🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Bạn Đỡ Ngu Ngơ Rồi Đấy - David McRaney full mobi pdf epub azw3 [Self Help]
Ebooks
Nhóm Zalo
Bạn Đỡ Ngu Ngơ Rồi Đấy
Tác giả: David McRaney
Số trang: 383
Kích thước: 14 x 20.5 cm
Năm xuất bản: 2018
Phát hành: R.E.A.D Books
Ocr & Soát lỗi: lengkeng
Hoàn thành e-book: 01-2021
Link: http://tve-4u.org/
E-book này được thực hiện trên tinh thần thiện nguyện, phi lợi nhuận và phục vụ cộng đồng người đọc chưa có điều kiện mua sách giấy.
Bạn nên mua sách giấy để ủng hộ tác giả và đơn vị phát hành.
Sự tự ảo tưởng
... Lời giới thiệu ...
BẠN VẪN TƯỞNG:
Bạn là một sinh vật của logic và lý trí.
SỰ THẬT LÀ:
Bạn là một sinh vật có lý trí và khả năng tư duy logic, nhưng lại thường xuyên thất bại trong việc sử dụng chúng theo những cách vô cùng dễ đoán.
Đây là cuốn sách về sự tự ảo tưởng và cũng đồng thời là khúc ca khen ngợi nó. Bạn thấy đó, giống như ngón tay hay ngón chân vậy, và đó cũng chính là điều mà chúng ta sẽ khám phá tại đây. Sự tự ảo tưởng nhé, không phải là các loại ngón đâu.
Bạn thường tự cho rằng mình thông minh, giỏi giang, là con người lý trí và đầy ắp những ý tưởng huy hoàng, với tổ tiên là những người đã sáng chế ra môn đại số và bánh quy gừng. Bạn được sinh ra với niềm kiêu hãnh có sẵn, và rồi, niềm kiêu hãnh ấy lớn dần lên thành sự tự cao tự đại. Nó là một điểm yếu, tồn tại dưới muôn hình vạn trạng ở loài người, mà đây là tôi đang giả định rằng bạn là con người. Nếu bạn là một chú chó siêu thông minh, sinh vật ngoài hành tinh hay một nhà sử học robot tới từ tương lai, thì tôi xin lỗi; mời bạn vui lòng nhảy thẳng sang Chương Một. Còn nếu không phải, hãy đọc tiếp để tiến tới sự giác ngộ nhé.
Trí óc con người rõ ràng là lớn và mạnh mẽ hơn nhiều so với trí óc của bất kỳ loài vật nào khác, đó là điều mà toàn bộ giống loài của chúng ta đã nhận ra trong suốt chiều dài lịch sử. Chính bạn có lẽ cũng từng nghĩ tới điều này khi tới thăm sở thú hoặc khi chứng kiến một con chó tự đánh nhau với chân sau. Loài người dường như là đỉnh cao tuyệt đối của sự tiến hóa, hay trái ngon cuối cùng trong sự vận động của vũ trụ. Đây thực sự là một ý tưởng khá thú vị. Ngay từ khi chúng ta còn chưa có giày trượt patin và Salvador Dalí1, thì nhiều nhà tư tưởng vĩ đại đã đắm mình trong niềm tin đó rồi. Và đương nhiên là, ngay khi vừa mới chuẩn bị tận hưởng suy nghĩ ấy, bạn lại vô tình gửi cho sếp một email đáng ra phải gửi tới bác sĩ hậu môn hoặc đọc được tin về việc pizza nhồi xúc xích đã trở thành món ăn thịnh hành nhất hiện nay. Có một thực tế là cứ mỗi khi bạn chiêm nghiệm về loài người và bắt đầu cảm thấy tự hào, thì ngay sau đó, bạn sẽ phải đối mặt với hàng loạt những điều ngớ ngẩn có khả năng lập tức đập tan hoàn toàn cảm giác kiêu hãnh bạn vừa có.
Sự thật là bộ não con người tạo ra một trí óc đầy thiếu sót. Có những việc bạn làm chẳng giỏi và sẽ chẳng bao giờ thành thạo được. Bằng chứng cho sự vụng về của bạn hiện hữu ở mọi nơi. Máy tính, giấy nhớ, danh sách việc cần làm, sổ ký quỹ, đồng hồ báo thức - có hàng trăm nghìn sáng chế và ứng dụng được tạo ra cùng hàng loạt các ngành nghiên cứu tồn tại để bù đắp cho những khiếm khuyết của não bộ.
Cuộc bàn luận của chúng ta về những nghiên cứu khoa học với chủ đề tự ảo tưởng có lẽ nên được dẫn dắt bởi khái niệm về định kiến. Vậy hãy cùng bắt đầu bằng câu chuyện ngắn kể lại lần đối đầu thứ ba mươi mốt giữa Đại học Dartmouth và Đại học Princeton trên sân bóng bầu dục nhé. Trận đấu này đã là bệ
phóng cho vô vàn cuộc thám hiểm trí óc con người, và bạn sẽ được tham khảo một số nghiên cứu ngay khi đoạn văn này kết thúc.
Cùng được thành lập vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, Dartmouth và Princeton là hai trường thuộc Ivy League - tập hợp những trường đại học danh giá ở miền Đông Bắc Mỹ. Có lẽ bạn cũng đã nghe danh sáu ngôi trường còn lại rồi: Brown, Columbia, Cornell, Harvard và Yale. Đối với phần lớn người dân Mỹ thì Ivy League gần như đồng nghĩa với những con người “xịn sò”. Tên của những ngôi trường này luôn là thứ mà người ta mong muốn được viết vào sơ yếu lý lịch. Tuy vậy, Ivy League lại khởi nguồn từ thuật ngữ các phóng viên thể thao sử dụng để miêu tả tám ngôi trường ở khu vực New England vốn hay đối đầu nhau, chủ yếu là trong các môn thể thao, và hầu như trong tất cả các lĩnh vực khác.
Vào năm 1951, Dartmouth và Princeton chạm trán trong trận bóng cuối cùng của mùa giải đối với cả hai trường. Princeton đã toàn thắng trong tất cả các trận tính tới thời điểm đó. Ngôi sao của đội, Dick Kazmaier, đã được đăng hình lên trang bìa của tạp chí Time và sau này trở thành cầu thủ cuối cùng từ Ivy League được nhận cúp Heisman. Đây là trận đấu quan trọng đối với cả hai đội, và đó là lý do mà Princeton gần như đã phát điên trong hiệp hai, sau khi một cầu thủ Dartmouth làm vỡ mũi Kazmaier. Trong hiệp bóng tiếp theo, một cầu thủ Princeton đã đạp gãy chân đối thủ từ Dartmouth. Trận đấu trở nên vô cùng khốc liệt, cả hai đội đã liên tục phạm lỗi cho tới khi Princeton chiến thắng với tỷ số chung cuộc 13-0.
Hai nhà tâm lý học Albert Hastorf tại Dartmouth và Hadley Cantril tại Princeton sớm nhận ra một điều khác thường: Sau trận đấu, những bài tường thuật được in trên hai tờ báo trường dường như viết về hai phiên bản khác nhau của sự thật và chúng cạnh tranh với nhau để trở thành phiên bản chính thức. Một năm sau đó, hai nhà tâm lý học đã công bố một nghiên cứu mà hiện giờ được nhiều người coi là xuất phát điểm tuyệt vời để bàn về sự tự ảo tưởng.
Hastorf và Cantril nhận ra rằng cách tờ báo trường và bản tin dành cho cựu sinh viên trường Princeton tường thuật lại trận đấu khiến Dartmouth trông như một đội bóng gồm toàn những kẻ đầu gấu chuyên chơi bẩn. Cùng lúc đó thì tờ báo trường Dartmouth lại có những bài viết vừa biện hộ cho những chấn thương của đối thủ do đội bóng trường mình gây ra, vừa đưa ra những bình phẩm về sự tệ hại trong chiến thuật của Princeton. Theo lời của các nhà nghiên cứu thì hai bên đã nhớ về hai phiên bản khác nhau của trận đấu. “Vậy điều gì sẽ xảy ra khi sinh viên từ hai trường được xem lại trận bóng?” Hai nhà nghiên cứu đặt câu hỏi. “Rõ ràng ký ức của họ là khác nhau, nhưng nếu ta phát lại trận đấu cho họ xem thì sao? Liệu cách nhìn của họ có khác nhau kể cả trong thời gian thực?” Để trả lời điều này, các nhà khoa học đã lấy một cuộn băng ghi hình toàn bộ trận đấu, chiếu cho sinh viên của cả hai trường, và yêu cầu những sinh viên này đánh dấu những thời điểm họ phát hiện ra cầu thủ phạm lỗi kèm theo độ nghiêm trọng của lỗi đó. Ngoài ra, các sinh viên cũng phải trả lời một bảng câu hỏi nữa.
Vậy kết quả thế nào? Trong buổi xem lại, sinh viên trường Princeton tin rằng trận đấu mà họ đang xem đã diễn ra một cách thô bạo và kém văn minh, nguyên nhân chính, tất nhiên,
là do đội Dartmouth. 90% sinh viên Princeton đã nhận định rằng Dartmouth là bên khơi mào cho những hành động phi thể thao. Họ cũng đánh dấu số vụ phạm lỗi của Dartmouth nhiều gấp đôi số lỗi từ các cầu thủ Princeton, đồng thời cho rằng lỗi do đội bóng trường mình gây ra nhẹ hơn nhiều so với lỗi của đối thủ. Thế nhưng, sinh viên của trường Dartmouth lại thấy những điều hoàn toàn khác. Họ không cho rằng trận đấu đã diễn ra một cách thô bạo quá mức, mà lại là “kịch tính và công bằng”. Đa số các đối tượng nghiên cứu từ Dartmouth nhận định cả hai đội bóng đều có lối chơi rắn, và sinh viên Princeton chỉ đơn giản là đang giận dữ vì ngôi sao bên đội họ bị chấn thương. Họ đã đánh dấu số lần phạm lỗi gần như đều nhau cho cả hai đội, và nhìn chung là tự chấm cho đội mình ít lỗi hơn khoảng một nửa so với con số do các sinh viên Princeton đưa ra.
Các nhà khoa học giải thích hiện tượng này là do, mặc dù xem cùng một cuộn phim, nhưng mỗi người lại thấy một trận đấu khác nhau. Chúng ta mang theo mình những phiên bản khác nhau của thực tế, của sự thật, và đều bị ảnh hưởng bởi lòng trung thành.
Bài học lớn từ trận đấu giữa Princeton và Dartmouth chính là: Chỉ cần một khác biệt nhỏ của các biến số là có thể thay đổi toàn bộ cục diện. Những sinh viên đã xem trận đấu, không quan trọng là họ có tới sân vận động hôm thi đấu thật hay không, đã trải nghiệm hai phiên bản khác nhau của thực tế, mặc dù về mặt lý thuyết, thì họ là những người gần như giống nhau: Những sinh viên tại trường nam sinh trong nhóm Ivy League giữa những năm 1950, về cơ bản, họ thuộc chung nhóm sắc tộc và có cùng địa vị xã hội. Vì là sinh viên, họ thuộc chung một nhóm tuổi. Đều là các công dân ở miền Đông Bắc Mỹ, họ có
nhiều điểm chung trong các quan điểm văn hóa và tôn giáo. Điều khác biệt duy nhất là ngôi trường họ chọn để theo học. Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu bạn có thể vặn ngược đồng hồ và đổi chỗ cho các sinh viên đó, thay đổi ngôi trường họ học, thì trải nghiệm về trận đấu của họ cũng sẽ thay đổi theo.
Đây là lúc mà định kiến dẫn dắt bạn tới với chủ nghĩa hiện thực ngây thơ (naive realism) - một khái niệm rất cũ trong triết học vốn đã bị khoa học đập chết ăn thịt từ lâu. Câu hỏi đặt ra như sau: Liệu tôi có thấy thế giới như thực tế nó vốn vậy? Dựa theo chủ nghĩa hiện thực ngây thơ thì câu trả lời là có. Nếu nhìn vào lịch sử loài người thì mãi cho tới khá gần đây, lý thuyết bạn thấy-sao-thì-thực-tế-là-vậy này vẫn được khá nhiều người bảo vệ. Thế nên, nếu ví dụ về trận đấu Princeton-Dartmouth chưa đủ sức thuyết phục bạn, thì tôi sẽ phải đập tan lý thuyết này trước khi tiếp tục chủ đề của chúng ta.
Là một con người hiện đại, hẳn bạn cũng biết các bộ phim thực chất chỉ là những bức ảnh tĩnh thay đổi nhanh hơn so với tốc độ xử lý của não mà thôi. Khi nhìn một bông hoa, bạn nên hiểu rằng thứ bạn đang thấy đây không giống thứ mà một con bướm nhìn thấy. Nếu ta được nhìn qua đôi mắt của côn trùng, thì thế giới các loài hoa sẽ trở thành một vụ nổ điên rồ của các ảo giác. Căn phòng khách tắt đèn tối om vốn khiến bạn không thể đi lại được vào ban đêm lại là sân chơi bình thường với chú mèo cưng. Và nếu đã từng chiếu một chiếc đèn laser gần lũ mèo, thì hẳn bạn cũng nhận ra những gì diễn ra trong cái đầu nhỏ bé của chúng không giống với những điều diễn ra trong bộ óc của bạn. Bạn biết thế giới không hoàn toàn giống với những gì bạn thấy, và chỉ cần một trò lừa thị giác điêu luyện là có thể ngay lập tức chứng minh điều đó. Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ vốn rất...
ngây thơ. Như việc các ngôi sao lúc nào chẳng hiện diện trên bầu trời, nhưng ánh sáng mạnh từ Mặt Trời tràn qua bầu khí quyển khiến chúng bị lu mờ vào ban ngày. Giả như bạn ném một hòn đá xuống mặt hồ, tiếng động sẽ làm cho con cóc và con cáo phải ngoái đầu nhìn, nhưng những gì chúng thấy không phải những gì bạn nhìn được. Mỗi sinh vật sẽ được trải nghiệm một phiên bản độc đáo của thực tế dành riêng cho hệ thần kinh của nó. Con cóc, con cáo và con người đều cùng trải nghiệm một thứ có thật, nhưng phản ứng thì lại khác nhau bởi hình ảnh hiện tượng ấy trong tâm trí mỗi loài đã được thay đổi. Sự nhận thức của bạn không phải là duy nhất, và nguồn thông tin đầu vào hoàn toàn có thể bị làm cho sai lệch, bởi vậy, hình ảnh trong đầu bạn không phải thứ đáng tin.
Đó là một khái niệm khá đơn giản, và có lẽ bạn cũng đã từng suy ngẫm về nó. Nhưng như nghiên cứu về trận bóng ở trên đã chỉ ra, chủ nghĩa hiện thực ngây thơ còn tồn tại ở một mức độ khác khó chấp nhận hơn nhiều. Giống như hầu hết mọi người, bạn thường không đặt câu hỏi về nó, và nó cứ thế tồn tại trong hầu hết tất cả những cái đầu trên địa cầu này.
Nhìn quanh một chút rồi đọc tiếp nhé. Những thứ bạn vừa thấy trong tâm trí mình không được tạo ra bởi các vật thể ngoài đời thực. Chúng không phải là kết quả đơn thuần của ánh sáng được thu vào mắt. Tất cả những gì bạn thấy, nhớ lại và cảm nhận, 100% đều được tạo ra bởi những phản ứng hoá học trong hộp sọ, nghĩa là chúng có thể bị ý thức ảnh hưởng, sửa đổi, lược bỏ, hay biến tấu theo bất kỳ cách nào trong quá trình xây dựng lại thực tế từ các thông tin thu nhận được từ bên ngoài và có sẵn bên trong. Theo lời của nhà tâm lý học Daniel Gilbert, thì ký ức,
nhận thức và trí tưởng tượng đều chỉ là những biểu trưng chứ không phải là bản sao của thực tế.
Ký ức kém chính xác nhất khi được ngẫm nghĩ nhiều, và ít chính xác nhất khi bị động vào. Hai sự thật này khiến lời khai nhân chứng trở thành thứ, về cơ bản, là vô nghĩa. Thế nhưng đó không phải điều nhiều người có thể chấp nhận. Hai nhà tâm lý học Dan Simons và Christopher Chabris đã công bố một nghiên cứu vào năm 2011 cho thấy 63% những người được hỏi tại Mỹ tin rằng ký ức hoạt động như một cuộn phim, và 48% cho rằng ký ức là vĩnh cửu. Khoảng 37% cho rằng lời khai nhân chứng đủ để làm bằng chứng cần thiết duy nhất cho việc kết tội. Những phát hiện đó đã khiến các nhà tâm lý học và thần kinh học bàng hoàng, bởi vì không điều nào đúng cả. Bạn không có khả năng ghi nhận mọi thứ bạn thấy, thậm chí bạn còn không có khả năng nhận thức được hết tất cả các thông tin đi vào não bộ. Chỉ những thứ bạn chú ý mới được thu nhận qua tai và mắt. Ký ức cũng không phải là cuộn phim. Khoảnh khắc mà nụ hôn đầu đời của bạn kết thúc, ký ức về nó bắt đầu nhạt phai. Mỗi lần bạn nhớ về sự kiện đó, nó sẽ được tái tạo trong trí óc theo những cách khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi tình trạng hiện tại và tất cả những trải nghiệm khác mà bạn đã nhận được kể từ thời điểm đó, cộng với những chi tiết sai lầm bạn có thể thêm thắt vào.
Ngày nay, ngành tâm lý học đã biết được rằng bạn thường xuyên đưa ra những dự đoán và quyết định dựa trên những hình mẫu tâm lý và ký ức có sẵn. Hơn nữa, bạn còn tự cho rằng những hình mẫu và ký ức đó là chính xác. Cứ mỗi một nghiên cứu mới ra đời, sự thật lại càng rõ ràng: Hình mẫu tâm lý và ký ức của bạn có lỗ hổng, không hoàn hảo và dễ bị xuyên tạc. Từ đó
có thể suy ra, những dự báo và quyết định của bạn cũng đầy sai lầm.
Bạn luôn đánh giá quá thấp khả năng tự đánh lừa bản thân của mình, và nhận thức của bạn có thể bị thay đổi hoàn toàn bởi những nhân tố nội tại. Cuốn sách này sẽ cho bạn thấy mình không những không hề thu nhận và xử lý thông tin về thực tại một cách thụ động, mà còn chủ động tham gia vào việc tạo nên vũ trụ của riêng mình.
Những nghiên cứu trong một thế kỉ gần đây đã cho thấy bạn và tất cả mọi người vẫn tin vào một dạng của chủ nghĩa hiện thực ngây thơ. Bạn vẫn nghĩ rằng mặc dù các thông tin mà bạn tiếp nhận có thể không hoàn hảo, nhưng những suy nghĩ và cảm nhận cá nhân của bạn thì đáng tin cậy và dễ đoán. Chúng ta đã biết: Bạn không bao giờ cảm nhận được một thực tế “khách quan”, và bạn cũng sẽ không bao giờ biết được bao nhiêu phần trong thực tế chủ quan của mình là giả, đơn giản bởi vì bạn không có bất kỳ trải nghiệm nào khác ngoài những sản phẩm do trí óc của chính mình tạo ra. Mọi chuyện từng xảy ra với bạn đều diễn ra bên trong hộp sọ. Ngay cả cảm giác về cánh tay cũng được tạo ra bởi bộ não. Bạn có thể cảm thấy và nhìn thấy tay mình đang ở trước mặt, nhưng đó có thể cũng chỉ là ảo giác. Cánh tay, thực chất, nằm trong đầu bạn. Mỗi bộ não tạo ra phiên bản về thực tế riêng của mình, về cơ bản là giống nhau, nhưng cũng vô cùng khác biệt và có không ít những chi tiết sai sót.
Trong bài nghiên cứu của mình, Hastorf và Cantril còn nói rằng nếu đi sâu phân tích hơn nữa, thì trận đấu đó thậm chí còn không tồn tại. Giống như đĩa salad, về bản chất, chỉ là một đống rau củ hổ lốn được cắt nhỏ, trận đấu nói trên cũng chỉ là một
chuỗi các sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian giữa hai lần bấm của một chiếc đồng hồ đếm ngược. Dĩ nhiên là các vận động viên đã thực hiện hàng loạt hành động, và khán giả thì nhận biết được một vài trong số những điều đang xảy ra, nhưng nói cho cùng, trận đấu cũng chỉ là một ý tưởng, một khái niệm xã hội mà thôi. Trong hàng tỷ những sự kiện đã xảy ra ngày hôm đó, Cổ động viên của hai đội đã đặt nặng ý nghĩa của một nhóm sự kiện xảy ra tại một địa điểm và gọi tên là trận đấu bóng. Ý nghĩa được định hình bởi xã hội đó giúp những người quan sát định nghĩa trải nghiệm của mình. Khác với hầu hết mọi thứ trên đời, các môn thể thao sở hữu những hàng rào đẹp đẽ của luật lệ và ranh giới, chúng diễn ra trong một không gian xác định với các hành động đã được phân công rõ ràng. Nhờ vậy, chúng ta dễ dàng đồng thuận với nhau về những điều xảy ra trong khoảng thời gian được quy định. Ấy thế mà người ta vẫn thường xuyên cãi vã, dù rằng mọi thứ đã được thu hình và chiếu lại đúng y như những gì đã diễn ra. Thực tế không đơn thuần chỉ là thứ đi vào đôi mắt và nảy lung tung trong đầu bạn. Bạn tự thay đổi nhận thức của mình một cách vô thức, thậm chí ngay cả khi nó đang xảy ra. Đây là một thông tin vô cùng hữu ích khi được áp dụng vào chiến tranh, chính trị, các xu thế xã hội, kinh tế và tất cả những thứ vĩ mô khác có ảnh hưởng tới đời sống, mà không được lịch sử ghi chép lại một cách hoàn hảo.
Bạn thấy đó, thông minh là một trạng thái phức tạp và dễ bị hiểu sai hơn nhiều so với những gì bạn nghĩ. Trong phần lớn các trường hợp, bạn hầu như không thể hiểu rõ đầu cua tai nheo của sự việc. Nếu coi đó là việc kiếm cơm hàng ngày thì hắn là bạn đã chết đói từ lâu rồi. Bạn tưởng mình là một con người có lý trí, bình tĩnh cân nhắc mọi mặt của cuộc sống trước khi đưa ra các quyết định và lựa chọn, và mặc dù đôi khi có vấp váp, về
cơ bản, bạn vẫn làm tốt bổn phận này của mình, nhưng thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Bạn tồn tại trong trạng thái thận trọng giả tạo. Bạn cực tệ trong việc tự giải thích bản thân, và bạn cũng không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của điểm yếu này. Nói cho chính xác, bạn thậm chí còn cảm thấy ngược lại. Bạn luôn tự tin một cách vô lý về nhận thức của bản thân, kể cả khi những giới hạn của bạn đã bị hé lộ. Chính tại nút giao của sự ngạo mạn và yếu đuối, nơi kết hợp đẹp đẽ của tính quả quyết và sự bất toàn này, chúng ta sẽ bỏ chút thời gian thảo luận với nhau. Đây sẽ là cuộc thám hiểm một số ảo giác thú vị nhất đã được khoa học xác định và đo đạc, những thứ cần phải có trong cuốn “hướng dẫn sử dụng cơ thể người” – cũng giống như những thông tin về chất béo chuyển hóa và chất gluten2 vừa được giới khoa học bổ sung vậy.
Trong cuốn sách này, bạn sẽ được giới thiệu về một vài khiếm khuyết trong tâm trí con người, cách mà bộ não vẫn nói dối bạn, cách mà nó ăn gian, biến đổi và bẻ cong thực tế, và lý do tại sao bạn vẫn luôn cho chân vào những cái bẫy đó hết lần này tới lần khác. Vậy rốt cuộc, chúng ta sẽ tìm hiểu những gì đây?
Chà, thường thì bạn không nắm rõ nguồn gốc của cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và ký ức của mình. Nhưng thay vì hoảng loạn và sợ hãi, bạn lại sở hữu một bộ đồ nghề khổng lồ gồm vô số mẹo vặt và kỹ năng; nhờ chúng, bạn sáng tạo ra những bối cảnh giúp cuộc sống dễ hiểu hơn, và rồi, bạn tin luôn vào những bối cảnh mình vừa phát minh ra. Từ năm này qua năm khác, đống bùi nhùi đó dần trở thành câu chuyện cuộc đời bạn.
Một trong những dụng cụ này là sự tự nghiệm. Để sống sót, tổ tiên chúng ta đã phải suy nghĩ và phản ứng nhanh trước các
tình huống. Sự tự nghiệm là công cụ biến những ý tưởng lớn và phức tạp thành những ý nhỏ, dễ xử lý hơn. Nó giải thích những điều xảy ra trong thế giới xung quanh theo cách đơn giản nhất, cho phép bạn tiếp tục cuộc sống mà không bị phân tâm quá nhiều. Khi cần giải quyết vấn đề và ra quyết định, bạn có nhiều công cụ tự nghiệm khác nhau để biến những thứ phức tạp trở thành vô cùng đơn giản. Ví dụ, bạn sử dụng sự tự nghiệm cảm xúc để đưa ra các quyết định xoay quanh việc một người, một vấn đề hay tình huống mang tới cho bạn cảm xúc tiêu cực hay tích cực. Tay ứng cử viên cho chức thị trưởng làm bạn cảm thấy ghê sợ? Thôi, đừng bỏ phiếu cho hắn. Bà bác sĩ kia đã chọn màu xanh nước mũi để sơn tường phòng khám ư? Bạn sẽ không bao giờ tới đó nữa. Sự tự nghiệm xuất hiện ở những lúc bạn không ngờ nhất, như khi bạn cân nhắc xem có nên ủng hộ tiền cho những người làm quảng cáo về lũ chó mèo bị ngược đãi và bỏ rơi không. Khi suy nghĩ về việc ký séc, bạn không đặt câu hỏi về tính chính thống của tổ chức này, về khả năng những con vật có thể phục hồi, hay về lịch sử tài chính của họ. Thay vào đó, bạn chỉ để ý tới việc hình ảnh những con vật bị hành hạ kia có khiến bạn buồn hay không. Câu hỏi đó dễ trả lời hơn rất nhiều, và từ đó, bạn tự cho rằng mình cũng đã giải quyết xong những câu hỏi phức tạp hơn ở trên. Thuật giả kim cho tâm trí này được áp dụng lên mọi mặt trong cuộc sống, từ việc cân nhắc xem có nên bỏ việc hay không cho tới việc lựa chọn ứng cử viên sáng giá cho chức Tổng thống. Những câu hỏi rắc rối phức tạp thường biến hình thành những bài thử cảm xúc, và cảm xúc lại vốn là thứ chẳng đáng tin bao giờ. Khi sử dụng sự tự nghiệm, bạn có xu hướng cho rằng mình đang cân nhắc một cách logic, nhưng thực ra là bạn đã đi đường tắt mà chẳng thèm ngoái đầu nhìn lại.
Một chướng ngại vật khổng lồ khác trong trí óc bạn là tập hợp những khuôn mẫu suy nghĩ vô cùng dễ đoán mang tên thiên kiến nhận thức. Thiên kiến là xu hướng suy nghĩ theo một chiều nhất định dù rằng có tồn tại những phương án khác tốt tương tự hay thậm chí là tốt hơn. Lấy ví dụ nhé, bạn có xu hướng rẽ phải mỗi khi bước vào tiệm tạp hóa mặc dù rẽ trái cũng không khác gì cả, như vậy là bạn có thiên kiến rẽ phải trong hành vi của mình. Hầu hết mọi người đều có chung thiên kiến này, và bởi vậy, các cửa hàng lớn đều tận dụng triệt để điều này trong việc thiết kế và trưng bày sản phẩm. Hầu hết tất cả các thiên kiến nhận thức đều có sẵn một cách tự nhiên, nên dù bạn có được sinh ra ở Ai Cập hay Alabama, vào năm 1902 hay năm 2002 đi chăng nữa, thì bạn vẫn mang trong mình một bộ sưu tập những thiên kiến nhận thức như tất cả mọi người. Các nhà khoa học cho rằng hầu hết các thiên kiến đều là cơ chế thích nghi, nghĩa là qua hàng triệu năm tiến hóa, chúng là chốn ẩn nấp đáng tin cậy khi bạn không chắc về cảm xúc của mình hay không biết cần phải hành động ra sao. Một ví dụ nữa là thiên kiến nhận thức muộn: Nó khiến bạn tin mình luôn đoán đúng về tương lai, bởi vì bạn tưởng bở rằng mình đã làm được điều đó cả đời rồi. Sự thật phũ phàng là bạn rất tệ trong việc tiên đoán tương lai, nhưng lại cực giỏi trong việc viết lại các ký ức của bản thân sao cho chúng có vẻ như là bạn đã đúng ngay từ đầu. Ngoài ra, bạn còn sở hữu thiên kiến xác nhận, thứ khiến bạn luôn tìm kiếm các thông tin củng cố cho thế giới quan của bản thân, trong khi tránh xa hoặc bỏ lỡ những thông tin đối nghịch. Qua thời gian, bạn tạo nên một cái bong bóng, mà mọi thứ trong đó có vẻ hoàn toàn phù hợp với những niềm tin có sẵn của bạn.
Sự tự nghiệm cho phép bạn suy nghĩ và hành động nhanh hơn, còn thiên kiến lại khiến bạn hành xử theo những cách vốn vẫn
giúp các loài linh trưởng tồn tại. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, sự tự nghiệm và thiên kiến nhận thức luôn phải đứng trước những thử thách, và đó là lúc bạn lôi các loại ngụy biện ra.
Ngụy biện xuất hiện trong các cuộc tranh cãi. Bạn thường vào cuộc với một kết luận đã có sẵn trong đầu, rồi cố gắng chứng minh rằng kết luận đó không hề ngu ngốc. Cách bạn biện luận cho điều này thường phụ thuộc vào khả năng bẻ cong logic để làm mọi thứ khớp với nhau. Ta cùng xem một ví dụ cụ thể nhé: Có thể bạn cho rằng bánh mì kẹp xúc xích là thứ đồ ăn chế biến công nghiệp đáng kinh tởm, và bạn không thể tin nổi là em họ của mình đang cho con ăn cái món đó, vì không ai được phép bắt trẻ con ăn thực phẩm mất vệ sinh hết. Vậy là bạn vừa mới đưa ra một lập luận đầy ngụy biện, bởi giả định của bạn nằm ngay trong câu đầu tiên: Bánh mì kẹp xúc xích là thứ kinh tởm. Luận điểm của bạn chẳng chứng minh được gì cả. Nó thậm chí còn chẳng hề nói gì đến độ ghê tởm của thứ thịt nghiền lẫn mỡ bọc trong lớp màng ăn được. Bạn mới chỉ nói lên một niềm tin của bản thân, và cho biết nó là nguyên nhân cho một suy nghĩ nhất định. Bạn có thể nhìn rõ chân tướng của phép ngụy biện này bằng cách sắp xếp câu như sau: “Không ai được ép trẻ con phải ăn thứ thực phẩm mà tôi cho là kinh tởm”. Bạn thường xuyên bị lẫn lộn trong đám logic của bản thân, và cuối cùng thì nhất nhất bẻ cong từ ngữ để làm thế giới khớp với những định kiến của riêng mình.
Những ngụy biện thiếu logic, sự tự nghiệm rối rắm và các thiên kiến nhận thức đầy sai lầm cùng hợp lực với một loạt những hiện tượng kỳ lạ khác tạo nên cách tiếp cận vấn đề tệ hại mà bạn vẫn dùng để làm rõ mọi việc trong cuộc sống. Bạn chỉ có khả năng tập trung chú ý vào rất ít thứ một lúc, vậy mà bạn lại cảm
thấy mình có thể nhìn được hết mọi thứ xuất hiện trước mắt hay nghe được mọi tiếng động gần tai. Ngay cả khi bạn có chú ý, thì những giác quan này cũng vẫn có rất nhiều hạn chế và không hề hoàn hảo. Rồi bạn dùng những thông tin thu thập được qua các giác quan đó, thêm thắt những thứ vốn không có thật và loại bỏ những thứ bạn không muốn chấp nhận, để xây dựng nên “thực tế”. Thêm vào phương trình này sự phức tạp, rộng lớn của hệ thống cảm xúc và trực giác, bạn có thể thấy được độ lệch lạc trong cái nhìn của mình về thực tế và sự thay đổi theo từng phút giây của nó. Độ lệch lạc đó được chuyển thành những ký ức kém chính xác và không hoàn thiện, lại còn xuống cấp dần sau mỗi lần xem lại. Chất hồ dính – bản năng kể chuyện nằm sâu trong mỗi con người - giữ cho mớ thông tin sai lệch hỗn độn này gắn kết với nhau. Chính khả năng này giữ cho bạn tỉnh táo và cân bằng, dù rằng những câu chuyện bạn tự kể cho bản thân có thể khác xa sự thật.
Mặc dù bạn rất dễ phạm sai lầm, mắc phải định kiến, dễ bị lừa, cũng như thường xuyên đi lừa người khác, và hình ảnh bản thân trong tâm trí bạn không thực sự khớp với thực tế, nhưng bạn vẫn sống tốt. Ít nhất là trong phần lớn các trường hợp. Nhưng như vậy cũng tạo ra một vấn đề nghiêm trọng, nhất là khi các chính trị gia, các vị giám đốc điều hành và những người có quyền lực thay đổi cách thế giới vận hành bắt đầu lợi dụng điều này. Họ ném ra những luận điểm ủng hộ hay phản đối một thứ gì đó dựa trên những ảo tưởng tạo ra bởi sự bất toàn trong tâm trí và giác quan của bạn. Trong các ngành khoa học thần kinh, tâm lý và kinh tế, những khiếm khuyết lớn trong tâm trí con người đã được biết tới từ khoảng năm mươi năm nay. Nỗ lực nghiên cứu trong các ngành đó vẫn đang tiếp tục được xúc tiến, nhưng về cơ bản thì hầu hết những gì khoa học đã tìm ra về vấn
đề này vẫn nằm dưới cái mũ học thuật. Bạn rất may mắn khi được sống trong thời kỳ mà các kiến thức vốn bị coi là cao siêu bắt đầu len lỏi vào những cuộc hội thoại thường ngày. Và đó chính là mục đích của cuốn sách bạn đang cầm trên tay đây: tiết lộ phần nào kiến thức về những khuyết điểm của bạn để chúng có thể được sử dụng một cách tốt nhất.
Trong những điều chúng ta sắp nói tới đây, một số sẽ liên quan tới cấu tạo của não bộ, số khác liên quan tới những ảnh hưởng văn hóa, và có cả những thứ dính dáng tới các thói quen đã có từ xa xưa. Bộ não trong hộp sọ của bạn được tạo nên qua quá trình tiến hóa, và thế giới của tổ tiên bạn chứa đầy những tình huống mà ngày nay bạn không cần phải đối mặt nữa. Tuy vậy, não bộ của bạn vẫn không ngừng đề phòng. Nếu bạn đang ngủ và bị ai đó ném sợi dây thừng vào người, thì cũng chẳng mất gì mà không hốt hoảng, la hét và giãy dụa (tất nhiên là vẫn cố gắng giữ cho quần không bị ướt). Nếu đó là một con rắn độc, thì phản ứng như vậy rất có ích. Thử nghĩ mà xem, sẽ nguy hiểm làm sao nếu lần nào bị đánh thức bởi vật giống con rắn, bạn cũng chỉ ngáp ruồi và nhẹ nhàng gạt nó qua một bên. Qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm, những sinh vật không hoảng hốt trước sự xuất hiện của các vật thể giống-rắn đã không sống sót được đủ lâu và đẻ được nhiều con cái như những con người có phản ứng này, và bởi vậy, bạn thừa hưởng sự sợ hãi đó, cùng với nỗi sợ những thứ nhiều chân bò loằng ngoằng đáng ghê tởm, độ cao, những nơi tăm tối và người lạ. Bạn được lập trình để biết sợ những kẻ khủng bố hơn sợ đồ nội thất, mặc dù nếu nói về mặt thống kê thì mỗi năm, số người mất mạng vì bị ghế sofa và TV đổ đè lên người còn nhiều hơn là vì khủng bố. Khi bạn nhận thức được rằng thế giới đã nhào nặn nên tâm trí bạn chính là thế giới mà bạn đủ kỹ năng đương đầu nhất, thì cũng dễ hiểu tại
sao những thứ như động cơ xe hơi, chế độ giảm cân hay công thức làm bánh soué lại khó nắm bắt tới vậy, và đó là còn chưa kể tới các loại thuốc nội soi và vật lý lượng tử đấy.
Đây không phải là cuốn sách về những hiện tượng tâm lý bất thường. Nó nói về những thứ bình thường trong tâm lý, những thứ thông thường, mặc định được cài sẵn trong bộ não của mỗi con người, từ các nhà khoa học chế tạo tên lửa, các nguyên thủ quốc gia đến các bà cô ở văn phòng, người dùng lịch in hình mèo cho những công việc cá nhân và lịch in hình các chàng lính cứu hỏa cho những buổi họp công chuyện. Bạn nghĩ thấy tận mắt thì sẽ đáng tin, rằng những suy nghĩ của bạn luôn dựa trên những bản năng đáng tin cậy và những phân tích hợp lý, và dù đôi khi cũng mắc sai lầm, về cơ bản, bạn vẫn là người điều khiển đầy thông minh và luôn tập trung cao độ của hệ thần kinh phức tạp nhất Trái Đất. Bạn tin khả năng của mình rất tốt, trí nhớ của mình rất tuyệt hảo, suy nghĩ của mình rất hợp lý và luôn mang tính ý thức cao, câu chuyện của đời của mình là thành thật và chính xác, tính cách của mình thì vững vàng không đổi và không chê vào đâu được. Nhưng sự thật phũ phàng là bộ não luôn nói dối bạn. Bên trong hộp sọ là một âm mưu to lớn và sâu rộng với mục đích giữ cho bạn không thể lật mở những sự thật về bản thân cũng như về khả năng thực của mình. Chính sự tự tin không đáng có mà bạn sở hữu đã thay đổi cách bạn hành xử, tạo nên cánh cửa sau cực lớn và dễ mở, chào đón những tên lừa đảo, các nhà ảo thuật, nhân viên quan hệ công chúng, các nhà quảng cáo, những tên giả khoa học, những kẻ buôn bùa chú và vô số những người khác nữa. Bạn có thể học được rất nhiều về bản thân khi nhìn từ góc độ của những người có khả năng nhìn thấu hành động và biết cách thao túng tính khờ dại của bạn: Hãy học từ chính những khiếm khuyết và thất bại của bản thân.
Nhờ vào một cách tiếp cận mới trong bộ môn tâm lý học, các nhà khoa học đã bắt đầu vẽ được bức tranh toàn cảnh về những lỗi lầm và khiếm khuyết trong mỗi con người. Cuốn sách này là bộ sưu tập gồm một số ảo tưởng thú vị nhất được phát hiện từ trước tới nay. Tôi hy vọng rằng khi đọc, bạn cũng sẽ được giác ngộ như tôi khi phát hiện ra chúng. Hãy coi đây là chiến dịch gây sốc và tạo sự kinh ngạc được thiết kế để giúp bạn cảm thấy kết nối hơn với cộng đồng loài người. Chúng ta cùng hội cùng thuyền cả thôi, và đây là những chướng ngại tâm lý chung mà ai cũng sở hữu. Hãy sử dụng những thứ bạn học được trong cuốn sách này để mở lòng hơn với người khác và để thành thực hơn với bản thân. Bạn không thông minh lắm đâu, nhưng có những cách tưởng chừng như vô lý, nhưng lại hiệu quả và thú vị vô cùng sẽ giúp bạn đỡ ngu ngơ hơn đấy.
Cùng bắt đầu nào.
Thiên hướng tự sự
... Chương 1 ...
BẠN VẪN TƯỞNG:
Bạn tìm cách để hiểu cuộc sống thông qua tư duy lý trí.
SỰ THẬT LÀ:
Bạn nhìn cuộc sống qua những chuỗi tự sự dễ đoán.
Tại bệnh viện Ypsillanti ở Michigan, vào khoảng thời gian mà vòng Hula-Hoop3 được phát minh, ba người đàn ông đã bắt đầu một cuộc đối thoại để rồi sau này cùng kéo nhau xuống vực thẳm của sự điên rồ. Tôi đang nói tới sự điên loạn thực sự, loại cần phải có bác sĩ thăm khám và kê đơn thuốc ấy.
Cuộc đối thoại tay ba này kéo dài trong hai năm. Có những lúc ba người cao hứng tới mức thậm chí có thể hát đồng ca với nhau. Lúc khác thì mọi thứ lại tăm tối hơn, thậm chí dẫn tới những cuộc ẩu đả chân tay. Nhưng dù thế nào thì mỗi sáng, họ đều gặp nhau và cố gắng hết sức để những người còn lại hiểu được quan điểm của mình.
Clyde Benson, Joseph Cassel và Leon Gabor có cuộc sống rất khác biệt trước khi gặp nhau. Benson là một nông dân góa vợ, nghiện rượu nặng ở độ tuổi thất thập. Cassel là nhân viên bán hàng tuổi ngũ tuần với khao khát trở thành nhà văn, tuy nhiên, vì bị ám ảnh bởi tuổi thơ tệ hại, ông ăn nói quá ấp úng và tính tình thì quá thụ động để có thể hiện thực hóa giấc mơ ấy. Gabor
trạc tuổi tứ tuần, nhảy hết việc này sang việc khác sau khi trải qua chiến tranh và những hậu quả của nó. Thứ khiến họ ràng buộc với nhau là lời khẳng định của cả ba rằng mình là hiện thân của Đấng Cứu Thế. Có nghĩa là, cả ba người họ đều tự nhận mình là Jesus Christ.
Nhà tâm lý học Milton Rokeach đã đưa ba bệnh nhân tâm thần này tới một khu chăm sóc riêng để quan sát. Trong cuốn sách của mình với tựa đề Three Gods In Ypsilanti (Ba Vị Chúa ở Ypsilanti), Rokeach đã viết rằng, ông sắp xếp cho ba người nằm giường cạnh nhau, cho họ ăn cùng chỗ, đưa ra các nhiệm vụ sao cho ba người phải tương tác thường xuyên với nhau. Ngoài ra, ông còn cho họ gặp nhau mỗi ngày tại phòng thăm hỏi, nơi có một chiếc bàn gỗ chính giữa, đối diện khung cửa sổ ngập tràn ánh sáng từ thế giới bên ngoài. Nhà tâm lý học mong rằng bằng cách khiến họ phải tiếp xúc thường xuyên, ảo tưởng của những người này sẽ triệt tiêu lẫn nhau. Theo ông, đây là một trường hợp hiếm gặp và vô cùng thú vị vì cả ba đối tượng cùng nhận chung một danh tính, hơn nữa, đó lại là danh tính nổi bật đến mức có rất ít chỗ trống để mà phóng túng sáng tác. Theo như Kinh Thánh, chỉ tồn tại duy nhất một Người Con của Chúa, và giờ thì có tới ba người cùng nhận danh xưng đó về mình đang ngồi quanh một chiếc bàn đế khoa học nghiên cứu. Rokeach tin chắc điều gì đó về bản chất của sự ảo tưởng, niềm tin và bản ngã sẽ được hé lộ qua thí nghiệm này. Và mọi chuyện đã diễn ra đúng như ông dự đoán.
Lần đầu tự giới thiệu bản thân, Cassel đã không làm ai thất vọng. Ông ta nói: “Tên tôi là Joseph Cassel”, và khi được hỏi ông có muốn bổ sung gì không, thì ông thêm vào: “Vâng. Tôi là Chúa”. Benson thì tỏ vẻ mập mờ bí hiểm hơn một chút, nói rằng:
“Ta cho Chúa năm tên và Jesus là sáu”. Tiếp theo, Gabor nói rằng giấy khai sinh của ông có viết rõ ông ta là Jesus Christ thành Nazareth đầu thai. Không lâu sau đó, một cuộc tranh cãi đã nổ ra, mỗi người đều tỏ vẻ bị xúc phạm bởi tuyên bố của hai người còn lại.
Giờ nhìn lại thì việc cho ba người bất ổn về tâm thần ở chung một phòng với mục đích quan sát xem điều gì sẽ xảy ra có vẻ là phi đạo đức và tàn nhẫn, nhưng thực ra, Rokeach nhắm đến việc tìm kiếm phương pháp chữa bệnh cho họ. Ông hy vọng rằng những người này sẽ được giác ngộ về danh tính thật của bản thân, vì như ông đã viết trong cuốn sách của mình: “Việc một người không tự nhận thức được mình thực sự là ai quả thực rất tồi tệ”. Sau buổi gặp gỡ đầu tiên đó, Rokeach đã phải đối mặt với nỗi thất vọng nặng nề. Theo như ông miêu tả thì “cuộc đụng độ dã diễn ra êm thấm hơn tôi dự đoán”. Khi cuộc gặp kết thúc, ba người đàn ông bước ra khỏi phòng mà vẫn tự tin về quan điểm của bản thân. Rokeach viết: “Có lẽ họ đã không hiểu hết sự phi thường của cuộc gặp gỡ này - ít nhất là không theo cách chúng ta hình dung”.
Ba người đàn ông cứ thế đều đặn gặp mặt hết lần này tới lần khác, và sự ảo tưởng của mỗi cá nhân được phơi bày, thể hiện rõ cấu trúc phức tạp và rắc rối của chúng. Lời giải thích của mỗi người cho việc tại sao Jesus Christ lại bị nhốt trong một trại tâm thần ở bang Michigan trở thành ma trận kỳ dị của những câu chuyện và logic, thứ chỉ có nghĩa trong khoảnh khắc ngắn ngủi trước khi bị Rokeach chọc ngoáy. Khi những cấu trúc này đổ vỡ, ba người họ lại nhanh chóng tái tạo chúng, và cuộc trò chuyện nhanh chóng trở thành mớ hỗn độn của những câu thoại từ các vở kịch khác nhau. Thế nhưng, mỗi người lại thường nhớ rất kỹ
những chi tiết vụn vặt trong lời giải thích của hai người còn lại, chỉ trích chúng một cách khắt khe như thể họ là những ứng cử viên chính trị đang tranh luận về các chi tiết nhỏ xíu trong kế hoạch thuế của đối phương.
Rokeach viết trong cuốn sách của mình rằng trong mỗi buổi nói chuyện, ông luôn cố gắng lái chủ đề về sự vô lý của việc ba vị Chúa cùng tồn tại một lúc và hỏi ba người đàn ông ý kiến của họ về vấn đề này. Khi bị ép phải giải thích, họ không bàng hoàng nhận ra rằng mình là những kẻ ảo tưởng, họ cũng không hề giật mình kinh sợ khi đứng trước khả năng danh tính của họ sắp vỡ tan. Không, họ chỉ đơn giản phủ nhận lời khẳng định của hai người còn lại. Benson cho rằng hai người kia là một dạng người máy nào đó chứ không phải là sinh vật sống. Theo lời của ông, thì bên trong hai người đó là máy móc điều khiển hoạt động và phát ra tiếng nói. Gabor thì lại cho rằng hai người còn lại là những vị Chúa thứ cấp xuất hiện sau ông ta và được tái sinh. Cách giải thích của Cassel thì lại chính xác và thực tế nhất: Ông ta nói hai người còn lại là những bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần.
Khi phải giải thích về bản thân, ba người đàn ông thường chối bỏ sự thật rằng chính họ là những bệnh nhân tâm thần. Họ không phải bệnh nhân. Họ là những ông Jesus tình cờ có mặt trong căn phòng tại thời điểm đó. Những kẻ mạo danh mới cần phải sớm tỉnh táo và cung phụng vị Chúa thật sự, danh xưng mà mỗi đối tượng đều tự nhận về chính mình.
Trong ba tuần lễ, những vụ tranh cãi đã dẫn đến xô xát, nhưng bạo lực không kéo dài lâu. Suốt hai mươi lăm tháng diễn ra thí nghiệm, phần lớn những cuộc đối thoại đều khá lịch sự dù chứa
toàn những thứ nhảm nhí. Chỉ có một điều duy nhất không thay đổi, đó là niềm tin của mỗi người. Thay vì nhận ra sự thật, họ bảo vệ ảo tưởng của mình bằng mọi giá, tuy là với các phương pháp khác nhau. Benson tỏ ra cứng rắn nhưng lại không có khả năng diễn đạt rành mạch, bởi vậy ông ta thường trở nên giận dữ và tuôn ra những lời đe dọa. Cassel thì phản ứng theo cách lập dị hơn như vứt bánh mì vào trong toilet và vứt sách ra ngoài cửa sổ. Ông ta thường quay lưng lại với cuộc tranh luận và cố gắng lái câu chuyện theo hướng khác khi danh tính của ông có vẻ bị đe dọa. Gabor là thành viên có học thức nhất trong bộ ba, và ảo tưởng của ông ta ấn tượng tới nỗi đôi lúc nghe cũng rất thuyết phục. Gabor thường nói rất dài, rất say sưa và rất trau chuốt. Ông ta cũng thường dẫn dắt cuộc tranh luận và đặt ra câu hỏi cho những người còn lại. Những cuộc hội thoại của họ có đủ các chủ đề trên trời dưới biển, từ săn bắn với xương cá voi tới bánh quy và nước Anh. Dẫu sao thì những bài nói của Gabor vẫn đâm thẳng vào điểm tận cùng của sự nhảm nhí tột độ. Những lúc căn phòng chìm vào yên lặng, ông ta lại thì thầm với Rokeach rằng mình thực ra đang nghiền vụn những ký ức tiêu cực của căn phòng lầy lội bên trong hộp sọ. Thời gian dần trôi đi, những cuộc nói chuyện về Jesus và Đức Chúa dần nhạt phai.
Rokeach viết rằng: “Ba vị Chúa này, mặc dù không phải là những con người minh mẫn và có lý, nhưng cũng đều thuộc một dạng người mà chúng ta ai cũng đã từng gặp: Họ là những người đang hợp lý hóa”.
Người hợp lý hóa là loại người luôn tìm cách biến mọi thứ xung quanh trở thành câu chuyện có nghĩa phù hợp với niềm tin của bản thân. Ba vị Chúa trong câu chuyện trên không hề thay đổi
quan điểm của mình. Qua hai năm điều trị tâm thần và giám sát tâm lý, bị xét hỏi và thử thách, ngồi đối diện những người khẳng định rằng danh tính của anh là giả mạo và tự nhận chính danh tính đó về mình, họ vẫn nhất quyết không đầu hàng. Hai kẻ còn lại mới có vấn đề; tôi là người duy nhất có lý. Điều duy nhất nổi bật trong câu chuyện của bộ ba bệnh nhân ở Ypsilanti là họ cùng tự nhận mình là Jesus. Tất cả những điều khác đều nằm trong những gì mà bộ môn tâm lý học đã dự đoán trước về hành vi của con người.
Rokeach nhận định rằng bạn có thể dễ dàng nhìn thấy những lời nói dối và những luận điểm hợp lý hóa hiện thực của người khác. Bạn đã gặp quá đủ những người như vậy tới mức bạn trực tiếp bỏ qua chúng, rồi sau đó tán phét về chúng trên bàn tiệc trà. Đó là một phần của cuộc sống - ngày qua ngày, ta quan sát người khác tự lừa dối bản thân. Ấy vậy mà khi chính bạn thực hiện điều đó, bạn lại giấu nhẹm nó dưới một tấm thảm vô hình trong tâm trí. Có lẽ bạn không thức dậy mỗi sáng và đánh răng rửa mặt dưới cái tên của Chúa Jesus, nhưng cũng như trong trường hợp của ba bệnh nhân ở Ypsilanti, chắc bạn cũng chỉ nhìn ra được sai lầm của bản thân khi chúng được sao chép và thể hiện ở người khác.
Giống như ba người đàn ông trong bệnh viện tâm thần, mọi giả định của bạn về thực tế đều được tổng hợp trong một cỗ máy hoạt động mỗi khi bạn thức, và chúng khẳng định với bạn rằng mọi chuyện đều đang diễn ra như mong đợi, không có gì đáng lo ngại cả. Bạn cứ thế lấy sản phẩm từ cỗ máy này và dùng nó để đọc hiểu thực tế. Phương pháp ưa thích của bạn (chính xác hơn là của tất cả mọi người) là dồn hết mọi thứ lại dưới dạng một
câu chuyện với bạn là nhân vật chính. Điều này nghe có vẻ khá kỳ dị, nhưng nó giúp chúng ta tồn tại.
Những sinh vật đơn giản hơn của Trái Đất như lũ giun đất, trùng amip và những sinh vật nguyên sinh sống trong một giọt nước tồn tại nhờ những quy tắc cực kỳ đơn giản. Chúng chỉ cần tiến về nơi có chất dinh dưỡng và tránh khỏi những thứ có khả năng gây hại. Phạm vi thực tế của chúng rất nhỏ hẹp và không hề phức tạp. Chúng không lo sợ tương lai và cũng không tô hồng quá khứ, chúng thậm chí có thể còn không có cả ý niệm về thời gian. Hệ thống này hoạt động tốt và đã giữ cho chúng sống sót qua hàng tỷ năm mà không có sách vở, thần thoại hay lịch sử gia. Hệ thần kinh quá đơn giản khiến tâm trí của chúng, nếu có thể gọi đó là tâm trí, không cần gì hơn khả năng cảm nhận những thứ tốt hoặc xấu, và khả năng di chuyển theo hướng cần thiết khi tránh các chướng ngại vật. Hệ thần kinh của bạn thì phức tạp hơn một chút. Bộ công cụ mà bạn sở hữu không chỉ có kích thích và phản ứng. Một con giun tròn có khoảng 300 neuron thần kinh. Một con mèo có khoảng một tỷ, còn bạn thì có khoảng tám mươi lăm tỷ. Kết nối những neuron này và cho chúng xử lý thông tin ở nhiều tầng khác nhau, thế là bạn đã có thể soi lối mê trận đầy rắc rối của vũ trụ tốt hơn nhiều so với một chú mèo thông thường. Tất nhiên, bạn vẫn còn những cơ chế kích thích - phản ứng được thừa hưởng từ thời xa xưa - ví dụ, bánh sinh nhật và gấu xám Bắc Mỹ mang tới hai thái cực phản ứng rất khác nhau trong bộ não của con người. Nhưng bạn còn có trong tay rất nhiều công cụ khác, ngoài những thứ giúp tìm ra cái có ích và tránh xa những cái có hại. Để cân bằng sự phức tạp của trải nghiệm có ý thức với công việc xử lý thông tin vô thức, để đối phó trước những thứ hỗn độn vô tận luôn tấn công các giác quan từ bên ngoài và những cuộc trò chuyện ồn ào
của các cơ quan từ bên trong tâm trí, bạn đã phát triển khả năng kết nối nhiều thứ thành thứ đơn giản và kém chính xác hơn, mang ít thông tin hơn nhưng có tính giải trí cao hơn, và trong phần lớn các trường hợp, thì có ích hơn. Một số lượng cực lớn những tế bào thần kinh phức tạp và mạnh mẽ tới mức khó tin đang nằm đâu đó phía trên cổ bạn, và bạn sử dụng chúng để tìm kiếm thứ mà những động vật khác không thèm màng tới: Ý NGHĨA. Thực tế cuộc sống ngày qua ngày trở nên có ý nghĩa trong tâm thức bạn là bởi bạn đã biến những chuỗi sự kiện thành những câu chuyện, những câu chuyện lại biến thành ký ức, và ký ức thành các chương trong cuốn tiểu thuyết cuộc đời. Khi bạn ngồi lại với những người khác, họ kể cho bạn nghe về thực tại của họ cũng theo cách đó, và câu chuyện càng thuyết phục thì khả năng để bạn chấp nhận lời kể của họ càng cao.
Những mẩu truyện cười và phim ảnh, truyện tranh và các trận đấu vật chuyên nghiệp, các chương trình truyền hình và thời sự - tất cả đều là hiện thân đầy kịch tính của hiện thực và giả tưởng dưới dạng những câu chuyện kể, tương tự như việc tại sao chúng ta lại đặt ghế vào trong xe hơi: Vì hình dạng của cơ thể người đặt vừa vặn vào chiếc ghế. Chính hình thể người đã dẫn tới thiết kế của chiếc ghế. Và thiết kế đó giờ được áp dụng lên bất kỳ chỗ nào mà con người đặt mông xuống. Một ví dụ khác: Trẻ em thích nghe nhạc cổ điển được chơi theo chiều thuận hơn là chơi theo chiều ngược lại. Vì cảm nhận được điều đó mà Vivaldi4 viết nhạc theo một trật tự nhất định, kết quả là những đứa trẻ khi nghe bản nhạc được chơi theo đúng cách đã tỏ vẻ thích thú, còn khi băng bị tua ngược thì tỏ vẻ khó chịu. Nghệ thuật chính là một cuộc đuổi bắt - ta cố tìm cách thể hiện những biểu tượng mà không để chúng xuất hiện. Quan điểm đẹp hay xấu đi vào tâm trí bạn theo những con đường cổ xưa đã được
định sẵn về phía nụ cười hoặc cái nhíu mày. Mặc dù cảm xúc luôn phải đi qua bộ lọc của quan điểm văn hóa, phong tục xã hội và chịu sự biến động từ thời kỳ này qua thời kỳ khác, nhưng nền tảng của những thứ bạn kiếm tìm hay trốn tránh đều bắt đầu từ những khởi nguồn sơ khai, những phản ứng tức thời trước thứ tích cực hoặc tiêu cực. Tâm trí lý giải thông tin đầu vào và ký ức của bạn dưới dạng những câu chuyện theo cả hai chiều đi và đến, bởi vậy định dạng này xuất hiện ở bất kỳ đâu mà thông tin có mặt. Cấu tạo tâm trí bạn quy định dạng thức biểu hiện của thông tin, và từ đó, dạng thức được quy định xuất hiện ở tất cả những nơi có sự trao đổi thông tin giữa các bộ não.
Đây chính là thiên hướng tự sự (narrative bias): Mỗi khi có cơ hội, bạn sẽ đưa và nhận lại thông tin dưới dạng những câu chuyện kể. Bạn thích những câu chuyện với cấu trúc quen thuộc mà bạn cho là xương sống của nghệ thuật kể chuyện, cấu trúc sở hữu từ ba tới năm hồi, với phần mở đầu là nhân vật chính phải đối diện với nghịch cảnh, tiếp theo là bước ngoặt khi nhân vật đó quyết tâm dấn bước vào một cuộc phiêu lưu trong thế giới không quen thuộc, rồi sau đó là hành trình dẫn tới sự trưởng thành của nhân vật, và từ đó, dẫn tới chiến thắng vinh quang. Theo lời của nhà thần thoại học Joseph Campbell thì đó là cấu trúc của hầu hết những câu chuyện từng được viết ra, chỉ trừ những vở bi kịch. Bi kịch thì ngược lại, chúng là những câu chuyện mang tính răn đe, trong đó nhân vật chính không có sự thay đổi, đưa ra những lựa chọn tồi tệ, đầu hàng trước khuyết điểm, và cuối cùng phải chịu thất bại. Bạn thích cả hai phong cách này bởi vì đó chính là cách bạn nhìn cuộc sống của mình. Bạn đơn giản hóa hình ảnh về bản thân, về lý do bạn đang ở vị trí hiện tại, về những điều mà bạn đã đạt được, và về định hướng của bạn trong tương lai. Sách truyện, phim ảnh, trò chơi,
bài giảng - tất cả những định dạng của việc trao đổi thông tin dường như đều rõ ràng hơn khi được gói gọn trong ngôn ngữ của nghệ thuật kể chuyện.
Dưới dạng một câu chuyện, những sự kiện khó tin trở nên thuyết phục hơn. Ta cùng xem thử một ví dụ nhé, trong hai câu sau thì câu nào có vẻ thật hơn? “Một nhà sự thoát y và chửi mắng lũ trẻ vì ông mất bình tĩnh trong cơn giận”, hay “Một nhà sư thoát y và chửi mắng lũ trẻ vì ông mất bình tĩnh sau khi hay tin ngôi làng của mình đã bị đốt trụi trong cuộc đảo chính”. Câu thứ hai có vẻ hợp lý hơn, phải không? Khó mà tưởng tượng được một người, theo logic thông thường, là ôn hòa thánh thiện lại có thể làm những chuyện bốc đồng như vậy, nhưng khi nghe câu chuyện, mọi thứ lại trở nên có thể, không nhất thiết bởi bạn đã có nhiều thông tin hơn, mà bởi bạn thấy những thông tin đó kết nối với nhau thành câu chuyện hoàn chỉnh. Bạn thường chấp nhận sự việc mà không mảy may nghi ngờ liệu câu hỏi “tại sao” có được trả lời một cách thỏa đáng? Cùng xem ví dụ tiếp theo nhé: “Cả người Elizabeth bỗng bùng cháy khi đang mặc thử chiếc áo lót mới”; hoặc “Cả người Elizabeth bỗng bùng cháy khi mặc thử chiếc áo lót mới sau khi cô bị một mụ di-gan cáu bẳn nguyền rủa vì đã vô tình đẩy chiếc xe đựng đồ chèn lên chân mụ trên đường đi tới phòng thay đồ”. Lời tường thuật thứ hai nghe có vẻ hợp lý hơn. Tuy rằng, có thể với bạn, mấy thứ như lời nguyền của dân di-gan không có sức thuyết phục, nhưng với một số người thì đó có thể là lời giải thích hoàn toàn hợp lý. Điều này được giải thích một phần bởi ngụy biện liên kết (conjunction fallacy). Thiên hướng tự sự của bạn được củng cố khi bạn được tiếp xúc với lượng thông tin dồi dào. Bạn càng nhận được nhiều thông tin về một lời khẳng định thì bạn càng dễ tin vào nó.
Ví dụ kinh điển về ngụy biện liên kết đã được đưa ra trong công trình nghiên cứu của hai nhà tâm lý học Amos Tversky và Daniel Kahneman, những người tiên phong vĩ đại của ngành nghiên cứu về những thiên kiến nhận thức. Năm 1982 họ đã đưa ra một câu đố, và tôi sẽ nói cho bạn dưới dạng một câu chuyện:
“Linda sinh ra và lớn lên tại San Francisco; trong khi những đứa con gái khác chơi đùa với búp bê, thì cô đọc sách triết học. Khi còn bé, cô là một đứa trẻ ngỗ nghịch, sẵn sàng mè nheo và nổi cơn thịnh nộ khi không vừa ý; bố mẹ cô đã rất vất vả trong việc dạy bảo con gái. Cô tốt nghiệp trung học sớm một năm và được nhận vào Đại học Harvard, nơi cô nhận bằng cử nhân ngành triết học. Trước khi gia nhập lực lượng lao động làm công ăn lương, Linda đã có thời gian hoạt động trong Đoàn Hòa Bình5, và giúp đỡ phụ nữ tại khu vực Congo ở châu Phi tiếp cận với các dịch vụ y tế. Hiện chưa lập gia đình và chưa có con, cô trở lại Mỹ để học lấy bằng Tiến sĩ ngành khoa học chính trị. Khả năng sau đây là cao hơn? Linda làm việc tại một ngân hàng, hay Linda làm việc tại một ngân hàng, đồng thời là tác giả của một trang blog bảo vệ nữ quyền?”
Câu trả lời có thể sẽ làm bạn phải sửng sốt, nhưng đáp án chính xác là khả năng Linda chỉ làm việc tại một ngân hàng cao hơn nhiều so với khả năng còn lại. Tất cả những thông tin bên lề đã khiến nhiều người nghĩ rằng nhân vật Linda là một nhà hoạt động nữ quyền. Tuy vậy, điều đó không thể thay đổi được sự thật là, dựa trên xác suất thống kê thuần túy, thì việc đoán đúng một đặc điểm của một người cao hơn rất nhiều so với việc đoán chính xác hai đặc điểm trong hàng triệu triệu những trường hợp có thể xảy ra. Nếu câu hỏi tôi đặt ra là “Giữa hai trường hợp:
Linda là một nhà hoạt động nữ quyền và Linda là một vận động viên đua xe NASCAR, thì khả năng nào cao hơn?” Bạn sẽ trả lời chính xác khi chọn phương án nhà hoạt động nữ quyền”, bởi những gì đã biết cho thấy cô ấy thích tìm hiểu về sự bình đẳng hơn là đọc thông số máy móc. Nhưng đó không phải là câu hỏi của tôi. Số lượng người làm việc tại ngân hàng cao hơn rất nhiều so với số người vừa làm tại ngân hàng vừa viết blog về nữ quyền. Trên thực tế thì, càng đưa ra nhiều chi tiết, khả năng tổ hợp của những chi tiết này chính xác sẽ càng nhỏ. Rất ít khả năng tồn tại một Linda làm việc ở ngân hàng, điều hành một trang blog nữ quyền, bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, sống ở California, quyên góp cho Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, và thần tượng ca sĩ Tori Amos. Khi nhìn lại về câu chuyện cuộc đời của Linda, bạn sẽ nhận ra rằng khả năng một trong số các đặc điểm trên đúng khá cao, nhưng khả năng tổ hợp của hai trong số đó là đúng thì lại thấp hơn nhiều, khả năng tổ hợp ba đặc điểm thì còn thấp hơn nữa, v.v. Nhưng rõ ràng, bạn đã nghĩ khác, đúng không nào? Đó là vì thiên hướng tự sự của bạn đang hoạt động với sự hỗ trợ của ngụy biện liên kết, và được gắn kết 6,
bởi sự tự nghiệm về tính đại diện (representative heuristic) hay còn gọi là xu hướng bỏ qua xác suất thống kê, và chỉ dựa vào độ tương tự của đối tượng đánh giá với một hình mẫu tưởng tượng.
Một trong số rất nhiều chức năng của bộ não giúp bạn tồn tại và phát triển là khả năng tạo ra cảm giác những điều mà bạn chứng kiến và cảm nhận đều có căn nguyên. Bạn nghĩ ảnh hưởng từ những lý do đó có thể được theo dõi và gạch chân rõ ràng. Bạn tin rằng mớ hỗn độn, nhiễu động kỳ quặc của cuộc sống mà bạn phải lội qua hàng ngày luôn có những tín hiệu, những khuôn mẫu ẩn giấu và những quy luật dễ đoán, hẳn bạn
sẽ phải rất ngạc nhiên khi biết rằng những giả định đó sai lầm thường xuyên tới mức nào.
Từ nhiều năm nay, không quân Hoa Kỳ vẫn huấn luyện phi công bằng một cỗ máy khổng lồ mang tên máy ly tâm Holloman. Cỗ máy này, về cơ bản, là buồng lái giả gắn trên một cánh tay kim loại khổng lồ có động cơ trung tâm cực khỏe. Động cơ này xoay cánh tay kim loại và đẩy buồng lái, cùng với phi công, đi vòng vòng. Giống như hòn đá được buộc vào đầu sợi dây, một người cầm dây, quay thật nhanh trên đầu, còn bạn thì đang ngồi ngay bên trong hòn đá đó. Các phi công phải trải qua bài huấn luyện này để có thể cảm nhận tác động của lực g7. Khi điều khiển một chiếc máy bay phản lực công suất lớn, việc cất cánh nhanh hoặc bẻ lái ở tốc độ cao sẽ tạo ra lực g rất lớn lên cơ thể phi công. Khi bạn tăng tốc về một hướng, bạn sẽ cảm nhận được lực kéo của định luật III Newton theo hướng ngược lại. Ví dụ như khi bạn đạp chân ga của chiếc xe hơi, đầu bạn sẽ bị kéo về phía sau. Trong một chiếc máy bay phản lực thì lực này lớn hơn rất nhiều lần, tới mức máu trong huyết quản của bạn có thể sẽ không được vận chuyển tới não. Hiệu ứng này giống như khi bị bóp nghẹt, và phi công thường ngất đi hoặc trở thành một thây ma ngơ ngẩn trong chốc lát. Theo như người ta nói, thì chịu lực g quá lớn sẽ dẫn tới thảm họa khôn lường.
Không quân Hoa Kỳ và các cơ quan khác như NASA sử dụng lực ly tâm để tạo nên lực g lớn trong môi trường có kiểm soát. Bằng cách này, họ có thể huấn luyện phi công những kỹ thuật giữ máu lên não. Những kỹ thuật này liên quan nhiều tới việc căng người và gầm gừ, vốn là những hành động trông khá buồn cười nếu họ không phải là phi công chiến đấu. Tới điểm giới hạn, những viên phi công tập sự sẽ rơi vào trạng thái bất tỉnh nhân
sự. Sau khi thoát khỏi trạng thái này, họ thường báo cáo về những hình ảnh kỳ lạ, những ảo giác giống như những giấc mơ về thế giới giả tưởng hoặc thế giới hàng ngày. James Whinnery, một bác sĩ Không quân, đã nghiên cứu hàng trăm những vụ bất tỉnh như vậy trong ba thập kỷ, quay video và so sánh từng chi tiết khác biệt, phỏng vấn các phi công và thu hình báo cáo của họ. Qua nghiên cứu của mình, ông đã thấy được sự giống nhau tới khó tin với lời kể thu thập từ bệnh nhân được gây mê trên bàn mổ, nạn nhân trong những vụ tai nạn xe hơi và những tình huống dẫn tới tình trạng tắt thở. Đường hầm, ánh sáng trắng, bạn bè và người thân tới chào đón, các ký ức tua lại trước mắt - các phi công tập sự đã trải qua tất cả. Hơn thế nữa, cỗ máy ly tâm còn rất thường xuyên tạo ra “trải nghiệm thoát xác” cho người ngồi bên trong. Các viên phi công báo cáo rằng họ cảm thấy trôi nổi bên trên hoặc gần cơ thể, tự nhìn vào cái đầu đang lúc lắc của mình. Theo như Whinnery và các nhà nghiên cứu khác nhận định, khi toàn bộ cơ thể bị đảo lộn vì thiếu ôxy, những trải nghiệm gần chết và thoát xác này thực ra đều là những trải nghiệm chủ quan của bộ não trong lúc cố gắng hiểu được điều gì đang diễn ra và tìm cách tự định hướng. Mất đi khả năng xác định ranh giới của mình, bộ não thường đặt sự tỉnh táo ra bên ngoài cơ thể: trên một cánh đồng, trong một hồ nước, hoặc trong bối cảnh chiến đấu với một con rồng - bất kỳ thứ gì nó có thể bấu víu được khi những bức tường trong tâm trí sụp đổ. Những viên phi công bị ngạt thở không thấy một đám hỗn độn những hình ảnh và suy nghĩ ngẫu nhiên. Ngay cả trong khi đang chết ngạt, bộ não vẫn nhất quyết không ngừng tạo ra một câu chuyện, một khung đỡ để nó kết nối nguyên nhân và hệ quả, ký ức và trải nghiệm, cảm giác và nhận thức. Tự sự là thứ tối quan trọng với sự sống còn, quan trọng tới nỗi nó thực sự là thứ
cuối cùng bạn cam lòng từ bỏ trước khi trở thành một bị thịt vô hồn. Đó chính là khung sườn cho mọi trải nghiệm ý thức của bạn. Thiếu nó, bạn sẽ không thể cảm nhận bất kỳ điều gì khác ngoài sự nhiễu động hỗn độn. Và chưa hết, sau khi tỉnh táo trở lại, những viên phi công, hệt như những bệnh nhân vừa chết đi sống lại trong phòng cấp cứu, luôn thực hiện một quy trình giải thích cho những điều mình thấy. Sau khi trải qua sự phiêu ảo của tình trạng thiếu ôxy kéo dài, nhiều người cho rằng ánh sáng và đường hầm mà họ thấy là lối đi dẫn tới thế giới bên kia. Các câu chuyện có thể khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống niềm tin của mỗi người, nhưng một câu chuyện sẽ luôn luôn tồn tại.
Một trong những điểm đáng kinh ngạc nhất về những viên phi công đã chết đi sống lại này là họ trở về một cách nguyên vẹn. Khi bộ não trở lại trạng thái bình thường, họ tự phục hồi thành con người trước đó. Khoa học thần kinh hiện vẫn chưa rõ tại sao bạn có thể lắp ráp lại các mảnh ghép nhận thức về bản thân mỗi sáng, nhưng chắc chắn, tự sự cá nhân của bạn có vai trò rất lớn trong việc này. Trong cuốn sách nổi tiếng The Man Who Mistook His Wife For A Hat (Người đàn ông tưởng vợ mình là chiếc mũ của mình), nhà thần kinh học Oliver Sacks đã thuật lại các câu chuyện ảo tưởng điên cuồng của những bệnh nhân bị tổn thương não, và nhận định rằng họ dường như bị thôi thúc phải “thay thế những thứ ký ức liên tục bị lãng quên và mất đi” bởi vì tự sự đối với mỗi người trong chúng ta, đều là “một tiểu sử, một câu chuyện”. Theo lời Sacks, để có thể là chính mình, bạn phải có cảm giác sở hữu bản thân. Khi cảm thấy câu chuyện của mình dần tuột khỏi tầm với, bạn sẽ “thu thập những vở kịch nội tại”, bởi danh tính của bạn phụ thuộc vào cảm giác nắm bắt được câu chuyện của chính mình. Đó là lý do tại sao việc nghiên cứu những người sở hữu sự tự sự lệch xa với những thứ mà
những người xung quanh đang thấy là rất quan trọng. Cùng dạo nhanh qua lĩnh vực này bằng cách quay trở lại những ngày đầu của khoa học về bộ não nhé.
Sau khoảng thời gian làm bác sĩ phẫu thuật trong quân ngũ năm 1870, Jules Cotard đã về làm việc tại một phòng khám và cống hiến hết mình với tất cả những kiến thức có sẵn vào thời đó. Cotard và những người khác ở phòng khám đã chăm sóc cho những bệnh nhân trong tình trạng, như một giảng viên đại học đã miêu tả, là “sự điên rồ ở tất cả các hình thái”. Ông là một trong những người tiên phong trong ngành thần kinh học, và đã khám phá ra sự kết nối giữa hành vi với các vị trí của não bộ. Càng nghiên cứu sâu, ông càng bị thu hút bởi những bệnh nhân có biểu hiện của hội chứng mất ngôn ngữ. Ông theo dõi những trường hợp này tới tận sau khi họ chết, đến cả bàn mổ khám nghiệm tử thi để tìm ra nguồn gốc cho chứng bệnh của họ, và khuyến khích đồng nghiệp cũng làm như vậy. Vào năm 1880, Cotard đã đưa ra một khái niệm mới về hội chứng bệnh lý mà ông gọi là “délire des négations”, nghĩa là “chứng ảo tưởng về sự không tồn tại”.
Ông đã miêu tả trong một hội nghị tại Paris rằng khi bộ não của một người bị tổn thương theo cách nhất định, người đó sẽ thực sự tin rằng mình đã chết. Bạn có nói lý hay tán phỉnh với họ theo cách nào đi chăng nữa cũng không thể thuyết phục họ thoát khỏi ảo tưởng đó. Hơn nữa, hội chứng này không phải là một chứng bệnh tâm lý thuần túy. Nó có nguồn gốc từ một vấn đề sinh lý trong não của người bệnh. Điều đó nghĩa là bạn hoàn toàn có thể rơi vào trạng thái tương tự nếu trải qua một cú đập đầu đủ mạnh.
Có tổng cộng khoảng 100 bệnh nhân được ghi nhận trong lịch sử y khoa mang triệu chứng của thứ nay được gọi là hội chứng ảo tưởng Cotard. Nó còn được biết tới dưới một cái tên khác ghê rợn hơn là hội chứng xác chết biết đi. Nếu bị mắc hội chứng này, bạn có thể nghĩ hình ảnh phản chiếu của mình trong gương có điều gì đó khả nghi, hoặc bạn có thể không còn cảm thấy nhịp tim đập trong lồng ngực là của chính mình nữa. Thậm chí bạn còn có thể nghĩ một phần cơ thể mình đang thối rữa. Trong trường hợp nặng nhất, bạn có thể tưởng mình đã trở thành một hồn ma và đi đến quyết định rằng việc ăn uống là không còn cần thiết. Một trong các bệnh nhân của Cotard đã chết đói do ảo giác này.
Hội chứng Cotard và những ảo tưởng kèm theo nằm trong nhóm các triệu chứng được tìm thấy ở những chứng rối loạn khác cùng xoay quanh sự mất đi khả năng kết nối cảm xúc với người khác. Có thể là do não bộ của bạn gặp vấn đề tệ đến mức khiến bạn không còn có khả năng cảm nhận sự khác biệt giữa người lạ và người thân. Những rung động cảm xúc không còn nữa, dù là với chú cún cưng, với mẹ, hay thậm chí là với giọng nói của chính bạn. Thiếu đi cảm xúc, những người thân quen trở thành những kẻ mạo danh, những con robot đội lốt, hoặc một bản sao. Nếu kết nối cảm xúc với hình ảnh của chính mình bị phá vỡ, có thể bạn sẽ cho rằng bản thân mình là một ảo giác. Đối diện trước một nhận thức đáng sợ như vậy, bạn sẽ vật lộn để tìm hiểu xem điều gì đang xảy ra: Bạn sẽ sáng tạo ra nhiều cách đối phó.
Bệnh nhân của những hội chứng như chứng ảo tưởng Cotard luôn bịa ra những lời giải thích rất kỳ quặc và vô nghĩa cho thực tại mà họ cảm nhận, bởi họ phải trải nghiệm luồng thông tin
đầu vào cũng hết sức kỳ quặc và vô nghĩa. Điều khác biệt duy nhất giữa lời giải thích của các bệnh nhân này với lời biện hộ của bạn nằm ở sự sai lệch rõ ràng và dễ kiểm chứng. Bất kỳ lời biện hộ nào trong bất kỳ thời điểm nào được chế biến để giải thích cho tình trạng tâm trí và cơ thể bạn cũng đều có thể không rõ ràng, nhưng bạn không có cỗ máy kiểm tra độ xác thực theo dõi thường xuyên sức khỏe tinh thần của mình. Não của bạn có bị tổn thương hay không, thì tâm trí lúc nào cũng cố gắng tự giải thích bản thân cho chính nó, và độ chính xác của những lời giải thích này thay đổi liên tục. Các nhà tâm lý học gọi những lời tự lừa dối mình là sự bịa chuyện (confabulation) - những lời nói dối vô tình. Chúng là những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, nhưng bản thân người bịa chuyện lại không nhận ra điều ấy. Khoa học thần kinh giờ đã biết rằng việc bịa chuyện rất phổ biến và diễn ra liên tục, với cả người bình thường lẫn những người có vấn đề về tâm thần. Nhưng trong trường hợp của những bệnh nhân mắc chứng ảo tưởng Cotard, chứng bịa chuyện này bị phóng đại lên tới mức đáng sợ. Thiên hướng tự sự - động lực thúc đẩy việc tạo ra những lời giải thích - chính là nguyên do gây nên chứng bịa chuyện ở những người bị tổn thương não nghiêm trọng.
Nhà thần kinh học nổi tiếng V. S. Ramachandran thường xuyên nhắc đến sự bịa chuyện khi nói về chứng anosognosia - từ chuyên khoa để chỉ việc phủ nhận bệnh tật. Trong sự nghiệp của mình, ông đã gặp nhiều trường hợp có thương tật cơ thể, nhưng lại không nhận thức được và giải thích được thương tật của mình phù hợp với thực tế. Một trong những bệnh nhân của ông bị liệt một tay, nhưng nhất quyết phủ nhận việc này. Khi được hỏi tại sao cô lại không thể di chuyển cánh tay đó, cô nói rằng đó không phải tay của mình. Cô khẳng định rằng đó là
cánh tay của mẹ cô, và bà ấy đang trốn dưới bàn để đùa giỡn. Ramachandran cũng từng điều trị cho những bệnh nhân mắc chứng quên thuận chiều (anterograde amnesia). Đó là những người không thể tạo ra ký ức mới. Cứ khoảng mười phút là bộ nhớ của những người mắc hội chứng này sẽ khởi động lại. Như thể họ bỗng dưng thấy mình đang ở bệnh viện mà không nhớ ra đã tới đó bằng cách nào. Thay vì phát hoảng, người bệnh thường nói với các nhân viên y tế rằng họ tới để thăm ai đó. Người mắc hội chứng Anton-Babinski thì phủ nhận mình bị mù, dù một phần hoặc toàn bộ thị giác của họ đã bị mất sau một tai biến hoặc tai nạn nào đó. Đôi khi các bác sĩ cũng bị sốc khi phát hiện ra bệnh nhân của mình không thể nhìn, bởi vì người đó không hề nhắc tới điều đó trong lúc thăm khám. Thường thì các y tá mới là những người đầu tiên phát hiện ra sự thực này khi thấy các bệnh nhân đâm thẳng vào tường, miêu tả mọi thứ xung quanh hoàn toàn khác với thực tế hay nói về những người hoặc đồ vật không hề tồn tại.
Đó là cách để tâm trí nhanh chóng thoát khỏi tình trạng bối rối. Khi mọi thứ có vẻ kỳ quặc hay vô nghĩa, bộ não sẽ ép mọi thứ phải trở nên có nghĩa ngay lập tức. Việc mất phương hướng sẽ được định hướng lại, kể cả khi bạn phải tạm thời tin vào thứ cách xa sự thật tận vài múi giờ. Một tình huống rối rắm và bất tiện sẽ được kéo thẳng thành một tự sự sao cho sinh vật (là bạn) có thể trở lại hoạt động như bình thường, tiếp tục pha trò, và tự hỏi xem tối nay nên ăn gì. Bộ não biến sự hỗn độn thành trật tự để bạn không đâm đầu vào tường hoặc dẫm lên con bọ cạp thú cưng, và khi tín hiệu cảnh báo rắc rối đầu tiên cất lên, khi một nghi hoặc nho nhỏ về sự lẫn lộn được nhen nhóm, các neuron của bạn sẽ bắt đầu sản xuất ra sự sáng suốt giả tạo. Ba vị Chúa ở Ypsilanti, những trường hợp tự phủ nhận cánh tay của mình,
những bệnh nhân khẳng định rằng họ không bị mù - tất cả đều sử dụng sự tự sự để giúp bản thân tỉnh táo. Thiếu đi xu hướng đó, việc giữ được sự tồn tại của phần người là rất khó, bởi vậy, nó là thứ có ích trong hầu hết các trường hợp. Nó hoạt động hiệu quả tới nỗi bạn ít khi nhận ra nó tồn tại. Chỉ khi mọi thứ trật đường ray thì chứng bịa chuyện mới hiển hiện rõ ràng và trở thành rắc rối, thậm chí có thể tạo ra những mối đe dọa tới tính mạng. Dù sao thì nó vẫn luôn có mặt ở hậu cảnh. Mọi bộ não đều là những thi sĩ hát rong, và bản thân mỗi người đều là những khán giả chăm chú nghe câu chuyện về chính họ.
Ramachandran từng nói với tôi: “Tôi thường giải thích hiện tượng này bằng câu chuyện sau: Trong khi chuẩn bị cho một trận đánh, vị tướng chỉ huy nhận được rất nhiều nguồn tin khác nhau. Ông ta có kế hoạch bắt đầu tấn công vào lúc 6 giờ sáng. Vậy là vào lúc 5 giờ 55 phút, ông tập họp toàn bộ chỉ huy và trinh thám viên lại, thông báo rằng trận đánh sẽ nổ ra đúng 6 giờ sáng. Bỗng nhiên, một người lính lên tiếng: Không được rồi. Tôi đếm được quân số kẻ thù lên tới 600 chứ không phải 500. Thông tin chúng ta nhận được không chính xác. Điều mà viên tướng, cũng như bạn, sẽ làm là thét lên,‘Câm mồm’. Bạn sẽ không lật lại tất cả những chiến thuật đã được vạch ra, điều đó khiến bạn phải đánh đổi quá nhiều thứ. Khả năng để tay lính đó nói đúng và tất cả những người còn lại đã sai là bao nhiêu? Thôi, bạn thà phớt lờ thông tin mới còn hơn. Đó gọi là sự phủ nhận, xu hướng không chấp nhận những thông tin đối nghịch với luồng tự sự sẵn có. Nhưng nếu tay lính ấy nói: ‘Đối phương có vũ khí hạt nhân. Tôi đã nhìn qua kính viễn vọng và thấy chúng có vũ khí hạt nhân!’ Vậy thì họa có điên bạn mới tấn công. Bạn sẽ phải nói: ‘Không ổn rồi, tôi sẽ phải thay đổi chiến thuật, phải chuyển sang hướng khác thôi’.”
Theo lời của Ramachandran thì vì là một sinh vật, bạn luôn hướng tới “sự ổn định hành vi”. Bạn không muốn các bộ phận trong hệ thống trở nên hỗn loạn và đi theo các hướng khác nhau. Khi bộ não cảm nhận được rắc rối và sự bất thường, bản năng đầu tiên của bạn sẽ là sử dụng tự sự làm cơ chế phòng thủ trước những hành vi hỗn loạn nhiều rủi ro.
“Bạn không thể đi quá giới hạn”, Ramachandran nói. “Theo như chúng tôi nghĩ, thì tất cả những cơ chế phủ nhận Freud này - sự hợp lý hóa, chứng bịa chuyện, sự phủ nhận, ức chế - hầu hết đều xảy ra ở bán cầu trái của bộ não. Bán cầu não phải sẽ nhận vai trò luật sư của quỷ8 bên trong bạn. Nếu sự phủ nhận trở nên quá đà, nó sẽ đá đít bạn và nói: “Nhìn này, mày đi quá trớn rồi; tốt hơn hết là đối diện với sự thật đi”.
Theo như lời giải thích của Ramachandran, với một số người, bán cầu não phải không có khả năng chống đỡ trước những tự sự dường như kỳ quái được tạo ra bởi bán cầu trái. Tổn thương nghiêm trọng ở bán cầu não phải có thể khiến nó bị vô hiệu hóa và không thực hiện được nhiệm vụ này. Trong những trường hợp đó, bán cầu não trái được thả phanh bịa ra bất kỳ thứ gì nó muốn, và bán cầu não phải sẽ chỉ đơn giản là đồng tình theo mà thôi.
“Bạn cảm thấy rằng tay của mình bị liệt. Bán cầu não trái bèn nhảy vào và nói: ‘Đừng lo, không phải đâu’. Bình thường thì bán cầu não phải sẽ sửa sai và nói: ‘Thôi, chấp nhận đi, ta bị liệt rồi’. Tuy nhiên, trong những trường hợp mà cơ chế này bị rối loạn, bệnh nhân sẽ phủ nhận chứng liệt của mình và phủ nhận luôn việc sở hữu cánh tay đó. Những dạng phủ nhận chúng ta thấy hàng ngày không phải là thứ chỉ có ở các bệnh nhân, mà là với
họ, vì não phải đã tổn thương, chúng bị phóng đại tới mức đáng sợ.
Nếu bạn không bị tổn thương não, bạn sẽ được trải nghiệm thứ mà Ramachandran gọi là “sự phản kháng kéo - đẩy” giữa hai bán cầu. Khi bạn đối mặt với những tình huống càng mới mẻ, thì bán cầu não trái càng cố gắng giải thích nó và tạo ra “cảm xúc nội tại về tự sự”, đồng thời bán cầu não phải cũng sẽ càng cẩn trọng trong việc chỉ ra những điểm vô lý của lời giải thích.
Ví dụ, đây là một tình huống thực sự đã xảy ra trong đời tôi: Anh bạn Devon Laird của tôi đang đánh răng vào một buổi sáng sớm, và từ góc mắt, anh ta thấy trần phòng khách nhà mình bỗng đẻ ra một người đàn ông trưởng thành trần như nhộng. Người đàn ông này ngã sấp mặt trong cơn mưa xốp cách nhiệt và đè lên một chiếc ghế tròn bằng liễu gai. Trần nhà bị thủng và vỡ ra như một bông hoa đang nở. Giữa đám hỗn loạn, Laird sững sờ đứng im trong khi bạn gái anh thì cứ nhằm phía người đàn ông kia mà là hét, yêu cầu hắn phải rời khỏi căn hộ ngay lập tức. Người đàn ông lồm cồm bò dậy, lịch sự dựng thẳng lại chiếc ghế, mở cửa chính và bước ra ngoài. Hắn quay lại hỏi Laird và bạn gái anh rằng liệu họ có thể cho hắn mượn một chiếc quần đùi được không. Điều tiếp theo xảy ra là sự im lặng lúng túng nhất từng xuất hiện trong lịch sử loài người, được phá vỡ bởi một tràng chỉ trỏ và la hét nữa. Nhận ra rằng sẽ không ai cho mượn quần, kẻ phá trần nhà, trong khi vẫn trần như nhộng và được vẽ bóng bởi ánh mặt trời ban mai sau lưng, đã nhanh tay giật một chiếc áo khoác trên giá treo đồ ngay cạnh cửa và chạy mất.
Anh bạn của tôi và người bạn gái nhìn nhau, sửng sốt trước điều vừa xảy ra, xốp cách nhiệt vẫn vương vãi trên sàn, và chờ đợi lời
giải thích. Trong khi họ đang chờ thì bộ não của họ bắt đầu làm điều mà chúng thông thạo nhất: dựng chuyện. Khoảng một giờ sau đó, tôi đứng chung với một nhóm bạn để nghe Laird tường thuật lại câu chuyện này. Thế rồi, tôi đem chuyện của anh ta đi kể cho người khác, và họ lại tiếp tục đi buôn chuyện. Sau mỗi lần, các phỏng đoán cứ thế nhiều lên. Dần dà thì câu chuyện tới tai của đài truyền thông địa phương, sau đó bật nảy lung tung như trong buồng phản âm, càng ngày càng được nhiều người biết tới hơn nữa, cuối cùng thì lên được truyền hình cáp trong chuyên mục Thời sự của những Điều kỳ quặc. Cho tới tận khi câu chuyện này hạ nhiệt, vẫn chưa lời giải thích chính thức nào được đưa ra.
Bây giờ thì chúng tôi đã biết câu chuyện thực sự rồi, và tôi sẽ nói với bạn ngay thôi, nhưng trước hết, hãy cùng đưa ra giả định như chúng tôi đã làm lúc đó.
Ngay sau sự kiện này, tôi nhớ là đã ngồi lại nói chuyện với Laird. Anh ta kể rằng khi đang đứng đó với kem đánh răng đầy trong miệng, đối diện với người đàn ông trần truồng vừa rơi qua trần nhà, suy nghĩ đầu tiên của anh là tên này đang định ăn trộm đồ trong nhà mình. Sau đó, khi họ thấy xe cảnh sát ở bên ngoài tòa nhà và được thông báo rằng hắn đang bị truy nã do vi phạm cam kết tại ngoại, giả thuyết ban đầu nghe lại càng hợp lý. Tôi và Laird đã cùng đưa ra hàng tá kịch bản cho sự kiện đã xảy ra. Có thể là tay này rất giỏi thực hiện những vụ trộm theo phong cách Nhiệm vụ bất khả thi và không muốn quần áo bị vướng vào đinh. Cũng có thể hắn đã sống chui lủi giữa những bức tường nhiều tuần rồi, sống bằng nước mưa và bất kể thứ gì hắn có thể vớ được từ chạn đồ ăn, và hắn cởi quần áo ra vì ở đó quá nóng. Hoặc có thể, hắn đang chạy trốn cảnh sát, nên phải vứt bỏ đi bộ
quần áo tù nhân và chui vào ống thông khí, cuối cùng thì bị ngã khi thực hiện những hành động như đã xem trong phim. Dạo qua chuỗi bình luận và các diễn đàn ngay sau khi vụ việc nổi lên trên mạng Internet, bạn có thể thấy tất cả mọi người đều cùng làm một việc: tạo ra những câu chuyện, cố gắng tìm kiếm lời giải thích. Tất cả những gì chúng tôi có lúc đó là đống hậu quả để lại, và điều đó đã khiến chúng tôi phát điên, bởi chúng tôi có thể sẽ không bao giờ biết được làm thế nào mà người đàn ông đó lại có mặt trên sàn nhà của một căn hộ trên tầng hai, dựng thẳng đồ đạc trong khi không mặc quần áo và người thì dính đầy xốp cách nhiệt. “Chắc chắn là phải có gì đó nữa”, tất cả đều đồng thuận, nhưng thực sự những gì chúng tôi nghĩ là chắc chắn phải có một câu chuyện, một lời giải thích có thể khớp mọi thứ với nhau. Nếu không thì thế giới sẽ không còn ý nghĩa gì nữa.
Giờ hãy nhìn lại câu chuyện mà bạn vừa tạo ra về người đàn ông xuất hiện một cách đột ngột trong tình trạng không mảnh vải che thân từ một lỗ hổng trên trần nhà xem. Chắc chắn đây là một tình huống mới lạ, và, giống như những gì đã xảy ra với chúng tôi, bán cầu não trái của bạn cũng đã ngay lập tức bắt tay vào việc giải thích. Chúng ta gạt bỏ giả định người đàn ông này là một điệp viên đang theo dõi bạn tôi, bởi vì bán cầu não phải cho chúng ta biết rằng câu chuyện đó không hợp lý. Vậy lời giải thích thực sự cho người đàn ông “từ trên giời rơi xuống” này là gì? Hắn ta tên là Patrick Williams, bị kết tội sở hữu ma túy và đã bị phạt tù hai năm, sau đó được phép tại ngoại trong ba năm. Sau đó, bởi vì không tới trình diện nhân viên quản chế đúng thời hạn, hắn đã bị cảnh sát truy nã. Vào cái ngày định mệnh ấy, trong lúc hắn đang mây mưa với bạn gái (hàng xóm kế bên nhà Laird) thì cảnh sát tới gõ cửa. Trong lúc tìm đường tẩu thoát,
hắn nhìn thấy cửa sập ở trần tủ quần áo của bạn gái. Hắn mở cửa và trèo lên ngăn gác xép bé tí tẹo ở trên. Tại đây, hắn đục thủng bức vách mỏng ngăn giữa hai căn hộ. Trong khi luồn lách trên những thanh dầm gỗ để chui sang gác xép của căn hộ bên cạnh, hắn bị trượt chân và ngã lên tấm xốp cách nhiệt đặt giữa hai thanh dầm và phải chịu sức kéo nghiệt ngã của lực hấp dẫn.
Khi lời giải thích này được đưa ra, tất cả những người đang tìm hiểu câu chuyện này đều đã làm điều mà Ramachandran nói rằng chúng ta sẽ làm. Chúng ta nháy hỏi bán cầu não phải: Điều này có nằm trong khoảng giới hạn tự sự mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận không? Có, nó trả lời. Vậy là có, chúng ta chấp nhận câu chuyện đó. Và rồi chúng ta tiếp tục cuộc sống như chưa từng có gì xảy ra.
Như tất cả những người khác, bạn cuối cùng vẫn sẽ tiết giản mọi yếu tố phức tạp của cuộc sống thành hai câu hỏi cơ bản: Chúng ta tới từ đâu, và tại sao chúng ta lại ở đây? Cách trả lời hai câu hỏi này đã tạo ra hạt nhân của các nền văn minh. Các nền văn hóa đặt ra câu hỏi này cho toàn bộ vũ trụ, cho các quốc gia, cho các doanh nghiệp và kể cả đội Nữ Hướng đạo sinh. Một số người vẽ ra câu trả lời về ý nghĩa của sự tồn tại và tin vào nó, trong khi những người khác lại chấp nhận rằng chẳng có câu trả lời thỏa đáng nào hết.
Sự nổi lên của ngành tâm lý học tự sự đã thêm vào câu hỏi cơ bản thứ ba: Tại sao bạn lại muốn biết câu trả lời cho những câu hỏi trên? Tại sao bạn lại tìm kiếm ý nghĩa? Theo lời của nhà tâm lý học Dan McAdams, khi nỗ lực tự sự của bạn không thành, bạn sẽ rơi tự do vào tình trạng bất ổn và chán nản, vô tổ chức và đình trệ. Theo cách giải thích của ông, thì đây chính là lý do tại
sao người ta thường đánh mất bản thân sau khi nghỉ hưu. Thiếu đi một tự sự để gắn kết, những nhu cầu, khát vọng và mục tiêu của họ bị đổ sập. McAdams là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực tâm lý học tự sự, và qua một số cuốn sách của mình, ông đã miêu tả tiến trình vô cùng dễ đoán cho sự hình thành của những câu chuyện tưởng tượng cá nhân và bản chất chung của thần thoại. Theo như ông viết, thuật kể chuyện xuất hiện ở tất cả các nền văn hóa. McAdams cho rằng ý nghĩa quan trọng hơn hạnh phúc, và “để tìm ra ý nghĩa thì phải tạo ra được lối tự sự linh hoạt mang lại tính mạch lạc và hợp lý cho sự tồn tại đầy hỗn loạn của con người”.
Ngành tâm lý học tự sự xoay quanh quan điểm: Bạn không sử dụng logic hay quy trình phân tích kỹ càng để khám phá những bí ẩn của việc bạn là ai và bạn muốn gì. Bạn không đưa ra giả thuyết và kiểm tra giả thuyết đó. Bạn không nghiên cứu, ghi chép, không suy tính về những biến số của cuộc sống và của những con người mà bạn gặp trong đời. Sự khách quan và tính hợp lý có vẻ rất khó tồn tại và phát triển trong hệ sinh thái trí não của bạn. Với bạn, thời gian như một con đường từ quá khứ tới hiện tại, gắn trên đó là tất cả những sự kiện xảy ra trong đời bạn. Bạn tưởng tượng rằng cuộc sống bắt đầu từ một điểm và kết thúc tại một điểm khác, giữa chúng là những chướng ngại vật và đỉnh cao. Bạn cần một người kể chuyện ở trong đầu mình để hiểu được những rung động tạo ra bởi hệ thống các neuron khổng lồ trong não bộ. Bạn tìm kiếm nguyên nhân và hệ quả để có thể giải thích thế giới theo cách có lợi cho mình. Qua lịch sử lâu dài của giống nòi, tự sự đã tiến hóa và trở thành phương pháp tốt nhất để truyền đạt ý nghĩa từ người này sang người khác, và điều đó vẫn đúng ngay cả trong chính câu mà tôi vừa viết.
Tự sự là phương tiện vận chuyển ý nghĩa. Chúng là những thiết bị lưu trữ lịch sử. Chúng sáng tạo nên và duy trì các nền văn hóa, chúng kéo bản ngã ra khỏi mớ ký ức lộn xộn, bất toàn và dễ bị biến đổi. Điều đó giải thích tại sao mọi mặt trong đời sống của loài người đều liên quan tới ý nghĩa, tới nguyên nhân và hệ quả, và đều phụ thuộc chặt chẽ vào tự sự. Ví dụ như việc các phim tài liệu, sách báo và phim ảnh về Thế chiến thứ Hai đều kể một câu chuyện với khởi đầu và kết thúc rõ ràng. Thực tế thì, không thứ gì có khởi đầu và kết thúc cả. Thế chiến thứ Hai là một mê trận rộng lớn và rắc rối của nguyên nhân và hệ quả, một vũng lầy của các dòng hợp lưu dày đặc với vô số những điều kiện ban đầu và kết quả thu được, mà cho tới nay, vẫn âm vang trong tất thảy mọi thứ chúng ta làm trên hành tinh này. Tự sự tốt sẽ tạo được con đường xuyên qua đám rối rắm đó, và trên con đường này, mọi thứ trở nên có nghĩa. Đây chính là nền tảng cho thiên hướng tự sự của bạn. Khi có cơ hội tìm hiểu cuộc đời của chính mình, bạn sẽ chọn cách vừa kể vừa nghe mọi chi tiết dưới dạng tự sự. Bạn tự đặt mình làm nhân vật chính. Bạn nhìn cuộc đời theo từng giai đoạn như là những chương hồi, và quá khứ là một chuỗi những chiến thắng và thất bại trước các yếu tố phản diện lớn nhỏ. Cuộc sống có nghĩa khi bạn nhìn về quá khứ, bởi bạn có thể chỉnh sửa nó thành một câu chuyện. Quá khứ dường như rất đơn giản, và nhờ vào tự sự, bạn nghĩ rằng nó cũng dễ đoán. Đây chính là thứ mà các nhà tâm lý học gọi là thiên kiến nhận thức muộn (hindsight bias). Trong các nghiên cứu, những người được yêu cầu viết lại dự đoán của mình về những sự kiện thời sự lớn thường cho rằng mình đã dự đoán chính xác hơn so với thực tế. Bởi vì bạn hiếm khi tự ghi chép những dự đoán của mình, nên bạn cũng chẳng mấy khi nhận ra chúng sai lầm tới
mức nào. Hệ quả là bạn có xu hướng quá tin tưởng vào những dự đoán trong hiện tại của bản thân.
Thiên hướng tự sự khiến bạn gần như không thể thu thập thông tin về thế giới bên ngoài mà không sắp xếp nó về dạng nguyên nhân và hệ quả. Hầu hết các loài động vật chỉ đơn thuần làm những việc chúng vẫn làm. Hải sâm và chuột chũi không nghĩ về hành động của mình, chúng không cảm nhận được sự xấu hổ, lòng tự hào hay nỗi tiếc nuối. Bạn thì có, kể cả khi không vì lý do gì. Nếu nhìn lại các hành vi, suy nghĩ hay cảm xúc của chính mình mà bạn cảm thấy khó hiểu, bạn sẽ có ước muốn mãnh liệt là phải tìm ra nguyên nhân tại sao, và lời giải thích đó có thể ảnh hưởng tới các hành vi, suy nghĩ và cảm xúc của bạn trong tương lai. Để làm được điều này, cách phổ biến nhất là thông qua sự hợp lý hóa sau sự việc (post hoc rationalization): hiện tượng đi tìm lời giải thích sau khi mọi chuyện đã xong xuôi. Lời giải thích này đủ hợp lý để bạn tiếp tục cuộc sống mà không phải ngập ngừng suy nghĩ về động cơ của bản thân. Giả như giữa ngày hè nóng nực, bạn hùng hục cả ngày để giúp ông bạn thân chuyển tới căn hộ mới thậm chí còn chưa được mắc điện, chuyện bạn muốn một lon bia lạnh là rất dễ lý giải. Bạn nóng chết đi được. Và thật tuyệt khi được uống bia giữa thời tiết nóng nực với bạn bè xung quanh. Nhưng nếu chúng ta có thể bấm nút “Tua lại” và theo dấu hàng triệu yếu tố đã ảnh hưởng lên tâm trí và dẫn tới quyết định đề nghị mua bia, bạn có thể thấy mình đã ngồi xem đoạn quảng cáo bia rất buồn cười tối hôm trước, hoặc đã đi ngang qua tấm biển hiệu to đùng sủi bọt kỳ dị, cũng có thể là lần cuối đi siêu thị, bạn đã nhìn thấy một kim tự tháp xếp từ những chai bia; hay cũng có thể là lúc tới thăm mẹ, bà đã bắt bạn phải ngồi xem trọn bộ sưu tập DVD Meercat Manor, và không hiểu vì sao, chữ Meercat khiến bạn
nghĩ ra từ Beerbath (bồn tắm bia), vốn chưa có trong từ điển, thứ mà bạn rất muốn được thả mình vào sau một ngày bê vác bàn ghế mệt mỏi. Dịch từ tiếng Latin thì “post hoc ergo propter hoc” có nghĩa là sau khi điều này xảy ra, bởi vậy, nguyên nhân là do điều này”. Các thiên hướng tự sự khiến bạn không thể ngăn trí não kết nối các điểm và sáng tạo ra những câu chuyện giải thích cho không chỉ những thứ tầm thường (mong muốn uống bia lạnh) mà còn cả những thứ cao siêu (hiến tế trinh nữ để mùa màng bội thu). Ở dạng thuần túy nhất, bạn sử dụng sự hợp lý hóa sau sự việc để giải thích tại sao sự kiện này lại tiếp nối sự kiện trước đó. Nếu bạn ăn bánh taco nhân mực và bị đau bụng dữ dội, câu chuyện sẽ tự viết nên chính nó: Tôi bị đau bụng vì ăn taco nhân mực. Nhưng trên thực tế, đó lại là một giả định thiếu chính xác. Bạn không thể biết chắc cái gì đã khiến bạn bị đau bụng, nhưng vì sự hợp lý hóa sau sự việc và thiên hướng tự sự, có thể bạn sẽ chẳng bao giờ dám đụng vào mấy con mực ống trên xe bán taco nữa. Các câu chuyện có tính chất tuyến tính, và điều đó giúp bạn hiểu được những điều đang xảy ra xung quanh. Bạn thích nguyên nhân và hệ quả rõ ràng, nhưng không phải cứ bởi vì vụ mùa ngô bội thu sau giải đấu bóng da dê thường niên hay sau nghi lễ hiến tế chặt đầu, thì có nghĩa là chúng liên quan tới nhau.
Cũng tại thiên hướng tự sự, thế giới khó có thể có ý nghĩa trừ khi những yếu tố tham gia được coi là các nhân vật. Theo lẽ tự nhiên, các nhân vật tuyệt vời phải có những phẩm chất của con người, nếu không thì chúng sẽ mất đi ý nghĩa. Vậy nên, khi bạn tự xây dựng những câu chuyện, bạn cũng thường nhân cách hóa động vật, các dụng cụ làm bếp hay cảnh vật sao cho phù hợp.
Thiên hướng tự sự tỏa sáng nhất là trong những khoảnh khắc tự nghiệm về bản thân, khi bạn tự ngẫm về nhân vật trung tâm trong câu chuyện: chính bạn. Bạn ý thức vô cùng rõ ràng rằng bạn là bạn chứ không phải là tay vô gia cư dùng túi nilon làm quần lót sống ở ga tàu điện ngầm. Ý niệm về ranh giới cá nhân - rằng có tồn tại nơi mà bạn kết thúc và thế giới bên ngoài bắt đầu, và rằng bạn đang kiểm soát hành vi của chính mình chứ không phải đang bị điều khiển bởi một sinh vật ký sinh ngoài hành tinh, rằng câu chuyện của bạn là của bạn mà thôi - tất cả những điều này kết hợp với nhau trong một khối giả định mà bạn thường gọi là "bản ngã".
Vậy thì có thể bạn sẽ thấy sửng sốt khi biết rằng ngành thần kinh học và tâm lý học đã hợp tác với nhau trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, sử dụng sức mạnh chung để tiến tới một kết luận hết sức kỳ lạ và đáng sợ. Bản ngã không có thật. Nó cũng chỉ là một câu chuyện như tất cả những thứ khác, được tạo ra bởi thiên hướng tự sự của chính bạn. Nói cho cùng thì bạn cũng chỉ là một tập hợp của những nguyên tử. Khi bạn ăn một chiếc bánh pudding va-ni, thứ vốn cũng chỉ là một đống các nguyên tử, về cơ bản, bạn cũng chỉ đặt những nguyên tử mới đó vào cạnh những nguyên tử trong cơ thể và đại chúng đổi chỗ cho nhau. Nếu mọi thứ diễn theo một chiều hướng khác, vào cái “ngày hôm đó”, khi mẹ bạn uống đến ly rượu vang thứ hai, những nguyên tử đã tạo nên xương và da bạn ngày hôm nay có thể đã bị sắp xếp khác đi để tạo ra một thứ hoàn toàn khác. Carbon, ôxy, hyđrô, cho tới tận vanadi, molypđen và asen - tập hợp những nguyên tố tạo nên cơ thể bạn - có thể bị lấy ra, thu thập lại, và tái chế để tạo nên những thứ khác, nếu thứ công nghệ không tưởng đó thực sự tồn tại.
Giống như những viên gạch trong hộp đồ chơi Lego của vũ trụ, những thành phần cơ bản của vật chất có thể sắp xếp để tạo nên mọi thể loại hình thù, từ núi non cho đến con khỉ. Khi nghĩ về điều này đủ lâu, bạn có thể sẽ vấp phải những câu hỏi được đưa ra bởi nhà triết học Derek Part. Nếu chúng ta tạo ra được một chiếc máy có thể thay thế từng nguyên tử một trong cơ thể bạn với nguyên tử từ cơ thể của Edward James Olmos9, thì tới mức độ nào bạn sẽ không còn là bạn và Olmos sẽ không còn là Edward James nữa? Trong quá trình đó, liệu bạn có mất đi tâm trí của mình và nhận được tâm trí của ông ấy? Ở khoảng giữa của quá trình, liệu có một Edward James Almost10 xuất hiện? Vào lúc nào thì những suy nghĩ, ước mơ và ký ức của mỗi người sẽ bị đổi cho người còn lại? Cảm giác kỳ lạ có được từ thí nghiệm giả tưởng này hé lộ một điều về cách mà bạn nhìn bản thân và người khác: Bạn sở hữu một cảm giác nội tại cho rằng mỗi người phải mang trong mình thứ gì đó đặc biệt, và thứ đặc biệt nhất nằm trong chính bản thân bạn. Ngay cả khi bạn là người theo thuyết duy vật cuồng nhiệt nhất, thì bạn cũng không thể tự ngăn mình có chút cảm giác về thứ gì đó tồn tại bên dưới lớp da thịt, thứ gì đó không được tạo nên từ các nguyên tử. Đối với bạn, con người là sinh vật sở hữu thứ tinh túy gì đó ấy, chứ không chỉ thuần túy là cái hộp tổng hợp các bộ phận cơ thể. Thế nhưng, cảm giác đó lại không hề tồn tại lúc bạn mới chào đời.
Như nhà tâm lý học Bruce Hood đã viết trong cuốn sách của mình - The Self Illusion (Ảo giác về bản ngã), bạn có một câu chuyện gốc và một cảm giác cho rằng hành trình từ thời thơ ấu cho tới bây giờ đi theo một đường thẳng, với những đoạn dốc lên xuống gập ghềnh đã tạo nên con người bạn ngày hôm nay. Trẻ em không có những thứ này. Cảm giác này được tạo nên từ những sự kiện mà bạn có thể nhớ lại và đặt vào dòng thời gian
của mình. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ lại có thứ mà Hood gọi là “tri thức Vô thức”, nghĩa là chúng chỉ đơn giản là có khả năng nhận biết các hình mẫu và tạo nên những kết nối với các kích thích. Không có trí nhớ phân đoạn thì sẽ không có tự sự; và không có tự sự thì sẽ không có bản ngã. Theo lời của Hood thì trong khoảng thời gian hai đến ba tuổi, cảm giác về bản ngã bắt đầu được nhen nhóm, và sự trỗi dậy này khớp với khả năng kể chuyện về bản thân dựa trên ký ức. Ông có đề cập tới một nghiên cứu được thực hiện bởi Alison Gopnik và Janet Astington vào năm 1988. Trong thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã đưa cho những đứa trẻ ba tuổi một hộp kẹo, nhưng lũ trẻ đã rất ngạc nhiên khi mở hộp và thấy trong đó là bút chì thay vì kẹo ngọt. Khi họ hỏi từng đứa trẻ về việc “theo chúng, đứa trẻ tiếp theo sẽ nghĩ là trong hộp có gì”, câu trả lời thường là bút chì. Những đứa trẻ này chưa biết người khác cũng có ý thức riêng, vậy nên chúng cho rằng mọi người đều biết điều mà chúng biết. Một khi bạn nhận biết được điều này, thì khái niệm về những tâm trí khác trở nên rất mạnh mẽ, tới nỗi bạn thấy nó hiện diện ở khắp nơi: cây cỏ, máy tính hỏng, con thuyền có tên gọi. Mọi thứ đều trở nên dễ hiểu hơn khi bạn cho rằng chúng có một dạng bản ngã nào đó, kể cả trong trường hợp bạn coi việc đó chỉ là một trò đùa. Cảm giác này mạnh mẽ tới nỗi trong suốt chiều dài lịch sử, con người đã cho rằng những hiện vật tự nhiên như Mặt Trời, Mặt Trăng, gió và biển cũng tồn tại ý thức. Từ cảm giác về bản ngã của bản thân và của những thực thể khác, chúng ta có được những tự sự đã gắn kết xã hội. Những câu chuyện thần thoại vĩ đại của con người cổ xưa và những câu chuyện hiện đại được tạo ra để khiến mọi thứ ở tầm vĩ mô trở nên có ý nghĩa. Thiên hướng tự sự mạnh tới nỗi con người sống chết vì những
câu chuyện đó, thậm chí cống hiến cả cuộc đời mình (và tất nhiên, cũng đoạt đi các sinh mạng khác) vì chúng.
Bài học mà bạn nên rút ra từ những người bị ảo tưởng ở Ypsilanti, những kẻ bịa chuyện, những người phủ nhận cánh tay của chính mình, những đứa trẻ tin rằng mọi người đều biết điều mà chúng biết, là nếu thiếu thiên hướng tự sự, bạn sẽ mất phương hướng. Hãy nhớ điều này: Tâm trí của bạn là kết quả của những quá trình sinh học - những cơn bão hóa học và điện từ chạy qua một mạng lưới các tế bào rối rắm chằng chịt với các mạch máu và những thứ mà bạn sẽ không muốn động vào. Đó chính là bạn, và đó là thứ đang tạo nên các dòng suy nghĩ, nhưng lại không phải thứ nội quan mà bạn thấy. Bên trong chính mình, bạn thấy một vở kịch. Bạn thấy sự lãng mạn và những bi kịch, những cuộc phiêu lưu và những vòng xoáy định mệnh, và bạn ở chính giữa trung tâm. Tại buổi hội thảo Being Human (Làm người) tại San Francisco, nhà thần kinh học David Eagleman đã nói với khán giả rằng sau cả một đời thiền định, các nhà sư Phật giáo cũng mới chỉ đặt được một ngón chân vào “đại dương của sự vô thức”. Đi sâu hơn nữa, theo ông miêu tả, sẽ giống như việc đi đo điện trở của máy tính để hiểu một trò đùa trên Youtube vậy. Tất cả những thứ rắc rối, cầu kỳ được tạo ra từ bộ não ngày càng trở nên phức tạp hơn qua quá trình tiến hóa. Chúng cần phải được tóm gọn lại, và tự sự là giải pháp hoàn hảo. Trong cuốn sách Incognito (Kẻ ẩn danh) của mình, Eagleman đã nói ý thức chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong toàn bộ bộ não, và khi một ý tưởng bật ra trong tâm trí, phần ý thức này thường nhận hết công lao cho một thứ vốn phát triển thầm lặng từ đại dương vô thức, thậm chí có thể là qua quá trình kéo dài hàng năm trời. Bạn không thể tiếp cận sự thực này, nhưng điều đó không ngăn bạn tự tạo ra một câu chuyện để giải thích nó.
Trong câu chuyện đó, bạn nhầm lẫn giữa sự sáng tạo và nhận thức. Trên thực tế, phần có khả năng nhận thức trong bạn không phải là chủ nhân duy nhất của bộ não. Theo lời của nhà tâm lý học George Miller thì bạn không trải nghiệm việc suy nghĩ, thứ mà bạn trải nghiệm là kết quả của việc suy nghĩ.
Ta cũng nên nhớ rằng phương thức tự sự này giữ cho tâm trí được ổn định, và nó gần như bất khả xâm phạm, kể cả trước những cú tấn công trực diện. Nếu ba người đàn ông ngồi đối diện nhau còn không thể thẳng thắn đồng tình về việc ai trong số họ mới thực là Jesus, thì cơ hội để bạn thuyết phục người khác qua mạng Internet về một vấn đề liên quan đến hệ thống niềm tin của họ như tôn giáo, nghệ thuật, chính trị hay bất kể điều gì khác cũng là rất rất nhỏ. Những tự sự cá nhân và thần thoại riêng của mỗi người không thể thay đổi hoàn toàn ngay lập tức; bởi vậy, họ không thể chấp nhận quan điểm khác chỉ sau một cuộc tranh luận. Nếu tâm trí có khả năng thay đổi thì nó cũng sẽ chỉ có thể thay đổi từ từ. Như tác giả của cuốn O Main Street (Ngoài đường chính) Michael Perry đã viết: “Chúng ta bồi đắp sự thật như bồi đắp phù sa. Nó rèn giũa chúng ta như gió mài sa thạch”.
Về khía cạnh tồn tại, bạn bấu víu vào một tự sự nội tại nhất định, một câu chuyện được xây dựng từng phút một để bạn tự đảm bảo rằng mình hiểu những đang diễn ra. Hàng ngàn thông tin được đóng khung trong những câu chuyện như vậy, và lẽ dĩ nhiên, bạn thích điều đó. Bạn có xu hướng lý giải thế giới bằng cách vô thức tạo ra một câu chuyện, và rồi, bạn tiếp tục lôi nó ra khi phải giải thích những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi, cũng như tất cả những điều khác trong hành trình đi tìm lý do mình có mặt trên đời. Ngay cả lúc này, khi đang ngồi đây và đọc sách,
nếu bị ép buộc, bạn vẫn hoàn toàn có thể thêu dệt một câu chuyện với khởi đầu, phần thân và kết thúc. Sẽ có nguyên nhân và hệ quả, một người dẫn chuyện, một nhân vật chính, v.v. Hơn thế nữa, bạn còn có khuynh hướng tin và chấp nhận mọi thứ dễ dàng hơn khi nó được truyền đạt dưới hình thức chuyện kể. Dữ liệu thô có thể chính xác hơn, nhưng bạn thích đơn giản hóa mọi thứ và tiếp tục cuộc sống của mình hơn là ngồi cả ngày ngâm cứu bảng biểu và những dữ liệu trực quan. Thứ có thể khơi dậy xúc cảm dễ lọt vào đầu bạn hơn những phân tích thống kê. Một bài giảng được cài cắm những câu chuyện đùa và những biến cố bất ngờ sẽ dễ làm bạn rung động hơn bài giảng được truyền tải qua những trang PowerPoint khô cứng. Sự thật và tính chuẩn xác thường thua cuộc trước những tường thuật hấp dẫn - kể cả khi nó bắt nguồn từ chính cái đầu của bạn. Qua phần còn lại của cuốn sách này, bạn sẽ nhận thấy thiên hướng tự sự sẵn sàng tái xuất ngay khi bạn cố gắng để bớt khờ khạo hơn. Bất cứ lúc nào mọi thứ trở nên khó hiểu một chút, bạn lại thay thế nỗi lo âu của mình bằng sự hiểu biết giả tạo dưới dạng một câu chuyện kể.
Bạn không chỉ tìm kiếm thức ăn và trốn tránh hiểm nguy, bạn không chỉ phản ứng trước những kích thích. Bạn nhớ lại và tường thuật quá khứ dưới dạng một phiên bản tốt hơn, bạn cắt nghĩa và sắp xếp lại, vót tỉa hoặc chặt cụt, tái tạo và hợp lý hóa. Khi nhìn một cách thấu đáo, thì bản thân bạn không hơn gì một câu chuyện câu chuyện giải thích về ký ức của bạn cho bất kỳ ai muốn nghe. Ba vị Chúa ở Ypsilanti sẽ là ai nếu họ không có những câu chuyện? Làm sao họ có thể chịu đựng được sự điên rồ của chính mình? Bạn có thể không tin rằng Jesus đã tái thế, những câu chuyện của bạn cũng cùng chung mục đích với câu
chuyện của họ mà thôi: Nó giữ cho các chương hỏi trong cuốn sách về cuộc đời bạn được gắn chặt với nhau.
Bạn và ba vị Chúa ở Ypsilanti chỉ khác nhau ở chỗ sự ảo tưởng của họ dễ bị lật tẩy hơn. Bộ máy trí óc của họ có thể đã không còn hoạt động trơn tru nữa, nhưng chiến thuật tìm hiểu những gì đang xảy ra xung quanh của họ thì không khác gì bạn cả. Họ không chùn bước và hoảng hốt. Họ tự bảo vệ danh tính và quan điểm của mình. Nhìn thực tại qua một thấu kính vỡ nát, họ vẫn tạo ra những lối tự sự, những câu chuyện để nói với bản thân và người khác về việc họ là ai. Đúng là những câu chuyện này đặt họ vào vai Người Con của Chúa Trời, nhưng nó cũng không khác biệt lắm với vai diễn mà bạn tự tạo ra cho bản thân, chỉ là nó quá vô lý thôi. Và cũng giống như bạn, ba con người tội nghiệp này không hề biết rằng họ đang ảo tưởng, rằng họ đang bị đánh lừa bởi chính bộ não đã phục vụ họ rất tốt trong những năm trước đó. Cũng như bạn, kể cả khi đã thấy được sự ngụy biện điên rồ của bản thân, họ vẫn không nhận ra sai lầm trong quan điểm và hệ thống niềm tin của mình. Bạn và họ cũng có thói quen phớt lờ những nhận thức không rõ ràng. Và cũng như họ, bạn không ý thức được mức độ thiếu nhận thức của bản thân.
Ngụy biện dựa vào niềm tin phổ biến
... Chương 2 ...
BẠN VẪN TƯỞNG:
Một vấn đề nhận được sự đồng thuận càng cao thì càng có nhiều khả năng nó là chính xác.
SỰ THẬT LÀ:
Một quan niệm không thể trở nên chính xác hơn chỉ vì nhiều người cùng tin vào nó.
Shakespeare từng viết rằng bạn là đỉnh cao của các loài động vật, với lý trí và năng lực vô biên. Nhưng ông đã viết như vậy trong thời kỳ mà giới y sĩ cho rằng cơ thể người chứa đầy mật đen, mật vàng, đờm dãi cùng với máu mủ, và tất cả mọi vấn đề về sức khỏe và bệnh tật phụ thuộc vào sự tương tác giữa các chất này với nhau. Cảm thấy lờ đờ chậm chạp ư? Chà, đó là bởi vì bạn đang có quá nhiều đờm. Bị cảm sốt à? Chắc là bạn đang bị thừa máu đó, bạn cần tới gặp thợ cạo để rút bớt ra đi. Đại thi hào với những tác phẩm vĩ đại nhất trong văn học Anh tin rằng bạn có thể chữa dứt con sốt bằng một con dao.
Ở thời đại của chúng ta, có thể bạn cảm thấy thỏa mãn khi ngồi trên máy bay và hiểu rằng giống loài của mình đã làm chủ bầu trời. Nhưng để tôi nhắc bạn nhớ, chiếc máy bay có động cơ đầu tiên được cất cánh từ một đất nước từng không cho phép phụ nữ bầu cử, và rất nhiều người từng tin rằng phụ nữ không nên có quyền cơ bản đó. Bạn có thể ngắm nhìn những dải ngân hà xa xôi và tự tán thưởng việc chỉ trong vòng chưa đầy sáu mươi
năm, con người đã phát triển từ máy bay lên tàu vũ trụ. Nhưng đừng quên là giữa khoảng thời gian đó, hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc đã xảy ra và vô số cuộc thi sắc đẹp trẻ em đã được tổ chức. Rất nhiều quan niệm từng được con người trong quá khứ tin vào mà ngày nay đã bị chúng ta gạt bỏ. Niềm tin là thứ rất mong manh, và đó là lý do tại sao hầu hết mọi người đều bảo vệ nó hết sức cẩn thận.
Dù sao thì, nếu so sánh với những người anh em nối khố từ thời cổ đại, thời kỳ bạn đang sống quả thực rất tuyệt vời. Có lẽ bạn đang để trong túi quần một chiếc siêu máy tính, và khác với hầu hết những thế hệ tổ tiên, bạn chắc hẳn không bao giờ phải lo về thức ăn hay nơi trú ẩn. Bạn không đi ngủ mỗi đêm với câu hỏi canh cánh là liệu sáng mai mình có tỉnh dậy trong miệng một con sư tử hay không. Nhìn mọi việc theo hướng này, so với tổ tiên của loài người, bạn có thể tự cho mình là một thiên tài trong xã hội hiện đại. Gượm chút đã. Nếu ngay lúc này bạn bị ném ngược dòng thời gian về thời Trung cổ và thấy mình đang đứng giữa vũng lầy ở một ngôi làng đông đúc, thì bạn có thể sử dụng những thành tựu gì từ tương lai để hỗ trợ những người ở đó? Sự tiến bộ của khoa học và y dược, những bước tiến nhảy vọt về công nghệ - bạn có thể truyền đạt bao nhiêu cho một nhà giả kim hoặc một thầy bói lửa ham học? Kể cả đó là một kỹ sư hay một nhà hóa học đi chăng nữa, bạn cũng không thể tạo nên một chiếc Roomba11 từ đôi bàn tay trắng. Bạn có lẽ sẽ bắt đầu bằng việc đào mộ để chôn xác chết và lập trang trại để chăn nuôi gia súc trong tuần đầu tiên. Nhưng chắc là bạn sẽ chẳng thể sáng chế ra được máy tỉa hột bông hay đầu máy hơi nước đâu. Và bạn cũng chẳng thể chữa trị hết bệnh tật cho người dân ở đó. Điều khả dĩ nhất mà bạn có thể làm là chia sẻ cho họ về lợi ích của việc giữ vệ sinh sạch sẽ. Bạn thấy đó, rất nhiều trong số
những thứ mà bạn tưởng là bằng chứng cho sự thông minh sáng dạ của mình thực chất chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Nếu có thể ấn nút “chơi lại” từ thời Đồ Đá, bạn cũng sẽ thấy mình không khác gì nhiều so với con người của 10,000 năm trước. Nếu hành tinh này trở thành hành tinh chết sau chiến tranh hạt nhân, liệu bạn có thể dùng kỹ năng hay kiến thức gì để cứu giúp những người sống sót? Bạn thực sự hiểu được bao nhiêu phần của cuộc sống hiện đại?
Cô bạn Susannah Gregg của tôi từng làm giáo viên tiếng Anh tại Hàn Quốc. Tại đó, cô ấy lần đầu được nghe tới khái niệm “chết vì gió quạt”, một quan niệm rất phổ biến của dân Hàn. Họ cho rằng quạt điện là một trong những sáng chế chết chóc nhất lịch sử nhân loại. Hôm đó, cô ấy đang chuẩn bị ra ngoài uống bia với một người bạn, thì anh ta chợt tỏ vẻ sửng sốt khi thấy cô bạn của tôi vẫn để quạt điện chạy dù trong phòng có con thỏ cưng. Anh này, một cử nhân đại học hai mươi tám tuổi, nhất quyết không chịu rời khỏi căn phòng cho tới khi bạn tôi tắt quạt. Theo như lời giải thích của anh, thì mọi người ở đây đều biết rằng không được phép để quạt điện chạy trong phòng đóng kín. Đó là mối nguy hiểm chết người. Anh ta đã thực sự kinh ngạc khi thấy cô bạn của tôi không hề biết điều đơn giản và vô cùng nguy hiểm này. Susannah, lúc đầu, tưởng anh ta đang đùa. Phải mất tới vài lần trò chuyện, cô mới thuyết phục được anh bạn là điều đó không đúng, và ở đất nước của cô, hay nói đúng hơn là hầu hết các nước trên thế giới, không ai tin chuyện này cả. Susannah đã tránh được lỗi ngụy biện dựa vào niềm tin phổ biến, không phải bởi vì cô thông minh hơn anh chàng kia, mà bởi vì cô đã từng trải qua “thí nghiệm” để chứng minh rằng đó chỉ là chuyện hoang đường. Cô đã nhiều lần ngủ trong một căn phòng với quạt điện chạy cả đêm mà vẫn còn sống để tranh luận với người
bạn của mình. Từ sau sự kiện này, cô đã hỏi thêm bạn bè và đồng nghiệp xung quanh về những chiếc quạt điện và đã thu được những phản ứng trái nghịch. Một số người cho rằng đó là chuyện vớ vẩn, số khác lại tin tưởng tuyệt đối về cái chết do quạt điện. Mặc cho sức mạnh phá vỡ những tin đồn nhảm của vài lượt tìm kiếm Google, niềm tin cho rằng bạn không được ngủ quên hoặc ở quá lâu trong phòng có quạt điện đang chạy đã bén rễ quá sâu trong tâm thức người Hàn Quốc, tới mức mà Susannah kể với tôi rằng tất cả những sản phẩm quạt điện được bán ở đất nước này đều có kèm chức năng hẹn giờ tắt. Niềm tin chung này mạnh mẽ và sâu rộng tới nỗi cho các nhà sản xuất buộc phải chế tạo thêm công tắc an toàn để thỏa mãn nỗi sợ vô căn cứ của hầu hết các thượng đế.
Những người cho là Trái Đất nằm trên lưng một con rùa khổng lồ, hoặc nghĩ rằng việc nhảy múa có thể giúp trời mưa có bộ não gần giống như của bạn, hay nói cách khác, bản vẽ thiết kế cho bộ não trong bộ gen của họ cũng giống bản vẽ mà bạn có. Vậy nên một đứa bé được sinh ra vào thời của họ cũng giống một đứa được sinh ra ở thời của bạn. Sự tiến hóa diễn ra chậm tới nỗi chưa có nhiều sự thay đổi trong cấu trúc não bộ để phân biệt giữa bạn và một người sống từ 10.000 năm trước. Tuy vậy, khi nhìn lại những con người thời đó, bạn sẽ dễ dàng bật cười trước những niềm tin ngớ ngẩn của họ. Từ những vị thần ngồi trên cỗ xe ngựa kéo rực lửa cho tới những con yêu tinh tí hon nướng bánh quy trong gốc cây, tổ tiên của bạn tin vào đủ thứ vô nghĩa, tất cả là do hệ thống lý luận đầy lỗ hổng mà bạn vẫn đang sử dụng ngày nay. Thêm nữa, họ cũng bị thôi thúc bởi khao khát giải nghĩa thế giới xung quanh và trả lời câu hỏi cổ lỗ sĩ: “Chính xác thì điều gì đang xảy ra?” Thay vì để câu hỏi đó lởn vởn trong không trung, tổ tiên của bạn thường cứ thế mà trả lời luôn, và
họ tiếp tục trả lời đi trả lời lại câu hỏi đó với những ý tưởng mới, nhưng cũng không kém phần ngớ ngẩn.
Một trong những chướng ngại khó vượt qua nhất mà con người phải đối mặt kể từ khi biết cách đẽo đá làm mũi giáo là trục trặc nhỏ trong tâm trí mang tên sự ngụy biện dựa vào niềm tin phổ biến. Trong tiếng Latin, nó được gọi là argumentum ad populum, có nghĩa là “lập luận dựa vào mọi người”, chỉ cái tên thôi đã cho thấy đó là điều mà giống loài chúng ta đã để tâm tới từ nhiều đời nay. Lối ngụy biện này hoạt động như sau: Nếu hầu hết mọi người tin rằng điều gì đó là đúng, thì nhiều khả năng, bạn cũng tin điều đó là thật ngay khi nghe đến nó lần đầu tiên. Sau đó, bạn sẽ tiếp tục truyền bá niềm tin sai lầm này, và cứ thế, nó lan rộng ra. Vốn là sinh vật có tính xã hội cao, điều đầu tiên bạn làm khi nhận công việc mới, nhập học tại trường mới, tới một đất nước mới, hay trong bất kỳ tình huống mới lạ nào, là tìm tới sự trợ giúp của những người đã thân thuộc với môi trường này để nhanh chóng làm quen, để hiểu được cách làm việc sao cho hiệu quả, tìm được chỗ có đồ ăn ngon, hoặc để tránh những cử chỉ có thể khiến bạn bị chặt đầu. Vấn đề nằm ở chỗ, thông tin bạn nhận được phụ thuộc vào những ý kiến vốn dựa trên những thứ như sự phục tùng, cảm xúc, phong tục tập quán hay tính đại chúng. Nếu bạn từng học trung học, đến các câu lạc bộ đêm, hay tham dự một đại nhạc hội, hẳn bạn cũng biết những thứ phổ biến chưa chắc đã tốt hoặc đúng. Đó là chướng ngại chúng ta không thể vượt qua, nhưng ít nhất là giờ thì chúng ta đã có những chiến thuật để đối phó với chúng.
Trước khi có những phương thức để kiểm tra thực tại, thì sự thật luôn là một con cá trơn tuột, và đó là lý do tại sao tổ tiên của bạn lại ngớ ngẩn như vậy. Tôi không chỉ nói tới mấy tên đập
đá bôm bốp cả ngày đâu, mà là tất cả bọn họ, kể cả những thầy y và các triết gia. Trên thực tế, họ ngớ ngẩn tới nỗi trong cả một thời kỳ rất dài, quá trình phát triển trí thông minh của loài người đã diễn ra vô cùng chậm chạp, vòng vo và hết sức đáng ngờ. Chuyện cứ tiếp diễn như vậy mãi cho tới khi họ sáng tạo ra và sử dụng một thứ công cụ hữu ích giúp đào đường chui ra khỏi cái hố tăm tối của sự xuẩn ngốc.
“Cái hố” ở đây là phép ẩn dụ cho “sự ảo tưởng”. Ông cố-cố-cố-nội của bạn không phải đã suốt ngày ngã xuống hố, ít nhất là cũng không ngã nhiều tới nỗi khiến ta phải viết hẳn một chương sách về điều đó. “Công cụ” ở đây cũng là một phép ẩn dụ. Ý tôi đang nói tới phương pháp khoa học.
Tổ tiên của bạn đã sáng chế ra phương pháp khoa học, bởi sự ngụy biện dựa vào niềm tin phổ biến đã khiến chiến thuật tìm hiểu thế giới vốn được cài sẵn trong não bạn trở nên vô cùng tồi tệ và dễ mắc lỗi. Tại sao ong lại thích hoa? Điều gì tạo nên tuyết? Trẻ con tới từ đâu? Mỗi một bộ lạc, thành phố hay quốc gia lại có những lời giải thích riêng cho các hiện tượng này, và chúng đều có sức thuyết phục như nhau, kể cả có là hoàn toàn bịa đặt. Tệ hơn nữa, một khi những cách giải thích này được đan dệt vào tấm vải văn hóa thì nó sẽ trở thành lời giải thích chính thức cho nhiều thế hệ. “Tiếng sấm là gì?”, một đứa trẻ có thể hỏi. “À, đó là tiếng một con cua tuyết khổng lồ trên trời vừa ngã khỏi giường thôi”, một thầy phép có thể sẽ giải thích như vậy, và có lẽ lời giải thích đó đủ cho tới khi mọi người sinh con đẻ cái rồi chết vì bệnh lị. Cái vòng luẩn quẩn của sự hạn chế về kiến thức cứ mãi xoay vòng cho tới khi phương pháp khoa học vào cuộc. Mà kể cả thế, thì vẫn còn tồn tại nhiều góc tăm tối mạng nhện giăng đầy cần bị quét sạch khỏi tâm thức chung của xã hội.
Trước khi có khoa học tiêu chuẩn, một số người vô cùng thông minh cũng từng tin vào những điều cực kỳ ngớ ngẩn. Vào cùng khoảng thời gian mà Johann Sebastian Bach đang mải mê sáng tác các bản giao hưởng vĩ đại, nhiều nhà khoa học cho rằng mọi thứ mà bạn có thể đốt được đều chứa “chất cháy”, và khi bạn đốt những thứ đó, chất cháy này sẽ thoát ra ngoài không khí. Nếu bạn đặt một thanh củi đang cháy vào trong một chiếc nồi và lấy vung đậy lại, ngọn lửa sẽ bị dập tắt bởi vì không khí chỉ có thể chứa được một lượng chất cháy nhất định trước khi bão hòa. Ở trong không gian thoáng đãng, thanh củi sẽ cháy hết thành tro và đó là, theo như cách giải thích của họ, khi nó mất hết chất cháy. Quan niệm này tồn tại trong khoảng một thế kỷ trước khi bị dập tắt bởi những cú tấn công không ngừng nghỉ của phương pháp khoa học. Cuối cùng thì các nhà khoa học cũng nhận ra rằng chẳng tồn tại thứ gì gọi là chất cháy, và thứ chất nhiệm màu thực sự có tên ôxy. Ngọn lửa đốt cháy khí ôxy, và chiếc vung biến không gian trong nồi thành môi trường yếm khí.
Các học giả cũng từng cho rằng sự sống đôi khi có thể được tạo ra từ hư không. Những người có học thức từ thời Aristotle từng thực sự tin rằng nếu bạn để thịt ở ngoài đủ lâu, nó sẽ tự tạo ra những thực thể sống mới dưới dạng dòi bọ và ruồi muỗi. Những người này cũng cho rằng nếu bạn vứt xó một đống giẻ lau bẩn, thì một thời gian sau, chúng sẽ biến thành chuột. Nghiêm túc đấy. Những quan niệm này đã dần phai nhạt khi một bác sĩ tên là Francesco Redi thực hiện thí nghiệm kiểm chứng bằng cách đặt thịt và trứng trong cả môi trường đóng kín và không đóng kín trong một thời gian, sau đó, kiểm tra xem cái nào chứa sinh vật sống. Thịt trong hộp kín không tự biến hóa ra sự sống, và từ đó, ý niệm này bắt đầu bị loại bỏ. Những học giả khác lúc đầu không chấp nhận ngay khám phá này, và phải nhờ đến danh
tiếng của Louis Pasteur và thí nghiệm của chính ông vào khoảng hai thế kỷ sau, niềm tin sai lầm này mới vĩnh viễn bị gạt bỏ. Nhiều người coi thí nghiệm của Redi và các nhà khoa học cùng thời là bước ngoặt trong lịch sử loài người. Phương pháp ngược đời để phân tích thế giới đã làm cuộc sống tốt đẹp hơn. Một số người thậm chí còn cho rằng thí nghiệm thịt-trong-lọ này là khởi đầu thực sự của phương pháp khoa học. Qua đây, ta có thể thấy việc đi tìm những bằng chứng đối nghịch tốt hơn rất nhiều so với việc đi chứng minh những niềm tin phổ biến.
Bạn có bản năng xuất hành từ kết quả và lội ngược dòng, tìm kiếm nguyên nhân để xác nhận các giả thuyết đã được đưa ra nhưng phương pháp khoa học thì lại đi theo chiều ngược lại: tin cách chứng minh giả thuyết có sẵn là sai. Nếu bạn loại bỏ được những điều đáng ngờ, thì sự thật sẽ dần hiện nguyên hình. Khi những người đi trước nhận ra rằng cách tiếp cận vấn đề mới này đem lại kết quả tốt, thì chỉ sau một vài thế hệ, loài người đã chuyển từ thiêu sống phù thủy và uống thủy ngân qua việc vẽ bản đồ gen người và chơi golf trên Mặt Trăng.
Nhưng ngay cả khi phương pháp khoa học xuất hiện và được công nhận, con người vẫn theo đuổi và tin vào những điều vô cùng kỳ quặc. Nhiều ý tưởng lỗi thời rất khó giũ bỏ. Nghe thì khó tin, nhưng ngay cả điều đơn giản như việc bác sĩ phải rửa tay để tránh gây nhiễm trùng cho bệnh nhân cũng không thực sự được giới y sĩ chấp nhận, mãi cho tới rất gần đây. Thậm chí là cả sau khi người ta đã phát hiện ra và có tư liệu cho thấy việc rửa tay giúp giảm thiểu những cơn sốt chết người ở bệnh nhân, vẫn phải mất một thời gian khá dài quan niệm này mới được chấp nhận rộng rãi. Bởi đó là điều quả với mẻ, quá lạ lẫm. Khái niệm về vi khuẩn và các sinh vật siêu nhỏ thách thức hàng loạt
những ý tưởng khác, bao gồm cả việc cho rằng nguyên nhân của bệnh tật có liên quan tới những thứ bốc mùi hôi thối, mà nếu nghĩ kỹ thì cũng rất hợp lý. Dù lúc này, điện thoại và bóng đèn đã được phát minh, nhưng khái niệm về việc rửa tay để phòng tránh bệnh tật vẫn gặp sức cản lớn đến nỗi các y bác sĩ đã tranh cãi về nó suốt hàng thập kỷ.
Con đường quanh co để trở nên bớt ngớ ngẩn hơn có rất nhiều chướng ngại vật, tuy nhiên, loài người vẫn hết sức kiên trì bền bỉ. Có thể bạn đã nhận ra một điểm chung tuyệt vời từ những ví dụ trên: Khoa học không còn tin vào chúng nữa, và bạn cũng vậy. Trong cuộc chiến chống lại sự ngụy biện dựa vào niềm tin phổ biến, những niềm tin phổ biến khác sẽ được sinh ra. Đó là bởi bạn không làm được điều mà khoa học thực sự thành thạo: Khoa học luôn phá vỡ những khuôn mẫu của thực tế để tìm ra điểm yếu nằm sâu bên trong. Tất nhiên, các nhà khoa học thì vẫn chỉ là những con người, họ cũng dễ mắc sai lầm như bao người khác, nhưng sự nghiệp khoa học và tiến trình của nó sẽ nghiền nát những điểm yếu của con người một cách chậm rãi mà chắc chắn. Đó là hệ thống có khả năng tự sửa lỗi và mỗi ngày, lại tiến tới gần hơn tới chân lý.
Đối với những ngụy biện dựa vào niềm tin phổ biến xảy ra trong cuộc sống của chính mình, hãy nhớ rằng các nhà khoa học luôn cố gắng tiến gần đến sự thật hơn, nhưng cá nhân bạn, ít nhất là về bản chất, lại không thể làm được điều đó. Bởi vậy, chẳng có gì khó hiểu khi bạn không thực sự giỏi việc này. Bạn không tìm kiếm thứ mà khoa học gọi là giả thuyết không (null hypothesis), nghĩa là khi tin vào điều gì đó, bạn hiếm khi chủ động tìm kiếm những bằng chứng đối nghịch để tự phản biện cho giả thuyết của bản thân. Đó chính là nguồn gốc của những truyền thuyết,
những câu chuyện dân gian, những phong tục mê tín và nhiều thứ khác nữa. Khả năng hoài nghi không phải là điểm mạnh của bạn. Các tập đoàn lớn và những cơ quan đoàn thể hiếm khi lập ra một bộ phận có nhiệm vụ soi xét lỗi của nhân viên. Khác với giới khoa học, trong hầu hết các lĩnh vực khác, chúng ta thường không có bộ phận chuyên tìm ra những điểm yếu trong hoạt động nội bộ - không chỉ đơn giản là bộ phận tiếp nhận những lời phàn nàn từ bên ngoài, mà là một cơ quan chủ động đặt câu hỏi xem tổ chức chủ thể có đi đúng hướng hay không. Tất cả mọi hoạt động cần phải dừng lại một cách có hệ thống để kiểm tra xem liệu mọi thứ có đang hoạt động đúng.
Để bớt ngây ngô hơn, bạn cần một cơ quan như vậy thường trực bên trong hộp sọ. Bạn sẽ tiến bộ rất nhanh nếu có thể học tập từ phương pháp nghiên cứu khoa học và áp dụng nó lên cuộc sống cá nhân. Trong khi bạn mải mê thêu thùa, chơi golf và lướt qua mấy đoạn video về những chú mèo đáng yêu trên mạng, thì khoa học vẫn đang thầm lặng nỗ lực chiến đấu chống lại sự ngốc nghếch của loài người. Không một ngành nào trong xã hội con người chiến đấu mạnh mẽ tới vậy, hay chí ít là luôn sẵn sàng đương đầu và có phần lấn lướt đối thủ.
Những nhà tiên phong đã tạo ra khoa học để thay thế cho phương pháp tự nhiên vốn vô cùng tồi tệ mà bạn vẫn dùng để tìm hiểu và giải thích các trải nghiệm của bản thân. Không có bằng chứng, mọi giả thuyết, về cơ bản, đều như nhau. Bạn thích nhìn thấy nguyên nhân hơn hệ quả, thích tìm ra những tín hiệu trong đám nhiễu loạn, những khuôn mẫu trong sự ngẫu nhiên. Bạn thích được nghe những câu chuyện dễ hiểu, và bởi vậy, có xu hướng biến mọi thứ trong cuộc sống thành những mẩu tự sự nhằm đơn giản hóa những vấn đề phức tạp. Các nhà khoa học
thì lại gắng hết sức để gạt bỏ những mẩu tự sự này, tiêu hủy chúng và chỉ để lại sự thật thô ráp. Những dữ liệu sẽ trần trụi nằm đó để người ta có thể quan sát và sắp xếp lại. Từ đây, các nhà khoa học, cũng như tất cả những người khác, sẽ cùng nhau tạo nên những tự sự mới, và họ sẽ dùng nó để tranh luận với nhau, nhưng dữ liệu thì sẽ không thay đổi. Có thể hàng trăm năm nữa hoặc hơn thế, người ta sẽ vẫn không hiểu hết những dữ liệu đó, nhưng nhờ vào phương pháp khoa học, chúng sẽ buộc những tự sự chứa đầy thành kiến và ngụy biện phải đối đầu với sự thật và cuối cùng, bị đẩy lùi vào lịch sử.
Hiệu ứng Benjamin Franklin
... Chương 3 ...
BẠN VẪN TƯỞNG:
Bạn sẽ đối xử tốt với những người mà bạn thích và gây khó dễ cho những kẻ mà bạn ghét.
SỰ THẬT LÀ:
Bạn sẽ dần thích những người mà bạn đối xử tử tế và ghét những người mà bạn gây khó dễ.
Benjamin Franklin rất biết cách đối phó với những kẻ căm ghét mình.
Sinh ra vào năm 1706, là người con thứ tám trong số mười bảy đứa con của một thợ làm xà phòng và nến, khả năng để Benjamin có thể trở thành một quý ông, học giả, nhà khoa học, chính khách, nhạc sĩ, tác giả, nhà xuất bản, nói tóm lại là một con người phi thường, là vô cùng nhỏ. Vậy mà ông đã làm được điều đó, tất cả là nhờ ông đã tinh thông những trò chơi chính trị cá nhân.
Giống như những người có đầy nghị lực và trí tuệ sinh ra trong hoàn cảnh thấp kém khác, Franklin đã phát triển một bộ kỹ năng đối nhân xử thế và năng lực xã hội cao. Khi không còn lối đi nào khác, bộ óc tinh tế sẽ bắt đầu phân tích các hành vi, và Franklin đã trở thành bậc thầy của những mối quan hệ nhân sinh. Ngay từ khi còn nhỏ, Benjamin đã là một cậu nhóc đa ngôn và lắm mưu mô, rất khôn ranh và có khả năng thuyết phục
mạnh mẽ. Cậu đã tích lũy được hàng loạt vũ khí bí mật, một trong số đó là hiệu ứng Benjamin Franklin - thứ công cụ mà tới nay vẫn hiệu nghiệm y như trong những năm 1730, và cũng là một thứ rất ngược đời. Để hiểu được công cụ này, ta hãy cùng tua ngược thời gian về năm 1706.
Tiềm năng phát triển của Benjamin rất mờ nhạt. Với mười bảy đứa con, Josiah và Abiah Franklin chỉ có đủ khả năng chi trả cho hai năm đi học của Benjamin. Sau đó, cậu buộc phải lao động kiếm tiền. Bước sang tuổi mười hai, Benjamin đi theo học nghề người anh trai James, một công nhân in ấn tại Boston. Công việc này đã cho Benjamin cơ hội tiếp cận với sách báo, nếu đặt ở hiện tại, thì chuyện này tương tự như việc cậu là đứa trẻ duy nhất trong xóm mà nhà có lắp Internet vậy. Cậu đã đọc mọi thứ có thể sờ tay vào và tự dạy mình mọi kỹ năng mà một người có thể học được từ sách vở.
Khi được mười bảy tuổi, Franklin rời Boston và tự mở công ty in ấn riêng ở Philadelphia. Hai mươi mốt tuổi, anh thành lập “câu lạc bộ giúp nhau cùng phát triển” với tên gọi Junto. Nó là một phần trong kế hoạch thu thập kiến thức dài hơi hơn. Anh thường xuyên mời những người đa tài và thông thái trong giai cấp công nhân tới câu lạc bộ để góp chung vào kho sách vở, cũng như để trao đổi những ý tưởng và kiến thức từ khắp nơi trên thế giới. Họ viết và đọc các bài luận, mở các cuộc hùng biện, và bàn cách để tăng thêm thu nhập. Franklin đã sử dụng Junto như một công ty tư vấn cá nhân, một nhóm tư duy, và anh cũng sử dụng ý tưởng từ các thành viên khác để viết và in những cuốn sách chất lượng hơn. Sau đó, Franklin đã thành lập thư viện có chế độ đăng ký thành viên đầu tiên tại Mỹ với niềm tin rằng nó sẽ “giúp những thương gia và nông dân bình thường cũng có
thể trở nên thông minh như những quý ông tại các quốc gia khác”. Đó là chưa kể việc thư viện này cho phép Franklin tiếp cận bất kỳ cuốn sách nào mà anh muốn mua nữa. Đúng là thiên tài!
Tới những năm 1730, Franklin đã vượt xa những người khác trên đại lộ thông tin do chính mình tạo ra, và nguồn thông tin dồi dào này đã biến ông thành một chính trị gia lỗi lạc ở Philadelphia. Vừa là một nhân vật có danh tiếng, lại là một doanh nhân với khả năng in ấn sách báo và niên giám, tới thời điểm ông quyết định ứng cử cho vị trí thư ký nghị viện, Franklin cũng đã có một vài kẻ thù. Nhưng ông biết cách đối phó với những kẻ này. Với chức vụ này, ông đã bước vào luồng thác thông tin từ bộ máy chính phủ mới thành lập. Franklin đã ghi chép và xuất bản những thông báo đại chúng, hóa đơn chứng từ, bản tổng kết của việc bỏ phiếu và những loại giấy tờ chính thức khác. Ông cũng kiếm được cả một gia tài nhờ việc in tiền giấy cho nhà nước. Franklin đã chiến thắng trong cuộc đua, nhưng vòng bầu cử tiếp theo lại không dễ dàng gì. Trong tiểu sử của ông không nhắc tới tên của người này, nhưng khi Franklin ứng cử cho nhiệm kỳ thư ký thứ hai, thì một trong số các đồng nghiệp của ông đã có một bài phát biểu dài chỉ trích ông trước nghị viện. Mặc dù vẫn giành được vị trí thư ký, nhưng kẻ chỉ trích này vẫn khiến cho Franklin vô cùng bức bối. Thêm nữa, đây là một “quý ông với học thức rộng và gia sản đáng nể”, người mà Franklin tin rằng ngày nào đó sẽ trở thành nhân vật có ảnh hưởng lớn trong bộ máy chính quyền. Ông biết mình phải đối phó với người này.
Franklin quyết tâm biến kẻ căm ghét mình thành một người hâm mộ, nhưng ông muốn làm được điều này mà không cần
phải “bày tỏ sự kính trọng hay phục tùng gì hắn”. Vốn là người sưu tầm sách và sáng lập một thư viện, Franklin nổi tiếng là người có thị hiếu văn học tuyệt vời. Vậy là ông đã gửi thư tới kẻ căm ghét mình để hỏi mượn một cuốn sách đặc biệt từ bộ sưu tập của người này, một cuốn sách mà ông miêu tả là “vô cùng quý hiếm và gây tò mò”. Tay kình địch, cảm thấy được tâng bốc lên mây, đã ngay lập tức gửi sách cho Franklin. Một tuần sau, ông gửi trả cuốn sách kèm theo thư cảm ơn. Nhiệm vụ đã hoàn thành. Trong cuộc họp nghị viện tiếp theo, lần đầu tiên, người này chủ động tiếp cận Franklin và trao đổi riêng với ông. Franklin miêu tả rằng người này “từ thời điểm đó, đã cho thấy mình sẵn sàng giúp đỡ tôi trong mọi dịp, và rồi chúng tôi trở thành bạn tốt, tình bạn này kéo dài cho tới khi ông lâm chung”.
Chính xác thì điều gì đã xảy ra vậy? Tại sao việc hỏi xin một đặc ân lại có khả năng biến một người từ căm ghét thành quý mến mình? Làm thế nào mà việc nhờ vả lại khiến người ta thay đổi quan niệm về bạn? Câu trả lời cho thứ tạo nên hiệu ứng Benjamin Franklin cũng chính là câu trả lời cho việc tại sao bạn làm những thứ mà bạn vẫn làm.
Hãy bắt đầu từ thái độ nhé. Thái độ là thuật ngữ tâm lý chỉ một loạt những niềm tin và cảm xúc mà bạn dành cho một người, một chủ đề hay ý tưởng, mà không cần hình thành suy nghĩ cụ thể. Hãy cùng thử nhé: Justin Bieber. Bạn cảm thấy không? Một loạt những liên hệ và cảm xúc vừa chạy rần rật qua hệ thần kinh của bạn chính là thái độ của bạn với anh chàng ca sĩ này. Ta thử thêm lần nữa nào. Đọc câu sau đây rồi nhắm mắt lại: Bánh kem phô mai việt quất. Thật tuyệt phải không? Tiếp nhé: Bom nguyên tử. Bạn thấy đó, hàng loạt hoạt động trong não bộ đã cho bạn thấy cảm xúc của bản thân về chủ đề được nhắc tới. Hãy
tự hỏi câu này: Bạn hình thành nên thái độ đó bằng cách nào? Có một điều khá phổ biến trong ngành tâm lý học là “cái cày” hành vi thường xuyên đi trước “con trâu” thái độ.
Thái độ của bạn bắt nguồn từ hành động, hành động này dẫn tới sự quan sát, sự quan sát lại dẫn tới lời giải thích và từ đây, bạn rút ra những quan điểm. Các hành động có khuynh hướng đẽo đục cá tính thô ráp của bạn, dần dần, gọt dũa nó thành bản ngã mà bạn trải nghiệm hàng ngày. Tuy nhiên, bạn lại không cảm nhận được quá trình này. Đối với những trải nghiệm có ý thức, bạn tự cho rằng mình mới là người đang nắm giữ cái dùi đục, được thúc đẩy bởi những suy nghĩ và niềm tin của mình. Bạn cảm thấy cái con người đang mặc quần áo của bạn luôn hành xử đúng với cá tính đã có sẵn, ấy vậy mà lại có vô số nghiên cứu đã cho ra kết quả ngược lại. Chính những điều bạn làm mới thường tạo ra những niềm tin mà bạn dựa vào.
Ở mức độ cơ bản nhất, sự chuyển đổi từ hành vi sang thái độ bắt đầu với thuyết xây dựng hình tượng. Thuyết này cho rằng bạn luôn phô diễn cho những người xung quanh thấy con người mà bạn muốn trở thành. Bạn làm điều mà các nhà kinh tế học gọi là ra dấu hiệu bằng cách mua sắm và trưng diện những thứ mang lại cho bạn giá trị xã hội. Ví dụ, nếu bạn sống ở các tiểu bang phía Nam (Deep South), bạn có thể sẽ mua một chiếc xe bán tải gầm cao và một cặp bị treo sau xe. Nếu bạn sống ở San Francisco, khả năng cao là bạn sẽ mua một chiếc Prius kèm theo giá treo xe đạp. Những thứ dễ kiếm nhất và thể hiện rõ ràng nhất về lý tưởng mà bạn đang nhắm tới sẽ có mặt trong kho đồ của bạn. Những miếng decan dán trên xe cho thế giới biết là bạn thuộc nhóm này chứ không phải nhóm khác. Những thứ này,
sau đó, sẽ tác động ngược lại và khiến bạn trở thành kiểu người thường sở hữu chúng.
Vốn là loài linh trưởng, bạn rất nhạy bén trong việc nắm bắt những chỉ dấu xã hội cho thấy khả năng bị tẩy chay khỏi một nhóm. Trong tự nhiên, bị ruồng bỏ khỏi nhóm đồng nghĩa với cái chết. Bởi vậy, bạn luôn hướng tới việc làm sao để có được vị trí nhất định trong tập thể, bởi nếu bị bỏ rơi, hay là người cuối cùng biết chuyện, hoặc là người duy nhất không được mời tới buổi tiệc, đều sẽ gây ra những vết thương sâu đậm lên cảm xúc của bạn. Nỗi lo về việc bị tẩy chay, về nguy cơ trở thành người ngoài cuộc đã thúc đẩy hành vi của chúng ta trong hàng triệu năm. Thuyết xây dựng hình tượng cho rằng bạn luôn nghĩ về hình ảnh của mình trong mắt người khác, ngay cả khi không có ai xung quanh. Khi thiếu đi người quan sát, sâu thẳm trong trí não, bạn dựng lên một tấm gương phản chiếu những điều mình làm, và khi thấy ai đó hành xử theo cách có thể khiến bạn bị tẩy chay khỏi nhóm của mình, sự lo sợ sẽ khiến bạn tìm cách quay trở lại. Nhưng cái gì tới trước? Hành vi hay niềm tin của bạn? Là một người chuyên nghiệp, bạn nghĩ mình cần phải mặc complet, hay là vì mặc complet, bạn mới bắt đầu hành xử một cách chuyên nghiệp? Bạn bỏ phiếu cho đảng Dân chủ bởi vì bạn ủng hộ những chương trình xã hội, hay bạn ủng hộ những chương trình này bởi vì bạn bỏ phiếu cho phe Dân chủ? Các nghiên cứu đã chỉ ra trong cả hai trường hợp trên, vế sau mới là chính xác. Như Kurt Vonnegut đã nói: “Chúng ta là những gì mà chúng ta đang giả bộ, bởi vậy, chúng ta phải cẩn thận xem mình đang giả bộ làm gì”. Khi bạn trở thành một thành viên trong nhóm, một fan hâm mộ dòng nhạc, hay một người sử dụng một sản phẩm nhất định - những thứ đó tác động lên thái độ của bạn mạnh mẽ hơn thái độ của bạn tác động lên chúng, nhưng tại sao
lại vậy? Thuyết tự nhận thức cho rằng, thái độ của bạn được nhào nặn từ việc bạn quan sát những hành vi của chính mình và không thể xác định được nguyên nhân chính xác cho hành vi đó, cuối cùng, bạn cố gắng tạo ra một lời giải thích hợp lý cho nó. Bạn nhìn lại các tình huống như thể mình là khán giả, và cố gắng hiểu được động lực đằng sau chúng. Bạn nhận lấy vai trò của một người quan sát, một nhân chứng cho những suy nghĩ và hành động của mình, và rồi, bạn tạo nên niềm tin về bản thân dựa trên những quan sát đó. Các nhà tâm lý học John Cacioppo, Joseph R. Priester và Gary Berntson đã chứng minh điều này vào năm 1993. Họ cho những người không biết tiếng Trung xem những ký tự của ngôn ngữ này và hỏi xem chúng mang ý nghĩa tích cực hay tiêu cực. Một số người sẽ phải nhận xét trong khi đặt tay vào mặt dưới của chiếc bàn và đẩy lên trên, trong khi số còn lại sẽ thực hiện thí nghiệm khi tì tay ấn xuống bàn. Tính trung bình, những ký tự được đánh giá là tích cực nhất khi các đối tượng thực hiện hành động nâng lên, và được đánh giá là tiêu cực nhất khi họ tì tay xuống bàn. Tại sao thế? Bởi vì trong tiềm thức của bạn tồn tại mối liên hệ giữa hành động kéo lại gần với những trải nghiệm tích cực và đẩy ra xa với những thứ tiêu cực. Đẩy và kéo ảnh hưởng tới nhận thức của bạn bởi ngay từ khi còn là đứa trẻ sơ sinh, bạn đã có phản xạ kéo những thứ mà bạn muốn lại gần và đẩy những thứ bạn không muốn ra xa. Mối liên hệ thần kinh này vô cùng sâu đậm. Theo như thuyết tự nhận thức, thì trí nhớ được chia thành hai loại là quy nạp - loại có thể được truy cập bởi ý thức, và bất quy nạp - loại lưu trữ một cách vô thức. Bằng trực giác, bạn hiểu được cách mà những ký ức quy nạp được tạo ra, cách chúng điều hướng và mang thông tin tới cho bạn. Khi nghĩ về bánh nướng vị bí ngô, bạn cảm thấy ấm áp và dễ chịu. Tuy nhiên, những ký
ức bất quy nạp cũng mạnh mẽ không kém. Bạn không thể tiếp cận chúng một cách trực tiếp, nhưng chúng vẫn tác động lên bạn qua hệ thần kinh. Dáng điệu của bạn, nhiệt độ phòng, cách mà các cơ trên mặt bạn đang co giãn - tất cả những điều này thông báo cho nhận thức của bạn về việc bạn là ai và bạn đang nghĩ gì. Kéo lại gần là tích cực; đẩy ra xa là tiêu cực. Lý thuyết về sự tự nhận thức cho thấy bạn luôn tự quan sát các hành động của bản thân một cách vô thức, rồi giải thích chúng theo cách dễ nhất mà chính bạn chẳng hề nhận ra. Kẻ thù của Benjamin Franklin tự quan sát thấy mình đang thực hiện một hành động cao thượng và tích cực là cho đối thủ của mình mượn một cuốn sách quý, và rồi ông ta tự giải thích hành động này trong vô thức. “Chắc hẳn là mình không ghét Franklin lắm đâu”, ông ta nghĩ; chứ không thì vì lý do gì ông ta lại cho mượn cuốn sách quý như vậy?
Nhiều nhà tâm lý học sẽ giải thích hiệu ứng Benjamin Franklin thông qua sự bất hòa nhận thức, một lý thuyết được củng cố bởi tập hợp của hàng ngàn những nghiên cứu. Chúng đã xác định được một loạt những chướng ngại vật trong tâm trí con người - trong số đó có những điều được bàn tới ngay trong cuốn sách của chúng ta, như là thiên kiến xác nhận, thiên lệch nhận thức muộn, hiệu ứng phản tác dụng và ngụy biện chi phí chìm. Về cơ bản thì lý thuyết chung này miêu tả thứ mà bạn vẫn trải nghiệm hàng ngày. Đôi khi bạn không thể tìm được một lời giải thích hợp lý, logic và phù hợp với đạo đức chung của xã hội cho hành vi của mình. Đôi khi hành vi của bạn đối nghịch với văn hóa, nhóm xã hội của bạn, gia đình bạn, hay thậm chí là với chính hình mẫu con người của bạn. Trong những thời điểm đó, bạn tự hỏi: “Tại sao mình lại làm vậy?” và nếu câu trả lời làm sứt mẻ lòng tự trọng của bạn, thì bạn cần phải hợp lý hóa nó. Bạn
cảm thấy như thể một bao cát đã nổ tung trong đầu, cát tràn khắp mọi ngóc ngách của bộ não và bạn cần phải được giải tỏa. Bạn có thể thấy bằng chứng của điều này trong phim chụp cộng hưởng từ não của người phải đối mặt với ý kiến chính trị trái ngược với những gì người đó tin tưởng. Phim chụp cho thấy khi một người được nghe phát biểu phản đối lập trường chính trị của mình, thì phần cao nhất ở vỏ não - bộ phận chịu trách nhiệm đưa ra những suy nghĩ chín chắn - sẽ nhận được ít máu hơn. Bộ não của bạn thực sự có thể tắt tự động khi bạn cảm thấy lý tưởng của mình bị đe dọa. Bạn có thể tự thử nghiệm trên bản thân mình: Hãy nghe một nhà bình luận chính trị mà bạn vốn ghét nói trong vòng mười lăm phút đi. Cố gắng đừng đổi kênh. Đừng phàn nàn với người ngồi bên cạnh. Đừng lên mạng kêu ca. Hãy cố gắng kiềm chế. Bạn sẽ thấy việc này khó tới mức tàn nhẫn.
Trong cuốn sách tuyệt vời về sự bất hòa nhận thức với tên gọi Mistakes Were Made - But Not By Me (Sai lầm đã xảy ra nhưng không phải tại tôi) của Carol Tauris và Elliot Aronson có nhắc tới nhà tâm lý học lỗi lạc Leon Festinger, người mà vào năm 1957 đã thâm nhập vào một giáo phái tin vào ngày tận thế. Dorothy Martin, nhân vật tự gọi mình với cái tên Sơ Thedra, là người cầm đầu giáo phái này. Bà ta đã thuyết phục những con chiên của mình ở Chicago rằng một chiếc tàu bay của người ngoài hành tinh sẽ tới hút họ lên và bay đi ngay khi cơn đại hồng thủy hủy diệt loài người vào ngày 21 tháng 12 năm 1954. Rất nhiều người trong số những thành viên của giáo phái này đã từ bỏ mọi thứ mà họ sở hữu, kể cả nhà cửa, khi “ngày tận thế” cận kề. Festinger muốn kiểm tra xem điều gì sẽ xảy ra khi con tàu không gian và cơn đại hồng thủy không xảy ra như lời tiên tri dự đoán. Ông đưa ra giả thuyết rằng thành viên của giáo phái
này sẽ phải đối mặt giữa hai lựa chọn: hoặc tự nhận thức được rằng mình là một kẻ ngốc nghếch, hoặc cho rằng nhờ có niềm tin, nên họ được cứu rỗi. Liệu những người này có giữ được niềm tin quái đản của mình sau cái ngày mà đáng ra thế giới đã phải kết thúc và thậm chí còn nhiệt thành với giáo phái hơn nữa, như rất nhiều những nhóm người khác trước họ? Tất nhiên, kết quả là họ đã giữ vững niềm tin. Một khoảng thời gian dài sau "ngày tận thế", khi có thể chắc chắn rằng sẽ không có tàu bay nào tới đón, họ bắt đầu liên hệ với các phương tiện truyền thông để chia sẻ tin lành: Đức tin và năng lượng tích cực của họ đã thuyết phục được Chúa Trời rủ lòng thương hành tinh này. Họ đã thoáng hoảng hốt khi niềm tin của mình bị thách thức, vì sự thật không xảy ra như trông đợi, nhưng rồi vẫn tìm được cách để bình tĩnh trở lại. Festinger cho rằng trạng thái hưng phấn cao độ này là một dạng đặc biệt của sự lo âu: Đó chính là bất hòa nhận thức. Bạn trải nghiệm sự hưng phấn này khi có hai niềm tin đối nghịch nhau ẩu đả trong tâm trí bạn. Chúng lật đổ bàn ghế và đập chai rượu vào đầu nhau. Việc này mang lại cảm giác rất tệ, cho tới khi một trong hai niềm tin chiến thắng và hạ đo ván đối thủ.
Festinger tiếp tục nghiên cứu về sự bất hòa nhận thức, nhưng lần này là trong một môi trường có kiểm soát. Ông và đồng nghiệp của mình, Judson Mills, đã thiết lập một thí nghiệm tại Đại học Stanford. Ở đây, họ mời sinh viên tham dự một câu lạc bộ kín và tâm lý học tình dục. Hai nhà nghiên cứu phổ biến với các sinh viên có hứng thú rằng để gia nhập câu lạc bộ này, họ phải trải qua một buổi lễ kết nạp. Sau đó, họ bí mật chia những người xin gia nhập thành hai nhóm: Một nhóm phải đọc thành tiếng những từ liên quan tới tình dục từ cuốn từ điển trước mặt một nhà khoa học, nhóm còn lại thì phải đọc to cả một đoạn
trích trong cuốn tiểu thuyết lãng mạn nổi tiếng nhất mọi thời đại - Lady Chatterleys Lover (Người tình của phu nhân Chatterley). Như Tarvis và Aronson đã chỉ ra thì đó là những năm 1950, nên cả hai nhiệm vụ này đều khiến người thực hiện cảm thấy xấu hổ. Tuy nhiên, việc đọc to một đoạn miêu tả hoạt động tình dục chứa đầy những quả bom “B...” và “L...” gây ra sự xấu hổ liều cao hơn nhiều. Sau buổi lễ kết nạp, cả hai nhóm được cho nghe một đoạn băng ghi âm những bài tranh luận đã được chuẩn bị sẵn. Đó là những tư liệu khô khan, nhàm chán và ít khêu gợi nhất có thể, thậm chí có lúc, đoạn băng đó chỉ tập trung vào hoạt động tình dục của các loài chim. Sau đó, họ cho các sinh viên đánh giá đoạn băng vừa nghe. Những người vừa đọc từ điển nhận xét rằng câu lạc bộ thảo luận này không thực sự giống với những gì họ tưởng tượng và có lẽ họ sẽ không tham gia nữa. Nhóm đọc tiểu thuyết lãng mạn, những người vừa phải trải qua lễ kết nạp đau đớn hơn, thì cho rằng câu lạc bộ này thú vị và họ sẵn sàng tiếp tục tham gia lâu dài. Cùng một đoạn băng, hai kết quả khác nhau hoàn toàn.
Festinger và một đồng nghiệp khác nữa, J. Merrill Carlsmith, tiếp tục nghiên cứu này vào năm 1959. Họ đã tạo nên thứ được coi như dấu mốc cho sự khởi đầu của bốn mươi năm tìm hiểu về hiện tượng bất hòa nhận thức, và theo sau đó là cuộc hành trình kéo dài mãi tới tận ngày nay.
Các sinh viên ở Đại học Stanford phải đăng ký tham gia vào một buổi thí nghiệm kéo dài hai giờ với tên gọi “Đo lường hiệu suất” để có thể qua môn. Các nhà nghiên cứu chia sinh viên thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất được phổ biến là mỗi người được nhận một đô la (khoảng tám đô la tính theo giá hiện tại). Nhóm còn lại thì được nhận hai mươi đô la (khoảng 150 đô la ngày nay).
Các nhà khoa học, sau đó, giải thích rằng sinh viên sẽ phải hỗ trợ phòng nghiên cứu bằng cách đánh giá một thí nghiệm mới. Họ được dẫn vào một căn phòng mà ở đó, họ phải dùng một tay để đặt thìa gỗ lên khay và rồi nhấc ra, cứ lặp đi lặp lại như vậy trong vòng nửa giờ. Sau đó, họ chuyển qua nhiệm vụ xoay nút vuông trên mặt bảng phẳng, mỗi lần xoay 4 vòng trong vòng nửa giờ nữa. Trong toàn bộ thí nghiệm, một nhà nghiên cứu sẽ đứng theo dõi và ghi chép liên tục. Đó là một giờ đồng hồ nhàm chán tới cùng cực, với một người cứ đứng sau theo dõi và viết lách. Khi thí nghiệm kết thúc, nhà nghiên cứu nhờ sinh viên nói với người đang đứng chờ ở ngoài rằng đây là một thí nghiệm rất vui và thú vị. Cuối cùng, sau khi đã nói dối bạn mình, sinh viên ở cả hai nhóm này - nhóm chỉ có một đô la trong túi và nhóm thì có hai mươi đô la - được yêu cầu điền vào bảng khảo sát, trong đó, họ phải nêu ra cảm xúc thật của mình về thí nghiệm vừa rồi. Theo bạn thì họ đã viết gì? Gợi ý đây: Một nhóm không chỉ nói dối với người đang đợi ở ngoài, mà còn viết trong báo cáo là họ rất thích việc liên tục xoay một cục vuông trên mặt bảng. Theo bạn thì nhóm nào đã chủ quan hóa lời nói dối. Tính trung bình, thì những người được nhận một đô la đã nói rằng nghiên cứu này mang tính kích thích cao. Những người được trả công hai mươi đô la thì lại báo cáo rằng họ vừa trải qua một buổi thí nghiệm tẻ nhạt vô cùng. Tại sao lại có sự khác biệt này?
Dựa vào giải thích của Festinger, cả hai nhóm đều phải nói dối về khoảng thời gian làm thí nghiệm, nhưng chỉ có một nhóm bị bất hòa nhận thức. Nhóm được trả công hai mươi đô la dường như đã nghĩ rằng: “Chà, thí nghiệm đó dở tệ, và tôi vừa mới nói dối về nó, nhưng họ trả công cũng hậu hĩnh mà, nên là... chắc không sao đâu”. Sự khó chịu nội tâm của họ đã nhanh chóng bị triệt tiêu bởi một sự hợp lý hóa từ bên ngoài. Ngược lại, nhóm
được trả một đô la thì không có được lý lẽ ngoại vi nào hợp lý, bởi vậy, họ phải sử dụng lời lý giải nội tâm. Họ thay đổi niềm tin của bản thân để xoa dịu sự bức bối trong tâm trí. Đây là lý do tại sao việc tình nguyện mang lại cảm giác rất thỏa mãn, và những thực tập viên không được trả lương thường làm việc chăm chỉ hơn. Khi không có một phần thưởng rõ ràng tới từ bên ngoài, bạn có xu hướng tự tạo nên một phần thưởng nội bộ bên trong.
Đó là vòng lặp của sự bất hòa nhận thức: Kết luận đau đớn về bản thân sẽ được bạn giải quyết bằng cách thay đổi nhận thức về thế giới theo hướng dễ chịu hơn. Như Festinger nhận định, bạn làm cho "thế giới quan của mình khớp với những cảm xúc bạn đang trải nghiệm và những gì bạn đã làm". Khi cảm thấy lo lắng về hành động của bản thân, bạn sẽ triệt tiêu nỗi lo này bằng một thế giới tưởng tượng. Và rồi, bạn tin chính thế giới ảo mình vừa tạo nên đó, giống như những gì mà đối thủ của Benjamin Franklin đã trải qua. Ông ta không thể tin được rằng mình đã cho một kẻ đáng ghét mượn cuốn sách hiếm, vậy nên, ông ta đã phải thích người này mới đúng. Vấn đề vậy là được giải quyết.
Vậy bản thân hiệu ứng Benjamin Franklin đã từng được kiểm nghiệm chưa? Câu trả lời là rồi. Jim Jecker và David Landy, dựa vào công trình của Festinger, đã dựng một thí nghiệm vào năm 1969, trong đó có các diễn viên đóng giả làm nhà khoa học và thư ký để thực hiện nghiên cứu. Các đối tượng đi vào phòng thí nghiệm tưởng rằng mình sẽ được làm những bài kiểm tra tâm lý và thắng giải thưởng tiền mặt. Người diễn viên đóng giả là nhà khoa học cố gắng để các đối tượng cảm thấy ghét anh ta bằng cách tỏ vẻ thô lỗ và đưa ra nhiều yêu sách trong khi thực hiện một loạt những bài kiểm tra đã dàn dựng trước. Các đối tượng