🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Danh Pháp Trong Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
Mục Lục
LỜI NGƯỜI DỊCH
TÊN NGƯỜI, CÁC NHÓM DÂN, CÁC LOẠI SINH VẬT ĐỊA DANH
CÁC KHÁI NIỆM KHÁC
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU CÁC TÊN RIÊNG VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM Chú thích
https://thuviensach.vn
Danh pháp trong
CHÚA TỂ NHỮNG CHIẾC NHẪN (Kèm theo danh mục đối chiếu tên riêng Việt - Anh)
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Vốn là một tập hợp các ghi chú rời rạc của Tolkien, viết với mục đích hỗ trợ các bản dịch về sau, “Nomenclature of The Lord of the Rings” chưa bao giờ được xuất bản trong sinh thời tác giả. Năm 1975, bài essay này được xuất bản lần đầu trong A Tolkien Compass với tiêu đề “Guide to the Names in the Lord of the Rings”, do Christopher Tolkien biên soạn lại cho độc giả dễ tiếp cận; nhưng bị bỏ khỏi các ấn bản Compass về sau vì lý do bản quyền. Năm 2005, một phiên bản khác dưới tên “Nomenclature of The Lord of the Rings” được Hammond và Scull in trong cuốn The Lord of the Rings: A Reader’s Companion; nghe nói là “điện tử hóa” nguyên dạng bản thảo viết tay của Tolkien chứ không tô điểm lại như Christopher đã làm.
https://thuviensach.vn
LỜI NGƯỜI DỊCH
Tài liệu “Danh pháp trong Chúa tể những chiếc Nhẫn” (“Nomenclature of The Lord of the Rings”) do J. R. R. Tolkien biên soạn vào năm 1967 để gửi cho nhà xuất bản Đan Mạch lúc đó đang chuẩn bị bản dịch cuốn sách. Trước đó mới có các bản dịch tiếng Hà Lan (1956-7) và Thụy Điển (1959- 61) ra mắt, và cách dịch tên riêng trong đó khiến ông rất không bằng lòng. Văn bản này được Allen & Unwin photo gửi cho người dịch những thứ tiếng từ đấy về sau.
Khi Tolkien qua đời, con trai ông là Christopher Tolkien biên tập lại cho gần gũi với người đọc, xuất bản dưới tên gọi “Chỉ dẫn tên riêng trong Chúa tể những chiếc Nhẫn” (“Guide to the Names in the Lord of the Rings”) trong cuốn A Tolkien Compass, Jared Lobdell cb, Illinois: Open Court 1975, tr. 153-201. Đến năm 2000, Wayne G. Hammond và Christina Scull soạn lại từ tài liệu đánh máy cùng các bản thảo viết tay của Tolkien, lấy lại cách trình bày ban đầu cùng tên gọi cũ, in trong The Lord of the Rings: A Reader’s Companion, Boston: Houghton Mifflin 2005, tr. 750-82.
Bản dịch này dựa theo văn bản của Hammond & Scull, có tham khảo bản của Christopher Tolkien. Những điểm không thống nhất về chính tả đã được điều chỉnh lại. Các chú dẫn gốc dựa theo Chỉ mục và số trang của Ấn bản lần thứ hai 1965, ở đây để lại theo quyển và chương. Cước chú, hoặc chú thích trong [ngoặc vuông] là của người dịch, trừ những chú thích đánh dấu HS là của Hammond và Scull.
Cuối mỗi mục từ có chú cách dịch trong bản tiếng Việt.
https://thuviensach.vn
Bảng viết tắt các ngôn ngữ:
NNC: Ngôn Ngữ Chung (Common Speech).
NND: ngôn ngữ dịch, ngôn ngữ dùng trong bản dịch.
A: tiếng Anh; AC: tiếng Anh Cổ; AT: tiếng Anh Trung đại.
Đ: tiếng Đức; CĐC: tiếng Cao Đức Cổ; CĐT: tiếng Cao Đức Trung đại.
P: tiếng Pháp; PC: tiếng Pháp Cổ.
NU: tiếng Na Uy; TĐ: tiếng Thụy Điển; TĐC: tiếng Thụy Điển Cổ; ĐM: tiếng Đan Mạch; HL: tiếng Hà Lan; I: tiếng Iceland. BAC: tiếng Bắc Âu Cổ.
S: tiếng Sindarin (Grey-elf). Q: tiếng Quenya (High-elf). R: tiếng Rohan.
https://thuviensach.vn
Mọi tên gọi được liệt kê trong danh sách dưới đây phải tuyệt đối giữ nguyên không thay đổi dù trong ngôn ngữ dịch (NND) nào, chỉ trừ các biến tố -s, -es thì chuyển đổi dựa theo ngữ pháp của ngôn ngữ đó.
Tốt nhất là người dịch cần phải đọc Phụ lục F và làm theo lý thuyết trình bày trong đó. Trong văn bản gốc dùng tiếng Anh tương ứng với Ngôn Ngữ Chung (NNC) của thời kỳ giả định trong tác phẩm. Vì thế, tên gọi nào bằng tiếng Anh hiện đại đều là để thay thế các tên gọi bằng NNC, đa số trong đó - tuy không phải tất cả - là cách dịch những tên gọi cổ hơn bằng các thứ tiếng khác, chủ yếu là tiếng Sindarin (S, tiếng Grey-elf). Sang văn bản dịch, NND được dùng thay tiếng Anh làm tiếng tương đương với NNC; do đó những tên gọi có dạng tiếng Anh cần được dịch sang NND dựa theo nghĩa tên đó (càng sát càng tốt).
Phần lớn những tên thuộc loại này sẽ không gây khó khăn cho người dịch, đặc biệt nếu là sang một NND gốc German, gần gũi với tiếng Anh: tiếng Hà Lan, Đức hay các thứ tiếng Scandinavia; ví dụ như Black Country, Battle Plain, Dead Marshes, Snowmane, v.v. Nhưng một số tên khác có thể không dễ dàng bằng. Trong một số trường hợp, tác giả cuốn sách [Tolkien], đóng vai trò người dịch các tên tiếng Elf đã đặt ra và sử dụng từ trước trong cuốn này hoặc các công trình khác, đã dày công nghĩ ra một cái tên NNC vừa dịch đúng ý, vừa êm tai (với tai dân Anh) theo lối đặt tên Anh quen thuộc, kể cả nếu tên đó không thực sự tồn tại ở Anh. Rivendell là một ví dụ thành công, dịch từ S. Imladris, “Glen of the Cleft [Thung lũng sâu trong khe tách đôi]”. Những tên đó hay hơn hết là dịch ra, vì để nguyên sẽ làm xộc xệch cả hệ thống danh pháp đã thiết lập kỹ lưỡng, và đưa một yếu tố lạc lõng thiếu lời giải vào lịch sử ngôn ngữ hư cấu của thời kỳ đó. Nhưng tất nhiên, người dịch có toàn quyền đặt ra một tên gọi khác trong NND phù hợp về ý và/hoặc về địa phương học1: vì cũng chẳng phải mọi tên NNC đều là cách dịch chính xác từ tên gọi trong các ngôn ngữ kia.
Vài trường hợp lại đặt ra những khó khăn khác. Có những tên gọi (cả địa danh lẫn tên người), nhất là ở Shire, không phải “vô nghĩa” mà về mặt hình thức là tiếng Anh (nói cách khác, trên lý thuyết là cách dịch của tác giả
https://thuviensach.vn
từ những tên gọi bằng NNC), song lại chứa các yếu tố đã lỗi thời, hoặc là phương ngữ, hoặc đã biến dạng và trở nên mờ nghĩa trong ngôn ngữ thông dụng. (Xem Phụ lục F.) Trên quan điểm tác giả, tốt nhất là người dịch cần có hiểu biết nhất định về danh pháp tên người và địa danh trong NND, cũng như nắm được lớp từ ngữ đã trở thành lỗi thời trong cách dùng thông dụng, hoặc chỉ còn lưu lại ở từng địa phương. Những ghi chú dưới đây của tôi nhằm hỗ trợ người dịch phân biệt những “từ mới” tạo nên từ những yếu tố thông dụng trong tiếng Anh hiện đại, như Rivendell hay Snow-mane, so với những tên gọi có sử dụng trong thực tế ở Anh, bên ngoài cuốn truyện này, nghĩa là những yếu tố trong tiếng Anh hiện đại mà tốt nhất là chuyển đổi sang yếu tố tương đương trong NND, cả về nghĩa gốc lẫn về hình thức cổ hoặc đã biến đổi khi cần thiết. Một đôi chỗ tôi có dẫn ra các từ cổ, lỗi thời hoặc phương ngữ trong các ngôn ngữ Scandinavia hoặc German có lẽ có thể dùng làm tương đương với những yếu tố tương tự trong các tên tiếng Anh xuất hiện trong văn bản. Tôi hy vọng những gợi ý đó có thể có ích trong vài trường hợp, nhưng đây không phải là tự nhận mình thành thạo những ngôn ngữ hiện đại ấy, ngoài mối quan tâm đến lịch sử sơ kỳ của chúng.
https://thuviensach.vn
TÊN NGƯỜI, CÁC NHÓM DÂN, CÁC LOẠI SINH VẬT
Appledore. Dạng cổ của “apple-tree” [cây táo] (nay vẫn còn lại trong các địa danh ở Anh). Cần dịch bằng từ tương đương với apple-tree trong NND (nghĩa là dùng một từ cổ hoặc phương ngữ cùng nghĩa). Trong các ngôn ngữ German có thể lấy từ cùng gốc: vd Đ. (CĐT.) aphalter; I. apuldur; NU. và TĐC. apald. [Nhà Táo]
Baggins. Nhằm gợi đến bag [túi] - ss đối thoại của Bilbo với rồng Smaug trong Hobbit C12 - và dụng ý gây liên tưởng (cho người Hobbit) đến Bag End (nghĩa là đáy của cái “bag” hay “pudding bag” [nghĩa đen: “bọc đun bánh”] = cul-de-sac [ngõ cụt trong tiếng Pháp, nghĩa đen là “đáy túi”]), tên dân trong vùng dùng để gọi nhà của Bilbo. (Đấy là tên trong vùng gọi trang trại của dì tôi ở Worcestershire, nằm cuối một con đường dẫn lên đó và không đi xa hơn nữa.) Ss thêm Sackville-Baggins. Sang NND, cần dùng một yếu tố có nghĩa “túi”. [Bao Gai]
Banks. Hiển nhiên là một cái tên miêu tả địa hình, có chữ bank với nghĩa “sườn đồi hay triền đồi rất dốc”. Cần dịch bằng một thứ tương tự. [Triền Dốc Tuột]
Barrow-wights. Những sinh vật sống trong barrow, “gò mộ”. (Xem Barrow phần Địa danh). Đây là một tên đặt mới, cần đặt ra một chữ tương đương. Bản Hà Lan để grafgeest, “ma mộ”; Thụy Điển để Kummelgast, “ma gò mộ” [ác hồn Mộ Đá]
Beechbone. Dụng ý là một chữ có nghĩa (vì là cách địch sang NNC từ một chữ tương đương trong tiếng Ent hoặc Elf). Cần dịch tương tự (vd thành Buchbein, hay có lẽ Büchenbein thì hay hơn?). [Xương Sói]
Big Folk, Big People. Dịch. [Dân/Người Cao Lớn]
Black Captain. Dịch. [Thủ Lĩnh Đen]
https://thuviensach.vn
Black One. Dịch. [Tên Đen]
Black Riders. Dịch. [Kỵ Sĩ Đen]
Bolger. Xem Budgeford. [Bolger]
Bounders. Hiển nhiên nhằm mang nghĩa “những người canh gác bound (tức là boundary [biên giới])”. Từ này có thực trong tiếng Anh, từ điển cũng không chú là lỗi thời, dù tôi rất ít khi nghe dùng; có lẽ vì từ lóng bounder vào cuối thế kỷ 19 - “một kẻ hung hãn vô lễ đáng ghét” - đã được dùng rất rộng rãi một thời gian, và chẳng mấy chốc đã thành một từ thóa mạ tương đương với “cad” [đồ vô lại]. Đã lâu tôi không còn nghe thấy từ này, và tôi nghĩ lớp người trẻ hơn chắc đã quên rồi. Schuchart [người dịch tiếng Hà Lan] dùng Poenen, “đồ vô lại”, chắc hẳn vì từ điển thông dụng chỉ liệt kê nghĩa của bounder (chú là tiếng lóng) là patser, nghĩa là “bounder, cad”. Dùng trong văn bản với dụng ý gợi lại nghĩa này cho độc giả Anh, nhưng nghĩa chính thực tế phải hiểu rõ được. (Trò đùa nhỏ này tất nhiên không đáng lặp lại, dù làm được cũng vậy.) [Biên Cảnh]
Bracegirdle. Họ có thật ở Anh; nhưng trong văn bản tất nhiên là để chỉ khuynh hướng người Hobbit thường béo phì đến gây căng tức thắt lưng. Cách dịch tốt nhất là ghi nhận điều này bằng một chữ tương đương có nghĩa là Tight-belt [thắt lưng chặt], hay Belt-tightener/strainer/stretcher [kẻ/thứ làm chặt/làm căng/làm giãn thắt lưng]. (Đây một tên có thật ở Anh, một từ ghép theo lối các ngôn ngữ Roman [Pháp, Ý, Tây, Bồ v.v.] có động làm từ tố đứng trước, như trong Drinkwater = Boileau [Uống + nước]; nhưng không đòi hỏi thay thế bằng họ có sẵn trong NND. Gürtelspanner liệu có được không?) [Chật Nịt Quần]
Brandybuck. Một tên Anh rất hiếm tôi bắt gặp. Nguồn gốc trong tiếng Anh của nó không quan trọng. Trong Nhẫn dụng ý hiển nhiên là tên này ghép các yếu tố từ Brandywine River và họ Oldbuck (xem hai mục này). Oldbuck có chứa từ “buck” (tên động vật); hoặc từ AC. bucc, “hươu đực” (fallow deer [hươu] hay roe deer [hoẵng] đều được), hoặc bucca, “dê đực”. [Hươu Bia Rum]
https://thuviensach.vn
Lưu ý, Buckland (xem phần Địa danh) cũng nhằm dùng cùng tên loài vật này (Đ. Bock), mặc dù thường trong thực tế địa danh Buckland ở Anh xuất phát từ “book-land”, đất có được nhờ một văn tự nhượng hay cho mượn.
Brockhouse. Brock là một từ cũ (tiếng Anh Cổ) chỉ con lửng (Dachs), vẫn còn thông dụng trong cách nói nông thôn đến tận cuối thế kỷ 19 và đi vào văn chương, vì thế cũng có trong những từ điển lớn, kể cả từ điển đa ngữ. Vậy nên khó mà tha thứ được những người dịch sang tiếng Hà Lan và Thụy Điển đã chuyển sai. (*) Chữ này xuất hiện trong rất nhiều tên địa danh, từ đó có các họ tương ứng ví dụ Brockbanks, Brockhouse, tất nhiên, được dùng làm tên Hobbit hư cấu vì con “brock” xây những “sett” hay hệ thống hầm ở rất phức tạp và ngăn nắp. Sang tiếng Đức cần để Dachsbau, tôi nghĩ vậy. Tiếng Đan Mạch nên để Grævling. [Nhà Lửng]
(*) Trong bản Hà Lan Broekhuis (không phải lỗi in ấn, vì lặp lại ở cả bốn chỗ xuất hiện tên này) nghe rất ngớ ngẩn: “breech-house” [nhà quần dài] là cái gì? Bản Thụy Điển Galthus “nhà lợn rừng” cũng chẳng khá hơn, vì lợn đâu có đào hang! Rõ ràng người đặt không biết, hoặc không tra chữ brock, vì đã dùng Grävlingar để dịch tên Burrows (TĐ. gräflingar, gräfsvin, “con lửng”).
Butterbur. Theo tôi biết thì không xuất hiện làm tên người ở Anh, dù Butter có dùng độc lập hoặc trong kết hợp (thường xuất phát từ lên địa danh) như Butterfield. Khi vào truyện, để hợp với các họ thường liên quan đến thực vật ở Bree, chúng đã được đổi thành tên cây butterbur (Petasites vulgaris) [bơ gai]. Nếu tên thông thường của cây này có chứa yếu tố tương đương với “butter” [bơ] thì càng tốt. Nếu không hãy dùng một tên cây khác có “butter” (chẳng hạn Đ. Butterblume, Butterbaum, HL. boterbloeme) hoặc tên một thứ cây dày mập. (Cây bơ gai là một loài cây mập mạp có tán hoa rất nặng trên cuống hoa dày, lá rất to.)
Tên riêng của Butterbur là Barliman, chỉ là cách viết khác của barley [đại mạch] và man [người] (phù hợp với công việc chủ quán và nấu bia), do đó cần được dịch. [Đại Mạch Bơ Gai]
https://thuviensach.vn
Captains of the West. Dịch. [Tướng Lĩnh miền Tây]
(The) Chief [of the Sheriffs]. Dịch. [Trùm (Quận Cảnh)]
Chubb. Họ có thật ở Anh, được chọn vì gợi liên tưởng trực tiếp đến tính từ A. chubby, nghĩa là “thân hình tròn và béo” (có giả thiết bắt nguồn từ chữ chub [cá bống], tên một loài cá sông). [Bống]
Corsairs. Dịch. Tôi tưởng tượng chúng gần như các corsair [hải tặc] Địa Trung Hải: các toán cướp trên biển có những căn cứ được phòng thủ chắc. [Hải Tặc]
Cotton. Chữ này xuất phát từ tên địa danh (giống như nhiều họ thời hiện đại), ghép từ cot, “cottage, chỗ ở hèn mọn” + -ton, thường thấy trong tên địa danh ở Anh, dạng rút ngắn của town (AC. tūn, “làng”). Cần được dịch theo cách hiểu đó.
Đây là một họ quen thuộc ở Anh, và tất nhiên về nguồn gốc không có liên hệ gì tới chất liệu vải cotton [vải bông], dù đấy là liên tưởng thông thường ngày nay. Hobbit theo miêu tả có hút thuốc lá, điều này được tạo cơ sở đáng tin ít nhiều nhờ giả thiết loài cây này được Con Người ở Westernesse đưa về qua Đại Dương (Phi lộ, T1 tr11); nhưng không phải có ý nói cây “cotton” đã được biết đến hay sử dụng vào thời này. Vì rất ít có khả năng trong ngôn ngữ khác lại có tên làng bình thường, quen thuộc giống với từ tương đương của cotton [vải bông], nên sự giống nhau trong văn bản gốc này có thể bỏ qua. Nó cũng không ảnh hưởng gì đến tình tiết truyện. Xem Gamgee.
Cotman có xuất hiện làm tên (không phải họ) trong phả hệ. Đây là một từ cổ, có nghĩa “cottager, người sống ở cot”, có thể tra thấy trong các đại từ điển, cũng là một họ thường dùng ở Anh. [Xóm Lá]
Dark Lord, Dark Power. Dịch. [Chúa Tể Hắc Ám, Thế Lực Hắc Ám] (The) Dead. Dịch. [Người Chết]
Dunlendings. Giữ nguyên, ngoại trừ đuôi chỉ số nhiều. Chữ này thay thế cho dun(n)lending trong tiếng Rohan, nghĩa là người sống ở Dun(n)land.
https://thuviensach.vn
[Dunlending]
Easterlings. Dịch theo nghĩa “Easterners, con người ở phương Đông” (trong truyện là những con người sống ở những khu vực ít biết đến bên kia Sea of Rhûn). [người miền Đông]
Elder Kindred, Eldet Race, Elder People. Dịch. Nếu NND có hai dạng so sánh của old thì chọn dạng cổ hơn. (Trong tiếng Anh dạng cổ hơn elder hàm nghĩa cả hơn về tuổi tác và quan hệ họ hàng). [Lớp Cựu Niên, Cựu Tộc]
Sự tương tự giữa Eldar, dạng số nhiều của Elda, Elf phương Tây, với Elder chỉ là tình cờ. (Tên gọi Elda, “Elf”, đã được đặt ra từ lâu trước khi viết Nhẫn.) Không cần cố gắng bắt chước sự tương tự này, vì không có ích mà cũng không quan trọng. Ss Elder Days, hàm ý một thời đại cổ xưa hơn nữa trong lịch sử những người thuộc cùng dòng dõi đó, nghĩa là trong thời các tổ tiên xa xưa của họ.
Elf-friend. Dịch (Phát xuất từ Ælfwine, dạng tiếng Anh của một cái tên German cổ (còn xuất hiện chẳng hạn trong tiếng Lombardy là Alboin), dù rất nhiều nhân vật mang cái tên tiếng Anh Cổ trong sách sử này hẳn không nhận ra nghĩa phân tích của nó, hoặc không cho là quan trọng.) [Bạn Tiên]
Elven-smiths. Dịch. Lưu ý: Dạng cổ elven dùng làm tính từ hay từ tố trong Nhẫn tuyệt đối không được đánh đồng với A. elfin đã thành hạ tiện, mang liên tưởng hoàn toàn không phù hợp. Hoặc dùng từ có nghĩa elf trong NND (hoặc yếu tố đầu tiên trong từ ghép), hoặc tách thành Elvish (+ smiths v.v.), dùng dạng tương đương trong NND của tính từ chuẩn là Elvish. [Tiên Thợ Rèn]
Riêng về tiếng Đức: tôi muốn đề nghị một cách dè dặt, rằng có lẽ nên tránh dùng Elf, elfen làm từ tương đương cho Elf, elven. Elf theo tôi hiểu, được mượn từ tiếng Anh, và có thể còn giữ lại phần nào những liên tưởng thuộc loại tôi đặc biệt mong tránh ở đây (nếu được): vd liên tưởng trong thơ Drayton hoặc trong Giấc mộng đêm hè (theo tôi hiểu chính bản dịch vở kịch
https://thuviensach.vn
này đã lần đầu tiên đưa chữ elf vào tiếng Đức). Nghĩa là việc thu nhỏ elf thành một sinh vật giống loài bướm sống trong hoa, xinh xẻo và huyễn hoặc.
Tôi đang cân nhắc liệu chữ Alp (hoặc tốt hơn nữa là để dạng Alb, một biến thể vẫn còn thấy ghi trong các từ điển hiện đại, vốn là dạng quy chuẩn hơn trong lịch sử) có đùng được hay không. Đấy mới là từ cùng gốc đích thực của A. elf, và nếu Alp có những nét nghĩa gần hơn với A. oaf, chỉ những yêu tinh tai quái và ác ý, hay những chú ngốc làng vẫn bị coi là yêu tinh đánh tráo; thì A. elf cũng vậy. Với tôi những liên tưởng kiểu nông thôn, hạ tiện loại đó còn ít nguy hại hơn những tưởng tượng văn chương “xinh xẻo”. Trên thực tế, người Elf thuộc hệ “thần thoại” trong Nhẫn không thể đánh đồng với các truyền thuyết folklore về “fairy”, và như đã nói (trong Phụ lục F) tôi muốn người dịch sẽ dùng dạng cổ nhất có thể của cái tên này, rồi để nó tự tạo ra liên tưởng mới cho người đọc câu chuyện của tôi. Trong các thứ tiếng Scandinavia có chữ alf. [Tiên]
(The) Enemy. Dịch. [Kẻ Thù]
Ent. Giữ nguyên, cả khi đứng riêng lẫn trong các từ ghép như Entwives, [Entmaidens]. Đây được coi là tên gọi cho giống dân này trong ngôn ngữ sử dụng ở Vale of Anduin, gồm cả Rohan. Trong thực tế đây là một từ tiếng Anh Cổ dùng chỉ “giant” [người khổng lồ], vì thế dựa theo hệ thống thì đúng là thuộc về tiếng Rohan, nhưng các Ent trong truyện này về hình dáng cũng như đặc tính đều không phải mượn từ thần thoại German. Entings, “hậu duệ của các Ent” (T2 Q3 C4) cũng cần để nguyên, ngoại trừ đuôi số nhiều. Tên tiếng Sindarin là Onodrim (T2 Q3 C2). [Ent, Ent phụ, Ent nương, Enting]
Evenstar. Biệt hiệu của Arwen Undómiel. Khi xuất hiện trong văn bản, từ này - vốn là cách dịch từ Q. Undómiel - cần được dịch. [Sao Hôm]
Fair Folk. Giống người đẹp đẽ. (Dựa trên cụm từ tiếng Wales Tylwyth teg “the Beautiful Kindred [họ tộc đẹp đẽ]” = Fairy [Tiên]). Biệt hiệu chỉ người Elf. Dịch. [(người) Mỹ Tộc]
https://thuviensach.vn
Fairbairns. Dịch. Đây là một họ ở Anh, gặp ở miền Bắc, biến thể của tên Fairchild. Tôi dùng chữ này ngụ ý sắc đẹp kiểu Elf của Elanor, con gái Sam, còn truyền lại lâu dài cho các thế hệ sau. Elanor còn nổi bật vì mái tóc vàng; và trong tiếng Anh hiện đại, fair khi nói về nước da hay màu tóc chủ yếu nói đến tóc vàng, nhưng mặc dù từ này có dụng ý gợi liên tưởng ấy trong tiếp nhận của độc giả Anh, trong bản dịch không cần lặp lại. [Mỹ Nhi]
Fallohide. Chữ này đã gây khó khăn. Nếu được thì cần dịch, vì từ này có dụng ý tương ứng với một tên gọi có nghĩa trong NNC, dù tên gọi ấy được đặt ra trong quá khứ và do đó có chứa những yếu tố cổ. Từ này được ghép từ A. fallow + hide (cùng gốc với Đ. falb và Haut), có nghĩa là “paleskin” [da trắng, da nhợt]. Đây là cách dùng cổ, vì fallow, “nhạt, hơi vàng”, ngày nay không còn dùng nữa, trừ trong cụm fallow deer [hươu, ss red deer: hươu đỏ], còn hide không còn dùng khi nói đến da người (trừ khi liên hệ ngược từ cách dùng chỉ da [sống] thú vật dùng làm da thuộc). Nhưng không nhất thiết phải bắt chước sắc thái cổ này. Xem Marcho và Blanco. Xem thêm chú thích về liên hệ giữa một số từ đặc biệt trong tiếng Hobbit với tiếng Rohan [trong Phụ lục F - HS]. [Bì Bợt]
Fang. Tên chó ở TI Q1 C4 tr119; dịch. Tất nhiên dụng ý đây là chữ A. fang, “răng chó hoặc răng lớn chìa ra” (AC. fengtōp; Đ. Fangzahn); nhưng vì chữ này có liên tưởng tới Grip [ngoạm, cắn], là nghĩa của động từ fang nay đã mất, nên tôi nghĩ để Đ. Fang có thể là lựa chọn tốt. [Nanh]
Fatty Lumpkin. Dịch. Yếu tố kin dĩ nhiên là một hậu tố có tính thân mật. [Bướu Ú]
Fell Riders. Dịch. [Kỵ Sĩ Chết Chóc]
Fellowship of the Ring. Dịch trong văn bản, cả trong nhan đề nếu được. [Đoàn hộ Nhẫn]
Ferny. Tên ở Bree. Dịch. Fern và Ferny, Fernie đều là các họ ở Anh, nhưng dù nguyên gốc là gì thì ở đây chỉ dùng để khớp vào các tên thực vật chiếm đa số, thông dụng ở Bree. [Dương Xỉ]
Firefoot. Dịch. [Chân Lửa/Fyrfot]
https://thuviensach.vn
(The) Firstborn. Biệt hiệu chỉ người Elf. Dịch. (“Firstborn”, là vì Elf xuất hiện trên thế giới trước tất cả các “giống dân biết nói” khác, không chỉ Con Người mà cả Dwarf, dù Dwarf từ một nguồn gốc khác. Hobbit tất nhiên được coi là một chủng đặc biệt của con người.) [Lứa Đầu]
Flourdumpling. Dịch. [Bánh Bao Bột]
Free Folk; Free Lords of the Free; Free People. Dịch. [Người Dân Tự Do; Chúa Tự Do của người Tự Do; Người Dân Tự Do]
Gamgee. Họ xuất hiện ở Anh nhưng không phổ biến lắm. Tôi không biết họ này gốc từ đâu, không có vẻ giống tiếng Anh. Đây cũng là từ chỉ “cotton-wool” [len sợi bông] (nay đã lỗi thời nhưng tôi có nghe thời nhỏ), lấy theo tên S. Gamgee (mất 1886), một phẫu thuật gia tài danh đã sáng chế ra “băng Gamgee”. Khi dịch tốt nhất nên coi tên này là “vô nghĩa”, giữ nguyên chỉ trừ những thav đổi về chính tả cần thiết để hợp với tập quán NND. [Gamgee]
Gamling (the Old). Tên một người Rohan, tốt nhất nên để nguyên. Dù cũng như vài tên Rohan khác: Shadowfax, Wormtongue v.v., tên này đã được Anh hóa và hiện đại hóa đôi chút. Dạng đúng là Gameling (a ngắn). Đây nằm trong số từ ngữ và tên tuổi mà người Hobbit nhận ra và coi là tương tự ngôn ngữ của mình, vì đấy là một tên tiếng Anh (= NNC), và hẳn là dạng nguyên thể sinh ra các họ Gamlen, Gam(b)lin v.v. Ss bài thơ trung đại The Tale of Gamelin, về sau này một phẩn vở As You Like It của Shakespeare lấy nội dung từ đó. (Chữ này phái sinh từ căn tố gamal-, “già”, vẫn dùng bình thường trong các thứ tiếng Scandinavia nhưng trong tiếng Anh Cổ chỉ gặp trong ngôn ngữ thơ ca, còn trong tiếng Cao Đức Cổ chỉ xuất hiện làm yếu tố cấu tạo tên người.) [Già Gameling]
Goatleaf. Tên riêng thuộc hệ thực vật ở Bree, một tên cũ chỉ hoa kim ngân. So sánh P. chèvrefeuille (tiếng La tinh trung cổ caprifolium, chắc hắn lấy từ tiếng La tinh thông tục). Trong tiếng Đức hẳn không gây khó khăn, vì có vẻ Geiszblad [tức Geissblatt - HS] cũng là một cái tên thường thấy. [Kim Ngân]
https://thuviensach.vn
Goldberry. Dịch ý. [Anh Đào Vàng]
Great Enemy. Dịch. [Kẻ Thù Lớn]
Grey Company. Dịch. [Đoàn Áo Xám]
Grey Host. Dịch. [Đội Quân Xám]
Grey Pilgrim. Biệt danh khác của Gandalf, dịch từ chữ Mithrandir. Cần dịch ý. [Người hành hương Áo Xám]
Greyhame. “Tiếng Rohan” hiện đại hóa. R. grēg-hama, “áo khoác xám”. Biệt danh người Rohan gọi Gandalf. Vì cả Grēghama lẫn Greyhame nếu đưa vào NND chắc đều không hiểu được, trong khi ít nhất yếu tố Grey cần được độc giả hiểu nghĩa, nên tôi nghĩ tốt hơn là dịch biệt hiệu này: nghĩa là coi như Éomer dịch ý chữ đó sang NNC (T2 Q3 C2). Như vậy bản Hà Lan để Grijsmantel là đúng, nhưng bản Thụy Điển lại để sai là gråhamn, “bóng ma xám”. Tiếng Đức có thể để Graumantel? [Áo Choàng Xám/Greghama2]
Grip. Tên chó. Dịch. Xem Fang. [Ngoạm]
Grubb. Tên người Hobbit. (Grubbs T1 Q1 Cl tr38 là số nhiều). Dịch sang dạng NND nào đó tương đối phù hợp về âm và ý nếu được. Tên này chủ ý gợi đến động từ A. grub, “đào hay cắm rễ xuống đất”. [Bứng]
Guardians. Dịch. [những người Bảo Vệ]
Halfling. Tên của Hobbit trong NNC. Đây không phải một từ tiếng Anh tồn tại trong thực tế, nhưng cũng có thể là thế (nghĩa là được cấu tạo đúng nguyên tắc, dùng một hậu tố phù hợp). Ý từ này là chỉ “một người kích cỡ bằng nửa người thường”. Dịch bằng một từ tạo mới tương tự, dùng chữ “nửa” trong NND. Bản Hà Lan để Halfling (có thể coi là phái sinh từ half và hiểu được, dù cũng như tiếng Anh, chữ này không tồn tại trong tiếng Hà Lan). [Người Tí Hon]
Harloots (số nhiều). Dụng ý là phải hiểu được (trong văn cảnh) và nhận ra được là dạng biến đổi của cái tên cổ “hairfoot”, nghĩa là “một người có bàn chân lông lá”, (Đây được coi là tương ứng với từ cổ hǣr-fōt > hērfot
https://thuviensach.vn
> hěrfoot, với er > ar thường thấy trong tiếng Anh. Hair trong tiếng Anh hiện đại, dù có liên quan, nhưng cũng không phải phái sinh trực tiếp từ AC. hær, hẽr - Đ. Haar.) Đ. Harfuss có thể đáp ứng đầy đủ cả hình thức, ý nghĩa và thay đổi nhỏ về chính tả, thích hợp với tên riêng cổ. Xem Fallohide. [Chân Tơ]
Harry < Herry < Henry. Bất cứ tên riêng dành cho nam tương tự nào cũng được. [Harry]
Hayward. Dịch. Quan chức địa phương có nhiệm vụ kiểm tra rào giậu và gom gia súc đi lạc. Xem Phi lộ, T1 trl3. (Từ này bây giờ đã lỗi thời, chủ yếu chỉ còn lại trong họ Hayward rất thông dụng; nhung Hob (T3 Q6 C9) thực sự được coi là một “hayward”.) Từ này phái sinh từ hay, “rào giậu” (không phải hay “cỏ [khô]”) + ward, “người gác”. So sánh High Hay, Hay Gate, Haysend là các địa danh ở Buckland, Nếu trong NND đã có sẵn một từ ghép cổ có nghĩa tương tự thì càng tốt. Bản Hà Lan để Schutmeester (nghĩa rất sát: “người trông giữ pound, bãi đất có rào quây”). Bản Thụy Điển stängselvakt, “canh giậu”, tôi nghĩ là từ mới đặt ra cho dịp này. [Gác Giậu]
Healer, The Healers. Dịch. [Y Sư]
Heathertoes. Tên ở Bree. Không có chữ tiếng Anh tương ứng, tuy vài họ có xuất hiện yếu tố Heather-. Dịch. Bản Hà Lan để Heideteeti. Đ. Heidezehn? (Đây coi là tên đặt đùa của dân Big Folk, nghĩa là dân Little Folk vì đi khắp nơi không có giày nên thạch nam [heather], cành con, lá liếc mắc vào các kẽ ngón chân.) [Ngón Chân Thạch Nam]
Hobbit. Không dịch, vì tên này được coi là không còn có nghĩa nhận ra được ở Shire, cũng không phải phái sinh từ NNC (= tiếng Anh, hoặc NND). [Hobbit]
Holman. Họ ở Anh, nhưng ở đây được coi là = “hole-man” (đọc như nhau). Dịch theo ý này. [Ở Lỗ]
Hornblower. Hornblow và Hornblower đều là họ ở Anh. Ở Shire tất nhiên là các họ chỉ nghề nghiệp. Dịch ý. [Rúc Tù Và]
https://thuviensach.vn
Isengrim. Xem Phụ lục F: “Trong một số dòng họ lâu đời, đặc biệt thuộc chi Fallohide như nhà Took hoặc nhà Bolger, lại tồn tại tập quán đặt tên gọi rất kêu.” Đây là một tên German cổ, nổi tiếng nhất bây giờ có lẽ là tên con Sói, nhân vật trong truyện hiệp sĩ Reynard the Fox. Tốt nhất là để nguyên không dịch, vì không đưọc coi là cấu tạo từ các yếu tố NNC (xem địa danh Isengard). [Isengrim]
Leaflock. Dịch ý, vì đây được coi là cách dịch sang NNC từ tên tiếng Elf Finglas: fing, “món tóc, búp tóc” + las(s), “lá”. Tương tự với tên Ent Fladrif, đã dịch thành Skinbark. [Búp Tóc Lá]
Maggot. Chủ ý là một tên “vô nghĩa”, có âm đọc tựa như tiếng Hobbit. (Thực ra chỉ tình cờ mà maggot lại là một từ tiếng Anh có nghĩa là “ấu trùng, con giòi”. Bản Hà Lan để Van der Made (made = Đ. Made, AC. maða, “con giòi”), nhưng tên này có lẽ tốt nhất là để nguyên, như trong bản Thụy Điển, dù có thể đồng hóa đôi chút vào tập quán NND. [Maggot]
Marigold. Tên hoa [cúc vạn thọ], dịch (xem Phụ lục F). Dùng tên này vì đây vừa là tên người có sẵn trong tiếng Anh, lại vừa chứa chữ gold và chỉ một loại hoa màu vàng óng, ám chỉ có huyết thống “Fallohide” (xem Phi lộ, T1 tr4) trong gia đình Sam, nhờ ân sủng của Galadriel mà được gia tăng và thể hiện rõ trong lứa con cái: rõ nhất là ở Elanor, nhưng còn cả ở Goldilocks (tên này đôi khi cũng dùng chỉ một số loại hoa mao lương vàng) sau này kết hôn với trưởng nam của Peregrin Took. Tiếc rằng tên loài hoa này trong NND có thể không phù hợp làm tên người, hoặc về ý nghĩa hoặc về hình thức (ví dụ P. souci). Trong trường hợp đó tốt hon là thay bằng tên một loài hoa màu vàng khác. Người dịch tiếng Thụy Điển đã giải quyết vấn đề này bằng cách dịch tên thành Majagull và thêm chữ Ringblom (TĐ. ringblomma, “cúc vạn thọ”, ss Đ. Ringelblume). Người dịch tiếng Hà Lan tạm vừa lòng với Meizoentje, “cúc dại”, như vậy cũng được; nhưng bản dịch không kèm theo phả hệ và lờ đi chuyện Daisy [cúc dại] là tên một chị lớn của Sam chứ không phải bạn đồng lứa với Rosie Cotton. [Cúc Vạn Thọ]
Mugwort. Tên ở Bree; tên một loài cây (Artemisia [ngải], P. armoise, có họ gần với cây ngải cứu [wormwood), P. armoise amère). Dịch theo tên
https://thuviensach.vn
cây đó trong NND, ví đụ Đ. Beifusz [Beifuss - HS] nếu phù hợp hoặc nếu không thì dùng tên một loại cây cỏ khác hình dáng gần giống. Tôi chọn Mugwort không có lý do gì đặc biệt, ngoại trừ âm đọc kiểu Hobbit. [Ngải Cứu]
Necromancer. Dịch. [Hắc Thuật Sĩ]
Neekerbreekers. Tên côn trùng tự đặt; thay bằng một chữ NND đặt mới tương tự có âm thanh gần giống (chủ ý là nghe giống tiếng dế kêu). [Ních Bờ Rích]
Noakes. Đồng hóa vào NND, hoặc thay thế một tên khác phù hợp có hình thức tương ứng. (Noake(s), Noke(s) là một họ ở Anh, nhiều khả năng là phái sinh từ tên địa danh cấp làng xã vốn không phải không phổ biến No(a)ke, vốn là tiếng Anh sơ kỳ atten oke, “at the oak [chỗ cây sồi]”; nhưng vì hiện nay nguồn gốc này không còn được nhận ra nên không phải tính đến. Trong truyện cái tên này cũng không quan trọng.) [Noakes]
Oldbuck. Xem Brandywine, Brandybuck. Yếu tố -buck phát xuất từ tên người Buck, dạng cổ Bucca (Phụ lục B, năm 1979). Tên riêng Gorhendad (T1 Q1 C5 tr127) cần để nguyên. Đấy là một từ tiếng Wales nghĩa là “cụ”; lý do cho dân Buckland có tên tiếng Wales hay tương tự được trình bày ở Phụ lục F. [Lão Hươu]
Oliphaunt. Giữ nguyên. Đây là dạng cổ của elephant [voi] dùng như một “thổ ngữ nông thôn”, với giả định tin đồn đại về giống thú phương Nam này đã truyền đến Shire từ rất lâu trong các truyền thuyết. Ý này có thể giữ lại bằng cách đơn giản thay chữ E đứng đầu trong tên gọi thông thường của loài voi trong NND thành chữ O: nghĩa vẫn đủ để nhận ra được, kể cả nếu ngôn ngữ đó không có dạng cổ tương tự. Trong tiếng Hà Lan, olifant vẫn còn lại và là dạng thông dụng, nên người dịch dùng từ đó, nhưng đã đánh mất màu sắc cổ. A. oliphant phái sinh từ PC. olifant, nhưng chữ o nhiều khả năng xuất phát từ các dạng cổ trong tiếng Anh hay Đức: AC. olfend, CĐC. olbenta, “lạc đà”. Tên các loài vật ngoại quốc ít thấy hoặc không bao giờ tận mắt thấy thường bị lầm lẫn khi mượn vào ngôn ngữ mới. AC. olfend v.v.
https://thuviensach.vn
nhiều khả năng đều có gốc gác nguyên thủy từ elephant trong các thứ tiếng cổ điển (tiếng La tinh, mượn từ Hy Lạp). [Khổng Tượng]
Orald. Forn và Orald dùng làm tên đặt cho Bombadil với dụng ý là các tên trong các thứ tiếng khác (không phải NNC), vì thế theo hệ thống cần để nguyên không dịch. Forn thực chất là từ trong tiếng Scandinavia chỉ “(thuộc về những ngày) thái cổ”. Tên Dwarf trong truyện này toàn bộ đều là tiếng Bắc Âu, đại diện cho một ngôn ngữ của Con Người ở phương Bắc, khác nhưng có họ gần với ngôn ngữ người Rohan vốn xuất thân từ mé bên kia rừng Mirkwood (xem Phụ lục F). Orald là một từ tiếng Anh Cổ nghĩa là “rất cổ xưa”, dụng ý hiển nhiên là thay thế tiếng của người Rohan và họ hàng. Chữ này có thể để nguyên; nhưng vì từ này tương ứng chính xác cả về dạng và ý với Đ. uralt nên bản tiếng Đức có thể dùng chữ này. [Orald]
Orc. Từ này chủ ý là tên gọi trong NNC chỉ loại sinh vật này vào thời kỳ ấy; như vậy theo hệ thống, cần dịch chữ này ra tiếng Anh, và ra NND. Trong Hobbit đã dịch thành “goblin [quỷ lùn]”, chỉ giữ lại đúng một chỗ; nhưng chữ này hay các chữ có nghĩa tương tự trong các thứ tiếng châu Âu khác (trong phạm vi tôi biết) không thật phù hợp lắm. Loài orc trong Nhẫn và Silmarillion, tuy hiển nhiên phần nào mang những đặc điểm truyền thống, song lại không thực sự giống với quỷ lùn về nguồn gốc, hành vi cũng như quan hệ với người Elf trong truyện. Dù sao thì âm đọc chữ orc đối với tôi đã và vẫn có vẻ là một tên phù hợp cho loài sinh vật này. Chữ này cần giữ nguyên.
Đáng lẽ trong NND nhóm German cần viết là ork (và bản Hà Lan đã làm vậy), nhưng tôi đã dùng cách viết orc ở quá nhiều nơi khác đến nỗi tôi rất ngại phải thay đổi trong văn bản tiếng Anh, dù dạng tính từ bắt buộc phải viết là orkish. Dạng Sindarin là orch, số nhiều là yrch.
(Chữ này nguyên thủy tôi lấy từ AC. orc (Beowulf 112 orc-neas và cách dùng thoáng orc = þyrs (“ogre [quỷ khổng lồ]”), heldeofold (“quỷ dưới địa ngục”). Chủ ý là không có liên hệ giữa chữ này với orc, ork trong tiếng Anh hiện đại, tên gọi chung cho nhiều động vật biển thuộc bộ cá heo.) [Orc]
https://thuviensach.vn
Pickthorn. Tên ở Bree, dụng ý là tên “có nghĩa”. Dịch. [Lặt Gai] Pimple. Biệt hiệu có tính lăng mạ. Dịch. [Mặt Mụn]
Proudfoot. Họ người Hobbit (họ thật ở Anh). Dịch. [Bàn Chân Oách]
Puddifoot. Họ ở đất Marish lầy lội; dụng ý là kết hợp của puddle + foot. Dịch. [Chân Đạp Bùn]
Quickbeam. Ent. Đây là cách dịch S. Bregalad, “cái cây nhanh nhẹn (linh lợi)”. Vì trong truyện chữ này thay thế cái tên đặt cho nhân vật này bởi bản tính “vội vàng” (so với loài Ent), nên tốt hơn cả là dịch tên này thành một từ ghép (tạo riêng cho mục đích này) mang ý đó (vd Đ. Quickbaum?). ít có khả năng NND đã có tên cây có thể coi là mang nghĩa này. Quickbeam và Quicken là những tên có thật trong tiếng Anh chỉ cây rowan/mountain-ash [thanh lương trà]; cũng là tên đặt cho loài “Service-tree [thanh lương tra vườn]” có họ gần. (Theo từ điển, Đ. Vogenbeere, Vogenbeerbaum và Eberesche.) Ngụ ý về cây thanh lương trà ở đây là hiển nhiên, vì chữ rowan có xuất hiện thực tế trong bài ca của Quickbeam (T2 Q3 C4). [Cây Nhanh Nhảu]
Ring-wraiths. Cách dịch từ Nazgûl trong Black Speech, gồm nazg, “nhẫn”, và gûl, các đầy tớ vô hình cấp cao nhất của Sauron, hoàn toàn quy phục ý chí của hắn. Cần tạo ra từ ghép từ các yếu tố phù hợp trong NND mang ý ring-wraith, càng sát càng tốt. [Ma Nhẫn]
Rumble. Tên một bà già Hobbit. Không phải là một chữ có nghĩa (vào thời đó) ở Shire. Dùng dạng nào có hình thức tương tự, phù hợp với NND là đủ. [Rumble]
Sackville-Baggins. Sackville là một tên ở Anh (có nguồn gốc quý tộc hơn tên Baggins). Trong truyện được dùng làm tên ghép với Baggins hiển nhiên là vì ý nghĩa tương tự trong tiếng Anh (= NNC) giữa sack và bag, và vì hiệu ứng có phần hài hước của kết hợp này. Bất kỳ từ ghép nào trong NND mang những yếu tố có nghĩa ít nhiều tương đương với sack/bag là được. [Xắc Vải-Bao Gai]
https://thuviensach.vn
Scatha. Đây là tiếng Anh Cổ (“kẻ làm hại, kẻ thù, kẻ cướp”), nghĩa là từ ngôn ngữ Rohan và vì thế cần để nguyên. [Scatha]
Shadowfax. Đây là dạng Anh hóa từ R. (= AC.) Sceadu-fæx, “có bờm (và lông) màu xám như bóng tối”. (Từ này không thực có trong tiêng Anh Cổ.) Vì không phải là NNC nên từ này có thể giữ nguyên, dù tốt hơn là giữ cái tên Rohan theo dạng giản lược: Scadufax. Nhưng vì trong văn bản tên này đã được đồng hóa vào tiếng Anh hiện đại (= NNC) nên sẽ rất hay nếu thực hiện chuyển đổi tương tự với NND thuộc nhóm German, dùng những yếu tố gần gũi. A. fax “tóc” giờ đã lỗi thời, chỉ trừ trong họ Fairfax (nay không hiểu được nữa). Có dùng trong CĐC. (faks) và CĐT. (vahs, vachs V.V.), nhưng tôi tin là ngày nay cũng đã lỗi thời; nhưng vẫn có thể dùng lại riêng cho tên này như đã dùng trong văn bản tiếng Anh: ví dụ Schattenvachs? Fax (faks) vẫn còn dùng ở Iceland và Na Uy nghĩa là “bờm”, nhưng shadow không có dạng tương đương tuyệt đối trong các ngôn ngữ Scandinavia. Bản Hà Lan để Schaduwschicht (“shadow-flash [ánh chớp trong bóng tối]”), bản Thụy Điển để Skuggfaxe. [Bờm Bóng/ Scadufax]
Sharkey. Chủ ý đây là một biệt danh đã thay đổi để hợp với NNC (tức là Anh hóa trong văn bản tiếng Anh), dựa trên từ tiếng Orc sharkû, “lão già”. Vì thế từ này nên giữ lại, biến đổi chính tả cho hợp với NND; đuôi -ey có tính giảm nhẹ và nửa trìu mến cũng có thể thay đổi cho thích hợp. [Cụ Shark]
Shelob. Dù chữ này về âm đọc (theo tôi nghĩ) nghe rất có vẻ là tên phù hợp gọi con Nhện trong một thứ tiếng xa lạ (tiếng Orc), nhưng trên thực tế đấy lại là ghép từ She và lob (một từ tiếng Anh phương ngữ nghĩa là “nhện”, xem bài hát của Bilbo ở Hobbit C8). Bản Hà Lan để nguyên Shelob, nhưng bản Thụy Điển để Honmonstret nghe có vẻ yếu ớt. [Bà Nhện]
Shirriff(s). Thực tế là dạng đã lỗi thời của A. Sheriff, “shire-officer”, tôi dùng để thấy rõ liên hệ với chữ Shire. Trong truyện chủ ý coi Shirriff và Shire là những từ Hobbit đặc biệt, không thông dụng trong NNC hồi đó, phái sinh từ ngôn ngữ trước đây vốn có họ với tiếng Rohan. Vì chủ ý không coi từ này không thuộc vào NNC mà là từ địa phương nên không cần thiết
https://thuviensach.vn
phải dịch, nếu cần thay đổi chính tả cho hợp với phong cách NND là được. Tuy nhiên yếu tố đầu cần phải giống với chữ đã dùng cho Shire (xem mục từ này). [Quận Cảnh]
Skinbark. Cách dịch sang tiếng Anh (= NNC) từ Fladrif. Như vậy tên này cần dịch ý cho phù hợp. [Da Vỏ Cây]
Smallburrow. Tên Hobbit có nghĩa; dịch ý. [Hang Nhỏ]
Snowmane. Tên có nghĩa (tên con ngựa của vua Théoden), nhưng (cũng như Shadowfax) đã dịch sang dạng tiếng Anh hiện đại từ snāw-mana. Như vậy cần thay thế bằng dạng tiếng Rohan chuẩn là Snawmana, hoặc dịch (đặc biệt nếu NND thuộc nhóm German), vd Đ. Schneemähne. [Tuyết Mao/ Snawmana]
Stoors. Tên loại Hobbit thứ ba, có thể hình lực lưỡng. Đây là tiếng Anh sơ kỳ stor, stoor, “to, khỏe”, giờ đã lỗi thời. Chủ ý coi đây là một từ Hobbit đặc biệt, không thông dụng trong NNC, nên không cần dịch mà có thể thay thế bằng cách viết “phiên âm” tùy cách dùng chữ cái trong NND. Nhưng dùng một từ cổ hoặc phương ngữ mang nghĩa này cũng chấp nhận được. [Đại Cồ]
Swertings. Theo Sam cho biết thì đây là tên dùng ở Shire chỉ những người da sẫm trong truyền thuyết (của Hobbit) ở các vùng “Sunland” (tít dưới mạn Nam). Có thể để nguyên, coi là một từ địa phương đặc biệt (không có trong NNC), nhưng vì đây hiển nhiên là phái sinh từ chữ swart nay vẫn còn dùng (= swarthy [ngăm đen]), nên cũng có thể thay thế bằng từ phái sinh tương tự từ “đen/sẫm” trong NND. Ss Swarthy Men, từ tương đương trong NNC (T3 Q5 C3). [Swerting; bọn Da Ngăm]
Thistlewool. Dịch ý. [Len Cây Kế]
Took. Tên Hobbit, không rõ xuất xứ, thay thế chữ Hobbit có thật là Tūk (xem Phụ lục F). Như thế tên này cần giữ lại và phiên âm theo quy tắc NND.
Các tên riêng nhà Took cần giữ nguyên dạng và cách viết, như Peregrin, Paladin, Adelard, Bandobras v.v. Lưu ý rằng biệt danh của Bandobras, “Bullroarer”, là NNC và cần dịch ý (điệp phụ âm đầu B nếu
https://thuviensach.vn
được). Biệt danh này cũng xuất hiện trong Hobbit C1, Bullroarer Took. Khi viết cuốn đó tôi vẫn đinh ninh bullroarer là một từ dùng trong nhân học chỉ những nhạc cụ của các tộc người dã man phát ra âm thanh như tiếng rống; nhưng bây giờ lại không tìm được chữ đó trong các từ điển (ngay cả trong phiên bản Bổ sung của Từ điển Oxford). [Took; Bandobras Bò Rống]
Treebeard. Cách dịch chữ Fangorn. Dịch ý. [Cây Râu]
Twofoot. Dịch ý. [Hai Chân]
Underhill. Dịch ý. [Gầm Đồi]
Wandlimb. = Fimbrethil, nhưng không phải là cách dịch3. Dịch ý. Tên một Entwife. [Nhánh Mảnh Mai]
Whitfoot. Dịch như “white” [trắng] và “foot” [chân]. [Chân Trắng]
Windfola. = “Wind-foal” [gió + ngựa non], nhưng để nguyên vì đây là tiếng Rohan (không phải NNC). [Windfola]
Wingfoot. Biệt danh. Dịch ý: “winged-foot” [chân có cánh]. [Chân Có Cánh]
Wizard. Xem Chỉ mục4. [Phù Thủy]
Wormtongue. Dạng “hiện đại hóa” biệt danh của Gríma, tên cố vấn ác độc ở Rohan = R. wyrm-tunge, “lưỡi rắn”. Dịch ý. [Lưỡi Giun]
Woses. Đây là dạng thay thế (hiện đại hóa) từ Rohan chỉ “những người hoang dã sống trong rừng”. Đây không hoàn toàn là từ mới tự đặt. Chữ Rohan thực theo giả đinh là wāsa, số nhiều wāsan, nếu còn tồn tại được tới tiếng Anh hiện đại thì ắt sẽ biến đổi thành woses. Tốt hơn nữa nên gọi những “người hoang dã” này là woodwoses, vì chữ này thực sự tồn tại trong tiếng Anh Cổ: wudewāsa, gộp chung cả “faunus, satyrus, người dã man, các sinh vật tà ác”. (Từ này còn tồn tại tới tận thời Tudor dưới dạng woodoses (thường bị biến dạng thành woodhouses), còn lại cả đến nay trong hệ thống huy hiệu, trong đó woodhouse = “một người hoang dã lông lá, che thân bằng lá”, thường được miêu tả đang đỡ gia huy/quốc huy.) Yếu tố wāsa nguyên thủy chỉ một người cô độc hoặc bị bỏ rơi, đến nay có nghĩa là “trẻ mồ côi”
https://thuviensach.vn
(vd Đ. Waise và HL. wees). Liên tưởng này hẳn là bắt nguồn từ sự tồn tại có thực của lớp dân hoang dã, tàn dư từ những tộc người ngày xưa bị quân xâm lược đánh đuổi, hay những kẻ ngoài vòng pháp luật, sống một cuộc đời hoang dã hạ tiện trong vùng núi rừng. [Wose]
https://thuviensach.vn
ĐỊA DANH
Archet. Đây là địa danh có thật ở Anh, xuất xứ Celt. Đưa vào hệ thống tên ở Bree để cho thấy có một nhóm tên gọi cổ xưa hơn các tên trong NNC hoặc tiếng Hobbit. Cũng vậy có Bree, một địa danh ở Anh gốc là chữ “đồi” trong tiếng Celt. Vì thế Archet và Bree cần giữ nguyên, vì những tên này không còn có nghĩa hiểu được trong tiếng Anh. Chetwood là một từ ghép nửa Celt nửa Anh, cả hai yếu tố đều = “rừng”. Ss Brill (Oxfordshire), phái sinh từ bree + hill. Vì thế với Chetwood giữ nguyên Chet và dịch wood. [Archet]
Ashen Mountains. Cách dịch sang NNC từ Ered Lithui (S. orod, số nhiều eryd/ered, “núi”; lith, “tro” + đuôi tính từ ui). Dịch ý sang NNC: dãy núi màu xám tro. [Dãy Núi Tro]
Bag End. Từ thông dụng chỉ “pudding-bag” [nghĩa đen “bọc đun bánh”], nghĩa là ngôi nhà hoặc nơi nằm cuối ngõ cụt. Dịch ý. Xem Baggins. Lưu ý: cần dùng chung một yếu tố trong NND cho cả Baggins và Bag End. [Đáy Bao]
Bagshot Row. Một dãy các “hole” [hốc ở của Hobbit] cỡ nhỏ trên dải đường nằm dưới Bag End. Tương truyền đặt tên đó là vì đất bới ra khi đào Bag End được “shot” [bắn] qua mép suờn đồi rất dốc, rơi xuống mặt đất nơi sau này là vườn tược và tường đất của các nhà nghèo khó hơn. Dịch ý tương đối, dùng lại yếu tố = “bag” trong NND. [Dãy Lộn Bao]
Bamfurlong. Địa danh ở Anh, nhiều khả năng từ bean, “đậu” + furlong (theo nghĩa “một miếng chia từ một cánh đồng chung”), tên đặt cho một dải đất thường dành riêng trồng đậu. Ngày nay, và chủ ý là thời kỳ trước trong Shire cũng vậy, tên đó không có nghĩa rõ ràng. Đây là tên trang trại của lão nông Maggot. Dịch cho phù hợp, nhưng tốt nhất là dùng từ ghép NND nào đó chứa từ chỉ “đậu” + “đồng, mặt đất được cày xới”. [Luống Đậu]
https://thuviensach.vn
Baránduin. Nghĩa là “dòng sông dài màu nâu vàng”. Để nguyên không dịch: Brandywine dùng làm chữ tương ứng với biến dạng của S. Baránduin, trọng âm ở âm tiết giữa ánd. (S. baran, “màu nâu, nâu ngả vàng” + duin, “sông”: xem Anduin5.) Từ tiếng Elf phổ dụng là duinē: căn tố dui, “dòng chảy (cuồn cuộn)”. Dạng Quenya, nếu có, sẽ là luine (tiếng Quenya phụ âm đầu d > l), nhưng từ này không được dùng. Giữ nguyên khi viết theo cách này. Thường đổi thành Brandywine trong lời Hobbit; xem mục đó. [Baránduin]
Barrow-downs. Dịch ý: vùng đồi thấp không cây có rất nhiều “barrow”, nghĩa là nấm mồ đắp lên, hay các gò mộ tiền sử khác. Chữ barrow này không liên quan tới barrow trong ngôn ngữ hiện đại, “xe kéo có bánh”; đây là một từ dùng gần đây trong khảo cổ học, mượn từ phương ngữ Anh barrow (< berrow < AC. beorg, berg, “đồi, gò”). [vệt đồi Mộ Đá]
Barrowfield. Xem mục trên. Dịch ý: cánh đồng có chứa một gò mộ. [Đồng Mộ]
Battle Gardens; Battle Pit. Dịch ý. [Vườn Trận; Hố Trận] Better Smials. Xem Smials. [Smial Đẹp]
Black Country, Black Land. Cách dịch sang NNC tên Mordor. Dịch. [Đất Nước Đen, Vùng Đất Đen]
Black Stone. Dịch ý. [Hòn Đá Đen]
Blackroot Vale. Dịch ý. Cách dịch sang NNC tên Morthond (tên sông, vì nguồn sông chảy từ các hang tối tăm nơi ở của the Dead Men). [Lũng Rễ Đen]
Blessed Realm. Dịch ý. Tên NNC, chỉ Far Western Land nơi các Valar (các quyền năng hộ vệ) cùng người High Elf sống, mà tiếng Quenya gọi là Aman; trong đó khu vực Valar ở gọi là Valimar hay Valinor, còn nơi Elf ở gọi là Eldamar. Blessed Realm đến lúc này không còn nằm trong thế giới vật chất, và trừ những trường hợp cực hiếm, không còn người trần nào tới được. [Vương Quốc Hằng Phước]
https://thuviensach.vn
Bonfire Glade. Dịch ý. [Trảng Cháy]
Brandy Hall. Cần dịch, nhưng cần có cùng yếu tố đã dùng khi dịch tên sông (Brandywine). Trong trường hợp này có thể dùng lại nguyên chữ [tên sông] trong NND, ví dụ như Branntwein hay Brendevin, vì Brandy Hall nằm trên bờ Đông con sông. Vào tên người Brandybuck có thể rút gọn chỉ còn yếu tố đầu tiên, ví dụ Brendebuk? [Dinh Bia Rum]
Brandywine. Chữ này tương ứng với biến thể mà người Hobbit dùng cho tên S. Baránduin (trọng âm ở âm tiết thứ hai) (Phi lộ, T1 tr5). Vì dụng ý là tên này hiểu được vào thời kỳ đó nên cần dịch ý, nhưng nếu vậy lại có một khó khăn nữa vì nếu được thì cách dịch cũng phải là một biến dạng khả dĩ của chữ Baránduin. Bản Hà Lan để Brandewijn; bản Thụy Điển không nhận ra dụng ý đó nên dùng Vinfluden, dù Brännavin cũng đáp ứng được. ĐM. Brendevin hay Đ. Branntwein đều được. Xem Brandybuck. [Bia Rum Đun]
Bree. Giữ nguyên, vì đây là một tên xưa, đã mờ nghĩa, thuộc một ngôn ngữ xưa; xem Archet, về Bree-hill, Bree-land, giữ nguyên yếu tố đầu, dịch hill và land. [Bree; đồi Bree; Đạo Bree]
Brockenbores. Không phải là địa danh thực ở Anh (theo tôi nghĩ); nhưng chủ ý mang nghĩa hiểu được: “badgers’ borings; hầm do lửng đào”. Dịch ý này. Xem chú thích tên Brockhouse. [Hầm Lửng]
Buck Hill, Buckland. Yếu tố buck cần dịch. Xem chú thích các tên Brandybuck, Oldbuck. [Đồi Hươu; Trấn Hươu]
Bucklebury. Tên làng lớn nhất ở Buckland. Tên dịch có chứa yêu tố buck (như trên) + một chữ tương đương với A. -bury (= AC. burg, “một nơi nằm ở vị trí phòng thủ, có tường bao hoặc rào chắn; một thị trấn”; ss Norbury). Yếu tố le trong Buckle- hoặc coi là biến thể của Buckenbury, đuôi -en(a) cổ chỉ sở hữu số nhiều, hoặc coi là dạng tỉnh lược của Buckland. [Ấp Hươu]
Budgeford. Budge- là một yếu tố đã mờ nghĩa, tới thời kỳ đó không còn nghĩa rõ ràng. Vì đây là nơi ở chính của nhà Bolger (một tên Hobbit
https://thuviensach.vn
không được dịch), nên có thể coi đây là biến dạng của yếu tố bolge, bulge. Cả Bolger lẫn Bulger đều là những họ có tồn tại ở Anh. Dù xuất xứ thật là gì thì trong truyện cũng dùng với ngụ ý những chữ này vốn là những biệt danh chỉ sự béo hay mũm mĩm. [Bến Budge]
Bywater. Tên làng, vì nằm bên hồ nước rộng phình ra giữa dòng Water, sông lớn nhất ở Shire và là phụ lưu sông Brandywine. Dịch ý. [Bờ Nước]
Chetwood. Xem Archet, [rừng Chet]
The Cleft (“of the Spider”) = Cirith Ungol. Xem T2 Q4 C9, 10 và T3 Q6 C1. Cirith nghĩa là “cleft [kẽ nứt]”, lối thông hẹp cắt xuyên qua đất hay đá (như đường sắt xuyên núi). Dịch ý. [Khe Nứt]
Cloudyhead. (Dịch từ tiếng Dwarf Bundushathûr.) Dịch ý. [Trán Mây]
Coomb. Thung lũng sâu (nhưng thường không lớn lắm). Rất thường dùng làm một yếu tố trong các địa danh ở Anh với nhiều cách viết khác nhau như -comb, -cumb, -combe, v.v. Trong truyện này dùng trong tên Deeping Coomb, hoặc gọi tắt thành Coomb. Xem Deeping Coomb. [Lòng Chảo]
Crack of Doom. Trong cách dùng hiện đại bắt nguồn từ Macbeth, hồi IV cảnh 1 dòng 117; trong câu đó the cracke of Doome nghĩa là “dấu hiệu báo Ngày Cuối Cùng đã đến” qua một “crack” tức một tràng sấm rền: cách hiểu thông thường là như vậy, nhưng cũng có thể hiểu là “âm thanh của hồi kèn cuối cùng”, vì crack có thể dùng chi tiếng tù và hay trumpet đột ngột vang lên (như Sir Gawain and the Green Knight các dòng 116, 1166). Trong truyện này, crack được dùng theo nghĩa “fissure” [vết nứt, kẽ nứt], chỉ rãnh nứt phun dung nham quanh miệng núi lửa Orodruin ở Mordor. (Tôi đoán suy đến cùng cách dùng này xuất phát từ Algernon Blackwood, theo tôi mơ hồ nhớ thì đã dùng theo nghĩa này trong một cuốn sách của ông mà tôi đọc cách đây nhiều năm.) Xem thêm các mục Doom và Mount Doom. [Khe Định Mệnh]
https://thuviensach.vn
Crickhollow. Tên địa danh ở Buckland. Dụng ý coi là từ ghép giữa một yếu tố lỗi thời + từ quen thuộc hollow. Yếu tố -hollow (chỗ trũng nhỏ trên mặt đất) có thể dịch ý, yếu tố crick- giữ lại (theo chính tả NND). [Hõm Crick]
Deeping Coomb. Đúng ra nên viết là Deeping-coomb, vì đuôi -ing trong Deeping không phải chỉ động từ, mà là chỉ quan hệ: cái coomb, tức là thung lũng sâu, nằm dưới và dẫn lên Deep (Helm’s Deep). Deeping Stream cũng tương tự. [Bản in 1977 trở đi đã sửa lại chính tả - HS] [Lòng Chảo Hẻm; Suối Hẻm]
Derndingle. Treebeard nói đây là chữ Con Người dùng chỉ nơi hội họp của các Ent (T2 Q3 C4); vậy dụng ý là một từ NNC. Nhưng cần hiểu là cái tên bằng NNC này đã đặt từ cách đây rất lâu rồi, khi người Gondor còn biết hay nhớ về Ent nhiều hơn bây giờ. Dingle nay vẫn hiểu được, nghĩa là “thung lũng nhỏ rất sâu (rợp bóng cây)”, nhưng dern, “bí mật, giấu kín” từ lâu đã thành lỗi thời, tất cả những từ cùng gốc trong các ngôn ngữ German khác cũng vậy - chỉ trừ Tarn- trong Đ. Tarnkappe (từ CĐT.). Dịch ý, tốt nhất là chọn các yếu tố lỗi thời, thi ca, hay phương ngữ. [Mật Cốc]
Dimholt. Rừng toàn những cây thân màu tối chặn lối vào Dark Door. Hình thức tên này là tiếng Rohan, vì thế cần giữ nguyên không đổi, mặc dù dim vẫn còn thông dụng trong tiếng Anh (nhưng ở đây dùng theo nghĩa xưa hơn, là “ít biết, bí mật”), còn holt đôi lúc vẫn dùng trong ngôn ngữ thơ ca. [Dimholt]
Dimrill Dale. Tên bằng NNC, chỉ Azanulbizar trong tiếng Dwarf, S. Nan Duhirion. Dạng NNC này là cách dịch chuẩn xác: thung lũng có những dòng lạch “dim” (phủ bóng cây) chảy xuống theo các sườn núi. Dịch ý. Tương tự với Dimrill Gate, Dimrill stair. [Lũng Lạch Râm; Cổng Lạch Râm; Bậc Lạch Râm]
Doom, Mount Doom. Từ doom với nghĩa gốc là “sự phán xử” (luật pháp chính thức, hoặc cá nhân), trong tiếng Anh, phần vì âm của từ, phần lớn hơn vì cách dùng đặc biệt trong chữ Doomsday (*) [ngày phán xét cuối
https://thuviensach.vn
cùng = ngày tận thế], đã mang nặng các sắc thái liên quan đến cái chết, sự tận cùng, số mệnh (số phận đang đến gần, hoặc số mệnh được tiên báo).
(*) Ngoài tiếng Anh, doomsday chỉ được bảo lưu trong các ngôn ngữ Scandinavia: I. dómsdagur, TĐ. domedag, ĐM. dómmedag; còn có Phần Lan tuomipäivä).
Chữ doom dùng trong văn bản làm từ tượng thanh (đặc biệt trong T1 Q2 C5) đi kèm với boom, tất nhiên chủ yếu là để tượng thanh, nhưng có dụng ý (sẽ được phần lớn người nói tiếng Anh nhận ra) liên tưởng tới danh từ doom hàm chỉ về thảm họa. Nhiều khả năng điều này không lặp lại được trong NND. Bản Hà Lan phiên âm doom/boom thành doem/boem, như vậy là được, và dù sao cũng được củng cố thêm nhờ động từ doemen; động từ này, đặc biệt ở thời quá khứ hoàn thành gedoemd, cũng đồng nghĩa với A. doomed (chịu xử chết, hoặc chịu số phận kinh hoàng). Bản Thụy Điển nói chung để dom/bom, nhung đôi lúc chuyển thành dum/bom. Để như thế (theo chừng mực tôi thấy) là không thỏa đáng, vì chữ dum mang các liên tưởng khá lạc điệu, còn dumbom lại là từ chỉ “blockhead [đầu đất]” (Đ. Dummkopf).
Mount Doom là tên bằng NNC (dùng ở Gondor) chỉ ngọn núi lửa Orodruin (“núi mang ngọn lửa đỏ”), nhưng là cách dịch tên tiếng Elf khác của núi đó là Amon Amarth, “hill of doom”, đặt cho núi lò rèn của Sauron vì trong những lời tiên đoán cổ xưa ít người hiểu được, núi đó gắn liền với “doom”, định mệnh mà theo tiên đoán sẽ xảy ra khi Isildur’s Bane lại được tìm thấy: ss bài thơ T1 Q2 C2 tr316. Dịch theo ý: “Mountain (of) doom” (theo nghĩa “impending fate [số mệnh đang tới gần]”). Xem Crack of Doom. [Đỉnh Định Mệnh]
Dunharrow. Hiện đại hóa từ chữ Rohan “thật” Dūnhærg, “cái miếu dị giáo trên sườn đồi”; đặt tên này cho khu vực lánh nạn của người Rohan ở đầu Harrowdale vì nơi đây từng là đất thiêng của lớp dân cư sống trước đó (bây giờ là the Dead Men). Yếu tố hærg có thể hiện đại hóa khi sang tiếng Anh, vì nay vẫn còn dùng làm yếu tố cấu tạo tên địa danh, đặc biệt dưới dạng Harrow (on the Hill [trên đồi]). Từ này không có liên hệ gì với harrow
https://thuviensach.vn
là cái bừa, mà là từ tương đương trong tiếng Anh Cổ với BAC. hörg-r (I. hiện đại hörgur), CĐC. harug. Trong NND, tốt nhất nên thay bằng dạng gần tương tự với dạng Rohan. Bản Hà Lan Dunharg là được; bản Thụy Điển để Dunharva, có thể đoán là do họ hiểu harrow là cái bừa (TĐ. harv). [Miếu Bên Đồi/Dunharg]
Dunland. Chứa tính từ A. dun, nghĩa là “tối, u ám, màu xỉn”. Xem Phụ lục F. [Dunland]
Dwarrowdelf. Xem Phụ lục F [về số nhiều của Dwarf = “Dwarrow” - HS]. Được coi là cách dịch sang NNC từ tên thật của Moria: Phurunargian, để dạng cổ trong tiếng Anh vì bản thân Phurunargian đã là dạng cổ. Sắc thái “cổ” ở đây không quan trọng lắm; tên này khi dịch cần dùng yếu tố đã dùng để dịch Dwarf (hoặc biến thể của chữ đó) + một từ nghĩa là “mỏ, nơi đào xới, khai quật” - vd Đ. Zwergengrube? [Mỏ Quặng Lùn]
Eastermnet. Tiếng Rohan; giữ nguyên (dù có east nhưng đây không phải là tên bằng NNC, mà là tiếng Rohan nghĩa là “đồng bằng phía Đông”). Tương tự với Eastfold. [Eastermet; Eastfold]
Eastfarthing. Xem The Farthings.
Elvenhome, Elven Door, Elven river. Xem chú thích Elven-smiths trong phần Tên người.
Entwade, Entwash, Entwood. Đây vốn là những tên tiếng Rohan đã “hiện đại hóa”: Entwæd, Entwæsc, Entwudu. Các yếu tố đứng sau - wæd hay “khúc cạn”, wæsc hay “nước lũ”, wudu hay “rừng” - đã được chuyển sang dạng tiếng Anh hiện đại, vì trong dạng Rohan cũng dễ dàng nhận thấy mối quan hệ họ hàng với các từ trong NNC: nghĩa là những người dùng NNC, nhất là ở Gondor (và tất nhiên biết rõ các địa danh cũng như địa lý Rohan) cũng dùng những dạng đã đồng hóa vào ngôn ngữ mình. Vì thế các yếu tố - wade, -wash, -wood có thể dịch ý cũng được, nhất là nếu NND cũng chứa những yếu tố cùng gốc, như TĐ. vad, “quãng lội”, về Ent, xem mục đó. [Bãi Cạn Ent/Entwad, Luồng Ent/Entwasc, Rừng Ent/Entwudu]
https://thuviensach.vn
Ettendales. Dụng ý đây là tên bằng NNC (không phải tiếng Elf), dù chứa một yếu tố lỗi thời eten tức “troll, ogre [quỷ khổng lồ]”. Phần này cần giữ nguyên, trừ những ngôn ngữ vẫn còn giữ từ này dưới dạng nào đó, như ĐM. jætte, TĐ. jätte, I. jötunn = AC. eoten, AT. eten, eten, A. phương ngữ yetën.
Tương tự với Ettenmoors; moor ở đây dùng theo nghĩa phương Bắc là “vùng đất cao cằn cỗi”. [Lũng Etten; Truông Etten]
(The) Farthings. Xem Phi lộ, T1 tr11. Chính là từ farthing trong tiếng Anh (AC. feorðing, AT. ferthing), nghĩa là một phần tư xu; nhưng ở đây dùng theo nghĩa gốc là “phần chia tư, một phần tư”. Từ này theo mẫu thriding hay “phần chia ba” dùng làm đơn vị phân cấp [liền dưới] ở Yorkshire, mất âm đầu th khi theo sau th hay t: Northriding, Eastriding, Westriding. Cách dùng với các đơn vị đo lường khác, ngoài tiền, đã từ lâu lỗi thời trong tiếng Anh, và farthing từ tiếng Anh Trung đại thời kỳ đầu đã được dùng chỉ một lượng nhỏ không đáng kể, nên đối với người Anh mà nói, dùng chữ đó chỉ một phần Shire (diện tích chừng 18.000 dặm vuông) nghe rất khôi hài. Âm điệu này khó mà sao chép lại được. Nhưng có lẽ có thể dùng được những từ cùng gốc: như ĐM. fjerding, TĐ. fjärding; hay Đ. Viertal (được dùng cho “region, district [khu vực, quận]”). [Tổng Đông, Tổng Tây, Tổng Nam, Tổng Bắc]
Fenmarch. Tên tiếng Rohan: dải đất biên cương lầy lội (fen [đầm lầy]) dọc bờ dòng Mering Stream (xem bản đồ) làm thành biên giới giữa Rohan và Anórien. Đúng ra cần gọi là Fenmark, nhưng vì chữ này xuất hiện ở T3 Q5 C3 và trên bản đồ nên tôi đã giữ lại; yếu tố -mark, hay là dạng marche trong tiếng Pháp (gốc German) cũng cùng nghĩa: “biên giới, (vùng) biên cương”. Vì là tên bằng tiếng Rohan, trong bản dịch hãy để Fenmark. [Fenmark]
Firien. Tên tiếng Rohan, tương ứng với một chữ cổ (AC. firgen, phát âm là firien) nghĩa là “núi”. Ss Halifirien, “holy-mount [đỉnh núi thiêng]”. Vì đây là một từ tiếng Rohan nên firien cần giữ nguyên. Có sự không nhất quán là Firienfeld, bãi đất phẳng lưng chừng Dunharrow, thì để lại không
https://thuviensach.vn
hiện đại hóa (trong Chỉ mục để Firienfield là sai), nhưng Firienholt lại được đổi thành Firienwood, khu rừng quanh chân và trên các sườn núi Halifirien. Trong bản dịch tốt hơn hết là để lại cả hai không thay đổi, Firienfeld, Firienholt, vì là những tên bằng thứ tiếng khác (không phải NNC). [Firienfeld; Firienholt]
Folde. Tên tiếng Rohan, để lại không thay đổi. Từ này cũng gặp trong Eastfold, chữ này cũng phải để nguyên (ss Eastemnet). Đây là chữ AC. folde (BAC. fold), nghĩa là “đất đai, vùng đất, đất nước”, không liên quan tới động từ A. fold, [gấp] hay (sheep) fold [bãi quây (cừu)]. Ss Vestfold và Østfold ở Na Uy.
(Folde là trung tâm vương quốc Rohan, nơi ở của hoàng gia cùng thân thích đều đặt tại đây; ranh giới phía Đông là một đường gần thẳng chạy theo hướng Tây Nam từ giao điểm hai dòng Snowbourn và Entwash xuống đến dãy núi; Eastfold là vùng đất tính từ đường đó đổ về Đông cho tói Fenmark nằm giữa dòng Entwash và dãy núi; Westfold là dải đất tương tự chạy dọc dãy núi đến sông Isen thì dừng. Trung tâm phòng vệ của Folde và Eastfold là Edoras, của Westfold là Helm’s Deep.) [Folde]
Frogmorton. Đây không phải địa danh có thật ở Anh, nhưng có chứa những yếu tố giống trong Frogmore (Buckinghamshire): frog + moor + town. Vì đây là tên hiểu được nên có thể dịch. Lưu ý là moor/mor mang nghĩa “miền đầm lầy”, như thường thấy trong các địa danh miền Nam hoặc nội địa nước Anh. [Chuôm Ếch Thôn]
Gladden Fields. Gladden ở đây là tên chỉ cây “flag”, tức diên vĩ (AC. glædene), nay thường viết là gladdon, và không liên quan gì tới từ glad [vui mừng] và động từ gladden trong tiếng Anh. Dịch ý, nhưng nếu được thì tránh dùng cái tên “văn vẻ” iris. Tương tự với Gladden River, sông chảy vào Gladden Fields. [Đồng Diên Vĩ; Sông Diên Vĩ]
Golden Perch. Tên quán trọ; ắt hẳn là một quán yêu thích của giới câu cá. Dù sao Perch ở đây cũng là tên cá (chứ không phải đơn vị đo lường đất, hay sào cho chim đậu), [(quán) Rô Vàng]
https://thuviensach.vn
Great Smials. Xem Smials trong phần Các khái niệm khác.
Từ mục này đến hết vần G trong Chỉ mục đều dịch ý: mọi tên trong đó đều là tiếng Anh hiện đại (= NNC). Tuy nhiên lưu ý: Grimslade, có nhắc tới ở T3 Q5 C6, nhà của Grimbold đã tử vong trong cuộc chiến, là từ Grim (hiển nhiên là tên một cụ tổ nào đó) + slade (AC. slæd, phương ngữ NU. slad), được dùng phổ biến trong địa danh Anh cho đến tận giờ, chủ yếu với nghĩa “trảng rừng”, “thung lũng nhỏ (đặc biệt là thung lũng trên triền đồi dốc)”. [Smial Lớn]
Halifirien. Tên tiếng Rohan; giữ nguyên. Xem Firien. [Halifirien]
(The) Hallows. Cách dịch sang NNC (T3 Q6 C5, 6) từ tên dùng ở Gondor (tên này không được biết) chỉ Khu Thiêng nơi đặt mộ (ss T3 Q5 C1). Dịch sang NND (bằng từ mang sắc thái cổ giả hoặc thơ ca nếu được). [Linh Thất]
Hardbottle. Ở Shire; nhà của họ Bracegirdle (ở North Farthing, bản đồ không có), -bottle là một yếu tố thường thấy trong địa danh Anh, AC. botl, biến thể của bold (build [xây dựng] trong tiếng Anh hiện đại là phái sinh từ chữ này), nghĩa là “chỗ ở (lớn)”; không liên quan tới bottle, “chai lọ thủy tinh”. So sánh Nobottle trên bản đồ Shire cỡ nhỏ, đây lại là địa danh có thật ở Anh (Northumberland). Dịch bằng những yếu tố thích hợp trong NND: mang nghĩa là “nhà cứng”; “cứng” là vì được đào vào đá, hoặc xây bằng đá (ở vùng Northfarthing lắm núi đá). Yếu tố tương đương, cùng gốc trong địa danh ở Đức là -büttel; ở Scandinavia là -bol (nhất là ở Na Uy). [Xóm Đá)
Harrowdale. Xem Dunharrow. [Khe Miếu/Hargdal]
Haysend. Khúc cuối [end] của hay, tức là bờ giậu làm ranh giới (không phải hay là “cỏ khô”). Dịch theo nghĩa “đoạn cuối hàng giậu”. Ss High Hay. [Đuôi Giậu]
Helm’s Deep, Helm’s Dike, Helm’s Gate. Helm là tên người, do đó cần giữ nguyên. [Hẻm Helm, Hào Helm, Cổng Helm]
Hill of Guard. Dịch, vì đây là tên NNC đặt cho Amon Tirith, ngọn đồi trên đó xây Minas Tirith. [Đồi Canh]
https://thuviensach.vn
Hoarwell. Cách dịch sang NNC từ Mith-eithel = “xám nhạt” + “suối, nguồn suối”; well như thường thấy trong tên địa danh, mang nghĩa này (chứ không phải nghĩa giếng sâu chứa nước). Dịch. [Nguồn Xám]
Hobbiton. Xem Hobbit phần Tên người. Tên này cần được dịch bằng hobbit + một yếu tố nghĩa là “làng”. [Hobbit Thôn)
Hold. Trong Hold of Dunharrow mang nghĩa “stronghold, nơi trú ẩn được phòng thủ vững chắc”. [Cứ Điểm]
Hollin. Tên NNC (nói tắt của Hollin-land) chỉ đất nước mà tiếng Elf gọi là Eregion, “vùng đất cây nhựa ruồi”. Hollin là dạng cổ của holly [nhựa ruồi], nay vẫn dùng ở một số địa phương; vùng đất này mọc rất nhiều cây nhựa ruồi. Dịch. [Đất Nhựa Ruồi]
Hornburg, Hornrock. Đặt theo cây tù và [horn] lớn của Helm, nghe đồn nhiều lúc vẫn nghe thổi vang. Dịch. [Lũy Tù Và; Hòn Lũy]
Irensaga. Tiếng Rohan. Có nghĩa là “iron-saw [lưỡi cưa sắt]”, ám chỉ sống núi hay mỏm núi lởm chởm của dãy núi này; có thể để nguyên coi là tên bằng thứ tiếng khác, hoặc dịch ra (xem mục tiếp theo). [Irensaga]
Isengard, Isenmouthe. Những tên này chủ ý nhằm tương ứng với cách dịch sang NNC những tên tiếng Elf Angrenost và Carach Angren, nhưng là những cách dịch từ rất lâu về trước, đến nỗi tới thời kỳ xảy ra câu chuyện đã trở thành từ cổ và nghĩa gốc đã bị mờ đi. Vì thế có thể để nguyên cũng được, dù dịch ra (một hoặc cả hai yếu tố trong tên nào cũng vậy) sẽ là phương án thích hợp hơn, và tôi nghĩ là tốt hơn, nếu NND thuộc họ German và có những yếu tố cùng gốc.
Isen là một biến thể cũ của A. iron; gard là một từ German nghĩa là “sân có rào”, đặc biệt là rào quây quanh một nhà ở hay một nhóm công trình xây dựng; mouthe là phái sinh của mouth, tương ứng với AC. mūða (phái sinh của mūð là “mouth [miệng]”), nghĩa là “chỗ mở”, đặc biệt dùng cho miệng sông hay cửa sông, nhưng cũng có thể dùng cho những khe hở hay lỗ khác (không dùng cho các khiếu trên cơ thể). Tên gọi Isengard. tức “iron court [sân sắt]” là vì đá ở đây rất cứng, đặc biệt là đá xây tòa tháp trung tâm.
https://thuviensach.vn
Còn Isenmouthe là do hàng rào lớn bằng những cọc sắt nhọn, bít lấy con đèo dẫn vào Udûn này, như răng mọc trong hàm (ss T3 Q6 C2).
Trong các bản Hà Lan và Thụy Điển, Isengard đều để nguyên. Với Isenmouthe, bản Hà Lan để Isenmonde, chỉ yếu tố sau được dịch hoặc đồng hóa vào tiếng Hà Lan. (Dịch trọn vẹn thành Ijzermonde tôi thấy sẽ tốt hơn). Bản Thụy Điển để là Isensgap, vậy là không đúng vì Isen đứng vai trò tính từ chứ không phải tên người.
Yếu tố gard có xuất hiện trong BAC. garðr, từ đó mà có các chữ thông dụng hoặc phương ngữ trong TĐ. gård, ĐM. gaard, A. garth (bên cạnh dạng chuẩn A. yard); chữ này mặc dù thường đi vào những nội dung nôm na hơn (như A. farmyard [sân trại]) song vẫn xuất hiện chẳng hạn như trong BAC. Ás-garðr, mà nay phổ biến dưới dạng Asgard trong thần thoại [Bắc Âu]. Vào tiếng Đức chữ này mất từ sớm, ngoại trừ trong CĐC. mittin- hay mittil gart (những vùng đất có Con Người sinh sống) = BAC. mið-garðr, và AC. middan-geard: xem mục Middle-earth. Dạng cổ Đ. -gart của yếu tố này liệu có thích hợp để dịch hay đồng hóa vào tiếng Đức, ví dụ Eisengart?
Còn về -mouthe, yếu tố tương đương trong tiếng Đức có vẻ là Mündung (hoặc -münde trong địa danh); trong các thứ tiếng Scandinavia, ĐM. munding, TĐ. mynning.
Lưu ý. Isengard để theo dạng nào cũng phải dùng lại trong tên River Isen, vì tên này đặt theo Isengard là nơi bắt nguồn dòng sông. [Isengard; Isenmouthe]
Lake Evendim. Tên gọi NNC của Nen Uial, “mặt nước hoàng hôn”. Dịch ý: “chiều tối + nhá nhem/hoàng hôn/chạng vạng”. [Hồ Bóng Tà]
Langstrand. (Cách dịch từ Anfalas.) Đây là tên NNC, nên dịch ý: “long strand [bờ biển dài]”, Hiện tượng nhược hóa long > lang rất thường gặp trong địa danh Anh có thể bỏ qua. [Cát Dài]
Limlight (sông). Chính tả phần -light cho thấy đây là tên NNC; nhưng để nguyên yếu tố lim- đã mờ nghĩa và dịch -light: tính từ light = “sáng, trong trẻo”. [Lim Sáng]
https://thuviensach.vn
Lockholes. Cũng như “lock-up [house]” của người Hobbit: nơi giam giữ. Dịch ý. [Hốc giam]
Longbottom. Yếu tố sau vẫn còn giữ nghĩa gốc (cả trong các địa danh thường gặp ở địa phương, và trong những họ xuất phát từ đó như Ramsbottom) là “thung lũng” (nhất là đầu thung lũng nằm trong núi); có họ với TĐ. botten, ĐM. bund; cả với Đ. Boden, nhưng nghĩa không hẳn sát. Dịch ý. [Đáy Dài]
Lune. Tên đã Anh hóa, tức là do người Hobbit dùng, từ tiếng Elf Lhûn (bản đồ để vậy). Như vậy đây là một tên bằng tiếng khác, cần giữ nguyên trong NND, nếu cần có thể đồng hóa vào chính tả của NND khớp với âm đọc là lūn. [Lune]
Marish. Dạng cổ của A. marsh [đầm lầy]. Dịch (nếu được, dùng một từ hoặc dạng hiểu được, nhưng là từ địa phương, hoặc nay không còn dùng). [Chằm Lớn]
Mathomhouse. Xem Mathom trong phần Các khái niệm khác. [Viện Mathom]
Mering Stream. Tên này xuất hiện trong bản đồ: “dòng nước ranh giới”. Giữ nguyên Mering vì là từ tiếng Rohan, không có trong NNC. (AC. mære, mēre, “ranh giới”.) [Suối Mering]
Middle-earth. Không phải là một mảnh đất, hay thế giới, hay “hành tinh” đặc biệt, như người ta vẫn quá thường cho là thế, dù trong Phi lộ (T1 tr1), văn bản và các phụ lục đã nói rõ rằng câu chuyện này diễn ra trên trái đất này, dưới những tầng trời nói chung vẫn y nguyên như bây giờ ta thấy. Nghĩa của chữ này là “những vùng đất có Con Người (và Elf) sinh sống”, theo hình dung là nằm giữa Western Sea và giữa biển ở Far East (ở phía Tây chỉ được biết đến qua lời đồn). Middle-earth (xem các từ điển) là biến thể hiện đại từ middel-erde trung cổ, từ AC. middan-geard (xem Isengard). Các bản Hà Lan và Thụy Điển đều làm đúng, dùng tên gọi “thần thoại” cũ đã đồng hóa vào NND hiện đại: HL. Midden-aarde, TĐ. Midgård. [Trung Địa]
https://thuviensach.vn
Midgewater Marshes. Dịch ý. (Tên này đặt theo Mývatn ở Iceland, nghĩa cũng vậy.) [đầm lầy Nước Muỗi Vằn]
Mirkwood. Tên mượn từ địa lý và truyền thuyết German cổ, còn lưu lại chủ yếu trong BAC. myrkviðr, tuy dạng xưa nhất được chép lại là tiếng Đức Cổ mirkiwidu. Tiếng Anh không còn lưu lại, dù bây giờ A. Mirkwood. lại dùng làm dạng tương ứng với BAC. myrkviðr. Dịch ý, dùng các yếu tố thơ ca hay cổ xưa nếu được. Bản Hà Lan để Demsterwold, Thụy Điển để Mörkmården, phần sau tôi không hiểu lắm, vì tôi chỉ biết có mård là tên con “marten [một loại chồn]” nuôi lấy lông (ĐM. maar). (Những người đã dịch thần thoại Bắc Âu sang các thứ tiếng Scandinavia hoặc Đức chắc phải mong muốn có cách nào tốt hơn?) [rừng Âm U]
Mirrormere. Cách dịch sang NNC từ Kheled-zâram (“hồ gương”) tiếng Dwarf; dịch ý. [Hồ Gương]
Mount Doom. Xem Doom.
Norbury. Cách dịch sang NNC từ Forn-ost. Dạng biến đổi [logic] của AC. norð-burg, nếu chữ này còn tồn tại làm địa danh trong tiếng Anh hiện đại, nghĩa là “thị trấn (được phòng vệ) ở phương Bắc”. Dịch ý, dùng những yếu tố cùng gốc trong NND nếu có. Tương tự với Norland, “(thuộc về) những vùng đất phía Bắc”, trong truyện này là những vùng được hình dung ở về phía Bắc Rohan. Dạng dài hơn Northerland (T1 Q2 C8 tr486) cũng chỉ về nơi đó. [Bắc Đô; Bắc thổ]
Northfarthing: xem Farthing.
Over-heaven. Dịch ý. Đây là từ tương đương trong NNC với menel, “vòm trời”, tar-menel, “trời cao” (T1 Q2 C1 tr300), mô phỏng BAC. upphiminn, bản Thụy Điển đã dịch đúng là Upphimlen. Bản Hà Lan để Boven-hemel. [Thượng Thiên Đường]
Rivendell. “Cloven-dell [thung lũng tách đôi]”: cách dịch sang NNC từ Imladris(t), “thung lũng sâu trong kẽ nứt”. Dịch ý, hoặc giữ nguyên, tùy thế nào tốt hơn. Bản Hà Lan giữ lại dưới dạng Rivendel. (Bản Thụy Điển để
https://thuviensach.vn
Vattnadal, nhu vậy không đúng và cho thấy người dịch tưởng Riven- là lấy từ river.) [Thung Đáy Khe]
Rushey. “Rush-isle [đảo cây cói]” (nguyên thủy là một “nền đất rắn” giữa các đầm lầy ở Marish.) Yếu tố -ey, -y mang nghĩa “đảo nhỏ” = TĐ. ö, ĐM. ø, BAC. ey rất thường gặp trong địa danh Anh. (Chữ tương đương trong tiếng Đức là Aue, “đất bên sông, đồng cỏ bên sông”, cũng không phải là không thích hợp trong trường hợp này.) [Đảo Cói]
Sam Ford. Giữ lại Sarn. Chữ này chỉ dịch một nửa (từ Sarn-athrad, “khúc cạn đá”), cũng là một điều thường gặp trong địa danh. Từ Sarn tiếng Elf còn xuất hiện trong Sarn Gebir. [Bến Sarn]
Scary. Tên không có nghĩa dùng ở Shire; nhưng vì nằm trong một vùng nhiều hang và hốc đá (T3 Q6 C9), lại có một mỏ đá (có trên bản đồ Shire) nên có thể coi là mang từ phương ngữ Anh scar, “vách đá”. Để nguyên, trừ phi thay đổi cho hợp với chính tả NND. [Scary]
Shire. Một khu có tổ chức, có một “county-town [thị trấn thủ phủ của hạt]” (ss Phi lộ, T1 tr11). (Với Shire nơi các Hobbit sống, thủ phủ này là Michel Delving). Chữ này vẫn thông dụng trong tiếng Anh hiện đại, tức là thuộc vào NNC trong truyện, nên dịch ý.
Shire, AC. scīr, có vẻ từ rất sớm đã thay thế từ German cổ có nghĩa “district [quận]”, mà dạng xưa nhất là gawi tiếng Goth, nay còn lại trong HL. gouw, Đ. Gau. (Trong tiếng Anh, vì bị nhược hóa thành gē (phát âm là yē), từ này chỉ còn lại trong vài địa danh xưa mà nổi tiếng nhất là Surrey (từ Suðer-ge), “quận phía Nam”.) Từ này sẽ là từ tương đương gần nhất, cả về sắc thái cổ, cả về ý nghĩa chung so với Shire trong truyện. Bản Hà Lan dùng Gouw; Gau trong tiếng Đức tôi thấy có vẻ phù hợp, trừ phi việc gần đây bị dùng trong tái tổ chức vùng dưới chế độ Hitler đã bóp méo chữ vốn rất xưa này. Trong các ngôn ngữ Scandinavia (không có từ cùng gốc), cần dùng một từ khác (xưa càng tốt) mang nghĩa “district, province” v.v. Bản Thụy Điển dùng Fylki (thấy rõ là mượn từ tiếng Bắc Âu Cổ, đặc biệt là NU. fylki, “district, province”)- Thực tế tôi đang nghĩ đến từ sýsla trong tiếng Bấc Âu
https://thuviensach.vn
Cổ và Iceland hiện đại (TĐ. syssla, ĐM. syssel, giờ đã lỗi thời ở nét nghĩa amt nhưng vẫn còn gặp trong địa danh) khi viết rằng tên thật chưa dịch của Shire là Súza (Phụ lục F); sau đây còn nói (Phi lộ, T1 tr6) rằng đặt tên đó vì đây “là một quận buôn bán được tổ chức đâu ra đấy”. [Quận]
Silverlode. (Cách dịch từ Celeb-rant tiếng Elf.) Dịch ý: silver + lode, “đường chảy, dòng nước”. [Mạch Bạc]
Silvertine. (Cách dịch từ Celeb-dil.) Dịch ý: silver và tine, “cọc, sừng nhọn”. [Chĩa Bạc]
Snowbourn. Dạng hiện đại hóa từ R. (=AC.) snāwburna. Hoặc dùng Snawburna, hoặc nếu NND có những yếu tố cùng gốc thì hiện đại hóa tên đó cho phù hợp: vd Schneebrunnen, Snebrønd, Snöbrunn. [Dòng Tuyết/Snawburna]
Staddle. Tên làng ở Bree. Staddle giờ chỉ còn là phương ngữ, nhưng vẫn gặp trong địa danh = “nền, móng”, móng nhà, nền nhà kho, nền dựng đụn rơm v.v; từ AC. staðol. Dùng chữ tương đương cùng gốc trong NND (nếu có), như Đ. Stadel, hoặc đồng hóa vào chính tả của NND. [Staddle]
Starkhorn. Tên núi ở Rohan. Chữ này có thể giữ nguyên, vì không phải tên bằng NNC; nghĩa là một “horn” (đỉnh núi) “dựng thẳng đứng như cọc”. Trong tiếng Đức (và Thụy Điển) cũng có stark nên hẳn chữ này cũng đủ hiểu được. Bản Hà Lan để Sterkhorn, bản Thụy Điển Starkhorn. (Với độc giả tiếng Anh hiện nay, chữ stark gợi liên tưởng đến sự trần trụi, cứng đờ (vốn không có trong nghĩa gốc, mà do chữ này thường dùng miêu tả tình trạng co cứng tử thi, và dùng trong quán ngữ stark-naked [trần trùng trục]), trong tiếng Đức có lẽ chữ tương ứng tốt hơn (?) sẽ là starr.) [Starkhorn]
Stonewain Valley. Dịch ý. Tên bằng NNC chỉ hẻm núi dài và hẹp, các “wain” (xe trượt, xe kéo) đi qua đó trên đường đến và về từ khu mỏ đá. [Thung Xe Đá]
Stoning-land. Thay thế R. Stāning-(land), đây là cách dịch chữ Gondor. Vì chữ này đã được hiện đại hóa (tức là đồng hóa vào hình thức
https://thuviensach.vn
tiếng Anh), nên cần dùng từ tương đương về từ nguyên của “stone” trong NND thay yếu tố trước, như sten, stein. [Staningland]
Sunlands. Dịch ý. Dụng ý rõ ràng cho đây là một cái tên phổ biến, trong cả NNC lẫn các thứ tiếng khác, thông dụng ở Gondor và phía Tây Bắc [Middle-earth] chỉ những đất nước ít biết đến dưới phương Nam xa xôi. [các Xứ Nắng]
Sunlending. Đây thì lại là cách dịch sang tiếng Rohan từ Anórien, tên vùng đất nằm ngay sát Minas Anor (ban đầu bao gồm cả thành phố này cùng khu đất có người sống trải đến tận sông Erui). Như vậy tên này có ý miêu tả biểu tượng huy hiệu [mặt trời] hơn là khí hậu [nắng], gắn với tên hiệu của hai con Elendil là Anárion và Isildur, tên người em được đặt cho Ithilien. Tên này chỉ xuất hiện trong thơ (T3 Q5 C3), được coi là dịch từ dân ca Rohan, nên cần đề nguyên. Cũng có thể viết là Sunnlending (thực tế là cách viết chính xác hơn) như bản Thụy Điển. Nhưng bản dịch Hà Lan để Zuiderleen, “đất phong phía Nam” là sai, vì khu “đất phong phía Nam”, còn gọi là Outlands, là từ chỉ những vùng đất ven biển phía Nam Anórien. [Sunnlending]
Tarlang’s Neck. Dịch Neck (vì nhằm thay thế NNC) và giữ nguyên Tarlang. Bản Thụy Điển để Tarlangs hals; bản Hà Lan để Engte van Tarlang.
Đây là một sống núi đá dài có đường vắt qua, nối liền khối chính của dãy núi với nhánh rẽ (gồm ba đỉnh) cắt đồng bằng Erech khỏi Lamedon. Tarlang ban đầu là tên sống núi này, sau trở thành tên người. [Cổ Tarlang]
Teeth of Mordor. Dịch phần Teeth of. [Cặp Nanh Mordor]
Three-farthing stone. Xem The Farthings. Dịch, dùng chữ nào đã chọn tương ứng với farthing. [Hòn Tam Tổng]
Tighfield. Dụng ý là chứa một từ xưa chỉ “dây thừng” (vẫn còn lại trong vài nét nghĩa danh từ tie trong tiếng Anh hiện đại, mà chính tả đã đồng hóa với chính tả của động từ cùng gốc tie [buộc]). Đây là nơi từng có một “rope-walk”, sân bện thừng. Tốt hơn hết là dịch bằng một từ chỉ “thừng”
https://thuviensach.vn
khác với từ đã dùng trong rope-walk. (Cùng gốc với chữ này là I. taug, và chữ mang nhiều dị thể tough, tov, tog trong tiếng Đan Mạch và Na Uy; tiếng Đức còn có tou (xuất phát từ tiếng Đức Đê địa) trong ngành hàng hải).
Lưu ý: A. rope-walk xem ra đã bị nhiều người dịch hiểu nhầm; bản Thụy Điển chắc chắn hiểu nhầm, để en repbro över älven borta vid Slättäng. Truyện của tôi không nhắc gì đến sông (T2 Q4 C1; bản Thụy Điển trang 249). Cũng không dễ gì hiểu tại sao một “sợi thừng bắc làm cầu” qua sông lại giúp sinh ra kiến thức lưu truyền trong cả họ về bản chất của dây thừng hay cách làm ra thừng. Bản Hà Lan để touwbrug, mà tôi ngờ cũng là do hiểu nhầm. Tôi không biết thuật ngữ tương đương với rope-walk trong các ngôn ngữ khác là gì: tra từ điển thấy có Đ. Seilerbahn, và ĐM. reberbane, nhưng có thể những từ này cũng sai? Gọi sân làm thừng là rope-walk (đã xuất hiện trong tiếng Anh kể từ thế kỷ 17) vì thừng được căng thành những sợi dài qua các giá đặt cách quãng.
(TĐ. Slättäng và HL. Weideveld, tất nhiên không dịch đúng Tighfield theo định nghĩa trên, và hẳn chỉ là đoán trên văn cảnh. Tuy nhiên còn có một yếu tố tên địa danh (riêng có ở Anh) cũng đồng dạng với từ chỉ “thừng”, tuy chắc hẳn không liên quan: trong địa danh hiện đại là tigh, teigh, tye, tey. Chữ này nghĩa là “một mảnh đất có rào chắn”, nhưng không bao giờ đứng thành yếu tố đầu tiên trong dạng ghép.) [Đồng Chão]
Tindrock. Tên bằng NNC (không phải cách dịch) đặt cho Tol Brandir, hòn đảo đá dốc đứng lừng lững không có đường lên nằm đầu chuỗi thác Rauros. Dù nguyên thủy là NNC nhưng tên này được đặt từ rất lâu trước khi có câu chuyện này, còn chứa từ cổ tind, “cọc nhọn”, mà nếu còn lại tới nay thì sẽ hiệp vần với find, v.v. Ngày nay nó xuất hiện dưới dạng tine, “răng, ngạnh”, chữ d đã mất. Từ tương đương là BAC. tind-r, CĐC. zint. Cũng có thể dùng zint coi như dạng cổ; nhưng Đ. Zinne thông dụng (và có lẽ cùng gốc) đã mang nghĩa chuẩn chính xác. Tương đương với chữ Zinne này, tiếng Thụy Điển có Tinne, ĐM. Tind(e) - có vẻ cũng thích hợp. Tol Brandir cần để nguyên vì là tên tiếng Elf. [Hòn Chĩa]
https://thuviensach.vn
Tower. Mọi địa danh có Tower(s) trong Chỉ mục đều là cách dịch trong NNC đương thời, hoặc cách dịch của tác giả, từ những tên Sindarin, và cần phải dịch hết những phần bằng tiếng Anh.
Treegarth (of Orthanc). Về garth, xem Isengard. Dịch ý: garth là một khu đất hay mảnh vườn có rào quây, thường bao quanh một tòa nhà chính giữa (ở đây là Orthanc). [Vườn Bao]
Udûn. Để nguyên. [Udûn]
Umbar. Để nguyên. [Umbar]
Underharrow. Xem Dunharrow, Harrowdale. Làng nhỏ trong thung lũng nằm dưới Dunharrow. Dùng lại chữ đã dùng chỉ harrow (“miếu”) trong Dunharrow. [Dưới Miếu/Underharg]
Upbourn. Up- được dùng trong địa danh ở Anh chỉ các làng ven sông trên thượng nguồn con sông dùng làm tên (như Upavon ở Wiltshire), đặc biệt trong tương quan với những điểm dân cư lớn hơn gần cửa sông, như Upwey nằm cao hơn Weymouth. Làng này nằm bên sông Snowbourn, trên Edoras một quãng, nhưng vẫn thấp hơn Underharrow. Vì tên này đặt bằng dạng tiếng Anh đã hiện đại hóa nên có thể dịch ra nếu không gây khó khăn, hoặc giữ nguyên trong dạng chuẩn Rohan là Upburnan. [Đầu Nguồn/Upburnan]
Watchwood. Dịch. [Rừng Canh]
Waymeet. Trên bản đồ Shire ghi Waymoot, vào văn bản đã hiện đại hóa thành Waymeet, một làng nằm ở điểm ba con đường gặp nhau. Dịch ý cách nào thuận tiện. [Chia Ngả]
Weathertop. Dịch. Đây là tên NNC đặt cho ngọn đồi mà tiếng Sindarin gọi là Amon Sûl, “Đồi gió”. [Đỉnh Gió]
Wellinghall. Cách dịch sang NNC của Treebeard từ (“một phần”) tên nhà ở của mình. Dịch. Nghĩa ở đây là “tòa nhà (bên dưới hoặc đằng sau) nơi dòng suối thoát ra”. [Sảnh Nguồn]
https://thuviensach.vn
Westemnet. Tiếng Rohan: emnet, “vùng đất phẳng, đồng bằng”, tương đương với ĐM. slette, và với Đ. Ebene (cũng cùng gốc). Giữ nguyên, vì không phải tên bằng NNC; nhưng West- có thể thay đổi chính tả (bằng V chẳng hạn) trong ngôn ngữ nào không dùng w, vì từ chỉ West trong NNC và trong tiếng Rohan cùng là một, hoặc rất giống nhau. [Westemnet]
Westemesse. Tên NNC của Númenor (chữ này nghĩa là “vùng đất phía Tây”). Dụng ý là ghép từ western + ess, đuôi này được dùng cho các tên Pháp hóa một phần chỉ những miền đất “truyền thuyết”, như Lyonesse, hoặc Logres (nước Anh trong các truyền thuyết về vua Arthur). Tên này trên thực tế có trong truyện hiệp sĩ King Horn từ xưa, tên của một vương quốc có thể đi tàu tới. Dịch bằng một từ đặt mới tương tự, có chứa West- hoặc từ tương đương. Bản Thụy Điển để Västerness, Hà Lan Westernisse. [Tây Châu]
Westfarthing. Xem The Farthings.
Westfold. Xem Folde.
Westmarch (ở Shire). Dịch: march = “vùng biên cương”. [Biên Tây]
West Marches (ở Rohan). Đây là dạng NNC và có thể dịch theo nghĩa “Vùng biên cương phía Tây”: ở Rohan, khu vực này tiếp giáp sông Isen. [Tây Biên Thùy]
Wetwang. Cách dịch sang NNC từ Nindalf (S. nîn “ướt” + talf “đồng phẳng”)- Nhưng tên này ở dạng cổ, wang là từ cổ chỉ “cánh đồng, khu đất phẳng”. (Wetwang là tên địa danh có thực ở Yorkshire.) Wet- cần dịch sang NND, còn wang dịch ý. Nhưng với các thứ tiếng Scandinavia chắc không khó, vì đều có từ tương đương của cả A. wet lẫn wang: I. votur và vangur; TĐ. våt và vång; ĐM. vaad và vang. Bản Hà Lan giữ nguyên Wetwang, mặc dù Natwang sẽ hay hơn; bản Thụy Điển để Våta vägen, nhưng khổng phải nghĩa đó và chữ này không phù hợp: Wetwang là một khu đầm lầy không có lối đi. Wang không còn giữ trong tiếng Hà Lan hay Đức (trừ tên địa danh hoặc phương ngôn). Đ. Wange, HL. wang, “má”, là một từ khác (tuy cùng gốc). [Chằm Lội]
https://thuviensach.vn
Whitfurrows (ở Shire). Dịch ý; whit- là dạng tỉnh lược thông thường của white trong tên người (Whitlock) hay tên địa phương (Whitley). Tương tự với Whitwell ở Shire (địa danh có thực ở Anh). Trong địa danh Anh đây thường là nói đến màu đất. [Luống Trắng]
Wilderland. Một từ tạo mới (không tồn tại thực trong tiếng Anh) dựa trên wilderness (nghĩa gốc là vùng đất chỉ có những sinh vật hoang dã, không có Con Người sinh sống), nhưng có gợi đến các động từ wilder, “lang thang lạc lối”, và bewilder [làm hoang mang]. Đây coi là tên NNC chỉ Rhovanion (trên bản đồ, không có trong văn bản), vùng đất phía Đông Misty Mountains (gồm cả Mirkwood) cho đến tận River Running. Bản Hà Lan để Wilderland: tiếng Hà Lan có wildernis, nhưng tiếng Đức hay các ngôn ngữ Scandinavia thì không (Đ. Wildnis, ĐM. vildnis). [Vùng Đất Hoang]
Withywindle. Tên sông trong Old Forest, dụng ý là bằng ngôn ngữ Shire. Con sông này chảy ngoằn ngoèo, hai bên bờ mọc đầy liễu (withy). Withy- không hiếm gặp trong địa danh ở Anh, nhưng -windle trên thực tế không có (withywindle đặt mô phỏng withywind, một tên chỉ loài hoa bìm bìm). Tốt nhất là có sáng tạo từ những yếu tố thích hợp trong NND. Bản Hà Lan dịch rất tốt thành Wilgewinde (wilg = A. willow). Tôi không hiểu Vittespring trong bản Thụy Điển. Các từ cùng gốc với withy đều có trong các ngôn ngữ Scandinavia; Đ. Weide cũng cùng gốc. [Liễu Gai Quấn Quýt]
https://thuviensach.vn
CÁC KHÁI NIỆM KHÁC
Trong phần này của Chỉ mục, rất ít mục cần chú thích thêm, vì hoặc là mang tên các thứ tiếng khác (nhất là tiếng Elf), hoặc bằng tiếng Anh hiện đại (= NNC) thông thường và yêu cầu dịch bình thường.
Elder Days. Độc giả dùng tiếng Anh tất nhiên sẽ hiểu đây là “older” (nghĩa là “former” [trước kia]), nhưng kèm theo sắc thái cổ, vì tuy là dạng gốc của cấp so sánh hơn nhưng dạng này nay chỉ còn dùng cho người, hoặc dùng làm danh từ Elders (tiền bối, trưởng thượng). Đặt ra cụm từ mới này, tôi đã có dụng ý đó, kèm theo liên tưởng về từ eld hay dùng trong thơ ca, nghĩa là “tuổi già, đời xưa”. Sau này (gần đây) tôi đã gặp trong tiếng Anh sơ kỳ cách nói be eldern dawes, “vào thời tiên tổ chúng ta, rất lâu về trước”. Cụm từ này, nghĩa là “thời những bậc tiền bối”, có thể giúp đặt ra cách dịch không chỉ tương đương với “những ngày trước kia”. Bản Thụy Điển chỉ để đơn giản là i Äldre tiden; bản Hà Lan để de Oude Tid (kém chính xác hơn, vì tất nhiên chữ đó có thể dùng cho các kỷ nguyên khác trước Third Age).
(Sự giống nhau với Eldar, dạng số nhiều của Elda, “Elf”, chỉ là ngẫu nhiên không có chủ ý. Elda là dạng Quenya của S. edhel.) [(thời, thuở) Cựu Niên]
Elven. Xem chú thích ở Elven-smiths giải thích dạng tính từ cổ này.
Evermind. Tên hoa, dịch từ R. simbelmynë. Yếu tố -mind có nghĩa “ký ức”. Như vậy tên này tương tự “forget-me-not” [đừng quên tôi, hoa lưu ly], nhưng loại hoa nói đến lại thuộc loại khác hẳn: đấy là một chủng cỏ chân ngỗng [anemone] tưởng tượng, cũng mọc trên lớp đất mặt như Anemone pulsatilla6hay bạch đầu ông [pasque], nhưng nhỏ hơn và trắng muốt như thu mẫu đơn [wood anemone]. Dịch ý. Bản Thụy Điển và Hà Lan đều bỏ mất yếu tố -mind, dẫn đến các tên tương đương với “hoa vĩnh cửu”, nhưng dụng ý không phải là thế. Dù cây ấy nở hoa suốt bốn mùa nhưng bản thân hoa thì không phải “bất tử”. (TĐ. evighetsblommor, HL. Immerdaar.) [hoa vĩnh ký]
https://thuviensach.vn
Ithilstone. Dịch yếu tố sau -stone, [quả cầu Ithil]
Kingsfoil. Dịch: -foil (từ PC. foil) = “lá”, như trong cinquefoil [ỷ lăng], v.v. Cây asëa chỉ lá là có giá trị. [lá vua]
Lithe. Lithe trước và Lithe sau (AC. líða) là những tên cổ chỉ tháng Sáu và tháng Bảy. Tên tháng trong Lịch ở Shire tất cả đều là dạng (biến dạng) từ các tên tháng tiếng Anh Cổ. Trong lịch Hobbit, (the) Lithe là ngày chính giữa năm (ngày thứ 183). Vì tên tháng của người Hobbit được coi là không phải bằng NNC, mà là dấu vết được bảo lưu từ ngôn ngữ dùng ngày xưa trước thời di cư, nên tốt nhất là để nguyên Lithe - bỏi các tên còn lại trong lịch chắc chắn phải làm thế, dù dịch các Phụ lục ra tiếng nào. Bản Hà Lan giữ lại Lithe. (Chữ này của riêng tiếng Anh, không có chữ nào tương tự trong lịch pháp ở đâu cả.) Bản Thụy Điển viết lại cả đoạn “... chức vụ này cứ mỗi bảy năm được bầu một lần ở Hội chợ Tự do trên khu Đồi Trắng vào ngày Lithe, tức ngày Hạ Chí” (Phi lộ, T1 tr12) thành: Han valdes vart sjunde år vid midsommarvakan uppe pä kritklipporna i sommarsolståndets natt [Người này được bầu bảy năm một lần trong đêm vọng chính giữa hè trên vách đá phấn vào đêm hạ chí]. Ở đây, ngoài việc bỏ mất “Free Fair” và dịch nhầm White Downs (tên địa danh) thành “vách đá phấn” (!), còn diễn giải sai ý đoạn văn cùng những phong tục miêu tả rõ ràng ở đây. Đó không phải là một lễ hội ban đêm, hay “đêm vọng”, mà là ngày hội ban ngày, có tổ chức một “Free Fair” (bản Hà Lan Vrije Markt), gọi như vậy vì ai muốn cũng có thể dựng rạp bán hàng không mất phí. Người dịch đã nhập đoạn này vào lễ hội hạ chí Scandinavia, vốn đã Kitô hóa trên danh nghĩa bằng cách kết hợp với ngày lễ Thánh John Tẩy Giả (24 tháng Sáu), diễn ra cũng loanh quanh mấy ngày đó (I. Jónsvaka, Jónsmessa, ĐM. Sankthansnat, Skaer sommernat, v.v.). Nhưng việc này đâu phải là một Giấc mộng đêm hạ chí!
Yule, ngày giữa đông, chỉ xuất hiện trong Phụ lục D (*), nhưng khi dịch cũng cần được coi là từ lạ như Lithe, không thông dụng trong NNC. Vì thế chữ này cần giữ nguyên, dù có thể để chính tả phù hợp với NND: ví dụ như tiếng Đan Mạch hay Đức viết là Jule, cho khớp với Lithe. Yule có gặp trong tiếng Anh hiện đại (hầu hết đều là từ cổ dùng trong văn chương), nhưng chỉ
https://thuviensach.vn
tình cờ và không thể coi là dấu hiệu cho thấy một từ tương tự, hay cùng gốc, cũng tồn tại trong NNC thời điểm ấy: lịch người Hobbit dùng khác hoàn toàn so với các lịch chính thức bằng NNC. Tuy nhiên, có thể giả định rằng từ này dưới dạng nào đó đã được con người phương Bắc dùng, khi họ tới sống và hợp thành một phần đông đảo trong dân cư Gondor (Phụ lục A), sau này dùng ở cả Rohan, nên một từ tựa như Yule đã được biết đến ở Gondor, như một “tên trên Bắc” dùng chỉ lễ hội giữa mùa đông. Gần giống như trong tiếng Đức hiện đại lại xuất hiện Jul (? vay mượn từ phương Bắc), trong những từ như Julblock, “Yule-log [khúc củi đun lễ Yule, hay Giáng sinh]” và Julklapp (trong tiếng Thụy Điển, và tiếng Đan Mạch cũng tương tự). Ở Scandinavia, tất nhiên Jule là đủ hiểu rõ.
(*) Ngày giữa đông chỉ xuất hiện một lần trong phần truyện chính. Lễ hội giữa mùa đông không phải là phong tục của Elf, do đó hẳn không được tổ chức ở Rivendell. Tuy nhiên, Đoàn hộ Nhẫn ra đi ngày 25 tháng Mười hai, vào thời điểm đó không mang ý nghĩa đặc biệt gì, vì thời ấy Yule hay ngày tương đương mới là ngày cuối năm cũ, đầu năm mới. Tuy ngày 25 tháng Mười hai (họ khởi hành) và 25 tháng Ba (họ hoàn tất nhiệm vụ) đều là do tôi cố ý chọn. [Lithe; Yule]
Longbottom Leaf. Xem Longbottom phần Địa danh. [Lá Đáy Dài]
Mathom. Để nguyên; đây không phải là NNC mà là từ đặc thù của Hobbit (so sánh Smials, xem Phụ lục F). Định nghĩa từ này có ở Phi lộ, T1 tr7: “bất kể thứ gì người Hobbit không sử dụng trước mắt, song lại chẳng nỡ lòng vứt bỏ”. Chữ này tương ứng với AC. máðm, “vật quý, của báu”. [mathom]
Old Toby. Một chủng thuốc lá, đặt theo tên Tobold (Hornblower). Dùng bất kỳ dạng tương đương nào của Toby dùng cho tên người. [Già Toby]
Old Winyards. Một loại rượu vang - nhưng tất nhiên thực tế là tên địa danh, nghĩa là “the Old Vineyards [các vườn nho cổ]”. Winyard trên thực tế vẫn còn được bảo lưu làm tên địa danh ở Anh, xuất phát từ tiếng Anh Cổ
https://thuviensach.vn
trước khi đồng hóa vin- từ tiếng Pháp và La tinh. Biến đổi này tôi nghĩ là không bắt chước được, nên đành phải hài lòng với từ chỉ “vineyard” trong NND, như Weingarten, vingaard, v.v. (HL. Oude Wijnggaarden.) Bản Thụy Điển, không vì lý do xác đáng gì (trừ khi không nhận ra nổi Winyards có họ hàng với vingård), cứ thế bỏ cả cái tên. [Vườn Nho Cổ]
Púkel-men. Tiếng Rohan, chỉ những hình nhân con người thuộc một chủng tộc đã diệt vong. Từ này tương ứng AC. púcel (vẫn còn lại dưới dạng puckle), một trong những dạng của căn tố pūk- (phổ biến khắp Anh, Wales, Ireland, Na Uy và Iceland) chỉ quỷ [devil] hoặc một yêu tinh nhỏ, vd Puck [trong Giấc mộng đêm hè], thường dùng chỉ những người xấu xí dị dạng. Các púkel-men đã được miêu tả kỹ, và yếu tố púkel có thể giữ nguyên - hoặc thay thế bằng chữ khác có hình thức và ý nghĩa gần gũi (có thể là cùng gốc) trong NND. (Bản Hà Lan để de Púkel-mensen, Thụy Điển để Pukel männen.) [hình nhân Púkel]
Rope-walk. Không có trong Chỉ mục, nhưng xuất hiện ở T2 Q4 C1 làm tên thuật ngữ chỉ sân làm việc của thợ bện thừng. Xem Tighfield. [sân bện thừng]
Smials. Một chữ dùng riêng của người Hobbit (không phải NNC), nghĩa là “burrow [hang hốc]”; để nguyên. Đây là dạng khả thể của AC. smygel, “hang hốc” nếu còn lại đến ngày nay. Đấy cũng là yếu tố dùng trong tên thật của Gollum, Sméagol. Xem Phụ lục F. [Smial]
Springle-ring. Từ đặt mới. Chuyển thành từ tương tự, thích hợp với NND, miêu tả một điệu nhảy vòng tròn rất sôi nổi, mọi người thường nhảy lên cao. [Xoay Vòng Tưng]
Tale trong Tale of Years nghĩa là “tính, đếm”.
Westmansweed. Dịch, vì đây là chữ NNC chỉ “herb of the Men of the West [loài cỏ của Con Người từ phương Tây]” (nghĩa là từ Westernesse, Númenor). [cỏ người tây]
https://thuviensach.vn
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU CÁC TÊN RIÊNG VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Chú thích
[←1]
Topography: nguyên thủy chỉ môn khoa học nghiên cứu địa hình, địa thế, bề mặt Trái Đất, mở rộng nghĩa chỉ các nghiên cứu cụ thể về địa phương, không chỉ bề mặt mà cả các đặc tính thiên nhiên cũng như nhân tạo. kể cả lịch sử và văn hóa địa phương.
https://thuviensach.vn
[←2]
Như sẽ thấy trong các mục từ sau và Phụ lục F, Tolkien không đưa ra cách giải quyết nhất quán với các tên Rohan: một mặt, đó vẫn phải là tiếng Anh Cổ, mặt khác, người Hobbit nhận ra nhiều từ trong đó tương tự từ trong NNC. Vì thế chúng tối đưa ra hai phương án cho mỗi từ Rohan: một dạng tiếng Anh Cổ, một dạng NNC, tùy văn cảnh là lời người Rohan, hay lời Hobbit.
https://thuviensach.vn
[←3]
Fimbrethil = “Slim-birch”, cây bạch dương mảnh mai.
https://thuviensach.vn
[←4]
Chỉ mục trong Ấn bản lần thứ hai 1965.
https://thuviensach.vn
[←5]
Chú thích cùa Hammond & Scull: “mục từ này sau bị xóa khỏi Danh pháp: “and, ‘dài’ + duin, ‘sông lớn’: NNC the Great River.”
https://thuviensach.vn
[←6]
Danh pháp khoa học ngày nay là Pulsatilla vulgaris.
https://thuviensach.vn