Xiêm giúp sức. Ông biết chuyện ấy lòng thấm buồn, nhưng chẳng dám phản đối và tuyệt không đưa ý kiến gì nữa. Hàng ngày, ông cùng các tướng lấy việc thao luyện quân sĩ làm trọng trách, vừa https://thuviensach.vn có ý phô trương lực lượng quân đội và tài năng của các tướng lãnh ta, vừa lấy đó làm nguồn an ủi, tạm khuây nỗi sầu cố quốc và nỗi hận Chúa Nguyễn quá chú trọng đến sự cầu cạnh binh sĩ nước người. Giáp Thìn 1784 Chúa Nguyễn từ Xiêm kéo quân về nước ông lãnh lịnh cầm một đạo binh đánh Tây-sơn tại Định-Tường. Đã sẵn mang mối hận lòng vì chúa Nguyễn chẳng nghe theo mình, đưa thêm quân Xiêm vào cõi bờ, nỗi ưu tư phiền muộn làm héo hắc tâm can ông, làm suy giảm nhuệ-khí anh hùng. Trong trận đột chiến với Tây-Sơn nơi sông Ba-Lai, ông thất cơ tử trận. Quân sĩ dưới quyền của ông đều căm hận về cái chết của ông, liều mình tử chiến trong trận này, tuy thua song oai hùng trong hương khói vẻ vang. Sau khi Vua Gia Long thống nhứt sơn hà, ông được cho thờ vào miếu Hiển-Trung và miếu Trung-Hưng công thần. Xuyên qua cuộc đời binh nghiệp của ông Đặng-văn-Lượng đã góp công tô điểm dãy gấm vóc non sông, nhứt là tỉnh Định-Tường ông đã từng oanh-liệt chống lại Tây-Sơn, vào sanh ra tử, ngày nay nói đến Định-Tường không thể quên một danh tướng đã làm chấn động oai danh trong thời Nguyễn sơ tẩu quốc. https://thuviensach.vn ANH HÙNG TRƯƠNG VĂN HOẢNG Xuất thân tại huyện Kiến Đăng Cai-Lậy (Định-Tường) Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, có chút võ nghệ, tánh tình hào hiệp, ăn nói hoạt bát, tỏ ra có nhiều chí khí. Ông sinh trưởng tại huyện Kiến-Hưng vùng Cai-Lậy bây giờ, ông rất ham mộ về con đường võ nghiệp, ông hằng lui tới kết giao với những vị anh hùng hào-kiệt, ông hằng mộ danh Nguyễn-huỳnh-Đức đến nhập ngũ tùng quân. Nguyễn-Huỳnh-Đức thấy ông là người có nhiều khí tiết, liền thâu nhận và hết lòng dạy võ nghệ thêm cho. Sẵn lòng phục thiện ông coi Nguyễn-huỳnh-Đức vừa là bạn vừa là thầy, chuyên cần theo học tập, tài nghệ thêm tinh tiến. Đến khi chúa Nguyễn Ánh chạy vào Nam, nhân nghe Nguyễn-huỳnh Đức đã về chung sức với chúa tướng Đông-Sơn là Đỗ-thanh-Nhân kéo cờ khởi nghĩa, ủng hộ chúa Nguyễn, ông theo gương ấy, cũng ra ứng mộ. Những khi xông pha trận mạc, ông dũng cảm chẳng tiếc gì thân khiến chúa Nguyễn nghe các tướng chỉ huy báo cáo lại, đem lòng thương mến ông, cho theo hầu cận. Đáp lại ơn tri ngộ, ông hằng tỏ dạ trung-kiên, sẵn sàng hy sinh bảo vệ chúa Nguyễn trong những cơn nguy khốn. Nhờ sự gan dạ của ông phần nào, lấy thân che chở cho chúa, nên chúa Nguyễn lắm phen thoát chết, càng tin cẩn ông hơn. Khi thất thế phải chạy sang Xiêm nương náu, chúa Nguyễn Ánh vẫn đem ông theo trong đám tòng thần có danh vọng to, xem ông như người thân và quý mến tài nghệ ông chẳng kém gì Dương-công-Trừng, Châu-văn-Tiếp, Hồ-văn-Lân. Do cảm tình sâu đậm ấy, ông tự nguyện chết sống cùng chúa Nguyễn, những ngày sống cuộc đời lưu vong nơi Vọng-Các, ông hết lòng lo lắng cho chúa Nguyễn, nào chiêu https://thuviensach.vn mộ quân sĩ và thao luyện cho tinh thục, nào lo đóng chiến thuyền tổ chức sai người về nước dọ thám tình hình địch. Chính ông và Ngô-công-Quý, Lê-Tần là 3 người hộ trợ chúa Nguyễn đắc lực nhất khi ở Vọng-Các. Lúc nào Ông cũng nóng lòng chờ đợi cơ-hội đưa chúa Nguyễn kéo binh về khôi phục giang san. Đinh Tỵ 1787, ông hăm hở phò chúa Nguyễn trở về nước, hiệp cùng các tướng đẩy lui các đạo binh Tây-sơn ở khắp nơi miền Nam, khắc phục thành Gia-Định. Chúa Nguyễn phong ông làm dũng vệ. Ông đảm nhận chức vụ Hộ giá chúa Nguyễn mỗi khi chúa Nguyễn thân chinh đi đánh nơi nào. Lắm lúc thấy cái chết trong đường tơ kẽ tóc, thế mà ông vẫn bình tĩnh trong rừng gươm giáo của quân địch bao vây tứ phía, chiến thắng oai hùng. Kỷ Mùi 1789, tòng chinh quân Qui-Nhơn gặp phải lực lượng hùng cường của địch, ông vẫn lăn xả vào vòng chiến, chẳng nao núng gì. Nhưng sức người có hạn, dẫu dũng cảm có thừa mà thất cơ cũng khó bảo toàn được tính mạng. Thua luôn mấy trận đầu nhưng ông không thối chí ngã lòng quyết một phen tử chiến với địch cho hả dạ. Vì hăng say chiến đấu, thà chịu chết chớ không hèn nhát triệt thoái, ông bỏ mình nơi trận mạc ngày mùng 7 táng 4 năm 1799. Chúa Nguyễn hay tin thương tiếc vô cùng ôm mặt khóc. Ông là một vị công thần vào sanh ra tử không quản gì gian lao khổ cực trọn lòng thờ chúa lập được nhiều chiến công hiển-hách. Về sau Ông được truy tặng chức Chưởng cơ, thờ nơi miếu Trung-Hưng Công Thần và miếu Hiển Trung. Người dân Định-Tường ngày nay cũng còn nhắc nhở cảm niệm người anh hùng áo vải đã làm rạng rỡ quê hương với tinh thần bất khuất. https://thuviensach.vn CHƯỞNG CƠ LÊ-VĂN-THỤY Dũng lược dẹp tan quân Xiêm, bắt sống tướng Xiêm Riêng trong tỉnh Định-Tường, chúng ta đã thấy hai vị Chưởng Cơ Trương-văn-Hoảng và Đặng-văn-Lượng có sắc thái đặc biệt, không kém gì các vị Chưởng Cơ lừng danh của tỉnh khác trong miền Nam như Nguyễn hữu-Cảnh, Nguyễn-văn-Thoại. Nhưng hãy còn vị Chưởng Cơ Lê-Văn-Thụy mà chúng tôi lược kể tiểu sử dưới đây, võ dũng và mưu lược cũng đáng liệt vào hàng ưu tú thượng thặng. Ông người huyện Kiến-Hưng thuộc tỉnh Định-Tường. Xuất thân nông dân, nhưng có học ít nhiều về nghiệp văn, lại rất chuộng nghiệp võ nên côn quyền thao lược đủ nêu cao tên tuổi với đời muôn thuở. Cũng như phần đông võ tướng miền Nam, ông theo phò chúa Nguyễn Ánh. Xuất thân làm tượng quân cai đội, suốt thời gian tùng chinh, ông đục pháo xông tên, lắm phen đương đầu cùng Tây Sơn dữ dội, dũng cảm chẳng ai bằng. Tuy nhiên, tên tuổi ông sở dĩ không nổi bật như bao hào kiệt dũng sĩ đương thời : Đỗ-thành-Nhân, Võ-Tánh, Châu-văn-Tiếp, Nguyễn-Huỳnh Đức v.v… vì đang buổi loạn to, những tên tuổi lớn như đã kể trên, gần như là những ngôi sao sáng chói quá, dễ làm át mất ngôi sao bổn mạng của ông đi. Biết người, biết mình, hiểu rõ thời thế chưa thuận tiện để mọi chân giá trị đều được minh định hẳn hoi nên ông cam phận thủ thường không kiêu căng tự đắc và cũng không ganh ghét gì ai. Dầu không được chúa Nguyễn có mắt xanh biết đến, ông vẫn chẳng buồn phiền gì, một mực tận tụy phục vụ, vì tự nghĩ mình đã chọn lấy một con đường mà dấn bước, âu là cứ đi dốc chí đi cho trọn, rồi cũng sẽ có ngày vinh diệu. Chưa phải là muộn. Thế nhưng, qua giai đoạn chống Tây-Sơn, thống nhất sơn hà, lên ngôi vua, luận công phong thưởng, vua Gia-Long chỉ phong ông đến chức https://thuviensach.vn