🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook 451 Độ F - Ray Bradbury full prc pdf epub azw3 [Giả tưởng] Ebooks Nhóm Zalo RAY BRADBURY 451o F RAY BRADBURY (1920-2012) là một trong những nhà văn Mỹ lừng danh nhất thế kỷ XX, chuyên dòng truyện giả tưởng, viễn tưởng, trinh thám và kinh dị. Ông nổi tiếng nhất với cuốn tiểu thuyết phản địa đàng 451 ĐỘ F (1953) và các tập truyện ngắn kết hợp kinh dị và viễn tưởng như The Martian Chronicles và The Illustrated Man (1951). Ông cũng viết và tư vấn kịch bản điện ảnh và truyền hình, đáng chú ý nhất là bộ phim It Came from Outer Space. Nhiều tác phẩm của ông đã được chuyên thể thành truyện tranh, phim truyền hình cũng như phim điện ảnh. FAHRENHEIT 451 by RAY BRADBURY Copyright: © 1953 BY RAY BRADBURY, 1981 RENEWED BY RAY BRADBURY, 1982 AFTERWORD BY RAY BRADBURY, 1979 CODA BY RAY BRADBURY This edition arranged with DON CONGDON ASSOCIATES, INC. through BIG APPLE AGENCY, INC., LABUAN, MALAYSIA. VIETNAMESE edition copyright ©: 2015 Nha Nam Publishing and Communications JSC All rights reserved. Dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Fahrenheit 451 của Ray Bradbury Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối dưới dạng in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là việc phát tán trên mạng Internet mà không có sự cho phép bằng văn bản của Nhà xuất bản là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của nhà xuất bản và tác giả. Không ủng hộ, khuyến khích những hành vi vi phạm bản quyền. Chỉ mua bán bản in hợp pháp. RAY BRADBURY 451o F - NHIỆT ĐỘ GIẤY IN SÁCH BẮT LỬA, VÀ BỐC CHÁY... DICK TRƯƠNG dịch vh nhã nam NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC Cuốn sách này dành tặng Don Congdon, với lòng biết ơn DẪN NHẬP (Ray Bradbury, 12/03/2003) Còn gì mới để nói về 451 độ F7 Trong vòng ba mươi năm tôi đã viết ba hay bốn bài dẫn nhập, cố giải thích xem cuốn tiểu thuyết đã nảy sinh từ đâu và cuối cùng nó đi đến đích ra sao. Điều đầu tiên phải nói là tôi cảm thấy mình thật may mắn đã sống đủ lâu để có thể ở bên những người đã dành tâm sức cho cuốn tiểu thuyết trong năm qua. Cuốn tiểu thuyết đã là một sự lạ vào hồi đó, và đến giờ vẫn là sự lạ đối với tôi. Tôi đã luôn luôn viết bằng toàn bộ hơi sức mình và từ một vài động cơ ẩn mật nào đó ở bên trong. Tôi đã làm theo lời khuyên của bạn thân tôi là Federico Fellini - khi người ta hỏi về công việc của anh, anh nói, "Đừng bảo tôi là tôi đang làm cái gì, tôi không muốn biết đâu." Điều kỳ tuyệt là hãy cứ dấn tới, để rồi xem nỗi đam mê của ta làm phát lộ được cái gì. Trong năm mươi năm qua tôi đã viết một dị bản đầu gồm 25.000 chữ của cuốn tiểu thuyết có nhan đề The fireman (Lính phóng hỏa), được đăng trên tạp chí Galaxy Science Fiction, vài năm sau đó thì bổ sung thêm 25.000 chữ cho lần xuất bản tại nhà Ballantine Books. Lúc đó vợ chồng tôi vừa sinh con, nên cần tính đến chuyện tìm cho tôi chỗ nào đó yên tĩnh hơn để tôi làm việc. Dạo ấy tôi không có tiền để thuê phòng làm việc, nhưng một hôm, trong khi đang lang thang quanh Los Angeles thì tôi nghe có tiếng gõ máy chữ dưới tầng hầm thư viện, liền đi xuống để xem có gì dưới đó. Tôi phát hiện ra là có một căn phòng với mười hai cái máy đánh chữ cho thuê với giá mười xu nửa giờ. Phấn khởi với triển vọng của công việc, tôi đem theo một túi toàn tiền lẻ và chuyển vào trong căn phòng máy chữ. Tôi không biết mấy sinh viên kia viết gì bằng máy chữ, và họ thì chẳng biết tôi đang viết cái gì, cả tôi cũng thế. Nếu như cuốn tiểu thuyết này có chút gì hấp dẫn, thì theo tôi cách giải thích tốt nhất có lẽ là bởi, trong suốt một tuần rưỡi đầu, cứ tầm hai tiếng đồng hồ một tôi lại phải chạy lên chạy xuống cầu thang và chạy ra chạy vào mấy kệ sách, lôi hết quyển này đến quyển kia ra khỏi giá, cố tìm những đoạn trích thích hợp để đưa vào sách. Tôi không phải nhà nghiên cứu và trí nhớ tôi không lưu lại chính xác cho lắm những gì tôi đã đọc trong quá khứ, cho nên các trích dẫn mà các bạn gặp trong sách là những trường họp ngẫu nhiên kỳ diệu, khi mà chỉ cần rút một cuốn sách ra khỏi giá và mở hú họa một trang là tôi đã tìm ra được một câu, một đoạn cực hay có thể chiếm một vị trí trong cuốn tiểu thuyết. Bản thảo đầu tiên này tôi viết trong vòng đúng chín ngày và mất 9,8 đô, mà không nhận ra rằng cuốn sách có cả một cuộc đời dài trước mặt. Trong những năm sau lần xuất bản đầu tiên, tôi đã viết một vở kịch hai hồi và dành hai mùa hè ở Connecticut để viết một vở opera dựa trên nội dung cuốn sách. Cuốn sách dường như có một cuộc đời cứ không ngừng tự tái tạo. Nếu cố tìm hạt nhân nguyên khởi của cuốn sách trong những năm trước 1950, có lẽ người ta sẽ tìm thấy nó trong những truyện ngắn như "Burning Bright" ("Cháy sáng") và vài truyện khác xuất hiện trong những tác phẩm đầu tay của tôi. Điều chính yếu cần chú ý là suốt cả đời tôi là một kẻ gắn liền với chữ nghĩa sách vở. Tôi bán báo cho đến năm hai mươi hai tuổi và không có tiền vào đại học, nhung suốt một thời gian dài tuần nào tôi cũng ngồi ba bốn đêm ngốn ngấu sách trong thư viện địa phưong. Một vài truyện đầu tay của tôi kể về những quản thủ thư viện, về những kẻ đốt sách, về những người dân tỉnh lẻ cố tìm cách này cách nọ để nhớ nằm lòng những cuốn sách sao cho nếu sách bị đốt thì chúng cũng có được cái gì đó giống như sự bất tử. Điều ngạc nhiên lớn nhất cho cuốn sách xảy ra khi tôi viết truyện ngắn "The pedestrian" ("Khách bộ hành") vào năm 1949. Một đêm nọ tôi đang đi bộ trên một con phố Los Angeles cùng một người bạn thì bị cảnh sát giữ lại. Cảnh sát muốn biết chúng tôi đang làm gì, trong khi đi bộ là mục đích của chúng tôi và trò chuyện là thứ làm chúng tôi bận trí. Bị người ta giữ lại hạch hỏi chỉ vì mình đang đi bộ như thế, tôi bực tức đến nỗi vừa về đến nhà là tôi viết luôn truyện ngắn "The pedestrian" kể về một tương lai mà ở đấy những kẻ đi bộ bị cảnh sát bắt vì tội sử dụng vỉa hè. Ít lâu sau đó tôi cho Khách bộ hành kia đi bộ và khi rẽ vào một góc phố thì anh gặp một cô gái trẻ tên Clarisse McClellan, cô hít một hơi dài rồi nói, "Em biết anh là ai do cái mùi dầu hỏa. Anh là người đốt sách." Chín ngày sau cuốn tiểu thuyết được hoàn tất. Thật tuyệt vời khi ở dưới tầng hầm thư viện, tất tả chạy lên chạy xuống cầu thang, tự tiếp thêm cho mình nguồn sinh lực nhờ chạm vào và nghe mùi những cuốn sách tôi đã biết và những cuốn sách mà mãi đến lúc ấy tôi mới biết. Khi bản thảo đầu tiên của cuốn tiểu thuyết đã xong, tôi chẳng rõ mấy rằng mình đã làm gì. Tôi biết nó đầy những ẩn dụ, nhưng cái từ ẩn dụ không nảy ra trong đầu tôi vào quãng đời đó của tôi. Chỉ về sau tôi mới biết từ ấy và nhận ra rằng khả năng thâu thập ẩn dụ của mình lại hoàn hảo như vậy. Trong những năm viết vở kịch hai hồi và sau đó là vở opera, tôi để cho các nhân vật nói cho tôi biết về những chuyện trong đời họ mà trong sách không có. Tôi đã rất muốn quay trở lại chêm các chuyện thực đó vào văn bản cũ, nhưng đó là một việc nguy hiểm mà các nhà văn phải cự tuyệt. Những chuyện thực ấy, dẫu quan trọng, song có thể làm hỏng những tác phẩm đã hoàn thiện từ nhiều năm trước. Trong khi tôi viết vở kịch, vị đội trưởng lính phóng hỏa của tôi, Beatty, kể cho tôi nghe tại sao ông trở thành người đốt sách. Ông từng có thời là kẻ lang thang khắp các thư viện, yêu những thứ văn chương đẹp nhất trong lịch sử. Nhưng khi cuộc sống thực khiến ông thấy mình như chẳng còn giá trị gì, khi bè bạn chết, khi tình yêu dang dở, khi có quá nhiều cái chết quá nhiều tai nạn vây quanh, ông phát hiện ra rằng niềm tin của mình vào sách đã sụp đổ vì sách không thể giúp ông khi ông cần được giúp. Quay về phía chúng, ông quẹt diêm. Đấy là một trong những điều đẹp đẽ sinh ra từ vở kịch và vở opera đó. Tôi lấy làm vui rằng giờ đây tôi có thể nói về nó, kể cho các bạn nghe Beatty từng kinh qua những gì trong đời. Sau khi sách được ấn hành, trong nhũng năm sau đó tôi nhận được hàng trăm thư từ của người đọc hỏi tôi thế còn Clarisse McClellan thì rốt cuộc ra sao. Họ thích thú về cô gái đầy lôi cuốn, kỳ lạ và quả cảm này đến nỗi họ muốn tin rằng ở đâu đó ngoài chốn hoang sơ nàng vẫn đang sống sót bằng cách nào đó cùng những người ghi nhớ sách. Tôi đã cưỡng được nỗi cám dỗ muốn đưa nàng về lại cuộc sống trong các ấn bản sau của cuốn tiểu thuyết. Tôi dành cho Franfois Truffaut đảm nhận việc đưa Clarisse quay lại cuộc sống trong bộ phim dựng theo 451 độ F, cho dù ông ấy đã đổi tên nàng và làm cho nàng nhiều tuổi hơn, dạo đó tôi cho rằng đó là một sai lầm lớn. Nhưng đến cuối phim nàng đã sống sót và lúc ấy tôi kết luận rằng Truffaut đúng. Khi viết bản thảo đầu tiên của vở kịch tôi đã cho Clarisse sống sót giữa những người ghi nhớ sách trong chốn hoang sơ. Khi viết vở opera tôi cũng làm vậy. Nàng là một nhân vật quá tuyệt vời đến nỗi không thể cho nàng chết được và giờ đây tôi nhận ra rằng đáng lẽ tôi nên cho nàng xuất hiện ở cuối tiểu thuyết. Nói thì nói vậy, nhưng cuốn sách đã hoàn tất và vẹn nguyên. Tôi sẽ không quay lại chỉnh sửa một cái gì. Tôi rất mực kính trọng chàng trai là tôi ngày ấy khi anh ta ngồi xuống trong căn hầm kia cùng một túi tiền xu, vùi đầu vào cái công việc đầy đam mê mà kết quả là tác phẩm này đây. Thế nên, đây, sau năm mươi năm, là 451 độ F. Lúc ấy tôi không biết mình đang làm gì, nhưng giờ thì tôi thấy vui rằng tôi đã hoàn thành nó. Nếu người ta dưa giấy kẻ cho anh, hãy viết ngoài dòng kẻ. - Juan Ramón Jiménez MỘT BẾP LỬA VÀ RỒNG LỬA Đốt là một cái thú. Được thấy thứ này thứ nọ bị ngốn ngấu dần, thứ này thứ nọ bị đen đi và bị biến dạng, đó là một cái thú đặc biệt. Với cái đầu vòi bằng đồng nắm chặt trong tay, với con mãng xà khổng lồ phun thứ nọc độc dầu hỏa lên thế giới, mạch máu giật giật trong đầu anh, và tay anh là tay của một nhạc trưởng kỳ tuyệt nào đấy đang chơi tất tật các bản giao hưởng của bùng cháy và thiêu đốt hầu làm cho rụi hẳn nhũng mảnh vụn và tàn dư than củi của lịch sử. Với cái mũ sắt tượng trưng mang số 451 trên cái đầu phớt lạnh, và đôi mắt bừng lửa màu cam với ý nghĩ về điều sẽ đến tiếp theo đây, anh bật mồi lửa và căn nhà thoắt cái nhào vào một ngọn lửa ngoác mồm nung cháy bầu trời buổi tối thành màu đỏ màu vàng màu đen. Anh xoải bước vào một bầy đom đóm lửa. Trên hết cả, anh muốn, giống như câu đùa cũ nói, xọc một cái kẹo dẻo trên đầu gậy vào bếp lửa, trong khi những quyển sách với đôi cánh bồ câu vỗ phần phật chết trên hàng hiên và bãi cỏ của căn nhà. Trong khi những cuốn sách tung bay trong những vòng xoáy lửa rồi bị cuốn đi theo một làn gió đã ám màu khói. Montag cười cái nụ cười gằn của tất cả những người bị lửa táp cho cháy nám và buộc phải lùi bước. Anh biết rằng khi anh quay lại trạm phóng hỏa, anh có thể nháy mắt với chính mình, một nghệ nhân lang thang, đen nhẻm như bần cháy, ở trong gương. Sau đó, đi ngủ, anh sẽ cảm thấy cái nụ cười dữ dằn kia vẫn còn được các cơ mặt mình giữ chặt, trong bóng tối. Nó chả bao giờ biến đi hẳn, cái nụ cười ấy, nó chẳng bao giờ đi hẳn, theo như anh còn nhớ được. Anh treo chiếc mũ bảo hộ màu đen bọ cánh cứng lên mà đánh bóng; anh treo chiếc áo khoác chống cháy lên thật chỉn chu; anh xối nước tắm xả láng, rồi thì, mồm huýt sáo, tay đút túi quần, anh băng qua tầng trên của trạm phóng hỏa và rơi tọt xuống cái lỗ. Đến khoảnh khắc cuối, khi tai họa xem chừng không tránh khỏi, anh rút hai tay ra khỏi túi quần và ngắt ngang cú rơi của mình bằng cách chộp lấy cây cột vàng. Anh dừng khựng lại với một tiếng ken két, hai gót chân chỉ còn cách sàn bê tông tầng dưới chưa đầy ba phân. Anh đi ra khỏi trạm phóng hỏa và bước dọc con phố nửa đêm về phía đường tàu điện ngầm nơi đoàn tàu chân không trôi im ru dọc theo đường ống trơn tru trong lòng đất và với một luồng hơi vĩ đại phụt ra âm ấm nhả anh lên cái thang chuyền giữa hai vách tường lát gạch màu kem dẫn lên khu ngoại ô. Miệng huýt sáo, anh để cái thang chuyền nâng anh lướt khẽ về phía bầu không khí ban đêm tĩnh lặng. Anh bước về phía góc phố, gần như chẳng nghĩ về cái gì cụ thể. Tuy nhiên, chưa kịp đến góc phố thì anh chậm bước như thể có một làn gió nổi lên chẳng rõ từ đâu, như thể có ai đó vừa gọi tên anh. Mấy đêm gần đây anh có cảm giác hết sức bất an về cái vỉa hè ngay nơi góc đường đây, mỗi lần đi về nhà dưới ánh sao. Anh có cảm giác một khoảnh khắc ngay trước khi anh rẽ vào khúc quanh, có ai đó vừa ở đấy. Bầu không khí tuồng như nhuốm một sự bình an đặc biệt, như thể có ai đó đã đợi ở đấy, lặng lẽ, và chỉ một khoảnh khắc trước khi anh đến, mới biến thành cái bóng để anh đi xuyên qua. Có lẽ mũi anh phát hiện được một mùi hương thoang thoảng, có lẽ da trên mu hai bàn tay anh, trên mặt anh, cảm nhận được nhiệt độ tăng lên ngay tại vị trí này, vì nếu có một người đứng thì không khí ngay tại đấy có thể nóng lên mười độ trong chốc lát. Không thể nào hiểu được. Mỗi lần rẽ ở khúc quanh, anh chỉ thấy vỉa hè màu trắng, không ai sử dụng, cong vênh, có chăng là, vào một đêm nọ, có gì đó thoắt cái đã vụt băng qua một bãi cỏ trước khi anh kịp chú mục vào hay mở miệng nói. Nhưng đêm nay, anh chậm bước lại đến mức gần như dừng hẳn. Tâm trí anh, vươn ra đằng trước để rẽ nơi khúc quanh thay cho thể xác, đã nghe được tiếng thì thầm hết sức khẽ khàng. Tiếng thở ư? Hay là bầu không khí bị nén lại chỉ vì có ai đó hết sức lặng lẽ đứng đấy, chờ đợi? Anh rẽ nơi khúc quanh. Lá thu bay xào xạc trên vỉa hè sáng trăng khiến cho cô gái đi trên đó tựa hồ như đang lướt, buông mình cho chuyển động của gió và lá đưa về phía trước. Đầu nàng hơi cúi xuống để quan sát đôi giày khuấy động những chiếc lá xoáy tròn. Mặt nàng nhỏ nhắn và trắng như sữa, và trên khuôn mặt đó có một vẻ khao khát dịu dàng chạm vào mọi thứ với sự hiếu kỳ không biết mệt mỏi. Đó là một cái nhìn hồ như phơn phớt ngạc nhiên; đôi mắt đen dán chặt vào thế giới đến nỗi không một động tĩnh nào thoát khỏi nó được. Váy nàng màu trắng, và nó lao xao. Anh tưởng như mình nghe được cả cử động của hai bàn tay nàng khi nàng bước đi, và cái âm thanh nhỏ vô cùng nhỏ lúc này, sắc trắng khuấy động trên khuôn mặt nàng khi nàng phát hiện ra mình đang đến rất gần một người đàn ông đang đứng chờ giữa vỉa hè. Cây cối trên đầu rào rào đổ con mưa lá. Cô gái dừng bước và trông như thể sẽ giật lùi lại vì bị bất ngờ, song nàng lại đứng đấy nhìn Montag với đôi mắt thật đen thật sáng thật sống động đến nỗi anh cảm thấy mình vừa nói một điều gì tuyệt đẹp. Song anh biết miệng anh chỉ vừa mới động đậy để nói tiếng chào, và khi nàng có vẻ bị thôi miên bởi con rồng lửa trên cánh tay anh và cái đĩa phượng hoàng trên ngực anh, anh lại nói. "Dĩ nhiên," anh nói, "cô là hàng xóm mới của chúng tôi, phải không?" "Còn anh ắt hẳn là..." mắt nàng đang dán vào các biểu tượng nghề nghiệp của anh liền ngước lên, "... lính phóng hỏa." Giọng nàng nhỏ dần. "Lạ nhỉ, làm sao cô biết." "Em... nhắm mắt em cũng biết," nàng nói, chậm rãi. "Sao kia... do mùi dầu hỏa chăng? Vợ tôi cứ kêu ca cằn nhằn suốt,” anh cười to. "Có tắm rửa cũng chả bao giờ gột cho hết được." "Không, không gột được đâu," nàng nói, với vẻ kinh sợ. Anh cảm thấy nàng đang lượn vòng xung quanh anh, xoay anh từ bên này qua bên kia, khẽ lắc anh, và dốc rỗng hết các túi của anh, trong khi nàng không hề nhúc nhích. "Dầu hỏa," anh nói, bởi khoảng lặng đã kéo dài, "với tôi chẳng khác gì nước hoa." "Có thật là nó có vẻ như vậy không?" "Dĩ nhiên. Sao lại không?" Nàng nghĩ ngợi một hồi lâu. "Em không biết." Nàng quay lại nhìn vỉa hè dẫn về nhà họ. "Em đi cùng anh có được không? Em là Clarisse McClellan." "Clarisse. Tôi là Guy Montag. Nào ta đi. Cô làm gì mà lang thang ngoài đường giữa đêm hôm khuya khoắt thế này? Cô bao nhiêu tuổi?" Họ bước đi trong đêm đầy gió vừa ấm áp vừa mát mẻ trên vỉa hè dát bạc, có hương mơ và dâu tươi thoảng nhẹ trong không khí, anh liền nhìn quanh và nhận ra chuyện này không thể xảy ra được, mùa ấy đã qua lâu lắm rồi. Lúc này chỉ có cô gái đang đi cùng anh, khuôn mặt nàng sáng như tuyết dưới ánh trăng, và anh biết nàng đang lật đi lật lại những câu hỏi của anh, tìm câu trả lòi tốt nhất để đáp lại. “À” nàng nói, "em mười bảy tuổi và em điên khùng. Ông bác em nói hai thứ đó luôn luôn đi với nhau. Bác bảo là khi người ta hỏi tuổi em, em hãy luôn luôn nói em mười bảy tuổi và bị điên. Đi bộ ban đêm vào giờ này chẳng phải là rất hay sao? Em thích ngửi mùi các thứ và nhìn các thứ, đôi khi em thức suốt đêm, cứ đi hoài, và ngắm mặt trời mọc." Họ lại đi trong im lặng và cuối cùng nàng nói, vẻ suy tư, "Anh biết không, em chẳng sợ anh tí nào cả." Anh ngạc nhiên. "Sao em lại phải sợ?" "Nhiều người sợ lắm. Ý em là sợ lính phóng hỏa. Nhưng xét cho cùng anh chỉ là người thường thôi mà..." Anh thấy chính mình trong mắt nàng, đọng lại trong hai giọt nước sáng lóng lánh, bản thân anh thì nhỏ xíu, tối đen, rõ từng chi tiết một, nếp nhăn quanh miệng anh, mọi cái đều ở đấy, dường như mắt nàng là hai mẩu hổ phách huyền diệu màu tím có khả năng tóm bắt anh và giữ anh hoàn toàn nguyên vẹn. Mặt nàng, lúc này quay sang anh, nom như bằng thứ pha lê màu sữa mỏng manh, với một ánh sáng mềm mại, bền bỉ bên trong nó. Không phải thứ ánh sáng đầy kích động của điện mà là... là gì? Mà là ánh sáng bình thản lạ lùng, hiếm hơi và hơi lay động của ngọn nến. Có lần, hồi anh còn nhỏ, khi điện bị cắt, mẹ anh tìm ra và thắp lên cây nến cuối cùng và rồi tiếp theo đó là một tiếng đồng hồ ngắn ngủi tái khám phá, tái khám phá cái nguồn sáng khiến cho không gian mất đi những đường nét dài rộng mà tiến lại gần quanh họ, thân thiện ấm cúng, và họ, hai mẹ con, chỉ hai người, như là con người mới, chi mong điện đừng có lại quá sớm... Thế rồi Clarisse McClellan nói: "Em hỏi cái này không biết có được không? Anh làm lính phóng hỏa được bao lâu rồi?" "Từ năm hai mươi tuổi, mười năm rồi." "Anh đã có khi nào đọc những sách mà anh đốt chưa?" Anh phá lên cười. "Chuyện đó phạm pháp mà!" "Ồ. Dĩ nhiên." "Việc ấy hay lắm. Thứ Hai ta đốt Hardy, thứ Tư Tennyson, thứ Sáu Swift, đốt thành tro, rồi thì đốt tiêu luôn tro. Khẩu hiệu chính thức của tụi tôi đó." Họ đi tiếp, rồi cô gái nói, "Có đúng là hồi xưa chỉ có lính chuyên dập lửa chứ không có lính chuyên phóng lửa?" "Không. Nhà cửa xưa nay luôn luôn chịu lửa, tin lời tôi đi." "Lạ nhỉ. Có lần em nghe bảo hồi xưa, xưa lắm rồi ấy, nhà cửa thường hay bị cháy do tai nạn nên người ta phải có lính cứu hỏa để ngăn lửa lại." Anh cả cười. Nàng liếc nhanh sang. "Sao anh lại cười?" "Tôi không biết." Anh lại phá lên cười rồi ngừng lại. "Nhưng sao?" "Anh cười khi em không có ý chọc cười thế rồi anh trả lời ngay tắp lự. Anh chả khi nào chịu dừng lại mà nghĩ cho kỹ điều em hỏi anh." Anh dừng bước. "Cô lạ thật,” anh nói, nhìn nàng. "Cô không biết tôn trọng người khác sao?" "Em không có ý xúc phạm. Chắc chỉ là vì em thích quan sát thiên hạ quá.” "Chậc, thế cái này có chút ý nghĩa gì với cô không?" Anh vỗ vỗ vào con số 451 thêu trên tay áo màu than của mình. "Có," cô thì thầm. Cô rảo bước lên. "Có khi nào anh quan sát mấy chiếc xe phản lực lao vùn vụt trên đại lộ đằng kia không?" "Cô đánh trống lảng kìa!" "Đôi khi em nghĩ những người lái kia chẳng biết cỏ hay hoa là cái gì, bởi họ chẳng bao giờ nhìn chúng một cách chậm rãi hết," nàng nói. "Nếu anh cho một tay tài xế xem một vệt mờ màu xanh lục thì, Ồ vâng, là cỏ đây, y ta sẽ nói. Một vệt mờ màu hồng? ừ thì một vườn hồng! Những vệt mờ màu trắng là nhà cửa. Vệt mờ màu nâu là mấy con bò. Ông bác em có lần lái xe chậm trên xa lộ. Bác ấy lái bốn mươi dặm một giờ, thế là người ta giam bác ấy hai ngày. Chuyện ấy chẳng phải tức cười sao, mà cũng buồn nữa?" "Cô cả nghĩ quá đấy," Montag nói, cảm thấy bứt rứt. "Em chả mấy khi xem mấy cái 'tường phòng khách' hay đi xem đua xe hay tới công viên giải trí. Thành thử em có khối thì giờ để suy nghĩ toàn chuyện điên khùng, chắc thế. Anh đã thấy cái biển quảng cáo dài bảy chục mét ở vùng quê bên ngoài thành phố chưa? Anh có biết là hồi xưa biển quảng cáo chỉ dài bảy mét thôi không? Nhưng bây giờ xe chạy nhanh đến nỗi người ta phải kéo dài cái biển ra như vậy thì nó mới hiện đủ lâu để người lái xe thấy được trên đó có gì." "Tôi không biết chuyện ấy!" Montag bật cười. "Cá là em còn biết chuyện khác mà anh không biết. Có sương trên cỏ vào buổi sáng." Anh bỗng dưng không nhớ được liệu mình có biết chuyện này không, và điều đó khiến anh bực dọc. "Và nếu anh nhìn," nàng hất đầu về phía bầu trời, "thì sẽ thấy có người ở trên mặt trăng." Đã lâu lắm rồi anh không nhìn. Họ đi bộ nốt đoạn đường còn lại trong im lặng, nàng im lặng trầm ngâm, còn anh thì một thứ im lặng bức bối khó chịu, thỉnh thoảng anh lại liếc nhìn nàng như thể kết tội. Khi họ về đến nhà nàng, tất cả đèn đóm đều sáng trưng. "Chuyện gì vậy?" Montag hiếm khi thấy nhiều đèn đến thế trong một căn nhà. "Ồ, chỉ là ba mẹ em với ông bác em ngồi nói chuyện ấy mà. Cũng như làm người đi bộ thôi, chỉ có điều hiếm khi hơn. Bác em có một lần khác bị bắt - em kể cho anh chưa nhỉ? - vì tội đi bộ. Ôi, nhà chúng em thật kỳ quặc quá sức." "Nhưng nhà em nói về chuyện gì vậy chứ?" Nàng nghe thế liền phá lên cười. "Chúc ngủ ngon!" Nàng rảo bước. Đoạn nàng như nhớ ra điều gì, liền quay lại nhìn anh với vẻ vừa ngạc nhiên vừa tò mò. "Anh có hạnh phúc không?" nàng nói. "Tôi có sao cơ?" anh kêu lên. Nhưng nàng đã đi rồi - nàng chạy đi trong ánh trăng. Cửa trước nhè nhẹ khép lại. "Hạnh phúc! Vớ vẩn quá chừng." Anh thôi cười. Anh đút tay vào ô lõm hình bàn tay nơi cửa trước nhà để nó nhận dạng anh. Cửa trượt mở ra. Dĩ nhiên mình hạnh phúc. Cô ta nghĩ gì vậy chứ? Nghĩ mình không hạnh phúc ư? anh hỏi những căn phòng yên ắng. Anh đứng nhìn lên lưới thông gió trong sảnh trước và đột nhiên nhớ lại rằng có cái gì đó ẩn sau tấm lưới ấy, cái gì đó hình như lúc này đang nhòm xuống anh. Anh vội rời mắt đi chỗ khác. Thật là cuộc gặp gỡ kỳ lạ vào một đêm kỳ lạ. Anh không nhớ được có chuyện gì khác giống như thế, ngoại trừ một buổi chiều cách đây một năm, anh gặp một ông già trong công viên và họ trò chuyện với nhau... Montag lắc đầu. Anh nhìn một bức tường trơn. Khuôn mặt cô gái nằm đó, thật đẹp trong trí nhớ: quả thật là đáng kinh ngạc. Nàng có một khuôn mặt rất mảnh giống như mặt số của một cái đồng hồ nhỏ ẩn hiện mờ mờ trong căn phòng tối giữa đêm khuya khi ta thức dậy muốn xem giờ và nhìn thấy cái đồng hồ cho ta biết giờ biết phút biết giây, với một sự im lặng màu trắng và một quầng sáng, rất mực đoan chắc, biết rỗ rằng nó phải nói gì về đêm đang tiến nhanh về phía những bóng tối còn dày đặc hơn, nhưng cũng là tiến về phía một mặt trời mới. "Cái gì?" Montag hỏi cái tôi khác đó, cái thằng ngốc trong tiềm thức thỉnh thoảng lại ba hoa bốc phét, hoàn toàn độc lập với ý chí, với thói quen, với lương tri. Anh lại liếc về bức tường. Mà giống cả một tấm gương nữa, giống làm sao, khuôn mặt nàng. Không thể được; vì liệu ta biết được bao nhiêu người khúc xạ ánh sáng của chính ta về lại cho ta kia chứ? Con người ta thường là - anh tìm một hình ảnh so sánh, và tìm thấy trong công việc mình làm - những ngọn đuốc, cứ bùng cháy cho đến khi rụi hết. Thật họa hoằn làm sao những khi khuôn mặt người khác thu nhận ta và ném trả lại ta biểu lộ của chính ta, cái suy nghĩ run rẩy sâu kín nhất của ta? Cô gái này có cái khả năng đồng hóa vào ngoại thể thật đáng kinh ngạc; nàng giống như người háo hức xem một buổi diễn múa rối, đoán trước được từng cái nháy mắt, từng cử động của bàn tay anh, từng cái nhúc nhích của một ngón tay, một khoảnh khắc trước khi nó bắt đầu. Họ đi cùng nhau được bao lâu nhỉ? Ba phút? Năm? Thế nhưng khoảng thời gian đó giờ đây có vẻ dài làm sao. Hình ảnh nàng mới rợn ngợp làm sao trên cái sân khấu trước mặt anh; và bóng nàng hắt lên tường mới to lớn làm sao so với thân hình mảnh dẻ của nàng! Anh cảm thấy nếu mắt anh ngứa, nàng sẽ chớp mắt. Và nếu các cơ hàm anh duỗi ra nhẹ đến không thể nhận thấy, nàng sẽ ngáp trước khi anh ngáp. Này nhé, anh nghĩ, giờ ngẫm lại chuyện đó mới thấy, nàng gần như có vẻ đang đợi mình ở đó, giữa phố, lúc khuya lắc khuya lơ như thế... Anh mở cửa phòng ngủ. Giống như bước vào một căn phòng bằng đá hoa cương lạnh lẽo của một lăng mộ sau khi trăng đã lặn. Tối như bưng, không có một chút gì gợi đến thế giới màu bạc ở ngoài kia, cửa sổ đóng im ỉm, cái biệt phòng thuộc một chốn hầm mộ nơi không một âm thanh nào của thành phố lớn ngoài kia thâm nhập tới được. Căn phòng không trống. Anh lắng nghe. Tiếng vo vo nhỏ như muỗi nhảy múa trong không khí, tiếng điện chạy rì rầm như của một con ong bắp cày ẩn rúc trong cái ổ ấm áp màu hồng đặc biệt của nó. Tiếng nhạc hầu như đủ lớn để anh theo được giai điệu. Anh cảm thấy nụ cười của mình tuột đi, chảy ra, co vào và rúm ró lại như một mảnh da nhầy mỡ, như chất liệu của một ngọn nến kỳ ảo đã cháy quá lâu và giờ đang rụm xuống, giờ đã tắt ngấm. Bóng tối. Anh không hạnh phúc. Anh không hạnh phúc. Anh thốt lên những lòi đó với chính mình. Anh nhận ra điều này là hiện trạng đích thực của mọi sự. Anh đeo hạnh phúc của mình như đeo cái mặt nạ nhưng cô gái kia đã chạy về phía bên kia bãi cỏ đem theo cái mặt nạ ấy và anh không có cách nào đến gõ cửa nhà nàng xin nàng trả lại nó. Không bật đèn lên, anh mường tượng căn phòng trông sẽ ra sao. Vợ anh duỗi dài trên giường, không đắp chăn, lạnh ngắt, như một cái xác phơi ra trên nắp mộ, mắt cô neo chặt vào trần nhà bằng những sợi thép vô hình, bất động. Và trong tai cô là những chiếc Vỏ Sò con, những cái radio nhỏ như chiếc đê khâu nhét chặt vào tai, và một đại dương âm thanh điện tử, hết nhạc lại nói rồi lại nhạc rồi lại nói cứ tràn vào, không ngừng tràn vào bến bờ tâm trí chong chong không ngủ của cô. Thực ra thì phòng trống không. Đêm nào những làn sóng cũng ùa vào mang cô đi trên những con triều âm thanh khổng lồ, bồng bềnh đưa cô, mắt mở to, về phía buổi sáng. Suốt hai năm qua chẳng đêm nào Mildred không bơi trong cái biển đó, không vui vẻ ngụp sâu trong nó đến lần thứ ba. Căn phòng lạnh lẽo thế nhưng anh vẫn thấy không thể thở được. Anh không muốn kéo rèm và mở mấy ô cửa sổ kiểu Pháp, bởi anh không muốn ánh trăng tràn vào phòng. Thế nên, với cảm giác mình như kẻ một giờ nữa sẽ chết vì thiếu không khí, anh mò mẫm đi về phía cái giường còn trống, tách biệt và do đó lạnh lẽo của mình. Một khoảnh khắc trước khi chân anh chạm đến cái vật nằm trên sàn anh đã biết mình sẽ chạm phải một vật như thế. Từa tựa cái cảm giác anh đã trải qua trước khi rẽ ở góc đường và suýt va vào cô gái khiến cô ngã quay ra. Chân anh, trong khi gửi những sóng rung động về phía trước, nhận được những tiếng vang của chướng ngại vật nhỏ chắn ngang đường ngay lúc chân vung lên. Chân anh đá. Vật đó vang lên một tiếng cạch đùng đục rồi đổ xuống trong bóng tối. Anh đứng thẳng đơ, lắng nghe con người nằm trên cái giường tối om trong bóng đêm hoàn toàn không đường nét. Hơi thở thoát ra từ hai lỗ mũi nhẹ đến nỗi chỉ làm lay động những mép rìa xa nhất của sự sống, một chiếc lá nhỏ, một cái lông vũ đen, một sợi tóc duy nhất. Anh vẫn không muốn ánh sáng bên ngoài. Anh lôi bật lửa ra, sờ con rồng lửa khắc trên mặt đĩa đánh lửa bằng bạc, bật lên... Hai hòn đá mặt trăng nhìn lên anh trong ánh sáng ngọn lửa nhỏ cầm tay; hai hòn đá mặt trăng trắng lờ nhờ vùi trong một rãnh nước trong, tại đó sự sống của thế giới này tuôn chảy mà không hề chạm vào chúng. "Mildred!" Mặt cô giống như một hòn đảo phủ tuyết trên đó mưa có thể rơi, song nó không cảm nhận được mưa; trên đó mây có thể lướt bóng qua, nhưng cô không cảm nhận được cái bóng nào. Chỉ có tiếng hát của những con ong bắp cày - những cái radio bé như đê khâu trong đôi tai lèn kín của cô, mắt cô trong suốt như thủy tinh, và hơi thở đi ra đi vào, nhẹ, yếu, ra vào hai lỗ mũi cô, và cô không bận tâm nó đến hay đi, đi hay đến. Cái vật anh vừa đá đổ chỏng chơ lúc này nằm sáng óng ánh dưới mép giường anh. Cái chai pha lê nhỏ đựng thuốc ngủ mới sáng sớm hôm nay còn đầy ba chục viên con nhộng, bây giờ nằm đó, mở nắp, rỗng không dưới ánh sáng ngọn lửa nhỏ xíu. Giữa lúc anh đứng đó thì bầu trời bên trên căn nhà thét lên. Có tiếng xé toạc khủng khiếp như thể có hai bàn tay khổng lồ vừa xé toang một vạn dặm vải lanh đen dọc đường khâu. Montag bị xẻ làm đôi. Anh cảm thấy ngực mình bị chẻ và tách thành hai nửa. Máy bay ném bom bay qua, bay qua nữa, bay qua nữa, một hai, một hai, một hai, sáu chiếc, chín chiếc, mười hai chiếc, một chiếc rồi một chiếc rồi một chiếc rồi một chiếc nữa và chiếc nữa và chiếc nữa, tất cả đang gào thét thay anh. Anh mở miệng ra để tiếng thét chói lói của chúng giáng xuống rồi bật khỏi hai hàm ráng anh trần trụi nhe ra. Căn nhà rung chuyển. Ngọn lửa tắt phụt trong tay anh. Hai hòn đá mặt trăng biến mất. Anh cảm thấy tay mình lao về phía điện thoại. Những chiếc máy bay đã đi mất. Anh thấy môi mình động đậy, miết vào ống nói điện thoại. "Bệnh viện cấp cứu.." Một tiếng thì thầm khủng khiếp. Anh cảm thấy các vì sao đã rụm ra thành bụi vì âm thanh những chiếc phản lực đen và sáng ra mặt đất sẽ phủ kín bụi của chúng như một thứ tuyết lạ. Đó là ý nghĩ ngu ngốc của anh khi anh đứng đó run rẩy trong bóng tối, để cho mồi mình động đậy, động đậy mãi không thôi. Họ có cái máy này. Thật ra là hai máy. Một trong hai cái luồn vào dạ dày ta như con rắn hổ mang đen chui xuống một cái giếng đầy âm vang để tìm toàn bộ vùng nước xa xưa và thời đại xa xưa kết tập lại ở đó. Nó uống cạn thứ chất màu xanh lục sôi lục bục trào lên trên đỉnh. Nó có uống bóng tối không? Nó có hút sạch ra tất cả các chất độc tích tụ lại qua bao năm không? Nó cứ ăn trong lặng im, thi thoảng có một âm thanh gây ra bởi sự thiếu không khí bên trong và sự tìm kiếm mò mẫm. Nó có một Con Mắt. Kẻ vận hành dửng dưng của cái máy này có thể, bằng cách đội một chiếc mũ quang học đặc biệt, nhìn thấu vào linh hồn cái con người mà y đang bơm các chất ra. Con Mắt thấy gì? Y không nói. Y thấy song không thấy cái mà Con Mắt thấy. Toàn bộ sự vụ này không khác gì việc đào một con hào trong sân nhà mình. Người đàn bà trên giường kia chẳng là gì khác ngoài một địa tầng hoa cương cứng mà họ đào thấu tới. Tới nữa đi, đằng nào cũng thế, vục mũi khoan xuống, khuấy tung cái trống rỗng, giá có thể đưa một thứ như thế ra ngoài trong cú đập phập phồng của con rắn hút. Vận hành viên đứng hút thuốc. Cái máy kia cũng đang vận hành. Cái máy kia, được vận hành bởi một người cũng dửng dưng như thế, mặc bộ đồ liền thân màu nâu đỏ không bám bẩn. Cái máy này bom hết máu ra khỏi ca thể rồi thay bằng máu mới huyết thanh mới. "Phải làm sạch bằng cả hai đường,” vận hành viên nói, y đang đứng cúi mình xuống người đàn bà câm lặng. "Làm sạch dạ dày mà không lọc máu thì cũng như không. Để lại cái thứ đó trong máu thì máu sẽ phang vào não như cái rìu ấy, rầm, hai ba ngàn lần, thế là não hết chịu nổi, đành phăng teo." "Thôi đi!" Montag nói. "Tôi chỉ nói chơi thôi mà," vận hành viên nói. "Các anh đã xong chưa?" Montag nói. Họ đóng chặt máy lại. "Chúng tôi xong rồi." Con giận của anh chả chạm được tới họ. Họ đứng đó, khói thuốc lá cuộn quanh mũi và luồn vào mắt, song họ cũng chẳng buồn chớp hay nheo mắt. "Năm chục đô." "Trước hết, sao các anh không nói cho tôi hay liệu cô ấy có ổn không?" "Chắc rồi, cô ấy sẽ ổn. Chúng tôi thu sạch cái thứ chết giẫm ấy vào va li đây rồi, nó không động tới cô ấy được nữa đâu. Như tôi nói ấy, ta rút thứ cũ ra, cho thứ mới vào, thế là ngon lành." "Cả hai anh chẳng ai là bác sĩ hết. Tại sao họ không cử một bác sĩ từ bên Cấp cứu đến?" "Mẹ kiếp!" Điếu thuốc trên môi tay vận hành viên động đậy. "Mỗi đêm tụi tôi gặp chín mười ca kiểu này. Nhiều ca quá, bắt đầu từ mấy năm rồi, đến nỗi tụi tôi phải thiết kế mấy cái máy đặc dụng này. Dĩ nhiên là có kính quang học, thứ ấy thì mới; còn lại toàn là đồ từ thời nảo thời nào. Chả cần bác sĩ làm gì đâu, những ca kiểu này ấy; anh chỉ cần hai người thạo việc, giải quyết vụ việc xong xuôi trong vòng nửa tiếng. Thôi nào," anh ta tiến ra cửa, "tụi tôi phải đi. Vừa có cuộc gọi mới trên cái tai nghe cũ rích này. Cách đây mười khối nhà. Ai đó vừa mới nốc nguyên một lọ thuốc đây. Nếu cần thì lại gọi cho tụi tôi. Giữ cho cô ấy yên. Chúng tôi có cho cô ấy một liều giải an thần rồi. Thức dậy là cô ấy sẽ đói lắm đấy. Chào nhé." Và hai người đàn ông với điếu thuốc trên cái miệng thẳng như kẻ chỉ, hai người đàn ông với cặp mắt của rắn lục, liền thu dọn đống máy móc với ống dây, cái cặp đựng nỗi buồn ở dạng lỏng và cái thứ không tên đen sịt sền sệt kia, rồi đủng đỉnh ra khỏi cửa. Montag ngồi phịch xuống một cái ghế và nhìn người đàn bà. Mắt cô giờ đang nhắm, dịu dàng, và anh chìa tay ra để cảm nhận sự ấm áp của hơi thở trên lòng bàn tay. "Mildred," cuối cùng anh nói. Lũ chứng ta có quá nhiều, anh nghĩ. Có hàng tỉ người như chúng ta và thế là quá nhiều. Chẳng ai biết ai. Người lạ đến xâm phạm ta. Người lạ đến moi tim ta. Người lạ đến rút máu ta. Thượng đế lòng lành, những người đó là ai vậy? Cả đời mình chưa bao giờ gặp họ mà. Nửa giờ trôi qua. Dòng máu bên trong người đàn bà này là dòng máu mới và dường như nó đang làm một điều mới mẻ với cô. Má cô rất hồng, môi cô rất thắm, đầy màu sắc, trông mềm mại và thanh thản. Máu của ai đó khác đấy. Giá mà là thịt, não và ký ức của ai khác thì tốt. Giá mà họ có thể đem tâm trí cô đi theo họ luôn, đem tới hiệu giặt, dốc sạch các túi ra rồi hấp hơi giặt sạch, ráp lại rồi đến sáng đem về. Giá mà... Anh đứng dậy kéo rèm và mở cửa sổ cho khí đêm ùa vào. Đã hai giờ sáng. Có phải chỉ mới cách đây một tiếng thôi không, Clarisse McClellan ngoài phố, anh vào đây, rồi thì căn phòng tối và chân anh đá vào cái chai pha lê nhỏ? Chỉ một tiếng đồng hồ thôi, nhưng thế giới đã tan chảy rồi lại bật dậy dưới một hình thù mới không màu. Tiếng cười vẳng qua bãi cỏ sáng trăng từ ngôi nhà của Clarisse và cha mẹ nàng cùng ông bác có nụ cười thật lặng lẽ và thật nồng hậu. Trên hết, tiếng cười đó thoải mái, chí tình và hoàn toàn không gượng gạo, tuôn ra từ căn nhà sáng đèn đến thế giữa đêm hôm khuya khoắt nơi mọi nhà khác đều thu mình lại trong bóng tối. Montag nghe tiếng người nói chuyện, nói chuyện, nói chuyện mãi, trao đi, nói chuyện, đan đi dệt lại cái mạng lưới đầy sức thôi miên của họ. Montag ra ngoài qua khung cửa sổ kiểu Pháp và băng qua bãi cỏ, đi mà chẳng nghĩ mình đi. Anh đứng trong bóng tối ngoài căn nhà đang nói chuyện, nghĩ biết đâu mình cũng có thể gõ cửa nhà họ mà thì thầm, "Cho tôi vào với. Tôi sẽ chẳng nói gì cả. Tôi chỉ muốn nghe thôi. Các vị đang nói gì vậy?" Nhung thay vì vậy anh chỉ đứng, lạnh căm, mặt anh như một cái mặt nạ băng, lắng nghe giọng một người đàn ông (ông bác?) đang nói, khoan thai và thủng thẳng: "Nói gì thì nói, đây là thời của giấy vệ sinh dùng rồi bỏ. Ta xì mũi vào một người, vo tròn lại, xả nước cho trôi, với lấy một người khác xì mũi, vo, xả. Ai cũng bám lấy đuôi áo kẻ khác để tiến lên. Làm sao ta có thể ủng hộ đội nhà được nếu thậm chí ta không có tờ chương trình hay không biết tên của họ? À nhân thể, khi trình diễn trên sân thì họ mặc áo màu gì nhỉ?" Montag quay về lại nhà mình, để ngỏ cửa sổ, kiểm tra xem Mildred sao rồi, cẩn thận dém chăn quanh cô, rồi nằm xuống với ánh trăng trên xương gò má và trên những đường gờ cau lại của cái trán, với ánh trăng chưng cất trong từng con mắt để làm thành ở đó một trận mưa bạc. Một giọt mưa. Clarisse. Một giọt khác. Mildred. Giọt thứ ba. Ông bác. Giọt thứ tư. Ngọn lửa đêm nay. Một, Clarisse. Hai, Mildred. Ba, ông bác. Bốn, lửa. Một, Clarisse, hai, Mildred. Một, hai, ba, bốn, năm, Clarisse, Mildred, ông bác, lửa, những viên thuốc ngủ, mấy gã đàn ông, giấy vệ sinh dùng rồi bỏ, đuôi áo, xì, vo, xả, Clarisse, Mildred, ông bác, lửa, thuốc, giấy, xì, vo, xả. Một, hai, ba, một, hai, ba! Mưa. Bão. Ông bác phá lên cười. Sấm đổ dưới nhà. Cả thế giới đang ập xuống. Lửa trong núi lửa ộc lên. Tất cả ập hai viên, rồi thì em đâm ngầy ngật đến nỗi cứ vậy uống tiếp cho đến khi có tới ba bốn chục viên ở trong người." "Chết tiệt," cô nói, "em làm một chuyện ngu như vậy để làm cái gì chứ?" "Anh không biết," anh nói. Cô rõ ràng đang đợi anh đi đi. "Em không làm vậy," cô nói. "Có tỉ năm nữa cũng không làm." "Nếu em nói vậy thì tốt thôi," anh nói. "Phu nhân đã nói thế rồi." Cô quay lại với kịch bản. "Chiều nay chiếu gì thế?" anh hỏi, mệt mỏi. Lần này cô không nhìn lên mà vẫn dán mắt vào đọc kịch bản. "Đây là một vở kịch sẽ truyền lên ti vi liên tường trong mười phút nữa. Mới sáng nay người ta gửi đoạn thoại của em tới cho em. Em đã gửi cho họ mấy cái nắp hộp mà1. Họ viết kịch bản mà lại thiếu một phần. Đấy là một ý tưởng mới. Bà nội trợ, tức là em ấy, chính là phần đang thiếu. Khi đến chỗ mấy lời thoại thiếu, cả lũ bọn họ từ ba bức tường nhìn em thế là em đọc lời thoại. Đây chẳng hạn, người đàn ông nói, 'Cô nghĩ sao về ý tưởng này, Helen?' Và anh ta nhìn em đang ngồi đây chính giữa sân khấu, hiểu không? Thì em nói, em nói là..." Cô dừng lại, rê ngón tay dưới một dòng trong kịch bản. " 'Tôi nghĩ là hay!' Thế là họ diễn tiếp vở kịch cho đến khi anh ta nói, 'Cô có đồng ý thế không, Helen?' thì em nói, 'Có chứ!' Vui quá phải không, Guy?" Anh đứng trong hành lang nhìn cô. "Chắc chắn là vui rồi," cô nói. "Vở kịch nói về cái gì?" "Em vừa nói với anh đấy thôi. Có những người tên là Bob, Ruth và Helene." "Ồ." "Vui lắm nhé. Chừng nào nhà mình đủ sức lắp được bức tường thứ tư thì còn vui hơn nữa. Theo anh thì bao lâu nữa hai đứa mình mới tiết kiệm đủ tiền để dở bức tường thứ tư ra đặng lắp cái ti vi tường thứ tư vào? Có hai ngàn đô thôi mà." "Chừng đó là một phần ba lương cả năm của anh đấy." "Chỉ có hai ngàn đô thôi," cô đáp. "Em nghĩ đôi khi anh cũng nên nghĩ tới em chứ. Nếu mình có bức tường thứ tư, chao ôi lúc ấy sẽ như thể căn phòng này hoàn toàn chả phải phòng của mình mà là phòng của đủ thứ người kỳ quặc. Tụi mình thiếu vài thứ vẫn sống được chứ có sao đâu." "Mình đã chịu thiếu một vài thứ để có tiền mua bức tường thứ ba rồi. Nó mới lắp cách đây có hai tháng thôi, em nhớ chứ?" "Nói thế tức là thôi phải không?" Cô ngồi nhìn anh một hồi lâu. "Được thôi, chào anh yêu." "Chào em," anh nói. Anh dừng bước rồi quay lại. "Chuyện ấy có kết thúc có hậu không?" "Em chưa đọc đến chỗ ấy." Anh bước lại, đọc trang cuối, gật đầu, gấp kịch bản lại đưa trả cô. Anh đi ra khỏi nhà bước vào con mưa. Mưa đang dịu đi và cô gái đang đi bộ ở chính giữa vỉa hè, đầu ngẩng cao, vài giọt nước rơi lên mặt cô. Cô mỉm cười khi thấy Montag. 'Chào!" Anh chào cô rồi nói, "Giờ thì cô đang âm mưu gì thế hả?" "Em vẫn đang điên. Mưa dễ chịu quá. Em thích đi bộ trong mưa." "E rằng tôi thì không thích đâu,” anh nói. "Nếu thử thì có thể anh thích đấy." "Tôi chưa thử bao giờ." Cô liếm môi. "Mưa thậm chí nếm còn ngon nữa." "Cô làm gì đấy, đi vòng vòng thử mỗi thứ một lần hay sao?" "Đôi khi hai lần." Cô nhìn gì đó trong tay mình. "Cô có gì đấy?" anh hỏi. "Chắc là đóa bồ công anh cuối cùng trong năm nay. Em không nghĩ đến mùa này rồi mà mình vẫn tìm thấy một đóa trên bãi cỏ. Có khi nào anh nghe nói đến chuyện cọ hoa bồ công anh vào dưới cằm chưa? Nhìn đây." Nàng cầm đóa hoa chạm vào cằm mình, cười như nắc nẻ. "Làm gì?" "Nếu hoa rụng phấn thì tức là em đang yêu. Nó đã rụng chưa?" Anh khó lòng làm được gì khác ngoài việc nhìn. "Sao nào?" nàng nói. "Dưới cằm cô vàng khè rồi kìa." "Tốt! Giờ thì anh thử xem." "Với tôi thì chả ăn thua đâu." "Này." Anh chưa kịp động đậy thì nàng đã cọ đóa hoa vào dưới cằm anh. Anh lùi lại thì nàng liền cười. "Đứng yên nào!" Nàng nhòm xuống dưới cằm anh và cau mày. "Sao?" anh nói. "Đáng xấu hổ quá," nàng nói. "Anh chả hề yêu ai hết." "Có chứ, tôi có yêu!" "Có thấy vậy đâu." "Tôi có yêu, yêu rất nhiều!" Anh cố rặn ra một khuôn mặt tương thích với lời nói, nhưng chẳng có khuôn mặt nào. "Tôi có yêu!" "Ôi, làm ơn đừng nhìn như thế." "Là đóa bồ công anh kia," anh nói. "Cô đã dùng hết cả cho mình rồi. Thành ra với tôi thì nó không hiệu nghiệm." "Dĩ nhiên, ắt phải thế rồi. Ôi giờ thì em làm anh nổi giận rồi, em thấy rõ rồi; em xin lỗi, em rất xin lỗi." Nàng chạm vào cùi chỏ anh. "Không, không," anh vội vã nói. "Tôi không sao mà." "Em phải đi bây giờ, cho nên anh nói là anh tha lỗi cho em đi. Em không muốn anh giận em đâu." "Tôi không giận. Bực thì có." "Em phải đi gặp bác sĩ tâm thần bây giờ đây. Người ta bắt em đi. Em bịa ra chuyện này chuyện kia để nói. Em không biết ông ta nghĩ gì về em. Ông ta bảo em là một củ hành! Em cứ bắt ông ta bận rộn bóc dần từng lớp vỏ." "Tôi có xu hướng tin rằng em cần bác sĩ tâm thần," Montag nói. "Anh không thực sự có ý ấy." Anh hít một hơi rồi thở ra và cuối cùng nói, "Đúng, tôi không thực sự có ý ấy." "Bác sĩ tâm thần muốn biết vì sao em ra ngoài đi lang thang trong rừng ngắm chim bắt bướm. Hôm nào đấy em cho anh xem bộ sưu tập bướm của em." "Tốt." "Họ muốn biết em dành thời gian để làm những gì. Em bảo họ là đôi khi em chỉ ngồi nghĩ. Nhưng em không cho họ biết em nghĩ gì. Em bắt họ phải động não. Và đôi khi, em kể với họ, em thích ngẩng đầu lên, như thế này này, để cho mưa rơi vào miệng em. Nó có vị như rượu vang ấy. Anh đã thử bao giờ chưa?" "Không, tôi..." "Anh đã tha lỗi cho em rồi, đúng không?" "Đúng." Anh ngẫm nghĩ về chuyện đó. "Có, tôi tha thứ rồi. Trời biết tại sao. Cô lạ lắm, cô cứ làm người ta phát cáu lên, nhưng cô rất dễ được tha thứ. Cô nói cô mười bảy à?" "Tháng sau." "Kỳ quặc thật. Lạ thật. Vợ tôi thì ba mươi vậy mà đôi khi cồ có vẻ già dặn hơn rất nhiều. Tôi không làm sao quen được." "Bản thân anh cũng lạ, Montag ạ. Đôi khi em quên mất rằng anh là lính phóng hỏa. Nào, em có được phép làm anh giận nữa không?" "Cứ nói tiếp." "Chuyện ấy khởi đầu ra sao? Thế nào mà anh lại bước chân vào đấy? Anh đã chọn việc làm này ra sao, thế nào mà bỗng dưng anh lại nghĩ hay mình chọn cái nghề đang làm bây giờ đây? Anh không như những người khác. Em có gặp vài người như thế; em biết. Khi em nói chuyện, anh nhìn em. Khi em nói gì đó về trăng, anh nhìn lên trăng, hồi đêm qua ấy. Những người khác chẳng bao giờ làm thế. Những người khác họ sẽ đi thẳng mặc em nói gì thì nói. Hay là đe nẹt em. Chẳng ai có thì giờ cho bất cứ ai khác nữa. Anh là một trong số ít những người chịu được em. Cho nên em mới nghĩ anh mà là lính phóng hỏa thì thật lạ, chuyện đó chả hiểu sao xem chừng không hợp với anh." Anh cảm thấy thân thể mình tự tách ra thành phần nóng và phần lạnh, phần mềm và phần cứng, phần run và phần không run, nửa này nghiến lên nửa kia. "Tốt nhất cô chạy đi cho nhanh không thì trễ hẹn đấy," anh nói. Thế là nàng chạy đi để lại anh đứng đó trong mưa. Mãi một hồi lâu sau anh mới nhúc nhích. Thế rồi, rất chậm, trong khi bước, anh nghểnh đầu lên trong mưa, chỉ vài giây thôi, và mở miệng... Con Chó Máy ngủ mà không ngủ, sống mà không sống trong cái chuồng kêu o o khe khẽ, rung nhè nhẹ, được chiếu sáng dìu dịu trong một góc tối của trạm phóng hỏa. Anh sáng nhập nhoạng lúc một giờ sáng, ánh trăng từ trên mảnh trời đóng khung trong ô cửa sổ lớn tuôn vào chạm đây đó lên bề mặt đồng thau, đồng đỏ và thép của con vật đang run khẽ. Ánh sáng nhấp nháy trên những mảnh kính màu hồng ngọc, trên những sợi lông mao nhạy cảm nơi hai lỗ mũi phủ lông bằng chất dẻo của con vật đang rung nhè nhẹ, rất nhẹ, tám cái chân giống như chân nhện xếp dưới thân nó với những bàn chân đệm cao su. Montag tụt xuống cây cột bằng đồng. Anh đi ra nhìn xuống thành phố, mây đã hoàn toàn tản đi hết, anh châm một điếu thuốc rồi quay lại, cúi xuống nhìn con Chó Máy. Nó như một con ong lớn quay về từ một cánh đồng nào đó nơi mật hoa đầy độc tố hoang dại, đầy sự điên rồ và ác mộng, cơ thể nó ních đầy thứ mật quá giàu có ấy, và lúc này nó đang ngủ để cho thứ độc tố kia bị tống ra khỏi mình. "Chào," Montag thì thầm, thích thú như mọi khi với con thú chết này, con thú sống này. Những đêm mà mọi chuyện trở nên chán ngắt, mà đêm nào thì cũng thế, người ở đây lại tụt xuống các cột đồng, bật các tổ hợp đánh dấu của hệ khứu giác bên trong con Chó Máy lên rồi sau đó thả chuột ra hành lang hỏa trạm, đôi khi thả gà, đôi khi thả mấy con mèo mà đằng nào cũng phải trấn nước, và sau đó họ sẽ đánh cược xem Chó Máy sẽ tóm được con mèo hay con gà hay con chuột nào đầu tiên. Lũ thú cuống cuồng chạy. Ba giây sau trò chơi chấm dứt, con chuột, con mèo hay con gà bị tóm giữa chừng hành lang, bị ghì chặt trong những bộ vuốt nhẹ nhàng trong khi một mũi kim thép rỗng ruột dài mười xăng ti mét từ vòi con Chó Máy thòi ra tiêm những liều morphine hay procaine cực mạnh. Con mồi sau đó bị ném vào lò đốt. Một đợt chơi mới bắt đầu. Hầu hết những đêm có chuyện đó xảy ra Montag đều ở lì trên lầu. Có một dạo cách đây hai năm anh đã đánh cược với hầu hết bọn họ, bị thua một tuần lương và phải đối mặt với con giận khùng điên của Mildred nổi rõ mồn một nơi các mạch máu và vết tấy. Nhưng nay thì về đêm anh nằm trên giường mình, quay mặt vào tường, lắng nghe những tràng cười bên dưới và tiếng chuột to chạy lúp xúp nghe như chuỗi họp âm dương cầm, tiếng chuột nhỏ rít nghe như tiếng vĩ cầm, và cái im lặng lừ lừ tiến tới lù lù phủ bóng của con Chó Máy, khi nó nhảy thốc ra như con bướm đêm trong ánh sáng gắt, tìm, chộp lấy con mồi, thọc kim vào rồi quay về chuồng nằm chết như thể có ai đó vừa ngắt một cái công tắc. Montag sờ đầu mũi nó. Con Chó Máy gừ lên. Montag nhảy lùi lại. Chó Máy hơi nhổm dậy trong chuồng mà nhìn anh bằng ánh sáng nê ông màu lục-xanh dương nhấp nháy nơi hai bóng đèn mắt đột nhiên bật sáng. Nó lại gừ lên, một tiếng khào khào lạ lùng kết họp giữa tiếng điện rít, tiếng xèo xèo chiên rán, tiếng ken két kim loại, tiếng quay của những bánh răng cưa dường như gỉ sét và cũ rỉn vì ngờ vực. "Không, đừng, nhóc," Montag nói, tim đập thình thịch. Anh thấy mũi kim bạc thòi ra hai ba phân trong không khí, rụt lại, thòi ra, thụt lại. Tiếng gừ gừ âm ỉ bên trong con thú và nó nhìn anh. Montag thụt lùi lại. Chó Máy tiến một bước dợm ra khỏi chuồng. Montag chộp lấy cây cột đồng bằng một tay. Cây cột phản ứng, trượt lên trên, đưa anh xuyên qua trần nhà, êm ru. Anh bước ra sàn tầng trên được chiếu sáng mờ mờ. Anh run bắn và mặt anh tái xanh. Dưới kia, Chó Máy đã phủ phục xuống trở lại trên tám cái chân côn trùng kỳ lạ và lại đang kêu rừ rừ với chính mình, những con mắt đa diện của nó bình thản. Montag đứng cạnh lỗ lên xuống, chờ cho nỗi sợ qua đi. Đằng sau anh, bốn người ngồi chơi bài nơi chiếc bàn góc phòng dưới ngọn đèn chao màu lục liếc nhanh sang song không nói gì. Chỉ có người đội mũ đội trưởng và mang phù hiệu phượng hoàng trên mũ, rốt cuộc, cũng tò mò, bàn tay gầy guộc cầm mấy quân bài, từ phía bên kia căn phòng dài cất tiếng hỏi. "Montag...?" "Nó không thích tôi,” Montag nói. "Gì, Chó Máy hả?" đội trưởng săm soi bài của mình. "Thôi nào. Nó chả thích cũng chả không thích. Nó chỉ 'làm đúng chức năng'. Nó giống như một bài học về đạn đạo. Nó có một quỹ đạo mà chứng ta định ra cho nó. Nó cứ thế theo. Nó tự nhắm mồi, tự về nhà, tự tắt. Nó chỉ là cáp đồng, pin và điện." Montag nuốt khan. "Các bộ xử lý của nó có thể được điều chỉnh tùy theo bất cứ tổ hợp nhận diện nào, từng này acid amin, từng này sulphur, từng này mỡ và alkaline. Đúng không?" "Chúng ta ai chả biết thế." "Tất cả các mức cân bằng sinh hóa và tỉ lệ sinh hóa của tất cả chúng ta ở trạm này đều được lưu trong hồ sơ chính dưới lầu kia. Nếu ai đó muốn thiết lập trong bộ nhớ của Chó Máy một tổ hợp nhận diện một người nhất định nhưng chỉ gồm một phần thôi, một chút acid amin chẳng hạn, thì cũng chả khó gì. Chừng đó là đủ cho con vật làm như nó vừa làm. Phản ứng với tôi." "Quỷ tha ma bắt," đội trưởng nói. "Bực bội, nhưng không hoàn toàn giận dữ. Chỉ là bộ nhớ đã được ai đó thiết lập sẵn vừa đủ để cứ hễ tôi đụng vào là nó gừ lên." "Ai lại đi làm thế kia chứ?" đội trưởng hỏi. "Anh đâu có kẻ thù nào ở đây, Guy." "Theo tôi biết thì không." "Ngày mai chúng tôi sẽ cho kỹ thuật viên kiểm tra Chó Máy." "Đây không phải lần đầu tiên nó đe dọa tôi," Montag nói. "Tháng trước chuyện đó xảy ra hai lần." "Chúng tôi sẽ xử lý. Đừng lo." Nhưng Montag không nhúc nhích mà chỉ đứng nghĩ về tấm lưới thông gió trong hành lang ở nhà và cái thứ giấu đằng sau tấm lưới. Nếu như ai đó ở đây trong trạm phóng hỏa này biết về tấm lưới thì liệu họ có thể "báo" cho Chó Máy biết...? Đội trưởng tiến lại lỗ lên xuống, đoạn ném cho Montag một cái liếc đầy dò hỏi. "Tôi chỉ đang mường tượng con Chó Máy nghĩ gì dưới kia hằng đêm? Liệu nó có thật sự sống dậy khi gặp ta không? Nghĩ tới là tôi lạnh cả người," Montag nói. "Nó chẳng nghĩ gì khác ngoài những gì chúng ta muốn cho nó nghĩ đâu." "Đáng buồn," Montag nói khẽ, "vì tất cả những gì chúng ta nạp vào nó là săn đuổi tìm bắt và giết chóc. Thật đáng xấu hổ nếu như nó chỉ biết được có thế thôi." Beatty khẽ khịt mũi. "Quỷ tha ma bắt! Nó là một tạo phẩm hay, một khẩu súng tốt có thể tự lùng ra con mồi và bảo đảm bách phát bách trúng." "Chính vì vậy mà tôi không muốn là nạn nhân tiếp theo của nó," Montag nói. "Tại sao? Lương tâm anh day dứt vì chuyện gì sao?" Montag liếc nhanh lên trên. Beatty đứng đó nhìn anh chằm chằm, miệng mở ra và bắt đầu cười thành tiếng, rất khẽ. Một hai ba bốn năm sáu bảy ngày. Cũng ngần ấy lần anh ra khỏi nhà và Clarisse ở đó, một nơi nào đấy trên thế giới. Một lần anh thấy nàng đang rung một cây óc chó, một lần anh thấy nàng ngồi trên bãi cỏ đan một cái áo len màu thanh thiên, ba bốn lần anh bắt gặp một vòng hoa nở muộn nơi hiên nhà anh, hay một nắm hạt dẻ đựng trong chiếc túi nhỏ, hay vài chiếc lá thu gắn ngay ngắn lên một mảnh giấy trắng rồi ghim bằng đinh bấm lên của nhà anh. Ngày nào Clarisse cũng đi cùng anh đến góc đường. Một hôm trời mưa, hôm sau trời quang, hôm sau nữa gió thổi mạnh, và hôm sau nữa trời dịu êm, rồi hôm sau hôm trời êm ấy là một ngày cứ như lò lửa mùa hè và đến xế chiều thì mặt Clarisse đã cháy nắng cả. Có lần anh nói, ở lối xuống xe điện ngầm: "Tại sao tôi cứ có cảm giác đã quen biết em từ bao nhiêu năm rồi ấy?" "Bởi vì em thích anh," nàng nói, "và em không muốn gì từ anh cả. Và bởi vì hai ta biết nhau." "Em khiến tôi thấy mình thật già, cứ như là một người cha." "Vậy anh giải thích xem," nàng nói, "tại sao anh không có đứa con gái nào như em, nếu anh thích trẻ con đến thế?" "Tôi không biết." "Anh đùa sao!" “Ý tôi là..." Anh ngừng nói mà lắc đầu. "ừ thì, vợ tôi, cô ấy... cô ấy không bao giờ muốn có con cả." Cô gái thôi cười. "Em xin lỗi. Thực tình em cứ nghĩ anh đang lấy em làm trò vui. Em thật là ngốc." "Không, không," anh nói. "Câu hỏi hay đấy. Đã lâu rồi chẳng ai thèm bận tâm hỏi. Câu hỏi hay." "Mình nói chuyện khác đi. Anh đã bao giờ ngửi lá khô chưa? Chẳng phải nó có mùi như quế sao? Đây. Ngửi đi." "Ờ nhỉ, đúng là hao hao mùi quế." Nàng nhìn anh với đôi mắt đen trong sáng. "Anh luôn luôn có vẻ như bị choáng." "Chỉ là tôi không có thì giờ..." "Anh có nhìn những tấm biển kéo dài thậm thượt như em nói không?" "Chắc là có. Có." Anh buộc phải phá lên cười. "Tiếng cười của anh giờ dễ nghe hơn trước kia." "Thật à?" "Nghe sảng khoái hơn nhiều." Anh cảm thấy thoải mái và dễ chịu. "Sao em không đi học? Tôi thấy ngày nào em cũng tha thẩn đây đó." "Ồ, họ chả nhớ em đâu mà," nàng nói. "Họ nói em là loại khó hòa đồng. Em không hợp được với người ta. Thật lạ. Chính ra em dễ hòa đồng lắm. Tùy xem khi nói hòa đồng thì ý mình muốn nói gì, đúng không? Với em thì hòa đồng có nghĩa là nói với anh về những chuyện như thế này." Nàng giẫm tanh tách một vài cái hạt dẻ rụng từ trên cây ở sân trước xuống. "Hay là nói về chuyện thế giới này kỳ lạ ra sao. Ở bên người khác cũng tốt thôi. Nhưng em không nghĩ rằng hòa đồng có nghĩa là cho một tốp người ngồi lại với nhau rồi thì không cho họ nói chuyện, anh thấy có đúng không? Một tiết học truyền hình, một giờ bóng rổ hay bóng chày hay chạy bộ, thêm một giờ học sử qua các bản ghi âm hay vẽ tranh, lại thêm giờ thể thao, nhưng anh có biết không, tụi em chả bao giờ đặt câu hỏi, hay ít nhất là hầu hết không đặt câu hỏi; họ cứ đổ tràn câu trả lời lên ta, bing, bing, bing, rồi lại ngồi thêm bốn giờ học về điện ảnh. Với em đấy chả phải là hòa đồng xã hội gì hết. Chỉ là một lô những cái phễu và rất nhiều nước được trút vào miệng phễu rồi chảy xuống dưới đáy, thế mà họ bảo ta đó là rượu vang trong khi có phải là rưọu vang đâu. Họ quần ta rạc cả người đến nỗi tối về đến nhà ta chả làm được gì khác ngoài đi ngủ không thì đến công viên giải trí để quậy thiên hạ chơi, ném vỡ mấy ô cửa kính ở chỗ Đập Vỡ Kính hay là phá ô tô bằng trái cầu thép to đùng ở chỗ Phá Xe. Hay là lên ô tô lái đi chơi, đua xe ngoài phố, cố thử xem mình lạng qua gần các cột đèn tới cỡ nào, chơi trò đọ đầu với lại trò húc văng nắp trục bánh xe. Họ nói em là gì thì chắc em là vậy tất, không sao cả. Em không có bạn bè gì. Người ta cho rằng như thế chứng tỏ em bất thường. Nhưng bất cứ người nào em biết cũng đều la hét hoặc múa lung tung xòe như lên con rồ hay là đánh nhau. Anh có nhận thấy ngày nay con người ta làm tổn thương nhau thế nào không?" "Em nói nghe cứ như em già lắm rồi ấy." "Đôi khi em như là người từ đời thuở xa xưa nào. Em sợ bọn trẻ con trạc tuổi em. Chúng giết nhau. Có phải trước kia khi nào cũng như vậy không? Bác em nói là không. Chỉ riêng năm ngoái thôi sáu người bạn của em bị bắn chết. Mười đứa chết vì đâm ô tô. Em sợ chúng và chúng không ưa em bởi vì em sợ. Bác em nói ông nội bác còn nhớ cái thời trẻ con không giết nhau. Nhung đó là lâu lắm rồi, hồi ấy mọi chuyện khác bây giờ. Hồi đó con người ta tin ở trách nhiệm, bác em nói vậy. Anh biết không, em có trách nhiệm. Em từng bị đét đít khi em cần bị đét, đã nhiều năm rồi. Và tất tật chuyện mua sắm với lau chùi nhà cửa em tự làm bằng tay hết. "Nhưng trên hết," nàng nói, "em thích nhìn thiên hạ. Đôi khi em đi tàu điện ngầm suốt ngày chỉ để nhìn và lắng nghe mọi người. Em chỉ muốn hình dung họ là ai, họ muốn gì, họ đi đâu. Đôi khi em đến công viên giải trí và lên ngồi trên mấy chiếc xe phản lực khi người ta đua xe ven thành phố lúc nửa đêm và cảnh sát chả buồn bận tâm chừng nào xe ấy có bảo hiểm. Chừng nào mà ai cũng có mười ngàn đồng bảo hiểm thì ai cũng vui vẻ. Đôi khi em nấp quanh mà lắng nghe trên tàu điện ngầm. Hay em lắng nghe ở các quầy nước giải khát, và anh biết sao không?" "Sao?” "Thiên hạ họ chẳng nói về cái gì sất." "Ồ, họ phải nói về gì đó chứ!" "Không, chả nói gì sất. Họ chủ yếu chỉ nhắc tên một lô một lốc nào xe nào quần áo nào hồ bơi rồi nói ồ bảnh quá! Nhưng tất thảy đều nói ngần ấy thứ và chẳng ai nói gì khác ai. Và hầu hết thời gian trong quán cà phê họ toàn mở máy kể truyện cười và quanh đi quẩn lại cũng chỉ toàn những truyện cười ấy, hay là bức tường nhạc được bật sáng lên rồi thì những hoa văn màu sắc cứ chạy lên chạy xuống, nhưng tất cả chỉ toàn là màu và toàn mông lung trừu tượng thôi. Rồi thì tất cả các viện bảo tàng, anh đã tới đó bao giờ chưa? Toàn trừu tượng. Nay thì ở đó toàn thứ ấy. Bác em nói xưa khác cơ. Hồi xưa thỉnh thoảng các bức tranh còn nói về vật này vật nọ hay thậm chí còn cho mình xem những con người." "Bác em nói, bác em nói. Bác em chắc phải là người kiệt xuất lắm." "Đúng vậy. Bác em đúng là kiệt xuất. Thôi, em phải đi đây. Chào ông Montag." "Chào." "Chào..." Một hai ba bốn năm sáu bảy ngày: trạm phóng hỏa. "Montag này, cậu trèo cái cột kia như chim bay lên cây ấy." Ngày thứ ba. "Montag này, lần này tớ thấy cậu vào bằng cửa sau. Ngại gặp Chó Máy hả?" "Không, không." Ngày thứ tư. "Montag à, chuyện này thú đây. Mới nghe kể sáng nay. Một tay lính phóng hỏa ở Seattle cố tình hiệu chỉnh một Chó Máy sao cho nó bắt được tổ hợp sinh hóa của chính hắn, rồi thì hắn thả nó ra. Cậu gọi đó là kiểu tự sát gì chứ hả?" Năm, sáu, bảy ngày. Thế rồi, Clarisse biến mất. Buổi chiều có cái gì đó mà anh không biết là gì, nhưng ấy là anh không nhìn thấy nàng ả một nơi nào đó trên thế giới. Bãi cỏ trống trơ, hàng cây trống trơ, đường phố trống trơ, và mặc dù thoạt tiên anh thậm chí không biết mình nhớ nàng hay thậm chí đang tìm nàng, nhưng sự thật là đến khi anh tới chỗ tàu điện ngầm thì cái cảm giác bứt rứt mơ hồ cứ trỗi lên trong anh. Có gì đó không ổn, thói thường của anh đã bị phá vỡ. Một thói thường đơn giản, đúng, được hình thành nên chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi, thế nhưng mà...? Thiếu điều anh đã quay lưng để đi lại lần nữa quãng đường đó, để cho nàng có thì giờ xuất hiện. Anh tin chắc rằng nếu anh thử đi lại cũng con đường đó, mọi thứ rồi sẽ ổn. Nhưng đã muộn, và khi tàu đến thì kế hoạch của anh dừng lại. Những lá bài ve vẩy, những bàn tay chuyển động, những mi mắt chuyển động, giọng báo giờ đến là buồn ngủ trên trần trạm phóng hỏa "... một giờ ba mươi lăm, sáng thứ Năm, ngày 4 tháng Mười một... một giờ ba mươi sáu... một giờ ba mươi bảy sáng..." Tiếng đập đánh tách của các lá bài trên mặt bàn nhầy mỡ, mọi âm thanh đều đến tai Montag, đằng sau cặp mắt nhắm của anh, sau cái rào chắn mà anh dựng lên trong thoáng chốc. Anh cảm thấy trạm phóng hỏa đang đầy ánh lấp lánh lóe sáng và đầy im lặng, đầy những sắc đồng thau, màu sắc những đồng xu, đồng vàng, đồng bạc. Những người đàn ông mà mắt anh không thể thấy ngồi phía bên kia bàn đang thả dài nhìn bài của mình, chờ đợi. "... một giờ bốn lăm..." Giọng báo giờ ai oán thông báo cái giờ lạnh lẽo của một buổi sáng lạnh lẽo của một năm còn lạnh lẽo hơn. "Có gì không ổn vậy, Montag?" Montag mở mắt. Một cái radio đang rầm rì đâu đó. "... có thể tuyên chiến bất cứ lúc nào. Đất nước đang sẵn sàng tự vệ chống lại..." Trạm phóng hỏa rung rung khi có một bầy máy bay phản lực khổng lồ rít lên một nốt độc nhất xuyên qua bầu trời buổi sáng đen ngòm. Montag chớp mắt. Beatty đang nhìn anh như thể anh là một bức tượng trong viện bảo tàng. Bất cứ lúc nào Beatty cũng có thể đứng dậy đi lại chỗ anh, chạm vào anh, săm soi tội lỗi và tự ý thức về bản thân của anh. Tội lỗi? Tội lỗi gì chứ? "Đến lượt anh kìa, Montag." Montag nhìn những người kia, mặt họ bị hun đốt bởi ngàn ngọn lửa có thật và vạn ngọn lửa chỉ có trong tưởng tượng, những ngọn lửa làm má họ đỏ lên và mắt họ rực cháy. Những người đàn ông điềm tĩnh nhìn vào ngọn lửa trên cái máy đánh lửa bạch kim của mình trong khi châm những ống tẩu đen sì cháy không ngừng. Họ cùng với mái tóc màu than, hàng mi màu bồ hóng và cặp má màu tro xanh lem nhem mà họ vừa cạo nhẵn; nhưng di sản của chúng vẫn lộ ra. Montag giật nẩy mình, há miệng. Anh đã khi nào gặp một lính phóng hỏa không có tóc đen, lông mày đen, khuôn mặt dữ dằn, một khuôn mặt màu xanh thép đã cạo râu nhưng kỳ thực là chẳng khác gì lúc chưa cạo hay chưa? Những người này thảy đều là hình chiếu qua gương của chính anh! Vậy có phải tất cả lính phóng hỏa cũng được chọn theo ngoại hình, bên cạnh thiên hướng riêng? Màu của tàn than và tro nơi họ, và mùi cháy không ngừng tỏa ra từ tẩu họ hút. Đội trưởng Beatty ở đó, nổi lên giữa hàng bựng khói thuốc, Beatty mở một gói thuốc mới, vò nát mẩu giấy bóng kính làm phát ra một âm thanh của lửa. Montag nhìn những lá bài trong tay mình. "Tôi... tôi đang nghĩ, về đám cháy tuần rồi. Về người đàn ông có cái thư viện mà chúng ta đã xử lý. Chuyện gì xảy ra với ông ta rồi?" "Họ đưa ông ta vào nhà thương điên, ông ta cứ la hét suốt." "Ông ta không điên." Beatty lặng lẽ xếp bài của mình. "Bất cứ ai nghĩ mình lừa được chính phủ và lừa được chúng ta thì đều điên." "Tôi đang cố hình dung,” Montag nói, "người ta sẽ cảm thấy thế nào, ý tôi là khi bị lính phóng hỏa tới đốt rụi nhà mình, đốt hết sách của mình." "Chứng ta không có sách." "Nhưng nếu chúng ta có vài cuốn." "Anh có à?" Beatty chậm rãi chớp mắt. "Không." Montag nhìn qua đầu họ về phía bức tường có treo danh mục đánh máy của hàng triệu cuốn sách cấm. Tên của chúng đã lao vào lửa, cháy hàng nhiều năm dưới chiếc rìu và cái vòi rồng của anh, cái vòi không xịt ra nước mà là dầu hỏa. "Không." Nhưng trong tâm trí anh, một làn gió lạnh nổi lên thổi ra từ tấm lưới thông gió ở nhà, nhè nhẹ, làm mặt anh tê ran. Và, một lần nữa, anh thấy mình trong một công viên xanh trò chuyện với một ông già, một ông lão rất già, và gió thổi từ trong công viên cũng lạnh. Montag ngần ngừ. "Có... có phải xưa nay nó luôn luôn vậy không? Cái trạm phóng hỏa này, công việc của chúng ta? Ý tôi là, từ ngày xửa ngày xưa..." "Ngày xửa ngày xưa!" Beatty nói. "Anh nói cái từ gì vậy hả?" Ngu quá, Montag tự nhủ với mình, mày sẽ làm lộ hết. Ở vụ cháy gần đây nhất, một cuốn truyện cổ tích, anh đã liếc nhìn một dòng độc nhất. "Ý tôi là, hồi xưa, cái thời mà không phải tất cả nhà cửa đều chịu được lửa..." anh nói. Đột nhiên có vẻ như một giọng trẻ hơn nhiều đang nói thay cho anh. Anh mở miệng và chính là Clarisse McClellan đang nói, "Chẳng phải ngày xưa chỉ có lính chuyên ngăn lửa chứ không có lính chuyên phóng hỏa rồi mặc cho lửa cháy hay sao?" "Đủ rồi!" Stoneman và Black rút cuốn sổ nội quy của mình ra, trong đó có cả lược truyện về các lính phóng hỏa của nước Mỹ, mở ra trên bàn sao cho Montag cố thể đọc được, cho dù những thứ này anh đã biết rõ từ lâu rồi: Thành lập năm 1790, có nhiệm vụ đốt các sách chịu ảnh hưởng của Anh ở vùng Thuộc địa. Lính phóng hỏa đầu tiên: Benjamin Franklin. NỘI QUY 1. Nhanh chóng đáp lại tín hiệu báo động. 2. Phóng hỏa tức thì. 3. Đốt mọi thứ. 4. Trở về trạm phóng hỏa trình diện ngay. 5. Sẵn sàng đợi báo động khác. Mọi người nhìn Montag. Anh không nhúc nhích. Còi báo động reo. Chuông trên trần reo inh ỏi hai trăm lần. Đột nhiên có bốn ghế trống trơ. Các quân bài rơi lả tả như tuyết. Cột đồng rung lên. Đám người đã đi mất. Montag ngồi nguyên trên ghế. Bên dưới, con rồng màu cam khục khặc ho, thức dậy. Montag tuột xuống cột như một kẻ đang mơ. Con Chó Máy lồng lên trong chuồng, mắt tóe lửa xanh. "Montag, anh quên mũ kìa!" Anh giật lấy chiếc mũ khỏi bức tường sau lưng, chạy, nhảy, thế là họ lao đi, ngọn gió đêm đập rầm rầm vào tiếng thét còi báo động và tiếng sấm kim khí vang rền của họ! Đó là một căn nhà ba tầng xập xệ ờ khu vực lâu đời của thành phố, ít nhất là trăm năm tuổi, song cũng như mọi nhà khác nó đã được bọc một lớp nhựa chống cháy mỏng từ nhiều năm trước, và cái vỏ bảo vệ này dường như là thứ duy nhất giữ cho nó đứng giữa trời. "Ta tới rồi!" Động cơ sầm sầm dừng lại. Beatty, Stoneman và Black chạy đến lối đi bên hông, đột nhiên trông béo ị và kinh tởm trong những bộ áo liền quần chống cháy dềnh dàng. Montag theo sau. Họ phá cửa trước và chộp lấy một người đàn bà, mặc dù bà ta không chạy; bà ta không cố tẩu thoát. Bà ta chỉ đứng, đảo từ bên này sang bên kia, mắt dán vào một chỗ hư không trên tường, làm như họ đã giáng cho bà ta một cú kinh khủng vào đầu. Lưỡi bà ta đang động đậy trong miệng, và mắt bà ta dường như đang cố nhớ lại gì đó rồi thì nhớ ra và lưỡi bà ta lại động đậy: " 'Hãy can đảm lên, Thầy Ridley; hôm nay ta sẽ thắp lên một ngọn nến, nhờ ơn Chúa, ở nước Anh, ngọn nến mà tôi tin sẽ không bao giờ bị dập tắt." "Đủ rồi!" Beatty nói. "Chúng đâu?" Ông ta bạt tai bà kia với vẻ thờ ơ đến lạ lùng và lặp lại câu hỏi. Mắt bà già liền tập trung vào Beatty. "Các người biết chúng ở đâu, bằng không các người đã chẳng ở đây," bà nói. Stoneman chìa ra thẻ của hệ thống báo động qua điện thoại ghi lại lời khiếu nại được sao chép từ nội dung cuộc điện thoại ở mặt sau: "Có lý do để nghi ngờ tầng áp mái; số 11 phố Elm, City. E.B." "Chắc là bà Blake, hàng xóm của tôi," người đàn bà nói khi đọc thấy hai chữ viết tắt. "Được rồi, anh em, tóm chúng thôi!" Loáng cái họ đã xông lên bóng tối sực mùi ẩm mốc, tay vung rìu bạc vào những cánh cửa mà rốt cuộc hóa ra không khóa, ngã dúi dụi như đám trẻ con vừa lăn lộn vừa la hét. "Này!" Một dòng thác sách đổ xuống người Montag trong khi anh run run trèo lên cái thang dựng đứng. Bất tiện quá! Trước nay chuyện này luôn giống như dập tắt một ngọn nến. Cảnh sát vào đầu tiên, dán băng dính lên mồm nạn nhân rồi điệu y ra những chiếc xe giống như lũ bọ cánh cứng bóng lưỡng của họ, thành ra khi ta đến thì chỉ thấy một căn nhà trống. Ta không gây đau đớn cho ai, ta chỉ gây đau đớn cho đồ vật. Và bởi đồ vật thật ra không đau đớn được, bởi đồ vật không có cảm giác, và đồ vật không thét lác hay rên rỉ, như người đàn bà này có khi sắp thét lác hay khóc lóc tới nơi, nên sẽ chẳng có gì khiến lương tâm ta bị cắn rứt về sau. Ta chỉ đang dọn dẹp. Làm vệ sinh, thực chất là vậy. Trả mọi thứ đâu về lại đấy. Dầu lửa, nhanh lên! Ai có diêm nào! Nhưng lúc này, đêm nay, ai đó đã lỉnh mất. Người đàn bà này đang làm hỏng mất nghi thức. Đám đàn ông đang gây quá nhiều huyên náo, cười vang, đùa cợt, nhằm lấp đi sự im lặng buộc tội kinh khủng của bà ta bên dưới. Bà ta làm cho những căn phòng trống gầm lên buộc tội và rũ xuống một thứ bụi mịn tội lỗi xộc vào lỗ mũi họ trong khi họ sục sạo khắp nơi. Thế này chẳng đúng mà cũng không công bằng. Montag cảm thấy vô cùng bực bội. Đáng lẽ bà ta đừng có đó mới phải, không có bà ta thì cũng đã lắm chuyện rồi! Sách đổ như bom xuống vai anh, tay anh, khuôn mặt ngẩng lên của anh. Một cuốn sách đáp xuống, ngoan hiền, như con bồ câu trắng, trong tay anh, đôi cánh chấp chới. Trong ánh sáng tù mù chập chờn, một trang lật ra trông tựa một chiếc lông chim trắng như tuyết, ngôn từ được họa một cách tinh tế trên đó. Trong toàn bộ cảnh nhộn nhạo và cuồng nhiệt, Montag chỉ có một khoảnh khắc để đọc một dòng, nhưng dòng đó cháy sáng trong trí anh suốt một phút sau như đã được in lên đó bằng thép nóng. "Thời gian đã thiếp ngủ trong nắng chiều." Anh buông rơi cuốn sách. Lập tức, một cuốn khác rơi vào tay anh. "Montag, lên đây!" Tay Montag khép lại như một cái miệng, ghì chặt cuốn sách vào ngực trong niềm thiết tha man dại, trong sự ngớ ngẩn điên khùng. Những người trên kia đang lẳng từng xẻng tạp chí vào không trung đầy bụi. Đám tạp chí rơi xuống như những con chim bị tàn sát và người đàn bà đứng dưới kia, như cô bé gái, giữa những cái xác. Montag đã chẳng làm gì. Tay anh đã làm hết, tay anh, với một bộ não của riêng nó, với một lương tri và một nỗi hiếu kỳ trong từng ngón tay run rẩy, đã biến thành kẻ cắp. Giờ, nó dúi lại cuốn sách vào dưới tay anh, ấn nó rõ chặt vào dưới hõm nách đổ mồ hôi, rút tay ra là lại nom như chẳng cầm gì, như trò phù thủy. Nhìn này! Vô tội! Nhìn đi! Anh nhìn, run rẩy, cái bàn tay trắng đó. Anh đưa nó ra rõ xa, làm như anh bị viễn thị. Anh kéo nó lại gần, làm như anh bị mù. "Montag!" Anh giật nẩy mình. "Đừng đứng đó, đồ ngu!" Những cuốn sách nằm đó như những đống cá kếch xù được để phơi khô. Đám người múa may và trượt ngã lên đó. Các nhan đề sách nháy những con mắt vàng ròng, rơi xuống, tiêu đời. Dầu! Họ bom cái chất lỏng lạnh đựng trong những thùng đánh số 451 vắt tréo trên vai họ. Họ xịt đẫy dầu quanh mỗi cuốn sách, họ bơm đầy dầu hỏa vào các phòng. Họ lật đật xuống thang. Montag lảo đảo theo sau họ trong khói dầu. "Đi nào, mụ kia!" Người đàn bà quỳ giữa sách, sờ da thuộc và bìa các tông ướt sũng, dùng ngón tay đọc các tít mạ vàng trong khi mắt nhìn Montag buộc tội. "Các người không lấy sách của tôi được đâu," bà ta nói. "Bà biết luật mà," Beatty nói. "Lương tri của bà để đâu? Các sách này chẳng cuốn nào hòa họp với cuốn nào sất. Bà đã giam mình ở đây suốt bao năm cùng một cái Tháp Babel chết giẫm thứ thiệt. Bùng ra khỏi đó đi! Mấy kẻ trong những quyển sách đó đã bao giờ sống thật đâu. Nào đi!" Bà ta lắc đầu. "Cả cái nhà này sắp bắn tung lên rồi," Beatty nói. Đám đàn ông đi ngật ngưởng về phía cửa. Họ liếc ra sau nhìn Montag, anh vẫn đang đứng cạnh người đàn bà. "Các anh không định bỏ bà ấy lại đây đấy chứ?" anh phản đối. "Bà ta không chịu đi." "Thì cưỡng ép bà ta!" Beatty giơ bàn tay đang giấu dụng cụ mồi lửa lên. "Đến lúc ta phải về trạm rồi. Với lại, cái lũ cuồng này bao giờ mà chẳng tìm cách tự sát; kiểu này quen mà." Montag đặt tay lên cùi chỏ người đàn bà. "Bà có thể đi với tôi." "Không," bà ta nói. "Dù sao thì vẫn cám ơn anh." "Tôi đếm đến mười," Beatty nói. "Một, hai." "Làm ơn đi mà," Montag nói. "Cứ đếm đi," người đàn bà nói. "Ba. Bốn." "Đây." Montag kéo người đàn bà. Người đàn bà đáp khẽ khàng, "Tôi muốn ở lại đây." "Năm. Sáu." "Ông thôi đếm được rồi," bà ta nói. Bà ta mở hé các ngón của một bàn tay, và trong lòng bàn tay là một vật mảnh, dài. Một que diêm nhà bếp bình thường. Vừa nhác thấy nó, đám đàn ông cuống cuồng xuống cầu thang tháo chạy khỏi nhà. Đội trưởng Beatty, giữ nguyên phẩm cách của mình, chầm chậm lùi lại qua cửa trước, bộ mặt hồng hào cháy ngời bởi ngàn ngọn lửa và ngàn sự háo hức của ban đêm. Chúa ơi, đúng quá, Montag nghĩ! Chuông báo động luôn luôn kêu về đêm. Chẳng bao giờ vào ban ngày! Có phải vì ban đêm lửa đẹp hơn không? Ngoạn mục hơn, nhìn đã mắt hơn? Bộ mặt hồng của Beatty nơi cửa giờ chỉ để lộ cơn hoảng loạn hết sức mơ hồ. Bàn tay người đàn bà quẹt que diêm duy nhất đó. Khói dầu bùng lên quanh bà. Montag cảm thấy cuốn sách giấu kỹ đập thình thịch như một quả tim nơi ngực anh. "Cứ đếm đi," người đàn bà nói, và Montag thấy mình đang lùi lại rồi ra khỏi cửa, theo sau Beatty, xuống cầu thang, qua bãi cỏ, nơi vệt dầu nằm đó giống như dấu vết của một loài sên ác. Trên hiên trước nơi bà ta vừa bước ra để lặng lẽ đong đếm họ bằng ánh mắt bà, sự lặng lẽ của bà như một lời buộc tội, người đàn bà đứng bất động. Beatty bật ngón tay để khai hỏa dầu. Đã quá muộn. Montag há hốc miệng. Người đàn bà trên hàng hiên rướn mình ra với vẻ khinh miệt tất cả bọn họ rồi quẹt que diêm vào hàng lan can. Mọi người ba chân bốn cẳng chạy ra khỏi căn nhà, túa xuống đường. Trên đường về trạm phóng hỏa họ chẳng nói năng gì. Không ai nhìn ai. Montag ngồi băng trước cùng Beatty và Black. Thậm chí họ không hút tẩu. Họ ngồi nhìn ra đằng trước chiếc xe Rồng lửa khổng lồ khi họ rẽ quanh một góc rồi tiếp tục đi trong im lặng. "Thầy Ridley," cuối cùng Montag nói. "Gì?" Beatty nói. "Bà ấy nói, 'Thầy Ridley.” Khi chúng ta vào nhà bà ấy có nói điều khùng điên gì đó. 'Hãy can đảm lên,” bà ấy nói. 'Thầy Ridley.” Nói gì đấy, gì đấy, gì đấy." " 'Hôm nay ta sẽ thắp lên một ngọn nến, nhờ ơn Chúa, ở nước Anh, ngọn nến mà tôi tin sẽ không bao giờ bị dập tắt." Beatty nói. Stoneman giật thót liếc nhìn đội trưởng, Montag cũng vậy. Beatty xoa cằm. "Một người tên Latimer đã nói vậy với một người tên Nicholas Ridley, giữa khi họ đang bị thiêu sống tại Oxford vì tội dị giáo, vào ngày 16 tháng Mười năm 1555." Montag và Stoneman lại nhìn ra con phố đang chuyển động dưới bánh động cơ. "Tôi có đầy những thứ thượng vàng hạ cám," Beatty nói. "Hầu hết đội trưởng đều vậy. Đôi khi tôi khiến cho chính bản thân mình cũng phải ngạc nhiên. Coi chừng kìa, Stoneman!" Stoneman đạp phanh. "Mẹ khỉ!" Beatty nói. "Cậu vừa đi quá góc đường rẽ vào trạm phóng hỏa rồi." "Ai vậy?" "Còn ai được nữa?" Montag nói, tựa mình vào cánh cửa đóng trong bóng tối. Cuối cùng vợ anh nói, "Nào, bật đèn đi." "Anh không thích ánh sáng." "Lên giường đi." Anh nghe tiếng cô nóng nảy lăn mình, lò xo giường kêu cót két. "Anh say à?" cô nói. Vậy là chính bàn tay đã khỏi đầu tất cả. Anh cảm thấy một tay mình rồi sau đó đến tay kia cởi áo khoác ra rồi buông phịch áo xuống sàn. Anh chìa cái quần đang mặc vào một vực thẳm rồi thả cho nó rơi vào bóng tối. Hai bàn tay anh đã bị nhiễm trùng, rồi chẳng mấy chốc sẽ đến hai cánh tay. Anh có thể cảm thấy chất độc đang lan dần lên hai cổ tay, tiến vào hai cùi chỏ và hai vai anh, rồi sau đó nhảy cóc từ bả vai này sang bả vai kia như một tia lửa nhảy cóc qua một khoảng hẫng. Hai bàn tay anh đang đói cồn cào. Và mắt anh bắt đầu có cảm giác đói, như thể chúng phải nhìn một thứ gì đó, bất cứ thứ gì, mọi thứ. Vợ anh nói, "Anh đang làm gì vậy?" Anh lấy thăng bằng trong không gian, cuốn sách nằm gọn trong mấy ngón tay lạnh ngắt đổ mồ hôi. Một phút sau cô nói, "Này, đừng đứng ngay giữa sàn vậy chứ." Anh phát ra một âm thanh nhỏ. "Gì?" cô hỏi. Anh phát ra thêm vài âm thanh khẽ. Anh đi về phía giường, chốc chốc lại vấp, rồi vụng về dúi cuốn sách xuống dưới chiếc gối lạnh. Anh ngã xuống giường và vợ anh giật nẩy mình, kêu lên. Anh nằm phía bên kia phòng, cách xa cô, trên một hòn đảo mùa đông bị một biển trống không ngăn cách. Cô nói với anh một hồi dài, hình như vậy, cô nói chuyện này rồi cô lại nói chuyện kia song đó chỉ là những từ, giống như những từ mà anh đã nghe một lần trong phòng dành riêng cho trẻ con tại nhà một người bạn, một đứa bé hai tuổi đang xây dựng những mẫu câu, bi ba bi bô khó mà hiểu được ý muốn nói gì, phát ra những âm thanh dễ nghe trong không khí. Nhưng Montag không nói gì, và sau một hồi lâu anh chỉ phát ra những âm thanh nho nhỏ, anh cảm thấy cô di chuyển trong phòng, sang bên giường anh, cúi xuống người anh và đưa tay sờ má anh. Anh biết khi cô rút tay ra khỏi mặt anh thì tay cô ướt. Sau đó, trong đêm, anh nhìn sang Mildred. Cô thức. Có một giai điệu cực khẽ nhảy múa trong không trung, cái vỏ Sò đã lại gắn vào tai cô và cô đang nghe những người ở xa tại những nơi xa, mắt cô mở to nhìn vào bóng tối sâu hút nơi trần nhà phía trên. Có phải là có một câu chuyện cười cũ kể về người vợ nói chuyện điện thoại nhiều đến nỗi anh chồng tuyệt vọng phải chạy ra cửa hàng gần nhất gọi điện cho cô ta hỏi xem bữa tối có món gì? Chậc, tại sao anh không tự mua cho mình một trạm phát Vỏ Sò rồi đêm đêm nói chuyện với cô, lẩm bẩm, thì thầm, la, hét, rú. Nhưng anh sẽ thì thầm cái gì, sẽ rú cái gì? Anh có thể nói gì? Và đột nhiên cô có vẻ lạ đến nỗi anh không thể tin mình có biết cô. Anh đang ở trong nhà ai đó, như mấy câu chuyện cười cũ rích người ta hay kể về cái ông say khướt về nhà lúc đêm khuya, mớ khóa nhầm cửa, bước vào nhầm phòng, và ngủ với một người lạ rồi sáng ra dậy sớm đi làm mà cả hai người chả ai hay biết tí gì. "Millie này..." anh thì thầm. "Gì?" "Anh không có ý làm em giật mình. Điều anh muốn biết là..." "Sao?" "Chúng mình gặp nhau khi nào? Và ở đâu?" "Chúng mình gặp nhau khi nào làm gì cơ?" cô hỏi. "Ý anh là gặp lần đầu ấy." Anh biết ắt hẳn cô đang cau mày trong bóng tối. Anh nói rõ hơn. "Lần đầu hai chúng mình gặp nhau ấy, nó là ở đâu, khi nào?" "Dào ôi, thì ở..." Cô ngừng. "Em không biết," cô nói. Anh lạnh mình. "Em không nhớ được sao?" "Lâu quá rồi." "Mới có mười năm thôi mà, mười năm thôi." "Anh đừng nhắng lên, em đang cố nghĩ đây." Cô bật một tiếng cười nhỏ rồi lại cười, cười nữa. "Buồn cười thật, buồn cười quá, mình gặp chồng hay vợ mình lần đầu ở đâu khi nào mà cũng chẳng nhớ." Anh nằm xoa xoa hai mắt, hai lông mày, sau gáy, chầm chậm. Anh úp cả hai bàn tay lên mắt, ấn đều lên đó như để ép ký ức vào đúng chỗ. Đột nhiên chuyện anh biết mình gặp Mildred ở đâu trở nên quan trọng hơn bất cứ gì khác trong cả cuộc đời anh. "Có quan trọng gì đâu." Cô đã dậy, giờ đã vào buồng tắm, và anh nghe tiếng nước chảy, rồi tiếng cô nuốt. "Ừ, chắc là không," anh nói. Anh vừa cố đếm xem cô nuốt bao nhiêu lần vừa nghĩ đến cuộc viếng thăm của hai người đàn ông có bộ mặt màu ôxit kẽm với điếu thuốc lá ngậm trong cái miệng mỏng dính và con Rắn Mắt Điện bò ngoằn ngoèo vào trong tầng tầng lớp lớp đêm và đá và nước ngầm tù đọng, và anh muốn kêu to với cô, đêm nay em uống bao nhiêu rồi! mấy viên con nhộng ấy! rồi em sẽ còn uống bao nhiêu viên mà không biết nữa? rồi lại nữa, mỗi giờ mỗi uống! hay có khi không phải đêm nay mà đêm mai! Còn anh, giờ đây khi chuyện đã khởi lên rồi, sẽ trằn trọc suốt đêm nay hoặc đêm mai hoặc bất cứ đêm nào trong lâu lâu nữa. Và anh nghĩ đến cô đang nằm trên giường với hai kỹ thuật viên đứng ngay phía trên, không khom mình xuống với vẻ quan tâm, mà đứng thẳng, khoanh tay. Và anh nhớ lúc đó mình nghĩ rằng nếu cô chết, anh biết chắc mình sẽ không khóc. Bởi đó sẽ là cái chết của một người không quen biết, một khuôn mặt ngoài phố, một hình ảnh trên báo, và điều đó đột nhiên đâm ra kinh khủng đến nỗi anh đã bắt đầu khóc, không phải khóc cái chết mà khóc cái ý nghĩ mình không khóc cái chết, một gã đàn ông trống rỗng ngu xuẩn bên một mụ đàn bà trống rỗng ngu xuẩn, trong khi con rắn đói làm cô càng trống rỗng hơn. Làm sao người ta lại trở nên trống rỗng như vậy? anh tự hỏi. Ai trục nó ra khỏi họ? Và còn bông hoa kinh khủng ngày hôm nọ nữa, bồ công anh! Nó đã gộp thâu tất cả, phải không? "Đáng xấu hổ quá! Anh chả hề yêu ai hết!" Nhưng sao lại không? Chà, nghĩ cho kỹ, chẳng phải là có một bức tường giữa anh và Mildred hay sao? Mà chính ra không phải chỉ một tường, đến giờ là ba rồi! Và đắt tiền nữa! Và những ông cậu ông bác, những bà dì bà cô, những anh em họ, những cháu trai cháu gái sống trong mấy bức tường đó, cái bầy vượn chí cha chí chách toàn những chuyện ất a ất ơ, nhưng mà cứ nói ỏm tỏi, ỏm tỏi, ỏm tỏi. Ngay từ đầu anh đã nhiễm thói gọi họ là bà con. "Dượng Louis hôm nay thế nào?" "Ai?" "Còn dì Maude?" Ký ức có ý nghĩa nhất của anh về Mildred thật ra là ký ức về một bé gái trong một khu rừng không cây (lạ chưa!) hay đúng hơn là một bé gái lạc giữa một bình nguyên xưa kia từng có cây (ta có thể cảm nhận được ký ức về hình thù của chúng ở quanh đây) ngồi chính giữa "phòng khách". Phòng khách; gán cái tên này cho nó mới thật hay làm sao. Dù anh bước vào lúc nào đi chăng nữa, các bức tường vẫn luôn luôn đang nói với Mildred. "Phải làm gì đó thôi!" "Đúng, phải làm gì đó!" "Vậy thì đừng đứng đó mà nói!" "Nào cùng làm đi!" "Mình điên quá, muốn nhổ nước bọt lắm rồi!" Cái thứ này là gì vậy? Mildred không biết. Ai điên với ai? Mildred thật tình không biết. Họ sắp làm cái gì vậy? Chà, Mildred nói, cứ chờ rồi sẽ biết. Anh đã chờ để biết. Một cơn sấm âm thanh dữ dội từ các bức tường ồ ạt ùa ra. Âm nhạc ném bom anh với âm lượng kinh thiên động địa đến độ xương anh hầu như bị giằng lắc bật khỏi dây chằng; anh nghe hàm mình rung lên, mắt chao đảo trong đầu. Anh như vừa trải qua một con choáng não. Khi tất cả đã qua anh cảm thấy mình như một người bị quăng từ mỏm đá xuống, quay tít mù theo lực ly tâm và rơi tõm xuống một thác nước cứ đổ hoài đổ mãi vào hư không chỉ có hư không và không-bao-giờ-chạm-đáy-không-bao-giờ-không-bao-giờ chạm-đáy... và anh rơi nhanh đến nỗi anh cũng chẳng bao giờ chạm tới những thứ xung quanh... không... bao... giờ... chạm... bất... cứ... gì. Sấm ngớt dần. Âm nhạc tắt. "Đó," Mildred nói. Và quả là cừ thật. Một cái gì đó đã xảy ra. Cho dù nhũng người trong các bức tường của căn phòng hầu như không di chuyển, và chẳng có gì thực sự được giải quyết xong, nhưng ta có cảm giác như ai đó vừa bật một cái máy giặt lên hay là hút ta vào một cái máy hút bụi khổng lồ. Ta chìm nghỉm trong âm nhạc và nghịch âm thuần túy. Anh ra khỏi phòng mồ hôi như tắm và gần như ngã quỵ. Sau lưng anh, Mildred ngồi trên ghế và các giọng nói vẫn tiếp tục cất lên. "Mọi việc rồi sẽ ổn ngay thôi mà," một "bà dì" nói. "Ồ, đừng quá tin chắc thế," một "anh họ" nói. "Chà, đừng giận nữa mà." "Ai giận chứ?" "Anh chứ ai!" "Tôi á?" "Anh điên rồi!" "Sao tôi lại phải điên chứ!" "Bởi vì thế!" "Thế cũng tốt thôi," Montag hét, "nhưng họ điên cái gì vậy? Những người này là ai kia chứ? Người đàn ông kia là ai còn người đàn bà nọ là ai? Họ là vợ chồng à, hay họ đã ly dị, mới đính hôn, là gì? Chúa ơi, chẳng đâu vào đâu hết cả." "Họ," Mildred nói, "ờ thì họ... họ cãi nhau, anh thấy đó. Họ cãi nhau nhiều, hẳn rồi. Anh phải lắng nghe chứ. Em nghĩ họ cưới nhau rồi. Đúng đấy, họ cưới nhau rồi. Tại sao?" Và nếu không phải ba bức tường chẳng mấy chốc sẽ thành bốn bức tường và giấc mơ hoàn tất, thì cũng sẽ là chiếc xe mui trần và Mildred lái trăm dặm một giờ xuyên qua thành phố, anh quát cô và cô quát lại và cả hai căng tai nghe xem người kia nói gì, nhưng chỉ nghe được tiếng hét của chiếc xe. "ít nhất thì cũng giữ tốc độ nhỏ nhất đi!" anh rú lên. "Gì?" cô la. "Giữ năm mươi lăm thôi, tốc độ nhỏ nhất ấy!" anh hét. "Giữ cái gì?" cô rít. "Tốc độ!" anh hét. Thế là cô vọt lên trăm linh năm dặm một giờ khiến cho hơi thở ra bị giật bắn khỏi miệng anh. Khi họ bước xuống xe, cô đang đeo hai cái vỏ Sò gắn chặt hai tai. Im lặng. Chỉ có gió thổi nhẹ. "Mildred." Anh cựa quậy trên giường. Anh vươn tay rút con bọ nhạc nhỏ xíu ra khỏi tai cô. "Mildred. Mildred à." "Vâng." Giọng cồ uể oải. Anh cảm thấy mình như một trong các sinh vật điện tử được chèn vào những rãnh giữa các bức tường màu sắc và âm thanh, cứ nói, nhung lòi nói không qua thấu được cái hàng rào tinh thể. Anh chỉ có thể dùng động tác, hy vọng cô sẽ quay sang phía anh mà thấy anh. Họ không thể sờ thấy nhau qua lớp lánh. "Mildred này, em có biết cô gái mà anh đang kể cho em nghe không?" "Cô nào?" Cô gần như đã thiếp ngủ. "Cô nhà bên.” "Cô nhà bên nào?" "Cô bé học trung học, em biết mà. Clarisse, tên là thế." "Ồ, phải," vợ anh nói. "Đã mấy hôm nay anh không gặp cô ấy, chính xác là bốn hôm. Em có gặp cô ấy không?" "Không." "Anh đã định kể em nghe về cô ấy. Lạ lắm." "Ồ, em biết anh định nói về ai mà." "Anh cũng nghĩ là em biết." "Cô ta," Mildred nói trong căn phòng tối. "Cô ta làm sao?" Montag hỏi. "Em đã định nói với anh. Quên mất. Quên." "Nói anh nghe đi. Chuyện gì?" "Chắc cô ta đi rồi." "Đi rồi?" "Cả gia đình chuyển đi đâu đó. Nhưng cô ta thì đi hẳn rồi. Em nghĩ cô ta chết rồi." "Hình như ta đang nói về hai cô khác nhau thì phải.” "Không. Chính cô ta. McClellan. McClellan. Bị xe cán. Cách đây bốn hôm. Em không chắc. Nhưng em nghĩ cô ta chết rồi. Dù gì thì gia đình cũng chuyển đi rồi. Em không biết. Nhưng em nghĩ cô ta chết rồi." "Em có chắc đâu!" "Không, không chắc tuyệt đối. Khá chắc." "Sao em không nói cho anh sớm hơn?" "Quên." "Bốn hôm rồi!" "Em quên tiệt mất." "Bốn hôm rồi," anh nằm đó nói khẽ. Họ nằm trong căn phòng tối không nhúc nhích, cả hai người. "Ngủ ngon nhé," cô nói. Anh nghe tiếng sột soạt nhỏ. Bàn tay cô dịch chuyển. Cái đê điện tử, được tay cô chạm vào, dịch chuyển giống như con bọ ngựa đang cầu nguyện trên chiếc gối. Giờ thì nó đã lại nằm trong tai cô, ngân nga. Anh lắng nghe, vợ anh thì đang ư ử khẽ hát. Bên ngoài nhà, một bóng đen di chuyển, ngọn gió thu nổi lên rồi lại ngớt. Nhưng còn có gì đó khác trong im lặng mà anh nghe ra được. Nó như một hơi thở mà ai đó hà lên trên cửa sổ. Nó như một làn khói sáng xanh xanh rất nhẹ, chuyển động của một chiếc lá tháng Mười rất to bị gió lùa qua bãi cỏ rồi mang đi mất. Con Chó Máy, anh nghĩ. Đêm nay nó ở ngoài kia. Giờ nó đang ở ngoài kia. Nếu mình mở cửa sổ... Anh không mở cửa sổ. Đến sáng anh bị ớn lạnh, sốt. "Anh không thể ốm được,” Mildred nói. Anh nhắm mắt lại trong con nóng hầm hập. "Có đấy." "Nhưng hồi đêm anh khỏe mà." "Không, anh không khỏe lắm." Anh nghe tiếng những người "bà con" la léo nhéo trong phòng khách. Mildred đứng cạnh giường anh, cúi xuống, tò mò. Anh cảm thấy cô đang ở đó, anh thấy được cô dù không mở mắt, tóc cô bị hóa chất đốt cháy thành một mớ rơm lởm chởm, mắt cô như bị đục thủy tinh thể ở mãi đằng sau cặp đồng tử, không thể thấy song có thể ngờ thấy, cặp môi dẩu đỏ au, thân hình mảnh như con bọ ngựa vì ăn chay, và da thịt cô giống như thịt xông khói trắng. Anh không thể nhớ tới cô theo cách nào khác. "Em mang cho anh aspirin và nước được không?" "Anh phải dậy,” cô nói. "Trưa rồi. Anh đã ngủ muộn hơn bình thường năm tiếng rồi." "Em tắt cái phòng khách đi được không?" anh hỏi. "Đó là gia đình em." "Em có thể tắt nó đi vì một người ốm không?" "Em sẽ tắt." Cô ra khỏi phòng và chẳng làm gì với cái phòng khách rồi quay lại. "Thế được chưa?" "Cám ơn." "Đó là chương trình em thích," cô nói. "Aspirin thì sao?" "Trước nay anh có bệnh bao giờ đâu." Cô lại ra khỏi phòng. "Thì giờ anh bệnh. Tối nay anh không đi làm đâu. Gọi Beatty hộ anh." "Đêm qua anh cư xử buồn cười thật." Cô quay lại, âm ư hát. "Aspirin đâu?" Anh liếc nhìn ly nước cô đưa cho. "Ồ." Cô lại vào buồng tắm. "Có chuyện gì xảy ra à?" "Một vụ cháy, vậy thôi." "Tối qua em thích lắm," cô ở trong buồng tắm nói vọng ra. "Làm gì mà thích?" "Phòng khách." "Có gì?" "Các chương trình." "Chương trình gì?" “Chương trình hay nhất xưa nay." "Ai?" "Ồ, cả hội, anh biết mà." "Ừ, cả hội, cả hội, cả hội." Anh ấn mạnh lên chỗ đau trong mắt và đột nhiên mùi dầu làm anh buồn mửa. Mildred vào, âm ư hát. Cô ngạc nhiên. "Sao anh làm vậy?" Anh luống cuống nhìn xuống sàn. "Bọn anh thiêu sống một bà cùng với sách của bà ta." "Cũng may là thảm giặt được." Cô lấy một miếng giẻ rồi lau thảm. "Đêm qua em tới nhà Helen." "Em không xem được mấy chương trình đó trong phòng khách của em à?" "Có chứ, nhưng đến chơi nhà bạn cũng hay." Cô đi vào phòng khách. Anh nghe tiếng cô hát. "Mildred này," anh gọi. Cô quay lại, vừa hát vừa khẽ búng ngón tay. "Em không hỏi gì anh về chuyện đêm qua sao?" anh nói. "Có chuyện gì?" "Bọn anh đốt một ngàn cuốn sách. Bọn anh đốt một người đàn bà." "Thì sao?" Phòng khách bùng nổ âm thanh. "Bọn anh đốt những cuốn của Dante, của Swift, của Marcus Aurelius." "Ông ta có phải người châu Âu không?" "Kiểu vậy." "Ông ta có cấp tiến không?" "Anh chưa bao giờ đọc ông ấy." "Ông ta cấp tiến." Mildred nghịch cái điện thoại. "Anh không mong em gọi đội trưởng Beatty đúng không?" "Em phải gọi!" "Đừng có hét lên!" "Anh không hét." Anh đột ngột ngồi dậy trên giường, bừng bừng phẫn nộ, run bần bật. Phòng khách gầm rú trong bầu khí nóng. "Anh không thể gọi được. Anh không thể bảo ông ta là anh bệnh." "Vì sao?" Vì anh sợ, anh nghĩ. Một đứa bé vờ bệnh, sợ không dám gọi bởi vì, sau một thoáng thảo luận, cuộc nói chuyện sẽ diễn ra như sau: "Vâng, đội trưởng, tôi thấy khỏe hơn rồi. Đêm nay mười giờ tôi sẽ đến." "Anh không bệnh," Mildred nói. Montag ngã xuống giường. Anh luồn tay xuống dưới gối. Cuốn sách anh giấu vẫn nằm đó. "Mildred này, nếu anh bỏ việc một thời gian thì sao?" "Anh muốn từ bỏ tất cả sao? Sau bao nhiêu năm làm việc, bởi vì một đêm nọ có người đàn bà nào đó cùng sách của bà ta..." "Em phải thấy bà ấy mới hiểu, Mildred ạ’ "Bà ta chả là gì với em hết, đáng lẽ bà ta không nên có sách mới phải. Đó là trách nhiệm của bà ta, đáng lẽ bà ta phải nghĩ tới chuyện đó mới đúng. Em ghét bà ta. Bà ta khiến anh mất ăn mất ngủ và rồi quay đi quay lại thì đã thấy mình ở ngoài đường, chẳng còn nhà, chẳng còn việc làm, chẳng còn gì." "Em không ở đó, em không thấy," anh nói. "Ắt phải có cái gì đó trong những cuốn sách, những thứ ta không thể hình dung, nó khiến cho một người đàn bà ở lại trong căn nhà cháy, phải có cái gì đấy ở trong đó. Em ở lại đâu phải chẳng vì một cái gì." "Bà ta ngu quá thôi." "Bà ấy cũng biết phải trái như anh hay em, có khi còn hơn không chừng, thế mà bọn anh thiêu sống bà ấy. "Nước chảy qua cầu thôi." "Không, không phải nước, mà là lửa. Em đã khi nào thấy một căn nhà bị đốt chưa? Nó cháy âm ỉ nhiều ngày liền. Ngọn lửa này nó sẽ cứ âm ỉ hoài cho đến hết đời anh. Chúa ơi! Anh đã ra sức cố dập cho nó tắt, trong đầu anh, suốt đêm. Anh cố gắng đến phát điên lên." "Đáng lẽ anh phải nghĩ tới chuyện đó trước khi trở thành lính phóng hỏa." "Nghĩ!" anh nói. "Anh có được quyền chọn không? Ông của anh, bố của anh đều là lính phóng hỏa. Ngay cả lúc ngủ anh cũng thấy mình chạy theo họ." Phòng khách đang chơi một điệu nhạc khiêu vũ. "Hôm nay anh làm ca sớm.” Mildred nói. "Đáng lẽ anh phải đi từ cách đây hai tiếng. Em vừa nhớ ra." "Không phải chỉ người đàn bà đó chết," Montag nói. "Đêm qua anh nghĩ về toàn bộ lượng dầu anh đã dùng trong mười năm qua. Và anh nghĩ về sách. Và lần đầu tiên anh nhận ra rằng đằng sau mỗi cuốn sách có một con người. Một ai đó đã phải nghĩ ra tất cả chúng. Một ai đó đã phải dành một thời gian dài viết chúng ra giấy. Điều đó xưa nay anh chưa bao giờ nghĩ." Anh ra khỏi giường. "Có những người có khi phải mất cả đời mới có thể đặt bút ghi lại vài tư tưởng của mình, sau khi nhìn quanh thế giới nhìn ra cuộc sống, và rồi anh ghé qua và chỉ trong vòng hai phút là bùm! xong hết cả." "Để cho em yên," Mildred nói. "Em chả làm gì hết." "Để cho em yên! Được thôi, nhưng làm sao anh có thể để cho bản thân anh yên? Chúng ta không cần phải được yên. Thỉnh thoảng chúng ta cần phải bận tâm. Đã bao lâu rồi em không thực sự bận tâm? về một chuyện quan trọng, về một cái gì đó có thật?" Rồi anh im bặt, bởi anh nhớ lại tuần trước và hai hòn đá trắng nhìn chằm chằm lên trần nhà và cái bơm-con rắn với con mắt chòng chọc dò tìm và hai gã đàn ông có bộ mặt màu xà bông với điếu thuốc lá luôn ngọ nguậy trong mồm khi họ nói. Nhưng đó là một Mildred khác, một Mildred ẩn rất sâu trong Mildred này, một Mildred đang bận tâm, thực sự bận tâm, đến nỗi hai người đàn bà này đã không bao giờ gặp nhau. Anh quay mặt đi. Mildred nói, "Thôi rồi, giờ anh tiêu tùng rồi. Ra đằng trước đi. Xem ai đến kìa." "Anh không quan tâm." "Có một chiếc xe phượng hoàng vừa rẽ vào và một ông mặc sơ mi đen, cánh tay thêu một con rắn màu cam đang đi trên lối vào nhà mình." "Đội trưởng Beatty?" anh nói. "Đội trưởng Beatty.” Montag không nhúc nhích, mà chỉ đứng nhìn màu trắng lạnh lẽo của bức tường ngay trước mặt anh. "Em làm ơn ra mời ông ta vào được không? Bảo ông ta anh bệnh." "Anh tự đi mà nói!" Cô chạy vài bước lối này, vài bước lối kia, rồi dừng, mắt mở to, khi loa cửa trước gọi tên cô, nhẹ nhàng, nhẹ nhàng, Bà Montag, bà Montag, nhà có khách, nhà có khách, bà Montag, bà Montag, nhà có khách. Nhỏ dần. Montag kiểm tra cho chắc cuốn sách được giấu kỹ dưới gối chưa, chầm chậm leo trở về giường, xếp cho tấm chăn phủ lên hai đầu gối và ngang qua ngực, nửa ngồi nửa nằm, và một lát sau Mildred nhúc nhích rồi đi ra khỏi phòng và đội trưởng Beatty bước vào, hai tay đút túi. "Cho mấy người 'bà con' im đi," Beatty nói, nhìn quanh tất cả mọi thứ trừ Montag và vợ anh. Lần này, Mildred chạy. Các giọng léo nhéo thôi không ông ổng bên phòng khách nữa. Đội trưởng Beatty ngồi xuống cái ghế ngồi thoải mái nhất với vẻ bình thản trên khuôn mặt đỏ đắn. Ông ta nhẩn nha nhồi cái tẩu bằng đồng, châm lửa, rồi phả ra một bụm khói to. "Tôi vừa nghĩ hay mình ghé qua xem người ốm nhà ta đau ốm thế nào." "Sao anh đoán ra?" Beatty cười cái nụ cười lộ cả hai hàm lọi hồng như kẹo và hai hàm răng trắng tinh như kẹo. "Tôi thấy hết rồi. Anh sắp gọi xin nghỉ một đêm." Montag ngồi dậy trên giường. "Được thôi," Beatty nói, "đêm nay nghỉ đi!" Ông ta săm soi hộp diêm bất dỉệt của mình, trên nắp đề: BẢO ĐẢM: MỘT TRIỆU LẦN BẬT LỬA TRONG BỘ ĐÁNH LỬA NÀY, và bắt đầu quẹt que diêm hóa học một cách lơ đãng, thổi tắt, quẹt lửa, thổi tắt, nói vài từ, thổi tắt. Ông ta nhìn ngọn lửa. Ông ta thổi, ông ta nhìn khói. "Khi nào anh khỏe?" "Mai. Có thể ngày kia. Ngày đầu tuần." Beatty nhả một hơi khói. "Mỗi lính phóng hỏa sớm muộn thì rồi đều gặp chuyện này. Họ chỉ cần được hiểu, cần được biết cái bánh xe quay ra sao. Cần biết lịch sử nghề của chúng ta. Người ta không cho lính mới biết chuyện đó như hồi trước nữa. Nhục thật, mẹ nó." Nhả khói. "Nay thì chỉ sếp lính phóng hỏa mới còn nhớ thôi." Nhả khói. "Tôi sẽ cho anh biết." Mildred cục cựa bồn chồn. Beatty dành hẳn một phút để sửa thế ngồi cho ngay ngắn và nghiền ngẫm lại điều ông muốn nói. "Nó bắt đầu từ khi nào, anh hỏi vậy, cái nghề này của chúng ta, nó đã xuất hiện ra sao, ở đâu, khi nào? Chắc tôi sẽ nói nó bắt đầu vào cái thòi diễn ra thứ gọi là Nội Chiến. Mặc dù cuốn nội quy của chúng ta thì bảo nghề này được thành lập sớm hơn. Sự thật là chúng ta không làm được gì mấy cho mãi tới khi nhiếp ảnh ra đời. Thế rồi phim ảnh vào đầu thế kỷ hai mươi. Radio. Truyền hình. Mọi thứ đều trở nên hàng loạt." Montag ngồi trên giường, không nhúc nhích. "Và bởi chúng được làm hàng loạt, chúng trở nên đơn giản hơn," Beatty nói. "Đã có thời, sách hấp dẫn được dăm ba người, đây, đó, mọi nơi. Họ có đất để mà khác nhau. Thế giới còn lắm chỗ. Nhưng rồi thế giới đâm ra đầy mắt đầy cùi chỏ đầy mồm. Dân số tăng gấp đôi, gấp ba, gấp bốn. Phim và radio, tạp chí, sách, tất thảy bị cào bằng thành một thứ chuẩn giống như là bánh pút đinh bột nhão, anh hiểu ý tôi không?" “Chắc hiểu." Beatty nhìn hình khói ông ta vừa thả vào không khí. "Hình dung đi. Người đàn ông thế kỷ mười chín cùng với con ngựa, lũ chó, chiếc xe, chuyển động chậm của anh ta. Rồi, sang thế kỷ hai mươi, tăng tốc máy quay lên. Sách đâm ra ngắn hơn. Cô đặc. Tập san thời sự. Báo khổ nhỏ đăng toàn tin vắn. Mọi thứ quy gọn lại thành một trò hài, một cái kết nhanh gọn." "Kết nhanh gọn." Mildred gật đầu. "Các tác phẩm kinh điển bị cắt xén cho vừa với các chương trình phát thanh mười lăm phút, rồi lại cắt cho khớp với các mục điểm sách hai phút, cuối cùng thì co kéo lại còn một mục tóm tắt từ điển dài mười đến mười hai dòng. Tôi nói quá lên, dĩ nhiên. Từ điển là dùng để tham khảo. Nhưng có nhiều người mà kiến thức duy nhất về Hamlet (nhất định anh biết nhan đề này, Montag; có lẽ cô mới chỉ nghe phong thanh cái nhan đề ấy, bà Montag), kiến thức duy nhất, như tôi nói, của họ về Hamlet là một mục tóm lược dài một trang trong một cuốn sách khẳng định rằng: giờ rốt cuộc bạn có thể đọc tất cả tác phẩm kinh điển rồi; hãy cố mà ngang cơ với xóm giềng của bạn. Hai người hiểu không? Từ nhà trẻ vào trường đại học rồi lại về nhà trẻ; đó là cách vận hành bộ não trong năm thế kỷ vừa qua hay nhiều hơn nữa." Mildred đứng dậy bắt đầu đi quanh phòng, nhặt thứ này thứ nọ lên rồi lại để lại chỗ cũ. Beatty lờ cô đi mà nói tiếp: "Quay phim nhanh lên, Montag, nhanh lên. Tách, Chụp, Nhìn, Mắt, Giờ, Nháy, Đây, Kia, Nhoáng, Bước, Lên, Xuống, Ra, Vào, Tại Sao, Thế Nào, Gì, Đâu, Hở? Ủa! Bùm! Oạch! Xoẹt, Binh, Bang, Bum! Tóm tắt- tóm tắt, tóm tắt-tóm tắt-tóm tắt. Chính trị à? Một cột, hai câu, một dòng tít! Rồi thì, trong thinh không, biến tuốt! Cho tâm trí con người ta xoay tít mù dưới đôi tay bơm của các nhà xuất bản, hãng khai thác chương trình, các hãng tin, xoay nhanh đến nỗi lực ly tâm làm cho mọi thứ tư duy không cần thiết, phí thì giờ thảy đều bắn ra ngoài!" Mildred vuốt phẳng ga giường. Montag cảm thấy tim mình nhảy lên nhảy xuống trong khi cô vỗ vỗ gối anh. Giờ thì cô đang kéo vai anh để cố bắt anh nhúc nhích sao cho cô có thể lấy gối ra sửa sang đâu ra đó rồi để lại chỗ cũ. Rồi có lẽ sẽ hét lên và nhìn chằm chằm hoặc chỉ thò tay xuống mà nói, "Cái gì đây?" rồi cầm cuốn sách lên với sự ngây thơ nhìn đến là cảm động. "Trường học bị rút ngắn, kỷ luật nới lỏng, triết, lịch sử, ngôn ngữ bị bỏ không dạy nữa, Anh ngữ và chinh tả dần dần dần dần bị xem nhẹ, cuối cùng gần như hoàn toàn bị bỏ lơ. Đòi là thứ ngay trước mắt, việc làm là quan trọng, sau giờ làm thì thú vui đâu cũng có. Sao còn phải học cái gì khác ngoại trừ bấm nút, vặn công tắc, siết ốc với bù loong?" "Để em sửa gối cho anh.” Mildred nói. "Không!" Montag thì thào. "Khóa kéo thay cho cúc áo và con người ta mất đi ngần đó thời gian suy nghĩ trong khi thay đồ vào buổi sáng, một giờ triết lý, và do vậy là một giờ sầu muộn." Mildred nói, "Này." "Đi đi," Montag nói. "Đòi sống trở thành một cú nhầm lẫn to đùng, Montag ạ; mọi thứ đều rầm, ha hả, ui cha." "Ui cha," Mildred vừa nói vừa giằng cái gối. "Vì Chúa lòng lành, để cho tôi yên!" Montag hét lên gắt gỏng. Beatty mở to mắt ra. Tay Mildred đông cứng phía sau cái gối. Các ngón tay cô lần theo rìa cuốn sách và khi hình dáng nó trở nên quen thuộc thì mặt cô có vẻ ngạc nhiên rồi thì choáng váng. Miệng cô há ra để hỏi... "Quét sạch các nhà hát chỉ còn chừa lại đám hề và trang bị các phòng toàn vách kính với những màu đẹp mắt chạy lên chạy xuống các vách tường giống như hoa giấy hay máu hay rượu xê-rét hay vang xô-téc. Anh thích bóng chày chứ hả, Montag?" "Bóng chày là môn hay.” Giờ thì Beatty gần như vô hình, một giọng nói lẩn đâu đó đằng sau bức màn khói. "Gì đây?" Mildred hỏi, gần như thích thú. Montag đổ người ra sau đè lên tay cô. "Cái gì đây?" "Ngồi xuống!" Montag hét. Cô nhảy lùi ra, hai tay trống trơn. "Bọn anh đang nói chuyện mà." Beatty cứ nói như không có gì xảy ra. "Anh thích bowling chứ hả, Montag?" "Bowling, có." "Còn golf?" "Golf là môn hay." "Bóng rổ?" "Bóng rổ là môn hay." "Bi a? Bóng bầu dục?" "Môn nào cũng hay." "Thêm nhiều môn thể thao cho tất cả mọi người, tinh thần nhóm, vui vẻ, không cần phải nghĩ, hả? Tổ chức rồi lại tổ chức nữa và siêu tổ chức những môn siêu-siêu thể thao. Thêm nhiều truyện tranh trong sách. Thêm ảnh. Trí óc hấp thu ngày càng ít. Nôn nóng. Xa lộ chật ních những đám đông đang đi đâu đó, đi đâu đó, đi đâu đó, chả đi đâu. Đoàn xăng tị nạn. Thị trấn biến thành khách sạn ven đường, thiên hạ di chuyển từ nơi này sang nơi khác như những đợt sóng, theo con triều, đêm nay sống ở căn phòng nơi trưa nay anh ngủ và đêm qua tôi ngủ." Mildred đi ra khỏi phòng đóng sầm cửa. Các “bà cô bà dì" trong phòng khách bắt đầu cười cợt các "ông chú ông bác" trong phòng khách. "Giờ ta hãy nói đến đám thiểu số trong nền văn minh của chúng ta, nhỉ? Dân số càng đông, thiểu số càng nhiều. Đừng dại mà đụng tới những người yêu chó, yêu mèo, bác sĩ, luật sư, thương nhân, thủ lĩnh da đỏ, những người Mormon, Baptist, người theo thuyết nhất thể, người Hoa thế hệ thứ hai, người Thụy Điển, người Ý, người Đức, người Texas, dân Brooklyn, Ailen, dân Oregon hoặc Mexico. Những người trong cuốn sách này, vở kịch này, phim truyền hình này không phải là để tái hiện bất cứ họa sĩ, nhà vẽ bản đồ, thợ cơ khí có thật nào ở bất cứ đâu. Thị trường của anh càng lớn, anh càng ít phải xử lý xung đột, Montag ạ, nhớ lấy! Tất tật cái đám thiểu số thiểu thiểu cực thiểu số kia ai cũng cần phải được nâng niu. Các tác gia, đầy tư tưởng xấu xa, hãy cất kỹ máy đánh chữ của các anh mà khóa lại. Họ đã làm thế. Tạp chí trở thành một hỗn họp ngon lành bột sắn rưới vani. Sách thì nhạt như nước ốc, cải đám phê bình gia khụng khiệng chó chết nói thế. Chẳng lạ gì sách thôi không bán được nữa, đám phê bình gia nói thế. Nhưng công chúng thì cứ vui vẻ xoay tít mù, họ biết họ muốn gì, họ để cho truyện tranh sống mãi. Và tạp chí sex ba chiều nữa, dĩ nhiên. Thế đấy, Montag. Nó đâu có từ Chính phủ mà xuống. Chả có phán quyết, chả có tuyên bố, chả có kiểm duyệt, chẳng gì hết! Công nghệ, khai thác hàng loạt, sức ép của thiểu số, đó là cội nguồn của tất cả, ơn Chúa. Ngày nay, nhờ có chúng, anh có thể vui vẻ suốt, anh được phép đọc truyện tranh, những lời xưng tội xa xưa tốt lành, hay tạp chí chuyên ngành." "Phải, nhưng vậy còn các lính phóng hỏa thì sao?" Montag hỏi. "À," Beatty khom mình tới trước trong làn khói mỏng từ ống tẩu bốc ra. "Còn có gì tự nhiên và dễ giải thích hơn nữa? Trường học càng cho ra nhiều người chỉ biết chạy, chỉ biết nhảy, chỉ biết giằng, chỉ biết giật, chỉ biết lượn, chỉ biết bơi thay vì người biết tra xét, người phê phán, người hiểu biết, người tưỏng tượng sáng tạo, thì dĩ nhiên từ 'trí thức' càng trở thành tiếng chửi thề vì nó đáng như vậy. Ta luôn luôn sợ cái không quen thuộc. Đương nhiên anh nhớ thằng nhóc học cùng lớp với anh ở trường phổ thông, cái thằng 'thông minh' xuất chúng, luôn luôn đọc thuộc bài như cháo và luôn luôn trả lời trong khi bọn khác ngồi ngây như lũ phỗng bằng chì, ghét cay ghét đắng cái thằng đó. Và chẳng phải chính thằng nhỏ thông minh đó là thằng mà lũ các anh chọn để đánh đập để làm tình làm tội sau giờ học hay sao? Dĩ nhiên là nó. Tất cả chúng ta ắt ai cũng như nhau. Không phải tất cả mọi người sinh ra đều tự do bình đẳng như Hiến pháp nói, nhưng tất cả mọi người đều được người ta làm cho bình đẳng. Mỗi người là hình ảnh của mỗi người khác; thế là tất cả đều vui vẻ, bởi không có ngọn núi nào khiến họ phải rúm mình, phải lấy làm thước đo để phán xét bản thân. Vậy đó! Một cuốn sách là một khẩu súng đã nạp đạn trong căn nhà bên cạnh. Đốt nó đi. Tước phát đạn khỏi khẩu súng kia đi. Xé toạc tâm trí con người đi. Ai biết được kẻ nào có thể là đích ngắm của người đọc rộng? Tôi ư? Tôi không nuốt nổi bọn đó dù chỉ một phút. Thành ra khi các ngôi nhà thảy đều đã hoàn toàn chịu lửa hết rồi, khắp thế giới (đêm hôm nọ anh giả định đứng đấy) không còn cần lính chuyên cứu hỏa như ngày xưa nữa. Đám lính ấy nay được giao việc mới, làm người bảo trợ cho tâm trí bình an của chúng ta, tâm điểm cho cái nỗi sợ chính đáng và có thể hiểu được của chúng ta là sợ mình kém cỏi: viên chức kiểm duyệt, phán quan, người xử án. Đó là anh, Montag, đó là tôi." Cửa dẫn sang phòng khách mở và Mildred đứng đó nhìn họ, nhìn Beatty rồi nhìn Montag. Phía sau cô các bức tường tràn ngập những ánh pháo hoa màu xanh lục màu vàng màu cam đang sôi xèo xèo và bùng ra thành một thứ âm nhạc hầu như chỉ toàn trống cái, trống con và chũm chọe. Miệng cô động đậy, cô đang nói gì đó nhưng âm thanh kia át mất. Beatty gõ gõ tẩu vào lòng bàn tay hồng hào, nhìn chăm chú dúm tro như thể đó là một biểu tượng cần được dò đoán tìm cho ra nghĩa. “Anh phải hiểu rằng nền văn minh của chúng ta rộng lớn đến nỗi chúng ta không thể để cho các nhóm thiểu số của mình bất bình và dấy loạn. Tự hỏi mình đi, Chúng ta cần gì trên hết ở đất nước này? Người dân muốn hạnh phúc, đúng không? Chả phải điều đó anh đã nghe suốt đời hay sao? Tôi muốn hạnh phúc, người ta nói. Chà, họ không hạnh phúc hay sao? Chẳng lẽ chúng ta không cho họ đi đây đi đó, không cho họ trò này trò kia cho vui? Chúng ta sống là vì thế cả, đúng không nào? Sống cho vui, cho sướng? Và anh phải thừa nhận rằng văn hóa của chúng ta cho người ta ối cơ hội được vui được sướng." Phải. Montag có thể đọc khẩu hình để hiểu điều Mildred đang nói nơi khung cửa. Anh cố không nhìn chăm chăm vào miệng cô, vì nếu vậy Beatty có thể sẽ quay lại và cũng đọc được. "Dân da màu không ưa Cậu bé da đen Sambo. Đốt nó đi. Dân da trắng không thoải mái với Túp lều bác Tom. Đốt đi. Ai đó viết một cuốn sách về thuốc lá và ung thư phổi? Dân hút thuốc lá đang khóc lóc? Đốt đi. Yên ổn, Montag. Bình an, Montag. Đánh nhau, ra ngoài mà đánh. Tốt hơn nữa là vào lò đốt. Đám tang vừa dị giáo lại vừa chẳng vui vẻ gì ư? Loại bỏ luôn đi. Khi ai đó chết thì năm phút sau là y ta đã trên đường đến Lò To, mấy cái lò có trực thăng phục vụ, cả nước ở đâu cũng có. Mười phút sau khi chết, con người ta chỉ còn là một mảy bụi đen. Đừng có cãi vặt về những cá nhân đầy ký ức nữa đi. Quên hết đi. Đốt cả, đốt hết. Lửa sáng và lửa sạch." Pháo hoa đã tắt trong phòng khách sau lưng Mildred. Vừa hay cũng lúc đó cô thôi nói; thật trùng hợp thần kỳ. Montag nín thở. "Nhà kế bên có một cô gái," anh nói, chậm rãi. "Giờ cô ấy đi rồi. Chắc là chết. Thậm chí mặt cô ấy ra sao tôi cũng không nhớ. Nhưng cô ấy khác. Làm sao... làm sao lại có người như cô ấy được?" Beatty mỉm cười. "Đây đó chuyện ấy vẫn xảy ra. Clarisse McClellan phải không? Chúng ta có hồ sơ gia đình cô ta. Chúng ta đã quan sát họ cẩn thận. Di truyền và môi trường là những cái ngộ lắm. Anh không thể gột bỏ tất tật các thứ dở hơi đó chỉ trong vài ba năm. Môi trường gia đình có thể làm cho nhiều thứ anh cố làm ờ trường học thành ra công cốc. Chính vì vậy mà chúng ta cứ hạ dần độ tuổi nhà trẻ hết năm này qua năm khác cho đến khi ngày nay chúng ta gần như giật lấy bọn trẻ ngay khi chúng đang nằm nôi. Chúng ta đã có vài báo động giả về gia đình McClellan, hồi họ còn ở Chicago. Không bao giờ tìm ra một cuốn sách nào. Ông bác có hồ sơ phức tạp; không hòa nhập cộng đồng. Cô gái hả? Cô ta là một quả bom nổ chậm. Gia đình đó mớm cho cô ta bằng tiềm thức, xem học bạ của cô ta hồi đi học tôi tin chắc như thế. Cô ta không muốn biết một thứ gì đó được làm ra như thế nào, mà cô ta muốn biết tại sao. Chuyện đó có thể rắc rối đó. Anh hỏi Tại sao với quá nhiều thứ như thế thì rốt cuộc anh đâm ra rất không hạnh phúc, nếu anh cứ tiếp tục như vậy mãi. Cô bé tội nghiệp kia nên chết đi là hơn." "Phải, chết." "Cũng may, những người kỳ quặc như cô ta không thường hay có. Chúng ta biết cách bóp chết hầu hết bọn họ từ trong trứng, từ sớm. Không có đinh và gỗ thì không thể xây nhà được. Nếu anh không muốn cho ai đó xây nhà, hãy giấu đinh và gỗ đi. Nếu không muốn cho ai đó bị mất vui về mặt chính trị, đừng cho anh ta hai mặt của cùng một vấn đề khiến anh ta bận trí; hãy cho một mặt thôi. Tốt hơn nữa là đừng cho mặt nào hết. Hãy để anh ta quên mất có một thứ gọi là chiến tranh. Nếu chính phủ không làm việc hiệu quả, đầu tư quá tay, khùng điên vì thuế, thì thà cứ để như thế còn hơn để người ta bận tâm về chuyện đó. Bình an, Montag ạ. Hãy cho thiên hạ những cuộc thi mà họ thắng bằng cách nhớ được lời những bài hát ai cũng thích hoặc tên thủ phủ các bang hoặc năm ngoái vụ ngô ở Iowa thu hoạch được bao nhiêu. Hãy nhồi đầy đầu họ những dữ liệu không bắt cháy, hãy tọng cho họ đầy ứ 'sự kiện' đến nỗi họ thấy tức thở nhưng tuyệt đối 'sáng láng' nhờ có thông tin. Rồi thì họ sẽ cảm thấy mình đang suy nghĩ, họ sẽ có cảm giác mình đang chuyển động trong khi không chuyển động. Và họ sẽ vui vẻ hạnh phúc, bởi vì những sự kiện thuộc loại đó không thay đổi. Đừng cho họ bất cứ thứ gì khó nắm bắt như là triết học hay xã hội học để cho họ cột các thứ vào nhau. Làm vậy thì chỉ có phiền não thôi. Bất cứ người nào có thể tháo một bức tường ti vi ra rồi lại lắp vào, mà hầu hết ai cũng làm được cả, ngày nay là vậy, thì cũng đều hạnh phúc hơn bất cứ kẻ nào cố gắng tính toán, đo đạc và đặt phương trình cho thiên hạ, bởi vì anh không thể đo lường hay đặt phương trình cho thiên hạ mà không thể tự thấy mình cô độc và thú vật. Tôi biết, tôi đã thử làm vậy; quỷ tha ma bắt. Thành ra hãy mang tới những câu lạc bộ những tiệc tùng, những nghệ sĩ nhào lộn và ảo thuật gia, những tay diễn trò liều mạng, những ô tô phản lực, những xe máy trực thăng, tình dục và heroine, thêm nhiều nữa bất cứ thứ gì có liên quan đến phản xạ tự động. Nếu kịch tồi quá, nếu phim chả nói được cái gì, nếu vở diễn rỗng tuếch, hãy dùng đàn Theremin để chích tôi, ầm ĩ vào. Chừng đó tôi sẽ nghĩ mình đang đón nhận vở kịch bằng tất cả các giác quan, trong khi thật ra nó chỉ là một phản ứng thụ cảm trước sự rung. Nhưng tôi không quan tâm. Tôi chỉ thích trò giải trí ngon lành đâu ra đó, vậy thôi." Beatty đứng dậy. "Tôi phải đi đây. Bài giảng xong rồi. Tôi hy vọng mình đã làm rõ mọi chuyện. Điều quan trọng anh cần nhớ này, Montag: chúng ta là những Gã Hạnh Phúc, cặp Song Ca Dixie, anh với tôi cùng những người khác. Chúng ta chống lại cơn triều nhỏ những kẻ muốn làm cho mọi người đâm ra bất hạnh với những lý thuyết và tư duy mâu thuẫn. Chúng ta đã luồn ngón tay vào bịt đê rồi. Hãy giữ cho chắc. Đừng để cho con lũ phiền não và triết lý ủ ê nhấn chìm thế giới của anh. Chúng tôi cậy ở anh. Tôi e rằng anh không nhận thức được anh quan trọng đến thế nào, chúng ta quan trọng đến thế nào đối với cái thế giới hạnh phúc hiện giờ đâu." Beatty bắt bàn tay mềm rũ của Montag. Montag vẫn ngồi, như thể căn nhà đang sụp đổ quanh anh và anh không thể nhúc nhích, trên giường. Mildred đã biến mất khỏi khung cửa. "Một điều cuối," Beatty nói. "ít nhất một lần trong đời, lính phóng hỏa nào cũng thấy ngứa ngáy. Sách chúng nó nói gì ấy nhỉ? anh ta tự hỏi. Chà, gãi cái chỗ ngứa ấy đi, hả? Chà, Montag, tin tôi đi, trong đời tôi đã đọc vài lần, để biết mình là thế nào, nhưng mà sách chả nói gì sất! Chẳng có gì anh có thể dạy hoặc tin. Chúng nói về những con người không có thật; những mẩu tưởng tượng; nếu là truyện. Còn nếu không phải truyện thì còn tệ hơn, giáo sư này gọi giáo sư kia là thằng ngu, triết gia này thét lác chặn họng triết gia kia. Cả bọn đó lăng xăng chạy chỗ này chỗ nọ, thổi tắt các vì sao và dập tắt mặt trời. Anh đâm lạc lối." "Vậy nếu một lính phóng hỏa tình cờ mang một cuốn sách về nhà, chỉ là tình cờ, hoàn toàn không có ý đồ gì cả thì sao?" Montag cựa quậy. Cánh cửa mở nhìn anh với con mắt khổng lồ rỗng không. "Một sai lầm tự nhiên. Chỉ là tò mò," Beatty nói. "Chúng ta sẽ không cuống lên hay nổi điên. Chứng ta để cho lính phóng hỏa nọ giữ cuốn sách trong hai tư tiếng. Nếu sau hai tư tiếng anh ta chưa đốt nó, chúng ta đến đốt cho anh ta, thế thôi." "Dĩ nhiên." Miệng Montag khô rang. "Nào, Montag. Hôm nay anh có thể đến vào một ca khác muộn hơn không? Đêm nay bọn tôi sẽ gặp anh chứ?" "Tôi không biết," Montag nói. "Sao?" Beatty có vẻ hơi ngạc nhiên. Montag nhắm mắt. "Tôi sẽ đến sau. Chắc vậy." "Nhất định bọn tôi sẽ nhớ anh nếu anh không đến," Beatty vừa nói vừa đút tẩu vào túi với vẻ trầm tư. Tôi sẽ không bao giờ đến nữa, Montag nghĩ. "Nhớ giữ gìn, chóng khỏe nhé," Beatty nói. Ông ta xoay người đi qua cánh cửa mở. Montag quan sát qua cửa sổ trong khi Beatty đi khỏi trên chiếc xe con bọ có bộ khung vàng sáng lóa trên những lốp xe màu đen than. Bên kia đường và xuôi theo con lộ những nhà khác đứng đó với mặt tiền phẳng lì. Một chiều nọ Clarisse đã nói gì ấy nhỉ? "Không có hiên trước. Bác em nói hồi xưa nhà nào cũng có hiên trước. Và thỉnh thoảng người ta ngồi ở hiên trước vào ban đêm, đu đưa trên ghế, trò chuyện khi muốn trò chuyện, và không trò chuyện khi không muốn trò chuyện. Đôi khi họ chỉ ngồi đó nghĩ về chuyện này chuyện khác, ngẫm lui ngẫm tới chuyện nọ chuyện kia. Bác em nói các kiến trúc sư dẹp bỏ hiên trước đi là vì chúng trông không đẹp. Nhưng bác em bảo nói thế chỉ là để cho cái việc họ làm nghe có lý mà thôi; còn lý do thật, ẩn bên dưới, có thể là họ không muốn thiên hạ ngồi như thế, chả làm gì, đu đưa trên ghế, trò chuyện, cái kiểu đời sống họp quần như thế là sai. Người ta trò chuyên nhiều quá. Và họ có thì giờ để nghĩ. Thành ra họ dẹp quách hiên trước đi. Cả vườn luôn. Giờ chẳng còn bao nhiêu vườn để mà ngồi nữa. Rồi còn bàn ghế giường tủ nữa, nhìn xem. Chả còn cái ghế bập bênh nào. Chúng quá tiện nghi. Bắt người ta phải đứng dậy mà chạy quanh. Bác em nói… và... bác em... và... bác em..." Giọng nàng nhỏ đi. Montag quay lại nhìn vợ, cô đang ngồi giữa phòng khách nói chuyện với một phát thanh viên, người này cũng đang nói chuyện với cô. "Bà Montag," anh ta đang nói. Này này nọ nọ kia kia. "Bà Montag..." Gì đó rồi lại gì gì đó nữa. Bộ chuyển gắn kèm, vốn đã khiến họ mất đứt một trăm đô, tự động cho biết tên cô bất cứ khi nào phát thanh viên hướng về phía khán giả vô danh mà nói, chừa lại một khoảng trống để điền những âm tiết thích hợp vào. Một bộ trộn âm tại chỗ đặc biệt cũng làm sao cho hình ảnh anh ta trên ti vi, ở vùng ngay dưới môi, có thể phát ra các nguyên âm và phụ âm một cách đẹp mắt. Anh ta là một người bạn, cái đó chớ nghi ngờ, một người bạn tốt. "Bà Montag, nhìn đây." Đầu cô quay lại. Mặc dù rõ ràng cô không lắng nghe. Montag nói, "Từ chỗ hôm nay không đi làm cho đến ngày mai không đi làm, cho đến không bao giờ đi làm ở trạm phóng hỏa nữa, chỉ có một bước." "Nhưng đằng nào đêm nay anh cũng sẽ đi làm đúng không?" Mildred nói. "Anh chưa quyết được. Ngay bây giờ anh chỉ có cái cảm giác kinh khủng là muốn đập hết muốn giết hết." "Đi lấy xe đi." "Không, cám ơn." "Chìa khóa xe trên bàn ngủ ấy. Mỗi lần cảm thấy vậy là em đều thích lái xe nhanh. Cho nó lên tới chín lăm dặm một giờ rồi anh sẽ thấy tuyệt lắm. Đôi khi em lái suốt đêm rồi quay về mà anh chả hay biết gì. Ra ngoài đồng quê thích lắm. Anh cán phải thỏ, có khi cán chó. Đi lấy xe đi." "Không, anh không muốn, lần này thì không. Anh muốn cứ giữ mãi cái thứ ngộ nghĩnh này, Chúa ơi, anh thích cái này quá. Anh chả biết nó là gì. Anh bất hạnh khủng khiếp, anh khùng điên, mà không biết tại sao. Anh thấy như mình đang lên cân. Anh thấy mình béo. Anh thấy mình đang tích cóp nhiều thứ, mà chẳng biết tích cóp cái gì. Có khi anh còn bắt đầu đọc sách nữa không chừng." "Họ sẽ cho anh vào khám, phải không?" Cô nhìn anh như thể anh đang đứng sau bức vách kính. Anh bắt đầu mặc quần áo, bồn chồn đi lại trong phòng ngủ. "Ừ, và đó có thể là ý hay. Trước khi anh làm hại ai đó. Em nghe Beatty nói không? Em có lắng nghe ông ta không? Ông ta biết mọi câu trả lòi. Ông ta đúng. Hạnh phúc mới là quan trọng. Vui vẻ là tất cả. Thế mà anh cứ ngồi đó tự nhủ: Mình bất hạnh, mình bất hạnh." "Em thì hạnh phúc," miệng Mildred cười hết cỡ. "Và tự hào về điều đó."