🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Cổ Tích Cho Những Người Yêu Nhau - Huỳnh Hải Âu full mobi pdf epub azw3 [Tập Truyện Ngắn] Ebooks Nhóm Zalo CỔ TÍCH CHO NHỮNG NGƯỜI YÊU NHAU ---❊ ❖ ❊--- Tác giả: Huỳnh Hải Âu Nhà xuất bản Trẻ Phát hành: Phương Nam books Nguồn text: Waka Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap QUẢ THẬT KHÔNG ĐƠN GIẢN CHÚT NÀO! Đ i công tác mấy ngày ở đảo về, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt khiến tôi ngạc nhiên là căn nhà tập thể hôm nay được lau chùi bóng láng. Giầy dép của mấy thằng bạn phóng viên những ngày trước thường nằm mất trật tự mỗi nơi mỗi chiếc, giờ được sắp xếp gọn gàng ngay ngắn dưới chân cầu thang. Mà lạ chưa kìa! Hôm nay là ngày gì mà đứa nào trông cũng vui vẻ yêu đời, ăn mặc tươm tất rất chi là lịch sự. Ngay cả thằng Khoa mập lúc nào cũng mặc chiếc quần đùi khoe cái thùng nước lèo nặng ký, vậy mà bữa nay, giữa cái nóng rất oi của buổi trưa tháng năm nó lại đóng thùng đàng hoàng, miệng còn nghêu ngao hát: Có phải em là mùa thu Hà Nội… nghe rất dễ thủng lỗ tai. Chút xíu nữa là tôi đụng phải cô bé rất dễ nhìn và lạ hoắc ngay chân cầu thang – “Ơ, cái anh này… Lần sau nhớ đi đứng cho đàng hoàng cẩn thận đấy nhé!”. Đôi mắt lườm lườm thị uy nom rất dữ khiến tôi phát bực. Cũng may cái chất giọng Hà Nội trong veo (mà tôi lại có tật rất thích con gái nói giọng Hà Nội) cũng vớt vát được phần nào. Tôi làm mặt nghiêm: - Tôi là Hà, “trưởng nhà” tập thể này. Bé tìm gì mà lại “xâm nhập” vào đây thế? - Đồng nghiệp mới đấy – Thi ló đầu ra cửa phòng, giới thiệu – Vừa tốt nghiệp báo chí, xin về báo mình tập sự. Cô bé Hà Nội trình diện “nhà trưởng” bằng cái nguýt dài rồi đi xuống cầu thang. Đỏng đảnh, không biết cười – Dưới trung bình, tôi chấm điểm. - Này, dậy đi chứ! Ngủ nướng là nguyên nhân của “lão hóa” đấy. Lại cái giọng Hà Nội thích gây sự của cô lính mới. Gan thật! Dám can thiệp vào thói quen lâu ngày của tôi trong buổi sáng chủ nhật – “Ngày nghỉ để người ta thư giãn một tí. Không có tiền lẻ dẫn đi ăn sáng đâu à nghen”. “Xí” – Cái mền tôi đang đắp bị giật tung ngay sau tiếng “xí” dài và nhọn – “Cám ơn lòng tốt. Đây ăn sáng từ hôm qua rồi. Dậy đi! Hôm nay tới phiên anh… lau nhà”. Trời đất, cái vụ này coi bộ tôi khó mà chấp hành được. Không phải tôi lười biếng gì (bằng chứng là tôi luôn hoàn thành mọi công việc xếp giao) nhưng công việc của một thằng phóng viên tỉnh lẻ luôn quay như chong chóng, đến quần áo mà đôi lúc tôi phải dùng khăn ướt lau sơ rồi mặc lại vì không có thời gian để giặt giũ nữa chứ đừng nói đến chuyện động trời là… lau nhà. Liếc mắt ra phòng ngoài, thấy nào thau nào vải lau đã để sẵn, tôi kiếm cớ – “Chờ một tí, để người ta súc miệng rửa mặt đã chứ”. Mặc nguyên bộ đồ ngủ, tôi phóng thẳng ra quán cà phê quen, ngồi nghe nhạc và cười ruồi một mình. Chưa hút xong điếu thuốc thì Khoa mập mò tới. Trời ạ! Hôm nay trông nó mô đen quá cỡ. Trưa hôm qua, thấy nó lên bộ quần áo da bò này bước vào phòng, tôi đã có cảm giác nực nội rồi, nhưng cũng đế thêm “To con như mày mặc bộ đồ này thấy bảnh trai và ngầu hẳn lên”. Thực ra, giờ thì tôi đã rõ, từ lúc có Thu Trang, tên cô bé Hà Nội về tạm trú, căn nhà tập thể bỗng xuất hiện vài hiện tượng lạ. Ngay cả thằng lười tắm nổi tiếng như Nam giờ lúc nào cũng nước hoa thơm phức. Chỉ có tôi là vẫn vững vàng tâm lý. Thậm chí đôi lúc còn cảm thấy bực bội như vướng vướng một cái gì đó… - “Tao biết tỏng mày kết nó. Có thì khai ra. Tao phụ cho một tay”. Khoa ngập ngừng – “Chuyện này chắc phải nhờ đến anh. Đúng là em thấy Thu Trang rất dễ thương. Lúc nãy có mua tặng Trang lọ nước hoa này. Nhưng…” – “Nó không nhận chứ gì – Tôi lên giọng quân sư – Tại mày không rành tâm lý con gái. Bọn nó tuy rất thích được tặng những thứ đắt tiền, nhưng lại rất ghét kiểu ga lăng rẻ tiền. Muốn nó nhận mày phải qua nhiều giai đoạn tiếp cận – Tôi sực nhớ chuyện hồi sáng bị phân công lau nhà – Con nhỏ đó tính siêng năng, sáng nay chủ nhật thế nào nó cũng đang dọn dẹp nhà cửa. Tốt nhất là bây giờ mày về phụ nó xách nước lên lầu để lấy lòng nó trước đã. Trưa nay tao sẽ nghĩ ra kế giúp mày sau”. Khoa mập hí hửng đứng lên giành trả tiền rồi ra về. Tôi cũng hí hửng thầm vì nếu diệu kế của tôi vừa rồi không mang lại kết quả gì cho nó thì ít nhất cũng làm cho lương tâm tôi đỡ cắn rứt về chuyện trốn việc sáng nay. Vừa bước lên cầu thang, tiếng “rầm” và tiếng la thất thanh của Thu Trang khiến tôi hốt hoảng… Không kịp rồi – Chiếc thùng đựng nước bị đứt quai rơi lăn lóc, nước từ trên lầu tràn xuống cầu thang, Thu Trang có lẽ do bị trượt chân nên mất đà té ngửa, đầu đập vào vách tường. Máu! Tôi hốt hoảng kêu tên mấy đứa bạn trong khu tập thể. Không thấy Khoa mập đâu cả. Tôi chạy đến bế Thu Trang xuống lầu dưới. Cú va hơi mạnh làm cô bé ngất xỉu, mặt xanh mét, máu thấm ướt đỏ cả chiếc áo tôi đang mặc. Thi cũng vừa từ trên lầu chạy xuống. Tôi giục Thi nổ máy xe đưa Thu Trang đến bệnh viện. Vết thương tuy có sâu do va phải một vật cứng nào đó nhưng rất may là không trúng chỗ nghiệt, tuy thế nó cũng làm cô bé choáng váng và mê man đến nửa đêm mới tỉnh lại. Tôi ngồi canh Thu Trang suốt đêm bên giường bệnh, lòng thấy lo lắng xen lẫn hối hận vì nếu hôm đó tôi không để cô bé làm những việc nặng nhọc thì chẳng có chuyện gì xảy ra. Khổ một nỗi, tính Thu Trang cũng ngang, nhất định không để thằng Khoa giúp nên mới có chuyện. Mấy hôm nay tôi xung phong làm anh nuôi đem thức ăn đến bệnh viện và đã thấy thích thú cái công việc năn nỉ cô bé ăn từng muỗng cháo, uống từng ly sữa cho mau lại sức. Có lúc tôi còn ước dại cho cô bé bệnh lâu lâu để tôi có cơ hội chuộc tội. Có chút việc nên hôm nay tôi tranh thủ về sớm, vừa ra tới cửa lại đụng phải một anh chàng xa lạ đang xăm xăm bước vào phòng Thu Trang. Thái độ bối rối của anh chàng khiến tôi sinh nghi, nên lên giọng: “Anh tìm ai?” – “Có phải Thu Trang nằm ở phòng này không ạ?”. Đã không trả lời còn hỏi lại nữa chứ. Cái tay này – “Thu Trang là gì của anh?” – “Thu Trang té có nặng không anh?” Không xong rồi. Tôi sẽ trễ giờ mất nếu cứ tiếp tục kiểu đối thoại ở thì nghi vấn thế này. “Nặng lắm, Bác sĩ bảo… cấm người lạ vào phòng. Sợ…”. “Vậy thì tôi đủ tiêu chuẩn vào thăm bệnh nhân rồi. Tôi là anh của Thu Trang, ở Nha Trang mới vào”. Cũng may lúc nãy tôi chưa kịp đóng cửa và tống anh ta ra khỏi phòng. Thu Trang đang ngủ, tôi mời anh vào phòng, bàn giao công việc chăm sóc em gái cho anh rồi phóng thẳng về cơ quan. Buổi tối, tôi đến hơi muộn và ngạc nhiên khi thấy trong phòng chỉ có mình Thu Trang. Cô bé nằm im trên giường, đôi mắt ướt đỏ – Hình như Thu Trang vừa khóc! - Anh Thu Trang đâu rồi? – Tôi hỏi. - Anh ấy về lại Nha Trang rồi. Nhà không có người nên em bảo anh ấy về sớm. Trang trả lời tôi mà đôi mắt cứ nhìn lên trần nhà, khuôn mặt buồn và cái nhìn xa vắng làm tim tôi chấp chới. Nổi tiếng lãnh cảm như mình mà còn xiêu vẹo huống hồ những trái tim si tình như bọn thằng Khoa, thằng Thi… - Anh Hà này, ngày mai em phải ra viện thôi, nằm đây thấy buồn và phiền cho anh quá. - Em chưa được khỏe mà. Với lại… từ nay anh hứa sẽ chăm sóc em dài dài chứ vài ngày thì nhằm nhò gì. - Thôi, anh đừng bàn ra nữa. Lên làm thủ tục xuất viện cho em đi. Khi cái giọng Hà Nội trong veo được cất lên rõ ràng như thế, tôi biết mình chỉ còn một cách tuân lịnh thôi. * - Ông Hà dạo này siêng năng quá cỡ. Muốn trở thành chuyên viên lau nhà chắc. Khoa mập nhìn tôi, cái nhìn đầy mỉa mai. Bình thường lúc đang làm như thế này mà nghe cái giọng đó chắc tôi không để yên, nhưng bây giờ tôi đã thay đổi. Tôi thích lau nhà chỉ đơn giản vì Thu Trang cũng thích thế. Tôi biết tỏng bụng dạ bọn thằng Khoa mập, thằng Thi, thằng Nam lúc này – Bọn nó ghen vì không được Thu Trang sai đấy thôi. Thu Trang hôm nay về sớm, khuôn mặt buồn buồn, chắc là có tâm sự gì chứ bình thường đi làm về mà thấy cảnh tôi chổng mông hì hục như thế này, thế nào cô bé cũng thưởng tôi, ít nhất là một nụ cười. - Thôi nhà sạch rồi, anh nghỉ tay đi thay đồ, Trang nhờ anh chở ra đây một tí. Tôi ngạc nhiên khi Thu Trang chỉ tay vào quán cà phê nằm dọc bờ sông, bảo tôi quẹo xe vào. - Anh uống gì cứ kêu, hôm nay Trang khao. Thu Trang không uống nước mà cứ ngồi đưa tay bứt những cánh bông giấy mỏng, vo vo rồi quăng xuống đất khiến tôi phải can thiệp. - Coi chừng em làm chết chậu bông kiểng lâu năm của người ta đấy. Có chuyện gì buồn cứ nói ra để anh gánh bớt cho. - Nếu anh thích thì cứ gánh… Ngày mai em sẽ về lại Nha Trang. Em không thích ở đây nữa. Câu nói còn bất ngờ hơn cái xô nước lau nhà từ trên cầu thang rơi thẳng xuống người tôi hôm Thu Trang bị trượt chân té. Thật ra bấy lâu nay tôi đã âm thầm nuôi nhiều mộng đẹp với cô bé có giọng nói Hà Nội và đôi mắt hay làm bộ dữ tợn để tự vệ khi lạc giữa một “rừng gươm” như chúng tôi. Bây giờ, nếu Thu Trang bỏ về thì bao nhiêu lần lau nhà, mua đồ ăn cho em mỗi tối đều… tan thành sương khói. Tôi tính hù: Em mà bỏ đi tôi thề chẳng bao giờ thèm lau nhà nữa. Nhưng nhìn thái độ Thu Trang, tôi biết câu nói đó lúc này chẳng “xi nhê” gì. Tôi bực bội: - Ít nhất em cũng cho anh biết nguyên nhân trước khi bỏ đi ngang xương chứ. - Đơn giản thôi – Anh ấy đã nói đúng: Làm nghề báo đôi khi phải sống như một người khác chứ không phải chính mình. Em không thích hợp với nghề này. “Anh ấy”, anh ấy là ai thế? Không để tôi thắc mắc lâu, Thu Trang đưa ra tấm hình, phía sau có dòng chữ nắn nót: Mãi nhớ em và chờ ngày em trở về. Đừng quên những gì chúng ta đã hứa với nhau khi còn ở Đại học… Thì ra cái anh chàng tự xưng là “anh trai” hôm trước bữa nay bỗng biến thành “anh ấy”. Chuyện đã “lỡ” rồi, dù bây giờ tôi có để yên cho rác ngập tới chân cầu thang căn nhà tập thể thì Thu Trang cũng bỏ tôi mà đi theo “anh ấy”. Nghĩ thì nghĩ thế nhưng trong bụng tôi vẫn thấy anh ách – “Đơn giản thôi”, hừm, bỏ người ta đi ngang xương như thế mà bảo là đơn giản – Con gái, quả thật không đơn giản chút nào. KHI NGƯỜI TA LÀ HOA KHÔI "M ôi xinh ở trọ người xinh. Duyên dáng (Hờ hợ) ở trọ, đôi chân (Hờ hơ) Thúy Kiều." Câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được cái giọng “opéra” của Bình tồ cất lên nghe như… tiếng sấm xoáy vào màng nhĩ người khác, vậy mà nhỏ Thụy vẫn tỉnh bơ đi ngang, mắt nhìn thẳng không thèm nhấp nháy lấy một cái; cố tình như không biết có một kẻ đang rất muốn làm quen với nhỏ. Không ai nói ra, nhưng cả lớp ai cũng thầm công nhận cái biệt danh “Hoa khôi lớp 12A” mà Bình tồ gán cho nhỏ Thụy. Một thành viên mới của lớp, ở miền trong mới chuyển về trường tôi năm học này. Giờ ra chơi, Bình tồ khoèo tôi “Mày nhìn cái “dáng đứng Bến Tre” của nó kìa. Ngạo đời hết biết”. Tôi hiểu tính bạn bè, Bình tồ tuy là con trai nhưng có tính “thù vặt”. Cả tháng nay, nhiều lần nó muốn làm quen với nhỏ Thụy mà nhỏ cứ lạnh nên nó căm lắm. Tôi “gài độ” – Nếu bây giờ tao đến nói chuyện với nó, cầm tay nó mà nó không phản đối thì mày chịu gì? – “Một chầu đậm” – Nó đáp không cần suy nghĩ. Tôi ngoéo tay nó cho chắc ăn – “Một chầu ăn tối và “Kêdzôca” (Karaokê) nhé!”. “Rồi! Ê, mà lỡ mày thua thì sao?”. “Tao mạo hiểm mà. Hậu quả có thể là cái bợp tai đích đáng, cho mày đứng cười thoải mái luôn, được chưa?”. Nó giở giọng tính toán “Không được. Bợp tai mày cũng còn lời chán”. (Nhìn cái mặt nó tôi nghĩ: Nếu bị nhỏ Thụy bợp tai, chắc nó cũng sung sướng lắm). “Nếu thua, mày phải bao lại tao mới được”. Tôi gật đầu bừa – “Mày đứng đây chờ tao. Mà tao giao hẹn trước. Khi tao nắm tay nó, mày chỉ im lặng đứng nhìn. Không được để nó biết chuyện “cá cược” này, rõ chưa?”. Tôi thọc tay vào túi quần, cố lấy bộ bình thản nhưng trong bụng cũng hơi run. Nhỏ Thụy đang đứng nhìn những tán phượng già cằn cỗi. Con gái mà, ở dưới đất vui thế không chịu nhìn, cứ thích treo ngược tâm hồn lên cành cây. Tôi tằng hắng hai ba tiếng nhỏ mới quay lại. Để gây sự chú ý của nhỏ, tôi cố cười thật tươi, thật hiền, thật… lịch sự, rồi đi thẳng về hướng căn - tin nhà trường, “vô tư” như không có chuyện gì. Theo kế hoạch, lần quay trở lại là lần quyết định “Thụy ơi! – Tôi gọi nhỏ – Cho Thụy cái này nè”. Không kịp để nó từ chối, tôi nắm tay nhỏ, tay kia… móc trong túi gói xí muội mới mua ở căn - tin – “Ăn cho vui, thấy Thụy đứng một mình buồn, mình mua cho Thụy đấy!”. Khi gói xí muội đã nằm gọn trong bàn tay xinh xắn, tôi rụt tay lại và quay bước thật nhanh, thầm đắc ý vì không ngờ con gái cũng dễ dụ khị thật. Lúc này, nếu tôi ngước lên và trông thấy vẻ kinh ngạc của Bình tồ chắc là tôi không nín cười được. Ở xa, nó đâu thấy tôi bỏ cái gì trong tay nhỏ Thụy, nó chỉ thấy tôi nắm tay nhỏ, nói chuyện tự nhiên mà không hề bị ăn cái tát tai nào. Tôi đã tính đúng, ai lại nỡ bợp tai người khác, khi được tặng cả gói xí muội bự tổ chảng. Tổ học tập của chúng tôi bây giờ gồm có bốn đứa. Tôi, Bình tồ, nhỏ Lan địa và nhỏ Thụy. Địa điểm học tập là nhà tôi. Chiều nay, không khí học tập đang căng vì gặp đề toán khó thì cứu tinh xuất hiện. Đó là anh Hai tôi, kỹ sư mới ra trường. Coi bộ anh Hai cũng hào hứng trong việc làm thầy bất đắc dĩ này lắm. Anh giảng rất hăng, văng cả nước miếng vào vở tôi, lại còn khen nhỏ Thụy xinh đẹp và thông minh làm nhỏ sướng rân. Lúc về, xe nhỏ Thụy bị hư ổ líp, Bình tồ thét ầm sai tôi chạy đi mượn đồ nghề, cởi áo xung phong làm thợ sửa xe. Hì hục cả tiếng đồng hồ, chiếc xe trước khi sửa còn xài tàm tạm, giờ nó bắt tôi cầm bàn đạp quay như chong chóng mà hai bánh xe vẫn “dậm chân tại chỗ”. Tôi đã thấm mệt, Bình tồ còn thê thảm hơn, người ngợm dính đầy nhớt, mồ hôi rỉ đầy trán trông rất tội nghiệp. Đã vậy, nhỏ Lan địa còn đế thêm: “Không biết sửa cũng bày đặt… ga lăng” khiến chúng tôi quê một cục. Nhà nhỏ Thụy mãi ngoài xóm chài Tân Long, cách nhà tôi khá xa. Tôi tính lấy xe đưa nhỏ về thì anh Hai đẩy xe Dream ra – “Xe để đó sửa sau. Lên xe anh đưa về kẻo tối”. Tôi thấy mặt nhỏ ánh lên tia nhìn là lạ. Anh Hai cũng vậy, trông anh hiền lành, không dữ dằn như thường ngày. Khi “chiến trường” chỉ còn lại mình tôi và Bình tồ, nó vỗ vai tôi “Coffee music nhé!” – Tôi gật đầu. Ở quán cà phê về, tôi thấy anh Hai đang lui cui dọn đồ nghề. Chiếc xe đạp màu đỏ tươi của nhỏ Thụy được anh dựng ngay ngắn trước sân, sau khi quay thử vài vòng, anh nói với giọng đắc ý – “Chắc ăn rồi” – Vô cớ, tôi thấy bực – “Xì, chưa chắc đâu” – Anh lườm tôi – “Nhóc con, bày đặt”. Ánh đèn điện buổi tối khiến con đường vàng rực như mùa thu. Gió biển rải đều từng cơn mát rượi. Bình tồ hôm nay trông có vẻ buồn buồn. Cả tiếng đồng hồ nó cứ yên lặng đi bên tôi, gần đến chỗ rẽ vào nhà, nó mới lên tiếng – “Mày với nhỏ Thụy tới đâu rồi?”. Tôi ngạc nhiên – “Tới đâu là… tới đâu?” – “Đừng giấu… Hôm qua tao thấy mày chở nó đi uống cà phê ở quán Hạ Nhớ. Tình hết biết…” – “Lầm to rồi ông ơi!”. Tôi cắt lời nó – “Lầm sao được mà lầm. Chính mắt tao trông thấy”. Nhìn mặt Bình tồ, tôi biết là không thể giả lả được – “Đúng, nhưng mà… chỉ đúng có một nửa. Tao có chở nó tới quán cà phê, nhưng tới đó rồi nó biểu tao… đi về, nó có hẹn”. Nghe nói nhỏ Thụy có hẹn, Bình tồ càng hỏi dồn “Hẹn à? Nó hẹn với ai thế?”. Tôi tính bảo: “Anh Hai tao chứ ai” – nhưng lại thôi. Bình tồ cứ bám theo tôi cằn nhằn chuyện tôi chở nhỏ Thụy “tao mà như mày thì…”. Thì sao? Nếu là Bình tồ thì sao nhỉ? Thật ra tôi cũng đau lắm chứ. Khi người ta dám nhờ mình chở tới nơi hò hẹn là trong bụng người ta đâu coi mình có trăm gờ ram nào. Nhưng nếu là Bình tồ? Xời, tôi chắc chắn rằng chẳng khi nào nó dám từ chối nếu được nhỏ Thụy nhờ. Bởi vì… người ta là hoa khôi mà. NGƯỜI VẼ NHỮNG DÒNG SÔNG Tặng N.M B ụp! Một trái khế chín mủn rơi trúng ngay trang sách tôi vừa mở ra. Chưa kịp hoàn hồn thì… bụp bụp, hai ba trái khế nữa liên tiếp nhắm vào đầu và lưng, tôi ngước lên – thằng nhóc tướng mạo đen thui, ốm nhách như con khỉ, thoăn thoắt chuyền từ cành này sang cành kia rồi rơi xuống trước mặt tôi, khoanh tay bối rối – “Xin lỗi chị! Em không cố ý”. Miệng nó nói xin lỗi mà tia nhìn ngổ ngáo chiếu thẳng vào mặt tôi không lộ chút gì “ăn năn” khiến tôi phát bực – “Đã ăn cắp khế còn làm bẩn quần áo người ta. Tính sao đây?” – “Em đâu có ăn cắp. Chị ở Sài Gòn về nên không biết đấy thôi. Cây khế này “ngoại” cho phép em được tự do hái mà”. Xời, đây là vườn của ngoại tôi. Ngoại chỉ có đứa cháu duy nhất là tôi. Ở đâu lại “lòi” thêm đứa cháu dung mạo như khỉ thế này? “Chị đừng giận. Bữa nào sáng trăng, Di sẽ chèo đò chở chị đi chơi sông. Thích lắm”. Coi bộ nó cũng không đến nỗi ngố. Còn biết “dụ khị” nữa chứ! Giờ em phải về nấu cơm, lát nữa còn phải xuống rớ phụ anh Hai. Hẹn chị bữa khác nhé!”. Nó quay người… leo ngược lên cây khế, chuyền sang nhánh chĩa sang nhà bên cạnh rồi… “bịch”, thế là nó biến mất. - Canh gì mà ngon thế hở ngoại? - Canh chua cá dứa đấy! - Chà – tôi chép miệng nhìn tô canh bốc khói đang vơi dần – con nghe người ta bảo “không dễ ăn cá dứa đâu nhé!”, bộ cá dứa hiếm lắm hở ngoại? Ngoại cười móm mém. - Hiếm là đối với dân thành phố bọn bây, chứ xứ biển thì khó gì. Hôm nào bắt được con cá ngon là anh em thằng Di cũng đem biếu ngoại. Mấy cái thằng… mồ côi cha mẹ mà sống hòa thuận, ai cũng thương. Thì ra “con khỉ” nói đúng. Nó với ngoại tôi đã thân thiết từ lâu. Tôi tò mò: - Anh em họ chỉ sống bằng nghề “quay rớ” thôi hở ngoại? - Thằng anh nghe đâu hồi xưa làm nghề gì đó ở thành phố, không biết sao lại bỏ về đây. Con thấy cái chòi ở dưới sông đó không? Buổi tối, anh em nó quay rớ bắt cá. Ngoại nghe hàng xóm bảo – Anh thằng Di còn làm nghề gì “bí mật” lắm. Lâu lâu có người lạ mặt đến nhà đưa tiền rồi mang đi những gói gì được gói cẩn thận. Câu nói của ngoại khiến tôi cảnh giác. Biết đâu hắn là tên buôn lậu đang che giấu hành tung? Ở gần những kẻ có hành vi bí mật thế này, phải dặn ngoại đề phòng mới được. - Con đừng nghĩ oan cho người ta tội nghiệp. Chừng này tuổi rồi, ngoại không nhìn lầm người đâu. Cái nhìn của ngoại làm tôi hơi ngượng nên đứng lên. Chà, được nghỉ hè, tính về đây thăm ngoại và thăm biển. Không ngờ ở đây cũng buồn quá. * - Chị Minh nè… Ta đi chơi sông nhé! “Con khỉ” thường xuất hiện bất chợt trên cây khế với lời rủ rê như thế. Tôi đã quen cái tính lắc xắc và tướng mạo nhà quê của nó. Ấn tượng xấu lúc ban đầu phai dần từ đêm nó chèo đò chở tôi đi hóng gió trên sông. Ánh trăng mười bảy nhảy nhót trên màu nước lờ lợ và những câu chuyện tiếu lâm với lối pha trò rất tự nhiên của nó thường làm tôi cười ngất. Hôm qua nó hẹn tối nay sẽ dẫn tôi xuống rớ chơi. Nó còn bảo xuống đó sẽ đãi tôi món tôm nướng cuốn bánh tráng chấm mắm nêm. Nghe nó tả về những con tôm tươi rói vừa bắt lên cho vào lò, để lửa xém lớp vỏ ngoài, thêm một ít bánh tráng mỏng với rau thơm mà tôi phát thèm. Hồi chiều tôi đã có ý “để dành” bụng tối nay thưởng thức món đặc sản của nó. Mặt trời đã chìm nghỉm ngoài khơi xa từ lâu mà chưa thấy nó đâu. Con nước đang ròng nên dòng sông phơi mình trơ trọi. Tôi nhìn dưới chòi rớ thấy có ánh đèn leo heo sáng, chắc nó đang ở dưới đó. Tôi xắn quần lội ra chỗ nước cạn gần bờ rồi đi bộ về phía chòi rớ. Chòi cao khoảng ba mét, có chiếc thang gỗ cột tạm. Tôi leo lên đến bậc thang cuối, vừa ló đầu vào thì cùng lúc, một khuôn mặt xa lạ cũng vừa quay lại nhìn tôi: Hắn trạc khoảng ba mươi hoặc… hơn thế nữa. Nói chung, hắn thuộc mẫu người khó đoán tuổi từ hình thức bên ngoài. Mái tóc dài và mớ râu ria “quên cạo” khiến khuôn mặt hắn rất già, nhưng đôi mắt thì rất sáng và… rất trẻ. - Ủa… Chào hàng xóm. Em là Nguyệt Minh phải không? Đoán hắn là anh trai của “con khỉ” nên tôi không ngạc nhiên lắm khi thấy hắn biết tên tôi. Điều làm tôi ngạc nhiên là cái khung vải và bức tranh đang vẽ dở dang ở phía sau lưng hắn. Bức tranh vẽ một dòng sông. Chỗ lạ của dòng sông là bên kia bờ ẩn hiện những vòng đều tăm tắp trông như những cối xay gió tôi từng thấy trong ảnh. Và chỗ lạ của bức tranh là nền trời đỏ rực như những tấm lửa khổng lồ đang phủ chụp lên dòng sông. Những mảnh màu tương phản tạo nên một cảm giác đối nghịch… Một sự đối nghịch giữa tình yêu và tội lỗi. Giữa khung cảnh bình yên và khói lửa tang thương hay… một điều gì tương tự. Kiến thức năm đầu trường mỹ thuật chưa đủ để tôi hoàn chỉnh một tác phẩm nghệ thuật, nhưng cũng đủ để tôi biết: Hắn là cây cọ thuộc trường phái ấn tượng. - Thì ra anh là họa sĩ? - Thì ra “hàng xóm” cũng là người thích tranh? Cả hai cùng bật cười. Có lẽ sự đồng điệu trong tiếng cười ở chỗ cả hai cùng nhận ra sự ngớ ngẩn trong câu hỏi của mình – Biết rồi còn hỏi. Hắn kéo tôi lại gần bức tranh đang vẽ dở, đôi mắt hắn như có lửa và tôi biết, ngọn lửa ấy đang tìm cách đột nhập vào trái tim đang đập bum bùm của tôi bằng con đường ngắn nhất… - Đây là những guồng xe nước ở quê tôi – hắn chỉ vào những vòng bánh xe đều tăm tắp – ngày xưa, nó là công cụ dẫn thủy nhập điền của nông dân. Quê tôi có dòng Trà Khúc chảy qua khắp thôn làng. Có địa danh tên gọi Mỹ Lai. Cha mẹ tôi và mấy trăm con người đã nằm ở đó. Tôi yêu những dòng sông vì nó chảy qua lịch sử bi tráng, nỗi niềm của sông to lớn quá khiến tôi luôn khát khao khắc họa lại… Hắn không hề than vãn, nhưng tôi biết trong lòng hắn ẩn chứa nhiều nỗi đời bi thảm. Có lẽ lúc tôi trông thấy hắn bỗng già đi là lúc những niềm riêng trong hắn bật dậy. Có tiếng động nho nhỏ, “con khỉ” ló đầu vào. - Đã bảo em ở nhà học bài. Sắp thi rồi. - Xì… Bảo đảm ngon lành mà anh Hai. Em sẽ đỗ cao kỳ thi tốt nghiệp này. Với lại em lỡ hứa với chị Minh… Bỗng dưng tôi không còn thấy thèm món ăn mà “con khỉ” đã hứa. Tôi cũng không muốn quấy rầy công việc vẽ những dòng sông của hắn nên bảo với “con khỉ” là tôi muốn về. - Em đưa chị Minh về rồi ở nhà học bài. À… Chờ một lát. Hắn rút cuốn sổ nhỏ trong túi ra rồi bảo tôi ngồi yên, hí hoáy vẽ. Tôi biết trong đầu hắn vừa nảy sinh một ý tưởng và hắn đang phác thảo cho bức tranh đó. Con nước đã lên theo con trăng, bây giờ thì không thể đi bộ trên sông được nữa. “Con khỉ” vừa chèo thuyền chở tôi vào bờ, vừa tía lia: - Anh Hai em là họa sĩ “lớn” đó. Ngày xưa… - Biết rồi – Tôi cắt lời nó – Nhưng sao anh Hai em lại về sống ở đây? “Con khỉ” bỗng im lặng sau câu hỏi của tôi. Hồi lâu nó mới lên tiếng, giọng không còn lí lắc nữa. - Cũng tại em nghe lời mấy đứa bạn, bỏ học rồi… hút ma túy. Cũng may, anh Hai phát hiện sớm. Anh ấy phải bỏ chuyến triển lãm nước ngoài mời, bán nhà rồi đưa em về đây. À, nếu chị muốn xem tranh thì tối mai em sẽ đưa chị qua nhà xem phòng tranh của anh ấy. - Nhưng sao phải xem vào buổi tối? - Buổi tối anh ấy không có nhà. Anh Hai không thích người khác vào phòng tranh của mình. Cho dù rất thích và tò mò, tôi cũng không thể nghe lời “con khỉ” để mang tiếng là người xem lén. Hai hôm sau, hắn qua nhà mời tôi sang nhà chơi. Đúng như tôi dự đoán, trong căn phòng tồi tàn chứa đầy những “dòng sông” ấn tượng. Sông của hắn như biết nói – Những dòng sông thanh bình uốn khúc. Những dòng sông khói lửa. Bức thì như khúc tình ca thầm… Bức thì cuộn trào… Hắn chỉ vào bức tranh vừa mới hoàn thành. Bức tranh vẽ người thiếu nữ có khuôn mặt giống tôi, mái tóc cô gái chảy dài như dòng sông lấp lóa ánh trăng – Một vẻ đẹp rực rỡ thiên thần đang chảy trên một dòng sông khô cằn trơ trụi khi con nước đang ròng. Tôi không nhận bức tranh hắn tặng và vội vã quay về Sài Gòn vì tôi biết – Tôi khó mà bình yên trước tia nhìn đắm đuối của hắn. Hơn nữa, đứng trước những dòng sông của hắn, tôi thấy mình hãy còn quá trẻ. ƠI… MÙA THU G ần một tiếng đồng hồ, Thạc cứ đứng thẫn thờ như thế. Trước mặt anh, dòng sông xưa vẫn ầm ào thao thiết… Tháng chín mùa thu, nước lũ từ nguồn cuộn về, nơi khúc sông hẹp, nước xoáy vào những hòn đá to, bọt ngầu lên trắng xóa. Mười năm xa quê, nay mới có dịp về thăm làng xưa, thời gian đã làm thay đổi bao điều. Hình ảnh người chị thân yêu lại hiện về trong trí nhớ Thạc. Cũng khúc sông này, cũng mùa thu và những ngọn gió heo may gây gây lạnh. Mùa tựu trường, chị cõng em qua sông, áo quần chị ướt cả vẫn cố giữ cho tập vở em khô ráo – “Nhà mình nghèo, ba mẹ mất cả. Em ráng học cho thật giỏi để sau này đỡ khổ em nhé!”. Chị ơi! Khúc sông này như khúc ngoặt đời em. Giờ em trở về thì chị không còn nữa. Ôi, sao mà thèm một lần được nhìn thấy nụ cười mãn nguyện trên đôi môi gầy của chị quá. Sông ơi! Nắng đang lên, rắc vàng trên con sông bạc. Bên kia bờ, có chú chiền chiện vừa thức dậy hót vang bài ca bình minh. Thạc đang loay hoay xắn quần để lội qua sông, bỗng có tiếng khóc trẻ em làm anh giật mình ngẩng lên. Dưới sông, một cô gái đang lờ quờ đứng dậy, có lẽ cô vừa bị ngã. Thằng bé khoảng mười tuổi, đang ngồi trên một hòn đá to, mếu máo khóc, tay chỉ về chiếc cặp bị dòng nước cuốn xa dần. Không cần suy nghĩ, Thạc lao vội xuống sông, tay anh sải nhanh về hướng có cái chấm màu đỏ đang bập bềnh trôi. Khi bàn tay chạm được chiếc cặp, anh mới ngừng lại để thở. - Chỉ ngấm nước sơ sơ, phơi nắng chừng mươi phút là khô ngay. Thạc vừa nói vừa mở bung mấy cuốn vở trải trên lớp sỏi trên bờ. - Cám ơn anh… Cái giọng con gái trong veo khiến Thạc ngước lên. Cô gái còn trẻ, khoảng hai mươi, hai mốt tuổi là cùng. Bộ đồ bà ba bó sát người vì bị ướt khiến cô ngượng ngùng cứ cúi nhìn dưới đất. Cái nhìn trân trân của Thạc càng làm cô thêm mắc cỡ. - Thu… là em phải không? Vẻ ngạc nhiên của cô gái xác nhận phần nào sự nhận diện của Thạc là đúng… Thu, làm sao anh quên được đôi mắt này, nụ cười khoe chiếc răng khểnh này, dù bây giờ em đã là cô thiếu nữ xinh đẹp. Thu nhỏ hơn Thạc năm tuổi. Ngày xưa cũng nhiều lần anh cõng Thu đi học qua khúc sông này. Mười năm, về lại khúc sông đời gặp nhau. - Anh là… Thu vẫn chưa nhận ra Thạc. Phải rồi, cho dù bộ đồ anh đang mặc có ướt sũng vì thấm nước cũng không giấu được vẻ sang trọng. Cứ nhìn vào cặp mắt lạ lẫm của thằng bé đứng bên cạnh Thu cũng đủ biết anh có vẻ lạc lõng ở cái làng quê nghèo trơ đá này. Mười năm rồi, làm sao Thu có thể nhận ra Thạc của những chiều ngồi vắt vẻo trên lưng trâu ngày nào. - Anh là Thạc, em chị Đợi đây mà… Anh về làm giỗ một năm cho chị. Lúc chị Đợi mất, anh dính vào công việc bên đó, không bứt ra được. Thu như muốn lao vào khi Thạc xưng tên. Rồi như sực nhớ, đâu phải như hồi còn bé tí, cô ngượng ngùng khựng lại. - Ơ… anh Thạc. Bây giờ anh là Việt kiều sang trọng, thảo nào em không nhận ra. - Anh vẫn thế… Vẫn nhớ chị Đợi, nhớ em. Nhớ những ngày chúng mình cùng đi chăn trâu, bắt dế. Nhớ cái lần cõng em đi học qua sông, bị trượt chân té ướt hết áo quần, em cứ ngồi khóc mãi khiến anh phải phát vào mông, rồi lật đồ ra phơi cả tiếng mới khô. Nhớ… - Thôi, cái anh này, cũng không chừa cái tật bắt nạt con gái. Khuôn mặt đỏ hồng và hai tiếng “con gái” được Thu dùng để thay cho hai chữ “con nít” nghe càng dễ thương. Bỗng như sực nhớ điều gì, Thu la hoảng… - Thôi chết. Hôm nay là ngày tựu trường. Giờ em phải đưa thằng Bình đến trường kẻo trễ. Bình, lại chào anh Thạc đi em – Thu nắm tay thằng bé – Anh cứ về trước, lát nữa em sẽ đưa anh đi thăm mộ chị Đợi. * Thạc cắm bó nhang lên ngôi mộ đất sơ sài rồi ngồi thừ người mãi. Nghĩ đến người chị hiền lành, anh không cầm được nước mắt. Chị ơi! Em đâu ngờ người ta lại để mồ mả chị lạnh lẽo thế này. Bao nhiêu tiền em gởi về mà anh ấy không xây nổi một ngôi mộ cho chị. Sao mà chị khổ thế? Thu nhổ hết bụi cỏ gấu còn lại trên ngôi mộ, rồi đến ngồi bên Thạc. Cái chất giọng trong veo con gái của Thu cũng không lấp được một chút buồn trong câu chuyện. … Lúc đó, anh ta quá mê mệt người đàn bà đang sống chung với anh ấy bây giờ, nên luôn hành hạ chị Đợi. Tiền bạc anh gởi về anh ta tiêu xài hoang phí nên bao nhiêu cũng không đủ. Chị Đợi vốn hiền lành nên chỉ yên lặng chịu đựng. Mỗi lần bị đánh đập, chị cứ qua ôm em mà khóc. Em bảo chị ấy viết thư qua nói cho anh biết nhưng chị ấy không cho. Hôm đó, chị lên thăm rẫy về, đang mang thai mà chị cũng ráng đèo thêm mấy bó củi. Lúc đi qua chiếc cầu treo kết tạm bằng mấy khúc gỗ tròn, chị trượt chân rồi mất đà rơi xuống vực. Mãi đến sáng hôm sau, khi tỉnh rượu và phát hiện chị Đợi chưa về, anh ta mới hô hoán lên, bà con đổ xô đi tìm… * Gần một tháng nay, cả xã đã huy động người để dựng lên chiếc cầu gỗ xinh xắn bắc qua ngang con sông. Trực tiếp coi công trình này là Thạc. Anh đã góp toàn bộ số tiền mà anh mang về tính giúp đỡ người anh rể “làm ăn”. Công việc được sự ủng hộ của Ủy ban xã và sự tận lực của bà con trong làng, nên chiếc cầu được hoàn thành với nhịp độ không ngờ. Thạc đứng nhìn một số người đang sơn nốt những thành cầu còn lại. Màu vàng của mùa thu được phết lên những nhịp cầu tình nghĩa. Ơi… mùa thu! Thu bưng ly nước đến gần để mời Thạc. Thằng Bình cũng lẽo đẽo theo sau. - Vài ngày nữa là xong anh nhỉ? Thạc gật đầu, anh vò tóc thằng Bình: - Mai mốt Bình có thể tự đến trường, không cần chị cõng nữa. Sướng nhé! - Ứ… em thích chị Thu cõng hơn cơ. Thạc cười bâng quơ. - Ngày xưa anh… cũng thích như thế lắm. THẰNG TỦN N hỏ Huyền, em gái tôi, tính rất ham ăn. Món nó ghiền nhất là bánh bao nhân thịt. Hôm nào đi làm về, trong túi còn tiền lẻ là tôi không quên mua vài cái làm quà cho nó. Tôi thích nhìn cái miệng trẻ thơ của nó hỉ hả cười, mắt sáng rực… Vậy mà hôm nay nó làm tôi ngạc nhiên khi cầm hai cái bánh bao rồi không chịu ăn mà gói lại cẩn thận cầm đi đâu đó. Tôi tò mò nên đi theo xem nó có “tâm sự” gì mà bí mật thế. Ngôi đình nhỏ nằm lọt thỏm giữa những tán cây già. Tháng năm, hoàng hôn đến chậm, nắng rắc vàng trên khoảnh sân trước đình. Ở đó, một đám con nít đang tụ tập. Nhỏ em tôi cũng nhanh nhẹn chen vào đám đông. Hình như bọn chúng đến đây để chơi trò gì đó(?). Thằng nhóc khoảng 12 tuổi, thân hình hom hem ốm yếu. Điểm nổi bật của nó là mái tóc xoăn tít, làn da đen thùi thụi như tráng một lớp nhựa đường. Bộ đồ nó đang mặc đùm đụp những lỗ vá. Tay cầm chiếc mền rách, nó đứng trước đám “cử tọa” cũng sàng sàng tuổi nó và… diễn tuồng. Nó đang hát Hồ Quảng. Chiếc mền rách trong tay lúc thì xoay tít như lá cờ Quan Công, lúc thì nhấp nhô làm ngựa theo Trương Phi xông trận. Lũ trẻ con ầm ào hát cười theo từng điệu bộ của nó. Cuối cùng, tràng pháo tay rộ lên khi màn diễn kết thúc. Bọn trẻ ùa vào chàng “nghệ sĩ” tuồng đang đứng thở dốc giữa sân, đứa thì cho nó miếng bánh đúc, vài củ khoai luộc. Cô em út tôi có vẻ “hào phóng” hơn khi đưa tặng chàng nghệ sĩ da đen hai cái bánh bao còn nóng hổi. Mặt trời đã tắt, nắng chiều không còn nhảy nhót trên mái ngói rêu phong của ngôi đình nữa. Lũ trẻ con giãn dần, tiếng ồn lắng xuống, chỉ còn lại vài chiếc lá khô vô tình trên sân. Thằng nhỏ da đen đứng tần ngần một lúc, chắc nó đang nuối tiếc cái không khí náo nhiệt lúc nãy. Tôi lại gần khi thấy nó đã đến ngồi thu lu nơi góc đình. Đôi mắt trẻ thơ buồn rười rượi, khác với vẻ lanh lẹ lúc nãy. - Em hát Hồ Quảng hay ghê! Thằng nhóc thoáng giật mình, cặp mắt trắng mở to nhìn tôi dò hỏi. - Đừng ngại. Anh chỉ là khán giả tình cờ của em đấy mà. Nụ cười của tôi làm thằng nhỏ yên chí, nó xích qua nhường chỗ. - Em cứ tưởng anh là người coi đình, đến đuổi không cho em ngủ nhờ ở đây. Câu nói của nó khiến tôi tò mò: Làng tôi đâu có đứa trẻ nào không nhà cửa đâu nhỉ? Không biết nó ở đâu tới? … Em không có cha. Từ nhỏ, chưa bao giờ em nghe mẹ kể về cha của mình – Đôi mắt thằng nhỏ cụp xuống, nét buồn vừa thoáng hiện khiến vẻ trẻ con trên khuôn mặt nó biến mất – Một bữa, mẹ em dẫn về một người đàn ông lạ rồi bảo em gọi là cha. Ông ấy ác lắm, cứ đánh đập la mắng em hoài. Khi mẹ em mất, “cha” bắt em phải bỏ học, đi làm đủ thứ, bán báo, đánh giày… bữa nào không có tiền mang về là ăn đòn. Em chịu không nổi nên bỏ nhà đi theo mấy đứa bạn. Bữa nọ ông ấy đi tìm rồi bắt em về. Lần này ông ta đối xử tốt lắm. Mấy ngày sau có một bà mập đến đưa tiền cho ông ấy rồi dẫn em về nhà – “Mày hãy ngoan ngoãn nghe lời, bà này sẽ đưa mày đi gặp cha của mày. Sướng nhé!” – Ông ấy bảo. Bà mập đưa em về nhà, cho ăn uống ngon lắm, nhưng nhốt em vào phòng kín không cho đi đâu. Bà có anh con trai lớn, tướng rất dữ, cứ theo canh chừng em. Một buổi sáng, bà kêu em ra dặn rất kỹ – “Hôm nay mày sẽ được gặp những người quen với cha mày, nhớ khi người ta hỏi thì phải trả lời thế này, thế này… Nếu nói sai, người ta sẽ nhốt mày đó”. Em sợ lắm, nên làm đúng như lời bà ta dặn. Lợi dụng lúc đi ra ngoài ngồi chờ, em bỏ trốn… - Nhưng sao em lạc về đây? - Trước lúc chết, mẹ em có dặn: Làng này là quê ngoại của em. Ngày xưa mẹ có lỗi nên bị ông ngoại đuổi… Sau này lớn lên, nếu có tiền, em sẽ đưa mẹ về chôn ở đây. Tôi thấy tội nghiệp cho thằng Tủn – tên của nó. Mười mấy tuổi đầu đã lang thang, lo cái thân còn chưa xong mà biết nghĩ tới mẹ. Chắc nó yêu mẹ lắm. Khổ nỗi, nó không biết ông ngoại nó tên gì, ở thôn nào, chứ không thì tôi sẽ tìm ra lai lịch nó ngay. Nhìn nó gập người trong cơn ho dài, tôi ái ngại – “Hay em về nhà anh nghỉ đỡ đêm nay. Ngày mai anh sẽ cố tìm xem ông bà ngoại em ở đâu” – Nó lắc đầu – “Anh tốt lắm. Nhưng em ngủ thế này quen rồi. Chỉ mong anh tìm ông bà ngoại giúp em”. Tôi đi về mà lòng không yên chút nào. Đêm vắng lặng, chỉ còn vài ngọn gió khua động lào xào trên tán cây. Con chim nhỏ lạc bầy còn cất lên tiếng kêu cô đơn, còn thằng Tủn, nỗi buồn của nó rất người, khi đã lạc bầy còn biết kêu với ai? Nhỏ Huyền trố mắt khi thấy tôi đưa bịch bánh bao to đùng gần cả chục cái – “Đừng mừng hụt, của thằng Tủn đấy, em đem cho nó và bảo: Chiều anh sẽ tới”. Buổi chiều, gần hết giờ làm việc thì có hai người đàn ông đến tìm tôi ở trụ sở Ủy ban xã. Người Mỹ da đen đi với một người Việt ăn mặc sang trọng. Ông người Việt lấy trong cặp ra tập hồ sơ, chỉ vào một tấm hình, bảo – “Chúng tôi đang tìm đứa bé này. Đây là ông Tom, cha thằng bé. Mấy tháng trước nó đã làm xong thủ tục xuất cảnh nhưng không hiểu sao lại bỏ trốn. Một đứa bạn nó cho biết nó về làng này tìm ông ngoại của nó”. Tôi không ngạc nhiên khi thấy đứa bé mà hai người đàn ông đang đi tìm chính là thằng Tủn. Điều làm tôi kinh ngạc là ở trang lai lịch của mẹ nó. Người đàn bà trong ảnh tôi thấy quen lắm… đúng rồi, má tôi cũng có một tấm ảnh chụp chung với người đàn bà này. Như vậy mẹ của thằng Tủn chính là dì Ba của tôi. Người dì ngày xưa thường cõng tôi đi học mỗi ngày qua khúc sông hẹp. Thường mua bánh bao cho tôi… Ngày đó, tôi còn nhỏ quá, không hiểu sao dì lại bị ông ngoại đuổi đi. Tôi chỉ nhớ mang máng hình như dì đi làm ngoài tỉnh rồi có quan hệ không tốt với người nào đó, ông ngoại không đồng ý nên từ dì. Tom và người phiên dịch ngạc nhiên khi thấy tôi ra hiệu bảo họ ngừng lại. Cũng trước ngôi đình quen thuộc, nơi khoảnh sân nhỏ còn lay phay vài hạt nắng chiều, thằng Tủn vẫn trong bộ đồ đùm đụp những lỗ vá, đang gân cổ diễn tuồng. Nó đang phùng mang trợn mắt làm Trương Phi cưỡi ngựa bỗng… té phịch xuống đất, ôm ngực ho rũ rượi. Lũ trẻ con có vẻ không hài lòng với buổi diễn nên lục tục bỏ về. Tôi bước tới đỡ thằng Tủn dậy, nó cong người trong tay tôi, ói ra một búng máu. Rồi lại cong người, lại ói… nó đang bị thổ huyết. Bệnh viện đã không cứu được thằng Tủn, nó chết ngay trong đêm đó. Trước khi chết nó còn dặn cha nó ráng đem mẹ nó về mai táng nơi quê ngoại. Vậy là thằng Tủn chết đã ba hôm. Chiều nay bé Huyền đòi tôi dẫn đi thăm mộ em nó. Bé Huyền không cầm nhang đèn mà chỉ cầm theo hai cái bánh bao – “Thằng Tủn thích ăn bánh bao lắm” – Nó bảo. Nắng chiều còn gay gắt, không gian lào xào tiếng gió lùa qua lau lách khiến nghĩa trang thêm quạnh quẽ. Ngôi mộ mới xây của thằng Tủn lãng đãng khói nhang bay – Tom đang ở đó. Thái độ của Tom hôm nay trông khác lắm. Ông ta cứ nhìn ngôi mộ rồi nhìn tôi, cái nhìn thăm thẳm. - Các người thật có lỗi với trẻ con. Ở nước tôi, trẻ con luôn được ưu đãi. Tôi không muốn tranh luận với Tom, vì ông ta đang mang trong lòng nỗi đau. Nhưng chữ “các người” ông muốn ám chỉ cả số đông, cả xã hội. Đợi hôm nào nỗi buồn trong lòng ông lắng xuống… Một đất nước đang đứng lên sau cuộc chiến đấu sống còn thì có lỗi gì khi không kham nổi những hệ quả sau cuộc chiến. Không có chiến tranh thì không có Tom ở đây. Thằng Tủn không sinh ra trên cuộc đời này. Dì tôi đã không bị đuổi ra khỏi nhà. Chuyện đã qua bao năm mà vẫn chưa xưa cũ, vì trên hè phố hôm nay vẫn còn những “thằng Tủn” sống lang thang vất vưởng. Có lẽ tôi sẽ đưa Tom đến thăm một trại trẻ mồ côi, ở đó cũng có nhiều “thằng Tủn” đang hiện hữu, dù cha mẹ chúng không là người Phi, người Mỹ nhưng thủ phạm vẫn là cái nghèo do cuộc chiến để lại. Và nếu Tom muốn tâm hồn mình được bình yên thì hãy đến với chúng bằng tâm tình của người cha tội lỗi trở về. Bóng chiều đã tắt bên lau lách, nghĩa trang im vắng lạnh người. Nhỏ Huyền kéo tay tôi – “Về thôi, anh Hai”. CỔ TÍCH CHO NHỮNG NGƯỜI YÊU NHAU M ột ngày cuối năm, trong khu rừng vắng, tiếng chim rộn rã hót vang chào buổi sáng sang mùa. Dưới bóng những tán cây rừng thoáng nắng, có một đôi tình nhân đang… cãi nhau dữ dội. Tóc dài: Anh là kẻ không biết giữ lời. Đã nói là mỗi chiều thứ bảy anh phải chở em đi ăn kem. Đến vũ trường… Mày râu: Em ích kỷ quá chừng, không thấy là năm nay anh phải chuẩn bị luận văn tốt nghiệp ở hai đại học. Rồi học thêm ngoại ngữ, vi tính… - Xì… anh cứ lo chấp cánh để bay vào năm 2000 đi. Từ nay chúng ta chia tay. Anh muốn bay đi đâu thì cứ mặc sức. - Được được… - Mày râu cũng nổi giận – Chia thì chia… Cả hai quay lưng lại, mày râu giận dữ bước về phía chiếc xe đạp dựng nơi gốc cây, còn tóc dài cũng hậm hực ngồi lên chiếc Dream chuẩn bị nổ máy. Bỗng… ào… một cơn gió rừng nổi lên bất ngờ, xô ngã hai chiếc xe và cuốn đôi tình nhân bay lại ngồi gần bên nhau. Một ông già râu tóc lòng thòng, uy nghi đứng trước mặt họ. Sau một tiếng đằng hắng thị uy, ông già cất tiếng: Cái đám hậu sinh này thật là không biết điều. Thượng đế đã ban cho các ngươi một viên ngọc quý, viên ngọc sẽ phát quang lấp lánh khi chúng mày biết yêu nhau. Vậy mà không biết tận hưởng… Khi ông già nói, gió lại cuồn cuộn nổi lên, âm thanh sắc nhọn như xoáy vào màng nhĩ. Tóc dài hoảng sợ ôm chặt lấy mày râu. Anh chàng cũng chẳng can trường gì lắm. Cất tiếng lắp bắp: Ông… ông là ai? Ông già đưa tay lên, gió liền ngưng thổi, ông mỉm cười hiền hòa nhìn đôi trẻ đang run rẩy. - Đừng sợ. Ta là thần gió. Trước đây ta là bạn của bão tố, chiến tranh. Nhưng bây giờ ta đã… về hưu, đang tu tâm dưỡng tánh. Thấy các người dại dột, cứ thích cãi nhau, ta đến để bày cho các người bí quyết của hạnh phúc. Đó là, phải cố gắng học, sống khiêm nhường, không ích kỷ, tôn trọng lẫn nhau. Kẹt lắm cũng phải… cố yêu người mà sống. Hãy nghe ta kể lại câu chuyện sai lầm của ông tổ các ngươi cách đây mấy ngàn năm. Giọng ông già giờ đã nhỏ nhẹ lại, trầm trầm êm êm hòa trong gió rừng và tiếng chim hót… Ta còn nhớ chính xác cách đây 1.800 năm, cũng tại khu rừng này, lúc cọp chúa đang làm chúa tể của muôn loài cầm thú. Hôm đó là ngày cuối năm, cọp chúa gởi “công văn” triệu tập các đại biểu của khu rừng về dự đại hội tổng kết. Diều hâu vì bận chút việc nên đến trễ mấy phút khiến cọp chúa nổi giận quát tháo: - Ta là chúa tể sơn lâm. Về trình diện ta, ngươi phải xếp cánh để tỏ lòng thần phục – cớ sao dám ngất ngưởng trên cành cao? - Loài chim chúng tôi khi đứng luôn ở trên cao. - Láo… Ta lệnh cho ngươi phải lập tức xuống đất, quỳ trước mặt ta. - Tôi không thể. Cọp chúa nổi giận. Bữa tiệc liên hoan kết thúc sớm trong sự nặng nề. Diều hâu tung cánh bay về tổ mình… Khi chỉ còn lại gia đình cọp chúa và các cận thần, cọp chúa nói: - Phải nghĩ cách để nó xếp cánh quỳ dưới chân ta. Có như thế, rừng xanh mới đi vào kỷ cương được. Cọp quân sư lên tiếng: - Tâu chúa tể. Muốn cho diều hâu thần phục, trước hết phải tìm cách triệt tiêu đôi cánh làm cho nó không còn khả năng bay lên. Thần có cách này… Nghe xong ý kiến của cọp quân sư, cọp chúa và các cọp khác vỗ chân tán thành. Sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, triều đình nhà cọp đã đến chân núi Gió Hú. Cọp chúa yêu cầu gặp thần gió. Từ trên núi cao thần gió nói vọng xuống. - Chúng bay muốn dùng uy lực của ta. Ta đồng ý cho chúng bay mượn tạm viên ngọc bão. Nhưng báo trước ngọc của ta không có công dụng thu phục mà chỉ có tác dụng tàn phá. Hậu quả sẽ ghê gớm lắm không thể nào lường trước được. Tuy có run trước những lời cảnh báo của thần gió, nhưng bản tính vốn hung tàn kiêu ngạo, cọp chúa nghĩ: “Ta là chúa tể sơn lâm. Ta không thị uy chúng sẽ xem thường ta”. Mượn được ngọc rồi, cọp chúa và cả đoàn tùy tùng hí hởn kéo nhau về hang ổ. Khu rừng già náo động bởi tiếng gầm hí trò chuyện của các loài cầm thú – Chúng tụ tập theo lệnh của cọp chúa. Từ trên cành cao, diều hâu đưa mắt nhìn xuống những con thú bạn bè, nghĩ – “Tội nghiệp cho chúng. Chúng chẳng bao giờ nếm được cảm giác bềnh bồng tuyệt đỉnh khi thênh thang giữa bầu trời rộng như ta. Loài cọp cũng chẳng làm gì được ta. Ta luôn luôn cao hơn muôn loài…”. Diều hâu vỗ mạnh đôi cánh. Nó đắc ý khi phát hiện ra ưu thế của mình. Một tiếng gầm lớn làm rung chuyển cả núi rừng. Diều hâu giật mình – Cọp chúa xuất hiện, oai phong lẫm lẫm. Theo sau là đoàn tùy tùng. Tiếng ồn ào bỗng im bặt. Cọp chúa vểnh cao hàng râu mép, cất giọng vang động: - Ta là chúa tể của muôn loài. Kẻ nào thần phục ta thì còn quyền được đi lại thong dong với ngọn cỏ, rừng cây, bầu trời. Kẻ nào ngang bướng ta sẽ trừng trị. Hỡi muôn loài cầm thú, hãy lắng tai mà nghe cho rõ… Khu rừng im lặng như tờ. Cả loài côn trùng bé nhỏ cũng không dám thở mạnh. Cọp tướng bước ra truyền lệnh: - Diều hâu – đại biểu của các loài chim phải xuống đất quỳ trước mặt chúa tể để tỏ lòng thần phục. Từ trên cành cao, diều hâu thầm nghĩ – “Vũ khí của ta là đôi cánh dẻo dai tràn đầy sức lực giúp ta bay lên bất cứ lúc nào. Ta có xuống dưới thì lũ cọp dơ dáy này cũng chẳng làm gì được ta. Nhưng ta là chim, chỗ của ta là trên cành cao này…”. - Tôi không thể xuống vì loài chim chúng tôi chỉ quen ở trên cành cao. Lại một tiếng gầm chấn động: - Ta đếm từ một đến ba, nếu ngươi không chịu xuống, sẽ thụ lãnh một hình phạt đích đáng. Tiếng “ba” vừa phát ra khỏi miệng cọp chúa, bầy thú sợ hãi nép vào nhau. Diều hâu vẫn chễm chệ trên cao giương mắt nhìn cọp chúa. Chẳng lộ vẻ gì sợ sệt cả. Khi cọp chúa cầm viên ngọc đưa lên cao, rừng xanh đang yên bình tĩnh lặng bỗng giông bão ầm ào kéo về phạt ngã những tán cây lâu năm. Cát đá, cành cây bay ngang dọc khắp rừng. Bầy thú nhốn nháo chạy tìm nơi ẩn nấp. Mà trốn đâu cho thoát khi đang đứng ở trung tâm bão. Tội nghiệp những con thú hiền lành, xưa nay chỉ biết an phận, giờ cũng chịu chung số phận của kẻ bị trừng phạt… chúng chết mà chẳng biết mình phạm phải lỗi lầm gì. Khi viên ngọc bão đã phát huy uy lực đến cực điểm, cũng là lúc thần gió thu hồi nó trở về. Như một phép lạ, bão tố bỗng ngừng hẳn, bầu trời dịu êm trở lại. Giữa khung cảnh đổ nát của khu rừng già trầm mịch, bỗng xuất hiện một con vật rất lạ mắt, mới nhìn trông na ná như diều hâu, nhưng lông lá bị vặt trụi, đôi cánh đứt lìa khỏi vai. Nó khó nhọc lê từng bước qua những xác cầm thú, những cành cây gãy đổ. Bỗng có tiếng rên nho nhỏ khiến nó đứng lại – “Ôi vương quốc của ta! Rừng xanh của ta! Các con và tướng sĩ của ta…”. Diều hâu thất thểu lê bước, nó không muốn nghe lời than vãn của cọp chúa. Thâm tâm nó cũng thấm thía nỗi buồn. “Phải chi mình chịu bước xuống đất, thì giờ này mình vẫn có thể bay lên. Ôi, đôi cánh của ta! Bầu trời thiên thanh của ta…”. Rồi những mùa đông nối gót đi qua, mùa xuân dìu nhau đến. Cây cối đâm thêm chồi mới. Những loài thú sống sót lại tiếp tục duy trì và phát triển giống nòi. Rừng đã thật sự bình yên… Loài cọp tuy vẫn được tôn là chúa tể sơn lâm. Nhưng từ đó, chẳng có triều đại nhà cọp nào dại dột mượn ngọc của thần bão nữa. Thần gió ngừng câu chuyện, chỉ tay vào mày râu – “Ngươi là con cháu của loài diều hâu cao ngạo. Còn ngươi – ông chỉ tay vào tóc dài – tuy trong người ngươi có dòng máu của tổ tiên nhà cọp. Nhưng thời đại này đổi mới rồi. Khoa học văn minh tiến bộ. Các ngươi lại được cha mẹ cho ăn học đàng hoàng. Cớ sao lại không biết yêu thương nhau mà suốt ngày cứ cãi nhau chí chóe. Ta mà ra lệnh là các đệ tử của ta sẽ cho một trận bão tố ra trò đấy”. Nói xong, ông biến thành ngọn gió nhẹ rồi bay vào không gian. Dưới khu rừng, hòa trong tiếng suối róc rách là tiếng thỏ thẻ của tóc dài: - Thôi chúng ta làm hòa nhé! Thứ bảy này anh đưa em đến siêu thị. Có một kiểu thời trang mới rất mode. Mấy đứa bạn em đã mặc thử, trông rất trẻ, rất bụi, rất… - Phải biết “yêu người” chứ em. Thứ bảy này anh phải thi chứng chỉ C Anh văn. - Anh là đồ ích kỷ. Đồ… diều hâu. - Lúc nào cũng dữ tợn. Đồ… cọp cái… Tuy ở trên cao, nhưng ông già nghe rõ tất cả. Ông lắc đầu chán nản bay thẳng về tịnh động của mình. Từ đó, gió mặc gió, mưa mặc mưa. Dưới trần thế, ai ưng cãi nhau cho mau già thì cứ cãi, ông chẳng thèm can thiệp nữa. HOA CÁT ĐẰNG VÀ BÃO N gọn gió bấc từ biển thổi vào buổi chiều cái hương vị mằn mặn thân quen, thổi thêm… một gã trai xa lạ đến nhà tôi. Tôi không ưa hắn – Không ưa cái mái tóc bờm xờm, khuôn mặt “thiếu ăn” và cặp mắt lúc nào cũng láo liên đáng ngờ. Người hàng xóm đã dẫn hắn sang, nói với ba tôi: “Cháu tên Thạch. Nhà nghèo nhưng chịu khó lắm. Bác xem có công trình nào đang cần phụ hồ thì nhận cháu vào làm với”. Tự nhiên, tôi thấy bực vì cái gật đầu dễ dãi của ba. Cái thằng trông tướng ốm yếu mà làm việc giỏi đáo để. Cứ đà này vài tháng nữa nó sẽ trở thành thợ chính đấy – Trong bữa ăn, ba tôi khen nó nức nở – Phòng thằng Bình đang bỏ trống, chốc nữa con Thùy – Ba quay sang tôi, vào quét dọn lại cho sạch sẽ; mai thằng Thạch sẽ đến ở nhờ một thời gian. Nhà nó xa quá. Đi về không tiện cho công việc. Tôi nhăn nhó, tính phản đối thì bắt gặp ánh mắt nhìn nghiêm khắc của ba. Giận dỗi, tôi bỏ xuống bếp – “Con gái con đứa… sắp là sinh viên đại học rồi mà tính tình không quảng đại chút nào, mai mốt ai dám cưới” – Má tôi nói với theo. Dạo này, tôi thật sự thấy chóng mặt với lượng bài vở của năm cuối cấp ba. Đời học sinh quan trọng nhất là năm học này. Lơ là một tí là công lao bao năm sẽ thành công cốc. Đã vậy, anh Bình đang học đại học ở Sài Gòn còn gởi về đống tài liệu ôn thi với lời cảnh báo nghe xanh rờn: “Không ngốn hết những thứ này thì đừng bước vào phòng thi, chỉ uổng công, uổng tiền thôi nhóc ạ…”. Nhiều đêm tôi phải thức đến một hai giờ. Buổi sáng, nếu không có tiết học ở trường, tôi cứ ì trên giường cho đến lúc mặt trời toe toét cười mới chịu dậy. Ba không ý kiến. Má chỉ im lặng làm hết những phần việc trong nhà. Vậy mà hắn, cái gã “ngoại đạo” đến ở nhờ, lại dám lái xe… ủi vào chuyện riêng của tôi mới chết chứ. - Luyện thi mà học như Thùy không có kết quả đâu. Phải sắp xếp việc học cho hệ thống. Phải bắt đầu từ… - Ông biết gì mà xía vào – Tôi thực sự thấy bực hết sức. Hắn chỉ cười cười, nét mặt không hề thay đổi sau câu nói của tôi. Thầy bói nói mấy người mình dây thường chai mặt, quả không sai. - Mình đã qua kinh nghiệm này hai năm trước. Năm đó mình được tuyển thẳng vào đại học đấy. Nhưng nhà nghèo, phải ở nhà phụ giúp ba mẹ. Mình đi làm để kiếm tiền học đại học… Tôi sẽ không tin lời hắn, nếu không có cuộc “kiểm tra” tại phòng hắn ngay sau khi hắn đi làm. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi phát hiện trước đây hắn cũng là học sinh ở trường tôi! Cái tên Nguyễn Đăng Đình Thạch, thủ khoa của kỳ thi tú tài hai năm trước ai mà không nghe tiếng. Có điều tôi không biết mặt hắn đấy thôi. Những hiểu biết về “tướng số” của tôi quả không nhầm… Hắn chẳng những thuộc loại chai mà còn “siêu lì” nữa. Buổi tối, tôi ngồi vào bàn học thì hắn đã mò tới. - Cho mình học chung với. Học hai người mau tiến hơn. Chưa cần biết tôi có đồng ý hay không, hắn kéo ghế ngồi xuống, giở giở lật lật cuốn đề toán ôn thi của tôi rồi bảo: - Thùy yếu nhất môn nào, chúng ta sẽ bắt đầu từ môn đó. Tôi vốn dư sinh tố C. Bình thường khi không ưa ai tôi mở miệng là nghe mùi chua rồi. Nhưng bây giờ, nhớ lại thành quả học tập của hắn, tôi cũng hơi “kiềng”. - Muốn làm thầy hả? Vậy báo trước để “thầy” biết. Trong các môn, môn nào tôi cũng đội sổ cả đấy. Tôi nói là nói để thỏa mãn tự ái, chứ thật ra từ lúc có hắn hướng dẫn, việc học của tôi tiến bộ nhiều lắm. Thì ra ba tôi lúc nào cũng đúng. Tôi thường võ đoán khi nhận xét về người khác. Cũng may là hắn hiền lành chứ gặp phải anh Bình thì chiến tranh đã xảy ra lâu rồi. Nhờ kinh nghiệm chiến bại trong quá khứ trước anh Bình, nên tôi mới chấp nhận “hòa bình”, chịu ngồi học chung với hắn mỗi đêm. Ác cảm trong tôi mỗi ngày một giảm theo tỉ lệ nghịch với tình cảm… Giờ tôi chỉ còn ghét hắn chút chút, nhất là cái hôm trời mưa dữ, gió biển quất vào những chiếc cột chống giàn hoa cát đằng trước nhà. Nhìn giàn hoa lung linh sắp ngã, tôi như muốn khóc. Bỗng hắn từ trong nhà lao ra, không kể mưa gió ướt át, cột cột chống chống hồi lâu… Nhờ hắn mà sau cơn bão, giàn hoa vẫn còn nguyên vẹn. Tôi thương giàn cát đằng này lắm. Vì nó là “giàn hoa mơ ước” của tôi. Ngày ba tôi bị tai nạn té trên giàn giáo xuống, phải chở đi bệnh viện cấp cứu. Suốt buổi chiều, má bắt tôi phải ngồi coi nhà. Tôi ngồi dưới giàn cát đằng, nghe tiếng hoa rụng lộp bộp mà nóng ruột vô kể, cứ mỗi lần hoa rụng, tôi lại thầm ước – Ước gì ba được lành lặn trở về. Tôi ước đến lần thứ ba mươi thì thấy má chạy về, bảo: Ba rơi trúng đống cát, chỉ bị choáng nhẹ, tôi mừng quá, chạy ra lượm đủ 30 cánh hoa “mơ ước”, vuốt ve rồi tung hê lên trời… Ba tuần nay, Thạch nghỉ làm để chuẩn bị thi vào đại học. Tôi cũng bận rộn chuyện thi cử nên không ai gặp ai. Tôi đậu tốt nghiệp rồi đậu luôn vào sư phạm ngữ văn. Có điều lạ là tôi không thấy tên Thạch ghi trên bảng vàng của trường đại học nào cả. Học giỏi như hắn chẳng lẽ lại thi rớt? Nhà Thạch ở tận cùng những ngõ ngách của một xóm chài. Muốn đến nhà hắn phải đi qua những con đường “siêu xú uế”. Tôi phải nín thở khi đi ngang khu nghĩa địa. Mùi cá heo phơi dày trên đất cứ xộc thẳng vào mũi, cộng với ruồi lằn táp vào mặt… Chưa bao giờ tôi lại “can đảm” như thế này. - Anh Thạch phải đi Vũng Tàu cả tuần nay để tìm ba em – Cô em gái Thạch nói, giọng rơm rớm nước mắt – Ba đi câu mực bị trôi lạc thúng. Hơn một tuần rồi chưa có tin tức gì. Có tiếng ho húng hắng, tôi quay lại, trên chiếc giường kê sát vách nhà, một cái đầu tóc bạc trắng, đang ngọ nguậy, khuôn mặt xanh mét bệnh hoạn – “Má em bị liệt hai năm rồi”… Trên đường về nhà, tự nhiên tôi thấy mình chững chạc lên một tí. Hình như tôi đã lớn?… Bạn có tin điều này không? Khi người ta biết cúi đầu trước một nỗi đau, người ta sẽ không còn là “trẻ con” nữa. CÔ GIÁO "C hị mua giùm tờ vé số. Nó dí tập vé số sát vào mặt Thảo, chút xíu nữa là ly nước mía cô vừa đưa lên tính uống đã rơi xuống đất – “Chị làm ướt hết vé tui rồi”. Thảo suýt nổi nóng vì câu nói và lối mua bán áp đặt của thằng nhóc. Nhưng cảm giác nóng giận vụt tan biến khi cô vừa ngước lên và trông thấy nó – một khuôn mặt xương xương và đôi mắt xanh lạnh khiến cô giật mình. Có nét gì đó rất quen thuộc từ tia nhìn của nó? Một cách vô thức, Thảo cầm tờ vé số bị ướt cho vào ví rồi lấy tiền trả. - Không có tiền lẻ, chị lấy giùm tờ “Tuổi Trẻ”. Trên tay nó chỉ còn hai tờ báo. Miệng nó bảo “Tuổi Trẻ” mà tay lại chìa tờ “Công An”. Coi bộ nó không biết chữ, thảo nghĩ. - Mua bán kiểu gì như ăn cướp! Bà chủ xe nước mía lớn giọng khi thằng nhóc vừa đi khỏi. Thảo không ý kiến, cô đứng lên nổ máy xe phóng đi. Cái ánh nhìn xanh lạnh của thằng nhóc bán vé số như cứ bám theo cô. * Anh công an đường phố đặt ly nước mía xuống bàn, bảo: - Chuyện thằng nhỏ bán vé số hôm trước chị nhờ tôi tìm nhà, tôi đã tìm ra. Nó tên Tùng, 16 tuổi, nhà ở xóm sình. Nó chỉ có hai mẹ con. Mẹ nó trước đây thuộc thành phần… Anh bỏ lửng câu nói, nhưng Thảo đã đoán ra cái nghề nghiệp không mấy tốt đẹp của người đàn bà không chồng sống ở cái xóm bụi đời tai tiếng này. - Cũng chẳng có gì quan trọng, thấy nó không biết chữ, tôi tính nhờ anh thuyết phục để nó đến học ở lớp tình thương tôi đang phụ trách. - Tiếc là mấy hôm nay nó đi vắng, tôi có đến nhà mà không gặp. Thôi để lúc khác vậy. Thảo cám ơn khi anh đứng lên ra về. Bà chủ quán nước mía hôm nay trông có vẻ đon đả khi Thảo kêu tính tiền – “Chúc mừng cô đấy nhé!”. Thảo ngạc nhiên – “Chuyện gì mà mừng?” – “Cô chưa biết thật hả? Thằng nhóc bán vé số bảo: Hai tờ vé cô mua hôm trước trúng được bốn triệu”. Trúng số! Chuyện quả là bất ngờ đối với người lần đầu tiên mua vé số như Thảo. Nhưng không hiểu sao cô chẳng thấy mừng mà chỉ chú ý đến chỗ bà vừa nhắc tới thằng nhóc bán vé số. - Mấy hôm nay sao không thấy nó đến bán? Tôi đang có chút chuyện muốn gặp nó. - Chắc nó đã đổi địa bàn. Hôm trước nó đến báo tin cô trúng số rồi đi luôn tới giờ. Thảo sực nhớ chuyện mình đã nhờ công an đi tìm nhà. Hay là nó sợ? Có thể lắm! * - Nhà thằng Tùng đó cô! Thằng nhỏ dẫn đường đưa tay chỉ căn nhà lá lụp xụp nằm sát mé sông, kế bên một đống rác trông còn to hơn cái nhà nhiều. Cô cám ơn thằng bé, không có nó chắc là cô đã lạc giữa những con hẻm chằng chịt của khu xóm này. - Cô tìm ai? – Người đàn bà thắc lẻm nhìn Thảo, giọng nói nghe không cảm tình lắm. - Tôi muốn gặp em Tùng. Nó có nhà không hở chị? - Thằng con tôi dạo này ít về nhà lắm. Nó bảo phải đi bán thêm buổi tối để có tiền học nghề sửa Honda. Coi bộ chị ta không muốn mời Thảo vào nhà. Lỡ đến rồi thì phải chủ động thôi, Thảo nghĩ. Căn nhà chỉ đủ chỗ kê một chiếc giường, những khoảng trống còn lại bị cái tủ nhỏ và bếp nấu ăn chiếm hết. Thảo đang lúng túng không biết ngồi vào đâu thì mẹ của Tùng đã moi dưới giường ra một chiếc ghế đẩu. Chị huơ chiếc áo rách lau sạch lớp bụi bám trên ghế rồi mời Thảo ngồi – “Cô thông cảm. Nhà hiếm khi có khách đến ngồi lâu”. Thật tình, Thảo cũng không muốn ngồi lâu chút nào, cô vào đề: - Chuyện là… mấy hôm trước tôi có mua của em Tùng hai tờ vé số. Đúng ra là tôi bị “ép” mua chứ không phải tự ý. Một trong hai tờ trúng giải thưởng bốn triệu đồng. Tôi nghĩ, may mắn này là của em Tùng nên có ý định tặng em tờ vé số trúng đó. Người đàn bà mở to mắt nhìn Thảo. Có lẽ chị không tin điều mình vừa nghe thấy. - Điều kiện của tôi là chị hãy bảo em Tùng buổi tối chịu khó đến lớp học miễn phí ở trụ sở Ủy ban. Tùng muốn học nghề để thay đổi cuộc sống là ý định rất tốt, nhưng nếu không biết chữ, thì việc học nghề cũng trở ngại lắm. Chị cố khuyên Tùng nhé! Thảo để tờ vé số trúng lên giường rồi ra về. Bóng tối đang chập choạng phủ lên cái xóm nghèo. Thảo liên tưởng đến ánh mắt xanh lạnh của Tùng và thoáng giật mình. Công việc “trả thù” thằng nhóc vậy là đã xong bước đầu. Cô tin tưởng, những bước tiếp theo rồi cũng êm xuôi thôi. * - Mấy hôm nay sao không thấy em tới lớp. Chúng ta đã thỏa thuận rồi mà? Tùng ngồi im re nơi góc giường. Đôi mắt tuy không còn xanh vẻ lạnh lùng cố hữu nhưng khuôn mặt vẫn toát lên nét ngổ ngáo. Hồi lâu, nó mới lên tiếng: - Em lớn rồi, học không vô nữa. Với lại tụi bạn em cứ chọc quê. - Em đừng nghe lời tụi nó. Văn hóa sẽ giúp em phân biệt người tốt, kẻ xấu. Việc nào đúng, việc nào sai nên tránh. Thảo nhìn thẳng vào mắt Tùng, cặp mắt xanh vội vàng cụp xuống. Giờ trông nó có vẻ hiền lành, vậy mà, cái đêm hôm đó, nó làm cô sợ đến ngất xỉu. Thảo biết, nó không hề nhận ra cô… - Cô kể em nghe chuyện này. Hy vọng câu chuyện sẽ giúp em trở thành một người tốt. … 10 giờ tối, cô giáo mệt mỏi rời lớp học tình thương trở về nhà. Khi chiếc xe Dream chạy đến khúc đường vắng gần chỗ quẹo vào xóm sình, cô thấy một thiếu niên vẫy tay xin quá giang. “Thằng nhóc, chắc là ham chơi về trễ sợ mẹ đánh đòn”, cô vừa nghĩ vừa thắng xe lại chờ nó. Thằng nhóc bước lại gần, rồi thình lình, một ánh dao lóe lên trước mặt cô. Cô giáo hoảng hồn chỉ kịp kêu lớn “cướp”, rồi ngã xuống xe bất tỉnh. Thằng nhóc có lẽ lần đầu tiên đi ăn cướp nên cứ loay hoay mãi với chiếc xe còn nổ máy nằm dưới đất. Nó càng quýnh lên khi có tiếng rục rịch mở cửa của những nhà phía bên kia đường. Thế là nó bỏ xe chạy thục mạng… Khi Thảo ngừng kể thì khuôn mặt của Tùng cũng chuyển sang xanh mét, nó lí nhí – “Sao lúc đó cô không đi báo công an?”. Thái độ ủ rũ của Tùng làm Thảo nhớ đến Thạch, đứa em nghiện ngập đã chết trên tay chị cách đây hai năm “Nó mà còn sống thì gờ này cũng cao to chừng này”. Cô bước đến nâng đầu Tùng lên – “Chị tin rằng, em cần sự giáo dục để nhận thức hơn là sự trấn áp. Phải không em trai của chị?”. Trong căn phòng tù mù, nụ cười của cô giáo và “học trò” nở bung như những đóa hoa toàn mỹ nhất. Đôi khi, có những đóa hoa đẹp và tinh khiết đến nỗi chẳng có một nụ hôn trần tục nào xứng đáng đặt môi lên. CẬU TÔI C hiếc xe ôm như con ngựa đua sung sức vừa khởi đầu nhịp chạy, phóng một lèo xuống dốc cầu “Bà Phú” rồi sẵn trớn vèo lên dốc. Đầu dốc là trung tâm thị xã “Tới rồi!” – Tôi thở phào bảo người lái xe. - A! Chị Chi về, “người hùng” về má ơi. Nhỏ Lệ em gái tôi hét toáng lên khi tôi chưa kịp bước vào nhà “Chào mọi người” – Tôi cũng mở “volume” hết cỡ, dẫu thừa biết cái miệng của nhỏ Lệ cũng đã đủ cho mọi người chú ý. Má tôi ngưng công việc bếp núc, chạy ra. Còn ba ngạc nhiên bỏ tờ báo đang đọc dở xuống – “Có chuyện gì mà con về đột xuất?”. - “Con bỏ về. Khổ quá không chịu nổi ba ơi. Học sinh dốt. Khí hậu khắc nghiệt. Điều kiện sinh hoạt thì…” – “Ôi! Tội nghiệp “người hùng”. Nhớ ngày ra đi khí phách hiên ngang: “Ba mẹ biết không? Ở đời chỉ có nhà giáo và người mẹ là được tôn lên hàng “thiên chức”, hăng thế mà mới mấy tháng đã là kẻ đào ngũ” – “Thôi – má tôi đe nhỏ Lệ – chị em bay hễ gần nhau là đốp chát”. Tôi phớt lờ xách túi đồ đi thẳng về phòng. Trước tiên là tắm xả cho sạch những lớp bụi và bao phiền muộn đã đeo bám tôi suốt quãng thời gian sống ở cái huyện biên giới ấy. Không còn những giây phút mệt nhoài khi phải giảng đi giảng lại một định đề, một căn số toán học cho những cái đầu to mà rỗng. Không còn những đêm nằm co nghe gió núi ru đời mà quay quắt nhớ thèm chút hơi ấm gia đình. Nhớ bạn bè, nhớ phố núi và những đêm lang thang từng con dốc dài dốc ngắn. Nhớ… Ba tháng, cũng đủ cho thử thách đầu đời với cô sinh viên vừa tốt nghiệp sư phạm là tôi. Bỏ cuộc, buồn một tí, hụt hẫng một tí, rồi sẽ quên. Tôi chẳng có gì phải lo cho tương lai cả. Tốt nghiệp đại học, biết sử dụng vi tính, có bằng Anh văn… Tìm một việc làm thích hợp ở thị trấn này là việc làm không khó đối với ba tôi, một cán bộ cấp tỉnh. Cơm nước xong, nhỏ Lệ khoèo tôi “Đi” – “Đi đâu?” – “Uống cà phê quán “Núi màu vàng” – “Đi thì đi nhưng tao hơi ngạc nhiên: Sao bữa nay mi rộng rãi thế?” – “Chuyện nhỏ. Nhưng đừng quên “thủ thế”, lỡ…” – Tôi bật cười – “Yên tâm. Tao thừa kinh nghiệm khi mi rủ rê rồi”. Quán nằm trên một ngọn đồi. Lập đông, mà con đường dã quỳ vàng như mùa thu. Tôi cho xe chạy chầm chậm, cao hứng đọc to những câu thơ của ai đó “Dìu nhau lên dốc hoa vàng. Màu hoa vàng đến ngỡ ngàng: Pleiku. Chiều hoang vắng khói hoang vu. Trời hoang dã với sương mù hoang sơ”. Nhỏ Lệ đập vai tôi – Thơ ai mà “độc” thế?”. Tôi xạo: “Thơ tao chứ ai”. Nó im lặng, có vẻ tin và nể lắm. Khác với nhỏ Lệ, tôi không ghiền cà phê mà “ghiền” cái không khí thư giãn. Ngày ở đây bốn mùa luân phiên đi đến. Buổi trưa nắng hạ thiêu đốt, buổi chiều cái lạnh gây gây mang mùa đông về. Ngồi trong quán nhìn xuống lũng vàng, vài người Thượng mang gùi ẩn hiện thấp thoáng bên những tảng đá to sần sùi nghìn năm hoang dã. Tôi yêu những phút đắm chìm trong hoang sơ đó. Nhỏ Lệ khuấy khuấy ly cà phê – “Chị thua độ rồi đấy nhé” – “Độ gì?” – Tôi ngạc nhiên – “Hôm trước chị em mình cá với nhau khi gởi thư cho cậu – Nếu thư hồi âm của ai ngắn nhất, sẽ được bao một chầu cà phê” – Tôi chồm tới “có thư cậu hả? Đâu?” – Nhỏ Lệ dứ dứ lá thư – “Nhưng phải chung độ đàng hoàng, cấm xù à nghen”. Có lẽ trên đời này cậu tôi là người đứng số một về phương diện làm biếng viết thư và tiết kiệm lời. “Đã nhận thư của hai cháu. Cậu vẫn khỏe. Sống bình thường. Rất mừng vì hai cháu luôn là những người con ngoan. Thỉnh thoảng các cháu nhớ thăm chừng mộ ông ngoại. Rất nhớ mọi người trong nhà. Cậu”. Mấy hàng chữ ngắn ngủi càng làm mơ hồ thêm người cậu phương xa. Má tôi chỉ có hai chị em. Cậu tôi sống phiêu bạt như loài chim di trú, nay Sài Gòn, mai Đà Nẵng. Cách đây hơn mười năm, cậu về dạy học ở một huyện ven biển, rồi lấy vợ và đưa bà ngoại tôi vào định cư luôn ở đó. Thời gian sau, vợ cậu bỏ trốn ra nước ngoài khi đang có thai hai tháng. Tiếp đến bà ngoại tôi mất… Cậu viết cho má tôi “Chị yên tâm. Em sẽ đứng vững…”. “Cậu mày tính thích phiêu bạt, nhưng bây giờ đã có nhà cửa đàng hoàng, công việc cũng tạm ổn…”. Má tôi kể khi đi thăm cậu trở về. Hơn mười năm không gặp cậu, trong đầu tôi vẫn mang máng hình ảnh một người cậu đẹp trai, đàn hay và học giỏi. Cậu tôi biết nhiều thứ, chắc cuộc sống phong phú lắm… Một ý định bỗng lóe qua – “Ngày mai chị sẽ vào thăm cậu”. Nhỏ Lệ có vẻ hào hứng trước quyết định của tôi – “Tuyệt, nhưng chị ráng chờ đến tết… em đi với” – “Không được. Đi hết má sẽ không cho”. Biết tôi nói đúng, nhưng nó vẫn xụ xuống. Không sao, trên đời này khó có chuyện gì làm nhỏ em tôi buồn lâu được – “Hồi nãy em bảo chị thua độ, thế thư của em cậu viết được mấy hàng?”. Nó liền toét miệng – “Chẳng có hàng nào cả. Im lặng… là sự hồi âm ngắn nhất. Đúng chưa?”. Tôi gọi chủ quán tính tiền. Quen tính nó rồi, tôi không tranh làm gì cho mệt. * Căn nhà nằm ngay phố chính nên cũng dễ tìm. Xem lại, thấy đúng với số nhà mà má tôi đã ghi, tôi gõ cửa. Một gã trai với khuôn mặt vừa tỉnh rượu, bước ra nheo mắt nhìn. - Xin lỗi, phải nhà thầy Tường đây không ạ? Cánh cửa đóng cái rầm sau câu lầm bầm đầy ác cảm – “Chẳng có “thầy bà” nào ở đây cả. Đi chỗ khác mà hỏi”. Tôi cũng giật mình theo tiếng “rầm” của cánh cửa. Hơn một ngày ngồi xe đò vào đây, tôi không “mơ” đến tình huống này. Tôi chết trân đứng vo vo tờ giấy ghi địa chỉ, lòng phân vân muốn khóc. - Em hỏi thầy Tường phải không? Câu hỏi của một người phụ nữ, khuôn mặt phúc hậu của chị khiến tôi yên tâm “Chị ở gần nên lúc nãy có nghe em hỏi. À, em là gì của thầy Tường?” – “Dạ, là cháu…” – “Cháu, vậy em ở trên cao nguyên xuống. Vào đây – chị nắm tay tôi – Để chị sai con chị đưa em đi gặp cậu. Bây giờ thầy đã dời vào xóm “Chuồng ngựa”, nhà này thầy cho nó rồi”. Tôi thở phào đi theo chị, dẫu lòng không ít thắc mắc: “Nó” là ai? Nhà sao lại đem cho? - Thầy đang ở trong đó. Cậu bé đưa tay chỉ cái chòi, ngang dọc khoảng bốn mét, một nửa nằm gối đầu lên bờ sông, trước mặt và hai bên bị che chắn bởi những căn nhà xây kiên cố – “Chị vào đi!”. Tôi cảm ơn cậu bé rồi đứng tần ngần mãi. Bao nhiêu năm khát khao được gặp cậu, tôi không ngờ cậu lại sống quá hàn vi thế này. Tôi bước vào “nhà” khi gió sông hắt vào mũi cái mùi tanh tanh mằn mặn của biển. - Sao bỗng dưng cậu lại nghèo nhanh thế? Trước đây cậu cũng có một gia tài kha khá – Sau bữa ăn tôi buột miệng hỏi cậu điều tôi đang thắc mắc. Cậu không trả lời mà cứ chắp tay đi qua đi lại. Hồi lâu, cậu mới lên tiếng: “Mọi chuyện… diễn ra như một giấc mơ đầy bi kịch. Một đêm, cô ấy bảo: Tiền bạc nhà mình bị người ta lường gạt hết rồi. Tuy rất buồn vì của cải đó là công lao của cha mẹ cậu dành dụm một đời, nhưng cậu vẫn an ủi cô ấy: Mọi thứ đều có thể bắt đầu trở lại. Hai hôm sau cô ấy bỏ trốn ra nước ngoài. Chuyện tiền bạc cậu không kể nên má cháu không biết. Thú thật với cháu, đến bây giờ cậu vẫn không hiểu – trong tình cảm, mình đã cư xử với cô ấy không phải ở chỗ nào. Có lẽ cái nghề dạy học của cậu lúc đó chỉ là nghề “ăn bám” vợ”. - Thế còn căn nhà? Hồi chiều cháu có gặp một người… - À, chú ấy là em vợ, ở tù mới ra năm ngoái. Lúc đầu chú ấy đến xin ở nhờ, sau cứ tìm cách gây sự – “Nhà này của chị tôi, ông với chị ấy bây giờ không còn quan hệ gì. Cậu đành ra ở đây cho yên chuyện”. - Vô lý, còn có luật pháp? - Với người thân, cậu không muốn gây khó dễ. Mỗi người đều phải trả giá bởi việc làm không phải của mình… Đến nước này, tôi không thể nào hiểu nổi cậu tôi. Cậu vỗ vai tôi, cười cười. - Đừng bực. Cậu cũng đang rất giận vì… trong túi không còn đồng nào để đưa cháu đi chơi một vòng cho biết phố biển. Cháu có “phương án” gì hay hay không? Tôi thầm cảm ơn má tôi, khi đi, má cẩn thận đeo vào tay tôi chiếc nhẫn vàng “Con mang theo để phòng hờ”. - Cậu khỏi lo, cháu đủ tiền nuôi cậu một tháng. Nhưng phải chừa lại ít tiền để đánh điện “Má ơi. Gió cấp 9. Biển động mạnh. Gởi tiền gấp gấp…”. * Buổi sáng, trước khi đi dạy, cậu bảo: “Cháu ở nhà, nếu thấy buồn thì… nằm đọc sách. Ngày mai chủ nhật, cậu cháu mình sẽ ra bãi biển chơi suốt ngày”. Không nghe cậu dặn dò chuyện nấu nướng. Cậu tính đãi tôi ăn nhà hàng với cái túi rỗng của mình chắc? Cậu đi rồi, căn nhà càng thu nhỏ lại. Không lẽ vượt cả ngàn cây số để vào đây nằm nói chuyện với sách. Buồn tôi với tay lấy cây guitar trên vách xuống. Lúc tôi mở bao đàn, một tấm hình phụ nữ rớt ra. Nhìn hình, tôi thầm nghĩ – Nhan sắc này so với cậu thật xứng đôi. Tôi lật phía sau, một mớ ngôn ngữ lộn xộn hiện ra “I know, if I searched the world over, I could never hope to find a love like the love…” Tôi biết, nếu tôi sục sạo khắp thế giới này, tôi vẫn không thể nào tìm được tình yêu như tình yêu của em. Rồi lại thơ “Sẽ không có chia ly vì chưa một lần sum họp. Sẽ không quê hương vì tiềm thức quá vô tình. Sẽ không khổ đau vì chưa một lần sung sướng. Sẽ không có nhau khi tự đánh rơi mình”. Tôi bực mình quăng tấm hình xuống sàn nhà, người đàn bà trong hình cứ mỉm cười nhìn tôi, nụ cười xinh mà lạnh như mùa đông phố núi. Cô ta bỏ cậu tôi đã bảy năm rồi, mà những dòng chữ này cậu mới ghi cách đây một tháng. Không ngờ cậu còn nặng tình với cô ấy thế, tình yêu trong cậu vẫn đầy dẫy loại “vi rút” mù quáng. Mọi cái… trông không giống tình yêu chút nào. Bất bình, tôi khép cửa tản bộ ra phố. Thị xã gì nhỏ xíu như vòng tay ôm, lang thang vài vòng là thôi phố xá, lại phải quay về. Tôi ngạc nhiên khi thấy người đàn bà đang loay hoay nấu ăn trong bếp. Tiếng động khiến chị quay lại – “Em về đấy hả? Ghe nhà đi biển mới vô, chị đem biếu thầy ít cá. Thầy rất thích món cá thu sốt cà này. À, gạo chị mới đổ vô lu, em đợi vài phút cho cá thấm rồi bắc cơm là vừa”. Nghe giọng nói và thái độ thì chị đã biết tôi là ai. Nhưng chị ta là ai mà tốt với cậu tôi thế nhỉ? – “Con chị ba đứa đều là học trò của thầy Tường. Đứa lớn đậu vào đại học ngoại ngữ cũng nhờ công thầy dạy dỗ bao năm. Thầy dạy thêm mà không lấy tiền nên chị mang ơn…”. Vậy là rõ, trong nhiều cái mất cậu tôi cũng còn cái được. Tôi cảm ơn khi thấy chị tính ra về. Đi tới cửa chị bỗng dừng lại – “Cậu em sắp giàu to rồi đấy”. Thấy tôi không hiểu, chị giải thích – “Vợ cũ của thầy ở bên Mỹ mới về. Nghe nói chồng cô ta ở bên đó bị tai nạn xe cộ đã chết, được bảo hiểm đền nhiều tiền lắm”. Chị bỏ về khi thấy tôi đón nhận nguồn tin bằng cái nhếch môi vô cảm. Tôi nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được. Sông đêm, con nước ròng rồi lại lên, cứ ì oạp dưới sàn nhà nghe buồn thiu. Hồi chiều cậu bảo có chuyện cần phải đi đâu đó giờ vẫn chưa thấy về. Tôi mải nghĩ đến cảnh sống cô độc của cậu bao năm nay. Cậu là kẻ bằng lòng nhận phận hay trong cậu còn một niềm tin nào? Bỗng dưng tôi nhớ đến những ngày còn dạy ở Dakto và câu chuyện đã trao đổi với cậu đêm qua… Ai cũng sống cho hạnh phúc bản thân mình. Hơn hai mươi năm làm nghề gõ đầu trẻ, mỗi lần đứng lớp cậu đều thấy thích thú như ngày đầu. Cậu đã khăng khít với điều gì thì khó dứt bỏ lắm… Cậu tôi như một thứ kim loại đã trui rèn qua ngọn lửa đời, ngọn lửa đã đốt cháy mọi tham vọng cá nhân khác. Cái còn lại trong cậu bây giờ là một dung hạnh tình yêu. Câu nói của Dostoievski được cậu viết nắn nót dán trên vách – Địa ngục là gì? Là tâm hồn không biết yêu thương… Tôi chưa được tôi luyện như cậu nên dễ dàng dứt bỏ. Chưa bao giờ tôi nói với học trò của mình bằng ánh nhìn tình yêu… Ai cũng sống cho hạnh phúc bản thân mình. Tôi cũng thế, nhưng là thứ hạnh phúc ngược lại… Tiếng khép cửa hơi mạnh làm tôi giật mình – “Cháu chưa ngủ à?”. Cậu bước vào với câu hỏi chiếu lệ rồi ngồi phệch xuống sàn nhà, đốt thuốc và nhả khói liên tục, dáng bình thản trầm nghị hàng ngày biến đâu mất. Có chuyện rồi đây – tôi nghĩ. - Cháu qua nhà chị Miên gần đây mua cho cậu xị rượu. - Sao bỗng dưng cậu lại cần cái thứ ấy? Tôi biết mình đã hỏi một câu thừa khi nhìn bộ mặt “nhàu nát” của cậu. Cậu đang buồn vì một biến cố tình cảm mới(?). - Cậu vừa gặp cô ấy… Cậu nói sau khi “ực” ly rượu một cách ngon lành. Thì ra cậu tôi chẳng lạ lùng gì thứ nước đắng chết người này. Tôi đã biết “cô ấy” là ai nên chỉ im lặng chờ đợi. “Cô ấy bây giờ khác xưa nhiều quá… lại còn đòi giúp đỡ cậu. Chà… vậy mà lâu nay cậu cứ nghĩ cô ta mới là người cần giúp đỡ”. Tôi biết tính cậu tôi, cậu hay dị ứng với chuyện tiền bạc. Hôm qua tôi đề nghị “Để cháu về thưa với má giúp cậu ít vốn, ít nhất cậu cũng phải có một chỗ ở cho đàng hoàng. Cậu còn tương lai…”. Cậu lườm tôi – “Tiền thì ai lại không cần, nhưng chưa cạn cùng mà đã trông nhờ vào người khác, cậu sợ mình sẽ yếu đuối”. Cậu bình thản với bao nỗi đời riêng như con tàu kiêu căng trên biển, cứ ngỡ mình sẽ vượt qua mọi sóng gió. Thái quá e rằng sẽ bất cập, lần này chắc cậu tôi sẽ đổ gục – “Cậu cũng không muốn gặp cô ấy làm gì, nhưng vì đứa nhỏ, cậu chưa được thấy mặt nó…” – “Thế cậu đã gặp?” – “Chưa, cậu dằn ly rượu – Cô ấy bảo thằng nhỏ không biết nói một câu tiếng Việt. Gặp làm gì khi nó không biết gọi “ba””. Nhìn cậu, tôi thật bối rối, không biết nói gì để an ủi cậu đây – “Cháu mua thêm rượu nhé!” – “Thôi – cậu đứng lên – Ngày mai cậu phải dạy hai tiết…”. Cậu cúi xuống cầm chai rượu – “Vĩnh biệt nhé!”, “tỏm”, chai rượu vèo xuống sông. A – Tolstôi – Cái ta có là tử số, cái ta muốn là mẫu số, mẫu số càng to thì tử số càng nhỏ, mẫu số vô cực thì tử số bằng không… tôi không biết khi nỗi đau “vô cực” thì ta sẽ bằng gì? Nhưng tôi biết, đằng sau những nỗi đời bi kịch, có khi cũng tựu thành một điều gì đó… GIÀNG ƠI! SAO KHÔNG MƯA? Y Ban nhẹ nhàng đặt những bầu đựng nước suối xuống sàn rồi móc chiếc gùi lên vách. Trăng thượng tuần đang nhảy nhót trên những tán cây trước nhà. Gió mát liêu phiêu thổi. Đâu đó trong rừng vẳng lại tiếng kêu của mấy con thú đang đi kiếm cái ăn. Cô gái cao hứng hát khe khẽ “Hơ… Đêm rừng, con mãng con nai cũng biết hát, con Kơ tia cũng biết yêu; chỉ có em chưa biết một điều. Hơ…”. Tiếng động và tiếng ho ở góc nhà khiến cô im bặt – “Y Ban!”. Tiếng kêu phát ra từ đống chăn bùi nhùi gần bếp lửa. “Đống chăn” cựa quậy, một cái đầu râu tóc bờm xờm ló ra – “Con lại đi qua con suối bên đó hả? Ta đã cấm mà”. Y Ban ấp úng – “Dạ… tại Giàng không chịu mưa, cái suối bên này khô nứt đất, cái nước cũng chui đâu mất. Chỉ có bên đó…”. “Hèm… Mai ta sẽ khỏe mà. Sẽ vào rừng kiếm cái ăn, cái nước. Con đừng qua bên đó, bọn người làng chúng xấu lắm”. Nhắc đến người làng bên kia, đôi mắt ông già ngời lên giận dữ. Ông có vẻ muốn ngồi dậy nhưng cơn bệnh đang hành hạ khiến ông như lả đi. Y Ban bước lại đỡ ông nằm xuống – “Già cứ nghỉ cho khỏe. Y Ban sẽ không lấy nước bên đó nữa. Không gặp bọn người xấu…”. Nghe thế, tia lửa trong đôi mắt ông già biến mất. Bây giờ đôi mắt ấy trông hiền hậu như biết cười, từ từ nhắm lại. Ông lại thiếp vào cơn mê. Trăng đã lên cao, vầng nguyệt quang lấp lóa trên những ngọn kơ nia già. Rừng đã ngủ, đêm tịch mịch khiến lòng Y Ban thấy lao xao một cảm giác lạ. Cô đâu biết đây là đêm dậy thì muộn của cô gái 18 tuổi. Từ khi chập chững nói cười, cho đến lúc biết theo già Y Lun vào rừng đặt bẫy bắt con thú, đuổi con ong lấy cái mật… thế giới của Y Ban chỉ là khu rừng già trước mặt, với bao điều kỳ bí cô chưa khám phá hết. Một ngày nọ, Y Ban chỉ tay về phía những ngọn khói đang bốc lên ở phía sau một ngọn đồi, thắc mắc: “Già ơi! Ở đó chắc là cũng có giống người giống mình phải không già?”. Y Ban nhớ mãi nét dữ tợn trên khuôn mặt già Y Lun lúc đó – “Đừng nhìn nó, bọn người ở đó xấu lắm”. Buổi tối, qua giọng kể đều đều của già Y Lun bên ánh lửa bập bùng, Y Ban mới hiểu được đôi điều về thân phận mình… Thì ra, ở bên kia ngọn đồi, còn có một thế giới khác. Một thế giới với những con người cư xử với nhau bằng những luật lệ khắt khe tàn nhẫn. Dưới sự phán xử của một già làng, kẻ có tội, người già yếu không còn khả năng lao động, đều bị đuổi vào rừng sâu. Già Y Lun cho biết, đã nhặt được Y Ban trong một góc rừng, lúc cô còn đỏ hỏn – “Nhưng lúc đó con biết gì mà phạm tội hở già?”. “Ờ… hừm… già Y Lun ngập ngừng – Già làng bảo con là con của quỷ. Là kẻ mang điềm dữ đến cho dân làng”. Năm Y Ban mười sáu tuổi, nhiều lần cô lén già Y Lun vượt qua “biên giới” cấm, đến bên con suối của những “người ác” bên kia. Có đêm cô núp trong bụi cây rất lâu, lén nhìn những cô thiếu nữ trong làng đi tắm. Nhìn họ vô tư ca hát đùa nghịch, lòng Y Ban dấy lên niềm khao khát – Cô rất muốn được làm quen, được cười giỡn như họ; nhưng nhớ tới lời cảnh báo của già Y Lun, cô đành lặng lẽ bỏ về. Giàng cứ nắng mãi không chịu mưa, khô khốc thế này thì con chao rao cũng không cất nổi tiếng hót chứ đừng nói con người. Y Ban quay nhìn vào trong thấy già Y Lun đã say ngủ, cô bỏ những chiếc bầu không vào gùi rồi len lén đi về phía bờ suối “cấm”. Dòng nước mát trong mơn man da thịt khiến cô sơn nữ 18 tuổi thấy rạo rực hưng phấn. Nhớ lại những câu ca đã nghe lén khi nhìn các cô gái ở làng bên tắm, Y Ban hát nho nhỏ “Ê… cái suối cái sông cái rừng cái núi, gọi Giàng mưa xuống cho rừng xanh lên…”. Thình lình, một giọng nam cất lên đâu đó nghe rất gần, Y Ban hoảng hồn im bặt “Ê… pơ rơ tốc. Hỡi cô nàng mến yêu, hãy hát lên lời ca đẹp, để rừng nở thêm hoa tươi. Trên nương thêm lúa trĩu vàng…”. Ôi chao! Cái tiếng ca sao mà cao vút như tiếng con chim rừng khua động trời khuya thế kia. Y Ban đang mê mẩn bỗng giật mình, khi phát hiện người con trai lạ đến gần bờ suối. Cô líu quýu lao lên bờ, mặc vội chiếc xà rông vào. Giọng nói người con trai cất lên ngay phía sau khiến cô cảm thấy nóng bỏng cả cơ thể – “Nàng có phải là tiên của rừng mà thân hình đẹp đến nỗi con thú rừng cũng ngơ ngẩn thế?”. Y Ban vẫn không dám quay mặt lại. Ngày nào cô cũng nói chuyện với già Y Lun, nhưng sao cái giọng nam trầm ấm này làm cái bụng cô run quá chừng. Nhớ tới già Y Lun, thì câu nói mà cô đã nghe suốt mười tám năm trời cũng tái hiện “Bọn người bên ấy chúng ác lắm!”. Nỗi lo sợ trước người lạ dần dần thay đổi cái cảm giác bồi hồi lúc nãy, Y Ban quơ vội chiếc gùi rồi quay bước như chạy vào rừng đêm. - Già ơi! Con người khi gần nhau như con chim trống với con mái thì sẽ có con phải không già? Câu hỏi hơi bất ngờ khiến già Y Lun lúng túng: - Er… chuyện đó cũng giống như… có cái nắng thì phải có cái khát vậy mà. Nhưng với con thì không thể. - Sao con lại không thể hở già? – Y Ban chồm tới, nắm tay già Y Lun lắc mạnh. - Ngoài già ra, không có ai yêu thương con đâu. Bọn người đó sẽ làm con đau khổ suốt đời. Câu trả lời của già Y Lun cũng mù mờ như những làn khói mỏng manh bên kia đồi, Y Ban vẫn còn thắc mắc nhưng thấy đôi mắt già Y Lun nhắm lại như sắp ngủ nên thôi. Đã ba hôm, từ ngày bị người con trai lạ bắt gặp lúc cô đang tắm, Y Ban không dám ra suối lấy nước nữa. Cứ mỗi lần nhớ tới cái giọng nói trầm ấm đó, cô cảm thấy nóng ran lên. Mà sao cái khuôn mặt thoáng gặp lần đầu đó cứ lởn vởn theo cô mãi thế nhỉ? Nhiều lần cô có ý định ra suối để gặp anh ta, nhưng nhớ tới lời cảnh cáo, cô thấy sợ nên thôi. Già Y Lun vẫn chưa khỏe, đêm nay thì Y Ban phải ra suối lấy nước rồi. Cô chờ đến khi trăng đã cao trên ngọn cây, mới mang gùi bước vào rừng đêm. Quan sát một hồi lâu, khi đã chắc chắn không có ai bên bờ suối, Y Ban mới bước ra lấy đầy nước vào những chiếc bầu mang theo. Tiếng nước chảy như khiêu khích, Y Ban thấy thèm quá, cái cảm giác mát rượi khi ngâm mình dưới dòng nước; nhưng nhớ tới chuyện bị bắt gặp mấy hôm trước, cô thấy mắc cỡ, nên quàng vội chiếc gùi vào vai. - Khoan đi đã nàng ơi! Ta chờ đã ba đêm rồi. Hãy cho ta được trò chuyện với nàng một lát. Người con trai hôm trước lại xuất hiện từ lúc nào, làn hơi nóng phà sát gáy, Y Ban hoảng hốt lắc mạnh vai mới thoát được đôi tay cứng rắn đang giữ chặt. - Đừng sợ. Ta là con trai của bản làng Bleiruk. Từ hôm trông thấy nàng, dù chỉ thoáng phía sau, ta cũng đã mê mệt. Hỡi nàng tiên của núi rừng, hãy cho ta được nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp của nàng. - Người làng các ngươi xấu cái bụng lắm. Cả người già cũng đem bỏ vào rừng. - Ơ… đó là chuyện ngày xưa. Bây giờ làng được giải phóng rồi. Y Ban lờ mờ hiểu rằng: Hắn muốn nói bây giờ làng đã khác rồi, người làng không còn ác nữa. Bất ngờ, người con trai chụp bờ vai cô gái rồi xoay mạnh, buộc Y Ban phải quay người lại… Bạn đọc thân mến, câu chuyện sẽ còn dài và đẹp nếu hai người không đối diện nhau. Nhưng lỡ rồi… bây giờ anh chàng si tình đã biết được người con gái mà mình thầm yêu trộm nhớ lại có bộ mặt thật dị dạng xấu xí, anh ta hoảng hồn thụt lùi lại rồi bỏ chạy vào rừng đêm, sau khi la lớn - “Quỷ. Trời ơi, quỷ!”. Phần cô gái tội nghiệp, sau khi biết khuôn mặt của mình xấu như quỷ, mới đầu cô đau khổ và thất vọng lắm, tính lao xuống vực sâu chết quách cho rồi, nhưng nghĩ tới già Y Lun, cô không nỡ “Mình mà chết rồi, lấy ai chăm sóc cho già đây. Thôi thì cũng còn cái rừng cái núi và già Y Lun thương mình”. Thế là cô âm thầm quay về thế giới riêng của mình. Các bạn cũng đừng kết tội chàng trai si tình nọ, anh ta đâu có lỗi gì. Chỉ tại… Giàng, cứ nắng hoài mà không chịu mưa đấy thôi. CÔ VÕ SĨ MIỀN NÚI M ồng hai tết, tôi bỗng có ý định rời Phan Thiết làm một chuyến đi xa – Pleiku. Hơn một ngày đường “ê ẩm” trên xe đò, và sau mười phút đứng chết cóng vì cái lạnh đột ngột khi xuống xe; người lái xe ôm đã đưa tôi đến địa chỉ tôi yêu cầu. Trần có vẻ bất ngờ khi thấy tôi đứng co ro trước cửa – “Trời, cái thằng… tao tưởng mày hứa lèo cho vui”. Hắn kéo tôi vào nhà, miệng bi bô – “Ông bà bô của tao năm nay bỗng nổi hứng dắt nhau về quê ăn tết. Tao có nhiệm vụ giữ nhà, buồn muốn chết”. Tôi thăm dò – “Bộ nhà không còn ai nữa sao?”. Hắn nhăn mặt – “Còn đứa em gái “trời đánh”, có phép tàng hình. Tao kiêm luôn nhiệm vụ phục vụ nó trong ba ngày tết”. Tôi đụng mặt cô em gái “trời đánh” của Trần ngay phòng khách. Mái tóc ngắn kiểu con trai và cách ăn mặc hơi bụi làm tăng nét ngổ ngáo trên khuôn mặt cô bé. Đây quả là kiểu em gái có biệt tài bắt nạt những ông anh hiền lành như Trần. Cô bé đang chuẩn bị đi đâu đó. - Giới thiệu với mi, Thùy, đứa em rất “thùy mị” và là khắc tinh của… “oái!”, Trần nhăn mặt, bỏ lửng câu nói vì ngón võ véo của Thùy. - Đầu năm đầu tháng, phát biểu cho đàng hoàng. - Được được, để anh giới thiệu lại. Ngữ, bạn anh, nhà thơ, người yêu bỏ… chán Phan Thiết nên lên đây ăn tết với anh em mình. Nghe Trần giới thiệu tôi cũng có ý định muốn… thụi cho hắn một cái, vì tôi biết, con gái thời nay chẳng có ai thật sự thích nhà thơ cả. - Hắn xuyên tạc đó. Anh là nhà báo. Sống lạc quan yêu đời, chưa hề biết thất tình bao giờ. - Thành thật như thế là tốt. Chứ bộ dạng anh thì… nhà thơ cái nỗi gì. Tôi thầm trách cái bộ óc vốn tự hào là nhạy bén của mình. Biết vậy lúc nãy tôi nhận mình là nhà thơ thì “bảnh” rồi. - Thôi, anh Ngữ ở nhà chơi với anh Trần cho có bạn, em phải đi đây. À… mọi thứ đã có sẵn trong tủ lạnh và trong cái đầu giỏi giang của anh Trần nhà em đấy! * Buổi sáng, Trần bảo lỡ hẹn với người yêu, nhờ tôi coi nhà giùm. Chẳng lẽ vượt gần cả ngàn cây số lên đây để coi nhà giùm cho hắn? Tôi khép cửa lang thang xuống phố. “Phố xá không xa nên phố tình thân”, câu thơ đã lột hết cái thần của phố núi. Tôi leo lên leo xuống vài con dốc đã thấy mỏi cả chân, tính ghé vào một quán cà phê ngồi nghe nhạc cho hết ngày; bỗng tôi chú ý đến cái dáng quen thuộc của cô gái đang đi phía trước. Hình như là Thùy… Theo sau Thùy là hai gã trai. Thoạt nhìn, tôi cũng biết hai gã này đi theo cô với ý định chọc ghẹo. Một tên lải nhải hát – “Ngày lấy chồng, em đi theo con dê, con dê già sói đầu…”. Gã còn lại táo bạo hơn, sấn tới nắm tay Thùy. “Bốp!”. “Hự”… Cái tát kèm theo cú đá mạnh và lẹ y như phim Hồng Kông. Thấy bạn mình bị ăn đòn bất ngờ, đang ôm bụng nhăn nhó một cách thảm hại, tên còn lại quê độ, hung hăng nhào tới. Rất lẹ làng, tôi cũng nhào vô, đứng chắn trước mặt hắn. - Ban ngày ban mặt, sao lại đi ăn hiếp phụ nữ thế anh bạn? – Tôi hất đầu, làm mặt lạnh, đóng vai một anh hùng sẵn sàng ra tay nghĩa hiệp. Tuy biết cái lợi thế to con bên ngoài của mình cũng dễ hù thiên hạ, nhưng trong bụng cứ nơm nớp “Hắn mà nổi quạu ra tay, chắc tôi sẽ là trò cười cho thiên hạ”. Cũng may, người đi đường tò mò tụ lại xem rất đông. Gã con trai có vẻ nhụt khí thế trước lời xì xào của đám đông nên sau một thoáng chần chừ, hắn tẽn tò đến khoác vai bạn rút lui. Tôi giật mình khi có ai đó đập nhẹ vào vai! Thùy nhìn tôi diễu cợt – “Về chớ, người hùng”. Tôi kề tai võ sĩ nói nhỏ – “Kiếm quán nước ngồi một lát cho đỡ… run”. Thùy gật đầu rồi ấn vào tay tôi chiếc thùng gỗ, miệng thùng có chừa một lỗ nhỏ. Tôi liếc nhìn hàng chữ vẽ trước thùng “Đóng góp cứu trợ bệnh nhân trại cùi”, chợt lờ mờ hiểu về sự vắng nhà thường xuyên của cô. Quán cà phê nằm cuối một con dốc. Ở Pleiku, quán cà phê nào cũng trang trí rất nhã và lịch sự. Tôi đã thật sự thấy thích cái không khí lạnh tự nhiên và ly cà phê đậm đặc hương vị phố núi. Cà phê ngon nên uống rất mau “phê”. Tôi thấy tỉnh táo hẳn. - Thì ra mấy ngày tết Thùy bận đi làm công tác xã hội cho Tỉnh đoàn? - Biết rồi còn hỏi. Lối trả lời “cắc cụp” của Thùy không làm tôi khó chịu, con nhà võ mà. - Thật ra, nhìn cái dáng thướt tha xinh đẹp của Thùy, chàng trai nào mà không bị lầm. Kể cả… anh. Bài học sơ đẳng về tâm lý đối với phụ nữ đã có tác dụng, Thùy hơi thu người lại sau câu nói của tôi; nụ cười tươi và dễ thương như… con gái. Một ý nghĩ “đen tối” chợt hiện trong đầu tôi “Phải chi Thùy cũng là người yêu văn thơ nhỉ”. - Nhà thơ thường… nói xạo lắm phải không? - Sao… Thùy biết? - Anh mới lên Pleiku lần đầu mà trước đây có những bài thơ viết về Pleiku rất hay và rất… phịa. - Thí dụ? - Gặp em bên phố mây trời. Mù sương dĩ vãng mù đời thơ si. Quả thật đó là những câu thơ tôi đã viết từ lúc chưa biết cái phố núi này nó “tròn méo” thế nào. Tôi chống chế: - Sáng tác mà, có khi tái tạo quá khứ, có khi cảm nhận qua lời kể của bạn bè. - Thơ hay phải có cái thực trong cảm xúc, ngày mai em tính rủ anh đi chơi. Tôi hí hửng: - Có lý! Đồi thông, Biển Hồ… Về đây mà không đi cho biết thì uổng quá. - Đừng vội mừng. Nhân danh trưởng ban công tác xã hội Tỉnh đoàn, em có ý định mời nhà thơ đi thực tế trại cùi một lần cho biết. Dám không? Câu hỏi và ánh nhìn của Thùy đã đẩy tôi vào một tình thế khó mà lắc đầu. Thôi, chào… mùa xuân không đến. Vĩnh biệt những câu thơ về phố mây trời còn lởn vởn trong đầu. Ở đây chẳng có người đẹp nào cùng ta lang thang trên con đường lãng đãng khói sương mù, cho thơ bay về đâu trên con dốc dã quỳ vàng rực mùa thu. Chào nhé! Ngày mai ta đi thực tế đây. * Đang bon bon trên con đường quốc lộ tráng nhựa êm ái, chiếc xe mười hai chỗ ngồi bỗng giảm tốc độ rồi rẽ vào con đường đất đỏ nằm cách khoảng vài chục cây số nữa. Tôi hơi lạc lõng giữa hàng chục cái miệng cười nói huyên thuyên và vô tư ca hát suốt dọc đường. Thùy cũng đang hăng hái “hòa tấu” với dàn đồng ca đó và hình như cô đã quên hẳn trên xe có một vị khách mời là tôi. Càng tốt, tôi tha hồ ngắm cảnh núi rừng hoang dã và cây cỏ hai bên đường. Khụp! Cốp! Á… Cả chục cái miệng cùng đồng thanh la lớn khi chiếc xe bất ngờ dừng lại, một bánh trước bị sụp xuống chiếc hố nhỏ khiến xe nghiêng hẳn sang bên. Tôi hơi choáng vì cú va chạm nhẹ vào thành xe, nhưng một làn da con gái thơm thơm và mát rượi áp sát vào mặt khiến tôi không còn cảm giác đau đớn gì – Thùy bị độ nghiêng của xe xô đè lên người tôi. Mặc kệ tiếng la ó trên xe, lợi dụng lúc Thùy chưa kịp ngồi lên, tôi ghé tai cô nói nhỏ – “Cám ơn tai nạn bất ngờ. Úi da!”. Lần này thì tôi không kèm được tiếng đau đớn vì cú đẩy không chút nương tay của Thùy. Con gái, đẹp nhất là lúc họ đỏ mặt, cho dù họ là võ sĩ. Tôi xoa xoa chỗ đau lồm cồm ngồi dậy, lòng tự an ủi với điều bí mật mình vừa phát hiện. Flu đã mở được cửa xe, giúp mọi người trèo ra bên ngoài. Cống bị lở, xe không thể qua được – Flu nói – Mọi người mang theo đồ đạc tìm nơi nghỉ tạm. Minh và Hiển hãy đi bộ đến trại phong , báo để họ cho thêm người đến vận chuyển thuốc men và đồ dùng về trại. - Trại cùi còn xa không? – Tôi hỏi một cô bé trong đoàn. - Khoảng sáu cây nữa. Tôi nhập theo cô bé vào đoàn người đi xuống một thung lũng. Con đường xuống thung lũng lô nhô sỏi đá vụn, nhiều đoạn rất dốc nên khó đi. Tôi đang mải nhìn theo tấm thảm dã quỳ vàng rực trải dài hai bên đường thì tiếng la của Thùy làm tôi giật mình. Thùy bị vấp vào một rễ cây, mất đà đang lảo đảo sắp ngã. Tôi cũng la lớn – Té té… rồi lao tới tính đỡ Thùy. Người bị té không phải là Thùy mà lại là tôi. Cô chỉ lảo đảo vài vòng rồi trụ lại được, còn tôi đang nằm chổng kềnh trước mặt Thùy. Cô bé đi bên cạnh đưa tay kéo tôi dậy, miệng lập lại “té té” rồi cười vang. Mọi người cũng rần rần cười khiến Thùy lại “đỏ mặt”, ngúng nguẩy bỏ đi. Tôi cũng thấy ngượng khi nghe Flu giải thích – “Téh” theo nghĩa tiếng dân tộc Gia rai là chỉ hành động của hai người nam nữ lúc họ đang “ấy”. Thung lũng được phủ mát bởi những tán cây già, mọi người đang tự tìm cho mình một chỗ ngả lưng lý tưởng. Tôi cũng ngả người trên chiếc ba lô cá nhân. Gió mát và thiên nhiên hoang dã khiến lòng tôi thanh thản quá. Những cô cậu năng nổ và nghịch ngợm nhất đoàn giờ cũng mệt mỏi nằm thư giãn. Tôi biết, chỉ vài phút nữa thôi, những con người năng động đó sẽ bật dậy và ca hát vang động cả núi rừng cho mà xem. Hình như trong gió thoảng về tiếng suối róc rách và tiếng đàn Tơ rưng đâu đây. Tôi nghe nói người dân tộc có loại nhạc cụ làm bằng những ống nứa với đủ mọi kích cỡ. Nhạc công khi biểu diễn chỉ cần dùng cặp dùi gõ lên, đàn sẽ phát ra những âm thanh rất hài hòa quyến rũ. Ở một vài bản làng, nhạc cụ này thường được đặt dưới các khe nước. Nước từ trên vách đá chảy xuống sẽ làm chuyển động một bộ phận gõ, âm nhạc được phát ra liên miên bất tận. Tôi bật dậy, lần theo âm thanh của tiếng đàn. Có lẽ tôi đang đến gần đích vì càng lúc âm thanh nghe càng rõ dần. Chút xíu nữa là tôi đã reo lên khi trông thấy Thùy đứng dưới tán một cây dầu. Thùy đang nhìn gì trên cây mà có vẻ tập trung đến ngẩn ngơ thế nhỉ? Tôi ngước lên và không ngăn được tiếng reo: Đẹp quá! Trên cành cao, những cây phong lan đang bung cánh nở rộ. Thùy nhìn chăm chú vào một bụi ngọc điểm lớn đang khoe những chùm bông trắng muốt. Tôi nghe người sành chơi lan bảo: Loài hoa này, bụi nào khi nở mà bông chỉ toàn màu trắng hoặc có ít điểm hồng hơn sẽ rất giá trị. Thùy đến, đập nhẹ vai tôi – “Thích không?” – “Tuyệt quá!” – Tôi đáp – “Anh leo lên lấy tặng Thùy bụi ngọc điểm đó nhé!” – “Đừng có giỡn – Tôi lè lưỡi khi nghe Thùy đề nghị – Cao quá, làm sao leo được” – “Xì… con trai gì dở ẹc. Để tui đi nhờ người khác”. Thùy hờn dỗi bỏ đi. Thùy đi rồi, chỉ còn tôi với những gốc cây già trơ tráo. Tiếng chim ríu ran và tiếng đàn vẳng bên tai cũng không lấp được khoảng trống. Không hiểu sao mỗi lần gần “nữ võ sĩ” là trong lồng ngực tôi cứ lào xào như gió rừng đang thổi. Tôi nhìn lên cành dầu, những chùm ngọc điểm cứ đung đưa như trêu ngươi – Nếu bây giờ mình không đủ can đảm trèo lên cây thì chẳng bao giờ hái được mùa xuân cả. “Con trai gì dở ẹc”, câu nói cứ lởn vởn bên tai. Tôi sẵn sàng nhận mình dở ẹc trong một cuộc nhậu với bạn bè, nhưng nghĩ đến nụ cười dễ thương như con gái của Thùy khi nhận giò phong lan tôi đưa tặng, tôi thấy mình mạnh mẽ hẳn lên. Được rồi, nữ võ sĩ ơi! Em muốn anh làm… khỉ anh cũng làm chứ đừng nói làm người hùng Tarzan. Lòng đã quyết, tôi cởi quần áo ngoài rồi bắt đầu trèo lên cây. Thật ra, hồi còn học phổ thông, tôi đã từng có thành tích… hái trộm dừa. Sát bên nhà tôi có vườn dừa xiêm của bà Ba Bủng, nước ngọt kinh khủng. Bà Ba tuy to con và hung dữ nhưng có cô con gái tên Hiền, tính tình rất hiền dịu dễ thương. Một lần, tôi hái trộm dừa để đãi mấy đứa bạn, bị té; Hiền đã dìu tôi vô nhà, vừa bóp thuốc vừa khóc năn nỉ tôi từ nay muốn uống nước dừa thì bảo cô hái chứ đừng trèo cây nữa. Cảm động vì lòng tốt đó, tôi đã hứa với Hiền từ nay chẳng bao giờ trèo cây nữa. Nhưng đó là chuyện của quá khứ, còn bây giờ tôi đã leo được nửa chừng rồi… Mùa xuân đang ở cách tôi khoảng bốn mét nữa. Bụi phong lan đang bung cánh như chùm hoa hạnh phúc treo tòng teng trên đầu, chỉ cần đưa tay là chạm tới mà không dám thì còn đợi lúc nào? Khoảng cách ngắn dần, còn khoảng một mét nữa. Tôi đã thấm mệt nên hơi thở dồn dập. Thình lình, từ bụi phong lan to và đẹp nhất, một con rắn độc (Với tôi đã là rắn thì con nào cũng độc) phóng ra. Con rắn không bò đi mà quấn mình vào một cành cây, ngóc đầu thè lưỡi đe dọa tôi “Nó sắp phun chất độc vào mình đây”, tôi nghĩ. Trong đời, tôi thích nhất là… con gái và sợ nhất là con rắn. Không cần biết rắn hiền hay rắn dữ, mỗi khi trông thấy là tôi quay đầu bỏ chạy một hơi không dám nhìn lại. Con rắn bỗng dưng xuất hiện khiến tôi đâm hoảng, quên mất mình đang ở trên cây chứ không phải dưới đất, trong đầu tôi chỉ còn lại ý nghĩ là bỏ chạy, thế là tôi buông tay… Trước khi rơi xuống đất, tôi còn nghe bên tai tiếng la hốt hoảng của Thùy. Tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh viện, chân tay bó bột cứng ngắc. Thùy bảo tôi cũng còn hên, chỉ bị trật khớp xương và sây sát ngoài da. Tôi càu nhàu: Chưa kịp ăn tết mà đã hết tết mất rồi, còn bảo hên cái nỗi gì. Trần thì khỏi nói, tai nạn của tôi khiến hắn có cơ hội trị em gái nên cứ đứng càu nhàu mãi. Thấy mắt Thùy sắp ướt, tôi ra hiệu bảo hắn đi chỗ khác giùm. - Thùy xin lỗi anh. Không ngờ võ sĩ mà cũng có được giọng nói nghe ngọt ngào êm tai đến thế. Tôi thấy những đau nhức trong người như tiêu tan đâu mất. - Nhằm nhò gì. Tại con rắn quái quỷ chứ không thì anh đã lấy được giò phong lan để tặng Thùy rồi. - Thì anh cứ coi như… đã lấy được rồi. Thật bất ngờ, Thùy cúi xuống hôn lên má tôi. Bạn ơi! Dẫu biết câu chuyện này có đoạn kết rất dở vì thiếu yếu tố bất ngờ, tôi vẫn ghi lại, vì tôi biết – mình đã hái được mùa xuân rồi. Mặc dù cái giá hơi đau khổ. Khi những vòng băng này được tháo ra, bạn sẽ thấy tôi thong dong đi bên hạnh phúc mình vừa hái được. Cầu trời cho đừng có con rắn quái quỷ nào xuất hiện trên đường. BIỂN NỔI KHÙNG B uổi chiều, cô bé láng giềng “khác hệ” đưa trả tôi tập thơ chép tay với lời bình – “Thơ ông buồn quá. Đôi câu nghe kỳ kỳ…” – “Thí dụ?” – Tôi hỏi - “Xóm chuồng ngựa cõng đời phi như ngựa. Tuổi trẻ xa xưa tình chiều nhen lửa…” – “Láng giềng” đọc liền hai câu thơ, đôi mắt bồ câu nhấp nháy khiến tôi phải đưa mắt nhìn lên trời. Ông trời có lẽ cũng tội nghiệp kẻ si tình vụng trộm nên bỗng dưng lại đổ mưa. Tôi kéo tay cô bé vào nhà – “Mưa lớn đây. Vào trú mưa đã”. - Ông sống một mình như thế này không buồn sao? - Buồn làm gì cho đời mất vui. Khi nào Nguyệt vào lại Sài Gòn? - Nghỉ hè. Còn lâu lắm. Trời càng lúc càng mưa dữ. Tôi vói tay lấy cây đàn trên vách xuống. Vài hợp âm vang lên hòa điệu cùng tiếng mưa rơi. Tôi cao hứng… Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố. Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường… Âm nhạc thường cho tôi những phút bồng bềnh lơ đãng. Tôi quên mất trời đang mưa. Quên mất trong căn phòng nhỏ của mình có cô bé láng giềng mới quen đang ngồi chờ mưa tạnh. Tôi mãi trôi trong một bài ca vừa chợt nhớ… Ngày âm âm nỗi nhớ. Đời lớ ngớ khúc nhạc buồn. Giận mùa xuân thay lá… Tiếng đàn ngưng lại khi bàn tay con gái âm ấm đặt lên tay tôi – “Em về đây. Trời hết mưa rồi. Ông đàn hay ghê, nhưng sao cái gì ở ông cũng buồn buồn. À, hôm nào ông dạy em đàn với nhé!”. Đôi mắt bồ câu lại nhấp nháy bắt tôi phải nhìn lên trời. Tôi nói nhỏ lúc “láng giềng” đã ra về “cám ơn ông về cơn mưa bất chợt chiều nay”. * - Mày cứ qua bên cái tay gàn gàn dở dở ấy làm gì thế? - Buồn quá, con qua nói chuyện với chú ấy cho vui. Mà con thấy chú Tịnh cũng hay hay. - Xì… ba bốn chục tuổi đời mà cứ sống một mình. Suy nghĩ toàn chuyện trên trời. - Thì mẹ cũng chẳng sống một mình bao nhiêu năm nay đó sao? Hai mẹ con Nguyệt nói về tôi. Từ lúc dọn nhà về đây, tôi thấy mến mẹ con họ, không phải vì mẹ Nguyệt đã dễ dãi trong việc cho tôi thuê nhà; mà vì họ, tôi không thấy thái độ kiêu kỳ khoảng cách giữa người giàu với người nghèo. Tiếng động do tôi cố tình gây ra khiến câu chuyện bên trong im bặt. - Hai mẹ con đang bàn chuyện gì mà vui thế? - Mẹ con em đang bàn chuyện “thơ văn” đấy. Mà nè, Nguyễn Bắc Sơn là ông nào mà làm thơ hay thế hở ông? Đúng gout tôi rồi đây. Tôi ngồi xuống khi thấy mẹ Nguyệt đã vào nhà trong: - Chà, ông ấy là nhà thơ “khùng” nổi tiếng của tỉnh mình đấy. - Khùng mà sao ông ấy “tỉnh” thế hở ông? - Có lẽ với thơ thì ông ấy rất yêu. Khi yêu quá người ta đâm ra tỉnh tỉnh khùng khùng. Làm thơ mà đạt tới trình độ “khùng” như họ cũng khó lắm. “Láng giềng” có vẻ cũng muốn điên bởi lối giải thích mơ hồ của tôi. Đôi mắt bồ câu lại nhấp nháy khiến tôi phải cảnh giác – Tôi sợ cô bé hiểu lầm các nhà thơ đều muốn “khùng” thì khổ. - Bé yên chí. Viết lách lem nhem như tôi thì chẳng bao giờ “khùng” được đâu. - Coi bộ ông cũng có “triệu chứng” rồi đó. Chán ông thật, buổi chiều đẹp như thế này mà chỉ toàn nói chuyện điên khùng. Ông đưa em ra biển chơi nhé! - Khùng, trời sắp tối rồi… - Biển đêm mới đẹp. Nhà thơ gì mà “tỉnh” thế. Tôi thấy, nếu từ chối một lời mời dễ thương như tôi thế này, quả tôi là một gã khùng thật sự. * Biển chiều êm như trên sông mà lòng tôi thì dậy sóng. Từ lâu, tôi có thói quen bắt đầu cuộc sống mỗi ngày bằng một nụ cười, nhưng mỗi lần đứng trước biển, trước vẻ mênh mông quen thuộc, lũ kỷ niệm ngày nào lại quay về khuấy động… “Láng giềng” nhặt chiếc vỏ ốc be bé đưa cao trước mặt tôi: - Nhà thơ thấy nó đẹp ở chỗ nào? - Với tôi, nó chứa trong lòng cả một đại dương đầy cổ tích đấy. - Cổ tích? - Ờ… ngày xưa có một gã khờ chia tay với người yêu rồi thất tình, cứ lang thang trên biển nhặt những chiếc vỏ ốc xinh xinh ném vào đại dương. Gã hy vọng chiếc vỏ ốc mang theo nỗi niềm của gã sẽ trôi dạt về một phương trời thật xa. Nơi đó, người yêu gã cũng đang lang thang trên biển, tình cờ nhặt được chiếc vỏ ốc mang tin, nhớ lại kỷ niệm xưa nên quay về… - Thế người ấy có quay về? - Vậy thì đâu còn là cổ tích nữa – Tôi bật cười. - Ông đừng cười – “Láng giềng” bóp mạnh tay tôi – Lúc cười trông ông giống gã khờ thất tình đó lắm. Kể tiếp đi! Đôi mắt “láng giềng” như long lanh sắp “ướt” khi nhìn ra biển. Tôi không muốn cô bé bị “ép phê” bởi câu chuyện tầm phào của mình chút nào. - Còn gì đâu mà kể. Sau đó, gã khờ ngày nào cũng ra biển nhặt vỏ ốc ném vào đại dương để nuôi hy vọng. Cho đến một ngày, gã làm quen với một cô bé láng giềng có đôi mắt bồ câu dễ thương đến chết người. Mỗi lần nhìn nét trẻ trung của cô bé, gã mới phát hiện mình đã già từ lúc nào, nên không còn phung phí thời gian để đi nhặt vỏ ốc nữa… - Xạo… Liền sau tiếng “xạo” là cái xô thật mạnh và thật ác. Tôi không còn cách nào chống đỡ ngoài cách té ngửa xuống mép nước. Và nếu lúc đó tôi không kéo cô bé ngã theo thì… chuyện cổ tích đã không xảy ra. “Láng giềng” nằm đè lên người tôi. Hình như tôi đã trót dại hôn lên đôi mắt bồ câu ấy. Tôi nói “hình như” vì chuyện “cổ tích” mà, làm sao tôi “ý thức” được mình đã làm gì. Có điều này thì tôi nhớ rất rõ – Khi tôi đứng lên thì … “bốp”, một cái tát thật mạnh bay thẳng vào mặt tôi. Cái tát rõ ràng là chuyện có thật chứ không phải trong mơ, vì má tôi hãy còn đau rát đây này. “Láng giềng” nổi khùng bỏ về. Biển hình như cũng nổi khùng nên bỗng duềnh lên những cơn sóng lớn. Tôi chới với vì không biết bây giờ phải làm gì để “cuộc đời” hết nổi khùng đây. * “Láng giềng” bây giờ đã thành người dưng. Cả tháng nay chúng tôi không gặp nhau. Có khi lỡ “đụng” nhau thì “người dưng” vội quay đi chỗ khác, mặt lạnh như tiền. Con gái mình dây khi giận thì dai lắm. Đó là câu nói của thằng bạn tôi – chuyên gia tâm lý học, phụ trách mục “tâm tình” ở một tờ báo lớn. Vậy mà khi bạn bè có việc đến nhờ thì nó lại chịu thua. Lại còn bảo: Cách tốt nhất là mày đã tự trói thì phải tự tìm cách gỡ. Mà thôi, chuyện quan trọng bây giờ là tôi đang ngồi run ở phòng khách nhà “láng giềng” và đợi mẹ cô ấy. Hồi chiều bà bảo tôi buổi tối qua nhà bà có chuyện quan trọng cần nói. Mẹ của “láng giềng” hôm nay ăn mặc sang trọng và lộng lẫy, trông bà xinh đẹp và trẻ hẳn ra. Bà ngồi xuống cạnh tôi, mùi nước hoa ngào ngạt căn phòng. - Tuy mới quen nhưng tôi cảm thấy chú là người có thể tin cậy được. Tôi có chuyện cần nhờ chú giúp, không biết chú có sẵn lòng. Câu mào đầu làm tôi yên tâm. Chuyện gì tôi cũng sẵn lòng, miễn bà đừng biết chuyện “láng giềng” “người dưng” mấy hôm nay vì giận tôi mà bỏ ăn, rồi bắt đền tôi thì khổ. - Khi mất, ông nhà tôi có để lại một vài cơ sở làm ăn ở thành phố. Lâu nay tôi giao cho người em chồng quản lý. Nhưng dạo này có vài dấu hiệu không minh bạch trong thu chi, tôi muốn chú thay tôi trông coi hộ. - Nhưng em đâu có rành việc quản lý. - Chú có trình độ đại học, lại tốt bụng. Công việc ở đó đã vào nề nếp nên cũng dễ làm quen thôi. - Chị để em tìm hiểu thêm xem có làm nổi không đã. - Chú cầm tập hồ sơ này về đọc trước. À… chuyện lương bổng thì chú khỏi lo, tôi coi chú như người nhà nên luôn ưu đãi. Bà chủ tiễn tôi ra về với nụ cười thật tươi. Hôm nay trông bà có vẻ lạ lắm. * Buổi tối, tôi đang ngồi với mớ giấy tờ bà chủ đưa hồi chiều thì “người dưng” tìm đến. Tôi giật mình khi trông thấy khuôn mặt buồn buồn của “người dưng”, đôi mắt bồ câu không còn nhấp nháy nữa. - Ông mà có ý định đi Sài Gòn làm việc cho mẹ, em sẽ nghỉ chơi với ông. Giọng nói “người dưng” hôm nay cũng khác. Có điều gì rối rắm ẩn trong đôi mắt ướt như sắp khóc đó? Công việc bà chủ nhờ, nếu trở thành hiện thực thì đây là cơ hội may mắn cho tôi. Ít nhất nó cũng kéo tôi thoát khỏi cảnh sống bấp bênh hiện tại. Từ nay không còn những bài viết mà cảm xúc chỉ xuất phát từ khoản tiền nợ cà phê. Tiền… - Mẹ em làm điều đó vì bà muốn có sự ràng buộc tình cảm suốt đời với ông đấy. * Láng giềng ơi. Rất tiếc là tôi ra đi mà không nói lời từ biệt với em. Đêm qua tôi đã hiểu rằng: Điều mà tôi sợ nhất là em nghỉ chơi với tôi. Tôi quyết định ra đi để trong lòng còn mãi điều mình yêu quý. Từ nay, em là “cổ tích” của tôi đấy. Dù ở đâu, tôi cũng chỉ là gã khờ đi lang thang trên biển nhặt vỏ ốc. Thỉnh thoảng em nhớ ra thăm biển nhé! Biết đâu em sẽ nhặt được chiếc vỏ ốc chứa đựng đại dương mơ ước của chúng ta trong đó. Gởi lời chào và xin lỗi mẹ em giùm tôi. Ký tên: Chuyên gia nhặt vỏ ốc. Tôi để lá thư và ba tháng tiền thuê nhà trên bàn. Sáng mai “láng giềng” sẽ qua vì chúng tôi đã có hẹn. Trời vẫn chưa tỏ hẳn. Tôi bước ra ngoài nhìn biển đêm lần cuối. Nóng quá, nắng hạn kéo dài khiến biển cũng muốn nổi khùng, chẳng thèm thổi vào một cơn gió, dù rất nhẹ… H HẠ NHỚ ạ bước dọc theo mép nước. Đêm mùa hè hào phóng những cơn gió nồm mát rượi. Biển dìu dịu màu bình yên. Từ lúc về nghỉ hè. Hạ đâm ghiền cảm giác bay bổng của những đêm lang thang trên biển. Hít no đầy hương vị mằn mặn thân quen. Lòng rạo rực như đang đi giữa mùa cây trái đang thì dâng nhựa. Phải chi lúc này còn có nhỏ Trang ở đây nhỉ! Hạ giận con nhỏ đã hứa lèo: “Vài hôm nữa tao sẽ ra thăm mày, thăm biển…”. Thôi! không thèm nghĩ tới nhỏ Trang nữa. Vài con sóng đang mon men đùa nghịch dưới chân. Trăng mùa hạ thập thò trốn trong đám mây. Gió thổi căng lồng ngực. Biển đêm nay tuyệt quá. Thế mà Hạ vẫn cảm thấy hình như biển đang còn thiếu một điều gì? Điều gì nhỉ?… Hạ nhớ rồi! Một tiếng đàn guitar trầm bổng để hòa thành cùng nhịp vỗ của sóng, để ru đêm huyền thoại. Và… một giọng nam trầm buồn đến nghẹn lòng. Hạ bật cười! Mình lại nhớ anh ấy rồi. Nỗi nhớ không thời gian. Vẫn xanh nghìn năm như biển, không cỗi già. Chỉ có con nhỏ Hạ bây giờ đã bỏ xa cái tuổi 16 khi gặp anh. Đã trở thành cô sinh viên năm cuối… Đủ lớn để có gặp lại nhau người ta cũng không dám vò đầu nắm tóc mình kêu “nhỏ này” “nhỏ kia” nữa. Chỉ có anh là vẫn biền biệt mù khơi. “Yên chí! Anh sẽ trở lại thăm nhỏ mà”. Lời hứa xưa đã rêu màu chờ đợi. Anh mang tiếng đàn liêu trai đêm nào đi đâu mà biển cứ nhắc mãi. Kỷ niệm dẫn đường Hạ đi tiếp về phía bờ gành. Bỗng Hạ sững người choáng váng. Tiếng đàn! Đúng rồi, vẫn giai điệu quen thuộc năm nào. Hạ tự hỏi. Mình có nằm mơ không nhỉ? Âm thanh quen thuộc cứ rót vào tai Hạ như mời gọi. Tiềm thức xui Hạ bước tới. Chếch về bên trái, trên phiến đá to, dưới ánh trăng vàng nhạt. Một người đàn ông đang ngồi đối diện với biển. Từ chỗ anh ta ngồi, hòa âm của một bản nhạc cổ điển đang tuôn dồn như sóng trào. Âm nhạc và ngón đàn điêu luyện khiến Hạ trân người đứng lặng. Bất thình lình, một hợp âm òa lên bùng vỡ rồi tiếng đàn ngưng bặt. Hạ như người vừa rơi từ khoảng không xuống mặt đất, chân chưa kịp đứng vững, tim vẫn còn hồi hộp mà miệng đã hưng phấn hét lên: - Tuyệt quá! Thế mới xứng là âm nhạc. Người đàn ông giật mình quay lại. Cùng lúc là tiếng kêu thất thanh đầy hoảng sợ của Hạ. Hạ tưởng mình vừa trông thấy một khuôn mặt của quỷ. Một khuôn mặt dị dạng chỉ có một mắt, một lỗ mũi và… một chân. Hạ kinh hoàng băng người bỏ chạy! Hình như tiếng thở dài của người đàn ông não nề lắm, nên nàng trăng cũng buồn lây trốn biệt vào đám mây. Biển chỉ còn lại một màu đen kịt… Sáng chủ nhật biển lô nhô người. Ồn ào tiếng cười nói. Hạ nằm tắm nắng trên chiếc ghế dài. Nghĩ vẩn vơ về thoáng gặp gỡ với người đàn ông lạ có khuôn mặt dị dạng mấy đêm trước, lòng thấy áy náy. “Mình đã gây tổn thương đến một con người đang mang đầy thương tích. Tật nguyền cũng là một con người, có cùng một hình hài, một nhân cách giống mình. Có thế, còn cao trọng hơn khi người ta không còn khả năng tự vệ…”. Tối hôm qua Hạ có tìm ra bờ gành nhưng không còn thấy người đàn ông dị tật có ngón đàn tuyệt vời ấy nữa. Đành gởi lời xin lỗi cho biển. Bỗng dưng Hạ thấy buồn. Nhớ trường và nhớ nhỏ Trang quá. - Hù… đố ai đây? Tuy bị bịt kín hai mắt nhưng Hạ vẫn nhận ra ngay giọng nói trong veo của nhỏ Trang, Hạ mừng quýnh: - Ở đâu chui ra bất ngờ thế con quỷ? Ta đang buồn và nhớ mi muốn chết đây. Trang buông tay ngồi xuống bên Hạ: - Trời đất đẹp như thế này thì bệnh gì mà buồn. Ta ở đây đã hai ngày, có chút chuyện riêng nên chưa ghé mi được. - Chuyện riêng? Thế mấy ngày qua mi ở đâu? - Ở khách sạn! Đừng hiểu lầm nghe nhỏ, chuyện của ta hơi khó nói. - Đành phải tạm tin như thế. Thôi đi về nhà, ta sẽ đãi mi một bữa ăn đặc sản biển. - Nghe được đấy. Ta đang cần bổ sung những món: rong chơi - ca hát – và ăn uống cho mùa hè cuối cùng này. Nào, đi thôi. * - Hoan hô món tôm hùm xuất khẩu! Hoan hô mùa hè! Nhỏ Hạ nè… Sống thế này thì… “lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn”. - Thôi, đừng có pha trộn thức ăn với âm nhạc, nghe khó tiêu quá. Đưa ta mượn cây đàn. “Là la lá… Hạ và áo trắng thuở ấy, đã theo ngày đi rồi. Còn lại tiếng guốc bối rối, mỗi đêm khua Hạ về…”. - Mi đang hát bài gì mà ta nghe quen thế Hạ? - Chỉ được cái phá bĩnh. Bài hát này của người yêu viết để tặng riêng ta. Mi nghe hồi nào mà quen? Trang không trả lời Hạ mà lục tìm trong trí nhớ. Đây là bài hát của anh Nhã mà Trang đã nghe qua. Nhưng ông anh mình chỉ là cây viết nhạc nghiệp dư. Bài hát cũng không có gì đặc sắc lắm. Sao nhỏ Hạ lại thuộc nhỉ? Bị nhỏ Trang phá bĩnh làm Hạ cụt hứng. Hạ đến kéo hộc tủ, lục tìm trong đó. Một lát Hạ đưa Trang một tờ giấy chép nhạc đã ngả màu. Không hề để ý đến bàn tay hơi run của Trang khi nhìn thấy nét chữ quen thuộc của anh Nhã. “Tặng nhỏ Hạ để nhớ một mùa hè khó quên”. Hạ kể về anh say sưa, như một hoài niệm ngọt ngào… * Mùa hè năm đó. Ông anh mình dẫn về một người bạn, tướng mạo trông cũng ngang tàng không khác gì anh Bảo mấy. Cả hai cùng tốt nghiệp Thủy sản. Cùng đang thất nghiệp và đang cùng dự tính một chuyện gì ghê gớm lắm. Hạ đoán thế, vì thấy hai người sáng sớm đã ra khỏi nhà, tối mịt mới mò về. Thầm thì nghiên cứu suốt đêm. Đùng một cái! Anh Bảo tuyên bố cần ba trăm triệu để làm ăn. Không biết ổng thuyết phục thế nào mà ba mình lại nghe theo, bán hết ghe thuyền đưa tiền cho hai người. Mấy hôm sau mình thấy xe ủi tới ủi một cái đìa rộng ba mẫu. Hồi đó mình ít để ý tới chuyện người lớn nhưng cũng hơi tò mò, hỏi ra mới biết mấy ổng ủi đìa để nuôi tôm sú xuất khẩu. Đợt đầu tôm giống thả xuống chết sạch vì lượng nước có phèn. Lại đổ cát, lại ủi… Hồ tôm thu nhập bạc triệu mỗi ngày là công trình của anh Nhã và anh Bảo đấy. Nhưng chuyện làm kinh tế thành công chẳng liên quan gì đến sự gắn bó tình cảm giữa mình với anh Nhã, mà từ một phát hiện tình cờ. Một đêm mình đi lang thang tìm gió trên biển mới biết rằng anh ấy còn là tay guitar thiện nghệ. Mình được làm quen với âm nhạc từ nhỏ nên rất mê ngón đàn của anh ấy… Năm đó mình 16 tuổi nào đã biết yêu là gì. Nhưng đó là một mùa hè khó quên trong đời. Từ lúc anh Nhã quyết định ra đi rồi biệt tin đến giờ, mỗi lần đi dạo trên biển mình lại thấy nhớ nhớ… Hỏi thì anh Bảo nói anh ấy tình nguyện đi bộ đội và có lẽ đã chết rồi. Mình thì lại không tin điều đó. Ủa! Sao Trang lại khóc? - Anh Nhã là anh ruột mình. Anh ấy vẫn còn sống nhưng cũng như người đã chết. - Trang nói sao? Anh Nhã là anh của Trang? Anh ấy vẫn còn sống? - Đúng! Anh ấy có đi bộ đội, rồi trở về với một nửa phần thân thể gởi lại ở chiến trường. Bao năm nay anh ấy sống lặng lẽ như chiếc bóng, rất ngại tiếp xúc với người khác. Hạ rùng mình khi nhớ lại người đàn ông đã gặp thoáng trên bãi biển mấy đêm trước. Thì ra… - Anh Nhã đang sống ở khách sạn với Trang phải không? Đưa mình tới đó đi, mình cần xin lỗi anh ấy. * Khi đẩy cửa căn phòng khách sạn, Trang biết rằng mọi chuyện đã muộn màng. Mọi thứ trong phòng được thu dọn gọn gàng, nhưng căn phòng trống trơn. Chiếc ba lô và cây đàn thùng không còn ở góc phòng nữa. Trên bàn, một nhành phượng thắm màu nằm đè trên một tờ giấy. Trang liếc qua rồi đưa lá thư cho Hạ. Nhỏ Hạ nhớ! Đừng trách người lỗi hẹn. Cũng đừng bận tâm anh sẽ đi đâu. Chỉ nên biết rằng đoạn đường mà tuổi xuân anh đã đi qua chẳng hề làm anh hối tiếc, cho dù đã nhận bao nhiêu mất mát. Ngày xưa, khi công việc làm ăn đã phát triển, anh chợt nhận ra rằng: Chẳng lẽ cùng đích của đời người là ngồi đếm tiền và hưởng thụ. Vì thế, anh đã ra đi. Bây giờ Bảo cũng đang đi trên con đường tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ đó. Anh đã đến thăm nơi Bảo đang sống và dạy học. (Thật ra, anh và Bảo vẫn thường liên lạc thư từ với nhau). Bảo đang làm “Hiệu trưởng” một ngôi trường chẳng hề có quyết định thành lập của phòng sở nào. Những giáo viên ở đó cũng chẳng một ai nằm trong biên chế nhà nước. Họ đều là những người tình nguyện đi thắp ngọn lửa văn hóa cho đồng bào thiểu số ở vùng cao. Một thanh niên địa phương đã nói với anh: “Ở đây có cái chữ cũng không có cái gì để đọc”. Anh kể chuyện này để Hạ và Trang hiểu rõ sinh hoạt ở đó thiếu thốn như thế nào. Em và Trang cũng sắp trở thành những bác sĩ. Có khi nào bọn em có ý định ghé nơi đó thăm chơi một chuyến? Anh thì đã quyết định. Có khi con người lớn hay nhỏ còn tùy vào những quyết định đúng hay sai trong đời, phải không? Cho đến bây giờ anh vẫn SỐNG được vì anh nghĩ, người ta chỉ nên xấu hổ khi thấy mình vô dụng với mọi người. Tạm biệt nhỏ, tạm biệt mùa hè dịu ngọt ký ức. Tặng em một cành phượng của mùa hè mới và chúc mùa hè cuối cùng của đời sinh viên sẽ đẹp. Nhã. Hạ nói nhỏ khi Trang lau giùm những giọt nước mắt: - Anh ấy không cần nghe những lời xin lỗi, mà mình thì đang cần nói lời xin lỗi. LUNG LINH CỘI NGUỒN M ận? Tên gì nghe kỳ… Nó không hề lúng túng sau câu nói của tôi. Vừa bước vào nhà tôi đã ngạc nhiên khi thấy nó gật đầu chào. “Nó là ai mà có mặt ở nhà mình vào giờ này thế nhỉ?”. Bây giờ, sau khi biết tên và nhìn cách ăn mặc tôi đoán nó từ dưới quê mới lên. “Chắc má mình mới thuê người giúp việc” – Tôi nghĩ. - Hai chị em làm quen với nhau đi! Ba tôi vừa từ phòng ngủ bước ra, bảo: - Đây là con bác Đợi, mới từ ngoài Bắc vào hồi chiều. À… thì ra là bà chị con chú bác ruột với tôi ở ngoài Bắc. Ba tôi có năm anh em trai. Ông nội tôi và ba người bác đều là liệt sĩ. Bác Đợi là người duy nhất trở về sau chiến tranh với tờ xác nhận thương binh loại hai. Ba là con út trong nhà, được đi du học ở Liên Xô về. Năm 76, ba tôi chuyển công tác vào thành phố Hồ Chí Minh. Bây giờ ông là giám đốc một xí nghiệp lớn. Tôi sinh ra và lớn lên trong miền Nam, phía ngoại là dân gốc Sài Gòn. Nên với tôi, quê nội là một khái niệm mơ hồ… trừ một lần, năm tôi lên mười, ba có dẫn tôi về quê nội thăm chơi cho biết. Dọc đường ba bảo: “Quê nội còn nghèo lắm, đời sống ở đó còn nhiều khó khăn…”. Từ nhỏ, tôi chưa hề hiểu rõ ý nghĩa từ khó khăn. Cho đến khi thấy hình ảnh bác gái tôi quảy gánh củi nhỏ xíu trở về sau bốn ngày đường nhặt nhạnh mãi tận rừng sâu, tôi mới lơ mơ hiểu… Tôi nhớ, sau mấy đêm liền co mình như con sâu trong cái rét tê người của mùa đông xứ Bắc, tôi đã nằng nặc đòi trở về Sài Gòn. Và từ đó, tôi luôn cố để quên một điều – Đã có những ngày đông lạnh lẽo như thế đi qua đời mình… - Ba sẽ thu xếp để chị Mận chuyển trường vào đây. Năm học này chị em con phải đạt cho được hai kết quả – Tốt nghiệp cấp ba và đậu vào đại học. Mận là học sinh xuất sắc, Thiên Ân phải noi gương chị mà học tập. Câu nói của ba làm tôi thấy ngượng trước bà chị nhà quê này. Nhất là khi nhớ lại bả còn nhỏ hơn tôi một tuổi. - Còn chuyện này, ngày mai con đưa chị Mận đi chơi cho quen đường phố Sài Gòn. Hỏi xem chị có nhu cầu mua sắm gì thì nói má con đưa tiền. Lúc rảnh, tập chị chạy xe Honda cho quen. Tóm lại, nhiệm vụ của con là hướng dẫn cho chị mau thích nghi với cuộc sống ở thành phố. Trời đất! Phải làm một công việc không thích đã là một cực hình, huống hồ ba lại giao cho tôi cả lô lốc công việc. Như để tăng thêm hiệu lực của những lời nói khô cứng như mệnh lệnh quân sự, ba tôi bỏ đi ngay sau khi đã phân nhiệm xong. Tôi cau có nhìn bà chị từ trên trời rơi xuống. Nụ cười của bả sao mà dễ ghét lạ. “Cứ cười đi, rồi xem bà có “thích nghi” được hay không?”. * - Vào đây làm gì? Chị Mận - hơi trù trừ khi tôi đẩy cửa ra vào một nhà hàng sang trọng. - Vào uống nước, nghe nhạc. Cả ngày hôm nay vừa làm tài xế kiêm hướng dẫn viên mỏi cả tay lẫn miệng, tối nay phải thay đổi chương trình chứ. Với lại, ba dặn phải tập để chị mau thích nghi với cuộc sống ở đây mà. Sợ cơn rụt rè nhà quê của bà chị họ nổi lên, tôi nắm tay chị Mận đi thẳng vào nhà hàng. Dàn nhạc trẻ đang chơi một bài Rock quen thuộc. Âm thanh làm trái tim tôi nhún nhảy rạo rực. Tôi bước thẳng, tự tin. Mỗi lần vào đây tôi thấy mình lớn lên chứ không như ở nhà. - Hi! My friends! Chưa kịp ngồi vào chỗ thì đám bạn tôi ba bốn đứa đã nhào tới. Thịnh, Hiền, Sang, đứa nào cũng modern như mọi ngày. Xong màn giới thiệu, tôi quay sang chị Mận: - Thanh niên ở thành phố hầu hết đều biết nhảy. Khiêu vũ là biểu hiện của đời sống văn minh. Hôm nào Thiên Ân sẽ tập cho chị. - Nhưng chị vào đây để học, còn giải trí thì… Bả bỏ lửng câu nói khi thấy cái nhíu mày khó chịu của tôi. Học, học… lúc nào cũng ca mãi một điệp khúc, sao mà giống ba tôi thế? Tôi nhìn Thịnh, nháy mắt: - Hôm nay “tới bến” nhé. Chai Napoléon được mang ra theo yêu cầu. Tôi và mấy đứa bạn đều dùng rượu, riêng chị Mận chỉ dùng nước ngọt. Thịnh có vẻ ngạc nhiên khi thấy vẻ hăng hái khác thường của tôi. Thật ra, đây là lần thứ hai tôi tập tành uống rượu. Lần đầu, cái giá tôi phải trả là ba ngày nằm liệt giường. Lần đó chỉ có má tôi biết nguyên nhân, và bà đã khóc khi âm thầm săn sóc tôi… - Các bạn đều học chung với Thiên Ân? - Trước là thế! Bây giờ tụi nó nghỉ học hết rồi. Lần đầu tiên tôi thấy nét mặt bà chị hơi thay đổi. Có lẽ mình cũng nên nói thật với bả… - Thú thật với chị, Thiên Ân cũng đã nghỉ học cả tuần nay rồi. Chị đừng lo vì Thiên Ân vẫn có cách thi đậu đại học. Nhưng tuyệt đối không được cho ba Thiên Ân biết. - Chị sẽ không nói, nếu ngày mai Thiên Ân đi học trở lại. Giọng bả nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát, cái nhìn xoáy vào tôi. Tôi rất bực vì mình đã không dám nhìn thẳng vào đôi mắt nhà quê đó. Ở nhà, ngoài ba tôi ra tôi chẳng biết sợ ai. Từ lúc bà chị họ xuất hiện trong nhà, tôi đã linh tính sẽ có sự xáo trộn cuộc sống bình yên của mình. Tuy không lộ ra, nhưng ngay từ phút đầu tôi đã co mình thủ thế như một đề kháng cần thiết của loài nhím khi gặp nguy hiểm. Có lẽ tôi cũng nên chứng tỏ cho bả thấy mình là một nam nhi. - Bây giờ chị là một thành viên mới trong nhà. Thiên Ân muốn chị đừng xía vào việc người khác… Cảm thấy mình hơi nặng lời, tôi giả lả. - Nào! Mừng ngày chị em tớ gặp nhau, hãy quậy một chút cho vui cuộc đời, ta nhảy nhé! Hơi men làm tôi hưng phấn, chân tay ngứa ngáy. Tôi đứng lên, Hiền và Sang cũng bước theo tôi… Chúng tôi nhanh chóng hòa nhập vào tiết tấu cha cha cha đang sôi động… Sung sướng thay khi đã tạm quên những con số toán học vô cảm, cái nhìn nghiêm khắc của thầy cô, và những điệp khúc lạnh lùng của ba tôi. “Let me take you far away. You like a holiday…”. Tôi cao hứng gào theo anh chàng ca sĩ tướng mạo trông rất “yeh” đang cong người trên sân khấu. Bỗng tôi trố mắt ngạc nhiên! Bên cạnh tôi, bà chị nhà quê cũng đang tươi cười khiêu vũ cùng Thịnh. Mà lạ thật, trông bả rất nhịp nhàng tươi tỉnh, chẳng chút ngỡ ngàng nào cả (?)… - Chị làm Thiên Ân ngạc nhiên đấy. Ở ngoài Bắc chị có thường đi chơi thế này không? Tôi hét khi đang phóng xe ào ào. - Thỉnh thoảng… ở câu lạc bộ thanh niên… nhưng lành mạnh hơn… Thiên Ân xài hoang quá. Tôi mỉm cười hài lòng nhớ lại cái nhìn kinh ngạc của bà chị họ khi trông thấy phiếu tính tiền. “Ít nhất cũng có một khoảng cách giữa mình với bả”. Trong thâm tâm tôi cảm thấy khó mà thân thiện với bà chị này. Bả bỗng dưng xuất hiện như một người gián tiếp giám sát cuộc sống tôi. - Ta đi chơi tiếp nhé? - Khuya rồi, về thôi! – Bả cũng hét vào tai tôi, dứt khoát, nhớ tới sự thỏa thuận giữa tôi và bả về chuyện tôi bỏ học, tôi đành phải chiều. - Về thì về… * Ba tôi đang đi công tác ở nước ngoài. Với tôi, đây là sự giải thoát sau thời gian dài bị khép vào kỷ luật. Ba tháng qua, sinh hoạt và việc học của tôi bị ba giám sát gắt gao. Đêm tôi đưa chị Mận đi chơi về, ba tôi đã ngồi chờ sẵn ở phòng khách. Nhà trường đã cho ba tôi biết việc tôi bỏ học khi ông đến liên hệ chuyện nhập học trễ cho chị Mận. Thầy hiệu trưởng là bạn học cũ của ba tôi. Có lẽ thầy đã nói nhiều về sự tụt dốc về hạnh kiểm và học lực của tôi trong thời gian gần đây, nên thái độ ba tôi giận dữ lắm. Tôi bị cấm quan hệ với đám Thịnh – Sang, cấm đi chơi đêm. Các môn học đã có thầy về dạy kèm tại nhà, và kết quả học tập của tôi được báo cáo tỉ mỉ qua bà chị họ của tôi. Cả má tôi cũng không dám chi tiền cho tôi rộng rãi như trước nữa. - Phải cố gắng bằng năng lực của chính mình, sau này ra đời con sẽ tự tin hơn. Khi nào việc học của con tiến bộ, ba sẽ dễ dãi. Lại những mệnh lệnh… Tôi không còn cách nào khác ngoài cách phải tuân lệnh ba tôi. Thật ra năm ngoái tôi cũng là học sinh khá. Thời gian gần đây việc học của tôi cũng tiến bộ nhiều. Nhưng cố để bằng bà chị họ của tôi quả thật là khó. Môn nào bả cũng vượt trội. Ngay cả môn văn tôi tương đối có khiếu từ nhỏ, vậy mà cũng bị bả lên lớp khi so điểm. “Văn hay, ý súc tích, lập luận sắc sảo. Nhưng… còn quá nhiều chỗ thừa. Ý thừa làm gãy đổ bài văn, nguyên nhân của điểm trừ…”. Lúc nào “so cựa” với chị Mận tôi cũng không vượt qua chữ nhưng đó. Vì thế, mặc dù rất cố gắng, tôi cũng chưa có được sự dễ dãi như ba đã hứa. Nhiều lúc chân tay ngứa ngáy, tôi xúi chị Mận xin phép ba tôi đi chơi. Lâu lâu ba tôi cũng đồng ý, nhưng phải có chị Mận đi kèm. Mà bả chỉ biết “kèm” tôi tới những địa điểm có yaourt, bò bía… chán thật. - Tối nay Thiên Ân có hẹn với mấy đứa bạn, chị đưa chìa khóa xe Thiên Ân “mượn”. - Tối nay chúng ta phải giải đề toán mà… - Nghỉ một bữa, với lại Thiên Ân lỡ hứa với tụi nó rồi, không đi cũng không được. - Em đến chỗ Thịnh phải không? Ba Thiên Ân đã cấm không được tập tành uống rượu. - Chị đừng nói thì ba sẽ không biết. Học mãi lâu lâu cũng phải giải trí chút xíu chớ. - Không được! Khi đi ba Thiên Ân đã dặn rất kỹ, chị không dám trái lời. Tôi cảm thấy sự nhịn nhục của mình đã quá mức. Lâu rồi, tôi rất thèm cảm giác được một bữa xả láng với bạn bè, tôi – con trai duy nhất của một giám đốc, lại không có quyền đi đâu theo ý mình muốn sao? - Bà không có quyền, hiểu chưa? – Tôi sấn tới. Đưa chìa khóa xe cho tôi. - Không! Bả đến kéo hộc tủ, cầm chặt chìa khóa xe trong tay. Vẻ mặt cương quyết của bả làm tăng cơn giận trong tôi. Tôi hét to: - Đưa đây! - Không! - Đưa… - Không… “Bốp!”… Tôi giật mình khi bàn tay thô bạo của mình chạm vào khuôn mặt nhỏ bé của bà chị họ. Cặp mắt bả mở lớn nhìn tôi. (Sau này chẳng bao giờ tôi quên được ánh nhìn ấy). Cái nhìn không đau mà buồn! Không khóc – mà sững sờ. Chìa khóa xe rơi xuống đất. Tôi cúi nhặt lấy, dắt xe nổ máy phóng đi. * Ba tôi ngồi yên lặng cả tiếng đồng hồ sau khi nghe tôi trình bày lý do đã đánh chị Mận. Ba vừa từ Nhật trở về sáng nay. Chị Mận cũng đã bỏ về Bắc hai hôm rồi. Bây giờ tôi đang ngồi chờ cơn thịnh nộ của ba giáng xuống. Ba không nói gì mà chỉ nhìn đau đáu vào khoảng không như thể đang hồi tưởng một điều gì. Thà ba la mắng tôi còn đỡ sợ hơn. Bỗng tôi tái mặt… Dưới cặp mắt lúc nào cũng biểu lộ sự nghiêm khắc khô khan thường ngày của ba tôi, có chất gì ươn ướt vừa chảy ra như là nước mắt. Ba tôi khóc? Điều này với tôi quả là một bất ngờ! Ba tôi – một người xưa nay chỉ biết ra lệnh, chưa bao giờ tôi thấy ba cười với má một lần chứ đừng nói là khóc. Tất nhiên là tôi đã sai khi đánh chị Mận, nhưng lỗi lầm đó có quá trầm trọng để ba tôi phải xúc động như thế? - Đứng lên! Đi vào trong này! – Ba tôi bỗng quát lớn. Tôi riu ríu đi theo ba, lòng thắc mắc không biết ba bảo mình đi đâu (?). Ba dừng lại trước cửa phòng làm việc, mở cửa, ra hiệu bảo tôi đi vào. Đây là giang san riêng của ba, chưa khi nào tôi có việc phải đi vào trong đó. Tôi hơi khựng lại khi thấy trên vách tường bên trái, tấm hình bán thân của ông nội và ba người bác đã hy sinh được đặt trang trọng trên bàn thờ. Trên mỗi bàn thờ, bình nhang nào cũng đầy cội nhang chứng tỏ ba tôi vẫn thường thắp nhang tưởng niệm. Ánh sáng nhấp nháy phát ra từ những chiếc đèn cầy giả thắp bằng điện tạo một bầu khí lung linh huyền ảo. Tay ba tôi run run đến thắp nhang từng bàn thờ rồi bảo tôi quỳ xuống. Giọng ba giờ đã dịu lại, trầm trầm xa vắng… - Ngày xưa, ông bà nội tuy nghèo nhưng luôn khát khao con cái mình được ăn học thành người. “Làm người, không thành danh thì cũng gắng thành nhân”. Hồi đó, ba vừa… đi học vừa phải đi chăn trâu. Tuy bài vở ở trường luôn được làm trên lưng trâu nhưng lúc nào ba cũng là học sinh khá trong lớp. Ngoài việc chăn trâu, ba còn phải lượm cho đủ 10 giỏ phân trâu mỗi ngày, thiếu là ăn đòn. Bác Đợi – ba của Mận bây giờ, là người thương yêu và hy sinh cho ba nhiều nhất. Bác luôn xung phong làm thay phần việc của ba để ba được rảnh rang học tập. Bác bảo: Chú ấy học khá nhất nhà, phải tạo điều kiện để chú ấy học, mai mốt làm vẻ vang dòng họ. Dù trưa gió Lào bỏng đất hay ngày đông cóng run, bác vẫn luôn tươi cười đi về với những gánh phân trâu. Ba thành người cũng từ những gánh phân trâu trĩu nặng nghĩa tình đó. Rồi chiến tranh… Ba người bác của con đã đem xương máu mình hiến vào đất mẹ. Bác Đợi có may mắn trở về cũng không còn lành lặn như xưa. Bác gái có quần quật suốt ngày cũng không đủ ăn, tiền đâu mà lo cho đứa con gái duy nhất ăn học. Chúng ta đang sống đầy đủ mà nỡ đứng nhìn người thân của mình khó khăn như thế sao đành. Các con là thế hệ nối tiếp. Là những cây đời được bón bằng máu thịt của cha ông, sao không phát triển cho xanh tốt để đất được mát lòng, để cội nguồn không hổ thẹn. Sao nỡ đối xử với nhau thiếu tình người như thế? Giọng ba nhỏ dần, cơn xúc cảm làm ông rũ xuống. Bây giờ tôi mới biết ba mình không là người khô cứng như tôi hằng nghĩ. - Con vào thưa với má, rồi chuẩn bị hành lý ngày mai theo ba về quê nội. Sau những lỗi lầm vừa rồi, con biết mình phải làm gì chưa? Có cái gì đang dâng lên làm nghẹn cổ tôi. Tôi đáp không ra tiếng: - Dạ biết… * Tôi nằm bệnh viện đã ba ngày nay. Tai nạn đến thật không đúng lúc. Chiều hôm đó, tôi đến trường xin phép tạm nghỉ để về quê với ba. Trên đường về, tôi lại gặp Thịnh. Tôi nhớ, tôi đã từ chối khi Thịnh rủ tôi đi chơi, nhưng nó nài nỉ mãi, tôi đành chiều nó lần cuối vậy. Đêm đó, tôi thấy mình chẳng còn hứng thú trong những trò vui quen thuộc. Tôi đòi về sau khi đã nói với Thịnh rằng tôi còn nhiều việc phải làm cho bản thân mình. Rằng tôi sẽ nghỉ chơi nếu tụi nó không đi học trở lại… Thịnh uống hơi nhiều. Lúc về nó phóng xe ào ào khiến tôi đâm hoảng. Tôi rượt theo nhưng đã muộn, tai nạn xảy ra. Tôi thắng không kịp nên té chồng lên xe nó, trán đập xuống mặt đường. Tôi mê đi trong cơn choáng, không còn biết gì nữa. Ba cho biết tôi đã mê suốt 12 tiếng đồng hồ. Bác sĩ nói não tôi bị chấn động nhẹ, sẽ vượt qua. Nhưng ba tôi rất lo những hậu quả về thần kinh của dạng tai nạn này. Thịnh bị rất nặng, đang còn nằm ở phòng hồi sức, thở oxy. Tôi hoảng kinh khi nghe ba kể có người nằm cả tháng vẫn chưa tỉnh, mà có tỉnh thì sau đó cũng điên điên khùng khùng. Tôi đã thấy khỏe hẳn, không còn những cơn đau đầu như ngày đầu tiên nữa. Tôi nôn nóng muốn gặp chị Mận, đòi về, nhưng ba không cho. “Ba đã điện cho gia đình bác Đợi. Khi nào con hồi phục cha con mình sẽ ra thăm bác ấy”. Tôi biết chị Mận rất buồn vì phải bỏ học. Nhớ đến cái tát tai nông nổi và ánh mắt nhìn sững sờ, tôi thương chị ấy quá. Bà chị họ của tôi linh thật. Đang nghĩ về bả thì cửa phòng xịch mở, bả bước vào. Tôi vội nhắm mắt như đang mê man. - Thiên Ân! Giọng bả ngọt như giọng nói của mẹ tôi. Tôi từ từ mở mắt. Thật ra lúc này tôi rất muốn ngồi nhổm dậy, ôm chầm lấy bà chị hiền từ của mình và nói lời xin lỗi. Nhưng sự hổ thẹn khiến tôi không mở miệng được. “Cứ giả đò mê man coi bộ dễ chịu hơn”. Nghĩ thế nên tôi vẫn nằm im re. - Em biết chị là ai không? Tôi muốn bật cười nhưng cố nín. Chị Mận hỏi thế vì tưởng tôi cũng tàng tàng như những bệnh nhân kế bên. Tôi làm bộ thì thào: - B… iết! Chị là chị Mận. - Thế chị làm nghề gì? - Giám đốc nhà thương Chợ Quán, bạn tôi. Tôi hoảng hồn ngồi bật dậy vì chị Mận bỗng bật khóc nức nở. Tôi ôm chầm lấy chị, nói vội vã. - Em đùa chị ấy. Em khỏe hẳn rồi, không có điên đâu mà chị sợ. Chị Mận im ngay tiếng khóc, nhoẻn miệng cười. Đúng là đồ… con gái. Nhưng tôi vẫn thích chị Mận cười hơn. - Chị còn đau lắm không? Đừng giận Thiên Ân nữa nhé. Chị mà giận thì trông xấu kinh khủng – Tôi nhăn mặt làm bộ. Chị Mận lại cười. Nụ cười lây hơi ấm sang tôi. Bên ngoài cửa sổ bệnh viện nắng cũng đang nhảy nhót cười. Mùa đông sắp đi qua và mùa xuân đang lấp ló đâu đó. Không biết mùa gì đang hưng hửng trên khuôn mặt nhà quê của bà chị họ tôi mà trông dễ thương lạ! Cũng không biết tiếng gì đang đập “bùm bùm” trong lồng ngực tôi nghe rộn ràng thế nhỉ?… MÙA ĐÔNG VÀ CHIẾC ÁO TƠ TRỜI CỦA MẸ C ánh cổng vừa hé, nụ cười tôi chuẩn bị để đón khách cũng khép lại – Gia sư đây ư? Người con trai có nước da đen sạm quê mùa đang đứng trước mắt tôi không lẽ lại là người mà ông anh nhỏ bạn tôi đã không tiếc lời ca ngợi: Sinh viên năm thứ tư ngoại ngữ. Có kinh ngiệm dạy kèm. Trình độ “siêu giỏi” và… Cũng may là lúc đó tôi ra hiệu cho anh ngừng lại, chứ không thì bài hát sẽ được ca tiếp:… Đẹp trai, có ngoại hình dễ nhìn… Dù sao, tôi cũng hơi thất vọng với cái “ngoại hình” của anh ta. - Anh Vĩ giới thiệu tôi đến đây để… Tôi mời gia sư vào nhà. Tiếng lạo xạo của những hòn sỏi dưới chân như nhắc nhở tôi: Đừng quên bạn đã mời người ta đến, phải lịch sự. Gia sư đang đi bỗng dừng lại – “Hoa gì đẹp thế nhỉ?” – “Hoa ngọc nữ đấy!” – “Trông nó bé nhỏ và dễ thương như những chùm hoa ô môi dưới quê tôi”. Xời, tưởng đâu gia sư cũng là người yêu hoa, ai ngờ anh ta đang nhớ tới một loài hoa mọc đầy các kinh rạch dưới quê. Đôi mắt gia sư như có điều gì vừa ánh lên khi biết tên tôi cũng là “Ngọc Nữ”, anh nhìn tôi như tính hỏi điều gì rồi lại thôi. - Phần Grammar vững, Speaking tàm tạm. Listening còn yếu lắm… Học tiếng Anh để đi nước ngoài như em cần phải luyện kỹ năng nghe, nói. Gia sư phán sau một tiếng đồng hồ kiểm tra trình độ học trò. Sau một tiếng bị quần tơi tả, ấn tượng về gia sư trong tôi cũng thay đổi so với lúc mới gặp. Tôi biết mình đã không chọn nhầm thầy. - Thời khóa biểu học tập sẽ thống nhất như chúng ta đã thỏa thuận nhé! – Gia sư dặn trước khi ra về. Lúc cánh cổng khép lại, tôi mới sực nhớ – mình vẫn chưa biết tên họ người ta. Tệ thật! *