🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Ba Người Bạn - Erich Maria Remarque full prc pdf epub azw3 [Tiểu Thuyết] Ebooks Nhóm Zalo BA NGƯỜI BẠN Nguyên tác: Drei Kameraden Tác giả: Erich Maria Remarque Dịch giả: Vũ Hương Giang Nhà xuất bản Văn Học 1988 Nguồn: Vnthuquan Biên tập: V.C Ebook: tna ★★★ LỜI GIỚI THIỆU Bạn đọc Việt Nam đã yêu mến Remarque (Erich Maria Remarque - tên thật Erich Paul Remark, 1898 - 1970) - nhà văn Đức nổi tiếng, một trong những tiểu thuyết gia nhiều thành công nhất của thế kỷ hai mươi - qua các tác phẩm “Phía Tây không có gì lạ”, “Thời gian để sống và thời gian để chết” do nhà xuất bản Văn Học giới thiệu. Remarque chiếm được hằng triệu con tim độc giả trên khắp hành tinh không đơn giản vì ông là một thiên tài văn học; đọc Remarque, ta tìm thấy ở nhà văn một tấm lòng đầy tình yêu thương con người, cảm thông với nỗi đau của con người, tha thiết mong cho tất thảy một cuộc sống hạnh phúc mà con người vốn dĩ xứng đáng được hưởng. Trái tim nhân đạo ấy không thể không ứa máu trước những sự thật tàn khốc mà hai cuộc đại chiến thế giới đã gieo rẳc cho nhân loại, thiên tài văn học ấy không thể im tiếng trước những tội ác ghê tởm do chính bọn cầm quyền của đất nước mình gây ra. Năm 1933 bọn phát xít Đức buộc cho Remarque tội “phản bội những người lính cửa chiến tranh thế giới bằng văn học” và ra lệnh đốt các tác phẩm của nhà văn, năm 1938 ông bị tước bỏ quốc tịch Đức, buộc phải sang New York năm 1939 (1947 nhập quốc tịch Mỹ). Từ sau 1945, Remarque sống khi ở Mỹ, khi ở Thụy Sỹ, ông mất năm 1970 ở Locarno (Thụy Sỹ). Cả thế giới biết đến Remarque qua hàng loạt tiểu thuyết của ông: “Phía Tây không có gì lạ” (1929), “Đường trở về” (1931), “Ba người bạn” (1938), “Hãy yêu những kẻ hậu sinh” (1941), “Khải hoàn môn” (1946). “Tia lửa sống” (1952), “Thời gian để sống và thời gian để chết” (1954), “Bia mộ đen” (1956), “Đêm ở Lissabon” (1962), “Bóng tối nơi thiên đường” (1971)… Xuyên suốt các tác phẩm của Remarque là tính nhân đạo sâu sắc, là tiếng nói kiên định, không mệt mỏi chống lại cuộc chiến tranh phát xít phi nghĩa. Remarque không dùng những lời lẽ đao to búa lớn, không hô khẩu hiệu chống phát xít, nhưng các tác phẩm của ông đã bóc trần toàn bộ bản chất tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, lột tả những cảnh địa ngục trần gian mà chiến tranh đã đưa lại. Biết bao số phận khổ nhục, ê chề, biết bao kiếp người phiêu dạt, tha hương không bến đậu, biết bao tình yêu tuyệt vọng, con người phải sống lẩn lút như loài vật, sống mà như đã chết… người đọc cùng đau xót với nỗi đau của tác giả, đau xót bao nhiêu, càng căm phẫn, ghê tởm bấy nhiêu cuộc chiến tranh do bè lũ phát xít gây nên. Thật dễ hiểu vì sao bọn phát xít lại thù ghét nhà văn, khiếp sợ ảnh hưởng văn học của ông đến thế. Một mảng đề tài được Remarque khá quan tâm là số phận của những người cựu chiến binh Đức, những người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả cuộc chiến tranh diễn ra ngoài ý muốn của họ. Tác phẩm “Ba người bạn” để lại ấn tượng hết sức sâu sắc bởi lẽ đã giúp ta thấy được cái hậu quả gớm ghiếc ấy dưới biết bao góc độ. Cốt truyện diễn ra vào những năm 20 của thế kỷ này, thời gian xen giữa hai cuộc đại chiến thế giới. Các nhân vật trung tâm là ba cựu chiến binh trẻ, ba “chiến hữu” trong chiến tranh thế giới thứ nhất, ba người bạn trong thời hậu chiến - những con người tiêu biểu cho cái “thế hệ vất đi” sau chiến tranh. Họ là những thanh niên bình thường, từng có những ước mơ bình thường: người muốn trở thành bác sĩ, kẻ muốn trở thành giảng viên đại học… nhưng đã bị buộc tham gia vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tuy không bỏ xác ngoài trận tuyến như biết bao thanh niên đồng lứa với mình, Robby, Lenz và Koster đã bị chiến tranh cướp mất lẽ sống, họ thấy cuộc đời phi lý và trống rỗng, thể xác trẻ trung mà tâm hồn sớm già cỗi. Ngoài những giờ sửa chữa xe thuê, vật lộn kiếm sống, họ tiêu phí thời gian vào những đêm rượu chè, những phen phóng xe điên cuồng, những cuộc hoan lạc… để rồi lại về một mình đối diện với chính mình, cô đơn, trống rỗng, trong một gian buồng trọ tồi tàn. Ba người bạn gắn bó với nhau hết mình đương đầu với cuộc sống, trong khi thực ra họ cũng không hiểu sống để làm gì. Mối tình của Pat và Robby đã cho cuộc sống ấy chút ý nghĩa. Họ thấy mình cần thiết cho mối tình ấy, cho cô gái bất hạnh ấy, họ quên mình đến cảm động giúp cô gái chống lại bệnh tật. Nhưng đó chỉ là cuộc chống chọi tuyệt vọng của ba nạn nhân trực tiếp của chiến tranh hòng cứu cô gái là nạn nhân gián tiếp của chiến tranh; lớn lên trong những năm chiến tranh đói kém. Pat đã mắc chứng lao phổi, căn bệnh vô phương cứu chữa thời bấy giờ. Ba thanh niên lành mạnh bị xô đẩy vào cuộc chiến, bị biến thành những kẻ đồng lõa, để rồi sau đó bị quẳng sống vạ vật giữa cái xã hội hỗn mang thời hậu chiến. Với họ, chỉ có mất mát: Lenz mất mạng vì một bọn phát xít choai choai, Koster phải bán xưởng, bán chiếc xe mà anh yêu quý hơn chính cánh tay mình, Robby mất người yêu, cũng là mất cái mắt xích cuối cùng gắn anh với cuộc đời… Ai là kẻ có tội trước cuộc đời bỏ đi của họ? Cuộc chiến tranh phát xít. “Ba người bạn” vẽ lên đầy đủ cuộc sống cơ cực của tầng lớp nghèo hèn nhất trong xã hội, những con người bị coi là hạng “cặn bã” phải chịu hậu quả ghê gớm của chiến tranh, để một nhóm kẻ cầm quyền hưởng lợi nhuận chiến tranh. Có lẽ không ai có thể cảm thông với đám cựu chiến binh hơn là các cô gái điếm và ngược lại. Họ đều là những người trẻ tuổi, nuôi những mơ ước bình dị, nhưng chiến tranh đã không cho họ cái cơ hội làm một con người bình thường. Nạn đói, nạn thất nghiệp, sự bỏ mạng của người chồng nơi chiến địa đã đẩy những người phụ nữ suốt đời chỉ mơ làm vợ làm mẹ ấy phải lao vào con đường bán trôn nuôi miệng. Remarque đã viết về họ, những nạn nhân đáng thương chứ không đáng trách ấy, với một ngòi bút đầy nhân đạo, vị tha. Dưới ngòi bút của tác giả, những nhân vật “cặn bã” này, những chàng trai cô gái bất hạnh “bỏ đi” này lại “người” hơn ai hết. Thật cảm động là những trang viết về tình gắn bó đùm bọc giữa họ với nhau, họ không thương lấy nhau thì còn ai thương họ nữa, vả chăng họ mất mát nhiều quá, thiệt thòi nhiều quá nên cũng quá cảm thông nhau. Những người như họ có quyền hưởng hạnh phúc, nhưng cuộc đại chiến thế giới thứ nhất đã thiêu ra tro quá khứ và hiện tại của họ, và đại chiến thế giới lần thứ hai đang rình rập hủy nốt cái gọi là tương lai không có tương lai của họ. Đói nghèo, thất nghiệp, mãi dâm - những nét tiêu biểu của xã hội Đức trong những năm cuối thập kỷ 20 thế kỷ này đã được Remarque mô tả một cách hết sức giản dị mà cực kỳ rõ nét, đầy đủ trong “Ba người bạn”. Các nhân vật của ông mỗi người khổ sở mỗi cách. Đó là Muttchen, một bà lão đêm đêm đứng đường với chảo xúc xích để cung phụng ông chồng nghiện moocphin, đó là Valentin, cựu chiến binh, nuôi ấn tượng quá khủng khiếp về cuộc chiến tranh, không còn biết bắt đầu lại ra sao với cuộc đời mình, suốt ngày ngập trong rượu mừng vì nỗi thoát chết; đó là Hasse, một viên chức cần mẫn, lúc nào cũng chúi mũi vào việc công sở, nơm nớp lo mất việc, không dám ăn tiêu, dè xẻn từng đồng phòng khi thất cơ lỡ vận, để đến nỗi bà vợ chịu không nổi bỏ đi, cuối cùng kẻ xấu số ấy thắt cổ tự vẫn; đó là F Grau, một họa sĩ có tài nhưng phải sống bằng nghề truyền thần ảnh người chết… Biết bao kiếp người bế tắc trong một xã hội bế tắc. Qua một chương thôi, Remarque đã cho ta thấy sự bế tắc tột cùng của những người Đức thời bấy giờ, họ đổ xô đến những cuộc hội họp chính trị, không cần biết mục đích của đảng phái chính trị ấy, họ tìm một cái gì đó thay cho tôn giáo để mà tin, để mà bấu víu, và dễ dàng trở thành những kẻ cuồng tín. Đó chính là cơ sở để chủ nghĩa phát xít phát triển, đi đến chỗ cầm quyền. Đã thấy bóng dáng của lũ người mặc áo bludông, những tên phát xít khủng bố được dung túng. Vả chăng Lenz cũng đã chết bởi bàn tay chúng. “Ba người bạn” cũng như cả loạt tác phẩm có thể gọi là “chống chiến tranh” của Remarque hơn lúc nào hết vẫn mang tính thời sự nóng hổi, bởi hiện nay các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đang đấu tranh không tiếc sức cho một hành tinh hòa bình không có chiến tranh, chống lại cuộc chiến tranh thế giới mới luôn đe dọa bùng nổ bởi bàn tay của các thế lực đế quốc và bọn phát xít mới. Giới thiệu với bạn đọc “Ba người bạn”, chúng tôi hy vọng thời gian tới đây có thể lần lượt cho ra mắt đầy đủ, có hệ thống, các tác phẩm nổi tiếng tiếp theo của Remarque, nhà văn lỗi lạc mà bằng sự nghiệp văn học của mình mãi mãi còn góp tiếng nói cho hòa bình. 7-1987. Vũ Hương Giang CHƯƠNG 1 Bầu trời vàng như đồng thau, vẫn chưa bị vẩn đục bởi khói nhà máy, hừng sáng phía sau dãy mái ngói xí nghiệp. Hẳn mặt trời sắp nhô lên đến nơi. Tôi nhìn đồng hồ. Vẫn chưa đến tám giờ. Sớm mười lăm phút. Tôi mở cổng chuẩn bị sẵn sàng máy bơm xăng. Vào giờ này thường đã có một số muốn ăn sáng chạy qua đây. Bỗng tôi nghe sau lưng mình tiếng gì khàn khàn, khe khẽ, tuồng như một chiếc đinh ốc gỉ đang xoáy trồi lên khỏi mặt đất. Tôi dừng chân nghe ngóng, đoạn đi qua sân trở lại xưởng và thận trọng mở cửa. Trong căn phòng tranh tối tranh sáng đang lắc lư dạo vòng một con ma. Con ma chít chiếc khăn đội đầu màu trắng bẩn thỉu, choàng tạp dề xanh, chân xỏ đôi guốc thô, tay huơ huơ một cái chổi, nó nặng chín chục ký và là mụ lao công Matilda Stoss. Tôi đứng yên một lát nhìn mụ. Mụ có cái vẻ yêu kiều của một con hà mã khi mụ chuệch choạng đi đi lại lại giữa những bộ tản nhiệt xe hơi và cất giọng trầm trầm hát bài ca về anh lính khinh kỵ trung thành. Trên mặt bàn kế cạnh cửa sổ có hai chai cognac. Một chai hầu như đã cạn. Tối qua cái chai còn đầy nguyên. Tôi đã quên không cất nó vào tủ khóa lại. “Kìa bà Stoss!” tôi lên tiếng. Lời ca ngừng bặt. Cái chổi rơi xuống đất. Nụ cười ngà say tắt lịm. Bây giờ tôi mới là con ma. “Jesusma, lạy Chúa tôi”, Matilda ấp úng và giương cặp mắt đỏ ngầu ngó tôi trân trân. “Tôi đâu ngờ cậu đến sớm thế…” “Biết rồi. Rượu ngon chứ?” “Đã hẳn… nhưng nhục cho tôi quá”. - Mụ quệt miệng. “Tôi rõ tồi tệ…” “Chà, bà cứ phóng đại thế. Bà chỉ say thôi. Say khướt như một gã nghiện”. Mụ gắng đứng thẳng người. Ria mép mụ động đậy và mi mắt mụ chớp chớp như mắt một con cú già. Nhưng dần dần mụ cũng tỉnh táo hơn. Mụ quả quyết tiến lên một bước. “Cậu Lohkamp… người ta ai cũng là người thôi… đầu tiên tôi chỉ ngửi… và rồi làm một ngụm… vì rằng tiếng thế chứ dạ dày tôi bao giờ cũng yếu… vâng, thế rồi, thế rồi hẳn quỷ Satăng đã ám tôi. Các cậu cũng không nên thử thách một người đàn bà tội nghiệp, không nên để mặc cái chai đấy”. Đây chẳng phải lần đầu tiên tôi bắt gặp mụ như thế. Sáng nào mụ cũng đến dọn dẹp trong xưởng độ hai tiếng: cứ việc quăng tiền vương vãi đâu tùy thích, mụ không tơ hào đến… thế nhưng rượu đặt trước mắt mụ thì chẳng khác gì mỡ để miệng mèo. Tôi giơ cái chai lên. “Đương nhiên rồi, bà không động đến rượu cognac dành cho khách hàng… Thế nhưng thứ rượu ngon của ông Koster thì bà nốc sạch”. Một thoáng cười đắc ý lướt qua nét mặt già nua của Matilda. “Tất tật những gì ngon lành… tôi là kẻ sành sỏi mà lại. Nhưng cậu sẽ không tố giác gì tôi chứ, cậu Lohkamp? Tố giác một mụ góa yếu đuối bất lực như tôi?” Tôi lắc đầu. “Hôm nay thì không đâu”. Mụ buông những nếp váy xuống. “Thế thì tôi chuồn đây. Cậu Koster mà đến bây giờ thì… trời đất quỷ thần ơi!” Tôi lại bên tủ và mở tủ ra. “Bà Matilda…” Mụ vội vã lạch bạch chạy đến. Tôi giơ cao một cái chai nâu hình vuông. Mụ huơ tay chối. “Không phải tôi! Thề danh dự đây! Tôi không hề động tới nó!” “Tôi biết”, tôi nói và rót đầy một ly. “Bà biết loại rượu này chứ?” “Sao không!” Mụ liếm môi. “Rum! Rượu rum Jamaica lâu đời!” “Khá. Vậy xin bà hãy cạn ly!” “Tôi ấy?” Mụ nhảy lùi lại. “Như thế nhiều quá, cậu Lohkamp! Đầu tôi đang nóng phừng phừng như than hồng đây này! Mụ Stoss già nua đã ngầm nốc sạch rượu cognac của cậu, thế mà cậu lại còn thết mụ một ly rum để thưởng công nữa. Cậu là một bậc thánh, chính thế! Thà chết còn hơn chấp nhận một chuyện như vậy”. “Thế hở?” tôi nói và làm ra vẻ chực thu ly rượu về. “Nào thì uống!” Mụ vội vã nắm lấy cái ly. “Đành phải tiếp nhận điều tốt đẹp như nó đã đến thôi. Cho dù không hiểu nó. Chúc sức khỏe cậu! Dễ thường hôm nay là sinh nhật cậu”. “Đúng vậy, bà Matilda. Bà đoán giỏi đấy”. “Sao, thật thế ư?” Mụ chộp lấy bàn tay tôi lắc lấy lắc để. “Rất chi thành thật chúc cậu hạnh phúc! Dồi dào tiền của! Cậu Lohkamp này”, mụ quệt miệng “tôi cảm động quá thể… nhất định tôi phải làm một ly nữa mừng cậu. Là vì chẳng gì tôi cũng quý cậu như con”. “Tốt thôi”. Tôi rót thêm cho mụ ly nữa. Mụ dốc cạn một hơi, rồi rời xưởng, mồm xuýt xoa khen ngợi. Tôi dọn cái chai đi, ngồi vào bàn. Mặt trời nhợt nhạt xuyên qua cửa sổ chiếu xuống đôi tay tôi. cảm giác lạ kỳ trong một ngày sinh như thế này, dẫu rằng ta chẳng xem nó ra gì. Ba mươi tuổi… đã từng có thời tôi ngờ đâu không bao giờ mình có thể lên đến tuổi hai mươi, tôi cảm thấy cái ngày ấy sao mà xa vời. Và rồi… Tôi mở ngăn kéo lấy một tờ giấy viết thư và bắt đầu tính. Thời ấu thơ, trường học… đó là một tổng thể, xa xôi, ở đâu đó, không còn thật nữa. Mãi năm 1916 cuộc đời thật sự mới bắt đầu. Khi ấy tôi vừa trở thành chú lính mới, gầy, cao ngồng, mười tám tuổi, tập nằm xuống, đứng lên trên những thửa ruộng mới cày phía sau doanh trại theo lệnh của một tay hạ sĩ quan ria mép rậm rì. Vào một trong những tối đầu tiên, mẹ tôi đến doanh trại thăm tôi, nhưng bà phải đợi tôi mất hơn một giờ đồng hồ. Tôi đã đóng ba lô của mình không đúng quy cách và phải chịu hình phạt quét dọn nhà vệ sinh vào giờ nghỉ. Mẹ tôi muốn giúp tôi, nhưng bà không được phép. Bà khóc, còn tôi thì mệt tới mức ngủ thiếp đi khi mẹ vẫn còn ngồi bên. 1917. Flanders[1 ]. Mittendorf và tôi mua ở căng tin một chai vang đỏ. Chúng tôi định uống một chầu. Thế nhưng cả bọn tôi đã không thực hiện được. Sáng tinh mơ, quân Anh bắt đầu một trận pháo kích lớn. Koster bị thương lúc giữa trưa, Meyer và Deters ngã xuống buổi chiều. Và tối đến, khi cả bọn đã tưởng được bình yên và mở chai rượu ra, thì hơi độc tràn vào, ùa xuống các công sự. Tuy rằng cả bọn kịp thời đeo mặt nạ nhưng mặt nạ của Mittendorf lại hỏng. Khi cậu ấy phát hiện ra thì đã muộn. Cho đến lúc chiếc mặt nạ này bị giật đi và tìm thấy một cái mới thay vào thì Mittendorf đã hít phải quá nhiều hơi độc và nôn ra máu. Cậu ấy chết vào sáng hôm sau, trên mặt có nhiều vết bầm tím. Cổ Mittendorf rách bươm… cậu ấy đã cố dùng móng tay hòng phanh nó ra để hớp lấy không khí. 1918. Nằm quân y viện. Mấy hôm trước, một đợt thương binh mới được chả đến. Bông băng bằng giấy bản. Những ca bị thương nặng. Suốt ngày, những chiếc xe phẳng lỳ của phòng mổ cứ chạy ra chạy vào. Thỉnh thoảng có những chiếc ra không. Joseph Stoll nằm cạnh mình. Anh đã mất cả hai đùi, nhưng còn chưa biết điều đó. Không thể nhìn thấy được, vì người ta chụp lên phần dưới anh một cái lồng bằng dây thép phủ chăn. Mà giá có thấy anh cũng chẳng tin nó, vì anh vẫn cảm thấy đau đớn dưới hai bàn chân. Đêm hai người chết trong buồng bọn mình. Một người chết rất ngắc ngoải và đau đớn. 1919. Lại ở nhà. Cách mạng[2 ]. Đói. Bên ngoài vẫn tiếp tục nghe tiếng súng máy. Lính đánh nhau với lính. Đồng đội gây lộn với đồng đội. 1920. Đảo chính. Karl Broger bị bắn chết. Koster và Lenz bị bắt. Mẹ tôi nằm nhà thương. Bệnh ung thư của bà đang vào giai đoạn cuối. 1921… Tôi ngẫm nghĩ. Tôi chẳng còn nhớ nữa rồi. Đơn giản là thiếu mất năm đó. 1922 tôi làm công nhân đường sắt ở Thuringia, 1923 lãnh đạo việc quảng cáo cho một xí nghiệp cao su. Đang thời kỳ lạm phát. Lương tháng của tôi là hai trăm tỉ mác. Mỗi ngày hai lần lĩnh tiền và mỗi lần lĩnh tiền lại được nghỉ nửa giờ để đảo nhanh qua các cửa hiệu mua sắm chút ít trước khi hối đoái đô-la mới lại được công bố… đồng tiền lại mất giá một nửa. Còn sau đó? Những năm tiếp theo? Tôi đặt bút chì xuống. Nhẩm lại tất cả những cái ấy mà làm gì. Vả lại tôi cũng chẳng còn nhớ chính xác. Tôi đã lẫn lộn quá lắm. Năm ngoái tôi uống mừng sinh nhật của mình tại tiệm cà phê Quốc Tế, nơi tôi đánh dương cầm thuê được một năm. Thế rồi tôi gặp lại Koster và Lenz. Còn lúc này tôi đang ngồi trong xương sửa chữa ô-tô Koster và Co… Co, đây tức là Lenz và tôi, nhưng sự thực thì xưởng này chỉ thuộc về mỗi mình Koster. Trước kia Koster là bạn học, rồi chỉ huy đại đội của chúng tôi, sau đó làm phi công, có thời gian dài là sinh viên, rồi lái xe đua… cuối cùng cậu ta đã tậu được cái văn phòng khổ này. Đến làm với Koster trước tiên là Lenz, kẻ từng lang bạt vài năm bên Nam Mỹ… rồi thêm tôi. Tôi rút từ túi áo một điếu thuốc lá. Thật ra tôi có thể hoàn toàn hài lòng. Hoàn cảnh của tôi chẳng đến nỗi nào, tôi có việc làm, lại cường tráng, tôi không dễ gì trở nên mệt mỏi, tôi lành lặn - như người ta thường nói… nhưng dẫu sao đừng nghĩ ngọi thái quá về điều đó vẫn hơn. Đặc biệt đừng nghĩ ngợi vào lúc chỉ có một mình. Và buổi tối cũng đừng. Một cái gì đó của quá khứ đôi khi lại hiện lên và nhìn ta trân trối bằng cặp mắt của người chết. Nhưng ta đã có rượu mạnh. Ngoài kia có tiếng kẹt cổng. Tôi xé tờ giấy có ghi những năm tháng đời mình, ném vào sọt giấy lộn. Cánh cửa bật mở. Gottfried Lenz đứng trong khung cửa, cao, gầy, với cái bờm tóc màu vàng rơm và một cái mũi lẽ ra thích hợp với một người đàn ông hoàn toàn khác. “Robby”, cậu ta gầm lên, “quân săn mồi già đời, đứng dậy và hãy lên gân lên cốt đi! Cấp trên của cậu muốn nói chuyện với cậu!” “Chúa ơi!” Tôi đứng dậy. “Mình đã hy vọng rằng các cậu không nhớ tới kia đây. Hãy nương nhẹ thôi, các chú bé!” “Điều đó xem ra hợp ý cậu!” Gottfried đặt lên bàn một cái gói, từ đó tiếng lanh canh phát ra rõ mồn một. Koster bước vào sau Lenz. Lenz đứng chắn trước mặt tôi. “Robby, sáng nay cậu gặp cái gì trước tiên?” Tôi ngẫm nghĩ. “Một mụ già nghiêng ngả”. “Đấng Moses thiêng liêng! Một điềm gở! Nhưng lại đúng với lá số tử vi của cậu. Mình vừa lập nó hôm qua. Cậu là một đứa trẻ cần được che chở, không vững vàng, dao động, một ngọn lau trước gió, với chòm Thổ tinh đáng ngờ và một Mộc tinh thương tật trong năm nay. Vì Otto và mình thay mặt cho cha mẹ cậu, vật đầu tiên mình trao cho cậu là một thứ để phòng thân. Hãy nhận lấy tấm bùa hộ mệnh này. Một kẻ hậu sinh của những người Inka[3 ] đã để lại nó cho mình. Mụ ta có dòng máu xanh, đôi bàn chân phẳng, chấy rận và biệt tài nhìn vào tương lai. ‘Hỡi người lạ da trắng, mụ ta bảo mình, các đức vua đã đeo nó, nó chứa sức mạnh của vầng dương, mặt trăng và trái đất, hoàn toàn chưa nói đến các hành tinh nhỏ hơn… hãy đưa ta một đồng đô-la bạc để ta mua rượu mạnh, và anh sẽ được nó’. Để sợi dây chuyền hạnh phúc này tiếp tục luân chuyển, mình trao nó cho cậu. Nó sẽ bảo vệ cậu, sẽ xua đuổi lão Mộc tinh lạnh lùng của cậu”. Cậu ta đeo vào cổ tôi một bức tượng nhỏ xíu màu đen treo trên sợi dây chuyền mỏng mảnh. “Thế! Để chống lại điều rủi giáng xuống từ trời… còn chống lại những bất hạnh hàng ngày thì đây: sáu chai rượu rum của Otto! Lâu năm gấp đôi số tuổi của cậu!” Lenz mở cái gói và đặt từng chai một dưới ánh mặt trời buổi sớm. Chúng lóng lánh như hổ phách. “Trông tuyệt đẹp”, tôi nói, “cậu moi ở đâu ra thế, Otto?” Koster cười. “Một câu chuyện rắc rối. Kể ra thì dài dòng lắm. Nhưng hãy nói thử cậu cảm thấy trong người ra sao? Như một kẻ tam tuần?” Tôi phẩy tay. “Như mười sáu và đồng thời như ngũ tuần. Chẳng có gì đặc biệt cả”. “Cậu bảo chẳng có gì đặc biệt sao?” Lenz đáp lại. “Tuổi tác không phải là thứ cao nhất có trên đời hay sao? Cậu đã chiến thắng thời gian một cách tự chủ và sẽ sống gấp đôi”. Koster nhìn tôi, đoạn bảo: “Thôi mặc cậu ấy, Gottfried, những ngày sinh nhật thường đè nặng lên lòng tự tôn. Đặc biệt vào lúc sáng sớm. Cậu ấy sẽ tỉnh tâm lại ngay ấy mà”. Lenz nheo mắt lại. “Lòng tự tôn của một con người càng ít đi bao nhiêu, giá trị của anh ta càng nhiều lên bấy nhiêu, Robby ạ. Điều đó ít nhiều an ủi cậu chăng?” “Không”, tôi đáp, “không một mảy may. Khi con người trở nên có giá trị một chút, anh ta chỉ còn là tượng đài của riêng anh ta mà thôi. Đối với mình, như thế thật mệt mỏi và buồn tẻ”. “Cậu ấy triết lý, Otto ơi”. Lenz reo. “Cậu ấy đã thoát nạn. Cậu ấy đã vượt qua khoảnh khắc im lặng! Cái khoảnh khắc im lặng trong ngày sinh nhật, khi con người ta tự soi vào đồng tử của con ngươi mình và phát hiện ra mình chỉ là một chú gà nhép nghèo hèn biết mấy. Bây giờ tụi mình có thể thanh thản bắt tay vào công việc hàng ngày và tra dầu cho động cơ chiếc Cadillac cổ được rồi đấy”… Cả bọn chúng tôi làm việc cho tới lúc chạng vạng tôi, rồi rửa ráy và thay quần áo. Lenz thèm thuồng liếc nhìn dãy chai. “Ta bẻ cổ một chai chứ?”. “Cái đó phải do Robby quyết định”. Koster nói. “Đi gạ gẫm kẻ được tặng quà một cách vụng về đến thế thật không đẹp chút nào. Gottfried ạ”. “Nhưng để những kẻ tặng quà chết khát còn không đẹp hơn nữa kia”. Lenz đáp và mở một chai. Mùi thơm lập tức lan khắp xưởng. “Đấng Moses thiêng liêng”. Gottfried xuýt xoa. Cả ba thằng hít lấy hít để. “Tuyệt vời Otto ạ. Cần phải vươn tới nền thi ca cao siêu mới hòng tìm được những so sánh xứng đáng”. “Quá uổng nếu cậu đem uống trong cái căn xép tối tăm này!” Lenz quyết định. “Các cậu biết không, tụi mình sẽ ra khỏi đây, sẽ ăn tối ở đâu đó và cắp chai rượu theo. Phải nốc cạn nó giữa thiên nhiên tự do của Chúa” - “Hết tầm!” Ba thằng đẩy chiếc Cadillac vừa sửa sang ban chiều sang một bên. Phía sau nó là một vật kỳ dị đặt trên bốn bánh. Đó là chiếc xe đua của Otto Koster, niềm tự hào của xưởng. Koster đã đổi chiếc xe, một cái thùng cũ cao thành, trong một cuộc bán đấu giá bằng một chiếc bánh mì bơ. Thời đó nhìn chiếc xe, các chuyên gia đều không chút do dự mệnh danh cho nó là một hiện vật thú vị cho bảo tàng giao thông. Nhà thời trang Bonvis, chủ một hãng may măng tô phụ nữ và là kẻ ham thích đua xe, đã khuyên Otto biến nó thành một chiếc máy khâu. Nhưng Koster chẳng bận tâm đến điều đó. Cậu ta tháo rời chiếc xe như tháo một chiếc đồng hồ bỏ túi và hì hụi thâu đêm với nó hàng tháng trời. Một tối nọ, cậu ta xuất hiện cùng với chiếc xe trước tiệm rượu mà chúng tôi thường đến uống. Khi lại nhìn thấy chiếc xe, Bonvis suýt ngã lăn ra vì cười, nom nó vẫn tức cười như cũ. Để gây chuyện khôi hài, gã mời Otto một cuộc thách đấu. Gã muốn đưa ra hai trăm mác cược lấy hai mươi thôi, nếu Koster nhận đua với chiếc xe thể thao mới của gã… chặng đường dài mười kilômét, chấp xe của Otto một kilômét. Koster nhận lời thách đấu. Ai nấy đều cười và trông đợi một điều thú vị khổng lồ. Nhưng Otto còn làm tợn hơn nữa: cậu ta khước từ sự ưu tiên, và với nét mặt thanh thản, nâng giá đánh cược lên một ngàn mác chọi một ngàn mác. Bonvis luống cuống hỏi Otto liệu gã có cần phải đưa cậu ta tới trại điên hay không. Koster chỉ trả lời bằng cách cho xe mình khởi động. Cả hai lập tức phóng đi thực hiện cuộc đấu. Sau nửa giờ, Bonvis trở lại với vẻ mặt hoảng loạn như thể vừa trông thấy rắn biển. Gã lặng lẽ viết một tấm séc và thêm một tấm séc nữa. Giờ đây gã muốn mua lại chỗ chiếc xe. Nhưng Koster đã cười nhạo gã. Cậu ta sẽ không bao giờ đổi chiếc xe lấy đồng tiền trần gian nữa. Dầu cỗ máy bên trong của chiếc xe không chê vào đâu được… bề ngoài của nó trông vẫn xấu xí. Để sử dụng hàng ngày, chúng tôi thay cho nó một chiếc vỏ xe đặc biệt lỗi thời, vừa khớp với lớp sơn đã khá xỉn, chân bùn có những chỗ rách, và cái mui đã dùng đến cả chục năm. Lẽ ra chúng tôi có thể mông má tất cả… Nhưng chúng tôi có một lý do để không làm. Chiếc xe tên là Karl, bóng ma trên đường nhựa. Karl thở phì phò dọc theo đường nhựa. “Otto”, tôi nói, “một nạn nhân đang dẫn xác đến kìa”. Sau lưng chúng tôi, một chiếc Buick nặng nề nôn nóng bóp còi. Nó đang nhanh chóng đuổi kịp. Những bộ tản nhiệt sắp sửa xích lại gần nhau. Gã đàn ông bên tay lái hờ hững trông sang. Ánh mắt gã lướt từ trên xuống chiếc Karl thô thiển. Rồi gã quay mặt đi và quên phắt chúng tôi. Vài giây sau, hẳn gã đã xác định là Karl vẫn ở cùng một tốc độ với gã. Gã chỉnh lại tư thế ngồi chút ít cho thoải máỉ, nhìn chúng tôi một cách khoái trá và tăng ga. Nhưng Karl không nao núng. Như một con chó teriê bên cạnh một con chó dô, nó vẫn tiếp tục chạy, nhỏ bé, linh lợi, kèm sát cái đầu máy mạ kền và sơn sáng nhoáng. Gã đàn ông nắm chắc tay lái hơn. Gã hoàn toàn chẳng nghi ngờ gì và khinh bỉ bĩu môi. Có thể đoán giờ đây gã định bụng cho chúng tôi thấy hiệu suất cỗ xe trượt của gã. Gã nhấn chân ga mạnh tới mức ống xả ríu rít lên như một cánh đồng đầy chim sơn ca trong mùa hạ. Thế nhưng chẳng ích gì; gã không vượt lên nổi. Như có phép phù thủy. Karl cứ dính chặt lấy gã, xấu xí và khiêm tốn. Gã đàn ông ngạc nhiên nhìn chòng chọc xuống chúng tôi. Gã không hiểu nổi làm sao với tốc độ trên trăm cây số giờ mà cái hòm cổ lỗ bên cạnh gã đây lại không long hết ra. Gã kinh ngạc nhìn vào đồng hồ tốc độ xe gã, làm như nó có thể chỉ sai. Rồi gã thả xe chạy hết tốc lực. Giờ đây hai chiếc xe sánh vai nhau lao trên con đường nhựa thẳng, dài hun hút. Được vài trăm mét, xuất hiện một chiếc xe tải đi ngược chiều. Chiếc Buick đành lùi lại sau chúng tôi để tránh. Nó chưa kịp lên ngang với Karl thì một chiếc xe tang lướt đến với những tua kết vòng hoa bay bay, chiếc Buick buộc lòng lùi lại lần nữa. Sau đó là khoảng trống trước mặt. Tới lúc này gã đàn ông bên tay lái đã mất hết vẻ ngạo nghễ; tức giận, môi mím chặt, gã khom mình về phía trước… máu đua xe đã bốc lên trong gã, và đột nhiên danh dự đòi gã buộc gã bằng bất cứ giá nào không được phép tỏ ra hèn kém trước con chó hay sủa nhặng lên đang kè kè bên gã đây. Ngược lại, chúng tôi tỏ vẻ dửng dưng ngồi yên chỗ của mình. Đối với chúng tôi, chiếc Buick như không hề tồn tại. Koester bình thản nhìn con đường, tôi uể oải dõi mắt vào không trung; còn Lenz, mặc dù hết sức căng thẳng, lôi một tờ báo ra và làm ra vẻ như đối với cậu ta ngay lúc này không có gì quan trọng hơn là đọc báo. Ít phút sau Koster nháy mắt cho chúng tôi. Karl ngầm giảm tốc độ, và chiếc Buick từ từ vượt lên. Những chiếc chắn bùn rộng, bóng loáng của nó sạt qua xe chúng tôi. Ống xả ầm ầm nhả khói xanh vào mặt chúng tôi. Dần dần nó đã bỏ xa chúng tôi quãng hai chục mét… và ở cửa sổ xe đã ló ra bộ mặt của kẻ sở hữu, gã nhe răng cười đắc thắng. Gã chắc mẩm đã được cuộc. Nhưng gã còn có một hành vi nữa. Gã không thể nén một sự trả thù. Gã vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi cứ việc đuổi theo. Thậm chí gã vẫy một cách đặc biệt hờ hững nắm chắc phần thắng. “Kìa Otto” Lenz nói giọng nhắc nhở. Nhưng cậu ta chẳng cần phải nhắc. Trong cùng khoảnh khắc, Karl đã vọt lên. Chiếc máy nén khí huýt như tiếng sáo. Và đột nhiên cánh tay vẫy vẫy thò ở cửa xe biến mất… bởi vì Karl đã hưởng ứng sự mời mọc, nó tới. Nó tới thậm chí không gì kìm hãm nổi, lấy lại mọi khoảng cách… và bây giờ, lần đầu tiên chúng tôi để tâm đến chiếc xe lạ. Chúng tôi ngước nhìn gã đàn ông bên tay lái với vẻ dò hỏi trong trắng, như thể chúng tôi rất muốn biết vì cớ gì gã lại vẫy chúng tôi. Thế nhưng gã một mực ngoảnh mặt đi. Bây giờ Karl mới thả hết tốc lực vọt lên, một kẻ lôi thôi lếch thếch thắng trận với toàn thân lấm lem và những chiếc chắn bùn bay rập rờn. “Cừ đấy, Otto”, Lenz bảo Koester, “tối nay thằng cha sẽ ăn mất ngon”. Những cuộc săn đuổi như thế chính là lý do khiến chúng tôi không thay đổi vỏ ngoài của Karl. Chỉ cần Kart xuất hiện trên đường phố, lập tức có kẻ tìm cách bỏ xa nó. Đối với những chiếc xe khác, nó như một con chim gáy rã cánh trước một lũ mèo đói. Nó cám dỗ những cỗ xe nhà hiền hòa nhất muốn vượt và ngay cả những kẻ rậm râu béo bệu nhất cũng không sao tránh khỏi bốc máu đua xe, một khi thấy cái gầm xe kêu rầm rầm của nó cứ nhảy loi choi trước mặt. Có ai ngờ nổi bên trong cái hình thù nực cười đó đang đập trái tim vĩ đại của một động cơ xe đua! Lenz khẳng định rằng Karl có tác dụng giáo dục. Nó dạy thiên hạ biết kính trọng sự sáng tạo luôn ẩn mình trong một cái vỏ khiêm nhường. Đó là lời của Lenz, kẻ đã vỗ ngực khẳng định mình là con người lãng mạn cuối cùng. Chúng tôi dừng bánh trước một quán ăn nhỏ và xuống xe. Chiều đẹp, yên tĩnh. Những luống cày trên các cánh đồng mới xới ánh lên màu tim tím. Còn những bờ ruộng phát sáng sắc nâu và óng vàng. Những đám mây tựa đàn cò lửa khổng lồ sải cánh trên bầu trời xanh màu trái táo, lấp ló sau chúng là lưỡi liềm mỏng manh của vầng trăng đang dần đầy. Một bụi hồ đào dại ôm hoàng hôn và nỗi ngờ vực trong những cánh tay của mình, trơ trụi một cách cảm động, nhưng đã ngập tràn hy vọng chồi non. Từ quán ăn nhỏ bay ra mùi gan rán thơm phức, cả mùi hành phi nữa. Chúng tôi hít căng lồng ngực. Mùi thơm kéo Lenz đâm bổ vào quán. Cậu ta quay ra, nét mặt rạng rỡ “Các cậu phải tận mắt nhìn những lát khoai tây rán nhé! Nhanh lên, không họ hốc sạch món ngon nhất bây giờ!” Đúng lúc đó có tiếng một chiếc xe nữa rì rì tiến lại. Cả bọn đứng như trời trồng. Đó là chiếc Buick. Nó đỗ xịch ngay cạnh Karl. “Ái chà!” Lenz nói. Chúng tôi luôn ẩu đả vì những vụ tương tự. Gã đàn ông xuống xe. Gã cao lớn, nặng nề, khoác một chiếc áo Raglan rộng bằng lông lạc đà nâu. Gã bực tức liếc nhìn Karl, tháo đôi găng tay to sụ màu vàng ra, và bước lại gần. “Cũng là một mẫu xe hả? Xe của anh ấy?” Gã hỏi Koster lúc ấy đứng gần gã nhất, mặt nhăn nhó chẳng khác gì dưa chuột ngâm dấm. Cả ba thằng lặng lẽ nhìn gã một lúc. Chắc gã cho chúng tôi là bọn thợ máy diện bộ đồ Chủ nhật đi chơi lậu một chuyến. “Ngài vừa nói gì đó phải không ạ?”, cuối cùng Otto ngờ vực hỏi, cốt dạy cho gã biết lẽ ra gã có thể lịch sự hơn. Gã đàn ông đỏ mặt. “Tôi hỏi về cái xe này”. Gã không đổi giọng, càu nhàu giải thích. Lenz uốn thẳng người. Cái mũi to bự của cậu ta rung rung. Cậu ta hết sức đòi hỏi những người khác phải giữ phép lịch sự. Nhưng Lenz chưa kịp mở miệng thì bỗng nhiên, như bởi một bàn tay ma quỷ, cánh cửa thứ hai của chiếc Buick bật mở… một bàn chân nhỏ nhắn thò ra, tiếp theo là cái đầu gối xinh xinh… rồi một cô gái bước xuống, từ tốn đi về phía chúng tôi. Ba thằng kinh ngạc nhìn nhau. Trước đây chúng tôi không nhận thấy trong xe còn có người nữa. Lenz thay đổi ngay thái độ. Cả gương mặt tàn nhang của cậu ta mỉm cười. Chúng tôi cùng nhất loạt mỉm cười. Có trời biết tại sao. Gã béo sửng sốt nhìn chúng tôi. Gã trở nên hoài nghi và hình như không còn biết nên làm gì trong tình huống này. “Binding”, cuối cùng gã nói, khẽ nghiêng mình, tuồng như gã có thể tin tưởng vào cái tên của gã. Lúc này cô thiếu nữ đã đến sát chỗ chúng tôi. Chúng tôi hòa nhã hơn nữa. “Hãy giới thiệu chiếc xe đi, Otto” Lenz nói, mắt đưa nhanh sang Koster. “Sao lại không nhỉ”. Otto trả lời và đáp lại bằng cái nhìn láu lỉnh. “Thực tình tôi rất muốn xem qua chiếc xe” Binding nói, giọng đã ôn hòa hơn. “Hẳn nó chạy nhanh ghê gớm. Nó đã làm tôi hết cả hơi”. Hai người đi sang bãi đỗ xe, và Koster nhấc nắp xe lên. Thiếu nữ không đi cùng. Thanh mảnh và lặng lẽ, nàng đứng bên Lenz và tôi, trong cảnh hoàng hôn. Tôi chắc mẩm Gottfried sẽ tận dụng cơ hội, sẽ bung ra như một trái bom. Cậu ta vốn thích hợp với những tình huống như thế này. Ấy vậy mà tuồng như cậu ta đã quên mất tiếng nói. Thông thường cậu ta có thể gọi mái như một chú gà lôi… thế mà giờ đây cứ đứng đực ra đó chẳng khác nào một vị linh mục thuộc giáo phái Carmel[4 ] vào giữa kỳ về thăm nhà. “Mong cô thứ lỗi cho”, cuối cùng tôi lên tiếng “Chúng tôi không thấy cô ngồi trong xe. Nếu thấy chắc chắn chúng tôi chẳng làm bậy như vừa rồi”. Thiếu nữ nhìn tôi. “Nhưng sao lại không nhỉ?”, nàng bình thản đáp, giọng trầm một cách đáng ngạc nhiên. “Điều đó đâu đến nỗi tồi tệ gì”. “Không tồi tệ, nhưng cũng không hoàn toàn đứng đắn. Xe của chúng tôi chạy quãng hai trăm kilômét một giờ”. Nàng hơi khom mình về phía trước, tay thọc vào túi áo măng tô. “Hai trăm kilômét kia à?” “Chính xác là 189,2 kilômét, số ghi chính thức đây”. Lenz kiêu hãnh giảng giải tức khắc chẳng khác gì súng liên thanh. Nàng cười. “Thế mà chúng tôi tưởng chỉ khoảng sáu bảy chục”. “Cô thấy đấy…” tôi nói, “dẫu sao cô cũng không thể biết được”. “Vâng”. Nàng đáp, “Quả thật chúng tôi không thể biết. Chúng tôi cứ ngỡ chiếc Buick phải chạy nhanh gấp đôi xe của các anh”. “Vâng…” tôi lấy mũi chân đá một cành cây gẫy sang bên “nhưng chúng tôi có một lợi thế quá lớn. Và ông Binding bên ấy hẳn cũng khá tức giận về chúng tôi”. Nàng cười. “Chắc thế, trong một khoảnh khắc nào đó. Nhưng con người ta cũng phải biết thua; nếu không làm sao sống nổi”. “Hẳn rồi…” Một quãng ngừng. Tôi đưa mắt cho Lenz. Nhưng con người lãng mạn cuối cùng ấy chỉ nhếch miệng cười, phập phồng cánh mũi và bỏ mặc tôi. Những cây bạch dương xào xạc. Một con gà mái quang quác sau nhà. “Thời tiết kỳ diệu”, cuối cùng tôi nói nhằm phá vỡ sự im lặng. “Vâng, đẹp tuyệt”, thiếu nữ đáp. “Và đến là ôn hòa”, Lenz thêm. “Thậm chí ôn hòa khác thường”, tôi bổ sung. Lại một quãng ngừng mới. Cô thiếu nữ hẳn phải xem chúng tôi là những cái đầu cừu khá ngu ngốc. Nhưng mặc dù muốn lắm, tôi cũng không moi nổi một ý nào nữa. Lenz hểnh mũi hít quanh. “Táo hầm” cậu ta nói đầy cảm xúc, “hình như người ta cho cả táo hầm vào món gan. Một món ăn ngon lành”. “Đương nhiên rồi”, tôi hưởng ứng và nguyền rủa hai thằng bạn tôi. Koster và Binding quay trở lại. Sau có ít phút mà Binding đã trở thành một người khác hẳn. Ông ta có cái vẻ hoàn toàn mãn nguyện của những kẻ say mê ô-tô khi vớ được ở đâu đó một tay sành sỏi để có thể cùng trò chuyện. “Chúng ta cùng ăn với nhau chứ?” ông ta mời “Lẽ dĩ nhiên”, Lenz đáp. Chúng tôi vào quán. Bước qua của, Gottfried nháy mắt với tôi và hất hàm về phía — Này cậu, cô nàng mười lần ăn đứt mụ già nghiêng ngả ban sáng…” Tôi nhún vai “Có thể… nhưng tại sao cậu lại bỏ mặc mình ấp a ấp úng như vậy?” Cậu ta cười “Cũng phải học cái ấy lấy một lần, bé yêu ơi!” “Nhưng mình chẳng còn hứng học hiếc gì sất”, tôi nói. Chúng tôi theo chân những người kia. Họ đã ngồi vào bàn. Bà chủ quán vừa vặn bưng ra món gan và khoai tây rán. Bà ta còn đưa ra một chai lớn rượu mạnh cất từ lúa mì để khai vị. Binding tỏ ra là một nhà diễn thuyết, lời lẽ luôn như thác nước. Kiến thức của ông ta về động cơ ô-tô phong phú tới mức đáng kinh ngạc. Khi nghe Otto đã từng lái cả xe đua nữa thì mối thiện cảm của ông ta đối với Otto hầu như không còn biết tới giới hạn. Tôi ngắm ông ta kỹ hơn. Đó là một người đàn ông cao lớn, nặng nề với cặp lông mày rậm trên một gương mặt đỏ đắn, ít nhiều khoe khoang, ít nhiều ồn ào, và hình như tốt bụng, giống như hết thảy những ai thành đạt trong cuộc sống. Tôi có thể hình dung tối tối trước khi đi ngủ ông ta vẫn tự ngắm mình trong gương một cách nghiêm nghị, đầy phẩm giá và trịnh trọng. Thiếu nữ ngồi giữa Lenz và tôi. Nàng đã cởi bỏ áo măng-tô, bên trong là một bộ trang phục Anh màu xám. Cổ nàng thắt một chiếc khăn trắng trông như cà vạt của kỵ sĩ. Tóc nàng màu nâu, óng như tơ, lấp lánh màu hổ phách dưới ánh đèn. Vai nàng rất phẳng, nhưng hơi nhô ra phía trước, đôi bàn tay nhỏ nhắn, ngón quá dài, và có vẻ hơi xương xương hơn là mềm mại. Gương mặt nàng nhỏ, xanh xao, nhưng cặp mắt to đã cho nó một sức mạnh gần như nồng nhiệt. Theo tôi thì nàng rất xinh… nhưng ngoài điều đó ra tôi không nghĩ gì hơn. Ngược lại giờ đây Lenz hết sức hứng khỏi. Cậu ta đã biến đổi hoàn toàn so với khi nãy. Chỏm tóc vàng của cậu ta sáng lóe như mào một con chim đầu rìu. Trong đầu cậu ta, những ý nghĩ thi nhau nảy ra như hào hoa và cậu ta cùng với Binding chế ngự cả bàn. Tôi lép vế ngồi đây và chỉ có thể gây được rất ít sự chú ý, nhiều lắm là một lần đưa liễn súp hay mời thuốc lá. Và chạm cốc với Binding nữa. Chạm cốc khá thường xuyên. Bỗng nhiên Lenz vỗ tay lên trán: “Chai rum! Robby, ra lấy chai rum sinh nhật của chúng ta vào đây!” “Sinh nhật à? Một người nào trong các anh có sinh nhật chăng?”, cô gái hỏi. “Tôi”, tôi nói, “vì nó tôi đã bị họ đeo đẳng suốt ngày hôm nay”. “Đeo đẳng ư? Vậy có nghĩa anh không muốn người ta chúc mừng anh chứ gì?” “Có chứ”, tôi nói, “chúc mừng lại là một chuyện khác”. “Vậy xin chúc anh mọi điều tốt đẹp!” Trong một khoảnh khắc tôi nắm bàn tay nàng trong bàn tay tôi và cảm thấy cái xiết tay khô ấm của nàng. Đoạn tôi đi ra ngoài lấy chai rum. Đêm mênh mông và câm lặng trùm lên căn nhà nhỏ. Những chiếc ghế da trong xe chúng tôi ẩm sương. Tôi đứng lại nhìn về phía chân trời, nơi ánh sáng đỏ của thành phố hắt lên. Lẽ ra tôi còn muốn nấn ná ở ngoài này thêm nữa, nhưng đã nghe tiếng Lenz gọi. Binding không chịu được rum. Chỉ sau cốc thứ hai là thấy ngay, ông ta lảo đảo bước ra vườn. Tôi đứng dậy, cùng Lenz lại bên quầy rượu. Cậu ta gọi một chai gin. “Một cô gái tuyệt vời, hả?” cậu ta nói. “Mình không biết, Gottfried, ạ”, tôi đáp “Mình chẳng chú ý đến điều đó lắm”. Lenz ngắm tôi một lát với cặp mắt xanh lấp lánh sắc cầu vồng của cậu ta, đoạn lắc cái đầu vàng rực. “Nói xem, bé yêu, thật ra cậu sống để làm gì hở?” “Mình cũng đã tự hỏi từ lâu”. Cậu ta cười “Khôn thế! Nhưng không phải với ai cũng dễ dàng vậy đâu. Còn bây giờ trước hết mình phải moi thử xem cô gái có quan hệ thế nào với cái cuốn cataloge ô-tô dày cộp ngoài kia”. Cậu ta theo Binding ra vườn. Sau ít phút, hai người cùng trở lại quầy rượu. Tin tức hẳn phải tốt đẹp; bởi Gottfried, người giờ đây hình như biết mình không bị ngáng đường, đang sôi nổi bám riết lấy Binding trong niềm hân hoan rạng rỡ. Hai người lấy chai gin và một giờ sau đã cậu cậu tớ tớ với nhau, khi vui vẻ, Lenz luôn có một cái gì đó lôi cuốn khiến người khác khó lòng cưỡng lại. Bản thân cậu ta cũng không cưỡng nổi mình. Giờ đây cậu ta đang nhấn chìm Binding trong rượu và liền đó cả hai đã cùng nghêu ngao những bài hát lính tráng ở ngoài vườn. Con người lãng mạn cuối cùng đã quên phắt cô gái. Còn lại ba chúng tôi trong quán ăn. Không khí đột nhiên hết sức yên ắng. Chiếc đồng hồ bằng gỗ mun kêu tích tắc. Bà chủ quán thu dọn bát đĩa và nhìn xuống chúng tôi với ánh mắt của người mẹ, một con chó săn màu nâu nằm duỗi mình bên lò sưởi. Thỉnh thoảng nó lại sủa trong giấc ngủ, khe khẽ, ăng ẳng và rền rĩ. Bên ngoài gió lướt qua cửa sổ. Tiếng gió bị át bởi cái thứ bài hát lính giẻ rách, và tôi có cảm giác căn buồng nhỏ dường như tự nâng bổng lên, cùng với chúng tôi bay lững lờ xuyên màn đêm, xuyên năm tháng, lướt qua bao kỷ niệm. Một trạng thái kỳ lạ. Thời gian như đã mất hiệu lực… nó không còn là một dòng sông bắt nguồn từ tăm tối và tìm về tăm tối… nó là một cái hồ trong đó cuộc sống lặng lẽ soi bóng. Tôi nắm trong tay ly rượu của mình. Rượu rum sáng lấp lánh. Tôi nghĩ đến mảnh giấy mình đã viết ban sáng ở xưởng. Tôi đã buồn ít nhiều. Giờ đây tôi không còn buồn nữa. Tất cả thế nào cũng được miễn người ta còn sống. Tôi nhìn Koster. Tôi nghe cậu ta trò chuyện với cô gái nhưng tôi không để ý họ nói gì. Tôi cảm thấy vẻ rực rỡ êm dịu của tình trạng chớm say, nó sưởi ấm dòng máu, và tôi yêu nó bởi thông qua sự mơ mơ mang màng nó cho ta sắc thái phiêu lưu. Ngoài kia Lenz và Binding đang gào bài ca về rừng Argonner. Còn bên cạnh tôi, cô gái không quen biết đang nói, nàng nói khẽ và từ tốn, với cái giọng trầm đục, gợi cảm và hơi khàn khàn ấy. Tôi uống cạn cốc rượu của mình. Hai người kia lại quay vào. Không khí trong lành đã khiến họ tỉnh táo hơn. Chúng tôi đứng đậy. Tôi giúp cô gái mặc áo măng-tô. Nàng đứng sát trước tôi, vươn vai một cách mềm mại, đầu hơi ngả về phía sau miệng hé mở, nhìn trần nở một nụ cười bâng quơ. Tôi buông thõng chiếc măng-tô trong một khoảnh khắc. Mắt tôi để đâu suốt thời gian vừa rồi? Tôi đã ngủ chăng? Tôi bỗng hiểu nỗi phấn khích của Lenz. Nàng quay người vẻ dò hỏi. Tôi giương vội chiếc măng-tô lên và ngó sang Binding. Mặt đỏ như trái anh đào, vẫn ít nhiều đờ đẫn, ông ta đứng cạnh bàn “Cô cho rằng ông ta vẫn lái xe được chăng?”, tôi hỏi. “Tôi tin thể”… Tôi vẫn không thôi nhìn nàng “Nếu ông ta không đủ tỉnh táo, một người trong chúng tôi có thể đi cùng xe cô”. Nàng lôi hộp phấn của mình ra và mở nắp. “Sẽ đâu vào đấy cả thôi”, nàng nói, “khi say, ông ấy lái tốt hơn nhiều”. “Tốt hơn và có lẽ cũng ẩu hơn”, tôi đáp. Nàng nhìn tôi qua mép chiếc gương nhỏ của nàng. “Hy vọng rằng sẽ ổn”, tôi nói, có hơi cường điệu một chút vì Binding đứng khá vững trên đôi chân của mình. Nhưng tôi muốn làm một cái gì đó. Cốt sao nàng đừng bỏ đi. “Cô cho phép tôi sáng mai gọi điện tới nhà cô hỏi thăm chuyến đi ra sao chứ?” tôi hỏi. Nàng không trả lời ngay. “Với trò nhậu nhẹt của mình, dẫu sao chúng tôi cũng có trách nhiệm phần nào”, tôi tiếp. “Nhất là tôi, với chai rum sinh nhật của mình”. Nàng cười. “Vâng được ạ, nếu anh muốn. Phía Tây 2796”. Ra khỏi quán tôi ghi lại ngay số điện. Chúng tôi nhìn xe Binding lăn bánh, rồi cạn thêm ly cuối cùng. Sau đó chúng tôi cho Karl rú máy. Nó lướt qua đám sương mù tháng Ba mỏng manh, chúng tôi thở gấp, thành phố xích lại gần trước mắt chúng tôi, đỏ rực và đung đưa trong sương mù; và từ làn hơi nước, tiệm rượu của Freddi như một con tàu sặc sỡ được chiếu sáng nhô lên. Chúng tôi cùng Karl đến trước mỏ neo. Rượu cognac rót ra vàng óng, rượu gin lóng lánh như ngọc xanh màu nước biển và rượu rum chính là cuộc đời. Chúng tôi ngồi lì lợm trên những chiếc ghế kê trong tiệm, âm nhạc ướt át, sự tồn tại thật sáng sủa và mạnh mẽ; rượu chảy ào qua lồng ngực chúng tôi, chúng tôi quên đi nỗi phiền muộn trong những gian buồng cho thuê trống trải, quên đi nỗi tuyệt vọng của sự hiện tồn, quầy rượu trong tiệm là buồng chỉ huy con tàu, và chúng tôi ồn ào lướt sóng vào tương lai. CHƯƠNG 2 Hôm sau là Chủ nhật. Tôi đánh một giấc dài và chỉ thức giấc khi ánh mặt trời rọi vào giường tôi. Tôi nhảy vội dậy, mở tung cửa sổ. Bên ngoài, không khí tươi mát và trong trẻo. Tôi đặt chiếc bếp cồn lên bậu cửa sổ rồi tìm hộp đựng cà phê. Chủ nhà của tôi, bà Zalewski, đã cho phép tôi tự đun cà phê của mình trong phòng. Cà phê của bà quá loãng. Đặc biệt loãng đối với những kẻ tối hôm trước vừa nốc rượu. Tôi sống ở nhà trọ của Zalewski đã hai năm nay. Tôi thích khu vục này. Nơi đây luôn luôn diễn ra một cái gì đó, vì nhà công đoàn, tiệm cà phê Quốc Tế và trụ sở hội họp của Đội quân cứu tế[5 ] nằm sát bên nhau. Ngoài ra phía trước nhà trọ còn có một nghĩa trang cổ đã ngừng hoạt động từ lâu. Cây cối mọc trong đó chẳng khác gì trong công viên, và khi đêm về yên tĩnh, ta có thể ngỡ mình như đang sống ở thôn quê. Nhưng phải khá khuya mới có được sự yên tĩnh ấy. Bởi bên cạnh nghĩa trang là một quảng trường chợ với nào đu quay, đu thuyền. Với bà Zalewski thì nghĩa trang này là một nguồn lợi chắc chắn. Bà dẫn ra không khí trong lành và tầm nhìn thoáng đạt để đòi những giá thuê nhà cao hơn. Câu nói cửa miệng của bà trong những lần quảng cáo là: “Nhưng thưa các quý vị, quý vị thử ngẫm mà xem… địa thế mới tuyệt chứ!” Tôi hết sức thong thả mặc quần áo để tạo cho mình cảm giác đang là ngày Chủ nhật. Tôi rửa mặt mũi, tôi dạo quanh trong phòng, tôi đọc báo, tôi quấy tách cà phê, tôi đứng bên cửa sổ và nhìn xem đường phố trở nên náo nhiệt ra sao, tôi nghe những chú chim hót trên những tán cây cao trong nghĩa trang… chúng hót như những ống sáo nhỏ bằng bạc của Chúa long lanh hòa với tiếng làu nhàu ngọt ngào, khe khẽ phát ra từ những chiếc đàn quay tay ở quảng trường chợ… tôi lựa chọn giữa một vài chiếc sơ-mi và những đôi bít tất của mình, tuồng như tôi giàu quần áo hơn thế gấp hai chục lần, và vừa huýt sáo tôi vừa dốc túi của mình ra: vài đồng tiền lẻ, một con dao, chìa khóa, mấy điếu thuốc lá… và đây, mảnh giấy ngày hôm qua có ghi tên cô gái và số điện thoại của nàng. Patrice Hollmann. Một cái tên kỳ quặc… Patrice. Tôi đặt mảnh giấy lên mặt bàn. Có thật mới chỉ hôm qua thôi không? Nó đã lại lùi xa biết mấy… gần như đã bị quên đi trong đám hơi men màu xám ngọc của rượu… Thật tuyệt diệu là khi rượu chè… nó khiến ta mau chóng sụp đổ… nhưng từ đêm tới sáng, nó cũng lại tạo ra những khoảng trống, dường như đã trôi qua có đến hàng năm. Tôi nhét mảnh giấy dưới một chồng sách, gọi điện chăng? Có lẽ nên… cũng có lẽ không nên. Ban ngày ta nhìn những sự việc đại loại luôn khác với buổi tối. Thật ra tôi hoàn toàn hài lòng vì có được sự yên tĩnh của mình. Những năm vừa qua ầm ĩ như thế là đủ có điều chớ để một chút gì đến với ta, Koster nói. Cái gì ta đã để đến với ta rồi, ta cứ muốn giữ lấy. Mà giữ thì ta lại không thể… Đúng vào lúc này bắt đầu nổ ra trận cãi vã sáng Chủ nhật thường kỳ ở buồng bên cạnh. Tôi tìm chiếc mũ mà hẳn tôi đã bỏ lại đâu đó tối hôm qua, và lắng tai nghe một lát. Đó là cặp vợ chồng Hasse đang nổi khùng lên với nhau, cả hai sống ở đây đã năm năm, trong một căn buồng nhỏ. Họ không phải là những người xấu. Giá như họ có được một căn hộ ba buồng, với một gian bếp cho người vợ, và ngoài ra thêm một mụn con nữa, thì cuộc hôn nhân của họ có lẽ vẫn giữ được yên ấm. Thế nhưng một căn hộ đòi hỏi nhiều tiền, và ai là kẻ dám sinh con vào giữa thời buổi bấp bênh này! Thế là họ đành cứ sống chật chội, bà vợ sinh thói khỏe cáu gắt, còn ông chồng ngay ngáy lo mất cái cương vị nhỏ nhoi của mình. Khi ấy ông sẽ đi đứt. Ông đã bốn mươi lăm tuổi. Sẽ không ai thèm nhận ông vào làm nữa, hồi ông đã một lần mất việc. Đó là nỗi cay cực… trước kia người ta suy sụp từ từ, và bao giờ cũng vẫn còn những cơ hội để ngoi lên… nhưng ngày nay, liền sau mỗi sự thải hồi là cái vực thẳm thất nghiệp vĩnh viễn. Tôi toan lẳng lặng bỏ ra ngoài thì nghe tiếng gõ cửa, và Hasse thất thểu bước vào. Ông ngồi phịch xuống một chiếc ghế: “Tôi không chịu nổi nữa…” Thật ra ông là một người đàn ông nhỏ nhẹ với đôi vai trễ và chút ria mép. Một viên chức khiêm tốn, tận tụy. Nhưng giờ đây chính những người như thế lại khốn đốn nhất. Mà có lẽ vào thời nào họ cũng là những kẻ lận đận nhất. Đức khiêm tốn và tận tụy chỉ được trả ơn trong tiểu thuyết mà thôi. Trong cuộc sống, chúng bị lợi dụng để rồi sau đó bị gạt sang bên. Hasse giơ tay lên trời: “Anh nghĩ xem lại có thêm hai người nữa bị thải hồi ở công sở. Người tiếp theo là tôi, anh chú ý cho, là tôi!” Ông sống trong nỗi sợ hãi kể từ khi kẻ đầu tiên bị thải hồi. Tôi rót cho ông một ly rượu mạnh. Ông run rẩy toàn thân. Có thể thấy rõ một ngày kia ông sẽ hoàn toàn suy sụp. Ông không còn mấy sức lực để mà chống chọi: “Đã thế, bao giờ cũng phải nghe những lời chì chiết ấy”, ông thì thầm. Hình như bà vợ kết tội ông về hiện trạng của bà. Bà bốn mươi hai tuổi, đã hơi sồ sề và tàn tạ, nhưng cố nhiên không đến nỗi kiệt quệ như ông chồng. Bà đang ở giai đoạn hồi xuân. Can thiệp vào chuyện của họ chẳng ích lợi gì. “Thế này nhé, bác Hasse”, tôi nói “bác cứ việc ngồi đây bao lâu tùy thích. Tôi có việc phải đi. Rượu cognac ở trong tủ áo ấy, nếu bác thích uống thứ ấy hơn. Còn đây là rượu rum. Có cả báo đây. Đến chiều bác hãy thử rủ bác gái ra khỏi nhà này lấy một lần xem sao. Đến rạp chiếu bóng chẳng hạn. Tốn kém cũng ngang như ngồi hai giờ trong tiệm cà phê, mà lại bổ ích hơn hẳn. Khẩu lệnh hôm nay là: ‘Quên đi, chớ có suy nghĩ!’.” Tôi vỗ vai ông với ít nhiều áy náy trong lương tâm. Dẫu rằng rạp chiếu bóng bao giờ cũng tốt. Ở đó ai cũng có thể mơ mộng chút đỉnh. Cửa phòng bên mở toang. Bà vợ khóc nức nở khiến ở ngoài cũng nghe rõ. Tôi đi dọc hành lang. Có ai nép mình phía sau cánh cửa buồng tiếp theo. Người đó đang nghe ngóng. Mùi nước hoa thoang thoảng bay ra. Đó là buồng của Erna Bonig, nữ thư ký tư. Quá ăn diện so với đồng lương của cô ta. Nhưng mỗi tuần sếp của cô ta lại một lần bắt cô ta ghi chép thâu đêm suốt sáng. Và thế là ngày hôm sau cô ta hết sức cau có. Để bù lại, tối nào cô ta cũng đi nhảy. Erna tuyên bố lúc cô ta không thể nhảy được nữa cũng sẽ là lúc cô ta hết thiết sống. Cô ta có hai nhân tình. Anh này yêu và tặng hoa cô ta. Chàng kia được cô ta yêu và cho tiền. Bên cạnh cô ta: đội trưởng đội kỵ mã, bá tước Orlov, người Nga lưu vong, vũ công, bồi bàn, đĩ đực với hai bên tóc mai đã ngả hoa râm, một tay chơi ghita tuyệt vời, tối tối cầu xin Đức Mẹ Kasan ban cho chân điều hành tiếp tân trong một khách sạn cỡ vừa. Hễ say rượu là mau nước mắt. Phòng bên cạnh: bà Bender, hộ lý trong một cư xá dành cho trẻ sơ sinh. Bà đã năm mươi tuổi. Chồng nằm lại trong chiến tranh. Hai con chết năm 1918 vì suy dinh dưỡng. Bà có một con mèo tam thể. Nó là tài sản duy nhất của bà. Bên cạnh nữa… lão Muller, cố vấn kế toán đã nghỉ hưu, theo dõi sổ sách cho một hội chơi tem. Một bộ sưu tập tem sống, ngoài ra chẳng là gì cả. Con người sung sướng. Tôi gõ cánh cửa tiếp theo. “Thế nào Georgie”, tôi nói “vẫn chưa có tin gì sao”? Georgie Block lắc đầu. Chú là sinh viên năm thứ ba. Để theo học được ba năm đó chú đã phải làm việc hai năm ở mỏ. Giờ đây số tiền dành dụm ấy sắp cạn, chỉ đủ nuôi chú thêm hai tháng. Chú chẳng thể quay lại mỏ… Ở đó lúc này thiếu gì thợ không việc làm. Chú xoay xở mọi cách kiếm kế sinh nhai. Chú chạy chân phân phát quảng cáo cho một hãng sản xuất bơ thảo mộc vừa được một tuần thì hãng này bị vỡ nợ. Sau đó ít lâu, xin được việc đi giao báo, chú đã thở phào. Ba ngày sau, lúc tờ mờ sáng chú bị hai tên đội mũ kết chặn đường, giật xấp báo của chú, xé tan và cảnh cáo đừng để chúng phải trông thấy chú lần thứ hai trong cái nghề không mảy may liên quan gì tới chú này. Bản thân bọn chúng cũng khối thằng mất việc rồi. Tuy nhiên sáng hôm sau chú vẫn đi, dẫu đã phải đền tiền số báo bị xé. Một tên nào đó tông xe đạp hất chú té nhào, xấp báo bay xuống bùn. Chú lại phải đền thêm hai mác nữa. Chú đi lần thứ ba và trở về với quần áo rách bươm, mặt mũi bầm dập. Chú đành bỏ việc. Giờ đây ngày nào chú cũng ngồi lỳ trong phòng, tuyệt vọng, và chúi đầu như điên, tuồng như việc học hành còn giúp ích gì cho chú. Mỗi ngày chú chỉ ăn một bữa. Trong khi chú có theo hay không theo học các năm sau cũng thế cả thôi… Ngay giả thử chú có cầm bằng trong tay, thì sớm nhất cũng phải chục năm sau chú mới hòng kiếm nổi một chỗ làm. Tôi đẩy bao thuốc về phía chú: “Thây kệ việc học hành đấy. Georgie. Tôi đây cũng đã từng học. Sau này lúc nào chú bắt đầu lại chẳng được”. Chú lắc đầu “Trước kia, hồi ở mỏ về, tôi đã thấm thía rồi. Chỉ cần buông sách vở một ngày là sẽ quên hết, và tôi không đủ sức làm lại lần thứ hai đâu”. Gương mặt xanh xao với đôi tai vểnh và cặp mắt cận thị, thân hình gầy đét với bộ ngực lép kẹp… Khốn nạn thân chú! “Vậy hãy gắng lên, Georgie” Chú cũng chẳng còn đâu cha mẹ. Nhà bếp. Một cái đầu lợn lòi nhồi. Vật tưởng niệm ông Zalewski đã quá cố. Chiếc máy điện thoại, cảnh tranh tối tranh sáng. Nồng nặc mùi hơi ga và mồ hôi. Cánh cửa hành lang với nhiều danh thiếp dán bên cạnh nút chuông. Trong đó có cả danh thiếp của tôi. “Robert Lohkamp, sinh viên triết, hai hồi chuông dài”. Nó đã vàng ố. Sinh viên triết. Không nghi ngờ gì nữa! Qua từ lâu rồi. Tôi theo cầu thang xuống nhà, đến tiệm cà phê Quốc Tế. Tiệm Quốc Tế là một cái ống lớn, tối tăm, mù mịt khói với nhiều phòng hậu. Phía trong, cạnh quầy, là chiếc đàn dương cầm. Nó đã lạc điệu, vài dây bị đứt, và dãy phiếm bằng ngà voi cũng long mất một số; nhưng tôi yêu con ngựa bạch can đảm dai sức ấy. Nó đã cùng tôi chia sẻ năm tháng cuộc đời tôi hồi tôi được nhận vào chơi dương cầm trong tiệm. Những tay lái gia súc tụ tập với nhau trong những phòng hậu của tiệm cà phê, đôi khi cả những anh hàng chợ nữa. Các ả điếm ngồi phòng ngoài. Tiệm vắng tanh. Chỉ có anh bồi chân bẹt Alois đứng sau quầy rượu. “Như mọi lần?”, gã hỏi. Tôi gật đầu. Gã mang lại cho tôi một ly vang pha rum. Tôi ngồi xuống bàn, thẫn thờ nhìn phía trước. Một tia mặt trời xám lạnh chiếu chếch qua cửa sổ, dừng lại trên những chai rượu mạnh xếp trên giá. Chai rượu anh đào đỏ rực như một viên hồng ngọc. Alois súc sạch các ly. Con mèo của chủ tiệm nằm gừ gừ trên nắp dương cầm. Tôi thong thả rít thuốc lá. Không khí khiến tôi buồn ngủ. Cô gái hôm qua có giọng nói đến lạ. Trầm, hơi đục, gần như khàn khàn, nhưng vẫn êm ái “Cho mượn vài tờ tạp chí đây. Alois” tôi nói. Có tiếng kẹt cửa, Rosa bước vào. Rosa, ả điếm nghĩa trang, được mệnh danh là “con ngựa sắt”. Ả mang cái tên đó bởi ả rất dai sức. Ả định uống một tách sô-cô-la. Sáng Chủ nhật nào ả cũng tự đãi mình một tách tại đây để rồi còn đi Burgdorf thăm con ả. “Chào anh, Robert”. “Chào cô, Rosa. Con nhóc nhà cô sao rồi?” “Em đi thăm cháu bây giờ đây. Nhìn này… em mang theo cho cháu đây”. Ả lôi trong hộp ra một con búp bê hai má đỏ chót và ghì nó vào bụng “Mẹ… mẹ, con búp bê kêu”. Mặt Rosa sáng rỡ lên. “Tuyệt vời!”, tôi nói. “Chú ý nhé!” Ả ngả con búp bê về phía sau. Nó đóng sập hàng mi lại. “Hết tầm đấy, cô Rosa!” Ả lấy làm thỏa mãn và cất con búp bê đi. “Anh biết thông cảm phần nào với những chuyện như thế này, Robert ạ. Anh sẽ là một người chồng tốt”. “Chà chà”, tôi ngờ vực nói. Rosa rất quyến luyến con ả. Ba tháng trở về trước, khi con bé chưa biết đi, ả giữ nó ở bên mình, trong phòng ả. vẫn ổn, mặc dù cái nghề của ả, bởi cạnh đó có một gian xép nhỏ. Tối tối dẫn khách chơi về, ả thường viện một cớ gì đó buộc khách chờ một lát ở ngoài rồi hối hả vào nhà, đẩy chiếc xe nôi sang căn phòng xép, khóa cửa thông giữa hai phòng, rồi mới mời khách vào. Nhưng tiết tháng Chạp mà con bé phải rời căn phòng ấm sang gian xép giá lạnh quá thường xuyên, thành thử nó bị cảm lạnh và hay gào toáng lên ngay giữa lúc ả đang hành nghề. Rosa buộc lòng sống xa con gái, dù rất đau lòng. Ả gửi con vào một trại trẻ đắt tiền. Tại đó ả được xem như một quả phụ đoan chính. Nếu không thế chắc gì người ta đã nhận con ả. Rosa đứng dậy. “Thứ Sáu anh đến chứ?” Tôi gật đầu. Ả nhìn tôi. “Anh hẳn biết có chuyện gì?” “Tất nhiên”. Tôi hoàn toàn chẳng biết có chuyện gì, nhưng tôi cũng chẳng thiết hỏi thử. Tôi đã quen nết như vậy trong cái năm chơi dương cầm ở tiệm này. Cứ thế hóa ra lại thoải mái nhất. Cũng như tôi anh anh em em với tất cả các ả điếm. Không thể khác được. “Tạm biệt, anh Robert”. “Tạm biệt, Rosa”. Tôi còn nán ngồi thêm lát nữa. Nhưng tôi không có được sự thư thái mơ màng đích thực như trong những ngày tôi coi tiệm Quốc Tế là một dạng tổ ấm Chủ nhật của mình. Tôi uống thêm một ly rum, vuốt ve con mèo, rồi bỏ đi. Suốt ngày tôi lang thang đây đó. Tôi không biết mình nên làm gì và cũng chẳng dừng ở bất cứ đâu được lâu. Xế chiều, tôi về xưởng. Tôi gặp Koster: cậu ta đang sửa chiếc Cadillac. Trước đây ít lâu chúng tôi đã mua chiếc xe cũ kỹ ấy với một giá rẻ mạt. Giờ đây chúng tôi vừa tân trang lại nó một cách kỹ lưỡng, và Koster đang tô điểm hoàn chỉnh nó. Đây là một món hời. Chúng tôi sẽ hy vọng trúng to. Tôi ngại rằng khó lòng bán nổi chiếc xe. Vào thời buổi khó khăn này ai ai cũng muốn tậu những chiếc xe nhỏ, chứ đâu ham một chiếc xe buýt kềng càng như nó. “Bọn mình rồi kẹt với nó thôi, Otto ạ”, tôi nói. Thế nhưng Koster vẫn tin tưởng. “Người ta chỉ kẹt với những chiếc xe giá phải chăng thôi, Robby ơi”, cậu ta giải thích. “Những chiếc rẻ hoặc cực đắt lại bán rất chạy. Thời nào cũng vẫn còn có những kẻ sẵn tiền, hoặc ra vẻ ta đây sẵn tiền”. “Gottfried đâu nhỉ?”, tôi hỏi. “Chắc lại hội họp chính trị gì đây”. “Điên rồ! Cậu ta muốn gì ở đó?” Koster cười. “Bản thân cậu ta cũng không biết. Hình như mùa xuân khiến cậu ta ngứa ngáy tay chân. Lúc nào cậu ta chẳng muốn tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ”. “Có thể”, tôi nói. “Nào, mình giúp cậu một tay”. Hai đứa chúng tôi hì hục đến xẩm tối. “Nghỉ thôi” Koster bảo. Chúng tôi rửa ráy. “Cậu biết mình có gì trong này không?”, cậu ta hỏi, tay vỗ ví. “Gì thế?” “Vé xem đấu bốc tối nay. Một đôi. Cậu sẽ cùng đi, hả” Tôi do dự. Cậu ta ngạc nhiên nhìn tôi. “Stilling chọi với Walker nhé”, cậu ta nói. “Một trận đấu hay phải biết”. “Rủ Gottfried ấy”, tôi đề nghị và cảm thấy mình lố bịch vì đã không nhận lời. Nhưng tôi không có hứng đi lắm, chẳng hiểu tại sao. “Cậu có dự định gì rồi chăng?”, cậu ta hỏi. “Không”. Cậu ta nhìn tôi. “Mình cần về nhà”, tôi nói, “Viết thư và những việc đại loại. Cũng phải có lần…” “Cậu ốm hay sao?”, cậu ta lo lắng hỏi. “Ồ không, không một mảy may. Có lẽ mùa xuân cũng khiến mình cảm thấy ngứa ngáy”. “Thôi được. Tùy cậu”. Tôi tha thẩn đi về nhà. Nhưng khi ngồi trong buồng mình rồi, tôi lại chẳng biết nên bắt đầu làm gì. Tôi do dự dạo quanh trong buồng. Giờ đây tôi không còn hiểu thật ra tôi muốn về vì lẽ gì. Cuối cùng tôi đi qua hành lang lại thăm Georgie. Tôi va phải bà Zalewski. “Úi chà”, bà sửng sốt nói, “cũng ở nhà cơ đấy?” “Khó lòng chối cãi”, tôi hơi bực bội đáp. Bà lúc lắc mái đầu với những búp tóc hoa râm “Không đi chơi đâu sao? Kỳ lạ gớm”. Tôi không ngồi lại lâu với Georgie. Sau mười lăm phút tôi đã trở lại buồng mình. Tôi ngẫm nghĩ xem mình có thèm nhấp chút gì không. Nhưng không thấy thèm. Tôi ngồi xuống cạnh cửa sổ, nhìn xuống đường phố. Hoàng hôn lướt trên nghĩa trang với những cặp cánh của loài dơi. Nền trời phía sau nhà công đoàn xanh như một trái táo non. Bên ngoài, đèn đường đã bật; nhưng trời chưa đủ tối nên ánh sáng của chúng như run rẩy. Tôi lần dưới chồng sách mảnh giấy có ghi số điện thoại. Rốt cuộc thì… Tôi có thể thử một lần chứ sao. Thậm chí tôi đã gần như hứa hẹn sẽ gọi điện cho nàng kia mà. Đã chắc gì nàng có mặt ở nhà đấy. Tôi đi ra tiền phòng, nơi đặt máy điện thoại, nhấc ống nghe lên và xin số. Trong khi đợi trả lời, tôi cảm giác như từ ống loa đen thoát ra một làn sóng êm ái, một niềm hy vọng sẽ sang. Cô gái có nhà. Khi cái giọng trầm, hơi đục của nàng đột nhiên cất lên một cách phi thường trong gian phòng chờ của bà Zalewski - giữa những cái đầu lợn lòi, hơi mỡ và soong nồi xủng xoảng. - khe khẽ và hơi chậm rãi như thể nàng cân nhắc từng chữ, thì nỗi bực bội của tôi bỗng chốc tan biến. Tôi móc lại ống nghe sau khi, thay vì chỉ hỏi cho biết tin, đã hẹn được với nàng một cuộc gặp gỡ vào ngày kia. Bỗng chốc mọi thứ đối với tôi không còn u ám như trước. Rõ điên, tôi nghĩ và lắc đầu. Rồi tôi lại nhấc ống nghe, gọi cho Koster. “Cậu vẫn còn giữ vé đấy chứ, Otto?” “Còn”. “Hay lắm. Mình sẽ đi xem đấu bốc với cậu”. Sau đó chúng tôi còn la cà khá lâu trong thành phố về đêm. Đường phố sáng sủa và vắng tanh. Những tấm biển quảng cáo nhấp nháy. Trong các ô trưng bày hàng, đèn cháy rực một cách vô ích. Trong một gian kính thấy sừng sững các hình nộm trần nhồng nhộng với những mái đầu tô vẽ lòe loẹt. Trông ma quái và thác loạn. Bên cạnh, lấp lánh đồ nữ trang. Rồi đến một của hàng lớn tắm mình trong ánh sáng trắng chẳng khác gì một thánh đường. Các ô kính ngồn ngộn hàng tơ lụa sặc sỡ, bóng bẩy. Trước rạp chiếu bóng chồm hổm những hình hài nhợt nhạt, đói ăn. Bên cạnh họ, choáng lộn một chi điếm của một cửa hàng thực phẩm. Đồ hộp xếp chồng lên nhau như những ngọn tháp bằng thiếc, những trái táo mềm quý hiếm nằm trên nệm bông, một dãy ngỗng béo treo lủng lẳng như quần áo trên dây phơi, những ổ bánh mì nâu tròn xen giữa những chiếc xúc xích hun khói chắc nịch, chùm dăm bông và patê cắt khoanh lấp lánh sắc hồng và vàng dịu. Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng đặt cạnh của hàng. Trời mát lạnh. Mặt trăng như một ngọn đèn hồ quang lơ lửng trên các mái nhà. Quá nửa đêm đã lâu. Gần đó trên đường cát, những người thợ dựng một mái lều. Họ sửa chữa đường xe điện. Những chiếc máy quạt gió kêu phè phè, và những chùm tia lửa bắn tung tóe trên những dáng người tối sẫm, khom mình nghiêm trang. Cạnh họ, những chảo nhựa đường bốc khói nghi ngút như những thùng thịt kho. Chúng tôi theo đuổi ý nghĩ của mình. “Nực cười là một Chủ nhật như thế này, phải không, Otto?”, Koster gật đầu. “Thật ra mình hoàn toàn vui mừng khi nó qua đi.”, Koster nhún vai. “Có lẽ mình đã quen với lối sống nhàm chán, tới mức một chút tự do cũng đủ khiến mình khó chịu”. Tôi dựng cổ áo lên. “Có cái gì đó phản bác lại cuộc sống của bọn mình chăng, Otto?” Cậu ta nhìn tôi và mỉm cười. “Một cái gì hoàn toàn khác đã phản bác nó rồi còn đâu, Robby”. “Đúng vậy”, tôi thừa nhận. “Dẫu sao…” Ánh sáng gắt của chiếc máy khoan dùng khí nén khiến mặt nhựa đường xanh ngắt lên. Căn lều tỏa sáng từ bên trong của những người thợ trông như một quê hương nhỏ ấm áp. “Cậu bảo thứ Ba tới chiếc Cadillac đã xong chưa?” tôi hỏi. “Có thể”. Koster đáp. “Sao kia?” “Ồ hỏi vậy thôi…” Chúng tôi đứng lên đi về nhà. “Hôm nay mình hơi điên điên sao ấy Otto ạ”, tôi nói. “Ai cũng có lúc vậy cả. Ngủ ngon nhé, Robby”. “Cả cậu nữa, Otto!” Tôi thức ngồi trong phòng mình lát nữa. Gian buồng nhỏ bỗng chốc không còn vừa mắt tôi chút nào. Chùm đèn quái dị, ánh sáng quá chói, những chiếc ghế bành tơi tả, lớp vải sơn trên trần tầm thường đến thảm hại, bồn rửa mặt, cái giường bên trên treo bức tranh về trận Waterloo… Quả thật không thể dẫn về đây một con người đứng đắn, tôi nghĩ. Một phụ nữ lại càng không thể. May lắm là một ả điếm từ tiệm Quốc Tế. CHƯƠNG 3 Sáng thứ Ba, chúng tôi ngồi trong sân trước xưởng ăn điểm tâm. Chiếc Cadillac đã sửa xong. Lenz cầm trong tay một tờ giấy và nhìn chúng tôi vẻ hí hửng. Là trùm quảng cáo của chúng tôi, Lenz vừa đọc cho Koster và tôi nghe một lời rao hàng mà cậu ta mới thảo ra để bán chiếc xe. Lời rao mở đầu bằng câu: “Kỳ nghỉ bên bờ biển phương Nam trong một chiếc xe lộng lẫy”, một thứ hổ lốn nửa thi ca nửa tụng ca. Koster và tôi lặng im một lát. Chúng tôi còn phải tỉnh trí lại sau cái cơn lũ tưởng tượng đầy hoa mỹ ấy. Lenz ngỡ đâu chúng tôi đã bị chinh phục. “Đầy thi hứng, hả?”, cậu ta hãnh diện hỏi. “Vào thời đại thực dụng phải biết tỏ ra lãng mạn, đó là mánh khóe. Những sự trái ngược thu hút nhau mà lại”. “Nhưng không phải vào lúc làm tiền”, tôi đáp. “Không ai mua động cơ xe hơi để đầu tư, chú em hiểu chưa”, Gottfried lên lớp vẻ bài bác. “Người ta mua chúng để mà tiêu tiền; và chính đây là điểm khởi đầu của chủ nghĩa lãng mạn, chí ít cũng dưới con mắt một nhà kinh doanh. Còn đối với phần lớn thiên hạ, thì đó thậm chí là điểm kết thúc của họ. Cậu nghĩ sao, Otto?” “Cậu biết không…”, Koster thận trọng mở đầu. “Dài lời mà làm gì”, tôi ngắt lời Otto. “Đó là bài quảng cáo cho một khu nghỉ hoặc một loại kem trang điểm, nhưng không phải cho xe hơi”. Lenz chực mở miệng. “Thong thả đã nào”, tôi tiếp. “Hẳn cậu phải cho tụi mình là định kiến, Gottfried ạ. Vì thế mình đề nghị cậu: chúng ta hãy hỏi thử Jupp. Đó là tiếng nói của nhân dân”. Jupp là người làm công độc nhất của chúng tôi, một thiếu niên mười lăm tuổi, vừa giúp việc vừa học nghề ở xưởng. Chú đảm nhiệm máy bơm xăng, sửa soạn bữa điểm tâm và dọn dẹp buổi chiều. Chú có vóc người nhỏ nhắn, gương mặt đầy tàn nhang, và đôi tai vểnh nhất mà tôi từng biết. Koster nói rằng ngộ Jupp có rơi khỏi máy bay thì chú cũng chẳng việc gì. Với đôi tai ấy chú sẽ hạ xuống đất êm ru. Chúng tôi gọi chú lại gần. Lenz đọc chú nghe bài quảng cáo. “Mày sẽ quan tâm đến một chiếc xe như vậy chứ, Jupp?” Koster hỏi. “Một chiếc xe ư?” Jupp hỏi lại. Tôi cười. “Tất nhiên là một chiếc xe”. Gottfried càu nhàu. “Dễ mày tưởng một con cào cào chắc?” “Nó có trục cam điều khiển từ trên, và phanh thủy lực không đã?”, Jupp vẫn thản nhiên hỏi. “Ngu như bò, nó chính là chiếc Cadillac của bọn tao”, Lenz gầm lên. “Vô lý” Jupp cười, miệng ngoác đến tận mang tai. “Thấy chưa, Gottfried!” Koster nói, “chủ nghĩa lãng mạn thời nay là thế đấy”. “Xéo về máy bơm của mày đi, Jupp, thứ con đẻ chết tiệt của thế kỷ hai mươi”. Lenz bất mãn biến vào cái văn phòng khổ để thêm vào bài quảng cáo chút nội dung kỹ thuật mà vẫn giữ được nguyên vẹn thi tứ của nó. Vài phút sau, chánh thanh tra Barsig đột ngột xuất hiện ở cổng sân. Chúng tôi tiếp đón ông đặc biệt trân trọng. Ông là kỹ sư và giám định viên của công ty bảo hiểm xe hơi “Phượng Hoàng”, một nhân vật quan trọng có thể đưa lại cho chúng tôi nhiều mối sửa xe. Chúng tôi hết sức ăn ý với ông. Là kỹ sư, ông sắc sảo như quỷ Satăng, không để lọt một chút gì thật đấy, nhưng là chuyên gia sưu tầm bươm bướm thì ông lại mềm như bún. Ông có một bộ sưu tập lớn, và lần nọ chúng tôi đã đem tặng ông một con bướm to bự lạc vào xưởng chúng tôi hồi đêm. Barsig tái mặt đi và trịnh trọng hẳn lên khi chúng tôi trao con bướm cho ông. Đó là con bưóm Đầu Lâu, một loài cực hiếm mà bộ sưu tập của ông còn thiếu. Ông không bao giờ quên ơn chúng tôi, và kể từ đấy, hễ ở đâu có xe hỏng ông lại mách cho chúng tôi. Để bù lại, gặp con bướm nào chúng tôi cũng bắt đem nộp ông. “Làm một ly vermouth nhé, ông Barsig?”, Lenz mời, đã tươi tỉnh trở lại. “Không uống rượu chừng nào chưa tối”, Barsig đáp. “Đó là nguyên tắc triệt để của tôi”. “Cũng phải phá vỡ những nguyên tắc, nếu không chúng đâu đưa lại niềm vui”, Gottfried miệng nói tay rót rượu ra ly. “Chúc cho tương lai của loài bướm đêm xám đỏ, loài bướm ngày óng ánh xà cừ và loài bướm sắc đuôi công!” Bardich do dự giây lát. “Anh đã có lòng với tôi như vậy, tôi đâu thể từ chối”, ông nói và cầm ly rượu. “Nhưng rồi ta sẽ cụng ly mừng những con bướm mắt bò nhỏ xinh nữa”. Ông mỉm cười ngượng nghịu tuồng như ông hé ra ít nhiều ngụ ý về một người đàn bà, cốt để mua vui. “Tôi vừa phát hiện được một loài bướm mới. Với những chiếc vòi lông”. “Trời đất!”, Lenz thốt lên, “hết lòng bái phục ông! Vậy ra ông là một nhà tiên phong, và tên tuổi của ông sẽ đi vào lịch sử tự nhiên!”. Cả bọn cạn một ly nữa mừng những chiếc vòi lông. Barsig quệt ria mép. “Tôi mang tin mừng lại cho mấy anh. Các anh có thể lấy chiếc xe Ford về. Ban giám đốc đã chấp thuận để các anh sửa”. “Tuyệt”, Koster nói. “Nó sẽ có ích cho chúng tôi. Còn phần dự trù mà chúng tôi đã nêu thì sao?” “Cũng chấp thuận”. “Không bớt?” Barsig nháy mắt. “Thoạt đầu mấy ông còn chưa chịu. Nhưng rốt cuộc…” “Một ly đầy mừng công ty bảo hiểm Phượng Hoàng!”, Lenz nói và lại rót rượu. Barsig đứng lên cáo từ. “Các anh hình dung được không”, ông nói khi đã cất bước, “cái bà cùng ngồi trong chiếc Ford thế mà đã chết cách đây mấy ngày. Bà ta chỉ bị cứa rách da thịt. Hình như mất quá nhiều máu”. “Bà ta bao nhiêu tuổi?” Koster hỏi. “Ba mươi tư”, Barsig đáp. “Có mang bốn tháng. Bảo hiểm hai vạn mác”. Chúng tôi lập tức phóng đi lấy chiếc xe về. Chủ nhân là một chủ hiệu bánh. Đêm nọ, ngà ngà say, lão đã lái xe đâm xầm vào một bức tường. Chỉ vợ lão bị thương, còn bản thân lão chỉ bị xây xước qua gọi là. Trong lúc móc chiếc xe để kéo đi, chúng tôi gặp lão trong gara. Lão lặng lẽ quan sát chúng tôi hồi lâu, co ro với tấm lưng mập ú và cái cổ ngắn, đầu hơi chúi về phía trước. Với sắc mặt bệnh tật, mai mái như thảy các thợ làm bánh, trong bóng tối mờ mờ trông lão chẳng khác gì một con sâu bột kếch xù, ủ ê. Lão chậm chạp tiến lại gần chúng tôi. “Bao giờ thì xe sửa xong?”, lão hỏi. “Quãng ba tuần”, Koster đáp. Lão trỏ vào mui xe. “Kể cả cái này, phải vậy không?” “Sao kia?” Otto hỏi. “Nó còn nguyên vẹn mà”. Lão chủ hiệu bánh phác một cử chỉ nóng nảy. “Tất nhiên rồi. Nhưng tiện thể thêm một cái mui mới vẫn hơn chứ. Đây quả là một món khá bở cho các anh mà. Chúng mình thông cảm lẫn nhau, hả?”. “Không được”, Koster đáp. Cậu ta biết tỏng bụng dạ lão già. Lão muốn ăn không một cái mui mới mà lẽ ra hãng bảo hiểm không phải chịu bằng cách nhập nhằng vào khoản sửa xe. Hai bên cãi vã một hồi. Lão già dọa hủy bỏ hợp đồng, dọa nhờ một xưởng xe biết điều hơn tính lại giá thành. Rốt cuộc Koster đành nhượng bộ. Giá như chúng tôi không cần việc làm thì đời nào cậu ta chịu. “Thấy chưa, sao không bằng lòng ngay cho rồi”, lão chủ hiệu bánh nói với nụ cười nhếch mép. “Mấy ngày tới tôi sẽ đến để lựa chất liệu. Mầu be tôi nghĩ vậy. Những màu dịu ấy”. Chúng tôi kéo chiếc xe đi. Ra ngoài rồi, Lenz chỉ vào nệm chiếc Ford. Trên đó loang lổ những vết đen lớn. “Máu bà vợ vừa chết của lão. Lại còn nì nèo cho được một cái mui lớn. Màu be. Những màu dịu. Phục thật. Mình tin rằng lão dám vòi số tiền bảo hiểm cho cả hai mạng người lắm. Vợ lão đang có mang mà lại”. Koster nhún vai. “Có lẽ lão tự nhủ hai chuyện chẳng liên quan gì với nhau”. “Dám lắm”, Lenz nói. “Thì cũng có những kẻ xem luôn đó là cái may trong cái rủi của họ. Còn bọn mình thì vì thế thiệt béng năm chục mác tiền lời”. Buổi chiều, tôi viện cớ có việc phải về nhà. Tôi hẹn gặp Patrice Hollmann vào lúc năm giờ, nhưng không hé chút gì ở xưởng. Không phải vì tôi muốn giấu diếm; nhưng tôi bỗng cảm thấy khó lòng tin nổi chuyện ấy. Nàng hẹn gặp tôi tại một tiệm cà phê. Tôi chưa hề đến tiệm này; chỉ biết đó là một tiệm nhỏ và lịch sự. Hoàn toàn mù mịt, tôi tới nơi hẹn. Nhưng vừa bước chân vào, tôi đã hốt hoảng giật lùi. Căn phòng rặt bọn đàn bà mồm mép liến thoắng. Tôi đã sa vào một tiệm bánh ngọt điển hình dành cho các bà. Phải gắng lắm tôi mới chộp nổi một bàn vừa được bỏ trống. Tôi khó chịu nhìn quanh. Ngoài tôi ra, trong tiệm chỉ có hai người đàn ông, cả hai trông đều dễ ghét. “Cà phê, trà, hay sô-cô-la?”, gã bồi vừa hỏi vừa dùng khăn phủi vô số vụn bánh trên mặt bàn vào quần áo tôi. “Cho một ly lớn cognac”, tôi đáp. Gã ta mang ly rượu lại. Nhưng đồng thời gã kéo theo một nhóm khách quen đang tìm chỗ, cầm đầu là một bà hộ pháp đã đứng tuổi đội mũ lông đà điểu. “Bốn chỗ, xin mời!”, gã nói, tay chỉ vào bàn tôi ngồi. “Khoan”, tôi đáp, “bàn này không trống. Tôi chờ một người mà”. “Không được đâu, thưa ông”, gã bồi nói. “Vào giờ này không có chỗ nào được dành trước cả”. Tôi nhìn gã. Đoạn tôi nhìn cái bà hộ pháp lúc này đã đứng sát bàn tay nắm chặt thành ghế. Tôi ngó mặt bà ta và từ bỏ mọi ý định chống cự. Có dùng đến cả đại bác cũng không hòng lay chuyển quyết tâm của con người này, ấy là chiếm cho được bàn của tôi. “Ít nhất anh cũng có thể đem thêm cho tôi một ly cognac chứ?”, tôi gắt gã bồi. “Được ạ, thưa ông. Lại một ly lớn ạ”? “Phải”. “Xin có ngay!”, gã cúi mình. “Đây là bàn dành cho những sáu người cơ đấy, thưa ông”, gã nói vẻ xin lỗi. Cái bà hộ pháp hình như cũng tham gia hội bài rượu. Bà ta nhìn chằm chằm vào ly rượu mạnh của tôi, cứ như nó là một con cá ươn không bằng. Để chọc tức bà ta, tôi gọi thêm một ly nữa và giương mắt ngó trả. Bỗng tôi cảm thấy toàn bộ những việc mình sắp làm thật nực cười. Tôi muốn gì ở đây? Và tôi muốn gì ở cô gái? Thậm chí tôi không hề biết liệu mình có nhận nổi nàng giữa đám người hỗn độn và ồn ào này hay không. Tôi bực mình uống ực một hơi hết ly cognac. “Xin chào!” Có ai nói sau lưng tôi. Tôi đứng phắt dậy. Nàng đứng đó, và cười. “Anh bắt đầu kịp thời đấy nhỉ!” Tôi đặt chiếc ly mà tôi vẫn cầm trên tay xuống mặt bàn và bỗng nhiên luống cuống. Trông cô gái hoàn toàn khác với hình ảnh tôi lưu trong trí nhớ. Giữa cái đám đàn bà phốp pháp đang nhồm nhoàm bánh ngọt kia, nàng như một nữ kỵ sĩ trẻ trung, thanh mảnh, điềm tĩnh, tự tin đến rạng rỡ và xa vời. “Giữa nàng và ta không bao giờ nên chuyện gì được”, tôi tự nhủ và hỏi nàng: “Cô vào lối nào mà như ma hiện vậy? Nãy giờ tôi không rời mắt khỏi cửa mà”. Nàng chỉ sang phải. “Ở đằng ấy có một lối vào. Nhưng tôi đến muộn, anh chờ có lâu không?” “Lâu gì đâu. Hai, ba phút là cùng. Tôi cũng vừa đến tức thì”. Đám các bà ngồi cùng bàn lặng hẳn đi. Tôi cảm thấy sau gáy ánh mắt khinh thị của bốn bà mẹ khôn ngoan. “Chúng ta định ngồi lại đây chăng?”, tôi hỏi. Cô gái lướt mắt nhìn nhanh chiếc bàn. Nàng khẽ nhếch miệng. Nàng tinh nghịch nhìn tôi. “Tôi e rằng ở tiệm cà phê nào cũng thế cả thôi”. Tôi lắc đầu. “Miễn vắng hơn. Tiệm này là cái tổ quỷ, ngồi đây đâm mặc cảm đầy người. Tốt nhất chúng ta hãy tới một quán rượu”. “Quán rượu ấy à? Có những quán rượu mở cửa giữa ban ngày ban mặt sao?”. “Tôi biết một quán”, tôi nói. “Tất nhiên ở đây rất yên tĩnh. Nếu như cô muốn…”. “Ừ thì, cũng có lúc…”. Tôi ngước nhìn. Trong khoảnh khắc tôi không hiểu nổi ý nàng. Tôi chẳng hề phản đối sự mai mỉa, với điều kiện nó không chĩa vào tôi; nhưng lương tâm tôi áy náy. “Nào ta đi”, nàng nói. Tôi vẫy gã bồi. “Ba ly lớn cognac”, gã trai bất hạnh gầm gừ với cái giọng như thể gã muốn thanh toán với một khách hàng ở dưới mồ. “Ba mác ba mươi xu!” Cô gái quay lại. “Ba ly cognac trong ba phút sao? Một tốc độ mới tuyệt chứ!” “Trong đó có hai ly từ hôm qua kia”. “Rõ đồ dối trá”. Bà hộ pháp ngồi bên bàn rít lên sau lưng tôi. Bà nín lặng như thể là quá lắm rồi. Tôi quay lại cúi mình. “Chúc một lễ giảng sinh vui vẻ, thưa các quý bà!”. Rồi nhanh chóng bỏ đi. “Anh vừa cãi nhau với họ đấy à?”, cô gái hỏi khi chúng tôi ra đến ngoài đường. “Chẳng có gì đặc biệt. Tôi chỉ không được lòng mấy bà nội trợ trong các gia đình nề nếp”. “Tôi cũng vậy”, nàng đáp. Tôi nhìn nàng. Với tôi, nàng như xuất hiện từ một thế giới khác. Tôi tuyệt đối không hình dung nổi nàng là ai và sống ra sao. Quán rượu là mảnh đất vững chắc của tôi. Fred, gã bồi rượu, đứng sau quầy và đang lau chùi những chiếc ly lớn dành cho cognac khi chúng tôi bước vào. Gã chào tôi như thể trông thấy tôi lần này là lần đầu, như thể trước đây mới hai hôm chẳng phải chính gã đã phải dìu tôi về nhà. Gã từng trải nhiều, rất lịch lãm và đầy kinh nghiệm. Quán rượu gần như trống trơn trừ một bàn. Hầu như bao giờ cũng vậy. Valentin Hauser ngồi đó. Tôi biết anh từ thời chiến tranh; chúng tôi ở cùng đại đội. Một lần, anh ta băng qua hàng rào trọng pháo mang lên tuyến trước cho tôi một phong thư mà anh tưởng của mẹ tôi gửi. Anh biết tôi mong tin mẹ vì bà vừa mổ xong. Nhưng anh đã lầm… đó chỉ là một tờ quảng cáo mũ bảo vệ bằng vải gai. Trên đường trở lại, anh bị một viên đạn găm vào đùi. Sau chiến tranh ít lâu, Valentin được thừa hưởng một gia tài. Kể từ đó anh dốc nó vào rượu. Anh khẳng định phải uống mừng vì đã may mắn sống sót. Dẫu đã bao năm trôi qua cũng thế thôi. Anh lý giải rằng con người ta uống không biết thế nào là đủ để mừng cho đáng cái vận may ấy. Anh là một trong những người đeo đẳng một ký ức ghê sợ về chiến tranh. Chúng tôi, những kẻ khác, đã quên nhiều điều, nhưng anh thì anh nhớ như in từng ngày từng giờ. Tôi thấy anh đã nốc khá nhiều rượu. Anh ngồi rũ gục và đờ đẫn trong cái xó của anh. Tôi giơ tay lên “Chào cậu, Valentin!” Anh ngước nhìn và gật đầu. “Chào cậu, Robby!” Chúng tôi ngồi vào một góc. Gã bồi rượu đến bên. “Cô muốn dùng gì?”, tôi hỏi cô gái. “Có lẽ một ly Martini”, nàng đáp. “Một ly Martini chua”. “Về khoản này thì Fred rất nghệ”. Fred cho phép mình mỉm một nụ cười. “Cho tôi như thương lệ”, tôi nói. Trong tiệm mát mẻ, mờ mờ tối. Nồng nặc mùi rượu gin và cognac bị tràn ra. Hương thơm thoang thoảng như hương đỗ tùng và bánh mì. Trên trần treo lủng lẳng một chiếc tàu buồm nhỏ bằng gỗ. Phần tường phía sau quầy ốp đồng. Ánh sáng dịu của một ngọn đèn hắt ra những tia sáng đỏ, như thể đang phản chiếu một ngọn lửa ngầm dưới lòng đất. Trong số trụ đèn nhỏ rèn bằng sắt gắn trên tường chỉ cháy sáng có hai, một chỗ Valentin ngồi, một chỗ chúng tôi. Những cái chụp đèn được làm bằng giấy da thuộc vàng khè cắt ra từ một tấm bản đồ cũ kỹ trông chẳng khác gì những mảnh địa cầu bé xíu tỏa sáng. Tôi hơi bối rối, không biết nên bắt chuyện cách nào. Có thể nói tôi hầu như không quen biết cô gái, và càng nhìn nàng lâu bao nhiêu, tôi càng cảm giác nàng, xa lạ với mình bấy nhiêu. Đã lâu lắm tôi không ngồi với ai như thế này; tôi đã mất thói quen ấy. Tôi thạo chuyện trò với cánh đàn ông hơn. Ban nãy ở tiệm cà phê tôi thấy quá ồn ào, còn lúc này, với tôi quán rượu thốt nhiên lại quá im ắng. Im ắng tới mức mỗi lời đều hóa ra quan trọng, khiến khó mà nói năng được tự nhiên. Tôi hầu như ước ao được trở lại tiệm cà phê. Fred mang rượu ra. Chúng tôi uống. Rượu rum mạnh và thơm mát, mang hương vị mặt trời. Đây là thứ có thể uống không sợ say. Tôi uống cạn và trao ngay chiếc ly cho Fred. “Cô thích quán này chứ?”, tôi hỏi. Cô gái gật đầu. “Thích hơn tiệm bánh ngọt đằng kia chứ?” “Tôi căm ghét các tiệm bánh ngọt”, nàng đáp. “Thế tại sao cô lại chọn chính nơi đó làm chỗ hẹn”, tôi sửng sốt hỏi. “Tôi chẳng biết nữa”. Nàng bỏ mũ xuống. “Chỉ vì tôi không nảy ra được địa điểm nào khác”. “Như vậy việc cô thích nơi đây lại càng hay. Chúng tôi thường lui tới quán này. Tối tối chúng tôi xem đây gần như nhà mình”. Nàng cười. “Điều đó thật ra không đáng buồn sao?” “Không”, tôi nói, “nó thích hợp với thời buổi này”. Fred mang cho tôi ly thứ hai. Gã đặt thêm một chai Havanna màu xanh lá cây lên bàn. “Của ông Hauser gửi anh”. Từ cái xó của anh, Valentin vẫy sang và nâng ly “31 tháng bảy năm 17, Robby!”, anh gọi, giọng nặng nề. Tôi gật đầu với anh và cũng nâng ly. Lúc nào anh cũng phải uống vì cái gì mới xong; tôi từng bắt gặp anh tối tối uống trong một quán dân quê, khi mừng vầng trăng, lúc lại mừng một bụi tử đinh hương. Rồi anh nhớ tới cái ngày anh chui ra khỏi hầm trú ẩn, nơi chiến trận diễn ra đặc biệt khốc liệt, và lại tạ ơn số phận đã cho mình sống sót và còn được ngồi đây. “Bạn tôi đấy”, tôi bảo cô gái. “Một đồng đội thời chiến tranh. Anh ta là người duy nhất tôi biết đã lẩy ra từ một tai họa khổng lồ chút may mắn cỏn con. Anh ta không còn biết bắt đầu ra sao với cuộc đời mình… bởi vậy anh ta sung sướng chỉ vì mình còn sống”. Nàng trầm ngâm nhìn tôi. Một tia sáng rọi chếch xuống trán và miệng nàng. “Tôi có thể hiểu được lắm”. Tôi ngước nhìn. “Nhưng xin cô chớ hiểu làm gì. Cô còn quá trẻ để hiểu điều đó”. Nàng mỉm cười. Một nụ cười nhẹ, thoảng qua, chỉ hiện trên khóe mắt. Gương mặt nàng hầu như không thay đổi, nó chỉ sáng lên, sáng từ bên trong. “Quá trẻ ư”, nàng nói, “đó chỉ là một từ ngữ vậy thôi. Theo tôi con người ta không bao giờ quá trẻ cả. Chỉ luôn luôn quá già”. Tôi im lặng một khoảnh khắc. “Để bác lại điều cô nói, có thể viện ra vô số lý lẽ”, sau đó tôi đáp và ra hiệu Fred mang thêm chút gì cho tôi. Cô gái mới tự tin và thoải mái làm sao; còn tôi, trái lại, cảm thấy mình cứng vụng như thanh gỗ. Tôi những muốn đưa đẩy một cuộc chuyện trò nhẹ nhàng, vui nhộn, một cuộc chuyện trò thực sự, để sau đó, như thông thường, khi còn lại một mình người ta còn nhớ đến nó. Lenz có cái tài đó, nhưng với tôi thì câu chuyên bao giờ cũng xoay ra vụng về, nặng nề. Lenz không phải là không có lý khi khẳng định rằng về tài nói chuyện, tôi chỉ đáng đánh đổ đồng với một thằng thư ký bưu điện. May mà Fred biết điều. Thay vì mang cho tôi cái ly bé xíu như cái đế khâu, gã bưng ngay đến một cốc vang rõ lịch sự, đầy phè. Như vậy gã đỡ mất công chạy đi chạy lại, mà người ta lại không thể biết tôi nốc bao nhiêu. Tôi phải uống; tôi chẳng còn cách nào khác khả dĩ thoát khỏi tình trạng nặng nề trì đọng này. “Cô dùng thêm một ly Martini nữa nhé?” Tôi hỏi cô gái. “Anh đang uống gì vậy?” “Rum đây”. Nàng ngắm ly rượu của tôi. “Anh vừa mới uống thứ đó xong kia mà!” “Phải”, tôi đáp, “tôi nghiện thứ này nhất”. Nàng lắc đầu: “Tôi không hình dung nổi là nó lại ngon”. “Tôi hoàn toàn không biết nó có ngon hay không nữa”. Nàng nhìn tôi. “Thế tại sao anh lại uống?” “Rum ấy à”, tôi nói, phấn khởi vì đã vớ được một đề tài khả dĩ tán được ít nhiều. “Rum không liên quan gì lắm đến sự ngon miệng. Nó không đơn giản là một thứ đồ uống… mà đúng hơn là một người bạn. Một người bạn làm vợi đi mọi điều. Thay đổi cả thế gian. Và vì thế mà người ta uống…” Tôi đẩy chiếc ly sang bên. “Nhưng để tôi gọi thêm cho cô một ly Martini nữa nhé?” “Một ly rum thì hơn. Tôi cũng muốn nếm thử xem sao”. “Hay lắm”, tôi đáp, “nhưng đừng uống loại này. Nó quá nặng với những ai mới thử lần đầu. Cho một chai cocktail Bacardi đây”, tôi gọi với sang Fred. Fred mang ly lại. Gã còn bưng ra thêm một bát hạnh nhân muối và hạt cà phê rang. “Để luôn cả chai đây cho tôi”, tôi bảo gã. Dần dà câu chuyên trở nên trôi chảy và khéo léo. Nỗi hoài nghi biến mất, những lời lẽ tự tìm đến, và tôi cũng chẳng còn chú ý mình nói gì. Tôi tiếp tục uống, cảm thấy những làn sóng lớn êm ái xô tới trùm lên người, cảm thấy cái giờ khắc trống rỗng của hoàng hôn đang tự lấp đầy bằng những hình ảnh, và các giấc mơ lặng lẽ nối đuôi nhau tái hiện một cách phi thường trên những vùng u ám và hờ hững của sự sống. Những bức tường quán vươn dài ra, và nơi đây bỗng nhiên không còn là quán rượu nữa… mà là một xó xỉnh của thế giới, một góc nương thân, một gian hầm trú ẩn tối mờ bị vây giữa chiến trận hỗn mang muôn đời khốc liệt, trong đó chúng tôi ngồi náu mình và được xô đẩy đến gần nhau một cách khó hiểu xuyên qua bóng tối nhờ nhờ của thời gian. Cô gái thu mình trên ghế, xa lạ và bí ẩn, cứ như từ bờ bên kia của cuộc sống trôi giạt lại. Tôi nghe mình nói, nhưng tuồng như không phải tôi là một kẻ khác đang nói, có lẽ tôi đã từng mong ước được như gã. Những lời lẽ không còn đúng nữa, chúng biến đổi, xô đẩy nhau vào những lĩnh vực khác hơn, nhiều màu sắc hơn là bản thân chúng khi phản ánh lại những biến cố nhỏ nhặt của đời tôi… tôi biết chúng không còn trung thành với sự thật, rằng chúng trở nên khoác lác và dối trá, nhưng, thây kệ… sự thật bi đát và nhạt nhẽo, chỉ tình cảm và ánh phản chiếu những ước mơ mới là cuộc sống… Ánh đèn lấp lánh trong bồn rửa bằng đồng của quán rượu. Thỉnh thoảng Valentin lại nâng ly và lầm bầm một ngày tháng nào đó. Ngoài kia, dòng người và xe cộ cuồn cuộn xuôi ngược trong tiếng còi xe hơi ầm ĩ tựa tiếng kêu của loài ác điểu. Hễ có ai mở cửa tiệm phố xá lại chõ vào chỗ chúng tôi mà rít róng. Rít róng như một mụ già độc mồm độc miệng khỏe đố kỵ. Khi tôi tiễn Patrice Hollmann về nhà, trời đã tối. Chậm rãi, tôi quay trở lại. Chợt tôi cảm thấy cô đơn và trống rỗng. Mưa lâm thâm. Tôi dừng chân trước một ô kính nhà hàng. Lúc này tôi nhận thấy mình đã uống quá nhiều. Không, tôi không lảo đảo… nhưng dầu sao tôi vẫn nhận rõ là mình trót quá chén. Đột nhiên tôi nóng ran cả người. Tôi cởi cúc áo măng-tô, hai mũ ra sau. Mẹ kiếp, một lần nữa tôi lại bị bắt quả tang! Vừa rồi tôi đã lảm nhảm những gì vậy? Tôi không dám ngẫm lại cho chính xác. Mà tôi cũng chẳng còn nhớ tí gì, đó là điều tệ nhất. Một mình nơi đây, trên đường phố lạnh lẽo