🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Chết Vì Chứng Khoán - Jesse Livermore - Richard Smitten
Ebooks
Nhóm Zalo
VỀ BỘ SÁCH CHỨNG KHOÁN CỦA ALPHA BOOKS
Đ
áp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong việc tìm hiểu về cổ phần, cổ phiếu, chứng khoán, chiến lược đầu tư của độc giả, Alpha Books chọn mua bản quyền dịch và xuất bản
bộ sách về đầu tư chứng khoán bao gồm: Giàu từ chứng khoán; Trở thành thiên tài chứng khoán; Cổ phiếu thường - lợi nhuận phi thường; Hồi ức của một thiên tài chứng khoán; Phố Wall - Một Las Vegas khác; Quy tắc số 1: đầu tư thành công chỉ với 15 phút mỗi tuần; Trên đỉnh Phố Wall…
Cuốn sách Chết vì chứng khoán: Jess Livermore - Câu chuyện về nhà đầu tư chứng khoán vĩ đại nhất mà các bạn đang cầm trong tay nằm trong loạt sách này, là về cuộc đời của Jesse Livermore, một trong những nhà kinh doanh chứng khoán thành công nhất thế giới, nhưng chính ông cũng phải đón nhận một kết cục hết sức bi thảm: gia đình tan vỡ, tài chính phá sản và tự sát trong tuyệt vọng. Cuốn sách sẽ đem lại rất nhiều bài học bổ ích, những kinh nghiệm chắt lọc từ thăng trầm trong cuộc đời ông hẳn sẽ có giá trị và hữu ích đối với độc giả và các nhà đầu tư chứng khoán của Việt Nam hôm nay.
Được tuyển chọn từ những bộ sách về đầu tư, tài chính và chứng khoán nổi tiếng nhất của nhiều tác giả tên tuổi hàng đầu thế giới, hy vọng các cuốn sách này sẽ trở thành một món quà giá trị và hữu ích cho tất cả các độc giả quan tâm.
Xin trân trọng giới thiệu tới độc giả loạt sách về đầu tư và chứng khoán này.
Tháng 7 năm 2007
CÔNG TY SÁCH ALPHA
Cuốn sách này dành tặng cho bố của tôi, Louis Smitten. Không có ông, không thể có cuốn sách này.
Cha tôi đã làm những việc tưởng chừng như không thể: Ông thành công về cả vật chất và tinh thần.
Năm 1932, một nhóm các nhà đầu tư tài chính giàu nhất thế giới gồm bảy người gặp nhau tại khách sạn Edgewater ở Chicago. Tài sản của họ nhiều hơn cả Kho bạc Nhà nước Mỹ và trong nhiều năm qua, giới truyền thông đưa tin về họ như những hình mẫu thành công điển hình.
Vậy họ là ai? Charles Schwab - chủ tịch tập đoàn thép lớn nhất thế giới, Arthur Cutten - nhà đầu tư lúa mì lớn nhất thời kỳ, Richard Whitney - Giám đốc Sở giao dịch chứng khoán New York, Albert Fall - thành viên Nội các, Jesse Livermore - nhà đầu cơ giá xuống nổi tiếng nhất của Phố Wall, Leon Fraser - Chủ tịch Ngân hàng thanh toán Quốc tế và Ivan Kruegger - ông chủ hãng độc quyền lớn nhất thế giới.
Điều gì đã xảy ra với họ? Ông Schwab và Cutten chết trong khốn khó; Whitney phải ở trong nhà lao Sing Sing nhiều năm; Fall cũng ngồi tù thời gian dài, nhưng sau đó được phóng thích nên ông ta đã qua đời tại nhà; những người còn lại như Livermore, Frase và Kruegger đều tự vẫn.
- Donald McCullogh,Thức dậy từ giấc mơ Mỹ
Bán khống là việc bán cổ phiếu mà người bán chưa thực sự sở hữu chúng khi giá có xu hướng giảm. Người bán vay cổ phần của người môi giới để giao cho người mua. Sau đó, cổ phần được mua trên thị trường mở và quay trở về với người môi giới để kết thúc giao dịch. Nói cách khác, người ta bán chứng khoán trước,
mua sau với hy vọng mua được giá thấp hơn. Việc này trái ngược với giao dịch thông thường: mua trước, bán sau.
- Louis Smitten, nhà đầu cơ chứng khoán
LỜI NÓI ĐẦU
Không có gì khó hơn việc nắm giữ cổ phiếu, không có gì nguy hiểm hơn việc kiểm soát chúng, và không có gì mong manh hơn khi muốn đạt được thành công bằng việc đi tiên phong lập ra một trật tự mới.
- Niccolo Machiavelli -
K
hi tôi 13 tuổi, bố thường kể cho tôi nghe về chuyên gia cổ phiếu lớn nhất lúc bấy giờ - ông Jesse Livermore. Tôi ngồi lắng nghe bố tôi kể chuyện Livermore đưa ra tiêu chuẩn
mới trong kinh doanh chứng khoán. Chưa đầy 14 tuổi, tôi đã bị cuốn hút và bắt đầu đọc về Livermore.
Tôi không hề biết rằng 40 năm sau, Livermore và tôi đã có cuộc gặp gỡ định mệnh và tôi đã tìm hiểu về cuộc đời của ông suốt hơn một năm ròng. Tôi không ngờ ông nổi tiếng đến nỗi có quá nhiều người biết đến.
Livermore là một người rất kín đáo, bí ẩn và trầm tính. Ông đã đấu tranh để kiểm soát cảm xúc của mình và vì vậy, ông vượt qua được cảm xúc yếu đuối mà ai cũng có. Hơn tất cả, ông muốn thắng cuộc chơi, muốn tìm lời giải đáp tốt nhất về thị trường cổ phiếu.
Nhiều bạn đọc biết đến Jesse Livermore bằng tên Larry Livingston qua những cuốn sách bán chạy nhất như cuốn Hồi ức của một thiên tài chơi chứng khoán của Edwin LeFevre, một nhà báo về tài chính. Lần xuất bản đầu tiên vào năm 1923, cuốn sách được viết thành tiểu thuyết theo tiểu sử của Livermore. Cuốn hồi ký này hiển nhiên trở thành một trong những cuốn sách về tài chính hay nhất từ trước đến nay. Thế hệ các nhà kinh
doanh, nhà đầu tư và những người theo dõi thị trường coi cuốn sách như cẩm nang chiến lược của một nhà kinh doanh cổ phiếu sừng sỏ, hiểu tâm lý số đông và biết tính toán thời điểm mua bán trên thị trường.
Sau khi đọc cuốn Hồi ức của một thiên tài chơi chứng khoán và cuốn sách do chính Livermore viết - cuốn Học cách chơi cổ phiếu, tôi phát hiện thực tế tồn tại nhiều vấn đề hơn so với nội dung sách của Livermore. Theo hồ sơ xuất bản, cuốn hồi ký không mô tả đầy đủ về Jess Livermore. Tôi lao vào cuộc hành trình 2 năm và chặng đường đó đã đưa tôi vào thế giới của Livermore, vừa mang tính công việc, vừa mang tính cá nhân. Tôi có cơ hội phỏng vấn Paul Livermore, người con trai còn sống của Jess, lần đầu tiên ông đã kể về tiểu sử của cha mình. Tôi cũng nói chuyện với Patricia Livermore, vợ của Jess Livermore con và bạn thân của Dorothy Livermore - vợ hai của Livermore và mẹ của hai đứa trẻ.
Cũng giống như nhà tài phiệt nổi tiếng J.P. Morgan, cuộc đời Livermore phải trải qua nhiều đợt khủng hoảng. Trong suốt thời kỳ đó, do không tìm được giải pháp nào để khắc phục tình hình, ông đã tự kết liễu cuộc đời mình năm 1940.
Livermore trầm tính và kín đáo, nhưng cuộc sống của ông sang trọng và sôi động. Ông thuộc tầng lớp có địa vị xã hội cao nhất. Cá nhân ông bị buộc tội gây ra vụ sập sàn năm 1929 và nhận nhiều lời đe dọa bị giết hoặc bắt cóc. Ông cưới cô gái nhảy người Ziegfeld Follies xinh đẹp và là bố của hai đứa con trai, cậu thứ hai sau này bị chính người mẹ của nó bắn.
Cuốn sách này giới thiệu đầy đủ về tiểu sử của Jesse Livermore, một người đàn ông và một thương gia đích thực. Nó kể lại chi tiết cuộc đời ông và cung cấp nhiều nội dung mới về kỹ thuật giao dịch cổ phiếu thành công. Về sau, những kỹ thuật này thay đổi nhiều và vẫn còn tiếp tục thay đổi cho tới nay.
Cuốn sách gồm bốn chủ đề cơ bản.
Thứ nhất, bản chất con người không bao giờ đổi thay. Vì vậy, thị trường chứng khoán cũng không bao giờ thay đổi. Chỉ có những khuôn mặt, túi tiền, những người nghiện cổ phiếu và các nhà vận động môi giới, các cuộc chiến tranh, thiên tai và công nghệ là thay đổi. Thị trường tự thân nó không bao giờ thay đổi. Tại sao lại vậy? Vì bản chất con người không đổi và con người điều khiển thị trường - chứ không phải là lẽ phải hay nền kinh tế. Chắc chắn, nó cũng không theo tính logic. Chính cảm xúc của con người điều tiết thị trường và hầu hết vạn vật trên hành tinh này.
Thứ hai, việc đạt được mục đích vật chất và tham vọng nghề nghiệp không có nghĩa là đảm bảo được hạnh phúc trong cuộc sống. Không có mối liên quan nào giữa thành công và hạnh phúc. Giàu có về vật chất và thỏa mãn về tinh thần không tự cân bằng nhau.
Thứ ba, ý chí giúp chúng ta đạt được mục đích, chứ không phải trí tuệ. Tài năng và may mắn chưa đủ. Chỉ có sự quyết tâm làm việc chăm chỉ và nhẫn nại mới có thể thực hiện được những việc không thể. Không có con đường tắt; không có cách nào dễ dàng. Đặc biệt là khi bạn khám phá thị trường cổ phiếu.
Cuối cùng, chính cá nhân, chứ không phải tập thể đưa ra các phát minh của nhân loại. Các ý tưởng lớn, sự giàu có và những tiến bộ vượt bậc về công nghệ, chính trị và y học đều do các cá nhân tạo nên, chứ không phải một nhóm người.
Có nhiều cách để tham gia vào thị trường chứng khoán như: sự hỗ trợ của hàng trăm lý thuyết, kỹ năng, hệ thống và chiến lược. Cuốn sách này giới thiệu với các bạn cách tiếp cận của Livermore. Lần đầu tiên nó tiết lộ bí mật của ông về cách đầu cơ kiếm tiền. Có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời của Livermore dựa trên các cuộc phỏng vấn gia đình ông, những bài
viết cá nhân, các tờ báo hay chính những bài viết của Livermore. Một số bài thơ đã tô vẽ bức tranh Jesse Livermore thêm sinh động, bức tranh về con người và thời đại của ông. Trong một số phần của cuốn sách, tôi đã tái tạo lại các cuộc nói chuyện giữa các thành viên trong gia đình ông.
Và tôi nghĩ, sau khi đọc xong cuốn sách này bạn sẽ đồng ý rằng chưa có bất cứ nhà đầu cơ nào tài giỏi như Jesse Livermore.
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn ông Paul Livermore đã hợp tác chặt chẽ trong việc cung cấp các thông tin gợi lại nỗi buồn trong quá khứ. Cảm ơn Ann, người vợ duyên dáng, xinh đẹp của Paul.
Cảm ơn bà Patricia Livermore, người đã kể lại quãng thời gian chung sống với Jesse Livermore Jr. và hồi tưởng lại những bi kịch và buồn đau xé ruột trong quá khứ.
Con cảm ơn bố đã kể cho con câu chuyện về Livermore khi con còn trẻ, cảm ơn bố đã tích cực hỗ trợ kỹ thuật và biên tập cuốn sách này. Cảm ơn con gái yêu của bố, Kelley Smitten, đã hỗ trợ bố biên tập cuốn sách.
Tôi xin cảm ơn Ed Dobson, một nhà kinh doanh báo chí, đã cổ vũ tôi nhiệt tình trong quá trình chuẩn bị biên tập bản gốc cuốn sách. Ed đã chia sẻ với tôi và các đồng sự khác sự đam mê vô tận về cuộc đời và thời đại của Livermore.
Cảm ơn Debi Murry, cán bộ Viện nghiên cứu lịch sử của Palm Beach, đã hướng dẫn tôi nghiên cứu những bộ sưu tập cổ của thời bấy giờ và giúp tôi khái quát cuộc sống của Palm Beach thế kỷ trước.
Cuối cùng, xin cảm ơn Jesse Livermore người đã cố gắng làm những việc tưởng chừng không thể - thắng các cuộc chơi và làm chủ thị trường cổ phiếu.
Chương 1
CON GẤU VĨ ĐẠI CỦA PHỐ WALL
Sự hỗn loạn quay trở lại.
- Shakespeare, Othello -
S
áng sớm ngày thứ Ba, 29 tháng 10, hàng nghìn người muốn tìm cảm giác mạnh đã chen chúc chật ních những ngóc ngách của Phố Wall. Họ tới đây để chứng kiến một
cảnh tượng “tàn sát” đã được báo trước. Những cảnh sát trên lưng ngựa, cùng đội ngũ trinh sát mặc đồng phục đã cố gắng ngăn đám đông trước lối vào Trung tâm chứng khoán New York, nhưng vô ích. Mỗi lần họ mở ra được một lối đi nhỏ thì ngay lập tức đám đông chen lấn lại tràn vào và bịt kín như cũ.
Ở bên trong, trên sàn giao dịch, người ta có thể thực sự cảm thấy không khí căng thẳng và lo sợ khi kim đồng hồ nhích dần tới thời điểm 10 giờ, tiếng chuông mở đầu buổi giao dịch rung lên. Chưa đầy một tuần trước, vào ngày thứ Năm đen tối, thị trường chứng khoán đã trải qua đợt suy giảm tồi tệ nhất trong lịch sử. Và cảnh sụt giá tới mức kinh ngạc chiều ngày thứ Hai sau đó đã làm nỗi hoang mang càng lan rộng.
Trên khắp cả nước, các nhà đầu tư lo lắng tới gặp những người môi giới chứng khoán. Họ đằng hắng, rồi liên tục chuyển chân trong lúc đứng nhìn chằm chằm như bị thôi miên vào chiếc máy điện báo giá cổ phiếu nằm yên lặng bởi nó sẽ lạnh lùng đưa ra lời phán quyết: sống sót hay bị sụp đổ (khả năng tồi tệ sau dễ xảy ra hơn).
Theo cuốn sách của William Klingaman, 1929 - năm của sự sụp đổ kinh hoàng, trong cùng buổi sáng hôm ấy, chính xác lúc 7 giờ 20 phút, không phải 7 giờ 19 phút, cũng không phải 7 giờ 21 phút, ông đang đứng tại lối vào chính dẫn tới phòng số 29 của ông trong tòa nhà ở King’s Point, Long Island. Jesse Livermore chờ xem người ta đã trang trí mui cho chiếc xe Roll-Royce màu đen của mình như thế nào. Người tài xế có thói quen có mặt tại đây lúc 7 giờ 20 phút. Jesse Livermore là một người kỹ tính.
Làn sương mù nhẹ thoảng qua eo biển Long Island khiến trời lạnh hơn, dấu hiệu của sự chuyển mùa, và cảm giác thời tiết sẽ xấu đi. Như thường lệ, đúng 7h20 phút chiếc xe xuất hiện, lăn bánh theo con đường vòng và dừng trước mặt Livermore. Ông gật đầu yên lặng với người tài xế, mở cửa xe rồi thả người vào chiếc ghế sau, tay cầm mấy tờ báo đã được gấp lại. Như những gì vẫn thường làm mỗi buổi sáng, Livermore đặt chúng trên ghế da ô tô: Tờ New York Times, London Times, Wall Street Journal. Ông lướt qua những hàng tít lần nữa, về cơ bản chúng đều như nhau: “Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới đồng loạt sụt giảm.”
Khi chiếc ô tô đi xuống đường, Livermore bật chiếc đèn đọc sách và kéo rèm cửa ô tô lại. Ông muốn xem xét thông tin trên các tờ báo trong sự im lặng kín đáo. Không có thông tin nào trên các mặt báo khiến Livermore bất ngờ. Thực ra ông đã chờ những dòng tít này từ gần một năm trước. Ông đã lên kế hoạch cẩn thận cho ngày này, và kiên nhẫn chờ đợi.
Khi chiếc xe ngang qua Manhattan, người tài xế không kéo cửa sổ che giữa hai người xuống mà nói qua micro: “Ông Livermore, chúng ta đã đi vào địa phận Manhattan. Ông bảo tôi khi nào đến thì nói với ông.”
Livermore kéo tấm rèm dày màu đen mở ra để ánh sáng mặt trời tràn vào khoang sau xe. Ông nghĩ về việc bảo người tài xế chở
xuống Phố Wall để ông có thể nhìn thấy, cảm nhận được không khí trong các con hẻm ở đó.
Nhưng điều đó bằng cách này hay cách khác ảnh hưởng tới hành động, tâm trạng và đánh giá khách quan của Livermore. Liệu đây đã phải là giới hạn sụt giảm thấp nhất chưa? Hay chỉ là một bước tạm dừng trên mặt dốc đi xuống? Liệu lòng tin vào thị trường có quay lại và chặn được đà sụt giảm tự do này? Liệu ông có nên che giấu những quan điểm trước mắt của mình? Vận may của ông sẽ phụ thuộc vào câu trả lời cho những câu hỏi này. Và trước đó rất lâu, ông đã nhận ra rằng hành động thực sự của những người tham gia thị trường chứng khoán, chứ không phải những gì họ nói sẽ định hướng cho kế hoạch hành động tiếp theo của họ.
Một số người có thể muốn nhìn thấy cảnh hỗn loạn, muốn cảm nhận sự tuyệt vọng của tình trạng rối loạn tài chính xảy ra khi nỗi sợ hãi và sự tức giận lấn át lòng tham tới mức mù quáng, nhưng Livermore không nằm trong số đó. Ông muốn tránh xa những phản ứng này. Ông có thể nhanh chóng nhìn rõ được mọi thứ. Ông sẽ ngồi tại văn phòng của mình, lắng nghe những lời phán quyết câm lặng trên những bảng báo giá cổ phiếu khi thị trường mở cửa giao dịch.
Livermore kéo rèm và lại bắt đầu đọc báo trong bóng tối. Ông nói trong khi vẫn cúi xuống những trang báo: “Harry, chúng ta đi thẳng tới văn phòng nhé.”
Trước khi hệ thống đèn giao thông tự động được lắp đặt ở New York, một cảnh sát giao thông được bố trí ngồi trong trạm gác và điều khiển hệ thống đèn. Khi chiếc xe sang trọng của Livermore tới nơi, viên cảnh sát này sẽ điều khiển cho đèn chuyển sang màu xanh để chuyến đi của Livermore không bị gián đoạn trên đường từ King’s Point tới văn phòng của ông ở Manhattan.
Mỗi tuần một lần, Harry, người tài xế lại lặp lại lộ trình này, dừng bước trước mỗi trạm đèn giao thông. Ở đó, anh đưa tiền cho viên cảnh sát để anh ta bảo đảm rằng mỗi lần xe của Livermore tới nơi, đèn giao thông sẽ là màu xanh. Bởi Livermore là người đòi hỏi sự chính xác.
Chiếc xe dừng lại ở tòa nhà Hecksher, số 730, đại lộ số 5. Livermore ra khỏi xe, bước vào thang máy cá nhân và đi lên tầng 18, tầng trên cùng. Ông muốn đi thẳng tới phòng làm việc của mình và tránh không nói chuyện với bất cứ ai.
Cánh cửa văn phòng của Livermore không có biển đề tên. Ông mở cửa rồi bước vào một phòng chờ nhỏ, nơi Harry Edgar Dache ngồi trong suốt giờ làm việc. Không thể không chú ý tới Dache, người đàn ông cao tới 6,6 foot, nặng 275 pounds và bị báo chí gọi là một võ sĩ xấu xí, kém thân thiện.
Tuy nhiên, lúc này văn phòng không có ai. Livermore luôn là người đến đầu tiên. Ông mở cánh cửa thứ hai bằng một chìa khóa đặc biệt, được giữ trong két an toàn. Chỉ có Livermore và Dache biết mã số khóa két. Thậm chí, Dache còn giám sát những người làm vệ sinh khi họ dọn dẹp các văn phòng của Livermore. Rất nhiều người coi những văn phòng ấy như những cung điện nguy nga nhất ở thành phố New York, với những mái vòm được chạm khắc bằng tay tinh xảo, những giá sách tùy chọn và những bức tường được ốp gỗ gụ và đồ đạc chạm khắc bằng gỗ sồi. Lần đầu tiên Livermore nhìn thấy cách ốp ván này là trong thư viện tại nhà của một chủ trang trại già người Anh. Ông đã chi tiền để người ta dỡ những tấm ốp này ra và chuyển nó bằng đường biển tới New York. Tới đây, những tấm ván ốp này được ghép lại trong các văn phòng của ông.
Bản thân mỗi văn phòng gồm có phòng chờ, phòng giao dịch được đóng những tấm bảng màu xanh lá cây trên tất cả các mặt tường, dọc theo đường đi bộ, phòng họp và cuối cùng là văn
Ở
phòng riêng khổng lồ của Livermore. Ở tất cả các gian phòng, người ta đều có thể nhìn thấy những tấm bảng.
Livermore thuê một đội ngũ 6, 7 người phụ trách những tấm bảng cùng với Dache. Công việc chính của những người làm thuê cho ông là viết các chỉ số chứng khoán lên những tấm bảng trải khắp chiều dài của khu vực văn phòng. Dache giám sát tất cả các hoạt động trong văn phòng và làm bất cứ điều gì
Livermore yêu cầu. Những người ghi bảng phải cam kết giữ bí mật và được trả công hậu hĩnh. Quy định của văn phòng là không nói chuyện trong giờ giao dịch chứng khoán. Livermore không muốn có bất cứ sự sao nhãng nào khi thị trường đang mở cửa. Những chỉ số phải được viết lên bảng ngay lập tức và thật chính xác, hàng triệu đô la đang được tung ra.
Mỗi phòng đều có vài chiếc máy in điện báo bằng băng giấy. Đối với Livermore, những đoạn băng giấy dài ngoằn ngoèo giống như máu chảy trong huyết quản của ông. Đó chính là cuộc sống của Livermore. Ông không bao giờ để một máy báo giá cổ phiếu nào vượt ra ngoài tầm theo dõi của mình. Trong tất cả những ngôi nhà của Livermore ở Lake Placid, Long Island, Manhattan, những chiếc máy điện báo đều có mặt tại phòng chính, tại dãy phòng ở khách sạn Breakers trên bờ biển Palm, thậm chí cả ở trên chiếc du thuyền dài 300 feet của ông cũng có.
Livermore đã đọc và lưu lại rất nhiều bài báo trên tờ New York Times, các số được xuất bản gần đây. Tất cả những bài báo đều buộc tội ông là người đã gây ra tai họa sụp đổ này, châm ngòi tình trạng sụt giảm - một quá trình rơi tự do theo chiều thẳng đứng dường như không biết đâu là đáy. Tuy nhiên với quan điểm của mình, Livermore tin rằng thị trường chứng khoán giống như một cuộc chiến. Trong chiến tranh, bạn sẽ chết nếu bạn mắc sai lầm; trong thị trường chứng khoán, nếu sai lầm, bạn có thể phá sản rất nhanh. Một người có thể chết bởi những cơn xúc động do nguyên nhân tài chính.
Livermore là một người nghiêm túc, và ngay trong ngày hôm đó ông lên kế hoạch thực hiện một số vụ làm ăn. Như thường lệ, Ông ăn vận không thể chê vào đâu được với một bộ complet được làm bằng tay tại Saville Row ở London. Những chiếc áo sơ mi được may theo mẫu mới nhất, bằng vải cotton tốt nhất của Ai Cập. Bộ trang phục phù hợp với dáng người mảnh khảnh của ông một cách hoàn hảo. Chiếc cà vạt kẻ sọc bằng lụa kết hợp tinh tế với bộ trang phục. Mái tóc vàng hoe được chải chuốt, rẽ ngôi về bên trái. Livermore dùng một cặp kính không gọng gắn trên mũi. Ông khoác chiếc áo gi lê với một dây chuyền vàng nối các bên túi. Một đầu sợi dây chuyền treo một chiếc bút chì mảnh bằng vàng, đầu kia là một con dao nhíp nhỏ, cũng bằng vàng. Trong khi nói chuyện, Livermore thường cầm vào chiếc bút hoặc con dao và xoay tròn chúng.
Livermore là “con gấu” nổi tiếng nhất của Phố Wall, một nhà kinh doanh có khả năng bán những cố phiếu chưa nắm trong tay để mua lại ngay chính những thứ đó với giá thấp hơn. Ông không mấy lo lắng vì biết rằng giá trị cổ phiếu lên xuống rất thường xuyên nhưng khi chúng sụt giảm, tốc độ sụt giảm sẽ nhanh gấp đôi so với khi tăng lên. Và đó là những gì đang xảy ra ngày hôm nay.
Livermore đã có thông tin tổng quát về hơn một triệu cổ phiếu trong hiện tại, cũng như sở hữu hơn 100 triệu đô la. Ai đó đã sắp đặt việc sử dụng chúng cách đây nhiều tháng, từ từ, bí mật và lặng lẽ. Quá trình đó được thực hiện thông qua hơn 100 người mua bán cổ phiếu nên không ai biết Livermore đang làm gì. Ông có thể đi trước thị trường, bán cổ phiếu ra rồi sau đó lại mua với giá thấp hơn rất nhiều. Livermore xứng đáng là “Con gấu vĩ đại” của Phố Wall.
Hôm nay, Livermore giống như một “con sói đơn độc” đang oai vệ rảo bước trên vùng Bắc Cực trơ trụi và băng giá. Con sói ấy đang tìm mồi và cẩn trọng đề phòng những động vật ăn thịt khác, những kẻ có thể giết chết nó. Rất nhiều người tham gia
chứng khoán mà Livermore biết có thể làm được điều này: kết liễu cuộc sống về mặt tài chính của ông bằng một đòn chí mạng.
Livermore chú ý tới một trong số các bài báo của New York Times mà ông giữ lại từ ngày 20/10. Bài báo có tiêu đề: “Cổ phiếu sụt giảm bởi làn sóng bán ra.” Sự cẩn trọng khiến ông không có vẻ hả hê với cái tít này. Không ai biết rõ hơn Livermore rằng mọi thứ có thể thay đổi nhanh như thế nào trên thị trường chứng khoán. Ông đọc tiếp:
“Trong hai giờ đồng hồ, việc mua bán trên thị trường chứng khoán New York bị hạn chế vì đã trải qua thời khắc sụt giảm dữ dội nhất trong lịch sử. Bản công bố cuối cùng cho thấy thực lỗ trong khoảng từ 5 tới 20 điểm và tổng giá trị sụt giảm trong thời gian giao dịch mở cửa ước tính khoảng một tỷ đô la, thậm chí còn hơn thế.
Tổng doanh số là 3.488.100 cổ phiếu, đây là mức sụt giảm nặng nề thứ hai trong riêng ngày thứ bảy kể từ khi thị trường chứng khoán được thành lập. Trong nửa giờ giao dịch đầu tiên, đạt con số khoảng hơn 8.500.000 cổ phiếu, tương đương với mức của một ngày đầy đủ 5 giờ giao dịch. Cộng đồng tham gia chứng khoán đã không hay biết về mức giá cuối cùng cho tới sau khi giao dịch đóng cửa 1 giờ 23 phút (tức là 1 giờ 23 phút sau thời điểm 12 giờ). Những thông tin quá tải từ chiếc máy điện báo đã trở nên quá muộn.”
Đòn giáng vào những cổ phiếu chủ chốt
Một trong những câu chuyện được phổ biến rộng rãi ở tất cả những nơi máy điện báo giá cổ phiếu được sử dụng ngày hôm qua là về Jesse L. Livermore từng là một trong những nhà đầu cơ cổ phiếu lớn nhất nước Mỹ, từng đứng đầu một nhóm đầu cơ, đã giáng những đòn nặng nề vào thị trường trong nhiều tuần. Câu chuyện đó kể rằng, những hoạt động của Livermore đã khiến
cho sự yếu kém đặc biệt lan rộng trong những cổ phiếu chủ chốt và có giá cao.
Arthur W. Cutten, đến từ Chicago, được thừa nhận là người đứng đầu trong hoạt động đầu cơ giá lên, theo dõi chiếc máy điện báo giá cổ phiếu từ khách sạn tại thành phố Atlantic ngày hôm qua đã nói với những người bạn thân rằng không gì có thể làm thay đổi quan điểm của ông về thị trường: những cổ phiếu tốt cuối cùng sẽ bán được với giá cao hơn.
Những bài báo xung quanh cuộc chiến giữa Livermore và Cutten giành quyền tối cao trên thị trường chứng khoán được bàn luận rộng rãi ở Phố Wall trong ba, bốn ngày gần đây đã trở nên khó đoán. Người ta cho rằng, Livermore có thế mạnh trong các hoạt động kinh doanh cổ phiếu ngắn hạn và những cổ phiếu hàng đầu, trong khi thế mạnh của Cutten lại nằm ở những hoạt động dài hạn với nhóm cổ phiếu này. Uy thế của Livermore là ở chỗ ông từng giữ vị trí đứng đầu nước Mỹ trong hoạt động chứng khoán, xét trên khía cạnh đầu cơ cổ phiếu. Sau vài năm mờ nhạt, hiện đây là hoạt động phát triển hấp dẫn nhất trên thị trường.
Phần lớn mọi người chia sẻ quan điểm rằng chính sách mua bán ngắn hạn là yếu tố chính gây nên tình trạng sụt giảm hiện nay, cũng như tình trạng tiếp tục bán tháo cổ phiếu. Hậu quả cuối cùng được phản ánh trong một thị trường được dân chủ hóa đối với những loại cổ phiếu nhất định. Rõ ràng, thị trường đã không hề nhận được bất cứ sự hỗ trợ có tổ chức nào. Các cổ phiếu nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ ban đầu được cho phép tự chuyển đổi.
Tình trạng những cổ phiếu có giá trị thuộc tốp đầu, có xu hướng giảm giá trong vòng vài tháng trở lại đây, rõ ràng là điều kiện thuận lợi cho Livermore. Câu chuyện tại Phố Wall kể về Livermore người đã thiếu một lượng lớn các cổ phiếu như của United States Steel, Montgomery Ward, Simmons Co., General
Electric, American and Forein Power và nửa tá các loại cổ phiếu then chốt khác. Do đó, Livermore đã khởi xướng những sách lược đòn đánh quen thuộc nhằm khiến cho thị trường mất thăng bằng, sau đó là rối loạn.
Cutten, gia đình Fisher, Durant và những người khác thuộc nhóm “Mười ông lớn” là những người nắm giữ một lượng lớn các loại cổ phiếu đặc biệt này, Phố Wall đã chứng kiến những kế hoạch và hoạt động góp vốn của họ bị phá hỏng bởi những cái gọi lại sự phát triển kinh tế tự nhiên kết hợp với chính sách mua bán ngắn hạn ác hiểm.
Có một luồng dư luận đã hình thành và lan truyền tại Phố Wall cho rằng: Livermore đã nhận được sự ủng hộ cho chiến lược của mình từ phía Walter P. Chrysler. Người ta bàn tán rằng Chrysler rất giận dữ bởi ông nghi ngờ tập đoàn Chicago - Detroit đã gây thiệt hại cho Chrysler motor trên thị trường, khiến cổ phiếu của Chrysler motor bị giảm xuống dưới 55 điểm so với mức cao 135 điểm của nó năm nay.
Có vẻ như người đứng đầu nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán phải là Livermore, người đã giành lại được một khoản lợi nhuận khổng lồ bằng chính sách mua bán cực kỳ khéo léo. Ít nhất tạm thời ông được thừa nhận là người đã “đúng” trên thị trường này. Cutten, khởi đầu từ một người kinh doanh ngũ cốc, đã tích lũy được ít nhất 100 triệu USD trên thị trường chứng khoán trong suốt ba năm trở lại đây với việc đầu cơ giá lên. Cutten cũng là người đứng đầu trong phe đầu cơ giá lên và ít nhất tạm thời bị coi là người đã “sai” trên thị trường.
Cutten ở New York và theo dõi thị trường từ văn phòng trung tâm của Sở giao dịch chứng khoán. Ông đã bày tỏ quan điểm của mình với những người bạn rằng việc bán ra một lượng lớn cổ phiếu là điên rồ, và rằng ông tin những cổ phiếu tốt sẽ giữ ở giá cao hơn. Cutten không thay đổi lập trường trước đây của mình về chính sách dài hạn. Ông cũng không đưa ra bất cứ tuyên bố
công khai nào về thị trường. Hiển nhiên là họ không có gì để nói về vị thế của họ trên thị trường tại thời điểm đó, cũng như về những gì họ đã làm trong những ngày gần đây.
Tờ Times cung cấp thêm thông tin:
“Đối với những người tham gia chứng khoán, nếu những bản báo cáo từ Phố Wall là sự thật thì Jesse L. Livermore - một nhân vật đã từng bị lu mờ sau vài năm, cho tới thời điểm này, đã trở lại đầy chấn động. Sự trở lại của “Mr. Livermore” với tư cách là một trong những nhà kinh doanh chứng khoán xuất sắc nhất cũng là một điều ngạc nhiên khác với dân chơi Phố Wall. Khi còn là một cậu bé, Livermore làm nghề ghi chép thanh toán cho các gia đình ở Boston. Tại đây, Livermore đã phát triển kỹ năng đọc băng giấy, bất chấp việc bị ngăn cản tiếp xúc với tất cả các doanh nghiệp không đăng ký ở Boston và New York, tới mức người ta đã đặt cho chú biệt danh là “Cậu bé đầu cơ”. Biệt danh này đã gắn liền với Livermore suốt những năm sau này.
Tới New York và tham gia làm ăn trên các thị trường, với tất cả kỹ năng và kinh nghiệm của mình sau hàng loạt những giai đoạn thăng trầm, cuối cùng Livermore đã gây được ấn tượng rộng rãi và tích lũy được nhiều triệu USD. Các nguồn thông tin cho rằng trong chính sách đầu cơ giá lên Livermore đang thực hiện, giá cổ phiếu đã trở nên quá cao và bị dự đoán không chính xác. Họ cho biết những cổ phiếu liên tục tỏ ra có ưu thế như của General Motors, Steel, General Electric và của các hãng khác sẽ giúp Livermore khôi phục lại một phần lớn tài sản của mình. Livermore thiếu tất cả những loại cổ phiếu này và hết lần này tới lần khác tìm cách kiểm soát chúng. Dư luận Phố Wall còn cho rằng Livermore đã cắt giảm số tiền phải đóng góp hàng năm của chính ông và gia đình trong thời kỳ làm ăn phát đạt những năm trước đó.
Arthur Cutten, đối thủ của Livermore có thể bị nhầm với một thủ kho nhà nước. Ông không hề để tâm tới những quy ước
trong giao tiếp như: diện mạo bên ngoài hay những phong tục, tục lệ. Với vẻ nhút nhát, lặng lẽ và khiêm nhường, Cutten thường giấu kín thân phận, thu mình trong một góc phòng hút thuốc của một toa xe lửa hạng sang, lắng nghe hành khách bàn tán về những thành công trên thị trường chứng khoán của ông. Khi không tham gia kinh doanh, Cutten là một quý ông nông dân tại trang trại của mình gần Chicago.
Ngược lại, Livermore nổi tiếng là một nhân vật kỹ tính, sành sỏi trong ăn mặc của thành phố. Với dáng người mảnh khảnh, mái tóc vàng hoe, Livermore hợp với những bộ trang phục tối màu, đi trên những chiếc Rolls-Royce, lúc nào cũng có vài người phụ tá đi cùng, ông có tới nửa tá các dinh thự và những văn phòng có lẽ vào loại sang trọng nhất tại New York, tọa lạc trên tầng cao nhất của tòa nhà Hecksher.
Đối mặt với những diễn biến thay đổi, hai người hoàn toàn khác nhau. Cutten tỏ ra điềm tĩnh, nói năng chậm rãi và không hề có vẻ mạnh mẽ. Trong khi Livermore là người lanh lợi, hay lo lắng và dễ bị kích động, dù hơi mê tín nhưng sẵn sàng đánh cược đến đồng xu cuối cùng nếu ông cho rằng mình đúng. Livermore đã trải qua thời kỳ khó khăn, thất bại không chỉ một lần. Ngược lại, Cutten ít nhất trong những năm gần đây luôn là nhân vật tiêu biểu trên thị trường đầu cơ giá lên.
Các thị trường trong tháng tới cũng như những tháng tiếp theo có lẽ sẽ thể hiện sự rối loạn đầy náo động bởi những lực kéo - đẩy trực tiếp giữa các yếu tố đầy sức mạnh của một nền kinh tế rộng lớn, đa dạng. Cho tới bây giờ có thể chắc chắn một điều thú vị rằng, nếu cổ phiếu tăng giá, Cutten sẽ sẵn sàng tiếp thêm động lực cho điều đó. Và chắc rằng khi cổ phiếu giảm giá, Livermore sẽ tiếp tục đà tấn công vào thị trường của mình. Tuy nhiên không hề có một trận chiến giữa hai cá nhân con người này”.
Sau khi đọc xong bài báo và đặt nó trên bàn, Livermore thốt lên: “Hừm, chưa bao giờ đó là vấn đề cá nhân!.” Kể từ nhiều năm qua, ông và Cutten luôn là những đối thủ kinh doanh của nhau, thậm chí từ khi họ còn là những doanh nhân trẻ buôn bán ngũ cốc tại các kho hàng ở Chicago.
Chuông điện thoại reo, Livermore ra hiệu cho trợ lý Dache mới đến rằng ông sẽ nghe điện thoại.
“Xin chào.”
“Có phải Jesse Livermore đấy không?”
“Tôi đang nghe đây.”
“Mày là đồ chết tiệt, Livermore. Mày sẽ phải trả giá vì những việc mày đang làm và sắp làm. Vì mày mà tao phá sản. Không, còn hơn cả phá sản. Tao đã nợ những người môi giới hàng nghìn đô la tiền lãi. Nhưng tao vẫn còn khẩu súng. Tao sẽ đến thẳng đấy và bắn vỡ óc mày ra. Lần sau nếu mày ra mở cửa thì người đứng ở cửa sẽ là tao và điều tiếp theo là mày sẽ phải bước qua cánh cửa địa ngục, đấy là nơi xứng đáng dành cho mày…”.
Livermore dập điện thoại xuống. Tất cả là do những bài báo này, chúng đã đổ lỗi cho ông gây ra vụ sụt giảm này. Nhưng ông không phải là thủ phạm. Ông không có sức mạnh tới mức đó, không một ai có thể làm được điều đó, kể cả những thành viên của Viện Morgan. Nhưng điều đó không thể ngăn cản những suy nghĩ của công chúng cho rằng ông là kẻ châm ngòi cho tình trạng rối loạn và sụp đổ này, cũng như họ nghĩ rằng ông đã làm cho nó tồi tệ hơn bằng việc cứ bán, bán và bán ra. Livermore đã gọi tới tờ Times và cho phép họ thực hiện một cuộc phỏng vấn để giải thích về việc ông không đáng bị đổ lỗi, nhưng vô ích. Dù thế nào đi nữa, người ta dường như vẫn muốn đổ lỗi cho ông. Có lẽ chỉ bởi họ cần tìm ra một ai đó để gọi điện và đe dọa. Livermore đọc lại tiêu đề bài báo đăng tải cuộc phỏng vấn của
ông ra ngày 22/10/1929 trên tờ Times: “Livermore không phải là trung tâm của sự đầu cơ.” Ông đọc tiếp:
“Ngày hôm qua, Jesse L. Livermore, người đã bị rất nhiều báo chí tại Phố Wall đổ lỗi có đã dính líu sâu sắc tới việc gây ra tình trạng tồi tệ hiện nay đã lên tiếng phủ nhận bất cứ sự liên quan nào tới tình trạng này”.
Dưới đây là những phát biểu của ông Livermore tại văn phòng của mình, ở số 730 đại lộ số 5:
“Theo nhiều bài báo khác nhau được lan truyền trong những ngày gần đây trên các tờ báo và các sở môi giới thì hậu quả của tình trạng hiện nay chủ yếu là do tôi gây ra với sự giúp đỡ về tài chính của nhiều nhà tư bản nổi tiếng. Tôi muốn khẳng định rằng, đối với tôi, bất cứ tin đồn nào cũng đều không đúng sự thật. Và tôi biết rằng, không hề có một sự kết hợp nào như vậy được hình thành với sự tham gia của những người khác.
Những vụ làm ăn nhỏ mà tôi thực hiện trên thị trường chứng khoán chỉ mang tính cá nhân và sẽ tiếp tục được thực hiện trên cơ sở như vậy.
Thật ngớ ngẩn khi nghĩ rằng một cá nhân hay một nhóm các cá nhân kết hợp với nhau có thể cố tình gây ra một cuộc suy thoái trên thị trường chứng khoán ở một quốc gia rộng lớn và thịnh vượng như nước Mỹ. Những gì đã xảy ra trong mấy tuần gần đây là kết quả không thể tránh khỏi của một thời kỳ dài nhiều cổ phiếu liên tục vận động và được xếp hạng khiến cho giá trị của chúng tăng lên nhiều lần so với giá trị thực, được xác lập dựa trên lợi nhuận thực thu về.
Những người chịu trách nhiệm để xảy ra tình trạng giá ảo này cũng chính là những người phải trực tiếp chịu trách nhiệm cho những gì đang xảy đến với thị trường chứng khoán ngày hôm nay. Đối với tất cả mọi người, việc tình trạng tồi tệ này lan rộng là một điều không may. Thật không may khi những cổ phiếu
ộ g y ậ g y g p đầu tư thực sự có giá trị phải chịu chung số phận với việc điều chỉnh lại giá trị của những cổ phiếu yếu kém nhất.
“Nếu ai đó phải đương đầu với rắc rối để phân tích về giá bán ra của các loại cổ phiếu khác nhau, chẳng hạn như cổ phiếu của United States Steel (đang bán ra với giá cao gấp 8 - 10 lần lợi nhuận thực) thì có thể thấy rất nhiều cổ phiếu khác cũng phải được xem xét và đánh giá trong một thời gian dài khi chúng cũng được bán ra với những mức giá cao nực cười”.
“Những lời cảnh báo của Cục dự trữ liên bang và những phát biểu của các quan chức cấp cao trong ngành ngân hàng cũng không thể chặn lại những diễn biến của thị trường. Vì thế, rõ ràng thật là lố bịch nếu một người đầu óc bình thường lại cho rằng cá nhân nào đó có thể tạo ra một tác động thực sự lên giá cổ phiếu.”
Cuối buổi phỏng vấn, Livermore lẩm bẩm: “Thật là ngu ngốc khi nghĩ tôi có thể khiến cả thị trường phải quỳ gối đầu hàng. Điều đó là không thể!”
Có lẽ ông là một phần trong một bộ máy, cơ chế, nhưng đó chỉ là một trạng thái còn phôi thai. Tình trạng đầu cơ bừa bãi luôn khiến thị trường phải khuất phục. Livermore đã kinh doanh trong 35 năm, từ khi 14 tuổi. Ông đã từng kiếm được rất nhiều, nhưng cũng để mất hàng triệu đô la. Năm 1929 ông đã đạt tới đỉnh cao của sự thành công, và ông biết đây là một thời khắc huy hoàng.
Livermore đã cân nhắc một cách cẩn thận về hoàn cảnh lúc này. Những cuộc điện thoại đe dọa đã tác động tới ông. Livermore tự ý thức sâu sắc rằng mất mát tài chính có thể gây ra những vết thương tâm lý trầm trọng tới mức nào. Chính ông đã nhiều lần trải qua điều này trong sự nghiệp của mình. Livermore sẽ phải nhanh chóng đưa ra một phát biểu khác bởi gia đình ông có thể gặp nguy hiểm. Trước đó, họ đã nhận được những lời đe dọa.
Livermore lặng lẽ theo dõi và chờ đợi chiếc máy điện báo giá cổ phiếu ở góc trên bàn làm việc. Những đồ vật trên chiếc bàn bằng gỗ gụ đã được dọn sạch trừ chiếc máy điện báo có đế bằng đồng, một tập giấy viết bút chì, một chiếc bút chì và một cặp hai chiếc hộp bằng gỗ gụ.
Hiện tại, văn phòng đã đông đủ mọi người. Sáu người ghi điểm đã đứng bên những chiếc bảng. Họ mặc áo khoác lông nên không bị bẩn bởi bụi phấn. Mỗi người ghi điểm trên bảng đều được trang bị tai nghe và ống nói. Họ được kết nối trực tiếp tới sàn giao dịch chứng khoán New York. Mỗi người chịu trách nhiệm theo dõi một số loại cổ phiếu hay hàng hóa nhất định. Chiếc máy điện báo bắt đầu hoạt động, từng mảnh giấy giống như một con rắn trắng dần dần dài ra - những ký hiệu về cổ phiếu của hầu hết các công ty ở Mỹ. Những ký hiệu thể hiện sức mạnh kinh tế của quốc gia này.
Đối với Livermore, việc đọc băng giấy giống như đọc báo. Ông đã thuộc lòng tất cả các ký hiệu và có một bộ óc phi thường để ghi nhớ tất cả những thông tin giá cả, cũng giống như một người chơi bài Bridge có thể nhớ mọi quân bài mình đã từng chơi. Chắc chắn rằng, Livermore theo dõi những tấm bảng của mình cũng giống như Dache giám sát những nhân viên ghi điểm trên bảng trong khi họ phủ đầy những chiếc bảng bằng thông tin mua - bán. Hôm nay, Livermore đặc biệt chú ý tới những cổ phiếu mình đang nắm giữ. Ông nhìn lên bảng và liên tục tính toán nơi vốn đầu tư của ông đổ vào. Văn phòng yên lặng, chỉ có tiếng máy điện báo và tiếng phấn trên bảng. Luôn có một sự yên lặng như vậy tại phòng giao dịch của Livermore trong thời gian mở cửa giao dịch. Tất cả mọi người biết rằng không có chỗ cho những cuộc tán gẫu khi giao dịch mở cửa.
Hôm nay, tổng lợi nhuận thặng dư trung bình của Livermore được tăng thêm 100 triệu đô la. Điều này không khiến ông bộc lộ thái độ gì khác. Chuông điện thoại tại phòng chính lại reo. Livermore ra hiệu cho Dache không trả lời điện thoại. Ông
không muốn bị quấy rầy bởi một cuộc điện thoại đe dọa trong thời điểm thị trường đang mở cửa. Những cuộc điện thoại phá vỡ sự tập trung, Livermore không có gì để nói với bất cứ ai và cũng không muốn nghe điều gì từ bất cứ người nào. Trong khi giao dịch mở cửa, ông giống như một con sói đi săn mồi, chỉ có thể tập trung vào những gì nó đang làm. Mỗi một phần trăm lên, xuống đồng nghĩa với việc đầu tư của ông lãi hay lỗ một triệu đô la.
Sự mất tập trung, dù là nhỏ nhất cũng có thể cướp đi hàng triệu đô la. Đó chính là cách Livermore bị cuốn hút với kinh doanh - cảm nhận được mọi tế bào trên cơ thể ông đều đang hoạt động. Không có gì tồn tại cả, trừ những dải băng giấy. Với một người có đủ sự nhạy bén và thông minh, cuộn băng giấy có thể nói cho anh ta biết mọi điều, tìm ra những manh mối và xử lý chúng. Livermore đang chiến đấu với hai xúc cảm mạnh mẽ trên thị trường chứng khoán: nỗi sợ hãi và tính tham lam. Ông đã chơi một canh bạc lớn.
Tối hôm đó, Livermore về nhà tại King’s Point và thấy vợ mình, Dorothy, cùng hai con trai Paul, Jesse Jr. không có ở nhà. Những bức tranh đã bị dỡ xuống, mấy tấm thảm Ba Tư cũng không thấy, cả mấy đồ dùng bằng bạc cũng biến mất. Livermore chạy lên tầng hai, đến chỗ chiếc két an toàn, nơi Dorothy cất đồ nữ trang - một bộ sưu tập tuyệt vời hầu hết là từ Harry Winston, Van Cleef và Arpels. Tất cả đã biến mất.
Livermore chạy xuống bếp, bốn người làm bếp và hai quản gia vẫn đang chuẩn bị bữa tối.
Ông hỏi: “Bà Livermore và bọn trẻ đâu rồi?”
Người quản gia chính trả lời “Họ vào phòng của mấy người tài xế rồi, thưa ngài. Họ đã biết tất cả về vụ sụp đổ khủng khiếp, chúng tôi rất tiếc, thưa ông Livermore.”
Livermore nhìn họ chằm chằm trong vài giây, thẫn thờ, rồi chạy tới mấy gian phòng bên trên mấy cái nhà để xe. Có hai người tài xế, một tài xế của Dorothy (hay Mousie - ông thích gọi vợ mình như vậy) và người còn lại là tài xế của ông (hay J.L - ông thích người ta gọi mình như vậy). Mấy cái nhà để xe thông với ngôi biệt thự lớn bằng đá. Livermore đi vào phòng khách, bước trên những tấm thảm cuộn, bao quanh là những tác phẩm nghệ thuật và đồ cổ vô giá. Dorothy ngồi trên chiếc ghế dài cùng hai đứa trẻ. Họ đều đang diện những bộ đồ đẹp nhất.
“Mousie, chuyện gì thế này? Em đang làm gì vậy?”. Dorothy trả lời: “Em và các con đã nghe hết, em rất tiếc, J.L”. “Em đang nói về cái gì thế?”.
“Em được biết rằng mọi người đã bị phá sản bởi vụ sụt giảm. Đài phát thanh suốt ngày nói về điều ấy. Người ta nhảy ra ngoài cửa sổ, bắn vào nhau tại văn phòng, và biến mất. Vài người bạn của em đã gọi điện. Em rất tiếc, J.L.”
Livermore nhìn vợ mình. Nhiều giây trôi qua. Dorothy ngồi đó, xinh đẹp, hai cậu bé đẹp trai ngồi hai bên, đồ trang sức để trong chiếc hòm da đặt bên cạnh cô.
Dorothy đối lập với Livermore: nhiệt huyết, tràn trề sức sống, vui nhộn và đầy nữ tính. Một con người thực sự thuộc về xã hội, đang ở thời điểm rực rỡ nhất, là trung tâm thu hút sự chú ý của đám đông. Dorothy nói ra bất cứ điều gì mình suy nghĩ, một diễn viên hài có tài năng bẩm sinh, và điều thú vị nhất là không bao giờ chọc cười một cách cố tình. Trên thực tế, mọi người vẫn thường cười vì hiểu nhầm ý của Dorothy.
Livermore nhìn xuống chiếc hòm da đựng đồ trang sức. Ông đã vài lần nhờ đến nó trong những thời điểm tồi tệ nhất, những thất bại nặng nề nhất của ông trên thị trường. Ông đã hơn một lần mang chiếc hòm đến chỗ Harry Winston khi bị lâm vào
cảnh túng quẫn và cần một khoản thế chấp. Những thứ đồ trang sức này trị giá gần bốn triệu đô la và luôn được Harry định giá tương đương với một triệu đô la tiền mặt, khoản thế chấp đủ để bắt đầu làm lại. Livermore sẽ quay lại chuộc sau khi ông có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình. Ông luôn cảm ơn Harry bằng một lượng lớn tiền mặt.
“Mousie, em và con về nhà chính ăn tối đi. Mang theo cả cái hòm trang sức nữa”.
“Ồ, J.L, anh lại cần đến nó à?”.
“Không, hôm nay là ngày tươi đẹp nhất của anh trên thị trường. Anh đã giải quyết xong một nửa số cổ phiếu của anh. Chúng ta sẽ ổn thôi. Anh chắc chắn sẽ không cần tới những thứ đồ trang sức này nữa. Giờ thì, em và các con ta đi nào”.
Livermore quay bước và mỉm cười. Thật là một ngày tươi đẹp. Dorothy luôn làm ông ngạc nhiên và khiến cho ông cười. Họ đang có một số rắc rối, phần lớn là lỗi của Livermore, liên quan tới những phụ nữ khác. Tuy nhiên, ông hy vọng họ có thể giải quyết chuyện này. Ông biết rằng nếu họ ly dị, ông sẽ rất nhớ Dorothy. Mắt ông mờ đi khi nghĩ về tình yêu của họ. Livermore lắc đầu để thoát ra khỏi những suy nghĩ này. Ông sẽ vui vầy bên vợ con khi họ vẫn còn ở bên ông. Ai mà biết được tương lai sẽ ra sao?
Những cuộc điện thoại đe dọa vẫn đeo bám Livermore, càng ngày càng nhiều. Ông cần phải kết thúc những lời đe dọa này. Livermore lại gọi cho tờ New York Times, tờ báo luôn sẵn sàng công bố những thông tin về Jesse Livermore đầy bí mật. Và đây là tiêu đề một bài báo số ra ngày 13/11: “Livermore giờ trở thành một nhà đầu cơ giá lên: Tuyên bố cổ phiếu sụt giá quá thấp và những giao kèo mua bán.” Livermore đọc tiếp:
“Nhiều tuần trước, Jesse L. Livermore được liệt kê vào trong danh sách những người đầu cơ hạ giá. Người ta đã dự đoán rằng
g g ạ g g ự g
hơn bất cứ ai, ông là người sẽ bán ra ngắn hạn nhiều cổ phiếu hơn nữa trên thị trường đang tụt dốc không phanh. Nhưng tối qua, nhân vật này đã tuyên bố chắc nịch với tờ New York Times rằng những cổ phiếu dẫn đầu bị đẩy giá xuống quá thấp. Mặc dù không có phát biểu gì liên quan tới quan điểm của mình nhưng những lời nói của Livermore cho thấy khả năng ông sẽ kiểm soát lượng cổ phiếu của mình và quay lại với tư cách bên mua của thị trường.
Livermore tuyên bố: “Những cổ phiếu hàng đầu với lợi nhuận tốt và một tương lai chắc chắn đang được đặt trong quá trình mặc cả mua bán. Rất nhiều trong số chúng đã bị đẩy giá xuống quá thấp. Mọi người trên cả nước trở nên rất hoảng loạn và đã bán tháo một lượng lớn cổ phiếu của họ mà không cân nhắc tới giá trị của chúng. Theo quan điểm của tôi tình trạng này không nên tiếp diễn nữa. Không hiểu lý do gì khiến những cổ phiếu hàng đầu bị quẳng vào thị trường một cách nhẫn tâm như tình trạng chúng ta đã chứng kiến trong những ngày giao dịch gần đây.
Vài ngày gần đây chúng ta thấy một lượng lớn loại cổ phiếu này bị chủ sở hữu bán ra chỉ vì họ sợ hãi.”
Dù đã có phát biểu như vậy, những cuộc điện thoại vẫn tiếp tục ám ảnh Livermore: “Livermore, mày là kẻ nói dối bẩn thỉu. Tao biết mày xảo quyệt như thế nào. Mày nói là phía tích cực của thị trường trong khi mày lại đánh tụt giá. Tao sẽ đến tìm mày. Tao muốn mày sẽ không còn một buổi tối nào được ngủ ngon nữa, thằng con hoang đáng thương.”
Còn nữa: “Tao sẽ đến tìm mày. Tao còn gì để mất nữa đâu? Tao đã mất mọi thứ vào thị trường vì mày và lũ bạn khốn nạn của mày. Mày nghĩ mày có thể bóp chết được một con người bé nhỏ, hủy hoại tao và gia đình tao bằng những hành động phi pháp của mày à? Mày là một kẻ đã chết, chỉ có điều mày không biết là
mày đã chết. Gia đình tao đã phải chịu đựng, giờ sắp đến lượt gia đình mày!”
Hay: “Hôm nay tao đã mất nhà rồi đấy, Livermore ạ, mày nghĩ thế nào về điều đó? Để có ngôi nhà, tao đã phải mất 23 năm để trả nợ. Hôm nay họ đã đuổi tao ra khỏi nhà. Tao lang thang trên đường như một kẻ ăn bám cùng với vợ và bốn đứa con tao. Mày đã làm như vậy và mày sẽ phải trả giá”.
Những lời đe dọa tới tấp qua điện thoại, qua thư và thậm chí qua cả những bức điện báo giao tay.
Đến ngày 21 tháng 12 năm 1929, khi Jesse Livermore đã đầy đủ. Ông thuê người bạn trước đây của mình là Frank Gorman - một nhân viên cảnh sát cũ ở Nassau County - để phòng xa. Gorman và Livermore là những người bạn cũ cho đến năm 1929, Livermore đã dùng ông ta vài lần trước kia khi mọi thứ trở nên hỗn loạn. Lần cuối cùng, Gorman đã bảo vệ ông thoát khỏi “Boston Billy” ở Monaghan, một tên trộm khét tiếng, kẻ đã cướp ngôi biệt thự của Livermore, hắn đã bị bắt và thề sẽ trả thù.
Gorman ngay lập tức chuyển đến ngôi biệt thự King’s Point. Hàng ngày, ông ta theo những đứa trẻ đến trường và trở thành chiếc bóng của Dorothy.
Livermore vẫn duy trì công việc như thường lệ, hàng ngày vẫn đến văn phòng và quan sát cái băng giấy rồi hành động. Một buổi chiều, Livermore đi đến bên cửa sổ và mở bức rèm. Quang cảnh hiện ra trước mắt ông là thành phố New York hối hả trong những ngày đầu năm 1930. Khi chiếc băng giấy điện tín trượt đều đều qua các ngón tay ông, mang theo những thông báo giá cổ phiếu bất tận - tất cả đều là âm bản giống như các danh sách thông thường của chiến trường.
Livermore tự hỏi bằng cách nào mà cuộc đời ông đã đi đến vị trí đặc biệt này. Và ông tự hỏi vì sao ông không hạnh phúc hơn.
Cuối cùng, đây chính là những ngày ghi dấu những thành công về tài chính lớn nhất của ông.
Chương 2
CÂU CHUYỆN QUÁ KHỨ
Tuổi thơ hình thành nên con người
Như buổi sáng bắt đầu một ngày mới
- John Milton -
J
ESSE LIVERMORE sinh ngày 26 tháng 7 năm 1877 tại Shrewsbury, bang Massachusetts. Cha mẹ cậu là Laura và Hiram Livermore. Cha ông là một nông dân nghèo, người
luôn cố gắng kiếm sống bằng việc canh tác trên vùng đất New England khô cằn. Hiram Livermore đã mất khu trang trại đầu tiên khi Jesse còn rất nhỏ và cả gia đình phải chuyển đến Paxton, bang Massachusetts để sống với ông của Jesse. Cuối cùng, Hiram cũng dành dụm đủ tiền để mua một trang trại ở miền Nam Acton.
Livermore nhanh chóng hiểu được việc canh tác trên những cánh đồng đầy đá sỏi của New England là như thế nào. Công việc đầu tiên của cậu là nhặt ra các viên đá to sau khi cày đất. Trong thời buổi chuyển giao thế kỷ nước Mỹ, kiếm sống trên một mảnh đất nhỏ ở Massachusetts rất vất vả, dù làm việc gãy cả lưng nhưng bạn cũng chẳng kiếm được bao nhiêu.
Khi còn là một cậu bé, Livermore mảnh khảnh, gầy và hay ốm. Điều này dẫn đến việc cậu đọc sách rất nhiều, đặc biệt là một số báo và tạp chí cậu có trong tay. Cậu đọc ngấu nghiến bất cứ quyển sách nào mình có và trốn vào thế giới tư duy tưởng tượng mà những cuốn sách mở ra cho cậu.
Livermore hay tưởng tượng và rất thông minh, có khả năng dùng tư duy để đưa ra các kết luận logic. Cậu không mất nhiều thời gian để rút ra kết luận rằng giấc mơ về sự thành công và những cuộc phiêu lưu của tuổi thơ sẽ không thể thực hiện được nếu không thoát khỏi cuộc sống trang trại ở New England.
Cha Livermore là người dè dặt và kín đáo, ông không dễ thể hiện ra là mình đang bị tác động bởi điều gì. Ông quản lý gia đình theo một khuôn mẫu, kiên quyết và thẳng thắn trong cuộc sống. Mẹ cậu thì ngược lại - âu yếm và nhẹ nhàng. Bà dành nhiều thời gian chăm sóc đứa con có năng khiếu của mình.
Ở trường, Livermore rất giỏi toán. Trên lớp cậu có thể giải nhẩm phương trình và đưa ra đáp số, hoặc có thể đưa ra nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán. Có lần cậu còn thách đố thầy giáo thi xem ai giải một bài toán phức tạp nhanh hơn. Cậu đã thắng. Livermore nhanh chóng tiến bộ trong môn toán và được theo học nhiều khoá học cao cấp để thỏa mãn sự khao khát được học thêm của mình.
Toán học như một người bạn và nó đến với cậu rất dễ dàng. Cậu chỉ cần một năm để hoàn thành các bài toán ở trường mà bình thường phải giải trong ba năm. Cậu có thể nhớ trong đầu rất nhiều con số và công thức. Các con số luôn phải đầu hàng trước một bộ não như máy tính của cậu.
Khi Livermore 13 tuổi, cha cậu giải thích rằng giáo dục là không cần thiết đối với cuộc sống của người làm trang trại đơn thuần. Đến năm 14 tuổi, cha Livermore bắt cậu thôi học và đưa cho cậu những chiếc áo lao động. Cha giải thích rằng, cậu sắp chính thức trở thành chủ trang trại và bắt buộc phải đóng góp cho chi tiêu của gia đình.
Nhưng Livermore đã thông minh hơn. Cậu làm ra vẻ chiều theo ước mong của người cha, nhưng thực tế cậu trốn đi với sự ủng hộ của mẹ. Trong vòng vài tuần, với năm đô la được mẹ cho
trong túi, cậu trốn khỏi trang trại và bắt một chiếc xe ngựa tới Boston. Cậu hiểu rằng làm như vậy là đúng. Cậu cần phải bắt đầu khám phá thế giới và thử vận may của mình. Trong khi chưa có kế hoạch gì đặc biệt, cậu vẫn biết là mình đang đi đúng hướng.
Khi đến Boston, Livermore mới chỉ 14 tuổi. Tuy vậy, trong cái thế giới của người lớn ấy, cậu đã lập sẵn chương trình cho cuộc sống của mình và khắc sâu nó vào trong não. Cậu nhận ra giá trị của công việc nặng nhọc. Cậu có cái sức mạnh của sự lầm lì, ít nói và cái quyết tâm của người dân New England - những người chỉ quen làm việc với mảnh đất khô cằn, với thời tiết khắc nghiệt và với những rối loạn về tài chính.
Hình ảnh người đàn ông trong Livermore dựa vào khuôn mẫu của người cha: lầm lì, chịu khó, cứng cỏi, xa cách, không tình cảm, quyết đoán, ít giao tiếp, và là người độc tài trong gia đình. Hình ảnh người phụ nữ trong cậu chính là hình ảnh của mẹ cậu và các cô gái cậu gặp ở trường: hiền dịu, thông minh, đảm đang, tình cảm và giàu tình thương. Cậu cũng biết rằng phụ nữ có vẻ yêu mến và luôn đối xử tốt với cậu.
Ở tuổi 14, cậu đã nhận ra rằng thành công, thịnh vượng và danh tiếng chỉ có thể đến trực tiếp qua lao động trí óc chứ không phải bằng lao động chân tay. Cậu cũng nhận ra rằng hành động là phải đếm được - chứ không phải nói được, điều này thì Livermore học được từ cha mình.
Nhưng chính mẹ Livermore đã cho cậu số tiền ít ỏi cần thiết để đi đến Boston cho cuộc sống mới. Cậu sẽ trả lại cho bà ngay khi có thể. Trả nợ đã ăn sâu vào cậu và đó là điều cậu bé đã làm trong suốt cuộc đời, cho dù phải mất bao nhiêu thời gian.
Livermore đến Boston năm hơn 14 tuổi, cuộc sống chỉ mới bắt đầu nhưng cậu không bao giờ quên những bài học khi còn nhỏ. Tuy nhiên, lúc này cậu cần tập trung vào tương lai của mình.
Cậu cất giữ hình ảnh về mẹ và cha mình ở một ngăn trong tim và khoá chặt ngăn đó lại. Nếu muốn thành công thì Livermore không thể sao nhãng công việc. Khả năng dồn nén tình cảm, chia tình cảm thành ngăn cậu có được một cách tự nhiên. Livermore có thể làm việc mà không phụ thuộc vào tình cảm trong cuộc sống. Cậu đã chiến đấu cả đời để tách biệt hoàn toàn giữa công việc kinh doanh của mình với cuộc sống riêng tư. Và cậu hầu như đã thành công.
Ở tuổi 14, Livermore có mái tóc vàng hoe, mắt xanh, gầy mảnh và thông minh với nụ cười duyên và hàm răng trắng đều. Cậu có lòng tự tin rất vững chắc.
Livermore xuống xe ngựa ở Boston và đứng ngoài văn phòng Paine Webber một lát, quan sát kẻ ra người vào, rồi bước vào bên trong. Cậu quan sát những khách hàng đến và đi. Những thiết bị nhận điện báo giá cổ phần luôn kêu lách cách và xổ ra những vạt băng giấy màu trắng dài vô tận. Những chú bé dán bảng thì chạy lên, chạy xuống dọc theo cái bảng xanh có chiều dài bằng cả căn phòng như những vũ công trên sân khấu. Họ đánh giá cổ phần nhanh không kém người gọi cổ phiếu - thường là một khách hàng ngồi ở phòng dài đang quan sát cái băng giấy - kêu niêm yết giá hiện tại cho họ.
Các vị khách ngồi trên những chiếc ghế đối diện bức tường, hau háu quan sát chiếc bảng dài, thỉnh thoảng đứng dậy, đến bên những người môi giới của họ như thể họ đang đặt cược trong cuộc đua ngựa vậy. Livermore quan sát thật kỹ từng hành động: tiếng kêu lách cách của những thiết bị nhận điện báo thông tin cổ phiếu, tiếng lách cách của phấn viết lên bảng và tiếng mọi người nói chuyện to, hào hứng. Tất cả những hoạt động đó khiến cậu rất hứng chí. Những ngón nó khiến cậu có cảm giác ngập ngừng chạm vào quả cầu thuỷ tinh của thiết bị nhận điện báo, tay cậu vừa nóng, vừa lạnh. Nó giống như một quả bóng trong suốt, do đó ngoại trừ bạn có thể đọc được vận may của nó thì bạn sẽ giàu như Croesus, người giàu nhất thế giới. Livermore
quan sát. Mọi người đang giàu lên từng giây dựa vào những gì cái băng giấy vô cảm kia biểu hiện. Cậu không hề nghĩ đến thất bại.
Cậu thích mùi của căn phòng này, đặc quánh với mùi thơm của gỗ, phấn, giấy và mực, cả sự phấn khích đầy sinh lực của con người, người ta pha cà phê và ăn ngay trên bàn. Cậu thích cái tinh tuý này ngay từ giây phút bước chân vào văn phòng của Paine Webber ở Boston.
Livermore đã đi quá xa trang trại.
Cậu bảo như thế mặc bộ quần áo rộng thùng thình. Mẹ cậu để cậu còn có thể mặc được khi lớn lên. Cậu thấy người quản lý, ông ta hít một hơi thật sâu và vỗ vào vai cậu. Người quản lý này là một người đàn ông trạc ngoại tứ tuần. Ông ta nhìn Livermore và nhận ra một chú bé quê mùa, một quả bí ngô vùng nông thôn.
“Cháu muốn gì đây, cậu bé?” ông ta nhìn cậu hỏi. “Một việc làm ạ”.
“Cháu có biết gì về các con số không?”
“Có ạ”.
“Có thấy những đứa trẻ ngoài lối đi kia đang dán những con số không?”
“Có ạ”.
“À, chúng ta đang thiếu một cậu bé viết bảng. Một người được ta trông đợi nhưng chưa xuất hiện”. Ông ta thăm dò Livermore. “Cháu sẽ là đứa bé ấy chứ? Cháu sẽ không làm ta thất vọng chứ?”
“Không thưa ông. Cháu sẽ cho ông thấy.”
Ông ta mỉm cười: “Được. Ta sẽ trả công cho cháu, chú bé ạ. Chính ta đã bắt đầu bằng cách ấy đấy, tức là làm một cậu bé viết bảng.”
“Vâng, thưa ông.” Livermore trả lời.
“Và hãy nhìn ta này, sau 25 năm, bây giờ ta đã là ông chủ nơi đây. Đừng bao giờ quên rằng đây là nước Mỹ, chú bé ạ, bất kỳ ai cũng có thể làm bất cứ điều gì nếu họ quyết tâm. Bây giờ, ta không thể đứng đây nói ba hoa với chú cả ngày. Ta đang kiếm tiền. Cháu muốn có một công việc phải không?”
“Vâng, thưa ông”.
“Được. Hãy cởi cái áo khoác của anh trai cả cháu ra chú bé, và hãy bước lên hành lang này.”
“Cháu không có người anh nào cả.”
“Ta không bận tâm cháu có hay không. Ta chỉ giễu cháu chút thôi, nhóc ạ, vì cái áo của cháu rộng quá. Hãy bước lên đây đi. Chú mày chưa bị giễu bao giờ à?”
Người quản lý quan sát khi cậu bé Livermore lột chiếc áo khoác ra và leo thang lên hành lang. Cậu ngay lập tức nhặt một viên phấn cạnh một trong những cậu bé khác.
“Đây, nhóc, hãy cầm lấy cái này.” Một thằng bé đưa cho cậu một chiếc áo văn phòng làm bằng lông len anphaca.
“Nhóc hả? Anh gọi tôi là nhóc? Anh cũng chỉ là một thằng nhóc mà thôi.” Livermore nói.
“Tao không phải là nhóc. Tao đã làm công việc này bốn năm rồi.” Thằng kia mỉm cười.
“Này chú bé.” người quản lý gọi Livermore.
“Gì ạ?” Livermore trả lời, e sợ rằng ông ta đã thay đổi ý định về công việc.
“Cháu chưa hề hỏi ta về tiền công.”
“Vậy công sẽ là bao nhiêu ạ?” Livermore trả lời.
“Sáu đô la một tuần,” người quản lý trả lời. “Và chú bé, không được làm như thế nữa, phải luôn biết thương lượng. Đừng lấy những cái mà tên kia đưa cho cháu. Có thể ta sẽ tăng lên bảy đô la. Ý ta là, ta đã cho cháu một đầu mối. Ta đã nói với cháu rằng ta đang cần một cậu bé. Cháu sẽ được nhận được nhiều hơn cháu có thể làm việc ở thế giới này. Hãy biết thương lượng.”
“Vâng thưa ông.”
Người quản lý nháy mắt với cậu và trở lại làm việc.
Livermore ở Boston chưa được nửa giờ. Cậu đã có một công việc và một bài học miễn phí về thương lượng, và cậu đã quyết định tự mua cho mình một cái áo vừa vặn. Cậu không muốn bị chế giễu về cách ăn mặc của mình.
Livermore đã tự tìm cho mình một căn phòng có bảng, gần các văn phòng Paine Webber. Hàng ngày cậu thức dậy rất sớm và luôn là người đầu tiên đến văn phòng, thường phải chờ người quản lý tới để mở cửa văn phòng. Cậu yêu thích tất cả mọi thứ trong công việc của mình. Làm một cậu bé viết bảng cũng giống như đi học đại học về thị trường chứng khoán. Livermore khám phá về bí mật của văn phòng. Ban đầu thì chú mù tịt, nhưng mỗi ngày qua đi, chú bé lại khám phá thêm được điều mới lạ và hiểu ra rằng nếu một ngày nào đó có thể phá được mật mã và phát triển một hệ thống mua bán thì cậu sẽ trở nên giàu có.
Livermore đã tiếp cận với mọi thứ: cuộc nói chuyện của những người môi giới, của khách hàng với nhiều thủ thuật và từ khách hàng chơi với những phiếu chào hàng được dán lên bảng thông
tin vào mỗi buổi sáng. Cậu học được những lý thuyết sáng tạo về giao dịch mua bán vào thời gian nhàn rỗi, trong giờ nghỉ và vào bữa trưa. Văn phòng được dùng vào một việc, đó là kiếm tiền từ hoạt động của thị trường chứng khoán. Mỗi người ở đây là một người chơi. Livermore và những đứa trẻ khác là một phần của cuộc chơi ấy. Chúng đi lên đi xuống dọc theo hành lang, viết những giao dịch thực lên bảng.
Làm việc với bảng sẽ trở thành một trong những chìa khoá cho sự thành công của Livermore sau này. Cậu nhanh chóng nhận ra rằng những gì mà những người môi giới, những khách hàng hay báo chí nói là không đáng tin cậy, thứ duy nhất quan trọng là những gì viết trên băng giấy. Cậu cũng quan sát thấy những gì viết trên băng giấy rất hiếm khi đúng với điều dự đoán của những người môi giới hay của khách hàng. Cái băng giấy có cuộc sống riêng của nó, và đó là cuộc sống quan trọng nhất. Phán quyết của nó mới là cuối cùng.
Livermore thích những hoạt động thật sự chỉ mang tính chất chân tay tức là viết các yết giá lên bảng vì cậu có một trí nhớ hình ảnh khi nó chuyển thành số. Trí nhớ về các con số của cậu là hoàn hảo - tiếng hô các yết giá từ thiết bị nhận điện báo là không đủ nhanh đối với Livermore. Cậu chưa bao giờ tụt lại sau trong việc viết những yết giá cho dù chúng đến nhanh như thế nào chăng nữa. Chúng vụt đến trong não cậu giống như củi chất thành đống.
Cuối cùng thì Livermore phát hiện ra những mô hình lặp lại thể hiện rõ ở những con số. Đến đêm, khi còn một mình trong phòng, cậu viết ra những con số mà cậu còn nhớ được. Cậu cũng bắt đầu ghi lại những con số vào nhật ký và cả những mô hình con số lặp lại chắc chắn đã phát sinh. Cậu còn nhận thấy rằng, các con số chuyển động với quy tắc sóng nhất quán, thường là có xu hướng lặp lại nhịp nhàng. Khi giá của một cổ phần bắt đầu tăng lên hoặc giảm xuống, thì xu hướng ấy sẽ vẫn tồn tại cho đến khi có một áp lực nào đó làm cho nó biến đổi ngược lại. Đầu
mối của hoạt động này thường là bắt nguồn từ những mô hình số.
Cậu nghĩ: “Cổ phần hoạt động phù hợp với những quy luật vật lý. Một vật thể hoạt động luôn có xu hướng giữ hoạt động ấy cho đến khi có một lực hoặc một trở ngại nào đó làm nó dừng lại hay bị thay đổi”. Cậu giữ những ghi chép về cổ phần cẩn thận và cậu lại phát hiện ra rằng: Có những mô hình trong mô hình, thậm chí xuất hiện những mô hình lớn hơn.
Livermore bí mật giữ cuốn nhật ký và không bàn luận với ai về những quan sát của mình. Cậu có bản tính kín đáo. Cậu rất tự tin về khả năng toán học của mình, thậm chí mới ở tuổi 14. Bên cạnh đó, cậu quá bận rộn trong việc viết những con số và quan sát hoạt động của thị trường trên bảng để chú ý vào biểu đồ trong suốt thời gian mua bán.
Bởi vì Livermore làm việc với bảng - lắng nghe những yết giá được đưa ra, những giá bị xoá đi, viết những con số mới hàng trăm lần một ngày, hàng nghìn lần một tuần - nên cậu học được cách chỉ quan tâm đến sự thay đổi về giá cả chứ không quan tâm đến nguyên nhân của sự thay đổi đấy. Cậu không lãng phí phút nào để cố gắng hợp lý hóa hoạt động của cổ phần. Có hàng triệu lý do vì sao giá lại thay đổi. Những lý do sẽ xuất hiện sau đó, sau sự thật. Nhưng đến khi người ta hiểu ra những lý do này thì sự thay đổi sẽ trở thành một sự kiện của quá khứ và lúc ấy đã là quá muộn để kiếm tiền.
Quyển sổ nhỏ của Livermore được viết cẩn thận và cực kỳ chính xác. Ở tuổi 15, cậu bắt đầu tìm kiếm những mô hình lặp lại, khám phá một hệ thống, cố gắng tìm ra những quy luật hoạt động của toán học tự nhiên trong thị trường.
Livermore cũng thấy rằng đa số người chơi trong văn phòng đều thua lỗ. Những người này có vẻ như đang hành động không có mục đích. Họ không có kế hoạch, không có cách tiếp cận thị
trường một cách nhất quán và hợp lý. Họ chỉ đang đánh bạc, giống như đi trên một con đường mòn, chỉ chơi bằng linh cảm. Có ngày họ chơi theo sở thích, ngày hôm sau chơi theo suy đoán viển vông hoặc dùng các lời mách nước; hoặc họ sẽ mua một phiếu chào hàng và chơi theo gợi ý của người mách nước - một hành động chơi chứng khoán tuỳ tiện.
Những ngày này là những ngày gây ra nhiều kích thích với Livermore. Cậu yêu thích từng giây phút của mình trong các thị trường, và cậu sắp kiếm được tiền vì điều ấy.
Sau sáu tháng liên tục làm việc như vậy, cuối cùng Livermore đã ghi lại hàng loạt những cá cược trong cuốn sổ nhỏ của cậu và cậu luôn theo dõi chúng, cậu vẫn thiếu một phần rất quan trọng của phương trình và cậu biết điều ấy. Cậu đã mua cổ phần đầu tiên. Cậu hiểu rằng nếu cậu không thực sự mua một cổ phần thì sẽ không bao giờ biết cách điều khiển được bản thân mình như thế nào. Giống như một con bạc mà chưa bao giờ đặt cược thì sẽ chỉ có nói suông và suy đoán cho đến khi anh ta chịu quẳng tiền ra. Cậu kiêu căng khi một người đầu cơ đã đặt cược thì mọi thứ sẽ thay đổi. Chỉ khi đó người đầu cơ mới bước vào một mớ tình cảm nóng bỏng. Livermore biết rằng cậu sẽ luôn kiểm soát được trí tuệ của mình và đó là một trí tuệ lớn. Điều cậu không biết chính là liệu cậu có kiểm soát được tình cảm của mình hay không.
Cậu đã quan sát mọi người trong văn phòng Paine Webber và cậu biết chính tình cảm của cậu sẽ cứu hay huỷ diệt cậu - đặc biệt là vui mừng và lo sợ, hai cảm giác ma quỷ của thị trường. Hoặc là bạn kiểm soát chúng hoặc là sẽ bị chúng kiểm soát.
Đã đến lúc Livermore mua một cổ phần, nhưng cậu có rất ít tiền. Vậy thì, cậu có thể mua một cổ phần giá rẻ ở đâu?
Livermore sau này lấy vợ và có 2 người con trai là Jesse Jr và Paul. Ông đã kể lại cho chúng nhiều lần về nơi mà ông đã tìm
được những cổ phiếu rẻ: các văn phòng cá cược nhỏ dựa vào giá cổ phần hiện thời.
“ Ngày 6 tháng 11 năm 1928, trong một phòng bệnh tối tăm ở bệnh viện ven vùng Hell’s Kitchen phía Tây Manhatan, ông vua kiếm tiền đã qua đời. Qua bóng tối lan dần trong trí não, ông có thể nghe một giọng mệt mỏi liên tục nhắc lại câu hỏi: “Ai đã làm việc đó, ông Rothstein?” giọng nói này hỏi một cách lơ đãng và máy móc: “Ai đã bắn ông?”. Nhưng Rothstein không trả lời. Phản ứng duy nhất của ông là từ từ quay mặt vào tường và lẩm bẩm: “Nếu tôi sống, tôi sẽ nhằm tới nó.” Sau đó ông nhắm mắt và qua đời.”
- William Klingaman, 1929: Năm Đại Phá Sản -
Arnord Rothstein, được thế giới ngầm biết đến như là một “bộ não” kiếm tiền thiên tài. Ban đầu, ông ta là một con bạc, nhưng sau hàng loạt những thành công lớn ông ta trở thành ông vua của thế giới ngầm. Ông ta bị buộc rất nhiều tội, trong số đó có việc dàn xếp một loạt vụ của thế giới “Tất Đen” năm 1919. Gia sản của ông ta rất lớn. Những vòi bạch tuộc tài chính của ông ta vươn đến tận từng ngõ ngách của nước Mỹ trụy lạc.
Hầu hết những văn phòng cá cược trong các thành phố lớn của nước Mỹ là một phần trong số rất nhiều cổ phần của Rothstein. Văn phòng đó trông giống như văn phòng của một người môi giới. Nó có một phòng trưng bày cho khách hàng, một bảng phấn để ghi lại những yết giá cổ phần, và một thiết bị nhận điện báo thông tin cổ phần luôn hoạt động xổ ra những giao dịch hàng ngày dựa vào dữ liệu hiện thời. Nhưng nó giống một văn phòng chuyên cá cược đua ngựa hơn là một văn phòng của người môi giới thực sự. Ở văn phòng cá cược, người giao dịch có thể thao túng thị trường với 10% biên lợi. Nói một cách khác, người giao dịch chỉ cần có 10% giá của cổ phần mà họ muốn mua. Các quy tắc thật đơn giản: Yết giá 10% và đánh cược bằng cách mua một cổ phần, một cái thẻ với số mua sẽ được in ra
ngay lập tức và đưa cho người mua. Cái thẻ này sẽ chỉ ra thời gian, giá mua cổ phần cùng với số lượng cổ phần được mua. Người mua sẽ quan sát các yết giá. Và ngay khi cổ phần này xuống giá10% giá trị thì cửa hàng sẽ giữ cổ phần này và nhanh chóng thu lại số tiền. Ngược lại, nếu giá cổ phần tăng lên và người đầu cơ thắng thì họ sẽ đến chỗ nhân viên thư ký, người đánh dấu giá của giao dịch lần cuối cùng trên thiết bị điện báo nhận thông tin cổ phần bằng bút chì vào thẻ. Sau đó người đầu cơ đi đến bên cửa sổ buồng thang máy để thu tiền. Đó là cuộc chơi của gã khờ, khả năng công ty thắng là 95% cho mỗi lần giao dịch.
Điều quan trọng nhất cho văn phòng này hoạt động là tiền để mua cổ phần không bao giờ được gửi tới sàn giao dịch chứng khoán. Đó chỉ đơn giản là văn phòng đặt trước; văn phòng sẽ tổ chức cá cược giống như một người làm công nhận tiền cược trong các vụ đua ngựa. Nó hoạt động nhanh và mạnh mẽ. Người giao dịch có thể mua ít nhất năm cổ phần hoặc nhiều nhất số cổ phần mà văn phòng có thể cung cấp - trị giá hàng nghìn đô la.
Bởi vì Livermore không có vốn, không có tiền đặt cược nên tất yếu là cậu sẽ bước vào những văn phòng cá cược này - một thế giới do các ông trùm tội phạm kiểm soát. Bây giờ chỉ còn là vấn đề khi nào và như thế nào.
Vào năm 1892, khi Livermore 15 tuổi, một người bạn của anh là Billy - một cậu bé khác trong đội viết bảng - tiếp cận cậu: “Jesse, cậu có tiền không?”.
“Tớ đang ăn trưa”.
“Đừng bận tâm về bữa trưa. Cậu có tiền không?”.
“Vì sao?”.
“Tớ có một lời mách nước về công ty Steel. Tớ cần người đi cùng.”
“Cậu sẽ chơi như thế nào hả Billy?” Livermore hỏi.
“Văn phòng cá cược. Tớ sẽ chạy qua đó và chơi trong thời gian ăn trưa.”
“Cậu cần bao nhiêu tiền?”.
“Tớ cần năm đô la. Tớ muốn mua năm cổ phần của công ty U.S Steel. Người ta đang bán nó với giá mười đô la.”
“Chờ một lát”. Livermore thò tay vào trong túi và lấy ra tập giấy viết.
Billy hỏi: “Tập viết đó để làm gì?”.
“Tớ đang đọc lá số tử vi của mình cho ngày hôm nay”, Livermore trả lời. Cậu kiểm tra lịch sử những số liệu giao dịch của công ty U.S Steel trong tập giấy viết của mình. Những con số biến động cùng một mô hình như chúng thường biến động trước khi cổ phần lên giá. Cậu hài lòng rằng đó là một cơ hội tốt: “Được rồi”.
Cậu giao tiền cho bạn. Hai ngày sau đó cậu mỉm cười sung sướng khi bỏ túi phần thắng của mình - hơn ba đô la lãi ròng. Livermore đã tham gia vào cuộc chơi. Cuối cùng thì cậu đã trở thành người chơi thực sự.
Livermore bắt đầu tự đến các văn phòng cá cược và luôn luôn dùng tập giấy ghi của mình để kiểm tra giá chính xác các yết giá của cổ phần mà cậu theo đuổi và tìm ra các mô hình. Cậu đã phát triển một hệ thống và bám chặt vào nó. Cậu chơi cả hai mặt của thị trường, mua cổ phần nếu các con số của cậu mách bảo cậu như vậy, hoặc là bán khống cổ phần nếu các con số của cậu chỉ về phía thấp hơn. Điều ấy chẳng có gì xa lạ gì với cậu.
Chẳng bao lâu Livermore đã kiếm được nhiều tiền từ các văn phòng cá cược hơn là từ công việc cậu đang làm. Vì vậy, cậu bỏ việc và chính thức tham gia thị trường trong các văn phòng cá
cược tại Boston. Khi chưa đến 16 tuổi, cậu đã có hơn 1.000 đô la tiền mặt. Cậu quay lại thăm nhà. Mẹ cậu vui sướng khôn xiết khi con trai bà trở về; còn cha cậu thì chỉ lắc đầu thích thú. Bằng cách nào mà một cậu bé 16 tuổi có hợp pháp trong tay hơn 1.000 đô la tiền mặt?
Livermore đã đưa một nửa tiền thắng của mình cho cha mẹ và trả tiền mẹ cậu. Trở lại Boston với số vốn hơn 750 đô la và tiếp tục với công việc mà cậu sẽ làm cả đời. Cậu làm việc một mình, không bao giờ cho ai biết cậu đang làm gì, không bao giờ nói cho bạn biết, không bao giờ vay tiền. Cậu chuyển từ văn phòng cá cược này đến văn phòng các cược khác để không gây sự chú ý. Chiến thuật hành động một mình này đã có tác dụng tốt với cậu và nó phù hợp với cá tính của cậu. Cậu sẽ làm như vậy cả đời - mua một mình và bí mật, bán một mình và bí mật, không cho bất kỳ ai biết.
Niềm thích thú của cậu bắt nguồn từ suy nghĩ đúng - dùng bộ óc của mình để chiến thắng chứ không dùng chân tay, không dựa vào các mối quan hệ, không dựa vào khả năng thuyết phục của mình, mà chỉ dùng quyền năng của bộ óc minh mẫn để tìm ra điều mà không phải nhiều người có thể tìm ra: cách kiếm tiền từ thị trường chứng khoán. Niềm hào hứng bắt nguồn từ những lần chiến thắng - không phải là tiền, dù tiền cũng rất hấp dẫn. Tiền chỉ đến khi đánh giá của cậu là đúng.
Chính ở cái tuổi trẻ này mà Livermore có được biệt danh là “Cậu bé liều lĩnh”, biệt danh này là do nhìn cậu quá trẻ và có những khoản cá cược rất lớn ở các cửa hàng.
Cũng giống như con bạc luôn chiến thắng sẽ bị cấm cửa khỏi một sòng bạc, Livermore cuối cùng cũng bị cấm cửa khỏi các văn phòng cá cược ở Boston sau khi đã tích luỹ được nhiều từ những lần thắng cuộc. Tất cả những người chủ văn phòng cá cược trên đều biết “Cậu bé liều lĩnh” là ai và cậu ta trông thế nào. Cậu đã cố gắng đổi tên và thay đổi cả cách ăn mặc nhưng họ vẫn
nhanh chóng nhận ra cậu với các thủ thuật ấy. Livermore lại thử một chiến thuật mới: đầu tiên giả thua và sau đó thắng lớn khi kết thúc cuộc chơi. Chiến thuật này chỉ có hiệu quả trong một thời gian ngắn, và kết cục luôn là cậu bị đuổi ra ngoài và bị đe dọa phải kiếm ăn ở nơi khác.
Livermore đã giết các văn phòng cá cược đó. Đầu tiên họ nghĩ cậu chỉ là một cậu bé thì làm sao mà cậu biết được? Nhưng ngay sau đó những người quản lý văn phòng này biết được chính xác những gì cậu đã biết, ngay cả các hộp tiền của họ. Ông chủ tối cao trong hầu hết các vụ này là Arnold Rothstein và ông ta luôn theo sát các công việc kinh doanh của mình. Những người quản lý cũng có những miếng ăn riêng của họ cần phải canh chừng. Livermore, hiện bị cấm cửa ở các văn phòng cá cược ở Boston, đã mang các lý thuyết, hệ thống và các quy tắc mua cổ phần của mình lên thành phố lớn New York với hy vọng chơi tại các văn phòng cá cược ở đây. Thật không may cho Livermore, thị trường chứng khoán New York và cảnh sát đã hoàn toàn đóng cửa các văn phòng tổ chức cá cược ở New York. Vì vậy, Livermore sẽ lại phải tìm một mảnh đất khác để dụng võ.
Cậu tính toán rằng với các quy tắc ấy, hệ thống ấy sẽ vẫn áp dụng được trong các trung tâm môi giới lớn. Cậu quả quyết những lý thuyết của mình sẽ vẫn đứng vững.
Livermore đã nhầm.
Cậu đến Manhattan với 2.500 đô la. Số tiền được cược ở các văn phòng cá cược ở Boston tổng cộng đã hơn 10.000 đô la nhưng cậu đã gặp phải nhiều thay đổi trước khi rời Boston đến New York. Những thay đổi này làm Livermore phiền lòng và vì thế cậu phân tích những gì đã xảy ra. Cậu không bao giờ đổ lỗi cho thị trường. Thật phi logic khi lại đi tức giận với một vật thể bất động, như là con bạc phát điên lên tại bàn đánh bạc với những con bài. Cậu luôn muốn học hỏi từ những lỗi lầm của mình và kiếm lời từ những lỗi lầm ấy. Chẳng có gì phải tranh luận với cái
băng giấy cả. Cái băng giấy ấy luôn đúng, chính những người chơi mới sai. Livermore điểm lại những giao dịch không tốt của mình và những kết luận rút ra là rất rõ ràng.
Kết luận đầu tiên của Livermore là cậu đã thắng khi mọi nhân tố đều ủng hộ cậu, khi cậu kiên trì và đợi đến khi mọi thứ đã vào quy luật của nó. Điều này dẫn cậu đến kết luận thứ hai rằng không người nào có thể giao dịch hoặc nên giao dịch liên tục ở cùng một thị trường. Có nhiều khi người giao dịch nên rút tiền ra khỏi thị trường để chờ đợi.
Nhiều năm sau, bạn cậu là Bernard Baruch đã khẳng định kết luận xuất hiện từ lâu này. Baruch thường nói: “J.L, tôi nghĩ đã đến lúc đi săn gà gô trắng rồi”. Sau đó Baruch đã bán tất cả đất đai của mình và chuyển đến Hobcaw Barony lừng danh - một đồn điền rộng 17.000 mẫu Anh - ở miền Nam Carolina. Những bãi cát biển và những khu đầm lầy muối mặn của đồn điền này đã ban tặng một nơi săn vịt tuyệt nhất nước Mỹ - và nơi đây không có điện thoại.
Livermore, lúc này 20 tuổi, ở New York với một ít tiền mặt trong túi nhưng không tiếp cận được một văn phòng cá cược nào. Vì thế anh bước vào Bảng Lớn - Sở giao dịch chứng khoán New York. Anh quyết định làm việc cho các văn phòng của E.F. Hutton. Mọi người ở văn phòng của Hutton rất thích anh, và danh tiếng ở các văn phòng cá cược của anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho anh. Ở Phố Wall đáng trọng này, biệt danh của anh được chuyển từ “Cậu bé liều lĩnh” thành “Cậu bé đầu cơ”. Với số tiền đặt cọc rất nhỏ, anh hầu như không thể trông đợi trở thành một kẻ đầu cơ giữa những người chơi lớn.
Đầu tiên Livermore làm tốt và đã kiếm được nhiều khoản hoa hồng cho những nhà môi giới nhưng cuối cùng anh bị trắng tay. Anh phải làm việc 6 tháng để cuối cùng mất hết. Rốt cuộc là anh đã đứng về phía sai lầm của cuốn sổ phân loại. Anh nợ tiền của các nhà môi giới.
Bất mãn với chính bản thân mình, Livermore đã đến gặp E.F. Hutton vào một buổi tối sau khi thị trường đã đóng cửa.
“Tôi cần một khoản vay, Ed ạ”. Anh nói.
Hutton hỏi: “Bao nhiêu?”
“Một nghìn đô la”.
“Tôi sẽ cho anh một khoản tín dụng trị giá một nghìn đô la trong tài khoản của anh”.
“Không, tôi cần một khoản vay”.
“Vì sao?”
“Tôi không thể đánh bại Phố Wall ngay lúc này. Tôi sẽ quay trở lại các văn phòng cá cược. Tôi cần một khoản tiền vốn, sau đó tôi sẽ quay lại”.
“Anh không làm gì được đâu”, Hutton nói. “Anh có thể đánh bại các văn phòng cá cược, nhưng anh không thể đánh bại phố Wall”.
“Trước hết, khi tôi mua hoặc bán một cổ phần ở một văn phòng cá cược, tôi đã dựa vào băng giấy. Khi tôi giao dịch ở doanh nghiệp của ông, chuyện ấy đã trở thành quá muộn khi lệnh của tôi bị đẩy xuống sàn. Ví dụ nếu tôi mua nó với giá 105 và lệnh của tôi sẽ được thực hiện ở mức 107 hoặc 108, tôi đã mất đi biên lợi ngon ăn và hầu như thua cả cuộc chơi. Ở văn phòng cá cược, nếu tôi mua cổ phần dựa vào băng giấy, tôi sẽ ngay lập tức nhận được mức 105. Điều tương tự cũng đúng khi tôi muốn bán khống, đặc biệt là một cổ phần năng động nơi mà buôn bán diễn ra rất nặng nề. Ở văn phòng cá cược, ví dụ tôi đặt bán phiếu của mình ở mức 110 và nó thực hiện ở mức 110, nhưng ở đây nó có thể được thực hiện ở mức 108. Vì thế tôi sẽ nhận được nó từ cả hai phía.”
“Nhưng chúng tôi cho anh những biên lợi tốt hơn ở những văn phòng cá cược”. Hutton nói.
“Và đó chính là cái giết tôi đấy Ed ạ. Hãy xem, với biên lợi thêm từ ông, tôi có thể chịu được một cổ phần - không giống như ở văn phòng cá cược thì thay đổi 10% sẽ gạt tôi ra khỏi cuộc chơi. Vậy đấy, vấn đề là tôi muốn cổ phần, chẳng hạn tăng lên hoặc giảm xuống. Giữ cổ phần đó lâu hơn sẽ không tốt cho người đầu cơ như tôi bởi vì tôi đã cược là nó sẽ tăng lên. Tôi có thể chịu mất 10% nhưng tôi không thể chịu mất 25% biên lợi. Tôi phải làm lại quá nhiều để giành lại tiền”.
“Vậy, tất cả những gì anh phải mất ở các văn phòng cá cược là 10%, bởi vì họ sẽ bán hết cổ phần của anh?”
“Đúng thế, và hóa ra đó lại là may mắn. Tất cả những gì tôi từng muốn mất trong bất kỳ một cổ phần nào là 10%”, Livermore nói. “Bây giờ, ông cho tôi mượn tiền chứ?”
“Một câu hỏi nữa.” Hutton mỉm cười. Ông thích chàng trai trẻ này. Anh là một động lực có thể hợp tác, một động lực trí tuệ. “Vì sao anh nghĩ rằng anh có thể quay lại đây lần nữa và đánh bại thị trường?”
“Bởi vì lúc ấy tôi sẽ có một hệ thống giao dịch mới. Tôi coi đấy là một phần của sự tự giáo dục.”
“Anh đã đến đây với bao nhiêu tiền, Jesse?”
“Hai nghìn năm trăm đô la”.
“Và anh rời đi với món nợ hàng nghìn đô la,” Hutton nói, móc ví và lấy ra 1.000 đô la tiền mặt và đưa cho Livermore. “Với 3.500 đô la là anh có thể theo học tại Harvard đấy.”
“Tôi sẽ kiếm được nhiều tiền hơn nhiều bằng sự tự giáo dục ở đây so với học tại Harvard”. Livermore nói, mỉm cười khi nhận
tiền.
“Không hiểu sao, tôi tin anh, Jesse”.
“Tôi sẽ trả lại ông món tiền này”. Livermore nói và cất tiền vào túi.
“Tôi biết anh sẽ trả. Hãy nhớ đầu cơ ở đây khi anh quay lại. Chúng tôi thích làm ăn với anh”.
“Vâng thưa ông, tôi sẽ làm vậy”. Livermore nói.
Ed Hutton nhìn anh ra đi. Ông không hề nghi ngờ gì về việc ông sẽ gặp lại chàng trai này.
Những lựa chọn của Livermore về đầu cơ tại các văn phòng cá cược bị hạn chế. Bờ biển phía Tây không hứa hẹn gì với anh, vì thế anh có ý định qua Trung Mỹ. Anh hướng tới Saint Louis, nơi anh đã được nghe nói về hai văn phòng cá cược rất lớn.
Livermore đi bằng tàu hoả tới Saint Louis, thuê một khách sạn, tắm rửa rồi tiến về phía một văn phòng cá cược đầu tiên. Đó là một doanh nghiệp lớn với một phòng trưng bày có sức chứa hơn 200 người. Anh bắt đầu thật chậm, dùng một cái tên giả và chơi dè dặt. Anh đã đầu cơ trong ba ngày cho đến khi anh được chọn ra. Anh đã tăng số tiền cược của mình từ 1.000 đô la lên tới 3.800 đô la.
Vào buổi sáng của ngày thứ Ba, anh được gọi đến văn phòng của ông chủ và được chào đón bằng: “Xin chào, ông Jesse Livermore. Xin mời ngồi”.
Họ đã nhận ra anh. Họ bảo anh rằng anh bị cấm đến các văn phòng cá cược và phải rời đi ngay lập tức.
Anh nhanh chóng đi sang một văn phòng cá cược khác, chỉ cách một ngôi nhà. Anh đến bên cửa sổ và bắt đầu chơi.
“Một nghìn năm trăm cổ phần BRT”.
Nhân viên thư ký vừa mới bắt đầu viết phiếu thì người quản lý đã xuất hiện và đứng trước Livermore. “Tiền của anh không có giá trị ở nơi này. Chúng tôi không phải là những thằng khờ ở đây - tại căn phòng này, những tên khờ là những kẻ như anh đấy, Livermore”.
“Ông biết tên tôi?”
“Và cả cách chơi của anh”. Ông ta đưa lại tiền cho Livermore. “Nghe này…”
“Không, anh hãy nghe đây. Anh nghĩ là tôi đã không nhận được điện thoại từ phía đầu đường về anh à? Bây giờ, tôi chỉ yêu cầu anh một lần này nữa thôi. Hãy mang thứ chết tiệt của anh ra khỏi đây đi!”
“Nghe có vẻ không giống như là ông đang yêu cầu đâu”, Livermore trả lời, lấy lại tiền của mình.
Ngày tiếp theo anh đi tàu quay trở lại New York. Anh đến văn phòng của E.F. Hutton. Anh trả lại khoản tiền 1.000 đô la mà anh đã mượn.
“Ông có lấy lãi không?” Livermore hỏi với một nụ cười.
“Tôi sẽ lấy lãi từ phần hoa hồng của anh. Anh đã không mất nhiều thời gian nhỉ. Họ đã cho anh à?”
“Đúng thế, họ đã phát giác ra tôi trong vòng bốn ngày”. “Anh đã làm như thế nào?”.
“Không hay ho lắm. Tôi đã quay trở lại là tôi như khi tôi vừa bước đến đây sáu tháng trước”.
“Vậy bây giờ là Harvard hay là Phố Wall đây?”.
“Không, hoặc là Phố Wall hoặc là không đâu hết”.
“Anh sẽ làm cách nào để có một hệ thống mới có thể đánh bại Phố Wall trong vòng bốn ngày đây?” Hutton hỏi.
“Tôi không phải đánh bại Phố Wall. Tôi cần phải chiến thắng chính tôi, tình cảm của tôi”.
“Đó là điều thông minh nhất mà tôi nghe được từ anh đấy, Jesse. Chúc may mắn”.
“May mắn à?”.
“Đúng thế, Jesse. Tất cả chúng ta đều cần một chút may mắn trong cuộc đời. Bây giờ chúng tôi sẽ mở lại tài khoản của anh”.
Livermore đầu cơ trong vòng vài tháng. Nhưng khi anh tính tổng tài khoản của mình, anh mới nhận ra rằng anh thậm chí vẫn chỉ là trắng tay. Mặc dù, rất tự tin, nhưng anh vẫn chưa lập được một hệ thống chiến thắng nhất quán để thao túng thị trường như anh đã làm với các văn phòng cá cược.
Thế rồi một ngày anh chàng tên Bill Sullivan bước vào văn phòng của E.F. Hutton và nói với Livermore rằng người quản lý của văn phòng cá cược Saint Louis đã kiếm một món lãi béo bở trong một cuộc dàn xếp đua ngựa và đã chuyển đến bờ biển phía Đông. Để tránh cảnh sát New York, ông ta đã mở một phòng tổ chức cá cược tại Hoboken, bang New Jersey, ngay phía bên kia bờ sông. Sullivan bảo Livermore rằng đó là một phòng chơi không giới hạn. Không có giới hạn nào về số lượng cổ phần mà người giao dịch muốn mua hoặc bán.
Livermore chờ đến ngày Chủ nhật, đi xung quanh vài vòng trước khi bước vào văn phòng cá cược của Hoboken. Vào những ngày chủ nhật thì văn phòng chỉ mở cửa đến 12 giờ. Văn phòng
có quy mô khá rộng, một cái bảng yết giá lớn, một phòng trưng bày cho khách hàng và có đủ nhân viên thư ký để phục vụ khách. Livermore giả vờ bị câm và chơi vài lệnh lúc sớm. Sau đó, đến hơn 11 giờ, anh đánh cược 2.000 đô la tiền mặt và mua cổ phần trị giá 2.0000 đô la. Những cổ phần này tụt giá, và chỉ 5 phút trước khi thị trường đóng cửa anh bán khống hết bằng tiền mặt. Lợi nhuận của anh là 6.000 đô la. Anh đến thu tiền nhưng người thư ký không có đủ tiền để trả hết cho anh. Họ bảo anh quay trở lại vào thứ hai để lấy nốt tiền.
Vào thứ hai anh xuất hiện. Đang chờ anh chính là người đàn ông mà anh nhìn thấy lần cuối ở Saint Louis.
“Livermore, anh muốn gì?”
“Tiền của tôi”.
“Tôi đã bảo anh không bao giờ chơi trong cơ sở của tôi khi anh còn ở Saint Louis. Đây là New Jersey, và tôi cũng không muốn anh chơi ở đây. Chẳng có tiền nào cho anh ở đây, vào ngày thứ hai này”.
“Trả tiền cho tôi”, Livermore gằn giọng.
Người đàn ông nhìn anh một lúc lâu.
“Này, ít nhất thì tôi đã chơi trung thực, không giống như cái trò đua ngựa phiêu lưu của ông”, Livermore nói tiếp và nhìn chằm chằm. “Nếu ông muốn kinh doanh ở cái xứ này thì tốt hơn là hãy trả tiền cho tôi”.
Một đám đông đã tụ tập phía sau Livermore. Anh nhắc lại: “Tôi muốn nhận tiền của mình. Tôi đã chơi đẹp và sòng phẳng”.
“Anh đã bị cấm”.
“Không phải ở đây trên đất Hoboken này. Bây giờ, trả tiền cho tôi!”.
Cuối cùng người đàn ông gật đầu. Viên thư ký móc ra vài tờ ngân phiếu mệnh giá 1.000 đô la cho đến khi Livermore nhận đủ tiền, đủ 6.000 đô la.
“Livermore, tôi có một ông chủ, một ông chủ rất khắc nghiệt. Vì vậy hãy làm ơn đừng bao giờ quay lại nơi này”.
Livermore nhìn vào mắt ông ta, gật đầu rồi bước ra. Anh cho tiền vào túi và nghĩ về tình huống vừa rồi trên đường trở về Manhattan.
Ngày hôm sau anh gọi Bill Sullivan, người đã nói với anh về cái văn phòng cá cược. “Nghe này Bill, cảm ơn anh đã gợi ý về cái nơi đó ở Hoboken. Tôi muốn anh giúp tôi một chuyện nhỏ”.
“Như thế nào?” Sullivan hỏi.
“Tôi sẽ cấp vốn cho anh, và tôi muốn anh đi đến Hoboken và chơi vái ván nhỏ. Sau đó khi đến lúc phù hợp, tôi sẽ cho anh lời mách nước”.
“Vậy phần của tôi là bao nhiêu?”
“20% cộng với phí tổn đi đường. Tôi sẽ cấp vốn cho anh 1.000 đô la”.
“OK, Livermore”.
Livermore chờ đến khi Sullivan đã thích nghi và sau đó hành động. Anh bán khống và thắng được đúng 4100 đô la sau khi trả 20% và chi phí.
Livermore hiện đã có tài sản hơn 10.000 đô la, và anh quyết định trong tương lai sẽ gắn chặt cuộc đời vào thị trường chứng
khoán, khi không còn văn phòng cá cược nào. Bây giờ anh đã bị cấm vĩnh viễn và sớm hay muộn thì Arnold Rothstein, bộ não, sẽ can thiệp vào và sẽ hỏi thăm anh. Nếu điều đó xảy ra, anh giữ được mạng sống đã là may mắn rồi chứ đừng nói đến giữ được số tiền anh đã kiếm được. Bên cạnh đó, anh đã lấy lại được gia tài của mình, lớn hơn bao giờ hết. Bây giờ nó hoàn toàn phụ thuộc vào anh để anh sử dụng chơi chứng khoán.
Bên cạnh đó, Livermore đã chán chơi nhỏ trong các văn phòng cá cược. Anh muốn chơi lớn hơn, một trò chơi hợp pháp thông qua những người môi giới được cấp phép, nơi mà số tiền kiếm được hay mất đi của người giao dịch là không giới hạn như anh đã phát hiện ra sau này.
Đánh bại thị trường đã trở thành thách thức không bao giờ dừng đối với cuộc đời Livermore. Đánh bại thị trường không khác gì thuật giả kim: biến chì thành vàng. Thị trường biến giấy thành vàng và tạo ra may mắn cho những giấc mơ hoang dã nhất của bất kỳ ai. Thị trường là nơi 100 đô la biến thành 1.000 đô la, 1.000 đô la biến thành 1 tỷ đô la và 1 tỷ đô la biến thành 100 tỷ đô la. Tất cả những gì người đầu cơ phải làm là xác định sự thay đổi trước khi chúng xảy ra và cũng giống như bất kỳ một câu đố nào, đáp số luôn nằm ở đây. Tất cả những gì người đầu cơ phải làm là đoán ra nó.
Và Livermore rất tự tin rằng anh có thể tìm ra lời giải cho câu đố ấy.
Chương 3
ĐỘNG ĐẤT Ở SAN FRANCISCO LÀM RUNG CHUYỂN NEW YORK
Nhà Đầu Cơ
C
ách dùng hiện đại đã đánh đồng thuật ngữ nhà đầu cơ với kẻ đánh bạc hoặc con bạc liều mạng. Thực chất thì từ này bắt nguồn từ cách đánh vần chữ La tinh, nó có nghĩa là khám phá và theo dõi.
Tôi đã định nghĩa một nhà đầu cơ là một người dự đoán tương lai và hành động trước khi nó xảy ra. Để có thể làm việc này thành công - đó còn là một khả năng vô giá của con người trong giải quyết mọi vấn đề, cần thiết phải có ba yếu tố sau:
Thứ nhất, bạn phải biết được bản chất của tình huống hay vấn đề đó.
Thứ hai, bạn phải hình thành phán đoán về những sự thật đã được báo trước.
Thứ ba, bạn phải hành động đúng thời điểm, trước khi quá muộn.
Tôi đã nghe nhiều người nói một cách thông minh - thậm chí rất thông minh - về một điều gì đó chỉ chứng minh là họ bất lực khi điều đó diễn ra như họ nghĩ. Nếu trì hoãn hành động cho đến khi sự cần thiết đã quá rõ ràng với mọi người là quá muộn.
Rõ ràng là mọi mối nguy hiểm phải đặt lên hàng đầu và nên tránh xa.
- Bernard Baruch, Câu chuyện của tôi -
Livermore đã nghiên cứu những sai lầm của mình một cách khách quan. Những năm sau này, ông thường nói với các con ông rằng: “Cách duy nhất mà các con được dạy dỗ về thị trường là hãy đầu tư tiền, theo đuổi việc kinh doanh và tự nghiên cứu sai lầm của mình!”
Về mặt tình cảm, con người rất khó để nhìn lại các lỗi lầm của chính mình, và người đầu cơ cũng phải vất vả với những vụ đầu cơ thất bại và những sai lầm ngớ ngẩn của anh ta. Đây không phải là những sai lầm ngốc nghếch mà là những sai lầm phải trả bằng tiền bạc. Bất kỳ ai đã từng mất tiền vì đầu cơ sẽ khốn khổ biết rằng kiểm tra lại những gì đã xảy ra là khó như thế nào.
Sự kiểm tra việc mua bán thua lỗ thật đau khổ nhưng là cần thiết để chắc chắn rằng điều đó sẽ không xảy ra thêm một lần nữa. Livermore rất nghiêm khắc khi tự phân tích bản thân. Ông đã nói với các con về kết luận của mình: “Đối với người đầu cơ thì những vụ giao dịch thành công luôn là một trận chiến về tình cảm chứ không phải trận chiến về trí tuệ. Chỉ sau khi đã cược vào một cổ phần hay một hàng hóa, khi tiền đã chuyển từ tiền mặt trong tay thành giấy chứng nhận cổ phần thì tình cảm mới nhảy vào cuộc sống”.
Livermore đánh đồng các nhà đầu cơ (giao dịch với tư cách cổ phần ảo) với những tay súng giỏi trong tầm bắn. Tay súng này làm cách nào trong một cuộc đọ súng tay đôi, khi đối diện với một khẩu súng đầy đạn của đối thủ? Đó là khi nỗi sợ hãi làm tăng điềm gở, các dây thần kinh căng thẳng và đứt ra, quyết tâm bị thử thách và chẳng vì lý do gì.
Để đầu cơ, nhà đầu cơ phải là người chơi thực sự chứ không phải là nhà lý thuyết, nhà kinh tế học hay nhà phân tích. Anh ta phải là người chơi đã đặt tiền xuống bàn. Người thắng trong cuộc chơi không phải là người huấn luyện viên hay ông chủ đội tuyển
mà là những cầu thủ. Cũng giống như trên chiến trường, không phải những vị tướng chiến thắng mà đó là những người lính bộ binh trên mặt đất.
Đối với Livermore, mỏ vàng giàu nhất trên hành tinh đang tồn tại trên nền đá của Manhattan - Thị trường chứng khoán New York ở góc Phố Wall và phố Broad. Nhìn nó có vẻ dễ dàng - không cần phải tìm hiểu, không cần bản đồ và quyền khai thác. Nó chỉ mở vào những giờ nhất định và mời gọi mọi người đến khai thác để thử vận may của họ. Nhưng rất ít người thợ mỏ bước ra với một lọ đầy vàng.
Những sự thật tương tự cũng rất rõ ràng với những người đầu cơ vào cùng một thời điểm. Vì thế, không khai thác được cả đống vàng một cách thuận lợi là thất bại thuộc về từng cá nhân bởi vì mọi người về cơ bản đã bắt đầu như nhau. Nhưng nhiều vấn đề nảy sinh cũng giống như trong việc tìm vàng. Có những đầu mối không chính xác, vàng giả, những cái hố khô cạn, điều kiện thời tiết không thuận lợi, những tay bạn đồi bại, những cô gái nhảy, những người đấu súng và cả những kẻ đánh bạc chuyên nghiệp. Và hai trong số những vấn đề lớn nhất kể trên do là những tên chiếm đoạt vùng khai thác và những kẻ láu lỉnh, những kẻ có mưu đồ cướp vàng của những người thợ mỏ bằng cách cố gắng mua rẻ quyền lợi của họ hoặc bán cho họ những bản đồ lừa đảo.
Theo suy nghĩ của Livermore thì những kẻ láu lỉnh này xuất hiện ở Phố Wall trong vai trò những kẻ mách nước. Họ đứng ngay lối ra vào của cái mỏ vàng lớn và bán những món hàng của mình. Những kẻ vụ lợi này đưa ra những mách nước cho những người chưa thạo, thậm chí trước cả khi những người này có cơ hội tự đào vàng. Một con đường dễ dàng để thành công là những gì bọn chúng hứa - đào được quặng nhanh mà không cần phải làm gì.
Livermore để ý rằng những người mới vào nghề không bao giờ hỏi những câu đơn giản như:
• Vì sao anh lại chọn tôi để cho những lời khuyên vô giá này?
• Nếu anh có những thông tin này, thì tại sao anh lại không giàu?
• Điều gì đã khiến anh cho tôi lời khuyên này để mua một cổ phần? Có phải anh sẽ bí mật bán nó cho tôi với giá ngày càng cao lên?
• Nếu việc kiếm tiền lãi là dễ dàng thì vì sao anh lại chỉ quan tâm đến các khoản hoa hồng của mình?
Có rất nhiều cạm bẫy trên đường để đi đến đầu cơ thành công và Livermore hiểu rằng ông sinh ra là để rơi vào những cạm bẫy ấy. Tuy nhiên, ông không lo lắng nhiều lắm đến việc rơi vào những cái hố ấy bằng việc ông bị rơi vào hố liên tục, liên tục và liên tục.
Livermore cũng biết những quy luật cơ bản của thị trường như mọi người khác:
• Khi anh sai thì một điều không thể phủ nhận được là anh mất tiền.
• Khi anh đúng, anh kiếm được tiền.
• Vì thế, anh chỉ đúng khi anh kiếm được tiền và anh sai khi anh mất tiền. Quy luật này là không thể phủ nhận được, và đó là chân lý của việc đầu cơ.
Trong sự nghiệp của mình, Livermore quan sát thấy có nhiều người nói rất nhiều về thị trường như thể là nói ra như vậy có thể chuyển ngược vận may về phía họ hoặc như thể nỗi đau thất bại vì tham gia vào các quy luật cơ bản của việc đầu cơ sẽ giảm đi nếu họ thương hại người khác. Đó là một trong những lý do
khiến Livermore luôn luôn giữ im lặng về những đầu cơ của ông. Nếu ông thắng, khi ấy ông đã làm đúng. Nếu ông thua, nghĩa là ông đã làm sai. Vì sao phải than phiền? Vì sao phải giải thích?
Điều cần truy lùng duy nhất trong khi phân tích về các đầu cơ của ông là tìm ra lý do vì sao ông kiếm được tiền hoặc vì sao ông mất.
Với Livermore, cuộc sống trên thương trường cũng giống như những điều nhà thơ Omar Khayyám viết trong bài thơ tứ tuyệt sau:
Những gì tay bạn viết ra
Và những gì viết trong kinh thánh
Lòng mộ đạo hay trí thông minh
Cũng không thể xoá đi một chữ nào của nó
Có khóc mãi cũng chẳng thể xoá đi được một dòng
Đó là vào năm 1899, hai năm trước khi bước sang thế kỷ XX. Lúc ấy, Livermore 22 tuổi, ông đã có 10.000 đô la để đầu cơ, và ông có bảy năm kinh nghiệm để tin tưởng. Ông biết rằng thị trường chứng khoán không giống như chơi ở các văn phòng cá cược, nhưng ông đã đánh bại các văn phòng cá cược. Chẳng có lý do gì khiến ông không thể không đánh bại thị trường chứng khoán một lần nữa.
Livermore mở lại tài khoản ở văn phòng E.F. Hutton như ông đã hứa sẽ làm. Lần này Livermore giao dịch cẩn trọng hơn nhưng vẫn theo các quy tắc cũ của mình là đầu cơ trong một thời gian ngắn, dõi theo cái băng giấy gần như từng giờ hay số liệu từng ngày. Ông bắt đầu làm tốt hơn. Ông sống vui vẻ và kết bạn nhiều.
Tháng 10 năm 1900, ông cưới Nettie Jordan, một cô gái người Ấn mà ông đã gặp trong những ngày còn chơi ở các văn phòng cá cược miền Trung Tây. Hai người chung sống trong khách sạn Windsor ở đại lộ số 5. Vào các mùa hè, Livermore thuê một ngôi nhà tranh ở Long Branch thuộc bang New Jersy, ngay gần biển để ở. Ông đi du ngoạn lần đầu tiên tới Châu Âu với Nettie trong suốt thời kỳ này và tại đấy ông đã mua cho nàng những món trang sức trị giá hơn 12.000 đô la.
Sau đó tất cả những sòng bạc phá sản vào năm 1901 với một sự phát triển cực mạnh của thị trường. Một thị trường đầu cơ lên giá đã phát triển. Nước Mỹ rất thịnh vượng và thị trường bắt đầu lên cơn sốt - kỷ lục cũ 250.000 cổ phần được giao dịch trong một ngày đã bị phá vỡ bằng con số 3 triệu cổ phần giao dịch trong một ngày. Những nhà tỉ phú thép, tài chính, và đường sắt cũng chuyển tới New York để thu hẹp khoảng cách hoạt động. Những con bạc lớn cũng sẵn sàng đút tiền vào nơi họ muốn ăn. Thời kỳ chuyển giao thế kỷ là thời kỳ sống sôi động.
Có rất nhiều huyền thoại ở Phố Wall lúc ấy, nhiều nhân vật trong số họ sẽ sống mãi trong lịch sử Phố Wall như: John Gates “cược một triệu”, John A. Drake, Loyal Smith Page, và Hetty Green khét tiếng - một nhân vật quyền lực là nữ đầu tiên của Phố Wall.
Hetty Green rất đặc biệt. Cuốn 100 bộ óc thao túng thị trường của Kenneth L. Fisher đã ghi lại rằng bà ta rất sắc sảo, không ngần ngại biến 6 triệu đô la thành 100 triệu đô la. Bà ta cũng rất tiết kiệm, mặc bộ quần áo hôi hám, không bao giờ giặt, đen và lỗi thời với những giấy chứng nhận cổ phần được khâu vào trong đường viền. Hàng ngày bà ta xuất hiện như một bóng ma đen, trôi dạt từ những căn nhà ổ chuột của mình tới tòa nhà Ngân hàng hóa học Quốc gia. Bà ngồi thụp xuống sàn, vắt chéo chân rồi xé cuống phiếu và nhồi nó vào viền chiếc áo đang mặc, liên tục ăn bánh sandwich và bánh quy mà bà ta đã nhét vào trong áo.
Với chiến thuật đầu tư thật đơn giản: Đầu tư rất nhiều vào những khoản mang lại khoảng 6% lợi nhuận và rẻ nhất có thể. Bà ta nói: “Khi tôi thấy một thứ tốt đang hạ giá vì không ai muốn nó, tôi sẽ mua thật nhiều và cất nó đi”. Bà ta giải thích thêm: “Nếu anh đầu tư 6 triệu đô la trong 51 năm với tỉ lệ 6% và không tiêu một hào nào trong đó, anh sẽ tích cóp được 117 triệu đô la. Như vậy thì có gì sai?”
Bà ta mua thật nhiều ở những nơi đang hoang mang về tài chính - tiền thế chấp bất động sản, các trái phiếu thành phố và trái phiếu ngành đường sắt. Những cổ phần này còn cho bà ta lợi nhuận thêm. Rất hiểu thị trường nhưng bà ta cũng hoạt động theo bản năng và theo lẽ thường. Bà ta đã thoát khỏi một thất bại tại Ngân hàng Knickerbocker trong cơn Trust hoảng loạn năm 1907. Bằng cách gì vậy? Bà ta tới ngân hàng và nói rằng: “Những người điều hành ngân hàng có cách ăn mặc sang trọng trời đánh, quần áo mới, giày mới, cavat mới. Tôi không thích điều đó”. Chỉ vài tuần trước khi cổ phần xuống giá là bà ta đã kịp rút ra hết.
Hetty Green là người phụ nữ chơi chứng khoán duy nhất vào thời điểm đó. Bà ta nói: “Tôi ước gì phụ nữ có nhiều quyền kinh doanh và mọi quyền khác hơn so với bây giờ. Đàn ông sẽ bằng mọi cách lợi dụng phụ nữ trong kinh doanh đến nỗi họ không hợp tác với đàn ông. Cả cuộc đời tôi đã phải tranh đấu với đàn ông ở các tòa án”.
Hetty có khả năng làm bất cứ thứ gì và khéo léo làm theo ý mình. Nếu bằng sự cằn nhằn và sự dai dẳng mà bà ta không biết được điều mình muốn là gì thì bà ta sẽ bật khóc. Nếu nước mắt cũng không xong thì bà ta bắt đầu đi kiện cáo. Nhưng sau đó bà ta luôn từ chối trả các khoản chi phí luật pháp. Hetty thường thuê thêm luật sư để bào chữa cho bà ta chống lại các luật sư cũ. Một lần bà ta chi 50 đô la cho việc xin cấp phép mang súng để mang một khẩu súng ngắn ổ quay. Khi được hỏi tại sao thì bà ta
nói: “Chủ yếu là để bảo vệ bản thân chống lại các luật sư mắc dịch của tôi”. Bà ta sợ tất cả những ai biết về mình.
Hetty chỉ yêu tiền. Bà ta thừa nhận con trai mình, Ned là người thừa kế. Bà chi trả học phí đại học và bắt cậu con trai hứa sẽ không lập gia đình trong vòng 20 năm. Ned đồng ý. Ned yêu mẹ cậu. Cậu ta chỉ có một chân. Khi Ned 14 tuổi, cậu ta đã bị thương ở đầu gối trong một vụ tai nạn trượt tuyết. Hetty đã từ chối mang cậu đến bác sỹ. Bà ta chăm sóc cái chân bị thương của cậu bé bằng thuốc đắp tự chế và đặt cậu ta lên giường. Khi bố cậu về nhà và nghe về những chuyện đã xảy ra ông đã điên tiết lên và ngay lập tức mang con trai đến bác sỹ. Bác sỹ đã buộc phải cắt chân của cậu bé đi vì nó đã bị thối loét.
Đó là thời đại của những nhân vật lớn.
Livermore nhận thức được cách tiếp cận thị trường của Hetty Green, đó là sự kết hợp giữa việc tằn tiện và sự góp nhặt, và ông biết đó là một chiến thuật nghe rất ghê gớm với một số người. Nhưng với ông thì không. Ông không tin số tiền lãi 6% hằng năm là tất cả những gì người ta có thể lấy được từ thị trường chứng khoán. Và chắc chắn rằng ông không thích một cuộc sống đạm bạc như của Hetty.
Thị trường năm 1901 thật điên đảo. Đó là một thị trường điên đảo đầu tiên mà Livermore đã chứng kiến với tư cách là một nhà đầu cơ Phố Wall. Điều này đã hình thành trong đầu ông một quy luật: Chưa có cái gì thay đổi trong thị trường chứng khoán. Thứ duy nhất thay đổi chính là những người chơi, những túi tiền và trí nhớ. Những người chơi mới không nhớ gì về các chu kỳ trước đó, bởi vì họ chưa từng trải nghiệm chuyện này.
Livermore đầu cơ phía thị trường giá lên năm 1901 và chơi đầu cơ dài hạn ngoại lệ với công ty Northern Pacific với 10.000 đô la tiền vốn ban đầu. Ông đã bỏ túi 50.000 đô la. Nhưng Livermore coi vụ này như là chơi một món cá cược lớn. Ông đang mong đợi
một sự đột phá lớn trong thị trường, một sự chỉnh sửa lớn hoặc đảo ngược chiều trong một ngày và sau đó là một sự phục hồi.
Vào đầu tháng năm, Livermore bắt đầu hành động.
“Bán khống 1.000 cổ phần của Steel với giá 100 đô la”. Ông sai người thư ký mới vài giây trước khi thị trường mở cửa. “Và bán 1.000 cổ phần của Santa Fe với giá 80 đô la”.
Viên thư ký biến mất, tay cầm tờ lệnh, để đưa ra lệnh gọi cho mọi người trên sàn giao dịch. Livermore đứng quan sát khi thị trường mở cửa và theo dõi các cổ phần mà ông đã bán khống, giá tụt nhanh như viên đá rơi. Ông thấy đã chứng minh được; dự đoán của ông là đúng. Đã có những rối loạn khi giá tụt xuống. Nhưng nụ cười của ông vụt biến mất khi ông nhìn thấy số lượng. Ông đột nhiên đứng bất động trong sợ hãi. Số lượng là rất lớn. Các hoạt động trước mắt trên sàn giao dịch là vượt quá các giới hạn mà những người giao dịch có thể buôn bán. Đó là một thị trường nhanh. Những phiếu được khớp lệnh khi đã quá muộn - 15 phút, 30 phút, một giờ, hai giờ và khi chúng được khớp lệnh, chúng được khớp ở mức giá cách quá xa so với giá mà khách hàng mong muốn.
Livermore nhận một lệnh mua trong những lệnh đang mở của mình. Ông nghi ngờ nhìn các lệnh mua. Cho dù các nhà môi giới của ông cũng giỏi như bất kỳ nhà môi giới nào ở Phố Wall, nhưng những lệnh mua của ông rất tồi tệ. Cổ phần ông định bán khống với giá 100 đô la chỉ được khớp lệnh ở mức 85 đô la. Cổ phần định bán khống ở mức 80 đô la chỉ được khớp lệnh ở mức 65 đô la. Đấy chính là giá ông muốn mua lại chúng để bù đắp chỗ bán khống của mình khi cổ phần phục hồi giá - điều mà ông tin là sẽ xảy ra sau ngày hôm đó. Ngay lập tức ông quyết định mua lại các cổ phần để bù đắp các vị thế bán khống.
Ông kêu viên thư ký: "Mua một nghìn cổ phần Steel và một nghìn cổ phần Santa Fe".
Viên thư ký cầm tấm thẻ chạy đi để báo xuống sàn giao dịch. Trái tim Livermore trùng xuống khi thấy các cổ phần của mình phục hồi giá. Ông quan sát cái băng giấy đang đưa lên. Ông biết các đoản vị của mình sẽ bị mua với lượng lỗ lớn vì sự hồi giá đã lên đến đỉnh điểm. Livermore đã làm một việc tồi tệ nhất mà một người đầu cơ có thể: ông đã vô tình bán với giá thấp nhất và mua với giá cao nhất.
Viên thư ký quay lại với những tấm thẻ. Livermore từ từ mở ra trong lòng bàn tay. Ông đã đưa vào đoản vị thế của mình 85 đô la cổ phần Steel và mua lại với giá 110 đô la, ông đã mất 25.000 đô la. Ông còn mất 25.000 đô la nữa với cổ phần Santa Fe. Livermore đã đúng, thị trường hoạt động đúng như ông đã dự đoán nhưng bây giờ ông đã trắng tay. Ông đã đầu cơ dựa vào máy nhận điện báo thay vì dựa vào những yết giá thật - những thứ đến quá nhanh trên sàn giao dịch mà chiếc máy nhận tín hiệu điện tín chậm chạp không thể nắm bắt được một cách chính xác. Trong cái thị trường rất nhanh này, chiếc máy chậm ít nhất là 2 giờ đồng hồ.
Ngày hôm ấy đã dạy cho Livermore một bài học lớn về vấn đề này. Ông đã giao dịch đúng thời điểm, đối với tình trạng bán khống, như ông đã thực hiện khi giao dịch ở các văn phòng cá cược. Nhưng chiếc máy nhận điện tín trong thị trường chứng khoán đã không báo cáo đúng thời gian - nó đã bị mắc kẹt trong khoảng thời gian bị trì hoãn, rơi lại thời điểm đằng sau trong khi ngày vẫn trôi qua. Cái băng giấy xổ ra giá đã hết hạn từ lâu, chứ không phải giá hiện tại. Cuối cùng thì Livermore đã rõ ràng rằng: rất khó theo kịp những giao dịch bán khống ở Phố Wall.
Nhưng Livermore đã đúng trong dự đoán của mình. Thị trường vận động chính xác theo những gì ông dự đoán; sai lầm duy nhất nằm trong cách thực hiện của ông. Ông đã chậm, vì những lệnh của ông đã không thể thực hiện nhanh như ông muốn. Hậu quả là, ông đã bán muộn và mua muộn.
Một lần nữa, Livermore bị phá sản trong chớp mắt. Sự kiện ấy đã làm ông vỡ mộng, chán nản, thất vọng và hoàn toàn kiệt sức. Ngày hôm qua ông có 50.000 đô la và tràn đầy tự tin. Ngày hôm nay ông hoàn toàn choáng váng. Điều an ủi duy nhất là ông tìm ra lý do vì sao ông thất bại.
Livermore rời New York, quay lại Boston và các văn phòng cá cược để bắt đầu lại từ đầu và gây dựng lại vốn. Ông cũng phải suy nghĩ lại về phong cách sống của mình. Ông đã quen với mức sống cao. Đó là một phong cách sống cần có tiền để nạp năng lượng và bây giờ ông đã hết tiền.
Điều này tất nhiên có tác động đến cuộc sống hôn nhân của ông. Trước đây mọi thứ trong gia đình của hai vợ chồng mới cưới rất tốt cho đến khi Livermore phá sản lần nữa vào năm 1901. Ông yêu cầu Nettie mang cầm món đồ trang sức của cô - món đồ trị giá 12.000 đô la mà ông đã mua cho cô ở Châu Âu – dùng làm khoản vốn để ông có thể quay lại chơi ở các văn phòng cá cược.
Cô ta từ chối. Việc này đã tạo ra khoảng cách vĩnh viễn giữa ông và Nettie, nhưng cô không thích việc cầm đồ trang sức của mình. Cuối cùng thì họ sống ly thân. Lúc này ông vừa phải sống cháy túi lại vừa bị ly thân với cô vợ trẻ.
Thị trường là tất cả những gì Livermore biết. Vì thế ông hít một hơi thật sâu, quyết định phải lấy vốn và quay lại Phố Wall. Ông cống hiến mọi sức lực của mình cho mục tiêu: kiếm tiền.
Một lần nữa ông quay trở lại văn phòng cá cược nhưng thật không may, họ vẫn nhớ mặt ông ở Boston. Không ai nhận lệnh của ông. Ông nhờ người vào để cá cược và thực hiện các giao dịch, nhưng họ nhanh chóng bị phát hiện. Chẳng bao lâu Livermore không còn chỗ nào để đầu cơ.
Thật may mắn cho Livermore, một văn phòng cá cược của một người lai vừa được thành lập. Văn phòng cá cược mới này thậm chí trông giống như một trụ sở môi giới sang trọng và quảng bá
g g g ộ ụ g g ọ g q g sự sát nhập của của nó bằng một công ty môi giới thực thụ có ghế ngồi để giao dịch. Và, trên thực tế, trong một số hiếm trường hợp, những văn phòng cá cược này thực sự đã đưa cổ phiếu của khách hàng lên sàn giao dịch chứng khoán, nhưng họ lại thiên về cá cược các phiếu đó. Họ giữ các lệnh này trong nhà, không khớp lệnh, và đánh cược lại khách hàng với việc huỷ bỏ giao dịch bằng cách thực hiện kế toán trong nhà trong khi khách hàng muốn kết thúc giao dịch hoặc có nhiều khả năng bị trắng tay vì sự biến đổi về biên lợi.
Các văn phòng ở đây không nhận ra nên ông nhanh chóng móc ngoặc với năm người trong số họ. Họ hứa với ông là họ sẽ có mặt tại thời điểm giá xuất hiện trên băng giấy. Nói cách khác, họ sẽ cơ bản cho ông một lệnh khớp tức thời.
Vì vậy, Livermore quay trở lại cách giao dịch cũ của ông dựa vào thông tin trên chiếc băng giấy, thu những món lợi nhỏ trong nhiều giao dịch hàng ngày. Ông phải gây dựng được số vốn trước khi có thể quay lại Phố Wall. Ông lập ra một văn phòng nhỏ có năm máy điện tín nối trực tiếp với các văn phòng cá cược. Ông giao dịch dưới một bí danh vì ông vẫn sợ bị phát hiện. Ông cũng cài đặt máy điện tín khác nối trực tiếp với một nhà môi giới chính thống ở New York, nó giống như thiết bị nhận tín hiệu thông tin chứng khoán của ông, mà dựa vào đó đã có lần ông kiếm đủ lợi nhuận. Ông tiếp tục đầu cơ tốt hơn trong năm ấy bằng cách này và đã kiếm đủ để mua một chiếc ô tô. Ông bắt đầu cải thiện vốn đầu cơ của mình. Nhưng cùng với việc những giao dịch và thắng lợi của ông tăng lên thì càng ngày càng khó để thuyết phục những cơ sở này cho phép ông đầu cơ, đặc biệt kể từ khi tiền chủ yếu đi theo một con đường: từ các kho của họ chảy vào két của Livermore.
Các văn phòng này bắt đầu vào cuộc chơi với Livermore khi quy mô vị thế giao dịch của ông tăng lên. Nếu Livermore chấp nhận mua một cổ phần với một vị thế lớn và biên lợi lớn, văn phòng môi giới sẽ ở vị thế bán, bắt kịp ông được vài điểm khi ông phải
bù đắp. Khi họ có thể chơi như vậy thành công thì ông sẽ bị mất tiền.
Nhưng thường là ông thắng. Cuối cùng, khi vốn của ông đủ lớn, ông đảo ngược tình thế với họ. Ông tìm ra một cổ phần đã từng rất năng động trong một thời gian nhưng hiện đã bị quên lãng và hầu như không được giao dịch - một cổ phần ngủ quên.
Livermore nối máy điện tín với một trong năm văn phòng cá cược và nói: “Hãy mua cho tôi một trăm cổ phần của Acme với giá 81 đô la, đó là giao dịch được ghi lại lần cuối cùng đấy”. Khi năm văn phòng cá cược khẳng định giá mua của ông là 81 đô la, ngay sau đó ông sẽ liên lạc với nhà môi giới thật sự của mình ở New York là E.F. Hutton.
Lúc này ông biết rằng, giá mua của mình là 81 đô la. Ông sẽ nói với Hutton: “Mua cho tôi 100 cổ phần của Acme với giá yêu cầu là 85 đô la”. Ông chờ cho việc mua đó hiện ra trên băng giấy và ngay lập tức bán vị thế của mình ở các văn phòng cá cược dựa vào giá 85 đô la, lãi thực bốn điểm, tức 2.000 đô la. Sau đó ông sẽ kết thúc giao dịch ở giá 85 đô la với vị thế 100 cổ phần ở New York.
Livermore chơi vố này với năm văn phòng trên vài lần. Sau đó, thật bất ngờ, ông có một vận may bất ngờ: một cổ phần mà ông chơi đã thực sự tăng lên 10 điểm so với giá mua. Ông bán 600 cổ phần và kiếm lời 6.000 đô la. Tuy nhiên, sau vụ giao dịch này, những văn phòng cá cược trá hình này đã nhận ra trò của Livermore. Tại một trong năm văn phòng ấy, ông đã gặp rắc rối khi ông đến thu tiền.
“Livermore, chúng tôi sẽ không trả tiền anh. Anh đã chơi khăm thị trường! Anh đã giao dịch dưới tên giả mạo”.
“Đừng buộc tội tôi về những gì ông đã làm”. Livermore trả lời.
“Anh đã tăng giá lên bằng cách mua ở New York. Anh tăng giá lên ngay sau khi chúng tôi chấp nhận vị thế của anh. Tự anh đã tăng giá lên”.
“Ông cho tôi quá nhiều tín dụng. Cái đầu giả dối của ông đã giáng vào tôi những gì ông có thể chứ không phải tôi”.
“Hãy ra khỏi đây. Tôi đã nghe nói về anh - Cậu Bé Đầu Cơ, phải không? Này, sẽ không có hiệu quả ở đây đâu và anh sẽ gặp rắc rối, rắc rối lớn đấy. Anh cùng với các bạn anh đã chơi khăm thị trường”.
“Tôi không bao giờ đầu cơ cùng với bạn. Tôi chỉ đầu cơ cho tài khoản riêng của tôi và tôi biết điều đó. Ông không có cách nào chứng minh được luận điệu sai lầm của mình đâu!” - Livermore nói.
“Nó chứng minh trong đầu tao, thế là đủ. Mày đã lừa đảo chúng tao ở đây”.
“Ông có một doanh nghiệp lớn với nhiều văn phòng. Tôi giao dịch một mình. Tôi lừa đảo ông thế quái nào được?”
“Tao không biết mày đã làm như thế nào nhưng mày đã làm đấy”.
“Ông chỉ nói là ông không biết. Ông không có bằng chứng. Ông chỉ không muốn đưa cho tôi những thứ sẽ thuộc về tôi.” Livermore lại cao giọng.
“Mày là thằng chết tiệt!”
“Ông sẽ không xua đuổi tôi bằng cách mang tôi ra mà chửi. Tôi có hóa đơn trong tay khẳng định với ông là phiếu của tôi để mua hoặc bán cho tài khoản của tôi. Giao dịch đã kết thúc. Ông nợ tôi tiền, 2.000 đô la. Ông định ăn quỵt hả?”
Livermore đang to tiếng và đám đông lại tụ tập sau lưng ông. Một điều mà các văn phòng cá cược không bao giờ được phép làm là không trả hết tiền cho một giao dịch đã kết thúc. Bởi vì như vậy là thú nhận có những hoạt động mờ ám, lời đồn sẽ vang xa và khách hàng sẽ rút lại tài khoản tiền mặt hàng loạt, sau đó là hỗn loạn, giống như một ngân hàng bị sụp đổ.
Im lặng. Cuối cùng người quản lý với tới ngăn kéo để tiền và lấy tiền ra. Ông ta lấy tiền ra khi khách hàng quan sát. Ông ta gầm gừ với Livermore khi ông ta trả cho Livermore đô la cuối cùng: “Không được quay trở lại đây. Đừng bao giờ trở lại đây, Cậu bé thiên tài ạ”. Livermore bỏ tiền vào túi rồi rời đi.
Ông đã dùng thủ thuật với họ giống hệt như cách họ thường dùng để huỷ diệt hàng trăm khách hàng - những người giao dịch với biên lợi mong manh và tự động bị huỷ diệt khi thị trường chống lại họ.
Đêm đó ông lên xe của mình và cùng với những người bạn đầu cơ đến New York. Trên đường đi, ông vẫn sử dụng những thủ thuật thường dùng của mình - điều đó dẫn đến một câu chuyện được ưa thích trong các câu chuyện về ông, về chuyện ông đã từng đến gần đại học Yale như thế nào.
Livermore và những người bạn của ông dừng ở New Haven và nghỉ trong một khách sạn. Khi họ ở trong khách sạn, họ đã nghe nói về hoạt động của một văn phòng cá cược trong thị trấn. Sự cám dỗ là quá lớn và hôm sau họ viếng thăm văn phòng này. Người quản lý văn phòng tiếp đón họ nồng nhiệt. Livermore mặc một bộ quần áo thuộc da nhẹ. Bạn ông mặc áo cộc tay màu xanh và quần kaki. New Haven là một trường đại học ở thị trấn và người quản lý ngay lập tức nhầm họ với những sinh viên đại học Yale. Và người quản lý quen với việc lừa đảo tiền của những loại người thuộc đại học Joe.
Ngày đầu tiên, Livermore chơi dè dặt, và người bạn làm ăn của ông cũng chơi theo phương châm ấy. Họ ở lại qua đêm thứ hai và họ xuất hiện vào sáng hôm sau, ngay khi thị trường New York mở cửa. Họ chơi cả ngày và lợi nhuận của Livermore đạt được gần 1500 đô la. Vào ngày thứ ba, ăn vận những bộ đồ đẹp nhất của sinh viên trường này, và quay lại lần nữa. Livermore bắt đầu ngày hôm đó bằng việc bán khống 500 cổ phần. Cổ phần đó sụt giá và Livermore ngay lập tức bù đắp trạng thái bán khống. Người quản lý chậm chạp trả tiền: 500 đô la biên lợi và 500 đô la lãi.
Khi mọi việc hoàn tất, người quản lý liếc nhìn đôi mắt xanh của Livermore, khuôn mặt trẻ tươi cười, mái tóc vàng của ông. Ông ta quan sát phong thái lịch sự và cách xử sự điềm tĩnh của Livermore. Ông ta không còn là một con người nồng nhiệt luôn chờ kiếm tiền từ những sinh viên giàu có và bất cẩn nữa.
Livermore đảo tiền trong tay và nói: “Tôi muốn bán khống 200 cổ phần của Steel”.
Người quản lý nhìn tiền trong lòng bàn tay của Livermore và không làm gì cả. Ông chỉ liếc nhìn và cuối cùng nói: “Các cậu không phải là sinh viên, có phải không?”
“Chúng tôi chưa bao giờ nói thế. Ông tưởng là thế thôi”. Livermore trả lời.
“Các anh là những kẻ gian lận, những kẻ giỏi xoay sở”.
“Chúng tôi là những kẻ gian lận, những kẻ giỏi xoay sở? Nếu đúng thế, chúng tôi đã chơi khăm thị trường theo ý chúng tôi. Ông đã thấy rằng chúng tôi liên tục ngồi đây, không gọi điện, không có hành vi bí ẩn, không có thủ thuật nào”.
“Các anh có một cơ chế chiến thắng nào đó, đó là cái các anh có”.
“Ông đã có một cơ chế cho các khách hàng thua cuộc. Họ bị mất hết mỗi lần họ mất biên lợi. Chúng tôi đã chơi bằng những quy tắc ấy. Hãy mua phiếu này với 200 cổ phần của Steel”.
“Đương nhiên là không, không bao giờ. Anh đã ép tôi. Hai tên khốn kiếp các anh đã ép tôi”.
“Xem này…”. Livermore tiếp.
“Không, không xem gì cả. Hãy đi ra khỏi đây ngay trước khi tôi nổi nóng”.
“Có vẻ như ông đã nổi nóng”. Livermore nói khi thấy nét mặt ông ta đã chuyển từ màu đỏ sang màu tía. “Thôi được, chúng tôi sẽ đi”.
“Và đừng bao giờ quay lại!”. Livermore nghe giọng hét của ông ta khi cánh cửa đã đóng sầm lại sau lưng. Người quản lý đã không hoàn toàn sai trong suy đoán của mình. Livermore lẽ ra đã từng học đại học, có thể tại đại học Yale. Nhưng Livermore quan tâm đến một trường đại học duy nhất - Phố Wall.
Đến giờ ông đã mất trắng hai lần, nhưng ông biết rằng đó là cách duy nhất một người có thể học hỏi trong nghề đầu cơ. Bạn phải mất, bởi vì nó dạy cho bạn phải làm gì, và nếu bạn mất một lần nữa thì lúc đó bạn là một kẻ chậm hiểu và bạn có thể sẽ lại mất. Đến nay, ông đã phải mất đi thời gian gần một năm do đó ông có thời gian để suy nghĩ về những lỗi lầm đã mắc phải.
Ông tin rằng lúc này ông đã sẵn sàng quay trở lại New York, quay lại Phố Wall.
Trong hơn 10 năm đầu cơ, Livermore đã học được các phương pháp của những nhà chuyên môn, những người theo phong trào hiến chương và những nhà toán học, tất cả những lý thuyết và kỹ thuật giao dịch được những người tốt nghiệp từ các trường kỹ sư thượng hạng và những trường kỹ thuật phát triển
ở Mỹ. Ông tin rằng tất cả họ đều rất xuất sắc, nhưng những kết luận của ông đều được phát triển từ những giao dịch thực tế, từ những tham gia trực tiếp vào thị trường và những phân tích liên tục. Phương pháp cuối cùng của ông đã bắt đầu hình thành trong não.
Ông đã tin vào những điều cơ bản sau:
• Luôn luôn phán đoán và đánh giá các điều kiện chung trước và quyết định tuyến ít bất lợi nhất. Đó là một thị trường có xu hướng tăng lên hay giảm xuống? Hay đó là thị trường bất biến - chuyển động về một phía, đang cố gắng tự quyết định?
• Nếu xu hướng chung của thị trường không theo ý bạn thì bạn đang chơi ở thế hoàn toàn bất lợi. Hãy nương theo dòng, chuyển theo xu hướng và đừng chèo thuyền trong bão.
Livermore đang tìm kiếm sự khác biệt giữa “chơi bạc” bằng cổ phần và “đầu cơ” bằng cổ phần. Và ông không bao giờ dùng từ “thị trường đầu cơ giá lên” hay “thị trường đầu cơ giá xuống” bởi vì những thuật ngữ này sẽ tạo ra những định kiến lâu dài về sau.
Bây giờ Livermore chơi ở một đấu trường khác hẳn ở các văn phòng cá cược, và ông biết điều đó - đó là lý do vì sao ông đã hai lần bị trắng tay. Trò chơi này lớn hơn rất nhiều và vì vậy có nhiều rủi ro hơn. Trước khi Livermore giải quyết một vấn đề, ông phải phát biểu về vấn đề đó và tự định nghĩa nó một cách trung thực.
Điều đầu tiên Livermore phân tích bây giờ và cũng chính là điều ông sẽ phân tích trong suốt cuộc đời còn lại - đó là phạm trù “thời gian”. Ông kết luận rằng trong cuộc sống cũ của ông tại các văn phòng cá cược, ông chỉ có thời gian trong chốc lát; nghĩa là, ông sống trong khoảnh khắc. Ông có cá cược vào khả năng những lúc thị trường xảy ra biến động và phản ứng với nó từng phút, từng giây.
Nếu ông muốn thắng ở Phố Wall, ông sẽ phải thay đổi chiến thuật để tích luỹ một tầm nhìn xa hơn, để phản ứng với tương lai. Ông sẽ phải kiên trì và tham gia vào thị trường ngay cả khi giá tăng hoặc giảm tất yếu, ông hành động và sau đó là kiên nhẫn chờ đợi.
Kết luận cuối cùng của Livermore thật rõ ràng: tham gia vào thị trường là tham gia chơi bạc; kiên trì chờ đợi và phản ứng khi có tín hiệu tham gia đầu cơ từ thị trường.
Và ông tin cách duy nhất để thử biện pháp này và chứng minh cho chiến thuật ở Phố Wall, là bằng tiền. Livermore đã đúng trong các hành động, nhưng sai về thời điểm. Bây giờ ông tham gia thị trường với một quan điểm và phương pháp luận mới.
Ông đã làm đúng mọi thứ, nhưng không phải tốt như ông mong đợi vì hai lý do sau: Cơ chế đầu cơ của ông vẫn không giống những gì ông muốn và ông vẫn phải nghe theo những người đầu cơ xung quanh khác. Thay vì chờ đến một vị thế chiến thắng ông lại bán sau khi chỉ được lợi vài điểm. Ông chấp nhận lý thuyết của chủ nghĩa Mác: “Anh không thể phá sản mà phải kiếm lợi” như là triết lý của mình. Ông cũng phải chịu ảnh hưởng từ những phương pháp đầu cơ cũ kể từ những ngày ông còn chơi theo kiểu đánh nhanh rồi chuồn, kiếm lợi nhuận trước khi thị trường chống lại ông. Nhưng căn bản đó là do rào cản về thông tin từ những người đầu cơ khác ảnh hưởng đến phán đoán của ông; những thủ thuật triền miên, đặc biệt là từ những người mà ông nghĩ là những người đầu cơ có hiểu biết và kinh nghiệm.
Có một người đầu cơ, một người chơi lớn, người mà ông đặc biệt ngưỡng mộ. Người đầu cơ này không có mẹo nào và chỉ đưa ra một lời khuyên cho bất kỳ ai đặt câu hỏi: “Đó là một thị trường đầu cơ theo giá lên” hay “Đó là một thị trường đầu cơ theo giá xuống” hay “Đó là một thị trường một phía, vẫn chưa quyết
định đi theo hướng nào”. Đây chính là những lời khuyên mà sau này Livermore vẫn giữ.
Bây giờ ông biết được rằng việc đầu tiên cần làm trước khi chơi là phải xác định xu hướng chung của thị trường. Mặt khác, một khi đã chơi thì phải tính đến kết quả của cuộc chơi. Bắt buộc không được bán cho đến khi ông thấy có lý do để bán - nếu xu hướng chung của thị trường ủng hộ ông và nếu không có những tình huống giảm nhẹ khác thì khi đó ông sẽ phải chơi.
Ông cũng nghiên cứu những người thua lỗ. Ông chia những gã khờ này thành ba loại:
1. Những người mới vào nghề ngu ngơ chẳng biết gì và họ cũng tự nhận thấy, nhưng họ vẫn chơi chứng khoán. Họ chịu được từ 3 đến 30 tháng.
2. Những gã khờ loại 2 - theo cách gọi của Livermore là những kẻ khù khờ nửa mùa - là những người nhận thông tin từ những kẻ thậm chí khờ hơn một bậc. Họ đã đi qua giai đoạn khờ khạo đầu tiên và hiện đã chuyển sang giai đoạn thứ 2. Họ trích dẫn những câu cách ngôn về thị trường và những lời dạy của các bậc hiền triết. Họ đủ thông minh để chơi lâu hơn so với những người khù khờ loại 1. Họ chịu được đến khoảng 42 tháng.
3. Những kẻ khù khờ loại 3 là người họ mong đợi những món hời, khi họ mua với giá rẻ nhất và chờ đến khi cổ phần phục hồi giá. Họ vẫn ổn cho đến khi họ mua phải một loại cổ phần không bao giờ phục hồi giá hay giá cứ giảm mãi.
Một quy tắc mà những kẻ khù khờ và phần lớn những kẻ đầu cơ không bao giờ học, đó là: không là một gã khờ!
Livermore cảm thấy rằng ở thời điểm này trong sự nghiệp của mình thì ông vẫn là một gã khờ, nhưng ông là một gã khờ thuộc loại đặc biệt. Ông tự gọi mình là một gã khờ có đầu óc cẩn thận (a careful mike sucker). Những gã khờ cẩn thận nghe theo người
khác và bán khống để thu lợi. Để tránh rủi ro, họ phải thấy được phần biến động lớn nhất của cổ phần diễn ra không theo ý họ. Họ chờ đến khi tụt giá nhưng điều này không bao giờ xảy ra, hoặc xảy ra quá nhanh mà họ chưa kịp hành động hoặc chỉ đơn thuần trong suy nghĩ của họ là cổ phần trở nên quá đắt để mua tiếp.
Livermore đã quyết định đó là những biến động lớn mà có thể kiếm được rất nhiều tiền. Nếu ông đúng và kiên nhẫn chờ cho đến khi bất lợi của những dao động và điều chỉnh tiêu cực qua đi thì ông sẽ chiến thắng. Tất nhiên điều này không có nghĩa là ông sẽ cứng nhắc và ở lại cho đến khi giá thị trường giảm mạnh. Quy tắc 10% ở các văn phòng cá cược theo ông suốt cuộc đời còn lại: nếu ông mất 10% so với giá mua vào ban đầu, thì sau đó ông sẽ khôi phục lại vị thế của mình.
Dần dần, qua những phân tích sâu và kỹ lưỡng, liên tục sửa chữa và trực tiếp tham gia mua bán cổ phần, Livermore đã mở ra và phát triển các quy tắc - những lý thuyết cơ bản của ông về thị trường chứng khoán và thị trường hàng hóa.
Sau đó ông phá vỡ mọi quy tắc của mình và gây dựng nên một gia tài khổng lồ.
Ông gọi đó là câu chuyện ma quái của mình. Ông rất thích kể câu chuyện này cho các con trai và các bạn bè của mình.
Đó là vào mùa xuân năm 1906, Livermore 29 tuổi đang đi nghỉ tại thành phố Atlantic. Ông đã từ bỏ tất cả những vị trí của mình trên thị trường chứng khoán và nghỉ ngơi tại bờ biển Jersey với một người bạn - một nhà đầu cơ khác. Tất nhiên, ông vẫn có tài khoản ở văn phòng của E.F. Hutton. Ở đó, ông đã mua một số lượng lớn khoảng 3.000 đến 4.000 cổ phần chênh lệch, với giá trung bình là 100 đô la. Điều này nghĩa là ông có khả năng chiếm được thị phần với 400.000 đô la. Đó là một thị
trường có xu thế phát triển ở mức trung bình biến động cùng với sự tăng lên một cách đều đặn của các cổ phần.
Một buổi sáng Livermore và bạn ông cảm thấy hơi buồn nên lang thang tới một chi nhánh của E.F. Hutton tại thành phố Atlantic để kiểm tra thị trường. Thị trường đang phát triển và bạn ông có một vị trí thuận lợi trên thị trường đầu cơ giá lên.
“Thấy chưa, thị trường vững giá, đúng như tôi đã nói. Hãy mua cái gì đó đi J.L”. Bạn ông nói.
Livermore im lặng đứng nhìn cái băng giấy khi nó lướt qua các ngón tay ông.
“Anh theo chúng tôi chứ J.L? Anh có nghe tôi nói gì không?”
Livermore như quên đi bạn mình. Ông tiếp tục im lặng quan sát cái băng giấy. Trong suốt cuộc đời đầu cơ của mình, Livermore hiếm khi bị tác động bởi sự bốc đồng, các linh cảm, những thôi thúc trực giác mà ông không hiểu rõ. Trong hầu hết các trường hợp, ông đều không theo các cảm giác đó, nhưng ông luôn theo dõi chúng và hầu như chúng cứ diễn ra. Ông không biết liệu đó có phải là sự thiếu minh mẫn không khi đưa ra những lựa chọn dựa vào kinh nghiệm tích luỹ được sau khi đã đầu cơ hàng triệu cổ phần hoặc liệu đó có phải là một kiểu thúc giục của tâm linh hay không. Có thể đó chỉ đơn giản là bản năng của người chơi bạc. Ông biết nó không tuân theo các quy tắc mà ông đã từng nghiên cứu và áp dụng cẩn thận. Những cảm giác ấy không tuân theo logic hay sự giải thích, nhưng chúng luôn giúp ông kiếm tiền. Trên thực tế, ông không biết đó là cái quái quỷ gì nhưng nó là một động lực rõ ràng để hành động. Vì vậy, một ngày mùa xuân năm 1906, ông đã hành động.
Ông bước tới bên viên thư ký: “Bán khống 1.000 cổ phần Union Pacific”.
Bạn ông cũng bước tới bên ông: “J.L, sao anh lại bán khống? Thị trường đang tăng giá cơ mà”.
Livermore cầm tờ phiếu lệnh và quan sát bạn ông trước khi trả lời: “Tôi không biết chính xác là vì sao. Tôi chỉ nghĩ làm như vậy là đúng”.
“Anh biết điều gì đó, phải không?” Bạn ông hỏi.
Livermore biết rằng nếu ông nói cho bạn biết là ông có một lời mách nước thì bạn ông sẽ ào tới và làm những gì ông đã làm. “Bạn thân mến, tôi đã nói rồi, tôi không có lý do rõ ràng nào khi làm như vậy”.
“Tôi biết anh chẳng bao giờ làm việc gì mà không có lý do. Trên thực tế, anh đã bảo tôi là những ai đầu cơ không có một kế hoạch phù hợp, thì đó là một kẻ ngốc. Bây giờ anh lại bảo tôi là anh không có lý do gì để bán cổ phần ngắn hạn của Union Pacific,” bạn ông nói. “Anh đang phá vỡ các quy tắc của chính mình, rõ ràng là như vậy!”
Livermore không nói gì. Ông quay người lại và bước tới chỗ người thư ký: “Bán khống 1.000 cổ phần Union Pacific nữa”.
“Anh điên rồi Livermore. Ba ngày tắm nắng, hít thở không khí đại dương làm anh đang bị suy nhược tinh thần rồi”.
Livermore cho phiếu lệnh vào túi.
“Chúng ta sẽ đi trước khi anh làm một điều gì khác ngu ngốc”. Bạn ông nắm cánh tay ông.
“Chờ một giây,” Livermore nói. Ông quay lại và bán khống 1.000 cổ phần lần thứ ba. Ông bỏ phiếu lệnh vào túi và theo bạn ông ra ngoài phơi nắng.
Sau buổi chiều đó, khi thị trường sắp đóng cửa, ông quay lại văn phòng môi giới để kiểm tra giá cổ phần của Union Pacific. Giá đã tăng gần hai điểm so với thời điểm ông bán khống cổ phần.
“Thấy chưa J.L. Tôi đã bảo anh mà, thị trường đã tăng giá và anh đã mất 6.000 đô la vì sự ngớ ngẩn của mình”.
Livermore không nói gì. Ông chỉ đơn giản mỉm cười và đi quay lại lối đi lót ván trên bãi biển và ngắm mặt trời lặn.
Ngày hôm sau ông quay lại vào đầu giờ chiều. Cổ phần đã tăng nhẹ cùng với thị trường nhưng gần tới lúc đóng cửa thì cổ phần này bắt đầu hạ giá. Livermore bán tiếp 2.000 cổ phần nữa.
“Anh hoàn toàn điên rồi, J.L” Bạn ông nói.
“Tôi nghĩ anh nói đúng, bởi vì bây giờ tôi phải quay lại New York. Tôi vừa vượt quá biên lợi và tôi cần quan sát khoản đầu tư của tôi. Kỳ nghỉ của tôi kết thúc rồi”.
Livermore quay lại New York vào buổi tối đó.
Đêm đó, ngày 18 tháng Tư năm 1906, lúc 5 giờ sáng, trong khi Livermore nhanh chóng đi vào giấc ngủ ở New York thì lòng đất ở San Francisco chuyển động. Mới đầu chầm chậm, kêu ầm ầm, sau đó là rung động, động đất, vỡ vụn khi một cơn sóng chấn động dưới lòng đất bắt đầu làm thành phố rung chuyển. Những kẽ nứt ở San Andreas đang tự điều chỉnh và nhiều linh hồn không may mắn đã bị vùi lấp trong chiếc dạ dày đang co bóp mà hiện chỉ còn là đất đặc. Những ngôi nhà cao tầng bị rung chuyển, sụp đổ và rơi xuống. Khu vực tài chính giờ chìm trong những mảnh vụn nóng bỏng, ga xe lửa giờ bị san bằng và đường ray bị xoắn lại và bẻ cong như những chiếc bánh quy mềm xoắn lại. Tiếng chuông nhà thờ nghe như xa tận Palo Alto. Khu đại học Stanford bị trận động đất làm sụp đổ. Rất nhiều người thiệt mạng.
Buổi sáng hôm sau Livermore đọc dòng tít trên báo “Thảm họa động đất ở San Francisco”. Ông đọc tiếp: “Hiện tại giá thị trường đã giảm vài điểm”.
Livermore biết rằng tin xấu về xu hướng chung của thị trường đầu cơ tăng giá còn lâu mới phai nhạt trong lòng công chúng so với tin xấu của thị trường đầu cơ giá xuống vì xu hướng trong thị trường này là tiêu cực. Trên thực tế, trước khi thị trường đóng cửa thì cổ phần đã phục hồi lại về các mức cũ. Livermore bán khống 5.000 cổ phần nhưng ông hòa vốn trong giao dịch ấy. Ông không kiếm được tiền.
Bạn ông cũng đã quay lại New York. Ông ta nói: “Anh đã đúng về cái tin xấu đang đến nhưng tôi đã bảo anh rằng anh không thể đi ngược hướng gió. Và đây là một cơn gió có xu hướng tốt. Lẽ ra anh đã nên nghe tôi, J.L”.
“Gió đổi chiều,” Livermore nói khi đang đọc cái băng giấy, không ngước lên nhìn.
Livermore tính toán rằng thậm chí nếu trận động đất không tồi tệ như những suy đoán ban đầu thì giá cổ phần đường sắt cũng sẽ không tăng.
Ngày hôm sau tin tức lan ra từ San Francisco và giá thị trường hạ xuống, nhưng không mạnh. Livermore cho rằng ông đã đúng. Ông tới chỗ người môi giới của mình nhận một khoản tín dụng đặc biệt và bán khống tiếp 5.000 cổ phần Union Pacific.
Ngày sau đó, ngày thứ ba sau trận động đất, giá thị trường tụt nhanh. Union Pacific rớt như một viên sỏi và Livermore bước ra khỏi đống đổ nát với khoản lợi nhuận 250.000 đô la. Ông không xác định được chính xác vì sao ông đã làm như thể là lắng nghe theo tiếng gọi của tinh thần. Đó là một vấn đề mà ông không phân tích quá sâu. Ông lặng lẽ nạp tiền của mình vào tài khoản. Lúc này ông có thể đầu cơ với số lượng lớn hơn nhiều - thêm vào 250.000 đô la - đó là điều ông suy nghĩ đến nhiều nhất.
g y g
Ông đã rút ngắn kỳ nghỉ của mình tại thành phố Atlantic. Sau trận động đất trời cho, ông đến với các cuộc đua ở Saratoga Springs cho kỳ nghỉ của mình. Ông yêu toàn bộ quang cảnh ở Saratoga: vẻ đẹp nơi đây, thiết kế vương giả, những con ngựa mỡ màng và rất đẹp. Hầu hết những người ăn vận lịch sự có thế lực từ thành phố New York tập trung nơi đây vào mỗi mùa hè cho các cuộc đua ngựa.
Một lần nữa, Livermore lang thang đến các văn phòng môi giới của Hutton tại Saratoga để thấy những gì đang diễn ra ở New York. Ông ngồi lặng lẽ quan sát cái băng giấy, nhìn lên bảng khi giá của những cổ phần đứng đầu được đưa lên. Mọi người đi qua thầm thì vào tai nhau về “Cậu bé đầu cơ”. Ở tuổi gần 30 nhưng ông trông vẫn giống một sinh viên ăn vận lịch sự. Người quản lý văn phòng đến bên và thò ra khoe trước mặt ông những phiếu lệnh, phô bày những lệnh mua và bán cổ phần của những người chơi lớn hơn ở Saratoga. Livermore chỉ cười và không nói gì.
Ông tập trung vào người bạn cũ là Union Pacific. Livermore không có cảm giác gì liên quan tới việc nên mua vị thế sở hữu hay bán khống cổ phần. Chẳng có sự khác biệt nào vì ông đã xác định được rằng, giá của thị trường đầu cơ luôn tăng lên hoặc giảm xuống thường xuyên. Ông kiên nhẫn chờ tiền mặt, chờ để tấn công. Giá trị của Union Pacific và biến động đổi giá mà Livermore thấy trên băng giấy đã thay đổi và ông tin rằng lúc này nó đang trong giai đoạn tích luỹ. Ông không thực hiện giao dịch nào trong ba ngày khi ông quan sát cổ phần và lơ đãng với các cuộc đua ngựa. Cuối cùng ông đi đến kết luận dựa vào biến đổi trên băng giấy rằng một nhóm người chơi chuyên nghiệp đang tích luỹ cổ phần.
Giá của cổ phần là 160 vào ngày thứ ba và ông bắt đầu mua. Ông cứ mua 500 cổ phần một cho đến khi ông có 5.000 cổ phần. Ông nhận được một cuộc gọi điên rồ từ Ed Hutton - một người bạn cũ đáng kính, rất cập nhật thông tin và có những người bạn ở vị
thế cao. Có rất ít chuyện xảy ra ở Phố Wall mà Hutton lại không biết.
“J.L, anh điên rồi”. Hutton nói.
“Ông đang nói về cái gì vậy?”
“Họ đang dồn hết nó cho anh. Cái quỹ chung điều hành các cổ phần đang dồn cho anh ăn các cổ phần nhanh đến chừng nào anh có thể. Sau đó họ sẽ bỏ nó và mua lại từ anh với giá rẻ. Ở đây anh là một viên chả nướng. Anh là một tên khờ trong một cuộc chơi ngớ ngẩn”.
“Ông chắc chắn chứ?”
“Không thể chắc chắn hơn. Thông tin từ nguồn tốt nhất, đáng tin cậy nhất”.
“Tôi không nhất trí”, Livermore nói. “Tôi nghĩ người ta đang tích luỹ nó”.
“Đúng, chính là anh đấy! Nó sắp xuống giá. Nghe này, tôi thích những khoản hoa hồng và tôi muốn anh là kẻ đầu cơ lớn nhất ở New York. Tôi chỉ đang cố gắng cứu anh khỏi tai họa thôi”.
“Được rồi, Ed”, Livermore dừng lại và nghĩ ngợi. Ông biết rằng Hutton là một người bạn thật sự, một người bạn thường giúp đỡ ông trong quá khứ.
“Cảm ơn Ed. Tôi sẽ bỏ vị thế đó”.
“Đúng thế, anh không thể mong sẽ thắng trong mọi cuộc chơi, J.L ạ”. Hutton nói và gác máy.
Livermore ngồi xuống và nhìn những phiếu lệnh và những lệnh mua trong tay ông. Sau vài phút, ông đứng lên và nói với viên thư ký bán cổ phần của mình. Vị thế của Union Pacific được