🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Cánh Cửa Thứ 4 - Paul Halter Ebooks Nhóm Zalo Xin gửi lòng biết ơn chân thành tới Roland Lacourbe, tác giả cuốn sách tuyệt vời Houdini et sa légende. Tôi đã sử dụng rất nhiều thông tin trong này cho những chương liên quan đến cuộc đời của Houdini. Một thanh tra cảnh sát chưa từng thất bại trước bất kỳ vụ án nào. Thế nhưng lần này, không những không tìm ra thủ phạm, ông còn tự tay tạo nên một kẻ sát nhân... Phần Một ❛ 1 ❜ Ánh sáng Trong đêm Đ êm ấy tôi về phòng sớm, dự định tận hưởng buổi tối dễ chịu cùng một cuốn sách. Nhưng chưa kịp ấm chỗ thì nghe cửa phòng vang lên ba tiếng gõ dè dặt. Người chọn đúng thời điểm này để tìm đến, không ai khác hơn là Elizabeth em gái tôi. Ở tuổi mười tám, em đã trở thành một thiếu nữ đẹp mê hồn, song đôi lúc tôi tự hỏi liệu em có nhận ra điều đó hay không. Em thay đổi rất nhiều chỉ trong mấy tháng qua, sắc đẹp của em khiến John Darnley không thể làm ngơ, để rồi theo đuổi với một quyết tâm thầm lặng. Trong khi hãnh diện rõ rệt vì sự chú ý của cậu ta, em lại để mắt tới Henry White nhà hàng xóm đồng thời cũng là người bạn thân nhất của tôi. Còn Henry, dù có phong thái tự tin đầy học thức, nhưng lại nhút nhát không ngờ trước con gái, đặc biệt là trước Elizabeth, người mà cậu cũng rất si mê. “Em có làm phiền anh không, James?” em hỏi, tay do dự đặt nơi nắm cửa. “Đương nhiên là không rồi,” tôi nói với một tiếng thở dài và hi vọng là đầy ý tứ, mũi vẫn chúi vào cuốn sách. Elizabeth ngồi xuống giường, cạnh tôi, đầu cúi gầm, hai bàn tay bồn chồn vặn vẹo. Cuối cùng nghiêm trang ngước cặp mắt to màu nâu nhìn tôi. “James, em phải nói chuyện với anh.” “Gì thế?” “Đó là về Henry.” Tôi biết tiếp theo là gì rồi. Tôi sẽ phải làm ông tơ cho hai người: một quá kiêu hãnh, còn một quá nhút nhát không dám thể hiện cảm xúc của mình. Elizabeth giật lấy quyển sách từ tay tôi và gay gắt hỏi, “Anh có định nghe em nói không, James?” Bất ngờ khi thấy em cao giọng, tôi bèn hạ cố nhìn em, châm một điếu thuốc và tập trung nhả vài vòng khói tròn hoàn hảo. Hồi nhỏ, tôi không thích gì hơn là chọc tức em bằng cách giữ thái độ lạnh lùng bình thản mỗi khi em khó chịu. Tôi luôn tính toán làm sao để đẩy em vào cơn giận cực độ, và phải xấu hổ thừa nhận rằng tôi đã duy trì rất tốt sở trường đó. Mặc dù vậy, không muốn đi quá giới hạn chịu đựng của em, tôi lại mềm lòng. “Anh nghe đây.” “Đó là về Henry, anh ấy…” “Về Henry,” tôi nhắc lại, ra chiều quan tâm (nét ngạc nhiên thoáng qua mặt em). “Đợi một chút.” Tôi đứng dậy, sải bước đến tủ sách, rút xuống tập đầu tiên trong bộ bách khoa toàn thư, đặt ngay ngắn trên đầu gối và nói bằng giọng chế giễu. “Vì em đưa ra chủ đề này quá thường xuyên, và vì nó được quan tâm nhiều như vậy, nên anh đã viết một chuyên khảo khiêm tốn dài tám trăm trang về đề tài này, nhưng đây mới chỉ là tập đầu tiên…” Tôi nghĩ rằng em sắp nghẹt thở vì tức giận. Em chạy về phía cửa, nhưng tôi đã ngăn lại được. Tôi phải mất ít nhất năm phút để làm em bình tĩnh lại. “Nào tiếp tục đi, anh nghe đây. Em có thể trông cậy vào người anh lớn này nếu cần một giải pháp cho vấn đề của mình.” (Tôi lớn hơn em đúng một tuổi.) Em buông một tiếng thở dài, “Em yêu Henry.” “Ừ, anh biết chuyện đó. Sao nữa?” “Henry yêu em.” “Chuyện đó anh cũng biết.” “Nhưng anh ấy không dám nói ra vì quá nhút nhát.” “Hãy cho cậu ấy thời gian. Em sẽ thấy…” “Em không nên là người chủ động trước. Dù sao cũng không phải phong cách của em. Trông em có giống kiểu người như vậy không? Rất có thể anh ấy nghĩ em là kiểu con gái… Không, chắc chắn là không thể nào!” Sau một khoảng lặng, em dụi mắt dữ dội rồi tiếp tục. “Ba hôm trước, em nghĩ, cuối cùng anh ấy đã đủ can đảm hôn em. g g y Bấy giờ hai đứa đang đi dạo dọc con đường dẫn vào rừng, trời nhập nhoạng tối, em bảo anh ấy là em bắt đầu thấy lạnh. Henry choàng tay qua vai em, cả hai lại cùng bước đi trong im lặng, rồi anh ấy bất ngờ quay sang… Thề với anh, James, Henry đã định hôn em - em có thể thấy điều đó trong mắt anh ấy nhưng thay vào đó anh ấy lại cúi xuống, nhặt một sợi dây cũ trên mặt đất và nói, ‘Nhìn này, Elizabeth, xem anh làm được gì này.’ Và thắt luôn một tá nút trên sợi dây.” “Sau đó thì sao?” “Sau đó,” em tiếp tục, cố cầm nước mắt. “Sau đó anh ấy cởi giày ra và…” “Và…?” “Cởi cả tất.” “Elizabeth, em không cần phải nói nữa, để anh đoán. Cậu ta đã dùng ngón chân để tháo mấy cái nút thắt!” “Đúng thế,” Elizabeth rên rỉ. “Anh ấy chưa từng nghĩ đến việc hôn em.” Tôi không thế nhịn được cười. “Henry của em là thế đấy!” “Em thấy chẳng có gì buồn cười cả.” “Thôi nào, em gái, em không hiểu sao? Henry chỉ đang cố gắng gây cười cho em, làm em vui, thậm chí… anh dám nói, là quyến rũ em. Đấy chỉ là cách cậu ấy…” “Thà anh ấy cứ thế mà hôn em còn hơn,” Elizabeth nhăn nhó nói. Một anh chàng lạ lùng, Henry của chúng ta. Cậu đã tỏ ra khác biệt so với tất cả chúng tôi ngay từ giây phút chào đời, khi không may bị sinh non, nhưng điều thiệt thòi đó không kéo dài lâu nhờ có sự yêu thương chăm sóc và quan tâm tận tụy của người mẹ. Không lâu sau, cậu đã trở thành một đứa bé khỏe mạnh với năng lượng tràn đầy và lan tỏa. Cậu say mê rạp xiếc và những trò nhào lộn ở đó - niềm đam mê mà người cha, một tiểu thuyết gia có tiếng, không hề đánh giá cao. Bất chấp sự cấm đoán của cha, cậu vẫn đều đặn trốn nhà để tham gia một đoàn xiếc và tỏ ra xuất sắc ở mọi mặt: tung hứng, nhào lộn, uốn dẻo và ảo thuật. Mấy năm sau, biết rằng không thể ngăn cấm được, cha cậu đã chịu nhượng bộ và kể từ đó, cứ vào mỗi kì nghỉ dài, Henry lại biến mất vài tuần để tham gia chuyến lưu diễn của đoàn xiếc. Cậu viện lí do kiếm tiền tiêu vặt mặc dù vẫn được cha trợ cấp một khoản hào phóng. Sự thật là người bạn của tôi luôn bị ợ p ộ p g ự ậ g ạ ị chi phối bởi một khát vọng, gần như một nhu cầu bệnh lí, là phải làm xuất sắc mọi thứ. Việc tháo nút thắt bằng chân trần chính là hành động mang đậm chất Henry. Cố hết sức giấu sự vui thích của mình, tôi an ủi Elizabeth, “Hãy đợi đến lần sau. Cậu ta chỉ đang cố gắng che giấu sự nhút nhát bằng cách làm em choáng ngợp với kĩ năng của mình thôi.” “Em tin anh, nhưng em vẫn hơi phật ý. Nghe này James, anh phải nói chuyện với Henry, đương nhiên là kín đáo thôi, nhưng anh ấy cần phải hiểu. Không thì…” Tôi nhướng một bên lông mày. “Em sẽ phải xem xét lời đề nghị của John,” em tiếp tục, với thái độ hơi vô cảm. “Phải công nhận rằng tương lai của John không mấy xán lạn, dù sao cũng chỉ là một thợ cơ khí, nhưng vẫn có sức hấp dẫn nhất định và…” “Sao anh phải quan tâm nhỉ? Anh không phải… mẹ Betty của em!” Tôi bỗng quát lên. “Em làm gì cũng được, nhưng đừng làm thế! Henry ghen như cọp ấy. Cậu ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho anh. Cậu ấy là bạn thân nhất của anh và anh không muốn mất cậu ấy!” “Ghen! Hay đấy!” Elizabeth thốt lên, “Henry hầu như chẳng có vẻ gì là quan tâm tới em cả. Ghen ư? Em thật lòng muốn biết tại sao! Dù sao thì từ nay em sẽ…” Em bật khóc còn tôi vẫn duy trì một sự im lặng khôn khéo. “Em yêu anh ấy, James, nhưng em không thể chịu đựng việc cứ đợi chờ mãi thế này. Anh phải giúp em. Cha mẹ Henry đã đi Luân Đôn và anh ấy đang ở nhà một mình. Anh có thể trò chuyện, giải thích với anh ấy…” “Thôi được rồi,” tôi uể oải nói. “Anh sẽ đi và xem mình có thể làm được gì, nhưng anh không hứa gì đâu đấy. Để xem nào,” tôi xem đồng hồ đeo tay, “chưa đến 9 giờ, chắc Henry vẫn chưa đi ngủ.” Elizabeth đi tới cửa sổ và và kéo tấm rèm. “Em không thấy đèn sáng, nhưng… Ồ! James! JAMES!” Elizabeth la thất thanh. Tôi lao đến chỗ em chỉ bằng hai bước chân. “Em thấy một tia sáng!” em rên lên, run rẩy. “Đâu? Ngoài đèn trụ ra, thì làm gì có…” Ngón tay em chỉ về phía nhà Darnley. “Em chắc chắn đã nhìn thấy, chỉ trong chớp mắt. Có một tia sáng trên đó, trong căn phòng y g p ộ g g p g mà bà Darnley…” Từ cửa số phòng mình, tôi cẩn thận quan sát khung cảnh quen thuộc. Chúng tôi sống ở rìa một làng nhỏ gần Oxford, cuối một đường cái quan chạy từ phía bên trái lại. Đối diện nhà là một con đường đất dẫn vào rừng, với hai tư gia nằm hai bên. Bên phải là nhà White, còn bên trái, ở góc giao của đường cái và đường mòn là cấm địa u ám của gia đình Darnley. Lối vào tòa nhà mái dốc cao lớn xây bằng gạch đỏ này khuất sau một hàng rào sừng sững, trong khi những bức tường bị bao phủ bởi một lớp áo choàng xám xịt đan từ dây thường xuân. Điểm sáng duy nhất là một cây liễu đang rủ mình diễm lệ, lẽ ra đã làm dịu bớt không khí ảm đạm nếu đằng sau nhà không có hàng cây thủy tùng và thông cứ rít lên hoặc rền rĩ sầu thảm mỗi lần gió thổi. Nơi này toát ra một vẻ quái gở ngột ngạt, và em gái tôi, với trí tưởng tượng không phải quá phong phú, đã đặt tên ngôi nhà là Đồi Gió Hú. Hơn thế nữa, ngôi nhà đã mang tiếng xấu kể từ một ngày khó quên khoảng một hay hai năm trước Thế chiến thứ hai, khi John mới khoảng mười hai tuổi. Victor Darnley cha cậu ta là một nhà tư bản công nghiệp và gặp được đủ mọi điều tốt đẹp: công việc làm ăn phát đạt và cuộc sống gia đình viên mãn. Ông rất tự hào về con trai của mình, và vợ ông, một phụ nữ dễ chịu khiêm nhường, cũng được mọi người trong làng kính trọng. Một buổi tối tháng Mười, đi Luân Đôn về, ông Darnley thấy nhà mình im ắng lạ thường. Sự vắng mặt của John không khiến ông quá ngạc nhiên, chắc hẳn cậu bé đang đến chơi nhà bạn, nhưng vợ ông thì luôn có nhà vào giờ này. Ông hỏi mọi người xung quanh nhưng không ai thấy bà Darnley, khi ông tìm được con mình và trở về nhà thì đã rất muộn. Sau đó tìm kiếm kĩ lưỡng toàn bộ ngôi nhà, đến một phòng áp mái đã được cải tạo trên tầng thượng, ông thấy một cánh cửa bị khóa trái. Quá hoảng sợ, ông phá cửa và kinh hoàng bắt gặp một cảnh tượng sẽ ám ảnh ông đến cuối cuộc đời. Bà Darnley đang nằm trên sàn nhà, toàn thân đầy máu, những ngón tay phải cầm một con dao làm bếp, hai cổ tay bị rạch nát và khắp cơ thể đầy những vết dao. Vì chốt cửa bị phá và cửa sổ được khóa từ bên trong, nên lời giải thích duy nhất là tự sát (theo ý kiến của bên điều tra). Nhưng đây quả thật là một vụ tự sát kinh hoàng! Bà Darnley hẳn đã bị chấn động tinh thần đột ngột và dữ dội lắm mới kết thúc cuộc đời mình như vậy. Không ai, ngay cả chồng và con bà, nghĩ ra được bất kì lời giải thích hợp lí nào cho quyết định ấy. Và thật đáng buồn, kể từ ngày hôm đó trở đi, Victor Darnley chìm đắm trong cơn muộn phiền sâu sắc. Với bản chất ít nói, ông trở thành một người ẩn dật chẳng làm gì nhiều hơn là săn sóc khu vườn và chăm nom ngôi nhà của mình. Việc kinh doanh nhanh chóng sa sút, không còn cách nào khác ông phải cho thuê một phần ngôi nhà. Hai cha con ở tầng trệt, hai tầng trên để cho thuê. Hai người thuê nhà đầu tiên rời đi sau sáu tháng mà không một lời báo trước hay giải thích. Sau đó chiến tranh nổ ra, quân đội trưng dụng ngôi nhà, có nghĩa là, hiển nhiên luôn có người chuyển đến và chuyển đi. Cuối cùng khi hòa bình lập lại, Victor cho thuê hai tầng trên một lần nữa, lần này là một cặp tình nhân trẻ tuổi vui mừng với mộng ước xây dựng tổ ấm hạnh phúc ở đây. Nhưng việc đó không kéo dài bởi chẳng bao lâu sau người vợ đã phải nhập viện vì suy nhược thần kinh và từ chối trở lại căn hộ. Nhiều cặp vợ chồng khác dọn đến nhưng không một ai ở lại. Lí do rời đi của họ luôn giống nhau: bầu không khi lạ thường, cảm giác căng thẳng tích tụ và đặc biệt là những tiếng động kì quái phát ra từ căn áp mái. Cho tới giờ, ngôi nhà mang tiếng bị ma ám và Victor gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm người thuê mới. Hai tầng cho thuê đã bỏ không bốn tháng nay, nhưng hình như vợ chồng Latimer nào đó sắp chuyển đến và tin này đã trở thành chủ đề bàn tán chính của dân làng. “Nó tắt rồi, nhưng chắc chắn em đã thấy ánh sáng phát ra từ cửa số thứ tư nơi bà ấy tự tử. James! Này! Tỉnh lại! Anh đang nghĩ gì thể?” “Hẳn là em tưởng tượng ra thôi. Em thừa biết không có ai bước chân vào căn phòng đó từ hồi…” Em tôi đột ngột cắt ngang. “Nhắc mới nhớ, James, anh có biết cặp vợ chồng sắp chuyển đến không?” “Vợ chồng Latimer, anh chỉ nghe được ngần ấy. Chẳng ai biết gì về họ cả. Chứ nếu có thì mẹ đã tường tận từ lâu rồi, với tốc độ lan truyền tin đồn ở cái làng này…” Elizabeth rùng mình tránh xa khỏi cửa sổ. “Cái nhà khiến em gai cả người, đừng bao giờ bắt em phải sống ở đấy. Tội nghiệp John! Anh ấy đúng là không may, anh nhỉ? Mẹ thì mất trí và tự tử, giờ đến cha cũng không còn minh mẫn nữa. Em không hiểu làm thế nào mà John giữ được lý trí trong ngôi nhà đáng sợ kia.” “Em nói đúng, John quả có thần kinh thép. Tại sao à, ngay cả hồi còn chiến tranh và những trận oanh tạc, cậu ấy cũng luôn giữ được bình tĩnh, và…” Một lần nữa, Elizabeth lại ngắt lời tôi, “Đủ rồi James, làm ơn đừng nói thêm nữa. Cuộc chiến chấm dứt đã ba năm, nhưng nhớ đến nó em vẫn không thể chịu đựng nổi.” “Ý anh không phải thế. Anh muốn nói, John là một chàng trai tử tế, một người đàn ông chững chạc để em nương tựa, là người có thể làm cho bất cứ ai hạnh phúc.” “Em không muốn nghe thêm nữa! Em thừa biết anh đang cố làm gì. Em rất quý anh ấy, nhưng…” “Người em yêu là Henry. Em yêu cậu ta, cậu ta yêu em, bọn em yêu nhau đến nỗi không dám nói ra.” Tôi mặc áo khoác vào. “Nhưng may thay, người anh lớn của em lại ở đây và anh ấy sẽ từ từ giải quyết hết mọi việc cho em!” Em nắm lấy vai tôi và nhìn tôi với ánh mắt vừa biết ơn vừa lo lắng. “Anh đừng thẳng thừng quá, James nhé, không thì anh ấy lại nghĩ là em nhờ anh.” “Vừa hay đó chính là việc em đã nhờ!” tôi bực dọc đáp. “Nhưng đừng lo, anh không phải thằng ngốc. Anh biết cần xử lí thế nào. Em cứ nói luôn với cha mẹ rằng em đã đính hôn cũng được rồi.” Rồi tôi đi. ❛ 2 ❜ Ác mộng T ôi lắc đầu, đẩy cổng và tiến vào con đường đất với hi vọng đầu óc tỉnh táo hơn. Lời giải thích đơn giản nhất thường thỏa đáng nhất. Để xem. Sau khi bà vợ tự sát, ông Darnley bắt đầu đánh mất cả niềm vui sống và lí trí của mình. Chẳng bao lâu, những tiếng động lạ bắt đầu phát ra từ căn gác và ánh sáng cũng xuất hiện. Trước khi Elizabeth nói với tôi, Henry đã từng đề cập đến điều tương tự, thậm chí còn hỏi thẳng John khiến cậu ta bối rối vì theo như cậu ta biết, không ai lên trên đó kể từ khi mẹ cậu mất. Tóm lại là sao? Đáp án rõ như ban ngày: Trong đêm tối Victor đã lên căn phòng ma ám với hi vọng được gặp hồn ma của vợ. Người đàn ông tội nghiệp, tôi có thể hình dung rõ ràng cảnh tượng ấy. Với cây nến trong tay, ông bước từng bước run rẩy trên cầu thang dẫn lên gác. Mặc chiếc áo ngủ dài màu trắng và đội mũ trùm đầu, ông tới gặp người vợ mà ông không thể chấp nhận là đã chết. Sự thể đại khái là vậy. Đến lúc này, tôi đã đi hết gần một trăm mét ngăn cách giữa nhà chúng tôi và nhà White. Tôi gõ ba tiếng ngắn và dứt khoát theo đúng phép tắc truyền thống. Henry chẳng để tôi đợi lâu. “James, cậu đến thật đúng lúc, tôi bắt đầu phát chán đây." Mặc dù thấp, Henry lại nở nang hơn đa số mọi người, thân hình cậu chắc nịch, dưới làn tóc sẫm màu xoăn dày, rẽ ngôi giữa là khuôn mặt to vừa mạnh mẽ vừa ấm áp. Chúng tôi bắt tay thật chặt, và đi vào phòng khách. “Nói thật với cậu," tôi mở lời một cách tự nhiên nhất có thể. “Tôi cũng không biết phải làm gì một mình tối nay." “Nào hãy uống vì sự trùng hợp!” Henry nói và nháy mắt đầy thân thiết. Tôi buông mình xuống ghế bành với một nụ cười bí ẩn, hơi xấu hổ về lời nói dối của mình. Henry đi tới quầy bar. Tôi nghe tiếng cậu càu nhàu. “Đúng là kẻ phản bội!” Kẻ phản bội chính là cha cậu. “Ông già lại cất chai whisky ngon nhất trong tủ!” Cậu ta lạch cạch kéo cái tay nắm tủ. “Khóa rồi! Hay lắm! Không tin bất cứ ai! Nhưng nếu ông ấy nghĩ cái khóa bé tí nực cười này có thể ngăn tôi lại...” Cậu ta lấy một cái kẹp giấy và, bằng động tác xoay cổ tay linh hoạt, đã mở được cánh tủ. Rất ít ổ khóa kháng cự được những ngón tay lanh lợi ấy. Tôi vẫn nhớ thử nghiệm đầu tiên của cậu ta trên cánh tủ bếp nơi mẹ tôi cất mấy lọ mứt. “Uống mừng những tối thu buồn!" Henry nói, đắc thắng giơ cái chai lên cao quá đầu. “Nếu hai bác về đột xuất thì sao? Tôi nghĩ chắc cha cậu chẳng vui vẻ gì khi thấy cậu tập kích kho dự trữ tối mật của ông. “Cha chẳng uống được những thứ chúng ta uống nữa đâu, ở tuổi ấy là phải chừng mực rồi. Nào, tôi sẽ đi tìm xì gà còn cậu lo tiếp rượu. “Đầy hay vơi?" tôi long trọng hỏi. “Tùy ý cậu. Nghĩa là phải rót đầy ắp. Henry biến mất trong khi tôi đóng vai anh hầu rượu. Tôi nhặt một trong mấy cuốn tạp chí đang nằm trên bàn và ngồi sâu vào ghế bành, chợt để ý thấy một số chú thích bằng bút chì viết ở bên lề. “Henry," tôi hỏi khi cậu quay trở lại. “Cậu có thói quen ghi chú bên lề báo à?"" “Cậu không biết hở?" “Biết gì?" “Đọc mà không ghi chú thì khác nào ăn mà không tiêu hóa" Henry cười, còn tôi kiên nhẫn chờ đợi lời giải thích. “Đó là câu cha tôi thường nhắc đi nhắc lại và nó bắt đầu khiến tôi khó chịu. Tôi cam đoan với cậu rằng làm con của một nhà văn không dễ dàng gì. Đôi khi ông ấy khóa mình trong phòng nghiên cứu hai ba ngày liền, có lúc nói chuyện với chúng tôi mà luôn tay ghi chép một chủ đề chẳng hề liên quan. Mẹ đã quen với việc đó, nhưng tôi ộ g q ẹ q ệ g thật sự rất phiền não."" Dù sao Arthur White là một tác giả lừng danh. Sau những nghiên cứu thành công về y học, ông thực tập tại một địa chỉ có tiếng ở phố Harley, rồi tự mở phòng mạch tư. Trong lúc chờ phòng mạch xây xong, để giết thời gian, ông bắt đầu viết truyện ngắn và thành công ngay lập tức khi truyện được đăng trên một trong những tuần báo thịnh hành nhất Luân Đôn. Biên tập viên phấn khởi khuyên ông từ bỏ y khoa để theo đuổi sự nghiệp văn chương. Nhìn phòng mạch còn chưa đâu vào đâu, Arthur liền nghe theo lời khuyên sáng suốt này và nhanh chóng gặt hái được danh tiếng. Bên cạnh loạt truyện ngắn dành cho tạp chí vào buổi đầu sự nghiệp, ông còn viết cả truyện trinh thám, tiểu thuyết phiêu lưu, khoa học giả tưởng cũng như những chuyện tình lịch sử khá khêu gợi. Ông tìm mọi cách để con trai nối nghiệp mình, nhưng hoài bão của Henry lại đặt ở một nơi khác. Chúng tôi nhấp whisky trong im lặng. “Chúng ta sẽ được yên ổn khá lâu,” một lúc sau bạn tôi lên tiếng. “Cha đưa mẹ tới nhà hát ở Luân Đôn, sau đó đến chỗ một người bạn. Tôi nghĩ họ không về trước 3 giờ sáng đâu.” Tôi mỉm cười đầy thấu hiểu, biết rằng chai rượu sẽ cạn trước bình minh. Tôi vẫn nhớ nhiệm vụ của mình, nhưng nhất thời chưa biết làm cách nào để đề cập đến chủ đề tế nhị đó trong khi còn tán gẫu đủ chuyện không liên quan. Đang lúc tôi hành hạ não bộ mình hòng tìm lối ra thì Henry, như một cứu tinh tuyệt vời, đã giải phóng tôi khỏi nỗi thống khổ ấy. Ra chiều hờ hững, cậu ta hạ giọng. "James, có một việc nhỏ tôi muốn bàn với cậu. Thực ra, đó là về... em gái cậu.” Một khoảng lặng, tôi vờ như ngạc nhiên. Henry cầm cái chai lên và nhìn tôi vẻ dò hỏi. Tôi gật đầu. Cậu ta rót cho cả hai rồi ngồi trở lại ghế bành, trầm tư nhìn chất lỏng trong cốc và dốc cạn chỉ trong một hơi. Đã vài lần cậu ta toan mở lời, để rồi lại thay đổi ý định. Cố tìm cách che giấu sự bối rối trong vô vọng, cậu mất một khoảng thời gian dài bất thường để châm xì gà. Tôi nhẹ nhàng khơi gợi, “Con bé đã làm gì?” “Không làm gì, hoàn toàn không làm gì cả. Trên thực tế, đó lại là toàn bộ vấn đề. Mấy hôm trước tôi đã định hôn cô ấy, nhưng rồi thay ộ y ị y g y đổi quyết định vào phút cuối.” “Tại sao thay đổi?” tôi kêu lên. “Tôi rất thích cô ấy.” “Thì sao? Sao cậu không hôn con bé?” Thấy Henry sửng sốt trước vẻ sốt sắng của mình, tôi hắng giọng và nói nhẹ nhàng hơn. “Cậu xem, tại sao cậu không hôn con bé? Chẳng có lí do gì để cậu không làm như vậy. Khi hai người thích nhau, giống trường hợp này, người ta hôn nhau. Việc đó hoàn toàn bình thường, thậm chí tự nhiên, rất con người. Không có lí do gì để không làm thế. Hoàn toàn không. Cậu có nghe tôi nói không, Henry? Hoàn toàn không. Ngay từ thời nguyên thủy, đàn ông và đàn bà...” Thấy mình bắt đầu đi quá xa, tôi chủ động dừng lại và nói nhẹ nhàng nhất có thể, “Nào Henry, cậu em thân mến của tôi, sao cậu không hôn con bé nếu cậu cảm thấy muốn? Không cần phải tròn xoe mắt nhìn tôi như thế. Tại sao, vì Chúa?'" Rõ ràng vẫn đang sửng sốt, Henry tiếp tục bất động. Sau vài lần nuốt nước bọt một cách khó nhọc, cuối cùng cậu ta ngắc ngứ. “Thì tôi đang cố nói với cậu đây, James. Nghe này, cậu có ổn không? Nếu whisky quá nặng với cậu, tốt nhất là đừng..." "Tôi? Không uống được whisky á? Hẳn là cậu đang đùa!” Trước ánh mắt lo ngại của Henry, tôi vớ lấy cái chai, rót đầy cốc của mình lần nữa và ra hiệu cho cậu làm theo. “Tôi đã định hôn cô ấy rồi, nhưng bỗng dưng...” Tôi nhìn cậu trông đợi. “Bỗng dưng... tôi nghi ngờ.” “Nghi ngờ?” “Phải, nghi ngờ. Nghi... ngờ.” “Được rồi, tôi không điếc. Tôi hiểu, nhưng nghi ngờ chuyện gì?” Henry lau trán và nhìn xuống sàn nhà. “Tôi không chắc Elizabeth có cùng cảm giác với mình, nên tôi tìm một cách gọn gàng hơn đế xử lí tình huống.” Một cách gọn gàng hơn để xử lí tình huống? Tôi không thể tin vào tai mình nữa! Tháo dây giày bằng ngón chân là cách xử lí tình huống gọn gàng ư? Tôi phải huy động toàn bộ khả năng tự chủ mới ngăn được mình phá lên cười, và chỉ nấc một cái, đoạn hớp một ngụm lớn ợ p ộ ạ p ộ gụ whisky để bình tĩnh lại. “Henry,” tôi thở dài. “Tôi chỉ nói được bấy nhiêu đây thôi, rằng tình cảm Elizabeth dành cho cậu có thể là bất cứ thứ gì ngoại trừ tình bạn...” Tôi không nói nữa mà dừng lại suy nghĩ. Phải mất một lúc Henry mới ngập ngừng được. “Ý cậu là...” “Con bé yêu cậu, đơn giản thế thôi.” “Cô ấy yêu tôi?” Henry lắp bắp, không dám tin vào tai mình. "James, không phải cậu chỉ nói thế với tôi để... Cậu có chắc chắn không đấy?” “Đương nhiên con bé chưa nói ra.” Tôi nói dối dễ dàng đến mức bản thân phải sợ hãi. “Con bé không thú nhận vì quá kiêu hãnh. Nhưng tôi không ngốc. Con bé có mọi biểu hiện của một thiếu nữ đang yêu.” “James,” Henry ngắt lời tôi. “Cậu có chắc người cô ấy yêu là tôi không? Chẳng phải người đó nhiều khả năng là John sao? Cậu không thấy ánh mắt cô ấy nhìn John dạo gần đây à?” Một tia hung ác ánh lên trong mắt cậu. Cơn ghen tuông của con quái vật mắt xanh. Tôi không dám nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra nếu chẳng may Henry bắt gặp Elizabeth trong vòng tay John. Tôi giơ tay trấn an. “Henry, hãy tin tôi, người đó chính là cậu. Là anh của con bé, tôi biết rất rõ suy nghĩ trong cái đầu xinh đẹp đó. Yêu John ư?” tôi nhún vai. “Một người bạn tốt, không hơn." Henry, giờ đang lâng lâng, đề xuất nâng cốc vì John và nỗi bất hạnh của cậu ta, và vì Elizabeth, cô gái xinh đẹp nhất Vương quốc Anh. Chúng tôi chuếnh choáng và hân hoan, cảm giác ấy càng tăng lên khi đêm dần xuống. Cho tới lúc này, chúng tôi đã thật sự say sưa. Giờ đây, khi đã hoàn toàn chắc chắn về bản thân, Henry bắt đầu khoác lác về tương lai. Cậu ta sẽ trở thành nghệ sĩ nhào lộn vĩ đại nhất và nhà tung hứng vĩ đại nhất. Mọi vinh quang đều thuộc về cậu ta. Cậu ta sẽ trở thành cái này và sẽ làm cái kia. Nói và nói và nói. Không gì ngoài tôi thế này tôi thế khác! Tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Henry thân mến của chúng ta cũng tử tế đấy, nhưng nỗi ám ảnh trở thành trung tâm chú ý của cậu ta thực sự không thể ưa nổi. Cậu g ý ậ ự ự g ậ ta một mực muốn chiêu đãi tôi đủ loại tiết mục xiếc. Tôi không nghi ngờ tài năng diễn xiếc của cậu ta, nhưng để kiếm sống bằng nghề đó, chứ đừng nói là nổi tiếng thế giới, thì có hơi phóng đại. Ngay cả khi cậu ta là bạn thân nhất của tôi, tôi cũng không muốn nhìn em gái mình lấy một nghệ sĩ xiếc mắc chứng hoang tưởng tự đại. Nỗi sợ hãi của tôi tan đi phần nào khi phát hiện ra cậu ta đã say khướt, một thực tế mà tôi đã ân cần chỉ ra cho cậu. Henry vặn lại rằng bản thân tôi cũng không tỉnh táo gì cho cam. Chúng tôi cáu giận nhau dữ dội trong vài giây, rồi tôi bắt đầu cười như điên. Henry cũng hùa theo. Tôi lảo đảo bật dậy để nâng cốc vì hoàng tộc. Henry bắt chước tôi trước khi trở lại chiếc ghế bành. Tôi ngã theo, hoàn toàn bị đốn gục. Henry tìm được chút sức lực uống chầu cuối cùng vì người yêu của cậu. Tôi sẽ vô cùng kinh hãi nếu con bé thấy tình trạng lắp bắp và bù lu bù loa hiện giờ của chúng tôi. Con bé sẽ có cảm tưởng thế nào với người anh trai vốn luôn ưu tú này. “Cậu làm gì thế, người anh em?” tôi lẩm bẩm. Henry đang ném một trái bóng nhỏ lên không trung. “Tôi đang chơi với mấy quả bóng cao su.” Lại một tràng cười cực điểm nữa, sau đó cậu ta giải thích. “Nó liên quan đến một trong những tiết mục đặc biệt của tôi. Hôm nào đó tôi sẽ cho cậu xem.” “Không, cậu phải cho tôi xem ngay bây giờ,” tôi khăng khăng. “Tôi cần phải luyện tập cho chuẩn... và...” Cậu ta lặng đi và ngủ gục tại chỗ. Vì đồng cảm, tôi quyết định cũng hành động tương tự. Tôi tắt đèn và cho phép bản thân trượt vào cõi vô thức ngập tràn hạnh phúc. Một phụ nữ đang đẩy chiếc xe nôi. Đứa trẻ đang khóc. Nó rên rỉ một cách yếu ớt, đôi lúc nhỏ đến mức không thể nghe thấy. Tiếng rên rỉ bắt đầu lớn dần, nhưng người phụ nữ vẫn điềm tĩnh đẩy chiếc xe nôi. Tiếng rên rỉ biến thành tiếng khóc. Đứa bé đang khổ sở, nó đang chịu đựng, nó bị trói buộc bởi một nỗi buồn ghê gớm. Nó khóc lóc kêu cứu, nhưng không ai nghe thấy. Khuôn mặt đứa bé rất lạ, không phải là của một đứa trẻ mới sinh, mà là của một người lớn, một ai đó mà tôi biết... Henry! Tôi giật mình tỉnh dậy, mồ hôi vã ra trong bóng tối ẩm ướt. Một cách vô vọng, tôi gắng chống lại cơn đau đầu tồi tệ và tập trung suy nghĩ. Cứ như thể một chiếc vòng xoay ngựa gỗ ở hội chợ đang quay vượt khỏi tầm kiểm soát trong hộp sọ của tôi và sự hành hạ gần như quá sức chịu đựng. Đột nhiên một tiếng rên gần đấy hãm cái vòng xoay địa ngục lại. Tôi lắng nghe. Không có gì cả. Có phải tôi vẫn đang trong cơn ác mộng khủng khiếp? Tôi nheo mắt lại, gắng sức nhìn xuyên bóng tối. Tôi nghĩ mình có thể nhận ra những hình thù sẫm màu hơn. Tôi đang ở đâu? Nhất định không phải trên cái giường quen thuộc. Tôi không chắc mình đang tỉnh hay mơ nữa. Tôi dần lấy lại ý thức. Khốn nạn thay, lần nôn nao tỉnh rượu này thật kinh khủng! Đang cố gắng phân tích giấc mơ thì một tiếng rên rỉ khiến tôi rùng mình. Giờ thì tôi chắc chắn ai đó đang thổn thức. Trong phòng khách có mỗi tôi và Henry, nên đây chỉ có thể là cậu ta. Cũng như trong giấc mơ tôi, tiếng rên rỉ biến thành nức nở. Henry đang khóc. Tội nghiệp, cậu cũng gặp ác mộng. Henry bắt đầu lảm nhảm một cách điên dại. “Không, thật kinh khủng. Con không muốn. Mẹ, đừng đi, con xin mẹ”. Rồi đột ngột tỉnh dậy, và kêu lên. “Chuyện gì vậy James?” “Tôi ở đây, Henry, bình tĩnh đi. Cậu gặp ác mộng thôi, nhưng hết rồi. Cứ ở yên đó, chúng ta cần ánh sáng.” Tôi dò dẫm bật được đèn bàn mà không làm đổ nó, rồi đi đến bên Henry. Hình ảnh cậu ta lúc này chẳng đẹp đẽ gì, da trắng bệch như tờ giấy và mắt đỏ ké, nỗi đau đớn sâu sắc hiện rõ trên nét mặt. Tôi đặt tay lên vai cậu và cố an ủi, cùng một nụ cười gượng, “Cả tôi cũng vừa gặp ác mộng. Chúng ta đúng là tự chuốc vạ vào thân, nhỉ?” Henry cứ như không nghe vào tai. “Những gì tôi mơ thật đáng sợ, nhưng tệ nhất là...” “Những giấc mơ đều hiếm khi vui vẻ.” “Tệ nhất là tôi không tài nào nhớ được...” “Thế thì cậu còn kêu ca gì nữa? Ở yên đây, tôi đi pha ít cà phê. Mọi chuyện sẽ ổn thôi, rồi cậu sẽ thấy.” “James”, Henry la lên, ngó đồng hồ một cách sửng sốt. Tôi hỏi, sau một lúc lo ngại nhìn cậu ta, “Có chuyện gì sao?” “Gần 3 giờ rưỡi rồi!” g “Thì sao?” “Cha mẹ tôi vẫn chưa về!” “Nhưng chính cậu đã bảo tôi là họ sẽ không về trước 3 giờ sáng cơ mà,” tôi trả lời sao cho nghe hợp lí nhất cố thể. “Cậu nói đúng, đương nhiên,” Henry thừa nhận. “Hơn nữa, họ phải lái xe qua một chặng đường khá dài. Tôi không biết tôi có vấn đề gì nữa.” “Cậu không biết có vấn đề gì với cậu... hay đúng hơn là với chúng ta?” tôi hỏi, giọng châm biếm, ngụ ý tới cái xác rỗng của chai whisky. Dứt lời, tôi đi pha cà phê. Sau cốc thứ ba, Henry lại nói, “Tốt hơn rồi, nhưng tôi vẫn mong mình nhớ được cơn ác mộng đó là về cái gì, vì nó khuấy động cảm xúc của tôi quá mức. Chưa bao giờ trong đời tôi...” Điện thoại reo đột ngột, làm tôi giật bắn mình. Chết trân trên chiếc ghế bành, Henry nhìn tôi với ánh mắt kinh hãi. Cậu ta đứng dậy, chậm chạp tiến đến gần, ngập ngừng đưa tay ra và sau một hơi thở sâu, giật ống nghe lên. Cảm giác bất an bủa vây tôi mấy tiếng trước, lúc ra khỏi nhà, ập về mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tôi nôn nao châm một điếu thuốc, buộc mình nhìn những làn khói xanh đang cuộn lên. Henry gác máy. Từng giây dài đằng đẵng trong im lặng trở nên không thể chịu nổi. Cậu đứng bất động, bàn tay vẫn đặt trên điện thoại. Cuối cùng, cậu buông tay và quay đầu về phía tôi, khuôn mặt phờ phạc và tái nhợt hằn lên nỗi tuyệt vọng cùng cực. Cậu ngây người, chằm chằm nhìn tôi, đôi môi chỉ hơi mấp máy. “Đã xảy ra một vụ tai nạn. Mẹ tôi mất rồi.” ❛ 3 ❜ Vụ tự sát kỳ dị V ào khoảng 3 giờ sáng, Arthur White mất kiểm soát tay lái trên đường từ Luân Đôn về, chiếc xe mui trần lộn nhào và đè lên người trên xe. Arthur nằm bẹp dưới gần một tấn trọng lượng trong khoảng hai mươi phút, cho đến khi một nhóm người qua đường xoay xở hết mức đế giải cứu được ông. Người bình thường hẳn sẽ bị liệt suốt đời nếu gặp hoàn cảnh tương tự, nhưng Arthur yên ổn thoát hiểm nhờ hình thể đặc biệt của mình. Chỉ buồn một nỗi, bà Louise White không sống sót được trước cú va chạm và từ trần vào khoảng 3 giờ 15 phút. Arthur gặp vợ hồi còn làm bác sĩ. Louise là chị gái của một bệnh nhân nhỏ tuổi mắc bệnh hiểm nghèo. Mặc dù họ đã cùng nhau túc trực ngày đêm bên giường cô bé, ông vẫn không cứu được em, cô bé tắt thở trong tay họ chỉ vài tuần trước đám cưới đã định của hai người. Lễ cưới diễn ra trong sự riêng tư tuyệt đối. Tôi có xem ảnh cưới và nhận thấy họ đúng là một cặp vợ chồng xứng đôi. Arthur cao lớn mạnh mẽ với mái tóc tối màu, ngược lại, Louise là một cô gái tóc vàng mảnh mai duyên dáng với đôi bàn tay và bàn chân thanh nhã. Nụ cười ngọt ngào, rạng rỡ chân thành của bà không chỉ đem lại hạnh phúc cho chồng mà cho tất cả những ai bà gặp. Bà luôn vui vẻ, tử tế và kín đáo. Mọi người đều yêu quý bà, đặc biệt là những đứa trẻ. Tôi sẽ bịa ra bất cứ lí do gì để tới thăm Henry bởi vì lúc nào tôi cũng được chào đón nhiệt tình. Ngày nào cũng như ngày nào, sau khi vận động mạnh trong phòng tập, Arthur sẽ dành một tiếng để ra ngoài đi bộ, bất kể thời tiết ra sao. Đợi ông đi rồi, chúng tôi lẻn vào phòng và hăng hái tập luyện. Louise biết rõ mọi chuyện, nhưng chỉ dặn chúng tôi phải sắp xếp các thứ vào vị trí cũ trước khi ông chồng về. Bà mang ra những món nho nhỏ như phần thưởng cho nỗ lực của chúng tôi, đến giờ tôi còn cảm nhận được vị bánh xốp nướng phết mứt cam do chính tay bà làm. Chưa bao giờ tôi được ăn thứ gì ngon đến vậy. Ngôi làng, nơi mọi người đều coi Louise là bạn, hết sức choáng váng trước cái chết của bà. Arthur thì sầu khổ, luôn tự trách mình vì vụ tai nạn. Thời gian trôi qua, Henry rơi vào trạng thái buồn bã và tuyệt vọng khôn nguôi. Cậu ta luôn gắn bó với gia đình, đặc biệt là bà mẹ. Mặc dù con cái hiếu thảo là lẽ đương nhiên, nhưng tình cảm của Henry dành cho đấng sinh thành vẫn sâu nặng đến mức ám ảnh, gần như tôn thờ. Bởi vậy đối với cậu, cú sốc nặng nề hơn bình thường rất nhiều, kể từ thời điểm biết tin dữ, cậu ta luôn chìm trong trạng thái đau khổ cùng cực. Lễ tang của bà White diễn ra xúc động, nhưng bối rối. Chỉ mình Victor Darnley là còn có vẻ bình tĩnh. Ánh mắt ông lộ rõ nỗi buồn và lòng trắc ẩn đối với sự mất mát của người bạn, tuy thế tôi vẫn nghe thấy những lời đáng sửng sốt mà ông thì thầm lúc chia buồn. “Đừng khóc, Arthur! Hãy mừng cho bà ấy, chết không phải là hết. Tôi cũng từng trải qua nỗi đau tàn khốc không khác gì ông hôm nay. Ông tưởng đã mất bà ấy mãi mãi ư? Đừng lo, bà ấy sẽ trở lại. Rồi ông sẽ thấy ngay thôi. Hãy tin tưởng, bạn của tôi, ông sẽ gặp lại Louise.” “Tội nghiệp quá, chúng ta phải nghĩ cách giúp Henry. Không thể để như vậy được. Tôi đã thử khuyên giải nhưng cậu ấy vẫn không nguôi ngoai, không muốn nghe. Sẽ không dễ đâu.” Người tóc đỏ với những đường nét sinh động vừa lên tiếng là John Darnley, một chàng trai tốt bụng hiếm có, luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi họ cần. Henry, John và tôi, ba đứa có thói quen gặp nhau mỗi tối thứ Bảy tại quán rượu - một trong những tòa nhà cổ nhất làng. Thứ Bảy này cũng không phải ngoại lệ, nhưng quãng thời gian Henry dành cho chúng tôi vô cùng ít ỏi, thái độ cậu lầm lì hơn bao giờ hết. Mới gần đến 9 giờ. Chúng tôi nhìn chiếc ghế mà cậu bạn vẫn thường ngồi. Đây là nơi chúng tôi yêu thích, căn phòng rộng rãi với trần thấp, với những thanh xà lớn sạm màu vì khói thuốc qua hàng thế hệ, với ván sàn gỗ sồi và quầy bar có phục vụ loại bia tươi ngon nhất hạt. Đằng sau quầy bar là Fred Bặm Trợn, một chân dung rất ít tương đồng với không khí ấm cúng và vui vẻ nơi này. Ông đang bận g g g g y g g ậ rộn rót thứ dung dịch sủi bọt màu nâu hoặc hổ phách vào những chiếc cốc, xung quanh là âm thanh huyên náo điếc tai và màn khói cứ dày thêm vào đêm, làm nhòa đi ánh sáng của những chiếc đèn tường vốn đã mờ ảo. Nhưng trái tim chúng tôi không đặt ở đó, đôi mắt John phản chiếu mối ưu tư chung của chúng tôi. “James, cậu có nghĩ là Elizabeth sẽ làm được gì không? Chỉ cần cậu nói một câu.” Lời đề nghị hẳn là rất khó khăn này đã thế hiện tinh thần hào hiệp của John Darnley. Cậu ta phải lòng Elizabeth, tôi biết, nhưng lại nhờ tôi mang hai người họ đến gần nhau hơn. Tôi lắc đầu, không tán đồng. “Cái cô Elizabeth mà đánh rơi chiếc mũ cũng khóc ra cả chậu nước mắt ấy hả? Không phải ý kiến hay đâu, con bé chỉ khiến Henry khổ sở thêm thôi. Những người con bé thử an ủi rốt cuộc đều khóc nhiều hơn.” Cân nhắc một lát, tôi tiếp tục nói với giọng tự tin. “Henry sẽ vượt qua được, chỉ là vấn đề thời gian. Thời gian chữa lành mọi vết thương, nếu không con người đã chẳng tồn tại được.” Tôi bất chợt dừng lại, thất kinh trước sự vụng về của mình. “Thời gian chữa lành mọi vết thương,” John lơ đãng nói, ánh mắt xa xăm. “Dù sao thì... cũng chỉ phần nào. Nên nói rằng, thời gian giúp cho những vết thương có cơ hội liền sẹo.” Tôi nên đá cho mình một cái vì nói mấy câu quá ngớ ngẩn. Nhưng chuyện tệ hại đã xảy ra rồi, và John bắt đầu nhớ lại cái đêm kinh hoàng ấy. “Tôi đang chơi với Billy thì cha đến tìm, lo lắng ra mặt. Cha nói rằng mẹ đã mất tích. Chúng tôi quay trở về nhà nhưng không thấy mẹ đâu. Hai cha con lục lạo khắp nơi rồi cha đi lên tầng. Nghe thấy một tiếng kêu khác với mọi tiếng kêu từng nghe, tôi liền lao lên theo, lên đến tầng cao nhất. Cánh cửa cuối cùng, cánh cửa thứ tư, đang mở và có ánh sáng hắt ra. Tôi chạy tới, thấy cha đang quỳ bên xác mẹ, trên sàn nhà.” “Thứ lỗi cho tôi, John,” tôi thì thào. “Nhưng...” John tiếp tục, như thể không nghe thấy. “Bấy giờ tôi mới mười lăm tuổi. Cha không bao giờ hồi phục được y g g g p ụ ợ nữa, thiên hạ bảo cha điên rồi. Sau đó chúng tôi mất tất cả. Tôi phải bỏ ngang con đường học hành quý báu để đi làm, để nuôi sống cả hai.” Trong khoảnh khắc, cậu chăm chú nhìn ngắm đôi bàn tay thô ráp của mình. “Nhưng thế vẫn chưa là gì so với những việc khác. Mất mạng vì tai nạn là một chuyện, chuyện đó có thể xảy ra, có thể hiểu được. Nhưng tự tử là chuyện khác, lại còn theo cách thức kinh khủng như thế! Quá vô lí! Mẹ đã mất trí chỉ trong vài giờ, quá điên! Cậu phải thấy thi thể cơ, cậu không tưởng tượng nổi đâu. Trông cứ như hành vi của một tên tàn bạo lảng vảng trong khu phố. Nhưng điều đó là không thể, vì căn phòng bị khóa từ bên trong. Chẳng nhớ đã bao nhiêu lần tôi choàng tỉnh lúc nửa đêm, tự đặt cho mình câu hỏi khiếp đảm ấy: Tại sao mẹ lại làm thế? Tại sao? Cậu biết không, tôi chưa bao giờ chấp nhận ý tưởng rằng mẹ bị điên. Thế nhưng...” Cậu thở dài. “Nhưng, như cậu nói đấy, James, thời gian chữa lành tất cả. Dù sao...” John cố kìm nước mắt. Tôi đáng bị đá một cái vào mông. Tôi không tìm được lời nào để xoa dịu bạn và bắt đầu tự nguyền rủa mình bằng đủ mọi danh xưng trên đời. Thật tàn nhẫn vì đã khơi dậy ở John mớ ký ức khủng khiếp ấy. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ ra là mời cậu điếu thuốc thay lời xin lỗi. James, mày đúng là một thằng đần. Chắc đã đọc được ý nghĩ của tôi, John trấn an. “Không phải lỗi của cậu, James. Việc đó không thể tránh khỏi. Henry mất mẹ mười ngày trước, còn tôi thì mất mẹ cách đây mười năm. Hai người góa vợ sống đối diện nhau, làm sao có thể không liên hệ họ với nhau cho được?” Những lời trấn an ấy không có tác dụng gì khác ngoài việc khẳng định quan điểm của tôi về bản thân: một kẻ thảm hại, không biết sử dụng bộ não của mình. John vỗ mạnh vào lưng tôi để động viên. “James, đừng giày vò bản thân nữa, quá khứ qua rồi. Đừng lo cho tôi, Henry mới là người chúng ta cần phải quan tâm lúc này.” Cậu ra hiệu vào trong quầy bar, Fred đẩy ra hai cốc bia lớn sủi bọt. "Chầu này tôi mời, các chàng trai,” ông nói với giọng sang sảng và nụ cười toe toét thân thiện. Lời nói và cử chỉ mạnh mẽ, khiến mọi người luôn biết ngay ai là ông chủ ở đây giữa những kẻ ồn ào đinh g g y g y g g tai nhức óc. Rồi, nụ cười nhạt dần và Fred trở nên nghiêm túc. Ông nắm lấy vai chúng tôi và khẩn khoản nói. “Không thể để Henry khép mình lại như vậy, các cậu phải lôi nó ra! Dù gặp chuyện bất hạnh, nhưng...” Một vài vị khách đang la hét ầm ĩ để gây chú ý. “Tôi không thể nán lại với các chàng trai được,” ông gầm lên, “Tôi tới đây! Tới đây!” “Nhà Latimer vừa đến đêm qua,” John nói, sau một lát im lặng. Cái chết của bà White đã xóa khỏi đầu tôi chuyện hai người thuê nhà. Tôi hầu như không chú ý đến họ lúc chiều nay. “Trông họ thế nào?” “Người chồng khoảng bốn mươi tuổi, tóc vàng sáng, hình như là nhân viên bảo hiểm. Người vợ khoảng ba mươi lăm, là một mỹ nhân với mái tóc dài sẫm màu và nụ cười quyến rũ khó cưỡng. Quá tệ là cô ấy đã có chồng!” John nói thêm và nháy mắt. “Họ dễ chịu chứ?” “Có vẻ như vậy, mặc dù chúng tôi vẫn chưa có thời gian trò chuyện. Nhìn thế nào cũng khá đứng đắn.” “Và họ vẫn chưa nói gì về...” "Tiếng động ban đêm? Ánh sáng bí ẩn trên tầng áp mái? Đủ điều bịa đặt từ trí tưởng tượng của mọi người?” “John à, cậu nên biết. Tất cả những người thuê trước đều nói về nó. Còn nữa, chính vì thế mà không một ai trong số họ ở lại lâu.” John lắc đầu, môi nở nụ cười giễu cợt “Tôi hoàn toàn ý thức được vẻ ngoài cổ quái của căn nhà, và thực tế là có một người phụ nữ tâm lí bất ổn đã tự sát ở đó trong tình cảnh đáng sợ. Cha tôi không tỉnh táo cho lắm, đúng, nhưng ông không điên loạn như mọi người nghĩ. Từ một vài dấu hiệu, người ta bắt đầu phát huy trí tưởng tượng quá mức, đến nỗi gần như nghe được và nhìn thấy bất cứ thứ gì. Tiếng cầu thang kẽo kẹt? Chẳng có gì bất thường cả, theo tôi biết thì chúng làm bằng gỗ. Và tại sao người ta nghe thấy tiếng nó vào ban đêm? Rõ ràng là bởi ai nấy đều đã đi ngủ và không gian lặng ngắt như tờ. Còn về âm thanh phát ra từ tầng áp mái và ánh đèn bí ẩn, tôi có thể cam đoan với cậu là tôi chưa từng nghe hay thấy gì hết.” g y y g “Nhưng phòng ngủ của cậu ở tầng trệt,” tôi nhận xét. "Khó mà nghe được âm thanh từ tầng thượng, nói gì đến trông thấy ánh sáng.” "Đúng,” John thừa nhận. “Nhưng đâu có ai từng lên trên đó. Cứ cho rằng tất cả những câu chuyện ấy là thật đi, thì thủ phạm có thể là ai? Ai lại nảy ra ý tưởng ngớ ngẩn là giả ma giả quỷ? Thật lòng mà nói, tôi không thấy có ai cả.” "Tôi muốn giữ hòa khí. Cũng chẳng để làm gì khi cố trình bày cái lí lẽ có vẻ hợp tình hợp lí nhất. Ấy là cha cậu ta tin rằng bà vợ sẽ xuất hiện trở lại, vì thế đã lần mò trong đêm đi lên căn gác nơi bà rời bỏ ông. Hơn nữa, lời tâm sự của ông với Arthur trong lễ tang khá rõ ràng. 'Bà ấy sẽ trở lại. Rồi ông sẽ thấy ngay thôi.' Nhưng làm sao giải thích cho John hiểu được đây? Nếu có một chủ đề thực sự làm tổn thương cậu ta, thì đó chính là độ minh mẫn của cha cậu, và lí luận của tôi đều xoay quanh đấy. Không, tốt hơn nên giữ im lặng. Tôi đã mắc đủ sai lầm cho ngày hôm nay rồi. John không gặng hỏi gì, rõ ràng đang để tâm trí ở nơi khác. Rồi đột nhiên, cậu lên tiếng. “Đêm qua, tôi đã giúp nhà Latimer chuyển đồ đạc.” Tôi rút một điếu thuốc ra khỏi bao. John chần chừ giây lát, và tiếp tục. “Cô Latimer bắt chuyện với cha tôi...” Tôi điềm tĩnh châm điếu thuốc. "... còn anh Latimer và tôi khuân hành lí.” Tôi rít thuốc, rồi nhả một vòng khói lên trần nhà. “Thế nên, trong lúc chúng tôi bận rộn lên xuống, thì cha ở ngoài sảnh với cô Latimer.” Tôi nhịp ngón tay trên mặt bàn. “Chúng tôi mang những chiếc va li lên tầng thứ nhất..." Tôi bật ra một tiếng thở dài. "... để chúng vào phòng, rồi một lần nữa đi xuống cầu thang. Đúng lúc ấy...” “Đúng lúc ấy...” Tôi nhẹ nhàng nhắc lại, cố gắng giữ bình tĩnh. “Đúng lúc ấy tôi nghe loáng thoáng một phần cuộc trò chuyện. Đương nhiên là giữa cha tôi và cô Latimer.” Mất kiên nhẫn, tôi đấm tay xuống bàn. y g “Rồi sao, họ đang nói về cái gì?” “Tôi không nghe được đoạn đầu, nhưng tôi nghĩ là cha cho cô ấy biết tại sao những người thuê nhà trước cảm thấy cần phải nhanh chóng chuyển đi, nào thì tiếng ồn, ánh sáng, và tất cả những chuyện còn lại. Cô Latimer bèn trả lời... Câu trả lời của cô ấy rất kì lạ, tôi không biết phải hiểu thế nào nữa.” Tôi hắng giọng rõ to, và nói một cách bình tĩnh nhất có thể. “Chính xác là cô ấy nói gì?” “Nguyên văn: ‘Tôi không sợ linh hồn, ngược lại là đằng khác.'." “Ngược lại là đằng khác?” “Chính xác đấy: ngược lại là đằng khác. Cô ấy ngừng ở đây, chúc cha tôi ngủ ngon và đi lên phòng.” “Cô ta thích chúng.” “Gì cơ?” “Cô ta không sợ linh hồn. Ngược lại là đằng khác, cô ta thích sự hiện diện của chúng.” “Nhưng thế thì quá lạ lùng! Không ai thích những thứ ấy cả. Chuyện này kì quái thật.” “Có rất nhiều chuyện kì quái,” tôi thở dài, nhớ lại cái đêm ở nhà Henry một tuần trước. Cậu ta đột ngột choàng tỉnh khỏi ác mộng, chìm ngập trong một nỗi buồn không thế cắt nghĩa. Trong mơ, cậu ta khóc và lắp bắp, 'Không, thật kinh khủng. Con không muốn. Mẹ, đừng đi, con xin mẹ.' Không những thế, tất cả lại xảy ra vào khoảng 3 giờ 15 phút sáng, đúng thời điếm Louise tử nạn. “Cậu đang nói đến vụ lật xe của ông bà White?” John gặng hỏi, mày chau lại. “Phải. Ý tôi là không,” tôi ấp úng. “Không, không có gì cả. Tôi không biết mình đang nói gì nữa, tôi bắt đầu thấy mệt rồi.” Khi John gợi ý ra về, tôi không phản đối. ❛ 4 ❜ Thư gửi Louise A nh yêu, em đau đầu khủng khiếp!” “Uống aspirin đi, em yêu.” “Em uống bốn viên rồi, chẳng thấy đỡ gì cả.” “Phải kiên nhẫn chứ,” cha vừa trả lời vừa chỉnh cà vạt “Nhanh lên nào, em yêu, chúng ta sắp muộn rồi.” “Nửa đầu em đau quá này,” mẹ rên rỉ. “Không thể chịu đựng nổi. Em không đi được đâu, em không thể.” “Cái gì!” cha giận dữ kêu lên. “Không đi? Không đi sau khi Arthur White kiên cường vượt qua nỗi đau để tổ chức một bữa tiệc trưa cho chúng ta gặp vợ chồng Latimer và chứng tỏ mình là những người láng giềng tốt thế nào sao? Em không thể từ chối chỉ vì thấy đau đầu chút xíu như vậy được. Thôi nào, hãy cố gắng lên.” Mặt tái đi, mẹ nhìn cha từ đầu xuống chân và trả lời một cách lạnh lùng. “Em cảm thấy không đủ khỏe để đi, thế thôi. Em không đi!” Im lặng. Cha, đang trên đà bùng nổ, đã giữ được bình tĩnh nhờ nỗ lực cao độ và gượng cười. “Em yêu,” ông nói, cầm lấy tay mẹ và cúi đầu xuống. “Không có gì tồi tệ hơn là một cơn đau nửa đầu dai dẳng - anh là người biết rõ hơn ai hết. Bản thân anh cũng bị những cơn đau đầu dữ dội hành hạ liên miên, đặc biệt là vào buổi tối, và thường xuyên hơn em tưởng. Nhưng để em không phải chia sẻ nỗi bất hạnh ấy, anh luôn chịu đựng trong thinh lặng. Nó rất khó chịu, chắc chắn rồi, nhưng vì thế mà từ chối lời mời của Arthur thì không ổn. Ông ấy cần sự an ủi và tình bạn của chúng ta, mới mất vợ được ba tuần, đang cô đơn và quẫn trí. Henry chẳng giúp được gì, thậm chí còn ngược lại. Lời mời này chính là tiếng kêu cứu, chúng ta không thể không đi. Arthur sẽ thắc mắc lắm, điều đó chắc chắn gây ảnh hưởng tới tình bạn của chúng ta.” Đáp lại ông là ánh mắt lạnh lùng. “Anh nói xong chưa?” “Gì cơ?” “Em hỏi là bài diễn văn đã kết thúc chưa?” “Em làm ơn nhắc lại được không?” cha nói, vẻ không hiếu. “Đủ lắm rồi. Chúng ta sẽ không đi, không phải nói gì thêm nữa. James và Elizabeth có thể giải thích. Arthur chắc chắn sẽ hiểu.” “Chúng ta?” cha kêu lên, bắt đầu mất tự chủ. “Ý em là gì, chúng ta?” “Anh và em, đừng có giả ngốc nữa. Giá mà anh nhận ra anh là một diễn viên tệ đến thế nào.” Cha phản kháng một cách khoa trương. “Sự thiếu lịch thiệp của em không hề dính dáng tới tôi. Em cứ ở lại đây, thưa quý bà, nhưng tôi chắc chắn sẽ đi. Đi thôi, các con!” Một giọng run rẩy vì phẫn nộ (giả) và tức tối (thật) xé tan bầu không khí. “Anh định bỏ người phụ nữ đau ốm lại một mình mà không biết sẽ rơi vào bàn tay của kẻ điên nào hay sao? Người ta sẽ nghĩ anh không bao giờ đọc tin tức trên báo đấy.” Rồi với đôi mắt âm ỉ một cơn thịnh nộ, mẹ phác một cử chỉ độc đoán. “Đi đi!” Cha tiến về phía cửa với phong thái trang trọng, chậm bước, dừng, rồi xoay sang quầy bar. Ông rót cho mình một ly whisky, uống hết trong một ngụm và nói với giọng sầu thảm. “Đi đi, các con.” Một lần nữa, mẹ lại chiến thắng. “Đừng quên chìa khóa,” Elizabeth nhắc khi tôi đang đóng cửa trước. “Được rồi, được rồi,” tôi lẩm bẩm. “Trời đất, nồm quá.” Ngày hôm đó trời đặc biệt ấm áp dù đã là cuối tháng Chín. Mặc dù đài dự báo mùa đông khắc nghiệt sắp sang nhưng miền Nam đất nước lại đang trải qua đợt nóng. “Xem chừng tối nay có bão,” em tôi vừa nói vừa ngắm lại mình. “Trông em thế nào, James?” “Không tồi,” tôi đưa ra ý kiến. Thực tế thì em đẹp lộng lẫy trong bộ váy lụa trắng tôn vòng eo mảnh mai hoàn hảo. Đôi giày đế bằng xinh xắn, chiếc khăn choàng đăng ten thanh nhã che đi phần khe ngực, và một kiểu tóc tưởng chừng đơn giản đã hoàn tất bức họa. “Không tồi, không tồi chút nào,” tôi lặp lại, “Đợi đã, lấy cái khăn tay này chấm bớt son môi đi. Như thế đẹp hơn.” “Theo anh thì Henry có vừa ý không?” “Việc đó thì còn phải xem đã. Nhắc mới nhớ, hai đứa bọn em tiến triển thế nào?” “Em nghĩ là cũng tốt, nhưng không biết hôm trước em có làm anh ấy phiền lòng không.” “Ồ?” “Giá em để anh ấy hôn em thì tốt hơn.” Tôi đợi em nói tiếp. “Hai hôm trước, vào buổi tối, em sang nhà Henry để xem anh ấy thế nào, xem mọi việc đã ổn hơn chưa,” em nghiêm túc kể. “Henry tiếp tục tâm sự về mẹ, về ý nghĩa của bà đối với anh ấy. Chúng em chuyện phiếm về tình yêu, tình yêu nói chung thôi. Henry rất khổ sở, và em cố gắng an ủi. Bỗng nhiên anh ấy ôm chầm lấy em.” Đúng lúc đấy, tôi tự nhủ. “Và anh ấy hôn em.” Thế là xong! Giờ tôi có thể tập trung vào việc khác được rồi. “Ít nhất là anh ấy muốn hôn em. Nhưng dĩ nhiên em không để anh ấy làm thế. Đây không phải lần đầu. Chỉ đơn giản là không được. James, em xử sự có sai không? Đúng chứ hả?” Không tin vào tai mình, tôi đưa tay ôm đầu. “Elizabeth, đừng bảo anh rằng…” “Em e là vậy. Nhưng Henry không hề phiền lòng, bởi vì anh ấy xin lỗi ngay lập tức. Chỉ hiềm anh ấy bảo em đừng lo, chuyện đó sẽ không bao giờ lặp lại. Em không biết có phải anh ấy đã hiểu lầm sự cự tuyệt của em không. Anh nghĩ sao hả James?” Chúng tôi đã đến nhà White, và tôi không trả lời. Tôi đã ngán đến g g g tận cổ toàn bộ câu chuyện này rồi, từ giờ tôi không muốn để vào tai thêm một chút nào nữa. Ông Arthur White mở cửa. Mặc dù đau buồn, ông vẫn ân cần chào đón chúng tôi. “Vào đi, hai đứa! Trông cháu thật đáng yêu, Elizabeth. Chiếc váy rất hợp với cháu.” “Ôi, cảm ơn bác White!” Em tôi cười e lệ, mặt đỏ lên vì vui sướng. “Nhưng cha mẹ các cháu đâu?” “Mẹ cháu bị đau nửa đầu, đau ghê gớm, và…” “Cha các cháu không muốn để bà ấy một mình. Bác hiểu, không ai biết chuyện gì có thể xảy ra.” Giọng Arthur nhỏ lại, “Vào phòng khách đi. John và Henry đang ở đây rồi.” Chúng tôi vừa bước vào phòng, đã có hai cặp mắt tham lam nhìn chòng chọc vào Elizabeth trong lúc em lại gần chào hỏi Victor. Kể từ cái chết của bà White, khuôn mặt Victor Darnley trở nên hồng hào hơn. Thậm chí ông còn ra ngoài một hay hai lần, chủ yếu là để gặp Arthur, một việc cực kì hiếm hoi lúc trước. Bình thường ông rất kiệm lời, nhưng hôm nay lại tấm tắc khen ngợi em tôi bằng phong thái lịch thiệp nhất. Elizabeth híp cả mắt lại vì vui thích, vẻ bẽn lẽn làm dáng trái ngược hẳn với ánh long lanh trong mắt. Để che giấu sự ngượng nghịu, John cũng phụ họa bằng những lời ca tụng tương tự, mặc dù giọng nói đã phản bội thái độ cố gắng tự nhiên của cậu. Còn Henry, nín thở trước cảnh Elizabeth đang nở rộ như một bông hoa trong hơi ấm ca ngợi của cha con nhà Darnley, chỉ biết lắp bắp một cách yếu ớt, “Chào Elizabeth.” “Henry, đừng đứng đờ ra đó nữa.” Giọng Arthur sang sảng. “Tiếp khách đi!” Chuông cửa reo lên lần nữa. “A, là hai vị khách đặc biệt của chúng ta! Để cha ra,” Arthur nói, rồi biến mất. Victor giới thiệu chúng tôi với nhau. Ban đầu theo bản năng, tôi có cảm tình ngay với Patrick Latimer, dù cảm tình ấy đã bị kìm hãm bởi sự cảnh giác mơ hồ. Tuy vậy, Alice vợ anh ta lại là trung tâm của sự chú ý. Rất xinh đẹp và tự ý thức được điều đó, cô vận bộ váy vô cùng lộng lẫy nhưng hơi quá khiêu khích, theo ý tôi. Cảnh Henry đắm đuối nhìn cô ta như đã bị mê hoặc không thoát khỏi ánh mắt Elizabeth, em theo dõi, mặt tím tái vì giận. Để che giấu sự xấu hổ, Henry bắt đầu màn ảo thuật và mấy trò đùa ngớ ngẩn theo thông lệ, cậu ta nỗ lực hết sức để có một màn biểu diễn ngoạn mục. Patrick Latimer có vẻ thực sự bị ấn tượng. Vợ anh ta gần như ngất đi vì hâm mộ và thán phục không ngớt, thậm chí đề cập đến cả “sức mạnh” của Henry khiến cậu ta được truyền thêm cảm hứng. Giờ đây, là tâm điểm của sự chú ý, cậu ta tỏa sáng cùng niềm sung sướng và tự hào. Chúng tôi được chiêu đãi kha khá những màn uốn dẻo tương đối đặc biệt. “Henry có vẻ như đang lấy lại được niềm vui sống,” tôi thì thầm những lời bội bạc vào tai em gái. “Trật tự đi, kẻ phản bội,” em rít lên. Arthur, hơi khó chịu, kết thúc màn biểu diễn của con trai bằng cách bảo cậu ta đi chuẩn bị món bánh khai vị, còn ông thì tự tay khui rượu champagne (loại hảo hạng vì vị chủ nhà của chúng ta tiêu tiền rất phóng khoáng). Thứ chất lỏng quý giá ấy trước tiên lấp lánh trong ly của những vị khách, và rồi lấp lánh trong mắt họ. Buổi tối hôm đó diễn ra tốt đẹp, ngay cả Arthur cũng tỏ vẻ thoải mái. Chỉ có Elizabeth là gặp khó khăn trong việc giấu giếm cơn ghen tuông. “Tôi đã đọc hầu hết sách của ông, ông White. Làm thế nào mà ông xây dựng được những cốt truyện thông minh đến vậy?” “Phu nhân thân mến của tôi, tôi lấy cảm hứng từ việc đọc. Ngoài ra, như tôi luôn nói, đọc mà không ghi chú cũng giống như ăn mà không tiêu hóa vậy.” “Ồ, thật độc đáo! Tôi phải nhớ câu này mới được.” Ngay cả Victor cũng lên tiếng. “Arthur chắc chắn là một nhà văn đã để lại dấu ấn trong thế hệ của mình.” “Xin đừng quá lời. Ông phải hiểu…” “Champagne tuyệt lắm, Arthur, nếu ông không phiền…” “Victor yêu quý của tôi, đừng làm khách. Hãy cứ tự nhiên như ở nhà.” “Henry! Cậu thật là phi thường! Cậu làm thế nào vậy?” “Thưa quý bà….” “Cứ gọi tôi là Alice.” “Cô Alice, nói thật đây là năng khiếu trời cho. Từ khi tôi còn nhỏ…” “Thú vị thật!” “Người đàn bà đó làm em khó chịu, với lối xu nịnh và cái váy ngắn kệch cỡm của cô ta. Anh có thấy cô Latimer đẹp không, hả John?” “Thật lòng thì cô ta không tệ nếu em thích kiểu đó. Nhưng cô ta không phải tuýp của anh. Cô ta làm sao sánh được với em, Elizabeth. Tối nay trông em xinh đẹp hơn bao giờ hết.” “Đừng có trêu em.” “Quỷ tha ma bắt anh đi, Elizabeth. Nhìn anh xem có giống như đang nói dối không? Em không thấy trong mắt anh những điều anh không thể nói với em sao?” “Ôi! John.” Buổi tối đang diễn ra hào hứng thì cơn bão ập tới. Alice bật dậy khỏi ghế. “Tôi biết mà, trời hôm nay nóng quá. Tôi ghét mưa bão, không thể chịu nổi!” Tia chớp thứ hai nháng lên, theo sau là một tiếng sấm nổ inh tai. Alice phát run. Anh chồng nhào đến bên cạnh cô. “Em yêu, cứ nằm xuống nếu em thấy không khỏe. Ông cho phép chứ, ông White?” “Tất nhiên rồi. Nhưng có chuyện gì vậy? Tôi từng là bác sĩ, mặc dù không còn hành nghề nữa. Nếu tôi có thể giúp gì được cho phu nhân…” Alice không trả lời. Cô ta trân trối nhìn tới trước, tay chân run rẩy. Anh chồng ngả cô nằm xuống trường kỉ. Alice thở vô cùng nặng nhọc và cứ gấp gáp dần, có cảm giác chiếc váy sắp rách toạc đến nơi. Cơn bão vần vũ dữ dội hơn, mưa bắt đầu quất xuống. Qua những cửa hông trông ra đồng hoang, có thể thấy những tia sét nhọn hoắt đang đan chéo trên bầu trời đen kịt và đuổi theo nhau thành một chuỗi nhanh đến nỗi sáng rõ như ban ngày. Một cảnh tượng đẹp đẽ nhưng kinh tâm, kèm theo tiếng gầm khủng khiếp như tận thế đang gần kề. Không một ai nói gì. Cơn bão đã đủ đáng sợ, nhưng tình trạng của Alice còn đáng ngại hơn. Hình như cô ta đang hôn mê. “Đừng lo,” anh chồng trấn an. “Alice là nhà ngoại cảm. Tôi nghĩ cô ấy được triệu hồi. Ta nên tắt bớt đèn đi.” “Để tôi tắt đèn trần,” Henry nói, giọng run lên vì sửng sốt và khiếp đảm. “Chúng ta có thể nhìn được nhờ chiếc đèn bàn gần cửa sổ.” “Không,” Patrick phản đối, “như vậy vẫn có ánh sáng rọi tới mắt cô ấy. Chiếc đèn sàn cạnh tủ sách đằng kia tốt hơn.” Henry làm theo. Căn phòng chìm vào cảnh tranh tối tranh sáng, các vị khách quây tròn quanh trường kỉ. Ngực Alice hơi vồng lên kèm theo những tiếng rì rầm nơi cổ họng, mi mắt cô run rẩy. Patrick ra dấu cho tất cả im lặng. Chúng tôi nín thở. Môi nhà ngoại cảm hé mở và thốt ra những lời kì lạ. “Vùng đất sương mù. Mọi thứ chỉ là hình bóng và sương mù. Đó là vùng đất khác hẳn với bề ngoài của nó, vì không có gì tồn tại. Sinh mệnh là một ẩn số với những sinh linh này, những bóng hình mắc kẹt nơi thời gian…” Tiếng nói ngừng dần. “Em yêu,” anh chồng hỏi bằng giọng nhẹ nhàng. “Em còn thấy gì nữa không?” Một lúc sau, tiếng thì thầm lại tiếp tục. “Không, sương mù mờ dần, những bóng hình đang lùi xa, mọi thứ tối lại. Đợi đã. Có, có hai trong số các hình bóng đang tách khỏi màn sương. Hai người phụ nữ. Một trong hai đang tranh cãi. Bà… bà ta giữ người kia lại. Tôi thấy bà ấy rõ ràng. Thân thể bà ta chi chít vết thương… cổ tay. Ngón tay bà run rẩy, nó đang kết tội, chĩa về phía tôi. Không, tôi không nhìn rõ, khuôn mặt bà thật khủng khiếp.” “Đó là Eleanor,” Victor thì thào. “Vợ tôi đấy, bà ấy muốn nhắn chúng ta điều gì đó.” Mặt tái nhợt như người chết, ông nhích đến gần Alice. “Đó là Eleanor, cô Latimer, tôi chắc chắn. Tôi cũng được triệu hồi. g ợ ệ Bà ấy có chuyện muốn cho chúng ta biết. Hãy gắng lên, tôi xin cô.” Alice nhắm mắt lại. “Cô Latimer, tôi xin cô.” “Không nên gượng ép quá,” Patrick nói. “Điều đó có thể gây nguy hiểm cho…” Bỗng nhiên tiếng nói bắt đầu một lần nữa, nhưng to hơn. “Người đàn bà đã biến mất, nhưng người đồng hành còn ở lại… Vẻ do dự, dường như không biết đi hướng nào. Bà… bà ấy muốn tìm một người đối thoại. Không, không phải. Bà ấy muốn nói chuyện với một người cụ thế. Ai đó… ai đó ở ngay đây. Một người cao lớn, khỏe mạnh, đã từng đi bộ một chặng đường cùng bà ấy.” Mọi con mắt đều đổ dồn về phía Arthur đang ngồi sững sờ. “Bà muốn nói chuyện với ông. Một mình.” Im lặng. “Chắc chắn là ông rồi, ông White,” Patrick tuyên bố và trầm ngâm nhìn vợ. “Về người phụ nữ muốn nói chuyện với ông… tôi đoán chừng là vợ ông.” Một ánh chớp chói lòa rọi sáng cả căn phòng và soi tỏ vẻ ngờ vực trên khuôn mặt Arthur. Patrick đợi tia chớp chấm dứt mới tiếp tục. “Tôi không muốn làm ông quá hi vọng, ông White, nhưng có thể có cách để… đó là một thử nghiệm chúng tôi đã từng tiến hành trước đây, và tôi tin rằng linh tính của vợ tôi tối nay đặc biệt tinh tường.” Victor đưa cả hai tay ra giữ cánh tay bạn mình. “Arthur, ông phải thử!” Arthur cụp mắt xuống, tỏ ý chấp thuận. “Thử nghiệm này rất hiếm khi thành công,” Patrick Latimer nói, rút một chiếc khăn tay ra khỏi túi áo. Anh ta lau trán. “Trên thực tế, cô ấy chỉ thành công đúng một lần, việc đó xảy ra đã vài năm về trước, khi chúng tôi mới kết hôn. Ông sẽ hỏi vợ ông một câu hỏi, ông White. Một câu hỏi mà chỉ mình ông biết câu trả lời, nhưng không phải bằng lời nói. Cần viết ra giấy, đừng để ai nhìn thấy. Xong thì cho tờ giấy vào phong bì dán kín và ký tên. Hoặc nếu muốn, ông có thể sử dụng dấu sáp. Vợ tôi sẽ chạm vào tờ giấy trong vài giây và rồi… Rồi chúng ta sẽ thấy. Tôi nhắc lại, cơ hội thành công là rất nhỏ. Nhưng tốt hơn ông nên quyết định nhanh chóng, vì Alice có thể tỉnh g g q y ị g lại bất cứ lúc nào.” Arthur đột ngột đứng dậy và biến mất. Patrick giơ hai tay lên. “Quý vị thân mến, làm ơn, chúng ta cần giữ im lặng. Buột ra một từ không đúng cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.” Arthur chỉ đi trong vòng mười phút, nhưng với chúng tôi thì cứ như vô tận. “Đây”, ông nói, đưa một chiếc phong bì cho Patrick, anh ta chìa cho các vị khách khác cùng xem. Ở mặt sau, chỗ đầu nhọn của nắp phong bì có một dấu niêm phong bằng sáp, và trên mỗi cạnh đều có một chữ ký. Henry thì thầm vào tai tôi. “Cha tôi sưu tập những đồng xu cổ hiếm có, ông vừa sử dụng một đồng cho dấu niêm phong.” Patrick nghiêng người về phía vợ và đặt chiếc phong bì vào tay cô. “Em yêu, trong tay em có một thông điệp. Một lời nhắn cho người phụ nữ.” Tay Alice siết lại, sau đó buông chiếc phong bì ra. Patrick nhặt lấy nó và đặt lên bàn cà phê. “Bây giờ,” anh ta tiếp tục, tiến lại gần cửa sổ và chỉ lên trời. “Tôi nghĩ chúng ta phải đợi cho tới khi cơn bão tan đi.” Anh ta chưa nói hết câu. Một ánh chớp chói lòa với cường độ bất thường kèm theo tiếng sấm nổ đáng sợ khiến cho chúng tôi chết sững tại chỗ. Phòng khách chìm hẳn vào bóng tối. “Henry,” giọng Arthur vang lên khẩn thiết. “Chắc là do cầu chì. Con đi xem đi.” “Vâng cha, con sẽ đi nhanh nhất có thể.” “Đừng ai di chuyển,” chủ nhà nhắc. “Mọi người đừng quên rằng cô Latimer vẫn đang trong trạng thái nhập định bất cứ cú sốc nào cũng có thể làm cô ấy tổn thương nghiêm trọng.” Vài phút sau, đèn sàn bật sáng, Henry cũng xuất hiện trở lại. Mọi người đều ở nguyên vị trí cũ. “Do cầu chì thôi,” Henry thông báo. “Alice… À, cô Latimer đã nói gì chưa?” “Chưa,” Patrick Latimer trả lời, dường như đang chăm chú kiểm tra giày của mình. “Nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Hãy đợi g y g g ý g g y ợ thêm!” Victor ngắm nghía chiếc phong bì trên bàn cà phê, vẻ trầm tư, rồi quay sang người bạn của mình. “Mọi thứ vẫn còn có thể, Arthur. Đừng mất hi vọng, tôi có một linh cảm.” Một tia chớp phía xa chiếu sáng cả bầu trời, và một lần nữa căn phòng lại chìm vào bóng tối. Không gian đen đặc đến độ sờ thấy được. Henry lên tiếng đầu tiên. “Cha, để con lo. Con nhắm mắt cũng làm được.” “Mang mấy cây nến đến đây, Henry, hay tốt hơn là cả cái giá nến ở ngoài hành lang nếu con tìm thấy nó, phòng trường hợp mất điện lần nữa. Tôi e rằng những nhiễu loạn vừa rồi có thể ảnh hưởng tới cô Latimer. Anh nghĩ sao?” Patrick Latimer hắng giọng trước khi trả lời. “Tôi sợ rằng khả năng cao là thế đấy. Chắc chắn bóng tối giúp ích cho sự tập trung của cô ấy, nhưng mấy lần mất điện và sự rối loạn vừa rồi lại không tốt chút nào.” Anh ta hắng giọng lần nữa, đoạn nói to hơn. “E hèm! Chúng ta đừng tự huyễn hoặc nhé, những việc thế này rất hiếm khi thành công. Mặc dù tối nay vợ tôi nhập định tốt hơn bình thường. Nhưng vì mất điện mấy lần như vậy…” “Anh Latimer, tôi phải thú nhận rằng trong một khoảnh khắc - bất chấp thái độ hoài nghi của mình - tôi đã thấy nhen nhóm hi vọng. Nhưng hãy trung thực mà thừa nhận rằng chúng ta không thể liên hệ với thế giới bên kia. Cả cuộc đời tôi…” “Arthur!” Victor ngắt lời. “Ông không hiểu gì về chuyện này.” Đèn sáng trở lại. Alice vẫn nằm trên trường kỉ, say ngủ, một giấc ngủ sâu như thế bất khả xâm phạm. “Tôi xin lỗi, ông White, không còn hi vọng nữa,” Patrick nói, giọng đầy hối tiếc. “Bây giờ tôi phải đánh thức cô ấy dậy.” Anh ta lại gần vợ, dịu dàng vuốt ve lông mày cô và thầm thì vào tai. “Thế mà tôi đã tin,” Arthur buồn bã lắc đầu, “Cơn bão có vẻ đã rút đi rồi.” Henry trở lại, khua khua giá nến đã thắp sáng trên tay. “Được rồi! Chúng ta có thể sẵn sàng cho mọi thứ. Nhưng, Alice…” ợ g g ọ g Mọi con mắt đều chuyển sang Alice, giờ đã ra khỏi cơn mê. Cô ta lướt những ngón tay qua tóc và nói bằng giọng xúc động nghẹn ngào. “Ôi chúa ơi! Em đang ở đâu? Chuyện gì thế… Patrick!” Anh chồng siết chặt tay cô. “Không sao cả, em yêu, qua hết rồi. Em bị ngất.” Cô vùi mặt vào hai tay. “Ôi! Chúa ơi! Em đã phá hỏng một buổi tối tuyệt vời. Là tại cơn bão, đáng ra em phải biết mới phải. Patrick, vì sao anh không nhắc nhở em? Tôi rất lấy làm tiếc, ông White, tôi…” “Không phải lỗi của cô, phu nhân thân mến. Đừng xin lỗi.” “Em quên hết cả sao, em yêu?” Patrick vừa hỏi vừa đỡ vợ dậy. “Em nói gì à?” Alice thắc mắc, mắt mở to vì kinh ngạc. “Mơ hồ lắm, không có gì cụ thể cả. Em phải nghỉ ngơi thôi, ông White, ông thứ lỗi cho chúng tôi chứ? Em yêu, cẩn thận không em sẽ…” Alice đi đến cửa sổ, ngồi xuống tay vịn ghế. Thấy cô ta chao đảo, anh chồng vội vàng chạy đến, họ cùng ngã xuống chiếc ghế bành, làm vỡ luôn cả chậu cây trên bệ cửa sổ và chiếc bàn bên cạnh đó. Mọi người đồng thanh kêu lên nhưng đều ở nguyên tại chỗ, Patrick cứ nhất định chi trả cho những thiệt hại đó, nhưng Arthur tuyệt nhiên không chịu. Cuối cùng, vấn đề đã được giải quyết. Tới đây nhà White sẽ sang làm khách mời của vợ chồng Latimer. Đột nhiên, Alice nhìn chằm chằm vào chiếc phong bì. Một khoảnh khắc khó tả. Nó vẫn nằm ở chỗ cũ, trên bàn cà phê. Mọi người đều đã quên bẵng. Arthur kín đáo cầm lên, cất vào túi trong của chiếc áo khoác. Nhận thấy động tác đó, Alice nói bằng một giọng rõ ràng với ánh nhìn xa xăm trong mắt. “Có, Henry sẽ trở nên khôn ngoan và biết điều.” Câu nói treo lơ lửng giữa không khí, cùng một sự im lặng nhức nhối, khách khứa há hốc mồm. Thấy vợ lại liêu xiêu, Patrick tới gần, Alice rúc vào người anh ta, khe khẽ nói, “Anh yêu, em không biết chuyện gì đang xảy ra với em nữa, em cứ thế nói thôi.” Đột nhiên, John và Elizabeth, đều đang kín đáo quan sát ở phía sau, lao đến bên Arthur, kịp thời ngăn ông ngã xuống. Ông đã ngất ịp g g g g g g đi. Họ đặt ông xuống trường kỉ. Trong khi John vỗ vỗ mặt ông, Henry mang tới một ly rượu brandy và ông bắt đầu tỉnh lại. “Cha” con ông hỏi han. “Chuyện gì xảy ra với cha thế? Cha không nên uống nhiều champagne như vậy.” Arthur lắc đầu và thô bạo đẩy Henry ra. Những giọt mồ hôi lấm tấm anh ánh sáng trên khuôn mặt đau buồn của ông. Không nói một lời, ông thò tay vào túi trong và rút chiếc phong bì ra, kiểm tra từ mọi góc độ, thậm chí còn giơ nó lên ánh sáng. Ông vẫy tay ra hiệu cho Henry đến tự mình kiểm tra. “Arthur,” Victor run rẩy rên lên. “Ý ông không phải là…” “Phong bì vẫn được niêm kín,” Henry ngắt lời. “Con xác nhận.” Arthur đi tới bàn làm việc, lục lọi đống giấy tờ tìm dụng cụ mở thư. Trong sự im lặng chết chóc, ông đưa lưỡi dao vào, rạch phong bì ra, rút lấy một mảnh giấy gấp đôi và mở cho các vị khách cùng xem. Trên giấy, chỉ có một câu: ‘Em yêu, em có nghĩ một ngày nào đó Henry sẽ trở nên biết điều không?’ ❛ 5 ❜ Thanh âm của người chết G iờ là cuối tháng Mười, một tháng đã trôi qua kể từ khi linh hồn bà White hiện về một cách li kì vào buổi tối khác thường ấy. Cố nhiên tôi nghi ngờ rằng vợ chồng Latimer đã giở tiểu xảo đánh lừa. Vì còn cách giải thích nào khác cho trải nghiệm lạ lùng này đâu? Nhưng chúng ta hãy kiểm tra lại các sự kiện: Arthur, trong lúc không có ai nhìn thấy, đã viết lên mảnh giấy: “Em yêu, em có nghĩ một ngày nào đó Henry sẽ trở nên biết điều không?” Sau đó ông bỏ tờ giấy vào phong bì và tự mình niêm kín lại. Ngoại trừ hai lần mất điện, chiếc phong bì liên tục ở trong tầm mắt mọi người trên chiếc bàn cà phê. Và rồi… việc tưởng chừng không thế đã xảy ra, bà White trả lời chồng mình: “Có, Henry sẽ trở nên khôn ngoan và biết điều.” Không, không thể là một trò lừa đảo được. Chính Alice đã nói ra câu trả lời và là người chuyến lời nhắn từ thế giới bên kia. Hơn nữa, chiếc phong bì đã qua một số lần kiểm tra: nắp phong bì chưa bị bóc hay cắt, chữ ký và dấu niêm phong thực sự còn nguyên vẹn. Liệu có phải Alice đoán được câu hỏi của Arthur, hoặc may mắn trả lời trúng trọng tâm? Không, khả năng đó là không thể, vì đáp án quá chính xác. Và giờ thì sao? Tôi đã thầm so sánh sự kiện nhà Latimer với cơn ác mộng của Henry. Đúng vào khoảnh khắc bà mẹ qua đời, cậu ta choàng tỉnh và thấy mình bị giam hãm trong nỗi khiếp sợ khó cắt nghĩa. Chưa kể những lời cậu ta thốt ra trong cơn mê sảng điên cuồng. Tất cả vượt quá tầm lí giải của tôi. Hơn tất thảy, suốt hai hay ba tuần vừa qua, những lời đồn thổi về nhà Darnley lại bắt đầu lưu truyền khắp làng. Một số người nhìn thấy ánh sáng trên căn phòng ma ám, và có tin đồn rằng vợ chồng Latimer bị tiếng bước chân quấy nhiễu giấc ngủ. Hạnh phúc thay, đã có nhiều thứ khác chiếm lĩnh tâm trí tôi: năm đầu tiên ở đại học tại Oxford, nơi tôi hi vọng lấy được tấm bằng cử nhân. Henry bị đúp năm cuối cấp trung học. Cậu ta không thể trách ai ngoài bản thân: số buổi vắng mặt ở trường nhiều quá mức cho phép. Hơn thế, cậu ta còn đang trên đà lặp lại việc đó một lần nữa. Rõ ràng thời gian gần đây mọi chuyện với Henry diễn ra không hề suôn sẻ. Phải chăng là do cái chết của mẹ? Việc đó hiển nhiên đã ảnh hưởng rất lớn đến cậu. Là do Elizabeth? Có lẽ là không. Nhưng cậu ta tỏ ra xa cách. Chắc chắn có điều gì khác đang khiến cậu ta bận tâm. Những bất đồng với cha trở nên thường xuyên như cơm bữa. Không ai biết lí do là gì. Tin tưởng rằng chúng tôi là bạn tâm giao, cha mẹ thường xuyên gặng hỏi tôi về cậu ta vì những cuộc cãi cọ giữa cha con họ đã ầm ĩ đến mức vọng sang cả nhà tôi. Tôi cố gắng đề cập vấn đề với Henry, thậm chí cho cậu một số lời khuyên, nhưng cậu ta lảng tránh mọi câu hỏi của tôi. Nhất định Henry đang rất căng thẳng, cực kì căng thẳng. Có điều gì đó khiến cậu ta phiền muộn, nhưng là điều gì? Bứt mình ra khỏi cơn mơ màng, tôi nhìn xuống bài tập tiếng Pháp gần như phủ đây những dấu đỏ. Hơi cáu, tôi gạt đống giấy tờ đó đi và nguyền rủa ngữ pháp phức tạp của thứ tiếng này. Ánh mắt tôi tự động rời sang chiếc đồng hồ đeo tay, nó đã chỉ 8 giờ tối. Tối thứ Bảy. Fred sẽ không vui nếu chúng tôi không xuất hiện. Tôi đứng dậy và quyết định tạt qua đón Herny. Khi đến sát địa phận nhà White, tôi nghe thấy những tiếng quát tháo inh ỏi. Hai cha con Arthur đang tranh cãi kịch liệt. Tôi đứng cắm rễ một lúc, chưa biết phải làm gì thì cửa chính đột ngột bật mở, Arthur hiện ra. Ông lật tay đóng sầm cánh cửa lại sau lưng, thái độ sôi sục vì giận dữ. “Chào buổi tối, bác White,” tôi rụt rè chào. “A! James!” Ông lầm bầm, vẻ ngạc nhiên kèm theo chán nản lướt qua khuôn mặt. “Chào James, chào buổi tối! Ông đáp lại bằng giọng khàn khàn, rồi vội vã bỏ đi, về phía nhà Darnley. Nhìn theo ông, tôi ngẫm lại, thấy tháng trước gần như tối nào ông cũng sang gặp ông bạn Victor của mình. Tình bạn nảy nở đột ngột g g gặp g ạ ạ y ộ gộ quả là bất ngờ khi trước đây họ không có gì hơn là những láng giềng tốt. Ngay cả khi họ đồng cảnh ngộ, thì mối quan hệ này vẫn gây tò mò. Tôi phải nói chuyện với John mới được. Đèn phòng Henry vẫn sáng. Tôi đi dọc con đường bao quanh nhà và liếc vào trong. Henry đang giận dữ đi đi lại lại trong phòng, đầu cúi xuống, tay bắt sau lưng. Đột nhiên khựng lại vì một ý nghĩ nào đó, nếp nhăn giữa đôi lông mày thoáng cái biến mất, cậu ta mở ngăn kéo bàn, lấy ra hai quả bóng cao su. Đặt một quả cân bằng trên tay nắm của, cậu đút quả còn lại vào túi. Đang âm mưu cái quái gì ấy nhỉ? Henry đi tới một góc phòng, lấy quả bóng ra khỏi túi và tung nó lên không vài lần, rõ ràng là để tập trung tốt hơn. Rồi, với một lực tác động đột ngột, cậu ném quả bóng xuống sàn. Nó bật vào tường, vào trần nhà, rồi vào một bức tường khác và hạ cánh xuống ngay phía trên quả còn lại. Hoan hô, Henry! Quả là một kì tích. Tôi gõ vào cửa sổ cho cậu ta biết sự hiện diện của mình, rồi vỗ tay tán dương. Henry giật mình, sau đó mỉm cười. Tôi trỏ đồng hồ, ra dấu đang khát. Fred mang ra hai vại bia, và cảm thấy có nghĩa vụ phải kể một câu chuyện đùa nào đó. Tôi lịch sự cười khi chuyện kết thúc (không thấy nó buồn cười chút nào), trong khi Henry chỉ nặn được nụ cười nửa miệng. Fred chống hai tay lên hông. Tôi dừng tràng cười gượng gạo và nhìn thẳng vào mắt Henry. “Cậu có chuyện gì sao?” Không có câu trả lời. “Tại sao lại cãi vã với cha?” tôi tiếp tục, hoàn toàn ý thức được sự thiếu thận trọng của mình. Sự im lặng của cậu ta bắt đầu làm tôi khó chịu. “Vì những lần thi trượt của cậu?” “Không, ừm, có, có cả việc đó, nhưng không phải là lí do chính. Mà về tiền bạc cơ.” Một tia sáng yếu ớt ánh lên trong mắt cậu. “Tiền? Nhưng cha cậu…” Henry ngắt lời tôi, một tay che mắt và tay còn lại giơ lên. “James,” cậu ta khổ sở nói. “Cậu không hiểu được đâu, mà tôi không giải thích được. Xin cậu, đừng hỏi thêm nữa.” “Còn Elizabeth?” Những ngón tay cậu ta siết lại dưới mặt bàn, chứng tỏ câu hỏi của tôi đã trúng tim đen. “Cô ấy cho tôi ra rìa rồi,” Henry cáu kỉnh, cố kìm nén cơn giận. “Lẽ ra cô ấy không nên làm thế.” Kể từ buổi tối ồn ào mà Arthur tổ chức để chào đón vợ chồng Latimer, Henry và Elizabeth đã cố ý phớt lờ nhau. Một vài dịp, John mời em tôi đi ăn tối tại một trong những nhà hàng sang trọng nhất vùng, nhưng Henry không tỏ dấu hiệu gì là tức giận, lòng kiêu hãnh của cậu ta đã vượt qua cả sự ghen tuông. “Không, cô ấy không nên, bởi vì…” “Chào buổi tối, mọi người,” một giọng nói quen thuộc cắt ngang. “Chào John,” Henry nói, không mấy nhiệt tình. Cậu ta ra hiệu cho Fred. John ngả người xuống ghế, trông cũng không phấn khởi cho lắm. “Một ngày vất vả,” Henry vừa nói vừa xem xét mấy cái móng tay. “Ngày vất vả, nhưng tối còn mệt hơn. Ý tôi là tối hôm qua.” John bồn chồn lùa tay lên mái tóc đỏ, nhắm mắt lại. Chắc hẳn mặt tôi hiện rõ vẻ ngơ ngác. “Chưa ai kể với cậu sao?” John kinh ngạc hỏi. Im lặng. “Thật lòng, tôi chẳng hiểu gì cả,” cậu ta tiếp tục. “Các chàng trai, bia của các cậu sẵn sàng rồi đây,” Fred gọi lớn. Nhìn vào mặt chúng tôi, thái độ vui vẻ tan biến, ông thở dài và lắc đầu bỏ cuộc. “John,” tôi nói. “Hãy làm việc này vì tôi.” “Việc gì?” “Nếu cậu có việc quan trọng muốn nói, cứ nói thẳng ra. Không ám chỉ, không bóng gió, không lấp lửng.” John không nghe và tiếp tục nhìn chằm chằm vào chiếc cốc đang nắm trong tay. Sau đó, không mời chúng tôi, cậu rút một điếu thuốc ra khỏi bao và châm lửa. “Các cậu biết là chúng ta vẫn thường xuyên nói về cái gọi là những tiếng bước chân,” John bắt đầu. “Tôi chưa bao giờ tin. Nhưng g g g g vài ngày trước, tôi phải thừa nhận là đã nghe thấy cái gì đó. Tôi nhớ những người thuê nhà trước kia từng than phiền vì bị quấy nhiễu giấc ngủ, và tôi đã suy nghĩ. Nhưng không được lâu, nói thật là thế, bởi đáp án cho bí ẩn này có vẻ khá hiển nhiên. Là cha tôi chứ nào ai khác, với lí do riêng, đã đi lên tầng áp mái. Chắc hẳn ông hi vọng được gặp lại mẹ tôi, nhưng lí do không quan trọng, quan trọng là hành động ấy giải thích được ánh sáng kì lạ mà mọi người quả quyết đã nhìn thấy, chỉ hiềm nó hơi quá nhạy cảm, không nên đem ra thảo luận với cha. Tôi vẫn nghĩ thế đấy… Nhưng dù nghĩ thế nào, cha tôi cũng không thể ở hai nơi cùng một lúc được.” Tôi rùng mình. Henry dửng dưng ngồi đó, khuôn mặt vô cảm. “Bấy giờ đã gần 9 giờ,” John tiếp tục, vẻ lơ đãng. “Chúng tôi đang uống cà phê với vợ chồng nhà Latimer trong phòng khách, ngay dưới căn áp mái. Bác White không kể với cậu sao?” Cậu ta đột nhiên quay sang hỏi Henry. “Không nhiều lắm,” Henry trả lời, vẻ không thoải mái. “Sáng hôm sau cha nói với tôi về một sự việc bất thường, và rằng nó chứng minh một điều gì đó. Nhưng chúng tôi không đi sâu vào chủ đề ấy.” John ngạc nhiên, trầm tư nhìn Henry giây lát rồi tiếp. “Chúng tôi đang uống cà phê, như tôi đã nói: vợ chồng Latimer, bác White, cha tôi và tôi. Chúng tôi đang nói về chính những tiếng động ấy thì bất chợt nghe thấy chúng, ai đó đang đi lại ngay trên đầu chúng tôi. Đi qua và đi lại, thỉnh thoảng dừng trong chốc lát. Những bước chân kìm nén, do dự, và không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, chắc chắn có kẻ đang di chuyển ở căn phòng phía trên. “Cha tôi bằng xương bằng thịt thì ngồi ngay cạnh tôi. Giả thuyết trước kia tan thành từng mảnh. Nỗi sợ hãi dâng lên khắp phòng. Cha thu mình lại trên ghế, tái nhợt vì run rẩy. Alice tìm sự che chở trong vòng tay của chồng. Cốc cà phê của bác White vỡ tan trên sàn trong khi chiếc quai vẫn kẹp giữa hai ngón tay bác. Về phần mình, tôi cố giữ tỉnh táo. “Tôi chạy ra hành lang và hộc tốc leo lên cầu thang, gây ít tiếng động nhất có thể vì không muốn đánh động cái kẻ xâm nhập đang lấy nỗi sợ hãi của chúng tôi ra mua vui. Lên đến tầng thượng, tôi vẫn nghe thấy tiếng bước chân, nhưng dù một lúc thôi, rồi chẳng còn gì g y g g ộ g g nữa. Tuy vậy, tôi đã khoanh vùng được khu vực: tiếng bước chân bắt nguồn từ mé trái cầu thang của căn áp mái. “Để tôi giải thích cho cậu cấu trúc chỗ này. Lên đến đâu cầu thang chỉ có hai khả năng: một là cậu mở cánh cửa bên phải dẫn ra gác xép, hai là mở cánh cửa bên trái dẫn ra phần áp mái đã cải tạo, gồm bốn căn phòng và một hành lang chạy dọc chúng, kết thúc ở một bức tường. Tường phủ rèm dày chạm sàn che đi một cái tủ sách chất đầy tạp chí, niên giám và báo cũ. Không có cửa sổ trong hành lang, trên thực tế là không có gì ngoài bốn cảnh cửa thẳng hàng dọc theo mé bên phải. Những cánh cửa này, cũng giống tường và trần, được làm từ những tấm ván bằng gỗ sồi rất cũ và tối màu. “Không có điện trên tầng thượng của ngôi nhà, nên cậu có thể tưởng tượng được trên đó tối đến thế nào. Tôi không định mắc sai lầm bằng việc tìm kiếm xung quanh hành lang đó một mình, nên chỉ dán tai vào cánh cửa trong khi chờ đợi những người khác. Họ mang đèn pin lên. Patrick và cha tôi trông cửa, bác White đợi ngoài hành lang, còn Alice và tôi khám xét bốn căn phòng. Công việc khá dễ dàng vì ba căn phòng cuối để trống. Căn phòng thứ nhất có vài món đồ nội thất, nhưng cũng chỉ thế thôi. Không có ai. Không có người nào ở bất cứ đâu. Mỗi phòng có một cửa sổ, đều khóa. Tôi xem cả đằng sau tấm rèm cuối hành lang, nhưng cũng không có gì ngoài đống báo cũ.” John lắc đầu với một tiếng thở dài. “Tôi không hiểu thế là thế nào nữa.” N hà Darnley bị ma ám. ❛ 6 ❜ Vụ hành hung tàn bạo Đó là quan điểm của đa số dân làng. Câu chuyện lan tới thủ đô, một nhà báo từ Luân Đôn đã đến để điều tra viết bài. Vợ chồng Latimer thường xuyên có khách vào buổi tối, ngoài Arthur chắc chắn luôn sang thì còn những người khác nữa, chủ yếu là đứng tuổi và khá giả, những người bị kích thích bởi các hiện tượng huyền bí “Hồn ma” tái xuất hiện hai lần. Victor tin chắc đó chính là bà vợ về thăm ông. John đã thôi quan tâm đến vấn đề ấy mà hoàn toàn chìm đắm vào công cuộc chinh phục Elizabeth. Ngay cả khi Elizabeth không còn coi tôi là đối tượng giãi bày tâm sự, tôi vẫn thấy rõ em không hề thờ ơ trước sự ân cần của John. Về phần Henry, biết phải nói gì nữa đây? Thất thường và dễ nổi nóng hơn bao giờ hết cùng diện mạo của một con thú bị săn lùng, tương phản sâu sắc với cách cư xử bộc trực, cởi mở và phong thái tự tin trước đây. Mối quan hệ của cậu ta với cha đã bị biến chất. Những cuộc va chạm dữ dội ngày một nhiều giữa họ khiến tôi lo lắng. Vào một buổi tối, tôi đã phải can thiệp khi họ trở nên quá hung bạo, gần như dẫn đến xô xát. Sự căng thẳng ngày càng gia tăng. Tôi đang chuẩn bị bắt tay vào giải một bài toán hóc búa thì Elizabeth bước vào phòng. “Cha đang giận sôi cả lên,” em nói. “Tốt hơn hết là anh nên ra uống với cha một ly cho ông nguôi giận.” “Mẹ lại không cho cha làm gì à?” “Đi xem bóng đá ngày mai. Hình như là một trận đấu rất quan trọng, nhưng không may mẹ lại sắp lịch hẹn là hai người sẽ cùng uống trà với ai đó.” “Sao em không tự đi mà an ủi người cha thân yêu của em, em gái yêu quý?” “Em?” Em ấp úng, mặt đỏ như tôm luộc. “Vì em…” “Đừng lo, anh hiểu. John chuẩn bị đến đón em, và em chỉ còn thời gian để sửa soạn. Biến đi! Xéo ngay!” “Đồ lỗ mãng!” Elizabeth hét lên, đóng sầm cửa lại. Đáp án cho bài toán của tôi đã bay biến theo cô em gái. Tôi rời phòng mình và thấy cha trong phòng khách. “James, con trai yêu quý!” Cha càu nhàu khi tôi đi vào, trông đã gần như bình tĩnh trở lại mặc dù hai tay vẫn còn run rẩy. “Hôm nay là thứ Bảy cuối cùng của tháng Mười Một, hãy uống vì ngày đặc biệt này. Và không phải uống trà đâu nhé! Ha!” “Lời biện hộ của cha hơi đuối lí đấy,” tôi nói có phần châm chọc. Không vấn đề gì. Rượu phải được uống khi, ờ, khi đồng nho, ừm…” Cha cố kiếm một câu danh ngôn cho phù hợp nhưng vô ích. “Hay gì cũng được.” Với một tia hi vọng trong mắt, cha rót đầy hai ly brandy và chúng tôi cùng chạm ly. “Đó. Như vậy sẽ tốt hơn,” cha thở dài, ngồi sâu vào ghế bành, bắt tréo chân và nhìn chằm chằm lên trần nhà “Đàn bà không có não,” cha tuyên bố hùng hồn. “Họ lý sự bằng bộ lòng.” “Cha,” tôi đáp lại, cố làm ra vẻ sửng sốt. “Nếu mẹ mà nghe được…” “Bà ấy nghe được hay không cha cũng không quan tâm. Câu ấy đúng với cả bà ấy nữa đấy,” cha làu bàu. “Thực chất là đúng với bà ấy nhất.” Cửa mở, và mẹ xuất hiện. Cha đóng băng tại chỗ. “Edward,” mẹ nói với giọng đanh thép. “Em đã là bộ com lê xám của anh để sẵn sàng cho ngày mai rồi. Anh nhớ cẩn thận nhé. Chà, hay lắm, ông dám chuốc rượu whisky cho con trai ông!” “Là brandy, em yêu. Brandy của Pháp. Một trong những loại ngon nhất.” Cánh cửa đóng sầm lại. g ạ Cha nhăn mặt, nhưng kiên trì theo đuổi đề tài dang dở. “Như cha đã nói, đàn bà họ lí luận bằng… Thực ra chả có lí lẽ gì hết. Bằng chứng là họ không biết cái gì quan trọng và cái gì không. Lấy một ví dụ bất kì nhé: ngày mai có một trận đấu mà Billy Speed sẽ chơi. Theo quan điểm của cha, anh ta là tiền vệ cánh phải giỏi nhất nước: một chân sút cừ khôi với khả năng làm chủ tốc độ tuyệt vời và nắm bắt trận đấu xuất sắc. Nói ngắn gọn, đây là trận đấu không thể bỏ qua, ngay cả đối với những người không theo dõi giải đấu.” Ông ngừng trong chốc lát. “Đoán xem mẹ con đã đưa ra quyết định gì, lạy Chúa lòng lành. Đi uống trà ở nhà Wilson. Con có tin được không? Ngay trong lúc Billy Speed chỉ đá cách đấy có một dặm. Không thể tin nổi. Bà ấy chưa bao giờ làm cha hết ngạc nhiên. Hừm! Đó không phải vấn đề chính. Mà thực ra cha muốn nói về sự ngu ngốc của mẹ… Ý cha là của đàn bà nói chung.” Cha đưa thêm một vài ví dụ làm luận chứng, tập trung vào phân tích sự ngu ngốc của phụ nữ từ thuở bình minh của lịch sử cho tới ngày nay, thậm chí đến mức tưởng tượng về một thế giới không có họ. Đương nhiên, cha không thực sự tin một lời nào trong mớ diễn thuyết vừa rồi, đó chỉ là cách để ông bình tĩnh lại. Tôi kiên nhẫn lắng nghe mà không hề ngắt lời ông. Khi tôi nói phải trở về phòng, thì đã gần nửa đêm. “Con có một bài toán phải hoàn thành, cha ạ.” Cha đứng dậy vươn vai. “Tốt lắm. Đã hết hơi còn không ngơi việc. Cha nghĩ cha sẽ ra ngoài hít thở khí trời. Dù là rượu brandy hảo hạng nhưng cha cần tỉnh táo.” Ông mặc áo khoác, đội mũ, châm một điếu thuốc và rời khỏi phòng. Tôi tự nhủ bài tập để sau và rót cho mình những giọt brandy cuối cùng. Cầm chiếc ly trong tay, tôi thả bộ về phía lò sưởi, vừa sưởi ấm mình bằng sự ấm áp dịu dàng của ngọn lửa và rượu brandy, vừa ngắm nhìn ngọn lửa nhảy múa. Tôi nghe thấy ai đó đi vào phòng. “James,” giọng mẹ vọng ra. “Con nên biết phải trái một chút. Cái g ọ g ẹ ọ g p ộ người bắt con uống rượu đâu rồi?” “Cha đang ra ngoài hít khí trời. Cha bảo trong này ngột ngạt quá.” “Hít khí trời! Trong không khí đầy sương mù và rét mướt này á? Gần đến tháng Mười hai rồi vậy mà ông tướng quyết định nửa đêm ra ngoài hít khí trời!” Giọng bà dịu xuống. “James?” “Dạ?” “Mẹ hi vọng sau này lớn lên con không giống cha con, nhất là sau khi kết hôn.” Như vậy thì hơi quá. Mẹ đã kết hôn với người đàn ông lịch thiệp nhất, thế mà vẫn luôn than phiền về tính cách của ông. “Thật lòng mà nói, mẹ à, con nghĩ mẹ đang phóng đại quá mức.” Chúng tôi nghe thấy tiếng mở cửa chính. “A, Elizabeth!” Mẹ nói. “Lạ thật, mẹ không nghe thấy tiếng xe của John.” Cha lao vào phòng. Áo khoác và hai tay dính đầy bùn đất . Máu từ mặt chảy xuống. Cha lảo đảo đi về phía chúng tôi. “Edward!” Mẹ kêu lên. Tay anh có máu! Anh bị ngã à? Anh yêu, có chuyện gì…?” Cha ngắt lời, “Anh nghĩ Arthur chết rồi, nhưng anh không chắc. Mau gọi bác sĩ.” ❛ 7 ❜ Ở hai nơi cùng một lúc T hật kì lạ, vụ Arthur bị hành hung tàn bạo trùng hợp với sự biến mất của Henry. Người ta suy đoán sự việc bắt nguồn từ một trong những cuộc cãi vã kịch liệt giữa họ, Henry - trong cơn thịnh nộ điên cuồng vượt khỏi kiểm soát và không ý thức được sức mạnh của mình - đã tấn công cha cậu ta. Và rồi kinh hoàng trước những gì mình đã làm, cậu ta chạy trốn. Đúng đêm hôm ấy số phận xui khiến cha tôi vào rừng đi dạo, qua con đường mòn ngăn cách giữa nhà Darnley và nhà White. Cha vấp phải thân thể Arthur, thật may mắn, vì nếu chỉ dựa vào ánh đèn yếu ớt, cha sẽ không bao giờ nhìn thấy gì ở vị trí đó. Không còn nghi ngờ gì nữa, kẻ tấn công đã muốn giết chết Arthur. Bằng chứng là hai vết nứt trên hộp sọ ông. Hiển nhiên một cuộc điều tra đã được tiến hành, nhưng không thu về kết quả gì đáng chú ý ngoài việc nhận dạng vũ khí gây án là một thanh sắt han gỉ rơi gần chỗ nạn nhân và khẳng định sự biến mất của Henry. Một tuần trôi qua, hiện tại Arthur đã có hi vọng được cứu sống. Cảnh sát kiên nhẫn đợi lời khai của ông, nhưng người bạn của chúng tôi vẫn chưa nói được. Henry vẫn đang tự do bên ngoài, khi… Tôi đã quyết định và chuẩn bị gọi cho cảnh sát. Tôi phải báo cáo những điều trông thấy vài tiếng trước dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa. Viên thanh tra phụ trách đã để lại số điện thoại, phòng trường hợp có tiến triển mới. Tôi quay số và chờ đợi. “Tôi muốn nói chuyện với thanh tra Drew,” tôi nói với giọng quả quyết. “Ai gọi thế?” gọ “James Steven. Tôi là hàng xóm của ông White và có việc quan trọng cần báo.” “Việc quan trọng? Sao ai cũng nhằm lúc này để gọi! Anh có thể tìm thấy ông ấy ở ngay nhà Latimer hàng xóm. Họ cũng có việc quan trọng cần báo, như tất cả những người khác. Ông ấy hẳn vẫn còn ở đó.” Năm phút sau, tôi đã đi tới ngưỡng cửa nhà Darnley. “James,” John vẫy tay gọi tôi vào. “Đã phát hiện ra Henry. Thanh tra đang ở phòng khách trên tầng với vợ chồng Latimer.” Tôi im lặng theo John lên gác. Patrick và thanh tra Drew đang thảo luận sôi nổi và gần như không nhận thấy tôi bước vào. Victor, đang ngồi thu lu trên ghế bành, yên lặng gật đầu với tôi. Alice hấp tấp tiến đến. “Chào buổi tối, James, cậu đã nghe tin chưa? Tôi chắc rằng John đã nói với cậu. Lại đây ngồi đi’’. Tôi vẫn bị cấm khẩu trước sự hiện diện của người phụ nữ này, chắc hẳn tôi không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng bởi nhục cảm ngầm tỏa ra nơi cô. Cô ta bộc lộ nó trong mọi cử chỉ, trong giọng nói nhẹ nhàng như mây khói và trong đôi mắt vừa băng giá lại vừa cháy âm ỉ. Tuy vậy cô ta dường như không ý thức được ảnh hưởng bản thân gây ra cho tôi, cứ thế nắm cánh tay tôi mà kéo ngồi xuống cạnh Patrick. Cô ta vừa mở lời thì hai người đàn ông dừng lại. “Ông thanh tra, xin được giới thiệu với ông cậu James Steven, một người bạn của Henry.” “Chào buổi tối, anh bạn trẻ. Tôi tin là chúng tôi đã gặp nhau ở buổi thẩm vấn rồi, cô Latimer.” “Vâng, đúng rồi nhỉ, tôi nghĩ gì thế không biết?” “Em pha cho bọn anh chút cà phê được không, Alice?” Patrick nói. Mặc dù trông điệu bộ anh ta khá thoải mái, nhưng tôi vẫn cảm thấy người đàn ông tóc vàng đẹp trai này có vẻ bất an. Mọi thứ ở anh ta quá hoàn hảo, từ đôi mắt xanh thẳm, vóc dáng, đến lối cư xử, phong cách lịch thiệp và khiếu ăn nói. Tôi luôn quên mất anh ta là nhân viên bán bảo hiểm, một nghề đòi hỏi sự khôn khéo đáng kể. Thật lòng mà nói, tôi nghĩ mình hơi ghen tị với anh ta vì có một người vợ đẹp như vậy. “Anh Latimer,” ông thanh tra tiếp tục. “Để tôi lặp lại lời khai của g p ụ ặp ạ anh một lần nữa. Sáng nay, anh đưa vợ đến Luân Đôn mua sắm. Tầm trưa, anh đi cùng cô ấy đến ga Paddington. Vì còn phải ghé thăm vài khách hàng nữa, nên anh có ý định sẽ trở lại sau đó. Cả hai người đứng ở sân ga, bấy giờ chính xác là 12 giờ 30 phút chiều, và đúng vào thời điểm đó các vị nhìn thấy cậu ta.” “Phải,” Patrick nói bằng giọng nghiêm nghị. “Trông như đang bị săn đuổi và tỏ ra cực kì lo lắng. Cậu ta cố tránh bị phát hiện nhưng đó chính là cậu ta, không thể sai được. Tôi chắc chắn.” “Tôi có thể hỏi các vị đang nói đến ai không?” tôi do dự hỏi. “Chúng tôi đang nói về bạn cậu, chàng trai trẻ ạ. Người bạn đã mất tích một tuần trước của cậu: Henry White.” “Nhưng điều đó là không thể,” tôi kêu lên. “Đúng vào thời điểm ấy tôi nhìn thấy Henry tại ga Oxford. Đây chính là lí do khiến tôi tới để nói với ông!” Mọi người đồng loạt há hốc mồm, tôi tiếp tục. “Chính xác là lúc 12 giờ 30 phút chiều. Tôi có thể thề. Râu ria vài ngày chưa cạo, dáng đi kì quặc, vẻ mặt thống khổ, chắc chắn là Henry White. Khi trông thấy tôi, cậu ta có vẻ muốn chạy trốn, nhưng lại thay đổi quyết định và tới nói vài lời với tôi. ‘Con người quá tàn nhẫn, tôi đi đây’ cậu ấy nói rồi bỏ đi.” Thanh tra Drew dụi điếu thuốc vừa châm và ngồi yên lặng, ông nhìn từng người một, sau cùng tuyên bố. “Phải có ai đó nhầm lẫn.” Patrick lộ vẻ trầm ngâm. “Tôi có thể thỉnh thoảng nghe nhầm, nhưng mắt tôi chưa bao giờ nhìn lầm.” “James,” Alice chen vào. “Chắc là cậu nhầm rồi. Henry ở Luân Đôn vào lúc 12 giờ 30 phút. Mặt mũi méo mó đi vì sợ hãi, nhưng đó chính là Henry, không thể lầm lẫn được.” Tôi lắc đầu. “Xin lỗi phải phủ nhận lời của chị, Alice, nhưng tôi biết bạn mình từ thời thơ ấu. Chính mắt tôi nhìn thấy cậu ấy ở ga Oxford vào đúng thời điểm đó.” Cuộc tranh luận chẳng đi đến đâu. Ông thanh tra ngắt lời chúng tôi. “Đủ rồi. Đầu tiên là cậu trai biến mất, và giờ chúng ta có hai ậ g g Henry trong tầm mắt nhưng lại không phải trong tầm tay. Nhân đây cũng may cho cậu ta, vì không thì cậu ta nhất định đã bị bắt giữ vì tội mưu toan sát hại cha mình, theo như những gì chúng ta thấy ở thời điểm này.” Tiếng điện thoại đột ngột reo vang khắp phòng. Alice nhấc máy. “Là gặp ông, ông thanh tra.” “Gì nữa đây?” Drew cằn nhằn vào ống nói. ông ngắt máy sau vài phút, phiền não ra mặt. Ông hầu như không lên tiếng trong suốt cuộc gọi. “Ông White đã tỉnh lại và người của tôi đã lấy lời khai của ông ta.” Ông đặt một điếu thuốc lên môi mà không châm lửa. “Tình tiết đã trở nên phức tạp,” ông tiếp tục. “Theo lời ông White, khoảng 12 giờ kém 15 phút, ông ta ra khỏi nhà để đi dạo. Đang đứng trước cửa thì phát hiện một bóng đen di chuyển về phía khu rừng. Các vị có thể bảo rằng chẳng có gì bất thường ở đây, ngoại trừ việc bóng đen đang vác theo một cơ thể trên vai. Ông White can đảm bám theo, nhưng bóng đen tan biến vào màn sương. Ông ta không nhớ gì sau đó nữa. Không nhận diện được bóng đen hay cơ thể hắn vác theo, dĩ nhiên cả kẻ đã hành hung ông ta.” Phần Hai ❛ 1 ❜ Thử nghiệm nguy hiểm B a năm trôi qua kể từ khi Henry mất tích. Chắc cậu đã bắt đầu một cuộc sống mới ở Mỹ. Tôi dễ dàng tưởng tượng ra cảnh Henry làm một diễn viên nhào lộn. Mà cũng có thể cậu ta đã chết. Thanh tra Drew nghĩ đến khả năng này sau khi nghe lời khai của Arthur White. ông cho rằng cơ thể mà “bóng đen” mang theo là Henry. Cảnh sát đã rà soát kĩ lưỡng khắp khu rừng nhưng không thu được kết quả gì. Vì vậy, thoạt nhìn, suy luận của ông thanh tra nghe có vẻ nực cười. Xét cho cùng, chẳng phải chúng tôi đã trông thấy Henry một tuần sau khi mưu hại cha cậu ta ở hai nơi khác nhau vào cùng một thời điểm sao? Tuy nhiên đối với tôi, khả năng Henry biết phân thân cũng khó tin như chuyện hồn ma vậy. Năm ngoái, John đã khởi nghiệp kinh doanh riêng và mở một ga ra trong làng. Đó là một việc mạo hiểm, nhưng John tỏ ra là người không ngại mạo hiểm khi quyết định lấy em gái tôi vào cùng năm đó… Cha cậu ta vẫn cho vợ chồng Latimer thuê nhà, và hiện tại họ vẫn có vẻ thoải mái. Alice yêu kiều chắc chắn đã tận dụng lợi thế của một nhà ngoại cảm nên danh tiếng giờ đây lan xa khỏi phạm vi hạt. Về phần Arthur, ông có vẻ đã hồi phục sau cái chết của vợ và vụ mất tích của con trai . Ông miệt mài viết lách gần như cả ngày, buổi tối thì thường xuyên sang thăm Victor và nhà Latimer. Hiện tại ông đang bận viết một quyển sách dưới dạng tiểu thuyết, nhưng thực ra là một nghiên cứu về tâm linh mà ông định đặt tên là: Đất nước sương mù. Theo quan điểm của tôi, đó không phải là một nhan đề tinh tế cho lắm. Nếu là tôi, tôi sẽ chọn Lãnh địa mù sa hay đại loại thế. Tôi góp ý, và ông bảo sẽ suy nghĩ về vấn đề đó. Tóm lại, mọi chuyện trong làng đều diễn ra suôn sẻ, những sự kiện kỳ lạ xảy ra 3 năm trước có vẻ đang chìm dần vào quên lãng. Nhưng những sự kiện có có thực sự kỳ lạ hay không? Tôi nghĩ phần nào có thể giải thích được dễ dàng. Đơn cử như cái chết của bà Darnley: một phụ nữ đột nhiên lên cơn điên loạn. Trường hợp này rất hiếm, nhưng chỉ cần đọc báo sẽ vỡ lẽ nó xảy ra thường xuyên hơn ta tưởng. Còn những tiếng bước chân? Đó chỉ đơn giản là một kẻ lang quyết định lấy tầng áp mái nhà Darnley làm chỗ ở. John xác nhận rằng có người đi lại trên ấy nhưng không tìm thấy ai cả Hãy thử suy nghĩ một cách khách quan. John không thể xác định chính xác nguồn gốc phát ra âm thanh, vì vậy hoàn toàn có khả năng kẻ lang thang thực ra sống bên mé gác xép nơi tình cờ chưa bao giờ được tìm kiếm kỹ lưỡng, Còn việc nhìn thấy Henry ở Oxford và Luân Đôn cùng một lúc? Việc đó hoàn toàn đơn giản và minh bạch, có thể nhân chứng đã nhầm lẫn về thời gian hoặc nhân dạng. Suy luận không khó chút nào. Còn những hiện tượng chưa giải thích được? Như bà White trả lời câu hỏi của chồng từ thế giới bên kia? Tại sao ta không nhìn vào sự thật hiển nhiên, hay nói cách khác là Alice và ông White đã thông đồng với nhau. Với mục đích gì? Nổi tiếng, không sai. Xin đừng quên ông ta là nhà văn còn cô ta là nhà ngoại cảm. Cho đến nay cách giải thích như vậy là tương đối thỏa đáng. Tuy vậy, những sự kiện sắp phơi bày tới đây hoàn toàn vượt ra ngoài trải nghiệm bình thường của con người và không thể tìm ra bất kì một lời giải thích có lí nào. “James ạ, việc bác muốn nhờ cháu giúp đỡ sẽ không đòi hỏi quá nhiều công sức của cháu đâu. Chỉ cần sự hiện diện của cháu là đủ vinh dự cho chúng ta rồi. Chúng ta cần một chàng trai trẻ, tốt bụng và đầy năng lực như cháu.” Vài giờ trước, Arthur đề nghị tôi tới gặp trực tiếp vì ông không muốn tiết lộ lí do qua điện thoại. Bởi thế tôi đang đứng trước mặt ông, trong phòng khách, vào một buổi chiều tháng Mười một năm 1951. Ông đi đi lại lại, cái tẩu ngậm chặt bên khóe miệng. “Cháu chắc là bác quá khen rồi,” tôi hắng giọng. “Vì John cũng có những tố chất cần thiết ấy.” “Victor đã đề nghị cậu ta tham gia,” Arthur trả lời cộc cằn. “Nhưng John đang bù đầu bù cổ với công việc. Vì thế tối nay sẽ có năm người chúng ta: cháu, Victor, vợ chồng Latimer, và bác.” “Bác White, giá mà bác có thể nói với cháu mọi chuyện để cháu nắm bắt tình hình tốt hơn.” Arthur dừng lại trước cửa hông, ngắm nhìn những cánh đồng hoang chìm dưới màn sương. Đây đó thấp thoáng những thân cây khẳng khiu trơ trụi. Mất một lúc, Arthur mới trả lời. “Đêm qua, Alice bị nhập. Tức là cô ấy lại rơi vào trạng thái nhập định, nhưng khác với bình thường, lần này kéo dài gần suốt đêm. Cô ấy có nói gì đó nhưng không may Patrick không thể nắm bắt được toàn bộ. Theo những gì anh ta tập hợp được, thì linh hồn sẽ hiện về, tựu hình trong căn phòng ma ám.” Arthur dừng lại để nhồi cái tẩu, châm lửa và rít vài hơi rồi tiếp tục, mắt nhìn xuống sàn nhà. “Một mặt, những hiện tượng này hiếm khi xảy ra; mặt khác, linh hồn sẽ hiện hình dưới dạng các vật thể thông dụng. Vậy nên chúng thường không nguy hiểm. Thường thì thế, những trường hợp này hoàn toàn vì bị ám bởi một oan hồn đặc biệt. Trong những cảnh mộng của mình, Alice thường xuyên nhìn thấy một người đàn bà bị thương đầy mình, máu chảy tràn ra khỏi những vết rạch nơi cổ tay. Khỏi phải nói, giống hệt tình trạng của bà Darnley tội nghiệp khi được phát hiện. Nhưng đó chưa phải tất cả. Người đàn bà này chất chứa một cơn giận dữ khủng khiếp. Đôi mắt ngập đầy những tia uất hận đòi trả thù, vì tay trỏ ra, kết tội một kẻ thù vô hình nào đó.” Arthur nhắm mắt lại để tập trung tốt hơn, và tiếp, “Một oan hồn đã đeo bám ngôi nhà, một linh hồn chắc chắn không siêu thoát cho đến khi công lí được thực thi. Không còn cách giải thích nào khác cho những tiếng động bí ẩn đó.” Arthur lén lút nhìn quanh, rồi lại gần tôi và hạ giọng, “Bác cháu mình biết với nhau thôi nhé, James?” Tôi gật đầu đồng ý. gậ g ý “Patrick đồ rằng bà Darnley chết không phải do tự tử” Tôi rùng mình khi nghĩ tới những hệ lụy tiếp theo của khả năng này. “Theo anh ta, bà ấy bị sát hại.” “Nhưng điều đó thật vô lý” Tôi kêu lên. “Có lẽ là vô lí, như cháu nói. Nhưng thử tưởng tượng một tên sát nhân đủ thông minh để nghĩ ra cách chốt cửa từ bên trong. Mọi điểm liên quan đến cái chết của bà Darnley đều chỉ ra một vụ giết người, nhưng cánh cửa chốt trong lại phá hủy giả thuyết đó. Cánh bị chốt bên trong! Nhưng nếu có kẻ khéo léo…” “Khéo léo thế nào chứ? Điều đó là không thể!” “Bác không biết. Bác từng đọc một quyển sách đề cập đến vấn đề này. Giải pháp là kẻ sát nhân luồn một vòng dây qua lỗ khóa sao cho ràng được núm chốt cửa. Mấu chốt ở chỗ phải khéo léo găm một chiếc ghim vào khung cửa dễ tạo thành ròng rọc. Đầu tiên, hắn ta giật vòng dây để chốt cánh cửa. Sau đó, buông một đầu sợi dây và kéo đầu còn lại. Đương nhiên, chiếc ghim phải được gắn vào hai dây bằng một sợi chỉ. Chỉ cần giật một cái dứt khoát là xong xuôi mọi thứ. Không một dấu vết nào sót lại ngoại trừ một lỗ bé xíu trên khung cửa.” “Thật tài tình,” tôi thán phục. “Rất tài tình. Nhưng bác cũng nghĩ tới một phương án khác, khó hơn rất nhiều. Tuy vậy, bác thấy vẫn khả thi: ném một quả bóng cao su cứng vào bên trong khi đóng cửa, và khi nó bật trở lại - sau nhát đập vào tường - sẽ va trúng cái chốt, đẩy chốt trượt vào đúng chỗ.” Giả thuyết này làm tôi lạnh hết sống lưng. Arthur nhìn tôi, cười chế giễu. “Cháu tưởng bác nghĩ đến Henry? Không, tin bác đi, con trai bác sẽ không làm tổn thương ngay cả một con ruồi. Hơn nữa, bấy giờ thằng bé mới chỉ có mười tuổi.” Ba năm trôi qua mà không có dấu hiệu nào về sự tồn tại của Henry, Arthur vẫn tin chắc cậu còn sống. Bằng mọi cách có thể, ông tránh nói về con trai, nhưng một khi nhắc đến thì ông luôn nói ở thì hiện tại, như thể Henry vẫn đang sống cùng ông dưới một mái nhà. “Tuy nhiên,” ông tiếp tục. “Bác phải thừa nhận rằng chính Henry là người đã gieo ý tưởng đó vào đầu bác với trò tung hứng của nó. g g ý g g g Cứ quan sát cách nó tiêu khiển với một trái bóng mà xem, nhờ thực hành chăm chỉ nó đã đạt được những kĩ năng cần thiết.” Một khoảng lặng. Nếu không phải đã từng tận mắt chứng kiến Henry luyện tập trò tương tự vào tối hôm ấy, hẳn tôi đã bác bỏ phương án đó ngay lập tức. Arthur cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi: “Điều bác đang muốn chỉ ra là, giả thuyết của Patrick là hoàn toàn có thể. Thậm chí chiếm một khả năng rất lớn. Phải, bà Darnley đã bị sát hại. Một vụ sát hại kinh hoàng do một tên sát nhân tàn bạo gây ra. Một tội ác không thể không bị trừng phạt khi thời khắc đền tội gần kề. Thần báo thù sẽ dang đôi cánh như chim săn mồi, sẵn sàng sà xuống thủ phạm và tóm lấy hắn bằng móng vuốt của mình.” Tôi nghe và bị mê hoặc bởi sự bay bổng trong những lời lẽ đầy chất thơ rùng rợn này. Tuy nhiên, Arthur bỏ ngang những lời điên rồ rồi nhìn thẳng vào mắt tôi và nói bằng giọng nghiêm túc đầy tính thuyết phục. “Đó là lí do khiến chúng ta sợ linh hồn hiện hình. Chúng ta e rằng khi bị ý niệm báo thù chi phối, hồn ma đó có thể tấn công bất cứ ai.” Giọng ông đanh lại. “Điều sống còn là chúng ta phải đi trước một bước.” “Đi trước một bước?” “Phải, tối nay chúng ta sẽ tác động cho linh hồn hiện hình để thương thuyết, xoa dịu nó và cùng lúc nỗ lực khai ra danh tính kẻ sát hại bà Darnley/ “Và thử nghiệm này sẽ diễn ra ở đâu ạ?” Arthur trả lời, một tia sợ hãi thoáng qua nét mặt, “Tại hiện trường vụ án, căn phòng cuối cùng trên tầng áp mái.” Điên rồi! Bọn họ điên cả rồi! Quá thất kinh, tôi không nói gì một lúc lâu, rồi đặt câu hỏi với giọng bình tĩnh nhất có thể. “Mọi người hi vọng linh hồn hiện hình, nhưng cụ thể là ở dạng nào?” “Trong hình dạng con người. Có lẽ chúng ta sẽ gặp bà Darnley tối nay. Ai mà biết dược?” Trừ khi linh hồn đó trả thù,” tôi mỉa mai. “Và mang kẻ sát nhân đến, nhưng dưới dạng tử thi” g ạ g Arthur quắc mắt. “Chúng ta hoàn toàn ý thức được tính chất nguy hiểm của thử nghiệm nay/ “Chính xác thì chuyện gì sẽ diễn ra ạ?” “Một trong số chúng ta sẽ ở lại căn phòng ma ám- Đương nhiên, căn phòng sẽ được niêm phong- Cứ mỗi nửa giờ, bác sẽ lên gõ cửa xem mọi chuyện có ổn hay không. Chúng ta cần một nhân chứng đáng tin cậy khi gỡ bỏ niêm phong để tránh hiềm nghi về bất cứ hành vi gian trá nào nếu linh hồn thực sự hiện hình bằng cách này hay cách khác.” “Ai cơ?” tôi lắp bắp. “Ý cháu ai là sao?” “Ai sẽ ở lại căn phòng ma ám ạ?” “Chúng ta từng nghĩ đến Victor, nhưng không may ông ấy lại yếu tim. Alice tình nguyện ở lại bất chấp nỗi lo sợ bản năng, nhưng Patrick nhất định không nghe. Vì thế anh ta sẽ là người ở lại căn phòng.” Tôi lắc đầu, “Nói thật, cháu không biết phải nghĩ sao nữa.” Arthur nhìn tôi rất lâu, rồi hỏi . “Chúng ta có thể trông chờ vào sự có mặt của cháu tối nay không?” Sự căng thẳng lan tỏa trong không gian. Tôi chắc chắn sẽ có điều gì đó không suôn sẻ, nhưng bất đắc dĩ, tôi gật đầu. ❛ 2 ❜ Căn phòng Ma ám T ôi đi đi lại lại trong phòng mình. Hệ thần kinh non nớt và sự chờ đợi khổ sở này khiến dạ dày tôi thắt lại, mồ hôi vã ra như tắm. Tay run run, tôi dập tắt điếu thuốc chắc phải là điếu thứ hai mươi của mình, rút một chiếc khăn tay từ túi áo ra và lau khô vầng trán ẩm ướt. James, bạn của tôi, hãy đối mặt với hiện thực: cậu đang khiếp sợ. Khuôn mặt xanh xao đang chăm chăm nhìn lại tôi từ chiếc gương tủ quần áo chỉ có tác dụng khẳng định điều đó. Tôi quay đi và xem đồng hồ đeo tay: 9 giờ. Đến lúc rồi! Tôi ra ngoài và sải những bước vững vàng về phía nhà Darnley. Màn sương đặc quánh màu vàng phủ một tấm chăn dày xuống ngôi làng, gây hạn chế tầm nhìn. Đỉnh chóp nhọn nơi đầu hồi nhà Darnley lờ mờ hiện ra đầy đe dọa khiến cho tòa nhà nom còn ma quái hơn. Để giữ vững tinh thần, tôi huýt sáo theo một giai điệu sôi nổi, nhưng hơi thiếu sức thuyết phục. Đến nơi rồi. Tôi mở cánh cổng, nó rít lên ken két phản đối. Tôi rùng mình và ngừng huýt sáo. Thôi nào, James, can đảm lên chàng trai. Môi trên của tôi cứng đờ. Chỉ vài mét nữa là đến bậc tam cấp. Đâm lao phải theo lao thôi. Tôi ấn chuông và đợi. Victor mở cửa. “Cháu là người đến cuối cũng đấy,” ông nói, bồn chồn đưa tay ra. “John ở đây ạ?” “Không, thằng bé có quá nhiều việc phải làm. Thật đáng tiếc.” Tôi liếc nhìn ông đầy thông cảm, và không thể tin vào mắt mình. Victor dường như trẻ ra. Lưng thắng, mình vận một bộ com lê thanh lịch và nhã nhặn may từ những ngày còn thành công, trông rất hài hòa với áo sơ mi cùng cà vạt. Tóc mai xám bạc, những đường nét tinh tế trên khuôn mặt đã phần nào lấy lại được sắc thái xưa kia, cộng với tác phong nghiêm trang vốn có, cả người ông toát ra một ấn tượng mạnh mẽ. Tia sáng ánh lên trong mắt phản chiếu những hi vọng ngông cuồng nơi ông. Trước mặt tôi là một người đàn ông đang yêu, và hi vọng được gặp lại người yêu sau bao nhiêu tháng ngày xa cách. Cảm thấy băn khoăn, tôi do dự hỏi, “Lát nữa cậu ấy có đến không ạ?” “Không,” ông nói. “Nó đang làm mấy việc gấp cho một khách hàng quan trọng, sẽ không xong trước nửa đêm.” Tôi không nói gì. Tôi biết khối lượng công việc khổng lồ của John, nhưng cho đến giờ cậu ta vẫn luôn cố gắng để có tối thứ Bảy rảnh rỗi. Elizabeth đứng đằng sau việc này. Em hiển nhiên đã cấm chồng mình ra ngoài. Không còn nghi ngờ gì nữa, về điểm này con bé giống hệt mẹ. Em và tôi gần như không có bất cứ điểm chung nào. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn tán đồng với những gì em nói trước khi cưới. ‘Anh tin được không, James, John muốn bọn em sống cùng cha anh ấy trong ngôi nhà đáng sợ đó! Em bảo rằng nếu thế thì em thà không cưới còn hơn.’ Ngẫm lại, đó chắc là lần duy nhất tôi có cùng quan điểm với em, không tính lựa chọn bạn đời của em. Em đã rất may mắn khi tìm được một người như John. Gara của John nằm trên đường lớn, ngay cạnh quán rượu, nơi Fred tốt bụng cho hai vợ chồng thuê một tầng. May mắn là mặc dù chỉ có hai phòng con con với một nhà tắm và bếp, ngôi nhà búp bê này có một lợi thế vô cùng đáng kể: là không bị ma ám và không có tiếng bước chân về đêm. “Vào đi, James, tới tham gia cùng mọi người.” Tôi đi theo chủ nhà, cố nén tiếng thở dài. Từ khi John chuyển đi, ngôi nhà dường như còn đáng sợ hơn. Tiền sảnh chìm trong cảnh tranh tối tranh sáng, ánh đèn lờ mờ phát ra từ đầu cầu thang không làm giảm bớt vẻ u ám. Victor bắt đầu đặt chân lên những bậc thang và tôi đi theo ông, cố ngăn khao khát được quay xuống. Patrick, một tay đặt trên bệ lò sưởi, nhẹ nhàng đẩy vợ ra. “Giờ thì chúng ta không thể quay lại được nữa.” g g q y ạ ợ “Chúng ta điên rồi mới đi làm cái thử nghiệm này, anh yêu.” Alice níu lấy cánh tay chồng. “Quá nguy hiểm.” “Tôi không cho là thế,” Victor phản đối. “Eleanor là một người có tâm hồn tốt đẹp, và nói thật là tôi không thấy có lí do gì để e sợ cả.” Với ánh mắt lo ngại, Alice đăm đăm nhìn ngọn lửa bập bùng nhưng dường như không thấy nó, cô chậm rãi nói. “Tôi thường xuyên ‘nhìn thấy’ vợ ông, Victor ạ, và xin quả quyết với ông rằng chưa bao giờ tôi thấy một vết tích nào của lòng tốt trong mắt bà ấy. Đôi mắt bà toát ra vẻ căm ghét mãnh liệt: không có tròng đen, chỉ có hố mắt sâu hoắm. Bà ấy đòi công lí, bà ấy muốn giết chóc. Bà ấy chỉ muốn lấy mạng kẻ đã sát hại bà ấy một cách tàn nhẫn… trên kia!” Cô ta trỏ lên trần nhà. “Patrick, anh yêu,” cô nói với giọng lo lắng. “Bà ấy có thể sẽ nhầm lẫn, tưởng anh là kẻ sát nhân, bà ấy có thể…” Giọng cô yếu dần. Patrick nhìn vợ mình trong chốc lát rồi sải bước ra giữa căn phòng, đứng đó, hai tay bắt ra sau lưng, nét mặt lộ rõ vẻ đăm chiêu. “Ông White,” anh quay về phía Arthur. “Ông có nghĩ đến việc mang…” “Đương nhiên,” Arthur White trả lời, rút một túi nhung nhỏ từ trong lần áo, mở ra, lấy một đồng tiền xu chìa cho mọi người xem. “Đồng tiền này khá hiếm,” ông giới thiệu với niềm kiêu hãnh của một nhà sưu tầm đang say mê môn cổ vật quý giá nhất mà mình có. “Thể theo nguyện vọng của mọi người, tôi đã chọn nó vào phút cuối ngay trước khi đến đây. Tôi có thể đảm bảo cả hạt này không còn đồng nào khác.” “Bác định dùng đồng xu này để niêm phong căn phòng?” tôi hỏi. “Chính xác,” Patrick trả lời với nụ cười trên môi. Anh ta liếc xuống đồng hồ đeo tay. “9 giờ 25 phút rồi, bắt đầu thôi. Em yêu, em mang đồ đạc lên trên đi.” Alice đăm đắm nhìn chồng rất lâu như thể muốn khắc sâu những đường nét trên khuôn mặt anh ta vào trí nhớ, rồi cầm lấy giá nến trên bàn, nhận đồng xu từ tay Arthur và rời khỏi phòng. Patrick hướng dẫn. “Tính từ lúc tôi vào căn phòng áp mái, cứ khoảng nửa giờ mọi người sẽ lên đó một lần, nhẹ nhàng gõ cửa. Tôi sẽ nói với mọi người g ộ ẹ g g ọ g linh hồn đã xuất hiện hay chưa. Đừng nôn nóng,” anh ta nói thêm với một nụ cười. “Nếu không có gì xảy ra sau ba hay bốn tiếng đồng hồ, tôi nghĩ chúng ta có thể kết thúc thử nghiệm.” “Và nếu chúng tôi không nhận được câu trả lời sau khi gõ cửa?” tôi hỏi, lo sợ trước viễn cảnh đó. “Thì tức là…” Patrick nói với vẻ mặt chua chát, “…Alice đã đúng. Linh hồn nọ đã tước đi tính mạng bé nhỏ của tôi.” “Không đời nào,” Victor thở dài, bắt đầu tỏ thái độ nôn nóng, “Eleanor rất dịu dàng, bà ấy gần như không thể làm hại ai cả.” Sự thinh lặng nặng nề treo lơ lửng trong căn phòng. Patrick bắt đầu mất tự chủ, vừa đi đi lại lại quanh phòng vừa lẩm bẩm. “Alice đang làm cái quái gì thế? Chúa ơi! Cô ấy đã lên được hơn năm phút rồi đấy.” Cửa mở. Alice xuất hiện, mặt tái nhợt. “Hoàn hảo. Mọi người có thể lên,” Patrick ra lệnh, đưa tay vuốt mái tóc vàng. “Tôi sẽ nhập hội với các vị trong năm phút nữa. Tôi cần phải lấy áo khoác, trên đó sẽ rất lạnh. Alice, em để nó ở đâu?” “Anh yêu, anh không nhớ sao? Anh tự treo nó lên cái mắc ở sảnh dưới nhà mà.” Alice đứng im như tượng, vẫn với vẻ mặt lạ kì. Một nỗi sợ hãi không diễn tả được đường như đang choán lấy cô, một nỗi sợ hãi lây lan bao trùm tất cả ngoại trừ Victor. Chúng tôi rời khỏi phòng khách trong im lặng. Patrick xuống nhà, không ngó ngàng đến ai. Anh ta đi rồi, Alice ra hiệu cho chúng tôi lên cầu thang dẫn tới tầng áp mái. Ánh đèn từ tầng dưới hắt lên gần như không đủ để chiếu sáng tầng cao nhất cho dù đây chỉ là một diện tích rất nhỏ. Trước mặt chúng tôi là một bức tường, bên phải là cửa ra gác xép, bên trái là cửa dẫn đến mấy căn phòng áp mái. “Đi thôi,” Victor thì thào, run lên vì xúc động. Alice đẩy mở cánh cửa bên trái, để lộ hành lang tăm tối với đôi chút ánh sáng leo lét ở cuối đường. Trong chốc lát, không gian chìm vào tĩnh lặng hoàn toàn, chỉ xao động rất ít do hơi thở nhiễu loạn của chúng tôi khi mải đấu tranh với sự bồn chồn và nỗi sợ hãi. Hành lang ốp ván toàn bộ tới tận tấm rèm. Phía bên trái không có gì ngoài g p ộ ậ g g g mặt tường ốp vân, và bên phải là bốn cánh cửa. Cánh cửa cuối cùng của hành lang đang để ngỏ, ánh sáng lập lòe từ trong hắt ra. Một thứ ánh sáng quyến rũ mê hoặc, lờ mờ soi rọi các tay nắm cửa bằng sứ của ba cánh cửa còn lại. Chúng tôi đều bị thôi miên trước ánh nến sinh động đang nhảy múa từ căn phòng đã chứng kiến tấn thảm kịch kinh hoàng đó. Alice đi vào hành lang trước tiên rồi đứng lại cho chúng tôi đi qua, cô phác một cử chỉ về phía nguồn sáng. Từng người một tiến tới cánh cửa cuối cùng, bước vào căn phòng ma ám. Trên sàn nhà là giá nến và một hộp các-tông nhỏ. Ngoài ra không còn gì khác. Tường trống trơn, sàn trống trơn và trần cũng chẳng có gì, dù chỉ là một cái bóng đèn. Căn phòng hoàn toàn trống rỗng. Một sàn, một trần, bốn bức tường sơn trắng, một cửa chính và một cửa số nhỏ ở phía đối diện, tất cả chỉ có thế. Victor tiến về phía cửa số rồi dừng lại ở giữa căn phòng, đầu cúi xuống. Ánh nến rọi lên những đường nét tạo bởi nỗi đau trên mặt ông. Arthur lập tức đi đến bên cạnh, quàng tay quanh vai ông bạn và thì thầm những lời an ủi. Với trái tim nặng trĩu, tôi lặng nhìn hai người đàn ông được số phận mang lại gần nhau nhờ những sự cố kinh tâm. “Đó là chỗ ông ấy tìm thấy bà Darnley,” Alice nói nhỏ vào tai tôi. Tôi bộc lộ sự khó chịu. Tôi còn biết rõ hơn cô ta. Sau đó tôi quay ra kiểm tra cánh cửa. Alice nắm lấy cánh tay tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi. Cô đóng cửa, cài chốt, rồi nói. “Chúng tôi đã kiểm tra cái khóa cực kì tỉ mỉ, và tôi không nghĩ ra bất cứ cách nào để kẻ sát nhân có thể chốt cửa từ bên ngoài.” Có tiếng cọt kẹt trên cầu thang, tiếng bước chân lan vào trong hành lang. “Patrick, cuối cùng anh ấy cũng đã tới nơi,” Alice thở ra kéo lại cái chốt. Cô mở cửa. Trong chiếc áo khoác dài màu đen với cổ áo dựng lên, Patrick yên lặng đi vào phòng. Chiếc mũ phớt chụp qua tai và kéo xuống gần hết khuôn mặt chỉ thoáng để lộ cái cằm của anh ta. Chắc chắn có điều gì đó bất thường trong cách xử sự của Patrick. Anh ta khom người, đầu rúc vào ngực, và gù xuống giống như bị thu nhỏ. g gự g g g g ị “Anh đã sẵn sàng chưa, anh yêu?” Alice nhẹ nhàng hỏi Phản ứng duy nhất của Patrick là một tiếng gầm gừ trong khi tiến lại gần cửa sổ. Môi Alice mấp máy như muốn nói thêm gì đó, nhưng không có âm thanh nào phát ra. Khuỷu tay đặt trên bệ cửa sổ, Patrick độc đoán ra dấu rằng anh ta muốn chúng tôi rời đi. Victor nắm lấy cái giá nến, nhặt hộp các-tông lên, ra hiệu cho những người còn lại đi theo ông Arthur và tôi không đợi nhắc đến lần thứ hai, nhưng Alice rời đi với nỗi hối tiếc ra mặt sau khi nấn ná thấy rõ. Tôi đặt mình vào hoàn cảnh cô ta: bỏ lại chồng mình trong căn phòng đó, lạnh giá, tối tăm. Dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào tôi cũng không bao giờ muốn đổi chỗ với Patrick Latimer. Cánh cửa đã đóng lại, Alice không kìm được, cất tiếng hỏi, “Mọi chuyện ổn chứ, anh yêu?” Một lần nữa, Patrick lại đáp bằng tiếng gầm gừ. “Được rồi,” Arthur nói, với giọng cố gắng trấn an và khẳng định. “Tất cả những gì chúng ta phải làm bây giờ là niêm phong căn phòng và chờ đợi.” Alice lắc đầu, mắt dán chặt vào cánh cửa. Bên kia tấm ván sẫm màu gắn với bức tường là người cô yêu, người có nhiệm vụ đáng sợ là phải hấp dẫn một linh hồn. Một linh hồn tàn ác. Cô thở dài thườn thượt rồi cho tay vào hộp các-tông, rút ra một sợi ruy-băng dài cỡ hai mươi xentimét. Cô đặt nó vào khe giữa khung và cánh cửa ngay phía trên tay nắm và nhờ Arthur giữ nó ở vị trí đó. Tiếp đó, cô nhấc một cây nến từ cái giá và dùng vật liệu tìm được trong thùng để tạo một dấu sáp ở mỗi đầu ruy-băng, cuối cùng ấn đồng xu trong bộ sưu tập của Arthur lên trên. Căn phòng ma ám đã được niêm phong, và giờ không ai có thể vào phòng mà không phải xé dải ruy-băng hoặc phá dấu sáp. Victor cầm giá nến, mắt nhắm lại, môi mấp máy nhẹ đến mức khó nhận thấy. Người đàn ông tội nghiệp đang cầu nguyện cho phép lạ xuất hiện. Về phần mình, tôi cũng không biết nên tin vào cái gì. Tôi chuẩn bị sẵn sàng để chấp nhận một điều phi thường có thể xảy ra, nhưng chắc chắn không phải việc ‘phục sinh’ bà Darnley. Không. Logic không cho phép điều đó xảy ra. Có điều gì đó điên rồ và hão huyền ở câu chuyện phi lí này, nhưng cũng có điều gì đó là thật, ở cuộc tìm kiếm hạnh phúc đã mất trong tuyệt vọng của Victor tội ộ ạ p g yệ ọ g ộ nghiệp. Lúc này, chúng tôi lại đi thành hàng xuống căn phòng bên dưới, giống như trong một đám tang Sự chờ đợi thật khắc khoải. Thời gian như dừng lại. Alice, với nỗi lo âu lớn dần trên khuôn mặt, đang bồn chồn cựa quậy hai bàn tay nơi tay vịn trường kỉ. Tối nay cô ta mặc áo dài đen cao cổ và quần cùng màu. Tóc gọn gàng cột hết ra đằng sau bằng một dải buộc to bản màu đen, cần cổ thanh mảnh đeo một sợi dây chuyền dày có mặt huy hiệu bạc. Bình thường cô ăn mặc phô trương, cầu kì hơn, nhưng tôi thấy bộ đồ này đặc biệt phù hợp, nhất là khi nó làm nổi bật về xanh xao trên gương mặt cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, tình huống này đã góp phần tạo nên điều đó. Chừng mười phút sau, một tiếng động khe khẽ trên cầu thang khiến chúng tôi nhảy dựng lên và nín thở. Một tiếng cọt kẹt nữa rồi lại tiếp tục im lặng. “Ông White,” Alice khẩn cầu. “Ông có nghĩ là chúng ta nên đi xem…” “Hãy đợi thêm mười phút nữa,” Arthur vừa trả lời vừa xem đồng hồ. “Từ lúc chúng ta xuống tới giờ còn chưa được mười lăm phút nữa.” “Nhân tiện,” Alice hỏi sau một chốc im lặng. “Ông đã lấy lại đồng xu chưa?” “Rồi,” Arthur vỗ vào túi áo ngực. “Tôi đã lấy lại nó ngay sau khi dùng xong.” Ông moi nó ra khỏi túi và kiểm tra dưới ánh nến. “Tôi phải công nhận đây là một mẫu vật tuyệt đẹp có niên kỉ từ thời…” “Eleanor trở lại rồi!” Victor tuyên bố, đột ngột đứng dậy. “Bà ấy ở trên đó. Trong căn phòng!” “10 giờ 10 phút,” Arthur hắng giọng. “Tôi sẽ đi kiểm tra.” Trước ánh mắt biết ơn của Alice, ông nhấc một cây nến từ cái giá và rời khỏi phòng. Mười phút sau ông trở lại, chỉ riêng biểu cảm cũng đủ khiến chúng tôi sợ chết khiếp. “Mọi chuyện ổn cả chứ?” Alice hỏi ngay lập tức. Arthur trả lời bằng một câu hỏi. “Có ai có kéo không?” Alice chạy đến tủ bát, mở ngăn kéo và vẫy một cái kéo vào không khí. “Nó đây, nhưng…” Cô đột nhiên ý thức được cách hành xử lạ lùng của Arthur. Mắt cô trợn lên và tay ôm lấy cổ. g ợ y y “Eleanor đã trở lại, Eleanor đã trở lại rồi,” Victor hô lên như hô khẩu hiệu, nét mặt rạng rỡ. “Đi theo tôi!” Arthur đưa ra chỉ thị bằng giọng uy nghiêm. Chúng tôi lên tầng áp mái lần thứ hai. “Patrick! Patrick! Anh yêu của em!” Alice rên rỉ, như điên lên cánh cửa căn phòng bị nguyền rủa. “Trả lời đi, em xin anh!” “Đừng nghĩ đến điều tồi tệ nhất,” Arthur nói. “Có thể chồng cô chỉ bị ngất đi thôi. Dù sao tôi cho rằng chúng ta cũng nên gỡ niêm phong ra, vì lí do an toàn.” Arthur lấy giá nến khỏi tay Victor và ghé nó lại gần cánh cửa để kiểm tra sợi ruy-băng và dấu sáp niêm phong. “Nguyên vẹn,” ông thở phào nhẹ nhõm. “Chưa một ai vượt qua ngưỡng cửa này.” Ông lấy kéo cắt dây ruy-băng làm hai. Sau đó chộp lấy tay nắm cửa, nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu và tuyên bố. “Vào thôi!” Cánh cửa bật mở, ánh sáng từ giá nến tràn vào phòng. Trước cảnh tượng một thân thế năm lăn quay trên sàn nhà, Alice phát ra một tiếng rít kì dị và quỵ xuống như con búp bê vải. Victor phải rất chật vật mới giữ cho cô khỏi ngã. Im lặng chết chóc bao trùm. Tê liệt vì kinh hoàng, chúng tôi trân trối nhìn thân thể nằm sấp giữa phòng, đúng vị trí bà Eleanor nằm chết nhiều năm về trước. Ánh sáng lập lòe làm nổi bật cán dao cắm trên lưng anh ta. Arthur lại gần Patrick và quỳ xuống. Hai cánh tay anh ta bắt chéo dưới người, nhưng một tay thò ra từ dưới vai trái. Arthur bắt mạch và lắc đầu. “Anh ta chết rồi.” Ông đứng dậy kiểm tra cửa sổ, nhưng rõ ràng nó vẫn bị khóa. “Không ai vào phòng được,” ông thấp giọng tuyên bố. “Chúng ta không thể bác bỏ bằng chứng này. Chỉ hồn ma mới có thể gây ra tội ác đó.” “Nhưng Eleanor,” Victor thổn thức, vẫn ôm Alice trong tay. “Eleanor không bao giờ làm thế.” Nhìn Alice, Arthur mới bắt đầu nhận ra đầy đủ tính nghiêm trọng của tình huống. g “Đáng lẽ chúng ta không nên thực hiện thử nghiệm này,” ông rên lên, hai tay ôm mặt. “Chúng ta phải báo cảnh sát ngay, dù tôi ngờ rằng họ sẽ không dành nhiều thời gian đi tìm một oan hồn báo oán đâu. Nhưng họ chẳng thể lí giải vụ án theo cách nào khác được…” Ông ngừng lại, tập trung mọi sự chú ý vào thi thể. Đột nhiên, ông cúi xuống và quay cái đầu vẫn đội mũ của người đã khuất ra. Mặt ông chùng xuống. Ông chậm rãi đứng lên, lảo đảo lùi ra sau và dựa vào bức tường cho khỏi ngã. Hết sức thắc mắc, tôi bèn tiếp cận thi thể. Toàn bộ máu trong người tôi đông cứng lại. Khi nhận ra khuôn mặt Henry. ❛ 3 ❜ Không giải thích được C húng tôi tập trung về phòng khách, hoàn toàn bàng hoàng, rối trí và hoang mang. Một ý nghĩ hãi hùng vụt qua óc tôi: bà Darnley đã quay lại đòi công lí. Bà đã trả thù bằng cách giết chết kẻ sát hại bà, mà người đó không ai khác chính là Henry. Ngay lập tức, tôi bác bỏ ý nghĩ này vì đó là điều bất khả, tuy vậy không người sống nào có thể đi vào căn phòng đã niêm phong. Và chuyện gì đã xảy ra với Patrick? Anh ta đâu? Tôi cố gắng suy nghĩ rành mạch nhưng vô vọng, tất cả đều điên rồ, hoàn toàn điên rồ. Tôi đang sống trong một cơn ác mộng. Một bàn tay cầm ly brandy xuất hiện trước mắt, tôi chộp lấy chiếc ly, uống một hơi cạn sạch và nhìn ra xung quanh. Đầu tiên tôi nhìn cái trường kỉ nhỏ nơi Alice vẫn nằm bất tỉnh, rồi đến Arthur. Victor mời ông một ly brandy, nhưng ông lắc đầu và chỉ trân trối vào khoảng không, như thể đã bị rút cạn mọi dấu hiệu của sự sống. “Cảnh sát sẽ tới sớm thôi,” Victor thì thào và ngồi xuống cạnh tôi. “Mọi chuyện xảy ra với ông ấy thật khủng khiếp. Đầu tiên là vợ, và giờ là đứa con duy nhất… ở trên kia.” “Còn Patrick thì sao ạ?” “Bác không biết, bác vẫn chưa có thời gian tìm kiếm trong nhà. Hãy cứ hi vọng, James ạ, bác không biết chuyện gì đang xảy ra với chúng ta nữa, nhưng quả là kinh khủng. May mà cô Latimer vẫn chưa tỉnh lại vì bác không biết phải giải thích thế nào với cô ấy về tình cảnh này.” Cánh cửa đột nhiên mở ra và Patrick đi vào, tay xoa xoa sau gáy. “Chuyện gì đã xảy ra?” Anh ta líu lưỡi. “Alice! Chúa ơi! Cô ấy không…” Và lao về phía vợ. Khi tỉnh lại, Alice níu lấy chồng mình, hai hàng nước mắt lăn dài. Đã đến lúc giải thích. Tôi thuật lại chi tiết những sự kiện bi thảm xảy ra một tiếng trước. Alice suýt ngất đi lần thứ hai. “Henry, bị giết? Ở trên kia?” Miệng Patrick há hốc vì kinh ngạc. “Nhưng…” Anh ta đột nhiên im lặng, đi tới chiếc bàn rồi tự rót rượu cho mình và nốc liền hai ly. “Tôi tin là tôi biết chuyện xảy ra như thế nào,” anh ta cúi đầu. Chúng tôi nín thở chờ đợi. “Khi xuống nhà lấy áo khoác,” Patrick kể. “Tôi đã bị tấn công. Tôi đi gần đến chỗ cái móc áo, rồi… bị đánh gục. Không biết gì nữa. Vì quá tối, tôi không nhìn rõ kẻ tấn công. Chắc hắn đã mặc áo khoác và đội mũ của tôi, rồi mạo nhận là tôi lên gặp mọi người.” “Anh nói đúng!” tôi kêu lên. “Chúng tôi không thấy mặt hắn, và cũng không nghe được giọng ngoại trừ hai tiếng gầm gừ. Thái độ đó khiến tôi lấy làm lạ ngay rồi. Cả dáng đi… Còn nữa, hắn thấp hơn anh, Patrick. Khổ người chỉ tầm…” “… Henry,” Alice thầm thì tiếp lời. “Nhưng chuyện gì xảy ra sau đó?” “Mọi người có kiểm tra kĩ dấu niêm phong không?’ Patrick hỏi. Arthur lên tiếng, “Không ai có thể đi qua cánh cửa vào thời điểm đó: dấu niêm phong còn nguyên vẹn. Cần thì anh cứ tự kiểm tra. Chỉ có dây ruy-băng là bị cắt.” Vì không ai bình luận gì thêm, ông tiếp tục. “Kẻ sát nhân - nếu hắn thực sự tồn tại - không thể kiếm được hoặc sao chép đồng xu chúng ta dùng để niêm phong, vì một lẽ đơn giản là không một ai, ngay cả tôi, biết được đồng xu nào trong bộ sưu tập sẽ được dùng cho mục đích đó. Xin nhắc lại, tôi chỉ quyết định ngay trước khi đến đây, chính xác là lúc 8 giờ 30 phút tối. Nhân đây, bộ sưu tập của tôi có tổng cộng hơn sáu trăm đồng xu.” Arthur quả là một người đàn ông phi thường. Ngay cả khi tinh thần suy sụp vì đau buồn, ông vẫn duy trì sự điềm tĩnh và óc suy luận logic. Mấy ai ở trường hợp của ông làm được như vậy? “Vì thế Henry để cho chính mình bị nhốt trong căn phòng,” Patrick tiếp lời. “Và…” p “Chúng ta đang phải đối mặt với một vụ án mạng siêu nhiên,” Arthur sắc bén cắt ngang. “Không có lời giải thích nào khác. Câu hỏi duy nhất còn lại là tại sao Henry tới đây. Và tại sao nó lại… phải chết?” Không ai nói gì. “Ông có chắc đó là Henry không?” Patrick hỏi. “Tốt hơn hết là đi lên và…” “Hãy đợi cảnh sát,” Victor nói. “Họ sẽ đến bất cứ lúc nào.” Chuông cửa reo vang. “Họ tới rồi.” Hoàn toàn kinh hãi trước vụ án, cảnh sát địa phương quyết định lập tức cầu viện tới Sở Cảnh sát Thủ đô và chánh thanh tra Drew được giao nhiệm vụ điều tra vụ án này. Trong ba năm qua, ông đã thăng cấp nhanh chóng nhờ phá được hàng loạt vụ án phức tạp. Một bài báo về Drew gần đây có giải thích phương pháp truy bắt tội phạm đặc biệt khác thường mà ông đã thực hiện. Ông bắt đầu bằng cách đặt mình vào vị trí của hung thủ. Nghi phạm bị thẩm vấn thường có vẻ không liên quan gì đến vụ án. Drew bèn thăm dò sâu vào đời sống riêng tư của họ, thậm chí truy tra tới tận thời thơ ấu và nghiên cứu tính cách họ một cách tỉ mỉ. Vì kĩ thuật điều tra này, các đồng nghiệp đặt cho ông biệt danh là Nhà tâm lí học. Cuối cùng thi thể cũng được mang đi, trước đó các nhân chứng đã xác định đây chính là Henry. Tuy nhiên, Arthur không thừa nhận cái chết của con mình. “Rất dễ nhầm người đàn ông này với Henry, nhưng anh ta không phải con trai tôi.” Một ngày sau thảm kịch, Drew bắt tay vào việc. Cho tới lúc đó, cảnh sát đã kiểm tra dấu niêm phong cùng hiện trường vụ án và gần như không rút ra được kết luận gì: không có lối đi bí mật, không có dấu hiệu động chạm vào dấu niêm phong cũng như không có cách nào chốt cửa sổ từ bên ngoài. Họ đã thẩm vấn Arthur hàng giờ liền về đồng xu sử dụng cho dấu niêm phong, nhưng ông dứt khoát phủ nhận việc ai đó biết trước lựa chọn của ông và kiếm được một bản sao y hệt. Hơn nữa, ngay cả khi tên sát nhân có khả năng đọc ý nghĩ, hắn cũng phải tìm khắp nơi mới kiếm được bản sao. Giả thuyết tiếp theo là một bản sao đã được đúc ra, nhưng suy đoán này nhanh chóng bị các chuyên gia loại trừ. Dấu niêm phong được in từ chính đồng xu nguyên bản của Arthur chứ không phải từ một bản sao. Còn một khả năng là đồng xu bị đánh tráo sau khi nạn nhân bị nhốt. Arthur quả quyết rằng kể từ thời điểm được sử dụng cho dấu niêm phong, đồng xu chưa từng rời khỏi túi áo trong của ông, và ông thường xuyên kiểm tra nó. May mắn thay, Arthur có bằng chứng ngoại phạm vững chắc. Giữa 9 và 10 giờ đêm - theo pháp y là khoảng thời gian ước đoán xảy ra án mạng - không lúc nào ông ở một mình Đương nhiên điều đó cũng không loại trừ lời giải thích hợp lí cho “tội ác bất khả thi” này, rằng Arthur hoàn toàn có thể thực hiện vụ ám sát với sự trợ giúp của đồng phạm. Xét cho cùng, đã từng có trường hợp cha giết con trong quá khứ. Nhưng ở trường hợp hiện tại, không có mảy may một động cơ nào. Giả thuyết Arthur mất trí cũng bị loại trừ, vì rõ ràng ông vẫn là một người tỉnh táo và ôn hòa. Chính vì thế, không hề đáng ngạc nhiên khi cảnh sát đã hoàn toàn đi vào ngõ cụt lúc chánh thanh tra Drew đến. Thành công trong ba năm qua thể hiện rõ ở phong thái tự tin điềm đạm, ở từng cử chỉ, và ông trưng ra nụ cười trịch thượng của những kẻ luôn coi mình là người duy nhất có thể tìm ra sự thật. Sau một hồi khám xét hiện trường vụ án trong khoảng thời gian không thể nhanh chóng hơn, ông kiêu ngạo tuyên bố kết luận của mình. “Nếu các nhân chứng nói đúng sự thật, thì chỉ có hai khả năng. Thứ nhất, ông White đã giết con trai mình với sự trợ giúp của tòng phạm. Tuy nhiên, tôi không nghĩ đây là phương án hợp lí vì nó quá đơn giản. Khả năng thứ hai, mặc dù thoạt nhìn có vẻ hoang đường nhưng vẫn là có nhiều khả năng xảy ra hơn. Henry, sau ba năm mất tích, trở lại ngôi làng nơi cậu ta sinh ra và vào nhà Latimer, hay nhà Darnley, gọi sao cũng được. Cậu ta rình nấp ở đại sảnh, đánh gục anh Latimer. Sau đó đội mũ và mặc áo khoác của anh ta, đi lên căn phòng áp mái rồi để mình bị nhốt trong đó dưới lốt của anh Latimer. Đừng vội tìm hiểu động cơ khiến cậu ta làm thế. Tiếp đó, cậu ta mở cửa sổ và cho kẻ sát nhân vào. Cách tiếp cận cửa số từ bên ngoài thoạt nhìn là một việc bất khả thi, nhưng xem xét kĩ thì có thể thực ạ ộ ệ g ự hiện được bằng cách trèo ra ngoài từ một cửa sổ khác và leo qua mái nhà. Kẻ sát nhân đâm Henry từ phía sau, rồi quay trở lại bằng cách hắn đã đến. Trước khi chết, Henry đóng cửa sổ lại. Chính hành động dường như không thể hiểu nổi đó đã tạo ra vẻ ‘siêu nhiên’ của vụ sát hại này. Những vụ án bất khả thi luôn đi kèm một lời giải thích vô cùng đơn giản.” “Bữa ăn ngon quá, thực ra là quá tuyệt vời. Chưa bao giờ trong đời anh được…” “James, đừng cường điệu, anh đang làm quá lên đấy. Thà anh cứ giễu cợt em còn hơn là tiếp tục như vậy,” Elizabeth phản đối. “Nhưng James không hề cường điệu, em yêu,” John phụ họa. “Có chăng là anh ấy hiểu được tài nấu nướng của em mà thôi. Những nhà hàng lớn nhất nước Pháp chắc hẳn cũng sẵn sàng làm mọi cách để mời em về bếp của họ.” Elizabeth trừng mắt không tin, không biết phải nghĩ gì nữa. Hai ngày sau tấn thảm kịch, em tôi gửi lời mời đến nhà ăn tối. Đây là một sự kiện rất hiếm hoi, rõ ràng là em muốn biết mọi chi tiết đã xảy ra vào buổi tối tệ hại ấy. Tôi đã phải thuật lại sự việc hai lần, và liên tục bị cắt ngang bởi ‘James. Thôi đi! Thật kinh khủng! Đừng bao giờ kể với em về việc này thêm một lần nào!’ rồi ngay lập tức ‘Sao nữa?’ “Anh nghĩ sao hả John?” Elizabeth hỏi, giờ đã bình tĩnh lại. “Anh nói với em rồi. Khả năng nấu ăn ngoại hạng đấy.” “Em đang nói đến vụ sát hại Henry!” “Anh không biết,” John nói với vẻ mặt kì lạ. “Dân làng không đồn thổi về căn phòng ma ám nữa, họ gọi thẳng là ‘căn phòng sát nhân’. Một số khách hàng của anh còn đưa ra giả thuyết là Henry đã giết mẹ anh và hồn ma của bà trở về trả thù. Nhưng anh không tin vào ma quỷ. Dù sao đi nữa, anh bắt đầu nghĩ rằng có một tên cuồng sát trong làng, vì anh dần dần tin là thực ra mẹ bị sát hại.” “Đủ rồi, John,” Elizabeth rên rỉ. “Đừng nhắc đến vụ án nữa. Thế mà anh định để em sống trong ngôi nhà đó kia đấy! Nhưng tại sao lại có kẻ muốn sát hại mẹ anh? Và tại sao Henry lại bị giết?” “Có lẽ Henry biết ai giết mẹ của cậu, John à,” tôi gợi ý. “Nếu thế thì,” John ngờ vực nhìn tôi. “Cậu ấy đã bị giết lâu rồi.” “Chính xác.” Một khoảng lặng. “Báo chí tới tấp chạy bài về vụ ám sát nhưng lại giữ kín những tình tiết bất thường,” Elizabeth nhận xét, rõ ràng là thạo tin. “Hiển nhiên,” tôi thở dài. “Cảnh sát không muốn công khai một vụ án mà họ không biết phải giải quyết thế nào. Dạo gần đây họ thường xuyên bị đặt dấu hỏi về năng lực.” John gật đầu, rồi đột ngột nói, “Cậu nghĩ sao về giả thuyết của thanh tra Drew?” “Henry đóng cửa sổ trước khi chết? Quá nực cười. Hoàn toàn vô lí.” “Em tin,” Elizabeth xen vào với giọng quả quyết. Khó chịu trước sự im lặng của chúng tôi, em cao giọng. “Em biết quá rõ tính kiêu căng tự phụ ngu ngốc của Henry, em có thể dễ dàng tưởng tượng ra việc anh ấy giở mánh khóe một lần cuối cùng. Anh ấy muốn một kết thúc hoàn mỹ, một cái chết xứng đáng với danh tiếng mà anh ấy nghĩ mình luôn có. Theo quan điểm của em, thanh tra Drew nói đúng. Ông ẩy đã thực sự nắm bắt được con người của Henry. Rốt cuộc, chẳng phải tự dưng người ta lại gọi ông ấy là Nhà tâm lí học.” Tôi đã định đáp trả, nhưng khi thấy John đặt một ngón tay lên môi, tôi ngăn mình lại. “Họ đã kiểm tra bằng chứng ngoại phạm của các đối tượng tình nghi chưa?” cậu ta hỏi. “Đó, ừm, ý tôi là những người mà…” Elizabeth không cho tôi thời gian để trả lời. “Chỉ có một người không có bằng chứng ngoại phạm!’ Hai chúng tôi yên lặng, đăm đăm nhìn em một lúc lâu. “À!” John mở lời. “Em nghĩ là Patrick có thể…” “Không,” Elizabeth đáp trả. “Không phải Patrick. Là anh, John!” Ngón trỏ của em thình lình chỉ vào chồng. “Anh ở một mình trong ga ra đến tận nửa đêm.” John cười, “Khả năng quan sát thật sắc sảo, em yêu của anh. Tuy nhiên, em có vẻ đã quên rằng, chính vì thế mà em cũng không có bằng chứng ngoại phạm.” Elizabeth cứng người và run lên, “Sao anh dám buộc tội vợ anh? Vợ anh, người… người…” ợ g g Em uất nghẹn vì tức giận. Tôi giơ tay làm hòa. “Đủ rồi! Bọn em tha hồ cãi nhau sau khi anh đi. Hơn nữa, anh phải đi luôn rồi, đã gần 8 giờ rưỡi. Bác White bảo anh ghé qua.” “Gấp thế sao?” John hỏi. “Để một lúc nữa hẵng đi, hoặc để đến mai cũng được. Cậu chỉ việc gọi cho bác ấy.” “Không. Thực tế thì không phải tôi đi gặp bác White, mà là thanh tra Drew muốn thẩm vấn chúng tôi kĩ hơn.” “Tội nghiệp bác White,” Elizabeth nói. “Cảnh sát nên biết quan tâm hơn tới người đàn ông tội nghiệp ấy.” “Đừng lo,” tôi nhắc nhở. “Bác White không hề suy sụp. Bác ấy vẫn tin chắc rằng người đàn ông bị sát hại không phải con trai mình, dù tất cả đều xác nhận đó là cậu ấy. Thôi, anh phải đi đây.” Tiện thể, tôi cảm ơn họ về bữa ăn tuyệt vời và rời đi. Bên ngoài, chào đón tôi là vầng trăng tái nhợt và lạnh buốt Tiếng bước chân vang vọng trên con đường vắng gợi nhớ cái đêm thảm kịch ấy, khiến tôi ngẫu nhiên điểm lại các sự kiện trong đầu mình. Có điều gì đó không đúng, điều gì đó kì lạ mà tôi chưa thế làm rõ. Tôi chỉ xác định được lúc nó xảy ra, chứ không phải nó là cái gì. Đó là khoảng thời gian chúng tôi đi lên tầng áp mái lần thứ hai. Đứng ngoài hành lang, đập cửa, không thấy tiếng trả lời. Gỡ dấu niêm phong, mở cửa, thấy xác chết. Không phải trước đấy cơ, tôi đã đi hơi xa rồi. Ấn tượng đó xảy đến với tôi khi… A! Giá mà tôi có thể nhớ được! Là một cử chỉ? Một từ? Một hình ảnh? Hay một tiếng động? Tra tấn bộ não cũng chẳng ích gì. Lời giải có thể sẽ đến khi tôi không cố nghĩ về nó nữa. Tôi đã không nghĩ ra gì cả, nhưng nếu thực sự phát hiện ngay lúc đó, thì chắc chắn tôi sẽ nhận ra cách thức ma quỷ mà tên sát nhân sử dụng, và đã ngăn chặn để một tội ác đáng ghê tởm không xảy ra, một tội ác mà động cơ của nó sẽ sống mãi trên những trang biên niên của Sở Cảnh sát Thủ đô. Khi Arthur kết thúc bản tường thuật về đêm xảy ra vụ sát hại thì đã gần 9 giờ 15 phút. Ông nói quá tỉ mỉ, tôi cảm thấy không cần thiết phải ngắt lời ông. Drew, tay khoanh trước ngực, ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, lắc đầu với một nụ cười nhạt. “Bài tường thuật của ông mặc dù rất đáng ghi nhận, nhưng rất tiếc chẳng bổ sung được điều gi mới.” Ông ta chuyển ánh mắt sắc bén sang tôi. “Còn cậu, cậu Steven, cũng không bổ sung được thêm gì sao? ông White không bỏ sót điều gì chứ?” “Không,” tôi trả lời và châm một điếu thuốc để tránh ánh nhìn soi mói thấu suốt từ cặp mắt xanh của viên thanh tra. “Không còn gì để bổ sung. Mọi sự kiện xảy ra vào tối hôm đó đã được bác White điểm lại một cách hoàn hào. Và vì lúc nào chúng tôi, tức là tôi và bác White, cũng có mặt cùng nhau, nên tôi không còn gì để nói cả.” Arthur nheo mắt lại, chậm rãi hút tẩu. “Đây là lần thứ ba trong vòng bốn mươi tám tiếng qua tôi kể về những sự kiện này,” ông nói. “Tôi cứ nghĩ rằng lúc này ông đã phải biết rõ như thể bản thân có mặt tại đó rồi chứ.” “Cảnh sát không tin vào ma quỷ,” ông Drew đột ngột cắt ngang. Arthur nhăn mặt phản bác, “Mỗi người một quan điểm.” Im lặng một hồi, ông tiếp. “Nhắc mới nhớ, còn giả thuyết của ông về chuyện nạn nhân tự đóng cửa sổ sau khi bị đâm chí mạng thì sao?” Một tia khó chịu ánh lên trong mắt Drew, nhưng ông ta mau chóng trấn tĩnh và trả lời với vẻ thản nhiên. “Trời đất, đó chỉ là một giả thuyết, một suy luận bất chợt, để chỉ ra rằng vụ án không nhất thiết phải lả tác phẩm của một con ma. Tất nhiên là sự việc gần như không thể diễn biến theo hướng đó. Một mặt, không có dấu vân tay trên nắm cửa sổ. Mặt khác, theo nhân viên pháp y, con trai ông không tự đứng dậy được sau khi bị đâm.” Có thể nhận ra sự bực bội trên nét mặt Arthur. “Xin nhắc lại một lần nữa, người đàn ông đó không phải con trai tôi.” Drew chăm chú nhìn xuống mũi giày, môi nở nụ cười ngang ngạnh. “Đừng vô lí thế, ông White,” ông ta nói với giọng xoa dịu. “Bất cứ ai từng thấy thi thể đều xác nhận đó là con ông. Tôi hiểu nỗi lòng người cha, nhưng ông phải nhìn thẳng vào thực tế.” “Phải đó, bác White,” tôi xen vào, cố khéo léo hết cỡ. “Là Henry thật đấy! Hãy tin cháu, nếu có bất cứ nghi ngờ nào dù y ậ y y g g là nhỏ nhất về nhận dạng, cháu sẽ là người đầu tiên nói ra.” Arthur ngồi im như tượng đá. Một sự yên lặng khó chịu bao trùm phòng khách. Drew cắm một điếu thuốc lên đôi môi mỏng, châm lửa và mất một lúc lâu hắng giọng rồi mới tiếp tục. “Chí ít có thể khẳng định, đây là một vụ án kì lạ.” “Quả vậy,” tôi đồng tình với sự mỉa mai sâu sắc. “Khi tìm thấy một người đàn ông bị giết trong căn phòng niêm phong kín mít, thì ít nhất người ta có thể nói ‘đây là một vụ án kì lạ’.” “Đương nhiên, nhưng tôi không nói đến việc đó,” Drew vặc lại. “Ông có nhớ không, ông White, gần ba năm trước ông là nạn nhân của một vụ hành hung trên con đường đất trước nhà?” “Đúng rồi,” Arthur nói, vẻ bực bội. “Tôi thậm chí còn nhớ đã đề cập với ông rằng ngay trước khi bị đánh, tôi đã trông thấy ai đó vác một cơ thể người đi về hướng khu rừng. Mặc dù vậy, tôi thấy có vẻ ông không coi trọng chi tiết đó lắm.” Drew tỏ ra khó chịu. “Ông có ý gì, không coi trọng lắm?” ông ta gắt gỏng “Chúng tôi đã xới tung cả khu rừng lên nhưng không tìm thấy một thi thể nào, và không có trình báo mất tích nào trong khu vực. Chúng tôi còn có thể làm gì hơn nữa?” “Vậy còn sự biến mất của con trai tôi?” Arthur bị cuốn theo cuộc tranh luận, “ông gọi đó là gì?” Không quên rằng Arthur là một nhà văn nổi tiếng, Drew tiếp tục một cách cẩn trọng hơn. “Tôi đang nói đến đây,” ông ta xoa dịu. “Như vậy, ngay sau khi ông bị tấn công, con trai ông biến mất. Một vài ngày sau, cậu ta lại xuất hiện… ở hai nơi khác nhau vào cùng một thời điểm! Chỉ thế đã đủ lạ thường, nhưng sự việc chưa dừng lại. Không hiểu sao cậu ta lọt vào được căn phòng niêm phong và tệ hại nhất là tìm ra cách để người ta giết mình!” Drew khó nhọc kìm nén cơn giận dữ đang trào dâng, giọng ông ta run rẩy. “Tốt nhất tôi nên cảnh báo ông trước, ông White, chúng tôi sẽ mò ra ngọn nguồn vụ việc bất kể bên nào phạm tội. Cho tới giờ tôi chưa một lần thất bại, và tôi cũng không có ý định thất bại đâu.” Chuông réo vang nơi cửa chính. g g “Là Victor,” Arthur vừa nói vừa đứng dậy. “Không, đợi đã, tôi nghe tiếng xe ô tô. Có lẽ là một người bạn. Ông vui lòng đợi tôi trong chốc lát chứ?” Arthur rời khỏi phòng khách. Drew và tôi ngồi lại trong im lặng, chăm chú lắng nghe. Chúng tôi nghe thấy tiếng reo sửng sốt, tiếng ô tô nổ máy, rồi không nghe thấy gì nữa. Một lát sau là những tiếng cảm thán xúc động. Cửa phòng khách bật mở, lộ rõ Arthur đang gần như khóc lóc vì vui sướng. Từ đằng sau ông, một dáng hình nhô ra khỏi bóng tối. Tim tôi lỡ một nhịp, và tâm trí tôi mất kiểm soát trong giây lát. Henry đứng đó, ngay trước mắt tôi, bằng xương bằng thịt. ❛ 4 ❜ Thực hành Tâm lý học C hào James, người anh em!” bạn tôi nói, nhe răng cười lớn. Tôi ôm cậu, vỗ vào cả hai vai. Rồi vẫn giữ vai cậu, tôi đẩy ra tầm một cánh tay để nhìn cho rõ. “Henry! Thật không thể tin được!” Một giọt lệ đọng ở khóe mắt cậu ta rồi lăn xuống má. “Cậu không biết tôi vui mừng thế nào khi gặp cậu đâu, James,” Henry thì thầm, xúc động sâu sắc. Người đang nói chuyện với tôi đúng là Henry. Chỉ Henry mới nói năng dịu dàng đến vậy được. “Thanh tra Drew,” Arthur nói với chiếc khăn tay trên mặt. “Xin giới thiệu với ông, đây là con trai tôi, Henry.” Cơ mặt của Drew chuyển động, cố nặn ra một nụ cười, ông ta nói với giọng ngọt ngào nhưng không giấu được vẻ chua cay đằng sau. “Rất vui được gặp cậu, anh bạn trẻ, rất vui.” Trong khoảnh khắc, có thể tưởng nhầm ông ta là một con quỷ đang nghĩ tới nghĩ lui một kế hoạch trả thù khủng khiếp. Mắt ông ta nhuốm màu xanh lá và lóe lên những tia hiểm độc. Làn da trên khuôn mặt xương xẩu ấy có màu sắc kì dị, gợi nhớ một lão già da đỏ đang gắt gỏng phàn nàn. Trong lúc đó, tôi reo lên đầy hân hoan. Drew, mặt vẫn đóng băng với nụ cười méo xẹo, khẽ nhếch mép. Trong giây lát tôi cứ nghĩ ông ta sẽ giơ móng vuốt và lao vào xé bạn tôi thành từng mảnh, nhưng ông ta lại tự bằng lòng với dáng điệu thầm khinh bỉ. “Henry đã trở lại!” “Henry,” tôi kêu lên bằng một giọng mà chính tôi cũng không nhận ra. “Làm thế nào? Tại sao?”