🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Châm Cứu Học Trong Nội Kinh, Nạn Kinh Và Sự Tương Đồng Với Y Học Hiện Đại Ebooks Nhóm Zalo Thấy thuốc nhân dân GS.BS. Hoàng Bảo Châu CHÂM CỨU HỌC T R O N G N Ộ I K I N H , N Ạ N K I N H V À S ự T Ư Ờ N G Đ Ồ N G V Ớ I Y H Ọ C H I Ệ N Đ Ạ I • • • NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC THẦY THUỐC NHÂN DÂN GS.BS. HOÀNG BẢO CHÂU C H Ô M C Ứ U H Ọ C T R O N G N Ộ I K I N H , N Ạ N K I N H V Ò S ự T Ư Ơ N G D Ồ N G V Ớ I V H Ọ C H I N ĐAI NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC HÀ NỘI -2010 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Châm cứu là phương pháp chữa bệnh cổ truyền của phương Đông. Từ thập kỷ 70 của t hế kỷ XX, sau khi được Tổ chức Y t ế Thế giới công nhận, châm cứu đã trở thành phương pháp chữa bệnh quốc tế. Bộ Y Tế Việt Nam từ những năm 50 của thế kỷ XX đã rất coi trọng việc phổ biến ứng dụng phương pháp châm cứu đê chữa bệnh cho cán bộ và nhân dân, đồng thời cũng coi trọng việc phải trên kết quả phòng bệnh chữa bệnh của đông y, tham khảo lý luận, lấy khoa học hiện đại để chứng minh, chỉnh lý, nâng cao ly luận đông y (chỉ thị 21 CP, 19-12-1967). Năm 1978, NXB Y học đã xuất bản tài liệu Châm cứu học (gồm 2 tập) của tập thể lương y bác sĩ Viện Đông Y do bác sĩ Hoàng Bảo Châu làm tổ trưởng tổ biên soạn. Tài liệu có tác dụng tốt và đã được NXB Y học Matxcơva dịch ra tiếng Nga năm 1988. Từ đó đến nay, NXB Y học đã xuất bản nhiều tài liệu về Châm cứu của các trường đại học, trung học y cũng như của nhiêu tác giả khác. Vì là một phương pháp quốc tế, nên tuy đạ i đồng tiêu dị, các tài liệu đều có nội dung tương tự các sách châm cứu dùng trong giảng dạy của Trung Quốc cũng như quốc tế. Muốn tìm hiểu sâu hơn vê châm cứu tất phải tìm đến tài liệu góc Nội Kinh, Nạn Kinh, song vì trình độ Trung văn bị hạn chê và nhất là không có tài liệu gốc nên nhiều người đành chịu, do đó việc dùng khoa học hiện đạ i để chứng minh chỉnh lý lý luận châm cứu gặp nhiều khó khăn. Giáo sư Bác sĩ Hoàng Bảo Châu là bác ây chuyên khoa thần kinh, lại được học Đông y ở Trung Quốc (1960-1962), đã là bác sĩ 3 Trưởng khoa châm cứu Viện đông y (1967-1978), là Viện trướng Viện Y học cổ truyền (1977-1995), đã quan tâm đến việc tìm hiệu châm cứu từ tài liệu gốc Nội kinh, Nạn Kinh, thông qua két quả thực tiễn lâm sàng, đã dần dần có nhận thức rõ hơn vê hệ kinh lạc, về huyệt và khí, về châm cứu chữa bệnh. Ông đã đê thời gian SƯU tầm sắp xếp lại những nội dung về châm cứu học ghi rải rác trong Nội kinh, Nạn Kinh và dịch ra tiếng Việt (có kèm âm Hán Việt) thành một tài liệu phản ánh đúng tinh thân Nội kinh, Nạn Kinh viết về châm cứu học, trên cơ sở đó đã vận dụng y học hiện đại chứng minh lý luận về châm cứu này. Ong đã nhận thấy sự tương đồng giữa hệ kinh lạc với hệ tuân hoàn máu, hệ huyệt khí với hệ thần kinh, chữa bệnh bằng châm cứu vói chữa bệnh bằng phương pháp vật lý. L ần đầu tiên NXB Y học có được một tài liệu vừa có nội dung gốc về châm cứu bằng tiếng Việt, vừa có dùng khoa học y học hiện đạ i để chứng minh giải thích lý luận về châm cứu. NXB Y học xin cảm ơn Tác giả và giới thiệu với bạn đọc, mong cung cấp cho các thầy thuốc châm cứu cũng như các nhà nghiên cứu một tư liệu tốt để nghiên cứu tham khảo. NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC 4 LỜI GIỚI THIỆU Châm cứu có nguồn gốc từ Trung Quốc, tài liệu Nội kinh, Nạn Kinh được công nhận là tài liệu gốc của Châm cứu. Sau này khi khai quật ngôi mộ cổ số 3 của Mã Vương đời Hán (168 trước công nguyên) vào năm 1973, các nhà Y học Trung Quốc đã phát hiện hai tài liệu quan trọng là: "Túc tí thập nhất mạch cứu kinh và Âm dương thập nhất mạch cứu kinh". Trong quá trình ứng dụng châm cứu, đến t hế kỷ thứ ba sau công nguyên Hoàng Phủ Mật (215-282) đã viết cuốn Châm cứu Giáp ất kinh. Có thể coi đây là cuốn sách về Châm cứu hoàn chỉnh nhất, tiếp đó các y gia đời sau từng bước hoàn chỉnh dần. Đến thế kỷ 16-17 khoa học kỹ thuật bắt đầu phát triển, y học cô truyền phương tây được gắn ngay với khoa học kỹ thuật và phát triển thành y học hiện đạ i ngày nay. Trong khi đó Đông y nói chung, châm cứu nói riêng vẫn tồn t ại phát triển không gắn với khoa học kỹ thuật, vì vậy các sách vê Châm cứu cho đến nay vẫn viết theo cách cổ truyền: Hệ thống kinh lạc, Hệ thống huyệt, thần khí, khí. Riêng về châm cứu chữa bệnh đã có tài liệu giảng dạy viết tên bệnh theo y học hiện đại và viết cách điêu trị theo châm cứu. Tuy nhiên các nhà khoa học không chỉ học tập ứng dụng châm cứu cổ truyền mà từ những năm 50 của t h ế kỷ XX đã để công nghiên cứu về kinh lạc, về huyệt, về châm cứu chữa bệnh. Theo tài liệu Châm cứu học của Tôn Quang Kiệt và cộng sự (Nhân dân vệ sinh xuất bản xã 2004) khái quát có những kết quả nghiên cứu sau: Về kinh lạc: Đã tập trung nghiên cứu khái niệm về kinh lạc, khẳng định có sự tồn tại khách quan của hiện tượng kinh lạc; nắm được quy luật hoạt động của hệ kinh lạc ở mức độ nhất định (trang 2). 5 v ề thực chất của hệ kinh lạc đã có đến 18 già thuyết (trang 103-109) thể hiện 3 quan điểm sau: Kinh lạc là công năng đã biết của một hệ thống đã biêt. Kinh lạc là công năng chưa biết của một hệ thống đã biết. Kinh lạc là hệ thống điều hòa công năng tổng hợp của một hệ thống đã biết cũng bao gồm cả hệ thống chưa biết (trang 102). Về huyệt: đã có những nghiên cứu về cấu trúc huyệt như: thấy có nhiều thực bào (tế bào lốn) ở huyệt Túc tam lý; thấy 9 huyệt của kinh phế có liên quan đến cấu trúc tế bào sợi Ì huyệt có liên quan đến mút màng xương Ì huyệt liên quan với thành mạch; Ở huyệt Nội quan cơ quan cảm thụ và đường dẫn truyền không có gì đặc biệt; hoặc sự phân bố tổ chức ở huyệt và chỗ không phải là huyệt khác nhau. Cụ thể là ở huyệt có một cấu trúc không gian lập thể, còn chỗ không phải là huyệt chỉ có một loại tổ chức cấu thành; Những nghiên cứu về huyệt và cấu trúc thần kinh (như hiệu quả của châm ở huyệt Nội quan và Thần môn như nhau vì chủ yếu đều thông qua dẫn truyền thần kinh để phát huy tác dụng, hoặc các đầu mút thần kinh sợi Cholinergic của cùng một nhánh thần kinh có thể được phân bố đến các tiêu động mạch và tổ chức dưới da vùng lân cận, quan hệ hình thái học của phản xạ đột trục này là một trong những nguyên nhân làm cho nhiệt độ tại chỗ của huyệt tăng cao); Hoặc những nghiên cứu về huyệt có liên quan đến thần kinh trung khu (như: Huyệt Giải khê có sợi thần kinh đi vào sừng sau tủy của thắt lưng 5 xương cùng Ì, Huyệt Túc tam lý có sợi thần kinh đi vào sừng sau tủy của thắt lưng 4 xương cùng 3 từ đó lên hành tủy và các nhân não khác lan đến cả nhân dây thần kinh sinh ba, trong điều kiện nhất định kích thích các huyết Giải khê, Túc tam lý có thể gây được cảm giác dẫn truyền từ chân đến thân, đến mặt. Hoặc các huyệt Nội quan, Tâm du liên n~ với tim bằng hai đường: một là thông qua đường thần kinh trung ương, hai là trực tiếp liên hệ thông qua các phán nhánh 6 của các nơron cảm giác (trang 482, 483, 484). Có thế thấy rõ: Những nghiên cứu chưa khẳng định được thực chất của huyệt song đã để cập đến sự liên quan của huyệt vối thần kinh ngoại vi, thần kinh trung ương, than kinh thực vật. Ve cơ chế tác dụng của châm cứu: Đã có rất nhiều nghiên cứu về cơ chế tác dụng của châm cứu như cơ chế tác dụng của châm cứu với các hệ hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, vận động, miễn dịch, thần kinh, chuyển hóa và mỗi hệ thống đểu có một số bệnh cụ thể. Tổng hợp lại thấy đó là cơ chế thân kinh và cơ chế thần kinh thể dịch; song ở mỗi hệ, mỗi bệnh hoặc cơ chế thần kinh là chính hoặc cơ chế thần kinh thể dịch là chính, chưa có sự đề cập tới cơ chế tác dụng chung của châm cứu (trang 1158-1182). Như vậy cho đến nay thực chất của hệ kinh lạc, huyệt và cơ chế tác dụng của châm cứu vẫn là vấn đề thời sự, đòi hỏi được tiếp tục nghiên cứu. Sau khi được nghe GS Hoàng Bảo Châu, một bác sỹ y học hiện đại chuyên ngành thần kinh học có trên 40 năm học tạp và điều trị bằng châm cứu, trao đổi và được xem bản thảo, tôi thấy tác giả đã để nhiều công sức nghiên cứu toàn diện cả 3 vấn đe trên, đã hệ thống lại nội dung về châm cứu của Nội kinh, Nạn Kinh và đã đưa ra nhận thức của mình về thực chất của hệ kinh lạc, huyệt và tác dụng của chầm cứu trên cơ sở so sánh với khoa học y học hiện đại. Việc hệ thống lại những nội dung về châm cứu của Nội kinh, Nạn Kinh được tiến hành công phu, tỉ mỉ. Tác giả đã SƯU tâm những y văn có liên quan đến từng vấn đề rải rác trong hai tài liệu gốc, sắp xếp lại, dịch ra (có kèm phần âm Hán Việt và số trang trong sách để có thể kiểm chứng) thành một nội dung tương đối hoàn chỉnh; Người đọc có thể lĩnh hội được và thực hành theo tài liệu kinh điển. Tôi cho rằng phần này sẽ là tai liệu tham khảo tốt cho những thầy thuốc học, thực hành nghiên cứu và dạy châm cứu. 7 Tại sao? Vì ngoài những nội dung vẫn thường thấy trong các sách viết về châm cứu ở nước ta còn có nội dung thuyết minh rõ hơn về: a/ Vai trò của kinh lạc là nơi huyết khí tuần hành, nguon gốc của huyệt, của khí cũng như vai trò của kinh lạc trong "Quyết sinh tử, xử bách bệnh, điều hư thực". hi Về các định nghĩa của huyệt. c/ Về cách chọn huyệt, thủ pháp châm cứu trong chữa bệnh. d/ Về những bệnh chữa được bằng châm cứu. Phần nhận thức cá nhân cũng rất đặc biệt và lý thú. Lần đầu tiên có người có một nhận thức toàn diện về cả hệ kinh lạc, huyệt, thần khí, khí và châm cứu chữa bệnh có bằng chứng khoa học được công bố. Để có được nhận thức này, tác giả đã xuất phát từ quan niệm cơ thể là một thể thống nhất cần được khí huyết nuôi dưỡng, cần có những tiếp xúc với bên ngoài và đảm bảo hoạt động bên trong của cơ thể để đi tìm cơ quan có chức năng tương đồng vối hệ kinh lạc, huyệt và khí cũng như phương pháp điều trị của y học hiện đại đã được công nhận và giảng dạy ở các trường trong nưốc và t hế giới để tìm lời giải đáp. Trên cơ sở phân tích chức năng và cấu thành của hệ kinh lạc và hệ tuần hoàn máu tác giả kết luận: "Hệ kinh lạc và hệ tuần hoàn máu là một". Trên cơ sở phân tích chức năng của huyệt khí, nguyên khí và hệ thống cơ quan cảm thụ, thần kinh thực vật, thần kinh ngoại vi tác giả kết luận: "Hai hệ thống huyệt khí và thần kinh là một". Trên cơ sở phán tích công cụ sử dụng trong châm cứu và các yếu tố vật lý dùng trong lý liệu pháp, tác giả đi đến kết luân- "Chầm cứu chữa bệnh là phương pháp điều trị bằng kim ngải nằm trong hệ thống các phương pháp điều trị bằng vật lý". 8 Vì là phương pháp điểu trị vật lý nên "Cơ chế tác dụng chủ yêu của châm cứu cũng là cơ chê thần kinh và cơ chê thần kinh thê dịch như những phương pháp điêu trị vật lý khác". Tuy về cơ bản hệ kinh lạc và hệ tuần hoàn là một, hệ huyệt khí và hệ thần kinh là một, song do tách rời với khoa học kỹ thuật nên miêu tả của y học cổ truyền hoàn toàn dựa trên quan sát của y học cô truyền mang tính chức năng là chính, giải phẫu là thứ yếu. Còn y học hiện đại do gắn với khoa học kỹ thuật nên đã miêu tả cả về chức năng và nhất là cả vế cấu trúc vật chất dù là nhỏ nhất ở dạng vi thể chỉ được phát hiện bằng những trang thiết bị ngày càng hiện đại và giải phẫu giữ vai trò quan trọng. Chữa bệnh bằng châm cứu tuy cũng thuộc phạm vi vật lý trị liệu nhưng là một phương pháp tuy là cô truyền song là mới so với vật lý trị liệu vì nó là phương pháp dùng kim tác động trực tiếp vào cơ quan cảm thụ và cả từng tô chức bị bệnh. Do đó châm cứu có tác dụng nhanh theo cơ chế thần kinh, cũng có tác dụng chậm hơn và kéo dài theo cơ chê thần kinh thể dịch. Tóm lại, tác phẩm Châm cứu học trong Nội kinh, Nạn Kinh và sự tương đồng vói y học hiện đại không ngoài mục đích: a/ Cung cấp cho độc giả những tư l i ệ u gốc về châm cứu được hệ thống lại, ghi rõ tài liệu và số trang để người đọc kiểm chứng về nội dung của Nội kinh, Nạn Kinh viết về hệ kinh lạc, huyệt khí và châm cứu chữa bệnh. b/ Giói thiệu vối độc giả nhận thức của mình về hệ kinh lạc là hệ tuần hoàn máu; hệ huyệt, thần khí, nguyên khí là hệ thần kinh; xác định châm cứu là một phương pháp mới trong vật lý trị liệu và cơ chế tác dụng của châm cứu là cơ chế thần kinh và cơ chế th^n kinh thể dịch; là những đóng góp của Tác giả vào việc đi sâu vào châm cứu học và tìm hiểu thực chất các nội dung của châm cứu. Thể theo đê nghị của Tác giả, tôi xin trân trọng giới thiệu vối độc giả tác phẩm trên đê có thêm tư liệu trong học tập, thực hành giảng dạy và nghiên cứu về châm cứu. 9 Tuy nhiên tôi cũng cần nói thêm rằng: suốt những năm tháng làm công tác quản lý về lĩnh vực y dược cố truyền, tôi luôn mong muốn Việt Nam ta có một tác phẩm nghiên cứu đánh giá về Hệ kinh lạc và các huyệt vị và cơ chế châm cứu trên cơ sơ khoa học nhưng không có. Đến nay đây là lần đầu tiên có ngươi nghiên cứu đối chiếu viết về sự tương đồng giữa y học hiện đại với Nội kinh, Nạn Kinh đã mạnh dạn đưa ra kết luận Hệ kinh lạc là hệ tuần hoàn máu, Hệ huyệt, thần khí, nguyên khí là hệ thần kinh, Châm cứu là một phương pháp mới trong Vật lý trị liệu và cơ chế tác dụng của châm cứu là cơ chế thần kinh và cơ chế thần kinh thể dịch. Những vấn đề trên lâu nay giỗi y học cũng như nhiều nhà khoa học trong và ngoài nưỏc quan tâm bàn thảo. Sau nhiều năm, trên cơ sở khoa học đã nghiên cứu, đôi chiếu giữa các y văn và thực nghiệm lâm sàng, Tác giả đưa ra những nhận thức lý giải, khẳng định có tính thuyết phục nêu trên. Nhưng chắc chắn không thể không có khiêm khuyết và tất nhiên sẽ có nhiều ý kiến bàn luận, tranh luận. Bởi l ẽ đây là một vấn đề khoa học hết sức nhạy cảm. Rất mong các nhà y học (y học hiện đại y học cô truyền), các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này hãy chân thành đóng góp cho Tác giả, để Tác giả tiếp tục nghiên cứu, bô khuyết những điểm còn khiếm khuyết; trên cơ sỏ đó tiếp tục hoàn chỉnh nâng cao nhận thức lý luận nghiên cứu của mình về hệ kinh lạc, hệ huyệt khí và cơ chế châm cứu góp phần vào việc lấy khoa học hiện đạ i để chứng minh, chỉnh lý nâng cao lý luận Đông y mà chỉ thị 21/CP ngày 19-12-1967 của Chính phủ yêu cầu. Thầy Thuốc Ưu Tú' LY. DSCKII. NGUYỄN ĐỨC ĐOÀN Nguyên V ụ trư ởng V ụ Y học cổ t r u y ề n - Bộ V tế 10 LỜI NÓI Đ Ẩ U Y học cổ truyền Trung Quốc gọi tắt là Trung y, có lịch sử lâu đời và đã truyền sang các nước láng giềng rất sòm. Đầu thiên niên kỷ thứ nhất, Trung y vào Việt Nam qua các thầy thuốc Trung Quốc như Đổng Phụng và rất nhiều các thầy thuốc di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam dưốí các triều đại Trung Quốc cho đến khi Việt Nam giành được độc lập n ă m 938. Năm 541, ở Triều tiên đã dậy Trung y. Năm 562, tài liệu Châm cứu minh đường đồ của Trung Quốc đã truyền sang Nhật Bản. Năm 608, nhiều lưu học sinh Nhật Bản đã học tập Trung y ở Trung Quốc. Những năm 30 của thế kỷ XIX, châm cứu đã truyền sang Pháp. Song 100 năm sau (cuối những năm 30 của t h ế kỷ XX), châm cứu mới thật sự có chỗ đứng ở Pháp. Thành lập vào giữa những năm 40, Trường châm cứu Châu Âu trở thành cái nôi truyền bá châm cứu ở các nước Tây Âu. Cuối những năm 50, các trường Trung y của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã tổ chức các lớp học châm cứu cho các thầy thuốc của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Cuối những năm 70 đầu những năm 80, Tổ chức y tế th ế giói công nhận châm cứu là một phương pháp chữa bệnh, đồng thòi tổ chức tại Trung-Quốc những lốp học châm cứu cho các thầy thuốc của các tổ chức thành viên ở các châu lục. Châm cứu đã được truyền bá ra khắp th ế giới. Là một bác sĩ y học cổ truyền đào tạo chính quy ở nước ngoài chuyên ngành thần kinh học, lại được học tập và làm việc vối các thầy giáo Trung Quốc cũng như thực hành châm cứu từ những n ă m 50-60 của th ế kỷ XX đến nay, được trực tiếp nghiên cứu các tài liệu gốc bằng tiếng Trung và các tài liệu có liên quan như Tố Vấn, Linh Khu, Nạn Kinh, các tài liệu giảng, các tài liệu l i tham khảo về Trung y của các trường Đại học về Trung V. co trực tiếp chữa bệnh bằng châm cứu, tôi đã có nhận thức rõ hơn về những nội dung mà người xưa viết về kinh lạc (kinh mạch), huyệt (khí phủ), thần khí" mạch khí và phương pháp châm cứu. Với mong muốn trình bày thu hoạch của mình về sự tương đồng giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, và cung cáp cho đồng nghiệp những nội dung về kinh lạc, huyệt và châm cứu chữa bệnh trong Nội kinh, Nạ n Kinh, tôi viết tài liệu này. Tài liệu gồm những phần sau: phần về hệ kinh lạc, phần vê hệ thống huyệt và thần khí mạch khí, phần về châm cứu chữa bệnh và phần về nhận thức của bản thân về những vấn đề trên. Về hệ kinh lạc có những nội dung sau: đạ i cương về hệ kinh lạc, cấu trúc của hệ kinh lạc, đường đi của mỗi đường kinh và mối quan hệ của chúng vối tạng phủ bên trong và cân cơ bì phu bên ngoài, tác dụng của hệ kinh lạc, vai trò của nó trong chan đoán và điểu trị; Về hệ thống huyệt, thần khí, mạch khí có những nội dung sau: định nghĩa về huyệt, các loại huyệt, tác dụng của huyệt trong chẩn đoán và điều trị, thần khí mạch khí và nguồn gốc của thần khí, mạch khí; Về châm cứu chữa bệnh có các nội dung sau: đ ạ i cương, các phương pháp điều hòa âm dương của y học cổ truyền. Những nội dung chữa bệnh bằng châm cứu có: kim ngải, vai trò của kinh lạc huyệt, nguyên lý chữa bệnh bằng châm cứu, điều trị theo bát cương, chọn huyệt châm cứu, thủ thuật châm cứu, châm cứu chữa bệnh; Vê nhận thức của bản thân, trên cơ sở so sánh đối chiếu vối sinh lý học và giải phẫu học hiện đại, tôi đã trình bầy ý kiến của mình về thực chất của hệ kinh lạc, huyệt thần khí mạch khí và châm cứu chữa bênh. 12 Những câu, đoạn trong y văn được trình bầy theo trình tự sau: phần dịch tiếng Việt, phần âm Hán Việt, và tài liệu tham khảo có số trang sách đế bạn đọc đỡ mất thòi giò tìm ở bản góc. Ví dụ: Linh Khu Kinh bạch thoại giải Kinh mạch, trang 104, viết tát là Linh Khu Kinh mạch, trangl04; Tố Vấn bạch thoại giải, Linh lam bí điển, trang 51, viết tắt là Tố Vấn Linh lam bí điển, trang 51. Trình độ và khả năng có hạn, khó tránh khỏi sai sót, mong được bạn đọc góp ý kiên, trao đổi để vấn đề càng được sáng tỏ hơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn. Thầy Thuốc Nhân Dân GS.BS. HOÀNG BẢO CHÂU Nguyên Viện trưởng Viện Y học cổ truyền Việt Nam 13 M Ụ C L Ụ C Lời Nhà xuất bản 3 Lòi giới thiệu 5 Lời nói đầu 11 Phầ n 1: Hệ kinh lạc 19 Đai cương về hê kinh lạc 19 Kinh lạc là một bộ phận của cơ thể 19 Tuần hoàn của huyết khí trong kinh lạc 20 Nguồn gốc của huyết khí tuần hoàn trong kinh lạc 21 Huyết khí tuần hoàn được nhờ tâm và mạch 23 Người xưa phát hiện ra kinh lạc bằng cách nào? 25 Cấu trúc của hệ kinh lác 30 Mười hai kinh mạch chính 32 Mười hai kinh (mạch) nhánh (thập nhị kinh biệt) 40 Mười lăm lạc mạch 43 Tám mạch khác kinh (kỳ kinh bát mạch) 47 Kinh lác và tang phủ, cân cơ bì phu 49 Kinh mạch và tạng phủ 49 Lạc mạch và tạng phủ 51 Kinh mạch và cân cơ, bì phu 52 Phụ: Mười hai kinh cân và mười hai khu da (tháp nhi kinh cân - tháp nhi bì bô) 55 15 Mười hai kinh cân (thập nhị kinh cân) 55 Mười hai khu da (thập nhị bì bộ) 60 Tác dung của hệ kinh lác 63 Vai trò quyết định sự sống chết 63 Vai trò xử bách bệnh 75 Vai trò trong điều hư thực 82 P h ầ n 2: Hệ thống huyệt và th ầ n k h í 38 Huyệt là gì? 88 Có các định nghĩa sau 88 Có bao nhiêu huyệt? go Thần khí 94 Tác dụng của huyệt trong chữa bệnh g 8 Chữa bệnh của ngũ tạng 9 g Chữa bệnh ỏ phủ 99 Chữa bệnh ỏ kinh mạch và các tổ chức khác 1 0 0 P h ầ n 3: v ề châm cứu chữa bệnh 1 0 1 Đại cương về chữa bệnh 201 Nội dung chữa bệnh bằng châm cứu 1 0 5 Công cụ dùng trong châm cứu 1 0 5 Vai trò của kinh lạc trong điều trị 1 0 7 Nguyên tắc chữa bệnh bằng châm cứu Chữa bệnh bằng châm cứu Điều trị học 16 Chữa bệnh hàn nhiệt 134 Chữa bệnh tà khí vào ngủ tạng 135 Chữa ngủ loạn 136 Chữa bệnh trướng của tạng phủ 137 Chữa bệnh nhiệt 139 Chữa bệnh quyết 144 Chữa chu tí 147 Chữa bệnh nhàn (giản) cuồng 148 Chữa bệnh ngược 151 Chữa đau thắt lưng 156 Chữa bệnh thúy 158 Chữa tạp bệnh 159 Chữa 12 kì tà 162 P h ầ n 4: Nhận thức cá nhân về sự tương đ ổng với y học hiện đ ạ i 167 Vê hệ kinh lạc và hệ tuần hoàn máu 167 Hệ kinh lạc 167 Đồ hình 169 Hệ kinh lạc - hệ tuần hoàn máu 170 Kết luận 185 về huyệt, thần khí và hệ thần kình 188 Huyệt là gì? 188 Y học hiện đại có tổ chức nào có vai trò như huyệt - hệ thống cơ quan cảm thụ 190 17 Nguyên khí (thần khí) Ì91 Y học hiện đại có tổ chức nào có chức năng như nguyên khí - hệ thần kinh thực vật 196 Mạch khí, kinh khí 199 Y học hiện đại có hệ thống thần kinh ngoại vi có cấu trúc và chức năng như mạch khí kinh khí của y học cổ truyền 202 Tại sao người xưa tuy đã nhận thức được huyệt, mạch khí, song l ạ i không thể tách được thành một hệ riêng mà vẫn để trong phạm vi hệ kinh lạc 203 Kết luận 203 Vê châm cứu chữa bệnh và lý liệu pháp 205 Tóm tắt ý của Nội Kinh, Nạn Kinh 205 Về châm cứu chữa bệnh và lý liệu pháp 211 Châm cứu và lý liệu pháp giống nhau và khác nhau ở chỗ nào? 212 Cơ chế tác dụng của châm cứu có khác cơ chế tác dụng của lý. liệu pháp không? 213 Cơ chế tác dụng của châm cứu 217 Kết luận 221 Tài liệu tham khảo 223 18 P h ầ n Ì HỆ KINH LẠC ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ KINH LẠC Kinh lạc là một bộ phận của cơ thể Linh Khu Kinh mạch (trang 104) viết: Người ta sinh ra trước hết là thành tinh (phôi) Tinh này sinh ra não tuy, có xương để làm khung, mạch để làm đường đi của dinh khí, gân để giữ xương khớp, cơ nhục làm tường vách để bảo vệ nội tạng, và ở ngoài có da săn chắc lông tóc mọc dài. Thức ăn vào dạ dầy được tiêu hoa thành các chất dinh dưỡng, đường mạch sẽ thông để huyết khí tuần hành trong đó đi nuôi dưỡng cơ thể (Nhân s sinh, tiên thành tinh, tinh thành nhi não tuy sinh, cốt ui cán, mạch vi dinh, cân ui cương, nhúc ui tường, bì phu kiên nhi mao phát trường. Ngủ cốc nhập ư vị, mạch đạo dĩ thông, khí huyết nài hành). Kinh mạch có tác dụng gì? Hoàng Đế trả lời: Kinh mạch có tác dụng quyết định sự sống chết, việc sinh ra bệnh tật, điều hòa trạng thái hư thực, vì vậy kinh mạch không thể không thông {Kinh mạch giả, sở dĩ năng quyết sinh t, x bách bệnh, điều hư thực, bất khả bất thông trang 105). Điều này nói lên vai trò của kinh mạch: quyết định toàn bộ sự sống chết, bệnh tật, điều hòa trạng thái hư thực, lập lại sự cân bằng trong cơ thể. Đe nói rõ vấn đề này Kỳ Bá viết: Vì mạch là nơi huyết khí lưu thông để nuôi dưỡng sự sống, nuôi dưỡng gân cơ xương, đảm 19 bảo hoạt động của khớp, cho nên nếu huyết hòa nó mới vạn hành thông suốt trong kinh mạch để nuôi dưỡng âm dương, làm gân cơ vững chắc và khớp hoạt động linh lợi (Kinh mạch gia, sơ dĩ hành huyết khí nhi dinh âm dương, nhuận cân cốt lợi quan tiết giả dã Linh Khu Bản tạng trang 349; thị cố huyết hoa tác kinh mạch lưu hành, dinh phúc âm dương, cân cốt kinh cường, quan tiết thanh lợi hỉ - trang 341). Tuần hoàn của huyết khí trong kinh lạc Thiên dinh khí Linh Khu (trang 185) viết như sau: Ngũ cốc vào dạ dầy tiêu hoa thành dinh khí, chất này được truyền lên phế để phân bố ra ngoài, phần tinh hoa của nó (dinh khí) vào các đường kinh tuần hoàn khép kín, liên tục không ngừng. Nạn Kinh Điều 23 đã miêu tả vòng tuần hoàn như sau: Dinh khí từ trung tiêu lên đổ vào Thủ Thái âm Dương minh, từ Dương minh đổ vào Túc Dương minh, Thái âm, từ Thái âm đô vào Thủ Thiêu âm, Thái dương, từ Thái dương đổ vào Túc Thái dương, Thiếu âm, từ Thiếu âm đổ vào Tâm chủ, Thiếu dương, từ Thiếu dương đổ vào Túc Thiếu dương Quyết âm, từ Quyết âm lạ i đổ về Thủ Thái âm (Cốc nhập vu vị, nài truyền chi phế, lưu dật vu trung, bô tán vu ngoại, tinh chuyên giả, hành vu kinh toại, thường dinh vô kỷ, chung .nhi phục thúy (Linh Khu), và Kỳ thúy tòng trung tiêu, chú Thủ Thái ăm Dương minh, Dương minh chú Túc Dương minh Thái âm, Thái âm chú Thủ Thiếu âm Thái dương, Thái dương chú Túc Thái dương Thiếu âm, Thiêu âm chú Thủ Tâm chủ Thiếu dương, Thiếu dương chú Túc Thiêu dương Quyết âm, Quyết âm phục hoàn chú Thủ Thái âm (Nạn Kinh). Linh Khu còn bổ sung một đoạn tuần hoàn nữa như sau: đồng thời có một nhánh đi lên đỉnh đầu, dọc cột sống vào xương cùng (mạch Đốc) vào âm khí, qua bụng lên ngực, lên khuyết bồn và trở về phê, rồi từ phế tiếp tục theo đường Thái âm. Đó là đường tuần hoàn của dinh khí theo hưống thuận nghịch bình thường (Kỳ chi biệt giả, thượng điên..., tuần tích nhập để, lạc âm khí thượng 20 tuần phúc lý, nhập khuyết bồn, hạ chú phế trung, phục xuảt Thái âm. Th dinh khí chi sở hành dã, nghịch thuẫn chi thường dã). Đê nuôi dưỡng cơ thể, trong quá trình tuần hoàn, mười hai kinh mạch đều có đường đi vào tạng phủ và đường đi ra cân cơ, bì phu (Thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ƯU tạng phủ, ngoại lạc vu chi tiết - Hải luận Linh Khu, trang 274; và Bì giả, mạch chi bộ dã Bì bộ luận Tố Vấn, trang 288). Nguồn gốc của huyết khí tuần hoàn trong kinh lạc Căn cứ vào những nội dung đã trình bày ở trên, ta thấy huyết khí là hai vật chất cơ bản có tác dụng nuôi dưỡng cơ thể. Vậy y học cổ truyền viết về những vấn đề đó như t h ế nào? - Nguồn gốc của huyết: Trả lòi câu hỏi Huyết là gì? Kỳ Bá viết: Trung tiêu nhận thức ăn uống, qua tác dụng của tỳ vị tách lấy phần tinh hoa, biên nó thành đỏ để nuôi dưỡng con người, đó là huyết {Trung tiêu thụ khí, thủ chấp biến hoa nhi xích, thị vị huyết - Quyết khí Linh Khu, trang 267). Trong huyết l ại có nhiều thành phần như dinh khí tân dịch và huyết. Đe làm sáng tỏ các thành phần đó, Bá Cao viết: Dinh khí từ tân dịch tách ra, đi vào mạch, hóa thành huyết để nuôi dưỡng tứ chi, đổ vào ngũ tạng, thời gian vận hành toàn thân của nó ứng với thời gian 100 khắc của một ngày đêm {Dinh khí giả, tiết kỳ tân dịch, chú chi vu mạch hóa dĩ ui huyết, dĩ vinh tứ mạt, nội chú ngủ tạng lục phủ, dĩ ứng khắc số - Tà khách Linh Khu, trang 468). Tố Vấn còn viết: Dinh khí là tinh khí của thúy cốc (Dinh giả, thúy cốc chi tinh khí dã Tý luận, trang 237). v ề Tân dịch ở trong huyết, viết: Ở trung tiêu tinh hoa của thức ăn uống còn tồn t ại đuối dạng tân dịch đi lên để tưới vào các khe giữa các cơ, thấm vào tôn mạch, ở đó tân dịch chuyển thành mầu đỏ. Huyết mà hòa thì tôn mạch đầy và tràn vào lạc mạch, lạc mạch đầy thì đổ vào kinh mạch {Trung tiêu xuất khí như lộ, thượng chú khê cốc, nhi sàm tôn mạch, tân 21 dịch hòa điều, biến hoa nhi xích vi huyết. Huyết hòa tác tôn mạch mãn dát, nài chú ưu lạc mạch giai doanh, nôi chú vu kinh mạch - Ung thư Linh Khu, trang 578). v ề Huyết, Ngũ tạng sinh thành luận Tố Vấn viết: Thận tàng tinh, tinh sinh tủy, tinh mà đủ thì tóc mượt, tóc là phần dư của huyết, và biểu hiện của thận là tóc (Thận chi hợp cốt dã, kỳ sinh phát dã trang 63). Còn Trương thị y thông viết: Thận khí nếu không hao tổn thì sẽ đưa tinh hậu thiên về thận để thành tinh, nếu tinh này không tiết ra ngoài thì l ại được thận khí đưa lên can để chuyển thành thanh huyết (Khí bất hao quy tinh vu thận nhi vi tinh, tỉnh bất tiết, quy tinh vu can nhi hóa thanh huyết). Như vậy có thể thấy huyết dịch gồm dinh khí, tân dịch, thanh huyết có nguồn gốc từ thức ăn uống và tinh của thận. - Nguồn gốc của khí (tuần hoàn cùng huyết) trong kinh mạch: Bá Cao viết: Thức ăn vào dạ dầy tiêu hóa xong thì chia làm ba đường, các chất cặn bã đươc tống ra ngoài, tân dịch đi vào trong để tưới cho các tổ chức, và tông khí tích ở trong ngực. Hoạt động của tông khí là: ra ngoài thì theo đương hầu họng, vào trong thì vào tâm mạch, và vận hành hô hấp (Ngủ cốc nhập vị dã, kỳ tao phách, tân dịch, tông khí phân vi tam toại. Cô tông khí giả, tích ưu hung trung, xuất ưu hầu long dĩ quán tâm mạch, nhi hành hô hấp - Tà khách Linh Khu, trang 468). Có thể hiêu như sau: Tông khí là khí kết hợp giữa khí của thức ăn uống và khí tròi qua thở ở ngực. Hoạt động của tông khí là ra ngoài (thở ra) theo đường thở, vào mạch để tuần hoàn cùng huyết dịch và đảm bảo hô hấp. Khi vào mạch thì nó kết hợp VỚI huyết theo ý huyết là mẹ của khí, huyết đến thì khí đến (huyết vi khí mẫu, huyết chí khí diệc chí). Trương cảnh Nhạc cũng đã viết: Người sống hay chết là do khí tụ hay tán, cho nên hình quỹ ve khi (hình chi tồn vong, khí chi tụ tán, cố hình quy vu khí - Nôi kinh giáo học tham khảo tư liệu trang 137; và khí tụ tắc sinh khi tan tắc t - tài liệu trên trang 159). 22 Huyết khí tuần hoàn được nhờ tâm và mạch Tô Vân viêt: Tâm là cơ quan quân chủ, nếu quân chủ sáng suôt thì dưới yên, không sáng suốt thì 12 tạng phủ đều nguy {Tâm giả, quân chủ chi quan dã Linh lam bí điển trang 51, CỐ chủ minh tắc hạ an chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy - trang 53). Còn Tà khách Linh Khu viết: Tâm là ông chủ lớn của ngũ tạng lục phủ, nơi ỏ của tinh thần..., nếu tà khí mà vào được tâm thì thần sẽ mất, thần mất thì chết (Tâm giả, ngũ tạng lục phủ chi đại chủ dã, tinh thần chi sở xá dã..., dụng chi tắc tâm thương, tâm thương tắc thần khứ, thần khứ tắc t hi - Tà khách, trang 475). Như vậy, Tâm có vai trò quyết định sự sống chết, và được thể hiện ở tác dụng quyết sinh tử của kinh lạc. Tâm phát huy vai trò quyết định sự sống chết thông qua công năng chủ huyết mạch toàn thân của mình (Tăm chủ thân chi huyết mạch - Nuy luận Tố Vấn, trang 239), và tất cả huyết đều thuộc về tâm (Chư huyết giả, giai thuộc vu tâm Ngũ tạng sinh thành luận TỐ Vấn, trang 64). Mạch là gì? Khi mối ở trong bụng mẹ đã có mạch để làm đường đi của dinh khí, khi có dinh khí đường mạch sẽ thông (Nhân chi sinh mạch vi dinh cốc nhập vu vị, mạch đạo dĩ thông - Kinh mạch Linh Khu, trang 104). Mạch là phủ của huyết (Mạch giả, huyết chỉ phủ dã - Mạch yếu tinh vi luân Tố Vấn trang 91), và: Mạch là nơi chứa đầy ắp dinh khí và dinh khí không có chỗ thoát (ủng át dinh khí, lệnh vô sở tỵ, thị vị mạch - Quyết khí Linh Khu, trang 267). Hai ý này nói lên mạch chứa huyết và khép kín không thông ra ngoài. Sau này Lý Niệm Nga, Trương Cảnh Nhạc nói thêm: Mạch không phải là huyết, không phải là khí, mà là nơi huyết khí tuần hoàn (Mạch giả, phi khí phi huyết, sở dĩ hành khí huyết dã - Nội kinh giáo học, tham khảo tài liệu trang 161). Những ý trên chủ yếu nói về mạch quản, tố chức thực thể của mạch. Trong kinh lạc còn nói đến 23 mạch khí. Tố Vấn viết: mạch khí lưu hành ỏ kinh, kinh khí quy về phế {mạch khí lưu kinh, kinh khí quy vu phế - Kinh mạch biệt luận, trang 130). L ại viết: Mạch khí của Túc Thái dương phát ra ở 78 huyệt {Túc Thái dương, mạch khí sở phát giả, thất thập bát huyệt - trang 299). L ại viết: Âm khí thái quá làm cho âm dương bất hòa, như âm thắng không hòa được vối dương thành cô âm, cô âm thì kinh khí tuyệt (Náo tắc cương nhu bất hòa, kinh khí nài tuyệt Âm dương biệt luận, trang 49). Vậy Kinh khí, Mạch khí là gì? Tố Vấn viết ngắn gọn như sau: Chân khí là kinh khí (chân khí giả, kinh khí dã Ly hợp chân tà luận, trang 160). Để nói rõ thêm, Nạ n Kinh viết: 12 kinh mạch đều có liên quan đến nguyên khí, nguyên khí là khí căn bản của 12 kinh mạch (Chư thập nhị kinh giả, giai hệ vu sinh khí chì nguyên, sở vị sinh khí chi nguyên giả, vị thập nhi kinh chi căn bản dã - Điều khó thứ 8). Cho nên sách xưa viết: khí là soái của huyết, khí hành huyết tự hành (Khí vi huyết soái, khí hành huyết tự hành - Nội kinh giáo học, tham khảo tư liệu trang 51). Huống tuần hành của kinh khí có đồng nhất vói hưống tuần hành của huyết khí trong kinh lạc không? Như đã nêu ỏ trên mạch khí lưu hành ở kinh, kinh khí đều quy về phế (Kinh mạch biệt luận Tố Vấn, trang 130), ta thấy hướng tuần hoan của kinh khí và của huyết trong kinh lạc không giống nhau. Ý này được khẳng định ở Cửu châm thập nhị nguyên Linh Khu như sau: Khí của 12 kinh mạch, 15 lạc mạch trên dưới cộng khi của 27 kinh lạc đều xuất ra ở huyệt tỉnh, chảy qua huyệt huỳnh, đổ vào huyệt du, chảy mạnh ở huyệt kinh, và nhập vào huyẹt hợp. Khí của 27 kinh lạc vận hành được đều là nhờ ngũ du huyết cả (Kinh mạch thập nhị, lạc mạch thập ngũ, phàm nhị thát tháp khí, dĩ thượng hạ, sở xuất vi tỉnh, sở lưu vi huỳnh, sở chú vi du sở hành ui kinh, sở nhập ui hợp, nhị thập thất khí sở hành giai tại ngũ du dã - trang 8). 24 Qua các y văn trên có thế thấy: Kinh khí (mạch khí) và Kinh lạc (kinh mạch) có những khác biệt sau: Kinh lạc là tô chức ống khép kín trong đó có huyết khí vận hành lần lượt từ kinh này sang kinh khác, còn kinh khí là chân khí có nguồn gốc từ nguyên khí. Kinh khí của mỗi đường kinh đêu bắt đầu từ huyệt tỉnh, qua các huyệt huỳnh, du, kinh, hợp và đêu quy về phế. Giữa kinh lạc (âm) và kinh khí (dương) luôn có sự cân bằng, kinh khí hòa thì tuần hoàn của huyết khí trong kinh lạc được điều hòa, nếu âm thái quá không hòa được với dương, thì kinh khí tuyệt. Người xưa phát hiện ra kinh lạc bằng cách nào? Người xưa phát hiện ra kinh lạc chủ yếu bằng hai cách: Quan sát các hiện tượng sống, và mô tử thi khi đã chết. Linh Khu viết: ở ngươi cao tám thước ta, bên ngoài mặt da có thể đo đạc được, bên trong có thể sờ nắn được. Khi người đó chết thì có thể mổ tử thi để xem: tạng cứng hay mềm, phủ to hay nhỏ và có nhiều hay ít thức ăn, mạch dài hay ngắn trong đó huyết trong hay đục, khí nhiều hay ít, trong 12 kinh thì kinh nào nhiêu huyết ít khí, kinh nào ít huyết nhiều khí, kinh nào nhiều huyết nhiều khí, kinh nào ít huyết ít khí, tất cả đêu có chuẩn cả. Khi có bệnh, có thể dùng châm ngải để chữa, nhằm điều hòa lại kinh khí. Song châm nông hay sâu phải phù hợp vối độ nông sâu của mỗi đường kinh {CỐphu bát xích chi sĩ, bì phu tại th, ngoại khả đạt lượng, thiết tuần nhi đắc chi. Kỳ t, khả giải phẫu nhi thị chi, kỳ tạng chi kiên xuể, phủ chi đại tiểu, cốc chi đa thiểu, mạch chi trường đoản, huyết chi thanh trọc, khí chi đa thiểu, thập nhị kinh chi đa huyết thiểu khí, dữ kỳ thiểu huyết đa khí, dữ kỳ giai đa huyết khí, dữ kỳ giai thiêu huyết khí, giai hữu đại sô. Kỳ trị dĩ châm ngải, các điều kỳ kinh khí, cố kỳ thường hữu hợp hồ - Kinh thúy, trang 156). - Quan sát khi còn sống: Có thê thông qua Vọng (nhìn) và Thiết (sò) để thấy hệ kinh lạc. 25 + Vọng ở mặt da: Ớ trạng thái bình thường có thể thấy tĩnh mạch (thanh cân), mao mạch (huyết lạc, phù lạc). Tĩnh mạch, mao mạch có thê làm màu da thay đối tùy các yếu tố tác động vào chúng như: đau gây huyết ứ trong mạch nên da xanh tái, mạch bị tắc làm da đen, thời tiết nóng mạch dãn nên da đỏ, lạnh làm mạch co nên da bệch (Kỳ sắc đa thanh tắc thông, đa hác tác tý, hoàng xích tắc nhịêt, đa bạch tắc hàn). Tô Vấn còn viết: Nằm ở nơi gió lùa, ngoại tà vào người thì huyết ngưng, huyết ngưng ỏ lạc nông thì da tê dại thành chúng tý, huyết ngưng ở trong mạch sâu thì huyết trì trệ mạch không thông, nêu không thông ở chân thì chân lạnh ngắt. Đó là ba trạng thái bệnh lý của tuần hoàn huyết đã gây nên chứng tý quyết (Ngọa xuàt nhi phong xuy chi, huyết ngưng vu phu giả vi tý, ngưng vu mạch giả vi khấp, ngưng vu túc giả vi quyết, th tam giả huyết hành nhi bất đắc phản kỳ không, cố vi tý quyết dã - Ngũ tạng sinh thành luận, trang 64). + Sờ mạch đập. Nạn Kinh viết:Ở 12 kinh đều có mạch đập, phương pháp chỉ bắt mạch thốn khẩu (mạch quay) được dùng đê chẩn đoán bệnh của lục phủ ngũ tạng, xác định xem còn sông hay đã chết, bệnh nặng hay nhẹ (Thập nhị kinh giai hữu động mạch, độc thủ thốn khẩu, dĩ quyết ngu tạng lục phủ, t sinh cát hung chi pháp - Điều thứ nhất). Theo Nam kinh Trung y học viện, y kinh giáo nghiên tổ, những nơi có mạch đập của 12 kinh là: Trung phủ, Vân môn, Thiên phủ, Hiệp bạch ở kinh Phế, Hợp cốc, Dương khê ở kinh Đ ại trường, Cực tuyền, Thần môn ở kinh Tâm, Thiên song ở kinh Tiểu trường, Lao cung ở kinh Tâm bào, Hòa liêu ở kinh Tam tiêu, Cơ môn, Xung môn ở kinh Tỳ Đại nghinh, Nhân nghinh, Khí nhai, Xung dương ở kinh VỊ Thái khê, Âm cốc ở kinh Thận, My xung ở kinh Bàng quang Thái xung, Ngũ lý, Âm liêm ở kinh Can, Thính hội, Hàm yếm ở kinh Đởm (Nạn Kinh dịch thích, trang 7). Tại sao lại có tác dụng đó 9 Vì thốn khấu là nơi tụ hội khí của 12 kinh mạch đồng thời là động mạch của Thái âm Phế, Phế chủ hô hấp, mạch đập theo 26 với hơi thở. Ó người khỏe mạnh, thời gian thơ ra mạch đi 3 thốn, hít vào đi 3 thốn, một hơi thở mạch đi 6 thốn. Trong một ngày đêm cộng có 13500 hơi thở mạch đi 50 vòng toàn thân; khi dinh vệ đi ở phần dương 25 lần và đi ở phần âm 25 lần, thì được tính là một vòng. Như vậy sau mỗi vòng, dinh khí lại vê hội ỏ Thủ Thái âm, và thốn khẩu chính là nơi bắt đầu và kết thúc của lục phủ ngũ tạng. Do đó chỉ cần lấy thốn khẩu là đủ {Thốn khẩu giả, mạch chi đại hội, Thủ Thái âm chi động mạch dã. Nhản nhát hô,mạch hành 3 thốn, nhát hấp mạch hành 3 thốn, hô hấp định tức mạch hành 6 thốn, nhân nhất nhật dạ, phàm nhất vạn tam thiên ngủ bách tức, mạch hành ngũ thập độ chu ưu thân..., dinh vệ hành dương nhi thập ngủ độ, hành âm diệc nhị thập ngủ độ, ui nhất chu dã. Cố ngủ thập độ phục hội Thủ Thái âm. Thốn khấu giả, ngủ tạng lục phủ chi sở chung thủy, cố pháp chủ vu thốn khẩu dã - Điều thứ nhất). Tại sao ba mạch Thái âm, Thiếu âm, Dương minh đập không ngừng trong khi có 12 kinh mạch? Kỳ Bá trả lòi như sau: Đó là do mạch Dương minh Vị. Vị là bể của ngũ tạng lục phủ, thanh khí của nó đi lên đổ vào Phế, phế khí vận hành theo kinh Thái âm và theo nhịp vãng lai của hơi thỏ, một lần thở ra mạch đập 2 lần, một lần hít vào mạch đập 2 lần. Vì thở là liên tục, cho nên mạch Thái âm cũng đập không ngừng Mạch Xung là bể của 12 kinh, cùng đại lạc của thận bắt đầu từ dưới thận, xuất ra ở khí nhai, dọc mặt trong đùi, hợp với kinh Thiêu âm đi xuống sau mắt cá trong xuống gan bàn chân, nhánh của nó đi chếch vào mắt cá trong, đến mặt trên bàn chân, vào khe ngón chân cái, rót vào các lạc mạch để làm ấm bàn chân và làm mạch Thiếu âm đập không ngừng (Kỳ Bá viết: thị vị Dương minh dã. Vị vi ngủ tạng lục phủ chi hải, kỳ thanh khí thượng chú vu phê, phế khí tùng Thái âm nhi hành chi kỳ hành dã, dĩ tức vãng lai, cố nhất hô mạch tái động, nhất hấp diệc tái động, hô hấp bất dĩ, cố động nhi bất chỉ Động du Linh Khu, trang 415; Xung mạch giả, thị thập nhị kinh mạch chi hải dã, dữ Thiếu ăm chi đại lạc khởi vu thận hạ, xuất vu khí nhai, tuần âm cô nội liêm, tịnh 27 Thiêu âm chi kinh, hạ nhập nội khóa chi hậu, nhập túc hạ, kỳ biệt giả, tà nhập khóa, xuất thuộc phụ thượng, nhập đại chỉ chi gian, chú chư lạc, dĩ ôn túc kinh, th mạch chi thường động dã - Động du Linh Khu, trang 418). Lại do VỊ khí sau khi lên phế đi mạnh lên đầu, vào hệ mạch ở mắt, vào não, đi xuống qua hạ quan, giáp xa, hợp vối Dương minh cùng đi xuống nhân nghinh, đó là phần vị khí đi vào Dương minh làm cho khí âm dương lên xuống hài hoa và mạch Dương minh đập không ngừng (Ví khí thượng chú vu phế, kỳ hãn khí thượng xung đầu giả, tuần nhãn hệ, nhập não, hạ khách chủ nhăn, tuần nha xa, hợp Dương minh, tịnh hạ nhăn nghinh, th vị khí niệt tẩu Dương minh giả dã, CỐ âm dương thượng hạ, kỳ động dã - Động du Linh Khu, trang 417). - Mổ tử thi. Qua mổ tử thi, đã đo được độ dài của kinh mạch, vị trí tương đối của kinh mạch và lạc mạch, lượng huyết khí có ở trong kinh mạch. + Độ dài của kinh mạch. Thiên mạch độ Linh Khu (trang 188) viết: Sáu kinh dương ở tay, tính từ tay đến đầu mỗi kinh dài 5 xích, 6 kinh cộng dài 30 xích (3 trượng), sáu kinh âm ở tay, từ tay đến ngực, mỗi kinh dài 3 xích 5 thốn, 6 kinh cộng dài 21 xích (2 trượng Ì xích), sáu kinh dương ở chân, từ chân đến đầu, mỗi kinh dài 8 xích, 6 kinh cộng dài 48 xích (4 trượng 8 xích), sáu kinh âm ở chân, từ chân đến ngực, mỗi kinh dài 6 xích 5 thốn, 6 kinh cộng dài 39 xích (3 trượng 9 xích), mạch kiểu từ chân đến mắt, mỗi mạch dài 7 xích 5 thốn, 2 mạch cộng dài 15 xích (Ì trượng 5 xích), mạch nhâm, mạch đốc, mỗi mạch dài 4 xích 5 thốn, 2 mạch cộng dài 9 xích. Tổng cộng dài 162 xích (16 trượng 2 xích) (Thủ chi lục dương, tùng thủ chí đầu, trường ngủ xích, ngũ lục tam trượng. Thủ chi lục âm, từng thủ chí hung trung, tam xích ngủ thốn, tam lục nhất trượng bát xích, ngủ lục tam xích, hợp nhị trượng nhất xích. Túc chi lục dương, tùng túc chí đầu, bát xích, lục bát tứ trượng bát xích. Túc chi lục ảm, tùng túc chi hung trung, lục xích ngủ thốn, lục lục tam trượng 28 lục xích, ngủ lục tam xích, hợp tam trượng cu xích, Kiêu mạch tùng túc chi mục, thất xích ngủ thôn, nhị thất nhát trượng tứ xích, nhị ngủ nhất xích hợp nhất trượng ngủ xích, Đốc mạch, Nhâm mạch, các tứ xích ngủ thốn, nhị tứ bát xích, nhị ngủ nhát xích, hợp cu xích. Phàm đô hợp nhất thập lục trượng nhị xích). + Vị trí nông sâu của kinh lạc. Linh Khu đã viết: 12 KINH mạch nằm ở SÂU giữa các cơ, nên không nhìn thấy. Các LẠC thường nằm ở NÔNG nên thường nhìn thấy {Kinh mạch thập nhị giả, phục hành phân nhục chi gian, thậm nhi bất kiến, chư mạch chi phù nhi thường kiên giả, giai lạc mạch dã - Kinh mạch, trang 140). L ạ i viết: KINH ở lý, nhánh đi ngang ra là LẠC, nhánh tách từ lạc ra là TÔN LẠC (Kinh mạch vi lý, chi nhi hoành giả vi lạc, lạc chi biệt giả vi tôn lạc - Mạch độ, trang 189). Còn ghi: 12 kinh mạch đêu có phần đi vào tạng phủ và phần ra ngoài tứ chi cơ khớp (Phu thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc vu tạng phủ ngoại lạc vu chi tiết - Hải luận, trang 274). Cụ thể phần đi ở chi thể nằm sâu bao nhiêu? (Bệnh ở) Túc D ương minh châm sâu 6 phân, ở Túc Thái dường châm sâu 5 phân, ở Túc Thiếu dương châm sâu 4 phân, ở Túc Thái âm châm sâu 3 phân, ở Túc Thiếu âm châm sâu 2 phân, ở Túc Quyết âm châm sâu Ì phân, ở các kinh Thủ âm dương đều châm sâu không quá 2 phân (Túc Dương minh thích thậm lục phân, Túc Thái dương thậm ngủ phân, Túc Thái âm thậm tam phân, Túc Thiếu âm thậm nhị phân, Túc Quyết âm thậm nhất phân, Thủ chi âm dương, kỳ thích thậm giả, giai vô quá nhị phân Kinh thủy Linh Khu, trang 160). Theo nguyên tắc bệnh tà ở đâu thì phải châm đến đó, thì độ sâu khi châm chữa kinh có bệnh cũng là độ sâu của mỗi đường kinh. + Về lượng huyết khí ở trong mỗi kinh mạch. Tố Vấn viết: Thái dương thường nhiều huyết ít khí, Thiếu dương ít huyết nhiều khí, Dương minh nhiều huyết nhiều khí, Thiếu âm ít huyết nhiều khí, Quyết âm nhiều huyết ít khí, Thái âm ít huyết nhiều khí, (Thái dương thường đa huyết thiếu khí, Thiếu dương 29 thường thiếu huyết đa khi, Dương minh thường đa huyết đa khí Thiếu ảm thường thiếu huyết đa khí, Quyết ăm thường đa huyet thiếu khí, Thái ảm thường thiểu huyết đa khí - Huyết khí hình chí Tố Vấn, trang 145). Tuy nhiên Linh Khu lại có ý kiên khác như sau: Quyết ảm thường đa khí thiểu huyết, Thiếu âm thường đa huyết thiểu khí, Thái âm thường đa huyết thiểu khí Ngũ âm ngũ vị Linh Khu, trang 449 và Cửu châm Linh Khu trang 559). Những ý kiến này ngược lại với ý kiến của Tố Vấn.' Sau này, nhiều tác giả lấy nội dung cua Thiên huyết khí hình chí Tố Vấn làm chuẩn, và giải thích như sau: Thai dương lay thủy khí làm chủ nên đa huyết thiểu khí, Thiếu dương lấy móc khí làm chủ nên thiểu huyết đa khí, Dương minh đa huyết đa khí vì huyết khí sinh ra từ vị thổ, Thái âm thuộc tỳ thổ tướng hỏa của thận sinh tỳ thổ, tỳ thổ sinh phế kim, ca ba đêu giữ vai trò chính trong sinh ra dương khí, cho nên đêu đa khi thiêu huyết, Quyết âm can tàng huyết, tâm bào chủ huyết mạch cho nên đa huyết thiêu khí. Giải thích sự khác nhau giữa Linh Khu và Tố Vấn có người í í u Ý ^ s a u : k h í h u y ế t d o D ư ơ n s m i n h sinh ra nên Dương minh đa khí đa huyết còn lại có kinh đa khí thiểu huyết, có kinh đa huyết thiểu khí, đó là biểu hiện nhịp điệu không toàn vẹn của thiên địa Như Quyết âm chi thượng, phong khí làm í í' p u ? n ? i à 5 c h 0 k h í t h à n h k h ố l l ớ n n ê n đa khí, Thái âm thấp thô chủ về khí, nhưng địa khí thăng lên thành mây mưa mưa rơi xuống sông ngòi, nên Thái âm đa huyết. VA Q!f.cách íải thích trên-'ta thấy ý của Linh Khu nghiêng vế ĩ ĩ Ã ^ 0 ạ t c ủ a , Q u y ế t â m ' T h ấ i â m ' c ò n c á c h Ổi thích ý cua 10 Vân nghiêng vê chức năng của các tạng. CẤU TRÚC CỦA HỆ KINH LẠC Cấu trúc của hệ kinh lạc đựơc bổ sung dần qua các tài liêu cùa các thòi đại, như Túc tý thập nhất mạch cửu kinh (táp sách lụa tìm thấy ở mộ nằm ở gò Ma vương đời Hán), Nội kình Linh 30 Khu (thòi Chiến quốc), Nạ n Kinh (Biển Thước Tần Việt Nhân), Giáp ất kinh (Hoàng Phủ Mật 215-282), Bị cấp thiên kim yếu phương (Tôn Tư Mạo ước 582-682), Thập nhị nhân đồ (trong Ngoại đài bí yếu của Vương Đào 752). Đáng chú ý là Tượng đồng châm cứu của Vương Duy Nhất (Đồng nhân du huyệt châm cứu đồ kinh ước 987-1067, có khắc đường đi của 12 kinh chính, 2 mạch Nhâm Đốc và vị trí huyệt của từng đường kinh mạch, kèm theo sách hưống dẫn với 12 trang hình về huyệt của 12 đường kinh), Thập tứ kinh phát huy (Hoạt Bá Nhân ước 1304-1386, gồm ba tập: Thủ túc Dương minh lưu trú, Thập tứ kinh mạch khí sở phát, Kỳ kinh bát mạch), Châm cứu đại thành (Dương K ế Châu 1601 tập hợp các nội dung có liên quan đến kinh lạc, chầm cứu từ Nội kinh đến lúc đó). Vê đồ hình châm cứu có: Châm cứu đồ khảo (Trần Huệ Trù 1878), Châm cứu kinh huyệt đồ khảo (Hoàng Trúc Trai 1935), Đồng nhân kinh huyệt đồ khảo (Thừa Đạm Am 1936). Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, châm cứu phát triển rất nhanh, hàng loạt tài liệu giảng dậy, tài liệu tham khảo ra đời, gần đây nhất có tập Châm cứu học do Tôn Quốc Kiệt chủ biên đã tái bản lần thứ 3 năm 2004, được nhiều người cho là có giá trị tham khảo tốt. Có thể nhận xét n h ư sau: Học thuyết kinh lạc, huyệt, châm cứu được hình thành từ rất sòm, được bổ sung và chỉnh lý dần, từ chỗ được trình bầy một cách tản mạn đến chỗ được trình bầy một cách có hệ thống, từ chỗ đồ hình mang tính tượng trưng không thống nhất đến chỗ ngày một thống nhất hơn. Có thể nói, trên cơ sở các tài liệu giảng về châm cứu của các Học viện Trung y của Trung Quốc từ những năm 50 của t hế kỷ XX đến nay, về cơ bản đã hình thành một hệ thống kinh lạc (kinh mạch) với cấu trúc sau: v ề Kinh mạch có 12 kinh mạch chính, từ 12 mạch chính tách ra 12 kinh biệt (kinh nhánh); về Lạc mạch có 15 (16) đại lạc, lạc, và tôn lạc (mao mạch); vê các mạch khác có Kỳ kinh bát mạch (8 mạch khác kinh). Trong hệ kinh lạc (kinh mạch) này, 12 kinh mạch chính có vai trò chủ 31 đạo, và mỗi kinh mạch chính đêu có hai phần, phần đi vào tạng phủ đê nuôi dưỡng tạng phủ (mang tên tạng phủ đó), phần đi ra cân cơ đê nuôi dưỡng cân cơ (cân cơ mang tên kinh mạch nuôi nó, được gọi là 12 Kinh cân) và ra bì phu đê nuôi dưỡng cơ phu (được gọi là thập nhị bì bộ). Chú ý, nhiều sách Châm cứu đã cho rằng lục phủ ngũ tạng, 12 kinh cân, 12 bì bộ là phần phụ thuộc của hệ kinh lạc. Song nếu hiếu là kinh lạc đã đến đê nuôi dưỡng những bộ phận đó thì có lẽ đúng với ý của người xưa hơn. Mười hai kinh mạch chính Tên gọi của 12 kinh mạch chính được hình thành nhưthê nào? Mười hai kinh mạch chính là Thủ tam âm, Thủ tam dương Túc tam âm, Túc tam dương. Đó là chủ thể của hệ kinh lạc. Tố Vấn viết: Âm dương của thân thể được phân như sau: lưng là dưỡng, bụng là âm, ngũ tạng tâm, can, tỳ, phế, thận đều là âm lục phủ đởm, vị, đại trường, tiểu trưởng, bàng quang, tam tiêu đều là dương (Nhân thân chi âm dương, tắc bối vi dương phúc vi âm, ngôn nhân thân chi tạng phủ trung, âm dương tác tạng giả vi ân}, phủ giả vi dương, can tâm tỳ phe thận, ngu tạng giai vi âm, đởm vị tiểu trường đại trường bang quang tam tiêu, lục phủ giai vỉ dương - Kim Quỹ chân ngôn luận, trang 24). Như vậy có thể thấy các kinh âm sẽ vào các tạng, các kinh dương sẽ vào các phủ tương ứng và sẽ mang tên tạng phủ mà chúng nuôi dưỡng. Âm dương chuyển biến có thịnh có suy, vì vậy (nhát) âm (nhất) dương có thể chuyển biến thành tam âm, tam dương. Tam âm là Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm (nơi Thái âm Thiếu âm giao tận với nhau). Tam dương là Thái dương, Thiếu dương Dương minh (nơi chí minh của Thái dương, Thiếu dương hợp lại). Thái âm là nơi khí âm thịnh nhất, rồi đến Thiếu âm cuối cùng là Quyết âm. L ại cho rằng, trong ngực giữa tâm và phế thì tâm được coi là dương trung chi dương, phê là dương trung chi âm, giữa phế âm và tâm dương thì phê phối hợp VỚI Thai âm tâm phối hợp với Thiếu âm, tâm bào phối hợp với Quyet am 32 trong bụng, tỳ được coi là âm trung chi chí âm, thận là âm trung chi âm, can là âm trung chi dương (trang 25), cho nên tỳ được phối hợp với Thái âm, thận phối hợp với Thiếu âm và can với Quyết âm. Mỗi phủ sẽ tùy theo quan hệ biểu lý với tạng của mình mà phối hợp với kinh dương có liên quan. Như vậy tên đầy đủ của 12 kinh mạch chính được Tố Vấn gọi là: Mạch Thủ Thái âm phế, mạch Thủ Thiếu âm tâm, mạch Thủ Quyết âm tâm bào, mạch Thủ Dương minh đại trường, mạch Thủ Thái dương tiểu trường, mạch Thủ Thiếu dương tam tiêu, mạch Túc Thái âm tỳ, mạch Túc Thiếu âm thận, mạch Túc Quyết âm can, mạch Túc Dương minh vị, mạch Túc Thái dương bàng quang, mạch Túc Thiếu dương đởm. Đường đi và sựliên hệ với tạng phủ của 12 kinh mạch - Thiên kinh mạch Linh Khu viết (trang 104-137): + Mạch Thủ Thái âm phế. a) Bắt đầu từ trung tiêu, đi xuống để lạc đại tràng rồi quay lên đi vòng quanh miệng dạ dày, xuyên cơ hoành để thuộc ph ế (Thủ Thái âm phế chi mạch, khởi vu trung tiêu, hạ lạc đại tràng, hoàn tuần vị khẩu, thượng cách thuộc phê), b) Tiếp đó từ hệ mạch của phê rẽ ngang ra đuối nách để đến mặt trong cánh tay ở phía trước Thiếu âm Tâm chủ, đến khuỷu tay, dọc phía trong xương quay để vào thốn khẩu, đi qua mô ngón cái để đến đầu ngón cái (tùng phế hệ hoành xuất dịch hạ, hạ tuần nao nội, hành Thiếu âm Tâm chủ chi tiền, hạ trừu trung, tuần tý nội thượng cốt hạ liêm nhập thốn khẩu, thượng ngư tuần ngư tế, xuất đại chỉ chi đoan), c) Nhánh của nó, từ sau cổ tay đi dọc bò ngón trỏ đến đầu ngón (kỳ chi giả, tùng uyển xuất ngư hậu, trực xuất thứ chỉ nội liêm, xuất kỳ đoan). + Mạch Thủ Dương minh đại trường, a) Bắt đầu từ đầu ngón trỏ phía ngón cái, dọc theo bờ mu ngón trỏ đến hợp cốc giữa 2 xương bàn tay Ì và 2, đi lên vào chỗ giữa hai gân cang tay để lên bờ ngoài khuỷu tay, dọc bò trước mặt ngoài cánh tay lên vai, xuất ra ở bờ trước đầu xương cánh tay, lạ i xuất ra ở đại 33 chùy để đi vào hố trên đòn lạc vối phế, tiếp tục qua cơ hoành xuống thuộc vào đại tràng {Thủ Dương minh Đai tràng chi mạch, khởi ƯU đại chỉ thứ chí chi đoan, tuần chỉ thượng liêm, xuất hợp cốc lưỡng cốt chi gian, thượng nhập lưỡng cản chi trung, tuần tý thượng liêm, nhập trừu ngoại liêm, thượng nao ngoại tiền liêm, thượng xuất vu trụ côi chi hội thượng, hạ nhập khuyết bồn lạc phế, hạ cách thuộc đại trường), b) Nhánh của nó từ khuyết bồn đi lên cổ, qua hàm vào răng hàm dưới, rồi vòng quanh miệng để giao với kinh cùng tên bên kia ở nhân trung và tận cùng ở sát chân cánh mũi bên kia (Kỳ chi giả, tùng khuyết bồn thượng cảnh, quán giáp nhập hạ xỉ trung, hoàn xuất hiệp khẩu giao nhăn trung, tả chi hữu, hữu chi tả, thượng hiệp ty không). + Mạch Túc Dương minh vị. a) Bắt đầu ở mũi đi lên giao nhau ỏ sống mũi, rẽ ngang để giao với Thái dương cùng bên, đi xuống phía ngoài mũi vào hàm trên đến mép, vòng môi xuống giao với thừa tương, quay l ại để men theo phía dưới hàm dưói, xuất ra ở đại nghinh, đến góc hàm, đi ngược lên qua khách chủ nhân ở trước tai thẳng lên đến góc trán, ngang ra trán (Túc dương minh chi mạch, khởi vu ty dì hậu hạ liêm, xuất đại nghinh tuần giáp xa thượng nhĩ tiền, quá khách chủ nhân, tuần phát tế chí ngạch lố), b) Nhánh của nó, đi từ trước đại nghinh để xuống nhân nghinh, dọc theo thanh quản xuống hố trên đòn, đi xuống cơ hoành để thuộc về vị, rồi lạc vối tỳ (Kỳ chi giả, tùng đại nghinh tiền hạ nhân nghinh, tuần hầu lung nhập khuyết bồn, hạ cách thuộc vị lạc tỳ), c) Đường chính của nó, từ hố trên đòn thẳng xuống qua vú đến bụng đi cạnh rốn đổ vào khí nhai, nhánh ở trong bụng của nó đi từ môn vị xuống hợp với đưòng chính ở khí nhai để cùng xuống bễ quan qua phục thỏ ở đùi xuống xương bánh chè, tiếp tục đi dọc bò ngoài xương cảng chân đến cô chân, mu bàn chân và thắng đến đầu ngón chân thứ 2 (Kỳ trực giả, tùng khuyết bồn hạ nhủ nội liêm, hạ hiệp tề nháp 34 khí nhai trung. Kỳ chi giả, khởi vu vị khâu hạ tuần phục lý, hạ chí khí nhai trung nhi hợp, dĩ hạ bễ quan đê phục thỏ hạ tát tản trung, hạ tuần hĩnh ngoại liêm, hạ túc phụ, nhập trung chỉ nội gian). Một nhánh từ huyệt Túc tam lý đi thẳng xuống ngón chân thứ 3. Từ mu chân lại có một nhánh đi đến ngón chân cái (Kỳ chi giả hạ liêm 3 thốn nhi biệt hạ trung chỉ ngoại gian, kỳ chi giả, biệt phụ thượng nhập đại chỉ gian, xuất kỳ đoan). + Mạch Túc Thái âm tỳ. a) Khởi từ đầu ngón chân cái, dọc mặt trong ngón chân theo đường tiếp giáp da gan chân và mu chân, đến đầu sau xương bàn chân thứ nhất để lên bờ trước mắt cá trong, đi tiếp dọc bờ sau xương cẳng chân giao cắt với Quyết âm để đi phía trưốc của mạch này đến bờ trước mặt trong gối, mặt trong đùi, đi tiếp vào trong bụng để thuộc tỳ rồi lạc vối vị, rồi xuyên cơ hoành lên ngực theo dọc thanh quản đến cuống lưỡi, phân bố ở dưối lưỡi (Túc Thái âm tỳ chi mạch, khởi vu đại chỉ chi đoan, tuần chi nội hắc bạch nhục tế, quá hạch cốt hậu, thượng nội khoa tiền liêm, thượng thuyên nội, tuần phúc thuộc tỳ lạc vị, thượng cách giáp yết hoàn thiệt bản tán thiệt hạ), b) Nhánh của nó tách từ vị, qua cơ hoành để đổ vào tâm (Kỳ chi giả, phục tùng vị biệt thượng cách chú tâm trung). + Mạch Thủ Thiếu âm tâm. a) Bắt đầu từ trong tâm ra, đi vào thuộc tâm hệ (hệ mạch từ tâm liên thông với các tạng khác rồi qua cơ hoành xuống lạc vối tiểu trường. Từ tâm hệ có một nhánh dọc thanh quản lên mục hệ (hệ mạch của mắt có liên hệ với não) (Thủ Thiêu âm tâm chi mạch, khởi ƯU tâm trung xuất thuộc tâm hệ, hạ cách lạc tiêu trường, kỳ chi giả, tùng tâm hệ thượng hiệp yết, hệ mục hệ). Đường chính của nó từ tâm hệ lên phế, xuất ra ngoài ở hố nách để đi ở bờ sau mặt trong cánh tay phía sau Thủ Thái âm phế vào khuỷu tay, tiếp tục đi dọc theo bó sau mặt trong cẳng tay đến đầu xương đậu ở cô tay, rồi đi vào bò trong gan tay, dọc bờ trong ngón tay út để đến đầu ngón tay út (Kỳ trực giả, phục tùng tâm hệ khước thượng phế, hạ xuất dịch hạ, tuần nao nội hậu liêm, hành Thủ Thái âm chi 35 hậu, hạ trừu nội, tuần tý nội hâu liêm, đế chướng hậu nhuệ cốt chi đoan, nhập chưởng nội hậu liêm, tuấn tiếu chí chi nội, xuất kỳ đoan). + Mạch Thủ Thái dương tiểu trường, a) Bắt đầu từ ngón tay út dọc ngoài bàn tay lên cô tay, xuất ra ở bờ trong mỏm trâm trụ, đi thẳng dọc bò dưới xương cánh tay để xuất ra ở giữa 2 gân phía trong khuỷu tay, rồi đi dọc bờ sau mặt ngoài cánh tay đê xuất ra ở vai rồi đi ngoằn ngoéo ở bả vai giao nhau ỏ trên vai vào hố trên đòn để lạc vào tâm, dọc thanh quản, thực quản đến vị thuộc tiểu trường (Thủ Thái dương tiểu trường chi mạch khởi vu tiêu chỉ chỉ đoan, tuần thủ ngoại trắc, thượng uyển xuất khoa trung, thượng tuần nao ngoại hậu liêm, xuất kiên giải nhiễu kiên giáp, giao kiên thượng, nháp khuyết bồn lạc tám tuần yết, hạ cách để vị, thuộc tiểu tràng), b) Có Ì nhánh tách từ khuyết bồn, lên cổ, lên má, đến khóe mắt ngoài rồi đi vào trong tai. L ại có một nhánh tách từ má đến mũi đến khóe mắt trong rồi chếch xuống gò má (Kỳ chi giả, tùng khuyết bồn tuần cảnh thượng giáp chí mục nhuệ tý, khước nhập nhĩ trung. Kỳ chi gia thượng chuyết đẻ tỵ, chí mục nội tý, tà lạc vu quyền). + Mạch Túc Thái dương bàng quang, a) Bắt đầu từ khóe mắt trong, lên trán giao ở đỉnh đầu vối mạch đốc, ở đây tách ra Ì nhánh đến mỏm tai. Đường thẳng từ đinh đầu lạc não vòng xuống gáy, xuống phía trong xương bả vai đi dọc cạnh cột song đến thắt lưng để vào cột sống cùng lạc thận, đi tiếp thuộc bang quang. Từ thắt lưng tách Ì nhánh đi dọc cạnh cột sống xuống mông để xuống sau đùi nhập ở khoèo chân với nhánh tách từ mạch chính ở bên trong xương bả vai xuống. Nhánh này dọc theo cột sống xuống mấu chuyển lớn, rồi dọc mé ngoài mau chuyên lớn đi ở sau đùi xuống nhập vào mạch chính ỏ quắc trung (Túc Thái dương bàng quang chi mạch khởi vu mục nôi tý, thượng ngạch giao điên, Kỳ chi giả, tùng điên chí nhĩ thượng giác. Kỳ trưc giả, tùng điên nhập lạc não hoàn xuất biét ha hạng, tuần kiên bác nội hiệp tích để yêu trung, nhập tuần lữ lác 36 thận, thuộc bàng quang. Kỳ chi giả, tùng yêu trung hạ hiếp tích quán đôn nhập quắc trung. Ki chi giả, tùng bác nội tả hữu, biêt hạ quán giáp, hiệp tích nội quá bễ khu, tuần bễ ngoại tùng hậu liêm, hạ hợp quắc trung), b) Sau khi hợp rồi cùng xuống giữa băp chân, ra ở sau mắt cá ngoài, đi dọc bò ngoài xương bàn chân đèn bờ ngoài ngón út (dĩ hạ quán thụy, nội xuất ngoại khoa chi hậu, tuần kinh cốt, chí tiểu chỉ ngoại trắc). + Mạch túc Thiếu âm thận. a) Bắt đầu từ dưới ngón chân út, đi chéo xuống giữa gan bàn chân để xuất ra ở nhiên cốc, rồi vòng mát cá trong xuống gót chân để đi lên mặt trong bắp chân xuất ra ở mặt trong kheo chân, đi lên bò sau mặt trong đùi, rồi đi lên xuyên cột sống để thuộc thận, lạc bàng quang, đi thảng từ thận lên qua can, qua cơ hoành vào phế, dọc thanh quản lên cuống lưỡi (Túc thiếu ăm thận chi mạch, khởi vu tiểu chỉ chi hạ, tà tẩu túc tâm xuất ưu nhiên cóc chi hạ, tuần nội khóa chi hậu, biệt nhập căn trung dĩ thượng thụy nội, xuất quắc nội liềm, thượng cổ nội hậu liêm, quán tích thuộc thận lạc bàng quang, kỳ trực giả, tùng thận thượng quán can cách, nhập phế trung, tuần hâu lung, hiệp thiệt bản), b) Từ phế có Ì nhánh đi liên lạc với tâm, rồi đổ vào trong ngực (Kỳ chi giả tùng phế xuất lạc tâm, chú hung trung). + Mạch Thủ Quyết âm tâm bào. a) Bắt đầu từ trong ngực đi ra đê thuộc tâm bào lạc, xuống cơ hoành lạc vối tam tiêu (Tâm chủ Thủ Quyết âm tâm bào chi mạch, khởi vu hung trung xuất thuộc tăm bào, hạ cách lịch lạc tam tiêu), b) Ở đây tách ra một nhánh đi trong ngực xuất ra ở cạnh sườn dưới nách 3 thốn, đi lên đến nếp nách để đi ra mặt trong cánh tay giữa Thái âm và Thiếu âm, đến khuỷu tay, đi giữa hai gân lớn ở cẳng tay để vào gan bàn tay rồi theo ngón giữa đến đầu ngón tay (Kỳ chi giả, tuần hung xuất hiếp hạ dịch 3 thốn, thượng để dịch hạ tuần nao nội, hành Thái âm Thiếu âm chi gian nhập trừu trung, hạ tý hành lưỡng cân chi gian, nhập chưởng trung tuần trung chỉ xuất kỳ đoan), c) Từ gan bàn tay tách ra một nhánh đến ngón út 37 phía áp út đê xuất ra ở đầu ngón (Kỳ chi giả, biệt chướng trung, tuần tiếu chỉ thứ chỉ xuất kỳ đoan). + Mạch Thủ Thiếu dương tam tiêu. a) Bắt đầu từ ngón áp út phía ngón út, đi lên xuất ra ỏ giữa hai ngón tay, dọc phần biểu ở cô tay để xuất ra giữa mặt ngoài hai xương cang tay, đi lên vào mỏm khuỷu, theo mặt ngoài cánh tay để lên vai giao vối Túc Thiếu dương rồi ra sau mạch này đi vào khuyết bồn, phân bô ở vùng đản trung, tán ra lạc vói tâm bào, đến cơ hoành để thuộc về tam tiêu (Thủ Thiếu dương tam tiêu chi mạch, khởi vu tiêu chỉ thứ chỉ chi đoan, thượng xuất lưỡng chỉ chi gian, thượng quán trừu tuần nao ngoại, thượng kiên chi giao xuất Túc Thiếu dương chi hận, nhập khuyết bồn, bố chiên trung, tán lạc tàm bào, hạ cách tuần thuộc tam tiêu), b) Ở chiên trung tách ra một nhánh đi lên xuất ra ở khuyết bồn, rồi lên gáy đến sau tai, thăng lên xuất ra ỏ sát trên mỏm tai, vòng trước tai xuống má rồi đến dưới mắt (Kỳ chi giả, tùng chiên trung thượng xuất khuyết bồn, thượng hạng hệ nhĩ hậu, trực thượng nhi xuất nhĩ thượng giác, dĩ khuất hạ giáp chí chuyết). c) Từ sau tai có một nhánh đi vào trong tai, xuất ra ở trước tai, đi trước huyệt khách chủ nhân, đến giao với má rồi đến đuôi mắt (Kỳ chi giả, tùng nhĩ hậu nhập nhĩ trung, xuất tẩu nhĩ tiền quá khách chủ nhân tiền, giao giáp chí mục nhuệ tý). + Mạch Túc Thiếu dương đởm. a) Bắt đầu từ khóe mắt ngoài lên góc trán rồi xuống sau tai, dọc xuống cổ phía trưốc Thủ Thiếu dương để giao với Thiếu dương ở vai, đi sau mạch này để vào khuyết bồn. Từ sau tai, tách ra một nhánh đi vào trong tai rồi xuất ra ở trưốc tai để đến sau khóe mắt ngoài. Lại tách một nhánh từ khóe mắt xuống đại nghinh để hợp với Thủ Thiếu dương đến hố mắt, rồi xuống giáp xa xuống cổ để hợp với mạch chính ở khuyết bồn, sau đó xuống ngực xuyên cơ hoành rồi lạc với can, thuộc đởm đi ỏ trong sườn xuống xuất ra ở khí giai đê đến lông mu, rẽ ngang ra nhập vào mấu chuyển lớn (Túc Thiếu dương đởm chi mạch, khởi vu mục nhuệ tý, thượng để dầu 38 giác hạ nhĩ hậu, tuần cảnh, hành Thủ Thiêu dương chi tiền, chí kiên thượng khước giao xuất Thiếu dương chi hậu, nhập khuyết bôn. Kỳ chi giả, từng nhĩ hậu nhập nhĩ trung xuất tâu nhĩ tiền chí mục nhuệ tý hậu; kỳ chi giả, biệt nhuệ tý hạ đại nghinh hợp vu Thiếu dương đế vu chuyết hạ, quá giáp xa hạ cảnh hợp khuyết bồn dĩ hạ hung trung, quán cách lạc can, thuộc đởm, tuần hiếp lý xuất khí giai, nhiễu mao tế, hoành nhập bễ yêm trung), b) Từ khuyết bồn mạch chính thẳng xuống nách, đi ở ngực qua mạng sườn đến mấu chuyển lớn, rồi đi thẳng xuống bờ trước mặt ngoài xương cẳng chân xuống đến đầu xương mác, để xuống xuất ra ở trước mắt cá ngoài, tiếp đó dọc mu chân đến ngón chân thứ 4 phía ngón út (Kỳ trực giả, tùng khuyết bồn hạ dịch tuần hạng, quá quý hiếp hạ, hợp bễ áp dĩ hạ, tuần bễ dương, xuât tất ngoại liêm, hạ ngoại phụ cốt chi tiền, trực hạ để tuyệt cốt chi đoan, hạ xuất ngoại khoa chi tiền, tuần túc phụ thượng, nhập tiêu chỉ thứ chỉ chi gian), c) Từ mu chân tách Ì nhánh để đến giữa 2 xương bàn chân Ì và 2 đến ngón chân cái ra đầu ngón chân cái, vòng móng chân và xuất ra ở tam mao (Kỳ chi giả, biệt phụ thượng, nhập đại chỉ chi gian, tuần đại chỉ kỳ cót nội, xuât kỳ đoan, hoàn quán trảo giáp xuất tam mao). + Mạch Túc Quyết âm can. a) Bắt đầu từ chòm lông mu ngón chân cái, dọc mu chân lên trước mắt cá trong Ì thốn, lên đến trên mắt cá trong 8 thốn thì bắt chéo Túc Thái âm rồi đi sau mạch này, lên mặt trong kheo chân rồi mặt trong đùi, để vào vùng lông mu vòng âm bộ đi vào bụng dưới, ở đó đi cặp mạch vị để thuộc can rồi lạc đởm, l ại đi lên xuyên cơ hoành đến các lạc vùng cạnh sườn, đi tiếp sau khí quản lên vòm họng nối vối mục hệ, xuất ra ở trán lên đỉnh đầu, ỏ đó nó hội với mạch đốc (Túc Quyết âm can chỉ mạch, khởi vu đại chỉ, tùng mao chi tê, thượng tuần túc phụ thượng liêm, khứ nội khoa Ì thốn, thượng khoa 8 thôn, giao xuảt Thái âm chi hậu, thượng quắc nội liêm, tuần cô âm nhập mao trung, hoàn âm khí, đê tiêu phúc, hiệp vị, thuộc can, lạc đởm, thượng quán cách, bố huyết lạc, tuần hầu lung chi hậu, thượng nhập kháng tảng, liên mục hệ, 39 thượng xuất ngạch dữ đốc mạch hội vu điên), b) Từ can tách ra một nhánh xuyên cơ hoành đê đô vào phê (Kỳ chi gio, phúc từng can biệt quan cách thượng chú phê). Đê nhắc nhở mọi người về vai trò của kinh mạch, Linh Khu viết: Người làm thuốc trưốc hết phải học 12 kinh mạch vì nhò chúng mà con người duy trì được sự sống, bệnh tật mới có nơi hình thành và phát triển, thầy thuốc mới có thể chẩn đoán và điều trị được bệnh tật (Phu thập nhị kinh mạch giả, nhãn chi sỏ dĩ sình, bệnh chi sở dĩ thành, nhân chi sở dĩ trị, bệnh chi sở dĩ khởi, học chi sở thúy - Kinh biệt, trang 149). Mười hai kinh (mạch) nhánh (thập nhị kinh biệt) Thiên kinh biệt Linh Khu miêu tả mỗi mạch chính có một kinh nhánh. Kinh nhánh tách từ mạch chính để góp phần nuôi dưỡng tạng phủ tương ứng, sau đó phần lớn lên đầu theo quy luật sau: kinh nhánh tách từ kinh dương sẽ nhập về bản kinh kinh nhánh tách từ kinh âm sẽ nhập về kinh dương có quan hê biểu lý. Như vậy, kinh dương có vai trò chính còn kinh am phai hợp vào kinh dương. Mỗi cặp kinh âm dương có một hợp 6 cặp có 6 hợp, được gọi là lục hợp. Khi kinh nhánh tách ra gọi là ly khi nó nhập vào gọi là hợp. Khi ly thì huyết khí xuất từ kinh chính sang kinh nhánh, khi hợp thì huyết khí l ại nhập vào kinh chính tương ứng. Việc ly hợp xuất nhẹp theo biểu lý này đa: - tăng cường sự liên hệ giữa kinh chính với tạng phủ tương ứng - tăng cường sự liên hệ giữa các kinh âm và kinh dương có quan hệ biểu lý, - làm huyết khí tuần hoàn thêm thông suốt, - và đảm bảo sự phối hợp hài hòa giữa các chức năng của cơ thể. Cu thể như sau: - Kinh nhánh Túc Thái Dương và Túc Thiếu âm: + Kinh nhánh Túc Thái dương tách từ kinh chính (ly) ở khoèo chân, có đường đến dưới cùng cụt 5 thốn để vào hậu mon vào bàng quang rồi phần tán ở thận, theo cột sống lên phan tan 40 ở vùng tâm. Đường chính của nó dọc cột sống lên gáy đê nhập vào Thái dương (hợp) (Túc Thái dương chi chính, biệt nhập ƯU quắc trung, kỳ nhất đạo hạ CƯU 5 thốn biệt nhập vu giang, thuộc vu bàng quang, tán chi thận, tuần tích đương tăm nhập tán. Trực giả tùng tích xuất vu hạng, phục thuộc vu Thái dương). + Kinh nhánh Túc Thiếu âm tách từ kinh chính (ly) ỏ kheo chân hợp vối Thái dương lên đến thận, đến đốt sống 14 thì xuất ra để vào mạch đới. Nhánh thẳng tiếp tục đi lên cuống lưỡi, vòng ra gáy để xuất ra hợp vối Túc Thái dương. Gáy là nơi hợp thứ nhất (Túc Thiếu âm chi chính, chí quắc trung, biệt tẩu Thái dương nhi hợp, thượng chí thận đương thập tứ chùy xuất thuộc đới mạch. Trực giả, hệ thiệt bản, phúc xuất vu hạng, hợp vu Thái dương, th vi nhất hợp). - Kinh nhánh Túc Thiếu dương và Túc Quyết âm + Kinh nhánh Túc Thiếu dương đi vòng hông vào lông mu, hớp với Quyết âm, tách Ì nhánh đi vào mạng sườn, đi ở trong ngực thuộc đởm, tán ra ở gan, qua tâm lên cạnh hầu họng, xuất ra ở vùng mang tai và hàm, tán ra ở mặt, liên lạc với mục hệ, hợp vói Thiếu dương ở khóe mắt ngoài {Túc Thiếu dương chi chình, nhiễu bễ nhập mao tế hợp vu Quyết ảm. Biệt giả, nhập quý hiếp chi gian, tuần hung lý thuộc đởm, tán chi thương can, quán tâm dĩ thượng hiệp yết, xuất di hàm trung tán vu diện, hệ mục hệ, hợp Thiếu dương vu ngoại nhuệ dã). + Túc Quyết âm đến mu chân tách ra một nhánh đi lên đến lông mu, với Thiếu dưỡng ở đây, rồi cùng Thiếu dương đi tiếp. Vùng lông mu là nơi hợp thứ hai (Túc Quyết ăm chi chính, biệt phụ thượng, thượng chí mao tế, hợp vu Thiếu dương dữ biệt cụ hành, th vi nhị hợp dã). - Kinh nhánh Túc Dương minh và Túc Thái âm + Nhánh Túc Dương minh đi lên háng, nhập vào bụng để thuộc vị, tán ra ở tỳ, lên thông với tâm, lên họng, xuất ra ở miệng, lên chỗ lõm của sống mũi giữa 2 mắt, vòng vào mục hệ, 41 dê hợp vối Dương minh (Túc Dương minh chi chinh, thương chí bễ, nhập vu phúc lý, thuộc vị tán chi tỳ, thượng thông vu tám, thượng tuần yết xuất vu khâu, thượng át hoàn hệ mục hệ, hợp vu Dương minh dã). + Nhánh Túc Thái âm lên đến háng hợp với Dương minh đê cùng đi lên họng, rồi vào trong lưỡi. Háng là nơi hợp thứ ba (Túc Thái âm chi chính, thượng chí bễ, hợp vu Dương minh, dữ biệt cụ hành, thượng kết ƯU yết, quán thiệt trung. Th vi tam hợp dã). - Kinh nhánh Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm + Nhánh Thủ Thái dương tách ở vùng khớp vai, nhập vào nách để vào tâm rồi về tiểu trường (Thủ Thái dương chi chính, chỉ địa (ý là từ vai xuống ngón tay) biệt vu kiên giải, nhập dịch táu tăm, hệ tiểu trường dã). + Nhánh Thủ Thiếu âm tách ra để nhập vào giữa hai gân trong hõm nách để thuộc về tâm, lên yết hầu để xuất ra ở mặt rồi hợp ỏ khóe mắt trong. Khóe mắt trong là nơi hợp thứ tư (Thu Thiếu âm chi chính, biệt nhập vu uyên dịch lưỡng càn chi gian thuộc vu tăm, thượng tẩu hầu lung, xuất vu diện, hợp mục nội tuế. Th vi tứ hợp dã). - Kinh nhánh Thủ Thiếu dương và Thủ Quyết âm + Nhánh Thủ Thiếu dương tách ở đỉnh đầu nhập vào khuyết bồn, xuống tam tiêu tán ở trong ngực (Thủ Thiếu dương chi chính, chỉ thiên biệt vu điên, nhập khuyết bồn hạ tẩu tam tiêu, tán vu hung trung dã). + Nhánh Quyết âm tâm bào tách từ dưới nách 3 thốn nhập vào ngực, thuộc về tam tiêu, rồi xuất ra đi dọc hầu họng, lên xuất ra ỏ sau tai rồi hợp với Thiếu dương ở dưới xương chũm - Đó là hợp thứ năm {Thủ Tăm chủ chi chính, biệt hạ uyên đích tam thốn, nhập hung trung, biệt thuộc tam tiêu, xuất tuần hầu lung, xuất nhĩ hậu hợp Thiếu dương hoàn cốt chi hạ. Th vi ngủ hợp dã). 42 - Kinh nhánh Thủ Dương minh và Thủ Thái âm: + Nhánh Thủ dương minh tách từ kinh chính (đi từ bàn tay lên ngực vú) ở vai nhập vào đại chùy rồi đi xuồng đại trường, thuộc về phế, đi lên hầu họng, hợp với Dương minh {Thủ dương minh chi chính, tùng thủ tuần ưng nhũ, biệt ƯU kiên ngùng, nhập trụ cốt, hạ tẩu đại trường, thuộc ƯU phế, thượng tuần hầu long, xuất khuyết bồn hợp ƯU Dương minh dã). + Nhánh Thủ Thái âm ở nách phía trước Thiếu dương để nhập vào phê và tán ỏ đại trường, sau đó xuất ở khuyết bồn đi lên hầu họng hợp với Dương minh. Đó là hợp thứ sáu (Thủ Thái âm chi chính, nhập uyên dịch Thiếu âm chi tiền, nhập tẩu phế tán chi đại trường, thượng xuất khuyết bồn, tuần hầu long, phúc hợp Dương minh. Th lục hợp dã). + Theo mô tả của Linh Khu như trên, ta thấy trong 6 hợp đã có 5 hợp (từ thứ Ì đến thứ 5) đêu có đường đi vào tâm, chỉ có hợp thứ 6 là vào phế. Mưòi lăm lạc mạch Vị trí của lạc mạch Thiên kinh mạch Linh Khu viết: 12 kinh mạch nằm sâu giữa các cơ nên không nhìn thấy, chỉ có Túc Thái âm là nhìn thấy phần đi phía trên mắt cá ngoài vì ở đó không có chỗ ẩn. Các lạc mạch đều ở nông nên đêu nhìn thấy. Các lạc mạch đêu không thể đi vào giữa các khớp, mà đi ở nơi kinh mạch không đến được, chúng hợp với bì phu nên nhìn thấy rõ (Kinh mạch thập nhị giả, phục hành phân nhục chi gian, thăm nhi bát kiến, kỳ thường kiên giả, Túc Thái ăm quá vu ngoại khóa chi thượng vô sở ẩn cô dã. Chư mạch chi phù nhi thường kiến giả, giai lạc mạch dã. Chư lạc mạch giai bất năng kinh đại tiết chi gian, tát hành tuyệt đạo nhi xuất nhập, phúc hợp bì phu kỳ hội giai kiến vu ngoại trang 141). 43 Thiên mạch độ Linh Khu còn viết: Kinh mạch ờ lý. nhánh đi ngang là lạc, nhánh cua lạc là tôn lạc, mạch kiểu có âm kiêu, dương kiểu, ờ con trai dương kiểu tính là kinh, âm kiêu tính là lạc, ỏ con gái âm kiểu tính là kinh, dương kiểu tính là lạc (Kinh mạch chi vi lý, chi nhi hoành giả vi lạc, lạc chi bứt gia vi tôn - trang 189, ...kiểu mạch hữu ảm dương, nam t số kỳ dương, nữ t so kỳ ăm, đương số giả vi kinh, kỳ bất dương sổ giả vi lạc dã - trang 191). Tên của các lạc mạch Thiên kinh mạch viết tiếp: Lạc của Thủ Thái âm là Liệt khuyết, của Thủ Thiếu âm là Thông lý, của Thủ Quyết âm là Nội quan, của Thủ Thái dương là Chi chính, của Thủ Dương minh là Thiên lịch, của Thủ Thiếu dương là Ngoại quan, của Túc Thái dương là Phi dương, của Túc Dương minh là Phong long, của Túc Thiếu dương là Quang minh, của Túc Thái âm là Công tôn, của Túc Quyết âm là Lãi câu, của Túc Thiếu âm là Đ ai chung, của Mạch Nhâm là Vĩ ế, của Mạch Đốc là Trường cường, đại lạc của tỳ là Đại bao. Ở lạc mạch, nếu là thực thì nôi lên rất rõ, nêu là hư thì xẹp xuống (Thủ Thái âm chi biệt danh viết Liệt khuyết, Thủ Thiêu dương chi biệt danh viết Thông lý, Tâm chủ chi biệt danh viết Nội quan, Thủ Thái dương chi biệt danh viết Chi chính, Thủ Dương minh chi biệt danh viết Thiên lịch, Thủ Thiếu dương chi biệt danh viết Ngoại quan, Túc Thái âm chi biệt danh viết Công tôn, Túc Thiếu âm chi biệt danh viết Đ ại chung, Túc Quyết âm chi biệt danh viết Lãi câu, Túc Thái dương chi biệt danh viết Phi dương, Túc Thiêu dương chi biệt danh viết Quang minh, Túc Dương minh chi biệt danh viết Phong long, Nhâm mạch chi biệt viết Vĩ ế, Đốc mạch chi biệt viết Trường cường, Tỳ đại lạc chi biệt viết Đại bao. Phàm th thập ngũ lạc giả, thực tắc tất kiến, hư tắc tất hạ - trang 142-148). Xin lưu ý, ở phần trên đã ghi Âm kiêu Dương kiêu cũng là lạc, ngoài ra Tô Vấn còn ghi thêm một lạc nữa: Đại lạc của vị là 44 Hư lý (VỊ chì đại lạc danh viết Hư lý - Bình nhân khí tượng luận, trang 102). Như vậy tống cộng có 18 lạc. Đối với vấn đề này, Nạn Kinh có ý kiến như sau: Kinh có 12, lạc có 15, như vậy đã thừa ra 3 lạc, vậy 3 lạc thừa ra là lạc nào? 3 lạc đó là: lạc của Dương kiểu (Trung xung), lạc của Âm kiểu (Chiếu hải), và đại lạc của tỳ (Đại bao) (Kinh hữu thập nhị, lạc hữu thập ngũ, dư tam lạc giả, thị hà đắng lạc dã? Nhiên: hữu dương lạc, hữu ăm lạc, hữu tỳ chi lạc. Dương lạc giả, Dương kiêu chỉ lạc dã, âm lạc giả, Ảm kiểu chi lạc dã). Có nghĩa là Nạn kinh không công nhận lạc của 2 mạch Nhâm Đốc và lạc của vị. Các y gia đòi sau công nhận 15 lạc mạch ghi trong Thiên kinh mạch Linh Khu. Đường đi của mười lăm lạc mạch Thiên kinh mạch Linh Khu (trang 142-146) đã mô tả như sau: - Lạc mạch Thủ Thái âm tên là Liệt khuyết, bắt đầu từ chỗ gân xương trên cổ tay, đi cặp cùng Thái âm rồi vào lòng bàn tay, sau đó tán ra ở ngón cái, có nhánh đi đến Dương minh (Thủ Thái âm chi biệt, danh viết Liệt khuyết, khởi vu uyên thượng phân gian, tịnh Thái âm chi kinh, trưc nhập chưởng trung, tán nhập ngư tế, biệt tẩu Dương minh). - Lạc mạch Thủ Thiêu âm tên là Thông lý, tách ở trên cổ tay Ì, 5 thốn, theo kinh nhập vào tâm lên cuống lưỡi, thuộc mục hệ, có nhánh đi đến Thái dương (Thủ Thiếu âm chi biệt, danh viết Thông lý, khứ uyển nhất bán thôn, biệt nhi thượng hành, tuần kinh nhập vu tâm trung, hệ thiệt bản, thuộc mục hệ, biệt tàu Thái dương). - Lạc mạch Tâm chủ tên là Nội quan, tách ở chỗ giữa hai gân trên cổ tay 2 thốn, theo kinh đi lên để liên hệ vối tâm bào lạc {Thủ Tâm chủ chi biệt, danh viết Nội quan, khứ uyển nhị thốn xuất vu lưỡng căn chi gian, tuần kinh dĩ thượng hệ vu Tâm bào lạc). 45 - Lạc mạch Thủ Thái dương tên là Chi chính, tách ờ trên cô tay 5 thốn, đố vào Thiếu âm, nhánh cua nó đi lên khuỵu để lên mỏm vai (Thủ Thái dương chi biệt, danh viết Chi chính, khứ uyên ngủ thốn, nội chú Thiếu ảm; kỳ biệt giả, thượng tẩu trừu, lạc kiên ngùng). - Lạc mạch Thủ Dương minh tên là Thiên lịch, tách trên cô tay 3 thốn, nhập vào Thái âm, nhánh của nó lên cánh tay, lên vai, lên góc hàm chỗ chân răng, nhánh nữa nhập vào tai, hợp vối mạch chính ở tai (Thủ Dương minh chi biệt, danh viết Thiên lịch, khứ uyển tam thốn, biệt nhập Thái ảm, kỳ biệt giả, thượng tuần tý, thừa kiên ngùng, thượng khúc giáp thiên xỉ, kỳ biệt giã nhập nhĩ, hợp vu tông mạch). - Lạc mạch Thủ Thiếu dương tên là Ngoại quan, tách ở trên cô tay 2 thốn vòng ra ngoài cánh tay, đổ vào trong ngực hợp với Tâm bào lạc (Thủ Thiếu dương chi biệt, danh viết Ngoại quan, khứ uyển nhị thốn ngoại nhiễu tý, chú hung trung hớp tâm chủ). - Lạc mạch Túc Thái dương tên là Phi dương, táchỏ trên mắt cá 7 thốn, đi vào Thiếu âm {Túc Thái dương chi biệt, danh viết Phi dương, khứ khóa thất thốn, biệt tẩu Thiêu ám). - Lạc mạch Túc Thiếu dương tên là Quang minh. tách ở trên mắt 5 thốn đi vào Quyết âm, rồi xuống lạc ở mu chân (Túc Thiếu dương chi biệt, danh viết Quang minh, khứ khoa ngủ thốn, biệt tẩu Quyết âm, hạ lạc túc phụ). - Lạc mạch Túc Dương minh tên là Phong long, táchỏ trên mát cá 8 thốn, đi vào Thái âm, nhánh của nó theo bờ ngoài xương chầy, lên đầu gáy để hợp với khí của các kinh sau đó xuống họng (Túc Dương minh chi biệt, danh viết Phong long khứ khoa bát thốn, biệt tẩu Thái âm; kỳ biệt giả, tuần kinh cót ngoại liêm, thượng lạc đầu hạng, hợp chư kinh chi khi ha lác hầu ai). 46 - Lạc mạch Túc Thái âm tên là Công tôn, tách ỏ sau khớp bàn ngón chân cái, đi vào Dương minh, nhánh của nó nhập vào lạc của trường vị {Túc Thái ảm chi biệt danh viết Cóng tôn, khứ bản tiết chi hậu nhát thôn, biệt tâu Thái âm, kỳ biệt giả, nhập lạc trường vị). - Lạc mạch Túc Thiếu âm tên là Đại chung, tách ở gót chân sau mắt cá đi vào Thái dương, nhánh của nó đi cặp cùng kinh này đến dưới tâm bào, rồi ra ngoài xuyên vào cột sống thắt lưng (Túc Thiếu ám chi biệt, danh viết Đại chung, đương khoa hậu, nhiễu căn, biệt tẩu Thái dương, kỳ biệt giả, tịnh kinh thượng tấu vu tâm bào hạ, ngoại quán yêu tích). - Lạc mạch Túc Quyết âm tên là Lãi câu, tách ở trên mắt cá trong 5 thốn đi vào Thiếu dương, nhánh của nó theo xương chầy lên tinh hoàn và kết ở dương vật (Túc Quyết âm chi biệt, danh viết Lãi câu, khứ nội khoa ngủ thôn, biệt tẩu Thiêu dương; kỳ biệt giả, kinh kinh cốt thượng cao, kết ƯU kinh). - Lạc mạch Mạch nhâm tên là Cưu vĩ, tách ở dưới mũi kiếm, phân tán ở vùng bụng trên (Nhâm mạch chi biệt, danh viết Cưu vĩ, hạ Cưu vĩ, tán vu phúc). - Lạc mạch Mạch đốc tên là Trường cường, tách từ Trường cường đi kẹp hai bên xương cùng, cột sống, lên gáy, tán ra ở phần trên của đầu, rồi đi xuống 2 bên bả vai đe đi vào Thái dương, nhập vào xương cùng (Đốc mạch chi biệt, danh viết Trường cường, giáp lữ thượng hạng, tán đầu thượng, hạ đương kiên giáp tả hữu, biệt tẩu Thái dương, nhập quán lữ). - Đại lạc của Tỳ tên là Đại bao, tách ở phía đuối hõm nách 3 thốn, phân bố ở cạnh sườn (Tỳ chi đại lạc, danh viết Đại bao, xuất uyên dịch hạ tam thôn, bố hung hiếp). Tám mạch khác kinh (Kỳ kinh bát mạch) Nhận thức về Tám mạch khác kinh được hoàn chỉnh dần. Trong Tố Vấn, Cốt không luận chỉ nói đến mạch Nhâm (trang 47 311), mạch Xung, mạch Đốc (trang 312), cử thống luận có mạch Xung (trang 275). Trong Linh Khu, Động du có mạch Xung (trang 418), Ngũ âm ngũ vị có mạch Xung, mạch Nhâm (trang 447), Mạch độ có mạch Kiểu, mạch Nhâm, mạch Đốc (trang 188). Miêu tả các mạch trên của Tố vấn và Linh Khu có chỗ không giống nhau và đều chưa có thuật ngữ Kỳ kinh bát mạch. Đề cập toàn diện đến Tám mạch khác kinh là Nạn Kinh. Điều khó 28 viết như sau: Tám mạch đương nhiên không phải là 12 kinh, vậy chúng bắt đầu và tiếp tục như t hế nào? (Kỳ kinh bát mạch giả, ký bất câu vu thập nhị kinh, giai khả khởi khả kê dã). - Mạch Đốc bắt đầu từ huyệt Hội âm, đi vào cột sống lên đến Phong phủ, nhập vào não (Đốc mạch giả, khởi vu hạ cực chi du, tịnh tầu tích lý, thượng chí phong phủ, nhập thuộc vu não). - Mạch Nhâm bắt đầu từ dưối Trung cực lên vùng lông mu, đi vào trong lên Quan nguyên đến yết hầu (Nhâm mạch giả, khởi vu trung cực chi hạ, dĩ thượng mao tê, tuần phúc lí, thương quan nguyên chí hầu yết). - Mạch Xung bắt đầu từ Khí xung, đi cặp cùng Túc Dương minh kẹp rốn đi lên, vào ngực rồi tán ở đó (Xung mạch giả, khởi vu khí xung, tịnh Túc Dương minh chi kinh, giáp tề thượng hành, chí hung trung chi tán dã). - Mạch Đới bắt đầu từ mạng sườn, vòng quanh thân (Đới mạch giả, khởi vu quý hiếp, hồi thân nhất chu). - Mạch Dương kiểu bắt đầu từ gót chân vòng mắt cá ngoài đi lên để nhập vào Phong trì (Dương kiểu mạch giả, khởi vu căn trung, tuần ngoại khoa thượng hành, nhập Phong trì). - Mạch Âm kiểu cũng bắt đầuỏ gót chân, vòng mắt cá trong đi lên đến yết hầu để giao và đổ vào mạch Xung (Ảm kiểu giả, diệc khởi vu căn trung, tuần nội khoa thượng hành chí yết hầu, giao quán Xung mạch). 48 - Mạch Âm duy Dương duy là mạng lưới liên lạc toàn thân, hai mạch đầy ắp không thể tuần hoàn trong 12 kinh chính. Dương duy bắt đầu ỏ nơi hội của các dương (Kim môn), Âm duy bắt đầu ở nơi giao của các âm (Trúc tân) (Ảm kiêu Dương kiêu giả, duy lạc ƯU thân dật xúc bất năng hoàn lưu quán khái chư kinh giả dã. Cố Dương duy khởi vu chư dương hội dã, Ảm duy khởi vu chư âm giao dã). Ví như nước ở trong ngòi rãnh mà đầy thì chảy vào ao hồ, con người không thể ngăn cản được việc này. Ở tro Ig người khi các mạch đầy thịnh thì huyết khí ắt phải chảy vào tám mạch mà không thể tuần hoàn trong 12 kinh mạch được. Cho nên Tám mạch không thuộc 12 kinh mạch (Tỷ vu câu cừ mãn dật lưu âm hồ, nhi nhân mạch long thịnh nhập vu bát mạch nhi bất hoàn chu. Cô tháp nhị kinh bất năng câu chi). Qua miêu tả của Nạn Kinh, ta thấy Tám mạch là nơi dự trữ máu của toàn thân ngoài phần tuần hoàn trong các kinh chính để điều hòa lượng máu cần thiết cho cơ thể. KINH LẠC VÀ TẠNG PHỦ, CÂN cơ, BÌ PHU Kinh mạch và tạng phủ Kinh mạch dẫn huyết khí đến tạng phủ thông qua kinh chính và kinh nhánh của chúng. Cụ thể n h ư sau: - Phế - Đại trường: + Mạch Thủ Thái âm phế: Từ trung tiêu đi xuống dưối lạc đại trường, quay lên vòng quanh vị khẩu, xuyên cơ hoành rồi thuộc phế. + Mạch Thủ dương minh đại trường: Đi vào khuyết bồn để lạc vối phế, qua cơ hoành xuống dưới thuộc đại trường. + Nhánh Thái âm phế: Tách ở nách nhập vào phế và tán ra ở đại trường và hợp với Thủ Dương minh ở hầu họng. Nhánh 49 Thu Dương minh: nhập vào trụ cốt xuống đại trường thuộc về phế rồi hợp vối kinh chính. - T ỳ-VỊ : + Mạch Túc Dương minh vị: Từ khuyết bồn xuống cơ hoành đê thuộc vị rồi lạc tỳ. + Mạch Túc Thái âm tỳ: Từ mặt trong đùi đi vào trong bụng để thuộc tỳ rồi lạc vị, sau đó xuyên cơ hoành lén ngực. + Nhánh của Túc Dương minh: Từ háng nhập vào trong bụng để vào vị, tán ra ở tỳ, lên thông với tâm... đê hợp với Dương minh. Nhánh của Túc Thái âm tỳ: Ỏ háng hợp với Dương minh và cùng đi với Dương minh vào vị, tán ra tỳ, lên thông vối tâm. - Tâm - Tiểu trường: + Mạch Thủ Thái dương tiểu trường: Từ khuyết bồn lạc tâm, dọc thanh quản xuống cơ hoành để vào tiểu trường. + Nhánh Thủ Thiêu âm tâm: Từ hõm nách đi vào tâm, lên khóe mắt hợp vối Thái dương. Nhánh Thủ Thái dương tiểu trường: vào nách đến tâm rồi vê tiểu trường. + Nhánh của Thiếu âm tâm: Tách từ hõm nách vào tâm... lên khóe mắt hợp với Thủ Thái dương, nhánh của Thủ Thái dương tiểu trường vào nách đến tâm rồi vê tiểu trường. - Bàng quang - Thận: + Mạch Túc Thiếu âm thận: Từ bờ sau mặt trong đùi đi lên xuyên cột sống để thuộc thận, lạc bàng quang, thảng từ thận qua can, qua cơ hoành lên phế. Ở phế có Ì nhánh để liên lạc với tâm rồi đô vào trong ngực. + Mạch Túc Thái dương bàng quang: Dọc bên cột sống xuống thắt lưng đê vào cột sông rồi lạc với thận, thuộc bàng quang. + Nhánh Túc Thiếu âm thận hợp với Túc Thái dương bàng quang ở kheo đê cùng Thái dương lên thận, đến đốt sóng 14 thì ÕO xuất ra để vào mạch Đới. Nhánh Túc Thái dương vào hậu môn, vào bàng quang, phân tán ỏ thận, theo cột sống lên phân tán ở vùng tâm. - Tâm bào Tam Tiêu: + Mạch Thủ Quyết âm tâm bào: Từ trong ngực đi ra, thuộc tâm bào lạc, qua cơ hoành để lạc tam tiêu. + Mạch Thủ Thiếu dương tam tiêu: Vào khuyết bồn rồi phân bố ở ngực (đản trung), lạc tâm bào đến cơ hoành để thuộc tam tiêu. + Nhánh Thủ Quyết âm: Tách từ 3 thốn dưới hõm nách, vào trong ngực để thuộc tam tiêu, hợp vối Thiếu dương ở xương chũm. Nhánh Thủ Thiếu dưỡng từ khuyết bồn xuống tam tiêu và tán ở trong ngực. - Đởm Can: + Mạch Túc Thiếu dương đởm: Từ khuyết bồn xuống ngực, qua cơ hoành để lạc can, thuộc đởm, đi tiếp ở mặt trong sườn. + Mạch Túc Quyết âm can: Vòng bộ phận sinh dục để lên bụng dưới, đi cặp với mạch vị, thuộc can rồi lạc đỏm, từ can có Ì nhánh qua cơ hoành để vào phế. + Nhánh Túc Thiếu dương: Hợp với nhánh Túc Quyết âm ở lông mu, đi lên mạng sườn đi vào ngực thuộc đởm, tán ra ở can, qua tâm để lên hầu họng... Nhánh Túc Quyết âm hợp với Thiếu dương ở lông mu rồi cùng đi vào mạng sườn vào đởm tán ra ở can. Lạc mạch và tạng phủ Nếu mỗi kinh chính và kinh nhánh đều có đường đi vào tạng phủ thì chỉ có 5 lạc mạch có đường đi vào tạng phủ. Tuy nhiên, chúng vẫn đảm bảo việc cung cấp, trao đổi dinh khí, tông khí, tân dịch cho các tạng phủ. Cụ thể như sau: 51 - Lạc mạch Thủ Thiếu âm: Có nhánh từ trên cỏ tay Ì, 5 thốn men theo kinh chính đi lên vào trong tâm. lên cuống lưỡi vào mục hệ. - Lạc mạch Thủ Quyết âm: Tách từ trên cổ tay 2 thốn tán ra giữa 2 gân, men theo kinh chính đi lên để liên hệ vối tâm bào lạc. - Lạc mạch Thủ Thiếu dương: Đi lên đổ vào trong ngực đế hợp với tâm bào lạc. - Lạc mạch Túc Thiếu âm: Nhánh của nó đi cặp cùng kinh chính đến dưới tâm bào rồi ra ngoài để vào cột sống thắt lưng. - Lạc mạch Túc Thái âm: Nhánh của nó nhập vào lạc của trường vị. Tuy chỉ có 5 lạc mạch vào tạng phủ, song các lạc âm và dương đều đổ vào kinh chính, tiếp đó qua nhánh kinh chính để liên thông với tạng phủ, đưa huyết khí từ kinh chính đến các bộ phận của từng tạng phủ và ngược lại. Kinh mạch và cân cơ, bì phu Mỗi kinh mạch chính đều có phần đi ở sâu giữa các cơ của chi thể để nuôi dương hệ thống cân cơ và bì phu của chi thể. Mỗi kinh nuôi dưỡng Ì bộ phận cân cơ, bộ phận cân cơ này có tên là kinh cân của kinh đó. Tổng số có 12 kinh cân. Mỗi kinh nuôi dưỡng Ì bộ phận da, bộ phận da này có tên là bì bộ của kinh đó. Tổng số có 12 bì bộ. - Mạch Thủ Thái âm phế: Đến dưới nách, đi ra ở mặt trong cánh tay, xuống khuỷu tay theo bò trong xương quay vào thốn khâu, đèn mô cái, qua ngư tế, ra đầu ngón cái, tong cộng có l i huyệt. Đoạn kinh này nuôi Kinh cân Thủ Thái âm và Khu da tương ứng. 52 - Mạch Thủ Dương minh đại trường: Bắt đầu từ đầu ngón trỏ phía ngón cái dọc bờ trên rau ngón trỏ đi đến hợp cốc, đi vào chỗ lõm giữa 2 gân (hố lào) rồi dọc bờ trên cẳng tay đến bò ngoài khuỷu tay, dọc bò trước mặt ngoài cánh tay xuất ra ỏ bò trước đầu xương cánh tay, rồi xuất ra ỏ chỗ hội ở đại chùy, đi vào khuyết bồn, lên cổ, đến hàm dưới vòng quanh miệng giao nhau ở nhân trung, đi sang bên đối diện đến sát chân cánh mũi, tông cộng có 20 huyệt. Đoạn kinh này nuôi Kinh cân Thủ Dương minh và Khu da tương ứng. - Mạch Túc Dương minh vị: Từ sát dưới mắt đi xuống mép vòng môi giao với thừa tương, quay l ại men bờ dưới hàm dưối, xuất ra ở đại nghinh, đến góc hàm ngược lên trước tai, qua khách chủ nhân lên đến góc trán. Nhánh của nó tách từ đạ i nghinh xuống nhân nghinh, dọc thanh quản xuống khuyết bồn, thẳng xuống qua đầu vú xuống cạnh rốn đến khí nhai, bễ quan, qua phục thỏ đến bánh chè, xuống dọc bò ngoài xương căng chân đến cổ chân, mu chân rồi đi vào đầu ngón chân thứ 2, tông cộng có 45 huyệt. Đoạn kinh này nuôi Kinh cân Túc Dương minh và Khu da tương ứng. - Mạch Túc Thái âm tỳ: Bắt đầu từ sau góc trong móng ngón chân cái, dọc đường giáp da mu và da gan ngón chân đến đầu sau xương bàn chân Ì, lên bờ trước mắt cá trong, theo dọc bò sau xương cẳng chân ở mặt trong bắp chân, giao cắt Túc Quyết âm để đi phía trước kinh này, lên bò trước mặt trong gối, đi tiếp ở mặt trong đùi, qua bẹn, đi ngược lên cạnh rốn (cách Mạch Nhâm 4 thốn) chếch lên ngực (cách Mạch Nhâm 6 thốn), thẳng lên ngực rồi quặt xuống đạ i bao, tổng cộng có 21 huyệt. Đoạn kinh này nuôi Kinh cân Túc Thái âm và Khu da tương ứng. - Mạch Thủ Thiếu âm tâm: Từ đáy hố nách dọc bờ sau mặt trong cánh tay, đi sau 2 mạch Thủ Thái âm, Thủ Quyết âm xuống mặt trong khuỷu tay cẳng tay đến đầu nhuệ cốt (xương đậu) ở cổ tay, vào bò trong gan tay, đi men bò trong ngón tay út 53 đến đầu ngón tay, tống cộng có 9 huyệt. Đoạn kinh này nuôi Kinh cân Thủ Thiếu âm và Khu da tương ứng. - Mạch Thủ Thái Dương tiểu trường: Bắt đầu từ đầu ngón tay út men bò ngoài ngón tay, bàn tay lên cô tay. xuất ỏ khóa trung (trong mỏm trâm trụ) dọc bờ dưới xương cảng tay (xương trụ), xuất ra ở giữa 2 gân phía trong khuỷu tay, đi dọc bò sau mặt ngoài cánh tay lên vai đi ngoằn ngoéo ở bả vai, lên cỏ lên má, đến khóe mắt ngoài rồi đi vào trong tai (ở huyệt nhĩ môn), tổng cộng có 19 huyệt. Đoạn kinh này nuôi Kinh cán Thủ Thái dương và Khu da tương ứng. - Mạch Túc Thái Dương bàng quang: Từ khóe mắt trong lên trán, qua đầu xuống gáy, tách làm 2 nhánh đi song song dọc cột sông và sát bên trong xương bả vai, thẳng xuống mông, rồi mặt sau đùi, hợp l ạ i với nhau ỏ khoèo chân, dọc giữa bắp chân xuống xuất ra ở sau mắt cá ngoài, dọc bò ngoài mu bàn chân (kinh cốt) đến ngón út, tổng cộng có 67 huyệt. Đoạn mạch này nuôi Kinh cân Túc Thái dương và Khu da tường ứng. - Mạch Túc Thiếu âm thận: Bắt đầu từ dưới ngón chân út, đi chéo gan bàn chân qua dũng tuyền đến đuối nhiên cốc (xương thuyền), lên sau mắt cá trong, vòng xuống gót chân để lại đi lên mặt trong bắp chân, xuất ra ở bờ trong khoèo chân, đi lên ở bờ sau mặt trong đùi, rồi vào bụng ngực, tổng cộng có 27 huyệt. Đoạn mạch này nuôi Kinh cân Túc Thiếu âm và Khu da tương ứng. - Mạch Thủ Quyết âm tâm bào: Xuất ra ở phía ngoài ngực dưới nếp nách 3 thốn (huyệt Thiên trì) đi lên đến dưới nách thì vòng ra mặt trong cánh tay, đi giữa 2 mạch Thái âm và Thiếu âm vào khuỷu tay, xuống cẳng tay đi giữa 2 gân lớn để vào gan bàn tay, theo ngón giữa đến đầu ngón, tổng cộng có 9 huyệt. Đoạn mạch này nuôi Kinh cân Thủ Quyết âm và Khu da tương ứng. - Mạch Thủ Thiếu dương tam tiêu: Từ đầu ngón áp út phía ngón út đi lên xuất ra ở giữa 2 ngón tay, lên cổ tay xuất ra ở 54 mặt ngoài hai xương cẳng tay, đi lên mỏm khuỷu, theo mặt ngoài cánh tay, lên vai đế giao với Túc Thái dương rồi đi sau mạch này, vào hố trên đòn, lên gáy vòng sau tai đến đuôi mắt, tổng cộng có 23 huyệt. Đoạn mạch này nuôi Kinh cân Thủ Thiếu dương và Khu da tương ứng. - Mạch Túc Thiếu dương đởm: Từ khóe mắt ngoài lên góc trán, xuống sau tai vòng qua đầu sang trán, lại vòng về sau gáy (phong trì), dọc cô xuống vai, xuống nách qua mạng sườn, xuống mấu chuyên lớn rồi xuống mặt ngoài đùi, xuất ra ở bờ ngoài đầu gối, đi xuống bờ ngoài xương cẳng chân, thẳng xuống đến đầu tuyệt cốt (xương mác), đi xuống xuất ra phía trước mắt cá ngoài, đi giữa hai bàn chân 4 và 5, đến đầu ngón áp út phía ngón út, tổng cộng có 44 huyệt. Đoạn mạch này nuôi Kinh cân Túc Thiêu dương và Khu da tương ứng. - Mạch Túc Quyết âm can: Bắt đầu từ chòm lông sau móng ngón chân cái, dọc mu chân lên mắt cá trong Ì thốn, đi thẳng ngược lên trên mắt cá trong 8 thốn thì giao với Túc Thái âm để đi sau kinh này, lên mặt trong khoèo, mặt trong đùi, qua bẹn, vòng âm bộ rồi đi chếch lên bò xương sườn cụt số li, tống cộng có 14 huyệt. Đoạn mạch này nuôi Kinh cân Quyết âm và Khu da tương ứng. PHỤ: MƯỜI HAI KINH CÂN VÀ MƯỜI HAI KHU DA (THẬP NHỊ KINH CÂN - THẬP NHỊ BÌ BỘ) Mười hai kinh cân (thập nhị kinh cân) Kinh cân là bộ phận cân cơ được phần mạch chính đi ở thân thể nuôi dưỡng. Mỗi mạch nuôi dưỡng Ì kinh cân, 12 mạch nuôi dưỡng 12 kinh cân. Sách Thuyết văn viết: cân là lực của cơ (căn giả, nhục chi lực dã). Còn Tố vấn Ngũ tạng sinh thành luận viết: các gân đêu thuộc vê khớp (chư cân giả, giai thuộc ƯU tiết - trang 64). Qua y văn trên có thể hiểu 12 kinh cân là 12 bộ phận 55 của hệ thống vận động của cơ thể. Và mỗi kinh cản đêu phải mang tên của kinh chính. Thiên kinh cân Linh Khu miêu tả 12 kinh cân như sau (trang 163-173): - Cân Thủ Thái âm: Bắt đầu từ đầu ngón tay cái. dọc ngón cái đi lên kết ở sau ngư tê (mô ngón cái), đi phía ngoài thôn khẩu (động mạch quay), dọc lên cẳng tay để kết ỏ trong khuỷu, đi ở mặt trong cánh tay vào dưới nách để xuất ra ở hô trên đòn và kết ở trước vai, đi lên kết ở khuyết bồn, đi xuống kết ỏ ngực, tán ra ở tâm vị, rồi l ại hợp ở đây để đi đến cạnh sườn {Thủ Thái âm chi cân, khởi vu đại chỉ chi thượng, tuần chỉ thương hành kết vu ngư hậu, hành thốn khẩu ngoại trắc, thượng tuần tý, kết trừu trung, thượng nao nội liêm, nhập dịch hạ xuất khuyết bồn, kết kiên tiền ngùng, thượng kết khuyết bồn, hạ kết hung lý, tán quán bôn hợp bôn, hạ để quý hiếp). - Cân Thủ Dương minh: Bắt đầu từ ngón tay trỏ, kếtỏ cổ tay, dọc cẳng tay lên kết ở phía ngoài khuỷu, lên cánh tay kết ở vai. Nhánh của nó vòng vèo ở vai đến kẹp cột sống. Đường thẳng của nó từ kiên ngùng đi lên cổ xuất ra ở trước Thủ Thái dương lên góc trán trái liên lạc vói da đầu, rồi xuống hàm bên phải. Từ cổ có nhánh đi lên má để kết ở gò má (Thủ Dương minh chi cân, khởi vu đại chỉ thứ chỉ chi đoan, kết vu uyển, thương tuần tý thượng kết vu trừu ngoại, thượng nao kết vu ngùng, Kỳ chi giả, nhiễu kiên giáp hiệp tích. Trực giả tùng kiên ngùng thượng cảnh, kỳ chi giả, thượng giáp kết vu cừu. Trúc giả, thương xuất Thủ Thái dương chi tiền, thượng tả giác lạc đầu, hạ hữu hàm). - Cân Túc Dương minh: Bắt đầu từ 3 ngón chân (2, 3. 4) két ỏ mu chân, chếch ra ngoài cùng phụ cốt (xương mác) lên kết ở bờ ngoài gối, thảng lên kết ở mấu chuyển lớn, lên bò sườn vế thuộc xương sống. Đường đi thẳng dọc theo cán (xương chày) kết ở góc, nhánh của nó kết ở ngoài phụ cốt (xương mác), hợp với 56 thiếu dương. Đường đi thẳng dọc cơ thẳng đùi lên kết ở đùi, tụ ở âm khí (bộ phận sinh dục) lên phân bố ở bụng, lên kết ở hố trên đòn, lên cô lên mép, hợp ở cừu (xương gò má), xuống kết ở mũi, lên hợp với Thái dương. Thái dương tạo thành mạng lưới ở trên mát, Dương minh tạo thành mạng lưới ở dưới mắt. Nhánh của nó từ má lên kết ở trước tai {Túc Dương minh chi cản, khởi vu trung tam chỉ, kết vu phụ thượng, tà ngoại thượng gia vu phụ cốt, thượng kết vu tất ngoại liêm, trực thượng kết vu bễ khu, thượng tuần hiếp thuộc tích. Kỳ trực giả, thượng tuần cán kết vu tát, kỳ chi giả, kết vu ngoại phụ cốt hợp Thiếu dương. Kỳ trực giả, thượng tuần phục thố thượng kết vu bễ, tụ vu ăm khí, thượng phúc nhi bố chí khuyết bồn nhi kết, thượng cảnh thượng hiệp khẩu hợp vu cữu, hạ kết ƯU tỵ, thượng hợp vu Thái dương, Thái dương vi mục thượng đầu võng, Dương minh vi mục hạ võng, kỳ chi giả, tùng giáp kết vu nhĩ tiền). - Cân Túc Thái âm: Bắt đầu ở bên trong đầu ngón cái lên kết ở mắt cá trong. Đường thẳng của nó lạc với lồi củ trong xương chầy, đi lên mặt trong đùi kết ở háng, tụ âm khí lên bụng kết ở rốn, vào trong bụng kết ở xương sườn, tán ở trong ngực, có nhánh ở trong bám vào cột sống {Túc Thái âm chi cân khởi vu đại chỉ chi đoan, nội trắc thượng kết vu nội khóa, thượng tuần âm cô kết vu bễ, tụ vu âm khí, thượng phúc kết vu tề, tuần phúc lý kết vu hiếp, tán vu hung trung, kỳ nội giả, trực vu tích). - Cân Thủ Thiếu âm: Bắt đầu từ mặt trong ngón tay út, kết ở mỏm châm trụ, lên kết ở mặt trong cổ tay, đi lên vào nách giao vối Thái âm, đi áp trong vú kết ở trong ngực, qua tâm vị xuống liên hệ với rốn {Thủ Thiêu âm chi cân khởi vu tiêu chỉ nội trắc kết vu nhuệ cốt, thượng kết trừu nội liêm, thượng nhập dịch giao Thái âm, hiệp nhủ lý kết vu hung trung, tuần bôn hạ hệ vu tề). - Cân Thủ Thái dương: Bắt đầu từ mặt trên ngón tay út, kết ở cổ tay, đi theo bò trong cẳng tay kết ở sau lồi cầu trong khuỷu tay, bật vào đó gây cảm giác đến đầu trên ngón tay út, đi lên dưới nách két ở đó. Nhánh của nó ra sau nách vòng lên vai 57 dọc cố xuất ra ỏ trước Túc Thái dương, kết ở hoàn cốt. Nhánh của nó vào trong tai còn đường thẳng xuất ra ỏ trên tai. Nuông kết ở hàm rồi đi lên thuộc vế đuôi mắt (Thủ Thái dương chi cán, khởi vu tiểu chỉ chi thượng, kết ƯU uyển, thượng tuần tý nội liêm, kết vu trừu nội nhuệ cốt chi hậu, đàn chi ứng tiêu chỉ chi thượng, nhập kết vu dịch hạ: kỳ chi giả, hậu tẩu dịch hậu liêm, thượng nhiễu kiên giáp, tuần cảnh xuất tẩu Thái dương chi tiền, kết ƯU nhĩ hậu hoàn cốt, kỳ chi giả nhập nhĩ trung, trực giá xuàt nhĩ thượng, hạ kết vu hàm thượng, thuộc mục ngoại tý). - Cân Túc Thái dương: Bắt đầu từ ngón chân út, đi lên kết ở mắt cá ngoài, đi lên kết ở gối, đi xuồng dọc ngoài cang chân kết ở gót, theo gân gót đi lên kết ở khoèo. Nhánh của nó kết ỏ phía ngoài bắp chân, lên bờ trong khoèo cùng đoạn giữa khoèo đi lên đê kết ở mông, đi tiếp sát cột sống lên gáy. Nhánh của nó tách ra đế vào kết ở cuống lưỡi, đường thẳng đi lên kết ở xương chẩm lên đầu xuống mặt kết ở mũi. Nhá nh của nó tạo mạng lưối trên mắt xuống kết ở gò má. Nhánh của nó đi theo bờ ngoài sau nách kết ở kiên ngùng. Nhánh của nó đi vào dưới nách xuất ra ở khuyết bồn lên kết ở mỏm châm chũm. Nhá nh của nó xuất ra ở khuyết bồn đi chếch lên gò má {Túc Thái dương chi cân, khởi vu túc tiêu chỉ, thượng kết vu khóa, tà thượng kết vu tất, kỳ hạ tuần túc ngoại trắc kết ƯU chung, thượng tuần căn kết vu quắc. Kỳ biệt giả kết vu thuyên ngoại, thượng quắc trung nội liêm, dữ quắc trung tịnh thượng kết vu điên, thượng hiệp tích thượng hạng. Kỳ chi giá, biệt nhập kết vu thiệt bản. Kỳ trực giả, kết vu chàm cốt thượng đầu hạ nhan, kết vu ty. Kỳ chi giả, vi mục thượng võng, hạ kết vu cừu. Kỳ chi giả, tùng dịch hậu ngoại liêm, kết vu kiên ngùng. Kỳ chi giả, nhập dịch hạ, thượng xuất khuyết bồn, thượng kết vu hoàn cốt. Kỳ chi giả, xuất khuyết bồn, tà thượng xuất vu cừu). - Cân Túc Thiêu âm: Bắt đầu từ dưới ngón chân út. cùng cân Túc Thái âm chếch đến dưới mắt cá trong kết ở gót. hợp với cân Thái dương đi lên kết ở dưới lồi củ trong xương chầy cùng 58 cân Thái âm đi lên mặt trong khoèo chân đế lên kết ỏ vùng sinh dục ngoài, vào cột sống rồi hợp với cột sống đi lên gáy đê kết ở xương chấm và hợp vối cân Túc Thái dương (Túc Thiếu âm chi cân, khởi vu tiếu chí chi, kết vu chủng, dữ Thái dương chi cân hợp nhi thượng kết vu nội phụ chi hạ, tịnh Thái âm chi cân nhi thượng tuần âm cốc kết vu ảm khí, tuần tích nội hiệp lữ, thượng chí hạng, kết vu châm cốt dữ Thái dương chi căn hợp). - Cân Tâm chủ: Bắt đầu từ ngón giữa cùng cân Thái âm đi lên kết ở trong khuỷu tay, lên mặt trong cánh tay kết ỏ dưới nách, đi xuống hiệp với trước và sau cạnh sườn để tán ở đó. Nhánh của nó vào nách phân tán ở trong ngực và kết ỏ tâm vị (Thủ tâm chủ chi cân, khởi ƯU trung chỉ, dữ Thái âm chi căn tịnh hành kết vu trừu nội liêm, thượng tí âm kết dịch hạ, hạ tán tiền hậu hiệp hiếp, kỳ chi giả, nhập dịch tán hung trung kết vu bôn) (Nguyên văn là kết vu tý, Trương Cảnh Nhạc sửa l ại là kết vu bôn, như vậy đúng ý hơn). - Cân Thủ Thiếu dương: Bắt đầu từ đầu ngón tay thứ tư kết ở cô tay dọc giữa mặt ngoài cẳng tay kết ở khuỷu tay, lên mặt ngoài cánh tay lên vai, đến cổ hợp với Thủ Thái dương. Nhánh của nó đến góc hàm đi vào cuống lưỡi. Nhánh khác đi vòng răng đến trước tai thuộc về khóe mắt ngoài, lên trán và kết ở góc trán (Thủ Thiêu dương chi cân, khởi vu tiểu chỉ thứ chỉ chi đoan, kết vu uyển, thượng tuần tí kết vu trừu, thượng nhiễu nao ngoại liêm, thượng kiên tẩu cảnh hợp Thủ Thái dương. Kỳ chi giả đương khúc giáp nhập hệ thiệt bản. Kỳ chi giả, thượng khúc giáp, tuần nhĩ tiền thuộc mục ngoại tý, thượng hàm kết vu giác). - Cân Túc Thiếu dương: Bắt đầu từ ngón chân thứ tư, kết ở mắt cá ngoài, dọc bò ngoài xương chầy kết ỏ bờ ngoài gối. Nhánh của nó tách từ lồi củ ngoài đi lên háng, ỏ mặt trưốc kết ỏ phía trên phục thố, ở mặt sau kết ỏ vùng cùng. Nhánh thẳng đi lên cạnh sườn, lên bò trước nách nối với ngực vú và kết ở khuyết bồn. Đường thẳng đi lên xuất ra ở nách, xuyên lên khuyết bồn, 59 xuất ra ớ trước thái dương, vòng qua sau tai lên góc trán giao hội ở đỉnh đầu, đi xuống hàm rồi lên kết ỏ xương má. có nhánh đen kết ỏ đuôi mắt để bảo vệ bên ngoài (Túc Thiếu dương chi cân, khởi vu tiểu chỉ thứ chỉ, thượng kết ngoại khóa, thượng tuần hĩnh ngoại liêm, kết vu tất ngoại liêm. Kỳ chi giả, biệt khới ngoại phụ côi, thượng vu bễ, tiền giả kết vu phục thó chi thượng, hậu giả kết vu CƯU. Kỳ trực gia, thượng thừa thiếu quý hiếp, thượng tẩu dịch tiền liêm, hệ vu ưng nhủ kết ƯU khuyết bôn. Trực giả, thượng xuất dịch, quán khuyết bồn, xuât Thái dương chi tiền, tuần nhĩ hậu thượng ngạch giác, giao điên thượng, hạ tẩu hàm thượng kết vu cừu. Chì giả két vu mục tý, vi ngoại duy). - Cân Túc Quyết âm: Bắt đầu từ mặt trên ngón cái, lên kết ở trước mắt cá trong, dọc xương chầy lên ở kết dưới lồi củ trong, lên dọc mặt trong đùi, kết ở âm khí và liên lạc với các cân khác (Túc Quyết âm chi căn, khởi vu đại chỉ chi thượng, thượng két vu nội khóa chi tiền, thượng tuần hĩnh, thượng kết nội phụ chi hạ, thượng tuần âm cổ, kết vu âm khí lạc chư căn). Có thể nhận thấy hệ thống kinh cân là hệ thống vận động của cơ thể. Hệ thống này hoạt động được nhờ sự nuôi dưỡng của 12 kinh mạch. Mười hai khu da (thập nhị bì bộ) Thiên Bì bộ luận Tố Vấn viết: Mặt da mà 12 kinh lạc mạch đến và dừng lại đêu thuộc vê 12 kinh lạc mạch (phàm thập nhị kinh lạc mạch giả, bì chi bộ dã) và da của toàn thân đêu phân theo đường tuần hành của 12 mạch (òỉ giả mạch chi bộ dã trang 288). Muốn biết khu da này thuộc mạch nào, cần phải dựa vào đường tuần hành của mạch đó (dục chi bì bộ, dĩ kinh mạch vỉ kỷ - trang 285). Phân bổ cụ thể được miêu tả như sau (trang 286-288): - Dương của Thủ Túc Dương minh có tên là Hại phỉ nếu nhìn có phù lạc ở da, thì đó là lạc của Dương minh (Dương minh 60 chi dương, danh viết Hại phi, thượng hạ đồng pháp, thị kỳ bộ trung hữu phù lạc giả, giai Dương minh chi lạc dã). Chú: Hại phỉ là nhất âm sinh, lúc Dương minh cực thịnh thúc đẩy vạn vật phát triển mạnh mẽ thì cũng là lúc tiềm ẩn nguy cơ sinh ra khí sát hại vạn vật (nhất âm sinh) vì vậy Dương minh được gọi là Hạ i phỉ. - Dương của Thủ Túc Thiếu dương có tên là Khu trì, nếu nhìn có phù lạc ở da, thì đó là lạc của Thiếu dương (Thiếu dương chi dương, danh viết Khu trì, thượng hạ đồng pháp, thị kỳ bộ trung hữu phù lạc giả, giai Thiếu dương chi lạc dã). Chú: Khu trì là cái Bản lề , Thiếu dương ở bán biểu bán lý như cái bản lề, ở đó dương khí có thể vào và có thể ra. - Dương của Thủ Túc Thái dương có tên là Quan khu, nếu nhìn có phù lạc ở da, thì đó là lạc của Thái dương (Thái dương chi dương, danh viết Quan khu, thượng hạ đồng pháp, thị kỳ bộ trung hữu lạc giả, giai Thái dương chi lạc dã). Chú: Quan khu là cái chốt cửa, Thái dương ỏ ngoài cùng như cái chốt để bảo vệ cớ thể và để chế ưốc dương khí. - Âm của Thủ Túc Thiếu âm có tên là Khu nho, nếu nhìn có phù lạc ở da, thì đó là lạc của Thiếu âm (Thiếu âm chi âm, danh viết Khu nho, thượng hạ đồng pháp, thị kỳ bộ trung hữu phù lạc giả, giai Thiếu âm chi lạc dã). Chú: Khu nho là bản l ề mềm, Thiếu âm ở vị trí bản l ề của sự ly hợp, Thiếu âm thuộc âm, tính tĩnh, nhu nhuận nên gọi là khu nho. - Âm của Thủ Túc Quyết âm có tên Hạ i kiên, nếu nhìn có phù lạc ở da, thì đó là lạc của Quyết âm (Tâm chủ chi ăm, danh viết Hại kiên, thượng hạ đồng pháp, thị kỳ bộ trung hữu phù lạc giả, giai Tâm chủ chi lạc giả). Chú: H ạ i kiên là chỉ Quyết âm là âm cực, âm cực thì dương sinh, dương sinh tất hại âm khí. 61 - Âm của Thu Túc Thái âm có tên la Quan tráp. nêu nhìn có phù lạc ỏ da, thì đó là lạc của Thái âm (Thái ám chi ám, danh viết Quan trập, thượng hạ đồng pháp, thị kỵ bỏ trung hữu phù lạc giả, giai Thái âm chỉ lạc). Chú: Quan trập là cửa giữ âm lại, Thái âm ờ vị trí mở của tam âm, nơi âm khí muốn ra ngoài, để giữ âm lại Thái âm phải trỏ thành Quan trập. Để khái quát lại Kỳ Bá viết: Da toàn thân đều được phân bố theol2 kinh mạch lạc, khi tà khí tác động vào da thì tấu lý mở, tấu lý mở thì tà khí sẽ vào lạc mách, khi đầy lạc mạch thì tà khí vào kinh mạch, khi đầy kinh mạch thì tà khí vào tạng phủ. Cho nên khi da bị tà khí xâm phạm, nêu kịp thòi điểu trị thì đại bệnh không phát sinh được (Bì giả, mạch chi bộ dã, tà khách vu bì tắc tâu lý khai, khai tắc tà nhập khách vu lạc mạch, lạc mạch mãn tác chú vu kinh mạch, kinh mạch mãn tắc nhập xá vu tang phủ dã. Cố bì giả, hữu phân bộ bất dữ nhi sinh đại bênh dã - trang 288). Có thể hình dung 12 khu da như sau: - Thủ Túc Thái dương (Quan khu): Đỉnh đầu, sau gáy, lưng thắt lưng, mặt sau chi trên, mặt sau chi dưối. - Thủ Túc Dương minh (Hại phỉ): Mặt cổ, hai bên đường chính giữa ngực bụng, phía trước mặt sau chi trên, mặt trưốc chi dưới. - Thủ Túc Thiếu dương (Khu trì): Hai bên và trên dưói vùng tai, vùng cạnh sườn, mạng sườn, ở giữa mặt sau chi trên, mặt ngoài chi dưới. - Thủ Túc Thái âm (Quan trập): Phần giữa Dương minh và Thiêu dương của ngực bụng, phía trước mặt trước chi trên phía trước mặt trong chi dưới. 62 - Thủ Túc Thiếu âm (Khu nho): Kẹp sát hai bên đương chính giữa ngực bụng, phía trong mặt trước chi trên, phía sau mặt trong chi dưới. - Thủ Túc Quyết âm (Hại kiên): Phía trước mạng sườn cạnh sườn, phần giữa mặt trước chi trên, phía trước mặt trong cang chân, phần giữa mặt trong đùi. TÁC DỤNG CỦA HỆ KINH LẠC Thiên kinh mạch Linh Khu viết: Kinh mạch có vai trò trong quyết định sự sống chết, xử lý bệnh tật, điều hòa trạng thái hư thực của cơ thể, vì vậy kinh mạch không thể không thông {Kinh mạch giả, sở dĩ năng quyết sinh t, x bách bệnh, điều hư thực, bất khả bất thông - trang 105). Vai trò quyết định sự sông chết Quyết định sự sông Thiên bản tạng Linh Khu viết: Kinh mạch là tố chức mà ở đó huyết khí tuần hoàn đê nuôi dưỡng sự sống, làm nhu nhuận gân xương, làm các khớp linh lợi (Kinh mạch giả, sở dĩ hành khí huyết nhi dinh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết - trang 340). Điều 23 Nạn Kinh cũng viết: Kinh mạch là tổ chức mà ở đó huyết khí tuần hoàn làm âm dương điều hòa và để nuôi dưỡng toàn thân (Kinh mạch giả, hành huyết khí, thông ăm dương dĩ dinh ƯU thân giả dã). Huyết khí thông qua kinh mạch lạc đã đến từng tạng phủ, từng vùng cân cơ, từng khu da để đảm bảo sự sống và hoạt động của từng tô chức trên. Và nơi nào kinh mạch lạc không thông thì huyết khí sẽ không thể đến được, sự sống và hoạt động của nơi đó sẽ bị uy hiếp và ngưng trệ. Vai trò này được miêu tả như sau: Con người sống và trưởng thành được là nhò vào huyết mạch (Nhân chi sở sinh thành giả, huyết mạch dã - Cửu châm 63 Linh Khu, trang 547). Dinh vệ tinh khí, huyết là thần khí (Dinh vệ tinh khí giả, huyết giả, thần khí dã - Dinh vệ sinh hội Linh Khu, trang 198). Huyết lưu hành tốt ở trong mạch thì tinh thân đầy đủ sung mãn (Huyết mạch hòa lợi, tinh thần nài cư trang 273). Can có huyết thì mới nhìn được, chân có huyết thì mỏi đi được, tay có huyết thì mới nắm được, ngón tay có huyết thì mối cầm vật được (Can thụ huyết nhi năng thị, túc thụ huyết nhi năng bộ, chưởng thụ huyết nhỉ năng Ốc, chỉ thụ huyết nhi năng nhiếp Ngũ tạng sinh thành luận Tố Vấn, trang 64). Về sự phát triển và hoạt động của con người, Thiên niên luận Linh Khu viết như sau (trang 385): + Đến 10 tuổi thì ngũ tạng bắt đầu ổn định, huyết khí đã thông, kinh khí mối sinh ra còn nằm ở dưới, nên hay chạy (Nhân sinh thập tuế, ngũ tạng thúy định, huyết khí dĩ thông, kỳ khí tại hạ, cố hảo tẩu). + Đến 20 tuổi thì huyết khí bắt đầu thịnh, cơ bắp nở nang, cho nên thích đi nhanh (nhị thập tuế, huyết khí thủy thịnh, cơ nhục phương trưởng, cô hảo xu). + Đến 30 tuổi thì ngũ tạng đã kiện toàn, cơ bắp rán chắc, huyết đầy trong mạch nên thích đi bộ (Tam thập tuế, ngủ tạng đại định, cơ nhục kiên cố, huyết mạch thịnh mãn, cố hảo bộ). + Đến 40 tuổi thì ngũ tạng lục phủ 12 kinh mạch đểu phát triển từ kiện toàn đến ổn định, tấu lý bắt đầu thưa, dung mao sắc mặt giảm, tóc điểm bạc, kinh khí đến đỉnh điểm, nên thích tĩnh và hay ngồi (Tứ thập tuế, ngủ tạng lục phủ thập nhị kinh mạch giai đại thịnh dĩ bình định, tấu lý thủy sơ, vinh hoa đồi lạc, phát pha ban bạch, bình thịnh bình dao, cố hảo tọa). + Đến 50 tuổi thì can khí bắt đầu suy, lá gan bắt đầu mỏng, mật bắt đầu ít, mắt bắt đầu mờ (Ngũ thập tuế can thủy suy, can diệp thủy bạc, đởm tráp thủy diệt, mục thủy bất minh). 64 + Đến 60 tuổi thì tâm khí bắt đầu suy, dễ đau khổ, bi ai, nghĩ ngợi, huyết khí vận hành chậm chạp không lợi, nên thích nằm {Lục thập tuế, tăm khí thủy suy, khô bi ưu, huyết khí giai đọa, cô hảo ngoa). + Đến 70 tuổi thì tỳ khí hư, da khô (thất thập tuế, bi phu khô). + Đến 80 tuổi thì phế khí hư, lười vận động, thiếu phách lực, dễ nói nhíu {Thập bát tuế, phế khí hư, phách ly, cô ngôn thiện ngộ). + Đến 90 tuổi thì thận khí kiệt, kinh mạch của 4 tạng khác rỗng hư (Cu thập tuế, thận khí tiêu, tứ tạng kinh mạch không hư). + Đến 100 tuổi thì ngũ tạng đều hư, thần và khí đều đi hết, hoạt động của tạng phủ đều ngừng, chỉ còn hình hài mà thôi {Bách tuế, ngủ tạng giai hư, thần khí giai khứ, hình hài độc cư nhi chung hí). Quyết định bệnh tật và cái chết Có thể hiểu quyết định cái chết bao gồm cả việc sinh ra bệnh tật. - Kinh lạc là nơi dẫn truyền tà khí: Thiên mậu thích Tố Vấn viết: Tà khí vào người, đầu tiên tác động vào da lông, nếu lưu được ỏ da lông thì sẽ vào tôn lạc, nếu lưu được ở tôn lạc thì sẽ vào lạc mạch, nếu lưu được ở lạc mạch thì sẽ vào kinh mạch, theo nhánh kinh mạch vào ngũ tạng và tán ở trường vị (Tà chi khách vu hình dã, tất tiên xá vu bì mao, lưu nhi bất khứ, nhập xá vu tôn lạc, lưu nhi bất khứ, nhập xá vu lạc mạch, lưu nhi bất khứ, nhập xá vu kinh mạch, nội liên ngủ tạng, tán vu trường vị). Kinh toại là đường để ngũ tạng thông vói nhau, cũng là nơi huyết khí tuần hoàn, nếu huyết khí không điều hòa thì sẽ sinh 65 bệnh, vì vậy phải giữ cho kinh toại được thông suốt (Ngũ tạng chi đạo, giai xuất ưu kinh toại, dĩ hành huyết khí. Huyết khí bát hòa, bách bệnh nải biến hóa nhi sinh, thị cố thú kinh toại yên Ngọc bản Linh Khu, trang 411). Tại-sao kinh lạc lại bị bệnh? Thiên Điều kinh luận Tố Vấn viết: Vì 12 kinh mạch đểu có lạc thông với 365 tiết (huyệt) nên khi huyệt bị bệnh ắt ảnh hưởng đến kinh lạc, kinh lạc bị bệnh thì có hư có thực..., khi chữa bệnh thì phải căn cứ vào trạng thái hư thực nơi có bệnh đê chữa cho đúng (Thập nhị kinh mạch giả, giai lạc tam bách lục thập ngũ tiết, giai hữu bệnh tất bị kinh mạch, kinh mạch chi bệnh, giai hữu hư thực..., kỳ mạch bệnh sở cứ, tùy nhi vị chi trang 330). - Bệnh lý của 12 kinh mạch: Vì bệnh của kinh mạch có thể truyền vào tạng phủ, và bệnh của tạng phủ cũng có thể ra kinh mạch, cho nên bệnh lý kinh mạch bao giò cũng gồm 2 phần: một là Thị động bệnh (ngoại tà xâm nhập kinh lạc gây nên), hai là sỏ sinh bệnh (bệnh ở tạng của bản kinh gây nên). Thiên kinh mạch Linh Khu (trang 107-135) đã trình bầy về bệnh lý của 12 mạch n h ư sau: + Mạch Thủ Thái âm Phế: Thị động bệnh: Phế trướng mãn, ho suyễn, hố trên đòn đau, nếu ho suyễn nặng thì hai tay bắt chéo ôm lấy ngực, thị giác rối loạn, đó là chứng tý quyết (Phế trướng mãn, bành bành nhi suyễn khái, khuyết bồn trung thống, thậm tắc giao lưỡng thủ nhi mậu, th vi tý quyết). Sở sinh bệnh: Ho khạc, thượng khí, thở gấp tầm phiền loạn ngực đầy, phía trưốc mặt trong cánh tay đau, quyết lạnh hoặc lòng bàn tay nóng. Nếu khí thịnh hữu dư thì vai lưng đau nếu cảm phong hàn thì có thê có tự hãn của trúng phong do ngoại cảm, đái nhiêu lần hơn song lượng ít hờn. Nếu khí hư thì có vai lưng đau, sợ lạnh, thỏ gấp, đoản hơi, mầu nước tiểu thay đổi 66 (khái thượng khí suyễn khát phiền, tăm hung mãn, nao tý nội liêm thống quyết, chưởng trung nhiệt, khí thịnh hữu dư, tắc kiên bôi thống, phong hàn hãn xuất trúng phong, tiêu sác nhi khiếm, khí hư tắc kiên bôi thông, hàn, thiểu khí bất túc dĩ tức, niệu sắc biên). + Mạch Thủ Dương minh Đại trường: Thị động bệnh: Răng đau cổ sưng (Xỉ thông cảnh thống). Sở sinh bệnh: Mắt vàng, miệng khô, chảy máu cam, họng đau vai tay đau, ngón cái ngón trỏ đau, vận động không tốt. Nếu khí hữu dư, thì nơi mạch đi qua sẽ nóng sưng, nếu khí hư thì run cầm cập (Mục hoàng khấu can, cữu nục, hầu tí, kiên nao thống, đại chỉ thứ chỉ thống bất dụng. Khí hữu dư tắc đương mạch số quá giả, nhiệt thủng, hư tắc hàn lật bất phục). + Mạch Túc Dương minh Vị: Thị động bệnh: Người lạnh rét run, rên rỉ, ngáp luôn miệng, da vùng trán đen lạ i, khi phát bệnh thì sợ người sợ lửa sợ tiếng từ gỗ phát ra, tâm đập mạnh không yên, thích đóng cửa ở một mình. Khi bệnh nặng thì có thể trèo cao hò hát, bỏ hết quần áo và chạy rông ngoài đường, đồng thời có trướng bụng sôi bụng, gọi là chứng can quyết (Sái sái chấn hàn, hỉ thân, sô khiêm, nhan hắc, bệnh chí tắc ố nhân dữ hỏa, vần mộc thanh tắc dịch nhiên nhi kinh, tâm dục động, độc bế hộ, sái dã nhi x, thậm tắc dục thương cao nhi ca, khứ y nhi tẩu, bôn hường phúc trướng, thị vi can quyết). Sở sinh bệnh: sốt rét có rối loạn tâm thần, sốt cao nữa thành ôn bệnh, tự hãn chảy máu cam, mồm méo môi mọc mụn, cổ sưng họng đau, nước ứ ở bụng trên, đầu gối xương bánh chè đau sưng, các nơi khác như ngực, vú, bẹn, đùi, bắp chân, bò ngoài cẳng chân, mu bàn chân đều đau, ngón chân giữa không vân động được. Nếu khí thịnh thì mặt trước người nóng, vì vị nhiệt hữu dư nên ăn nhiều chóng đói, nưốc tiểu vàng. Nếu khí 67 bất túc thì mặt trước lạnh và rét run, vị có hàn nên đầy trướng {Cuồng ngược ôn dâm, hãn xuất, cừu nục, khâu oa thán chăn, cảnh thủng hầu tý, đại phúc thủy thũng, tất tân thủng thống, tuần ưng nhủ, khí xung, cổ, phục thố, cán ngoại liêm, túc phu thượng giai thống, trung chỉ bất dụng. Khí thịnh tắc thăn tiền giai nhiệt, kì hữu dư vu vị, tắc tiêu, hàn tắc trướng mãn). + Mạch Túc Thái âm Tì: Thị động bệnh: Cuống lưỡi cứng, ăn vào thì nôn ra, bụng trên thường đau, bụng trướng, hay ợ hơi, đạ i tiện trung tiện xong thì dễ chịu, tuy nhiên người và chân tay l ạ i cảm thấy nặng nề (Thiệt bản cường, thực tắc ẩu, vị quản thống phúc trướng, hỉ ý, đắc hậu dữ khí, tắc khoái nhiên như suy, thăn thể giai trọng). Sở sinh bệnh: Cuống lưỡi đau, thân thể không quay trở được, ăn không trôi, tâm phiền, vùng dưới tâm đau cấp, phân lỏng, nưốc ứ l ạ i ở trong người, da vàng, không nằm được, khi đứng thì mặt trong đùi gối nơi mạch đi qua sẽ nề lên và lạnh, ngón chân cái không cử động được (Thiệt bản thống, thể bất năng động giao, thực bất hạ, tâm phiền tâm hạ cấp thống, đường hà tiết, thủy bế, hoàng đản, bất năng ngoa, cường lập cổ tát nội thủng quyết, túc đại chỉ bất dụng). + Mạch Thủ Thiếu âm Tâm: Thị động bệnh: Họng khô tâm đau miệng khát muốn uống (đều do mạch khí ở cánh tay nghịch lên) được gọi là tí quyết (Ách can, tâm thống, khát nhi dục ẩm, thị vi quyết tý). Sở sinh bệnh: Mắ t vàng sườn đau, bò sau mặt trong cánh tay đau quyết lạnh, song lòng bàn tay lại nóng đau (mục hoàng hiêp thống, nao tí nội hậu liêm thông quyết, chưởng trung nhiệt thong). + Mạch Thủ Thái dương Tiểu trường: Thị động bệnh: Họng dâu, hàm sưng, cổ không quay để nhìn ra sau được, vai đau như bị co rút (Ách thống hàm thủng bất khả dĩ cố, kiên tự bạt). 68 Sở sinh bệnh: Tai ù điếc, mắt vàng, cố hàm vai cánh tay khuỷu tay bò sau mặt ngoài cẳng tay đau (Nhĩ lung mục hoàng, cảnh, hàm, kiên, nao, trừu, tí ngoại hậu liêm thống). + Mạch Túc Thái dương Bàng quang: Thị động bệnh: Khí thượng xung gây đầu đau mắt đau như lôi ra, gáy đau như bị co rút, cột sống đau thắt lưng đau như bị co rút, khớp háng không co duỗi được, khoèo chân như kết lạ i rất khó vận động, bắp chân đau như rách ra, gọi là bệnh khóa quyêt (Xung đầu mục như thoát, hạng như bặt, tích thống yêu tự bạt, bê bất khả dĩ khúc, quắc như kết, soài như liệt, thị vi khóa quyết). Sở sinh bệnh: Trĩ, sốt rét, cuồng điên, đỉnh đầu đau, mắt vàng, chảy nước mắt, chảy máu mũi, các vùng gáy, lưng, thắt lưng, xương cùng, khoèo chân, bắp chân, bàn chân đều đau, ngón út vận động khó khăn (Trĩ, ngược, cuồng điên tật, dầu tín đỉnh thống, mục hoàng, lệ xuất, cừu nục, hạng, bối, yêu cừu quắc, soài, cước giai thống, tiểu chỉ bất dụng). + Mạch Túc Thiếu âm Thận: Thị động bệnh: Không muốn ăn, mặt đen như sơn, ho khạc có máu, suyên thở khò khè, vừa ngồi đã muốn đứng lên, mắt nhìn không rõ, tim như bị treo lên bồng bềnh không yên, như có đói, khi khí không đủ thi hay lo sợ tim đập thình thịch như có đến bát mình, đó là bệnh cốt quyết (Bất dục thực, diện như tất sài, khái thoa tắc hữu huyết, hát hát nhi suyễn, mục hoang hoang như vô sở kiến, tâm như huyền, nhược cơ trạng, khí bất túc tác thiện khủng, tâm dịch dịch như tâm tương bộ chi, thị vi cốt quyết). Sở sinh bệnh: Miệng nóng, lười khô, họng sưng khô đau, khí thượng nghịch, tâm phiền, tâm đau, vàng da, hạ lị, phần đường đi của kinh ở cột sống mặt trong bò sau đùi đau, chân mềm nhẽo và lạnh, thích ngủ, lòng bàr. chân nóng và đau (Khẩu nhiệt 69 thiệt can, yết thủng ách can cập thống, thượng khí. phiên tám, tám thống, hoang đản, trường tịch, tích cổ nội liêm thõng, nuy quyết, thị ngoa, túc hạ nhiệt nhi thông). + Mạch Thủ Quyết âm Tâm bào: Thị động bệnh: Gan bàn tay nóng, khuy tay co rút, nách sưng, nếu nặng thì ngực sườn đầy tức, đánh trống ngực không yên, mặt đỏ mắt vàng, cười luôn miệng (Thủ tăm nhiệt, tí trừu luyến cấp, dịch thủng, thậm tắc hung hiếp chi mãn, tăm trung đạm đạm đại động, diện xích mục hoàng, hỉ tiếu bát hưu). Sở sinh bệnh: Tâm phiền, tâm đau, lòng bàn tay nóng (Phiền tăm, tâm thống, chưởng trung nhiệt). + Mạch Thủ Thiếu dương Tam tiêu: Thị động bệnh: Tai ù nghe không rõ các âm thanh, hầu họng sưng đau (Nhĩ lung, hồn hồn thuần thuần, ách thủng hầu tí). Sở sinh bệnh: Ra mồ hôi, mắt khóe mắt đều đau, má đau, các vùng sau tai, vai, cánh tay, khuỷu tay, bờ ngoài cẳng tay đều đau, ngón tay út và áp út vận động khó (Hãn xuất, mục nhuệ giai thống, giáp thống, nhĩ hậu, kiên, nao, trừu, tí ngoại giai thống, tiêu chỉ thứ chỉ bất dụng). + Mạch Túc Thiếu dương Đởm: Thị động bệnh: Miệng đắng, thích thở dài, tâm và sườn đau khó vặn người, nếu bệnh nặng thì mặt như có lớp bụi mỏng, người không còn mỡ màng, phía ngoài bàn chân l ại nóng, đó là dương quyết (Khẩu khổ, thiện thái tức, tâm hiếp thống, bất năng chuyên trác, thăm tắc diện vi hữu trần, thể vô cao trạch, túc ngoại phản nhiệt, thị ui dương quyết). Sở sinh bệnh: Đầu đau, hàm đau, khóe mắt đau, khuyết bồn đau, ỏ dưới nách sưng đau, có mã đao (hạch nách) ra mồ hôi rét run, sốt rét các vùng ngực sườn, mặt ngoài hông, đùi, cảng chân mát cá ngoài và các khớp đều đau, ngón chân út và áp út vận 70 động khó khăn {Mục nhuệ tí thống, đầu thống, ham thống, khuyết bồn trung thủng thong, dịch hạ thủng, mã đao hiệp anh, hãn xuất, chấn hàn, ngược, hung hiếp, bễ, tất ngoại chí hĩnh, tuyệt cốt, ngoại khóa tiền, cập chư Hét giai thống, tiêu chỉ thứ chỉ bất dụng). + Mạch Túc Quyết âm Can: Thị động bệnh: Thắt lưng đau, không cúi ngửa dược, nam có đồi sán, nữ có bụng dưới căng nề, nếu nặng thì họng khô, mặt như có lớp bụi mỏng, thất sắc (Yêu thống bất khả dĩ phủ ngưỡng, trượng phu đồi sán, phụ nhân thiếu phúc thũng, thậm tác ách can, diện trần, thoát sắc). Sở sinh bệnh: Ngực đầy, nôn, ỉa chảy thức ăn không tiêu, sa ruột đái dầm, bí đái, đái khó (Hung mãn, ẩu nghịch, tôn tiết, hồ sán, di niệu, bếlong). - Biểu hiện mạch khí cùa 12 mạch tuyệt: Thiên Kinh mạch Linh Khu (trang 137-139) viết n h ư sau: + Mạch khí của Thủ Thái âm tuyệt thì da lông khô gẫy {Thủ Thái âm khí tuyệt tắc bi mao tiêu). + Mạch khí của Thủ Thiếu âm tuyệt thì huyết khí không lưu thông được {Thủ Thiếu âm khí tuyêt tắc mạch bất thông). + Mạch khí của Túc Thái âm tuyệt thì mạch không nuôi được cơ nhục (Túc Thái âm khí tuyệt tắc mạch bất dinh cơ nhục). + Mạch khí của Túc Thiếu âm tuyệt thì xương khô (Túc Thiếu âm khí tuyệt tắc cốt khô). + Mạch khí của Túc Quyết âm tuyệt thì gân xương không co duỗi được (Túc Quyết ăm khí tuyệt tắc cân tuyệt). + Khí của 5 mạch âm đều tuyệt thì mục hệ chuyển, mục hệ chuyển thì huyễn vựng, huyễn vựng thì irưốc hết mất ý thức, mót ngày rưỡi sau thì chết (Ngũ âm khí cụ tuyệt tắc mục hệ 71 chuyến, chuyến tắc mục vận, mục vận giả, vi chí tiên t, chi tiên t tắc viễn nhất nhật bán t hỉ). + Khí của 6 mạch dương tuyệt thì âm dương sẽ phản li, âm dương phân li thì tấu lí sẽ không kín tinh khí phát tiết ra ngoài, hình thành tuyệt hãn (mồ hôi đọng lại không chảy), đó là chứng nguy kịch. Nếu thấy chứng này vào buổi sáng thì chiều chét, nếu thấy vào buổi chiều thì sáng hôm sau sẽ chét (Lục dương khí tuyệt, tắc âm dữ dương phân li, li tắc tấu lí phát tiết, tuyệt hãn nải xuất, cố đán chiếm tịch t, tịch chiếm đán t). - Bệnh lí của kì kinh bát mạch: + Nếu Âm Dương duy không giữ được mối liên hệ vói nhau, thì trong người buồn bực như mất cái gì, người rã rời không tự chủ được động tác của mình (Âm Dương bất năng tự tương duy, tắc trướng nhiên thất chí, dung dung bất năng tự thu trì). Nêu chỉ Dương duy có bệnh thì thấy nóng lạnh (Dương duy vi bệnh, khổ hàn nhiệt). Nếu chỉ Âm duy có bệnh thì có đau vùng tâm (Ấm duy ui bệnh khô tâm thống). + Mạch Âm kiểu có bệnh thì mặt dương trì hoãn (mềm nhẽo), mạch âm cấp (co cứng) (Âm kiểu vi bệnh, dương hoãn nhi âm cấp). Mạch Dương kiểu có bệnh thì mặt âm hoãn, mặt dương cấp (Dương kiểu vi bệnh, âm hoãn nhi dương cấp). + Mạch Xung có bệnh thì khí thượng xung, đồng thòi trong bụng co rút ỢCung chi vi bệnh, nghịch khí nhi lí cấp). + Mạch Đốc có bệnh thì cột sống cứng, nếu nặng thì có thể mê, ngưòi lạnh (Đốc chi ui bệnh, tích cường nhi quyết). + Mạch Nhâm có bệnh thì có kết ở trong bụng, ở nam là 7 loại sán khí, ở nữ là tích tụ ở bụng dưới (Nhâm chi vi bệnh, ki nội nhược kết, nam t ui thất sán, nữ t vi hà tụ). + Mạch Đới có bệnh thì bụng đầy, thắt lưng mềm yếu và thấy lạnh như ngồi ở trong chậu nưốc lạnh (Đới chỉ vi bệnh, phúc mãn, yêu dung dung nhược tọa thủy trung). 72 - Bệnh lí của lạc mạch: Biểu hiện bệnh lí của lạc mạch đều có thực và hư. Thiên kinh mạch Linh khu (trang 143-148) đã viết như sau: + Lạc của Thủ Thái âm, bệnh thực thì nóng ở cổ gan tay, hư thì hay ngáp, tiểu tiện nhiều lần (Kì bệnh thực tác thú uyên chưởng nhiệt, hư tắc khiếm khứ, tiểu tiện dị sổ). + Lạc của Thủ Thiếu âm, bệnh thực thì cơ hoành như bị đẩy lên rất khó chịu, hư thì không nói được vì không thông được với cuống lưỡi (Kì thực tắc chi cách, hưu tắc bất năng ngôn). + Lạc của Thủ Tâm chủ, bệnh thực thì tâm thống, hư thì đầu cường khó chịu (Tâm hệ thực tắc tâm thống, hư tắc đầu cường). + Lạc của Thủ Thái dương, bệnh thực thì khớp lỏng lẻo, cùi chỏ không làm việc được, hư thì da nổi mụn cóc nhỏ ỏ các kẽ ngón tay (Thực tắc tiết thỉ trừu phế, hư tắc sinh Vưu tiểu giả như chỉ già giới). + Lạc của Thủ Dương minh, bệnh thực thì răng sâu, tai điếc hư thì răng lạnh, cơ hoành tắc trỏ (Thực tắc khù lung, hư tắc xỉ hàn, tí cách). + Lạc của Thủ Thiếu dương, bệnh thực thì khuỷu tay co, hư thì không co l ạ i được (Thực tắc trừu luyến, hư tắc bất thu). + Lạc của Túc Thái dường, bệnh thực thì ngạt mũi chảy mũi, đau đầu, đau lưng, hư thì chảy máu cam (Thực tác cừu trát, đầu bối thống, hư tắc cừu nục). + Lạc của Túc Thiếu dương, bệnh thực thì chân quyết lạnh, hư thì chi dưới mềm yếu vô lực, đi l ại khó khăn, đang ngồi không đứng lên được (Thực tắc quyết, hư tắc nuy quyết, tọa bát năng khởi). + Lạc của Túc Dương minh, khi có bệnh thì khí của nó nghịch lên, có thể gây hầu sưng tắc đột ngột mất tiếng, thực thì 73 phát cuồng phát điên, hư thì chân không co lại được. cơ ó căng chân khô teo (Kì bệnh khí nghịch tắc hầu tí thốt ám. thực tác cuồng điên, hư tắc bát thu hĩnh khô). + Lạc của Túc Thái âm, khi có bệnh thì khí của nó nghịch lên trường vị gây thổ tả, thực thì ruột đau như cát (do mạch khí trệ), hư thì bụng căng như trống (do mạch khí bất túc) (Quyết khi thượng nghịch tắc hoắc loạn, thực tắc trường trung thiết thống, hư tắc cô trướng). + Lạc của Túc Thiếu âm, khi có bệnh thì khí của nó nghịch lên gây tâm phiền buồn bực, thực thì đái khó đái bí, hư thì thật lưng đau (do mạch khí bất túc) (Bệnh khí nghịch tắc phiền muộn, thực tắc bế long, hư tắc yêu thống). + Lạc của Túc Quyết âm, khi có bệnh thì khí của nó nghịch lên gây tinh hoàn sưng và đột nhiên đau do sán khí, thực thì dương vật cương cứng, hư thì âm bộ ngứa ngáy nhiều (do chính khí hư) (Bệnh khí nghịch tắc cao thủng thất sán, thực tắc đinh trường, hư tắc bạo dưỡng). + Lạc của mạch Nhâm, thực thì da bụng đau, hư thì da bụng ngứa phải gãi (Thực tắc phúc bì thống, hư tắc dưỡng tao). + Lạc của mạch Đốc, thực thì cột sống lưng cứng, hư thì đầu nặng nê, chao đảo không yên, đó là do mạch ở giáp tích phát bệnh gây nên (Thực tắc tích cường, hư tắc đầu trọng cao dao chi, hiệp tích chi hữu quá giả). + Đại lạc của Tì, thực thì khắp người đau, hư thì khốp toàn thân lỏng yêu (Thực tắc thân tận thống, hư tắc bách tiết tận giai túng). Tất cả 15 lạc mạch trên khi có bệnh thực thì nhìn thấy rõ biểu hiện bất thường, hư thì thấy có hiện tượng xẹp xuồng. Nếu không thấy có bệnh lí, thì tìm ở phía trên hoặc phía dưới vị trí của lạc mạch (Phàm th thập ngủ lạc giả, thực tắc tát kiến ư tác tát hạ. Thị chi bát kiến, cầu chi thượng hạ). 74 Vai trò xử bách bệnh Có thế hiểu đó là vai trò trong chẩn đoán của kinh lạc. Linh Khu viết như sau: Nếu phân biệt được tác dụng sinh lí bệnh lí của kinh lạc thì có thể biết được nguyên nhân bệnh, suy ra được trạng thái thực hư của kinh mạch, xác định được nơi có bệnh ở cao hay thấp (Năng biệt âm dương thập nhị kinh giả, chi bệnh chi sở sinh, hậu hư thực chi sở tại giả, năng đắc bệnh chi cao hạ - Vệ khí, trang 375). Đe nói rõ thêm Nạn Kinh viết: Mười hai kinh mạch đều có mạch đập, có phương pháp chỉ bắt mạch thốn khẩu để xác định sự sống chết, sự xấu tốt của ngũ tạng lục phủ (Thập nhị kinh mạch giai hữu động mạch, độc thủ thốn khẩu dĩ quyết ngủ tạng lục phủ t sinh cát hung chi pháp Điều khó t h ứ 1). Mạch bình thường Kì Bá viết: Thời gian hít vào có 2 đập, thời gian thở ra có 2 đập giữa hai thì có Ì đập, như vậy một hơi thở mạch có 5 đập là mạch của người bình thường. Người bình thường thì không có bệnh.... Khí của người bình thường bẩm thụ ở vị, vị là nơi sinh ra khí bình thường của người bình thường vậy (Nhân nhất hô mạch tái động, nhất hấp mạch tái động, hô hấp định tức mạch ngũ động, nhuận dĩ thái tức, mệnh viết bình nhân, bình nhân giả vô bệnh dã... Bình nhân chi thường khí bẩm vu vị, bình nhân chi thường khí dã Bình nhân khí tượng luận Tố vấn, trang 100). Mạch bình thường là mạch có vị khí với biểu hiện như sau: Vị khí đến thì mạch đập ung dung hòa hoãn (Cốc khí lai dã, từ nhi hòa Chung thủy Linh Khu, trang 96). + Mạch bình thường thay đổi theo mùa: Ngọc cơ chân tạng luận Tố Vấn viết (trang 108-110): Mùa xuân mạch huyền, vì mạch mùa xuân là mạch của can, thuộc mộc là phương đông, nơi vạn vật sinh sôi. Khi khí đến 75 mạch nhuyễn nhược hơi hư mà hoạt, thẳng và dài. đó là mạch huyền, trái lại là mạch bệnh (Xuân mạch như huyền, xuân mạch giả can dã, đông phương mộc dã, vạn vật chi sở dĩ thủy sinh dã, cố kì khí lai, nhuyễn nhược khinh hư nhi hoạt, đoan trực dĩ trường, cố viết huyên, phản th giả bệnh). Mùa hạ mạch câu, vì mạch mùa hạ là mạch của tâm, thuộc hỏa là phương nam, nơi vạn vật xum xuê. Khi khí đến mạch thịnh, khi khí đi mạch suy, đó là mạch câu, trái l ạ i là mạch bệnh (Hạ mạch như câu, hạ mạch giả tăm dã, nam phương hỏa dã, vạn uột chi sở dĩ thịnh trường dã. cố kì khí lai thịnh khứ suy, cô viết câu, phản th giả bệnh). Mùa thu mạch phù, vì mạch mùa thu là mạch của phế, thuộc kim là phương tây, nơi vạn vật thu hoạch. Khi khí đến mạch hơi hư và phù, đến gấp đi tán, đó là mạch phù, trái lại là mạch bệnh (Thu mạch như phù, thu mạch giả phế dã, tây phương kim dã, vạn vật chi sở thu thành dã, cố kì khí lai khinh hư dĩ phù, lai cấp khứ tán, cố viết phù, phản th giả bệnh). Mùa đông mạch doanh, vì mạch mùa đông là mạch của thận, thuộc thủy là phương bắc, nơi vạn vật hội tàng. Khi khí đến mạch trầm hơi mạnh, đó là mạch doanh, trái lạ i là mạch bệnh (Đông mạch như doanh, đông mạch giả thận dã, bắc phương thủy dã, vạn vật chi sơ dĩ hàm tàng dã, kì khí lai trầm nhi bác, cố viết doanh, phản th giả bệnh). Như vậy mạch bình thường ở mùa xuân của can là huyền, mùa hạ của tâm là câu (hồng), mùa thu của phế là phù (mao), mùa đông của thận là doanh (thạch). Còn tì thuộc thổ ở trung châu, nuôi dưỡng 4 phương, nên mạch phải nhu hòa, không thái quá, không bất cập. Khi bắt mạch thốn khẩu Vương Thúc Hòa nêu rõ: ở tay trái mạch tâm ở bộ thốn, mạch can ở bộ quan, mạch thận ỏ bộ xích... ở tay phải, mạch phế ở bộ thốn, mạch tì ở bộ quan, mạch thận ở bộ xích (Mạch học - lưỡng mạch lục mạch sở chủ, đệ thất). 76 + Mạch bình thường của nữ mang thai: Thiên âm dương biệt luận Tố Vấn viết: Mạch xích đập không giống như mạch thốn là có thai (Âm bác dương biệt, vị chi hữu t - trang 50). Còn Thiên bình mạch khí tượng viết: Nữ có mạch Thiếu âm đập rất mạnh là có thai (Phụ nhân thiếu âm mạch động thậm giả, hữu t - trang 105). + Mạch nam và mạch nữ khác nhau ở chỗ nào? Điều khó 19 Nạn Kinh viết như sau: Nam sinh ở giờ dần là mộc thuộc dương, nữ sinh ở giờ thân thuộc âm, cho nên mạch của nam thịnh ở bộ thốn, mạch của nữ thịnh ở bộ xích, vì vậy lúc thường mạch nam yếu ở bộ xích, mạch nữ thịnh ở bộ xích. Khi xem mạch thấy nam có mạch nữ (thịnh ở xích) thì đó là do dương bất túc, bệnh ở lí nên xuất hiện mạch nữ, xuất hiện ở bên trái thì bệnh ở bên trái, xuất hiện ở bên phải thì bệnh ở bên phải. Do nữ có âm bất túc, dương thái quá nên xuất hiện mạch nam, bệnh nằm ở tứ chi ỏ biểu, xuất hiện ở bên trái thì bệnh ở bên trái, xuất hiện ở bên phải thì bệnh ở bên phải (Nam t sinh vu dần, dần vi mộc dương dã, nữ t sinh vu thân, thân vi kim âm dã, cố nam mạch tại quan thượng, nữ mạch tại quan hạ. Thị dĩ nam t xích mạch hằng nhược, nữ t xích mạch hằng thịnh, thị kì thường dã. Phản giả, nam đắc nữ mạch, nữ đắc nam mạch dã. Nam đắc nữ mạch vi bất túc, bệnh tại nội, tả đắc chi, bệnh tại tả, hữu đắc chi, bệnh tại hữu. Nữ đắc nam mạch ui thái quá, bệnh tại tứ chi, tả đắc chi, bệnh tại tả, hữu đắc chi, bệnh tại hữu). Mạch bệnh biểu hiện như thế nào? Có thể thông qua thiết mạch và vọng mạch để xác định mạch bệnh. + Thiết mạch: Hoàng Đế hỏi: Bệnh của tạng phủ biểu hiện ra ngoài như t h ế nào? Kì Bá trả lời: Chỉ cần xác định trạng thái hoãn cấp, 77 tiểu đại, hoạt sáp của mạch tượng là có thể chẩn là bệnh gì. Lại viết: mạch cấp đa phần là hàn, mạch hoãn đa phần là nhiệt, mạch đại đa khí (dương thịnh) thiểu huyết (âm hư), mạch tiểu khí huyết đều ít (dương âm đều hư), mạch hoạt dương khí thịnh là chứng có nhiệt, mạch sáp (do khí trệ nên) huyết nhiều (do huyết ứ lại) thiểu khí là chứng có hàn (do dương khí không đủ) (Ngủ tạng chi sở sinh, biến hóa chi bệnh hỉnh hà như? Kì Bá viết: điều kì mạch chi hoãn cấp, đại tiểu, hoạt sáp nhi bệnh biến định ai - trang 41; Chư cấp giả đa hàn, hoãn giả đa nhiệt, đại giả đa khí thiểu huyết, tiểu giả khí huyết giai thiêu, hoạt giả dương khí thịnh vi hữu nhiệt, sắc giả đa huyết thiêu khí vi hữu hàn Tà khí tạng phủ bệnh hình - Linh Khu trang 47). (Trương Cảnh Nhạc cho rằng: mạch sắc là khí trệ, là huyết thiểu, là khí huyết đều hư, dương khí bất túc, nên là chứng hàn). Bàn về mạch nhanh chậm, Điều khó thứ 14 Nạn Kinh viết như sau: mạch đập 2 lần khi thở ra là bình thường. Mạch nhanh có: mạch đập 3 lần là li kinh (khác nhịp bình thường), đập 4 lần là đoạt tinh (tinh khí bị tiết ra ngoài), đập 5 lần là chết (tiên lượng xấu), đập 6 lần là tuyệt (chết). Mạch chậm có: Khi thở ra mạch đập Ì l ần là li kinh, hai lần thở ra đập Ì lần là đoạt tinh, ba lần thơ ra đập Ì lần là tiên lượng xấu (tử), bốn lần thở ra đập Ì lần là chết (tuyệt) (Chí chi mạch, nhất hô tái chí viết bình, tam chí viết li kinh, tứ chí viết đoạt tinh, ngủ chí viết t, lục chí viết tuyệt. Tổn chi mạch, nhất hô nhất chi viết li kinh, tái hô nhất chí viết đoạt kinh, tam hô nhất chí viết t, tứ hô nhát chí viết mệnh tuyệt). + Mạch chân tạng: Ở trạng thái bệnh lí nặng nguy kịch, có thể xuất hiện mạch không có vị khí, còn gọi là mạch chân tạng, tử mạch (mạch chết). Thiên Ngọc cơ chân tàng luận Tố Vấn viết về mạch chân tạng như sau (trang 117): Mạch chân tạng của can, khinh án trọng án đều cấp như sò vào lưỡi dao, hoặc ấn vào dây đàn, sắc mặt xanh bệch lông gẫy 78