🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Bí Mật Shakespeare
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
`
BÍ MẬT SHAKESPEARE
JENNIFER LEE CARRELL
TÁC GIẢ:
Jennifer Lee Carrell sống tại Tucson, Arizona, Mỹ. Bà có bằng tiến sĩ về văn học Anh và Mỹ, chuyên đạo diễn các vở kịch của Shakespeare cho đoàn sân khấu Hyperion.
TÓM TẮT:
Một ngày tháng Sáu năm 2004, tại nhà hát Globe được xây dụng lại ở London, Rosalind Howard, giáo sư lập dị chuyên nghiên cứu về Shakespeare, đã đưa cho Katharine Staley - đạo diễn người Mỹ một hộp nhỏ màu vàng. Tối hôm đó, vụ hỏa hoạn đáng ngờ đã phá hủy nhà hát Globe, và Rosalind được phát hiện bị đầu độc chết y như cách người ta giết chết cha của Hamlet. Món quà bí ẩn của Rosalind chứa đựng chiếc ghim đồ tang thời Nữ hoàng Victoria đã đẩy Katharine vào một cuộc điều tra nguy hiểm, đưa cô đến Utah Anzona… Mỗi bước điều tra, khi các thi thể chồng chất, Katharine đều thoát chết một cách bất ngờ khi sắp trở thành nạn nhân tiếp theo…
“Những điều xấu xa người ta làm vẫn sống sau họ, trong khi những điều tốt đẹp thường bị chôn sâu cùng nắm xương tàn của họ.”
Bí mật Shakespeare đã tạo ra một hiện tượng mới trong làng xuất bản Mỹ, với mức độ thành công tương đương với Mật mã Da Vince của Dan Brown.
LỜI TÁC GIẢ:
Một buổi tối mùa thu khi tôi mới bắt đầu vào đại học, trong lúc đang lục lọi tìm kiếm giữa những cuốn sách cũ trong căn phòng phía sau thư viện Child, góc riêng tư của khoa Anh văn nằm ở một góc tầng trên cùng thư viện Widener của trường Harvard, tôi bắt gặp bộ sách bốn tập: Sân khấu thời Elzabeth của E. K. Chambers, xuất bản năm 1923. Tôi lần lượt giở qua từng tập. Những tập sách này đầy ắp thông tin, phần lớn chúng tôi không
https://thuviensach.vn
biết có thể sử dụng làm gì, chẳng hạn như ghi chú rằng “rất nhiều diễn viên thời Elizabeth cũng là nghệ sĩ nhào lộn, và hiển nhiên có thể đi trên dây”. Tuy vậy, ở cuối tập ba, tôi tìm thấy vài trang nói về những vở kịch của Shakespeare, gồm cả một mục ngắn có tên “Những vở kịch đã thất lạc.”
Tôi biết phần lớn những vở kich được viết bằng tiếng Anh thời Phục hưng đã không tồn tại được đến ngày nay, và vì thế tôi nghĩ - một cách mơ hồ - rằng một số tác phẩm Shakespeare sáng tác chắc chắn cũng đã thất lạc. Điều làm tôi ngạc nhiên là Chambers biết được một vài điều về những tác phẩm đã mất. Đập vào mắt tôi, bằng giấy trắng mực đen, là hai cái tên, và trong trường hợp của vở kịch Cardenio còn có cả nội dung sơ lược.
Tôi bắt đầu tự hỏi sẽ ra sao nếu tìm được một trong những vở kịch này. Ở nơi nào người ta có thể khám phá ra một thứ như vậy? Và khoảnh khắc của sự khám phá sẽ như thế nào? Và liệu một khám phá như thế sẽ ảnh hưởng thế nào đến cuộc đời của một người - ngoài việc hiển nhiên người đó sẽ lập tức trở nên giàu có và nổi tiếng?
Nhưng địa điểm thích hợp nhất để tìm kiếm những vở kịch thất lạc của Shakespeare là các thư viện ở châu Âu và những ngôi nhà cổ. Nhưng tất nhiên, nếu một vở kịch nằm ở nơi dễ đoán như vậy, thì nó đã được tìm ra từ lâu. Theo cách chủ quan của những kẻ nằm mơ ban ngày, tôi bắt đầu suy nghĩ xem ở nơi nào ngoài nước Anh, và cụ thể hơn, ở một số địa điểm tôi có thể thực sự tìm thấy nó, chẳng hạn New England (hay ít nhất nơi nào đó ở hành lang Đông Bắc giữa Boston và Washington D. C. ) hay vùng sa mạc phía tây nam. Thỉnh thoảng, tôi đi xa đến mức tìm kiềm những chiếc hộp đựng những cuốn sách sờn cũ trong cửa hiệu bán đồ cổ nằm trong những ngôi nhà thô kệch sau nhưng con đường mà tôi tình cờ đi qua trong lúc lang thang ở New England. Nhưng chẳng có ai lại để, cho dù một khổ thơ của Shakespeare chứ đừng nói tới cả tập bản thảo, nằm yên tại đó.
Ở đâu đó trên bước đường tìm kiếm, tôi tự thừa nhận với mình rằng sẽ chẳng bao giờ tôi thực sự tìm thấy một trong các vở kịch thất lạc của Shakespeare - và rằng có thể sẽ thú vị hơn khi biến nó thành một câu chuyện, vì như thế tôi có thể kiểm soát những gì xảy ra, và xảy ra với ai.
https://thuviensach.vn
Và sau đó tôi nghĩ - tại sao không bám lấy bí mật khác thậm chí còn lớn hơn về Shakespeare? Ông là ai?
Tôi đã mất hơn một thập kỉ chỉ để bắt đầu, nhưng Bí mật Shakespeare hay Chôn sâu cùng nắm xương tàn của họ là kết quả.
Đoạn văn trong tập sách của Chambers khởi đầu cho toàn bộ câu chuyện này, với vài chỉnh sửa nhỏ, chính là đoạn văn mà Kate đã đọc trong truyện. Những địa điểm liên quan tới Shakespeare xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết đều là những địa danh có thật, mặc dù tôi đã tự cho phép mình hư cấu đôi chút ở một vài chỗ cho phù hợp với mạch chuyện. Những giả thiết về danh tính thực của Shakespeare cũng đều có thật - ít nhất với tư cách là những giả thiết. Cuối cùng, rất nhiều nhân vật lịch sử được hư cấu từ các sự kiện có thật. Tất cả các nhân vật hiện đại đều là hư cấu.
Một mục ghi chú trong cuốn Đăng kí Stationers (một dạng bản quyền sơ khai ở nước Anh) xác nhận Shakespeare là đồng tác giả của vở kịch Cardenio cùng với John Fletcher, người kế tục ông trong vai trò nhà soạn kịch chính cho đoàn kịch của nhà vua (và cũng là đồng tác giả với ông trong nhiều vở kịch khác). Tôi chọn “tìm ra” Cardenio vì trong hai vở kịch đã thất lạc mà chúng ta biết nhan đề, đây là vở kịch chúng ta biết được nhiều chi tiết về nội dung hơn, và cũng bởi vì nguồn gốc của vở kịch này, từ cuốn tiểu thuyết Don Quixote của Miguel de Cervantes, cho nó một mối liên hệ mơ hồ với vùng thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ, và do đó liên quan tới vùng tây nam nước Mỹ - một vùng đất tôi yêu mến, và là nơi tôi muốn các nhân vật của mình chơi trò đi tìm kho báu với vở kịch của Shakespeare.
Vở kịch thất lạc còn lại - những nổ lực vì tình yêu được đền đáp - đã biến mất hoàn toàn, nhưng Cardenio đã xuất hiện trở lại dưới dạng bản thảo vào thế kỉ mười tám, khi Lewis Theobald “hiện đại hóa” nó trên sân khấu London. Bản thảo gốc, mà phần lớn học giả chấp nhận coi là xác thực, đã thất lạc, nhưng một bản rút gọn với cái tên Hai sự dối trá [sic] đã tồn tại tới ngày nay. Nhìn chung, bản phóng tác này thực sự kinh khủng đúng như Kate nói: đầy những lỗ hổng, chằng chịt những chỗ vá víu vụng về như khuôn mặt của Frankeinstein. Tuy vậy, rải rác trong bản thảo này có những
https://thuviensach.vn
câu có vẻ như đúng là do Shakespeare hay Fletcher - ở mức độ từng câu riêng lẻ, khó mà phân biệt giữa sự phụ hay đồ đệ, cũng giống như việc phân biệt giữa tranh của Rembrandt với tranh có xuất xứ từ “xưởng họa của Rembrandt” ở mức độ nhát cọ. Hai sự dối trá là nguồn gốc của những từ mà Kate cũng như những người khác đã nhận định là của Shakespeare trong cuốn tiểu thuyết này.
Ngoại lệ duy nhất là câu chỉ đạo diễn xuất và dòng thoại về Sancho và Don Quixote: tôi phải mang gánh nặng trách nhiệm về những câu này vì trong bản rút gọn tôi đang nói đến không còn chút dấu vết nào của nhà quý tộc già điên rồ cùng anh hầu thực dụng của ông. Tuy vậy, giống như Kate, tôi muốn nghĩ rằng Shakespeare hẳn sẽ nhìn ra hai người này là không thể thiếu cho sự trào phúng và dẫn dắt mạch chuyện, và do đó chắc đã đưa họ vào dưới một dạng dẫn chuyện nào đó.
Tôi đã đọc một giả thiết học thuật, do Richard Wilson đưa ra trong cuốn Shakespeare bí mật (Đại học Manchester xuất bản năm 2004) , cho rằng Cardenio có thể có mối liên hệ nào đso với gia đình Howard và cái chết của hoàng tử Henry. Gia đình Howard ủng hộ Tây Ban Nha và là những tín đồ Thiên chúa giáo bí mật, và nổi tiếng đố kỵ, nhất là bá tước Northampton và cháu ông ta, bá tước Suffolk (Để cho đơn giản, tôi sử dụng tước vị này để nói về hai người đó trong cuốn tiểu thuyết, mặc dù cả hai chỉ được phong bá tước sau khi vua James lên ngôi). Đúng là có những lời đồn đại về mối quan hệ tình ái giữa Frances Howard và hoàng tử, và theo những lời đồn “sự kiện chiếc găng tay” đã thực sự xảy ra (mặc dù tên của quý bà vẫn được giữ kín) ; câu chuyện khủng khiếp về việc Frances đầu độc một trong những tình nhân của chồng bằng những chiếc bánh tẩm thuốc độc đã được ghi lại rất chi tiết trong các tài liệu tư pháp, và bà ta đã thực sự bị phán quyết là có tội trước tòa. Tuy nhiên, chi tiết về những rắc rối của gia đình Howard và Shakespeare và nhà hát Quả cầu hoàn toàn do tôi tưởng tượng ra.
Trong khi cách đơn giản nhất nói rằng William Shakespeare người Stratford đã viết những vở kịch mang tên ông, vẫn có rất nhiều ý kiến phản biện, từ thú vị gây tò mò tới thô thiển kỳ quặc, cho rằng có thể không phải
https://thuviensach.vn
như vậy. Tuy nhiên, vấn đề chính mà mọi giả thiết về “một người khác” đều không tránh khỏi, đó là tất cả đều đòi hỏi một sự đồng thuận im lặng: Nếu có một ai khác đã viết những vở kịch, thì chưa từng ai tiết lộ bí mật này. Trong một môi trường đầy rẫy những chuyện ngồi lê đôi mách, nói xấu sau lưng, những lời châm chọc đến mức chuyên nghiệp như tại triều đình của Elizabeth và James, đây là một thiếu sót không nhỏ.
Nhiều hiệp hội của những người “chống lại giả thiết người Stratford (anti Stratfordian)” hiện vẫn tồn tại - từ những tổ chức học thuật cho tới những nhóm theo lý thuyết âm mưu mang tính sùng bái. Rất nhiều người hâm mộ giải mã nhưng thông điệp được mã hóa mà theo họ tiết lộ danh tính của rất nhiều rác giá khác như là tác giả thực thụ, người đã ẩn danh một cách có chủ ý, của những tác phẩm được xuất bản dưới cái tên của “William Shakespeare”. Hai cái tên thay thế mà số người ủng hộ nhiều nhất - và cũng đáng tôn trọng nhất - là bá tước Oxford và Francis Bacon. Các ứng viên sáng giá khác gồm Christopher Marlowe; Edmund Spence; Philip Sidney và em gái ông Mary Herber, nữ bá tước Pembroke; Nữ hoàng Elizabeth; Walter Raleigh; bá trước Southampton, Derby, và Rutland, và một hội đồng bí mật gồm tất cả những người kể trên, được cho là do Bacon, hay Oxford, hoặc cả hai, chủ tọa. Còn điên rồ đến mức khó lý giải hơn là những người ủng hộ cho Henry Howard, bá tước Sussex (bị chặt đầu bốn mươi tư năm trước buổi công diễn đầu tiên một vở kịch của Shakespeare) và Daniel Defoe (ra đời bảy mươi năm sau buổi công diễn đầu tiên vừa nhắc tới ở trên). Một bổ sung mới nhất cho danh sách thu hút được sự chú ý nghiêm túc là vị triều thần khiêm tốn Henry Neville.
Edward de Vere, bá tước Oxford đời thứ bảy, hiện là nhân vật được những người anti-Stratfordian ưa thích nhất. Những đoạn đảo chữ và ám chỉ về Oxford tromg cuốn sách này trên thực tế đều đã được đưa ra làm bằng chứng để chứng minh rằng bá tước là người viết các vở kịch. Như Athenaide đã chỉ ra, họ của ông ta - Vere - có liên quan tới từ Latinh verum, hay “sự thật” , theo một truyền thống lâu đời, và câu phương châm của gia đình ông ta - Vero nihil verius, tức “Không có gì đúng hơn sự thật” cũng tham dự vào mối liên hệ này. Đó là cách làm của những người ủng hộ ông
https://thuviensach.vn
ta ngoài đời thực: tìm kiếm những quan hệ “nghi ngờ” hay “có ý ngĩa” tới sự thật về Shakespeare. Từ “ever” là một bằng chứng thuyết phục khác. Người đầu tiên ủng hộ Oxford (hay Oxfordian) một cách nghiêm túc là J. Thomas Looney (đọc là “Loney” ), cuốn sánh Nhận diện “Shakespeare” của ông được xuất bản năn 1920 đã thuyết phục được nhiều người, trong đó có Sigmund Freud.
Tuy vậy, Francis Bacon mới là tác giả thay thế được nhắc tới sớm hơn cả; những lập luận nghiêm túc nghiêng về ông đã được Delia Bacon và một vài người khác đưa ra từ những năm 1850. Những người ủng hộ Bacon (hay các Baconian) đã nghiên cứu kỹ lưỡng những tác phẩm của Shakespeare và các tác pharm thời Phục hưng khác với một sư hăng say mãnh liệt, khám phá ra vô số đoạn đảo chữ, ẩn ngữ theo chữ cái đầu, mật mã số và từ đồng nghĩa (thường là về “hog” (lơn thịt) và “bacon” (thịt muối) mà theo họ đã chỉ ra người hùng của họ chính lá tác giả các vở kịch; và thêm vào đó Bacon còn thường được cho là con trai của Nữ hoàng Elizabeth). Một số người thậm chí còn đi xa tới mức xem xét những buổi lên đồng hay đi đào trộm mộ. Tuy vậy, không phải tất cả những người ủng hộ Vacon đều dễ dàng bị khuất phục; trong số họ có cả các học giả, tác giả, luật gia, và thẩm phán ở cả nước Anh lẫn nước Mỹ. Tính đến nay bài viết mà các Baconian thích đọc nhất là bài tiểu luận của Mark Twain - “Có phải Shakespeare đã chết?”.
Cho dù anh ta còn là gì khác nữa, chắc chắn Bacon là một người vừa xuất chúng vừa khôn ngoan. Đã từng có thời gian là chánh án của Hoàng gia, ông đã phát minh ra một hệ thống mật mã phức tạp đáng khâm phục mà Jem Branville đã sử dụng trong cuốn tiểu thuyết này. Bacon đã công bố mật mã năm 1623, cùng năm Tuyển tập Đầu tiên xuất hiện.
Người đề xướng ra cái tên của bá tước Derby đời thứ sáu là Abel Lefranc, nhà nghiên cứu lịch sử văn học Pháp và giáo sư trường đại học Pháp, vào những thập kỷ đầu của thế kỉ hai mươi. Bất chấp tên của Derby (William) , những chữ cái đầu tiên tên goi (W. S. ), và cuộc đời nằm trong khoảng thời gian phù hợp, với những người nói tiếng Anh, tư cách ứng cử viên của ông
https://thuviensach.vn
này có ít được biết đến hơn của Bacon hay Oxford. ách ứng cử viên của ông này có ít được biết đến hơn của Bacon hay Oxford.
Tác phẩm không hư cấu (và cũng không thiên vị) đáng chú ý nhất nói về những tranh cãi về tư cách tác giả này là cuốn Ai đã viết những tác phẩm của Shakespeare? Của John Mitchell (Thames và Hudson, 1996). Về một cái nhìn ủng hộ Shakespeare người Stratford, xin mời xem Cuộc điều tra vì Shakespeare của Scott McCrea (Praeger, 2005).
Nhà hát Quả cầu nguyên bản bị cháy rụi vào ngày 29 tháng Sáu năm 1613 (một ngày thứ Ba, theo lịch Julian cũ) trong một buổi biểu diễn vở Henry VIII, sau đó được biết đến với cái tên Tất cả đều đúng. Theo những gì đã biết cho tới nay, đó là một tai nạn, do những tia lửa từ những phát đại bác bắn ra làm hiệu ứng đặc biệt rơi vào mái rạ. Những nhân chứng tận mắt chứng kiến đã thuật lại có một người đàn ông bị bỏng nhẹ trong khi cứu một đứa bé bị kẹt trong đám cháy; lửa bám vào người anh ta được dập tắt bằng bia. Nhà hát Quả cầu mới đúng là tòa nhà đầu tiên lợp mái rạ được chấp nhận ở khu vực phụ cận London từ sau vụ cháy lớn năm 1666.
Những công trình kỉ niệm và nà hát về Shakespeare ở Stratford-upon-Avon đều nổi tiếng trên toàn thế giới. Thư viện Folger về Shakespeare ở trên đồi Capitol tại Washington D. C. sở hữu bộ sưu tập phong phú nhất về Shakespeare.
Witon, tư gia của bá tước Pembroke, là một trong số ít địa điểm mà Shakespeare chắc chắn đã từng tới thăm còn tồn tại đến ngày nay - việc ông từng có mặt ở đây còn chắc chắn hơn tại bất cứ tòa nhà nào ở Stratford, ngoại trừ nhà thờ nơi ông được an táng. Bản copy tại tại Wilton, đài tưởng niệm Shakespeare ở Westminster cùng những thay đổi và những chữ cái viết hoa lạ lùng đều chính xác, mặc dù tôi đã tưởng tượng ra những màu sơn nhấn mạnh sự đảo chữ. Cũng như vậy, có một loạt tranh về chủ đề Arcadia trong gian phòng theo phong cách Palladian vẫn được gọi là phòng Lập phương, mặc dù tôi đã hư cấu đôi chút cho phù hợp với câu chuyện của mình. Ngăn hốc bí mật đằng sau một trong những bức họa đó là do tôi tưởng tượng ra. “Bức thư bị thất lạc” của nữ bá tước gửi cho con trai, nói rằng “chúng ta đang có Shakespeare ở đây” , đã được đề cặp tới trong tài
https://thuviensach.vn
liệu vào thế kỉ mười chín, nhưng từ đó tới nay chưa có học giả nào được nhìn thấy tận mắt. Bức thư của Will gửi cho con Thiên nga Ngọt ngào nhất là do tôi hư cấu.
Học viện Hoàng gia St. Alban ở Valladolid được vua Tây Ban Nha Philip II thành lập nhằm mục đich đào tạo các thanh niên người Anh thành tu sĩ Thiên chúa giáo và (theo cách nhìn của Nữ hoàng Elizabeth) gây ra những cuộc nổi loạn tôn giáo tại đất nước họ. Học viện này hiện vẫn tồn tại đào tạo thanh niên người Anh thành tu sĩ. Trong thư viện tuyệt vời của học viện này đã từng có một cuốn Tuyển tập Đầu tiên, nhưng tôi được nghe kể lại cuốn sách đã bị bán đi vào đầu thế kỉ hai mươi. Vào năm 1601, tám năm sau khi Christopher Marlowe bị sát hại, một “Christopher Morley” - tên gọi Marlowe từng sử dụng khi còn sống - được ghi lại trong tư liệu lưu trữ là đang theo học tại học viện. Tới năm 1604, Cervantes cũng có mặt tại thành phố này và hoàn tất Don Quixote tại đây.
Những khu mỏ, thị trấn, và các nhà hát liên quan đến Shakespeare tồn tại nhiều vô số kể ở khắp miền tây Hoa Kỳ: những khu mỏ được đặt tên theo các nhân vật và vở kịch của Shakespeare rải rác khắp dãy núi Colorado. Nghiên cứu của Roz về chủ đề này chính là của tôi, được tiến hành cho một bài viết tôi thực hiện cho tạp chí Smithsonian với tên gọi “Một thi sĩ đã chinh phục miền Tây như thế nào” [Tháng Tám, 1998]. Thành phố Cedar, nằm ở vùng núi đá đỏ au của bang Utah, là nơi diễn ra Festival về Shakespear ở Utah, thành phố này rất tự hào về một bản sao mới xây lại của nhà hát Quả cầu thời Elizabeth - mặc dù tôi đã thêm vào Văn khố Preston dưới dạng bản sao ngôi nhà Shakespeare ra đời tại Stratford-upon Avon. Vụ cá cược về vai diễn Hamlet của Jem Granville được lấy cảm hứng từ một vụ cá cược có thật đã diễn ra vào năm 1861 ở Denver. Tôi đã xây dựng nội dung những bài báo trong tiểu thuyết từ những phóng sự trên tờ Tin tức Rocky Moutain thuật lại một cách chi tiết cuộc cá cược có thật trong lịch sử này.
Thị trấn ma mang tên Shakespeare nằm ở miền tây New Mexico, gần Lordsburg, trên biên giới bang Arizona; tôi đã nghe được câu chuyện về Bean Belly Smith vài lần từ những người chủ nhà. Tuy nhiên, tòa dinh thự
https://thuviensach.vn
của Athenaide nằm ở cuối con đường duy nhất của thị trấn là do tôi hư cấu thêm, mặc dù tòa lâu đài “nguyên bản” của Hamlet mà dinh thự đó mô phỏng theo là một địa điểm có thật - lâu đài Kronborg ở ngoại ô Elsinore (hay Helsingor) ở Đan Mạch, cũng như đại sảnh khiêu vũ tại lâu đài Hedingham, nơi đã từng là tư dinh của bá tước Oxford. Sự ám ảnh của những người theo trường phái Oxfordian với vở kịch Hamlet là có thật; những người này đã diễn giải giải vở kịch như một cuốn tự truyện được mã hóa của ứng cử viên họ ủng hộ. Như nhận xét của Kate và Athenaide, quả thực vở kịch có không ít điểm tương đồng đến kỳ lạ với cuộc đời của Oxford.
Học giả người Mỹ Delia Bacon đã bị điên năm 1857 trong khi đang viết tác phẩm nổi tiếng Làm sáng tỏ [sic] triết lý trong những vở kịch của Shakespeare. Câu chuyện bà thức trắng đêm trước ngôi mộ của Shakespeare tại nhà thờ Thánh Ba ngôi ở Stratford được tái hiện theo đúng lời kể của chính bà về sự kiện này, trong một lá thư gửi cho người bạn Nathanien Hawthorne. Mục sư của nhà thờ Thánh Ba ngôi, Granville J. Granville, đã cho phép bà làm việc đó; mục sư Granville có vài người con, nhưng Jeremy (Jem) là do tôi hư cấu thêm vào gia đình ông. Cũng như vậy, bác sĩ George Fayrer đúng là người đã đưa Delia vào trại điên tư của ông ở Henley-in-Arden vào ngày 30 tháng Mười một năm 1857, nhưng cô con gái Ophelia của ông hoàn toàn là sản phẩm từ trí tưởng tượng của tôi.
Francis J. Child là giáo sư Anh văn tại Đại học Harvard từ năm 1876 cho tới tận khi ông qua đời năm 1896; bộ sưu tập các bản ballad bình dân của Anh và Scotland do ông thực hiện cho đến nay vẫn là một trong những công trình học thuật lớn về văn học Anh. Ông cũng là một học giả xuất sắc về Shakespeare. Giống như trong tiểu thuyết, hoa hồng là một niềm đam mê lớn nữa của đời ông (và quả thực có một cây hồng Lady Banks lâu năm rất nổi tiếng mọc trong vường sau một nhà trọ - ngày này là bảo tàng - ở Tombstone, bang Arizona, mặc dù tôi đã lùi thời gian nó được trồng sớm lên vài năm). Tôi hy vọng hương hồn ông sẽ tha thứ cho tôi vì đã gán cho ông một đứa con sinh ra từ tình yêu.
https://thuviensach.vn
Những bài sonnet của Shakespeare có vẻ được viết một cách rõ ràng dành cho chàng thanh niên tóc vàng rụt rè hoặc quý bà tóc đen bí hiểm, thi sĩ có vẻ như bị ràng buộc với hai người này trong mối tình tay ba. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã bỏ công sức nhằm xác định xem quý bà và chàng thanh niên là ai; chưa ai trong số hai nhân vật bí ẩn này được xác định danh tính một cách thuyết phục. Trong mười bảy bài sonnet đầu tiên, Shakespeare cầu khẩn chàng thanh niên hãy có một đứa con. Thật đáng tò mò, lòi nói đầu của Theobald cho vở kịch Hai sự dối trá có ảm chỉ đến một người con gái ngoài giá thú của Shakespeare chưa từng được nhắc tới ở bất cứ nơi nào khác. Thi sĩ - người kể chuyện của những bài sonnet bị giày vò bởi ngọn lửa ghen tuông vì mối quan hệ giữa chàng thanh niên và quý bà tóc đen, việc gán đứa bé gái này cho quý bà và làm cho danh tính người cha đưa bé mơ hồ cũng là tự nhiên - nhưng mối liên hệ này là do tôi hư cấu nên và không hề được tìm thấy trên thực tế.
Nicholas Hilliard quả thật là họa sĩ nổi bật nhất nước Anh vào thời Shakespeare còn sống; theo một nghĩa nào đó, có thể coi ông như là Shakespeare của mỹ thuật. Hilliard chuyên vẽ những bức chân dung cỡ nhỏ với những chi thiết tinh xảo, chính xác như một bức ảnh chụp. Bảo tàng Victoria và Albert ở London sở hữu một bức chân dung như vậy, vẽ một người đàn ông với hậu cảnh là những ngọn lửa.
Thomas Shelton là quản gia mang hai dòng máu Anh và Ireland của gia đình Howard, đúng là người đã dịch Don Quixote sang tiếng Anh; bản dịch của ông ta được xuất bản năm 1612. Trong khi người em của ông ta chỉ là nhân vật hư cấu, trên thực tế đã có một số lượng không nhỏ người Anh theo Công giáo mộ đạo bí mất trốn tới lục địa để học tại các trường dòng giống như Học viện Hoàng gia St. Alban ở Valladolid. Những tu sĩ Jesuit người Anh thường được gửi trở lại Anh để coi sóc phần hồn cho những tín đồ Thiên chúa giáo ở nước này một cách bí mật.
Những tu viện xuất hiện sớm nhất ở Santa Fe và vùng lân cận, ở khu vực hiện nay là bang New Mexico, đều thuộc dòng tu Franciscan. Người bản địa châu Mỹ ở khắp vùng tây nam - lúc đó là Tân Tây Ban Nha với người Âu - liên tiếp nổi dậy trong thế kỉ mười bảy, tàn sát những người Tây Ban
https://thuviensach.vn
Nha xâm lược, đặc biệt là các tu sĩ. Dãy núi Dragoon ở vùng đông nam Arizona là căn cứ địa của người Apache cho tới khi Geronimo bị bắt năm 1886. (Người thủ lĩnh Apache vĩ đại Cochise yên nghỉ ở một địa điểm bí mật nào đó trong những dãy núi này). Mặc dù tôi đã hư cấu ra hẻm núi và khu hang động trong đó Kate tìm thấy kho báu bị chôn vùi cùng những bộ hài cốt, quả thực vùng này chứa đựng vô số hang động. Hang động Kartchner nằm gần đó (và mới được phát hiện gần đây) là một ví dụ tuyệt vời về những “cung điện tự nhiên” mà những lòng núi rỗng chắc hẳn vẫn còn ẩn giấu.
“Chữ ký” trong cuốn Kinh thánh của vua James vẫn luôn nằm đó cho bất kỳ ai muốn xem (hay muốn đếm). Tại sao nó lại có mặt ở đó là câu hỏi vẫn chưa được giải đáp, và tôi cũng không rõ ai đã “phát hiện” ra nó. Không ai biết rõ bài Thánh thi số bốn mươi sáu, hay toàn bộ Sách các Thánh thi, được hoàn thành vào thời điểm nào (mặc dù thời điểm đó chắc chắn nằm giữa năm 1604 và 1610) , hay ai đã phụ trách bài Thánh thi nào. Cả Lancelor Andrewes, thu viện trưởng Westminster và sau đó là giám mục Chichester, và Laurence Chaderton, hiệu trưởng trường Đại học Emmannuel ở Cambridge, đều là những nhà thần học đã tham gia biên soạn cuốn Kinh thánh, và Chaderton, một người theo Thanh giáo, là thành viên của “Ủy ban Cambridge thứ nhất” được phân công phụ trách các bài Thánh thi. Tuy nhiên, bức thư của giám mục có nói đến Chaderton là do tôi tưởng tượng ra.
Mặt khác, ngày tháng năm sinh của Bacon, Derby, và nữ bá tước Pembroke đều dựa trên các tư liệu lịch sử chính thức.
Biến một giấc mơ giữa ban ngày thành một cuốn tiểu thuyết hóa ra lại cần đến vô số sự giúp đỡ và lời động viên. Trước hết và trên hết, tôi muốn cám ơn Brian Tart và Mitch Hoffman, sự kiên nhẫn cùng đôi mắt sáng suốt của họ đã giúp tôi định hình cuốn sách này. Bằng cách nào đó, họ đã giúp tôi luôn giữ được tiếng cười. Neil Gordon và Erika Imranyi đã giúp quá trình sáng tác của tôi được trôi chảy. Noah Lukeman tin chắc đây là cuốn sách tôi nên viết và đã làm những điều kỳ diệu để biến nó thành sự thật.
https://thuviensach.vn
Vì những ý kiến chuyên môn và tư liệu về nhiều lĩnh vực mà họ đã cung cấp, tôi cũng muốn gửi lời cám ơn tới Ilana Addis, Michelle Alexander, Kathy Allen, Bill Carrell, Jamie de Courcey, Lionel Faitelson, Dave và Ellen Grounds, cha Peter Harris, Jessica Harrison, Charlotte Lowe-Bailey, Peggy Marner, Karen Melvin, Kristie Miller. Liz Ogilvy, Nick Saunders, Brian Schuyler, Dan Shapiro, Ronald Spark, Ian Tennent, và Heidi Vanderbilt. Diễn đàn Straw Bale và Câu lạc bộ văn học Tucson đã được nghe một số trang bản thảo ban đầu, và để được tham dự vào hai nhóm này, tôi phải biết ơn Bazy Tankersley.
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt tới tiến sĩ Javier Burrieza Sanchez, thủ thư và quản lý văn khố tại Học viện Hoàng gia St. Alban ở Valladolid; tới Nigel Bailey, người quản lý, và Carol Kitching, hướng dẫn viên chính tại dinh thự Wilton và Wiltshire; và tới Sarah Weatherall tại nhà hát Quả cầu của Shakespeare, London. Tập thể nhân viên thư viện Folger ở Washington D. C. , cũng như nhà thờ Thánh Ba ngôi và trung tâm Thư viện Shakespeare, đều ở Stratford, cũng đã giúp ích cho tôi rất nhiều.
Hơn bất cứ ai khác, Marge Garber đã góp phần định hình suy nghĩ của tôi về Shakespeare trên những trang giấy. Những thành viên của đoàn sân khấu Hyperion tại trường Harvard, trong những năm 1996 - 1998, và Shakespeare & Company, tại Lenox, Massachusetts, đã dạy cho tôi biết tất cả những gì về Shakespeare trên sân khấu. David Ira Goldstein và đoàn kịch Arizona đã đón tiếp tôi đến với thế giới của sân khấu chuyên nghiệp như một người khách thường xuyên.
Ba người đã lắng nghe, đọc và nhận xét không ngừng trong suốt quá trình cuốn sách này hình thành: Kristen Poole, học giả, người kể chuyện, và người bạn: mẹ tôi, Melinda Carrell, người đầu tiên truyền cho tôi tình yêu với những cuốn sách; và chồng tôi, Johnny Helenbolt.
Không gì có thể nói hết lòng biết ơn của tôi dành cho Johnny. PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày 29 tháng Sáu năm 1613
Nhìn từ dưới sông lên, như thể đang có hai mặt trời chiếu sáng London.
https://thuviensach.vn
Một mặt trời đang lặn dần về phía tây, tỏa ra những dải hào quang màu hồng và vàng. Nhưng mặt trời thứ hai mới là nguyên nhân làm xuất hiện trên mặt nước sẫm màu của sông Thames một đám đông hỗn độn thuyền, mảng, ghe và đò: từ tòa tháp đổ nát của nhà thờ thánh Paul thẳng qua bên kia sông, một quả cầu lửa màu da cam ảm đạm như thể đã lạc hướng đường chân trời và đâm xuống bờ nam. Phình to ra giữa những quán trọ và nhà thổ của khu Southwark, những lưỡi lửa dữ dội của nó như xé toạc màn đêm.
Tất nhiên đó không phải là một mặt trời khác, cho dù những người tự coi mình là thi sĩ đang lan truyền ý tưởng đó từ thuyền này sang thuyền khác. Đó là - hay đã từng là - một tòa nhà. Nhà hát nổi tiếng nhất trong số những nhà hát có tiếng tăm của London, một tòa nhà hình tròn bằng gỗ rỗng, nơi ngự trị những giấc mơ của thành phố, nhà hát Quả cầu đang cháy. Và cả London quay về hướng bờ sông quan sát.
Trong đó có bá tước Suffolk. ” Thượng đế đã giáng lửa từ thiên đường xuống Sodom và Gomorrah” , bá tước lẩm bẩm trong khi nhìn về phía nam từ chiếc du thuyền riêng lộng lẫy như một cung điện nổi của mình. Giữ chức thị thần Anh quốc, Suffolk điều khiển cả triều đình của nhà vua. Một tai họa như vậy rơi xuống đấu những người được nhà vua sủng ái - đoàn nghệ sĩ được Hoàng thượng yêu quý, những người này không chỉ trình diễn ở Quả cầu khi họ không bận biễu diễn tại triều đình, mà họ còn là chủ sở hữu nhà hát - đáng ra phải làm ông bận tâm. Hay ít nhất cũng làm ảnh hưởng ít nhiều tới sự vui vẻ của bá tước. Song hai người ngồi cùng ông dưới mái che bằng lụa đều không tỏ vẻ ngạc nhiên, vừa nhấp rượu vang vừa quan sát đám cháy.
Sự im lặng làm Suffolk không hài lòng. ” Lộng lẫy đấy chứ?” ông mào đầu ” Phô trương.” người lên tiếng cắt ngang là ông bác dù tóc đã bạc nhưng vẫn còn phong độ lịch lãm ở tuổi ngoài bảy mươi, bá tước Northampton. Người trẻ tuổi nhất trong ba người, cũng là con trai và người thừa kế của Suffolk, Theophilus, Lord Howard de Walden, cúi người về phía trước với dáng vẻ của một con sư tử trẻ sung sức ngắm nhìn con mồi. ” Sự báo thù của chúng ta sẽ còn cháy sáng hơn và buổi sáng, khi ngài Shakespeare và gánh hát biết sự thật.”
https://thuviensach.vn
Northampton nheo mắt nhìn chăm chú vào người cháu, ” Ngài Shakespeare và gánh hát, như cháu gọi, sẽ không biết điều gì hết.”
Trong khoảnh khắc, Theo ngồi cứng người dưới cái nhìn của ông mình. Sau dó y bật dậy ném mạnh cốc rượu của mình vào khoang thuyền, làm rượu vang bắn lên những bộ chế phục màu vàng nghệ của đám gia nhân thành vệt lốm đốm như da beo.
” Chúng đã nhạo báng em gái tôi trên sân khấu trước công chúng.” y lớn tiếng. ” Không toan tính nào của những ông già có thể tước đi của tôi quyền đòi món nợ danh dự cho mình.”
” Cháu thân mến” , Northampton quay đầu lại nói với Suffolk. ” Với một sự thường xuyên đáng ghi nhận, con trai anh đã thể hiện khuynh hướng hấp tấp rất đáng buồn. Ta không rõ nó từ đâu ra. Nhưng đây không phải là tính cách của một người dòng họ Howard.”
Ông ta lại quay sang Theo, lúc này tay phải đang nóng nảy hết nắm chặt lấy chuôi kiếm lại buông ra. ” Nhìn kẻ thù của mình một cách hả hê chỉ là cách trả thù của một gã ngốc.” ông bá tước già lên tiếng. ” Bất cứ gã nông dân nào cũng có thể làm được vậy”. Ông ra hiệu cho gia nhân rót cốc rượu khác cho Theo, anh cháu cau có miễn cưỡng cầm lấy. ” Thú vị hơn nhiều”. Northampton tiếp tục. ” Khi thương hạn kẻ thù và buộc hắn phải cảm ơn anh - cho dù hắn nghi ngờ anh mà không lý giải được vì sao.”
Trong khi ông ta đang nói, một chiếc thuyền nhỏ cập mạn du thuyền. Một người đàn ông lướt người trên thang vụt tới trước mặt Northampton, lẩn tránh ánh sáng như thể một linh hồn lang thang lén lút quay về với thân xác của mình. ” Những gì đáng làm, Seyton đây sẽ nói cho các anh biết”. Northampton nói tiếp, ” Việc đó đáng được làm một cách tế nhị. Ai làm điều đó không đáng bận tâm lắm. Ai biết ai đã làm điều đó cũng hoàn toàn không đáng quan tâm”. Seyton quỳ gối trước mặt bá tước già trong khi ông ta đặt tay lên vai y. ” Bá tước Suffolk và cậu cháu họ của ta cũng đang tò mò muốn nghe anh kể lại mọi chuyện như chính ta vậy.”
Gã đàn ông khẽ hắng giọng. Giọng nói của gã, cũng như quần áo và cả đôi mắt gã, đều ám một màu khó tả giữa xám và đen. ” Thưa ngài, đám cháy bắt đầu khi người pháo thủ của đoàn kịch bị ốm bất ngờ sáng hôm nay.
https://thuviensach.vn
Người thay thế anh ta có vẻ đã nạp khẩu đại bác bằng đồ độn rời. Người ta thậm chí còn nghi ngờ chúng đã bị tẩm hắc ín”. Miệng gã hơi nhếch lên như kín đáo mỉm cười ranh mãnh.
” Tiếp tục đi!” Northampton phẩy tay.
“Vở kịch diễn chiều nay là một vở khá mới, có tên gọi là Tất cả đều đúng. Vở kịch nói về vua Henry VIII”.
“Harry vĩ đại,” Suffolk lẩm bẩm, một tay đưa xuống khỏa nước. “Cha đẻ của nữ hoàng quá cố. Một chủ đề nguy hiểm.”
“Theo nhiều cách thưa ngài.” Seyton trả lời. “Vở kịch gồm vũ hội hóa trang và diễu binh, có cả màn bắn đại bác chào mừng. Khẩu súng bắn như dự định, nhưng khán giả đã quá cuốn hút vào câu chuyện tào lao trên sân khấu đến mức chẳng ai phát hiện ra những tàn lửa rơi trên mái. Khi có người ngửi thấy mùi khói thì cả mái lá đã ngập lửa, và họ chỉ còn cách chạy tháo thân.”
“Thiệt hại về người?”
“Hai người bị thương”. Kẻ thuật chuyện liếc mắt về phía Theo. “Một người đàn ông tên là Shelton”.
Theo giật mình. “Cái gì?” anh lắp bắp. “Bị thương ra sao?” “Bị bỏng. Không nặng lắm. Nhưng rất khủng khiếp. Từ chỗ quan sát của mình - một chỗ rất đẹp nếu tôi có thể nhận xét - tôi thấy anh ta kiểm soát tình hình, tổ chức cho mọi người sơ tán khỏi nhà hát. Đúng lúc có vẻ như tất cả đã thoát ra ngoài, một cô bé xuất hiện ở một cửa sổ tầng trên. Một cô bé rất xinh, với mái tóc sẫm rối bù và đôi mắt điên dại. Giống như bị quỷ ám.
“Trước khi có ai đó kịp ngăn anh ta lại. Shelton chạy trở vào bên trong. Nhiều phát trôi qua, đám đông bắt đầu tuyệt vọng, thì anh ta lao qua màn lửa với cô bé trên tay, phía sau người anh ta bốc cháy. Một cô gái làng chơi khu Southwark tạt thùng bia vào anh ta, và anh ta lại biến mất. Lần này trong làn hơi mù mịt. Hóa ra cái quần của anh ta đã bắt lửa, nhưng thật thần kỳ là anh ta chỉ bị vài vết bỏng.”
“Anh ta đâu?” Theo to tiếng. “Tại sao mi không đưa anh ta về cùng?”
https://thuviensach.vn
“Tôi đâu có quen anh ta, thưa ngài.” Seyton phân trần. “Hơn nữa, anh ta là người hùng vào thời điểm đó. Tôi không thể kéo anh ta khỏi đám đông một cách kín đáo được.”
Liếc nhìn đứa cháu họ một cách khinh bỉ, Northampton cúi người về phía trước. “Thế còn đứa bé?”
“Bất tỉnh.” Seyton đáp.
“Tội nghiệp thật,” ông bá tước già nói, “Nhưng lũ trẻ có thể mạnh mẽ đến độ đáng kinh ngạc”. Có gì đó không được nói ra thành lời diễn ra giữa ông ta và người gia nhân của mình. “Có thể con bé sẽ qua khỏi!” “Có thể.” Seyton nói.
Northampton ngồi xuống. “Thế còn gã pháo thủ?”
Một lần nữa, miệng Seyton nhếch lên thoáng mỉm cười, “Không tìm thấy đâu cả.”
Không có gì thực sự thay đổi trên khuôn mặt Northampton, tuy thế, khuôn mặt ông ta bừng lên vẻ hài lòng đen tối.
“Cái quan trọng là Quả cầu”. Suffolk băn khoăn.
Seyton thở dài.” Mất trắng hoàn toàn, thưa ngài. Nhà hát cháy rụi, khu nhà nghỉ phía sau, kho trang phục của đoàn kịch, đồ trang sức giả, gươm và khiên gỗ… tất cả đã ra tro. John Heminges đứng như trời trồng giữa đường, khóc rống lên vì tòa nhà hát đáng yêu của ông ta, tiền của ông ta, và hơn hết là những kịch bản. Thưa ngài, giờ đây Những Người Của Nhà Vua không còn chốn dung thân nữa.”
Bên kia sông, một tiếng động lớn vang lên bầu trời. Những gì còn lại của nhà hát nổ tung, đổ sụp xuống thành một đống tro và những cục than hồng. Một làn gió nóng bất thần thổi qua sông, cuốn theo cơn mưa tàn tro đen kịt. Theo hét lên đắc ý. Bên cạnh y, ông bố đưa bàn ta kiểu cách lên vuốt tóc và râu. “Ngài Shakespeare sẽ không bao giờ dám đùa giỡn với họ Howard nữa.”
“Chừng nào ta hay anh còn sống,” Northampton nói. Được rọi sáng bởi đám cháy, cặp mi nặng nề sụp xuống đôi mắt nham hiểm, sống mũi nhọn hoắt như bị tuổi tác mài dũa, ông ta trông như bức tượng của một vị ác thần được tạc từ cẩm thạch đen. “Nhưng không bao giờ là mãi mãi”.
https://thuviensach.vn
1
29 tháng Sáu 2004
Chúng ta ai cũng bị ám ảnh. Không phải bởi những tiếng động bí hiểm hay những bóng đén thoáng hiện thoàng mất, lại càng không phải bởi những kỵ sĩ không đều hay những bà hoàng khóc than ai oán - bước chân của những bóng ma có thật luôn vang vọng trên những bức tường thành của ký ức, mãi mãi thì thầm: Hãy nhớ tới tôi. Tôi bắt đầu hiểu ra điều này khi đang ngồi một mình trong ánh hoàng hôn trên một quả đồi nhìn xuống London. Dưới chân tôi, Hampstead Heath hòa lẫn vào khoảng không gian rộng mênh mông màu xám bạc của thành phố phía dưới. Một chiếc hộp nhỏ bọc giấy lụa vàng có buộc nơ sáng ánh lên mờ mờ nằm trên đầu gối tôi. Trong những tia sáng ban ngày cuối cùng, những họa tiết hình dây nho và lá, hay cũng có thể là hình mặt trăng và các vì sao, nổi lên trên bề mặt giấy.
Tôi áp cả hai lòng bàn tay ôm lấy chiếc hộp nâng lên. “Cái gì đây?” Tôi đã hỏi câu này trước đó trong ngày, giọng nói của tôi vang vọng dãy hành lang thấp ở nhà hát Quả cầu, nơi tôi đang đạo diễn vở Hamlet. “Một lời xin lỗi? Một sự mua chuộc?”.
Rosalind Howard, giáo sư về Shakeapeare của trường Harvard, con người lập dị với vẻ ngoài lòe loẹt - sự pha trộn giữa một chiến binh Amazon, một bà mẹ và một bà hoàng digan - nghiêng người về phía tôi, “Một cuộc phiêu lưu. Và cũng là một bí mật”.
Tôi luồn ngón tay xuống dưới sợi dây buộc, nhưng Roz đã ngăn tôi lại, đôi mắt màu lục của bà chăm chú nhìn vào khuôn mặt tôi. Bà đã ở tuổi ngũ tuần, mái tóc sẫm màu cắt ngắn đến mức trông như của một cậu bé; đôi hoa tai dài lóng lánh đu đưa dưới đôi tai bà. Một tay bà cầm chiếc mũ rộng vành màu trắng gắn những bông mẫu đơn băng lụa đỏ thắm - một món đồ kỳ dị như thể vừa được lôi ra từ những ngày đầy mê hoặc của Audrey Hepburn và Grace Kelly. “Nếu cô mở cái hộp, cô phải đi tới nơi nó dẫn cô”.
Đã có thời bà là người đỡ đầu, đồng thời cùng là thần tượng của tôi, rồi sau đó gần như thành người mẹ thứ hai. Khi bà đóng vai sư phụ, tôi là người đồ đệ ngoan ngoãn - cho tới ngày tôi quyết định rời trường đại học chuyển
https://thuviensach.vn
sang nhà hát ba năm trước. Chúng tôi đã có va chạm từ trước khi tôi quyết định ra đi, nhưng chính quyết định này dã cắt đứt hoàn toàn quan hệ giữa tôi và Roz. Roz nói thẳng rằng bà coi việc tôi chạy trốn khỏi tòa tháp ngà của trường đại học là sự phản bội. “Thoát thân” là cách tôi nghĩ về sự ra đi của mình; “lẩn trốn” là từ mà tôi nghe nói bà ưa dùng. Nhưng dù sao cũng chỉ là nghe nói. Suốt quãng thời gian đó, tôi đã không nhận được một từ thể hiện sự ân hận hay muốn làm lành từ phía bà, cho tới khi bà xuất hiện không hề báo trước vào chiều hôm đó. Tôi miễn cưỡng cho buổi tập tạm nghỉ mười lăm phút. Tôi tự nhủ thế đã là nhiều hơn những gì bà có quyền mong đợi.
“Bà đã đọc quá nhiều truyện cổ tích.” Tôi trả lời lớn tiếng, đẩy chiếc hộp trở lại mặt bàn. “Trừ khi cái hộp liên quan trực tiếp đến buổi tập, tôi không thể chấp nhận.”
“Kate bốc đồng,” bà vừa nói vừa mỉm cười buồn bã. “Không thể hay không muốn?”
Tôi vẫn ướng bướng im lặng.
Roz thở dài. “Mở hay không thì tùy, nhưng tôi muốn cô nhận nó”. “Không”.
Bà ngẩng đầu lên quan sát tôi. “Tôi đã tìm thấy một thứ, cô bé đáng yêu ạ. Một thứ rất lớn lao”.
“Tôi cũng vậy”.
Bà nhìn quanh nhà hát, những dãy lan can bằng gỗ sồi cao ba tầng uốn cong quanh phần sàn phẳng nhô ra của khu vực sân khấu được dát vàng và lát đá cẩm thạch lộng lẫy nằm ở đầu đối diện của nhà hát. “Được đạo diễn Hamlet ở nhà hát Quả cầu, tất nhiên là không đơn giản rồi. Nhất là với một người Mỹ trẻ tuổi - lại là phụ nữ. Đám đông hợm hĩnh nhất hành tinh, nhà hát Anh quốc. Không thể nghĩ tới một ai khác, tôi thích làm bừng tỉnh thế giới nhỏ bé thiển cận của họ hơn”. Đôi mắt bà quay lại nhìn tôi, liếc nhanh gói quà đang nằm giữa hai chúng tôi. “Những thứ này quan trọng hơn nhiều”.
Tôi nhìn bà nghi ngờ. Có phải bà thực sự muốn tôi rời bỏ Quả cầu để đi theo bà mà chỉ dựa vào vài lời bóng gió lửng lơ và sức hấp dẫn của một
https://thuviensach.vn
chiếc hộp nhỏ bé bọc giấy lụa vàng?
“Đó là cái gì vậy?” tôi hỏi.
Bà lắc đầu. “Nó nằm trong ký ức đã được đóng kín của tôi, và chính cô sẽ giữ chìa khóa của nó”.
Ophelia, tôi than thầm. Từ cô ta, mình đã trông đợi Hamlet, vai diễn chính, và từ sân khấu trung tâm mỗi buổi diễn. “Bà có thể ngừng nói năng khó hiểu như vậy trong hai phút liên tục được không?”
Bà ra hiệu về phía cửa, khẽ hất đầu. “Hãy theo tôi”.
“Tôi đang dở buổi tập”.
“Tin tôi đi.” bà nói, cúi người về phía trước, “Cô sẽ không phải hối tiếc đâu”.
Cơn giận bùng lên, tôi bật dậy đột ngột đến mức làm mấy cuốn sách rơi khỏi bàn.
Vẻ xa cách biến mất khỏi đôi mắt bà. “Tôi cần sự giúp đỡ, Kate”. “Bà hãy nhờ người nào khác”.
“Tôi cần cô giúp”.
Cần tôi giúp? Tôi cau mày. Roz có vô số bạn bè trong giới nghệ sĩ; bà không cần phải tới gặp tôi để hỏi về Shakespeare trên sân khấu. Chủ đề khác duy nhất mà bà quan tâm đến và tôi biết rõ hơn bà đang nằm giữa chúng tôi như một bãi mìn: bản luận văn của tôi. Tôi đã viết về phần huyền bí của Shakespeare. Nghĩa cũ của từ “bị che khuất” , tôi đã luôn phải vội vàng chú thích thêm. Không đầy vẻ ma lực đen tối như những từ “bị che giấu” , “tối tăm” , “bí mật”. Đặc biệt, tôi đã nghiên cứu về những cuộc truy tìm lại lùng, phần lớn diễn ra từ thế kỉ mười chín, để tìm ra những hiểu biết bí mật được mã hóa trong các tác phẩm của thi sĩ lừng danh này. Giống như tôi, Roz cũng thấy đề tài này thú vị và lôi cuốn - thậm chí bà đã tuyên bố công khai như vậy. Nhưng tôi được kể lại bà đã ngấm ngầm phá hoại nghiên cứu của tôi, cho rằng không đáng được coi là học thuật chân chính. Và bây giờ bà muốn tôi giúp đỡ?
“Tại sao?” tôi hỏi. “Bà đã tìm ra điều gì vậy?”
Bà lắc đầu. “Không phải ở đây.” bà vội hạ giọng ngăn tôi lại. “Khi nào cô xong việc?”
https://thuviensach.vn
“Khoảng tám giờ”.
Bà ghé lại sát tôi hơn. “Vậy hãy gặp tôi lúc chín giờ, trên đỉnh đồi Parliament”.
Vào giờ đó trời đã nhá nhem, ở một trong những điểm vắng vẻ nhất London. Không phải là thời điểm an toàn nhất để có mặt ở Heath, nhưng là một trong những thời điểm đẹp nhất. Trong lúc tôi do dự, dường như sự sợ hãi thoáng xuất hiện trên khuôn mặt Roz. “Xin cô đấy”.
Thấy tôi không trả lời, bà đưa tay ra, và trong khoảnh khắc tôi nghĩ bà muốn lấy lại chiếc hộp, nhưng thay vì thế bà đưa một ngón tay lên chạm vào tóc tôi. “Cũng với mái tóc đỏ và đôi mắt đen của Boleyn,” bà lẩm bẩm. “Cô có biết cô đặc biệt có dáng vẻ hoàng tộc khi nổi giận không?”
Đó là một câu đùa cũ - rằng tôi có một số nét giống Nữ hoàng. Không phải Nữ hoàng Elizabeth hiện tại, mà là bà hoàng đầu tiên mang tên này. Nữ hoàng vào thời của Shakespeare. Không chỉ mái tóc đỏ nâu và đôi mắt đen của tôi làn nên sự tương đồng đó, mà cả sống mũi hơi khoằm và làn da trắng điểm tàn nhang vì nắng. Đôi lần, bản thân tôi cũng thoáng nhận ra những điều này trong gương - nhưng tôi không bao giờ thích sự so sánh hay những gì dính dáng đến điều ấy. Cha mẹ tôi qua đời khi tôi mười lăm tuổi, và tôi sống với một bà bác. Từ đó trở đi, phần lớn cuộc đời tôi trôi qua bên những người phụ nữ lớn tuổi độc đoán, và tôi luôn thề sẽ không kết thúc giống như họ. Vì thế tôi thích nghĩ rằng tôi chẳng có gì nhiều tương đồng với bà hoàng tàn nhẫn của dòng họ Tudor, ngoài sự thông minh và đam mê với Shakespeare.
“Được,” tôi nghe thấy mình trả lời, “đồi Parliament lúc chín giờ”. Roz lúng túng hạ tay xuống. Tôi nghĩ bà không hoàn toàn tin tôi lại nhượng bộ dễ dàng như vậy. Chính tôi cũng không tin nổi. Những cơn giận của tôi đã qua đi.
Loa thông báo kêu lạch tạch. “Thưa quý bà, quý ông,” giọng người phụ trách sân khấu vang lên, “vào vị trí tập trong năm phút nữa”. Các diễn viên bắt đầu tụ tập vào khoảng sáng của sàn diễn. Roz mỉm cười đứng dậy. “Cô phải quay lại với công việc, còn tôi thì cần phải đi thôi”. Ký ức chợt tràn về, tôi như thấy thoáng hiện lên những màn đối đáp sắc sảo dí
https://thuviensach.vn
dỏm giữa chúng tôi trước đây. “Hãy giữ nó an toàn, Kate” , bà nói và nhìn chiếc hộp lần cuối. Sau đó bà quay đi.
Đó là nguyên do tại sao vào lúc cuối ngày tôi tới ngồi trên một băng ghế trên đỉnh đồi Parliament, làm chính việc mà tôi đã từng thề sẽ không bao giờ làm nữa: chờ đợi Roz.
Tôi vươn vai ngắm nhìn phong cảnh trải rộng phía xa. Bất chấp hai ngọn tháp nhọn hoắt của Canary Wharf ở phía đông và một nhóm nữa ở giữa thành phố, London nhìn từ trên ngọn đồi này thật thanh lịch, chính giữa là mái vòm của nhà thờ Thánh Paul, thành phố trông giống như chiếc tổ chim khổng lồ nâng niu một quả trứng tỏa sáng rực rỡ. Suốt một giờ qua, dòng người liên tục qua lại con đường phía dưới. Nhưng không có ai ngẩng đầu nhìn lên phía tôi trong khi rảo bước qua bãi cỏ với dáng đi ngạo mạn của Roz. Bà đang ở đâu?
Và bà hi vọng vào điều gì? Không ai đầu óc bình thường có thể tưởng tượng tôi sẽ từ bỏ công việc đạo diễn vở Hamlet tại nhà hát Quả cầu. Chưa đến ba mươi tuổi, người Mỹ, và trước nhất lại được đào tạo để làm một học giả, tôi có thể hình dung mình chính là hiện thân của sự đối lập với những gì mà những bậc lão làng của sân khấu Anh quốc có thể coi là lý tưởng cho một đạo diễn sân khấu. Lời đề nghị tiếp nhận Hamlet - viên ngọc quý giá nhất gắn trên vương miện của nền sân khấu Anh - có vẻ như một món quà từ trên trời rơi xuống. Đến mức tôi đã ghi lại lời nhắn qua điện thoại của ông giám đốc nghệ thuật nhà hát Quả cầu, đánh vần nhẩm lại từng từ. Đến tận bây giờ mỗi buổi sáng tôi vẫn bật lại giọng nói giật cục cấm cẳn của ông ta chỉ để tự thuyết phục mình. Với tâm trạng lâng lâng như thế, tôi chẳng quan tâm nhiều đến chiếc hộp cho dù nó có chứa bản đồ của Anlantis hay đầu mối dẫn tới chiếc rương Thánh tích. Hiển nhiên ngay cả khi tự tin vào mình nhất Roz cũng không thể trông đợi tôi đánh đổi chức danh “chỉ đạo diễn xuất” của mình lấy bất cứ bí mật nào, dù lớn hay nhỏ, mà nà đã trao cho tôi giữ.
Vở diễn sẽ bắt đầu ra mắt công chúng trong ba tuần nữa. Là đạo diễn, tôi phải tách mình ra khỏi mối quan hệ đồng nghiệp giữa các diễn viên và nhân
https://thuviensach.vn
viên, và đứng bên ngoài, nhường vở diễn lại cho các diễn viên. Trừ khi tôi dự định điều gì khác cho mình.
Chiếc hộp lóe sáng trên đầu gối tôi.
Được thôi, nhưng chưa phải bây giờ, tôi sẽ nói với Roz. Tôi sẽ mở món quà chết tiệt của bà khi tôi đã xong việc với Hamlet. Đó là trong trường hợp bà chịu xuất hiện để trả lời.
Dưới chân đồi, đèn lác đác bật sáng trong khi màn đêm lan ra trên thành phố như một đợt thủy triều đen. Buổi chiều trời rất nóng, nhưng trong màn đêm không khí bắt đầu se lạnh, và thật may tôi đã mang theo một chiếc áo khoác. Tôi đang mặc áo khoác vào thì nghe thấy tiếng cành cây gãy sau lưng mình, đâu đó phía trên đồi; cùng lúc, cảm giác có những cặp mắt đang quan sát mình khiến tôi ớn lạnh dọc sống lưng. Tôi đứng dậy quay lại nhìn, nhưng màn đêm đã buông xuống phủ dày lên rặng cây viền quanh đỉnh đồi. Không có gì chuyển động, có lẽ trừ gió thôi qua các hàng cây, “Roz?”
Không ai trả lời.
Tôi quay lai, nhìn quanh phía dưới đồi. Không có ai ở đó, nhưng dần dần tôi cảm nhận được những chuyển động trước đó tôi không phát hiện ra. Ở dưới ngọn đồi phía xa, phía sau nhà thờ Thánh Paul, một cuộn khói trắng đang chậm chạp bốc lên trời. Hơi thở của tôi nghẹn lại trong cổ họng. Phía sau nhà thờ Thánh Paul, nằm bên bờ nam sông Thames chính là nhà hát Quả cầu vừa được xây lại, tường trát vữa trắng với những tấm gỗ sồi đặt bắt chéo, mái lợp rạ rất dễ bắt lửa. Trên thực tế chính vì vậy đây là mái nhà lợp rạ đầu tiên được cho phép tồn tại ở London kể từ trận hỏa hoạn lớn đã bùng phát gần ba thế kỉ rưỡi trước, để lại thành phố trong tro tàn và những đống đổ nát bốc khói.
Tất nhiên khoảng cách rất dễ gây nhầm lẫn. Đám khói có thể bốc lên cách nhà hát năm dặm về phía nam hay một dặm về phía đông. Cột khói ngày càng dày hơn, bốc lên cuồn cuộn, màu chuyển xám rồi đen kịt. Một cơn gió đang thổi bùng đám cháy lên; ở giữa cuộn khói nhấp nhoáng những lưỡi lửa đỏ chói. Nhét món quà của Roz vào áo khoác, tôi sải bước xuống đồi. Khi xuống tới con đường bước chân của tôi đã chuyển sang nhịp chạy.
https://thuviensach.vn
2
Chạy vội ra tàu điện ngầm, tôi gọi điện cho bất cứ ai chợt nhớ ra, những người có thể biết điều gì đó. Vô ích. Tôi toàn rơi vào hộp thư thoại. Sau đó tôi lao xuống cầu thang dẫn tới đường tàu điện ngầm London, nơi điện thoại di động không có sóng.
Do vội đi gặp Roz sau buổi tập, tôi đã không làm những việc kiểm tra cuối ngày như thường lệ. Liệu tôi có quên tắt chiếc đèn trên bàn làm việc của mình? Có thể tôi đã làm nó bị đổ xuống, làm đống giấy tờ của tôi bị hun nóng âm ỉ rồi đợi đến lúc mọi người đã về mới bùng cháy? Nhà hát đã một lần bị cháy trước đây do sự bất cẩn, vào cuối đời Shakespeare. Nếu tôi nhớ không lầm, lần đó tất cả mọi người đã kịp chạy ra ngoài trừ một đứa trẻ.
Chúa ơi. Liệu tất cả mọi người có kịp ra ngoài không?
Xin đừng là Quả cầu, xin đừng là Quả cầu, tôi thầm cầu nguyện theo nhịp bánh tàu. Khi tôi vôi vã leo hai bậc cầu thang một để ra khỏi ga St Paul, trời đã tối hẳn. Chạy theo đường hẻm, tôi đi tới một đường cắt ngang rộng. Trước mặt tôi cả tòa nhà nhờ đứng sừng sững như tượng nhân sư, che khuất lối ra bờ sông. Quay sang phải, tôi bắt đầu chạy, lướt qua hàng rào sắt bao quanh khuôn viên nhà thờ, những bụi cây bám vào bờ tường. Rẽ trái vòng qua lối vào chính có hàng cột và bức tượng Nữ hoàng Anne quay mặt về hướng tây nhìn xuống Ludbate Hill. Lại rẽ trái lần nữa, vòng qua mặt nam của nhà thờ với một cổng vòm rộng hướng tới một lối đi mới được mở qua đống đổ nát thời trung cổ của London, mở ra một tầm nhìn rộng suốt từ nhà thờ xuống tận bờ sông. Tôi vòng qua góc đường và dừng lại.
Lối đi dẫn xuống phía sông; phía cuối đường là cầu bộ hành Millennium hình cánh cung bắc qua sông Thames tới khu nhà gạch thấp tè như pháo đài của Tate Modern bên bờ nam. Tôi vẫn chưa trông thấy nhà hát Quả cầu nằm bên trái bảo tàng; tôi chỉ nhìn thấy được khu nhà trung tâm của Tate, trông giống trạm điện như chức năng thuở ban đầu hơn là ngôi đền của nghệ thuật hiện đại như vai trò hiện nay. Chiếc ống khói cũ kĩ của khu nhà chĩa thẳng lên trời đêm; phần trên mới xây dựng của khu nhà, với kiến trúc bằng kính màu xanh lá cây và thép sáng lấp lánh như một thủy cung. Tất cả sáng rực lên trên nền của một quầng sáng màu da cam khủng khiếp.
https://thuviensach.vn
Sau khi đêm xuống, khu vực này của London - khu thành phố theo đúng nghĩa, trung tâm tài chính của nước Anh - đáng lẽ đã hầu như vắng tanh, nhưng xung quanh tôi lúc này từng đoàn người đang ùn ùn đổ tới, hối hả chạy xuống bờ sông. Tôi nhập vào họ, cố lách qua đám đông dày đặc. Những luống hoa và băng ghế vụt trôi qua. Một quán rượu cũ kỹ hiện ra phía bên phải, bên trái là những văn phòng hiện đại. Chạy cắt ngang con đường hẻm là phố Victoria, lúc này đầy nghẹt xe. Luồn giữa những chiếc taxi màu đen và những chiếc xe bus hai tầng sơn đỏ, tôi tiếp tục chạy.
Sau đó vài mét, con phố thu hẹp lại. Một đám đông chật ních đến ngột ngạt đang chen chân lên cầu Milennium để quan sát đám cháy. Tim tôi như ngừng đập; tôi sẽ không bao giờ chen qua được. Tôi ngoái nhìn phía sau. Đám đông đã bao kín quanh tôi; trừ khi mọc cánh, tôi chẳng thể đi đâu được.
Một tiếng động trầm rung rung vọng từ bên kia sông sang, từ phía bên trái khói ùn ùn đùn lên bầu trời, kéo theo trận mưa những tia lửa. Như một làn sóng, đám đông ồ lên dồn về phía cầu cuốn theo cả tôi. Một khoảng trống thoáng hé ra ở bên phải, và tôi nhìn thấy những bậc thang thấp dẫn xuống phía dưới. Tôi lách ra rìa đám đông và cuối cùng cũng thoát ra ngoài, nửa lao nửa trượt xuống những bậc tam cấp.
Cuối cùng tôi dừng lại ở đầu cầu thang nằm dưới cây cầu ba mét, nhìn chằm chằm sang bờ đối diện, miệng há hốc. Nhà hát Quả cầu đang bốc cháy. Khói đùn ra như những dòng máu đen sậm chạy dọc các bức tường; khói bốc lên trời dày đặc. Qua làn khói, những quầng lửa đỏ, da cam, vàng đủ hình dạng - lúc cuốn xoắn ốc, lúc chạy thành băng dài, lúc tuôn ra như vòi phun nước không ngừng vào màn đêm.
Điện thoại reo lên trong túi tôi. Đó là Henry Lee, một trong những bậc lão làng của sân khấu Anh, đang tham gia vào vở diễn của tôi trong vai hồn ma người cha của Hamlet. “Kate!” ông kêu lên khi tôi bật máy trả lời. “Cảm ơn Chúa!” Trong máy, tôi nghe thấy tiếng còi cứu hỏa vang lên inh ỏi. Ông ấy đang ở đó.
Sự lo lắng lại trỗi dậy trong tôi. “Mọi người đều thoát ra được chứ?” “Cô đang ở…?”
https://thuviensach.vn
“Mọi người đều thoát ra được chứ?”
“Ừ,” ông bực bội đáp. “Tất cả đều ở ngoài. Cô là người cuối cùng được tìm thấy đấy. Cô đang ở xó xỉnh nào thế?”
Tôi bực bội nhận ra những giọt nước mắt trộn lẫn kinh hoàng và nhẹ nhõm đang chảy xuống má. Tôi vội đưa tay lên lau nước mắt. “Ở nhầm phía bờ sông”.
“Chết tiệt. Cứ ở yên đấy”. Ông lấy tay che máy, và tiếng ồn cũng nhỏ dần. Vừa qua tuổi sáu mươi. Henry đã nổi tiếng trên sân khấu và màn bạc từ hơn ba thập kỉ nay. Hồi còn trẻ, ông đã vào vai Achille, Alexander, và Arthur; đức Phật và đức Chúa; Oedipus, Caesar và Hamlet. Như một nhà thẩm mỹ theo trường phái cổ điển, ông ưa dùng Saville Row, Veuve Cliquot, và những chiếc Bentley có kèm tài xế riêng. Tuy thế quá khứ của ông gian khổ hơn nhiều và thỉnh thoảng ông lại mang nó ra khoe một cách thích thú. Ông là con cháu của những người lái thuyền trên sông Thames; những cánh tay vạm vỡ của tổ tiên ông đã miệt mài làm việc trên sông hàng thế kỉ, chở người và hàng ngược, xuôi và sang ngang. Cứ thử cứa vào người ông, ông thường nói với giọng hơi nặng của cầu tàu đã ăn sâu vào con ngườ ông từ thời trẻ, là sẽ thấy chảy ra dòng nước màu xanh đục của sông Thames. Cho dù uống khá nhiều, Henry vẫn có thể ẩu đả chẳng khác gì một cầu thủ bóng đá
Chúng tôi quen nhau sáu tháng trước, khi tôi vừa giành được cơ hội đạo diễn vở kịch ở một góc khuất nẻo khu West End; vào phút chót, ông đã miễn cưỡng đồng ý vào vai chính trong hai tuần để trả một món nợ nào đó với tác giả vở kịch. Chỉ sau vài ngày, ông bắt đầu gọi tôi là “cô bé người Mỹ xuất sắc đó” , một câu nói mà mỗi khi được dùng làm lời giới thiệu luôn khiến tôi lúng túng và đánh đổ thứ gì đó, thường là cà phê hay rượu vang đỏ, xuống ngay trước mặt mình. Vở kịch thật tồi tệ và kéo dài đúng hai tuần; tuy vậy ba ngày sau tôi nhận được cú điện thoại từ nhà hát Quả cầu. Tôi ngờ rằng đây không phải là trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng Henry không bao giờ thừa nhận có can dự vào.
Ông lại hét tướng lên vào điện thoại: “Vớ vẩn, tôi đã nói với ông rồi, cô ấy sẽ ở đó… Xin lỗi nhé.” Ong nói với tôi, giọng dịu hẳn lại. “Tôi vừa được
https://thuviensach.vn
báo cho hay tất cả các cây cầu đều vô dụng rồi. Cô có thể thử đi xuống con đường đi bộ ven bờ sông không?”
“Nếu đó là nơi chiếc cầu thang ở dưới cầu Mellennium dẫn tới, thì chính là lựa chọn duy nhất của tôi”.
“Ở dưới…? Nhưng tuyệt quá! Xuống dưới chân cầu thang đi, cô bé yêu quý, và đi về phía đông. Tới chỗ hổng đầu tiên trên bức tường dẫn ra một bến tàu cũ. Cleopatra sẽ đón cô ở đó trong năm phút nữa”. “Cleopatra?”
“Chiếc du thuyền mới của tôi”.
Con đường đi bộ ven sông vắng vẻ lạ thường. Ánh trăng đổ những bóng dài xuống phía trước mặt tôi; phía sau, tiếng la hét của đám đông ở bên trên có vẻ như đã xa và không còn rõ. Tôi rảo bước về hướng đông, bức tường lớn ven sông nằm sát bên vai phải, bên trái tôi là những chiếc xuồng đáy bằng đã hỏng nằm chất đống. Ánh sáng nhẹ nhàng tỏa ra từ những ngọn đèn gắn trên tường. Ngay gần, ở phía dưới, một bức tường đá mỏng hơn nhô ra khỏi khối tường bê tông dày. Có cầu thang đi lên rồi đi xuống qua bức tường xinh xắn này, dẫn vào một khu vườn đầy hoa mọc lộn xộn. Trên bức tường ở phía đối diện, một khoảng trống mở toang vào màn đêm. Vượt qua cảm giác sợ hãi vừa chợt xuất hiện, tôi đi tới rìa khoảng trống.
Không khí ẩm ướt mặn mùi muối xộc lên. Tôi rùng mình lùi lại. Nếu đúng là chỗ này thì Henry sẽ có mặt bất cứ lúc nào. Tôi trấn an mình, bước lại phía rìa lần nữa. Một chiếc thang dốc bằng gỗ, trơn nhẫy và đen xỉn lại vì rong tảo bám vào, bắc xuống phía dưới tối đen. Không có tay vịn. Đưa tay ra bám lấy đầu tường hai bên, tôi đặt một chân lên bậc thang trên cùng. Bậc thang gỗ kêu răng rắc, nhưng vẫn chịu được sức nặng của cơ thể tôi. Tôi nhìn xuống dưới. Chiếc thang có vẻ như được gắn vào tường bằng những chiếc đinh cũ kỹ đến mức có khi được nhặt nhạnh từ những chiếc thập giá thời Roma. Chẳng có bến tàu nào cả; sau khi đi xuống chừng bốn mét rưỡi, chiếc thang chìm thẳng xuống nước.
Tôi cố nhìn qua sông sang phía bờ nam. Ngay phía dưới nhà hát Quả cầu, có cái gì đó đang di chuyển trên mặt sông tối đen. Chiếc Cleopatra chăng?
https://thuviensach.vn
Chắc chắn đó là một chiếc thuyền. Đúng rồi - nó đi thẳng tới chỗ tôi. Chắc chắn đúng rồi.
Lần từng bước một, tôi chậm chạp dò dẫm xuống thang cho tới khi chỉ còn cách mặt nước chừng một mét, mặt sông lúc này phẳng lặng như làm bằng thủy tinh sẫm màu. Thỉnh thoảng, vài vật gì đó không rõ bốc mùi khó chịu bập bềnh trôi từ phía trái sang phía phải, có nghĩa là thủy triều đang lên. Chống lại cảm giác chóng mặt, tôi đứng im đưa mắt nhìn qua sông. Ở giữa sông, mặt nước phản chiếu ánh sáng cả từ thành phố và đám cháy. Sau đó tôi nhận thấy một chuyển động khác. Chiếc thuyền của Henry đang chạy ngang qua sông. Nhưng khi tôi bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm thì chiếc thuyền lượn một vòng rộng, để lộ ra bên mạn phù hiệu trắng-đen của thuyền cảnh sát. Vậy là không phải Cleopatra. Chiếc thuyền cảnh sát lao vụt đi, biến mất dưới cầu Millennium.
Khi làn sóng do chiếc thuyền tạo ra đã lan tới tận bậc thang dưới cùng, làm mặt nước khẽ nhấp nhô thành đợt thì tôi nghe thấy một âm thanh nhỏ từ hướng khác vọng lại. Một tiếng động rất khẽ, có thể là tiếng bước chân, từ phía trên cầu thang. Một lần nữa, cảm giác có cặp mắt đang theo dõi khiến tôi nổi da gà. Có thể Henry đã buộc thuyền ở một bến thuyền tử tế nào đó rồi đi bộ đến tìm tôi. Tôi quay lại nhìn. Phía trên thang và khoảng tường thủng không có gì ngoài ánh trăng. “Ai đó?” tôi hỏi nhưng không ai trả lời.
Rồi tôi nghe thấy một tiếng động đã nghe nhiều lần trên sân khấu: tiếng soạt lạnh lẽo của một lưỡi kiếm được rút khỏi vỏ.
Tôi bước xuống bậc thang nữa. Rồi một bậc nữa. Bậc thang tiếp theo đã nằm dưới mặt nước.
Tôi ngoái lại nhìn sang bên kia sông. Không có chiếc thuyền nào khác trên mặt nước. Henry đang ở chỗ quái quỷ nào mới được chứ? Và lạy Chúa, tại sao tôi lại mò đến cái xó xỉnh vắng vẻ này một mình? Tôi không bao giờ có thể mơ tới điều tương tự khi còn ở New York hay Boston? Tôi đã nghĩ gì không biết nữa?
Tôi nhìn lại phía cũ. Tôi cố căng mắt nhìn vào màn đêm, nhưng người bí ẩn ở phía trên đã lặng lẽ biến mất - nếu thực sự lúc đầu có ai đó ở phía trên. Có thể thần kinh tôi quá căng thẳng. Có thể lắm.
https://thuviensach.vn
Nhìn xuống thấp hơn một chút, tôi phát hiện ra có gì đó chuyển động gần mặt nước. Ở hai bên chiếc thang, những sơi xích sắt khẽ đung đưa va đập vào bức tường. Về phía đông, một chiếc thuyền nhỏ chèo tay đậu sát tường, đang bập bềnh theo dòng nước. Nếu tôi tới được chỗ chiếc thuyền đậu, tôi có thể chèo thoát khỏi chỗ này tới nơi an toàn.
Nhưng rồi tôi nhận ra nó không được buộc vào bờ. Neo của chiếc thuyền vẫn chưa được thả, nó đang dịch dần về phía tôi.
Tôi quay đầu nhìn sang bờ bên kia. Tôi đã rơi vào một cái bẫy; đường thoát duy nhất là con sông. Cúi xuống quan sát mặt nước đang dập đềnh ngay dưới bàn chân mình, tôi chợ nghĩ tới dòng chảy. Tôi có thể bơi qua được không? Hay tốt hơn nên nhẹ nhàng trườn xuống nước, để dòng nước đưa tôi đi dọc bức tường cho tới khi tìm thấy một chiếc thang khác.
Một lần nữa, tôi lại ngoái đầu nhìn dọc bức tường ven bờ sông. Tôi chỉ nhận ra lờ mờ hình dáng chiếc thuyền chèo tay, nhưng như thế cũng đã quá đủ. Nó đang tiến lại gần. Tôi liếc nhìn xuống bậc thang dưới chân mình và sờ tay vào túi áo, nhưng không tìm thấy thứ gì khả dĩ có thể dùng làm vũ khí. Chẳng có đoạn que hay cục đá nào cả; trong túi áo tôi chỉ có độc mấy đồng tiền xu và chiếc hộp màu vàng của Roz. Bí mật của bà.
Hãy giữ nó an toàn, bà đã nói vậy. Thế có nghĩa nó đang bị đe dọa? Hoặc bản thân tôi, chừng nào còn giữ nó, cũng sẽ không được an toàn? Trời đánh cái hộp chết tiệt đó.
Tôi nghe thấy tiếng máy nổ - và từ dưới cầu Millennium xuất hiện thân hình trắng muốt bóng bẩy của một chiếc du thuyền. Chiếc Cleopatra! Cẩn thận không để mất thăng bằng trong tư thế chông chênh hiện tại của mình, tôi đưa một tay lên vẫy. Trong một lúc lâu, không thấy ai trả lời. Rồi Henry xuất hiện ở giữa chiếc du thuyền và vẫy tay đáp lại.
Phía sau lưng tôi về bên trái, tôi cảm thấy chiếc thuyền chèo tay dừng lại hơn là nhìn thấy; nước sông khẽ vỗ vào thân thuyền. Chiếc Cleopatra rồ máy chạy tới gần hơn, át hết mọi âm thanh khác cho tới khi người lái thuyền của Henry tắt máy. Đúng lúc đó, tôi nghe thấy tiếng kêu răng rắc do vật gì nặng đè lên bậc thang trên cùng. Liếc nhìn lại phía sau, tôi thoáng nhìn thấy ánh thép.
https://thuviensach.vn
Tôi vội vã nhảy xuống chiếc Cleopatra và ngã nhào ra sàn thuyền ngay dưới chân Henry.
“Cô không sao chứ?” , Henry hỏi lớn tiếng.
Lồm cồm đứng dậy, tôi vẫy tay ra hiệu cho ông. “Đi ngay”. Henry gật đầu, người lái thuyền mở máy chạy lùi ra. “Ông đã ở đâu vậy?” Tôi hổn hển hỏi khi chúng tôi lùi thuyền vòng lại. “Tôi cứ nghĩ ông ở chỗ nhà hát”. “Sao cô nghĩ thế?” Henry hỏi, kéo tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh ông. “Tôi nghe thấy tiếng còi. Trong điện thoại”.
Ông lắc đầu. “Tất cả còi ở London đều rít lên như thế trong một tiếng đồng hồ vừa qua, cô bé thân mến à. Không, tôi đang dự một buổi chiêu đãi nhạt nhẽo ở tận trên thượng nguồn sông cơ. Tuy thế cuối cùng buổi tiệc có vẻ cũng thú vị.” ông nói, đồng thời quan sát đám đông trên cầu. “Phần lớn mọi người đã quên điều này, nhưng ocn sông vẫn là đường tuyệt vời nhất để đi qua thành phố.”
Khi việc buôn bán trên sông bắt đầu suy thoái sau Thế chiến thứ hai, ông bố của Henry đã chìm trong men rượu, bị giày vò giữa bực bội và ân hận, cho tới một đêm dòng sông đã chấm dứt sự thống khổ của ông bằng cách đón nhận lấy con người khốn khổ này. Chàng trai trẻ Harry - như người ta gọi Henry lúc ấy - đã đi theo con đường khác: sử dụng vẻ đẹp đầy cuốn hút trong giọng nói và hình thể của mình để đem đến niềm vui cho công chúng. Ông bắt đầu với vai diễn các thủy thủ, rồi các chủ cho thuê nhà, nếm thử một chút kinh nghiệm với Hải quân Hoàng gia - ông thường thích bóng gió rằng ông có được vị trí của mình ở đó bằng cách đe dọa - rồi cuối cùng kết thúc trên sân khấu kịch như một ông hoàng. Không người nào đang sống lại hiểu rõ về mọi loại nhân vật của Shakespeare từ gái làng chơi đến vua chúa, hay những gam màu tính cách của họ - từ vinh quang tới bóng tối và ngược lại - như ông, và có lẽ cũng vì vậy mà ông diễn các vai đó sắc sảo hơn, nhiều đam mê hơn bất cứ ai khác tôi từng chứng kiến.
Đã một thập kỷ nay ông dần rút lui khỏi sàn diễn. Một số người nới ông đã cạn hứng. Một số khác nói ông muốn giữ lại hình ảnh của mình. Dù thế nào đi nữa, ông đã mệt mỏi với diễn xuất, và giờ đây ông quay trở lại. Ông đã từ chối những vai quan trọng như Claudius - kẻ xấu xa - và Polonius - kẻ
https://thuviensach.vn
ngu ngốc - dể nhận vai diễn khiêm tốn hơn, người cha của Hamlet, một người cha quá cố được yêu quý. Nói ngắn gọn hơn, ông hướng tới vai Prospero và Lear dưới sự chỉ đạo của các đạo diễn gạo cội như mình. Nhưng trước hết ông quyết định đóng một hồn ma trong vở diễn của tôi, một cách để làm nóng mình trong vai ông hoàng già nua. Một sự lựa chọn làm tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên.
Chiếc Cleopatra bắt đầu lao thẳng đi lướt trên mặt nước. Tôi nhìn lại chiếc thang lần nữa. Không có ai ở đó, và chiếc thuyền chèo tay lại được buộc áp vào tường. Tôi đã ảo giác chăng khi cảm thấy nó di chuyển? Ở khoảng tường trống ngay phía trên chiếc thang xuất hiện thân hình của một người. Bụng tôi như thắt lại. Đúng là đã có một người ở đó. Nhưng ai? Và tại sao?
Phía sau tôi, một tiếng gầm xé toang màn đêm, khi quay lại tôi thấy Quả cầu biến mất trong đám mây hơi nước ở phía bờ sông bên kia. Khi tôi ngoái nhìn về phía bờ sông vừa rời khỏi, người nọ đã biến mất trong bóng tối. 3
Gần như vô thức, bàn tay phải của tôi lại thọc sâu vào túi áo. Món quà của Roz vẫn còn đó. Tôi rùng mình, cho dù làn gió thổi tới nóng dần lên khi chúng tôi lao nhanh sang bờ nam. Khói và hơi nước trút xuống mặt nước như một màn sương mù dày đặc. Trong hình dung của tôi, Quả cầu vẫn lộng lẫy như trước, ngôi nhà nhỏ màu trắng nằm khoanh tròn thu mình như một chú thiên nga đang ngủ bên bờ sông. Thật ngớ ngẩn, tôi biết, đừng bận tâm đến đám cháy. Tòa nhà đủ lớn để chứa một nghìn sáu trăm khán giả. Thế nhưng với một số người, vẻ giả cổ của nó chỉ là vẻ hào nhoáng rỗng tuếch hơn là lạ mắt. Quán trà cũ Shakespeare, Roz gọi nó như vậy; bà chưa bao giờ bước chân tới nơi này trước buổi chiều hôm nay.
Nói đến Shakespeare, Roz hiếm khi sai lầm; nhưng lần này bà đã lầm. Dù bạn thích hay không, Quả cầu có ma lực cuốn hút kỳ lạ; ở đó lời thoại trở nên sống động với sức mạnh khác thường.
Chúng tôi hướng tới bến tàu. Làn khói tản ra và tan đí, để lộ ra trên bến Cyril Manningham, người chỉ đạo nghệ thuật đang sải bước đi đi lại lại như một chú chim nóng nảy với đôi chân sếu. “Mất rồi!” ông kêu lên khi chúng
https://thuviensach.vn
tôi bước lên bến. “Mất sạch rồi”. Phía trước tôi, Henry đứng sững người, còn trong lồng ngực của chính mình, tôi cảm thấy hy vọng đang vỡ nát thành từng mảnh vụn. Màn khói quẩn trở lại, và tôi nhìn thấy một người đội trưởng chữa cháy đội mũ đỏ và mặc bộ đồ màu xanh đậm nặng nề có dán những dải phản quang. “Cũng không xấu đến thế đâu” anh ta làu bàu. “Mặc dù tôi cũng không dám khoe là tất cả đều tốt đẹp. Các vị hãy đến mà xem đi”.
Chúng tôi theo sau anh ta đi nhanh lên bờ. Trong màn đêm, mọi ý nghĩ của tôi đều tập trung cả vào tòa nhà nằm phía trên kia. Những người thiết kế nhà hát Quả cầu mới đã cố hắng làm cho nó giống nguyên mẫu thời Shakespeare nhất có thể được, có nghĩa là xây toàn bộ nhà hát vòng quanh sân khấu, khoảng sàn rộng nằm ở một đầu của khoảng sân lộ thiên hình bát giác. Vòng quang khoảng sân là các hành lang mở về phía trong giống như một ngôi nhà búp bê ba tầng hẹp; mỗi tầng đều kê kín các dãy ghế băng bằng gỗ sồi nhìn qua lan can xuống sân.
Tất cả công trình này đều mang phong cách đơn giản có thể làm những người giáo phái Shaker cũng hài lòng - trừ phần sân khấu. Ở đó, từng khoảng nhỏ bề mặt gỗ và tường lộ ra ngoài được sơn trang trí giả cẩm thạch, thạch anh và đá porphyry, được chạm trỗ thành hình phụ nữ và các anh hùng, được mạ vàng ónh ánh. Phía trên vẻ lộng lẫy phô trương này, một cái nóc sơn hình các vì sao che mưa nắng cho các nghệ sĩ. Huyền thoại Nauy kể rằng bầu trời được chống đỡ bởi một cây tần bì; vì một số lý do tôi vẫn thấy thích bầu trời trong thiên đường của Shakespeare này dựa trên thân của hai cây sồi Anh khổng lồ. Không phải vì chúng còn ít nhiều giống với một thân cây. Được đặt tên là những cột trụ của Hercules, được chạm trỗ và sơn giả đá cẩm thạch, trông chúng giống với những cây cột của thành Persepolis trước khi bị Alexander Đại đế phóng hỏa thiêu rụi.
Bây giờ nhà hát trông ra sao đây?
Sau một ma trận các trạm gác và lều chỉ huy của cảnh sát, cuối cùng chúng tôi tới trước một bộ khung cửa hai cánh rộng. Tôi cau mày. Trông chúng giống khung cửa ra và chính của nhà hát. “Đành phải hy sinh những thứ khác.” người chỉ huy lính cứu hỏa nói, đưa ta vuốt lên mặt gỗ gần như cách
https://thuviensach.vn
một người thợ xây vuốt ve ngôi nhà do mình tạo nên. “Khu vực hành chính, khu bán vé, tiệm ăn - tất cả”. Anh ta quay lại phía chúng tôi, một tia hãnh diện mệt mỏi thoáng hiện trên khuôn mặt đỏ ửng. “Nhưng tôi nghĩ chúng ta đã cứu được Quả cầu”.
Cứu được Quả cầu?
Mở khung cửa đủ rộng để chúng tôi có thể đi qua từng người một, anh ta nhìn tôi gật đầu. “Can đảm lên!” , Henry nói, đưa tay lên siết chặt vai tôi. Lách qua cửa vào trong, tôi đi qua lối vào tới sân - và đứng chững lại như thể đụng phải bức tường kính. Tôi đã chuẩn bị tinh thần cho mình để nhìn thấy cảnh đổ nát; khung cảnh tôi trông thấy mang một vẻ đẹp thật huyền ảo.
Khói bốc lên thành cuộn xoắn ốc lướt qua sân khấu. Ở phía trước, những cột trụ của Hercules bám bồ hóng đen bóng. Trên mặt đất phía trước mặt tôi phủ một lớp nước mỏng. Từ phía trên đầu, tàn lửa chầm chậm rơi xuống la đà như một làn mưa những cánh hoa cháy sáng. Không những không trở nên một đống hoang tàn, nhà hát đã biến thành một thành đường lộng lẫy huyền bí với vẻ uy nghi pha lẫn âm u. Một nơi phù hợp cho các phù thủy, cho những cảnh đổ máu và cho những hồn ma.
Một mẩu giấy cháy dở bay lơ lửng qua trước mặt, tôi đưa tay bắt lấy - tờ bản thảo đạo diễn của tôi đã cháy mất phân nửa. Một dấu hiệu không mấy tốt lành. Tôi chạy lên cầu thang vào dãy hành lang dưới, tới chiếc bàn làm việc của mình. Nó đã bị lật nghiêng sang một bên, sách vở của tôi rơi thành đống xung quanh, một tàn lửa có lẽ đã rơi xuống bắt vào chúng, vì tất cả đều bị cháy một phần. Cuốn vở ghi bản thảo đạo diện của tôi nằm mở tung trên sàn, chiếc gáy xoắn bị bật tung. Các trang vở tung ra, bị gió thổi bay đi khắp nơi, rơi cả xuống nước. Tôi quỳ xuống, thu nhặt những gì còn lại. Một số trang giấy khác rải rác phía sau chiếc bàn. Tôi lần theo chúng và đứng sững lại, hít một hơi thật nhanh.
Trên sàn chỏng chơ chiếc mũ rộng vành màu trắng có gắn rải rác những bông mầu đơn màu đỏ bằng lụa trông như những vệt máu. Cách đó một quãng, tôi nhìn thấy một người nằm co quắp dưới băng ghế. Người phụ nữ này trông như đang ngủ, chỉ có điều đôi mắt người đó mở to. Đôi mắt của
https://thuviensach.vn
một bức tượng, trống rỗng và dữ dội, nhưng không phải bằng cẩm thạch trắng. Đó là một đôi mắt màu xanh lục, lẫn trong mái tóc ngắn sẫm màu như của một cậu bé.
“Roz!” Tôi kêu lên thảng thốt.
Henry xuất hiện sau lưng tôi; theo sau ông là Cyril. Chen lên phía trước tôi, Henry đặt hai ngón tay lên cổ bà; một lát sau, ông ngồi xuống lắc đầu, không nói gì.
Bà ta đã chết.
4
Từ trong lồng ngực tôi, một hơi thở vừa như tiếng nức nở, vừa như tiếng cười bật ra. Chiều hôm đó, tôi đã bất ngờ khi nhận ra tôi cao hơn Roz. Bao năm qua, bà sừng sững như một người khổng lồ trong trí tưởng tượng của tôi. Khi đã chết, trông bà thật nhỏ bé, gần như một đứa trẻ. Tại sao bà lại chết?
Tôi được kéo ra xa một dịu dàng nhưng kiên quyết. “Kate” , Henry nói, và tôi chợt nhận ra ông đã gọi tôi như thế ba lần liền. Tôi thấy mình đang ngồi trên bậc tam cấp dẫn từ sân lên sân khấu, hai tay ôm lấy đầu, toàn thân run rẩy. Một chiếc áo khoác được choàng lên vai tôi.
“Uống cái này đi.” Henry nói, ấn vào tay tôi một chiếc cốc bạc. Dòng whiskey nóng bỏng trôi xuống họng tôi, và tôi dần dần định thần lại. Phía bên kia sân, một dải màu trắng đã được vẽ viền quanh thi thể. Hànhlang tầng dưới đông chật nhân viên cứu hộ, lính cứu hỏa và cảnh sát. Hai người tách ra khỏi đám đông đi về phía chúng tôi, tiếng bước chân của họ lõm bõm trên làn nước đọng lại trên mặt đất. Một người là Cyril, tôi nhân ra ông ta qua cách đôi tay vung vẩy, và một người tôi không quen mặt, uyển chuyển và vạm vỡ, với làn da nâu của vùng Tây Ấn, đầu cạo nhẵn thín, hàng lông mày dày như hai làn sóng được vẽ bằng mực đen. Ông ta đang đánh dấu vào một hồ sơ.
“Katharine J. Stanley?” ông ta lên tiếng khi hai người dừng bước dưới chân bậc tam cấp. Đó là một lời tuyên bố, không phải một câu hỏi. Tôi gật đầu.
https://thuviensach.vn
“Thám tử, chánh thanh tra Francis Sinclair” , ông ta nói bằng giọng giới thiệu. Giọng ông ta nhẹ nhàng, lạnh lùng, cách phát âm chuẩn như một phát thanh viên BBC hơi đá chút âm hưởng vùng Caribe và vẻ bất cần của người Brixton. Ông quay lại với hồ sơ của mình. “Cô hiện đang đạo diễn Hamlet trên sân khấu này, và cô phát hiện ra thi thể khoảng hai mươi phút trước đây, trong lúc đang thu xếp tài liệu của mình”.
“Vâng, tôi đã tìm thấy Roz”.
Sinclair lướt qua trang hồ sơ của mình. “Người quá cố đã tới gặp cô chiều nay”.
“Bà ấy đã gặp tôi” , tôi đáp dứt khoát. “Chúng tôi nói chuyện, tôi đoán bà muốn tới gặp Henry, tôi không biết bà đã nán lại đây”.
Ông ta nhìn lên, đôi mắt hơi mở rộng trong chốc lát khi nhận ra Henry bên cạnh tôi. Sau đó ông quay lại hỏi tôi. “Cô có biết rõ bà ấy không?” “Có. Không. Tôi không biết nữa.” Tôi nhấp thêm một ngụm whiskey. “Có nghĩa là tôi đã từng quen biết Roz. Nhưng đã ba năm nay tôi không gặp bà, cho tới tận chiều hôm nay. Chuyện gì đã xảy ra với bà ấy vậy?” “Không phải do đám cháy. Ít nhất chúng tôi có thể chắc chắn về điểm này. Có lẽ là một cơn đau tim, hay cơn đột quỵ. Bà ấy có vẻ đã chết lập tức, chắc chắn là trước khi đám cháy xảy ra. Một sự trùng hợp không bình thường, và tất nhiên chúng tôi sẽ điều tra. Nhưng có vẻ khá đơn giản”. Viên thanh tra quay lại viết nguệch ngoạc lên hồ sơ.
Những ngón tay tôi siết chặt lấy chiếc cốc. “Đây không phải là sự trùng hợp”.
Henry và Cyril bỏ ngang cuộc tranh luận đang diễn ra giữa hai người, quay lại ngỡ ngàng nhìn chằm chằm vào tôi. Chiếc bút của Sinclair cũng ngừng viết, nhưng ông ta vẫn không ngẩng lên nhìn. “Điều gì làm cô nói như vây?”
“Bà ấy tới đẩy để nói cho tôi biết bà đã tìm thấy một thứ” , tôi nói thêm. “Và yêu cầu tôi giúp đỡ”.
Một lần nữa, Sinclair lại ngước mắt lên nhìn tôi. “Tìm thấy gì cơ?” Trong túi áo tôi, chiếc hộp như choàng tỉnh. Một cuộc phiêu lưu, Roz đã nói vậy. Và cũng là một bí mật.
https://thuviensach.vn
Ông ta không thể có nó, tôi thầm nghĩ đột ngột một cách hung tợn. Viên thanh tra cúi người lại gần tôi. “Tìm thấy gì cơ, thưa cô Stanley?” “Tôi không biết”. Lời nói dối bật ra; tôi hy vọng trông tôi lúc đó không hốt hoảng như tôi đang cảm thấy. Tất cả những gì tôi muốn, tôi tự nói với mình, là có cơ hội một mình mở món quà của Roz, có thêm một khoảnh khắc riêng tư nữa với bà. Để trân trọng bí mật của bà. Nếu có gì quan trọng, tôi sẽ giao nộp. Tất nhiên là thế. Nhưng chưa phải bây giờ. Kéo cả hai chiếc áo khoác của tôi và của Henry sát hơn vào vai, tôi ngụy trang lời nói dối của mình dưới một lớp sự thật. “Bà ấy hứa sẽ nói cho tôi biết vào tối nay. Bà hẹ tôi tới gặp bà trên đồi Parliament, nhưng bà đã không bao giờ tới… Từ trên đồi tôi nhìn thấy khói và chạy trở lại đây”. Đôi mắt của Sinclair tối sầm. “Vậy là giáo sư Howard nói cho cô biết bà ấy đã tìm thấy một thứ - mà cô không biết là gì - nhưng cô nghĩ có liên quan tới cái chết của bà ấy?”.
“Thật lố bịch” , Cyril bực bội quát lên.
“Im đi!” , Henry trừng mắt nhìn ông ta.
Tôi nhìn thẳng vào Sinclair. “Cí thể là như thế”.
Ông ta kiểm tra ghi chép của mình. “Bà ấy là giáo sư văn học đúng không nào? Không phải công nghệ sinh học hay vật lý hạt nhân”. “Đúng thế”.
Viên thanh tra lắc đầu. “Tôi xin lỗi, nhưng cho dù bà ấy đã tìm ra cái gì đi nữa, thứ đó cũng khó có thể là động cơ để gây án mạng”.
“Hàng ngày người ta vẫn bị giết chỉ vì vài đồng tiền lẻ hay một món đồ vô giá trị đấy thôi.” tôi đáp lại một cách căng thẳng.
“Đó là ở Mỹ, cô Stanley. Không phải ở Southwark”.
“Và không phải ở Quả cầu” , Cyril khịt mũi.
“Quả cầu từng bị đột một lần” , tôi nói.
“Đã lâu lắm rồi” , viên thanh tra lên tiếng.
“Vào năm 1613. Nhưng cũng vào ngày 29 tháng Sáu”.
Sinclair ngước lên nhìn tôi.
“Thứ ba, ngày 29 tháng Sáu” , tôi nhấn mạnh.
https://thuviensach.vn
Tất cả lặng im một lát. “Hôm nay là thứ ba, ngày 29 tháng Sáu” , Henry khẽ nói, giọng hơi nghẹn lại.
Có cái gì đó thoáng lóe lên trong mắt viên thanh tra nhưng ông ta đã kịp làm chủ bản thân. “Ngày tháng, nếu chính xác, sẽ rất có ích cho một cuộc điều tra hỏa hoạn”.
“Không chỉ là hỏa hoạn,” tôi nhấn mạnh. “Trong đám cháy trước, tất cả đều thoát ra được trừ một người”.
Sinclair buông thõng cặp hồ sơ xuống bên sườn, nhìn tôi với vẻ thương hại pha lẫn kinh ngạc. “Cô đã có quá đủ những cú sốc trong buổi tối hôm nay rồi, cô Stanley. Cô nên về nhà và cố ngủ đi một chút”. Ông gật đầu chào Henry rồi bước đi về phía chiếc lều màu trắng tang tóc, Cyril hấp tấp chạy theo sau.
Tôi đứng dậy, tách mình khỏi vòng tay ân cần của Henry. Tôi không muốn giao nộp món quà của Roz, nhưng tôi không thể để cảnh sát gạt cái chết của bà sang một bên như trong những câu chuyện dung tục về những phần cơ thể đã kiệt quệ, “ở đâu” và “khi nào” còn gây chút tò mò, nhưng “vì sao” thì không. Tôi bật lên thành tiếng: “Ông có một người chết ở đây”.
Đã đi qua nửa sân, Sinclair dừng lại. Những gợn sóng lăn tăn lan ra trên mặt nước dưới chân ông ta. “Điều đó không có nghĩa tôi có một tên sát nhân. Nếu có cái gì đó cần được tìm ra - nếu thật sự có cái gì đó - cô có thể tin chắc chúng tôi sẽ tìm ra”.
Henry đưa tôi đi xuống sân. Sinclair đã cho phép chúng tôi đi, trong khi còn nhiều người khác đang được thẩm vấn. Từ khắp phía, họ lao về sân khấu như một bầy quạ, quay cuồng xúm xít lại trong tiếng ồn ào nhức óc. Viên chỉ huy lính cứu hỏa bắt gặp chúng tôi đầu tiên, hăm hở muốn thông báo chi tiết hơn về tình hình. Ông ta cho hay ngọn lửa đã bắt đầu bùng phát từ khu nhà hành chính; đội của ông đã cứu được Quả cầu chỉ sau khi đã cho nổ sập phần mái vào trong với phần còn lại của khu nhà và phun nước ướt đẫm mái rạ của nhà hát.
Tôi không còn quan tâm lắng nghe nữa. Roz đã chết, tôi đã nói dối cảnh sát, và tất cả những gì tôi muốn là rời khỏi nơi này, được ở một mình và mở chiếc hộp đáng nguyền rủa đó ra. Cơn kích động đang dâng lên hẳn đã hiện
https://thuviensach.vn
rõ trên khuôn mặt tôi, vì Henry đột ngột kéo tôi tách ra khỏi đám đông. Chúng tôi đang ở gần lối ra, tiếng động ầm ĩ của đám đông nhỏ dần, và tôi nghe thấy tên mình được gọi vọng tới. Mặc kệ, tôi rảo bước nhanh hơn, khi hai người mặc áo vét màu vàng của đèn neon thuộc Cảnh sát thành phố bước tới đứng chắn trước khung cửa kép, khiến tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài vệc quay trở lại.
Đứng ở đầu đối diện của lối ra là thám tử, chánh thanh tra Sinclair. “Nếu cô không phiền,” ông ta lên tiếng, “tôi có thêm vài câu hỏi nữa trước khi cô đi”. Giọng ông dịu dàng dễ nghe, nhưng rõ ràng không phải là một lời thỉnh cầu. Đó là mệnh lệnh.
Miễn cưỡng, Henry và tôi theo ông ta quya trở vào nhà hát và đi vào một trong những dãy hành lang ở tầng trệt gần sân khấu. Một người phục vụ trẻ mang trà đến cho chúng tôi. Tôi cố nuốt vài ngụm thứ chất lỏng âm ấm trắng đục như sữa có vị sàn sạn như bột phấn. “Có lẽ cô muốn kể cho chúng tôi nhiều hơn về cuộc gặp gỡ với giáo sư Howard chiều này”. Sinclair gợi chuyện.
Với chiếc quần đen, áo Jacket đen khoác bên ngoài chiếc áo sơ mi cổ tròn màu xanh ngọc, viên thanh tra có thể nổi bật lên như một người cực kì cuốn hút nếu xuất hiện cách xa nơi đây chỉ một dặm tại Boston; còn tại London ông ta cũng chỉ đủ hợp thời trang để hòa nhập vào đám đông. Tuy vậy, ông ta vẫn tạo cho người khác cảm giác đứng trước một người đặc biệt xuất sắc đang khéo léo ẩn mình. Sẽ khó qua mặt được viên thanh tra, tôi thầm nghĩ, và cố thử làm điều đó có thể sẽ rất nguy hiểm.
Tôi sẽ là kẻ ngốc bị lôi ra vặn hỏi thêm. Đằng nào cũng thế, tôi đối mắt ông ta một cách e dè. “Tôi sẽ bắt đầu từ đâu đây?”.
“Tốt nhất nên bắt đầu từ đầu”.
5
Chiều hôm đó, tiếng cười của tôi đã vang lên trong dãy hành lang dưới. “Các vị, hãy nghĩ tới Stephen King,” tôi la lối. “Không phải là Steve McQueen. Vì Chúa hãy nhớ cho chúng ta đang ở trong một câu chuyện ma”.
https://thuviensach.vn
Trên sân khấu mọi người cùng dừng lại. Jason Pierce, ngôi sao phim hành động người Úc đang cố chứng tỏ tài năng diễn bi kịch của mình trong vai Hamlet, đưa tay lên trán gạt mồ hôi, “Dưới ánh nắng chết tiệt này ấy à?” Anh ta có lý. Dưới ánh nắng ban trưa của một ngày mùa hè giống với khí hậu châu Phi hơn là nước Anh, sân khấu sáng lóa mắt trong màu sẫm và màu vàng trông trân tráo chẳng khác gì một nhà chứa thời Victoria. “Mặt trời nào cơ?” tôi hỏi lại. Tất cả quay đầu về phía tôi đang ngồi, trong bóng râm của hành lang. “Chúng ta đang đứng trên bờ thành lộng gió của Elsinore, anh Pierce. Hãy nhìn xuống những cánh đồng phủ trắng tuyết và mặt biển lạnh giá đóng băng, về phía kẻ thù Thụy Điển. Vào nửa đêm”. Tôi đứng dậy rời khỏi bàn, lao qua bậc tâm cấp ngắn để xuống sân. “Đúng vào giờ mà một hồn ma đã ba đêm nay khiến những người lính dạn dày chinh chiến phải run lẩy bẩy trong chiếc ủng của họ. Và cho dù họ đã nhìn thấy cái quái gì đi nữa - hồn ma hay ác quỷ - người bạn thân nhất của anh vừa cho anh hay trông nó rất giống người cha quá cố của anh”. Đến chân bậc tam cấp, tôi dừng lại chống tay vào hông, nhìn thẳng vào Jason. “Bây giờ hãy làm cho tôi tin tất cả điều đó đi”.
Phía bên phải, Henry cựa quậy trong chiếc ngai nơi ông đang ngồi ngủ gật. “À,” ông lẩm bẩm, “một thách thức đây”.
Jason đưa mắt nhìn Henry rồi quay lại tôi, nụ cười ma mãnh nở trên khuôn mặt. “Cô thử trước đi” , anh ta nói, dùng hai tay cắm thanh kiếm của mình xuống sàn sân khấu.
“Phản đòn” , Henry hô lớn với vẻ khoái trá ra mặt.
Với một đạo diễn, đứng vào vị trí của diễn viên là một trong những tối kỵ của sân khấu. Tôi đã đủ từng trải để hiểu nên mặc kệ anh ta, nhưng tôi cũng vẫn còn đủ trẻ để nghĩ: sẽ vui đây.
Tôi biết cảnh này khá rõ, tôi có thể diễn lại từng bước trong khi ngủ, đoạn một hồn ma mặc trang phục như người cha của Hamlet đã lôi chàng hoàng tử rời khỏi người bạn Horatio để lao vào một cuộc đuổi bắt điên cuồng dọc bức tường thành băng giá cho tới tận bờ vực của địa ngục. Tôi đã dàn dựng vũ đạo cho một bàn đuổi bắt ấn tượng suốt dọc nhà hát: sân khấu và các
https://thuviensach.vn
ban công ở phía trên, khoảng sân đất phía dưới, và cả ba dãy hành lang vòng cung nằm chồng lên nhau dẫn lên chiếc mái hình chóp. Ít nhất cảnh đó đã có thể rất ấn tượng, nếu Jason chịu diễn vai của mình một cách nghiêm túc. Tôi đã phân vai chính cho anh ta không chỉ vì riêng tên của anh ta không thôi đã khiến đêm diễn bán sạch vé trong bốn phút, mà vì anh ta sở hữu tài năng hiếm có trong việc hòa trộn những cơn giận dữ lôi đình với vẻ đăm chiêu đầy quyến rũ. Thật không may, trong những tuần vừa qua anh ta không chịu ngó ngàng gì đến lời thoại, nhạo báng cả vai diễn của mình, vở kịch và Shakespeare nói chung. Nếu tôi không khiêu khích để Jason sớm có gì đó giống như cảm xúc thực sự, thì cả vở diễn sẽ biến thành một màn tấu hài.
Tôi đi qua khoảng sân và chạy lên cầu thang ngắn dẫn lên sân khấu, vừa chạy vừa buộc gọn mái tóc thành đuôi ngựa ra sau lưng. Thanh kiếm vẫn còn đang đung đưa giữa sân khấu, mũi cắm xuống sàn. Khi tôi nắm lấy chuôi kiếm, nó rung lên như một chiếc âm thoa trong tay tôi. “Kịch của Shakespeare phải toát lên sự nguy hiểm.” , tôi khẽ nói, nhẹ nhàng nhổ thanh kiếm lên.
“Làm tôi sợ đi.” , Jason cười cợt thách thức.
“Hãy đóng vai Horatio cho tôi”.
Xung quanh chúng tôi, các diễn viên còn lại huýt sáo reo hò. Mặt Jason đỏ bừng, nhưng khi một người đưa cho anh ta thanh kiếm, anh ta cầm lấy và gật đầu. Tôi đã chấp nhận thách thức của anh ta; anh ta khó có thể từ chối thách thức của tôi.
Tôi nhìn người phú trách sân khấu, ông ta hô lớn, “Đến lượt ngài, Henry”. Henry đứng dậy và biến mất sau sân khấu. Ở phía trên, một quả chuông bắt đầu kêu. Với một tiếng động nhỏ, những cánh cửa rộng ở phía sau sân khấu mở ra. Tôi chầm chậm quay lại. Trên ngưỡng cửa là Henry trong vai hồn ma nhà vua, mặc áo choàng và đội mũ trùm đầu vào lúc giữa đêm. “Hỡi các thiên thần và các vị thánh bảo hộ, hãy bảo vệ chúng tôi.” Tôi khẽ nói. Quay người lại, tôi lao về phía bóng ma; Jason lao theo.
Khi chúng tôi tới cánh cửa, bóng ma đã biến mất, còn các cánh cửa đóng kín. Tôi quay người, hốt hoảng đưa mắt nhìn quanh nhà hát. Trong phần
https://thuviensach.vn
lớn cảnh này, tôi không để hồn ma xuất hiện mà thay thế bằng những luồng sáng bất chợt lóe lên như ánh mặt trời phản chiếu lại từ một tấm gương. Luồng sáng đó có thể xuất hiện ở bất cứ đâu.
Kia rồi, luồng sáng đó đang nhảy múa dọc những băng ghế dọc hành lang, tôi dợm chân lao tới, nhưng Jason chặn tôi lại. “Ngài không được đi, thưa điện hạ”. Cách anh ta nắm lấy tay tôi cho thấy anh ta đang diễn vai Horatio một cách nghiêm túc. Anh ta cần ngăn cản không cho tôi lao theo hồn ma nếu có thể.
Ít nhất anh ta bắt đầu nghiêm túc trong một việc. Một bước khởi đầu. Nhanh nhẹn vặn người cúi xuống lách qua tay anh ta, tôi lao từ sân khấu xuống, chạy qua sân. Vượt qua ba bậc tam cấp thấp dẫn lên dãy hành lang tầng trệt. Chẳng có hồn ma nào cả. Địa ngục và sự nguyền rủa. Một tiếng thét từ phía sân làm tôi quay ngoắt lại. Nhìn theo những cánh tay chỉ về phía giữa sân khấu, tôi nhìn thấy: một luồng sáng lóe lên trong bóng tối ở tầng trên.
Jason đang rầm rập chạy về phía tôi. Vờ quay sang phải, tôi lao nhanh vòng qua anh ta, hướng về phía cầu thang, bắt đầu bỏ chạy. Ánh sáng chập chờn lóe lên ở bên phải, giữa các dãy ghế lô mà Cyril khăng khăng bắt mọi người gọi là Phòng của các quý ông. Tôi chạy dọc lối đi nằm cuối lô ghế và lách vào trong.
Dãy ghế thứ nhất trống tởn. Dãy thứ hai cũng vậy.
Ở phía đối diện của nhà hát, một đốm sáng lại lóe lên. Rồi một đốm sáng thứ hai, rồi thứ ba, cho tới khi cả nhà hát lấp lánh hàng ngàn đốm sáng nhỏ như đàn đom đóm, như thể cả nhà hát đang tràn ngập những hồn ma. Cùng lúc, tất cả đồng loạt lập lòe, tiếng rên rỉ ai oán của một linh hồn bị giày vò văng vẳng vọng lên từ dưới sân khấu.
Chúng tôi đã gần hoàn tất cảnh diễn. Tôi quay lại, thấy Jason đang đứng chắn đường, gươm tuốt khỏi vỏ. Chết tiệt. Tôi đã bị cuốn vào cuộc tìm kiếm hồn ma của Hamlet nên đã quên bẵng anh ta từ nãy. “Hãy khuất phục!” , anh ta gằn giọng. “Cô không được đi”. Anh ta lao nhanh tới, vung gươm chém xuống thanh kiếm của tôi. Tiếng thép chạm nhau nhức óc, bằng một cú vặn cổ tay gọn gàng, anh ta giật tung thanh
https://thuviensach.vn
kiếm khỏi tay tôi. Thanh kiếm văng lên trời quay vòng trên không, lóe sáng dưới mặt trời. Phía dưới, cả đoàn diễn tản vội ra như một bầy chim giật mình khi thanh kiếm rơi xuống chính giữa sân.
“Tôi đề nghị cô van xin sự khoan dung.” Jason nói, giọng Úc đặc sệt với những nguyên âm kéo dài chen vào vẻ hào hoa phong nhã của Horatio. Miệng anh ta nhăn nhở cười. “Sẽ rất tuyệt nếu cô quỳ xuống cầu xin”. Dịch dần về phía sau, tôi cảm thấy hành lan can chạm vào đầu gối và bất giác ngồi thụp xuống, cố trấn tĩnh sau một thoáng chóng mặt. Tôi chỉ cách mặt đất có một tầng nhà, nhưng đột nhiên tôi cảm thấy nó thật cao. “Anh biết đoạn về sự khoan dung đó trong vở Người lái buôn thangh Venice?” “Tính chất của sự khoan dung là không được gượng ép” , anh ta đáp trả. “Nhưng tôi thì có”.
“Tôi thích câu sau đó”. Cố gắng nhẹ nhàng hết mức, tôi đưa cả hai chân qua lan can. “Nó rơi xuống như cơn mưa nhẹ nhàng từ thiên đường”. Anh ta lao tới, và tôi nhảy xuống.
Sau ba mét trong không khí, tôi chạm đất, quờ tay với lấy thanh kiếm của mình đang nằm giữa sân. Jason nhảy xuống đuổi theo tôi. Tôi nắm lấy chuôi kiếm và quay ngoắt người lại.
Jason chững lại, thở hổn hển, lưỡi kiếm của tôi chỉ còn cách bụng anh ta sáu phân. “Cô có thiểu năng trí tuệ không đấy?”
“Anh muốn ám chỉ điều gì?” Tôi có thể cảm thấy chiếc áo sơ mi nhớp nháp dính vào bả vai, chiếc quần kaki đã toạc một đường ở một bên đầu gối và hẳn trên mặt tôi đã dính vài vết bẩn.
“Gàn dở như một gã Úc thứ thiệt!” anh ta gầm lên. “Điên khùng hết mức. Có thể cô thích rời khỏi các tòa nhà cao tầng bằng cách nhảy qua lan can, Kate Stanley, nhưng quỷ ta ma bắt, cái gì khiến cô trông đợi tôi rên lên: Sống hay không sống? Sau màn nhào lộn ba xu vừa rồi?”
Tôi nhấc kiếm lên. “Giờ anh là Hamlet.” Tôi mỉm cười nói. Hai bàn tay anh ta hết nắm chặt lại mở ra. Trong một phần tư giây, tôi nghĩ anh ta sắp lao vào tấn công mình. Thế rồi anh ta nhìn ra phía sau tôi, và khuôn mặt anh ta thay đổi.
https://thuviensach.vn
Tôi ngoái lại xem anh ta đang nhìn gì. Henry đang đứng ở góc xa của ban công, một bàn tay đi nạng sắt nắm một thanh kiếm tuốt trần, tay kia đưa thẳng về phía chúng tôi, vẫy vẫy ra hiệu. Hét lên giận dữ, Jason trở lại với vai diễn, lao qua sân, leo lên một chiếc thang được hóa trang lẫn vào tường cạnh sân khấu. Khi tôi bám theo sau anh ta leo lên được ban công. Jason sải chân bước qau sân khấu, dồn Henry lùi vào bóng tối ở phía đối diện. Tôi phủi bụi trên quần áo và đi theo. Nhưng tôi mới đi được nửa đường thì có cái gì đó - một âm thanh? Một mùi hương? Sau đó tôi không bao giờ biết - khiến tôi chậm bước rồi dừng hẳn lại.
Sau lưng tôi, một bóng người bước ra từ cánh gà. Tôi quay lại, cau mặt. “Hãy nhớ đến ta,” một giọng nói khô khan như tiếng lá xô lạo xạo trên đá cất lên. Cho dù bị Jason đuổi theo đi nữa, làm thế nào Henry có thể luồn qua khu hậu trường ngoắt ngoéo như một mê cung nhanh đến vậy?
Một bàn tay trắng xanh đưa nhanh lên, chiếc mũ trùm lật ra sau. Không phải Henry.
Đó là Roz. “Có phải đó là điều người ta phải cảm thấy từ kịch của Shakespeare?” bà khẽ lẩm bẩm. “Nguy hiểm?”
Từ đầu bên kia của ban công, Henry và Jason rảo bước quay trở lại sân khấu.
“Xin giới thiệu Rosalind Howard, giáo sư về Shakespeare tại Harvard.” Henry nói để giới thiệu với những người đang tụ tâp bên dưới. “Thường được thừa nhận là Bà hoàng về Thi sĩ”.
“Bà hoàng của những kẻ bị nguyền rủa.” Tôi cấm cẳn.
Roz phá lên cười, để mặc áo khoác rơi xuống sàn khi quàng rộng tay ôm lấy tôi. “Hãy gọi ta là Bóng ma đêm Giáng sinh, cô bé thân mến. Ta mang quà đến đây”.
“Như những người Hy Lạp” , tôi đáp, cứng người lại trong vòng tay bà. “Và hãy xem món quá đó đã làm gì những người dân thành Troy”. Như một con sóng dội ra từ vách đá, bà buông tôi ra. “Một văn phòng tuyệt đấy!” bà nói, nhìn quanh nhà hát với vẻ ngưỡng mộ.
“Cách xuất hiện tuyệt đấy!” tôi trả lời. “Nhất là với bà”.
https://thuviensach.vn
“Đành phải vậy thôi.” Bà nhún vai. “Tôi nghĩ cần xuất hiện trước mặt nhiều người, nếu không cô sẽ từ chối món quà của tôi”.
“Tôi vẫn có thể từ chối”.
“Quà?”
Tôi chớp mắt. “Bà ấy đã nói vậy.” Tôi trả lời theo cách tự vệ, trong lòng thầm rủa viên cảnh sát.
“Cô Stanley, cho dù giáo sư Howard có nói rõ cho cô biết bà ấy đã tìm ra cái gì hay không, chắc chắn cô cũng có vài ý tưởng về món quà này”. Trong chốc lát, tôi lại muốn lấy chiếc hộp ra khỏi túi áo, giao nộp và chấm dứt mọi dính dáng đến nó - và đến Roz.
“Xin lỗi,” tôi lớn tiếng, “nhưng tôi chẳng có ý tưởng nào cả”. Về một khía cạnh, câu trả lời cũng không sai; tôi thực sự không biết trong chiếc hộp có gì. Nhưng tôi sẽ có thể biết, tôi thầm cằn nhằn trong đầu với Sinclair, chỉ cần ông ta để tôi yên để tôi có đủ thời gian mở nó ra.
Ông ta thở dài. “Tôi đang yêu cầu cô hãy thẳng thắn với tôi, cô Stanley; như thế có lẽ tôi có thể thẳng thắn trở lại với cô”. Ông ta đưa tay vuốt phẳng một nếp nhàu trên quần. “Chúng tôi đã tìm thấy một vết kim tiêm.” Vết kim tiêm?
“Vô lý, Henry bực bội. “Roz không phải là con nghiện”.
Sinclair đưa mắt nhìn Henry. “Một vết kim tiêm, số ít theo đúng nghĩa, không có nghĩa bà ấy dùng ma túy”.
“Thế nó có nghĩa gì?” Henry vặn lại.
“Có nghĩa là tôi đang xem xét việc cô Stanley bị nghi vấn đã làm điều gì đó mờ ám một cách rất nghiêm túc”. Quay lại phía tôi, ông ta nói thêm, “Và tôi đánh giá cao sự hợp tác của cô”. Ông ta nắm bàn tay lại, chăm chú quan sát tôi.
Tôi thấy sợ. Chiều hôm đó, tôi đã lạnh lùng phớt lờ Roz. Giờ đây tôi sẵn sàng đổi bất cứ thứ gì để được nói với bà, nổi giận với bà, được nghe bà nói, để mặc bà ôm lấy tôi bao lâu tùy thích - nhưng bà đã ra đi. Mãi mãi ra đi, không một lời giải thích hay xin lỗi. Thậm chí không một lời từ biệt, không một lời khuyên.
Không có gì ngoài một yêu cầu. Hãy giữ nó an toàn, bà đã nói vậy.
https://thuviensach.vn
Nếu món quà của bà cần được bảo vệ an toàn, tôi bứt rứt thầm nghĩ - ai có thể bảo vệ nó tốt hơn cảnh sát? Nhất là khi họ - hay ít nhất là ông thanh tra này - muốn tôi đưa cho họ thứ gì đó đến vậy.
Nhưng Roz đã không đi gặp cảnh sát. Bà đã tìm tôi. Và Sinclair trông giống với bất cứ thứ gì trừ sự an toàn. Một lần nữa tôi nhìn thẳng vào ông ta và nói dối: “Tôi không biết gì thêm nữa”.
Viên thanh tra đấm mạnh tay xuống băng ghế Henry và tôi đang ngồi, mạnh đến mức khiến tôi nảy người. “Tại đất nước này, thưa cô Stanley, giấu diếm thông tin trong một cuộc điều tra án mạng là tội danh đấy. Một tội danh chúng tôi đánh giá rất nặng”. Ông ta cúi xuống gần đến mức tôi có thể ngửi thấy mùi bạc hà phả ra từ hơi thở của ông ta. “Tôi đã nói đủ rõ chưa?”
Tim tôi như muốn nhảy ra ngoài, và tôi gật đầu.
“Một lần cuối cùng, tôi đề nghị cô nói cho tôi tất cả những gì cô biết”. Bên cạnh tôi, Henry đứng bật dậy, “Quá đủ rồi đấy”.
Sinclair đột ngột ngồi xuống, quai hàm nghiến chặt đảo qua đảo lại. Rồi ông ta phẩy tay ra hiệu Henry và tôi có thể đi. “Đừng nói gì với báo chí, cũng không được rời khỏi London. Tôi còn cần nói chuyện với hai người. Nhưng bây giờ thì chúc ngủ ngon”.
Henry nắm lấy khuỷu tay đưa tôi ra ngoài. Khi chúng tôi sắp tới cửa Sinclair gọi với theo. “Nếu có thứ gì đó cần phải tìm ra, cô Stanley” , ông ta nhẹ nhàng nói; “tôi đảm bảo với cô chúng tôi sẽ tìm thấy”. Lần đầu tiên ông ta nói câu này, nghe giống như một lời hứa. Còn lần này là một lời đe dọa.
6
Tôi vội vã rời nhà hát ra một phố nhỏ chật ních xe cứu hỏa, và Henry vẫy một chiếc xe taxi. Khi chiếc taxi dừng lại, tôi hôn tạm biệt lên má ông rồi chui vào xe. “Highate” , tôi nói với tài xế trước khi kịp ngồi xuống ghế - và thấy Henry cũng vào xe theo tôi.
Tôi định phản đối, nhưng ông xua tay. “Không có chuyện để cô về một mình, cô bạn thân mến. Không phải tối nay”. Ông đóng sập cửa lại, và
https://thuviensach.vn
chiếc taxi chuyển bánh. Những ngón tay tôi sốt ruột mân mê món quà của Roz trong túi áo. Còn bao lâu nữa tôi mới được ở một mình để mở chiếc hộp?
Một cơn gió nổi lên đẩy mây lướt đi trên bầu trời; mùi khét của vụ cháy nặng nề vần vũ trên thành phố. Từ cầu Waterloo, tôi thoáng thấy cầu Millennium phía bên phải, vẫn còn đông chật những người hiếu kỳ. Bên trái, vòng bánh xe màu xanh không còn phát sáng của Con Mắt London chầm chậm quay trong màn đêm; xa hơn nữa tòa nhà Quốc hội và tháp Big Ben long lanh như dát vàng. Chúng tôi vượt qua cầu, hòa vào dòng xe cộ hối hả của thành phố. Tôi nhổm người trên ghế, mong chiếc taxi lao nhanh hơn qua các đường phố hẹp. Chúng tôi lên cao dần, quay trở lại rải đất cao phía bắc London.
Henry ngồi dựa hẳn vào ghế, đôi mắt nhắm hờ quan sát tôi. “Một bí mật là một loại lời hứa” , ông khẽ nói. “Cũng có thể là một nhà tù”. Tôi nhìn lại ông. Ông đã đoán ra tới đâu? Tôi có thể tin ông đến mức nào? Roz đã tin tưởng gửi gắm tôi cho ông, mặc dù có lẽ bà đã không muốn giao phó cho ông bí mật bà cất giấu trong chiếc hộp.
“Tôi rất hạnh phúc được giúp cô,” ông nói. “Nhưng tôi có giá của mình”. “Tôi có thể đáp ứng được không?”
“Còn tùy thuộc xem cô có đủ sức tìm ra sự thật hay không?”. Trước khi kịp đổi ý, tôi lấy chiếc hộp ra khỏi túi áo. “Bà ấy đưa tôi cái này chiều nay. Và yêu cầu tôi hãy giữ nó an toàn”.
Ông chăm chú ngắm nghía chiếc hộp lấp lánh phản chiếu ánh đèn đường. Trong giây lát tôi nghĩ ông sẽ chộp lấy nó, nhưng ông chỉ nhích một bên lông mày lên thú vị khi thấy giấy bọc vẫn còn nguyên nếp gấp. “Sự kiềm chế đáng phục đấy. Hay cô nghĩ bà ấy muốn hãy giữ nó khỏi chính cô nữa?”
“Bà Roz cũng nói nếu tôi mở ra, tôi phải đi theo chiếc hộp tới bất cứ đâu”. Ông thở dài. “Cô bé thân mến, cái chết có thể thay đổi tất cả”. “Kể cả một lời hứa?”
“Kể cả một lời nguyền”.
https://thuviensach.vn
Tôi nâng chiếc hộp lên bằng cả hai tay. Tôi đã mỉa mai gọi món quà của Roz là con ngựa gỗ thành Troy, nhưng trong thần thoại và những câu chuyện cổ, đúng là những món quà như vậy thường ẩn chứa một lời nguyền: đôi giày đỏ không bao giờ ngừng nhảy, một cái chạm tay biến tất cả, kể cả những vật sống thành những khối vàng vô tri vô giác.
Thật vớ vẩn, tôi thầm nghĩ. Rồi xé toạc lớp giấy bọc chiếc hộp. Mảnh giấy tung lên trong không khí giữa hai chúng tôi rồi rơi xuống sàn xe. Trong tay tôi là một chiếc hộp bọc satin đen. Tôi hồi hộp nhấc nắp hộp lên. Trong hộp có một vật hình bầu dục, được trang trí hình những bông hoa và cẩn vàng. “Cái gì đây?” Tôi bật hỏi thành tiếng. Tôi hẳn cũng sẽ hỏi Roz như vậy.
“Tôi nghĩ là một chiếc trâm cài áo” , Henry trả lời.
Tôi đưa một ngón tay chạm vào chiếc trâm. Một món trang sức tuyệt đẹp những đã quá lỗi mốt. Tôi không nghĩ có người phụ nữ nào sau thế hệ của bà nội tôi còn dùng thứ tương tự. Roz không dùng nó. Tôi lại càng không. Bà muốn ám chỉ điều quái quỷ gì khi nói “theo nó tới bất cứ đâu” ?
Henry cau mày. “Hẳn là cô nhận ra những bông hoa này”. Tôi chăm chú nhìn món trang sức. “Những bông hoa bướm. Cả hoa cúc nữa”. Tôi lắc đầu. “Ngoài ra thì chịu. Tôi lớn lên ở vùng sa mạc, Henry. Các loài hoa ở vùng chúng tôi hoàn toàn khác”.
“Tất cả đều từ vở Hamlet. Những bông hoa của Ophelia”. Vươn người lên, ông dùng ngón út chỉ ra từng loại. “Hoa hương thảo và hoa bướm, hoa thì là và hoa columbine. Và cửu lý hương nữa. “Đây là hoa cửu lý hương dành cho chàng, cón đầy là của em: chúng ta có thể gọi nó là loài cây ban phước lành trong ngày Chủ nhật”. Ông khịt mũi. “Cây ban phước lành! Loài cây của cái chết và sự điên rồ thì đúng hơn. Một thứ trầm hương kiểu Anh. Rất thông dụng vào thời Victoria, một đồ trang sức dùng trong đám tang khi một phụ nữ trẻ qua đời… một thời kì bệnh hoạn, bất chấp sự vĩ đại của nó”. Ông tựa lưng trở lại ghế. “Vật chúng ta có là một chiếc trâm cài áo dùng cho đồ tang phục thời Victoria. Câu hỏi ở đây là tại sao lại là nó. Cô có nghĩ là bà ấy linh cảm thấy mình sắp chết không?”.
https://thuviensach.vn
Tôi lắc đầu, đưa một ngón tay mân mê quanh rìa cẩn vàng của chiếc trâm. Chiều hôm đó tôi đã cảm thấy điều gì chẳng lành, nhưng còn mạnh hơn là cảm giác phấn khích. Tôi đã tìm thấy điều gì đó, bà đã nói vậy. Là cái gì vậy? Liệu có thông điệp nào liên quan tới khám phá của bà ẩn chứa trong những hoa bướm và hoa cúc đó? Món trang sức vẫn bướng bỉnh nằm im lìm trong chiếc hộp.
Chúng tôi rẽ vào con phố nơi tôi ở, với những ngôi nhà thời Victoria bằng đá xám chen chúc bên nhau. Ngay cả vào một buổi chiều hè nắng ấm, đây cũng là một trong những phần yên lặng nhất của London; vào lúc hai giờ sáng, con phố này vắng tanh, chỉ còn tiếng gió rên rỉ trong các góc phố tối, thổi tung những tán cây, để lại ánh sáng bàng bạc với những bóng cây đung đưa trên vỉa hè.
Ở cuối phố, những tấm rèm bay tung qua một khung cửa sổ mở toang như một bóng ma đang uốn lượn trong gió. Tôi chợt nhận ra đó là ngôi nhà mình đang sống. Cửa sổ căn phòng phía ngoài trông ra phố trong căn hộ tầng hai của tôi. Cảm giác sợ hãi khiến miệng tôi cứng lại, lạnh ngắt như bị đông cứng. Tôi đã không để cửa sổ mở.
Khi chúng tôi tới trước ngôi nhà, chiếc taxi đi chậm dần rồi dừng lại. Qua ô cửa sổ, những chiếc bóng xoắn lại theo cơn gió, và tôi lại nhìn thấy kẻ bí ẩn đó lần thứ hai trong đêm, một bóng người sẫm màu hơn cả bóng tối đang bao quanh nó - không hẳn là một bóng người, đúng hơn là một lỗ đen trống rỗng có hình dáng của một con người.
“Lái xe đi ngay” , tôi thì thầm.
“Nhưng…”
“Đi tiếp ngay”.
7
Khi xe chạy tới cuối đường, tôi ngoái lại nhìn. Không thấy tấm rèm cửa đâu nữa; ánh trăng lấp lánh trên khung cửa sổ. Không thấy bóng người nào trong nhà. Có phải tôi mơ không? Tay tôi nắm chặt lấy chiếc hộp đựng cây trâm cài áo.
“Vậy là cô cũng không muốn về nhà?” người lái taxi hỏi.
https://thuviensach.vn
“Không”.
“Vậy thì đi đâu đây?” anh ta hỏi.
Tôi lắc đầu. Nếu bóng đen bí ẩn nọ đã đột nhập được vào căn hộ của tôi, thì không nơi nào an toàn hết. Tôi kéo cả hai chiếc áo khoác sát hơn vào người.
“Khách sạn Claridge’s”. Henry trả lời người lái xe.
Khi chúng tôi đi xuống phố Mayfair, một con phố rộng hơn, tôi định lên tiếng, nhưng ông khẽ lắc đầu. Tôi nhìn theo ánh mắt ông, và thấy trong gương chiếu hậu cái nhìn tò mò của anh chàng lái taxi. Thấy tôi phát hiện ra, anh ta đánh trống lảng quay đi.
Tới Claridge’s, Henry nhanh chóng thanh toán tiền taxi, giúp tôi xuống xe rồi kéo tôi vào một sảnh lớn có tường gắn đầy gương giống như ở cung điện Versailles, sàn nhà bóng loáng lát đá màu trắng và đen như bàn cờ vua. Người gác cửa nhẹ nhàng bước tới chào đón.
“Xin chào, Talbot” , Henry chào.
“Rất vui được gặp ngài, thưa ngài,” anh ta đáp lễ. “Tối nay chúng tôi có thể giúp gì được cho ngài?”
“Một nơi kín đáo để chờ đợi, anh bạn thân mến.” Henry trả lời. “Và một chiếc xe cùng một tài xế, kín đáo hơn nữa được thì tốt. Anh chàng lái taxi chúng tôi vừa chia tay hơi tọc mạch quá. Có thể anh ta sẽ quay lại”. “Anh ta có thể quay lại bao nhiêu lần tùy thích,” Talbot dịu giọng, “nhưng trừ khi ngài muốn, anh ta sẽ không thể lần ra dấu vết nào của ngài”. Chúng tôi được dẫn vào một căn phòng nhỏ kê đầy ghế bành và ghế sofa bọc vải hoa. Trong khi Henry đi vòng quanh phòng, xem xét những món đồ pha lê hiệu Lalique bày rải rác xung quanh, tôi ngồi yên ở giữa phòng, ôm khư khư lấy chiếc trâm đựng trong hộp. Mỗi lần tôi định lên tiếng, nhưng Henry lại lắc đầu.
Vài phút sau, Talbot lại xuất hiện đưa chúng tôi xuống hành lang dẫn ra cửa phục vụ, rồi đi và một garage nhỏ nơi có một chiếc xe cửa kính đen đang nổ máy đợi sẵn. Có vẻ như tay lái taxi đã quay lại thật, nói rằng chúng tôi để quên thứ gì đó trong xe. Khuôn mặt Talbot nở một nụ cười bí hiểm. “Anh ta sẽ không quấy rầy ngài thêm nữa đâu. Tôi cho anh ta thấy một số
https://thuviensach.vn
bằng chứng rất hiển nhiên là ngài sẽ ở lại cả đêm tại một trong những khu phòng riêng của chúng tôi. Tôi tin anh ta có thể đã bị khóa trái lại trong kho bát đĩa trong khi lân la gần cầu thang phục vụ”.
“Tôi sẽ không hỏi chuyện đó xảy ra như thế nào? , Henry nói với vẻ hài lòng khi chúng tôi lên xe.
“Chúc ngài may mắn!” , Talbot khẽ nói rồi đóng cửa xe lại. Khi xe chuyển bánh, tôi nhìn lại đằng sau. Anh chàng gác cửa đứng trông chừng với vẻ dửng dưng, nhỏ dần lại khi chiếc xe chở chúng tôi phóng đi, rồi biến mất trong màn đêm.
Lần này, Henry chỉ nói hướng đi cho lái xe từng quãng ngắn, và chúng tôi đi vòng vèo qua các đường phố ucar khu Mayfair, đi qua Quảng trường Berkeley rồi đi vào Piccadily. Vòng quanh Hyde Park Corner, chiếc xe lướt dọc Knightsbridge, lúc này đang vắng vẻ tối tăm, rồi rẽ một lần cuối cùng vào những con phố nhỏ rợp lá cây của khi Kensington. Chúng tôi đang đi tới ngôi nhà trong thành phố của Henry.
Những con phố chúng tôi đi qua đều vắng lặng, nhưng tôi vẫn không thể dứt bỏ được cảm giác bị đe dọa đang lởn vởn trong bóng tôi. Chúng tôi càng rời xa khách sạn, cảm giác đó càng rõ rệt hơn, cho tới khi tưởng chừng cả những gốc cây ven đường cũng đang thèm khát muốn vồ lấy chiếc xe. Chúng tôi đã gần đến nhà Henry khi ánh sáng lóe lên phía sau, một chiếc xe khác cũng rẽ vào phố. Ngay lập tức, sự hoảng loạn mà tôi cố khống chế suốt buổi tối lại bùng lên như một làn sóng ụp xuống đầu tôi. Tim tôi đập như đánh trống, tôi đưa tay nắm chặt lấy thành ghế nhưng hàu như không cảm thấy gì qua bàn tay đang tê dại. Chúng tôi rẽ trái, sau đó lại đột ngột rẽ phải, nhưng chiếc xe kia vẫn bám sát theo sau.
Cuối cùng thì chiếc xe cũng lạo xạo lăn bánh trên một đoạn đường rải sỏi ngắn; tôi lao ra khỏi xe, vội vã chạy tới ngôi nhà trước khi bánh xe kịp dừng hẳn. Cánh cửa chạm trổ trước mặt chúng tôi bật mở, và tôi nhảy bổ vào trong, Henry ngay sau lưng. Tôi thoáng thấy ánh đèn hậu màu đỏ biến mất về phía cuối phố, rồi cửa trước ngôi nhà đóng sập lại. Tôi đứng thở hổn hển trong tiền sảnh ngôi nhà của Henry, đối diện với người quản gia đang sững sờ của ông.
https://thuviensach.vn
“Barner, anh hày đi kiểm tra và đảm bảo tất cả cửa sổ và cửa ra vào đều được đóng và khóa trái.” Henry bình tĩnh nói. “Và bật hệ thống báo động lên. Sau đó hãy mang cognac cho chúng tôi - tôi nghĩ là Hine Antique - và đốt lò sưởi trong thư viện lên”.
Thư viện nằm ở trên lầu, phủ rèm nhung màu đỏ tía với các họa tiết hình hoa cỏ màu xanh lục theo thiết kế của William Morris. Ánh sáng phản chiếu trên bề mặt bóng nhẵn của những bức tượng bằng cẩm thạch, những giá sách bằng gỗ sồi và những tấm bìa da, lấp lánh trên những gáy sách mạ vàng. Hai chiếc ghế bành lớn được kê trước lò sưởi; Barnes đã để cognac và cốc trên chiếc bàn kê ở giữa chúng.
Tôi đi thẳng tới trước lò sưởi. “Ông có tin vào những hồn ma không?”. Henry thoải mái ngồi xuống ghế bành. “Cô bạn thân mến của tôi, không phải một hồn mà đội mồ sống dậy đã đâm kim tiêm vào Roz. Hãy trả tiền cho gã lái taxi theo dõi cô”.
Tôi ngạc nhiên quay sang phía ông. “Vì thế mà chúng ta đổi xe ở Claridge’s?”
“Toàn trí,” Henry nói, đồng thời rót rượu ra cốc, “là một phẩm chất tuyệt vời của Chúa, nhưng bị nghi ngờ ở mọi người khác. Cô không hề nói cho gã địa chỉ và số nhà của cô. Tôi cũng không. Vậy mà gã biết”. Tôi lùi lại ngồi xuống mép chiếc ghế bành còn lại. Người lái taxi biết địa chỉ của tôi - đã lái chậm dần và gần như dừng lại đúng trước cửa nhà tôi. Giọng của anh ta, đầy vẻ - thế nào nhỉ? Thất vọng? Lo lắng? Sợ hãi? - lại vang lên trong đầu tôi. Vậy là cô cũng không muốn về nhà? Và tôi đã rối trí đến mức không nhận ra. Tôi rùng mình. “Có ai đó trong căn hộ của tôi”. Henry đưa cho tôi một cốc rượu. “Thế ư? Điều này không làm tôi ngạc nhiên. Gã lái taxi đóng vai chú bé đưa hàng, cô bạn của tôi ạ. Không phải là vai chính. Và hắn ta tất nhiên không vui khi gói hàng lại không chịu để được giao theo đúng yêu cầu. Với giả thiết là ở đây có một vai chính. Hay ít nhất là một ông chủ mà gã phải tuân lệnh”. Cầm lấy chiếc cốc bằng cả hai bàn tay, ông từ tốn lắc chiếc cốc để chất lỏng màu hổ phách đựng trong đó xoay tròn. “Cô đang gặp nguy hiểm, Kate. Điều này quá rõ ràng”. Ông hít một hơi sâu rồi nhấp ngụm nhỏ; cả con người ông toát lên vẻ khoan
https://thuviensach.vn
khoái. “Rượu vang là đồ uống cho các cậu bé, rượu porto cho những người đàn ông: nhưng ai muốn trở thành anh hùng cần phải uống brandy. Samuel Johnson đã viết như vậy, ông ta quả là một kẻ lang bạt già đời khôn ngoan… Chúng ta hãy cùng xem xét chiếc trâm lần nữa xem nào”.
Tôi lấy chiếc hộp ra. Cây trâm vẫn im lìm nằm yên đó. “Không phải là một con đường dẫn vào câu chuyện thần tiên đúng không? Ông nghĩ làm cách nào tôi biết nó dẫn đi đâu được?”.
Henry mỉm cười. “Giá mà nó là một đôi giày nạm ruby thì có lẽ đã dễ suy diễn hơn. Hay cô cần bắt đầu bằng việc thử mang nó lên mình. Tôi có thể xem một chút chứ?” Khi ông nhấc chiếc trâm ra khỏi hộp, một tấm thẻ nhỏ bung ra, lượn vòng trong không khí rơi về phía lò sưởi. Henry lao vụt tới, chộp lấy nó đặt vào tay tôi.
Đó là một tấm thẻ hình chữ nhật bằng giấy dày màu kem, phía dưới có dùi một lỗ. Trên đó có vài dòng chữ viết tay, chữ viết thưa và rất tháu. Chỉ liếc nhìn, tôi nhận ra nét chữ của Roz. Trong lúc Henry cài chiếc trâm lên ve áo tôi, tôi đọc to những dòng chữ đó lên:
“Chúc mừng, Kate bốc đồng, vì đã gạt đi được sự mộ đạo ngu ngốc để lộ ra những sự thật tươi sáng bấy lâu bị chôn vùi trong kiệt tác thời Jacobean mà chúng ta đều thích nhất. Tôi nghĩ công chúng chẳng bao lâu nữa cũng sẽ ngưỡng mộ nó như vậy.
Dành cho Cô gái ngọt ngào những gì ngọt ngào nhất.
R.”
“Jacobean?” Henry bất thần hỏi.
“Trên đó viết như vậy”. Tôi nghĩ Jacobean xuất phát từ Jacobus. Cách viết trong tiếng Latinh của tên James trong tiếng Anh. Chẳng hạn như vua James, vua nước Anh trong nữa cuối sự nghiệp của Shakespeare. Tất cả đều ổn, trừ một chi tiết. Vở kịch mà Roz ám chỉ là Hamlet, mà trong khi Hamlet hiển nhiên là một kiệt tác, nó lại không ra đời thời vua James. Đó là một tác phẩm thời Elizabeth - vở kịch cuối cùng và tuyệt vời nhất trong tất cả các vở kịch thời Elizabeth, được sáng tác trong lúc vị nữ hoàng già nua độc thân bướng bỉnh đang cáu kỉnh trượt dần tới kết thúc tất yếu của cuộc đời, từ chối chỉ định người em họ trẻ tuổi James của bà - hay bất cứ ai khác
https://thuviensach.vn
- làm người kế vị. Với phần lớn mọi người, giữa các vở kịch được sáng tác vào thời kỳ Elizabeth với những vở ra đơiì thời kỳ vua James có vẻ chỉ là một mốc phân biệt hầu như vô hình. Nhưng với Roz, đó là một khe vực khổng lồ, một sự khác biệt cũng rõ rệt như sự khác nhau giữa mặt trời và mặt trăng, đàn ông và đàn bà. Với bà nhầm lẫn giữa một vở kịch của thời kỳ thứ nhất và thời kỳ thứ hai cũng khó chẳng khác gì nhầm anh trai bà với em gái bà hay nhầm lẫn giữa bàn tay và cái đầu của chính bản thân bà.
Henry bawths đầu nhẩm lại các vở kịch thời vua James của Shakespeare. “Macbeth, Othello, Cơn bão tố, Vua Lear… Bà ấy có thích đặc biệt vở nào không?”
“Theo tôi biết thì không”.
“Ít nhất thì cuối cùng bà ấy đã quay lại với Dành cho Cô gái ngọt ngào những gì ngọt ngào nhất. Gertrude đang rắc hoa lên nấm mộ của Ophelia. Hoàn toàn phù hợp với món quà của bà”.
“Còn hơn thế nữa.” Tôi nói, đưa tấm thẻ ra chỗ sáng, Ở phía dưới, bà đã viết một phần tái bút dưới dạng bốn câu thơ bằng bút chì xanh nhạt, chia thành hai cặp câu bởi một dòng kẻ:
“Nhưng tại sao bạn không dùng một phương cách vĩ đại hơn Để khiêu chiến với thời gian độc tài tàn bạo?
Vậy hãy để những cuốn sách của tôi làm lời hùng biện
Và những nhà tiên tri câm lặng thay cho tiếng nói của tôi.” Henry sững người. “Đúng nó rồi!” ông kêu lên. “Kiệt tác thời Jacobean của cô”.
Tôi cau mày, cố lục lọi trong trí nhớ của mình những câu thơ đó. “Chúng là của Shakespeare. Tôi chắc chắn vậy. Nhưng ở đâu? Không phải trong Hamlet”.
Henry đứng dậy bước tới một giá sách cao, trên nóc đặt bức tượng bán thân của Shakespeare. “Không đâu, cô gái ngốc nghếch, không phải trong Hamlet đâu,” ông kêu lên. Lướt một ngón tay dọc theo những cuốn sách, ông lẩm bẩm. “Tầng thứ ba từ trên xuống. Cuốn sách thứ tư từ trong ra. Tôi nghĩ vậy. Phải rồi - tìm thấy rồi”. Ông rút ra một cuốn sách mỏng bìa da
https://thuviensach.vn
màu nâu sẫm có trang trí mạ vàng. Quay lại bên lò sưởi, ông kiểu cách đặt nó vào lòng tôi.
Không có tên trên bìa sách. Đặt tấm thẻ lên chiếc bàn, tôi mở sách, vuốt ve mặt giấy dày và mềm mại màu cà phê sữa. Trên đầu trang có trang trí hình các tiểu thiên sứ cưỡi lên những bông hoa trông qua cũng có thể gọi là những con rồng. Tôi đọc lên thành tiếng những từ đầu tiên: “Những bài sonnet của Shakespeare”.
“Nếu được tôi sẽ đặt tên cuốn sách này là Cuốn tự truyện bí ẩn” , Henry nói. “Nhưng chẳng ai hỏi ý tôi cả”.
Tôi nhìn trở lại trang sách:
Chưa từng được xuất bản
Tại London
Do G. Eld in cho T. T và
Được bán tại William Aspley
1609.
Tôi ngạc nhiên ngước mắt lên. “Nhưng đây là bản in gốc”. “Bản gốc thời Jacobean,” Henry trả lời, đồng thời nháy mắt tinh quái. “Và nhiều người sẽ nói đây là một kiệt tác. Một trăm năm mươi tư bài thơ, từng bài riêng rẽ thường được coi là những báu vật nhỏ - Roz đã trích dẫn ra từ hai bài trong số này - nhưng sự tuyệt diệu thực sự của chúng chỉ hiện ra khi tất cả được xâu chuỗi lại thành một câu chuyện duy nhất. Một câu chuyện huyền bí dị thường ẩn chứa dưới những dòng thơ: Chàng trai trẻ tóc vàng, vị phu nhân tóc đen, và thi sĩ. Shakespeare tất nhiên là thi sĩ, nhưng ai là chàng trai trẻ và làm thế nào anh ta kết thúc trong vòng tay người tình tóc đen có trái tim đen tối của Shakespeare?” Cả ngôi nhà như đang cúi xuống ghé tai lắng nghe ông. “Tại sao thi sĩ lại cầu xin chàng trai hãy có con - và tại sao anh ta từ chối?”.
Ông lắc đầu. “Những bài sonnet tràn đầy tình yêu, ghen tuông và phản bội - tất cả những điều bí ẩn sâu thẳm đầy bất hạnh. Và còn thú vị hơn vì tất cả đều là sự thật”.
Một khúc củi sập xuống trong lò sưởi. “Cũng đầy cảm xúc nhất định với một bà hoàng của sân khấu đang già đi” , Henry châm biếm trong cảm xúc
https://thuviensach.vn
tự trào bộc phát. “Nhưng tại sao ngươi không dùng một phương cách vĩ đại hơn để khiêu chiến với thời gian độc tài tàn bạo? Roz đã bao giờ cảm thấy như vậy về cô chưa?”
Suýt nữa thì tôi phụt brandy ra khỏi miệng, “Cái gì, rằng tôi nên lấy chồng và đẻ ra một đàn Kate bé nhỏ tóc đỏ hoe chăng?”
Henry ghé người lại gần tôi. “Rằng cô cần có một người tình và làm mới lại mình, mãi mãi trẻ trung. Đó là ý nghĩa của đoạn thơ thứ nhất, cô hiểu chứ. Khiêu chiến với thời gian bằng cách có con”. Ông cầm lấy cuốn sách, giở qua mấy trang đầu tiên. “Từ đâu nhỉ? Đây rôi”. Ông chỉ ngón tay vào bài thơ trên trang sách. “Bài sonnet số mười sáu.”
Ông lại giở qua mấy trang nữa và dừng lại. “Như thế cũng đã khá tệ rồi, nhưng đoạn thơ thứ hai - đủ để cô phát khóc đấy, nếu cô nghĩa về nó. Loại người nào có thể viết một mạch Romeo và Juliet nhưng lại sợ nói Anh yêu em với chính người mình yêu? Đến mức phương cách duy nhất của hắn ta để chống lại kẻ tình địch của mình, một tên khốn kiếp miệng lưỡi ngọt ngào, là vai nài Hãy đọc cuốn sách của tôi?
Vậy hãy để những cuốn sách của tôi làm lời hùng biện
Và những nhà tiên tri câm lặng thay cho tiếng nói của tôi. Kẻ cầu xin tình yêu và tìm kiếm sự đền bù
Nhiều hơn những gì miệng lưỡi bao người từng nói.”
Giọng nói của ông làm cả căn phòng chìn trong cảm giác khát khao đến mức không thể kìm nén được, rồi từ từ biến mất.
Thay vào đó là cảm giác nghi ngờ dần dần lắng lại. Chiếc trâm không còn là một món quà nữa. Tôi ngắm nhìn tấm thẻ nhỏ đang nằm úp sấp trên chiếc bàn giữa hai chúng tôi.
“Đó là một bi kịch, được cô đọng lại trong khuôn khổ của một bài sonnet.” Henry nói. “Chỉ sau hai mươi ba bài thơ, và ông ta đã rút ra…” Rượu brandy đốt cháy cổ họng tôi. “Ông nói gì cơ?”
“Ông ta đã rút ra…?”
“Không. Con số cơ”.
“Hai mươi ba. Đây này”. Ông giơ cuốn sách ra.
https://thuviensach.vn
“Các câu thơ không có ý nghĩa gì cả.” Tôi chợt hiểu ra. “Cho dù chúng rất tuyệt vời. Đó là những con số. Số thứ tự của những bài sonnet”. “Mười sáu và hai mươi ba?”.
Tôi lật ngược tấm thẻ của Roz lại để ông có thể nhìn xuôi từ trên xuống và chỉ vào phần tái bút. “Ông có nhìn thấy bà ấy viết phía dưới không?” Ông cau mày khi nhìn thấy những gì tôi đã thấy: ký tự viết nguệch ngoạc không rõ ràng mà chúng tôi đã đoán là chữ s của từ viết tắt p. s, giờ đây hiện lên rõ ràng là một chữ a, liền sau là chữ d.
“A. D” , ông đọc to lên. “Anno Domini. Sau công nguyên… Tôi vẫn chưa rõ thứ này đang dẫn chúng ta tới đâu”.
“Đi ngược thời gian.” Tôi nói ngắn gọn. “Hãy nối những con số này lại thành một mốc thời gian”.
“Một nghĩ sáu trăm hai mươi ba… Nhưng chúng dẫn tới đâu? Bảy năm sau ngày Shakespeare qua đời? Chúng ta vẫn đang nói về Shakespeare đúng không?”
“Cuốn sách nổi tiếng nhất thời Jacobean của ông,” tôi gật đầu. “Kiệt tác chứa đựng tất cả những kiệt tác khác của ông. Xuất bản năm 1623”. “Chúa ơi!” Henry nói. “Tuyển tập Đầu tiên”.
8
Chúng tôi trố mắt nhìn nhau. Tuyển tập Đầu tiên là ấn bản đầu tiên tập hợp các tác phẩm tuyển chọn của Shakespeare, được bạn bè và những mạnh thường quân của ông xuất bản vào năm 1623, sau khi ông qua đời. Đối với họ, đó là một đài tưởng niệm còn quý giá hơn đá cẩm thạch, và họ đã không tiếc tiền bạc, công sức và thời gian cho cuốn sách. Bản in của Tuyển tập sau khi rời xưởng in là một tác phẩm tuyệt đẹp - một nỗ lực rõ rệt để đưa tác giả từ thế giới hỗn độn, không được tôn trọng của nhà hát vào ngôi đền chân lý vĩnh cửu của thi ca. Với những kẻ thù của Shakespeare - tất cả những kẻ đã luôn chế nhạo ông khi sinh thời là một tên hãnh tiến gặp thời, không đáng nhặt vụn bánh thừa trên bàn ăn của họ - cuốn sách chính là sự báo thù ngọt ngào nhất.
https://thuviensach.vn
“Cũng đủ để thúc đẩy người ta gây án mạng.” Henry nói. “Đây là một trong những cuốn sách đắt giá và được săn lùng nhất trên thế giới. Chắc cô cũng biết gần đây người ta đã trả một trăm sáu mươi ngàn bảng cho một bản in bị ố nước, thiếu nhiều trang trong một cuộc bán đấu giá chứ?” Ông lắc đầu như thể không tin nổi. “Khi Sotheby’s đưa ra đấu giá một bản gốc ở trạng thái hoàn hảo hiếm có vào năm ngoái, nó đã được bán với giá năm triệu đô la. Người ta còn đồn Paul Getty thậm chí đã phải trả đến sáu triệu. Hãy nghĩ mà xem: một cuốn sách cũ đắt gấp mười lần giá trung bình một ngôi nhà ở London. Tôi không muốn xúc phạm ai cả, Kate thân mến, nhưng nếu Roz tìm thấy một cuốn Tuyển tập Đầu tiên, tại sao không chạy thẳng tới Sotheby’s hay Christie’s bán đấu giá nó đi, rồi lui về sống an nhàn trong một villa ở vùng Provence? Tại sao bà ấy lại đến tìm cô?”
“Tôi không biết nữa.” , tôi nói, trong lúc một mớ ý nghĩ lộn xộn lướt qua trong đầu. “Trừ khi không phải bà ấy tìm ra một cuốn Tuyển tập - ý tôi là một bản gốc nữa - mà tìm thấy điều gì đó trong cuốn sách. Trừ khi bà ấy muốn biết một số thông tin”.
“Thông tin mà cô biết, còn bà ấy thì không?”
Nếu Henry không nói về Roz mà về một người khác, vẻ nghi hoặc của ông sẽ chẳng khác gì sự sỉ nhục. Roz nối tiếng với vốn hiểu biết khổng lồ và Shakespeare, chẳng hạn như việc những bài thơ và vở kịch của Shakespeare đã len lỏi vào những bài diễn văn tại Quốc hội Hoa Kì, xuất hiện trong các vở ba lê thời Liên bang Xô Viết hay trong văn chương tuyên truyền của chế độ Nazi như thế nào. Nhờ Roz, thế giới được biết Shakespeare cũng hoàn toàn không xa lạ trên sân khấu kịch Kabuki hay quanh những đống lửa trại giữa rừng Tây Phi hoang dã. Cuốn sách cuối cùng của bà - trong đó tôi đã đóng góp vào công tác nghiên cứu ở giai đoạn khởi thảo - đã thích thú mô tả chi tiết sự nổi tiếng của Shakespeare ở miền viễn tây hoang dã, trong những người thợ mỏ và dân miền núi mù chữ, ở những chàng cao bồi và các cô gái làng chơi, thậm chí cả trong vài bộ lạc người da đỏ. Các học giả, nhà hoạt động bảo tàng, các đòa kịch, nhà hát từ khắp nơi trên thế giới đã luôn tìm đến tham khảo sự tinh tường và lời khuyên của bà.
https://thuviensach.vn
Nhưng Roz lại tìm sự giúp đỡ của tôi. “Tôi cần giúp đỡ, Kate” , bà đã nói với tôi như vậy lúc ban chiều. “Sự giúp đỡ của cô”. Ngay cả bây giờ, cũng như lúc đó, tôi chỉ thấy có một lý do: bản luận văn của tôi. Tôi đã xây dựng nghiên cứu của mình dựa trên các công trình của bà, chỉ với một ngoại lệ duy nhất. Tôi đã quyết định đào bới lại quá khứ để tìm hiểu những điều sâu xa hơn.
“Phần huyền bí của Shakespeare!” tôi kêu lên thành tiếng. “Bí mật, không phải là ma thuật,” tôi nói thêm, vô tình lại bật ra câu đính chính quen thuộc. “Đó là chủ đề duy nhất về Shakespeare mà tôi biết nhiều hơn Roz - câu chuyện dài và lạ lùng về những cố gắng nhằm tìm lại các hiểu biết bị cấm kỵ mà người ta tin nằm phân tán rải rác trong các sáng tác của ông. Phần lớn những hiểu biết đó được cho là ẩn giấu trong cuốn Tuyển tập Đầu tiên”. Henry nhìn tôi chăm chú. “Những hiểu biết bị cấm kỵ?”
“Những lời tiên tri hay lịch sử. Tùy ông chọn”. Tôi nhăn nhó mỉm cười với ông. “Những người tin Shakespeare là một nhà tiên tri coi cuốn Tuyển tập như những lời sấm truyền của Nostradamus: những lời tiên đoán bí hiểm về tương lai, dự báo việc Hitler lên nắm quyền, con người đặt chân lên mặt trăng, ngày tận thế, hay bữa tối vào thứ ba tuần tới của ông sẽ gồm những món gì. Còn phái “các nhà sử học” thì bận bịu dùng hết thời gian để bới lại câu chuyện tình cũ rích giữa Nữ hoàng Elizabeth và bá tước Leicester…”
“Khó mà gọi đó là một bí mật.” Henry nói. “Chẳng có thập kỷ nào trôi qua mà không xuất hiện một cuốn sách thuộc dạng bán chạy kỷ lục ăn theo câu chuyện tình này. Còn Hollywood thì đã trưng nó lên màn bạc cả trăm năm này rồi”.
“Đúng thế. Nhưng những câu chuyện mà tôi đang nói tới khẳng định không chỉ có một câu chuyện tình, mà có cả một cuộc hôn nhân thực sự giữa Nữ hoàng và bá tước, cùng sự ra đời của một người thừa kế hợp pháp từ cuộc hôn nhân đó. Một đứa bé trai đã bị mang đi giấu từ khi mới chào đời, giống như vua Arthur - để, giống như vị vua này, sẽ quay trở lại”.
Henry lẩm bẩm điều gì đó vẻ nghi ngờ. Khi ông nói lên thànhlời, giọng của ông có vẻ phật ý. “Và như vậy người ta cho rằng một nhà viết kịch xuất thân thấp kém từ Stratfort lại được biết những thông tin như vậy?
https://thuviensach.vn
Một cơn gió rền rĩ thổi qua góc ngôi nhà làm những cánh cửa kiểu Pháp mở ra ban công sau lưng chúng tôi kêu lách cách. Tôi nhấp một ngụm rượu. “Vì ông ta chính là đứa bé được mang đi giấu”.
Trong giây lát, tiếng động duy nhất trong phòng là tiếng ngọn lửa lách cách trong lò sưởi. Rồi Henry bật cười. “Không thể có chuyện cô tin vào một chuyện tầm phào như thế!”. Ông cười phá lên, rót thêm brandy vào cốc của tôi.
Tôi mỉm cười. “Không. Roz cũng không. Chúng tôi thường bật cười trước phần lớn những câu chuyện như vậy - cho dù một hay hai câu chuyện quả thực là những bi kịch”. Tôi đứng dậy, bước lại gần lò sưởi. “Tôi không tin bà ấy lại theo đuổi một trong những câu chuyện đó nếu không có lý do chắc chắn, nghiêm túc về mặt học thuật. Nhưng có phải vậy hay không đâu còn quan trọng, đúng không nào? Có thể bà ấy bị sát hạn bởi một kẻ nghĩ rằng bà đã tìm thấy điều gì đó”.
“Hoặc sợ bà sẽ tìm thấy”.
Tôi đặt cốc rượu của mình xuống mặt lò sưởi. “Nhưng đó là cái gì? Ở đâu? Có khoảng hai trăm ba mươi bản gốc của Tuyển tập còn tồn tại đến ngày nay, rải rác khắp thế giới. Cho dù tôi biết bí mật nằm trong cuốn nào trong số đó - hay bà ấy chứng minh được đã tìm ra điều gì đó có trong mỗi cuốn sách - thì đây vẫn là một cuốn sách rất dày. Tôi phải tìm thứ gì đây?”
Henry cúi xuống nhìn tấm thẻ trên mặt bàn. “Hãy nghe tôi đoán nhé.” ông nói. “Bà ấy đã chọn ra những câu thơ từ các bài sonnet số mười sáu và hai mươi ba để ghép lại thành thời điểm. Nhưng trong mỗi bài sonnet có mười bốn câu để chọn. Tại sai lại là những câu đó?” Ông gõ ngón tay lên tấm thẻ. Tôi đọc những dòng thơ ông chỉ vào:
“Vậy hãy để những cuốn sách của tôi làm lời hùng biện
Và những nhà tiên tri câm lặng thay cho tiếng nói của tôi.” Đáp án chợt lóe khiến người tôi nóng bừng. “Bà ấy muốn nói đến những cuốn sách của chính mình đúng không? Không chỉ là những cuốn sách của Shakespeare. Tuyệt lắm, Henry”.
“Với một giáo sư có vô số công trình nghiên cứu như bà ấy thì gợi ý như vậy cũng chẳng khác gì đãi cát tìm vàng”.
https://thuviensach.vn
“Ít nhất chúng ta còn có mấy dòng đầu thẻ nữa mà.” Tôi bật cười. “Ông lật nó lại đi”.
Ở mặt bên kia là những dòng chữ đánh máy gồ ghề của một đầu thẻ danh mục thư viện cũ:
“Chambers, E. K. (Edmund Kerchever). 1866-1954.
Sân khấu thời Elizabeth.
Oxford, The Carendon Press, 1923.”
“Tập sách tuyệt vời” , Henry nói.
“Chắc ý ông muốn nói là ‘những tập sách’. Bốn tập dày cộp”. Chambers là mông trong những thành viên cuối cùng của một trường phái học giả cũ, những người tập hợp các sự kiện theo đúng kiểu các nhà tự nhiên học thời Victoria sưu tập bọ cánh cứng và bướm - bừa bãi và có chiều sâu, trình bày chúng một cách thông minh và dồi dào. Khi được xuất bản, Sân khấu thời Elizabeth chứa đựng tất cả những bằng chứng đã biết liên quan tới sân khấu vào thời của Shakespeare. Từ đó tới nay một số ít thông tin nữa đã được phát hiện, nhưng cũng không đáng là bao. Với các học giả, bộ sách vẫn là mỏ vàng chứa đựng tất cả những chi tiết nhỏ nhặt liên quan tới sân khấu đã bị quên lãng từ lâu.
“Dù sao cũng tốt hơn là cuốn Tuyển tập,” ông nói, đứng dậy khỏi ghế bành. “Vì thật tình cờ tôi lại có bộ sách này”. Ông bước lại phía các giá sách. “Đợi đã.” , tôi nói. “Không phải bộ sách ông đang có. Mà là bộ sách của bà ấy. Đây là thẻ của bà ấy”.
Ông quay lại. “Roz đưa cả sách của chính mình vào danh mục thư viện?” “Không. Khi nói đến sách, bà thường không phân biệt rõ giữa sách của bà với sách của trường Harvard. Ông nhìn thấy không?” Tôi chỉ vào con số ở trên đầu thẻ. Thr 390.160. “Đây là mã số phân loại trong hệ thống cũ sử dụng ở Widener - thư viện chính của Harvard - trước khi Dewey nghĩ ra những con số thập phân của mình”.
“Bà ấy lấy một tấm thẻ từ danh mục của trường Harvard sao?” “Giờ là thẻ của bà ấy. Trường đại học đã đưa danh mục sách của mình lên mạng mấy năm trước, và trong cơn phấn khích với công nghệ mới những người phụ trách thứ viện coi những tấm thẻ là lỗi thời. Thế là để tiết kiệm
https://thuviensach.vn
diện tích, họ đã quyết định bỏ đi tất cả thẻ tra cứu cũ - tất cả mười một triệu chiếc, trong đó một số có từ thế kỉ mười tám. Kể từ đó chúng được dùng làm giấy nháp. Ngay từ lần đầu trông thấy Roz đã thích, và luôn sử dụng chúng”.
“Một cách hùng hồn, không nghi ngờ gì nữa!” , Henry bỡn cợt. Tôi mỉm cười. “Bà ấy đã viết bài đăng lên các báo New York Times, The New Yorker, The Atlantic, TLS, tất cả đều chỉ trích thư viện. Cuối cùng, bà ấy làm lớn chuyện đến mức trường đại học đành đề nghị dành cho bà tất cả thẻ của các tác phẩm thời Phục hưng ở Anh và của Shakespeare, để bà không làm lôi thôi thêm nữa. Những gì bà phải làm là lựa chúng ta khỏi các thẻ khác. Đám nhân viên thư viện chắc định chơi bà một vố, nhưng họ đã lầm to. Bà ấy đã thuê ba trợ lý nghiên cứu trong một năm rưỡi chỉ để phân loại đống thẻ giấy đó… Một trong các trợ lý nghiên cứu ấy chính là tôi”. Tôi buồn bã nhìn chiếc thẻ. “Bà ấy giữ - đã giữ chúng tại một tủ đựng hồ sơ cũ của thư viện đạt trong phòng làm việc của mình. Tôi không nghĩ bà có thể dùng chúng một cách cẩu thả làm tấm thẻ nhắn tin”. Tôi đưa ngón tay miết lên tấm thẻ. “Tôi dám cá rằng có gì đó trong bộ sách của Chambers bà có sẽ nói cho chúng ta biết bà muốn nói tới cuốn Tuyển tập nào, và cần tìm nó ở đâu”.
“Cô sẵn sàng các cược gì?”
“Một chuyến đi tới Harvard?” Tôi hỏi. Nhưng đó không thực sự là một câu hỏi.
Hennry đặt cốc xuống. “Tại sao không đi thẳng đến đồn cảnh sát? Họ ở gần đây hơn nhiều”.
“Và trao bằng chứng này cho một gã cảnh sát kẻ cả trịch thượng, một kẻ sẽ không đủ đầu óc để giải mã nó, và vì thế sẽ để mặc nó phủ bụi trên một chiếc kệ lưu giữ vật chứng nào đó đến khi mục nát ra chăng? Không”. Tôi nuốt nước bọt. “Hơn nữa, Roz đã không tới gặp cảnh sát. Bà đã đến tìm tôi”.
“Và Roz đã chết, Kate”.
“Chính vì thế tôi phải đi.” Tôi đưa ngón tay lên mân mê cây trâm trên ve áo. “Tôi đã hứa. Và tôi có lẽ là người duy nhất có thể lần theo dấu vết bà để
https://thuviensach.vn
lại”.
Ngoại trừ kẻ đã giết bà. Không ai trong chúng tôi dám nói ra lời điều mình cùng nghĩ đến.
Henry thở dài. “Thám tử Sinlair sẽ không thích việc này lắm đâu”. “Ông ta không cần phải biết. Tôi sẽ bay tới đó, xem qua cuốn sách, rồi lập tức quay về”.
“Nhờ ai đó kiểm tra hộ cô có lẽ sẽ nhanh và an toàn hơn. Cô không cần phải hỏi tại sao. Chắc chắn Harvard vẫn còn vài học giả nữa về Shakespeare”.
Tôi cầm cốc rượu của mình, bực bội lắc tròn chỗ brandy trong cốc. Có tài ăn nói, viết lách, thông minh hoạt bát, giáo sư Matthew Morris đã tới Harvard trống rong cờ mở một năm trước khi tôi ra đi. Đám sinh viên và các nhà báo tôn thờ ông ta; còn trường đại học thì cư xử với ông ta như với một ngôi sao nhạc rock. Nhưng chỉ mới gặp tôi đã không thích ông ta, Roz cũng vậy. Người đồng nghiệp thông thái của tôi, bà thường gọi ông ta như vậy với giọng ngọt ngào đầy mỉa mai. Trong con mắt của bà, ông ta đại diện cho những gì tệ hại nhất của các vị viện sĩ hiện tại - toàn những lời rỗng tuếch, không có chút thực chất nào. Ông ta sẽ là người cuối cùng trên đời bà muốn chia sẻ bí mật của mình. Nói chung, thà rằng tôi đi gặp Sinclair còn hơn.
Trong chiếc cốc của mình, rượu đã nằm yên trở lại. Tôi lắc đầu. “Đám bạn thời đại học của tôi đã tản mát hết. Còn Matthew Morris đang nghiên cứu tại thư viện Folger ở Washington D. C”. Đây là sự thực - một sự thực khá hài hước, vì ông ta vẫn khinh khỉnh coi nghiên cứu tư liệu là công việc khổ sai và làm người ta ngu độn đi - mặc dù đó không phải là lý do quan trọng nhất khiến tôi bỏ qua ông ta. “Không có ai khác mà tôi có thể tin tưởng.” Tôi nói. Ít nhất đây cũng hoàn toàn là sự thực.
Nói tới chuyến đi của tôi, hoặc là Henry đã đồng ý, hoặc ông đành chịu thua tôi, tôi cũng không rõ nữa. Nhưng khi tôi muốn quay về nhà chuẩn bị hành lý thì ông từ chối thẳng thừng.” Căn hộ của cô chắc chắn bị theo dõi.” ông nói. “Hơn nữa, cô cần nghỉ ngơi một chút. Hãy đưa cho tôi danh mục những thứ cần thiết, và tôi sẽ bảo Barnes chuẩn bị cho cô. Tôi xin hứa
https://thuviensach.vn
chuúng tôi sẽ đưa cô tới Heathrow và để cô lên chuyến bay đầu tiên đi Boston”.
“Nhưng Barnes không thể mua đồ mặc trong cho tôi được”. Khuôn mặt ông lộ vẻ phiền lòng. “Đồ lót, cô bé. Gọi thế nghe quyến rũ hơn nhiều”.
“Ông muốn gọi là gì thì gọi, nhưng Barnes không thể mua chúng được”. “Vậy ta hãy để bà Barnes lo chuyện này vậy - thật là một phụ nữ can đảm. Không bao giờ có ý định rút lui, kể cả trước mặt một núi đồ lót”. Tôi không nghĩ đến chuyện lại có một bag Barnes tồn tại trên đời, nhưng Henry đã nhìn tôi với vẻ kinh hoàng vờ vĩnh. “Cô không nghĩ là tôi tự dọn nhà đấy chứ?”
Tôi phải bật cười. “Henry, ông đúng là sống ở một thế kỷ khác”. “Tất cả mọi người có thể đều như vậy mà” , ông vui vẻ đáp, uống cạn cognac trong cốc.
Khi tôi leo lên chiếc giường trải đệm dày, rộng đến mức đủ chỗ cho cả tá người, tôi nghe thấy tiếng chuông đồng hồ điểm ba giờ vọng lại từ đâu đó trong nhà. Tôi nằm cuộn tròn trong chăn, một tay nắm lấy chiếc trâm, tay kia cầm chiếc thẻ của Roz, nghĩ tới bóng đen mà tôi đã thoáng thấy trên cửa sổ căn hộ của mình.
Hẳn tôi đã quá hoảng hốt khi nhìn thấy bóng của tấm rèm cửa hay đồ đạc trong phòng từ một góc đặc biệt từ dưới con phố lộng gió, giống như người ta vẫn tưởng tượng ra hình cho sói hay cá voi khi ngắm nhìn những đám mây. Tôi nằm thao thức hồi lâu, lắng nghe cả căn nhà đã chìm vào giấc ngủ.
Sau đó tôi đã bị cuốn dần vào giấc ngủ. Dần dà, giấc mơ của tôi tràn ngập âm thanh của nước đang ào ào chảy xiết. Tôi ngồi bật dậy. Chiếc giường đã biến thành bãi cỏ bên một dòng suối lấp lánh ánh trăng. Cách tôi không xa, có ai đó nằm ngủ giữa những khóm violet. Một ông vua tóc hoa râm, đầu đội vương miện. Tôi bò lồm cồm tới chỗ ông ta. Những bông violet phía dưới ông đều đã héo khô trên cành; người đàn ông cũng đã chết. Ít nhất, tôi nghĩ đó là một người đàn ông, nhưng trong khi tôi ngắm nhìn, khuôn mặt
https://thuviensach.vn
của người đó gợn sóng lăn tăn và lay động như khi ta nhìn vào một khuôn mặt nằm dưới mặt nước, và tôi nhận ra đó chính là Roz.
Bất ngờ, đôi mắt xanh lục của bà bật mở. Trong khi tôi nhảy lùi trở lại, một bóng đen lặng lẽ lần tới tôi từ phía sau, và tôi nghe tiếng lưỡi kiếm được rút ra khỏi vỏ.
Tôi ngồi bật thẳng người dậy trên giường, phát hiện ra mình đã để chiếc ghim cài trâm đâm vào bàn tay; máu đã rỉ một ít ra chiếc nệm của Henry. Tôi nhổm người lên, thận trọng kéo chiếc rèm ra. Ngoài vườn, những bông hồng to như hoa mẫu đơn màu hồng phớt và đỏ sẫm rực rỡ khoe sắc dưới ánh mặt trời. Tôi đứng ở cửa sổ, để những tia nắng chiếu qua mặt mình cho đến khi giấc mơ, và chậm hơn một chút là cảm giác sợ hãi ám ảnh tôi lúc tỉnh giấc, dần dần tan biến.
Ở phòng thay đồ quần áo mới đã được chuẩn bị sẵn: một chiếc quần ống đứng màu đen, một chiếc áo cổ rộng bó sát hơn tôi vẫn quen mặc, và một chiếc áo khoác đắt tiền kiểu dáng đơn giản. Tôi ngạc nhiên một cách thích thú khi trông bộ quần áo tuyệt đến vậy. Cạnh đó là một chiếc vali nhỏ đã được sắp sẵn. Trên mặt vali là vé máy bay. Chuyến bay của tôi xuất phát lúc chín giờ. Tôi vội vã mặc quần áo, gài chiếc trâm của Roz vào chiếc áo khoác mới của mình và đi xuống dưới nhà tim Henry.
“Bị những tay paparazzi săn đuổi dạy cho bạn nhiều điều khôn ngoan hơn nhiều so với sân khấu.” ông hài lòng lên tiếng khi tôi bước vào phòng ăn dùng bữa sáng. Hóa ra chiếc Bentley đã chuẩn bị xuất phát về hướng Highgate, trên băng ghế sau là người làm vườn và cháu gái người này. Nhưng ngay cả khi đã điều đi một chiếc xe đánh lạc hướng. Henry vẫn gặng hỏi tôi mãi trong lúc ăn sáng. “Cô chắc không cần ai đi cùng chứ?” ông hỏi, trong khi đã thả vào tách trà của mình cả một đống đường.
Tôi lắc đầu. “Cảm ơn ông, nhưng đi một mình tôi sẽ thu hút ít sự chú ý hơn là đi cùng một diễn viên nổi tiếng thế giới”.
Cuối cùng, tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm khi chui vào chiếc Range Rover, sau tay lái là Barnes. “Cẩn thận nhé, Kate” , Henry chỉ nói vậy khi đóng cửa xe. Nhưng đôi mắt ông đầy vẻ lo âu.
https://thuviensach.vn
9
Chuyến bay chỉ để lại một thoáng ký ức lờ mờ. Henry đã mua cho tôi vé hạng nhất, do đó ít nhất tôi cũng có thể thoải mái duỗi thẳng chân, cho dù không thể ngủ hay suy nghĩ gì được. Vào lúc một giờ chiều, chuyến bay của tôi hạ cánh xuống sân bay Logan, Boston, tôi bắt một chiếc taxi tới Harvard.
Trong khi chiếc taxi đi vòng qua Storrow Drive, tôi ngắm nhìn dòng Charles uốn lượn phía bên phải mình, xanh thẳm dưới bầu trời không một gợn mây. Cuối cùng, những mái vòm màu hạt dẻ, xanh ngọc và xanh da trời nằm trên nóc các khối nhà xây bằng gạch đỏ, nơi sinh sống của các sinh viên trường Harvard, xuất hiện ở bờ đối diện. Con đường vắt qua sông rồi vòng trở lại khu Cambridge nó như lò nướng bánh vào tháng Sáu. Tôi thuê phòng khách sạn - tại khách sạn Inn ở Harvard - nhanh nhất có thể. Bỏ lại vali trong phòng, khoác chiếc túi đựng sách trên vai, tôi băng qua đại lộ Massachusetts vào khuôn viên Harvard Yard.
Bầu không khí ở đây dịu hẳn - những tòa nhà xây bằng gạch được viền quanh bởi những bãi cỏ rộng mênh mông thay vì các vỉa hè, nằm giữa một khoảng rừng thoáng đãng thanh lịch với những thân cây cao thẳng tắp. Tôi đi vòng qua một khúc quanh, và tòa nhà thư viện hiện lên trước mắt tôi. Được xây dựng để tưởng nhớ một sinh viên trẻ vừa tốt nghiệp đã thực hiện chuyến đi sang châu Âu vào năm 1912 để thỏa mãn niềm đam mê dành cho những cuốn sách quý, sau đó quay về nhà trên chiếc Titanic, thư viện tưởng nhớ Harry Elkins Widener nằm ở nửa phía đông của Harvard Yard, một tòa nhà cũng vuông vắn, đồ sộ và hống hách như người phụ nữ đang đau khổ đã tài trợ xây dựng lên nó thuở ban đầu.
Tôi chạy lên những bậc tam cấp của lối vào, băng qua cánh cửa cao ngang hai tầng nhà vào khu tiền sảnh lát đá cẩm thạch rộng rãi mát lạnh. Dừng lại một lát ở phòng ưu tiên, tôi được phát chiếc thẻ vàng ưu tiên để vào kho tư liệu tham khảo dành cho bạn đọc ngoài trường đến nghiên cứu. Quay xuống tầng dưới, tôi chìa chiếc thẻ tạm thời của mình cho một sinh viên
https://thuviensach.vn
đang buồng bã ngôi gác, rồi bước vào kho tư liệu tham khảo qua một cầu thang được chiếu sáng choang.
Tôi đứng yên một lát để định hướng. Bằng một di chúc hiện tặng được soạn thảo chặt chẽ, bà Widener đã đảm bảo rằng vẻ bề ngoài của thư viện sẽ không bao giờ thay đổi, dù chỉ một viên gạch. Tuy vậy cấu trúc bên trong lại là chuyện khác: về phần này, bà ta đành phải miễn cưỡng nhượng bộ cho phép thư viện được thay đổi và phát triển một cách linh hoạt theo thời gian. Sau khi tôi rời khỏi trường, phần bên trong của thư viện đã được tu sửa cho hợp với thế kỷ hai mươi mốt qua một đợt cải tạo tốn kém hàng triệu đo la. Tôi hy vọng vần còn có thể tìm được thứ mình cần tại đây. Một cái nhìn nhanh qua tấm bản đồ dán trên tường cho thấy về cơ bản mọi thứ ở đây vẫn như cũ.
Đi theo lối đi được đánh dấu bằng băng dính đỏ dán trên sàn, tôi bước xuống bốn dãy cầu thang tới tầng hầm sâu nhất của thư viện. Đi len qua những lối đi lại hẹp nằm giữa các dãy giá sách chứa đựng những kiến thức từ lâu bị quên lãng, tôi bước vào một đường hầm uốn khúc, chạy dọc thành đường hầm là những đường ống lớn không ngừng kêu lạch cạch. Đến cuối đường hầm, những cánh cửa kim loại nặng nề mở vào một khu sảnh, tấm thảm màu cam đã sờn mòn dưới sàn dẫn tới một thang máy nhỏ, chiếc thang máy cọt kẹt hạ xuống thêm tầng nữa. Tôi bước vào một căn phòng rộng mênh mông hình vuông được chiếu sáng rất tốt, cả căn phòng vang lên tiếng vo vo không ngừng như trong một con tàu vũ trụ bị chôn sâu dưới đất.
Tôi liếc nhìn sơ đồ gắn trên tường cạnh thang máy, rồi nhìn lại tấm thẻ của Roz. Thr 390.160 là số cần tìm. Khu vực “Thr” - Lịch sử sân khấu - nằm trong góc sâu nhất của căn phòng. Tôi khẽ bước tới đó, đi chậm lại khi tới khu Thr. Các ngăn bắt đầu bằng 390 đây rồi. Cúi người xuống, tôi lướt ngón tay dọc các gáy sách: 190,180,165,160.5… rồi không còn gì ngoài ngăn sách trông trơn. Tôi nhìn lại tấm thẻ cầm trong tay rồi nhìn lại lần nữa lên giá sách. Không nghi ngờ gì nữa, tôi đã tìm đúng chỗ. Nhưng nơi mà đáng ra là chỗ của bốn tập sách chỉ là một khoảng trống không. Không có tập nào trên giá.
https://thuviensach.vn
Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt. Tôi chưa bao giờ nghĩ tới tình huống những cuốn sách không còn ở trên giá. Tôi vội vã chạy tới một máy vi tính đang bật sẵn đặt trong góc gần thang máy. Tôi có thể mượn lại những tập sách này - qua danh mục số hóa trên mạng - từ người đã mượn chúng đi, nhưng để lấy lại sách về sẽ mất từ một tuần tới mười ngày… nếu tôi may mắn. Nếu người mượn sách đang đi công tác, rất có thể sẽ mất cả tháng trời. Tôi không thể đợi một tuần được, nói gì tới cả tháng. Bực bội rủa thầm, tôi gõ tên tập sách vào máy vi tính.
Câu trả lời hiện ra còn tệ hơn tôi có thể ngờ tới. “Chưa cho mượn ra ngoài”. Màn hình hiện rõ ràng như vậy. Tuyệt vọng, tôi quay lên tầng trệt lại quầy cho mượn, tại đây người sinh viên đang trực tại bàn uể oải trả lời rằng tôi có thể yêu cầu kiểm tra các giá sách.
“Kiểm tra các giá sách?” tôi không tin vào tai mình nữa. “Cô định cử một kẻ khốn khổ nào đso đi tìm bốn tập sách lạc chỗ giữa mười một triệu cuốn ư?”
Cô ta nhún vai. “Chỉ có ba triệu năm trăm ngàn cuốn trong tòa nhà này thôi. Nhưng dù sao bốn tập sách của cô cũng sẽ chẳng ló mặt ra đâu”. Cho dfu Roz đã tìm ra điều gì trong bộ Sân khấu thời Elizabeth, chắc chắn bà đã đánh dấu lại. Về chuyện này thì tôi dám chắc; bà vốn nổi tiếng có thói quen đánh dấu vào sách. Luôn luôn bằng bút chì - thường là một dấu kiểm tra nhỏ - một kiểu phản ứng vô thức trong khi đọc, tự động như việc hít thở bình thường vậy. Người ta cũng đồn rằng một lần bà đã bị tống ra khỏi thư viện quốc gia Anh vì đã đánh dấu lên một bản thảo một ngàn năm tuổi. Không phải với dụng ý xấu mà chỉ do đãng trí. Một điều mà có vẻ người Anh hay ít nhất những thủ thư kiểu cũ của họ, có thể tha thứ được, vì không bao lâu sau họ đã mở cửa đón chào bà trở lại. Thỉnh thoảng, bà còn viết nguệch ngoạc lên lề sách, và một hai lần cả những đoạn bình luận hoàn chỉnh… Tôi cần đúng bản sách mà bà coi như của mình. Bản sách của thư viện Widener.
“Cảm ơn cô” , tôi cố tỏ ra lịch sự, ký vào yêu cầu để các nhân viên thư viện thực hiện việc tìm kiếm. Đến trước cánh cửa dẫn trở ra tiền sảnh, tôi dừng lại trên ngưỡng cửa. Giờ thì sao đây?
https://thuviensach.vn
Tôi đang rẽ phải về phía lối ra thì đôi mắt tôi chợt bị thu hút về phía cầu thang lớn lát cẩm thạch ở bên trái. Thư viện là một khối nhà hình vuông rỗng ở giữa bao quanh một khoảng sân trong; ở giữa khoảng sân này là lăng mộ hình vòm dành cho Harry Widener được nối ra quảng trường bên ngoài qua một hành lang hẹp. Đây không phải là nơi yên nghỉ nắm xương tàn của Harry, mà của những cuốn sách anh sưu tập được. Nằm trong lòng đá cẩm thạch của mái vòm là một bản sao chính xác phòng đọc lát ván gỗ sẫm màu của Widener, và mỗi buổi sáng hoa tươi vẫn được đặt lên bàn làm việc của anh.
Tôi bước nhanh lên cầu thang tới một đầu cầu thang sang trọng bằng cẩm thạch có màu như một tờ giấy da. Một khung cửa theo phong cách tân cổ điển dẫn vào căn phòng hình bán nghuyệt, cũng làm bằng cẩm thạch. Phía bên kia lối đi, một khung cửa nhỏ hơn dẫn vào phòng đọc; tôi thoáng thấy những tấm gỗ lát tường sẫm màu, những cuốn sách nằm trên các giá sách phía sau cửa kính, và những bông cẩm chướng đỏ vẫn còn tươi. Căn phòng trần vòm này chính là nơi tôi muốn tới. Trên một chiếc bệ mặt kính ở giữa phofgn có đặt hai cuốn sách, gáy quay vào nhau. Cuốn thứ nhất là cuốn sách in đầu tiên trong lịch sử: Cuốn Kinh Thánh của Gutenberg, với những dòng chữ Latinh đều đặn in bằng chữ cái đậm màu đen, các ký tự đầu dòng được sơn đỏ và xanh. Cuốn thứ hai, nhờ vào sự sành sỏi và túi tiền nặng của Harry, chính là bản in gốc cuốn Tuyển tập Đầu tiên mà Harvard sở hữu. Căn phòng không có ai; sinh viên Harvard hiếm khi tới tham quan địa điểm này. Cuốn sách được trưng bày mở ra ở trang đầu tiên với bức chân dung in khắc của Shakespeare, bức chân dung mô tả ông với đôi mắt lơ đãng và vầng trán dô, trong khi cả chiếc đầu được đặt trên cổ áo xếp vụng về đến mức trông như bị cắt rời ra vậy. Bức chân dung được đặt trên nửa vầng hào quang. Phía trên bức tranh là dòng chữ lớn “HÀI KỊCH, KỊCH LỊCH SỬ VÀ BI KỊCH CỦA WILLIAM SHAKESPEARE”. “Được xuất bản thảo bản gốc”. Dưới bức chân dung có in “LONDON. Được in bởi Isaac Iaggard, và Ed. Blount. 1623”.
Tôi quan sát kỹ trang sách. Không độc giả nào dám bôi bẩn lên nó. Đúng là Roz đã từng đánh dấu lên trang đầu của những tác phẩm ít thiêng liêng hơn.
https://thuviensach.vn
Nhưng ngay cả Roz có lẽ cũng phải chùn tay khi định đánh dấu lên một bản in của Tuyển tập.
Chambers chính là chìa khóa. Có điều gì đó trong bốn tập của cuốn Sân khấu thời Elizabet sẽ cho tôi biết cần tìm cái gì. Nếu tôi tìm được bản sách của thư viện Widener. Tôi giật mình. Nếu kẻ sát nhân đã tìm được nó thì sao? Không thể nào. Manh mối mà Roz để lại đang nằm trong tay tôi khi vụ giết người xảy ra, và cả trong vài giờ sau đó.
Nếu chính Roz đã lấy đi những tập sách đó thì sao? Nếu đúng thế, chắc hẳn bà đã mang chúng theo tới London. Henry chắc có thể moi được thông tin xác nhận việc này từ ai đó. Nhưng khi đó tôi cần làm gì? Tới gặp Sinclair, cúi mặt xuống đề nghị được xem qua những cuốn sách của giáo sư Howard mà không đưa ra lý do cụ thể nào chăng? Tôi chạy xuống cầu thang ra ngoài khu rừng cây.
Ở đầu đối diện của Harvard Yard, các bậc tam cấp dẫn lên một bậc thềm rộng bao quanh nhà thờ Memorial. Năm năm trước, vào một đêm tháng Năm, không có phông nền nào khác ngoài những đường nét kiến trúc khắc khổ của chính nhà thờ, bậc thềm này chính là sân khấu cho vở kịch đầu tiên tôi đạo diễn: buổi diễn tốt nghiệp của vở Đêm thứ mười hai. Những cây sơn thù du đã phủ ngập sân khấu bằng những hóa hoa trắng và hồng, còn tiếng cười len lỏi cả vào tán lá của những cây du.
Tôi vẫn còn cẩm thấy tự hào về buổi diễn đó. Vở kịch vừa hài hước vui nhộn vừa đầy những trò đùa cợt ma mãnh, trung tâm là trò đùa về một điều bí ẩn chẳng dẫn tới đâu cả ngoài việc khiến anh chàng Malvolio kiêu hãnh, khắc khe bị mắc lỡm - đầu tiên khiến anh ta trở thành ngớ ngẩn, sau đó thì hóa điên thực sự. Tôi ngồi xuống bậc tam cấp nhà thờ. Chẳng lẽ Roz cũng để lại một cái bẫy tương tự trên con đường của tôi?
Đó là một ý nghĩ chẳng hay ho gì. Tôi chợt nhói đau khi nhớ tới cảnh bà nằm dưới băng ghế trong nhà hát Quả cẩu, đôi mắt mở to. Một văn phòng hay ho quá nhỉ, bà đã nói vậy ngày hôm đó, trước khi chết. Một cách xuất hiện hay ho thật đấy, tôi đã đáp trả.
Sau tất cả những rắc rối đó, Katie, tôi đã hi vọng về điều gì đó ít trần tục hơn. Và - phải Shakespeare hơn một chút.
https://thuviensach.vn
Lúc đó tôi đã chỉ nhìn chằm chằm vào bà. Và chính Herry đã cho bà thứ bà muốn. “Ta sẽ gọi con Hamlet” , ông đã nói, “Vua, cha, dòng dõi hoàng gia Đan Mạch”.
“Ta sẽ gọi con, Hamlet” , tôi nói lên thành tiếng, và trong lúc tôi bật ra câu nói này, một góc tối trong tâm trí tôi chợt lóe sáng. Tôi ngồi lặng đi giây lát. Sau đó tôi lục lấy điện thoại di động của mình và gọi cho Henry. “Vết kim tiêm!” tôi nói bằng giọng gấp gáp ngay khi ông nhấc máy trả lời. “Xin chào cô, Kate yêu quý”.
“Vết kim tiêm họ tìm thấy trên người bà ấy. Nó nằm ở đâu?” “Một câu hỏi lạ đây!” ông khịt mũi. “Với một câu trả lời không bình thường, mà tôi tình cờ được biết vì tôi vừa mới có một cuộc chuyện vãn nữa với thanh tra Sinclair. Một anh chàng thực sự tàn nhẫn sắt đá - đầy chất Dostoyevsky”.
“Ở đâu, Henry?”
“Ở tĩnh mạch lớn sau tai phải bà ấy”.
Trên đầu tôi, những dòng ánh sáng màu xanh lục len lỏi luồn qua các tán cây thành dòng như thể xuyên xuống lòng biển yên ả. Khi những tia sáng đó xuống tới chỗ tôi ngồi, chúng hầu như chỉ làm bóng râm sáng lên chút ít, còn hơi ấm của chúng thì đã nguội đi từ lâu.
“Kate, cô vẫn ở đó chứ?”
“Ông ấy cũng đã chết như vậy.” Tôi thì thầm.
“Ai cơ? Có ai nữa đã chết à?”.
“Người cha của Hamlet. Vị vua già. Đó là lý do khiến ông ta biến thành hồn ma ở đầu vở kịch”.
Henry thở hắt ra một hơi dài nặng nề. “Trong lỗ tai của tôi” , ông lẩm bẩm. “Jesus, đúng vậy, Kate. Em trai ông ta đã đổ thuốc độc vào tai ông ta khi ông đang ngủ. Tất cả đều khớp… trừ một chi tiết”.
“Chi tiết nào?”
“Kết quả kiểm tra độc chất sơ bộ, cô bé thân mến,” ông nói với giọng hối lỗi. “Kết quả âm tính”.
“Không có thuốc độc? Ông chắc chứ?”
https://thuviensach.vn
“Tôi không biết chắc chắn họ đã kiểm tra những gì. Tôi nghĩ là ma túy. Nhưng không có chút dấu vết nào”.
“Vậy thì họ đã bỏ qua cái gì đó. Ông có thể liên lạc với Sinclair…?” “Chính anh ta đã nói cho tôi chuyện này”.
“Vì Chúa, Henry.” Tôi vội vã nói. “Bóng ma người cha Hamlet chính là vai mà Roz diễn khi bà xuất hiện chiều hôm qua. Nhà hát bị cháy đúng vào ngày xảy ra vụ cháy đầu tiên. Và những cuốn sách bà muốn tôi tìm kiếm - đã được mã hóa - lại biến mất. Không được cho mượn ra ngoài. Chỉ đơn giản là biến mất. Liệu ông tin có từng ấy sự trùng hợp ngẫu nhiên không?”
Trong điện thoại chỉ còn sự im lặng không báo trước điều gì tốt lành. “Tôi sẽ quay lại gặp Sinclair lần nữa với một điều kiện.” Henry nói với giọng kiên quyết. “Cô quay ngay về phòng khách sạn, khóa trái cửa lại, và đợi tôi gọ. Tôi rất lo cho cô”.
“Nhưng còn Chambers…” tôi phản đối.
“Cô vừa nói bộ sách đã biến mất rồi mà”.
“Nhưng…”
“Đợi tôi gọi lại, Kate”. Ông cứng rắn lặp lại. “Khi chúng ta đã có câu trả lời của Sinclair, chúng ta sẽ can nhắc xem cần làm gì tiếp theo. Nếu cô đúng - và tôi không hi vọng là vậy - đây sẽ không phải là chuyện cô có thể đơn độc thoát ra được đâu”.
Tôi do dự. Dừng lại lúc này cũng có nghĩa là bỏ mất đột ngột manh mối trong bộ sách của Chambers, tôi dám chắc như vậy. Nhưng tôi không thể để mất sự giúp đỡ của Henry. “Được.” Tôi miễn cưỡng đáp. “Tôi sẽ đợi”. “Cô bé ngoan lắm. Tôi sẽ gọi cho cô ngay khi biết được câu trả lời”. Tôi tắt máy. Roz đã để mình dính dáng vào chuyện quái quỷ gì vậy? Rôi lôi kéo cả tôi - và qua tôi là Henry - vào cuộc?
Tôi ngoái lại nhìn về phía thư viện. Từ góc nhìn nơi tôi đang đứng, hàng cột lớn ở mặt trước đem lại vẻ uy nghi của một ngôi đền cổ cho khu nhà xây bằng gạch nghiêm trang. Một ngôi đền của tri thức, tôi thầm nghĩ. Một nơi thân thuộc với các giáo sư tiếng tăm nhất của trường Harvard, những người này đều có phòng đọc cá nhân riêng tại thư viện này. Matthew Morris, một kẻ căm ghét thư viện đến mức coi đó là nguyên tắc sống, cũng
https://thuviensach.vn
có một phòng đọc như vậy, nơi hầu như ông ta chẳng bao giờ đặt chân tới, nhưng vẫn khăng khăng giữ lấy. Đó là một dấu hiệu của đẳng cấp. “Căn phòng chứa đựng các bí mật của tôi.” Roz đã nói về phòng đọc riêng của bà như vậy rồi đưa cho tôi một chiếc chìa khóa của nó khi tôi trở thành trợ lí nghiên cứu của bà. “Ngôi nhà ký ức của tôi”.
Hồi ức này chợt khiến tôi nhớ lại một điều khác. Đó là cái gì vậy? Tôi đã hỏi bà trong cuộc gặp cuối cùng. “Nó nằm trong ký ức đã được chôn kín của tôi, và chính cô sẽ giữ chìa khóa của nó”.
Lúc đó, tôi nghĩ bà muốn nói tới chiếc hộp bọc giấy lụa vàng, nhưng lúc này tôi chợt nhớ đúng là tôi có một chiếc chìa khóa theo đúng nghĩa đen. Tôi moi chùm chìa khóa từ túi cóc chiếc túi đang đeo ra. Năm chiếc chìa khóa nằm trên tay tôi, trong đó có một chiếc dài hơn, nặng hơn, và sẫm màu hơn những chiếc còn lại. Chìa khóa phòng đọc cá nhân của Roz. Tôi vẫn giữ nó khi bỏ đi khỏi trường; trong suốt ba năm sau đó, tôi đã giữ nó, tự nhủ sẽ trả lại khi bà hỏi tới. Nhưng bà không bao giờ hỏi đến chiếc chìa khóa.
Bất thần, tôi chợt hiểu ra. Tôi ngước nhìn lên. Dấu vết bà để lại chắc chắn đi qua căn phòng đọc này.
Sinclair, với những chiếc cặp hồ sơ và sự cương quyết đầy hiệu quả của mình, chắc chắn đã liên lạc với cảnh sát Harvard yêu cầu niêm phong văn phòng của Roz như là hiện trường điều tra; cả văn phòng khoa Anh văn. Nhưng phòng đọc của bà tại thư viện có thể - chỉ là có thể - đã bị bỏ qua. Tại Widener, thời gian vẫn luôn trôi qua lặng lẽ như vậy. Các giáo sư thường cố thủ trong phòng đọc riêng để tránh khỏi sự quấy rầy liên miên không bao giờ dứt của trường đại học và cho phép mình được thoải mái theo đuổi đam mê tìm kiếm hiểu biết của họ. Thậm chí có lẽ không ai ở khoa Anh văn biết phòng đọc của Roz nằm ở đâu.
Nhưng sau khi cái chết của bà được công bố công khai là một vụ án mạng, nhà chức trách sớm muộn cũng sẽ nhớ tới sự tồn tại của phòng đọc này. Và Sinclair liên tục hối thúc, có lẽ việc đó sẽ sớm thôi. Tôi chỉ có một cơ hội nhỏ, và khe hở của cơ hội này đang đóng dần lại.
https://thuviensach.vn
Thầm xin lỗi Henry, tôi khoác túi lên vai, chạy qua sân trường, vội vã lao lên cầu thang dẫn vào Widener.
10
Quẹt thẻ vào máy kiểm tra, tôi lại chiu xuống khu tra cứu tài liệu - không phải khu mở rộng dưới tầng hầm, mà vẫn trong tòa nhà thư viện, vốn bao gồm mười tầng rộng ngóc ngách như những mê cung, trong đó có sáu tầng nằm trên mặt đất. Phòng đọc riêng của Roz nằm ở tầng năm. Tôi lao lên cầu thang, bước ra khỏi đầu cầu thang và dừng lại.
Tôi đã quên mất cảm giác ở trong một kho lưu trữ tư liệu. Không có gì chung với vẻ phô trương của các khu sảnh dành cho công chúng và các phòng đọc cộng đồng - lại càng khác với ánh sáng chói mắt ở khu tầng hầm. Mùi ẩm mốc cũ kỹ thoang thoảng trong không khí, pha lẫn với mùi hăng hăng - biểu hiện của cuộc chiến đang diễn ra giữa giấy và oxy, một quá trình cháy chậm chạp nhưng không thể tránh khỏi đến một ngày nào đó sẽ biến vương quốc hiểu biết này thành tro bụi.
Tôi khẩn trương chạy xuống phía nam của thư viện, nơi các dãy giá sách bằng sắt quay ngoặt góc và chạy dài ra phía xa. Không có nhiều người ở đây vào một buổi chiều mùa hè ấm áp. Tuy thế, tôi vẫn thấy hai hay ba sinh viên nghiêm chỉnh đang cặm cụi làm việc. Tôi không chỉ có một mình.
Nếu tôi làm như thể được quyền có mặt ở đây thì có lẽ họ cũng sẽ coi là vậy mà không tò mò chú ý gì hơn. Rẽ vào một lối đi, tôi hướng tới một hành lang bên trong dẫn thẳng tới trước cửa phòng đọc của Roz. Nửa trên của cánh cửa, cũng như những chiếc khác, được lắp kính mờ.
Chìa khóa vẫn vừa. Cửa hé mở, và tôi bước vào trong.
Gần như mọi thứ vẫn y nguyên như tôi còn nhớ. Dọc ba bức tường, những chiếc giá vẫn đầy chật sách từ sàn đến chấm trần nhà, chỉ bị gián đoạn ở một bên bởi chiếc tủ đựng những chiếc thẻ thư viện của bà, và bên đối diện là chiếc bàn làm việc của Roz. Trên mặt bàn, đôi hoa tai dài – một món đồ thủ công Navajo làm bằng bạc và ngọc lam mà tôi tặng bà từ lâu - nằm xếp bên bàn phím máy tính, cạnh một bức ảnh Virginia Woolf lồng khung bạc. Một bức tượng bán thân của Shakespeare được đặt lên chồng giấy. Dán vào
https://thuviensach.vn
tường phía trên bàn làm việc là tấm bản đồ Anh; cạnh đó là bản sao của tấm bản đồ khác được vẽ từ thời Shakespeare. Trên sàn, vẫn là tấm thảm phương Đông cũ, với những vết lằn quen thuộc ở những chỗ bà hay di chiếc ghế của mình qua lại. Một chiếc ghế bành bọc vải hoa đã sờn góc trong giữa những giá sách và cửa sổ.
Hai khung cửa sổ đã thay đổi so với trước đây. Roz đã khăng khăng từ chối không cho treo rèm hay mành che; bà không muốn mất đi dù chỉ một centimets tầm nhìn ra bầu trời bên ngoài, bà nói vậy. Về mặt này không có gì thay đổi. Nhưng lần cuối cùng tôi ở đây, hai khung cửa sổ nhìn xuống khoảng sân giữa trống trơn của thư viện, nơi chỉ có những con chim và những thứ rác rưởi bị gió cuốn tới thăm. Còn bây giờ, chúng nhìn xuống một căn phòng đọc sáng choang đông nghịt độc giả. Tôi chợt nhớ ra một trong những thành quả của lần cải tạo thư viện. Trường đại học đã kiêu hãnh lợp kính trong suốt lên toàn bộ khoảng sân nằm quanh mái vòm trung tâm, biến khoảng không gian phía dưới thành hai phòng đọc tiện nghi.
Đứng giữa phòng, tôi đang ở trong tầm nhìn của bất cứ người đọc nào tình cờ ngẩng lên, bực bội rủa thầm, tôi đi tới bàn làm việc. Tôi đặt túi xuống sàn, giao mình ngồi xuống chiếc ghế của Roz, bồn chồn suy tính. Nếu có ai đó nhìn lên, họ sẽ thấy bình thường nếu tôi ngồi đây và đọc sách. Tôi cũng có thể tìm kiếm trên máy tính. Chẳng ai lại băn khoăn về việc một giáo sư thuê trợ lý đến làm việc trong phòng của mình. Nhất là Roz, một người chẳng quan tâm nhiều đến máy vi tính; bà thường viết tay bản thảo lần đầu và lần thứ hai cho các cuốn sách của mình. rồi đưa cho thư lý đánh máy. Trừ khi tin về cái chết của bà đã lan rộng, tôi sẽ rất hợp với vai này khi ngồi trước máy vi tính của bà.
Nhưng tôi cần kiểm tra lục lọi những cuốn sách của bà, việc này sẽ rắc rối hơn nhiều. Bà đã luôn cất giữ chúng một cách quái gở, xếp sách thành hàng hai chật cứng khắp quanh phòng. Phần lớn những người xếp sách thành hàng hai thường xếp những cuốn hay dùng ra ngoài, nhưng Roz lại làm ngược lại. Bà thường nói bà không thích việc người khác soi mói những ý tưởng còn đang thai nghén của bà. Kết quả là dãy sách xếp bên ngoài các giá sách của bà luôn che mắt những vị khách tò mò với các tác phẩm của
https://thuviensach.vn
bạn bè đồng nghiệp của bà, cũng như những cuốn sách vừa ra lò của những nhà nghiên cứu Shakespeare mới nổi.
Những cuốn sách luôn có vẻ vắng mặt là những tác phẩm tình cờ có mặt trong dòng suy nghĩ chẳng ai đoán trước được của Roz. Không phải vắng mặt, mà chỉ bị che lấp đi, tôi thở dài. Để tìm ra Sân khấu thời Elizabeth, tôi sẽ phải lôi tất cả các cuốn sách trên tất cả các giá sách trong phòng. Một hành động chí ít cũng sẽ bị coi là lạ lùng với bất kỳ ai tình cờ ngước mắt nhìn lên, và sẽ đủ mất thì giờ để khiến nguy cơ bị trông thấy là rất cao.
Giữa đám bút và bút chì cắm chật ních trong cái lọ đặt cạnh máy tính có một chiếc Maglite nhỏ. Tôi cầm lên. Widener đóng cửa vào lúc mười giờ. Đến khoảng mười một giờ - mười hai giờ, các thủ thư và nhân viên tạp vụ sẽ về hết. Tôi sẽ có sáu hay bảy giờ đồng hồ không bị ai soi mói - cho tới khi các công nhân bắt đầu quay trở lại mở cửa nơi này lúc tám giờ. Tôi mỉm cười với đôi mắt to buồn bã của bà Wooolf. Điều tôi không thể làm giữa thanh thiên bạch nhật, tôi sẽ làm vào buổi tối. Tất cả những gì tôi phải làm là lọt ở lại được bên trong thư viện. Dựa vào màn hình máy tính của Roz là một bản sao hiện đại của cuốn Tuyển tập Đầu tiên. Tôi cầm lấy cuốn sách, xách túi đứng dậy ra khỏi căn phòng.
Tôi tìm chỗ ngồi tại một trong các bàn làm việc cho sinh viên và mở cuốn Tuyển tập ra. Trong lúc chờ đợi, tôi kiểm tra tới tận trang cuối cùng của bản sao đó, nhưng không tìm thấy các dấu nào.
Đến chín giờ rưỡi, cuối cùng tôi nghe thấy một giọng nam giới thông báo qua hệ thống loa. “Các bàn mượn trả sách sẽ đóng cửa trong mười lăm phút nữa”. Chín giờ bốn mươi lăm phút, đèn lác đác tắt dần, vài người còn nán lại cũng ra về. Tôi đợi tới khi nghe tiếng loa thông báo vang lên phía dưới hai tầng gác. Cuối cùng, tôi đứng dậy vươn vai, người cứng lại mệt mỏi. Theo giờ London lúc đó đã gần ba giờ sáng, nhưng tôi còn hàng giờ phải trải qua trước khi có thể nghĩ tới ngủ. Tôi nhìn cả về hai hướng dọc theo các dãy bàn làm việc. Khu vực này trước đó vốn đã ít người. Bây giờ không còn ai khác.
Tôi gập cuốn sách, quay trở lại phòng đọc cá nhân của Roz. Chìa khóa khẽ kêu một chút khi tôi mở cửa vào. Hé mở cửa ra hẹp nhất có thể được, tôi
https://thuviensach.vn
lách người vào trong. Phòng đọc bên dưới cũng đã vắng tanh, người thủ thư không còn ngồi ở bàn. Cúi đầu luồn qua chiếc túi đeo trên vai, tôi ngồi xuống sàn. Tôi lấy điện thoại di động ra tắt máy. Sau đó, tôi ngồi suốt một giờ lắng nghe âm thanh bên ngoài lặng dần xuống trong thư viện, trong khi nỗi nhớ Roz lại trào lên trong tôi.
Cuối cùng đèn trong các hành lang đã tắt, trừ những bóng đèn đem mờ còn được bật cách nhau từ sáu đến chín mét. Cảm giác im lìm nặng nề bao trùm căn phòng. Tôi gục đầu xuống ngực. Tôi choàng tỉnh, nhưng một lần nữa đầu tôi lại cúi dần xuống, hai mắt nhắm díp lại.
Tôi bật đèn bấm và đi đến bên bàn làm việc. Trả cuốn Tuyển tập về chỗ cũ, tôi rút tập giấy dưới bức tượng Shakespeare ra, xếp lại cho vào chiếc túi. Sau đó tôi quay sang nhìn các giá sách. “Tôi xin lỗi” , tôi thì thầm - với những cuốn sách? Với căn phòng? Hay với Roz? - rồi bắt tay vào việc.
Đi dọc theo các giá sách một cách hệ thống mà ngay cả Roz hẳn cũng phải tán thưởng, tôi dỡ những cuốn sách ở hàng bên ngoài ra theo từng ngăn rồi chiếu đèn vào khoảng trống tối om bên trong. Những chủ đề bà quan tâm thật đa dạng, ít nhất có thể nói như vậy. Tôi đi qua một khu vực nhỏ dành cho Cervantes và Don Quixote, rồi đến một khu khác chuyên về Delia Bacon, một nữ học giả thế kỷ mười chín, người New England mà sự đam mê Shakespeare đã dẫn tới thành công, rồi sau đó tới sự điên rồ. Delia đã từng là lĩnh vực tôi nghiên cứu. Điều gì đã làm Roz quan tâm đến người phụ nữ này? Tôi cố kìm cơn ngáp ngủ và tiếp tục. Một dãy dài về chủ đề Shakespeare trong đời sống miền viễn tây nước Mỹ có vẻ đang bị lãng quên kể từ cuốn sách cuối cùng của Roz. Nhìn một cách tổng thể, có vẻ như đầy là một bộ sưu tập lộ xộn được khuân về từ nơi khác. Những cuốn sách được giấu phía trong có vẻ không tập hợp một cách gắn bó lại thành một dự án mới nào. Cụ thể hơn, tôi không tìm thấy bộ Sân khấu thời Elizabeth đâu cả.
Hai mươi phút sau, trong lúc đang quỳ mọp xuống lục lọi và gần như đã tuyệt vọng, tôi chợt nhìn thất thứ mình đang tìm nằm sâu trong góc giá sách bên cạnh cửa sổ. Bốn cuốn sách bọc bìa vải màu đỏ đã phai. Dòng chữ mạ vàng chạy dọc gáy viết vắn tắt: Sân khấu thời Elizabeth, Chambers.
https://thuviensach.vn
Tôi cúi lại gần hơn. Gần gáy một cuốn của bộ sách một mảnh giấy nhô lên như lá cờ nhỏ. Lôi cuốn sách ra, tôi lùi lại ngồi xuống chiếc ghế bành và mở trang được đánh dấu ra: 488. “Các vở kịch và nhà viết kịch” , đề mục đầu trang là tên của một chương dài liệt kê theo danh sách tác giả tất cả các bản in và bản chép tay của các vở kịch đã được sáng tác ở nước Anh thời Phục hưng. Một công trình học thuật đủ khiến mọi đầu óc phải chùn bước.
Đầu trang 488 đang là giữa một phần viết về Othello. Sau đó là Macbeth, Lear, Antony và Cleopatta… suốt dọc trang rồi tới Cơn bão tố và Henry VIII ở trang đối diện. Những vở kcihj vào giai đoạn cuối sự nghiệp của Shakespeare. Những kiệt tác thời vua James của ông. Tôi lia quầng sáng tròn màu vàng nhạt của đèn chiếu dọc theo lề sách. Bà đã muốn ám chỉ tới vở kịch nào?
Nhưng một lần nữa tôi không tìm thấy dấu ghi nào ở phần đầu. Tôi ngồi bệt xuống. Dấu vết để lại không thể chấm dứt ở đây. Không thể nào. Tôi lấy tấm thẻ của Roz khỏi túi áo và đọc lại những dòng chữ của bà lần nữa. Tôi lật đi lật lại tấm thẻ, mân mê lỗ thủng ở phía dưới tấm thẻ. Sau tất cả công sức bỏ ra để có được những tấm thẻ này, không có chuyện Roz vứt đi một tấm thẻ như thể chỉ là thứ tầm phào như một tấm thiệp sinh nhật. Cho dù điều tôi cần phải tìm là gì đi nữa, chắc chắn phải liên quan tới những cuốn sách này.
Không phải là những cuốn sách, tôi thầm nghĩ. Hoàn toàn không phải. Tôi vẫn coi tấm thẻ là một tấm biển chỉ đường. Nhưng Roz muốn tôi chú ý đến chính bản thân tấm thẻ. Tôi đứng dậy đi tới chiếc tủ bà dùng để cất những chiếc thẻ - một trong những chiếc tủ đựng thẻ tra cứu cũ của thư viện Widener - đặt cuốn sách vẫn đang mở lên nóc. Lướt đèn bấn xuống dọc những ô kéo nhỏ, mỗi ô đều được ghi nhãn rõ ràng bằng nét chữ viết tay của Roz, tôi lần tới ô kéo có ghi nhãn “Cecil-Charles II”.
Tôi mở ô kéo ra, lần xem những chiếc thẻ bên trong cho tới khi tới chiếc thẻ có ghi “Chambers, E. K”. Tựa sách đầu tiên là Arthur nước Anh. Sau đó là Ca từ tiếng Anh cổ, sau đó là Kịch dân gian Anh. Quá xa. Tôi lật lùi lại một tấm và tách riêng những tấm thẻ ra. Đây rồi, ở phía dưới, ánh đèn bấm của tôi bắt gặp một tờ giấy nhỏ được gập đôi lại. Tôi thận trọng rút nó ra.
https://thuviensach.vn
“Gửi Kate” , chữ trên tờ giấy ghi bằng bút chì xanh.
Đúng lúc đó, đèn ở dưới sảnh bắt đầu lác đác tắt dần rồi tối hẳn. Tôi kẹp tờ giấy vào cuốn sách. Ôm cuốn sách vào ngực, tôi tắt đèn bấm và rón rén đi ra cửa. Trong tầm mắt tôi, mọi nguồn sáng đã bị tắt hết, toàn bộ thư viện chìm trong bóng tối. Tiếng động rất nhỏ tôi chỉ thoáng lắng nghe thấy có vẻ đang chậm dần và khẽ dần, rồi chìm hẳn vào bóng đêm, như thể tòa nhà là một con thu khổng lồ vừa thở hơi cuối cùng.
Tôi đang định quay lại tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình thì chợt nghe thấy trong bầu không khí im ắng có tiếng kêu cót két và tiếng sột soạt khe khẽ. Tôi lạnh toát người. Đó là một tiếng động tôi đã quá quen thuộc: tiếng những cánh cửa chống lửa ở đầu cầu thang hai đầu hành lang chạy dọc qua cửa các phòng đọc cá nhân. Cánh cửa phía đông đã bị mở ra và khép lại. Còn một ai đó đang ở trong thư viện.
Tôi lách người luồn ra khỏi phòng đọc, nhưng lần này tôi khép cửa lại gần như kín – nhưng chưa đủ để ổ khóa sập lại – và lao vụt qua hành lang. đúng lúc tôi quay trở vào khu tư liệu tham khảo, một bóng đen đen sẫm hơn bóng tối xung quanh xuất hiện đi vòng qua góc từ cầu thang lên.
Chắc là nhân viên bảo vệ hay một nhân viên cảnh sát của trường Harvard đi tuần kiểm tra khi đèn tắt. Nhưng một liên tưởng tới món quà của Roz khiến tôi chợt nghĩ đây chính là bóng đen tôi đã thoáng nhìn thấy qua khung cửa sổ căn hộ của mình, ý nghĩ đó cứ ám ảnh mãi trong đầu tôi. Bất giác đưa tay lên che chiếc trâm cài áo, tôi lùi sâu vào giữa hai hàng giá sách.
Tới tận đầu này, những dải ánh trăng trải dài dọc hành lang. bóng đen bí ẩn xuất hiện, nhưng trước khi tôi kịp nhìn rõ hơn vài nét lờ mờ, người đó đã đi qua. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Nhưng vừa đi được vài bước, bóng đen dừng lại. Rồi bóng đen quay lại hai bước, rồi ba. Tới trước cửa phòng đọc của Roz, bóng đen lại dừng lại lần nữa, và tôi thoáng thấy ánh kim loại của một chiếc hìa khóa lóe lên. Nhưng cửa phòng đọc của Roz không bị khóa. Thậm chí nó còn chưa được đóng kín. Khi bóng đen vừa chạm vào, cánh cửa khẽ cọt kẹt hé mở. Bóng đen sững lại.
Bất thần, bóng đen quay ngoắt lại. Tôi cúi rạp người xuống cắm đầu chạy, bóng đen lao vào lối đi đuổi theo tôi. Đến chỗ những dãy bàn đọc, tôi ngoăt
https://thuviensach.vn
trái chạy như ma đuổi qua ba dãy giá sách nữa rồi ngoặt trở lại phía khu các phòng đọc cá nhân. Tới đầu một lối đi, tôi dừng lại nập sau thành sắt ở đầu giá sách, cố nghe ngóng tiếng động của kẻ lạ mặt giữa những nhịp đập như đánh trống của tim mình. Không có gì cả. Widener là một mê cung thực sự với những hành lang ngắn, những lối rẽ ngoặt bất ngờ và những ngóc ngách kín đáo kì lạ, và lúc này nó lại đang bị màn đêm bao phủ. Nếu kẻ kia không thông thuộc mê cung này bằng tôi - và nếu lần cải tạo vừa qua không làm thay đổi những gì tôi quen thuộc - thì tôi vẫn còn cơ hội thoát thân.
Tiếng bước chân khe khẽ vọng lại dọc hành lang phái ngoài cho tôi biết vị trí của kẻ săn đuổi. Hắn đã quay lại cách tôi vài dãy lối đi và đang thận trọng đi về phía các phòng đọc cá nhân. Hắn càng tới gần, tôi càng lùi sâu vào dãy giá sách. Tôi phải cố gắng bằng mọi cách để các giá sách ngăn giữa hắn và tôi. Một tay cầm cuốn sách của Chambers, tôi đưa tay kia lên sờ soạng dọc tầng giá sách nằm ngay trên đầu mình. Sau vài mét, tay tôi bắt gặp một khoảng trống. Tôi đưa tay vào sâu hơn. Phải kiễng chân lên tôi mới chạm được đầu ngón tay vào những cuốn sách xếp trên giá phía sau. Cố đẩy mạnh, tôi đẩy mọt hàng sách rơi xuống lối đi bên kia dãy giá sách.
Bóng đen lao ngay vào lối đi này, hướng tới chỗ phát ra tiếng động; cùng lúc, tôi lao về phía đối diện, hướng tới cầu thang nằm ở cuối hành lang chỉ cách đó ba mét. Đống sách trên sàn nhà có thểgiữ chân hắn trong bao lâu? Tôi tới đầu cầu thang, giật mạnh cánh cửa dẫn xuống dưới - và tiếng kim loại rít kèn kẹt bực bội vang lên trong đêm. Tôi nhìn quanh. Cầu thang dẫn lên trên không bị chắn bởi cánh cửa ồn ào nào. Tôi quay lại chạy lên trên.
Đến đỉnh cầu thang, tôi lại quay vào khu vực kê giá sách. Tiếng bước chân đã đến chân cầu thang khi cánh cửa đóng sầm lại. Tiếng bước chân dừng lại, rồi cánh cửa lại mở lần nữa. Tiếng bước chân tiếp tục nhẹ nhàng đi xuống phía dưới.
Tôi chờ đợi. Hắn có thể đã đoán ra mẹo của tôi và đang âm thầm quay trở lại, chờ tôi xuất hiện. Hoặc hắn quay ra đợi gần lối ra chính. Không. Đây rồi: tiếng giày kêu khẽ trên cầu thang. Tôi căng người sẵn sàng chạy, nhưng không nghe thấy gì thêm. Dường như cả những cuốn sách cũng đang nín thở.
https://thuviensach.vn
Sau một hồi lâu, tôi từ từ lùi lại phía bức tường bên trong của cánh tây thư viện. Những khung cửa sổ cao nhìn xuống khu phòng đọc mà tôi có thể trông thấy từ phòng đọc riêng của Roz; đứng ép người sát vào tường, tôi có thể nhìn thấy dãy cửa sổ của các phòng đọc cá nhân. Tôi đang định đi tiếp thì một tia sáng đỏ le lói sau một trong những cửa sổ này. Tôi định thần nhìn kỹ hơn. Ở dưới nơi tôi đứng một tầng, và cách đối diện ba cửa sổ. Đó là cửa sổ phòng của Roz.
Hắn đã quay lại đó.
Quay lại đi nhanh xuống cầu thang, băng qua dãy hành lang chạy dọc dãy phòng đọc cá nhân, tôi nhẹ nhàng băng qua khu kê giá sách ra hành lang ngoài. Có thể tôi không thể ngăn cản hắn động chạm đến đồ của Roz, không phải ở đây và lúc này, một mình trong đêm tối. Nhưng tôi có thể thu lượm được vài manh mối về thân phận của hắn.
Tôi tới lối đi dẫn thẳng trở lại phòng đọc của Roz. Vòng qua những giá sách, tôi nhìn thấy ánh sáng đỏ hắt ra qua cửa sổ phòng Roz. Hắn vẫn còn ở đó.
Lấy mảnh giấy khỏi cuốn sách của Chambers, tôi nhét nó vào túi áo. Qua một lối đi nữa, tôi nhét cuốn sách vào chỗ trống ở một tầng giá sách thấp, ghi nhớ vị trí của nó, cuốn thứ sáu từ ngoài vào; nguy cơ cuốn sách bị ai đó phát hiện ra khi được trộn lẫn giữa hàng triệu cuốn sách ở đây là vô cùng nhỏ. Cho tới lúc đó, cuốn sách sẽ được an toàn.
Vòng qua góc, tôi bước lên một bước, rồi một bước nữa, rón rén bước dọc lối đi. Khi nhìn thấy cửa phòng đọc của Roz, tôi dừng lại. Không có gì xảy ra. Tôi bước thêm một bước, và tiếng rít chói tai của chiếc còi báo động phá vỡ sự im lặng. Trước khi tôi kịp lùi lại, một bóng đen lao vụt qua cửa nhảy bổ vào tôi, bẻ quặt một tay tôi ra sau lưng. Giữa tiếng chuông báo động, tôi chỉ thoáng nghe thấy một giọng nói thì thầm vào tai mình: “Kate đơn giản, và Kate duyên dáng, và đôi khi Kate đáng nguyền rủa”.
Tên mình! Hắn biết tên mình. Tôi vùng vẫy, cố gắng nhìn mặt kẻ tấn công, nhưng hắn giữ quặt tay tôi chắc đến mức tôi rên lên vì đau. Hắn cười phá lên, tiếng cười không chút vui vẻ. “Nhưng như một nhân vật khác của Shakespeare đã nói: ‘Một cái tên có là gì? ’… Roz đã đổi tên
https://thuviensach.vn