🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Chẩn Đoán Học Y Đạo
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Nhà xuất bản Lao động
175 Giảng Võ - Đống Đa - Hà Nội
Tel: (04) 3851 5380
Fax: (043) 851 5381
Website: www.nxblaodong.com.vn
Công ty Cổ phần Sách Thái Hà
119 C5 Tô Hiệu - Cầu Giấy - Hà Nội
Tel: (04) 3793 0480
Fax: (04) 6287 3238
Website: www.thaihabooks.com
Chịu trách nhiệm xuất bản: Võ Thị Kim Thanh
Biên tập viên Nhà xuất bản: Võ Mai
Biên tập: Bảo Trân
Trình bày: My My
Thiết kế bìa: Phương Thảo
Bản quyền tiếng Việt © Chơn Nguyên
Không phần nào trong cuốn sách này được sao chép hoặc chuyển sang bất cứ dạng thức hoặc phương tiện nào, dù là điện tử, in ấn, ghi âm hay bất cứ hệ thống phục hồi và lưu trữ thông tin nào nếu không có sự cho phép bằng văn bản của tác giả.
In 2.000 cuốn, khổ 14,5x20,5cm. In tại Công ty CP in Khuyến học phía Nam. Số đăng kí KHXB: 2741-2014/CXB/17-240/LĐ. Quyết định xuất bản số: 1007/QĐLK-LĐ cấp ngày 30/12/2014. In xong nộp lưu chiểu quý I năm 2015.
SỐ ISBN: 978-604-59-2702-1
https://thuviensach.vn
QUYỂN THƯỢNG
CHẨN ĐOÁN HỌC ĐẠI QUAN I. XÂY DỰNG MỘT CÔNG CỤ KHÁM PHÁ
1. Hai cách dạy và học
Tổng kết toàn bộ nhân loại có hai đường lối để săn tìm lấy sự nghiệp hiểu biết.
Đường lối thứ nhất: Mọi người đều cảm thấy mình trống thiếu và lạc lõng, không cần nghĩ đến mớ bòng bong đang nằm sẵn trong bụng mình, hay sự nghiệp quá khứ nó có điều động mình hay không; cứ tha hồ thu nạp những gì thuộc hiểu biết của kẻ khác, của bên ngoài để bù đắp thêm cho cái Tôi của mình được càng ngày càng dồi dào sung túc. Để rồi guồng máy hiểu biết của con người trở thành một mớ bòng bong da lộn, nó chi phối lại con người, hay như một cuộn băng cứ tiếp tục thâu từng lớp; hoặc như cuốn phim nhiếp ảnh được chụp chồng lên mãi mãi không biết bao nhiêu lần. Để rồi trong mỗi một con người là cả một tập đoàn chúng sanh vĩ đại, nhiều loại khác nhau, quần tụ lại thành vô số mâu thuẫn. Đó là hậu quả của cách dạy và cách học lẫn nhau theo kiểu đầu tư kiến thức, để rồi phải bị gán cho là một thứ ngu thông thái, hay một thứ ngu hiểu biết cũng thế thôi! Phương cách này được ưa chuộng nhất. Số người theo gần như hầu hết, và trung thành nhất, đa số là những người bán cầu bên kia (phương Tây).
Đường lối thứ hai: Tận tự bao giờ đã có một số người từng khám phá thấy được con người, cũng như vạn hữu, chỉ là kết tinh từ bao la vô tận tựa như mây lưng trời, như trăng đáy nước, như bóng ở vách dưới ánh đèn đêm, như hoa trong gương, như tia chớp lòe, như vang của tiếng, như người trong xi nê, như với bao la không hề có kẽ hở, như con số không chưa viết… Nếu đừng có cái Tôi phi lý xen vào thì con người có thể tựa như một bóng nước đang bay, mà tất cả hình ảnh của bao la vô tận đều có thể xuyên suốt vào,
https://thuviensach.vn
không cần phải chứa vựa. Đến đó, con người với bao la vô tận trở thành đồng nhất. Từ đây con người mới có đủ tư cách gạn lọc, thu nạp và cuối cùng sẽ kết thành một kho tàng hiểu biết trí tuệ tuyệt vời. Đường lối này nhà Phật mệnh danh là vô niệm, vô tướng, vô trụ và vô đắc. Đường hướng này số người đi theo chỉ là muôn một. Mặc dù chỉ có số người đồng ý tin tưởng tối thiểu, nhưng không vì thế mà nó không phải là một đường lối chính xác nhất! Đa số những người trung thành với đường hướng này thường thuộc người bán cầu bên này (phương Đông).
Thế là hầu hết nhân loại đều thích làm theo thể toán cộng, còn số ít theo hình thức toán trừ. Nhưng trên ý nghĩa thượng tầng toán lý hóa, thì càng cộng càng chia, càng trừ thì càng nhân. Đây quả là một diệu lý mà không được mấy ai để ý!
2. Dư luận về con người
Có người bảo: Con người chỉ là một sinh vật không hơn không kém. Có người lại bảo: Con người bất quá chỉ là một hình nộm bằng máy. Có người lại bảo: Con người là một bầu trời đất nhỏ. Lại có người bảo: Con người là một kho tàng vô cùng tận. Quá quắt hơn nữa có người lo: Không khéo rồi loài người chúng ta sẽ trở thành một thứ khỉ thông thái, có nhiều khả năng lạ lùng, chớ không còn là con người đích thực nữa! Mỗi dư luận, mỗi cách, mỗi kiểu khác nhau nhưng vẫn có lý có cớ để phát biểu. Thậm chí có kẻ bảo: Con người là một sinh vật bị nhốt trong một tháp ngà có nhiều cửa tròn vuông ba góc, bốn góc, với kính lồi lõm xanh, vàng, trắng, đỏ khác nhau. Ở trong đó nhìn ra sự vật bên ngoài, trông thấy quả có trông thấy thật, nhưng vị tất đã là thật thấy?
Nhà Phật thì không nói là một sinh vật bị nhốt trong tháp ngà… mà nói là Phật Đa Bảo đã tịch, được cất trong tháp Đa Bảo. Khi mở cửa tháp được rồi, Phật Đa Bảo vẫn còn nguyên, không hề chết! Ở chỗ khác Phật không nói là tháp Đa Bảo, mà lại gọi là núi Lăng Già, núi này nổi lên giữa biển khơi, đá lởm chởm nhọn hoắt như gươm đao, những hang hóc trong ấy toàn là quỷ La Sát ở. Núi cao bao nhiêu, lúc bình minh không thể nhìn thấy ngọn, chỉ
https://thuviensach.vn
khi có những trận bão tố cuồng phong thì mới thấy đỉnh núi cheo leo cao vút, nhập tận tầng mây, chỉ có Phật, Bồ Tát mới có khả năng đến… Quả là một câu chuyện hàm súc, mỉa mai! Và còn, còn nhiều nữa, dẫu nói đến bao giờ cũng không hết.
Nay ta hãy thử trầm tư thí nghiệm, thâm nhập vào tận đáy lòng mình một cách chân thật, rồi nhìn ra mọi tầng lớp nhân loại chúng sanh cả thế giới, ta sẽ thấy mặc dù không ai bảo ai, nhưng chừng như tất cả đều biểu đồng tình rằng: Nếu cuộc sống mà đánh mất đi những phút giây ngầy ngật, chớp nhoáng giữa những cuộc truy hoan nam nữ là kể như đã đánh rơi đi mất hạnh phúc cuộc sống! Cụ thể hơn nữa, không cứ gì là vua chúa, công hầu khanh tướng, hay khố rách áo ôm, cứ hãy nhớ lại hình ảnh của mình trong những phút diễn trò phòng the đêm vắng cũng chỉ thế thôi! Như thế há không phải con người chỉ là một sinh vật không hơn không kém đó sao!
Xa hơn nữa, con người từ khi có cái Tôi đến giờ, tất cả những sự việc đã xảy ra, hoặc ưa hay ghét, đều thu nạp trọn vẹn hình bóng vào trong tâm khảm, để rồi trong đó không thiếu một loài nào. Nhóm nào mạnh, nhóm đó tạm thời làm chủ, chi phối trở lại thằng người, mà lương tri không thể nhất thời đối phó. Và mặc dù có khi lương tri hay trí óc đã hoàn toàn thừa nhận, nhưng đến khi giáp mặt với sự thật thì lại khác hẳn đi. Như thế không phải là một hình nộm bằng máy đó sao?
Ai đã từng thông qua tác phẩm Nội Kinh của cổ Trung Hoa, thâm nhập vào Phật pháp, hay đi sâu vào ngành nguyên tử học của khoa học kỹ thuật vật chất hiện thời, đều có thể nhận thấy ngoài trời đất có gì, trong con người đều thấy có thứ ấy. Cho nên đúng sự thật, con người không những là một bầu trời đất nhỏ mà là cả làn sóng hội tụ tận tự bao la thu hẹp lại nữa.
Con người đã có thể là bao la thu hẹp lại, và bao la vốn có khả năng hóa sanh vạn pháp. Con người cùng với bao la vốn đã không thể phân cũng không thể hợp thì không lý do gì tận từng đáy mạch sống của con người lại không thể có khả năng sanh ra vạn pháp! Ai không tin có thể làm một trắc nghiệm nhỏ, ngồi trong phòng vắng nhắm mắt lại, để tự do cho tâm tư phóng tưởng, rồi sẽ thấy: Tưởng ông Trời có ông Trời, tưởng ông Phật có
https://thuviensach.vn
ông Phật, tưởng cô điếm có cô điếm, tưởng núi non sông ngòi thì có núi non sông ngòi… cho đến ba đầu, sáu tay, mười hai mắt cũng có thể tưởng được. Và bình sinh trong tâm nghĩ thích điều gì thì kiếp sau sẽ nhận lấy hậu quả cảnh trí đúng vừa chừng ấy! Cho nên thiên đường, địa ngục hay Phật trời gì đi nữa, thằng người đều có khả năng làm được hết. Thế là con người vốn nó linh không vô cực, khác chăng chỉ là hướng ngoại hay hướng nội mà thôi. Như thế, con người há không phải là một kho tàng vô cùng tận đó sao!
Nay ta hãy trầm ngâm và trầm ngâm hơn nữa, nhớ lại việc làm táy máy của con người như bắt con chó mổ ra, cắt bỏ Tỳ âm đi (Tụy tạng, Pancreas), xong rồi khâu lại, ít hôm sau con chó lành không thấy chết liền kết luận là Thượng đế chế dư một bộ phận. Hay như lấy trái tim con cừu ghép vào con người, lấy trái tim người nữ ghép vào người nam, lấy tinh trùng và trứng ghép lại nuôi vào ống nghiệm để lớn cho thành người, thậm chí ngồi nghĩ ra những cái máy để làm chủ, điều động trở lại con người, quả là đem một đứa giặc về làm con, rồi dựng nó lên làm cha mình một cách thật là tếu! Và còn muôn vàn chuyện khác nữa không thể kể xiết. Như thế há chẳng phải là không khéo rồi loài người chúng ta sẽ trở thành một thứ khỉ thông thái, có nhiều khả năng lạ lùng, chớ không còn là con người đích thực đó sao!
Bổn tính linh không vô cực của mỗi con người, khi chưa động dụng thì cùng với bao la vô tận vốn đồng lượng. Nhưng từ khi bị giam hãm vào cái Tôi xác thân vật chất này thì tai đuổi theo tiếng, mắt đuổi theo sắc, mũi đuổi theo mùi, miệng đuổi theo vị; mặt da đuổi theo cảm giác trơn nhám, ấm lạnh, mềm cứng; tâm phóng vọt ra ngoài để săn đuổi theo muôn vàn sự việc. Cái gì ưa thích thì cái đó đẹp, không thích thì cái đó xấu, “Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”. “Người yêu ỉa cứt cũng thơm; kẻ ghét, Trầm Hương cũng thối!” Như thế há không phải là một sinh vật bị nhốt trong tháp ngà đó sao!
Nhưng trên sự thật, tánh linh của con người cùng với bao la vô tận vốn không phải hai mà cũng không khẳng định mãi mãi kẹt vào vòng thiện ác. Cả đến cái sống chết cũng chỉ là hão huyền. Khi giải tỏa được dứt khoát cái Tôi rồi, dù kẻ chí ngu cũng trở thành hiền thánh, và đồng lượng cùng với
https://thuviensach.vn
trời đất bao la. Cho nên, câu chuyện Phật Đa Bảo khi mở tháp ra vẫn còn nguyên không hề chết là một câu chuyện thật là thấm thía!
Nhưng ta thử nghĩ, thân người chỉ là khối tổ hợp tế bào, sanh diệt không đồng đều, biến hóa triền miên. Vậy thử hỏi cái Tôi dựa vào đâu mà kiến lập? Và đời cũng chỉ là một biển chen lấn, tranh đoạt, sóng gió ba đào. Con người đối xử với con người, nhìn bề ngoài ta thấy như trơn tru vô sự, nhưng khi động đến quyền lợi là sẵn sàng đối phó bằng gươm đao! Hang cá tính tàn ác thường ẩn sâu trong kẹt hóc đáy lòng. Lúc bình thường thấy như tròn hơ, không hình tướng, nhưng khi tam bành ác tính nổi lên thì mới thấy khủng khiếp đến độ nào! Và quả thật! Quả thật! Muốn thâm nhập hoàn toàn thì phải là Phật và Bồ tát! Như thế, há không phải con người là một thứ núi Lăng Già đó sao…!
Thế mới biết, mỗi một cái thấy là một khía cạnh nhìn tựa như kim cương, vốn nó không màu sắc, nhưng khi được cắt nhiều khía cạnh rồi thì mỗi một khía cạnh không thể không chiếu ra một màu sắc khác nhau vậy.
3. Con người là một tác phẩm cực kỳ khoa học
Nay ta cứ bình tâm mà nhìn kỹ con người, rồi ta mới thấy con người là một tác phẩm kết hợp với hai hệ thống hiện tượng thể xác và tinh thần một cách vô cùng cân xứng, khít khao. Người nào cũng mũi dọc mày ngang, hai bên hai lỗ tai, dưới cái miệng. Thế mà chẳng hề ai giống ai, dù là sanh song thai cũng vẫn khác hẳn, làm như là tạo hóa đổ khuôn được một người, liền đập vứt đi, lại chế ra cái khuôn khác. Để rồi sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật, bệnh mỗi người mỗi chứng, nên thuốc cũng mỗi người mỗi phương. Nhưng tạo hóa là ai, thì cổ nhân đã từng định nghĩa là cấu tạo bằng khí hóa, bằng biến hóa. Nhà Phật còn nói thêm: Xác thân như khối sáp, tâm con người như điêu khắc gia, cho nên tướng sẽ tùy theo tâm mà biến hóa. Thế là đòn cân tinh thần và thể xác trong con người luôn luôn phải được thật là cân xứng. Thế mà có một số người, không biết vì lẽ muốn lợi ích riêng cho nhóm của mình, hay vì tư lợi mà tối mắt, chủ trương lệch hẳn về vật chất, và nêu lên nào là “khách quan quyết định”, “vật chất quyết định”. Từ
https://thuviensach.vn
đó dựa theo nghề nông, người ta chủ trương chọn giữ giống tốt, loại trừ giống xấu. Theo đây thấy có khả quan, rồi đem áp dụng vào xã hội loài người. Người ta nghĩ chọn rặt người tốt để lại, tiêu diệt hết kẻ xấu xa, thì xã hội loài người sẽ thành lạc quốc. Nhưng than ôi! Khi gạn lọc xong, nhìn lại số còn được để giống thì thấy toàn là những kẻ xấu xa, ác độc, tàn nhẫn, tệ bạc mà thôi! Và dù chưa thấy đến tình trạng đó chăng nữa, rồi trong số người còn để lại, nhất định cũng sẽ tách đôi, tách ba để ứng hợp với sự biến hóa sanh tồn. Thế là chủ trương ấy trở thành mộng huyễn. Và xã hội loài người cũng nhờ cái thế lệch hẳn về vật chất, mà hóa ra đổ vỡ chòng chành, trời đất nghiêng ngửa, chẳng khác nào thương binh bị cưa mất hẳn một chân, phải khập khễnh với cặp nạn mà thả trôi theo ngày tháng!
4. Con người là trọng tâm vấn đề
Khi chưa có con người, chưa có cái biết của con người, thì dù thiên nhiên bao la này có hay không, bí mật hay không bí mật cũng không thành vấn đề. Nhưng khi có con người, có cái biết của con người, thì muôn vạn vấn đề ùn ùn kéo tới. Thế mới biết chính con người mới là trung tâm vấn đề, mà nhất là con người của chính Tôi.
Nếu nói theo nhà Phật, khi chưa có con người, chưa có cái biết của con người, là chưa có đủ sáu đường của luân hồi.
Có người bảo Kinh Thánh chép: Thượng Đế lấy cát bụi nhào nặn với nước, nắn con người hao hao giống ngài, rồi hà hơi vào, trở nên có sự sống. Chép như thế là sai! Trên sự thật phải là: Thằng người lấy cát bụi nhào nặn với nước, nắn hình Thượng Đế hao hao giống nó, rồi hà hơi vào trở thành có sự sống thì mới đúng lý! Nói như thế thật là thấm thía làm sao!
Thế là con người và cái biết của con người đã trở thành vấn đề trọng đại ưu tiên cho chính con người, không thể khác hơn được! Mà nhất là con người của chính Tôi! Nếu vấn đề này chưa tách bạch dứt khoát mà con người của Tôi đã vội kiến thiết những ngôi nhà lầu chọc trời chăng nữa cũng chỉ làm chuyện dã tràng se cát.
https://thuviensach.vn
5. Cái Tôi
Có người bảo: “Có cái Tôi thì cái Tôi bị ở trong trời đất, khi không có cái Tôi thì trời đất ở trong Tôi”. Nhưng riêng tôi, tôi thấy khác: Khi không có cái Tôi thì mới hay ra trời đất bao la cũng chỉ là tôi, tôi có khả năng tạo ra thiên đường, địa ngục, tạo ra vạn cảnh muôn màu, để rồi tôi chui vào đó mà ở thì cũng chỉ là tôi. Tôi với ngoại giới tuy hai mà một, tuy một mà hai. Nhà Phật nói: Tướng tôi tức là không phải tướng tôi, nên gọi là tướng tôi. Và dù cho chỉ một mình tôi, nếu tôi chưa đạt đến bao la vô tận thì tôi vẫn là chúng sanh, vì trong tôi chỉ là một khối tổ hợp của vô số cái tôi sanh diệt không đồng thời.
Chữ TÔI quả là một chữ có khả năng biến hóa kỳ bí, dù cho viết ra chữ hay không viết ra chữ, dù cho chữ hay tiếng của một nước nào, nghĩa của nó vẫn đủ khả năng biến hóa từ TÔI, rồi TỐI, rồi TỒI, rồi TỘI; hay hoặc từ Tôi rồi đến cái không phải Tôi, nên gọi là Tôi.
Như trên kia đã từng nói, cái Tôi chỉ là một thứ ảo tưởng. Thế mà gần như hầu hết mọi người đều lấy cái Tôi làm nền tảng xây dựng sự nghiệp. Nhưng mấy ai ngờ, khi tôi đã quan niệm lấy cái Tôi làm nền tảng xây dựng sự nghiệp cho riêng tôi, thì lúc đó vô số tế bào, vô số tinh trùng trong chính con người của tôi đều thấm nhuần quan niệm như tôi; để rồi trong tôi có vô số triệu ức cái Tôi đang dồn dập tranh chấp, đòi hỏi cấu xé nhau chẳng khác nào một chuồng sinh vật. Và khi đã kiến thiết sự nghiệp trên cái Tôi thì hướng nhắm ruổi dong, săn đuổi cũng chỉ là hình tướng vật chất. Nhưng trớ trêu thay, nhìn ra xa xa chỗ sắp hút đường trần, tôi đã thấp thoáng thấy ló dạng hình bóng một đấng chúa tể. Cho nên loài người càng đi sâu vào khoa học kỹ thuật vật chất, thì lại càng cần phải quy y với một đấng chúa tể nào, rồi đấng chúa tể của nhóm này thì lại không phải là đấng chúa tể của nhóm khác, mà tạo thành thế “chân lý của”, để dày xéo lẫn nhau cũng chỉ vì đấng “chúa tể của”. Cho nên tôi nói: Khi tôi chưa biết gì hết về chính con người của mình mà đã vội nghĩ làm lợi ích cho ai, thì nếu không phải là tôi đánh lừa người khác, thì cũng là tôi bị người khác đánh lừa, hoặc chính là tôi đánh lừa tôi cũng chưa biết. Cho nên tôi chưa biết gì hết về tôi, thì dù tôi có
https://thuviensach.vn
sống đến 800 tuổi như Bành Tổ, cũng vẫn là một đứa bé già. Có người hỏi Giê-su: Trên nước Thiên đàng có gì? Người đáp: Chỉ có trẻ con. Nhưng riêng tôi, tôi nói nước Thiên đàng chỉ có người trưởng thành mà thôi!
Thế mới biết: Có một điều kiện bắt buộc rằng tôi phải vừa là một chủ thể khám phá, vừa là một đối tượng khám phá thì tôi mới có cơ trưởng thành vậy.
6. Con người của chính mình mới là công cụ cần phải được khám phá và điều chỉnh trước nhất
Có ai ngờ một con người bình thường của thế gian lại là một tập đoàn sinh linh bị nhốt trong một cái chuồng thật là linh động, được mệnh danh là cái Tôi, ở trong đó nhìn ra để tìm hiểu sự vật, dù cho tận lực cố gắng đến đâu cũng vẫn bị bao trùm một màu huyền bí. Thậm chí giáp mặt nhau nói chuyện tâm tình thân thiết đến đâu chăng nữa cũng giống như hai kẻ ở hai biệt thự cách xa nói vói lẫn nhau, lõm bõm điều được điều mất, thì làm sao biết được thế nào là sự thật! Cho nên dù là vợ chồng, anh em ruột thịt, thân bằng quyến thuộc, làng nước xã hội, cho đến cả thế giới, khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ, sát mặt nhau chăng nữa, thì cũng chẳng qua chỉ là một thứ đồng sàng dị mộng, mặt giáp mặt mà lòng cách nghìn non thì còn biết gì chứ?!
Giả sử có một số người mắc phải bệnh đau mắt, mỗi người nhìn ra hư không thấy một màu sắc khác nhau, rồi cãi vã lẫn nhau để tìm lấy màu sắc đích thực của hư không. Như thế ta phải hiểu số người ấy thế nào?
Lại như có một đàn khỉ bị nhốt trong chuồng kín mít có nhiều tầng, nhiều cửa kính tròn vuông lồi lõm, màu sắc khác nhau, rồi mỗi con khỉ đeo theo một vòm cửa nhìn ra thấy sự vật bên ngoài mỗi con mỗi cách, mỗi kiểu khác nhau, tạo nên một bầu không khí thường trực xôn xao, ồn ào cãi vã, không lúc nào ổn định. Như thế ta nghĩ thế nào về sự hiểu biết của bầy khỉ ấy? Thế mà có kẻ nghĩ rằng chỉ một cái chuồng Tôi, với một đám lao nhao nhỏ, không thể có đủ tư cách thông minh, khách quan, sáng suốt để khám phá, nên cần phải được quần tụ nhiều cái chuồng Tôi lao nhao nhỏ, cho cái Tôi
https://thuviensach.vn
được phình to vĩ đại, thì mới có đủ sáng suốt để kiến thiết một điều gì. Mới nghe qua với danh từ “khách quan quyết định”, “tập thể quyết định” thì thấy làm như thế thật là hữu lý. Nhưng càng nghĩ kỹ càng bắt phì cười. Nhà Phật nói: Câu chuyện này dù gom hết các bậc nhị thừa lại để suy nghĩ, cũng không thể biết. Vì sao thế? Vì gộp vô số cái Tôi lại để suy nghĩ chỉ tổ làm to lớn thêm cái mù lòa. Nói như thế thì đó há chẳng phải là điều vô lý sao!
7. Chính con người, nhất là con người của chính mình, mới là một công cụ khám phá độc đáo
Cái Tôi bắt đầu từ mối đầu dòng sinh mệnh, kết thành một bài toán cộng vĩ đại, cho đến khi thu gọn vào trong một cái chuồng Tôi ngày nay. Nhưng kiếp sống của cái Tôi ngày nay đến trăm tuổi cũng chẳng được mấy người. Nhưng nếu tôi chỉ là một cái chuồng lao nhao, thì kiếp sống càng được kéo dài bao nhiêu, số lao nhao trong chuồng ấy cũng càng được nhân lên bấy nhiêu. Vậy thử hỏi đám lao nhao ấy càng đông đảo, càng trường cửu để làm gì chứ!
Giả sử có một đám lao nhao ấy, và cái Tôi tức là không phải cái Tôi, thì việc gì sẽ xảy ra? Và tại sao nhà Phật lại mượn câu chuyện tháp Đa Bảo để ám chỉ cho thân chúng sanh?
Như trên kia đã từng nói, nếu lấy cái Tôi mộng huyễn làm nền tảng cuộc sống, lấy hướng ngoại làm đường hướng, lấy vật chất, sắc tướng, âm thanh làm miếng mồi để săn đuổi, thì đằng kia xa xa, cuối con đường khám phá đã ló dạng một đấng chúa tể đang ngồi chờ. Và toàn bộ cái Tôi, cho đến từng tinh trùng, từng tế bào, đều chỉ là một tập đoàn mâu thuẫn vĩ đại ùn ùn nổi dậy; và cái chuồng Tôi ngày càng bị thắt chặt lại, bẩn chật thêm, làm cho màn bí mật của sự vật ngày càng được khép kín. Dẫu cho cái Tôi ấy là của một nhà khoa học vĩ đại chăng nữa, cũng chỉ đến thế là cùng.
Có ai ngờ, chỉ một phút giây quay trở lui vào để xem xét những biến cố của cái Tôi, thì sự thắt chặt của cái Tôi lập tức nới dãn. Tập đoàn lao nhao trong cái Tôi cũng tự nhiên lắng dịu bớt sự ồn ào. Tất cả những mâu thuẫn đòi hỏi của khắp tinh trùng và tế bào, cũng tùy thuộc vào đó mà lắng dịu
https://thuviensach.vn
được phần nào, và tùy theo đó mà nhãn quan của cái Tôi ấy cũng tùy trình độ hướng nội mà tăng thêm phần chiếu diệu.
Thế mới biết: Toàn bộ cuộc sống tôi đang sống đây với cả bao la vô tận quả là một môi trường vĩ đại cần phải được khám phá, mà chính con người của tôi mới là một công cụ khám phá thâm thiết vô cùng. Cho nên nếu tôi chưa biết gì về tôi, chưa điều chỉnh được cái Tôi mà tôi ỷ lại vào những dụng cụ máy móc, trí óc, vật chất, con toán từ cái Tôi đẻ ra, để làm nền tảng khám phá, thì toàn bộ cuộc sống đều trở thành hỏng bét. Và trong vô tình tôi đã đội đứa con giặc lên làm cha rồi vậy.
Như có kẻ đã bảo: Khi có cái Tôi thì cái Tôi bị ở trong trời đất, khi không có cái Tôi thì dù cho bao la trời đất cũng chỉ là tôi. Như thế cái Tôi không phải là vật chết tê đóng cứng, và khi bao la trời đất cũng chỉ là tôi thì còn đâu những đối tượng bí mật để khám phá khó khăn nữa chứ! Như thế chẳng là lý thú lắm sao! Thế nghĩa là gì? Thế nghĩa là con người của tôi là một công cụ khám phá độc đáo, tức là không phải một công cụ khám phá độc đáo, cho nên gọi là một công cụ khám phá độc đáo.
8. Một cuộc thâm nhập vào tận nguồn tâm linh
Muốn có một cuộc thâm nhập vào tận nguồn tâm linh để đi vào khám phá Y Đạo, thì sớm muộn gì cũng phải có đủ bốn đức tánh với ba điều kiện. Bốn đức tánh là: Anh hùng, hiên ngang, chân thành và tài tử. Nói một cách khác là không khiếp sợ, không nương dựa, tột bậc chân thật với chính mình và không mong cầu riêng tư gì cả.
Thế nào là ba điều kiện?
Một là vì trên sự thật của khung cảnh thiên nhiên bao la này vốn sẵn một nguồn năng lực tuyệt đối bình đẳng không hai, để làm trung tâm mạch sống của vạn loại, được mệnh danh là Chơn Như. Nếu chưa phát giác được điều kiện bổn tánh này thì toàn bộ cuộc sống không có khả năng giải quyết, nên gọi tắt là Duy Như.
https://thuviensach.vn
Điều kiện thứ hai: Khi đã là động vật biết máy cựa thì phần trung tâm mạch sống trong vạn loại vốn tuyệt đối bình đẳng, chớ không thể chỉ thiên trọng con người hay hoặc vật dưỡng nhơn, hoặc Thượng Đế tư vị cho loài người có quyền sát phạt vạn loại. Chỉ vì sinh ra không một lượt, chết đi không một lượt, trình độ không như nhau, để làm cơ cọ sát độ rỗi. Đó là một mặt khác. Điều kiện này gọi tắt là Duy Sinh, nghĩa là đều là chúng sinh, vẫn là chúng sinh. Điều kiện bổn tánh vốn bình đẳng, nên không thể chỉ thiên trọng con người.
Điều kiện thứ ba: Đời sống của tất cả tinh cầu hay quả đất này đều vẫn thăng trầm trong thăng trầm. Cho nên vạn loại bám theo địa cầu mà tồn tại, cũng không thể khác hơn. Vả lại cuộc sống đã là một cuộc cọ xát độ rỗi lẫn nhau, nên không thể không có sai lầm và sửa chữa. Từ ngay chính thân tâm mình cho đến từng cá nhân, bệnh tật, từng gia đình, từng xã hội, từng quốc gia, đến cả thế giới không lúc nào không đòi hỏi một tinh thần điều chỉnh siêu tuyệt để giữ thế quân bình cho quy luật trật tự cộng đồng của thiên nhiên. Việc làm ấy được mệnh danh là Y Đạo. Vì lúc nào cũng chuyên tâm chú ý tìm đủ mọi cách khéo léo để tham gia tán trợ việc hóa dục của thiên nhiên nên gọi tắt là Duy Y.
Ba điều kiện này được ứng hiện trong một số người, ở giai đoạn thế giới cực kỳ xuống dốc này nên được mệnh danh chung là Tam Duy Học.
Ta hãy thử nghĩ: Làm sao có được một tinh thần sáng suốt, một cặp mắt trong lành khi mang theo trong lòng đầy lo sợ, lúc nào cũng muốn có chỗ dựa, không muốn giáp mặt thành thật với những biến cố trong chính tâm linh mình, lúc nào cũng chỉ mong cầu cho cái riêng tư của cuộc sống. Cho nên tôi nói sớm muộn gì cũng phải chấp nhận bốn đức tánh ấy.
Xa hơn nữa, nếu đã chấp nhận chỉ có con người trên hết, tức là con người đã thẳng thừng ký giấy hợp pháp cho cuộc sống này, hoàn toàn chấp nhận tàn sát lẫn nhau là chân lý. Nếu không thấy được điều kiện này thì không thể đặt chân trên con đường khám phá của Y Đạo vậy.
Nếu con người của tôi, cái biết của con người tôi đã là điều kiện ưu tiên trong cuộc sống, thì công việc khám phá chính con người của tôi đến tận
https://thuviensach.vn
nguồn tâm linh cũng phải là điều kiện ưu tiên trên hết.
Có ai ngờ sức hiểu biết của con người ngày nay có thể làm mây mưa, sấm chớp, có thể chế phi thuyền con thoi vượt không gian, có thể làm vệ tinh nhân tạo kiểm soát khắp mặt địa cầu, có thể chế vô tuyến truyền thanh, truyền hình, máy thâu băng, có thể cắt nghĩa làn sóng chuyển động của không gian, của ý niệm, của cây cỏ… Thế mà không thể thấy được bao la vô tận vốn là một biển từ điện không có giai tầng, ngấm vào tận trung tâm tế bào tất cả vạn vật, để làm nền tảng chung cho cuộc sống vạn loại. Và về thể xác, con người cũng như vạn loại, vốn cùng điện từ bao la đồng nhất. Và thể xác này chỉ như một bóng nước tí teo, kết hợp với vô số hột nước nhỏ nữa, bám theo một hột nước khổng lồ đang chuyển dần trong không gian, thể nó vốn trong suốt, tất cả hiện tượng đều có thể xuyên qua. Chỉ vì cái Tôi làm rối loạn theo chiều hướng ngoại nên không thấy được cái thực tại bao la kia vốn đầy đủ nơi chính mình, làm cho cuộc sống càng ngày càng bị cái Tôi, với tập đoàn lao nhao trong cái Tôi náo loạn, biến thành tù hãm.
Một sự thú vị lạ kỳ là cái thực tại bao la vô tận nói trên kia, nếu nhìn trở ra bằng giác quan mà thấy được chăng nữa, đối với cuộc sống vẫn hoàn toàn vô hiệu lực. Nhưng khi hồi quang phản chiếu, soi trở lại thân tâm của mình mà thấy nó, thì cái Tôi lập tức đổ vỡ, tập đoàn lao nhao đang quấy rối, chi phối mình lập tức bị phân hóa.
Hãy cử lên một ví dụ để nhận thức: Trên thực tế mỗi con người đều có hai thành phần nam nữ. Thành phần nào thiên trọng về nam thì xuất hiện tướng nam, thiên trọng về nữ thì xuất hiện tướng nữ. Rồi từ khi mang tướng ấy mà nhìn ra thì cuộc đời sẽ có một quãng bơ vơ, lạc lõng. Có thể là âm côi hay dương côi. Cho nên đúng khác phái, đúng dạng tương ưng thì lòng trần rộn rã, tế bào, tinh trùng, buồng trứng đều nổi dậy lao nhao. Nhưng khi quay trở vào hồi quang phản chiếu, thì lập tức thế âm côi, dương côi liền được lấy lại quân bình, và buồng trứng, tế bào, tinh trùng, cũng liền trở nên ôn hòa thuần hậu, không còn rộn rã xuống đường nữa. Há không phải là một bài toán cực kỳ khoa học, có thể làm đáp án chung cho tất cả muôn vạn bài toán đó sao!
https://thuviensach.vn
Ai thâm nhập được điều kiện này là đã được tiến sâu vào lãnh vực khám phá chính con người của mình rồi đấy.
Muốn hiểu biết hết một guồng máy, ít nhất phải biết tháo tung ra một cách có hiểu biết, hoặc ráp lại, rồi mở cho chạy một cách chậm chậm từ từ thì mới thấy được nó. Muốn thâm nhập vào tận tầng đáy cuộc sống của chính mình, cũng tương tự như vậy.
Đành rằng cái Tôi chỉ là một cái bóng nước tí teo, mà cũng vẫn là một thực tại bao la vô tận. Nhưng lúc nhàn rỗi bình thường, hoặc khi vội vàng xốc nổi, có mấy ai nhớ lại thực tại ấy bao giờ đâu! Rồi một lúc nào sóng lòng chớm nở, cũng không hơi đâu mà bắt gặp. Hoặc để cho nó tha hồ nổi dậy ba đào, rồi mình cũng lặn hụp trong đó mà chìm nổi không hay biết. Đến khi sóng lòng yên lặng, mặt phẳng của lòng ra sao cũng không cần biết. Thế mới biết: Ngay khi thầy thuốc khám phá bệnh nhân, thì việc khám phá bệnh nhân đối với thầy thuốc hẳn là ít quan trọng hơn việc thầy thuốc khám phá chính mình ngay trong lúc va chạm với bệnh nhân.
Một thiền sinh mới học tọa thiền, bị vị thầy bắt buộc ngồi mỗi đêm 20 phút. Qua mấy hôm, vị thiền sư hỏi: Ngồi như thế anh thấy gì? Đáp: Con chỉ thấy vọng niệm như mưa. Vị thiền sư cười, rồi bảo thực hành liên tiếp. Được ít hôm lại hỏi: Có thấy gì nữa không? Đáp: Khi con vừa thấy vọng, thì lập tức là chơn. Thiền sư cười, và từ đó chấp nhận vị thiền sinh vào chính thức. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là khi sóng lòng chưa nổi dậy, mặt thật vẫn y nguyên. Đến khi sóng lòng nổi dậy, mặt thật vẫn y nguyên. Đến gió lặng sóng yên, biển lòng cũng vẫn không hơn không bớt.
Tuy nhiên, khi đã có một phen khám phá được cái bao la thực tại không giai tầng ở chính mình rồi, mà còn thấy có “được” là còn nằm trong cõi nhân sinh. Vẫn là chưa phải. Nhưng nếu bỏ lờ đi là bất thần động dụng không xuất hiện được, thì bài toán cuộc sống vẫn còn y nguyên. Cho nên mới nói: “biết khó, làm khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó”. Nếu ai chưa vượt qua năm đoạn đường khó nói trên, tức là chưa có dịp lặn sâu vào tận cùng chính con người của mình, mà cũng chưa có dịp để thám hiểm vào cái bao la linh không vô cực tánh, thì làm sao khám phá được gì nữa chứ!
https://thuviensach.vn
9. Phương pháp động viên năng lực tế bào
Mỗi một con người chúng ta là một kho tàng chứa đầy những gì của quá khứ. Thậm chí chủ nhân ông cũng không biết hết trong đó mình đã chứa gì. Những quá khứ ấy tạo thành một thế chướng ngại cho sức thông minh vốn có của mỗi người, tựa như một nhạc cụ không ai biết dùng, bị cho vào xó góc, đến nỗi vừa hoen rỉ, vừa bụi dơ bẩn bao phủ dẫy đầy. Như vậy thì dù có một nhạc sĩ tài tình chăng nữa cũng không thể tấu lên một bản nhạc tuyệt vời. Vì thế nên cần phải gột rửa, điều chỉnh lại cho đúng mức để lấy lại sức thông minh vốn có của mình thì mới có đủ khả năng khám phá. Việc làm ấy được gọi là động viên toàn bộ năng lực tế bào.
Muốn động viên được toàn bộ năng lực tế bào ít nhất phải có phương pháp và kỹ thuật. Phương pháp ấy là gì? Tức là phương pháp tĩnh tọa vậy. a. Tĩnh tọa là gì?
Nếu cắt nghĩa theo từng chữ thì tĩnh là yên lặng, tọa là ngồi. Tĩnh tọa là một phương pháp ngồi yên lặng, nhưng sự thật chính là một phương pháp giúp cho toàn bộ tinh thần được yên nghỉ để lấy lại sức minh mẫn của con người. Nhưng tại sao ta lại phải tĩnh tọa? Vì trong cuộc sống hàng ngày, tất cả chúng ta đều bị xã hội, gia đình, cá nhân quy định, bóp méo tinh thần lẫn thể xác đi. Người thì ngồi nhiều, người thì đi nhiều, người thì đứng nhiều, người thì uống lạnh nhiều quá, kẻ thì suốt ngày làm việc như cái máy, người lại ăn không ngồi rồi không động đến móng tay. Do đó tất cả những sinh hoạt làm lụng, ăn uống chơi bời, ngủ nghỉ, cho đến tâm tư đều là bị sai khiến, xung động. Tất cả những cái đó để lại một chất thừa trong cơ thể mà y khoa gọi là chất độc. Chất độc này không bài tiết được, phản ứng trở lại làm cho năng lực sống của tế bào trong thân bị kém sút suy đồi, dồn lên bộ óc của chúng ta, để tất cả những quá khứ biến thành chủ nhân ông của hiện tại, mà điều động chúng ta không còn tự chủ được trong khi tương giao. Bởi vậy, chúng ta ngủ mà không ngủ, thức thì trong bụng lại lăng xăng, giáp mặt với tương giao thì bối rối, ngồi lại thì bơ vơ. Do đó tâm thức của chúng ta lúc nào cũng lắc la lắc lư như thùng nước bị chao động, thì làm sao những hình bóng soi vào được rõ ràng chính xác?
https://thuviensach.vn
Phép tĩnh tọa là nhắm vào làm thế nào động viên hết năng lực cho tế bào sống dậy và bài tiết chất độc còn thừa.
Trong cơ thể chúng ta, đại khái nói theo kiểu rờ đụng thấy được của khoa học, có 6 phần là: Thán, Khinh, Đạm, Dưỡng, Lưu, Lân (CHOSP). Nếu nói theo Á Đông, những phần ghi nhận được là 6 khí: Phong, Hàn, Thấp, Táo, Hỏa, Nhiệt cũng thế thôi, không thể thiếu, không thể dư.
Thí dụ: Nếu thiếu khí than để sưởi ấm, thì làm cho chúng ta dễ ngủ gà ngủ gật, như những người tuổi trẻ uống nước đá, ăn đồ lạnh nhiều quá. Đến chừng mập chảy ra như một cái bị, nằm đâu ngủ đó, và sự khôn ngoan lanh lợi cũng theo đó mà biến mất. Ngược lại ăn nhiều chất thịt cũng như các vị đắng, mặn, nồng thái quá, nó xông lên óc để xung động, làm cho tâm chúng ta lăng xăng hết chuyện này đến chuyện khác, dễ mừng, dễ giận, dễ thương dễ ghét một cách tai hại vô cùng, không thể nào nhìn thấy rõ một sự việc.
Hơn nữa, giờ đây là lúc vận thế quả cầu đang hồi xuống dốc, cũng như nửa đời người về sau. Chúng ta bám vào địa cầu mà tồn tại, trong vô ý thức, tất cả phải chịu chung ảnh hưởng, cộng thêm sức phát triển của kỹ nghệ, nhất là kỹ nghệ lạnh, làm cho chúng ta bị lệch hẳn về phần âm. Xưa kia rất ít người còn trẻ mà sớm mập, và người ta quan niệm còn nhỏ mà mập là không thọ. Cũng như loài cây theo luật tự nhiên, lúc nhỏ phải lớn chiều cao, đến khi hết sức cao mới nở chiều ngang. Con người cũng thế, còn nhỏ mà đã mập phì rồi có khác nào cây chưa lớn đã vội đâm nhánh. Thân đã thế, thì tâm cũng chính vì thế mà trở nên mất chiều cao, bơ vơ không tự chủ được để xảy ra lắm điều rối ren trong xã hội. Một em bé từ nhỏ đã uống nhiều nước đá, đến 12-13 tuổi đã nhìn đời bằng cặp mắt u sầu, chạm đến là chực muốn tự tử. Nếu cha mẹ uống nước đá nhiều quá thì đứa con sinh ra càng sớm biết buồn chán hơn.
Cơ thể con người đối với các tạng phủ bên trong tựa hồ như một cái cân năm cánh, lúc nào cũng phải quân bình. Nếu có phần nào chênh lệch, đều là không phải bình thường. Phép tĩnh tọa là để lấy lại quân bình cho cơ thể, và đem lại nguyên vẹn sự minh mẫn, bén nhạy cho tâm hồn.
b. Tĩnh tọa được kết quả gì?
https://thuviensach.vn
Xin đừng ai hiểu tĩnh tọa để trở thành một thứ gì lạ lùng, mà phải hiểu chúng ta luôn luôn bị sự thái quá bất cập nó điều khiển, làm cho cả tinh thần lẫn thể xác bị méomó sai lạc đi, không thể dọn một con đường khám phá. Giờ đây muốn chỉnh đốn lại phải dùng phép tĩnh tọa.
Như một nhạc sĩ điều chỉnh lại một nhạc cụ, như một nhà khoa học lau chùi, điều chỉnh máy tính điện tử trước khi dùng. Muốn có được một cặp mắt sáng suốt, một tâm hồn thật bén nhạy để thực hiện một cuộc khám phá, thì phải biết chỉ một hạt bụi rơi vào con mắt, dù hạt bụi ấy là mạt vàng, cũng đủ để che khuất cả một bầu trời. Một chút xíu vướng mắc của tâm hồn cũng đủ che khuất cả bầu linh năng muôn thuở. Thế nên bước đầu tiên là phải thanh lọc thật sạch thân tâm để đi đến chỗ nhìn đâu thấy đúng đấy.
Hơn nữa, trong chúng ta không mấy ai có đủ khả năng suy nghĩ thấu đáo một vấn đề gì mà nửa chừng đừng bị chi phối. Nên biết tâm chúng ta không những là khỉ mà còn là cả bầy chớ không phải một con, mỗi con muốn đi một nẻo. Bởi thế chúng ta cần biết rõ con người chúng ta trước. Nếu không thì làm sao phân biệt đâu là chơn, đâu là giả. Vì thế mà dễ rơi vào hố mê tin. Nghĩa là chúng ta thường dựa hẳn vào bên ngoài để định đoạt vận mạng cho mình, chớ tự mình không thể chủ động. Mà dù cho không tin gì cả, trong khi không biết gì hết về mình, thì cũng là một thứ mê tin.
Bước thứ nhất của việc tĩnh tọa là giúp cho ta thấy rõ từng chút về sinh lý cũng như tâm lý ra sao. Với cách tập này, những bệnh như thịt dư ở mũi, cận thị, thịt dư ở cổ họng đều hết dễ dàng. Một điều lạ nữa là bình thường mỗi khi chúng ta cố sức nhớ lại một chuyện gì thì không nhớ được, ngược lại có những chuyện rất muốn quên mà vẫn cứ nhớ để làm đau khổ cho mình. Với cách tập này, con người của chính mình biến thành cả một kho tàng của bao la, đụng đến liền hiện ngay mà không cần chứa giữ. Đích thân kẻ viết này đã thực hành mà nói ra, chớ không phải là chuyện bịa đặt tưởng tượng.
Do đó việc tĩnh tọa vô cùng cần thiết cho công cuộc khám phá, nhưng cũng không khỏi có chút khó khăn. Vì con người ngày nay vừa ăn, vừa chạy, vừa làm chứ không thể đứng yên thì nói chi đến ngồi. Nhưng nếu không thực hiện được thì công cuộc khám phá cũng đừng nghĩ sẽ thành công. Và
https://thuviensach.vn
nếu muốn kết quả tốt thì nên nhớ đừng mong cầu sẽ được gì cả mà chỉ là phương pháp để trả lại bình thường cho thân tâm thế thôi. Nếu chưa làm được việc này thì dù là thầy thuốc chăng nữa cũng vị tất là thiệt biết.
Trong xã hội ngày nay, từ trí thức phong lưu xuống đến hàng dân dã, trong gia đình anh em, cha mẹ, vợ chồng, ruột thịt, vị tất ai đã hiểu ai! Biết nhau chỉ là biết mặt, chớ bên trong nào ai đã biết ai. Bình thường đã thế, khi biến cố làm sao biết được gì hơn. Thế mới biết, chỉ nhìn nhau bằng bề ngoài nên tâm tư càng ngày càng trở nên tê dại, mất hẳn sự bén nhạy cảm thông, thì đối với kẻ khác cũng như cỏ cây vạn vật, sẽ trở thành một tấm vách ngăn tách biệt. Nay ta thực hiện phép tĩnh tọa để giúp ta đem lại sự bén nhạy bình thường, đừng bị một sự che khuất nào cả.
Khi nào ngồi tĩnh tọa ta mới thấy trong ta không phải thuần là một con người, mà là một cuộc ẩu đả lung tung thì làm sao có sức khám phá. Thật thế, khi trong bụng mình chỉ còn có một người thì đâu đó đều yên ổn. Đây là điều kiện phải biết khi thực hành.
c. Điều kiện
Dù là nghề chơi cũng phải lắm công phu, ép hoa để dành, trồng hoa sửa kiểng còn phải kiên nhẫn nhiều thì kết quả mới tốt được thay, huống chi tập tĩnh tọa.
Khí hậu thời tiết
Khi ngồi nên lựa nơi yên tĩnh, thoáng khí. Nếu nóng quá rất khó thực hành. Vì thế nên chọn vào lúc quá nửa đêm hay sáng sớm. Nhưng nếu người ăn uống nhiều thức lạnh, hoặc cơ thể thiếu nhiệt lực, tất nhiên họ sẽ thích lúc trời có nắng thì cũng tùy, vì đó là trường hợp ngoại lệ. Theo khí hậu ở Việt Nam, nên ngồi từ 15 phút đến 2 giờ là cao nhất.
Sinh hoạt
https://thuviensach.vn
Hàng ngày phải nên để ý điềm đạm, chậm rãi, dù là việc gấp chăng nữa cũng đừng vội vã, bối rối. Phải biết mình là tất cả, tất cả là mình. Trừ hết tất cả những cái không phải là mình ra thì chính mình cũng sụp đổ. Chính vì tâm mình động mà cảnh mới ứng theo, nên cốt yếu là mình phải tỉnh bơ thì bên ngoài mới không lung lạc. Vậy nên phải để ý cả trong sinh hoạt hàng ngày, chớ không phải chỉ khi ngồi mà thôi. Nếu lúc bình thường giận dữ thái quá, thì đến khi ngồi phải bị cặn bã của tâm hồn quấy rối không yên, do đó lúc khám phá cũng khó bề trong suốt. Vì thế nên nếu có thể, hãy chọn lúc xa bữa ăn mỗi ngày độ nửa giờ để đi một bài quyền, hoặc đi bộ cho ra mồ hôi, khí độc càng rất hay.
Ăn uống
Thông thường chúng ta tưởng chừng như khi ăn vào một món gì, tiêu hóa xong là hết. Sự thật nào phải thế! Nếu trong trời đất này mọi việc đã trải qua đều mất hết, thì hình ảnh và âm thanh từ đài vô tuyến phát ra làm sao thu được. Hư không trong rỗng suốt mà còn thế, thì khi bỏ nguyên con vào cơ thể làm sao mất được.
Thực hành phép tĩnh tọa cũng như gắn máy tăng điện. Vì vậy nếu là thứ điện nặng nề quá mà còn tăng tất phải nổ bóng đèn. Cho nên ăn những thứ biết bay biết nhảy, khi vào cơ thể càng bay nhảy nhiều hơn. Ăn những thứ nằm ì một chỗ như chất khoáng thì nó cũng nằm ì một chỗ. Các thứ thảo mộc khi có gió mới động nên khi ăn thảo mộc vào nó không nằm ì một chỗ như khoáng chất, cũng không bò bay máy cựa như động vật. Thêm nữa, đừng tưởng khi ăn một cục thịt là chỉ có một cục thịt. Thật lạ cho khoa học ngày nay, nhất là nguyên tử học, họ vẫn thấy được dù là siêu nguyên tử chăng nữa cũng là một bầu vũ trụ, thế sao một cục thịt không phải là một con. Đây quả là sự thật, vì không có cách phóng đại ra nên không thấy. Tĩnh tọa là một phương pháp phóng đại. Cho nên bỏ vào một chút xíu con khỉ thì ra nguyên con khỉ, các con khác cũng thế. Điều này chính tôi chứng thực được chứ không phải nghe ai nói. Chỉ vì bình thường chúng ta bị mê muội
https://thuviensach.vn
thiên cổ che khuất đi mà thôi. Do đó, khi mới tập tĩnh tọa, nên ăn cá hơn ăn thịt, ăn rau hơn ăn cá nếu chưa hoàn toàn ăn chay được.
Thông thường người ta quan niệm ăn uống không đủ chất bổ, cơ thể sẽ bị thiếu dinh dưỡng, nhưng sự thật nào hẳn thế đâu. Kìa, con trâu chỉ ăn cỏ chớ nào ăn sắt, muối, thế mà trong máu vẫn nhiều sắt nhiều muối. Bác nông phu làm việc ngoài nắng không đủ thịt cá, chỉ ăn rau với dầu, thế mà khi ra nắng thì dầu vận chuyển ra mặt da làm thành năng lực tốt cho tế bào v.v… Con mển(1), con nai muốn mập cũng chỉ ăn cỏ. Con người muốn mập bắt mển, nai ăn vào quả là một điều lạ. Con thú lạnh quá thì sanh mỡ, hoặc mọc lông nhiều để chống lạnh. Con người lạnh quá ra chợ mua áo len mặc vào v.v... Thế mới biết: Con người bị lý trí làm đánh mất đi sức phản ứng bằng bản năng thiên nhiên bảo vệ. Tĩnh tọa là để giúp cho ta động viên toàn bộ năng lực tế bào. Nếu chúng ta ăn các loại thịt nhiều quá, nhiệt lực nhân lên quá cao, chất độc trong thịt sẽ thúc đẩy chúng ta làm càn, làm bừa, khó bề kiểm soát. Hơn nữa, cơ thể chúng ta trong tâm tư vốn sẵn bề bộn, như nhà có đông đảo người. Khi ăn vào một thức ăn cũng như cho thêm một người lạ mặt vào. Càng cho thêm đông người vào càng khó kiểm soát, nên đúng phép một người muốn vào cửa Y Đạo, mỗi bữa ăn chỉ được ăn từ ba món trở lại. Và phải theo dõi cho đến ngày hôm sau, xem thử kết quả tốt xấu thế nào. Nếu chưa nhận ra, thì phải làm lại. Nếu càng chưa nhận ra được, thì càng phải bớt món đi. Và ngày ngày luân lưu đổi mới đi thì mới mong biết được sự ăn uống quan hệ thế nào? Đây quả là một điều đến ngày nay đa số vẫn còn ngờ nghệch.
Con người ăn buổi sáng thì sự nuôi dưỡng tập trung lên phần trên nhiều hơn. Ăn buổi chiều đổ dồn xuống dưới nhiều hơn. Nên ăn sáng gọi là điểm tâm, ăn chiều, ăn tối thâu nạp nhiều chất bổ, bên dưới tất phải được tiếp tế nhiều hơn, tất phải có khi sanh chứng đòi hỏi. Cho nên “đói cơm khát nước tèm hem, no cơm ấm áo lại thèm nọ kia”. Vậy nên có hai lúc trong ngày áp dụng vào ăn uống tốt nhất là khoảng 10 giờ sớm mai và 4 giờ chiều. Đừng nên ăn vào lúc 9-10 giờ đêm. Những thức ăn lạ, nặng nề như củ cải sống, củ hành sống, củ kiệu sống... hay các thứ rau cay nồng không nên dùng, như
https://thuviensach.vn
hành hẹ phải nấu thật chín mới nên ăn. Những thức ăn có tính quá nóng hay quá lạnh, quá sôi bọt, quá dậy men cùng những thứ chất ghiền như cafe, thuốc điếu, rượu đều nên tránh... không nên uống trà đậm làm hại Tim. Những thức ăn không hợp, dù ai bảo nó bổ đến đâu cũng không nên ăn. Nấu nêm cũng phải đơn giản. Ngọt cho ra ngọt, mặn cho ra mặn. Đừng quá phức tạp, nhiều thứ đụng nhau sẽ gây ra chất độc tai hại. Thí dụ: Nước tương, bột ngọt nêm chung vô canh lập tức biến ra acid. Còn nêm với muối ớt thì ra mùi nấm mối rất ngon. Nước tương với bột ngọt tốt khi xưa còn như thế, huống chi nước tương hóa học và bột ngọt ngày nay thì tai hại biết dường nào. Rau nấu ăn cốt sao sạch sẽ ngon lành, đừng bày biện màu mè, hình này tướng nọ càng thêm rắc rối.
Y phục
Thì giờ ngồi tốt nhất là từ nửa đêm đến sáng. Nếu gặp lúc trời lạnh thì mặc dầy và đậy kín hai đầu gối, đừng để hai đầu gối và hai lỗ tai bị nhiễm gió. Nếu trời nóng bức càng mặc mỏng càng hay.
Hiệu quả về sinh lý cơ thể
Khi mũi hít vào thì toàn mặt da thở ra, khi miệng thở ra thì toàn mặt da hít vào. Cứ 270 hơi hít vào thì đợt thứ nhất ra đến mặt da, 270 hơi thở ra thì đợt thứ nhất của mặt da hít vào lên tới miệng. Đó là chu kỳ hô hấp của hơi thở, là một máy bơm chống đỡ với mọi sự xâm chiếm của bên ngoài…
Trong cơ thể chúng ta có bộ tuần hoàn máu trắng và bộ thần kinh là hai thành phần rất quan hệ. Bộ thần kinh mắc vào tủy xương sống và óc. Hai cơ quan này nối liền với Thận, Thận nối liền với bộ tuần hoàn âm huyết.
Tuần hoàn âm huyết xuất phát từ mao tế quản của tuần hoàn máu đỏ, nơi giao nhau của động và tĩnh mạch, hệ thần kinh dương và hệ thần kinh âm. Nơi đây tĩnh mạch âm huyết trích ra về tới ruột non mắc liền với bể họng xôi để hút chất bổ ở ruột non đã làm thành chất sữa. Nếu ở người đàn bà có
https://thuviensach.vn
con bú, thì phần âm huyết chia ra hai nẻo đi lên ngang vú cung cấp sữa cho đứa trẻ. Lúc dứt sữa thì chất bổ được đổ vào tuần hoàn máu đỏ để bồi bổ sung túc cho cơ thể, rồi kinh kỳ có trở lại. Nếu ở đàn ông thì mạch này đi thẳng lên tĩnh mạch xương gánh bên trái hòa vào tuần hoàn máu đỏ để nuôi khắp châu thân.
Thế là tuần hoàn âm huyết (máu trắng) phần ngoài dính liền với trời đất, với Phổi và mặt da. Phần trong dính liền với bộ tiêu hóa để lấy chất bổ gồm tinh hoa của cả phần khí và phần chất đem nuôi cơ thể (phần trong sâu mắc liền với Thận để sung túc cho tủy óc, nuôi dưỡng gân xương). Vì thế tĩnh tọa làm cho chất bổ được lấy hết, chế ra tinh hoa máu huyết, nhờ đó cơ thể được tăng cường.
Hàng ngày, tai, mắt, miệng, mũi, thân, ý chúng ta phóng ra ngoài thì nhiệt lực cơ thể bị hao phí. Khi đóng lại, nhiệt lực lập tức tăng cường. Mắt đừng nhìn ra, tai đừng phóng vọt, mũi đừng thở mạnh, miệng ngậm thinh, tự nhiên nhiệt lực trong thân tăng cường và bầu khí quyển xác thân trương nở. Đó là vài nét cần được lưu ý.
Trong con người có hai hệ thống: trực giác và lý trí. Trực giác sai lầm theo chiều hướng chúng sinh gọi là bản năng. Trực giác đúng xứng với bản tánh gọi là tuệ giác. Lý trí sai lầm gọi là lý trí phân biệt mà Kinh Thánh Ky tô giáo gọi là bị ăn trái cấm. Nếu lý trí đúng với lý thì gọi là Trí Diệu Quan Sát.
Trong sự hình thành cơ thể thì lý trí có sau. Vì có xác thân rồi, do đụng chạm lần lần mới nảy ra cái biết, lý trí mới phát triển, nên lý trí mắc liền với cơ cấu thần kinh hệ. Thần kinh là sản phẩm của lý trí, mắc liền vào tủy xương sống và bộ óc. Hễ lý trí phát triển rắc rối tới đâu thì bộ thần kinh sẽ rắc rối theo tới đó. Còn trực giác thường tình của chúng sanh là một hệ thống tác động vào bao la không hoàn toàn máy móc. Trực giác bản năng này ở loài cầm thú còn giữ được nguyên vẹn sức phản ứng của thiên nhiên bảo vệ. Thí dụ: Con vẹt nhìn thấy màu vàng nó thích, tự nhiên lông nó ánh ra màu vàng, trong khi đó con người không làm được thế.
https://thuviensach.vn
Bởi vậy phải làm thế nào thống nhất lý trí, trực giác bản năng và kho tàng chứa vựa lại cho thuận một chiều thì tự nhiên sáng suốt. Biết được thế ta mới thấy tai, mắt, miệng, mũi, thân mở ra thu vào đều có tác dụng khác nhau và con người là một cái đài vừa phóng vừa thu tất cả ngoại cảnh.
Về phần phụ nữ, mỗi tháng còn có vấn đề kinh kỳ xen vào, nên khi có kinh là phải ngừng tĩnh tọa. Phụ nữ thuộc thể tĩnh, nên có thể dễ tập mà cũng dễ gặp cái bơ vơ trống trải. Thế nên trong khi tĩnh tọa cần phải nên phấn chấn.
Bất cứ một tôn giáo hay một người sống bình thường nào, nếu khinh thường năm điều răn cấm (giết hại, gian tham, tà dâm, dối trá và nghiện ngập) tức là người đó chưa đủ điều kiện để học tĩnh tọa. Vì khi đã khinh năm điều răn cấm, tức là khinh thường cuộc sống yên ổn của chính mình cũng như của tất cả những người xung quanh. Thế mới biết, năm điều răn cấm là điều kiện để duy trì cuộc sống cộng đồng sinh tồn. Tuy nhiên, đây cũng không phải là những giáo điều tôn giáo tín ngưỡng, mà muốn nói phải thâm hiểu tận cùng cái vô lý của giết hại, tham lam, gian dâm, dối trá và nghiện ngập. Nếu thấy năm thứ tâm lý này là nguồn tai hại cho cuộc sống, thì mỗi người phải tự giữ lấy, chớ không phải đợi ai bắt buộc. Thiếu năm điều kiện này là thiếu hẳn tình yêu thương chân thật, cuộc tập tĩnh tọa làm sao kết quả.
Nhắc qua về vấn đề gian dâm, đây không phải nói chỉ tư thông với kẻ khác ngoài vợ chồng chính thức mới gọi là gian dâm. Mỗi khi mống ý muốn tìm sự xúc cảm trong nam nữ tức là đã mống ý gian dâm.
Còn về phần nghiện ngập, dù cho là nghiện cafe, trà, thuốc lá, thuốc lào cũng là ghiền, chứ không chỉ là ghiền rượu. Nếu đã ghiền thì quyết định thanh toán cho kỳđược. Người không đủ can đảm bỏ dứt khoát các chất ghiền thì đừng hòng tập tĩnh tọa.
d. Tư thế tĩnh tọa
Có hai cách tùy theo khả năng của mỗi người:
https://thuviensach.vn
Ngồi kiết già: Chân trái gác lên đùi phải, chân phải gác lên đùi trái. Ta phải làm vậy để ý thức bên này có bên kia, bên kia có bên này. Cũng như trong cuộc sống tương giao trong mọi người có mình, trong mình có mọi người (có người có thói quen đặt chân ngược lại cũng chẳng sao).
Ngồi bán già: Để chân trái lên đùi phải, nhưng cũng có thể để chân phải lên đùi trái mà ngồi yên tạm cũng được. Không nên ngồi xếp bằng vì rất cấn.
Hai tư thế này sẽ giúp ta ngồi được vững vàng vì tư thế này là một cách ngăn bít bên dưới cho năng lực đổ dồn về trên, nên sẽ dễ bị tê, nhưng không sao. Tựa như một dòng suối không được lưu thông, bây giờ đắp đập ngăn lại chờ nước đầy mở tháo ra, nước sẽ tống đi sạch hết. Khi tĩnh tọa xong xả ra, khí huyết lưu thông trở lại cũng tương tự như vậy, rồi ít lâu sẽ hết tê.
Nên ngồi trên chiếu hay trên ván hơn là trên nệm, vì ngồi nệm rất dễ tê. e. Cách thực hành
Chuẩn bị
Cuộc sống ngày nay không thể cầu toàn, nên chỉ ngồi quay mặt vào vách là được. Bắt đầu ngồi công phu thì phải nới thắt lưng, bâu áo cho thông thả. Nếu trời lạnh thì phải đội khăn, hoặc che khuất lỗ tai. Tư thế phải giữ lưng cho thật thẳng chớ không nên ểnh, vì ểnh thì năng lực trong người xông ra làm nặng đầu, cũng đừng nên khòm vì khòm lưng dễ ngủ gục. Ngồi thu xếp xong, khẽ ấn người nghiêng bên phải, nghiêng bên trái cho mỗi đốt xương sống cựa quậy sắp lại ngay ngắn. Vì xương sống của mỗi người thường bị tập quán sinh hoạt làm vẹo, ít người ngay.
Giữ đầu thẳng, hai mí mắt buông xuôi, không phải mở cũng không phải nhắm. Vì mở bị thấy ngoại cảnh, nhắm khít thì hình ảnh bên trong rọi ra. Xong rồi thì dùng bàn tay phải đặt ngửa lên lòng bàn tay trái, để sát vào bụng, hai đầu ngón tay cái đụng nhau, để cho điện trong thân dễ nhân lên mà
https://thuviensach.vn
không bị tiêu phí, rồi làm như hơi mỉm cười để xóa hết những chuyện ban ngày và tưởng tượng cho chóp mũi với rún ngay một đường thẳng.
Nghe kỹ lại trong bụng xem có hơi nóng không. Nếu có thì hít vào bằng mũi cho bụng nở ra một cách từ từ. Đồng thời tưởng tượng như khắp lỗ chân lông bài tiết; xong rồi thở ra bằng miệng, thóp bụng vào, tưởng tượng như hơi độc ở trong đi ra. Hít vào thở ra như thế độ 6-7 hơi thôi. Bây giờ hai hàm răng đụng lại, chóp lưỡi đụng răng.
Cách điều động
Hít vào thở thật nhẹ, thật chậm (lúc đầu thấy mệt lắm). Để tự nhiên cho bụng dưới từ từ mở ra. Thở ra cũng chậm chậm cho bằng hơi hít vào, bụng từ từ thóp lại. Phải cố làm cho kỳ được. Hít vào thở ra đều bằng mũi thật tế nhị. Càng không nghe không khí chạm mũi càng tốt.
Nếu ý thức tập trung nơi rún thì sức nóng sẽ tụ bên dưới. Cho dưới nóng trên mát mới thuận với tự nhiên, ăn uống dễ tiêu hóa. Được thế, nhiệt lực đủ, ăn rau cỏ vẫn thấy ngon.
Khi đang ngồi, nếu thoáng thấy tự nhiên bỗng nẩy người là điềm ngủ gục sắp tới, thì lập tức dời điểm tưởng lên sống mũi giữa giao mi giây lát là hết ngay, rồi phải trả điểm tưởng xuống dưới nếu không sẽ bị nặng đầu. Phải để ý hơi thở, nếu ngồi một lúc mà nghe hơi thở kêu kho kho, cảm thấy yên tĩnh lạ, và mắt muốn nhắm nghiền, thế là tiếp tục từ từ đi vào ngủ gục, phải mở thật to mắt ra và đặt hơi thở lại.
Khi mới tập cần nên canh đồng hồ. Định ngồi 5 phút thì phải nhất định đủ 5 phút, đừng để trong tâm bàn soạn, cắt nghĩa đủ thứ, rồi nghĩ đến bữa khác, như thế không được.
Tập như thế, càng thở chậm ta dễ thấy rõ, càng hít vào da càng thở ra. Nên khi nào thấy da đổ mồ hôi nhiều quá, phải thở mau lại cho bớt mồ hôi. Có khi mồ hôi quá nhiều phải ngừng, lau mồ hôi rồi sẽ tiếp tục. Nhờ thấy được tương quan giữa mũi thở và da đổ mồ hôi, nên chứng thực được mũi với da liên quan mật thiết. Cứ thở thật nhẹ, đều đừng cho đoạn to đoạn bé.
https://thuviensach.vn
Lúc mới tập, hễ tập trung tinh thần ở rún thì bỏ quên hơi thở. Canh chừng hơi thở thì lại quên rún. Đó là chỗ khó, cần phải cố gắng.
Cách xả
Đến mãn giờ muốn xả; trước hết khẽ hạ xương sống xuống một chút để chân bớt tê, và đổi chân này qua bên kia ngược lại trước. Tiếp tục thở như thường (nghĩa là không kiềm hơi thở nữa). Khi hết tê xoa mạnh hai lòng bàn tay cho thật nóng, áp lên hai mắt để giải tán những hình bóng hiện đến trong lúc ngồi. Kế đến xoa sau lưng hai vùng thanh cật, vùng Chẽn vừng và hai bên mạn sườn, xoa hai bên lỗ tai, hai khớp cánh tay. Rồi dùng tay phải xoa lòng bàn chân trái, tay trái xoa lòng bàn chân phải. Rồi xoa hai đầu gối. Xong nằm thẳng cho xương sống giãn ra; và dùng tay phải bắt đầu xoa bụng từ bên phải sang trái cho ruột trở lại bình thường rồi nằm yên một chút. Đừng ngủ liền. Nếu ngồi được nửa giờ thì nằm chừng 1 phút, ngồi dậy đi tới đi lui ít bước mới nên ngủ. Khi mới xả ra không nên ăn uống vật chi liền, hoặc nóng quá hoặc lạnh quá, nếu cần, chỉ nên uống một hớp nước nóng.
Cách điều khiển tâm thức trong khi tĩnh tọa
Khi tập ngồi, chuyện chánh yếu là giữ ý thức nơi rún và canh hơi thở cho đều thôi. Đó là cách để cho mình dễ thấy mình nhất. Có thể chia làm ba giai đoạn:
1. Giai đoạn thứ nhất: Cột con khỉ
Buổi đầu phải chịu có hai nhóm ở trong mình. Một phần là mình bây giờ, một phần là nhóm của cái cũ. Mình cứ trụ lại một chỗ tha hồ đám cũ làm gì mặc nó, đừng dự đến, chỉ lo chuyện mình. Bao giờ nó hết lôi mình được nữa là hết giai đoạn 1 (đoạn đường thường phải tập ngồi đến 1 tiếng đồng hồ mới thấy kết quả).
2. Giai đoạn thứ hai: Buông thả con khỉ
https://thuviensach.vn
Từ chỗ còn là hai người trong mình, bắt đầu đi dần đến chỗ không còn là hai người nữa. Nghĩa là tập luyện đã thuần, hơi thở tự do, và không cần phải lưu ý tới rúnnữa. Thử buông lỏng và tỉnh táo coi chừng con khỉ có nhảy không. Nó vừa nổi lên phải thấy liền và cột lại, nếu không là mình bị đi theo nó. Một người nhìn một vật và đừng có thêm ý gì vô hết thì vật đó không thể sai khiến mình được.
3. Giai đoạn thứ ba: Nhận chân thể tánh của chính mình
Khi tĩnh tọa, thời gian được 1 giờ 30 phút trở lên sẽ nghe thật êm ả, không còn nhảy nữa, thì phải coi chừng sẽ có thể ngủ. Lúc này khó khăn nhất là phải tỉnh thật tỉnh, im lặng thật im lặng, không cần phải để ý kiếm cái gì hết; tỉnh để đặng nhạy; lặng để đặng rõ. Như nước trong ngọc chiếu, mây vẹt trăng soi, để trực nhận cho được bổn tánh đồng nhất ngay ở chính mình, mà thiền học gọi là nghĩ cái không nghĩ. Khi đó, bầu khí quyển tự do trương nở. Năng lực tế bào trong thân được động viên trỗi dậy, bài tiết ra da lông, gột sạch khiến tất cả mọi cơ cấu bộ óc, bộ thần kinh… đều trở nên nhạy. Đối với cái không có gì hết này, mình sẽ có một cảm giác như tắm mình trong nước mát, nước với mình không cách bức. Đến đây mới thấy cái không, không này phải là không thật sự. Chớ không như hiểu biết bằng kiến thức hàng ngày. Như thế mới là chứng thực vào thực tế bao la đồng nhất.
Bao giờ chúng ta nhận ra được chính mình là tất cả, tất cả với mình vốn không hai, trong đồng nhất, tương quan, trật tự, biến hóa lưu thông, đến chừng đó mới có được một cuộc sống yên lành, dù ở khía cạnh nào hay ở giai tầng nào.
Đến tầng bậc này, có những dịp khua động của một tiếng chuông, hoặc một quả bom rơi từ xa, chúng ta cũng trực nhận ngay được tiếng động kia với ta không có khoảng cách. Nên triết học nói: “Lắm lúc chúng ta cũng cần mượn tiếng động để nghe cái bao la của sự im lặng” là vậy. Khi ấy, một chiếc lá rơi bên kia đường, một cây kim rớt, tiếng sóng vỗ ngoài biển xa, nghe như tiếng khua động đó ngay trong bụng mình, như mình đang ngồi trong một khối lưới vĩ đại, khi có chút xao động bên kia liền thấy ảnh hưởng đến. Đó là lẽ viên thông hiển hiện. Chừng đó mới thấy tất cả vạn loại đều có
https://thuviensach.vn
sự sống, mà Nhà Phật gọi là hữu tình và vô tình tròn đầy thể tánh (tình dữ vô tình đồng viên chủng trí). Nhưng đó không phải là cái đáng mừng, vì là không phải cái thâu vô, cái có thể được, mà là cái tự nhiên vốn có của mỗi người, vì đời sống tê dại lâu ngày nên không biết. Tĩnh tọa để đánh thức thân tâm cho trở lại nhạy cảm, trực nhận cho được thể tánh thực tại của chính mình. Có như thế mới có đủ khả năng bén nhạy, hầu xây dựng một cái học khám phá, mặc dù là chẩn đoán học!
Những tai hại trong khi tĩnh tọa
Thực ra mục đích của tĩnh tọa chỉ để động viên năng lực toàn bộ tế bào cơ thể, chớ không phải để biết được một cái gì. Cho nên hễ còn mong cầu là còn lệch lạc. Nên nhớ cả một quá khứ của chúng ta đang súc tích trong thân, trong khi thực hiện tĩnh tọa, tất cả những hình ảnh ấy đều sống dậy, tốt có xấu có, ma có Phật có… hết thảy đều chỉ là vọng tưởng của quá khứ. Mặc kệ, chớ nên để ý! Nếu để ý là nó dẫn đi ngay.
Mặc dù thực hành tĩnh tọa được kết quả như trên, điều cần thiết là làm sao mang ý thức này vào khắp cuộc sống hàng ngày. Nếu không, thì chỉ là tiểu định, không đủ khả năng khám phá.
Một người tập tĩnh tọa đầy đủ rồi thì ngủ cũng như thức, tâm với trí bao giờ cũng thống nhất, không để phóng vọt, nên trí nhớ cũng rộng rãi vô cùng mà lòng cũng không hề mang nặng. Chớ không như “lòng ta chôn một khối tình, tình trong giây phút mà thành thiên thu”.
Đây là nhận thức rõ trong bao la này, cái đã qua qua rồi, hiện tại không dừng, vị lai chưa đến. Ngày mới, giờ mới, phút mới, giây mới, tất cả đều như thế. Chỉ có lòng trần mới đem cái cũ mà tiếp đón cái mới. Cho nên thế là không thể biết được một điều gì chính xác. Vì thế tĩnh tọa để chỉnh đốn cho tâm thức được chảy một chiều đến cực kỳ nhạy cảm, lòng không chứa vựa; không có vấn đề biết hay không biết. Có như thế mới là chỉnh đốn hoàn bị một guồng máy khám phá, để chú ý đến đâu là màn bí mật được vén đến đó.
https://thuviensach.vn
Một guồng máy khám phá được trong suốt như thế, là phải như mặt gương. Việc chưa đến là chưa đến, việc đến là hiện liền, việc qua rồi không hề giữ lại. Đến ăn là ăn, đến ngủ là ngủ, không nên mang việc này xô bồ vào việc khác. Có như thế mới có đủ khả năng trường kỳ khám phá mà không bị mệt mỏi. Đến đây, mỗi cái động dụng của ta đều cùng nhịp nhàng ăn khớp với bao la. Thế là bản thân của bao la tự khám phá vật trong bao la. Hỏi còn gì là khó khăn nữa chứ?!
https://thuviensach.vn
PHẦN THỪA TIẾP TRIỂN KHAI KỸ THUẬT CỦA HẬU THẾ
MẠCH PHÁP TÂM YẾU
Phương pháp chẩn mạch quý ở linh động. Nếu câu nệ không thông, khó đoán được bệnh. Trước phân bộ vị, như tả Thốn thuộc Tim, dùng để khám Tim và Bọc Tim. Hữu Thốn thuộc Phổi, dùng để khám Phổi và khắp trong lồng ngực. Tả Quan thuộc Gan dùng để khám Gan Mật. Hữu Quan thuộc Tỳ dùng để khám Tỳ Vị. Tả Xích thuộc Thận để khám Thận, Bàng Quang và Ruột Non. Hữu Xích thuộc Tam Tiêu để khám Thận, Tam Tiêu, Mạng Môn, Tử Cung và Ruột Già. Trên bộ Thốn gọi là Ngư Tế, dưới bộ Xích gọi là Xích Trạch, nên quan sát 2 bộ Thốn mà biết bệnh ở đầu mặt, khí quản, thực quản, miệng, răng, vai, lưng…; quan sát 2 bộ Quan để biết bệnh ở hông sườn, lưng bụng; quan sát 2 bộ Xích để biết bệnh ở dưới thắt lưng, bụng dưới, âm đạo, gối chân. Đây là căn cứ ở trên để quan sát phần trên, giữa phần giữa, dưới phần dưới vậy.
5 tạng 6 phủ, mạch đều tóm hết ở Phổi. Vì Phổi tuy là một trong 5 tạng, nhưng là nơi đại hội của phần khí. Cho nên trước hữu Quan một phân gọi là Khí Khẩu dùng để đoán bệnh suốt đời. Nhưng các hệ thống khí trong thân không thể tự nối liền với Phổi, lại phải nhờ thức ăn uống ở Vị để thâu hút chuyển đưa mà thấm nhuần, nên Vị lại là khí hóa cho tiên thiên, nguồn cội cho hậu thiên, mà làm nơi chỉ huy tóm cho các hệ thống khí. Thường thấy những người âm hư, huyết hao hàng ngày uống phương Lục Vị Tứ Vật mà vẫn không được sức tăng trưởng là lý cớ do đây vậy, há phải tìm khắp 6 bộ mà không quy kết về Khí Khẩu và Vị khí để chẩn đoán được sao!
Mạng Môn tướng hỏa tuy lệch về bên phải, Thận thủy tuy lệch bên trái, nhưng Thận đóng ở đốt xương sống lưng thứ 7. Một âm một dương tinh khí đều chủ bế cố phong tàng, làm cho đều được sở tư, há riêng Thận quy về bên trái, chứ không dính dấp gì bên phải được sao!
https://thuviensach.vn
Đến như 3 bộ đều theo dõi một lượt mà phân 9 hậu thì hoặc ở biểu, ở lý, ở giữa, lại đều thấy ở phù, trung, trầm của 6 bộ. Thế là ngoài để khám ngoài, trong để khám trong, giữa để khám giữa, há chỉ Thốn dương, Xích âm có thể tóm hết biểu lý được sao!
Đầu nhức ở trên vốn phải ứng ở bộ Thốn, nhưng nhức bởi Thiếu Dương, Dương Minh thì lại thuộc hai bộ Quan. Còn nhức đầu ở Thái Dương thì lại ứng ở tả Xích. Thế là nhức đầu ở trên mà lại không thể câu nệ ở trên được. Bệnh lâm, bệnh di ở dưới, vốn phải tìm ở 2 bộ Xích. Nhưng vì khí thiếu không nhiếp được thì bệnh lệch ở hữu Thốn. Hoặc thần suy không bế cố thì bệnh lệch ở tả Thốn. Thế là lâm di ở dưới lại không thể vì thế mà câu nệ ở dưới.
Trung khí suy sanh thổ tả thì thổ hình như ở Thốn, tả cũng ứng ở Xích. Tại sao lệnh về bộ Quan mà tìm, để làm bền chắc Tỳ Vị. Hai khí hỗn hợp mà trung đạo tắc thì trị phải ở hai bộ Quan. Tại sao lệch theo thăng thanh để theo dương, khổ giáng để cầu âm. Thế thì bệnh ở trên, giữa, dưới lại không thể nhất nhất câu nệ theo bộ vị. Bộ vị không thể cố chấp như thế.
Lại căn cứ vào mạch tượng mà luận. Như mạch Gan phải Huyền, Huyền thuộc bổn tạng, nhưng phải hòa, hượt, hưỡn thì Huyền đó mới sống. Nếu trong ngoài đều cứng, dội, tột bực, gồng thắt thì Huyền đó phải chết.
Mạch Tim lẽ phải Hồng, Hồng thuộc bổn tạng, nhưng phải hư, hượt, lưu lợi thì Hồng là sống. Nếu Hồng đại tột bực cho đến 4 bội trở lên thì Hồng phải chết.
Mạch Tỳ phải Hưỡn, Hưỡn thuộc bổn tạng, nhưng phải mềm, trơn, không cứng thì Hưỡn là bình thường. Nếu Hưỡn mà sắc trệ hoặc tế nhuyễn vô lực (nhuyễn mềm đè xuống mất); hoặc thoạt mau thoạt chậm thì Hưỡn đó phải chết.
Mạch Phổi phải Phù, Phù thuộc hiện tượng của Phổi, nhưng phải Phù nhược và hượt mới là chánh mạch. Nếu hư như sờ vào lông gà, lại thêm bộ Quan bộ Xích tế sác, ho hen, thất huyết thì Phù là thấy chết.
https://thuviensach.vn
Mạch Thận phải Trầm Thiệt, Thiệt là hiện tượng của Thận, nhưng phải Trầm, nhụ, hượt mới là mạch chánh. Nếu huyền tế mà cứng như sờ vào lưỡi nhọn bén, để vào thấy bật ngón tay thì thiệt là không cứu được.
Vả chăng nguyên khí đến, mạch phải đến hòa hưỡn. Khí tà đến mạch phải đến cứng gấp, cần được mạch hòa hưỡn mềm dẻo như dương liễu mùa Xuân mới là mạch khí tượng của Tỳ Vị. Vả chăng vị khí trung hòa phải vượng cuối mỗi mùa. Ở mùa Xuân mạch phải hơi Huyền mà hòa, mùa Hạ mạch phải hơi Hồng mà hòa, mùa Thu phải hơi Phù mà hòa, mùa Đông phải hơi Trầm mà hòa. Nếu cuối mỗi mùa mà không thấy có khí tượng hòa hưỡn như thế tức là mạch chơn tạng xuất hiện, và là triệu chứng bất trị. Mạch Vị phải nghiệm xét như thế, nên trên 6 bộ mạch đều có thể quan sát vị khí có hay không, há phải chỉ hữu Quan mới định được lành dữ đâu.
1. PHÙ
Nghĩa là đặt tay nhẹ, mạch nổi rõ bằng mặt da, nhớm lên thấy phơi phới lưu thông, nhưng đè xuống thấy hơi giảm mà không trống. Phàm mạch Khâu, Đại, Hồng, Cách, Hư, Nhụ, Vi, Tán đều thuộc loại Phù.
Khác với HƯ vì Hư là đè xuống không trỗi lên.
Khác với KHÂU vì Khâu đè xuống giảm nhỏ.
Khác với NHỤ vì Nhụ là mạch mềm nhuyễn, vô lực.
Phù là hiện tượng Hư tổn không đủ. Phàm bệnh phong, bệnh thử trướng đầy, ăn không được, biểu nhiệt, suyễn cấp v.v… đều có nghĩa chủ Phù. Nếu Phù mà kèm theo Đại tức là thương phong. Phù Khẩn là thương hàn, Phù Hượt là túc thực (ăn vô không tiêu chứa lại), Phù Hưỡn là thấp trệ, Phù Khâu là thất huyết, Phù Sác là phong nhiệt, Phù Hồng là cuồng ráo. Nhưng tóm lại không ngoài hữu lực vô lực, hữu thần hay vô thần để phân biệt. Nếu có thần có lực là bệnh thiệt, bệnh có thừa, hoặc làm hỏa phát, hoặc làm khí ngắn, hoặc làm nóng bức có thể tùy loại mà suy. Nếu thần lực đều không, tức là bệnh thiếu, hoặc tinh suy hoặc khí tổn, có thể tùy loại mà xét, há có thể khái quát chỉ là biểu là nhiệt được sao!
https://thuviensach.vn
2. TRẦM
Thì để tay nhẹ không thấy ứng, đè nặng mới thấy. Phàm mạch Tế, Tiểu, Thiệt, Phục, Lao, Nhược đều thuộc loại Trầm. Nhưng mạch Thiệt, khi nhớm tay lên thấy trỗi dậy dồn dập. Mạch Phục thì ẩn ở dưới gân xương.
Trầm là hiện tượng hàn đàm không trỗi dậy, hơi nước phục ở trong, uống đình trệ không hóa, ăn vào chứa không tiêu, khí nghịch không thông, tiêu chảy không cầm nên bên trong mới hiện Trầm. Nếu Trầm Tế là thiếu khí; Trầm Trì là bệnh lạnh lâu; Trầm Hượt là ăn chứa không tiêu; Trầm Phục là hoắc loạn đau quặn; Trầm Sác là bên trong nóng; Trầm Huyền, Trầm Khẩn là cuống vị đau dữ dội. Nhưng tóm lại không ngoài hữu lực vô lực để phân biệt. Vả chăng Trầm Thiệt hữu lực phải tiêu phải công, Trầm Hư vô lực phải ấm phải bổ. Nếu Trầm Khẩn mà Sác lại kèm đầu nhức, phát nóng, sợ lạnh, thì tuy là mạch Trầm vẫn thuộc hàn bế, phải nên theo biểu mà trị, há có thể nhận cho là thuộc phần lý mà không dùng thăng phát được sao!
3. SÁC
Mạch đi một hơi thở ra hít vào, thấy động từ 5 đến 6 nhịp, ứng động ngón tay đều đều. Phàm mạch Hượt, Động, Khẩn, Xúc (khựng) đều thuộc Sác. Nhưng mạch Hượt qua lại trơn thông, mạch Động thì khuyết khuyết (cà giựt), động dao. Mạch Tật thì quá nhanh hơn Sác.
Sác là nóng lạnh lấn vào bên trong, phong hỏa xung kích nên người ta thấy mạch Sác thường trị theo nhiệt, chớ đâu hay mạch có chơn có giả, Sác có hư có thiệt phải nên xét chứng kèm và mạch kèm, hữu lực hay vô lực để phân định. Nếu Sác đi đôi với Hồng Hượt thì rất hữu lực, hoặc là bên trong nóng bốc dữ dội, phục hỏa phát động phải xem là thiệt. Nếu là Tế Tiểu, Cường, Hượt, hoặc Tế Sác mà mềm nhũn, dầu có mình nóng cũng nên trị bằng phép ấm hoặc dẫn dương quy âm thì mạch Sác tự bình; hoặc bổ tinh hóa khí thì mạch Sác tự trừ, hoặc ôn trung phát biểu thì khí tự nới nang; hoặc tuyên ngăn trừ trệ thì mạch Sác cũng tự tiêu. Huống hồ nếu tuyệt không có chứng nóng chỉ thấy chứng hư hàn, mạch hiện Hư Sác, ôn bổ sợ
https://thuviensach.vn
không còn kịp, có thể nào cho Sác là nóng, vọng dụng vị đắng lạnh mà trị được sao!
4. TRÌ
Là chậm, một thở ra hít vào không đủ 4 nhịp, nhóm tay lên, đè tay xuống đều thấy chậm. Phàm mạch Đợi, Sắc, Kết, Phục đều thuộc loại Trì. Nhưng mạch Sắc thì hoặc 3 nhịp hoặc 5 nhịp không chỉnh. Mạch Hưỡn thì đi đến từ hưỡn khoan thai.
Trì là mạch hư hàn, khí dương không trỗi dậy nên thấy mạch trì trệ. Nếu Phù Trì thì là biểu hàn, Trầm Trì là lý hàn. Trì Sắc là huyết bệnh, Trì Hượt là khí bệnh. Nếu Trì kèm theo Hượt Đại thì phần nhiều là phong đàm, đầu tê. Trì mà kèm Tế Tiểu là chơn dương yếu kém, hoặc âm hàn giữ chứa mà làm đi tiêu chảy, hoặc nguyên khí không sung túc ở biểu làm lạnh run, co vặn.
Tóm lại đều là nguyên khí hao tổn, không nên vọng cho công kích. Nhưng cũng có nhiệt tà kết lại ở trong, khí lạnh uất ở ngoài mà thấy Khí Khẩu mạch Trì. Cũng có chứng Dương Minh đầy đủ mà thấy mạch Trì hữu lực. Cũng có Thái Dương mạch Phù, vì lầm có chứng kết hung, cho thuốc sai mà hiện mạch Trì. Lại có trường hợp dư nhiệt chưa hết, mà mạch phần nhiều trì trệ. Tóm lại ở chỗ, phải biết mạch động thế nào và xét chứng để phân hư thiệt, chớ đâu có thể hễ thấy mạch Trì liền nhận cho là lạnh, mà không nghiên cứu xem có kèm theo Hượt Sắc, hư thiệt khác nhau được sao!
5. TRƯỜNG
Nghĩa là dài, là thấy suốt dưới ngón tay, trên đến Ngư Tế, dưới suốt Xích Trạch, qua khỏi bản vị, đè xuống ba bộ một lượt, nhớm tay lên đều thấy thế. Phàm mạch Thiệt, Lao, Huyền, Khẩn đều thuộc loại mạch Trường. Nhưng mạch Đại nhớm lên thấy thạnh to, đè xuống thấy thiếu sức.
Mạch Trường là mạch của bệnh khí, phải trị theo khí, là hiện tượng không bệnh. Nhưng phải Trường mà hòa hưỡn mới là không bệnh. Nếu Trường mà Phù thịnh trong trường hợp ngoại cảm là khí tà ở kinh mới đang thịnh, còn
https://thuviensach.vn
trường hợp bên trong hao tổn là khí âm không đủ, làm cho mạch dồn thịnh lên trên. Đến như khí phong hỏa chìm hãm vào phần âm, mạch phải Vi, Sắc, tức là trong mạch Vi Tế thuộc âm mà thoạt kèm theo mạch Trường. Thế là nhiệt hòa với bên ngoài mà phát, có triệu chứng sắp khỏi, há có thể cho là hiện tượng bệnh tiến được sao!
6. ĐOẢN
Là ngắn, mạch Đoản thì trên Thốn dưới Xích, phân biệt rõ 3 bộ làm 3 đoạn. Phàm Vi, Sắc, Động, Kết đều thuộc loại mạch Đoản. Khác hơn mạch Tiểu là mạch Tiểu 3 bộ đều tiểu nhược, không phấn chấn. Khác hơn mạch Phục vì mạch Phục ở ẩn dưới Gân. Mạch Đoản thường chỉ thấy bộ Xích và bộ Thốn. Nếu hiện bộ Quan, trên không thông với Thốn là dương tuyệt, dưới không thông với Xích là âm tuyệt. Đó là lý bộ Quan thường ít thấy ở mạch Đoản.
Mạch Đoản là khí dương không nối tiếp, hoặc bên trong có đàm khí thực kết thành. Nhưng đàm khí thực tích trở ngại đường khí, cũng bởi khí dương bất lực mới thấy trở nghẹt, nên phàm thấy có chứng trở nghẹt thì phải kèm thuốc nâng đỡ phần khí trong số thuốc thông đàm, làm cho khí điều chỉnh thì đàm nghẹt tự khỏi. Nếu là ở trong không có trở nghẹt mà mạch hiện Đoản, Cách, gấp phải dùng thuốc ôn bổ to để cứu sắp tuyệt, không thì không thể trị được.
7. ĐẠI
Nghĩa là to, nghĩa là ứng dưới ngón tay thấy đầy tràn, đã Đại lại Trường, đè xuống tựa như kém sức một chút. Phàm Phù, Khâu, Hồng, Trường đều thuộc loại mạch Đại. Nhưng Trường thì chỉ thấy Trường chứ không có Đại. Mạch Hồng đã Đại lại Sác.
Mạch Đại có âm dương hư thiệt khác nhau, không thể cố chấp nhất luật. Nếu Đại mà hữu lực là dương có dư, là bệnh biến. Đại mà vô lực là khí chánh không đủ. Đại mà lệch bên trái là thịnh ở kinh. Đại mà lệch bên phải là nóng, thịnh ở phần âm. Đại mà kèm Sắc, kèm Khâu là ở trong huyết thiếu.
https://thuviensach.vn
Đại mà kèm theo Thiệt, Trầm là Thiệt nhiệt bên trong nóng dữ. Đại mà Phù Khẩn là bệnh nặng ở phần ngoài. Đại mà Trầm Đoản là bên trong ngăn nghẹt. Đại Thiệt mà Hưỡn tuy bệnh nặng vẫn sống. Đại Thiệt mà thúc bách tuy tỉnh cũng chết. Nên phàm mạch Đại phải được chứng và mạch ứng nhau mới là không ngại. Nếu bệnh hư lâu mà thấy mạch Đại, sau khi đi kiết, đi lỵ mà thấy mạch Đại, cơn thở suyễn ngừng mà thấy mạch Đại, sau khi sanh mà thấy mạch Đại đều là chứng bất trị.
8. TIỂU
Nghĩa là nhỏ, 3 bộ đều nhỏ. Đặt tay vào thấy rõ như vậy. Phàm mạch Vi, Tế, Đoản, Nhược đều thuộc loại mạch Tiểu. Nhưng mạch Vi vừa nhỏ vừa mềm (vi nhược), có tánh cách mơ hồ. Còn mạch Tế thì rõ ràng vi tế như sợi tóc. Mạch Nhược thì mềm yếu không phấn chấn, đè xuống mới thấy. Mạch Đoản thì đầu đuôi không đủ.
Mạch Tiểu là nguyên khí không đủ và bệnh thế mới vừa lui. Nếu bởi bệnh tổn mà mạch Tiểu kèm Nhược, thấy ở Nhơn Nghinh là khí vệ suy, ở Khí Khẩu là Phế Vị yếu, thấy ở hai bộ Thốn là dương không đủ, ở hai bộ Xích là âm không đủ. Như thế đều là hiện tượng vô lực. Nếu Tiểu mà hữu lực, mạch kèm Hượt, Thiệt là Thiệt nhiệt cố kết. Nhưng mạch không đến gấp cứng, tay chân không khuyết nghịch thì còn có thể nói là vị khí chưa tuyệt. Nếu vị khí đã không, sanh khí đã mất thì làm sao cứu được.
9. HỒNG
Nghĩa là tràn, tức là vừa to vừa mau, cuồn cuộn như sờ tràng hạt đi qua, đến thì rất thịnh, đi có hơi suy. Phàm mạch Phù, Khâu, Thiệt, Đại đều thuộc loại mạch Hồng. Nhưng mạch Thiệt thì nhớm lên đè xuống đều thấy thúc bách lên ngón tay. Mạch Hượt thì mềm trơn, lưu thông. Mạch Đại thì to và dài.
Mạch Hồng là khí hỏa nung đốt. Phàm những bệnh nóng bức, lăn lộn khát nước, cuồng tháo, ban chẩn, bụng trướng, đầu nhức, mặt nóng, cổ khô, miệng ghẻ lở, ung nhọt v.v... không chứng nào không hiện bằng mạch này.
https://thuviensach.vn
Nếu thấy mạch Hồng mà Phù là biểu nhiệt, Hồng mà Trầm là lý nhiệt, Hồng mà Hượt là có kèm đàm. Đến như dương thịnh quá cực mà chân lạnh, bộ Xích nhược, hoặc đã qua Hạ quá nhiều mà thế nóng chưa trừ, mạch Hồng Sác chẳng giảm; hoặc mạch Phù mà Hồng, mồ hôi ra nhỏ giọt; đi tiêu chảy hư thoát, mà thấy mạch Hồng thịnh đều là khó trị, không nên miễn cưỡng.
10. VI
Nghĩa là nhỏ hơn tế, sờ vào thấy như có như không, muốn mất mà không mất, đè vào thấy có hiện tượng mơ hồ. Phàm mạch Tế, Tiểu, Hư, Sắc đều thuộc loại mạch Vi. Nhưng mạch Nhược, tiểu nhược mà phân minh. Mạch Tế thì nhỏ rứt nhưng hữu lực.
Mạch Vi là triệu chứng khí dương suy vi. Phàm các chứng sợ lạnh, vì hư mà khiếp, trướng đầy, ói mửa, đi tiêu chảy, choáng váng, khuyết nghịch và các chứng thất huyết, tổn tinh đều theo mạch vi mà biểu hiện. Trị phải bao quát theo bệnh hư.
Nhưng cũng có trường hợp cơn đau nhức quá nặng, mạch bế mà hiện Trầm Phục, cùng mặt có sắc nóng, khí tà chưa muốn giải, và âm dương đều đình, khí tà không truyền, mạch đều hiện Vi. Nếu cho rằng Vi là hiện tượng hư không dám công phát, thì làm sao thông khí tà hết trệ được, phải nóng hết, mình yên mới là triệu chứng muốn khỏi.
11. THIỆT
Nghĩa là đầy đủ, nhớm tay lên, đè tay xuống đều thấy mạnh, nhịp dội ngón tay. Phàm Huyền, Hồng, Khẩn, Hượt đều thuộc loại Thiệt. Nhưng mạch Khẩn thì săn, gấp, không hòa. Mạch Hượt thì qua lại chảy trơn, mạch Hồng thì đến thịnh đi suy.
Mạch Thiệt là hiện tượng trong ngoài ngăn đầy. Ở trường hợp ngoại cảm mà mạch Phù Thiệt thì đầu nhức, phát nóng, sợ lạnh, mũi nghẹt, đầu nặng, tay chân đau nhức; cùng các chứng ung độc có thể theo đây mà xét. Mạch Thiệt mà Trầm thì hoặc cứng, đầy, đau, các chứng có thể theo đây mà xét.
https://thuviensach.vn
Nội thương mà mạch Thiệt, Hồng, Hượt thì có các chứng bệnh hỏa bốc, bệnh thấp, bệnh trừng hà, huyết ứ, đàm ẩm, bụng đau, suyễn nghịch v.v… có thể xét. Nếu Thiệt mà Trầm Huyền thì có các chứng lạnh ngăn trệ có thể xét. Lại theo các chứng bệnh thiệt của khí huyết kèm để mà xem, thì bệnh tình ở ta không có bệnh nào có thể ẩn khuất. Nhưng đã nói mạch Thiệt thì còn có chỗ nào nói bệnh hư, đã có hiện tượng hư thì không thể gọi là Thiệt. Tóm lại, ăn thua ở thầy thuốc chẩn lấy khí tượng của mạch, xem có hẳn Thiệt hay không Thiệt mà thôi.
12. HƯ
Nghĩa là vơi thiếu, là nổi to mà mềm, đè xuống không thấy dội, như sờ tìm lông gà. Lại đè xuống tới hết mức, lâu lâu thấy không thiếu không tan. Phàm Khâu, Nhu, Trì, Sắc đều thuộc mạch Hư. Nhưng mạch Khâu thì ở giữa bọng đè xuống lần thấy; mạch Sắc thì mềm yếu, vô lực, nhớm tay lên liền đến; mạch Tán thì tản mác vô căn, nặng tay đè lâu tuyệt không thấy đến.
Hư là khí huyết trống thiếu nên Phù Hư là khí suy. Trầm Hư là hỏa thiếu. Hư Trì là hư hàn. Hư Sác là nước khô. Hư Sắc là nước kém. Hư Huyền là Thổ suy, Mộc thịnh. Hư mà bộ Xích Vi Tế, Tiểu là vong huyết, thất tinh. Hư Đại là khí hư không liễm, quan hệ ở chỗ phân biệt cho rõ để thi trị thì mới không sai lầm. Nhưng tóm lại không thể dùng thổ, dùng hạ để biến hư thêm nữa.
13. KHẨN
Nghĩa là săn, qua lại săn cứng tựa như se dây, tuy thiệt mà không cứng. Phàm Huyền, Sác đều thuộc loại Khẩn. Nhưng Huyền thì đầu thẳng như dây cung. Còn mạch Lao, mạch Cách thì mạnh, căng, dội ngón tay.
Mạch Khẩn là âm tà bế ở trong. Nếu là Phù Khẩn thì phải thấy có đầu nhức, phát sốt, sợ lạnh, ho hen, mũi nghẹt, đau mình, mất ngủ của bệnh biểu. Nếu thấy Trầm Khẩn thì phải có trướng đầy, khuyết nghịch, ói mửa, tiêu chảy, Tim hông sườn đau nhức, phong giựt cùng là bệnh hãi, bệnh tịch của
https://thuviensach.vn
chứng ở trong (hãi ngược, trường tịch). Nhưng tóm lại đều là khí dương không đến nên mới ra thế.
14. HƯỠN
Là hòa hưỡn, buông lơi đến đi đều hòa hưỡn, không nhanh không chậm. Phàm Hư, Nhụ, Vi, Tế đều thuộc loại mạch Hưỡn. Nhưng mạch Nhụ thấy mềm nhũn. Mạch Hư thấy to mà trống thiếu. Mạch Vi thì vi tế mà mềm. Mạch Nhược thì đã tế lại mềm, nhuyễn, vô lực.
Mạch Hưỡn là mạch chánh của người bình thường không cần chữa trị. Nhưng nếu Hưỡn mà kèm theo Đại (lớn) là bệnh thương phong; Hưỡn mà kèm theo Tế là bệnh thấp tê; Hưỡn mà Sắc là huyết bị tổn thương; Hưỡn mà Hượt là đàm trệ. Cần phải xét xem hữu lực, vô lực để phân biệt. Nếu Hưỡn Đại, hữu lực tức là có thừa thì chứng phải thấy lăn lộn nóng bức. Nếu Hưỡn mà mềm, vô lực tức là không đủ thì chứng phải thấy hư hàn, há nên chỉ thấy Hưỡn mà bèn cho là hư mà không hợp chứng để xét được sao!
15. KHÂU
Nghĩa là bộng, sờ vào thấy bộng rỗng như đè vào cọng hành. Đặt tay nhẹ thấy được mặt trên, hơi hiện rõ Huyền Đại; đè xuống giữa thì giảm nhỏ, bộng rỗng; đè nặng xuống dưới lại đụng mặt dưới của ống mạch như mặt dưới của lá hành, vẫn có căn cứ. Phàm mạch Phù, Cách, Huyền, Hồng đều thuộc loại mạch Khâu. Khác với mạch Hư, vì mạch Hư đè xuống thấy vô lực.
Mạch Khâu là huyết thiếu đột ngột không thể thấm nhuần cho phần khí, thì chứng phải thấy phát nóng, choáng váng, mắt hoa, kinh khiếp, hồi hộp, suyễn gấp, mồ hôi trộm, thoát huyết. Nhưng mạch Khâu mà thấy có hơi khum đầu, tức là phải có kèm theo ứ tích, trở trệ. Khâu mà Huyền, cường, đun mạnh ngón tay, về chứng thấy có huyết tràn, mình nóng thì Khâu lại là nơi chơn âm khô kiệt. Nếu mạch Khâu kèm theo ứ tích, trở trệ thì chỉ thuộc
https://thuviensach.vn
ở một bộ, hai bộ nào đó thôi. Nếu đến hai tay đều mạch Khâu, hoặc kèm theo Huyền, động mạnh, nhất định là phải chết, chẳng có gì lạ.
16. NHỤ
Nghĩa là mềm, mềm thì yếu mềm, thiếu sức, đè vào thấy rõ hư tế, như bóng nổi mặt nước. Đặt nhẹ tay thoạt thấy đến, đè nặng chút thoạt đi. Phàm Hư, Vi, Tế, Nhược đều thuộc loại mạch Nhụ. Nhưng Hư thì hư, đại, vô lực. Mạch Vi thì vi tế như tơ. Mạch Nhược thì trầm tế, mềm yếu.
Mạch Nhụ là vị khí không đủ. Phàm nội thương đi tiêu chảy, mồ hôi nhiều, suyễn, thiếu hơi thở thường thấy mạch như thế. Trương Lộ Ngọc, Lý Sỹ Tài luận rất rõ, nói rằng: Phép trị phải bổ mạnh, không như bệnh âm hư thoát huyết, thuần thấy Tế, Sác, Huyền, Cường. Muốn tìm Nhụ Nhược tuyệt không thể thấy, bởi bì mạch Nhụ thì Phù, nhuyễn cùng với mạch Hư gần giống như nhau, nhưng mạch Hư thì phù đại còn Nhụ thì nhược tiểu. Tướng tế, tiểu của mạch Nhụ cùng với mạch Nhược gần như giống nhau. Nhưng mạch Nhược thì ở phần trầm, còn mạch Nhu ở phần phù. Tướng nhuyễn nhược của mạch Nhụ cùng với mạch Vi gần giống nhau, nhưng mạch Vi thì muốn mất, còn mạch Nhụ thì sức mỏng manh. Tướng vô lực của mạch Nhụ cùng với mạch Tán gần giống nhau. Nhưng mạch Tán thì từ mạch Đại, đè xuống thì không, còn mạch Nhụ thì từ mạch Tiểu mà lần đến vô lực. Vả chăng từ Tiểu mà lần đến vô lực, khí tuy không sung túc, nhưng huyết còn chưa bại. Còn từ Đại mà đè xuống thấy không thì khí không chỗ tóm mà huyết đã tổn thương, âm dương ly tán, lấy đâu nương tựa mà mong có thể sống. Theo đây mà nói thì mạch Nhụ và mạch Tán khác nhau một trời một vực. Cho nên mạch Nhụ thường trách ở vị khí thiếu, hoặc ngoại cảm âm thấp nên trị phải ôn bổ, không thể dùng thuốc công phá để làm hại thêm.
17. HUYỀN
Nghĩa là thẳng, tức là đầu thẳng mà dài, nhớm tay lên thấy nhọn, đè xuống không thay đổi. Phàm mạch Hượt, Đại, Cứng, Động đều thuộc loại mạch
https://thuviensach.vn
Huyền. Nhưng mạch Khẩn thì săn gấp hữu lực, giống như dây đánh thẳng chạm dưới ngón tay. Còn mạch Cách thì huyền, đại mà sác.
Huyền là hiện tượng huyết khí không hòa, khí nghịch tà thắng, tích tụ trướng đầy, nóng lạnh, hông sườn đau, hoặc sốt rét, kiết lỵ, bệnh sán khí, tê v.v... nhưng tóm lại đều bởi mộc thịnh, thổ suy, thủy kém. Chỉ cần xem hiện tượng Huyền nhiều hay ít để biết được vị khí mạnh hay yếu. Huyền Thiệt, Huyền Hư để biết khí tà hư thiệt. Huyền Phù, Huyền Trầm để biết biểu lý âm dương. Huyền ở Thốn hay ở Xích để biết khí thế của bệnh thăng trầm. Không luận bệnh gì, thấy kèm theo mạch Huyền, đều cần phải căn cứ vào hòa hưỡn có thần, không thiếu vị khí, tuy Huyền không ngại. Nếu Huyền mà cứng nhỏ, mạnh, thẳng là không có vị khí, há có thể trị được sao!
18. NHƯỢC
Nghĩa là bạc nhược, tức là trầm tế, nhuyến, nhược, nhớm tay lên thấy như không, đè xuống mới bắt gặp, nhỏ yếu rõ ràng. Phàm Vi, Nhụ, Tế, Tiểu đều thuộc loại mạch Nhược. Nhưng mạch Vi thì muốn mất, mạch Nhụ đè xuống như không thấy. Mạch Tế thì phần phù phần trầm đều thấy Tế.
Mạch Nhược là khí dương suy vi. Phàm thấy mạch này phải nên dùng ôn bổ để củng cố phần dương, bồi bổ vị khí. Nhưng phải kèm theo hượt mà hòa, mới nên đoán là vị khí chưa nguy. Nếu Nhược mà kèm theo Sắc và gặp bạo bệnh của tuổi trẻ, thoạt thấy mạch này là khí huyết đều bại, phần nhiều khó trị.
19. HƯỢT
Nghĩa là trơn, qua lại chảy thông, nhớm tay lên thấy Phù Khẩn, đè tay xuống thấy Hượt Thiệt. Phàm mạch Khâu, Đại, Hồng, Thiệt đều thuộc loại mạch Hượt. Nhưng mạch Thiệt thì bựt bựt dội ngón tay, mạch Khẩn thì qua lại săn cứng, mạch Động thì thấy ở một bộ, mạch Tật thì số nhịp quá mau.
Mạch Hượt là đàm nghịch, ăn uống ngăn trệ, ói mửa nghịch lên trên, ngăn đầy, sưng thũng, là hiện tượng ngăn nghẹt, đầy lắp. Nhưng cũng phải lấy
https://thuviensach.vn
hữu lực, vô lực để phân định. Nếu thấy Hượt, Đại, Sác phải đoán là bệnh có dư. Nếu chỉ nhẹ, nổi, hòa hưỡn, không hữu lực mấy thì đừng vội cho là bệnh thiệt. Hoặc bởi khí thiếu không thể thống nhiếp âm hỏa, mạch hiện hượt lợi cũng không biết chừng. Hoặc bởi đàm thấp chất chứa ở trong mà hiện mạch Hượt. Đến như người bình thường mạch Hượt mà hòa tức là không bệnh. Đàn bà tắt kinh, nếu thấy Hượt Sác tức là có thai, sắp sanh mà thấy Hượt Tật là mạch ly kinh của trường hợp sắp xổ lồng. Đi tả, đi kiết mà thấy Huyền Hượt là Tỳ Thận bị tổn thương. Bệnh lâu mà thấy Huyền Hượt là âm hư, há có thể chấp mà trị theo bệnh thiệt được sao!
20. SẮC
Nghĩa là rít, qua lại rít khó, nhịp động không chảy trơn, như hột mưa rơi xuống cát, hoặc tựa như dao chặt tre. Phàm Hư, Tế, Trì, Sác đều thuộc loại mạch Sắc. Nhưng mạch Trì thì thấy chậm chạp, hưỡn đãi. Mạch Hưỡn thì thấy khoan thai, hòa hưỡn. Mạch Nhụ thì đi đến đều mềm nhuyễn.
Mạch Sắc là hiện tượng khí huyết đều hư, nên chứng thường thấy rút, vặn, tê, dại, lo, uất, mất huyết, tổn kinh, huyết nghịch, ăn ít v.v… nhưng cũng phải phân Sắc mà lạnh, Sắc mà khô, Sắc mà nóng khác nhau. Nếu mạch Sắc mà thấy ói mửa, ỉa chảy là ruột trệ, ruột lạnh. Nếu Sắc mà thấy thương tinh thất huyết, co vặn, tê dại, là khô sắc không hòa. Nếu mạch Sắc mà thấy đại tiện táo bón là nhiệt tà bế ở trong, hoặc ở hàn trệ không thông. Tóm lại đều nương nơi chứng mà tìm cầu, há có thể chỉ cho là huyết hư mà không phân biệt thẩm xét được sao!
21. ĐỘNG
Nghĩa là động, nghĩa là nhịp mạnh dao động một cách giựt giựt, thấy hượt sác như châu ngọc hiện ở bộ Quan. Phàm Phù Đại, Phù Sác đều thuộc loại mạch Động, khác hơn mạch Hượt vì mạch Hượt bộ nào cũng thấy hượt sác chảy trơn.
https://thuviensach.vn
Động là hiện tượng âm dương đun đẩy, nếu động ở phần dương thì có chứng đổ mồ hôi, làm đau nhức, làm kinh. Động ở phần âm thì có phát sốt, thất huyết. Nếu Động kèm theo Hượt Sác Phù Đại tức là khí tà kích động lẫn nhau phải nên giải nhiệt. Đến như dương hư tự đổ mồ hôi mà thấy mạch Động ở bộ Thốn, âm hư phát sốt mà thấy mạch động ở bộ Xích, cùng là phụ nữ mạch Động ở bộ Xích mà nói là có thai đều không nên cho là bệnh nhiệt mà trị theo nhiệt.
22. PHỤC
Nghĩa là ẩn núp, ẩn núp dưới gân, đặt nhẹ tay không thấy, đè thật nặng thấy rít khó, phải uyển chuyển lách gân mà tìm. Hoặc 3 bộ đều Phục, hoặc chỉ Phục một bộ, phải tìm sâu dưới gân mới thấy. Phàm Trầm, Vi, Tế, Đoản đều thuộc loại mạch Phục. Nhưng mạch Đoản thì bộ Xích bộ Thốn đều ngắn rút. Còn bộ giữa thì rõ ràng. Mạch Trầm thì 3 bộ đều Trầm, đè xuống liền thấy.
Mạch Phục là hiện tượng trở cách bế tắc, hoặc hỏa bế mà thành mạch Phục, hoặc hàn bế, hoặc khí bế cũng thành mạch Phục. Ở chứng hoặc thấy cơn đau dữ dội, bệnh sán, bệnh hà, bế mà kết, khí nghịch, ăn uống đình trệ, cơn giận dỗi quá trớn, thủy khí ngăn chẹn; phải nên tìm rõ nguyên nhân, phân rõ là hàn hay hỏa, hoặc khí hoặc đàm, bệnh mới hay bệnh lâu mà phân biệt. Bởi vì nếu là hỏa thì phải thăng hỏa trước nhất, là hàn thì phải sơ thông khí hàn là trước nhất, là khí thì phải điều khí mới thuận, là đàm thì phải khai đàm mới ổn; bệnh mới thì chủ thuộc về bạo bế, có thể sơ thông; bệnh lâu sợ dây dưa phải đề phòng lần thoát, há nên khi thấy mạch Phục liền vội cho sơ thông được sao!
23. XÚC
Nghĩa là khựng, nghĩa là đi đến nhanh gấp, trong nhanh gấp thoạt có một ngừng, rồi lại trở lại hữu lực bình thường. Phàm Tật, Sác, Đợi, Kết đều thuộc loại mạch Xúc. Nhưng mạch Kết thì ở trong trì hưỡn, có khi ngừng.
https://thuviensach.vn
Xúc nghĩa là hiện tượng dương tà hãm vào trong. Phàm biểu tà chưa hết, khí tà đổ dồn về Dương Minh, hoặc khí tà phần lý muốn giải và truyền vào Khuyết Âm đều thường thấy mạch này, nên triệu chứng phải thấy lồng ngực đầy, đi tiêu chảy, khuyết nghịch. Cũng có khi huyết ứ phát cuồng, đàm thực ngưng trệ, đột ngột giận dữ, khí nghịch cũng hiện mạch Xúc. Nếu trong trống không ngưng trệ, mạch tự thư thái mà trường thì làm sao có hiện tượng ngừng nghỉ.
24. KẾT
Nghĩa là kết lại, thấy dưới ngón tay trì hưỡn mà chính giữa có ngừng, giây giây lại trở lại. Phàm Trì Hưỡn, Đợi, Sắc đều thuộc loại mạch Kết. Nhưng mạch Đợi động rồi ngừng lâu, không thể tự trở lại liền.
Mạch Kết là khí huyết lần suy, tinh lực không nối tiếp làm do đứt rồi lại nối, nối rồi lại đứt. Phàm hư lạc, bệnh lâu ngày thường thấy hiện tượng này, nhưng cũng có phần âm hư, dương hư khác nhau. Nếu Kết mà Hưỡn là hư ở phần dương, nếu Kết mà Sác là hư ở phần âm. Phải nên xét tướng kết lực ít hay nhiều để biết nguyên khí suy hay thạnh. Nếu Kết quá nhiều, mạch rất hữu lực, phần nhiều thuộc có nóng hoặc khí uất không điều hòa, trị nên dùng vị tân ôn nâng đỡ khí chánh, kiêm chút tán kết để khai đàm, Kết tự lui. Có khi suốt đời đều thấy mạch Kết. Trường hợp này là thọ bẩm dị thường, không nên cho là mạch bệnh mà trị.
25. CÁCH
Nghĩa là căng thẳng như da trống, là biến cách dị thường, thấy Huyền mà Sác, ở phần Phù thì cường trực (căng thẳng) mà đè xuống thì giữa trống. Phàm mạch Khâu, Lao, Khẩn đều thuộc loại mạch Cách, khác hơn mạch Khẩn vì mạch Khẩn đè xuống thấy bựt bựt, mạch Huyền thấy không dời đổi, mạch Lao đè xuống thêm cứng.
Cách là hiện tượng biến cách. Phàm mất huyết, mất tinh, khí của Thận bên trong quá mệt mỏi, và hoặc hư hàn đun đẩy nhau, nên mạch thấy nhu
https://thuviensach.vn
hòa mà thấy ở giữa trống. Nếu không để ý đến Thận để bổ tinh, làm cho tạng Mộc được thơi thới để giáng hàn, mà cho mạch Cách Phù thuộc biểu, vọng dụng thẳng phát chơn âm không bị cáo tuyệt là điều ít có.
26. LAO
Nghĩa là kiên cố, kết sâu. Vì hiện Huyền đại mà trường, đè xuống thấy mạnh thẳng, chống ngón tay tựa như dây đánh căng thật thẳng. Phàm mạch Thiệt, Phục, Huyền, Sắc đều thuộc loại mạch lao. Nhưng mạch Thiệt thì hượt thiệt chảy trơn. Mạch Phục thì ẩn núp, rít khó. Mạch Cách thì đè vào thấy giữa trống.
Mạch Lao là hiện tượng tích kết cứng ở trong, là triệu chứng vị khí sắp tuyệt. Nên hoặc thấy chứng thấp điệt (có khi đọc là kỉnh), co quắp, hàn sán, bạo nghịch, tích cứng phục bên trong. Phép trị không phải dễ. Nếu không xét nguyên nhân mà cho Lao là ở trong thiệt dùng vị đắng lạnh, hoặc nghĩ do ăn uống bị đình trệ sanh đàm, thì bệnh càng thêm kết cứng.
27. TẬT
Nghĩa là nhanh, nhanh hơn Sác, trong một hô hấp có đến 7-8 nhịp mạch. Mạch Động, Hượt, Hồng, Sác đều thuộc loại mạch Tật. Nhưng mạch Hồng đã to và chỉ hơi mau, chớ không gấp rút như mạch Tật.
Mạch Tật hình như bởi khí dương cang thịnh không chế ngự được. Cũng có trường hợp lạnh nóng âm dương thiệt giả khác nhau. Nếu quả mạch Tật kèm theo Hồng Đại mà cứng mới đúng là chơn âm sắp tuyệt, thế dương cực khó đàn áp. Nếu đè xuống thấy không dội tay thì lại là âm tà bạo ngược, hư dương phát lộ. Nhưng tóm lại đều thuộc bệnh khó trị, bởi vì mạch Tật mà kèm theo Hồng Đại sẽ khổ với bứt rứt, ngăn đầy. Tật mà Trầm Sác là bụng đau, đều là hiện tượng âm dương sắp tuyệt. Chỉ đột ngột bất tỉnh, đột ngột hiện chứng kinh, mạch thấy Cấp Sác phải đợi đến hơi bớt mới là không ngại. Cũng có trường hợp mạch tuy thấy Tật mà hoặc không Đại không Tế thì bệnh hãy còn có thể trị.
https://thuviensach.vn
28. TẾ
Nghĩa là như nhuyễn, là nhỏ hơn Tiểu mà lớn hơn Vi, qua lại nhỏ như tóc nhưng vẫn thấy rõ ràng. Phàm mạch Nhược, Tiểu, Vi, Nhụ đều thuộc loại mạch Tế. Nhưng mạch Vi thì vi nhược mơ hồ.
Tế là triệu chứng khí dương suy nhược, nhưng cũng phải phân biệt nếu Tế mà Phù là khí dương suy nhược, Tế mà Trầm là khí hàn trúng vào trong, hoặc nhiệt truyền vào 3 kinh âm, Tế mà Hưỡn là bên trong nhiễm thấp. Đều phải tìm đến nguyên nhân, không nên thi trị lộn xộn. Nhưng mạch đã nhỏ như sợi tóc đều thuộc khí hư, dẫu có ở trong nóng cũng phải kèm theo củng cố trung khí, không nên thuần dùng giải nhiệt để gây thành hiện tượng Tế càng kéo dài nặng thêm, huống chi bên trong hoàn toàn không có nóng, khí chơn nguyên vốn suy, thần khí không giữ được đến phải hiện mạch Tế thì lại càng để ý đến trung khí hơn nữa.
29. ĐỢI
Nghĩa là ngừng hơi lâu, nghĩa là bỗng dừng mà không thể nối tiếp, giây lâu lại động, gọi là mạch Đợi thuộc âm. Phàm mạch Xúc, Kết đều thuộc loại mạch Đợi. Nhưng Xúc, Kết tuy thấy có ngừng nhưng lại động liền và hữu lực.
Mạch Đợi là triệu chứng nguyên khí sắp dứt. Cho nên nếu không bệnh mà thấy mạch này thì rất đáng lo, tức là hoặc huyết khí đột ngột thương tổn nhiều quá, nguyên khí không nối tiếp; hoặc thất tình phóng túng thái quá; hoặc ngất xỉu nặng tổn thương; hoặc cơ thể bẩm phú, hệ thống kinh toại có trở nghẹt, vít, rít, không lưu thông mà hiện mạch này, cũng phải ngừng không đều nhịp; hoặc nói có thể trị được. Nếu ngừng có chừng nghĩa là độ mấy nhịp có một nhịp ngừng, là sinh khí đã tuyệt, làm sao có hy vọng nối tiếp. Chỉ có đàn bà thai nghén ói mửa, ốm nghén nặng nề thì mới thường thấy mạch Đợi, ăn vào đã ít, huyết khí đều tụ hết ở thai nên mạch khí không thể nối tiếp; nhưng phải ở lúc mới có thai, nếu đến 4 tháng trở lên, thai đã thành hình thì không còn ngừng nữa.
https://thuviensach.vn
30. TÁN
Nghĩa là tan, là nhớm tay lên thấy tản mác, đè tay xuống thấy mất đi, hoặc như thổi lông, hoặc như lá rụng tản mác, như thịt mỡ nổi trên tô canh, nhưng đến đi không rõ, không có căn đề; không giống như mạch Hư vì mạch Hư đè nặng tuy hư rồi tới tản mác.
Mạch Tán là hiện tượng nhuyễn khí ly tán, là điềm ứng Thận tuyệt bởi vì mạch Thận vốn Trầm mà trái lại đè xuống thấy Phù Tán là căn cội tiên thiên đã dứt. Như thương hàn ho nghịch, hơi đưa xốc lên mà thấy mạch Tán là phải chết, cùng với kinh nói thấy mạch Đại Tán thì cũng cùng một ý với chết. Đến như sách có nói nóng lui, mình an, đi tiêu chảy ngừng, nước cháo uống được, hoặc có thể sống. Nói như thế cũng không phải là lời quyết định.
https://thuviensach.vn
PHỤ LỤC
I. LUẬN VỀ KỲ KINH BÁT MẠCH
Đến như kỳ kinh bát mạch là 8 kinh lẻ để ước thúc 12 kinh thường. Nếu tạng khí an hòa, kinh mạch điều sướng, thì mạch của kỳ kinh không hiện; tức là kinh lạc thọ tà chưa đến đầy tràn chuyển vào kỳ kinh, cũng chỉ là còn ở chánh kinh. Khi khí tà tràn chuyển vào kỳ kinh thì mới hiện. Cho nên Nội Kinh có nói hiện tượng của mạch Xung thì trên dưới thẳng băng mà bộ giữa rắn chắc (Lao). Nếu bệnh có chứng khí nghịch bên trong gồng thắt là thuộc hàn thiệt.
Mạch Đốc: Thì thẳng trên thẳng dưới (huyền trường), nhưng chính giữa nổi. Nếu bệnh có chứng cứng xương sống không thể cúi ngửa là thuộc phong.
Mạch Nhiệm: Thì như có cây cản ngang ở 3 bộ, mà ở bên thấy có hình tròn tròn như hột đậu, mạch khẩn tế mà trường. Bệnh chứng dạ dưới đau gắt, đàn ông bên trong kết làm 7 chứng sán, phụ nữ thì đái hạ tích tụ, nghĩa là hàn thiệt.
Mạch Dương Duy: Thì bộ Xích xéo bên trong lên đến Thốn thì nổi lên, nên mới dùng hai chữ Xích nội. Bệnh chứng thì gai gai nóng lạnh, không thể tự kềm, đó là thuộc dương.
Mạch Âm Duy: Thì từ bộ Xích lệch ra phía ngoài lên đến Thốn thì chìm. Nghĩa là từ hữu Xích nhắm hướng ngón cái mà lệch đến bộ Thốn thì chìm nên gọi là Xích ngoại. Bệnh chứng Tim đau, buồn bực, thất chí, thuộc âm.
Mạch Dương Kiểu: Thuộc về lạc dương bên trên thì 2 bộ Thốn phù khẩn mà tế, mành mành, bệnh chứng phần âm thì hưỡn buông lơi; phần dương thì gấp, gồng thắt.
Mạch Âm Kiểu: Chủ về lạc âm, 2 bộ Xích trầm, khẩn, tế mành mành, bệnh chứng thì phần dương buông lơi, hưỡn; phần âm gồng thắt, cấp. Vì khí tà ở lạc, âm chủ về bên trong như dạ dưới đau, bệnh âm sán, chứng lậu hạ…
https://thuviensach.vn
Mạch Đới: Thì hai bộ Quan khẩn, nằm ngang mà hượt, có chứng bụng đau, thắt lưng nghe lạnh lạnh như ngồi trong nước, là khí tà ở giữa.
Phàm 8 mạch này mỗi khi gặp 5 chứng giản, 7 chứng sán, gáy giựt, lưng cứng, phát yết không chừng, chứng trong ngoài không nhất định, can cứng không giềng mối, khác mạch tầm thường thì phải nhớ tìm về kỳ kinh bát mạch.
II. MẠCH XUNG DƯƠNG - THÁI XUNG - THÁI KHÊ Ba danh từ này là để chỉ cho 3 động mạch.
Xung Dương: Là mạch Vị, vị trí của nó ở miệng vòng đi lên 5 tấc, chỗ kẽ xương. Động mạch đi lên này cách huyệt Hãm Cốc 3 tấc, bởi vì Thổ là mẹ sinh ra vạn vật. Nếu thấy mạch Xung Dương không suy là vị khí hãy còn, bệnh tuy nguy có thể cứu. Nhưng cũng kỵ Huyền cấp, e rằng Mộc vượng khắc Thổ.
Mạch Thái Khê: Là mạch Thận, ở sau trên xương gót hai bên, động mạch sờ có chỗ hũng, bởi vì Thủy là đứng đầu thiên nhất. Nếu mạch này không suy thì có thể trị.
Mạch Thái Xung: Là mạch của Gan. Vị trí ở sau lóng gốc ngón chân cái 2 tấc có chỗ hũng. Tạng Gan là bắt đầu của sinh vật phương Đông, nếu không suy thì bệnh có thể trị.
Nhưng ba mạch này chỉ có thể dùng để quyết định sống chết, chớ không thể đoán bệnh.
III. MẠCH CAO CHƯƠNG CƯƠNG, TY ĐIỆP TỔN Hai danh từ này là nhắm vào tượng mạch để đặt tên, vì Cao Chương Cương là mạch đi lên, nổi đầy tràn lên trên, kích động ngón tay, còn Ty Điệp Tổn là tượng mạch đi xuống, chìm sâu trệ xuống dưới, cấp sắc, không cất lên. Là ý nói hiện tượng một âm một dương, phân biệt mà đặt tên vậy thôi.
https://thuviensach.vn
IV. MẠCH THÁI TỐ
Đến như bài ca mạch Thái Tố, người xưa hoặc truyền mà không nói, hoặc nói mà không truyền đều có dụng ý vì lời lẽ trong đó có vẻ hoang đường, không nên khinh thường dễ dàng nói ra, e có người lợi dụng mà khi đời vậy. Đời nay lắm kẻ giang hồ thuật sĩ thường lợi dụng để kiếm tiền.
Nếu chẩn mạch Tim mà thấy phía trước hơi khum, phía sau thẳng như đè vào chột lưỡi câu. Đó là hiện tượng Tim chết.
Nếu chẩn mạch Phổi như có vật nổi trên mặt nước, như gió thổi lông. Đó là Phổi chết.
Chẩn mạch Gan mà thấy căng cứng như dây cung mới kéo, đó là Gan chết.
Chẩn mạch Tỳ mà thấy cứng bén như sờ vào mỏ quạ, cựa gà, hoặc như nhà dột nước, như nước chảy đều là Tỳ tử.
Chẩn mạch Thận mà thấy phát như giựt dây, bựt bựt như đè viên sỏi. Thế là Thận tử.
Lại nữa, chẩn Mạng Môn mà thấy hiện tượng Ngư Trường (cá vẫy), Hà Du (tôm lội), Dũng Tuyền (là mội nước trào) đều là mạch hết số.
Đó là mạch của 5 tạng quyết định chết hiện ra như thế.
Mạch Phản Quan: Là một hiện tượng chẩn mạch trên Thốn Quan Xích hoàn toàn không có, hoặc một tay phản quan, hoặc cả hai tay. Nếu không tinh tường thì sẽ bị lầm với mạch tuyệt. Có như thế là bởi hoặc thọ bẩm trong thai, hoặc khi mới sanh ra bị trì kéo lệch lạc, hoặc lớn lên bị té ngã làm cho mạch chánh bị tắc nghẽn mà mở đường hiện ra phía sau lưng cổ tay. Vậy nên khi gặp những trường hợp ấy phải cẩn thận dò tìm ra phía sau cổ tay kẻo bị lầm với mạch tuyệt.
V. ĐỐI ĐÃI VÀ TỶ LOẠI
Nhưng nghiên cứu tất cả mạch mà luận thì Phù và Trầm là nói một thăng một giáng. Sác và Trì là nói một mau một chậm; mà Tật so với Sác nhanh
https://thuviensach.vn
hơn. Hượt với Sác là nói một thông một trệ. Nói Thiệt với Hư là nói một cương một nhu. Trường với Đoản là nói một đầy một lưng. Đại với Tiểu là nói một to một nhỏ, mà Tế so sánh với Tiểu thì càng nhỏ hơn. Khẩn với Hưỡn là nói một săn một lơi. Cách với Lao là nói một trống một đặc. Động với Phục là nói một hiện một ẩn. Hồng với Vi là nói một thịnh một suy. Nói Xúc với Kết là nói một âm một dương. Đến như Huyền sánh với Khâu thì thịnh suy thấy rõ. Nhụ sánh với Nhược thì tiến thối thấy rõ. Đợi sánh với Sác thì chết chậm chết mau có thể liệu được.
Tượng mạch đối đãi như thế, nếu rõ ràng thì bệnh âm dương biểu lý hư thiệt đều có thể biết. Mạch Hồng với Hư tuy đều thuộc loại Phù nhưng hữu lực vô lực khác nhau. Trầm và Phục tuy phải đè nặng mới thấy, nhưng đè nặng thấy với lách gân tìm khác nhau. Mạch Sác thì căn cứ vào 6 chí, còn Khẩn thì 6 nhịp chưa đủ, Tật thì hơn 6 nhịp nhiều. Huyền thì bên trái bên phải đều xoắn, giống như dây đánh xoắn. Trì lấy 3 nhịp làm căn cứ. Hưỡn thì vẫn đến 4 chí mà từ từ không thúc bách. Thiệt với Lao vốn gồm Huyền và Trường; nhưng Thiệt thì phù, trung, trầm đều có; Lao thì chỉ ở trầm mới thấy. Hồng và Thiệt đều là hữu lực, nhưng Hồng mà đè nặng có hơi suy, còn Thiệt mà đè nặng càng thấy mạnh. Cách và Lao đều đại mà huyền, nhưng Cách thì thấy ở phần phù, Lao thấy ở phần trầm. Nhu và Nhược, Vi đều thuộc tế và nhuyễn, nhưng Nhụ thì thấy ở phù, nhược thì thấy ở trầm, Vi thì phù trầm đều thấy. Tế và Vi đều thuộc vô lực, nhưng Tế thì thấy phân minh rõ ràng, Vi thì mơ hồ không rõ. Đoản và Động đều không có đầu đuôi, nhưng Đoản là mạch âm hiện đến trì trệ, Động là mạch dương hiện đến hượt Sác. Xúc, Kết, Sắc, Đợi đều có một ngừng, nhưng Xúc thì trong Sác thỉnh thoảng có một ngừng. Kết thì trong Hưỡn thỉnh thoảng có một ngừng. Sắc thì qua lại trì trệ tựa như ngừng. Đợi thì ngừng có số nhất định. Phép Tỷ Loại mạch hình vốn phải như thế.
VI. CƯƠNG MỤC CỦA MẠCH
Lấy đại cương tiểu mục của mạch mà luận thì trong mạch học có nói về hình thể của mạch: gọi Hồng, gọi Tán, gọi Huyền, gọi Cách, gọi Phì (mập), gọi
https://thuviensach.vn
Hoành (ngang). Đó là thuộc loại mạch Đại (to).
Hoặc nói hình thể như nói Tế, nói Vi, nói Nhược, nói Sưu (ốm), nói chằng chịt như lưới nhện, thế là thuộc loại mạch Tiểu.
Có trường hợp nói số nhịp, hoặc nói Tật, nói Cấp, nói Xúc, nói Động, nói Kích, nói Bác, nói Thác, nói Suyễn, nói nhảy vọt, không căn cứ, đều thuộc loại mạch Sác.
Hoặc nói về số nhịp mà nói Hưỡn, Đợi, Kết, Thoát, thiếu khí, không đến trước, nói ngừng tạm, ngừng lâu, nói đứt như rót cạn, đều thuộc loại mạch Trì.
Có khi nói hiện tượng đi đến như nói Lợi (trơn), nói Dinh (đầy), nói Trác (như mỏ chim), nói Hấp (như chim xếp cánh), nói Chương (sáng tỏ), nói Liên Châu (tràng nhạc), nói Thế Thế Nhiên (là giảm suy), như thế tức là thuộc hình dung loại mạch Hượt.
Có khi nói về hiện tượng đi đến như nói Khẩn, nói Trệ, nói Hành Trì (đi chậm), nói mạch không chạm tay, nói nhịp 3-5 không đều, nói khó mà lại tán, nói như mưa nhiểu cát, nói như dao nhẹ cắt trúc, đều là diễn tả thuộc loại mạch Sắc.
Có khi nói về bộ vị, thì nói Cao, hoặc Điệp, hoặc Dũng, hoặc Đoan Trực (đầu thẳng), nói Điều Đạt (suôn sẻ), nói Thượng Ngư Vi Dật (tràn lên Ngư Tế). Như thế đều diễn tả thuộc loại mạch Trường.
Cũng có khi nói về bộ vị mà nói Ức (ức chế), nói Ty (thấp), nói Bất Cập Chỉ (là nói không đủ dưới ngón tay). Như thế là nói loại mạch Đoản. Có khi nói nhớm tay lên, đè tay xuống thì gọi là Khâu, Mao, Phiếm (phơi phới) là thạnh, là nhục thượng hành (đi trên thịt), hoặc nói có khi nổi, nói như nước trôi gỗ, nói Tệ Tệ như canh thượng phì (lình bình như thịt mỡ nổi trên canh). Như thế đều tính theo loại mạch Phù.
Có khi cũng nói theo cách nhớm lên đè xuống mà nói Phục, nói Tiềm, nói Kiên (cứng), nói Quá (thái quá), nói Giảm (suy), nói Hãm, nói Độc Trầm (riêng một bộ chìm), nói Thời Nhứt Trầm (thỉnh thoảng có khi chìm), nói
https://thuviensach.vn
Miên Khỏa Sa (như bông gói cát), nói như Thạch Đầu Thủy (đất ném xuống nước). Như thế đều diễn tả loại mạch Trầm.
Vả chăng hệ thống của Đại thì nói Đại, nói Sác, nói Trường, nói Phù là thuộc dương. Hệ thống của Tiểu thì nói Trì, Sắc, Đoản, Trầm đều thuộc loại âm.
Tổng quát cương mục của mạch là như thế.
VII. CHỦ BỆNH
Theo chủ mạch của bệnh mà luận thì Phù là phong, Khẩn là hàn, Hư là thử, Nhụ là thấp, Sác là ráo, Hồng là hỏa. Đó là của 6 khí ngoại cảm. Vui mừng thái quá hại Tim, mạch Hưỡn; giận quá hại Gan, mạch Cấp; ngại sợ hại Thận, mạch Trầm; kinh hãi hại Mật, mạch Động; nghĩ ngợi thái quá hại Tỳ, mạch Trầm; lo quá hại Phổi, mạch Sác; bi thương thái quá hại Tim, mạch Xúc. Đó là mạch thất tình thương tổn chủ bệnh như thế.
VIII. CHỨNG CHƠN TÒNG CHỨNG (chứng Thiệt theo chứng) Nhưng tóm lại không thể vượt ngoài vòng âm dương, hư thiệt làm then chốt. Bởi vì mạch Thiệt thì chứng phải Thiệt, hoặc hàn thiệt hoặc nhiệt thiệt. Mạch Hư thì chứng phải Hư, hoặc Thủy suy hay Hỏa suy cũng thế. Nếu mạch Thiệt mà chứng Hư thì chứng là thiệt mạch là giả. Mạch Hư chứng Thiệt thì mạch là thiệt, chứng là giả. Nếu ngoài tuy bứt rứt nóng mà mạch thấy Vi Nhược nhất định là hư hỏa. Bụng tuy trướng đầy mà mạch thấy Vi Nhược, nhất định là Vị hư. Hư hỏa, Hư trướng làm sao theo nó. Như thế phải theo mạch Hư, chớ nên theo chứng. Nếu chứng ngoài lạnh mà mạch thấy Hượt Sác, nhất định là giả hàn. Nếu đi tiêu chảy rót nước mà mạch hiện Trầm Thiệt, quyết định là giả đi tả, giả hàn, giả lợi, làm sao đủ để căn cứ. Thế là phải theo mạch Thiệt chứ không nên theo chứng.
IX. MẠCH CHƠN TÒNG MẠCH (mạch Thiệt theo mạch)
https://thuviensach.vn
Nhưng chứng Thiệt có giả, còn chứng Hư không có giả. Giả Thiệt thì bệnh chứng khó lường, phải cần xét ngoài các chứng khác và căn cứ vào mạch tượng thì bộ mặt giả mới hiện ra. Nếu gặp chứng thuộc Hư thì chứng dù có giả hàn, giả lợi, tướng như tượng Hư cũng khó rõ. Nhưng nếu tỉ mỉ nghiên cứu thì hàn chỉ thuộc chứng hiện bên ngoài mà ở trong phải có phiền táo các chứng… Dù đi tả rót nước trong, nhưng phải coi chừng bên trong quyết định có phân cục đóng cứng. Chẳng qua chỉ nước chen chung quanh mà chảy ra. Mạch phải Hượt, Sác, hữu lực, nhưng cùng với mạch Thiệt, chứng Thiệt tương tự. Chẳng thà nói chứng có giả Hư, còn mạch có thể không tin được sao! Phàm những trường hợp mạch Thiệt không có giả như thế có thể theo chứng mà ứng. Nếu chỉ chuyên theo mạch mà tìm, không quan sát mọi chứng, thì mạch còn có thể khó mà nói hết. Tại sao?
Trọng Cảnh nói thương hàn mạch Phù Đại, tà ở biểu, là có thể phát hạn. Nhưng nếu Phù Đại mà dưới vùng Tim cứng, có nóng là thuộc tạng, phải nên công, không nên phát hạn. Như thế lại không phải là mạch Phù thuộc biểu tà, thì không nên hạn nữa. Lại nói mạch Xúc là dương thạnh nên dùng thang Cát Căn, Huỳnh Liên, Huỳnh Cầm. Nếu mạch Xúc mà có khuyết lãnh là có hư thoát, không cứu, không làm cho ấm thì không được. Như thế không phải Xúc là dương thịnh nữa.
Lại nói mạch Trì là hàn, mạch Trầm là thuộc ở trong. Nếu Dương Minh mạch Trì không sợ lạnh, cơ thể rấp rấp mồ hôi, thì dùng thang Đại Thừa Khí. Như thế lại không phải nhất định Trì là mạch hàn.
Thiếu Âm bệnh mới mắc phải, lại phát nóng, mạch Trầm, nên dùng Ma Hoàng, Tế Tân để phát hạn. Như thế lại không hẳn mạch Trầm là mạch của chứng ở trong.
Đến như sách có nói bệnh chứng Hư Thiệt, quan hệ ở phân biệt mạch hữu lực, vô lực.
X. HỮU LỰC VÔ LỰC KHÓ BẰNG CỨ
https://thuviensach.vn
Nhưng thử hỏi mạch cùng với chứng khác, mạch thấy rắn chắc hữu lực, mà chứng thấy bụng đau, thích đè, ói nghịch, lạnh run. Như thế có thể căn cứ vào mạch Thiệt mà dùng thuốc đắng lạnh để tả thiệt được không?
Mạch thấy hư nhuyến vô lực, mà chứng bụng đầy, suyễn gấp, đàm sôi. Vậy có thể nào vì mạch Hư mà dùng Quế Phụ, Lý Trung được không? Vả lại mạch động nhờ khí, nhưng khí động mà không giữ, không có khí thì lạnh tự sanh. Như thế có thể nào khí nhân lạnh mới trỗi dậy được không?
Mạch hư nhuyến là tại thấp, vì thấp trệ nên không cổ động, như thế có thể nào không nóng mà kèm theo thấp, rồi mạch nhân đàm, nhân thấp mới mềm được không? (Mạch hữu lực phần nhiều khí lạnh, khí nóng cổ động vào bên trong. Nhưng người nay chỉ biết khí nóng kết bên trong là thiệt, mà không biết khí lạnh kết bên trong cũng làm thiệt. Còn vô lực thường bởi hàn thấp, nhiệt thấp, tiêm nhiễm bên trong, nhưng người nay thì biết hàn thấp làm ra đàm ra hư, mà không biết nhiệt thấp làm ra đàm ra thiệt. Cho nên phải đủ 4 phép vọng, văn, vấn, thiết mà quan sát để bảo đảm sự quyết định).
XI. TỨ CHẨN
Bốn phép Vọng, Văn, Vấn, Thiết là công việc tối yếu của y gia. Nếu chỉ biết có mạch rồi lạnh cho là nóng, nóng cho là lạnh, bệnh ở biểu cho là ở lý, ở lý cho là ở biểu, điên đảo lộn mèo, không khỏi có tổn thương đến sanh mạng. Huống chi kinh có nói: Mạch Phù là phong, là hư, là khí, là ói, là khuyết, là bỉ, là trướng, là đầy không ăn được, là nóng kết bên trong. Lối nói như thế có đến hơn mấy mươi chứng. Ví nếu chẩn được mạch Phù mà không kèm vọng văn vấn để tìm mặt thật của bệnh thì lấy đâu để định bệnh! Cho nên người khám bệnh lành nghề, đối với bệnh bẩm phú hậu bạc, hình thể mập ốm, nhan sắc khô nhuận, âm thanh thấp cao, tính tình cương nhu, sự ưa thích của ăn uống và bình nhật mạch tượng lệch hay thuần, bây giờ là bệnh chứng mới hay cũ, là trong hay ngoài, là âm hay dương, có trải qua sự phá hoại của thầy thuốc nào không, nhất nhất đều phải nghiên cứu cực kỳ tỉ mỉ, rồi sau mới hợp với mạch chẩn được để đoán bệnh tình, quyết định lành dữ. Nếu quả bệnh thuộc thiệt thì mạch phải Phù, Hồng, Khẩn, Sác. Nếu mạch không
https://thuviensach.vn
có thần, hoặc thấy Trầm Vi Tế Nhược đều không phải là điều lành. Bệnh thuộc hư, mạch phải thấy Trầm Vi Tế Nhược. Nếu thấy mạch thiếu Vị khí hoặc thấy Hồng Đại Sác Cấp thì đều không phải là điềm lành. Xét kỹ nếu bạo bệnh, mạch phải thấy dương, bệnh lâu ngày mãn tính, mạch phải thấy âm. Như thế phải mạch cùng với bệnh phù hợp rồi mới cho là thuận được.
XII. HẠ CHỈ NGHI LINH HOẠT (Đặt tay phải linh hoạt) Nhưng phép chẩn mạch đã phải dưới ngón tay thật linh hoạt, hợp với nhịp mạch cùng ngón tay ngay chính giữa đối chọi nhau, mà cần nhất là nắm được chỗ yếu để tìm căn bệnh. Khi chưa vào sự thật, ai mà không tự cho mình đã tỏ rõ. Nói bộ nào mạch nào, mạch nào với tượng nào, cho đến khi lâm chứng chẩn mạch thì đã nhận mạch Phù là phong, mà lại như Phù không phải Phù mà cũng không phải phong. Lấy Khẩn làm hàn mà lại như Khẩn không phải Khẩn, cũng không phải hàn. Lấy Hồng làm hỏa mà lại như Hồng không phải Hồng, cũng không phải hỏa. Lấy Sác làm táo mà lại như Sác không phải Sác, cũng không phải táo. Lấy Hư làm thử, lấy Nhụ làm thấp mà lại như Hư không phải Hư, như Nhụ không phải nhụ; mà cũng không thể lấy thử thấp mà đặt tên.
Các loại mạch như thế đã không thể phân, lại lấy 6 bộ 6 mạch phân đoán khảo, cầu mảy may không thấu suốt.
Lại nữa, cách điều động ba ngón tay cũng phải có thủ pháp. Lệ như:
Trong khi chẩn mạch, thử chuyển ba đầu ngón tay chặn cho ống mạch lệch ra phía ngoài theo chiều ngón cái, nếu thấy nó vẫn trả vào trong tức là trong bụng có tích. Cố đẩy nó vào phía trong theo chiều ngón út mà nó vẫn lệch ra phía ngoài, tức là trong mình có bệnh nóng.
Lăn ba ngón tay đẩy nó ra phía dưới về hướng bộ Xích, nó vẫn trở về hướng bộ Thốn, tức là từ thắt lưng xuống đến chân có lạnh. Lăn ba ngón tay đẩy nó lên hướng bộ Thốn, mà nó vẫn cứ trả về hướng bộ Xích, thế là có chứng đầu gáy nhức.
https://thuviensach.vn
XIII. MẠCH DĨ ĐỘC KIẾN VI CHƠN (mạch phải lấy sắc thái thống nhất làm chơn)
Ai hay bệnh thuộc một lý, mạch tự không hai. Nắm được chỗ yếu thì mới có thể quyết đoán được. Nếu thấy được đến chỗ độc đáo của mạch thì mạch có thể quyết định.
Vả chăng, nghĩa độc kiến (chỗ thấy thống nhất) không phải một. Có khi lấy các bộ không trái nhau, có khi lấy một bộ có chút xê dịch rồi định đó là nơi thọ bệnh mà có thể lấy đó đặt tên là độc.
Có khi lấy 5 tạng, 5 mạch đều ứng cùng hiện, mà 6 bộ 6 mạch chỉ thấy mạch của một tạng. Đó là chỗ bệnh căn, có thể lấy đó mà riêng đặt tên. Nghĩa chữ Độc không vượt qua như thế nên Nội Kinh luận 3 bộ 9 hậu thì có nói chỉ đại, chỉ tiểu, chỉ tật, chỉ trì, chỉ nóng, chỉ lạnh. Nếu chỉ có mạnh là bệnh thuộc có dư, chỉ có nhược là bệnh thuộc không đủ. Nếu chỉ hữu lực hữu thần, mạch tuy cường cũng không phải là quá.
XIV. HỮU LỰC CẦN PHẢI HỮU THẦN
Thuần mà hòa hưỡn nhu nhược, dù mạch tuy nhược, nhưng chưa phải là băng giá. Bởi vì nghĩa giả độc (đơn độc), giả thuần (đơn thuần) thì dễ biết, còn chơn độc, chơn thuần thì khó tỏ. Nếu nắm được chỗ yếu để tìm cái độc cái thuần thì được tỏ sáng. Nếu không nắm được chỗ yếu để tìm nghĩa độc nghĩa thuần thì khó mà được vậy. Nên khéo bàn về nghĩa độc nghĩa thuần thì đã xoắn ngay vào nguồn âm dương, căn cội khí huyết, để tìm lấy căn cội của độc và thuần, kế đó dùng lý thuận nghịch cho phép tắc thủ hợp, và mạch lên xuống đi đến nhịp ngừng, sẽ rõ ràng phân minh. Căn cứ vào đó thì nghĩa độc hợp nghi, rồi sau lâm chứng chẩn đoán để tìm nghĩa độc thuần, thì nghĩa độc hiển nhiên. Đủ biết nghĩa độc đưa đến thì độc hiện rõ ràng. Nên có khi thấy độc hiện ở trên mà nghĩa độc lệch ở dưới. Hoặc thấy tướng độc lệch bên trái nhưng kỳ thiệt lệch bên phải. Có khi thấy tướng độc hiện ở phủ mà lại lệch ở tạng, thấy hiện ở biểu mà sự thiệt là lệch ở lý. Đó là nghĩa độc có thể ý hội, nhưng không thể dùng lời diễn đạt hết.
https://thuviensach.vn
Nếu muốn nghiệm biết bệnh mới bệnh cũ, thì cần phải thể nghiệm thần tướng mạch và thần sắc, hễ mạch nhỏ thần sắc không mất thì bệnh mới, thần mạch không mất mà thần sắc mất là bệnh lâu. Mạch và sắc đều mất thần là bệnh lâu. Mạch và sắc thần đều không mất là bệnh mới.
XV. TINH TIÊU VÀ QUAN CÁCH
Tinh nghĩa là đáng lẽ bất cập mà thái quá. Tiêu nghĩa là đáng lẽ thái quá mà bất cập, cho nên là trái với bốn mùa. Thí dụ Xuân Hạ thuộc dương, mạch tay trái phải lớn hơn tay phải mà lại ngược lại nên tay phải gọi là tinh, tay trái gọi là tiêu. Thu Đông thuộc âm, đáng lẽ mạch tay phải lớn hơn mạch tay trái, mà ngược lại trái lớn hơn phải, như thế trái là tinh, phải là tiêu.
Tinh nghĩa là ngưng động không lưu thông, Tiêu nghĩa là bị rút bớt hao mòn. Thế tức là âm dương mạch không ứng theo âm dương của mùa. Âm dương trong thân không giao nhau nên gọi là Quan Cách.
Nên nhớ nói bốn mùa ở đây không phải chỉ hạn định mỗi mùa 3 tháng mà phải căn cứ vào bốn khí ấm mát nóng lạnh của bốn mùa làm tiêu chuẩn nên nói phép chẩn mạch quý ở hoạt bát, linh động. Nếu giữ chết cứng không biến hóa thì hướng nhắm đã sai, làm sao có thể thẩm xét nghĩa độc để cầu chơn mà tìm được cội nguồn của bệnh sao!
Hết phần triển khai phép tâm yếu.
***
Chúng tôi đã từng nói: Chỉ có thâm tâm của mỗi người mới là một guồng máy khám phá tuyệt vời, cho nên nếu không biết gì hết về phương pháp điều chỉnh và khám phá chính mình, chính thâm tâm mình trước mà muốn khám phá sự vật ngoài mình là làm một việc luống công vô ích.
Biển học mênh mông, tinh thần học hỏi không những cần biết “cái như vậy” của sự việc mà còn cần phải biết đến “cái làm sao có ra như vậy”. Nhưng có một điều đáng tiếc, những sách thánh hiền để lại xưa nay, phần nhiều chỉ nói về sự thể như vậy, nhưng không mấy khi nói đến làm sao có ra sự thể như vậy. Bởi vì nếu nói hết đến chỗ làm sao có ra sự thể như vậy, tức
https://thuviensach.vn
là vô tình biến học giả trở thành suốt đời chỉ biết ăn cơm mớm, còn bộ óc chỉ là dụng cụ trang trí mà thôi. Thế mới biết cách giáo dục của cổ nhân thật là thấm thía nên mới chừa lại cho hậu học một phần sáng tác của chính mình. Vậy mà phần hết hậu học đều chỉ chạy theo cái có ra như vậy, chớ không mấy ai thao thức đến làm sao có ra như vậy. Vì thế đạo thánh hiền ngày càng đi lần đến mai một, thậm chí chỉ ở phần ngoài có như vậy cũng không đủ sức biết cho chính xác, rồi từ đó cứ theo đà suy luận diễn dịch với ý riêng mình mà cắt nghĩa cho thành lý, thì làm sao không trở thành cả một khối sai lầm cho được! Lệ như trong Y Đạo có cái học dịch vốn bắt nguồn từ đáy lòng người đến bao la muôn trùng ngoại dịch. Thế mà 100 người học dịch khó tìm thấy một người đi vào nội dịch mà không trở thành thầy bói cho được! Tương tự như vậy, từ Y Đạo đi vào Y Khoa lạc hướng biến ra những chuyện buồn cười như tạng Phổi 6 lá, Gan nằm bên trái, Tỳ nằm bên phải, Tam Tiêu chỉ có tên chứ không có hình. Rõ thật chỉ là một đoàn mù rờ voi không khác.
Trên kia tôi đã từng nói: Nếu ai muốn đạt sâu vào cái học chẩn đoán của Y Đạo thì trước hết phải có kỹ thuật động viên toàn bộ trí tuệ của chính mình đến độ cực kỳ bén nhạy. Kế đó phải thông đạt tinh thần Nội Kinh rồi đi vào cái học chẩn đoán thì mới mong xứng đáng công trình học hỏi. Cho nên dù chỉ trong phạm vi Thiết Chẩn của mạch học cũng không thể khác.
Xin đừng ai bảo rằng nói sao mà khó khăn đến thế? Làm như thế rồi sẽ được mấy người theo nổi! – Xin thưa: nếu nói như thế thì nên đi học làm nghề buôn bệnh thì hơn, vì dù có nói ra nghe có khó khăn chăng nữa sự thật vẫn là sự thật!
Nếu là kẻ chỉ biết đi tìm học “có cái ra như vậy” chớ không cần phải thao thức đến “tại sao có ra như vậy” thì tinh thần khỏi cần phải băn khoăn thao thức. Nếu là kẻ muốn đạt sâu đến nguồn pháp để biết “cái làm sao có ra như vậy” thì trong tâm tư trí não của người ấy không thể có giờ phút quên lãng những câu hỏi sau đây:
- Tại sao chính thâm tâm mình mới là guồng máy khám phá duy nhất?
https://thuviensach.vn
- Tại sao con người với bao la vô tận vốn cùng chung một thể tánh đồng nhất không hai?
- Tại sao nhơn thân phải là tiểu thiên địa mà không thể khác? - Nhơn thân đã là tiểu thiên địa, vậy có thể là tiểu bao la được không?
- Tại sao trước khi muốn khám phá sự vật bên ngoài, phải khám phá chính con người mình trước?
- Vũ trụ lấy nguyên động lực từ đâu mà động?
- Quả Tim lấy nguyên động lực từ đâu mà đập?
- Tại sao chỉ có địa điểm động mạch ở cổ tay, đối với Thiết chẩn mới là chính xác nhất?
- Tại sao mỗi tay phải chia làm 3 bộ? Mỗi bộ chia làm 3 hậu? - Tại sao muốn đi vào Y Đạo phải vượt lên trên vòng danh lợi, oán thân sống chết?
- Tại sao phải thuận với trật tự thiên nhiên, ngoài vòng cố chấp để tùy duyên biến hóa?...
Và còn nhiều câu nữa có thể tùy trình độ thao thức của mỗi người mà tăng gia. Càng thao thức lui vào chính thâm tâm của mình sâu bao nhiêu thì sự khai mở cho trí tuệ càng rộng bấy nhiêu.
Giờ đây ta hãy thử bàn rộng ra ngoài lề khuôn sáo của Thiết chẩn mạch học thử xem.
Đành rằng theo quy luật của mạch học đã chia nơi địa điểm ở cổ tay làm 3 ô, mỗi ô là 1 bộ. Nếu hai tay hợp lại thì ra 6 ô để ráp vào 6 ô trong thân người, rồi dựa vào đó để làm chẩn đoán. Nhưng thử hỏi, căn cứ vào dưới đầu ngón tay của mỗi ô để đoán định bệnh tình, vậy gặp những khi bệnh không nằm giữa ô mà lại nằm giữa ranh giới của hai ô thì đoán bệnh thế nào? Thí dụ: Trường hợp bệnh ở Chẽn vừng ở cuống vị, thì phải vận dụng chẩn đoán thế nào? Thế mới biết khi học bao giờ cũng có khuôn sáo, đến khi thực hành mà thiếu biến hóa vô cùng thì sẽ không lối thoát. Nào có khác chi ngày xưa học cứu thương, phân châu thân ra nhiều khu vực, mỗi khu vực
https://thuviensach.vn
đều có cách băng bó khác nhau. Nhưng khi vào thực tế thì không mấy khi vết thương lọt hẳn giữa ô.
Lại nữa, theo quy luật đã chia thì tả Thốn thuộc Tim và Ruột non, tả Quan là Gan và Mật, tả Xích là Thận và Bàng Quang, hữu Thốn là Phổi với Đại trường, hữu Quan là Tỳ Vị, hữu Xích là Mạng Môn Tam Tiêu, cứ theo đó mà quan sát. Nhưng thử hỏi bệnh Tử Cung phải chẩn ở bộ nào? Bệnh sưng ruột thừa phải chẩn ở bộ nào? Nếu bảo là phải chẩn ở hữu Xích, vậy tại sao phải chẩn ở hữu Xích? Thế mới biết nếu chưa định nghĩa được Tam Tiêu là gì thì không thể giải đáp.
Lại như trường hợp Tử Cung có bướu, tại sao lại ứng ở hữu Xích, thấy rõ ràng dưới ngón tay có hiện tượng kết cứng tùy thuộc vào bướu lớn hay nhỏ. Nhưng khi Thận bên phải bị bệnh sạn nếu ở tuổi trẻ, ở hữu Xích cũng thấy hiện tượng kết cứng mà lại không như hiện tượng kết cứng của bướu. Hoặc giả không phải bệnh bướu ở Tử Cung, cũng không phải Thận bên phải có sạn, mà thấy hữu Xích hưỡn trệ hiện xuống dưới khỏi bộ Xích, thì có thể hoặc bị sa Tử Cung, hoặc bị trĩ nặng ở bên phải không biết chừng. Do đó không thông cơ thể học, không rõ vị trí tạng phủ, không hội tứ chẩn, không biết phân trên dưới trái phải để ráp vào bộ vị, hợp vào cơ quan tạng phủ mà chỉ y cứ vào mạch học đoán mò rồi có ngày cũng đến chết người!
Cũng như phụ nữ đang lúc sắp hết kinh, bị ngoại cảm, lại giao thiệp tình cảm với khác phái thì tự nhiên mạch hữu Xích động lên thì rồi từ đó bị nhiệt nhập huyết thất.
Hoặc như tả Xích là ngôi của Thận và Bàng Quang nhưng khi phải chứng táo bón lâu ngày thì tả Xích cũng thấy mạch Thiệt. Hoặc Thận bên trái có sạn, hoặc sạn đã xuống Bàng Quang, hoặc bị chứng Kỵ Mã Ung (hạch tinh thủy làm mủ) thì cũng đều hiện ở tả Xích. Nhưng mỗi trường hợp mỗi có hiện tượng khác nhau. Cũng có khi bệnh trĩ nặng lệch về bên trái thì cũng hiện ở tả Xích. Còn những trường hợp như bệnh thoát giang thì hai bộ Xích có thể đều hiện.
Đến như tạng Gan chai (Can Tích) hay sưng (Can Ung) với trường hợp cơ thể còn sức thì đều hiện hoặc Sác Thiệt, hoặc Trầm Kết ở tả Quan. Hoặc
https://thuviensach.vn
Mật có sạn, Gan có ký sinh trùng cũng hiện ở tả Quan mà cũng vẫn khác. Đến như bệnh tích ở Tỳ dương, hoặc hậu quả của sốt rét, hoặc Ung Thư Tỳ dương (camer du rate) thì mạch hiện ở hữu Quan ít mà tả Quan nhiều. Đó là chưa kể còn có những trường hợp đặc biệt: bệnh tướng ở dưới mà mạch hiện ở trên, ở trái mà mạch hiện ở phải. Nếu không nắm vững chơn giả thì không thể có lối đi.
Đến như Chẽn vừng bị bế tắc, mặc dù Chẽn vừng thuộc Tam Tiêu Thiếu Dương, mà mạch ở hữu Xích tả Quan hiện không rõ, chỉ có giữa tả Quan và tả Thốn mới hiện rõ mà thôi. Trái lại bệnh ở cuống vị cũng thuộc Chẽn vừng, lại cũng không ứng ở hữu Thốn hay hữu Quan mà lại ứng ở giữa hai bộ.
Còn hữu Thốn để chẩn Phổi và Đại Trường, vì Phổi và Đại Trường là tạng phủ. Vậy mà khi bón uất thì lại hiện ở tả Xích và hữu Thốn. Phương chi tạng Phổi che trùm cả hai bên, cuống Phổi tóm về chính giữa lên đến Yết hầu cả khí quản và thực quản đều cùng chung một khu vực. Cho nên không vì lẽ hữu Thốn để chẩn Phổi và Đại Trường mà không có cách để thấy hoặc bệnh ở khí quản, ở thực quản. Vậy mà còn thêm bệnh bướu cổ, bệnh Ung Thư cần cổ, cổ họng lại càng rắc rối hơn.
Cho nên bộ phận nào lệch ở hướng nào thì đều có hiện tượng của hướng ấy. Lại như tả Thốn dùng để chẩn bệnh Tim và Ruột non nhưng khi Bọc Tim bị kết cứng hoặc bởi huyết kết, hoặc bởi đàm kết, sốt rét cũng đều hiện kết cứng trên đầu tả Thốn, nhưng đều có chỗ khác. Đó là chưa kể đến những trường hợp như Ung Thư Bọc Tim hay Ung Thư vú. Thậm chí giả như trên đỉnh đầu lỡ có một nhọt to, thì cả hai bộ Thốn phía trong đều có hiện tượng khác. Cho nên nếu xét chung về hình mạch hoặc có thể từ trên Thốn nổi lớn rồi lần xuống Xích lần nhỏ, lần chìm thì gọi là nghịch, tức là hiện tượng trên thiệt dưới hư, ngoài thiệt trong hư và cũng có thể là lạc thiệt kinh hư. Hoặc ngược lại từ Xích lên Thốn, Xích nổi to lần lên càng chìm càng nhỏ thì gọi là hãm, là trệ. Có thể là vì trong hư mà ngoài quy tụ vào, cũng có thể trong thiệt mà ngoài hư, kinh thiệt mà lạc hư cũng không biết chừng. Cũng có khi Thốn Xích đều nổi to mà Quan nhỏ chìm tựa như đòn gánh lật sấp; trái lại
https://thuviensach.vn
Quan nổi to mà Thốn Xích chìm nhỏ tựa đòn gánh lật ngửa không biết chừng. Cũng có khi cả 4 bộ dưới đều mất, chỉ còn 2 bộ Thốn, hoặc ngược lại chỉ còn 2 bộ Xích, còn 4 bộ trên đều mất. Ngoài ra hình tượng mạch, nhất là 2 bộ Thốn hoặc có thể dư ra ngoài bộ vị, hoặc thêm nhánh đứng, hoặc có nhánh tẻ ra ngoài, hoặc có nhánh tẻ vào trong, những nhánh ấy hoặc cứng hoặc bở không nhất định. Đến như trường hợp thai đậu thấp, đậu cao, Tử Cung có vùng bị chai cứng, dù nhỏ như đồng bạc, mạch hữu Xích vẫn hiện rõ, nhưng mỗi trường hợp đều khác nhau. Thế mới biết: Thân người trừ tay chân đầu mặt ra mà phân 6 ô theo hình 2 chữ mục目ráp lại. Vậy mà còn trên giữa dưới, trong ngoài, nổi giữa chìm khác nhau thay! Huống chi còn dư ra hai tay hai chân, cổ, đầu, mặt, bệnh tai, mũi, họng, mắt… mỗi mỗi đều khác. Huống hồ con người là một thứ động vật hạng nhất, dù lặng thinh nằm đó cũng là một thứ cựa quậy. Cho nên vui quá hại Tim trước, giận quá hại Gan theo, buồn quá tức thì hại Thận (e ngại cũng vậy), lo quá Phổi liền dúm lại, nghĩ quá tạng Tỳ tức khắc thiếu lưu thông. Vậy thử hỏi những thứ ấy mạch tượng thế nào!
Con người là một địa cầu thu nhỏ lại đặt lên trên một địa cầu to lớn. Ở địa cầu, tất cả những chuyển động âm thanh đều theo sức ly tâm mà dồn ra bầu khí quyển, rồi mới rơi xuống theo hướng tâm mà vào lòng đất. Con người là hồi tụ cả thiên nhiên, buồng Phổi là bầu khí quyển, tất cả những rung động đều đổ dồn về Phổi theo hệ thống kinh thủ Thái Âm mà kết thành địa điểm chẩn mạch ở cổ tay, để nhìn thấy toàn vẹn cơ thể như một bản radar. Tuy nhiên, đã là động vật hạng nhất tất không thể không có lục dục thất tình. Cho nên hễ là thuộc loại tư tưởng suy tư thì đều theo ly tâm mà đi lên trước. Còn tất cả ý niệm có tính chất đam mê đắm nhiễm dục vọng ái tình thì đều đi xuống trước rồi đi lên sau. Vì thế sự cấu tạo động mạch cổ tay trở thành một làn sóng ba lượng, thật là trật tự văn minh. Cho nên nếu là người nữ kèm theo tâm tư đắm mê tình ái thì hữu Xích động, nếu là người nam tâm tư thường thèm khát dục vọng, cơ quan thường dấy động thì tả Xích phải động. Do đó có thể nhìn gương mặt, dò xét tinh thần, xem qua sự trang sức ăn mặc, cách nói năng đi đứng lại thêm chẩn mạch thì sự thật hiển nhiên. Nếu là trường hợp vương phải sự nghĩ ngợi triền miên không sao quên lãng thì
https://thuviensach.vn
hữu Quan phải động mà hư, kèm theo tả Thốn nghịch mà sắc. Nếu là trường hợp người tánh nóng nảy giận dỗi triền miên, thì không những tả Quan và phần trên của tả Thốn động mà thôi. Nếu phần trên của tả Thốn mà quá to, hoặc khóe mắt trong bên trái có màng mắt thịt đỏ ói tức là vì uất giận không giải được mà hóa ra Bọc Tim nở to. Nếu là trường hợp buồn rầu bi thương thái quá bị gặm nhấm trường kỳ, thì tả Xích và tả Thốn thường nhỏ chìm nhu nhược, và có thể thân Tim càng ngày càng bị teo nhỏ vì thiếu huyết. Nếu trường hợp vướng phải vì lo lắng trường kỳ thì tự nhiên buồng Phổi phải co dúm lại, Chẽn vừng bị rút lên sanh ra khí nghịch hữu Thốn vừa to vừa nghịch. Nếu thêm tả Thốn hư sắc, tả Quan trầm huyền, hữu Quan vô lực, thì mối kẹt trong tâm tư càng chặt chẽ hơn.
Tiến tới một bước nữa mà bàn, tạng Tim tuy là chủ nhân ông nội tạng, nhưng bộ Óc là tinh hoa của tạng phủ, là cơ cấu hiểu biết để giao tiếp với cảnh vật bên ngoài. Cho nên đa số những bệnh tật từ Chẽn vừng trở lên, nhất là bệnh mãn tính, càng gần trên đầu bao nhiêu thì gốc rễ càng mắc liền với tâm thức bấy nhiêu. Và đã là bệnh có hình tướng rõ rệt, càng xa xác thân càng mắc liền với cổ và đầu, thì sẽ tùy thuộc theo trái phải mà hiện rõ nhánh nhóc trong mạch tượng hai bộ Thốn khác nhau.
Người xưa nói: “Cơ bệnh sâu kín, mạch lý diệu huyền”. Cho nên về mạch tượng biến cố của tâm lý, dù có muốn chép hết cũng không sao chép được hết, chỉ nêu đại lược ít điều để người đọc có cơ xuất phát.
Thí dụ như âm thịnh thì nằm mơ thấy lội nước to khiếp sợ, khí dương thịnh thì nằm mơ thấy lửa to, cháy dữ dội, khi âm dương đều thịnh thì nằm mơ thấy việc tàn sát lẫn nhau. Nếu trên thịnh thì nằm mơ thấy bay, dưới thịnh thì nằm mơ thấy rơi, quá no thì nằm mơ thấy cho, quá đói thì nằm mơ thấy lấy, khí tạng Gan thịnh thì nằm mơ thấy giận, khí tạng Phổi thịnh thì nằm mơ thấy khóc, trong bụng nhiều lãi kim thì nằm mơ thấy tụ tập đông người, nhiều lãi đũa thì nằm mơ thấy đánh nhau.
Thế nghĩa là muốn nói nằm mơ thấy những chuyện trên là phải coi chừng những bệnh tật ấy, chớ không phải là pháp cố định nên cần phải biết.
https://thuviensach.vn
Lại nữa, bộ Óc là tinh hoa của tạng phủ, cung Nê Hoàn là tinh hoa của bộ Óc, mở ra huyệt Bá Hội, nên khi tạng phủ suy nhược mà phần trên suy nhược nhiều hơn thì bộ Óc và cung Nê Hoàn cũng bị suy giảm nên mạch tượng có thể hiện ở 2 bộ Thốn trầm tiểu tế nhược và huyệt Bá Hội thiếu làm cho các cơ cấu bên dưới như Tử Cung, bọng đái, ruột mất thăng bằng, biến sanh trệ và ảnh hưởng vào thai sản. Ngược lại nếu tạng phủ quá sung túc, bộ Óc và cung Nê Hoàn hoạt động thừa thì huyệt Bá Hội theo đó xảy ra triệu chứng tùy ứng và mạch 2 bộ Thốn cũng có thể theo đó mà hiện dư làm cho các cơ cấu bên dưới có thể bị ảnh hưởng một cách ngược lại.
Ngoài ra còn nhiều trường hợp vì xã hội đảo điên, cuộc sống xáo trộn, tâm lý con người tùy sự biến động của xã hội thời đại còn biết bao những bệnh lạ kỳ như vì xì ke mà tinh thần trở nên biến thái, hay hoặc vì muốn niệm Phật thật nhiều cho chóng giải thoát làm cho tròng mắt bị rút hết nước mà mắt mờ, hoặc tập Yoga chổng ngược mà sanh bệnh lạ kỳ, hoặc vì giờ giấc công việc mà phải quanh năm suốt tháng ăn thức ăn nguội lạnh mà sanh bệnh tật. Nếu là lương y tất phải đủ sức bén nhạy phát minh, sách vở truyền thừa không thể nói hết.
Cho nên bệnh ở tạng phủ, ở xác thân, ở kinh mạch, ở lạc, ở khí, đều có cách thức biểu hiện khác nhau. Thí dụ: Bệnh hư phần tạng thường chịu nặng, cho nên ở kinh mạch huyệt báo động ít xảy ra. Bệnh thiệt, phần phủ phần biểu, phần kinh dương chịu ảnh hưởng nặng, vì thế rất nhiều huyệt báo động xảy ra. Lệ như khi trúng gió thấy trên hai bộ Thốn có nhánh tẻ quay vào, dù ngôi chánh của mạch thông thường không có gì lạ chăng nữa, thử bấm những huyệt tùy ứng ở hai bên bả vai, 2 Thủ Tam Lý với Bá Hội đều giật nảy người. Nhưng nếu chỉ một bộ Thốn có thì chỉ có vai và tay bên ấy mới có huyệt tùy ứng, còn Bá Hội và cánh tay bên kia thì hoàn toàn không. Hoặc như trường hợp đi bộ đường xa về nhà mệt mỏi, nếu thấy hai bộ Xích trệ, sác, thì thường những huyệt như Phong Thị, Túc Tam Lý, Thừa Cân, Thừa Sơn đều có phản ứng báo động.
Biển học thật là mênh mông, chỉ có tiêu biểu vài điều để làm luận lệ. Nhân đây ta có thể biết được đến ngày nay, cả cái học châm cứu khắp thế
https://thuviensach.vn
giới không mấy ai phân định rõ được, mạch lý chẩn đoán thật phân minh mà chỉ mò theo chứng rồi châm bừa, làm thí. Khi thành gọi là công của mình, lỡ có thất bại thì đổ trút cho cổ nhân. Rồi vừa làm nghề, hoặc để sống, hoặc mượn danh từ làm phước thiện, hầu đem cơ thể kẻ khác làm vật thí nghiệm cho mình tiến thân. Thậm chí trong môi trường chánh trị cũng không khỏi lệ này, quả là một điều đáng tiếc!
Trong Thương Hàn Luận có đoạn Trọng Cảnh viết: “Phụ nữ bị bệnh thương hàn xâm nhập vào Tử Cung thì nên cho Tiểu Sài Hồ, bao giờ thấy uống thang này không thấy khỏi thì châm hai huyệt Kỳ Môn của kinh Gan, lại cho thang Tiểu Sài Hồ, lập tức hết”. Chuyện này quả đúng như thế, chính chúng tôi đã chứng thực thông qua. Nhưng đã là bệnh Thương Hàn nhập vào Tử Cung mà lại dùng thang Tiểu Sài Hồ của Thiếu Dương Tam Tiêu đến khi không khỏi mới châm huyệt Kỳ Môn của Gan như thế nghĩa là gì? Nghĩa là trong chỗ không lời, Trọng Cảnh muốn nói lên cho người sau biết bộ phận Tử Cung là nơi hội ngộ của Thiếu Dương và Khuyết Âm, nên khi cho thang Tiểu Sài Hồ không khỏi là phải lập tức ngăn không cho tà khí xâm nhập vào Khuyết Âm, kìm giữ ở Thiếu Dương, rồi cho thang Tiểu Sài Hồ lập tức khỏi là lẽ dĩ nhiên. Thế mới biết ngôn ngữ của cổ nhơn thật là hàm súc, hiểu biết của cổ nhân thật là quán xuyến!
Đối với bệnh tật hoặc châm, hoặc cứu, hoặc biếm, hoặc thạch, hoặc án ma, hoặc đạo dẫn, hoặc luyện tập, hoặc tĩnh tâm, hoặc ăn uống sinh hoạt, hoặc thuốc men đâu đấy đều có lý do khít khao tương xứng. Nếu ai có đọc thiên “Dị Pháp Phương Nghi” của Nội Kinh do chúng tôi san định(3) phiên dịch, chú giải, bình luận thì đủ rõ. Chứ không như lối chữa bệnh ngày nay không cần biết là cái gì, tại sao. Hễ cứ thấy bệnh là áp vào chữa, dù châm cứu hay thuốc men cũng chỉ nhắm vào chứng theo kiểu viên đạn thần. Như thế bảo sao tinh thần học hỏi không càng ngày càng suy bại!
Lại nữa, đối với hệ thống tạng phủ, cơ thể có 6 danh từ người xưa nói một cách ngắn gọn là Thái Dương, Dương Minh, Thiếu Dương, Thái âm, Thiếu âm và Khuyết Âm. Sáu danh từ này được chia làm 2 loại là thủ và túc. Thế rồi từ đó về sau, người đời nối thêm chữ kinh để gọi cụ thể là 6 kinh. Nhưng
https://thuviensach.vn
6 danh từ ấy nào phải chỉ để ám chỉ cho kinh. Vì sao thế? Vì mỗi danh từ là bao hàm ý nghĩa một hệ thống, trong đó có phần gốc phần ngọn khác nhau. Gốc từ tạng phủ rồi ra đến kinh khí và lạc. Thí dụ Thái Dương có phần tạng phủ của Thái Dương, Bàng Quang và Ruột non. Phần kinh mạch thì gọi là Túc Thái Dương thuộc Bàng Quang và Thủ Thái Dương thuộc Ruột non. Các danh từ khác cũng tương tự như vậy. Thế là mỗi một danh từ là để chỉ cho một hệ thống khí hóa từ tạng phủ kinh mạch ra đến khí để ráp vào mạch pháp, kết thành cơ chuẩn đoán. Thí dụ bệnh thuộc Thái Dương thì mạch Phù, đầu nhức, gáy cứng mà sợ lạnh. Đến như phân ra thủ túc, hệ thống nào mà phần tạng nằm dưới Chẽn vừng, thì tạng phủ của phần ấy đều thuộc túc, phần tạng nào nằm trên Chẽn vừng thì cả tạng phủ của phần ấy đều thuộc thủ. Cho nên Phổi và Ruột già đều thuộc về thủ. Tỳ và Vị đều thuộc về túc. Tất cả các danh từ đều theo qui củ này. Còn về phần kinh mạch thì kinh thủ khởi từ lồng ngực mà hiện ra tay, rồi nối tiếp theo tay mà trở về đi lên đầu. Còn kinh túc thì từ đầu đi thẳng xuống chân, rồi nối tiếp từ chân mà chạy về bụng. Ý nghĩa phân thủ phân túc là như thế.
Còn về khí là thuộc về bầu khí quyển cơ thể, rung chuyển theo làn sóng co giãn, nên vấn đề phân làm thủ túc trở nên không quan trọng mấy. Nên kinh có 12, mà khí chỉ có 6. Ở Nội Kinh chúng tôi giải thích rất rõ, đây chỉ khái lược thông qua, bao giờ đọc đến Thương Hàn Luận càng rõ hơn. Thế mà phần nhiều thầy thuốc hễ nói đá động đến dược tánh thì nói vị này vào kinh này, vị kia vào kinh kia, cũng như nói về mạch thì nói mạch này thuộc kinh này, mạch kia thuộc kinh kia. Về bệnh về chứng cũng tương tự như vậy, làm như cơ thể con người chỉ là một khối tổ hợp của những ống, những đường chứ không hề có tạng phủ. Đây cũng là một bệnh nghiêm trọng trong y khoa.
Một điều nữa ta cần phải để ý. Về mạch học, có những trường hợp bệnh kết thành khối cứng thành hình, mà tại sao mạch lại hiện ra mềm nhũn nhu nhược. Như thế là tại sao? Phải biết toàn cơ thể con người khắp cả tế bào đều là một guồng máy sống tổ hợp, khi còn sức phản ứng thì dù cho một chút xíu xa lạ nào đó xâm phập vào, đều nổi lên một sự phản ứng ngay. Do
https://thuviensach.vn
đó bệnh hình xuất hiện. Nhưng khi sức phản ứng đã kiệt quệ rồi thì chỉ còn có bệnh làm chủ tình hình. Đây là một ví dụ cụ thể để chứng minh: Người tuổi trẻ thử vén bắp đùi để lên đó một cục đá lạnh, rồi bỏ cục đá ra lau sạch. Ta sẽ thấy chỗ ấy tái nhợt hơn xung quanh nhưng qua độ nửa phút thì chỗ ấy thấy đỏ hơn xung quanh rõ rệt. Trái lại một bà già yếu kiệt quệ lại cũng đem thí nghiệm như thế, khi bỏ cục đá lạnh ra và lau sạch thì chỗ đó tái hơn xung quanh nhiều và dù cho trải qua 1-2 phút nữa nếu may mắn lắm cũng chỉ trở lại bằng như xung quanh chớ không hề đỏ hơn xung quanh. Như thế đủ biết tại sao người còn sức khỏe dễ ghiền nước đá theo bữa ăn, mà người bạc nhược lại sợ. Theo đây mà xét thì bệnh thiệt mà mạch hư, là năng lực khí dương trong người đó không còn đủ sức phản ứng nữa, cũng tương tự như vậy.
Ở Huỳnh Đế Nội Kinh phiên dịch, san định, giải bình về vấn đề vận khí Nam chánh Bắc chánh là cái gì? Tại sao có? Quan hệ với mạch pháp thế nào? Chúng tôi đã vạch rõ, ai muốn nghiên cứu kỹ phải có dịp thông qua. Nhưng làm sao có một phương giản dị để biết năm đó là Nam chánh hay Bắc chánh. Nếu người bệnh ngồi cách nào ở bộ nào sẽ chìm không ứng, và sửa đổi thế ngồi cách nào mạch sẽ ứng lại bình thường, để cho cơ thiết chẩn được chính xác.
Người Á Đông thường có cách thu mọi việc vào bàn tay để tiện ghi nhớ, khỏi cần mang sách. Với bàn tay thông thường của 12 địa chi thì dùng bàn tay trái, khớp lóng gốc ngón vô danh là ngôi Tý, đến lóng ngón giữa là ngôi Sửu, theo chiều trái đếm dần đến ngôi Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ là đúng ngay đầu ngón giữa rồi tiến tới Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là đến đúng khớp gốc ngón út.
Căn cứ trên bàn tay địa chi, người xưa đã lập ra bàn tay tìm mạch Nam chánh Bắc chánh như sau:
Hễ gặp năm Giáp, năm Kỷ là thuộc Nam chánh, ngoài ra hết thảy đều là Bắc chánh.
Bàn tay trái lật ngửa, lấy ra ngón giữa mà thôi, mỗi ngón chia làm 2 đốt để định 3 bộ vì theo phép, mạch không ứng không hề hiện ở 2 bộ Quan. Nếu
https://thuviensach.vn
gặp năm Nam chánh thì khởi bằng Tý mà ở ngôi Ngọ của bàn tay địa chi. Nếu là Bắc chánh cũng khởi bằng Tý mà ở ngôi Sửu của bàn tay địa chi, cả 2 đều đếm ngược chiều với bàn tay địa chi. Hễ tới một bực (phía ngón trỏ) là thuộc bộ bên trái, lui một bực (phía ngón vô danh) là thuộc bên phải, ở giữa là thuộc cả 2 bên.
Thí dụ: Năm Giáp Tý thì Giáp làm Nam chánh, Tý là đầu mối mà phải khởi ở ngôi Ngọ, thế là 2 bộ Thốn đều không ứng.
Năm Ất Sửu, Ất là Bắc chánh thì phải khởi bằng Tý mà ở ngôi Sửu, và đếm ngược chiều thì ngôi Sửu lại nằm ở chót lóng gốc ngón vô danh. Tức là ngôi Tý của bàn tay địa chi, thế là năm Ất Sửu hữu Xích không ứng.
Năm Bính Dần cũng thuộc Bắc chánh, cũng theo nguyên tắc Bắc chánh mà đếm thì Tý, Sửu rồi Dần. Thế là đúng ngay đầu ngón vô danh thuộc ngôi Mùi của bàn tay địa chi, là hữu Thốn không ứng.
Nói không ứng nghĩa hễ năm Nam chánh mà người bệnh ngồi quay mặt về hướng Bắc thì ngôi vị bình thường của nó sẽ hơi chìm đi. Nếu đổi quay mặt lại hướng Nam thì mạch bình thường ngôi vị hiện rõ. Nếu là năm Bắc chánh, để người bệnh ngồi quay mặt về hướng Nam cũng không ứng, đổi lại hướng Bắc thì ứng. Do đó thái quá bất cập đều có thể biết.
Có bài kệ sau đây:
Giáp Kỷ vi Nam chánh, kỳ dư giai vi Bắc chánh
Tam chỉ lục tiết định tam quan
Nam khởi Tý nhi đoan tại Ngọ
Bắc khởi Tý nhi đoan tại Sửu
Nhị giả, giai tùng nghịch số hành
Tấn nhất tắc tả, thối nhất tắc hữu.
Cứ nhìn kỹ bản đồ 2 bàn tay dưới đây thì rõ
https://thuviensach.vn
ĐỒ BIỂU NAM CHÁNH BẮC CHÁNH MẠCH BẤT ỨNG Mạch Bắc chánh Nam chánh
2 bộ Thốn bất ứng Bắc chánh Thiếu Âm tư địa. Ất, Đinh, Tân, Quí (Mẹo, Dậu)
2 Bộ Xích bất ứng Bắc chánh Thiếu Âm tư thiên. Bính, Mậu, Canh, Nhâm (Tý, Ngọ)
Tả Thốn bất ứng Bắc chánh Thái Âm tư địa. Bính, Mậu, Canh, Nhâm (Thìn, Tuất).
Hữu Thốn bất ứng Bắc chánh Khuyết Âm tư địa. Bính, Mậu, Canh, Nhâm (Dần,Thân)
Tả Xích bất ứng Bắc chánh Khuyết Âm tư thiên. Ất, Đinh, Tân, Quí (Tỵ, Hợi)
Hữu Xích bất ứng Bắc chánh Thái Âm tư thiên. Ất, Đinh, Tân, Quí (Sửu, Mùi)
Nam chánh Thiếu Âm tư thiên. Giáp (Tý, Ngọ)
Nam chánh Thiếu Âm tư địa. Kỷ (Mẹo, Dậu)
Nam chánh Thái Âm tư thiên. Kỷ (Sửu, Mùi).
Nam chánh Khuyết Âm tư thiên. Kỷ (Tỵ, Hợi).
Nam chánh Khuyết Âm tư địa. Giáp (Dần, Thân)
Nam chánh Thái Âm tư địa Giáp (Thìn, Tuất)
Vì âm dương 5 hành là then chốt của tướng cho nên 5 hành vẫn có thể tương sanh, tương khắc làm cho ở mạch tượng, ở bệnh tật, ở khí tượng của vận khí thiên nhiên cũng theo luật này mà biến hóa. 10 thiên can được chia làm 5 vận: Giáp Kỷ hóa Thổ, Ất Canh hóa Kim, Đinh Nhâm hóa Mộc, Bính
https://thuviensach.vn
Tân hóa Thủy, Mậu Quí hóa Hỏa. Tại sao có hóa ra như thế? Vì năm Giáp năm Kỷ, Thổ tinh can thiệp vào địa cầu. Năm Ất năm Canh thuộc Kim tinh. Năm Đinh năm Nhâm thuộc Mộc tinh. Năm Bính năm Tân thuộc Thủy tinh. Năm Mậu năm Quí thuộc Hỏa tinh. Nhưng Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là 5 cách vận hành của Thái dương hệ, những bộ phần tinh cầu ấy can thiệp trực tiếp vào địa cầu nên gọi là 5 năm thái quá. Còn Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là 5 năm cách vận hành của những bộ phần ấy đối với sự can thiệp vào địa cầu phải ở trong thế gián tiếp, nên gọi là 5 năm bất cập. Vì can chi đun đẩy nhau tạo thành thế 60 năm. Mỗi 2 can là 1 hành, mỗi hành là 12 năm, 6 năm thái quá, 6 năm bất cập mà thành lấn khắc. Thí dụ 6 năm vận Thổ thái quá thì vì Thổ lấn Thủy mà sanh bệnh, nên cách trị phải chế bớt Thổ mà nâng đỡ Thủy. Đến 6 năm bất cập, Thổ bị suy nhược phải bị Mộc lấn nên phép trị phải chế Mộc mà nâng đỡ Thổ. Đó là quy luật khái quát thông thường của vận khí thiên nhiên mà tất cả các hành khác cũng phải thế. Nên phép chẩn đoán cũng cần phải biết thông qua, hầu điều động chẩn đoán cho được chính xác.
Tóm lại, về mạch tượng muốn cho phép thiết chẩn được chính xác thì phải biết vì địa điểm mạch cổ tay là nơi đại hội, những làn sóng chuyển động của khắp toàn thân. Nên trước hết phải có cách phân bộ vị thật chính xác. Kế đến phải nhận định hiện tượng da thịt ở ngay trên các bộ vị ấy để xem có bình thường hay không. Nếu hoặc có bộ đầy, bộ khuyết, da thịt của bộ ấy đầy đặn hay thiếu thốn, bở hay rắn chắc thì trong nội tạng cũng như vậy. Kế đến phải biết hình thức mạch tượng lúc bình thường của mỗi con người ra sao, để đến khi chẩn đoán định bệnh, trị liệu mới thâu thập được kết quả cụ thể chính xác.
Chúng tôi thường thấy đa số thầy thuốc định nghĩa hai chữ Cao Cốt là xương mắt cá cổ tay theo chiều ngón út, nên mỗi khi chẩn mạch, họ thường dùng ngón tay giữa bắt từ đầu xương mắt cá cổ tay kéo qua đến kinh Thủ Thái Âm để lấy đó làm bộ Quan. Như thế làm sao chính xác! Theo chúng tôi thì ngay trên kinh Thủ Thái Âm, địa điểm Thốn Khẩu chỗ chẩn mạch, xương ở chỗ ấy có một gu nhọn nhô lên, hễ là tay trái của bệnh nhân thì đầu
https://thuviensach.vn
ngón giữa tay phải của thầy thuốc phải đặt ngay trên gu xương nhọn ấy mà lấy bộ Quan là chính xác nhất. Nếu là tay phải của bệnh nhân thì phải ngược lại theo bản đồ dưới đây:
Nếu là thầy thuốc của Y Đạo thì mạch, bệnh, chứng, thuốc, cách chữa đều phải ăn khớp nhau như những khớp xương sọ người mới được. Thí dụ: Trái thường của mạch của bệnh là đàm khí nghịch, hữu Thốn nghịch thì phép trị liệu dù cho ăn uống thuốc men, châm cứu… chăng nữa cũng phải thấy kết quả bệnh chứng khí nghịch, mạch nghịch, ứng theo phương pháp chữa trị mà lần giảm một cách rõ rệt thì mới gọi là có hiệu lực kết quả. Nếu trong vòng ba ngày theo dõi liên tiếp mà mạch tượng vẫn đâu nằm đấy, bệnh chứng vẫn y nguyên thì phải chấp nhận là mình chưa biết nó. Nếu phải theo đến nửa tháng đến 20 ngày mới mong thấy hiện kết quả, thì đó không phải là công của thầy thuốc. Cho nên phép chẩn đoán trước hết phải biết rõ nguồn bệnh hầu định bệnh cho được đảm bảo chính xác. Muốn được như thế phải hội đủ tứ chẩn kết hợp thành bài toán để có được đáp án con số thành, từ đó mới căn cứ trên sự thấy biết ấy mà hoạch định một bản đồ trị liệu, để tiến bước nào là vững chắc bước nấy, chẳng khác nào một ông tướng lão thành đương đầu với trận địa một cách bình tĩnh hiên ngang hay như tổ cờ thế, vừa đặt tay xuống là chuyển động cả bàn cờ. Có như thế mới xứng đáng gọi là lương y của Y Đạo.
https://thuviensach.vn
Cho nên 6 bộ mạch cổ tay đối với thiết chẩn là một bảng radar tổng thể, nhìn vào đấy ta có thể thấy được tất cả chênh lệch thăng trầm của toàn thân, và cũng nhìn vào đó theo dõi trị liệu để thâu hoạch toàn thắng. Chớ không thể chi li, rời rạc theo kiểu viên đạn thần, hay theo kiểu đánh giặc ô hợp, thiếu khít khao như ta đã thấy trong khắp y khoa ngày nay. Và tiếp theo đây là những câu chuyện gương mẫu cụ thể do hội tứ chẩn, hầu học giả nương vào đó mà được nhập thần.
Có một hiệu trưởng trường tư nọ tình cờ đến xin chúng tôi khám bệnh. Vì có quen mặt nên chúng tôi hỏi: Bệnh chi mà muốn khám? Đáp: Tôi không chơi bời, nhưng tại sao ở âm đầu xảy ra vết lở, xức đủ thứ thuốc mà không lành, nên xin nhờ khám. Nhìn suốt từ đầu tới chân thấy người nước da vạm vỡ, hồng hào, lại mặc đồ ngắn, trực giác chúng tôi nghi là nước tiểu đường, bèn nói thẳng với bệnh nhân là bị bệnh nước tiểu đường rồi đấy. Người bệnh trố mắt và bảo chúng tôi đùa. Tôi bèn đưa cho một ống nghiệm để lấy nước tiểu thử. Với phản ứng Liqueur de Féling, liền ngả ra màu gụ. Thế nghĩa là đường trong nước tiểu khá nhiều. Thấy thế người bệnh càng trố mắt, tôi bảo nằm lên để chẩn mạch, thấy 6 bộ đều đại, động, hơi sác và nhất là tả Quan tả Xích kèm theo huyền thiệt. Tôi nói: “Tôi hỏi phải nói cho thật, nếu đúng thì tôi trị, nếu không đúng thì thôi”. Người bệnh đồng ý. Tôi nói: Ông nhớ kỹ có phải đã trải qua một thời gian thèm khát dục tình với một người đàn bà nào đó kéo dài thời gian dằng dai mà không được phải không? Đáp: Phải. Tôi kết luận: Thế là bệnh này do tình dục kích thích trường kỳ không giải quyết được mà sanh ra bệnh nước tiểu đường. Vết lở ấy chính là do vết lở của nước tiểu đường vậy. Bệnh nhân hỏi: Bây giờ làm sao? Tôi đáp: Hãy dứt bỏ ý nghĩ đó đi, tôi cho thuốc là khỏi. Quả nhiên đúng như thế.
Một nam bệnh nhân tuổi kém 40, người mình dây không mập, đến xin chữa bệnh trĩ. Nhìn sắc mặt người lúc nào cũng đỏ gai tựa như người uống bia. Tôi hỏi: Ông ở đâu, làm nghề chi? Đáp: Ở Vũng Tàu, làm trưởng Ty tiểu học Vũng Tàu. Tôi bèn bảo cởi áo ra xem, thấy da lồng ngực đỏ gai, lang beng mọc khắp người. Tôi bảo: Ông có thường uống bia với tôm khô củ kiệu không? Đáp: Có. Hỏi: Ty tiểu học Vũng Tàu có giáo chức nam
https://thuviensach.vn
không? Đáp: Rất ít, hình như toàn là nữ. Hỏi: Hàng ngày ông có thường trực tiếp tiếp xúc với các nữ giáo chức không? Đáp: Có. Vì tôi đã từng biết hầu hết nữ giáo chức Vũng Tàu đều có dáng điệu ngoan ngoãn rất dễ cảm tình, nên tôi nghi đây là nguồn bệnh, bèn bảo nằm lên khám. Ông ta khai bị trĩ nội, lâu lâu tiêu ra máu một lần. Chẩn mạch thấy 6 bộ đại, động, thiệt, hượt, sác, nhất là tả Quan và tả Xích lại thêm huyền. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là nếu đo huyết áp thì có thể 17-18. Và động cơ của nó nguồn gốc ở nghề nghiệp tương giao, bị động tình dục mà thành liên lụy, để sanh ra nào chứng trĩ, chứng lang beng, chứng cao huyết áp, mà trong đó bia, tôm khô, củ kiệu có góp phần trợ duyên, và bảo bệnh nhân hãy nghiệm thử có đúng không? Bệnh nhân nhìn nhận quả đúng như thế! Nếu căn cứ vào tạng phủ mà nói thì đây là bệnh của Khuyết Âm và Thiếu Âm. Tức là bệnh của tác dụng thần kinh Gan, làm cho Gan bị liên lụy đến Bọc Tim và Thận vậy.
Tôi còn nhớ lúc tôi 24 tuổi, đến Cao Miên tỉnh Cam-bốt để nghiên cứu những thứ thuốc thảo mộc, lúc mới đến nương nhờ ở am của một nữ tu sĩ già, tuổi độ non 60. Ở được ít lâu thấy bà ta là một người mập mạp, bụng rất to, có tinh thần chơn tu, ăn chay trường theo kiểu khổ hạnh. Trong vuông rào của am, bà trồng nhiều đào lộn hột để lấy trái làm nước mắm. Ở trước sân thường có một khạp tương mặn đắng nổi muối, rồi dưa leo, dưa chuột còn non, củ cải, ớt hiểm, bà đều phơi héo héo cho vào ngâm nước tương. Mỗi bữa ăn cơm hoặc có chao, có rau tươi, không chỉ có thế, mà lại ăn thêm cả mắm ớt hiểm. Nhờ ở lâu lần lần biết ra bà là vợ một cai tổng xưa. Khi mới cưới về thấy tình đời không ổn bà trốn xuất gia đi tu, ăn chay trường kiểu đó trên 20 năm, ở đó được 7-8 tháng tôi về Việt Nam. Độ vài năm sau, tôi trở lại, bỗng dưng một cảnh bi đát đưa đến, bà đau nặng, trong bụng lạnh cho đến quấn mền, đốt lửa bên dưới phỏng cả lưng mà không hay. Vì bà là thầy thuốc nam, thường lên núi Tà-Lơn hái thuốc nên rước bác sĩ đến khám. Bác sỹ bảo: Vì bà xông pha rừng núi bị sốt rét rừng không thể cứu được, họ cho mỗi ngày uống đến 4 viên Ký-nin mà vẫn không ăn thua gì. Còn thầy thuốc Đông y cũng 3-4 ông ngồi quanh la liệt bảo: Bệnh của bà thế nào cũng chết vì mạch 2 bộ Quan, 2 bộ Xích đã mất rồi. Vừa thấy tôi bà mếu máo dặn dò để lại hết kho thuốc Nam cho tôi, thấy thế tôi xin chẩn mạch, quả đúng
https://thuviensach.vn
mất hẳn 2 bộ Quan, 2 bộ Xích nhưng 2 bộ Thốn vẫn còn to. Trong tinh thần tôi như thoáng thấy cái gì, liền quả quyết nhất định bà không chết. Chỉ vì ăn chay trường khổ hạnh lâu năm, thiếu hẳn chất hữu tình mà có ra như thế. Và trong đầu tôi nghĩ, nếu mạch từ lớn rồi lần lần nhỏ, mềm, yếu, tế, vi, mà mất hết 4 bộ dưới là quyết định chết. Còn đây 2 bộ Thốn vẫn còn to, nên biết đây là nhất thời bế tắc, tôi liền dặn người nuôi nấu cho một ít cơm nếp thật ráo để đó, tôi tức tốc ra chợ mua một bao tử heo với 300gr tiêu sọ, nửa lít sữa tươi, nửa chục trứng gà và vào tiệm thuốc bảo làm một thang Phụ Tử Lý Trung, Bội Vương, Quế, Phụ Tử tán nhuyễn làm bột, mua thêm nửa lít mật ong.
Bao tử heo làm sạch cho tiêu vào may lại, bắc nước lên hầm cho đến rục, lược kỹ, vớt bỏ mỡ, cao lại cho đặc. Rồi cho mật ong, lòng đỏ trứng gà, sữa tươi tuần tự canh cho đến đặc rồi cho bột Phụ Tử Lý Trung vào thành một thứ thuốc cao, đem về tìm đủ mọi cách nghi trang và thuyết phục cho bà uống, cách độ nửa giờ uống một lần, mỗi lần uống độ 10gr. Vì ăn chay khổ hạnh lâu ngày quá, nên đợt đầu phản ứng ói ra hết. Lại nói dối là sữa và lòng đỏ trứng gà với thuốc chớ không có chi khác. Bà tin cố gắng uống thông qua ba đợt, mạch từ từ hồi phục, rồi cho bà ăn cơm nếp. Thế là chỉ trong ngày đó mọi việc xuôi thuận. Bà uống hết keo thuốc được mạnh luôn.
Một nữ Đông y sỹ, tuổi trên 30, đến xin khám bệnh. Nhìn vóc người tuổi đã trung niên, nước da trắng, không đến mập nhưng ăn mặc trang sức tựa như gái 15-17. Tôi hỏi bệnh chứng thế nào? Đáp: Thỉnh thoảng như hơi thiếu hơi thở, thấy có hơi mệt mệt. Tôi bảo nằm lên khám bệnh. Chẩn mạch thấy 2 bộ Thốn uất, sắc, nghịch, tả Quan huyền, hữu Quan hư, 2 bộ Xích bình thường. Nhưng mạch tế nhận thấy có khi nhanh khi chậm; hỏi về kinh kỳ có lúc sớm, lúc trễ. Hỏi: Khi nào thấy buồn có thấy như hơi nghẹn chút không? Đáp: Có. Hỏi: Khi tiếp xúc với khác phái có dễ mất bình tĩnh không? Đáp: Có. Tôi bèn kết luận: Đây là do phản ứng khủng hoảng tình yêu. Nếu muốn chữa khỏi chỉ có hai cách: Một là phải có gia đình, hai là phải tu, giải quyết cho được vấn đề tâm. Còn thuốc chỉ uống Tiêu Dao cũng chỉ đỡ. Cô ấy đáp đã uống thang Tiêu Dao nhưng không thấy đỡ. Tôi bảo:
https://thuviensach.vn
Cô thử dùng Đơn Chi Tiêu Dao thêm Uất Kim, Huyền Hồ, Hương Phụ thử xem. Cô ấy nghe lời về làm quả nhiên bệnh đỡ.
Một người đàn ông tuổi quá 50, thuộc thành phần cán bộ tập kết, từ tỉnh Sa-Đéc gởi lên bệnh viện Thống Nhất nằm để khám bệnh, có triệu chứng thỉnh thoảng ho, có khi nhổ ra chút đàm, có khi lờ lờ máu cá. Thông qua chiếu điện và thử đàm thấy không phải bệnh Phổi, áp dụng đủ mọi cách nghiên cứu cũng không thấy có dấu vết lao Phổi bèn nghi là bệnh Ung Thư Phổi, nhờ người bạn đưa đến xin chẩn đoán hộ. Trông qua khí sắc của bệnh nhân chưa phải đến tiều tụy, nhưng bị trải qua sự tìm thử làm cho người bệnh mệt, nhất là chọc trong cuống Phổi đến ói máu.
Hỏi bệnh nhân đau Phổi đã bao lâu? Đáp: Có đã hơn một năm. Hỏi: Trước đây mấy năm có bao giờ bị bệnh kiết lị Amip kéo dài thời gian không? Đáp: Có. Sau khi chẩn mạch thấy mạch hai bộ Thốn, nhất là hữu Thốn sắc trệ. Còn các bộ khác đều hưỡn trệ mà tả Xích nhiều hơn. Tôi đoán bệnh: Đáng tiếc khi thử đàm phải đừng thử tìm bệnh lao hay bệnh Ung Thư mà tìm phản ứng ký sinh trùng Amip thì rõ, vì tôi ngờ rằng đây là hậu quả của bệnh kiết lỵ kinh niên truyền vào Phổi. Bệnh nhân nghe có lý. Đến khi thử đàm lại theo kiểu tìm hậu quả kiết lỵ, quả nhiên thấy đúng. Rồi từ bệnh viện Thống Nhất chuyển về bệnh viện Sa-Đéc, từ đó về sau đứt liên lạc không biết sự thể ra sao.
Vào khoảng năm 1946, một người đàn ông tuổi dưới 50 đến xin khám chữa bệnh Phổi, thuộc thành phần Bắc di cư. Trong người có vẻ khô khan hốc hác. Hỏi: Làm nghề gì? Đáp: Làm cai cao su. Hỏi: Triệu chứng bệnh thế nào? Đáp: Về chiều cứ ơn ớn và sợ nước, ho khạc ra thỉnh thoảng có máu, soi Phổi có vết nám, nghe trong ngực có hơi ran rát. Hỏi: Đại tiểu tiện thế nào? Đáp: Đại tiểu tiện thấy không gì lạ. Khám bợn lưỡi thấy lưỡi thường đóng bợn trắng, hỏi miệng thì bảo miệng thường lạt, khám mũi thấy hạch mũi một bên nở to, khám cổ họng thấy hơi đỏ. Chẩn mạch thấy hữu Thốn sắc nghịch mà tả Thốn sắc nghịch mà trệ, tả Xích trầm khẩn, còn hai bộ Quan và hữu Xích thì vô lực. Hỏi: Trong sở cao su có thầy thuốc không? Đáp: Có. Hỏi: Ông có bao giờ chữa bệnh trong đó không? Đáp: Có rất nhiều
https://thuviensach.vn
lần. Hỏi: Thử nêu lên những trường hợp chữa trị xem? Bệnh nhân nói: Mỗi lần đi làm về thỉnh thoảng thường bị nóng lạnh, thầy thuốc trong sở khám và bảo là sốt rét, thế rồi trước hết cho một liều thuốc sổ (Sulfate de Soude), sổ xong cho uống Ký-nin mỗi ngày từ 2-4 viên. Tất cả bệnh nhân đau như thế đều chữa như thế. Tôi đoán đây là hậu quả của bệnh ngoại cảm sốt rét, do cách chữa trị làm cho ngoại tà bị hãm vào trong, không ra được mà biến ra bệnh Phổi. Nói thế bệnh nhân có ý nghi ngờ nhưng cũng dùng thuốc thử. Căn cứ vào đó, chúng tôi cho thuốc chuyển khí tà bị hãm vào trong đẩy ra ngoài, sau bệnh hoàn toàn khỏi dứt khoát.
Thời gian Ngô Đình Diệm chấp chánh, ở quận Giáo Đức tỉnh Mỹ Tho có một thiếu phụ độ 27 tuổi đến xin chữa trị. Hỏi chứng, bệnh nhân cho biết khắp người nổi bóng nước dập ra lầy lụa, đã đến bác sĩ Vĩnh Long chữa trị mà không khỏi. Sau khi chẩn mạch thấy cả hai mạch đều hưỡn đại hãm trệ, sau khi điều tra kỹ mọi khía cạnh ăn uống, biết ngay là bị nhiễm độc thịt cá Vồ nuôi cầu, muốn chuyển sang cùi ướt. Căn cứ vào đó, cho thuốc thẳng tay, qua ba hôm ráo khô hết, rồi lần lột da mà khỏi. Ở vùng này, trường hợp xảy ra như thế rất thông thường. Chính tôi đã trị cho nhiều trường hợp tương tự, nhờ thế cho mãi đến bây giờ, dân chúng Ấp 3 An Hữu Giáo Đức không dám ăn cá Vồ cầu nữa.
Hồi tết Mậu Thân, ở cư xá Phú Lâm A, một công chức kho bạc sau nạn Mậu Thân được lệnh trở về nhà, nhà cửa hư sập phải sửa chữa. Cách tổ chức cư xá này mỗi nhà có hai phòng, một phòng khách một phòng ngủ, sau phòng ngủ có cửa sổ. Phía sau phòng ngủ là nhà cầu, xuống bếp và bể nước. Tận cùng phía sau là nhà bếp. Vì nghèo quá, con đông nên tổ chức nuôi gà Úc Châu tại những chuồng gà gần sát cửa sổ phòng ngủ bên bể nước, mỗi ngày lo chăm sóc quét dọn. Vì vốn là người quen, chiều chúng tôi thả bộ đến thăm bèn bảo người “không khéo trẻ em trong nhà sẽ nguy mất”, chủ nhà rất tin, chỉ chờ đến kỳ giải tán bầy gà. Vừa giải tán gà xong, trong nhà 4 trẻ em phát bệnh ban đỏ cực kỳ trầm trọng, đến chúng tôi chữa trị. Qua được cơn ban đỏ liền phát bệnh bạch hầu phong, cho đến nhà bên cạnh cũng có đứa bị. Nhờ chữa trị đúng phép 4 em bé được an toàn, còn em bé nhà bên cạnh vì
https://thuviensach.vn
không nghe lời, cho uống sữa, đem vào bệnh viện cắt cổ đâm ống thở rồi chết. Chúng tôi sở dĩ biết rõ như thế là vì những năm Mậu Dần, Mậu Thân, Mậu Tý, Mậu Ngọ thuộc vận hỏa, khí hỏa. Ở thành thị lại nuôi gà chuồng trong nhà, bị truyền nhiễm khí phong hỏa vi trùng rất nặng, rất dễ xảy ra bệnh ban đỏ và bệnh yết hầu. Đây là một định lý.
Một thiếu nữ 17-18 tuổi đến xin chữa trị với triệu chứng miệng không há lớn được, chỉ chen vào lọt ngón tay. Trông qua sắc diện, da thịt bệnh nhân có màu trắng đục như sữa. Hỏi ra mới biết ba của cô là phó giám đốc hãng sữa đặc, được giám đốc tin dùng tặng cho nhiều sữa đặc. Cô bé ngay từ hồi nhỏ đã có tập quán ăn bánh mì với sữa đặc sống, liên tiếp như thế 5-6 năm. Trước đó một năm bị chột xương ống quyển, đi Tây y chiếu điện thấy xương ống quyển bị mục, bèn mổ ra nạo, vì chạm trúng luồng năng lực của Túc Dương Minh, từ đó miệng mới nhiếp lại. Chẩn mạch thấy 6 bộ huyền tiểu mà lại là bệnh do giải phẫu làm ra nên chúng tôi từ chối không xen vào, đến sau thế nào không rõ.
Một em bé trai 3 tuổi, cơ thể rất tròn đầy mập mạp, vì có một mụt phát bối ngang xương sống lưng, cha mẹ em có đến xin chữa trị, và có khai rằng đã đi bệnh viện nhưng người ta không dám mổ, nhìn em bé thấy tóc sói giữa đỉnh đầu láng lẫy như đầu gối. Thử xem mạch em bé thấy ở tả Thốn có kết cứng một điểm độ bằng đầu kim gút, lệch về phía trong ngón út. Nghiên cứu về ăn uống, biết được em bé được nuôi bằng sữa SMA và nghi rằng điểm kết trong Tim là hậu quả của vết thương lòng của cha hoặc mẹ thọ bẩm khi trong bào thai. Bèn thử chẩn mạch người mẹ không thấy gì, khám đến người cha thấy đúng như vậy. Sau khi nghiên cứu kỹ mới biết đây là vết thương lòng do hậu quả của một mối tình đầu. Nhưng thông thường thì phải xuất hiện ở người mẹ, mà đây lại thọ bẩm ở người cha. Quả là một điều ít thấy.
Một em bé độ 2 tuổi, nhìn chung tương đối không ốm, chỉ có màu da trắng bệch, hố mắt đầy húp, lúc nào cũng nước mắt đầy tròng, lúc nào cũng có thể khóc. Vì bị chứng nghẹt lỗ ghèn, nên mẹ em bé đến xin chữa trị, và khai rằng lúc trước cứ mỗi tuần phải đến bác sĩ dùng dụng cụ soi lỗ ghèn một lần, nhưng không kết quả. Nhìn dáng mẹ em bé, với tướng mảnh khảnh
https://thuviensach.vn